Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Em về đi, về đi
    Nhìn làm chi anh nữa
    Biết bao lần đổ vỡ
    Lệ tràn dâng đôi mi

    Khóc lóc mà làm chi
    Về đi là về đi
    “Xa nhau ngàn vạn dặm”
    Không chịu nhớ trăng thề

    Cây đàn đã đập vỡ
    Còn gì mà nức nở
    Còn gì mà than thở
    Chúng mình thôi biệt ly

    Bản tình ca chiều ni
    Phổ hoài không thành nhạc
    Cuộc tình đã chia ly
    Thôi em đi, đi đi !
    HẠ ÁI KHANH
  2. Theo tự điển của Nguyễn Văn Khôn, chiến đấu là tranh đấu nhau, đánh nhau. Như vây, chiến đấu tính hay tính chiến đấu là đặc tính về những việc đánh nhau, về sự chiến đấu chống lại quân thù. Vậy thì trong âm nhạc Việt Nam, ta thấy có tính chiến đấu này không?

    Đã nói đến tính chiến đấu thì nhạc phải hùng tráng, dồn dập, thôi thúc. Vì vậy trong âm nhạc khi sáng tác những bản nhạc đầy màu sắc chiến đấu, các nhạc sĩ thường hay xử dụng nhịp điệu quân hành, nhịp đi (March) hay điệu Fox mà thôi. Những nhịp điệu khác thường ít khi xử dụng đến vì không tạo được sự hùng tráng và thôi thúc như các điệu Slow, Tango, Bolero, Rumba vv…Ngoài nhịp điệu của bản nhạc, ta cần phải đề cập đến lời của chính bản nhạc đó nữa mới khám phá được chiến đấu tính của bản nhạc.

    Hấu hết những từ ngữ trong các bản nhạc này khi hát lên đều làm cho ta liên tưởng ngay đến chiến tranh, khói lửa mịt mù, bom rơi đạn nổ, ngựa hí vang trời v v...

    Hởi tất cả toàn dân Việt Nam, hãy nghe theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi cùng nhau đứng lên bảo vệ tổ quốc cho dù phơi thây trên gươm giáo, cho dù bỏ xác ngoài chiến địa hoang tàn, miễn sao làm cho khắp nơi vang tiếng người nước Nam, làm sao giữ được bờ cõi không để lọt vào tay quân thù cho dù một tấc đất, để xứng đáng là con Rồng cháu Lạc. Đó là nội dung của bản nhạc Quốc Ca Việt Nam sau đây khi hát lên ai cũng thấy tính chiến đấu bàng bạc trong toàn bản nhạc:

    “Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi.
    Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
    Vì tương lai quốc dân cùng xông pha khói tên làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
    Dù cho phơi thây trên gươm giáo.
    Thù nước lấy máu đào đem báo.
    Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy
    Người công dân luôn cố rèn tâm trí
    Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi vang tiếng nguời nước Nam cho đến muôn đời
    Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ
    Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ thoát cơn tàn phá,
    Vẻ vang nòi giống xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng”.

    Bởi vậy lúc nước nhà lâm vào cảnh quốc phá gia vong, quê hương đang đắm chìm trong khói lửa mịt mù vì quân thù rắp tâm giày xéo đất nước ta, tất cả mọi người nam phụ lão ấu đều đứng lên, đồng tâm hiệp lực bảo vệ biên cương; bảo vệ giang sơn gấm vóc mà tổ tiên ta đã từng nằm gai nếm mật và hy sinh không biết bao nhiêu máu xương từ đời này sang đời nọ mới có được ngày hôm nay. Nhưng nếu trước thế giặc quá lớn, quân thù đang rắp tâm ồ ạt kéo hằng vạn quân vượt biên giới qua xâm lăng nước ta, chúng ta khoanh tay ngồi chờ mất nước hay sao? Không bao giờ! Hãy triệu tập các bô lão lại tại Hội Nghị Diên Hồng để thỉnh ý kiến nên chiến đấu hay nên hoà. Mặc dầu tuổi đã xế chiều, đi phải chống gậy, nhưng tất cả các bô lão đều đồng thanh trả lời phải hy sinh mà chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Chúng ta hãy nghe bản nhạc Hội Nghị Diên Hồng sau đây của nhạc sĩ Lưu hữu Phước sẽ thấy rõ chiến đấu tính bàng bạc trong bản nhạc như thế nào:

    Toàn dân! Nghe chăng? Sơn hà nguy biến!
    Hận thù đằng đằng! Biên thùy rung chuyển
    Tuôn dậy non sông rền vang tiếng vó câu
    Gây oán nghìn thu
    Toàn dân Tiên Long! Sơn hà nguy biến!
    Hận thù đằng đằng! Nên hòa hay chiến?
    Diên Hồng tâu lên cùng Minh đế báo ân
    Hỡi đâu tứ dân!
    Kìa vừng hồng tràn lan trên đỉnh núi
    ôi Thăng Long! Khói kinh kỳ phơi phới
    Loa vang vang, chiếu ban truyền bốn hướng
    Theo gió bay khắp miền sông núi réo đời.
    Lòng dân Lạc Hồng nhìn non nước yêu quê hương
    Giống anh hùng nâng cao chí lớn
    Giống anh hùng đua sức tráng cường.
    Ta lên đường lòng mang tâu đến long nhan
    Giòng Lạc Hồng xin thề liều thân liều thân!
    Đường còn dài
    Hờn vương trên quan tái
    Xa xa trông áng mây đầu non đoài
    Trông quân Nguyên tàn phá non sông nhà
    Đoạt thành trì toan xéo giày lăng miếu
    Nhìn bao quân Thoát lấn xâm tràn nước ta
    Ôi sông núi nhà rền tiếng muôn dân kêu la
    (Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
    (Đáp) Quyết Chiến!
    (Hỏi) Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?
    (Đáp) Quyết Chiến!
    Quyết chiến luôn
    Cứu nước nhà
    Nối chí dân hùng anh
    (Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
    (Đáp) Hy Sinh!
    (Hỏi) Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?
    (Đáp) Hy Sinh!
    Thề liều thân cho sông núi
    Muôn Năm Lừng Uy!!

    Vâng, trước nhục nước nên hòa hay nên chiến? Quyết chiến! Trước nhục nước nên hoà hay nên chiến? Quyết chiến! Không bao giờ lại làm hòa với kẻ xâm lăng. Vậy thì chúng ta phải quyết chiến vì chúng ta là giống dân Lạc Hồng. Chúng ta phải liều thân tranh đấu để giữ gìn non sông. Bởi vì máu anh hùng luôn luôn làm rạng danh nòi giống Tiên Rồng, máu anh hùng ngàn đời nhuộm thắm non sông. Đó là những ý chí quyết chiến đấu dứt khoát trong bản nhạc Quyết Chiến của Võ đức Thu sau đây:

    Quyết tiến ta giống dân Lạc Hồng
    Liều thân sống tranh đấu giữ gìn non sông
    Quyết tiến khi nước non nguy biến
    Máu anh hùng ngàn đời nhuộm thắm non sông
    Quyết tiến khi nước non reo hò
    Lòng cương quyết tranh đấu giữ gìn tự do
    Quyết tiến khi nước non nguy biên
    Máu anh hùng rạng danh nòi giống Tiên Rồng
    Vết anh hùng ngàn xưa nay còn lưu dấu
    Theo sử xanh nước Việt ngàn đời hùng anh
    Chí quật cường toàn dân hy sinh tranh đấu
    Giống Lạc Hồng rạng danh nòi giống Tiên Rồng

    Không ai có quyền nằm ngủ khi sơn hà nguy biến! Không ai có quyền phớt tỉnh trước cảnh đất nước đang lâm nguy. Hãy nghe tiếng gọi của hồn thiêng sông núi quyết vùng lên phất cờ khởi nghĩa đánh cho tan tành giặc ngoại xâm từ phương Bắc tràn xuống

    Kìa ! Tiếng ngựa hí vang trời vọng về từ biên ải! Kìa ! Gió bụi mịt mù của vó câu muôn dặm tỏa khắp non sông! Đâu đây tiếng kèn thúc quân như thúc dục toàn dân hãy tiến ra biên cương cho dù trời đang mưa bão, cho dù sấm chớp liên hồi. Vẫn biết lắm lúc “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”nhưng hồn thiêng sông núi vẫn đang vọng về giữa quê mẹ, vậy thì toàn dân Việt nam hãy nuôi chí căm hờn mà tuốt gươm bay ra quan ải tiêu diệt quân thù để bảo vệ quê cha đất tổ. Vâng, những lời trên đây là nội dung mang đầy màu sắc chiến đấu tính của những bản nhạc Đường Ra Biên Ải, Chiến Sĩ Vô Danh, Chiến Sĩ Anh Hùng, Xuất Quân của nhạc sĩ Phạm Duy mà ta lần lượt nghe sau đây điển hình qua một vài đoạn trong các bản nhạc đó:

    Bài”Chiến Sĩ Anh Hùng”:

    “Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng bung gươm ra sa trường. Quân xung phong, nước non đang chờ mong tay ngươi hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời. Ngựa phi nơi xa kia nghe súng vang bên trời điệu kèn rộn ràng là trang nam nhi.Quyết tiến sa trường. Sống thác coi thường. Mong thác trong da ngựa bọc thân thế trai.”

    Bài “Đường Ra Biên Ải”:

    “Ra biên cương ! Ra biên cương ! Thiết tha lòng gái Hôm nay nâng khăn hồng
    Đưa chân anh hùng ngàn phương. Ra biên cương ! Ra biên cương ! Khói hôn hoàng xuống men rừng. Qua con sông khuất ngàn nẻo thương. Trăng non dị thường, ngựa tung vó bước. Hiu hiu, lá rơi lối mòn tuyết sương. Sao băng trên vòm, mong qua đêm buồn. Là ánh nắng đến, sáng soi tâm hồn. Người ngàn trùng Quên niềm son phấn. Biên ải như đuốc thiêng Ôi non nước linh truyền Ôi tiếng hát câu nguyền. Đời gai chông Xin thề lưu luyến. Biên ải xin hiến thân. Thấm thoát đã bao lần. Bao người đi đền nợ máu xương. Người đi không về, chắc rằng có người nhớ. Hương khói chiêu hồn. Hiu hắt những chiều trận vong. Đời vui thái bình, cũng vì bao đời lính. Tiếng hát công thành. Thương nhớ những người tòng chinh.”

    Bài “Chiến Sĩ vô Danh”:

    “Ra biên khu trong một chiều sương âm u. Âm thầm chen khói mù. Bao oan khiên đang về đây hú với gió. Là hồn người Nam nhớ thù. Khi ra đi đã quyết chí nuôi căm hờn. Muôn lời thiêng còn vang. Hồn quật cường còn mang đến phút chiến thắng. Sầu hận đời lấp tan. Gươm anh linh, đã bao lần vấy máu. Còn xác xây thành, thời gian luống vô tình. Rừng trầm phai sắc. Thấp thoáng tàn canh. Hỡi người chiến sĩ vô danh...”

    Bài “Xuất Quân”:

    Ngày bao hùng binh tiến lên
    Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến
    Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành.
    Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành.
    Đi là đi chiến đấu
    Đi là đi chiến thắng
    Đi là mang mối thù thiên thu.
    Đi là đi chiến đấu
    Đi là đi chiến thắng
    Bước lên đây người Việt Nam.
    Kèn vang theo tiếng chân đang rồn rập xa xa
    Tiếng gào thiết tha.
    Ngàn lời chính khí đưa
    Ầm ầm tiếng thét hoà
    Rầm rầm tiếng súng sa trường xa.
    Hồn say khi máu xương rơi tràn đầy, ngập biên khu
    Oán thù khắp nơi.
    Từng bụi lốc cuốn rơi
    Từng giọt máu sáng ngời
    Một đường kiếm thép oai hùng đưa.

    Ngay trong bản nhạc « Hòn Vọng Phu” 1, 2, 3, của nhạc sĩ Lê Thương, ta cũng thấy chiến đấu tính xuất hiện một cách rõ ràng qua nhiều đọan, nhiều trường canh được nằm trong nhịp quân hành mặc dầu toàn bài vẫn là những nhịp điệu chậm rải theo điệu slow để cho phù hợp với nội dung của bản nhạc mang tựa đề là Hòn Vọng Phu:

    “Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
    Quan với quân lên đường,
    Đoàn ngựa xe cuối cùng,
    Vừa đi theo lối sông.
    Phía cách quan sa trường,
    quan với quân lên đường,
    hàng cờ theo trống dồn
    ngoài sườn non cuối thôn,
    phất phơ ngậm ngùi bay.
    Qua Thiên San kìa ai tiễn rượu vừa tàn,
    Vui ca xang rồi đi tiến binh ngoài ngàn.
    Người đi ngoài vạn lí quang san,
    Người đứng chờ trong bóng cô đơn.
    Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
    Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng.
    Người không rời khỏi kiếp gian nan,
    Người biến thành tượng đá ôm con.
    Ngựa phi ngoài xa hí vang trời,
    Chiêng trống khua trăm hồi,
    Ngần ngại trên núi đồi,
    Rồi vọng ra khắp nơi …
    Đường chiều mịt mù cát bay tỏa buớc ngựa phi
    Đường trường nếp tàn y hùng cường vẫn còn bay trong gió
    Bóng từ xa sắp dần qua bóng chàng chập chùng vượt núi non xưa
    Với hành lương độ đường
    Chiếc hùng gươm danh tuớng
    Dưới tà uy đếm nhịp đi vó ngựa phi
    Dấn bước tang bồng giữa nơi núi rừng …”

    Khi đã quyết chí ra đi theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi. Khi đã quyết chí ra đi dù không hẹn được ngày về, ai ai cũng muốn bằng mọi giá phải mang vòng hoa chiến thắng về dâng cho quê mẹ. Cho dù bom rơi đạn nổ, cho dù đạn lạc tên bay, chúng ta phải cố gắng tận dụng hết sức bình sinh đánh cho quân thù tan tác tả tơi, đánh cho quân thù nằm chết la liệt giữa những chiến địa hoang tàn. Để rồi thừa thắng xông lên, cầm lưỡi lê xông tới tiêu diệt cho đến tên địch cuối cùng mới thấy được chiến thắng trọn vẹn khi trước mặt ta, xác giặc nằm phơi thây giữa cánh đồng khét mùi thuốc súng. Bản nhạc Sư Đoàn I Hành Khúc của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sau đây cho ta thấy đặc tính chiến đấu nói trên rất rõ ràng trong âm nhạc:

    “Đây miền Đông Hà miền Gio linh, nơi tuyến đầu nước Việt hùng anh đã chiến đấu bao phen quân giặc tan tành. Từ Ba Lòng nhìn qua Khe Sanh, Làng Vei nhìn đồi Tám Tám Mốt. Từ Hương Điền nhìn qua Triệu Phong phơi xác giặc tràn đồng. Hò ơi! Hò ơi! Hò ơi ! Quân ta tràn lên. Chiến thắng Việt An bao thây giặc phơi tràn, chiến thắng làng Cùa quân ta về hò reo!”

    Khi xác quân thù đã nằm chồng chất giữa những chiến địa hoang tàn, khi xác giặc thù đã nằm rải rác ở các góc thành bên những đống gạch vụn đổ nát, chúng ta phải nhanh nhẹn kéo cờ lên cho lá cờ tung bay trước gió để báo hiệu cho toàn dân biết, rằng chiến thắng đã về trên đất mẹ sau khi đã chiếm lại Cổ Thành bằng máu đêm qua. Để rồi chúng ta tiến quân vào Cổ Thành trong tiếng kèn chiến thắng, để rồi chúng ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào, quỳ hôn lại mảnh đât thân yêu mà chúng ta vừa giải phóng và giữa đêm khuya đen tối như mực, ta đã tìm thấy ánh mặt trời!
    Bài Cờ Bay Trên Cổ Thành Quảng Trị của nhạc sĩ Lê Kim Hoa sau đây cho ta thấy rất rõ ràng tính chiến đấu trong âm nhạc:

    “Cờ Bay, Cờ Bay oai hùng trên thành phố thân yêu
    vừa chiếm lại đêm qua bằng máu.
    Cờ Bay, Cờ Bay tung trời ta về với quê hương
    từng ngóng đợi quân ta tiến về.
    Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào, quỳ hôn đất thân yêu,
    Quảng Trị ơi! Chào quê hương giải phóng.
    Hồi sinh rồi này Mẹ, này Em,
    Vui hôm nay qua đêm đen tìm thấy ánh mặt trời.
    Đi lên, đi lên trên hoang tàn ta xây dựng ngày mai,
    Nhà vươn lên, người vươn lên,
    Quân bên Dân xây tin yêu đời mới.
    Dắt nhau về anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà
    Sạch bóng thù, đồng hân hoan quân dân vui vang câu hát tự do.”

    Và khi đã chiếm lại được mảnh đất thân yêu bằng máu đào lai láng, chúng ta phải quyết chí bảo vệ mảnh đất này đến giọt máu cuối cùng cho dù phải bỏ thân ngoài trận mạc, nếu cần thì da ngựa bọc thây. Cầm chắc tay súng, giữ vững biên thuỳ, canh chừng địch quân dùng chiến thuật biển người ào ạt tái chiếm. Nhưng khi thấy quân thù đang chuẩn bị tiến quân về phía ta, ngay tức khắc hằng ngàn cánh tay đưa lên, hằng vạn cánh tay đưa lên quyết đấu tranh tiêu diệt giặc thù. Đập nát tan mưu toan của quân thù. Ta thề chết chứ không bao giờ rút lui khỏi trận chiến. Bản nhạc hào hùng Đứng Dậy sau đây nói lên chiến đấu tính rất oanh liệt của quân dân ta một thời vang bóng:

    “Một cánh tay đưa lên. Hằng ngàn cánh tay đưa lên. Hằng vạn cánh tay đưa lên quyết đấu tranh cho môt nền hoà bình công chính. Đập nát tan mưu toan. Đầu hàng cái quân xâm lăng. Hòa bình sẽ trong vinh quang. Đền công lao bao máu xương hùng anh. Nào tiến lên bên nhau. Và cùng sát vai bên nhau. Thề nguyền quyết vung tay cao quyết đấu tranh đến khi nào đạt thành mong ước. Vận nước trong tay ta, là quyền của quân dân ta. Tình đoàn kết quê hương ta chận âm mưu chia cắt thêm sơn hà. Quyết chiến, thề quyết chiến, quyết chiến. Quyết không cần hòa bình đen tối, chẳng liên hiệp ngồi chung quân bán nước vong nô. Quyết chiến, thề quyết chiến, quyết chiến. Đánh cho cùng dù mình phải chết, để mai này về sau con cháu ta sống còn. Vận nước đang vươn lên. Hằng ngàn chiến công chưa quên. Hằng vạn xác quân vong nô đã chứng minh cho sức mạnh hào hùng quân dân. Thề quyết không lui chân, ngồi cùng với quân xâm lăng. a thề chết chứ không hề lui. Quyết không hề phản bội quê hương.”

    Vâng, ta thề chết chứ không bao giờ rút lui, không bao giờ phản bội lại quê hương. Bởi máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt này cha ông ta đã từng miệt mài qua bao nhiêu thế hệ để xây đắp một quê hương Việt nam ngạo nghễ; bởi vì còn đất nước Việt nam sẽ vẫn còn triệu con tim với triệu khối kiêu hùng sẽ sẵn sàng tung xiềng xích vào mặt nhân gian để phá tan chế độ độc tài Cộng sản và giặc phương bắc xâm lăng đất nước ta. Bản nhạc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ Nguyễn đức Quang sau đây cho ta thấy tính chiến đấu thật rõ ràng khi ta vừa mới nghe hát đoạn đầu của bản nhạc:

    Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
    Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
    Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
    Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng
    Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
    Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
    Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
    Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian
    Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
    Xương da thịt này cha ông ta miệt mài
    Từng ngày qua
    Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
    Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
    Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
    Còn Việt Nam
    Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng
    Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
    Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
    Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
    Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời
    Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
    Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
    Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
    Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên

    Tóm lại, qua một số bản nhạc hùng tráng của Việt nam như đã được trình bày ở trên, hầu như tất cả đều được các nhạc sĩ sáng tác theo nhịp điệu quân hành hay điệu Fox, chúng ta thấy rằng thỉnh thoảng, chiến đấu tính đó khi thì tiềm ẩn trong từng chữ từng câu, khi thì bàng bạc trong từng câu từng đoạn nhưng nhìn chung luôn luôn nổi bật trong toàn bản nhạc vậy.

    Dương Viết Điền
  3. KÝ SỰ DU LỊCH ÂU CHÂU

    Dương Viết Điền


    Chiếc phi cơ hãng hàng không United Airlines Boeing 747 cất cánh tại phi trường quốc tế San Francisco lúc 1:00 giờ ngày 19 tháng 10 năm 2007 và đã đáp xuống phi trường quốc tế Heathrow tại Luân đôn ở Anh quốc lúc 7:10 sáng ngày 20 tháng 09 năm 2007 sau 10 giờ bay.

    Vừa xuống phi trường, nhóm chúng tôi sáu người gồm anh chị Lê văn Chính, anh chị Bùi phước Ty, và vợ chồng tôi cùng một số người khác phải ngồi chờ ông trưởng đoàn hướng dẫn từ Los Angeles dẫn một nhóm khác sang theo lời dặn của nhân viên tại đại lý bán vé máy bay ở California.

    Hai giờ sau, ông trưởng đoàn hướng dẫn người Hoa dẫn một nhóm khác từ Los Angeles cũng vừa đến . Vì chúng tôi có mang dấu hiệu của hãng du lịch Tour Ritz màu đỏ ở trên túi áo của từng người, cũng như ông trưởng đoàn cầm cây cờ nhỏ trên tay có in hình của hãng Tour Ritz trên lá cờ nên chúng tôi nhận ra nhau rất nhanh. Đọc tài liệu của hãng du lịch, chúng tôi đã biết ông trưởng đoàn là người Hoa mang tên Leung Reddy chứ chưa được diến kiến. Bây giờ chúng tôi mới thấy ông khi ông tập họp chúng tôi để điểm danh. Ông ta trạc độ 58 tuổi, người thấp, nước da ngâm ngâm. Thế là 2 nhóm chúng tôi lên xe buýt qua Terminal 4 để đón một nhóm khác nữa cũng vừa từ New York sang. Sau khi đã tập họp ba nhóm lại với tổng số 42 người, ông Leung Freddy trưởng đoàn hướng dẫn du lịch chỉ thị cho tài xế xe buýt lái xe hướng về lâu đài Windsor Castle tại Anh quốc để bắt đầu cuộc hành trình du lịch 4 nước ở Âu châu gồm Anh, Pháp, Thụy sĩ và Ý.

    Vừa đến gần lâu đài Windsor Castle thì trên trời bỗng xuất hiện một vài đám mây và mấy phút sau trời bắt đầu mưa nhè nhẹ. Chúng tôi liền lấy dù ra để che mưa. Ông trưởng đoàn du lịch sau khi gặp một bà đầm người Anh liền giới thiệu với chúng tôi và cho chúng tôi biết tên bà ta là Venesha. Sau đó ông ta dặn chúng tôi hãy đi theo bà đầm này để nghe bà ta thuyết minh, giải thích, kể chuyện về lịch sử lâu đài chúng tôi sắp vào xem. Theo sự hướng dẫn của ông trưởng đoàn du lịch, chúng tôi liền đi theo bà Venesha này để nghe bà ta kể chuyện.

    Cứ theo lời giải thích của bà Venesha thì chúng tôi biết tổng quát được rằng, Windsor Castle nằm trong quận Birkshire thuộc thành phố Luân đôn. Đây là lâu đài lớn nhất thế giới. Diện tích của lâu đài này khoảng 484,000 square feet.Trong thời chiến, đây là thành lũy kiên cố chống ngoại xâm và cũng là nơi ở của các vị vua chúa qua các triều đại quân chủ của hoàng gia Anh. Tại lâu đài này, nữ hoàng Elizabeth II thường hay về đây để nghỉ cuối tuần. Thế rồi chúng tôi được hướng dẫn đi khắp các phòng ốc trong lâu đài cổ kính này. Nào là nơi các vị hoàng đế tiếp tân, nào là nơi các vị hoàng đế hội họp, nào là nơi cất giấu những vũ khí trong thời chiến như cung, tên, gươm, giáo , kiếm, nào là nơi ăn chốn ở của các nữ hoàng vv… Sau khi xem qua giường ngủ của các vị vua và của các nữ hoàng, một du khách trong đoàn chúng tôi hỏi bà Venesha rằng, tại sao giường ngủ của nữ hoàng lại rộng hơn giường ngủ của vua. Bà ta vừa tủm tỉm cười vừa trả lời rằng, sở dĩ giường của nữ hoàng rộng hơn giường của vua là để thỉnh thoảng vua qua thăm nữ hoàng và ở lại với nữ hoàng! Sau hơn một tiếng đồng hồ đi tham quan trong lâu đài Windsor Castle, chúng tôi tất cả 42 người ra điểm hẹn tại ngã ba đường để gặp ông trưởng đoàn. Sau khi điểm danh đầy đủ, ông Leung Freddy cầm một bì thư đựng tiền do chúng tôi đã nộp sẵn trao tặng cho bà Venesha rồi chúng tôi vỗ tay để cám ơn và tán thưởng sự tận tâm và thiện chí của bà trong trong thời gian hướng dẫn chúng tôi vừa qua. Sau khi từ giả bà Venesha ông trưởng đoàn hỏi anh em trong đoàn du lịch chúng tôi rằng, nếu du khách nào muốn đến thăm đại học Camridge thì nộp mỗi người 30 Euro, và số du khách đến tham quan phải trên 20 người mới được chấp thuận Khi nghe ông trưởng đoàn nói như vậy một số người liền đưa tay lên. Ông trưởng đoàn đếm đi đếm lại vẫn không đủ 20 người nên phải huỹ bỏ. Sau đó chúng tôi theo ông trưởng đoàn lên xe đến khu phố người Hoa để ăn cơm chiều .

    Theo gót chân ông Freddy, chúng tôi vào tiệm ăn Gerrard’s corner Restaurant ở đường Gerrard Stre et Sw1. Vì ông trưởng đoàn du lịch là người Hoa nên ông ta có lẽ đã quen biết nhiều tiệm ăn của người Hoa. Vì vậy, ông luôn luôn dẫn chúng tôi vào ăn tại các phố nguời Hoa ở. Ngồi trên xe buýt xuyên qua những con đường dẫn đến tiệm ăn, chúng tôi thấy đường sá tại thành phố Luân Đôn rất chật hẹp. Hai bên đường hầu như không có chỗ đậu xe. Chỉ thấy người qua lại thật tấp nập trên lề đường như ngày hội. Mấy cô gái người Anh với mái tóc bồng bềnh sánh vai cùng các bạn trai đi dọc đại lộ giữa phố chiều thật nên thơ. Rất nhiều đàn ông mặc veston, thắt cà vạt đi dạo phố chiều làm cho khu phố tăng thêm vẽ quý phái giữa chốn phồn hoa đô hội. Rất nhiều trai thanh gái lịch ngồi uống cà phê trong các quán cà phê dọc hai bên đường trông thật thanh bình vui vẻ. Một điều khác lạ đập vào mắt tôi khiến tôi nhớ lại lúc còn theo học ở bậc trung học, một vị giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe về sự luân lưu của xe cộ trong thành phố ở Anh quốc: tất cả đều lái xe về phía bên trái. Thảo nào tài xế xe buýt chúng tôi đang lái trên lane bên trái khiến tất cả du khách trên xe đều cảm thấy là lạ. Sau khi dùng cơm chiều tại phố người Hoa xong, chúng tôi được lệnh lên xe buýt để về khách sạn Guoman nằm trên đại lộ St Katherine’s way, London E 1W1LD. Khách sạn này toạ lạc trên bờ sông Thames và đối diện với chiếc cầu nổi tiếng Tower Bridge. Vừa đến khách sạn, chúng tôi ai nấy cũng đều mệt mỏi sau mười tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay ngủ gà ngủ gật, và mấy tiếng đồng hồ đi xem lâu đài Windsor nên vội vàng lấy hành lý thật nhanh để vào khách sạn nghỉ ngơi.

    Sau khi phân phối chìa khoá phòng cho chúng tôi, ông Leung Freeddy dặn dò chúng tôi rằng, sáng mai chuông điện thọai sẽ báo thức đúng 6 :15 giờ, ăn điểm tâm tại khách sạn 7:00 giờ, tập họp để đi tham quam các danh lam thắng cảnh tại Anh lúc7:45 giờ . Sau khi ổn định chỗ ngủ tại các phòng trong khách sạn, anh Lê văn Chính, anh Bùi Phước Ty và tôi rủ nhau ra quán Starbucks gần khách sạn để uống cà phê và nói chuyện phiếm. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi trở lại khách sạn để nghỉ ngơi ngõ hầu sáng mai thức dậy cho đúng giờ. Theo lời dặn dò của ông trưởng đoàn hướng dẫn du lịch, chúng tôi có mặt trước khách sạn Guoman đúng 7:45 giờ sáng. Vì địa điểm tham quan hôm nay gần khách sạn nên chúng tôi chỉ đi bộ vài phút rồi băng qua đường là đến. Đó là chiếc cầu Tower Bridge và The Tower of London. Cũng như chiều hôm qua tại lâu đài Windsor, sáng nay ông Leung Freddy cũng giới thiệu với chúng tôi một bà đầm người Anh khác tên là Catherine làm hướng dẫn viên để đến thăm The Tour of London. Dĩ nhiên ông trưởng đoàn du lịch cũng đi theo bà ta để thông dịch ra tiếng Hoa cho những du khách người Hoa. Vì hãng du lịch này của người Hoa có cái tên là Ritz Tours nên du khách hầu hết là người Hoa. Trong số 42 người thuộc đoàn du lịch chúng tôi, chỉ có 8 gười là người Việt, số còn lại là người Hoa cả.

    Thế là chúng tôi đi theo ông Leung Reddy và bà Catherine để nghe họ trình bày, giải thích, kể chuyện về chiếc cầu Tower Bridge và Tower of London.

    Sau khi đi thăm Tower Bridge và Tower of London xong, ông Leung Reddy cũng trao cho bà Katherine một bì thư đựng tiền trước mặt chúng tôi để cám ơn bà. Sau đó, ông Leung Reddy chỉ thị cho anh tài xế chở chúng tôi đi vòng quanh trong thành phố Luân đôn để nhìn dinh Quốc hội, tháp Big Ben, quảng trường Trafalga, điện Burkingham, khu phố Westminster Abbey. Tại những nơi này, chúng tôi tha hồ chụp hình, quay phim để làm kỷ niệm trong chuyến du lịch tại Anh quốc. Sau khi tham quan những địa danh nói trên, ông trưởng đoàn nói anh tài xế xe buýt chở chúng tôi đến tiệm ăn Aroma ở China town để dùng cơm trưa. Và chiều hôm ấy, chúng tôi được tự do đi shopping tại China town rồi ai nấy tự túc mua vé xe buýt, xe tắc xi, xe điện ngầm để về lại khách sạn và bữa cơm chiều chúng tôi cũng sẽ tự túc đi tìm tiệm ăn mà lo liệu lấy.

    Nhớ lại sau khi ăn cơm trưa xong, Ông Leung Freddy có mách cho chúng tôi một tiệm ăn của người Thái, đối diện với khách sạn chúng tôi đang trú ngụ nằm ở bên kia bờ sông Thames. Vì vậy sau khi đi shopping ở China town về, 6 người chúng tôi liền rũ nhau thả bộ qua cầu Tower Bridge để đi tìm tiệm ăn ở bên kia bờ sông Thames đối diện với khách sạn chúng tôi đang tạm trú. Sau vài phút đi bộ trên cầu hóng gió chiều và nhìn dòng sông Thames chảy qua cầu, chúng tôi đã tới bên kia cầu. Theo những bậc tầng cấp đi xuống đường, chúng tôi liền đến ngã tư gần cầu nhất rồi băng qua đường , đi ngược lại hướng hồi nảy để tới bên bờ sông. Đi dọc theo bờ sông đối diện với khách sạn bên kia bờ, chúng tôi thấy các tiệm ăn nằm san sát nhau. Tiệm nào tiệm nấy thực khách đều chật ních.

    Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ giá cả ở những tiệm nầy chắc phải đắt lắm. Vì vậy chúng tôi chỉ đi dạo dọc bờ sông Thames chứ không vào tiệm nào cả. Tuy nhiên vì trời cũng vừa tối và ai nấy cũng đều cảm thấy đói bụng cả rồi nên chúng tôi liền băng qua một đường hẻm để đi tìm tiệm ăn người Thái mà ông trưởng đoàn đã giới thiệu trưa nay. Khoảng năm phút sau chúng tôi đã thấy tiệm ăn của người Thái. Thế là sáu người chúng tôi vào ngay trong tiệm để dùng cơm tối. Khoảng một giờ sau chúng tôi rời tiệm ăn để trở về khách sạn. Trên đường trở về, chúng tôi cũng đi bộ băng qua cầu Tower Bridge như lúc ban chiều. Vì đã chín giờ tối nên trên cầu đèn điện rất sáng. Đi trên cầu nhìn xuống dòng sông, chúng tôi thấy mấy chiếc thuyền đậu sát bên bờ đằng kia phản chiếu ánh đèn điện xuống mặt nước sông Thames thật tuyệt đẹp.

    Sau hai ngày du lịch tại nước Anh, theo chương trình đã vạch sẵn, sáng mai chúng tôi phải lên đường để qua nước Pháp.

    Vì đã được trưởng đoàn dặn dò chiều qua nên sáng nay chúng tôi thức dậy thật sớm để chuẩn bị lên đường. Thế là chúng tôi tất cả 42 người lên xe buýt để tiến về ga xe lửa làm thủ tục hải quan trước khi lên xe lửa vượt biển Manche qua đất Pháp. Đang say sưa nhìn cảnh vật dọc hai bên đường lần cuối, bỗng anh Bùi phước Ty nói nhỏ bên tai tôi:

    - Điền, farewell to London!

    Nghe anh bạn Bùi phước Ty nói như vậy lòng tôi bỗng chùng xuống đến ngậm ngùi! Thật thế, giờ phút chia ly đã điểm rồi! Chỉ vài giờ nữa là chúng tôi sẽ xa Luân đôn, xa Anh quốc ngàn năm. Biết bao giờ mới trở lại đây ? Thôi thì vĩnh biệt lâu đài Windsor, vĩnh biệt the Tower Bridge of the Thames River, vĩnh biệt the Tower of London, vĩnh biệt dòng sông Thames có dòng nước hiền hòa chảy ngang qua cầu tuyệt đẹp, khi mùa thu mới bắt đầu về qua biểu tượng mấy chiếc lá vàng vừa bay nhè nhẹ rồi rơi xuống giữa dòng sông. Bỗng tôi nhớ đến bài thơ When we two parted của thi sĩ Lord Byron Anh quốc nói về sự biệt ly của một cặp nhân tình khiến lòng mình thêm xúc động:

    When we two parted
    In silence and tears
    Half broken hearted
    To sever for years


    mà một thi sĩ nào đó đã dịch như sau:

    Giờ phút chia ly đã điểm rồi
    Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
    Mang mang nửa cõi lòng tan tác
    Ly biệt xui chi tủi trọn đời.


    Sau khi mất hai giờ rưởi vượt biển Manche bằng xe lửa từ Waterloo để qua Pháp, như thường lệ, chúng tôi cũng làm thủ tục hải quan trước khi lên xe buýt đi xem các danh lam thắng cảnh của đất nước này.

    Theo chương trình đã vạch sẵn, ông trưởng đoàn du lịch hướng dẫn chúng tôi đến bờ sông Seine của nước Pháp ở thủ đô Paris để lên du thuyền chạy vài vòng trên dòng sông Seine ngõ hầu du khách có thể ngắm cảnh dọc hai bên bờ.

    Ước mơ nhìn dòng sông Seine mấy mươi năm trời bây giờ không ngờ đã thành sự thật. Ngồi trên thuyền đang nhẹ nhàng lướt sóng, chúng tôi say sưa nhìn hai bên bờ không để mất một lâu đài, một biệt thự, không để sót một bến nước, một gốc cây. Xa xa , mấy chiếc lá vàng bay bay rồi rơi nhè nhẹ xuống dòng sông Seine khiến lòng tôi chợt nhớ mùa thu đang về giữa thủ đô Paris, và văng vẵng bên tai tôi tiếng hát của ca sĩ Hoàng Dũng qua bài “ Mùa thu không trở lại” của nhạc sĩ Phạm trọng Cầu:

    Em ra đi mùa thu
    mùa thu không trở lại
    Em ra đi mùa thu
    sương mờ giăng âm u.

    Em ra đi mùa thu
    Mùa thu không còn nữa
    Đếm lá úa mùa thu
    Đo sầu ngập tim tôi.

    Ngày em đi
    Nghe chơi vơi não nề
    qua vườn Luxembourg
    Sương rơi che phố mờ
    Buồn này ai có mua?

    Từ chia ly
    Nghe rơi bao lá vàng
    Ngập giòng nước sông Seine
    Mưa rơi trên phím đàn
    Chừng nào cho tôi quên.

    Hôm em ra đi mùa thu
    Mùa thu không trở lại
    Lá úa khóc người đi
    Sương mờ dâng lên mi.

    Em ra đi mùa thu
    Mùa lá rơi ngập ngừng
    Đếm lá úa sầu lên
    Bao giờ cho tôi quên


    Bỗng sóng nước vỗ mạnh vào mạn thuyền khiến nước văng tung toé lên thuyền rồi tạt vào mặt tôi làm tôi trở về với thực tại. Chị Hồ thị Thu Hương, phu nhân của anh Lê văn Chính, liền bảo tôi hãy đến đứng bên cạnh bà xã tôi để chị ấy chụp cho một bức hình trên dòng sông Seine làm kỷ niệm. Sau đó, sáu anh em chúng tôi đứng sát bên nhau rồi nhờ một du khách trên thuyền chụp cho chúng tôi một tấm hình làm kỷ niệm.

    Sau khoảng một giờ ngồi trên thuyền lướt sóng để ngắm nhìn hai bên bờ sông Seine, ông trưởng đoàn du lịch liền thúc dục chúng tôi bước xuống thuyền leo lên xe buýt lại để chuẩn bị đến khu trung tâm thương mại Lafayette ở China town của thủ đô Paris để đi mua sắm. Vừa đến trung tâm thương mại Lafayette, chúng tôi được ông trưởng đoàn du lịch Leung Freddy cho biết rằng, tất cả chúng tôi được tự do đi shopping trong hai giờ và đúng 6:eek:o giờ chiều phải có mặt tại nơi xe buýt đậu để đi ăn cơm tối. Tại đây chúng tôi đi qua đi lại nhìn áo quần bày bán trong các tủ kính mà chẳng ai mua sắm gì cả vì giá cả đắt quá. Anh Bùi phước Ty nói với tôi rằng tôi ít chú trọng đến ăn mặc nhưng anh ta cũng muốn cho tôi biết rằng, trước đây loại áo Montagu rất nỗi tiếng nhưng bây giờ không dám mua vì giá cả khá đắt. Thế rồi anh Ty dẫn tôi đến một cửa kính gần đấy và chỉ cho tôi một chiếc áo Montagu đang nằm trong tủ kính. Thấy tôi và anh Ty đang nhìn chiếc áo Montagu này, anh chàng đứng bán hàng tiến về phía chúng tôi.
    Khi anh ta đứng trước mặt tôi, tôi liền chỉ chiếc áo Montagu nằm trong tủ kính và hỏi:

    -Je voudrais cette chemise, c’est combien?( Cái áo này giá bao nhiêu vậy?)

    Anh ta trả lời:

    -Quatre-vingts francs (80 franc)

    Tôi nói ngay:

    -C’est trop cher! (Quá đắt)

    Nói xong tôi và anh Ty bỏ đi.

    Sau đó tôi và bà xã tôi lên thang máy để đi xem tổng quát cho biết trung tâm thương mại Lafayette ở Pháp trước khi ra chỗ hẹn tại nơi xe buýt đậu để cùng đoàn du lịch chuẩn bị đi ăn cơm tối. Sau khi ăn cơm tối xong, chúng tôi được ông Leung Freddy hướng dẫn đến một hý trường nỗi tiếng tại thủ đô Pari để xem một show thật ngoạn mục khoảng 3 tiếng đồng hồ, gọi là “ Moulin Rouge Cabaret Show”. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi ra khỏi rạp rồi lên xe buýt về khách sạn Evergreen Laurel Hotel Paris ở tại số 8 Places Georges Pompidou 92300 Levallois để nghỉ ngơi.

    Cũng như thường lệ trước khi vào khách sạn nghỉ ngơi, ông trưởng đoàn thường báo cho chúng tôi biết giờ báo thức, giờ điểm tâm và giờ khởi hành đi xem các danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử tại các nước chúng tôi đến du lịch. Tuy nhiên vì mới đến nơi đất lạ xứ người nên hơi khó ngủ, anh Lê văn Chính, anh Bùi phước Ty và tôi lại rũ nhau nhau xuống phòng trà ở tầng dưới của khách sạn để uống nước trà và nghe nhạc cổ điển Tây phương do một Pianist trình diễn đàn piano. Ngồi nghe nhạc và nói chuyện phiếm khoảng một giờ sau chúng tôi mới lên phòng ngủ.

    Đúng 7:45 giờ sáng, tất cả 42 du khách chúng tôi có mặt đầy đủ trước khách sạn Evergreen Laurel để lên xe buýt đến xem Điện Versailles, một trong những niềm kiêu hãnh của Pháp quốc và sự đố kỵ của nhiều chế độ quân chủ tại Âu châu. Tại đây, chúng tôi cũng được ông trưởng đoàn giới thiệu một bà đầm người Pháp nhưng nói được tiếng Anh để hướng dẫn chúng tôi đi xem những di tích lịch sử của dòng họ các nhà vua Louis XIV, XV, XVI trong Điện Versailles. Cũng giống như vào tham quan các lâu đài Windsor ở bên Anh quốc, tại đây, chúng tôi cũng được hướng dẫn đi xem tất cả những gì nằm trong Điện Versailles như phòng tiếp tân của vua, phòng hội họp, phòng ngủ, phòng triển lãm những vũ khí thời đại phong kiến của chế độ, nơi trưng bày những ngọc ngà châu báu vv…Khi vào phòng này, chúng tôi được bà đầm Pháp cho biết rằng, rất nhiều vàng nằm khắp trong phòng, trên cửa sổ, trong tủ kính, nơi cửa chính ra vào, trên kệ sách vv…đều là vàng 24 cà rá cả. Khi nghe bà ta nói như vậy anh Lê văn Chính nói với tôi rằng, chắc chắn có vàng lấy từ các nước thuộc địa về trong đó có vàng lấy từ Việt Nam qua. Tôi liền mỉm miệng cười như đồng tình với anh ấy. Thế rồi anh em trong đoàn chụp hình quay phim liên hồi. Ai thích hình gì thì chụp hình ấy. Chúng tôi vừa quay phim vừa chụp hình say sưa đến nỗi đoàn du lịch chúng tôi đã qua phòng khác mà không biết. Thế là chúng tôi phải vừa đi vừa chạy cho kịp đoàn du lịch. Sau khi gặp bà đầm Pháp nghe bà ta trình bày và giải thích chúng tôi mới biết rằng, sở dĩ bà ta nói rất nhanh rồi đi ngay qua phòng khác vì cứ mỗi năm phút lại có một đoàn du lịch khác vào nữa. Nếu không đi ngay thì phòng sẽ chật ních người và nếu không trình bày nhanh sẽ trễ những nơi khác không xem được theo chương trình đã vạch sẵn.

    Sau khi thăm viếng Điện Versailles, chúng tôi lại lên xe buýt để sang xem Bảo Tàng Viện

    Louvre. Nơi đây, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn đến say mê mấy chục tác phẩm nghệt thuật nổi tiếng nhất thế giới cũng như xem tất cả những gì liên quan đến di tích lịch sử của triều đại Hoàng Đế Napoleon vang bóng một thời. Điều vui vui cho tôi là khi nhìn bức tượng của Napoleon Đại Đế trong Bảo Tàng Viện Louvre, tôi cứ cười thầm trong bụng mãi vì nhớ đến câu chuyện của một giáo sư dạy môn kinh tế học kể cho chúng tôi nghe cách đây 41 năm khi thấy chúng tôi ngủ gà ngủ gật trong đại giảng đường. Vị giáo sư ấy kể rằng có một lần trước khi dẫn đoàn quân bách chiến bách thắng trở về, Napoleon Đại đế đã gởi thư về cho người tình là Josephine dặn nàng khoan tắm đã. Giáo sư ấy vừa kể xong thì tất cả sinh viên trong đại giảng đường tỉnh táo lại hết, không còn ai ngủ gà ngủ gật nữa. Sau khi thăm Điện Versailles và Bảo tàng viện Louvre, chúng tôi nghỉ ngơi để dùng cơm trưa tự túc, sau đó lại lên xe buýt vượt qua cầu bắc qua dòng sông Seine tiến về tháp Eiffel. Tại đây chúng tôi được ông trưởng đoàn nói sơ qua về nguồn gốc của tháp này theo đó tháp Eiffel do Kỹ Sư Alexandre Gustave Eiffel thiết kế. Tháp được xây cất khoảng giữa năm 1887 và 1889, sau đó được khánh thành vào ngày 31 tháng 03 năm 1889. Trong lúc tạo dựng tháp này, khoảng 300 công nhân ráp nối 18,038 miếng sắt đã được tôi luyện, xử dụng hai triệu rưởi đinh tán. Tháp Eiffel cao 342 mét, nặng 7, 300 tấn. Năm 2006, có 6 triệu du khách đến tham quan tháp này và kể từ lúc khánh thành tháp này cho đến ngày nay, đã có hơn hai trăm triệu du khách đến thăm. Sau khi trình bày tổng quát những vấn đề liên quan đến tháp Eiffel, ông trưởng đoàn liền phát mỗi người một vé để lên tháp nhìn quang cảnh thành phố Paris giữa nắng chiều. Tiền mua vé này du khách chúng tôi đã nộp cho ông trưởng đoàn chiều hôm qua. Tất cả là 30 Euro cho mỗi người gồm vé ngồi trên thuyền để dạo trên dòng sông Seine và vé lên tháp Eiffel .Chúng tôi liền sắp hàng nối đuôi nhau vào thang máy để được đưa lên tháp Eiffel. Sau khoảng mười lăm phút , chúng tôi đã lên được tầng thứ hai của tháp. Vừa bước khỏi thang máy để ra vị trí đứng nhìn xuống thành phố Paris, bà xã tôi bỗng buột miệng nói bên tai tôi :

    -Đẹp quá anh ơi! Nhìn xuống dưới kia kìa! Thành phố Paris sao mà đẹp quá! Dòng sông Seine càng đẹp hơn nữa anh à! Anh lấy máy ảnh ra mà chụp vài tấm hình đi anh.

    Mà thật thế, đứng ở tầng thứ hai của tháp Eiffel nhìn xuống, chúng tôi thấy toàn cảnh của thành phố Paris đẹp tuyệt trần! Xa xa, Điện Versailles, Bảo tàng viện Louvre, Điện Champs Elysees như nỗi bật một góc trời. Đẹp nhất và nên thơ nhất là dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris đang uốn khúc giữa nắng chiều. Bởi mùa thu đang về trên nước Pháp, vì trời thu đang ngự trị giữa thành phố Paris nên lá vàng từ trên một số cây dọc hai bên bờ sông Seine đang bay nhè nhẹ rồi từ từ rơi xuống dòng sông .Nhìn dòng sông Seine đang uốn khúc giữa nắng chiều thu, nhìn lá vàng bay là đà rồi rơi trên dòng nước biếc, lòng tôi bỗng xúc động đến ngậm ngùi rồi bâng khuâng nhớ đến những thi nhân của nước Pháp cứ mỗi độ thu về đã từng dệt nên những vần thơ thật lãng mạn, đa tình, thật nghẹn ngào, nuối tiếc! Một Guillaume Apollinaire với L’Adieu thật nức nở sầu thương, một Alphonse de Lamartine với Le Lac thật hoang vắng đơn côi, một Paul Verlaine với Chansons D’automne thật ê chề đau đớn, đầy ắp những kỷ niệm nghẹn ngào! Bất giác tôi ngâm bài thơ Chansons D’automne của Paul Verlaine khi thấy nắng chiều đang trải dài trên dòng sông Seine tuyệt đẹp:

    Les sanglots longs
    Des violons
    De l’automne
    Blessent mon coeur
    D’une langueur monotone
    Tout suffocant
    Et blême, quand
    Sonne l’heures
    Je me souviens
    Des jours anciens
    Et je pleure
    Et je m’en vais
    Au vent mauvais
    Qui m’emporte
    Decà delà
    Pareil à la
    Feuille morte

    Tiếng đàn ai đó lê thê
    Vĩ cầm réo rắt ê chề lòng đau
    Bơ vơ chuông đổ đồng hồ
    Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa
    Bao kỷ niệm, theo gió đưa
    Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót-xa
    Bao năm lữ thứ xa nhà
    Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi..


    (Lãng Du)

    Bỗng tiếng bà xã tôi thúc giục bên cạnh làm tôi trở về với thực tại:

    -Anh, chuẩn bị mà xuống kẻo ông trưởng đoàn du lịch và anh em du khách chờ.

    Đáng lẽ chúng tôi định mua vé để lên tầng cao nhất của tháp Eiffel nhìn tiếp, nhưng vì thời gian của ông trưởng đoàn cho quá eo hẹp nên vợ chồng tôi đành phải từ giả tháp Eiffel . Nếu là thanh niên, tôi sẽ cầm tay bà xã tôi đi bộ từ từ theo những bậc thang từ tầng thứ hai của tháp Eiffel mà đi xuống, để vừa đi vừa nhìn chầm chậm quang cảnh thành phố Paris và dòng sông Seine cho thỏa thích một lần cuối; nhưng vì tuổi tác của chúng tôi cũng đã xế chiều, vã lại, tôi bị bệnh đau lưng đã mấy năm rồi nên đành phải tốc chiến tốc thắng đi theo thang máy để xuống cho kịp với đoàn du lịch đang đợi chờ dưới chân tháp Eiffel. Lúc đứng trên thang máy đang di chuyển xuống chân tháp, tất cả du khách đều reo hò lên như ngày hội vì chúng tôi cảm thấy quá thích thú khi thấy thành phố Paris và dòng sông Seine mỗi lúc một lớn dần, lớn dần, để rồi mấy phút sau xuất hiện trước mắt mọi người vì thang máy đã chạm mặt đất. Như giấc mơ của Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên, chúng tôi cũng vừa lạc vào một thế giới huyền ảo trên bầu trời của thành phố Paris thủ đô nước Pháp, khi đứng trên tháp Eiffel nhìn xuống dòng sông Seine đang uốn khúc giữa dòng đời.

    Để níu kéo thêm thời gian đong đầy kỷ niệm bên dòng sông Seine, tôi cầm tay bà xã tôi vừa đi vừa hát bản nhạc “ Hoa thạch thảo”( mùa thu chết) do Phạm Duy phổ nhạc theo ý bài thơ L’Adieu của Apollinaire ngày nào:

    Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo.
    Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
    Mùa thu đã chết em nhớ cho, mùa thu đã chết em nhớ cho
    ………………………………………………………….


    Bất giác, tôi ngâm mấy vần thơ trong bài L’Adieu của Apollinaire để giả từ mùa thu trên dòng sông Seine giữa thủ đô Paris:

    J’ai cueilli ce brin de bruyère
    L’automne est morte souviens-t’en
    Nous ne nous verrons plus sur terre
    Odeur du temps brin de bruyère
    Et souviens-toi que je t’attends.

    Tôi vừa đi vừa ngâm thơ nên khi đến gần xe buýt lúc nào cũng không biết. May nhờ bà xã tôi đi bên cạnh bảo lên xe buýt gấp tôi mới tỉnh táo và bước lên xe ngay.
    Sau khi điểm danh xong, ông trưởng đoàn du lịch chỉ thị tài xế cho xe chuyển bánh. Khoảng mười phút sau xe ngừng lại. Ông trưởng đoàn liền nói với chúng tôi rằng ai muốn qua xem Đài kỷ niệm chiến sĩ trận vong thì cứ đi, nhưng phải về lại chỗ xe buýt đậu cho đúng giờ. Thế là tôi và bà xã tôi vừa cầm tay nhau vừa đi thật nhanh đến xem đài chiến sĩ trận vong của nước pháp. Khi đến nơi, chúng tôi thấy rất nhiều vòng hoa đã được đặt sẵn. Nhìn kỹ những chữ viết bằng nước sơn màu đen trên nền xi măng trong khuôn viên mấy vòng hoa, tôi thấy mấy chữ bằng tiếng Pháp sau đây:

    ICI
    REPOSE
    UN SOLDAT FRANCAIS
    MORT POUR LA PATRIE(Nơi an nghỉ cuối cùng của chiến sĩ Pháp hy sinh vì tổ quốc)

    Vài phút sau, chúng tôi cũng đã chứng kiến buổi lễ do một số cựu quân nhân nước Pháp tổ chức: vài cựu quân nhân bận thường phục rước quốc kỳ, đặt vòng hoa tưởng niệm, một phút mặc niệm vv…

    Buổi lễ vừa xong thì chúng tôi cũng vội vã ra về để đến nơi điểm hẹn cho đúng giờ ngõ hầu lên xe buýt cho kịp với những du khách khác. Sau khi điểm danh đầy đủ, ông trưởng đoàn du lịch chỉ thị cho anh tài xế chở chúng tôi đi ăn cơm tối.

    Trong bữa cơm tối chiều hôm ấy, một bữa ăn thật thịnh soạn được tổ chức tại Chez Edouards. Chúng tôi cũng đã biết trước do ông trưởng đoàn du lịch thông báo từ sáng sớm để anh chị em trong đoàn du lịch nộp tiền trước và mỗi người phải nộp 50 Euro. Bữa cơm thật thịnh soạn và thật ngon lành. Có đồ seafood, có rượu nho đỏ vv… Tiếc thay, lúc này tôi đang bị đau bụng tháo dạ vì lạ nước ở quê người đất khách nên chỉ ngồi nhìn, rồi ngồi nhìn!

    Tuy nhiên, tôi cũng cố gắng ăn được vài lá xà lách và một ổ mì nho nhỏ để cầm hơi sáng mai mà lên đường đi cho kịp đoàn du lịch.

    Điều đặc biệt trong bữa cơm tối hôm ấy là chương trình văn nghệ giúp vui tự phát.

    Mục đầu tiên là một bài ca do một bà già người Hoa hát bằng tiếng Hoa. Tiếp theo là bài “Happy birthday” toàn thể 42 người cùng hát để mừng sinh nhật một du khách trong đoàn, một cụ già vừa tròn 75 tuổi. Tiếp theo nữa là một tràng pháo tay hoan hô một cặp vợ chồng, chồng người Hoa vợ người Việt, trong đoàn đang hưởng tuần trăng mật trong chuyến du lịch nầy. Sau tràng pháo tay, cặp vợ chồng nầy nhảy ra dancing một bài do anh em vừa vỗ tay vừa hát. Sau tràng pháo tay vừa dứt anh chị Bùi PhướcTy liền tuyên bố với anh em trong đoàn, rằng hôm nay là ngày kỷ niệm 35 năm thành hôn của anh chị ấy. Thế là tất cả mọi người vỗ tay để mừng vui cho anh chị Bùi phước Ty. Thừa thắng xông lên trong niềm hân hoan hiện hữu, anh Bùi Phước Ty và phu nhân là chị Nguyễn Thị Ánh Tuyết cùng nhau đứng lên rồi hôn môi nhau thật nồng nàn, thắm thiết. Thấy anh em trong đoàn du lịch hôm nay sao mà vui quá là vui, tôi cũng đứng lên tình nguyện hát một bài bằng tiếng Hoa mang tựa đề “Cánh Hồng Trung Quốc” (Rose de Chine). Khi tôi hát, tất cả mọi người vỗ tay rất nhịp nhàng vì 34 người Hoa trong bữa cơm tối hôm ấy có lẽ đều thuộc lòng bài tôi hát vì bản nhạc này ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ. Khi tôi đang hát, tôi thấy rất nhiều người vừa vỗ tay vừa nhìn tôi vừa cười. Có lẽ họ quá ngạc nhiên khi thấy tôi là người Việt Nam mà lại hát thuộc lòng một bản nhạc bằng tiếng Hoa. Mặc dầu đang đau bụng, tôi vẫn cố gắng hát thật to, thật rõ để khỏi sai lúc phát âm từng tiếng Hoa. Anh Lê Văn Chính và anh Bùi Phước Ty ngồi bên cạnh tôi cứ cười hoài. Có lẽ các anh ấy cũng ngạc nhiên khi biết tôi lại có thể hát được tiếng Hoa. Mọi người càng vỗ tay, tôi càng hát đúng nhịp. Giọng vẫn khi bỗng khi trầm vang lên trong phòng ăn:

    Mỳ quề, mỳ quê
    Chuê chiểu mì
    Mỳ quê mỳ quê, chuề gien lỳ
    Xuền xía khai chai chừ thu xàn
    Mỳ quê mỳ quê, hê vô ài ni
    ………………………………..


    Sau bữa cơm tối xong chúng tôi lại lên xe buýt về khách sạn nghỉ ngơi để sáng mai lên đường qua Thuỵ Sĩ như chương trình đã vạch sẵn.

    Đúng 8:00 giờ sáng, chúng tôi tất cả đều có mặt trước khách sạn Evergreen Laurel để lên xe buýt tiếp tục cuộc hành trình du lịch sang Thuỵ Sĩ. Sau khi trưởng đoàn du lịch điểm danh xong, xe buýt từ từ chuyển bánh. Vì phải mất 9 giờ mới đến Thuỵ sĩ nên anh tài xế biết chắc ngày hôm ấy không thể đi xem danh lam thắng cảnh nào kịp. Điều này khiến anh tài xế lái xe thong thả, không vội vàng như những lần trước. Vì vậy lúc xe buýt chạy chầm chậm ngang qua những con đường giữa thủ đô Paris, chúng tôi ngoái cổ nhìn Paris lần cuối. Paris ơi! Biết bao giờ trở lại chốn phồn hoa đô hội này để nhìn lại dòng sông Seine thơ mộng uốn khúc giữa nắng chiều? Paris ơi! Biết bao giờ trở lại đây để lên tháp Eiffel nhìn xuống thành phố Paris đẹp tuyệt trần khi mùa thu đang về trên đất Pháp? Thôi thì trăng tròn rồi lại khuyết, hoa nở để mà tàn, sum họp rồi ly tan. Xin vĩnh biệt dòng sông Seine, vĩnh biệt tháp Eiffel, vĩnh biệt Điện Versaille, vĩnh biệt Bảo Tàng Viện Louvre, vĩnh biệt Paris! Xúc động trước sự ly biệt nầy, bất giác tôi cất tiếng hát bài “Adieu, Paris” của nhạc sĩ Trần Văn Lương:

    Adieu, Paris
    (Vĩnh Biệt Paris)

    Ami, c'est à Paris,
    Cette ville éternelle,
    Qú une ironie mortelle
    Du sort nous a unis.

    Anh yêu, thành phố Paris
    Muôn đời là kinh kỳ
    Éo le truyện trần thế
    Se ta như phu thê.

    Notre amour, à Paris,
    A embrasé ma vie,
    Et ces jours, ralentis,
    De douceur l' ont remplie.

    Paris, ta yêu nhau
    Tình em như lửa cháy
    Ngày chầm chậm qua mau
    Đầy dịu dàng nhiệm mầu.

    Le bonheur, à Paris,
    Est, hélas, si fragile.
    Quand j'ai quitté la ville,
    Nos voeux étaient finis.

    Paris, ta hạnh phúc
    Nhưng sao quá mong manh
    Khi em rời kinh thành
    Hẹn ước đã tàn nhanh .

    Tu trouves, à Paris,
    Ta nouvelle romance.
    En ce lointain pays,
    Je pleure ma malchance.

    Hóa ra Paris này
    Anh có tình yêu mới
    Phương trời xa vời vợi
    Em khóc đời chơi vơi

    J' enverrai à Paris
    Mon âme déchirée,
    Et à toi les sourds cris
    D ' une amante oubliée.

    Paris, em gửi về
    Hồn em đau não nề
    Trao anh tiếng nấc nghẹn
    Của người tình bị quên .

    Il fait beau à Paris,
    Ensemble on se promène.
    Tu parles et tu ris,
    Connais-tu pas ma peine?

    Paris, trời nắng to
    Người đẹp đi bên anh
    Anh cười nói bên cạnh
    Em đau, biết chăng anh?

    Il fait froid à Paris,
    Tu embrasses ta belle,
    L' ardent feu de jadis
    Bru^le à présent pour elle.

    Paris, trời trở lạnh
    Ôm người đẹp bên anh
    Lửa tình xưa, nay dành
    Cho người mới yêu anh

    Il fait chaud à Paris,
    Ton coeur est en délire.
    Chaque mot qú elle dit
    T' apporte le sourire.

    Paris, trời đang nóng
    Tim anh như lửa bỏng
    Lời nàng nghe như mộng
    Anh cười dễ như không .

    Il fait gris à Paris,
    Tu lui lis le poème,
    Jadis pour moi écrit,
    Quand tu m' as dit : "Je t' aime!"

    Paris, trời ủ rũ
    Đọc cho nàng thơ cũ
    Ngày xưa viết tặng em
    Anh đã nói: "Je t'aime"

    Il pleut fort à Paris,
    Heureux, tu oublies l' heure.
    Jamais tu ne saisis
    Que pour moi Paris pleure.

    Paris, trời mưa to
    Mải vui, quên thời giờ
    Có khi nào anh nhớ
    Vì em, Paris nức nở .

    Il fait nuit à Paris,
    Lentement l' ombre efface,
    Sous son pas, toute trace
    De mon faux paradis.

    Paris đã vào đêm
    Bóng tối xóa chậm êm
    Bóng đêm, giờ còn lại
    Thiên đường ma của em !

    Il est tard à Paris,
    S' endort la citadelle.
    Tu ne penses qú à elle,
    Et n' entends point mes cris.

    Paris, đêm vào khuya
    Thành phố trong giấc nồng
    Anh đang say bóng hồng
    Có nghe em khóc không.

    Adieu, ami,
    Adieu, romance.
    Adieu, souffrance,
    Adieu, Paris.

    Xin vĩnh biệt anh yêu
    Xin vĩnh biệt cuộc tình
    Xin vĩnh biệt khổ đau
    Paris, vĩnh biệt nhau!


    (Nguyễn Đàm Duy Trung chuyển ngữ)
    April 6, 2002

    Chiếc xe buýt đã lăn bánh ra khỏi thành phố Paris. Ông trưởng đoàn du lịch đã cho chúng tôi biết phải mất chín giờ mới đến thành phố Lucerne ở Thuỵ sĩ. Vì vậy khuyên chúng tôi hãy nhìn ra hai bên đường xem những phong cảnh thơ mộng hữu tình để giết thì giờ. Thế rồi ông trưởng đoàn Leung Reddy bắt đầu kể chuyện vui cho anh chị em du khách trong đoàn du lịch nghe. Hết chuyện này ông ta kể đến chuyện khác. Ông ta nói liên tu bất tận. Cứ mỗi lần nói tiếng Anh xong ông ta lại nói sang tiếng Hoa để cho một số người Hoa không biết tiếng Anh cũng có thể nghe được. Hết kể chuyện ông ta lại bắt đầu ca hát. Ông hát liên tục sáu, bảy bài mà không biết mệt. Ai đề nghị bài nào ông ta hát bài đó. Dĩ nhiên nhạc ông ta hát tất cả đều là nhạc bằng tiếng Hoa.

    Chúng tôi tất cả 42 người lúc đầu ai cũng lắng tai nghe để cho quên đường sá xa xôi, để cho quên nơi đến tham quan trên đất Thuỵ sĩ còn xa ngút ngàn. Dần dần một số người trong đoàn bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Một số người khác lại tham gia chương trình văn nghệ bỏ túi trên xe buýt với ông trưởng đoàn bằng cách lên cầm Micro hát một bài giúp vui. Tôi và bà xã tôi khi thức khi ngủ. Nếu ngủ thì thôi còn thức thì cũng lắng tai nghe chương trình văn nghệ bỏ túi ấy. Vừa nghe chương trình văn nghệ vừa nhìn ra ngoài, tôi thấy cảnh vật dọc hai bên đường cũng thơ mộng lắm. Hằng trăm mẫu đất trồng nho nằm sát bên đường trông thật xinh xắn. Cứ cách nhau vài trăm mét lại có một đàn bò trắng đang gặm cỏ dưới ánh nắng chiều trông thật đẹp mắt. Đặc biệt có nhiều đồi núi sao mà giống núi đồi ở Đà Lạt quá. Nhất là những dãy núi đồi nằm phía bên phải con đường giống hệt như những núi đồi từ thác Liên Khương về đến thành phố Đà Lạt vậy. Không ngờ những nhận xét của tôi lại trùng hợp với nhận xét của anh Bùi Phước Ty khi anh Ty ngồi ghế phía trước tôi ngoái cổ lại nói nhỏ với tôi:

    -Điền nhìn dãy núi đồi phía bên phải kìa, sao mà giống hệt như dãy đồi núi từ thác Liên khương về tới thành phố Đà lạt quá .

    Thế rồi cái gì đến đã đến. Chẳng mấy chốc xe buýt chúng tôi đã đến gần biên giới của Pháp và Thuỵ sĩ. Bỗng tài xế cho xe dừng lại. Ông trưởng đoàn nói cho chúng tôi biết là chúng tôi có 20 phút để làm vệ sinh cá nhân. Thế là chúng tôi cùng nhau xuống xe buýt vào nhà hàng bên đường tìm nhà vệ sinh. Lúc này tôi vẫn còn đau bụng đi tháo dạ nên tôi cố đi hơi nhanh để tìm nhà vệ sinh. Khi thấy nhà vệ sinh rồi, tôi liền mở cửa từng phòng để vào. Tất cả trong nhà vệ sinh này có 4 phòng để đi cầu. Tôi mở phòng nào cũng không được cả vì tất cả đều bị khoá hết. Nhìn vào phía dưới chẳng thấy ai trong nhà cầu cả . Chỉ thấy một phòng có người ở bên trong thôi. Thế là tôi đứng chờ trước phòng có người ngồi bên trong. Chờ một phút rồi mà anh chàng ở trong phòng chưa chịu ra trong lúc Tào Tháo rượt gần kịp tôi rồi! Bí quá tôi quay lưng lại xem có người nào làm việc trong nhà hàng này để hỏi xem tại sao ba nhà cầu kia lại khoá lại. Bỗng có một bà bán trong nhà hàng này đi ngang qua, tôi liền đến hỏi bà ta bằng một câu tiếng Anh:

    -Mrs,why did you lock the door of the restroom like that?

    Nghe tôi hỏi như vậy bà ta chỉ mở to cặp mắt nhìn tôi như có vẻ không hiểu tôi nói gì cả.

    Thấy bà ta có vẻ như không hiểu câu hỏi của tôi tôi liền hỏi lại bằng tiếng Pháp:

    -Madame, pourquoi fermez vous la porte de la toilette ?

    Lại một lần nữa bà ta nhìn tôi rồi nheo mắt lại!

    Thấy thế tôi nghĩ bụng, Tào Tháo rượt tới nơi rồi mà bà ta vẫn không hiểu gì cả thì coi như sắp bỏ mạng sa trường rồi! Bỗng một tia sáng loé lên trong đầu tôi, hay là ta hỏi bằng tiếng Tây ban nha xem sao . Nghĩ thế tôi liền hỏi ngay bà ta một lần nữa bằng tiếngTây ban nha:

    - Senora, porque cerra Usted la puerta de tocador?

    Nghe tôi hỏi như vậy, bà ta liền trợn mắt nhìn tôi rồi đưa hai tay lên trời và bỏ đi khiến tôi kêu trời không thấu!

    Bỗng đâu ông trưởng đoàn Leung Reddy xuất hiện như là vị cứu tinh khẩn cấp của tôi. Tôi liền hỏi ông trưởng đoàn ngay, dĩ nhiên bằng tiếng Anh:

    -Tại sao họ lại đóng cửa cả ba phòng kia làm sao mà đi cầu đây ông Leung Freddy ?

    Ông trưởng đoàn vừa chỉ tay vào nhà cầu vừa trả lời:

    -Họ mới mở thêm một phòng nữa kia kìa anh vào đi.

    Vừa nghe ông trưởng đoàn nói như vậy tôi liền bay thật nhanh như hoả tiển liên lục địa vào phòng vừa mới mở. Vừa ngồi xuống chưa kịp đóng cửa, một dòng thác từ trong ruột già đổ xô ào ạt xuống nhà cầu làm cho tôi thất điên bát đảo! Đi du lịch mà gặp đại nạn như thế này thì đúng là kêu trời không thấu.

    Sau khi lên xe buýt an toạ, tôi nghĩ lại chuyện đi vào nhà vệ sinh vừa rồi khiến lòng tôi có một vài thắc mắc. Tại sao tôi nói cả ba thứ tiếng rồi mà bà ta vẫn không hiểu? Hay là vì tôi phát âm không rõ hoặc là nói tiếng bồi nên bà ta không nghe được? Hay bà ta là người Đức, người Ý mới không hiểu được ba thứ tiếng kia? Chỉ có trời biết!

    Tôi đang miên man suy nghĩ thì xe buýt bắt đầu chuyển bánh lên đường.

    Thường thì mỗi lần đến nước nào khi chuẩn bị để vượt qua biên giới lãnh thổ của hai nước, chúng tôi luôn luôn phải qua thủ tục hải quan. Nhưng có lẽ tại biên giới Thuỵ sĩ và Pháp, vấn đề thủ tục hải quan tương đối dễ dàng sao đó, và có lẽ ông trưởng đoàn đã báo cáo tổng số du khách trên xe trước rồi nên chỉ sau mấy phút anh tài xế trình bày với giới hữu trách tại biên giới Pháp vàThuỵ sĩ, xe chúng tôi liền được phép vưượt qua biên giới để tiến về thành phố Lucerne. Mất một ngày đi đường rồi nên khi trời vừa tối, xe buýt chúng tôi cũng vừa đến thành phố Lucerne của Thuỵ sĩ. Tại đây chúng tôi được ông trưởng đoàn sắp xếp phòng ốc ngay trong khách sạn Astoria ở đường Pilatusstrasse 29, CH6002Lucerne Switzerland. Sau đó chúng tôi tự túc ăn cơm tối sau khi ông trưởng đoàn giới thiệu cho chúng tôi tiệm Mac Donal ở một góc đường gần khách sạn .

    Như vậy nếu tính ngày giờ đã đi qua, chúng tôi đã du lịch tại Anh quốc hai ngày(ngày 20 và 21), tại Pháp 2 ngày( ngày 22 và 23). Và hôm nay là ngày 24 tháng 09 năm 2007, chúng tôi bắt đầu đến Thụy Sĩ.

    Như thường lệ sau khi điểm tâm xong, chúng tôi tất cả 42 người đều tề tựu đông đủ trước khách sạn Astoria để lên xe buýt đi xem các danh lam thắng cảnh tại Thuỵ Sĩ.
    Lúc này ngoài trời mưa đang bay nhè nhẹ nên chúng tôi đều mang dù và áo mưa theo.

    Sau khoảng nửa giờ vòng quanh trong thành phố, xe buýt bắt đầu dừng lại. Chúng tôi liền xuống xe đi theo ông Leung Reddy để ông ta hướng dẫn đến đài tưởng niệm The Lion Monument . Khi ông trưởng đoàn du lịch đang giải thích và đề cập đến di tích lịch sử của đài tưởng niệm nầy thì trời bắt đầu mưa hơi lớn. Chúng tôi liền lấy dù và áo mưa ra để mặc và che mưa. Vừa nghe ông ta giải thích, chúng tôi vừa quay phim vừa chụp hình. Nhìn đài tưởng niệm The Lion Monument, tôi thấy những nét điêu khắc trực tiếp trên đá thật tinh xảo và tuyệt vời. Thảo nào nhà văn Mark Twain đã diễn tả bức tượng con sư tử đang hấp hối này là một mẫu đá buồn nhất và cảm động nhất trên thế giới. Sau khoảng 30 phút chúng tôi lại theo gót chân ông ta đến xem thắng cảnh ở bên bờ hồ Lucerne Lake giữa thành phố Lucern. Nơi đây chúng tôi cũng đã đi qua chiếc cầu gỗ nỗi tiếng Kapell Bridge bắc qua hồ Lucerne thật đẹp và thơ mộng. Theo sự giải thích của ông trưởng đoàn du lịch, cầu nầy nằm gần nơi nối liền con sông với hồ Lucern. Chiếc cầu Kapell Bridge được xây cất vào năm 1335, chiều dàl 200 mét. Tuy nhiên khi nhìn vào chiếc cầu người ta thấy có vẻ còn mới chứ không cũ lắm. Sở dĩ như vậy là vì năm 1993, một trận hoả hoạn đã thiêu rụi gần như toàn bộ cây cầu nầy và tất cả đều mới được sửa chữa và phục hồi lại.

    Sau đó ông trưởng toán hướng dẫn chúng tôi lên một chiếc du thuyền để được lái đi vòng quanh bờ hồ Lucerne vừa nhìn phong cảnh hữu tình vừa ngồi ăn cơm trưa thật vui thú và hạnh phúc. Chiếc du thuyền này gọi là “ Lake Lucerne Happy Hour Cruise”.Vé để được ngồi trên du thuyền này là 30 Euro cho mỗi một người. Khoảng một giờ sau, chúng tôi từ giả du thuyền rồi leo lên xe buýt để về lại khách sạn.

    Sáng hôm sau, chúng tôi lại tập họp đầy đủ trước khách sạn để ông trưởng đoàn hướng dẫn lên đỉnh núi Mt.Titlis. Đây là ngọn núi cao nhất ở Thuỵ sĩ , độ cao 10,000 feet khoảng 3 cây số. Trong đoàn chúng tôi có một số du khách không tham dự vụ leo lên đỉnh núi nầy. Có lẽ có người không thích, có người không đem đủ tiền để mua vé vv…

    Giá vé cho mỗi người để được lên đỉnh Mt.Tilis là 50 Euro. Lúc ở nhà, tôi cứ tưởng leo lên đỉnh núi bằng cách đi lên tầng cấp. Vì vậy tôi mang theo một cái gậy và một cái belt để thắt lưng dự trù gặp trường hợp leo núi khó khăn tôi phải chống gậy và mang dây belt vào, vừa để khỏi té vừa đỡ đau lưng vì lưng tôi bị đau cột sống từ lâu. Nhưng khi đến nơi tôi mới biết rằng, chúng tôi lên tận đỉnh núi Mt.Titlis cao chót vót kia bằng cách ngồi vào trong những chiếc xe nho nhỏ do một hệ thống dây cáp (cable) vĩ đại kéo từ dưới mặt đất từ từ lên tận đỉnh núi. Mỗi xe ngồi chỉ 6 người, xe này cách xe kia khoảng vài chục mét. Sau khoảng 15 phút, chúng tôi đã đến đỉnh núi Mt.Titlis cao 10,000 feet. Tại đây, nhìn chung quanh tất cả bốn phương tám hướng, chúng tôi chỉ thấy toàn tuyết và tuyết trắng xóa mà thôi .Chẳng thấy mây trời cũng chẳng thấy cây cối và núi đồi đâu cả. Dĩ nhiên vì chung quanh chỉ thấy một màn tuyết trắng nên khí hậu cũng lành lạnh. Tuyết bay khắp nơi rồi phủ vào cả áo quần của du khách. Thấy quang cảnh cũng hay hay và là lạ nên anh em lại rủ nhau quay phim và chụp hình. Mỗi toán lên xem khoảng vài chục người nên sau khoảng mười lăm phút, chúng tôi lại được lệnh xuống núi để cho toán khác lên xem. Thế là chúng tôi lại vào ngồi trong xe nho nhỏ như lúc mới lên và hệ thống dây cáp từ từ di chuyển đưa chúng tôi xuống lại mặt đất.

    Sau khi điểm danh đầy đủ, ông trưởng đoàn du lịch bảo lên xe buýt để về lại khách sạn chuẩn bị ăn cơm chiều. Sau đó như thường lệ, ông trưởng đoàn thông báo cho chúng tôi biết sáng mai sẽ rời khách sạn để sang nước Ý.

    Đúng 8:00 giờ sáng, xe buýt từ từ chuyển bánh để qua nước Ý đến thành phố Milan.

    Milan là một trong những hành phố lớn nhất của nước Ý. Nơi đây có nhiều di tích lịch sử nên ông trưởng đoàn cho chúng tôi vào thành phố nầy để thưởng ngoạn. Thành phố nầy cũng là trung tâm của thời trang về nhiều loại sản phẩm nỗi tiếng nhất thế giới như áo quần, giày dép, crystal pha lê vv…Vì vậy chúng tôi được ông trưởng đoàn cho lên tàu vượt dòng sông để đến bờ bên kia xem trung tâm chế tạo ly, tách và những sản phẩm được chế tạo bằng cát rồi biến chế để trở thành trong sáng như thuỷ tinh, pha lê.

    Sau đó để tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi được hướng dẫn đến thăm nhà thờ nỗi tiếng Milan, người Ý gọi là Dumo Di Milano. Nhà thờ này được xây dựng từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19 nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành. Đây là một trong những nhà thờ lớn nhất thế giới, sau đền thánh Saint Peter ở La mã. Tôi và bà xã tôi cũng đã vào xem nhà thờ này trong khi nhiều người khác thích đi shopping ở ngoài hơn vì biết rằng nhà thờ này còn đang tiếp tục được xây cất chưa hoàn thành. Khi đến gần một cột trụ xây bằng đá ở trong nhà thờ, tôi dang tay ôm cột trụ để ước luợng khoảng bao nhiêu người ôm mới xuể. Sau đó tôi thấy rằng phải đến bốn người mới ôm hết cột trụ này. Điều này chứng tỏ cột trụ bằng đá trong nhà thờ Milan to đến chừng nào. Sau đó chúng tôi đến xem bức tượng của nhà danh họa Ý đại lợi, Da Vinci, người Ý gọi là Leonardo Da Vinci, tác giả của hai bức danh hoạ Mona Lisa và The last Supper. Ông trưởng đoàn cho chúng tôi biết rằng, Leonardo Da Vinci không những là một danh hoạ mà còn là một nhà toán học, một kiến trúc sư, một điêu khắc gia, một nhạc sĩ, và cũng là một văn sĩ nữa. Sau đó chúng tôi đến xem hý trường La scala nỗi tiếng của thành phố. Hý trường bị hoả hoạn vào tháng 02 năm 1776, sau đó được xây dựng lại và đã được khánh thành vào ngày 03 tháng 08 năm 1778. Đây là Opera House lớn nhất của thành phố Milan.

    Sau khi đi xem một số di tích lịch sử trong thành phố, chúng tôi nghỉ ngơi để ăn cơm trưa. Chiều hôm đó chúng tôi được ông trưởng đoàn hướng dẫn đến ngôi nhà cũ của nàng
    Juliete trong chuyện tình Romeo và Juliete mà văn sĩ nỗi tiếng Anh quốc Shakespear đã viết lại trong tác phẩm của ông ta.

    Lúc bắt đầu bước vào ngõ hẻm dẫn vô nhà ở của nàng Juliete, tôi thấy một tấm bảng nho nhỏ vuông vắn gắn trên một cột bằng đồng nhỏ đề mấy chữ bằng tiếng Ý:

    CASA DI GIULIETTA (Ngôi nhà của Juliete).

    Đi theo ngõ hẻm vào trong, chúng tôi thấy bức tượng bằng đồng của nàng Juliete đứng trước ngôi nhà nhìn ra ngoài đường. Nhiều du khách đang chụp hình bức tượng, kẻ khác lại đứng gần bức tượng rồi nhờ bạn bè chụp một tấm hình để làm kỷ niệm. Tôi và bà xã tôi cũng muốn chụp mỗi người một tấm hình để làm kỷ niệm. Tuy nhiên tôi phải đợi một du khách khác đang đứng sát bức tượng để nhờ bạn anh ta chụp xong tôi mới đến gần được. Nhưng ông du khách này lại đùa giởn thật kỳ quái làm mất thì giờ của những người khác đang chờ: ông ta cứ đưa tay vừa thoa vừa bóp cái vú bên phải của bức tượng, vừa cười một cách trơ trẻn. Sau khi bạn ông ta chụp xong, vợ chồng tôi mới thay phiên nhau tiến đến gần bức tượng để chụp hình làm kỷ niệm. Sau đó chúng tôi liền mua vé để vào trong ngôi nhà của nàng Juliete cách đây mấy trăm năm mà xem cho được tường tận khi nhớ lại chuyền tình của chàng Romeo và nàng Juliete sao mà buồn vời vợi. Một chuyện tình thật bi thương và cay đắng, một chuyện tình thật nghẹn ngào đầy nước mắt. Khi vào trong chúng tôi thấy một số đồ đạc của gia đình Juliete vẫn còn nguyên vẹn tuy có hơi cũ mà thôi. Chiếc giường của nàng còn đó. Trên giường có trải một tấm drap trắng và chiếc gối vẫn còn nằm ở đầu giường. Cạnh chiếc giường là hai chiếc ghế bằng gỗ mà trên hai chiếc ghế này, đã nhiều lần Romeo trốn vào đây ngồi bên cạnh Juliete để tỏ bày tâm sự , để chàng và nàng cùng nhau nức nở lệ sầu. Vì cấm chụp hình lúc vào xem trong ngôi nhà này, nhưng vì một lần đi là một làn khó, biết bao giờ trở lại được nơi nầy nên nhanh như chớp, tôi đưa máy chụp hình cầm sẵn trên tay chụp liền hai hình để làm kỷ niệm: một hình chụp chiếc giường nàng Juliete nằm, một hình chụp hai chiếc ghế bằng gỗ nơi chàng Romeo và nàng Juliete ngồi tâm sự chuyên tình cách đây mấy trăm năm. Sau đó tôi và bà xã tôi ra đứng tại cửa sổ, nơi nàng Juliete đêm đêm đứng trông ngóng chàng Romeo đến thăm nàng. Bỗng bà xã tôi hỏi:

    -Làm sao mà Romeo leo lên cửa sổ nầy được anh ?

    Nghe bà xã tôi hỏi như vậy tôi không biết trả lời làm sao cả. Bởi vì khi đứng trên cửa sổ tầng thứ nhất của ngôi nhà Juliete nhìn xuống, tôi thấy khó mà leo lên được cửa sổ nầy thật. Tuy nhiên có một bức tường chung của nhà hàng xóm bên cạnh với nhà của nàng Juliete nằm phía bên phải cách cửa sổ của nhà nàng Juliete khoảng ba thước nên tôi nghĩ rằng, anh chàng Romeo có thể leo lên bức tường ấy rồi đu dây qua được cửa sổ nầy chăng?

    Bỗng thấy chị Thu Hương đang cầm máy chụp hình đứng dưới nhìn lên cửa sổ chúng tôi đang đứng, tôi cất tiếng nói vọng xuống:

    -Juliete đấy à, Juliete ơi ! Romeo đang đứng trên cửa sổ đây nè, chụp cho Romeo một tấm hình đi Juliete.

    Sau khi nghe tôi nói xong, chị Thu Hương nhìn lên, điều chỉnh camera ba mươi dây rồi bấm nút. Khi tia flash loé sáng, chị ấy cười đắc chí vì đã chụp được một Romeo dõm đứng bên cạnh một Juliete cũng dõm là bà xã tôi, tại cửa sổ thật của nhà nàng Juliete thật ở tại thành phố Milan trên đất nước Ý.

    Sau khi tham quan ngôi nhà của nàng Juliete, ông trưởng đoàn bảo anh em chúng tôi lên xe để đến thành phố Venice ăn cơm tối. Khoảng một giờ đồng hồ sau xe buýt đã đến khách sạn Sheraton Padova ở Corso Argentina 535129 Padova tại Ý. Sau khi ăn uống xong chúng tôi lên phòng ngủ để sáng mai tiếp tục cuộc hành trình của mấy ngày du lịch còn lại. Cũng giống như những lần khác, đúng 8:00 giờ sáng, sau khi ăn điểm tâm xong chúng tôi lại lên xe buýt để đi tham quan những danh lam thắng cảnh trong thành phố. Tại đây dưới sự hướng dẫn của ông trưởng đoàn, chúng tôi đến xem đại giáo đường thánh Mark, the Magical Piazza St.Marco và chiếc cầu Bridge of Sighs. Tên chiếc cầu nầy do thi sĩ Lord Byron đặt ra . Vì khi tội nhân nào vào nhà tù cũng đi ngang chiếc cầu nầy và khi đi qua cầu nầy, tội nhân hay than vắn thở dài nên nhà thơ Lord Byron đặt tên là cầu thở dài(Bridge of sighs). Sau đó, chúng tôi được hướng dẫn đến địa điểm bước xuống thuyền để đi vòng quanh trên lạch nước the Grand Canal thơ mộng nằm giữa thành phố Venice gọi là “Serenade Gondola Ride”. Du khách muốn được ngồi trên thuyền này phải mua vé, 35 Euro cho mỗi người. Nhóm chúng tôi vẫn 6 người như thường lệ ngồi trên một chiếc thuyền màu đen do một anh chàng người Ý khoẻ mạnh chèo thuyền đưa chúng tôi dạo quanh con lạch . Thuyền này cách thuyền kia khoảng mười thước. Thuyền nào ít người thì có ban nhạc ngồi chung. Họ vừa đàn vừa hát giúp vui cho du khách ngồi trên các thuyền thưởng thức. Dưới ánh nắng dịu hiền của mùa thu mới về trên đất Ý, chúng tôi ngồi trên thuyền nghe tiếng đàn, tiếng hát của mấy chàng ca sĩ người Ý ở chiếc thuyền trước mặt cũng khiến cho tâm hồn chúng tôi cảm thấy rộn ràng , hân hoan, cảm thấy hạnh phúc, vui tươi. Vì cảnh mấy chiếc thuyền đen đang lướt nhẹt trên lạch nước chảy quanh thành phố Venice dưới ánh nắng thu thật tuyệt đẹp nên chúng tôi thay phiên nhau quay phim, chụp hình. Thuyền này chụp thuyền kia, người kia chụp người nọ liên hồi.

    Khoảng nửa giờ sau anh chàng lái thuyền người Ý cho thuyền chúng tôi cập bến rồi gác mái chèo. Chúng tôi liền lên bờ và theo ông trưởng đoàn để đi ăn cơm trưa.

    Thế rồi chiều hôm ấy, chúng tôi đến tham quan tháp nghiêng Pisa rồi chụp hình làm kỷ niệm. Vì tháp hơi nghiêng và lên tầng cấp hơi khó khăn, cũng như phải mua vé mới lên xem được, vì vậy rất nhiều người trong đoàn du lịch chúng tôi không muốn lên xem. Riêng nhóm 6 người chúng tôi nhất quyết lên xem cho được mặc dầu tôi bị đau lưng và bà xã tôi mới bị té sáng qua nên lưng bị sưng lên làm hơi đau đớn. Trước khi leo lên tháp Pisa, ông trưởng đoàn cũng nói cho chúng tôi biết sơ tiểu sử về di tích của tháp này. Tháp The Leaning Tower of Pisa tiếng Ý là Torre pendente di Pisa hay là La Torre di Pisa. Tháp này là cấu trúc thứ ba trong quãng trường Piazza del Duomo và được xây đứng một mình bên cạnh nhà thờ thành phố Pisa ở Ý. Lúc xây thì tháp thẳng đứng, nhưng sau khi xây xong vào năm 1173, tháp bị lệch hướng và nghiêng về phía đông nam vì có một nền móng của tháp bị yếu vì thiếu chất nền. Tháp cao 55.86 mét, rộng 4.09 mét, đỉnh rộng 2.48 mét. Từ dưới lên trên có tất cả 294 tầng cấp. Độ nghiêng của tháp 5.5 và nặng 14, 500 tấn. Tháp nầy được xây qua 3 giai đọan trong thời gian 177 năm. Sau khi xác định lại một lần nữa, các kiến trúc sư cho biết rằng tháp sẽ vẫn còn vững chắc ít nhất 300 năm nữa. Sau khi nghe ông trưởng đoàn trình bày xong, chúng tôi liền đến gần tháp để mua vé rồi leo lên tháp tham quan. Tôi và bà xã tôi dìu tay nhau người sau người trước vừa đi lên chầm chậm vừa nghỉ. Đến tầng thứ tư của tháp Pisa, vì quá đau lưng nên bà xã tôi không muốn đi lên nữa. Nhờ sự thuyết phục và động viên của tôi và nhờ tôi dìu bà xã tôi đi chầm chậm, cuối cùng chúng tôi đã lên được đỉnh của tháp Pisa. Lúc đứng trên tháp Pisa nhìn xuống, tôi nói với bà xã tôi rằng chúng mình đã chiến thắng nhờ cố gắng khắc phục được sự đau lưng nên mới lên tới đỉnh tháp Pisa. Thế rồi chúng tôi chụp vài bức hình làm kỷ niệm trước khi đi xuống. Sau khi về khách sạn nằm nghĩ lại vụ leo lên tháp, tôi thấy tôi và bà xã tôi thật liều lĩnh và quá chịu đựng vì đã leo tất cả 294 tầng cấp (bậc thềm) đang trơn trợt vì có nước ở các tầng cấp trong khi lưng chúng tôi đau nhói lúc đang leo. Có lẽ một lần đi là một lần khó cũng như biết rằng chẳng bao giờ trở lại tháp Pisa nầy nữa nên phải quyết chí mà thôi.

    Sau khi từ giả tháp nghiêng Pisa, chúng tôi được ông trưởng đoàn du lịch hướng dẫn về khách sạn Grand Hotel Guinigi ở tại Via Romana 1247, Lucca thuộc tỉnh Lucca nướcÝ để nghỉ ngơi và ăn cơm tối.

    Sáng hôm sau ông trưởng đoàn du lịch đưa chúng tôi đi thăm một số di tích lịch sử trong thành phố Florence. Chúng tôi đã đến xem Cổng Thiên Đàng (the Door of Paradise) hay còn gọi là the Bronze Door of the Baptistery, quãng trường Signoria, trung tâm thương mại Duomo và di tích “ the 13 Santa Crose”. Sau những di tích lịch sử nầy chúng tôi đuợc hướng dẫn đi xem các cửa tiệm bán áo quần, giày dép vv…làm bằng da thuộc của thú vật chính hiệu con nai vàng. Đến chiều, ông trưởng đoàn du lịch dẫn chúng tôi đến thành phố nổi tiếng nhất trên thế giới của Thiên chúa giáo, đó là thành phố La mã. Tại đây ông trưởng đoàn cho chúng tôi vào tham quan toà thánh Vatican trước. Sau khi mua vé vào cửa xong, 36 Euro cho mỗi một người, chúng tôi đứng sắp hàng nối đuôi nhau để vào xem. Vì hằng trăm đoàn du lịch từ khắp nơi trên thế giới đổ xô về đây để tham quan toà thánh La mã, nên chúng tôi tuy đã sắp hàng nối đuôi nhau rồi, nhưng vẫn di chuyển rất chậm chạp từng bước một và phải mất một giờ bốn mươi lăm phút mới vào được bên trong toà thánh La mã. Tại đây, chúng tôi được tham quan quãng trường và đại giáo đường Thánh St.Peter. Trong lúc nhìn kỹ lối kiến trúc và những bức tượng được đặt trong đền Thánh St.Peter, anh Lê văn Chính đi bên cạnh tôi ca ngợi liên tục. Anh nói:
    -Điền thấy không, nhìn lối kiến trúc của ngôi đền từ ngoài vào trong từ trong ra ngoài, cũng như những nét điêu khắc, chạm trổ thật điêu luyện và tinh vi của mỗi bức tượng, mình phải thán phục những nghệ nhân cách đây mấy thế kỷ. Nếu so sánh nghệ thuật thưở ấy và bây giờ mình phải nói nghệ thuật của người xưa quá tuyệt vời.

    Sáng nay đáng lẽ chúng tôi vào thăm di tích cổ thành La Mã trước, nhưng khi đến nơi, các đoàn du lịch khác nối đuôi nhau vào xem quá đông nên ông trưởng đoàn sau khi hướng dẫn chúng tôi đi thăm một vài di tích ở bên ngoài thành liền thay đổi chương trình, qua thăm toà thánh La Mã trước. Trong khi điểm danh lại trên xe buýt, ông trưởng đoàn thấy mất tích hai người. Ông liền chỉ thị cho tài xế xe buýt phải chờ hai vợ chồng người Hoa kia trở lại rồi mới khởi hành. Trong lúc đó, ông trưởng đoàn cầm cây cờ hãng du lịch Tour Ritz chạy tới chạy lui trong mấy đám đông mất mười lăm phút toát mồ hôi hột vẫn không tìm thấy hai người kia đâu cả. Cuối cùng, ông trưởng đoàn quyết định cho tài xế lái xe buýt qua thăm toà thánh La Mã nếu không sẽ bị trễ dây chuyền ở những nơi khác. Cũng may là ông trưởng đoàn đã cho tất cả du khách trong đoàn biết số cell phone của ông ta nên khi hai vợ chồng người Hoa kia bị lạc, họ đã gọi cell phone cho ông trưởng đoàn. Sau đó nghe đâu ông chồng người Hoa này bị Tào Tháo rượt nên phải tìm nơi đi cầu. Vì vậy bà vợ phải chờ ông ta nên khi ông trưởng đoàn tập họp du khách lại để lên đường, hai vợ chồng người Hoa này không ra kịp nên bị lạc. Đi du lịch kiểu này vợ chồng luôn luôn phải sát cánh bên nhau mới khỏi bị lạc nhau. Thà lạc đoàn du lịch rồi nhờ cảnh sát tìm cách liên lạc lại sau chứ vợ lạc chồng hay chồng lạc vợ thì rắc rối cho cuộc tình! Cuối cùng hai vợ chồng người Hoa này đã gọi tắc xi về khách sạn. Không hiểu đồ ăn thức uống tại các tiệm ăn như thế nào mà hết nửa đoàn du lịch chúng tôi đều bị Tào Tháo rượt! Vì vậy vấn đề đi tìm phòng vệ sinh lắm lúc làm trở ngại cho cả đoàn. Dĩ nhiên đây là những trường hợp xảy ra ngoài ý muốn của mọi người.

    Trở lại vấn đề trên, sau khi khi tham quan toà thánh La mã xong, chúng tôi liền leo lên xe buýt để đến xem cổ thành La Mã lúc trời gần chiều.

    Cũng như những nơi khác, chúng tôi thay phiên nhau chụp hình, quay phim cổ thành La mã để làm kỷ niệm. Cuối cùng ông trưởng đoàn tập họp điểm danh chúng tôi trước khi hướng dẫn chúng tôi về khách sạn Holiday Inn Rome Eur Parco dei Medici ở tại Viale Castello della Magliana 65, 00148 thành phố Rome tại Ý.

    Sáng hôm sau, chúng tôi được ông trưởng đoàn hướng dẫn đi thăm tiếp những di tích lịch sử còn lại tại thàng phố La mã như the eternal Colosseum, the Roman Forum, Constatine’s Triumphal Arch, Spanish Steps, và Trevi Fountain.

    Thế rồi chiều hôm ấy, sau mười mấy ngày đi du lịch qua 4 nước Anh, Pháp, Thuỵ Sĩ, Ý, sau khi tham quan những nơi đã vạch sẵn trong chương trình du lịch, chúng tôi còn khoảng một đến hai giờ đồng hồ nữa là chấm dứt cuộc du lịch 4 nước Âu Châu. Chỉ còn một hai giờ phù du còn lại, chúng tôi được ông trưởng đoàn cho đi shopping để mua sắm quà kỷ niệm tặng bạn bè và nhìn thành phố La mã lần cuối trước khi đi ăn cơm tối, rồi về khách sạn nghỉ ngơi để sáng mai lên máy bay trở lại quê nhà.

    Chiều hôm ấy sau khi hết giờ đi shopping, ông trưởng đoàn dẫn chúng tôi vào một tiệm ăn người Ý để dùng cơm tối. Vì đây là bữa cơm chung vui cuối cùng của tất cả du khách trong đoàn nên mỗi người đóng góp 45 Euro cho ông trưởng đoàn để ông ta đặt trước tại nhà hàng. Vì là một bữa tiệc ly biệt nên tối hôm ấy ông trưởng đoàn du lịch đã cùng anh em trong đoàn chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác say sưa bên nhau rất là vui vẻ. Vui nhất là các anh bồi bàn ngườiÝ. Họ luôn luôn diện veston, thắt cà vạt lúc bưng đồ ăn ra cho thực khách. Không biết đây có phải truyền thống đùa vui trong tiệm ăn của người Ý hay không mà mấy anh chàng bồi bàn này mỗi lần bưng một món ăn cho một phụ nữ, họ thường cầm theo một cánh hoa hồng để tặng cho người phụ nữ đó. Trước khi tặng cho người phụ nữ nào, các anh chàng này làm một dấu hiệu để xin các nàng một nụ hôn. Nhiều nàng chiều ý chàng để cho chàng hôn lên má, nhiều nàng lại không muốn chiều chàng vì có chồng bên cạnh nên chỉ biết cười rồi ngoảnh mặt đi. Tuy nhiên có một chàng bồi bàn lại liều lĩnh khi xin nàng một nụ hôn và vì thấy nàng cười có vẻ như ưng ý, chàng ta liền lấy một khăn trắng để sẵn trên bàn rồi thả nhẹ để phủ trên đầu và mắt người chồng ngồi bên cạnh nàng. Nhanh như chớp, anh chàng bồi bàn kia vừa hôn nhẹ lên má nàng vừa trao cánh hoa hồng cho nàng. Vì động tác của chàng bồi bàn quá nhanh nên nàng trở tay không kịp. Cuối cùng nàng chỉ biết ngồi cười hì hì trong lúc chồng nàng cũng vừa lấy chiếc khăn trắng ra khỏi đầu. Tất cả thực khách thấy thế đều cười to lên khiến người chồng của nàng kia cũng ngạc nhiên không biết tại sao mọi người lại cười như thế. Tiếp theo trò tặng hoa hồng của mấy anh chàng bồi bàn là những bài hát nhạc dạo của hai chàng ca sĩ người Ý. Lúc chúng tôi đang ngồi chờ những thức ăn khác, có hai thanh niên người Ý bước vào. Anh chàng lớn tuổi hơn thì cầm kèn clarinette, anh chàng nhỏ tuổi hơn cầm đàn guitare. Cả hai vừa đàn vừa hát một bản nhạc của nước Ý. Sau khi họ hát xong chúng tôi vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Nhiều người lấy tiền tặng cho họ. Tôi cũng lấy 5 đô la để sẵn trong túi ra tặng cho họ. Sau đó tôi đề nghị họ hát bài “Torna A Surriento” của nhạc sĩ người Ý tên là Ernesto De Cutis, tức là bài Come back to Sorrento (Trở Về Mái Nhà Xưa). Anh chàng lớn tuổi hơn bảo tôi rằng họ không biết bài đó. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe chàng ta nói như vậy bởi vì bài này rất phổ biến tại nước Ý và đã ra đời cách đây hơn 100 năm cả thế giới đều biết.Tuy nhiên ba mươi giây sau họ nói với tôi rằng họ đùa chơi vậy thôi, để họ hát cho mà nghe! Có thế chứ ! Tôi liền nhìn anh Bùi Ty ngồi trước mặt rồi nói :

    -Ca sĩ Ý mà không biết bài “Trở về mái nhà xưa” thì đập vỡ cây đàn guitare đi là vừa Ty há.

    Thế là anh chàng lớn tuổi thổi kèn clarinette trong lúc anh chàng cầm đàn guitare vừa đàn vừa hát bài “Trở về mái nhà xưa” bằng tiếng Ý thật du dương, nhẹ nhàng, thật khoan thai và điêu luyện. Lúc tiếng hát vừa dứt anh em vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Sau đó anh chàng lớn tuổi hỏi chúng tôi rằng trong chúng tôi ai là người biết nhảy đầm, tôi liền chỉ ngay anh chị Bùi Ty ngồi trước mặt tôi. Thế là hai anh chàng này mời anh chị Bùi Ty đứng lên để họ đàn và hát cho anh chị Bùi Ty nhảy. Bài “Besame mucho” nhạc của Mễ tây cơ được hai anh chàng kia chọn để hát cho anh chị Bùi Ty nhảy. Họ đàn bản nhạc này theo điệu cha cha cha và anh chị Bùi Ty cứ thế nhảy liên tục cho đến hết bài làm cho phòng ăn trở nên vui nhộn khác thường. Sau khi tiếng hát vừa dứt, anh chị Bùi Ty vừa về lại chỗ ngồi thì ông trưởng đoàn du lịch thừa thắng xông lên rót rượu đỏ trong chai ra hết rồi mời anh chị em cùng nâng cốc chung vui. Sau khi cạn ly, chúng tôi liền có đôi lời từ biệt với nhau rồi tất cả lên xe buýt để về khách sạn nghỉ ngơi, sáng mai chuẩn bị lên đường trở về quê cũ. Theo lời dặn của ông Leung Reddy, trưởng đoàn du lịch, chúng tôi dậy thật sớm và đúng 5:00 sáng , chúng tôi lên xe buýt để vào phi trường lên máy bay qua Thụy sĩ. Tại thuỵ sĩ, chúng tôi lại sang máy bay khác để về San Francisco. Sau khi dẫn toán chúng tôi vào phi trường, ông trưởng đoàn từ biệt chúng tôi để về lại khách sạn dẫn toán còn lại vào phi trường một lần nữa vì toán nầy phải qua Luân đôn rồi từ phi trường Heathrow tại Luân đôn, họ sẽ lên máy khác để bay về Los Angeles.

    Lúc máy bay vừa cất cánh bay cao giữa mây trời bát ngát, tôi ngoái cổ nhìn xuống những lâu đài cổ kính, những biệt thự nguy nga của nước Ý mà lòng buồn vời vợi. Mới hôm qua đây, chúng tôi đã vào tham quan những kiến trúc thật tinh xảo, những nhà thờ thật vĩ đại, những công trình xây cất quá công phu và đầy nghệ thuật. Mới hôm qua đây chúng tôi đã cùng nhau chụp biết bao nhiêu tấm hình, quay biết bao nhiêu là phim ảnh khi vào trong toà thánh La mã, khi viếng thăm cổ thành, khi leo lên tháp Pisa, khi ngồi trên thuyền lướt nhẹ trên lạch nước trong thành phố Venice thật nên thơ và dịu hiền. Vậy mà giờ phút này đây tất cả đều xa dần, xa dần, chỉ còn thấy mây trời bay trong nắng. Chuyến du lịch bốn nước Âu châu giờ đây đã chấm dứt sau mười hai ngày phiêu bạt giang hồ để trở về mái nhà xưa, trở về nơi quê cũ. Không có gì thoải mái và tuyệt đẹp bằng quê nhà. Không có gì hiền hoà và ấm cúng bằng nơi ta ở. Bỗng đâu văng vẵng bên tai tôi giọng ca bài “Trở Về Mái Nhà Xưa” bằng tiếng Ý của hai anh chàng thanh niên người Ý cầm cây đàn guitare và cây kèn clarinette hát dạo trong đêm tiệc chia tay cuối cùng của chúng tôi ở nhà hàng tại nước Ý chiều qua:

    TORNA A SURRIENTO

    Vide 'o mare quant'è bello.
    Spira tantu sentimento,
    Comme tu a chi tiene mente,
    Ca scetato 'o faie sunnà.
    Guarda, guá, chisto ciardino.
    Siente, sié sti sciure arance,
    Nu profumo accussì fino
    Dinto 'o core se ne va.
    E tu dice: "Í parto, ađio!"
    T'alluntane a stu core,
    Da sta terra de l'ammore
    Tiene 'o core 'e nun turnà?
    Ma nun me lassà,
    Nun darme stu turmiento!
    Torna a Surriento,
    Famme campà!
    Vide 'o mare de Surriento,
    Che tesoro tene 'nfunno,
    Chie ha girato tutto 'o mummo
    Nun l'ha visto comm'a ccà.
    Guarda attuorno sti Sserene,
    Ca te vonno tantu bene
    Te vulessero vasà.
    E tu dice: "Í parto, ađio!"
    T'alluntane a stu core,
    Da sta terra de l'ammore
    Tiene 'o core 'e nun turnà?
    Ma nun me lassà,
    Nun darme stu turmiento!
    Torna a Surriento,
    Famme campà!


    Rồi cũng lại văng vẵng bên tai tôi giọng hát của ca sĩ Trần Thái Hoà bài “Trở Về Mái Nhà Xưa“ bằng tiếng Việt:

    Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.
    Về đây với mầu gió ngày lang thang
    Về đây xác hiu hắt lạnh lùng.
    Ôi lãng du quay về điêu tàn.

    Đâu tiếng đàn ngoài hiên mưa?
    Và đâu bướm tơ, vui cùng mùa?
    Một mùa Xuân mới, mắt êm nắng hào hoa.

    Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan.
    Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan.
    Về đây nhé! Cắm xong chiếc thuyền hồn
    Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đờn.

    Mái tóc nhà lưu luyến vạt trăng xanh.
    Nếu mưa về yêu lấy hạt long lanh.
    Chờ mong nắng cho tươi đời xuân xanh.
    Người xa vắng biết đâu nấm nhà buồn

    Đốt ánh đèn in bóng vào rêu xanh.
    Sẽ thấy cười tan vỡ hồn đêm thanh.
    Và nghe thấy kiếp xưa bước nhẹ về
    Đang khóc than trên đường não nề.

    Thôi nhé đừng hoài âm xưa
    Giọt mưa đã gieo trên thềm nhà
    Người ngồi im bóng
    Lắng nghe tháng ngày qua.



    California, một chiều thu có nắng vàng thật đẹp
    Dương viết Điền
  4. Vào một buổi chiều chủ nhật, nhà văn Phong Vũ cùng tôi đến tư thất của nhạc sĩ Lam Phương thuộc thành phố Garden Grove, miền Nam California, để tham dự buổi họp mặt của các anh em trong Văn Đàn Đồng Tâm theo lời mời của nhà văn Việt Hải, vị chủ bút vui tính của văn đàn này.

    Sở dĩ có buổi họp mặt hôm nay vì Việt Hải muốn tập họp các tác giả đã viết bài liên quan đến Tuyển tập kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng lại để thông báo ngày tháng sẽ ra mắt Tuyển tập này. Hơn nữa, nhạc sĩ Anh Bằng muốn khoản đãi tất cả những tác giả và thân hữu tham dự viết bài trong tuyển tập này một chầu tại nhà hàng và có sự góp mặt đặc biệt của nhạc sĩ Lam Phương. Lam Phương cũng có góp bài cho sách kỷ niệm về Anh Bằng.. Vã lại, sau sách về Anh Bằng là Tuyển tập viết về anh Lam Phương. Việt Hải muốn có sự tham dự của nhạc sĩ Lam Phương để anh, chị, em có dịp khi được trực tiếp tiếp xúc với nhạc sĩ Lam Phương, buổi họp như vậy sẽ có những tâm sự chia sẻ và tạo cơ hội cho những hứng khởi cho tác giả viết về Lam Phương.
    Anh Lam Phương đang gặp những khó khăn khi di chuyển, nên Việt Hải đề nghị với chị "party head" Jennifer Thu Hảo và nhạc sĩ Anh Bằng họp mặt tại nhà nhạc sĩ Lam Phương cho tiện. Do đó chúng tôi đã có buổi gặp gỡ lý thú này.
    Vì đi lạc hướng nên chúng tôi đến trễ khoảng mười lăm phút. Vừa vào nhà, tôi và anh Phong Vũ đã thấy tất cả anh, chị, em đang ngồi sát nhau để chuẩn bị chụp một bức hình làm kỷ niệm. Thấy tôi và anh Phong Vũ vừa vào, chị Bích Huyền nói to:
    - Vào nhanh lên, hai anh đứng chung vào đây để chụp hình luôn.
    Thế là tôi và anh Phong Vũ nép vào đứng sát cạnh với các anh chị em để chụp hình. Phút giây chụp hình kỷ niệm kéo khá dài thời gian vì có tất cả 15 máy ảnh tuần tự được xử dụng. Sau khi chụp hình xong tôi liền chào hỏi tất cả các anh chị em và sau khi đảo mắt một vòng, tôi thấy lúc này trong phòng gồm có nhạc sĩ Anh Bằng, nhạc sĩ Lam Phương, nhà văn Bích Huyền, bác sĩ Peter Morita, nhà văn Việt Hải và phu nhân, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, nhà thơ Cát Ngọc, nhà thơ Quỳnh Giao, nhà văn Trịnh Thanh Thuỷ và phu quân là nhạc sĩ Quốc Hùng, MC ca sĩ Thuý Anh, xướng ngôn viên của đài Little Sàigòn và phu quân là nhạc sĩ Nguyên Vũ, cô Jennifer Thu Hảo, dưỡng nữ của nhạc sĩ Anh Bằng, chị 7 chủ nhà là em gái của nhạc sĩ Lam Phương và phu quân, và một vài người tôi chưa quen biết. Sau đó tôi liền đến bắt tay chào hỏi nhạc sĩ Anh Bằng và nhạc sĩ Lam Phương khi hai ông đang ngồi hàn huyên với nhau. Đối với nhạc sĩ Anh Bằng vì trước đây tôi đã có dịp gặp ông rồi nên giờ đây tôi nhắc đến tên mình thì ông biết là người quen cách đây khoảng một năm, hôm tiệc của Văn Đàn Đồng Tâm với ông tại nhà hàng Seafood World. Riêng anh Lam Phương vì là lần đầu tiên với các bạn Đồng Tâm nên sau dăm ba câu chuyện thì hầu như mọi người đã gần gủi với nhau, không còn xa lạ nữa. Thật vậy, trong nếp sống ly hương tinh thần "Tứ hải giai huynh đệ" trước lạ sau quen thường được dễ dàng chấp nhận ở nhiều nơi.

    Trong lúc chuyện trò, tôi được biết nhạc sĩ Lam Phương tên thật là Lâm đình Phùng, sinh năm 1937 tại tỉnh Rạch giá. Vì là một trong những người rất thích nhạc của nhạc sĩ Lam Phương cách đây gần nửa thế kỷ nên khi gặp anh, tôi tâm sự với nhạc sĩ thật lâu và thật vui.
    Tôi nhắc với nhạc sĩ Lam Phương về những lần anh đi theo đoàn kịch ra Đà nẵng để dạo đàn cho các vở kịch mà nữ nghệ sĩ Kim Cương và nghệ sĩ đẹp trai Vân Hùng đóng vai chính. Tôi nhắc lại thời gian ấy nhạc sĩ Lam Phương thật đẹp trai, cao lớn, tóc hai bên đầu chải tém láng mướt, ngồi dưới sân khấu đệm đàn guitar cho các vở bi kịch trông thật tài tử. Về kỷ niệm xưa ở quê nhà, anh Lam Phương nói với tôi rằng anh ấy ra Đà nẵng đôi ba lần, theo đoàn hát của nữ nghệ sĩ Kim Cương và ở trong khách sạn trên đường Độc lập tại thị xã Đà nẵng. Nhận thấy nhạc sĩ Lam Phương đang vui cười nói về dĩ vãng, tôi bèn hỏi anh ngay về những người đẹp trong những bản nhạc đã một thời vang bóng của anh:
    - Anh Lam Phương nè, nhân vật “AI” trong câu “Đôi khi muốn nói yêu AI nhưng ngại ngùng đành lãng phai” trong bài “Kiếp Nghèo” của anh là người đẹp nào vậy anh?
    Anh Lam Phương nở một nụ cười hiền lành rồi nói:
    - Khi mình làm nhạc thì chỉ tưởng tượng thôi mà!
    Biết anh nói như vậy, nhưng tôi vẫn hỏi tiếp:
    - Vậy thì “Người em gái cũ” trong câu “Chạnh lòng tìm người em gái cũ, em tôi đã đi phương nào” trong bài “Chiều hành quân” của anh là người em gái nào vậy hở anh?
    Nhạc sĩ Lam Phương một lần nữa phủ nhận ý hỏi gài của tôi, anh cười vui rồi lại biện bạch:
    - Tôi nghĩ mình cần nhiều tưởng tượng thôi mà !
    Biết tôi hỏi dồn cuối cùng anh Lam Phương cho biết trong những tác phẩm như vậy, khoảng một phần mười là sự thật, hoặc ít hơn mà thôi. Tôi hỏi tiếp:
    - Trong bài “Vĩnh Biệt” của anh với câu cuối cùng của bản nhạc “Người ơi! Vĩnh biệt là ngàn đời!” nghe sao mà ai oán lâm ly, nghe sao mà đớn đau sầu thảm, chắc là tâm hồn anh lúc sáng tác rất đau khổ vì cơn hứng khởi khi dòng nhạc chợt đến, anh bị xúc động mạnh để rồi nhờ vậy mà sáng tác nên một bản nhạc với giai điệu và lời lẽ chân thật trong ý nghĩ. Vậy thì anh "vĩnh biệt" người đẹp nào vậy hay cũng chỉ là do óc tưởng tượng nốt nữa đây, anh Lam Phương ơi ?
    Bỗng dưng anh cũng lại mở miệng cười lớn hơn và xuống giọng nói nhỏ:
    - Bài này có chút chút, chút chút đúng đó.
    Nghe vậy tôi và anh Phong Vũ cùng nhau cười xoà, ngầm hiểu ý anh viết trong bài. Tâm sự lòng là nỗi sầu vơi với nhạc sĩ hay văn thi sĩ, lắm khi ở đường cùng của nỗi niềm buồn bã, họ trút hết vào tác phẩm. Tôi hiểu anh chút chút rồi. Hầu như mọi người khi nghe nhạc phẩm "Lầm" đều dâng nỗi cảm thông sâu xa với anh. Bởi vì kiếp sống này sự không may đến, con người sẽ bị thử thách sự chịu đựng. Với Lam Phương chỉ bóng gió cho quên nỗi buồn. Anh là biểu tượng của sự nhẫn nhục, chịu đựng và âm thầm.
    Trong khi ba chúng tôi đang ngồi chuyện trò với nhau thì ký giả Lê Tam Anh tức nhà văn Lê Anh Dũng bước vào. Vừa vào trong phòng, anh Lê Anh Dũng liền nhìn anh em rồi nhìn nhạc sĩ Lam Phương và nói ngay như anh em quen biết với nhau từ lâu:
    - Tôi biết người yêu của nhạc sĩ Lam Phương trong bài “Chiều hành Quân” là ai rồi. Tôi biết rồi mà!
    Thế rồi anh Dũng nói nhỏ với anh chị em trong phòng người yêu ấy là ai tôi cũng quên mất tiêu rồi! Kế đến, tôi thấy nhà văn dược sĩ Vũ văn Tùng và phu nhân từ ngoài bước vào. Anh chị Tùng cho biết bận việc nên đến hơi trễ. Người vào trễ nhất là nhà thơ Yên Thư. Có lẽ chị Yên Thư cũng bận việc riêng nên đến trễ và cũng là người cuối cùng đến tham dự buổi họp mặt chiều hôm ấy.
    Các bạn tiếp tục đi lấy thức ăn hay nước uống, vì tiệc được tổ chức theo lối buffet, bạn bè thay đổi chỗ ngồi. Khi ca xong một bản nhạc của Lam Phương, tôi đến diện kiến nhạc sĩ Anh Bằng. Tôi và nhạc sĩ Anh Bằng ôn lại chuyện cũ đã một năm qua rồi, lúc gặp nhau tại nhà hàng Seafood world Restaurent dịp Tết năm trước. Ngồi nói chuyện với nhạc sĩ Anh bằng phải nói hơi to tiếng và cách xa ông ta khoảng một gang rưỡi và chuyển âm thanh đúng hướng thì may ra ông ta mới nghe được tiếng nói rõ ràng, ông cho biết chứng lãng tai thật sự phiền nhiễu ông lắm. Các anh chị em trong Văn Đàn Đồng Tâm vẫn uyên thuyên, huyên náo, vui nhất là hoạt náo viên Thúy Anh, cô giới thiệu màn cắt bánh sinh nhật 84 cho Anh Bằng. Thúy Anh bắt giọng ca mở đầu bài hát “Happy birthday to you”. Vì làm "surprise" cho nhiều người kể cả Anh Bằng, nên có lẽ rất nhiều người tham dự không biết chiếc bánh sinh nhật nầy là để mừng nhân vật nào đang hiện diện trong phòng ngày hôm nay. Nhưng tất cả mọi người khi nghe cô ca sĩ hát thì hát theo, rồi chiếc bánh to cho 30 người ăn được đặt trước mặt Anh Bằng. Điều này tiêu biểu cho buổi ra mắt sách sẽ vào đúng ngày sinh nhật của nhạc sĩ Anh Bằng. MC Thúy Anh long trọng tuyên bố:
    - Hôm nay là ngày sinh nhật của nhạc sĩ Anh Bằng.
    Thế là tất cả mọi người trong phòng vỡ lẽ và đồng loạt vỗ tay để mừng ngày sinh nhật của nhạc sĩ Anh Bằng làm cho không khí trong phòng tiệc vui nhộn thêm lên. Thảo nào trên chiếc bánh sinh nhật, tôi thấy có con số 84 ngoài mấy chiếc đèn cầy được thắp sáng.
    Nếu nhìn vóc dáng và khuôn mặt của nhạc sĩ Anh Bằng ngày hôm ấy, tôi nghĩ rằng nhạc sĩ Anh Bằng khoảng 68 tuổi là cùng. Ông trông rất trẻ. Vậy mà tuổi hạc nay đã tám tư rồi. Vì vậy mà nhiều người đã đùa giỡn khi nói nhạc sĩ đã yêu đến 48 người đẹp nên mới trẻ như thế khi thấy số 84 thành số 48 nếu nhìn ngược từ hướng ngồi của nhạcsĩ Anh Bằng. Sau khi thổi tắt lửa trên mấy ngọn đèn cầy, nhạc sĩ Anh Bằng trịnh trọng cám ơn mọi người, và ông được yêu cầu cắt xẻ nhát dao đầu tiên, để các cô tiếp tục cắt chia bánh cho mọi người.
    Khi thấy nhạc sĩ Ngô Quốc Hùng, phu quân của chị Trịnh thanh Thuỷ đang đệm đàn cho chị Thuỷ hát bài “Duyên kiếp” của nhạc sĩ Lam Phương cho nhạc sĩ Lam Phương ngồi nghe ở đằng kia, tôi liền ghé tai bỏ nhỏ anh Lam phương:
    - Anh à, nhân vật «Em» trong bài “Duyên kiếp” nầy là ai vậy thưa anh?
    Nhạc sĩ Lam Phương nháy mắt cười duyên rồi trả lời tôi:
    - Tưởng tượng thôi mà anh!
    Chợt nhớ đến bài “Chuyến đò vỹ tuyến” tôi liền nói với nhạc sĩ Lam Phương:
    - À, anh Lam Phương này, lúc tôi nghe bài “Chuyến đò vỹ tuyến” của anh, không phải chỉ một mình tôi mà rất nhiều người cứ tưởng anh là người Bắc kỳ di cư vào Nam anh ạ. Ít ai nghĩ tác giả của nó là người Rạch Giá đấy chứ!
    Quả thật nội dung bài hát này rõ ràng là sự cô đơn và đau khổ của một anh chàng nào đó đã di cư vào miền Nam khi đất nước bị chia đôi làm chàng ta nghẹn ngào lúc quá nhớ người yêu, nên đã phải thốt lên rằng “Anh ơi! Ai nỡ chia đôi bờ, để tình ta ngày tháng phải mong chờ!”. Với bài này, anh Lam Phương cho biết anh đọc báo thấy cả triệu người từ miền Bắc cùng nhau bỏ xứ ra đi lánh nạn Cộng Sản, anh quá xúc động trước cảnh đất nước chia đôi, tình người chia ly, trong sự xúc cảm như vậy, anh sáng tác bài ca như nỗi chia ly thống thiết, nghẹn ngào. Trước đây anh là một nhạc sĩ tính tình dễ mến, hiền hòa như dòng nước sông Hậu giang, tôi tìm thấy trong anh tấm lòng nhân hậu, anh là biểu tượng cho miền Nam ấp ủ nghĩa đồng bào qua tiếng lòng thổn thức của "Chuyến đò vỹ tuyến". Anh đúng là một thiên tài của âm nhạc vì trí tưởng tượng của anh đã đạt đến cao điểm để rồi làm cho tâm hồn anh rung cảm chia sẻ nỗi đau thương của hai triệu đồng bào miền Bắc di cư. Nhạc sĩ Lam Phương nói với tôi rằng lúc sáng tác bài "Chuyến đò vỹ tuyến" thì anh được 17 tuổi.
    Một sự ngạc nhiên khác là Thu Hảo và Thúy Anh đã chuẩn bị mục ca hát giúp vui. Nhạc sĩ Nguyên Vũ đàn keyboard synthethizer, Thúy Anh làm MC và ca sĩ. Con trai của hai người là bé Đức Khang, tay cầm bó kẹo, tiếng Việt nói rất chuẩn. Thúy Anh giới thiệu cháu ra giới thiệu với mọi người, và cháu sẽ trình diễn bài "Ô mê ly". Tiếng ca của cháu đã lấy được lòng mọi người qua tiếng vỗ tay khen thưởng. Cháu ca đúng nhịp, đôi tay diễn tả theo ý bài hát, đây sẽ là một tương lai hứa hẹn của cộng đồng.
    Cô Thuý Anh, xướng ngôn viên của đài Little Sài gòn, một MC duyên dáng, dí dỏm cho chương trình văn nghệ “tự phát” hay "surprise" này.
    Để mở đầu chương trình, cô Thúy Anh hát ngay bài “Nỗi lòng người đi” của nhạc sĩ Anh Bằng. Cô muốn hát tặng sinh nhật 84 của ông. Tiếp theo đó cô liền hát bài “Bài tango cuối cùng cho em” của nhạc sĩ Lam Phương để tặng cho nhạc sĩ gia chủ.
    Khi thấy cô Thuý Anh trình diễn, tất cả mọi người trong phòng đều khen ngợi vì giọng ca cũng như bộ điệu của cô diễn tả không khác gì các ca sĩ nổi tiếng chuyên nghiệp cả. Vì vậy khi cô Thuý Anh vừa dứt, tất cả mọi người đều vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.
    Sau Thuý Anh là nhà văn Trịnh Thanh Thuỷ lên hát góp vui một bài và người đệm đàn guitar là phu quân của chị.
    Tiếp theo chị Trịnh Thanh Thuỷ là phu quân của chị, nhạc sĩ Ngô Quốc Hùng, vừa đàn vừa hát một bài.
    Sau Quốc Hùng thì MC Thuý Anh bỗng đưa tay chỉ về phía tôi rồi mời tôi lên hát.
    Rất tiếc là tôi đang bị cảm nên giọng cảm còn khàn khàn, lý ra tôi không lên hát. Nhưng vì chỉ góp vui cho bầu không khí "cây nhà lá vườn" và "hát hay không bằng hay hát", tôi hát hai bài, bài thứ nhất là “Kiếp nghèo” và bài thứ hai là “Chiều hành quân” mà tác giả của 2 bài hát đang ở trước mặt tôi đây. Sau khi tôi hát xong, nhạc sĩ Lam Phương nhìn tôi nói:
    - Giọng còn khá lắm, còn ấm lắm!

    Tôi thầm nhủ tác giả khen là được giải rồi, dù an ủi cũng vui thôi. Tiếp theo là bài Mùa thu lá bay do Bác sĩ Peter Morita hát. Ông bác sĩ gốc Nhật lại ca song ngữ Hoa Việt mới thật hấp dẫn chứ


    Nhà thơ Quỳnh Giao, tác giả của thi tập "Trong Ta Ngậm Ngùi" đã làm ngay 4 câu thơ nhờ MC Thúy Anh ngâm. Thúy Anh lại chứng tỏ một năng khiếu ngâm thơ thật điêu luyện!
    Bốn câu thơ của chị Quỳnh Giao sáng tác như sau:

    “Anh đem tiếng nhạc vào đời
    Bằng câu ca để cho người mai sau
    Tình quê tình bạn trước sau
    Tám mươi tư tuổi với nhau trọn tình.”

    Cuối cùng vào khoảng 4giờ30 chiều, anh chị em trong Văn Đàn Đồng Tâm cùng nhau chào tạm biệt nhạc sĩ Anh Bằng và nhạc sĩ Lam Phương để ra về và hẹn nhau ngày ra mắt sách về Tuyển Tập của nhạc sĩ Anh Bằng sẽ gặp lại.
    California , một buổi chiều nhạt nắng .
    Dương viết Điền
  5. Người Chị Tinh Thần


    Trở về Huế được một tuần sau khi tham dự tiệc cưới của người anh ruột ở Đà Nẵng, Lệ Quyên nhận được một bức thư của người chị dâu, vợ mới cưới của anh mình.

    Sau khi đọc xong bức thư, Lệ Quyên mới biết rằng trong bữa tiệc cưới chiều hôm ấy có một thiếu nữ, bạn học của chị dâu Lệ Quyên, ngồi đối diện với Lệ Quyên về phía trái cách Lệ Quyên khoảng sáu ghế ngồi. Thiếu nữ này tên là Tôn Nữ Đạm Tiên. Vì thấy Lệ Quyên có khuôn mặt hay hay và mái tóc thề tuyệt đẹp nên cô Đạm Tiên muốn nhờ chị dâu Lệ Quyên giới thiệu để kết nghĩa chị em ngõ hầu cố vấn, hướng dẫn và giúp đỡ Lệ Quyên trong cuộc sống hằng ngày nhất là vấn đề học hành. Nhận thấy rằng vấn đề cố vấn, hướng dẫn và giúp đỡ trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong vấn đề học vấn rất quan trọng. Nhất là lúc mới lớn lên người con gái hãy còn trong trắng thơ ngây, nếu không có sự hướng dẫn của một người chị đỡ đầu, chị tinh thần, sẽ dễ bị vấp ngã. Nghĩ vậy nên Lệ Quyên liền viết thư trả lời cho chị dâu mình rằng Lệ Quyên bằng lòng và rất hãnh diện có một người chị tinh thần tên là Tôn Nữ Đạm Tiên. Lệ Quyên là người con thứ hai trong gia đình. Cha mẹ Lệ Quyên chỉ sinh được hai người con rồi chấm dứt. Năm nay Lệ Quyên vừa đúng mười sáu tuổi. Anh của Lệ Quyên sau khi học xong khoá 18 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức liền được thuyên chuyển về một đơn vị trú đóng ở núi Phước Tường tại thị xã Đà Nẵng. Vì ở Đà Nẵng đã lâu nên anh của Lệ Quyên đã quen được một nữ sinh học tại một trường trung học ở Đà Nẵng. Cuối cùng chàng quyết định cưới cô nữ sinh này làm vợ và Lệ Quyên vì vậy đã có dịp vào Đà Nẵng tham dự đám cưới của anh mình như ta đã thấy ở trên. Một tuần lễ sau khi gởi thư cho chị dâu mình, Lệ Quyên liền nhận được một bức thư đầu tiên của người chị tinh thần gởi ra từ Đà Nẵng, nội dung như sau:

    Đà Nẵng ngày... tháng... năm...

    Lệ Quyên em,

    Chị rất sung sướng và hãnh diện khi nghe chị dâu Lệ Quyên báo cho chị biết rằng, Lệ Quyên đã bằng lòng làm người em tinh thần của chị.

    Trước hết chị xin tự giới thiệu với em, chị tên là Tôn Nữ Đạm Tiên, năm nay chị vừa đúng 19 tuổi. Chị đang theo học tại một trường công lập ở Đà Nẵng, lớp đệ nhất, ban C. Trong bữa tiệc cưới chiều hôm ấy, chị thấy em có khuôn mặt hay hay làm sao ấy và mái tóc thề của em quá đẹp. Sau bữa tiệc cưới trở về nhà, không hiểu sao chị cứ nghĩ về em hoài. Và như em đã biết, chị quyết định nhờ chị dâu em giới thiệu em làm em tinh thần của chị. Cuối cùng chị đã được toại nguyện. Không biết em vào Đà nẵng bao nhiêu lần rồi hay mới lần đầu tiên. Nếu chị không lầm thì sau bữa tiệc cưới ấy, em đã phải vội vàng lên xe đò để về Huế ngay nên không đi xem danh lam thắng cảnh được. Thôi thì để chị kể sơ cho em nghe một vài danh lam thắng cảnh ở Đà Nẵng vậy. Tại Đà Nẵng, cảnh đẹp nhất mà du khách đến thăm trước tiên phải nói là Ngũ Hoành Sơn. Dân Đà Nẵng thường gọi là chùa Non Nước. Đây đúng là một cảnh đẹp thiên nhiên với năm ngọn núi đứng sừng sững dưới trời cao. Càng đến gần du khách càng ngạc nhiên và thích thú vì địa hình, địa vật của mấy ngọn núi này. Tại đây có động đi lên trời, động đi xuống dưới đất mà người ta thường gọi là động xuống địa ngục. Phía trong động có hai thạch nhủ, hình giống hai cái vú của đàn bà. Nhủ thạch bên trái rỉ nước thường xuyên, nước rất trong. Nhủ thạch bên phải không rỉ nước, đã bị tịt ngòi. Tục truyền rằng cái nhủ thạch bên phải không rỉ nước nữa nguyên do là vì ngày xưa khi vào đây du ngoạn, một vị vua nào đó đã lấy tay sờ vào nhủ thạch ấy nên nước trong nhủ thạch ngưng chảy. Cảnh đẹp thứ hai là sông Hàn. Đây là một dòng sông hiền hòa và tuyệt đẹp của xứ Đà thành hoa lệ. Dòng sông này đẹp nhất là lúc chiều tà trên sông vắng. Dăm ba chiếc thuyền đánh cá lướt nhẹ trên dòng sông dưới ánh nắng chiều mờ nhạt, cùng với vài đám mây hồng bay lơ lững trên không tạo thành một cảnh vật thật đẹp và buồn như một bức tranh của một hoa sĩ trứ danh nào đã vẽ.

    Có lẽ trời đã quá khuya rồi vì chị vừa nghe tiếng gà gáy canh một. Thôi, cho chị dừng bút đi ngủ để mai dậy sớm đi học. Hẹn thư sau chị sẽ viết cho em thật nhiều.

    Chị tinh thần của em,
    Tôn Nữ Đạm Tiên

    Sau khi đọc xong bức thư đầu tiên cuả người chị tinh thần, Lệ Quyên rất thích thú. Nhất là những đoan viết về danh lam thắng cảnh của xứ Đà thành hoa lệ. Mặc dầu còn một năm nữa sẽ học xong bậc trung học đệ nhất cấp và Lệ Quyên sẽ lên lớp đệ tam (lớp 10), nhưng Lệ Quyên vẫn cảm thấy lo lắng và băn- khoăn về các môn học trong tương lai. Trong các ban A, B, C, Lệ Quyên vẫn không biết nên chọn ban nào sau khi thi đổ trung học đệ nhất cấp. Đó là lý do khiến Lệ Quyên viết thư nhờ người chị tinh thần giúp đỡ. Một tuần sau, Lệ Quyên nhận được bức thư của chị Đạm Tiên nội dung như sau:

    Đà Nẵng ngày... tháng... năm...

    Lệ Quyên em,

    Đáng lẽ chị phải viết tiếp về những danh lam thắng cảnh ở Đà Nẵng cho em biết thêm, nhưng vì em băn khoăn về các môn học trong tương lai nên chị phải gác lại các thắng cảnh danh lam, để trình bày cho em nghe về các môn học trong tương lai. Vì em đang đứng trước ngã ba đường. Lệ Quyên à, trong tương lai nếu muốn tiếp tục học lên đại học em phải chọn một trong 3 ban sau đây Ban A, Ban B, và Ban C. Nếu chọn Ban A, em sẽ phải học những môn chính là vạn vật và vật lý. Nếu chọn Ban B, em sẽ học những môn chính là toán và lý hoá. Nếu chọn Ban C em sẽ học những môn chính liên quan đến văn chương và ngoại ngữ. Tùy theo sở thích và năng khiếu của từng người mà chọn Ban A, B hay C. Riêng chị thì chị chọn Ban C như đã nói với em trong lá thư trước. Không hiểu sao mỗi lần làm toán chị thấy nhức đầu quá. Nhiều khi ngồi bóp trán suy nghĩ đến nát óc vẫn chưa tìm ra đáp số. Đó là chưa nói đến toán hình học không gian nữa. Làm loại toán này em phải vận dụng trí tưởng tượng của em mới tìm ra đáp số nên rất rắc rối và phức tạp. Em thử tưởng tượng câu sau này em nghĩ như thế nào: Điều kiện ắt có và đủ để một đường thẳng thẳng góc với một mặt phẳng là đường thẳng này phải trực giao với hai đường thẳng ở trong mặt phẳng đó. Mới đọc lên chị nghe đã nhức đầu rồi nói gì đến việc suy nghĩ nó để làm toán. Vì lý do đó chị nhất quyết không theo Ban B.

    Còn nếu chọn Ban A, em sẽ học "gạo" môn vạn vật vì đây là môn chính của Ban A. Sách viết về môn này rất dày, nếu em không học thuộc hết đi thi sẽ hỏng ngay. Như chị đã nói với em, vì sách quá dày nên nhiều người thích học tủ một số bài quan trọng thôi, phần còn lại bỏ, không học. Chị có một người bạn chuyên môn học tủ. Năm đầu tiên cô ấy chỉ học phần đầu cuốn sách thôi, phần cuối không học. Lúc vào thi bạn chị chỉ biết đứng dậy ra về vì đề tài thi hôm đo thuộc về phần cuối của cuốn sách. Kỳ sau bạn chị học phần cuối thì đề tài lại ra phần đầu. Phần này cô bạn chị quên mất rồi nên lại bỏ phòng ra về luôn. Và nhờ đã học xong cả hai phần của cuốn sách vạn vật nghĩa là cả cuốn sách nên năm thứ hai đi thi, bạn chị mới đậu được kỳ hai. Nghĩa là vì học «tủ» nên phải mất hai năm mới đậu được tú tài I. Sở dĩ bạn chị phải học tủ vì sách quá dày thấy mà nản. Thấy bạn chị như vậy nên chị nhất quyết không theo Ban A. Tuy nhiên trong tương lai, nếu em mơ ước trở thành một dược sĩ hay bác sĩ, em nên chọn Ban A này. Cuối cùng còn lại Ban C. Đối với chị, chị cảm thấy ban này hợp với khả năng và sở thích của chị. Theo chị nghĩ, phái nữ chị em mình nên theo ban văn chương. Vì theo ban này, mình chỉ học cho nhiều văn, thơ và học thêm ngoại ngữ nữa là xong.

    Vấn đề chính là đọc sách cho thật nhiều để mình có một số vốn về văn chương ngõ hầu lúc làm bài thi mình đưa chúng vào để dẫn chứng. Dĩ nhiên nếu em có thêm khiếu về ngoại ngữ nữa chắc chắn em sẽ thành công nếu em quyế định theo ban này. Có lẽ chị cũng có khiếu học về ngoại ngữ nên chị học tiếng Anh, tiếng Pháp rất nhanh. Nhờ vậy chị đọc sách ngoại ngữ khá thông thạo và chị biết rất nhiều về thơ ngoại ngữ. Do đó, năm ngoái khi gặp đề thi «Biệt ly qua thi ca Anh quốc» chị đã đưa bài thơ chị học thuộc lòng của thi sĩ Lord Byron vào nên điểm của chị rất cao. Bài thơ ấy rất ngắn, như sau:

    “When we two parted
    In silence and tears
    Half broken hearted
    To sever for years .”


    Một thi sĩ nào đó chị quên tên mất, đã dịch ra tiếng Việt như sau:

    “Giờ phút chia ly đã điểm rồi
    Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi
    Mang mang nửa cõi lòng tan tác
    Ly biệt xui chi tủi trọn đời”


    Vì vậy vấn đề đọc sách rất quan trọng khi em quyết định theo ban này.Nhờ đọc sách em sẽ có vô số tài liệu quan trọng rất cần cho các kỳ thi sau này. Dĩ nhiên khi đọc đoạn nào em cảm thấy thích thú, em phải làm dấu hay ghi vào sổ tay. Chứ còn đọc sách mà không tiêu hoá thì mất thì giờ vô ích. Có một người bạn kể cho chị nghe rằng trong kỳ thi tú tài I năm nào, khi nói về nụ cười của Trần tú Xương, có một nam thí sinh sau khi viết xong bài luận văn về nụ cười của ông ta, đã vẽ thêm đồ thị để biểu diễn nụ cười này của Trần Tú Xương. Nghe đâu anh chàng này được điểm rất cao vì vị giáo sư chấm bài này đã tỏ ra rất thích thú. Chị thấy trường hợp nấy rất hiếm có vì anh chàng này theo ban C nhưng nhờ giỏi toán nữa nên mới vẽ thêm đồ thị được. Còn nếu gặp bài này, chị chỉ tung các “chưởng”tài liệu chị đọc được trong sách mà thôi. Dĩ nhiên chưa chắc đồ thị của anh chàng kia bằng tài liệu “đọc sách” của chị. Sau khi chị đã trình bày một vài nét tổng quát về các Ban A,B,C, cho em thấy, theo sở thích và năng khiếu, em muốn chọn lựa ban nào tuỳ em. Nhưng với tư cách là người chị tinh thần của em, chị khuyên em nên theo ban C như chị sau khi em tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp.

    Thôi, cho chị tạm dừng bút nơi đây hẹn thư sau chị sẽ viết nhiều hơn.

    Chị,
    Tôn Nữ Đạm Tiên

    Sau khi đọc bức thư thứ hai cuả người chị tinh thần, Lệ Quyên cảm thấy rất hãnh diện vì có một người chị đỡ đầu rất giỏi về văn chương, ăn nói và viết lách thật lưu loát. Lệ Quyên tự nhủ thầm rằng ước chi sang năm, Lệ Quyên sẽ trúng tuyển kỳ thi trung học đệ nhất cấp để nối gót chị Đạm Tiên theo học ban văn chương và ngoại ngữ này. Mặc dầu mới vào niên học năm đệ tứ (lớp 9), Lệ Quyên vẫn mong sao cho năm học trôi thật nhanh để năm tới Lệ Quyên theo Ban C; và nhờ chị Đạm Tiên cố vấn và giúp đỡ về ban này vì sau khi đọc thư chị Đam Tiên, Lệ Quyên thích quá.

    Sáng nay, sau khi ghé bưu điện bỏ thư hồi âm cho chị Đạm Tiên, Lệ Quyên liền đạp xe thật nhanh về trường để vào lớp cho kịp giờ học. Không hiểu sao sáng nay ba cô bạn học của Lệ Quyên khuyên Lệ Quyên nên đổi kiểu tóc đi, vì chỉ có kiểu tóc phi dê mới hợp với khuôn mặt hơn là mái tóc thề hiện tại. Nghe bạn bè nói vậy Lệ Quyên chưa biết trả lời làm sao cả. Tối về, Lệ Quyên liền viết thư hỏi ý kiến của người chị tinh thần để xem chị Đạm Tiên góp ý kiến như thế nào. Ba ngày sau, sau khi đi học về, Lệ Quyên nhận được bức thư của chị Đạm Tiên gởi ra, trên bì thư có đề chữ “EXPRESS” (thư tốc hành). Mở bức thư ra Lệ Quyên đọc ngay:

    Đà Nẵng ngày…tháng…năm…

    Lệ Quyên em,

    Nhận được thư em, chị trả lời ngay kẻo em đợi. Theo chị nghĩ, em không nên phi dê mái tóc của em. Khuôn mặt của em chỉ hợp với mái tóc thề mà thôi. Bất kỳ kiểu tóc nào cũng không hợp cả. Chị khuyên em nên giữ mái tóc thề như vậy. Mái tóc thề của em rất đẹp, rất óng mượt, giống như một dòng suối chiều đang chảy róc rách băng qua một ngọn đồi đầy cây cối xanh tươi tuyệt đẹp. Chị rất thích mái tóc thề của em. Em có còn nhớ trong lá thư đầu, chị đã viết cho em rằng chị thấy em có khuôn mặt hay hay làm sao ấy và mái tóc thề của em quá đẹp.

    Sở dĩ chị muốn làm chị tinh thần của em nguyên do cũng bắt nguồn từ mái tóc thề tuyệt đẹp của em đó em à. Vì vậy “dù ai nói ngữa nói nghiêng, lòng em vẫn vững như kiềng ba chân” nghe em: Giữ nguyên mái tóc thề cho chị.

    Thôi, cho chị dừng bút nơi đây, mong sao em luôn luôn được khoẻ mạnh để tiếp tục học hành.

    Chị của em,
    Tôn Nữ Đạm Tiên

    Sau khi đọc xong bức thư, Lệ Quyên tự nhủ thầm rằng có gì đâu mà chị Đạm Tiên lại gởi thư cấp tốc cho tốn tiền. Sau đó, Lệ Quyên tự trách mình rằng lỗi là tại Lệ Quyên cái gì cũng hỏi chị Đạm Tiên cả, cái gì cũng xin ý kiến của chị ấy cả thì chị ấy phải trả lời thôi. Và tuỳ theo nội dung bức thư quan trọng hay không khiến chị Đạm Tiên trả lời nhanh hay chậm. Có lẽ chị Đạm Tiên thấy mái tóc là vóc con người, nhất là mái tóc của người con gái đang ở tuổi dậy thì nên chị ấy phải trả lời gấp sợ mình phi dê thì hỏng việc. Nghĩ thế Lệ Quyên mới khỏi ngạc nhiên về chữ “EXPRESS” trên bì thư của chị Đạm Tiên gởi cho Lệ Quyên. Và theo lời khuyên trong thư của chị Đạm Tiên, Lệ Quyên nhất quyết để nguyên mái tóc thề như vậy cho dù mấy bạn cùng lớp khuyên nên đổi kiểu tóc đi. Không biết có phải năm nay Lệ Quyên đẹp hẳn lên hay vì nhờ có khuôn mặt hay hay và mái tóc thề tuyệt đẹp mà nhiều bạn trai học cùng trường theo tán tỉnh nàng thường xuyên . Đặc biệt có một chàng trai học cùng lớp với Lệ Quyên nhưng khác phòng tên là Minh; cứ mỗi lần tan học, chàng ta đạp xe đạp song song với Lệ Quyên rồi nói năm ba câu ra vẻ tán tỉnh và ca ngợi nàng. Liên tiếp mấy tuần lễ như vậy, Minh vẫn mãi miết theo Lệ Quyên tán tỉnh thật đắm say. Không biết Minh ăn nói thế nào mà Lệ Quyên có vẻ xiêu lòng. Tuy nhiên vì nghe người ta nói tình yêu đồng nghĩa với khổ đau nên vì mới lớn lên và đang còn đi học, Lệ Quyên sợ sẽ đau khổ vì yêu nên nàng quyết định viết thư nhờ chị tinh thần giải quyết và giúp đỡ. Sợ chị Đạm Tiên gởi thư tốc hành như lá thư trước nên trong thư hồi âm cho chị ấy lần này, Lệ Quyên bảo chị Đạm Tiên đừng gởi thư tốc hành nữa, mà chỉ nên gởi bình thường thôi.

    Hai ngày sau vừa đi học về, Lệ Quyên lại nhận được thư của chị Đạm Tiên trên bì thư vẫn có chữ “EXPRESS”! Vừa mở thư ra Lệ Quyên vừa tỏ ra bực bội. Nàng đã dặn chị Đạm Tiên không cần gởi cấp tốc mà tốn tiền nhưng chị ấy vẫn không nghe. Đưa bức thư trước mặt Lệ Quyên đọc ngay:

    Đà Nẵng, ngày…tháng…năm..
    Lệ Quyên em,

    Nhận được thư em, chị trả lời ngay kẻo em mong. Vì em tuổi còn nhỏ và đang đi học nên chị khuyên em đừng dính dấp gì đến tình yêu cả nghe em. Nếu em có những suy tư liên quan đến tình yêu, em sẽ đau khổ suốt đời đấy. Chị khuyên em nên cố gắng học hành, sau này lớn lên khi tuổi đời đã chững chạc rồi em sẽ nghĩ đến chuyện tình yêu cũng không muộn. Con trai thời buổi này không tin ai được đâu. Chị có mấy người bạn đã vấp ngã nhiều lần khi họ bắt đầu yêu. Em có biết nhà thơ Xuân Diệu không? Ông ta đã làm hai câu thơ về tình yêu như sau:

    Yêu là chết trong lòng một ít
    Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.


    Và người Pháp cũng có câu: “Il ne faut pas badigner avec l’amour (Đừng đùa giỡn với ái tình).

    Em còn nhỏ dại. Tuổi đời chưa được bao nhiêu, chỉ nên lo học hành và học hành. Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện yêu đương cả. Em nhớ nghe lời khuyên của chị nhé. Ngược lại, nếu em không nghe lời khuyên của chị mà yêu lung tung, thì hậu quả sẽ không lường được sau này.
    Nói vậy chắc em hiểu chị muốn nói gì rồi. Trường hợp chàng trai đó cứ theo em tán tỉnh hoài thì tuỳ cơ mà ứng biến. Em cố gắng nói với chàng ta cho khôn ngoan và khéo léo để vừa khỏi mất lòng chàng, vừa làm sao chàng ta đừng theo tán tỉnh nữa. Em phải có thái độ dứt khoát với chàng trai ấy. Nếu không chị rất buồn và chị sẽ không muốn làm chị tinh thần của em nữa.

    Thôi, cho chị dừng bút nơi đây và mong sao em luôn luôn nghe lời khuyên của chị.
    Chị của em
    Tôn Nữ Đạm Tiên

    Sau khi đọc thư xong, Lệ Quyên cảm thấy nửa buồn nửa vui. Buồn vì nếu nàng dứt khoát không tiếp xúc với Minh và không để cho Minh tán tỉnh nữa, vì Lệ Quyên đã thấy lòng nàng xao xuyến và rung động. Vui vì nhờ bức thư của người chị tinh thần mà nàng biết được con trai ngày nay như thế nào để đề cao cảnh giác. Nếu không sẽ bị vấp ngã giống như những người bạn chị Đạm Tiên vậy. Dù sao đi nữa, Lệ Quyên nghĩ, nàng phải luôn luôn nghe lời cố vấn đầy kinh nghiệm của người chị tinh thần, cho dù lòng nàng đã bắt đầu xao xuyến, bâng khuâng. Nghĩ vậy, Lệ Quyên liền viết một bức thư trả lời cho chị Đạm Tiên như sau:

    Huế, ngày…tháng… năm…
    Chị Đạm Tiên của em,

    Nhận được thư của chị, em vội viết vài dòng trả lời cho chị kẻo chị đợi chờ. Em rất sung sướng khi đọc những lời khuyên của chị viết trong thư. Sau một đêm suy nghĩ, em quyết định nghe lời khuyên vàng ngọc của chị. Bởi vì em nghĩ rằng đây là những kinh nghiệm quý báu về tình yêu. Em sẽ cố gắng thuyết phục chàng đừng theo em nữa. Và kể từ ngày hôm nay, em quyết chí lo học hành theo lời khuyên của chị. Mùa hè sang năm sau khi thi xong, em sẽ vào Đà nẵng thăm chị để chị em mình thấy mặt nhau một lần nữa. Chị biết em rồi nhưng em đã thấy chị lần nào đâu? Chắc chị cũng đang bận học để chuẩn bị kỳ thi tú tài hai phải không?
    Thôi, cho em xin dừng bút nơi đây hẹn thư sau em sẽ viết cho chị dài hơn.
    Em,
    Lệ Quyên

    Tái bút: Từ nay trở đi khi gởi thư cho em, chị đừng gởi «EXPRESS» nữa mà tốn tiền. Nếu em không lầm, em đã nhắc chị trong lá thư trước rồi thì phải.

    Sau khi ghé bưu điện bỏ thư vì bưu điện ở gần nhà, Lệ Quyên liền đạp xe đến trường học. Dọc đường Lệ Quyên nghĩ thầm, lần này chắc chị Đạm Tiên không gởi «EXPRESS» nữa rồi nên khoảng một tuần, may ra nàng mới nhận được thư của chị Đạm Tiên. Đang miên man suy nghĩ, Lệ Quyên đã đến trường lúc nào không hay.

    Đợi một tuần sau vẫn không thấy thư của chị Đạm Tiên gởi ra, Lệ Quyên nghĩ rằng chắc nàng dặn chị Đạm Tiên đừng gởi «EXPRESS »nên chị Đạm Tiên gởi ra chậm hơn thường lệ chăng? Nghĩ vậy Lệ Quyên lại tiếp tục đợi chờ. Nhưng rồi hai mươi ngày, rồi một tháng sau, Lệ Quyên vẫn không thấy chị Đạm Tiên gởi thư ra. Lệ Quyên liền viết ngay một lá thư gởi cho chị Đạm Tiên rồi gởi tốc hành «EXPRESS». Nội dung bức thư Lệ Quyên chỉ viết gọn có mấy dòng: “Chị đã nhận được thư của em chưa mong chị trả lời gấp. Em đang chờ từng ngày chị ạ. Lần này chị cứ gởi «EXPRESS» đi vì em trông thư chị quá chị ơi ! Em, Lệ Quyên”.
    Nhưng một tuần sau, rồi một tháng sau vẫn biệt vô âm tín. Lệ Quyên thấy lạ sinh nghi ngờ. Nàng liền viết một bức thư cho người chị dâu nàng, bạn cuả chị Đạm Tiên, hỏi sao trước đây chị Đạm Tiên gởi thư cho nàng rất đều đặn, nhưng hai tháng nay nàng không thấy gì cả. Một tuần sau, Lệ Quyên nhận được thư của chị dâu nàng và được biết chị Đạm Tiên đã xuất giá tòng phu và đã vào ở đâu tận trong miền Nam xa xôi không biết tỉnh nào. Lệ Quyên bỗng ngh ngợi lung tung. Nàng nghĩ tại sao chị Đạm Tiên lấy chồng mà không cho mình hay. Hay chị ấy sợ mình buồn vì mất đi một người chị tinh thần mà im hơi lặng tiếng. Hay chị ấy lỡ khuyên mình «Đừng dính dấp gì đến tình yêu cả» mà chị ấy đã lỡ dính vào nên không dám nói với mình. Nhưng nếu lấy chồng thì ít nhất bên họ nhà chồng phải đem lễ vật đến cầu hôn trước vài tháng đã chứ. Và lúc làm lễ ngõ lời cầu hôn, chị ấy cũng báo cho mình biết với chứ, đến nỗi gì. Hàng chục câu hỏi cứ hiện về trong trí khiến Lệ Quyên cảm thấy đầu nhức như búa bổ. Lệ Quyên có ý định vào Đà Nẵng một chuyến nữa để xem hư thực ra sao. Nhưng rồi nàng lại nghĩ vào cũng không gặp chị Đạm Tiên nữa vì chị ấy đã đi lấy chồng.

    Cuối cùng, Lệ Quyên dứt khoát chờ thi lấy bằng trung học đệ nhất cấp xong rồi sẽ vào. Lúc ấy, vừa vào thăm anh chị nàng, vừa đi nghỉ hè, vừa tìm hiểu hư thực ra sao vụ chị Đạm Tiên xuất giá tòng phu. Dù sao đi nữa, việc chị Đạm Tiên đi lấy chồng làm cho Lệ Quyên rất buồn vì mất đi một người chị tinh thần, mất đi một người chị đỡ đầu, cố vấn vào lúc Lệ Quyên đang cần chị Đạm Tiên gúp đỡ. Dù muốn dù không, bây giờ Lệ Quyên cũng phải nghe theo lời khuyên của chị Đạm Tiên là phải lo cố gắng họ hành. Vì vậy, mặc dầu tâm trí bị xáo trộn vì chị Đạm Tiên đi lấy chồng, nhưng Lệ Quyên vẫn cố gắng lấy lại tinh thần để học hành. Nếu không cuối năm nàng sẽ thi hỏng và không thể thự hiện những ước mơ mà chị Đạm Tiên đã hướng dẫn. Thế rồi ngày qua tháng lại, ngày thi lấy bằng thành chung đã đến. Vì nhờ nghe theo lời khuyên của chị Đạm Tiên là lo cố gắng học hành, không nên dính dấp gì đến chuyện tình yêu nên Lệ Quyên đã thi đậu ưu hạng. Như đã suy nghĩ từ trước, sau khi thi đổ xong bằng thành chung, Lệ Quyên quyết định vào Đà nẵng vừa để thăm anh chị nàng, vừa để hỏi xem tại sao chị Đạm Tiên lại đi lấy chồng đột ngột như vậy. Sau gần một ngày ngồi trên xe tắc xi Lệ Quyên mới đến được Đà nẵng. Vừa vào nhà chị dâu, Lệ Quyên thấy chị nàng đang nấu cơm chiều. Thấy nàng vào chị dâu nàng rất mừng và ngược lại, Lệ Quyên cũng rất vui. Sau gần một năm xa cách, nàng mới gặp lại chị dâu mình. Lệ Quyên cất tiếng hỏi trước:

    - Anh Hoàng (người anh ruột của Lệ Quyên) đâu rồi chị?

    Chị dâu Lệ Quyên trả lời:

    - Anh Hoàng đi học khoá đại đội trưởng ở Dục Mỹ rồi, một tháng nữa mới mãn khoá.

    Lệ Quyên tiếp:

    - Em đã thi đậu bằng trung học rồi. Ba và mẹ cho phép em vào Đà Nẵng nghỉ hè, nhân cơ hội này em vào đây thăm anh chị luôn.

    Nghe Lệ Quyên nói đã thi đậu, chị dâu Lệ Quyên liền hỏi dồn dập:

    - Thật không em? Em thi đậu rồi sao? Thế thì giỏi lắm đấy. Để chị viết thư báo cho anh Hoàng biết ngay. Biết được, anh Hoàng mừng lắm Lệ Quyên à. Anh ấy cứ nhắc chuyện thi cử của em hoài.

    Sau đó, chị dâu Lệ Quyên hỏi tiếp:

    - Thế ba và mẹ có khoẻ không em?

    Lệ Quyên trả lời:

    - Dạ khoẻ chị à.

    Bỗng Lệ Quyên hỏi chị dâu nàng:

    - Chị à, sao chị Đạm Tiên đi lấy chồng đột ngột thế chị?

    Nghe Lệ Quyên hỏi, chị dâu Lệ Quyên mặt đang vui bỗng nhiên buồn hẳn lại.

    Biết không dấu Lệ Quyên được nữa, chị dâu nàng liền kể cho Lệ Quyên nghe.

    Sau khi ngồi vào chiếc giường tre sát bức tường, chị dâu Lệ Quyên bắt đầu kể:

    - Lệ Quyên em à, chị Tôn Nữ Đạm Tiên không phải là một phụ nữ, mà là một chàng thanh niên tên là Trần Đại Hùng.

    Vừa nghe chị dâu mình nói ngang đoạn này Lệ Quyên bỗng há hốc miệng ra, trố mắt nhìn chị dâu rồi cắt đứt lời nói của chị dâu mình ngay:

    - Chị bảo sao, chị Đạm Tiên là một chàng trai?
    Chị dâu Lệ Quyên tiếp tục kể:

    - Đúng, chị Đạm Tiên là một chàng trai tên là Trần Đại Hùng. Chàng ta là một giáo sư việt văn tại một trường trung học ở Đà Nẵng. Trong bữa tiệc cưới năm ngoái, chàng ta tình cờ ngồi đối diện với em về phía bên trái, cách em khoảng 6 ghế ngồi. Vì thấy em có khuôn mặt hay hay và mái tóc thề tuyệt đẹp nên sau bữa tiệc cưới, chàng ta nhờ chị giới thiệu em cho chàng. Anh Đại Hùng bảo chị khi giới thiệu chàng cho em, chị phải nói chàng là một nữ sinh tên là Tôn Nữ Đạm Tiên, khoảng 19 tuổi, hiện đang theo học lớp đệ nhất ban C tại một trường trung học ở Đà Nẵng. Anh Đại Hùng bảo chị cứ giới thiệu như vậy để anh ấy gởi thư qua lại cho vui. Và anh ấy bảo chị là tuyệt đối phải giữ bí mật, không được tiết lộ cho ai hết.
    Vì là bạn thân của chị nên chị cũng làm vừa lòng anh Đại Hùng. Đó là lý do tại sao chị không tiết lộ cho em biết. Lúc em gởi thư hỏi chị tại sao chị Đạm Tiên không trả lời cho em nữa, chị đã trả lời cho em là chị Đạm Tiên đã đi lấy chồng rồi. Chắc em còn nhớ chứ?

    Nãy giờ ngồi nghe từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, Lệ Quyên say sưa với câu chuyện chị dâu mình kể .Chợt nghe chị dâu mình hỏi, nàng trả lời ngay:

    - Nhớ chứ! Làm sao em quên được.

    Sau khi nghe Lệ Quyên trả lời, chị dâu nàng kể tiếp:

    - Thời gian mà chị nói chị Đạm Tiên đi lấy chồng là thời gian anh Trần Đại Hùng bị gọi động viên khoá 20 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Trước khi đi anh Đại Hùng ghé nhà chị và bảo chị nếu em có hỏi thì cứ bảo đi lấy chồng chứ đừng nói đi lính. Như em đã biết vì là bạn cũ của chị nên chị không dám tiết lộ cho em, sợ anh ấy trách. Sau khi tốt nghiệp khoá 20 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, anh Đại Hùng được thuyên chuyển về Sư Đoàn 2 Bộ Binh trú đóng tại Quảng Ngãi. Thế rồi trong một trận giao tranh ác liệt với Cộng quân, anh Đại Hùng bị trúng đạn vào ngực. Vì vết thương quá nặng và máu ra quá nhiều nên khi trực thăng chở anh ấy vừa đến bệnh viện Quảng ngãi, anh Hùng đã trút hơi thở cuối cùng.

    Nghe đến đây Lệ Quyên bỗng oà ra khóc. Biết Lệ Quyên đang bị xúc động mạnh nên chị dâu Lệ Quyên ngừng kể để an ủi em mình. Sau vài phút lấy lại được bình tĩnh, Lệ Quyên mới nói được nên lời. Sau khi lấy tay lau nhẹ mấy giọt nước mắt trên má, nàng liền hỏi chị dâu nàng:

    - Thế ngôi mộ của chị Đạm Tiên, à quên, của anh Trần Đại Hùng bây giờ nằm ở đâu chị có biết không?

    Chị dâu nàng trả lời:

    - Vì gia đình anh ấy ở Đà nẵng nên cha mẹ anh Đại Hùng đã đem anh ấy về chôn cất tại Nghĩa địa Nam Ô cách Đà Nẵng cũng khá xa. Vì em vào đây nghỉ hè còn lâu mới ra Huế lại nên ngày mai chị sẽ dẫn em ra nghĩa địa thăm mộ Hùng.

    Thế rồi ngày hôm sau, chị dâu Lệ Quyên dẫn nàng đến ngả ba Cây Lan để đón xe đò đi Nam Ô. Khoảng nửa giờ sau, khi xe vừa chạy ngang nghĩa địa Nam Ô, hai chị em xin tài xế dừng xe lại để vào nghĩa địa. Bước chân theo chị dâu nàng, Lệ Quyên thấy lòng như quặn thắt. Vừa đi Lệ Quyên vừa nghĩ thầm rằng chị Đạm Tiên là một chàng trai, thảo nào khi nghe nàng định phi dê mái tóc, chàng liền gởi thư «EXPRESS» ra cho mình bảo mình để nguyên mái tóc thề như vậy. Thảo nào khi mình báo cho «chị ấy» có một chàng trai đang tán tỉnh mình, chàng cũng liền tức tốc gởi thư «EXPRESS» ra khuyên mình không nên dính dáng đến chuyện tình yêu, chỉ nên lo học hành mà thôi. Mặc dầu Lệ Quyên cũng đã dặn «chị ấy» đừng gởi «EXPRESS» nữa mà tốn tiền.

    Đang miên man suy nghĩ, bỗng nghe tiếng chị dâu nói làm nàng giật mình trở về với thực tại:

    - Kìa ! Mộ Hùng nằm trước mặt đấy em.

    Đến gần ngôi mộ mới chôn khoảng một tuần, mấy dòng chữ trên bia mộ đập ngay vào mắt Lệ Quyên: “NƠI AN NGHỈ CUỐI CÙNG CỦA TRẦN ĐẠI HÙNG, HƯỞNG DƯƠNG 24 TUỔI”.

    Thì ra nàng Tôn Nữ Đạm Tiên 19 tuổi, chị tinh thần của Lệ Quyên, chính là chàng trai Trần Đại Hùng 24 tuổi, lớn hơn nàng 8 tuổi.

    Đọc xong mấy dòng chữ trên bia mộ, Lệ Quyên nghẹn ngào nói không nên lời. Nước mắt cứ tuôn trào xuống má nàng liên tục khiến nàng không thể nào cầm được.

    Sau khi bật lửa đốt 3 cây hương, Lệ Quyên chấp tay trước ngực bắt đầu khấn vái:

    - Hỡi linh hồn chị Tôn Nữ Đạm Tiên! Em tên là Phạm Thị Lệ Quyên, người em gái tinh thần của chị. Em vào Đà nẵng thăm chị mới biết chị là chàng giáo sư việt văn Trần Đại Hùng nay đã ra người thiên cổ. Em xin nguyên cầu hương hồn chị và hương hồn chàng Trần Đại Hùng sớm được về cõi vĩnh hằng. Xin vĩnh biệt chị!

    Xa xa, tiếng suối chảy róc rách trên sườn đồi hoang vắng ở phía non đoài làm cho cảnh chiều tà nhạt nắng thêm u buồn và ảm đạm.

    North Hollywood, mùa thu năm Đinh Sửu.
    Dương Viết Điền
  6. Ai đã từng đọc bài thơ nổi tiếng “Chansons D’automne”của thi sĩ lừng danh Pháp quốc Paul Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi hồi và xúc động. Không xúc động sao đựơc khi nhà thơ đa tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất hủ sau đây để nức nở về tình thu bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:

    Les sanglots longs
    Des violons
    De l’automne
    Blessent mon coeur
    D’une langueur monotone
    Tout suffocant
    Et blême, quand
    Sonne l’heures
    Je me souviens
    Des jours anciens
    Et je pleure
    Et je m’en vais
    Au vent mauvais
    Qui m’emporte
    Decà delà
    Pareil à la
    Feuille morte

    Tiếng đàn ai đó lê thê
    Vĩ cầm réo rắt ê chề lòng đau
    Bơ vơ chuông đổ đồng hồ
    Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa
    Bao kỷ niệm, theo gió đưa
    Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa
    Bao năm lữ thứ xa nhà
    Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…”

    (Lãng Du)


    Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành, rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.

    Mùa thu là mùa các thi nhân đi tìm những vần thơ để sáng tác thành những tuyệt phẩm bất hủ nghìn năm.

    Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu, mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi, rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng bay bay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẽo đường. “Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về”. Ta hãy nghe các thi nhân Việt nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình sau đây.

    Hình ảnh nổi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi sĩ Tản Đà:

    Trận gió thu phong rụng lá vàng
    Lá rơi hàng xóm lá bay sang


    Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng mạn nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ ngác giữa rừng thu qua bài “Tiếng Thu”của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm đềm như khúc nhạc tình thu trong rừng vắng:

    Em không nghe rừng thu
    Lá thu kêu xào xạc
    Con nai vàng ngơ ngác
    Đạp trên lá vàng khô


    Không phải chỉ có Tản Đà hay Lưu Trọng Lư mới nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi nhân Việt nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi nhân Việt Nam

    Sắc trời trôi nhạt dưới khe
    Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng
    (Huy Cận)

    Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
    Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
    Đây mùa thu tới mùa thu tới
    Với áo mơ phai dệt lá vàng
    (Xuân Diệu)

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
    Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
    (Nguyễn Khuyến)

    Ai đâu trở lại mùa thu trước
    Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
    (Chế Lan Viên)

    Chẳng được như hoa vướng gót nàng
    Cõi lòng man mác giá như sương!
    Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
    Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương
    (Thái Can)

    Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ
    Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa
    Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
    Rừng phong lá rụng tiếng như mưa
    (Ngô Chi Lan)

    Đêm thu khắc lậu canh tàn
    Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương (Nguyên Du)

    Ngoài lá vàng rơi là biểu tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền ảo. Nói đến mùa thu mà không đề cập đến ánh trăng thu mờ ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanh vắng là một sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu.

    Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo nảo gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u buồn man mác trước cái lạnh không làm tê buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung nhớ lạnh lùng.

    Nếu thi sĩ Thượng Quan Nghi đời Đường bên Trung Quốc đã diễn tả cái đẹp của ánh trăng thu qua hai câu thơ:

    “Thước phi sơn nguyệt thự
    Thuyền táo đã phong thu”
    “Sườn non trăng sáng chim bay
    Đồng thu gió lộng, ve say nhạc sầu”

    (Chi Điền dịch)

    Thì tại Việt Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn tả chị Hằng giữa đêm thu huyền diệu. Thật vậy nếu bài “Tiếng Thu”của Lưu trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì toàn bài thơ mất đi rất nhiều ý nghĩa về mùa thu:

    Em không nghe mùa thu
    Dưới trăng mờ thổn thức

    Riêng nhà thơ Xuân Diệu đã nhân cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:

    Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
    Non xa khởi sự nhạt sương mờ
    Đã nghe rét mướt luồn trong gió
    Đã vắng người sang những chuyến đò

    Tuy nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi sĩ Hàn Mặc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.

    Ta hãy nghe Hàn Mặc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng Nga đang rón rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu trăng sáng:

    Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
    Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

    hay là:

    Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
    Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

    Ngoài Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu ra, ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi nhân đều ca tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại:

    Lòng anh giếng ngọt trong veo
    Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh
    Lòng em như bụi kinh thành
    Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe.
    (Nguyễn Bính)

    Nước biếc trông như tầng khói phủ
    Song thưa để mặc bóng trăng vào
    (Nguyễn Khuyến)

    Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
    Trần thế em nay chán nữa rồi
    (Tản Đà)

    Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
    Bừng mắt trông sương gội cành ngô
    Lạnh lùng thay, bấy chiều thu,
    Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi
    (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch)

    Vi lô san sát heo may
    Một trời thu để riêng ai một người
    Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
    Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
    Rừng thu từng biếc chen hồng
    Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn!
    (Nguyễn Du)

    Đêm thu gió lọt sông đào
    Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời
    (Nguyễn Du)

    Hoa xuân nọ, còn phong nộn nhị,
    Nguyệt thu kia, chưa hé hàn quang
    (Ôn Như Hầu)

    Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay gắt rực lửa như mùa hạ trái lại rất mát dịu trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Đi dưới nắng thu người ta thấy tâm hồn rất thoải mái lâng lâng, nhất là những lúc trời chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại lộ lúc chiều tà.

    Ai cũng biết rằng các thi nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế lan Viên đã làm cho ta ngạc nhiên khi viết mấy câu thơ liên quan đến nắng thu như sau:

    Chao ôi! Thu đã tới rồi sao ?
    Thu trước vừa qua mới độ nào
    Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
    Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao.

    Nhưng ngạc nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích Khê sau đây làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai điệu tuyệt vời:

    Ô hay buồn vương cây ngô đồng
    Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.

    Dĩ nhiên, mỗi nhà thơ diễn tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.

    Nhà thơ Xuân Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất ngôn đầy lưu luyến trữ tình:

    Nõn nà sương ngọc quanh thềm dậu
    Nắng nhỏ bang khuâng chiều lỡ thì

    Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc Ly đều cảm thấy hồn mình xao xuyến bâng khuâng:

    Tôi đứng bên nầy bờ dĩ vãng
    Thương về con nước ngại ngùng xuôi
    Những người con gái bên kia ấy
    Ai biết chiều nay có nhớ tôi
    Tôi muốn hôn bằng môi của em
    Mùa thu tha thiết nắng hoe thềm

    Ngoài ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn:

    Chiều nay nắng nhạt luyến chân đồi
    Hơi lạnh tàn thu giục lá rơi
    Sương xuống chiều đi lòng vắng vẻ
    Thê lương thêm bận khúc ly hoài.

    hay là:

    Hát bài hát ngô nghê và êm ái
    Bên sườn non mục tử cưỡi trâu về
    Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê
    Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái.

    Nam Trân Nguyễn Học Sỹ

    Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi,là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh vắng, và nắng chiều thu trong buổi hòang hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh lẽo, u buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ vơ giữa thế giới mưa rơi buồn bã.

    Trước cảnh mưa thu ảm đạm ở ngoài bệnh viện, nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong đã xúc động rồi sáng tác ngay bản nhạc“Giọt mưa thu”trước khi vĩnh biệt trần gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức nở, những giọt lệ tình ai oán lâm ly: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ… …”

    Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn bã nhất của trần thế. Đọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu điều buồn bã:

    Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa
    Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
    Xanh um cổ thụ tròn xoe tán
    Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ

    Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u buồn:

    Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa
    Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà

    Tuy nhiên nếu trăng thu, nắng thu, mưa thu là những đề tài bất hủ cho các văn thi sĩ, nhạc sĩ lấy đó để sáng tác thì sương thu là một đề tài không kém quan trọng để các thi nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh sương, ai đã từng ra sau vườn, đều trông thấy những giọt sương đọng trên cành cây, ngọn cỏ giống như những hạt kim cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay, rất nhiều người Việt nam đã thuộc lòng đoạn văn của nhà văn Thanh Tịnh tả về cảnh sương thu: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi, dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp.” Một nhà thơ nổi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca ngợi sương thu qua bài thơ “Sương Rơi.” Đó là thi sĩ Nguyễn Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác phẩm bất hủ về sương thu:

    Sương rơi
    Nặng trĩu
    Trên cành
    Dương liễu…
    Nhưng hơi
    Gió bấc
    Lạnh lùng
    Hiu hắt
    Thấm vào
    Em ơi,
    Trong lòng
    Hạt sương
    Thành một
    Vết thương!..
    Rồi hạt
    Sương trong
    Tan tác
    Trong lòng
    Tả tơi
    Em ơi!
    Từng giọt
    Thánh thót,
    Từng giọt
    Điêu tàn
    Trên nấm
    Mồ hoang !..
    Rơi sương
    Cành dương…
    Liễu ngã
    Gió mưa
    Tơi tả
    Từng giọt,
    Thánh thót..
    Từng giọt,
    Tơi bời,
    Mưa rơi,
    Gió rơi,
    Lá rơi,
    Em ơi!...

    Như đã được trình bày ở trên, mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác đác, có trăng thu mờ ảo giữa đêm buồn, có những giọt mưa rơi thánh thót thật lâm ly. Đã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ hành thêm cô độc bâng khuâng, luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc loài như biệt ly hiu quạnh. Vì thế mà nhiều người đã cho rằng, mùa thu là mùa của biệt ly, của xa cách nên tình thu thường nức nở nghẹn ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt ly nhung nhớ, là nói đến ngăn cách xa nhau, là nói đến chia ly buồn bã và lắm lúc nói đến vĩnh biệt ngàn đời để rồi “nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười.”

    Sau đây, ta hãy nghe các thi nhân Việt nam nói về sự biệt ly, sự nhung nhớ cũng như những nỗi u buồn giữa mùa thu:

    Mây vẫn từng không chim bay đi
    Khí trời u uất, hận chia ly
    Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
    Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì

    (Xuân Diệu)
    Hay những dòng thơ lục bát đầy vẻ âm u, tiêu điều của Huy Cận:

    Non xanh ngây cả buồn chiều
    Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

    Hoặc những câu thơ đầy nhung nhớ quằn quại giữa mùa thu:

    Chao ôi! Mong nhớ ! Ôi mong nhớ
    Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

    (Chế Lan Viên)

    Hay hình ảnh xa vắng biệt ly của người chinh phu trong lòng người cô phụ:

    Em không nghe rạo rực
    Hình ảnh kẻ chinh phu
    Trong lòng người cô phụ.

    (Lưu Trọng Lư)

    Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ thương của thi nhân:

    Chẳng được như hoa vướng gót nàng
    Cõi lòng man mác giá như sương!
    Ta về nhặt lấy hoa thu rụng
    Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương

    (Thái Can)

    Nhưng sự biệt ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ nhung quằn quại triền miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức nở lệ nhòa của nữ thi sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thọai trong thi ca Việt nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức nở những điệp khúc tình thu sau đây:

    Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ ?
    Một mùa thu cũ một lòng đau
    Ba năm ví biết anh còn nhớ
    Em đã câm lời có còn đâu !.

    hay là:

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
    Mà từng thu chết từng thu chết
    Vẫn giấu trong tim một bóng người.

    Tóm lại qua thi ca Việt nam, ta thấy hầu hết các thi nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm ly, bi thảm vv... Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn cách, của ly biệt, là mùa của nức nở nghẹn ngào nên các thi nhân Việt nam không ai mà không xúc động khi thấy mùa thu đến. Vì vậy, qua thi ca Việt nam, ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ trữ tình bất hủ về mùa thu.


    Dương Viết Điền
  7. ĐI TRONG MƯA


    Ta nhớ mãi ngày xưa
    Thích đi hoài trong mưa
    Giữa chiều thương đô thị
    Đi mấy cũng không vừa

    Thuở ấy trời mưa bay
    Ta thường uống rượu say
    Rồi đi trong thành phố
    Nhìn trời mưa bay bay

    Ta đi mãi suốt ngày
    Lòng bâng khuâng cô độc
    Chẳng thương nhớ một ai
    Lá vàng rơi trên vai

    Mưa rơi lá vàng rơi
    Ta đi mãi trong đời
    Một mình trong gió lạnh
    Ngày ấy đã xa rồi

    HẠ ÁI KHANH
  8. Mới đọc nhan đề ai cũng ngạc nhiên tại sao có người lại mang tên kỳ lạ như thế. Chán gì danh xưng mà lại lấy tên là Lưng Cá. Xin thưa đây không phải là tên người mà là tên của một loại thuốc Đông y. Đó là thuốc “ Bài Độc Bổ Phổi”, tiếng Anh là Lung care . Còn loại thuốc trị bệnh bao tử là Tố Mai tiếng Anh là Stomaisu. Đây là hai loại thuốc trong những loại thuốc trị bệnh nổi tiếng nhất của công ty Princess Lifestyle do bác sĩ Peter Morita chế tạo.
    Sở dĩ tôi “biến” hai danh từ Lung care và Stomaisu thành tiếng Việt là để cho dễ nhớ mỗi khi đi mua thuốc mà thôi.
    Tại sao tôi chỉ đề cập đến hai loại thuốc này mà thôi. Bởi vì tôi đã dùng hai loại thuốc này và đã lành bệnh . Số là tôi có tật hay đánh hắng nơi cổ vì đàm nhiều. Tôi không biết tại sao đàm cứ xuống nằm trong cuống họng tôi mãi. Lúc đầu các bác sĩ nghĩ rằng tôi bị cảm nên thường hay ho rồi cho thuốc ho về uống. Nhưng rồi tôi vẫn thấy đàm đâu trong cuống họng vẫn làm tôi khó chịu nên tôi vẫn tiếp tục đánh hắng. Tình cờ thấy bác sĩ Peter Morita nói trên đài truyền hình về thuốc chữa bệnh đàm nhiều trong phổi, tôi liền đến công ty dược thảo nổi tiếng PRINCESS LIFESTYLE LLC của ông ta ở số 4801
    Littlejohn St, Ste E, Baldwin Park, Ca 91706 để xin khám bệnh để xin khám bệnh. Bác sĩ Peter Morita giải thích rằng sở dĩ tôi cảm thấy đàm nhiều ở cuống họng là do đàm tích tụ ở trong phổi quá nhiều. Chỉ có cách duy nhất làm cho hết đàm trong phổi là uống loại thuốc Lung care. Rồi bác sĩ Peter Morita giải thích rằng, người ta ai ai cũng có đàm cả.
    Bác sĩ Morita nói rằng người ta thường gọi chung là đàm ẩm. Đó là sản vật bệnh lý, đàm là chất đặc, ẩm là chất trong loãng. Đàm ẩm sau khi sinh ra sẽ gây những bệnh mới, phạm vi gây bệnh của đàm rất rộng rãi. Đàm ẩm do tân dịch ngưng tụ biến hoá thành. Do
    thất tình ( vui, giận, buồn, lo, nghĩ ,kinh, sợ) và lục dâm (……….) khiến cơ năng của tạng tỳ, phế, thận bị ảnh hưởng, tân dịch không được phân phối và vận hành nên ngưng đọng lại thành thấp, thấp sẽ biến thành đàm ẩm. Đàm ẩm này sẽ theo khí di chuyển đến lục phủ ngũ tạng và khắp mọi nơi trong cơ thể làm ảnh hưởng đến sự lưu thông của khí huyết, ảnh hưởng đến sự thăng giáng của khí rồi gây ra các chứng bệnh ở trong lục phủ ngũ tạng. Nếu đàm vào tim sẽ sinh ra điên cuồng, tâm quý, vào dạ dày sẽ sinh lợm giọng nôn mửa, vào ngực sẽ tức ngực rồi suyễn, nếu nghịch lên trên sẽ huyền vững, vào kinh thiếu dương sẽ sinh ra sốt rét. Nếu đàm vào phổi sẽ sinh ra hen suyễn, khạc ra đàm vì đàm thường chạy xuống cuống họng. Còn ẩm nều tràn ra ngực sườn gây ho, hen suyễn, tràn ra cơ nhục gây phù thủng, nằm trong tiêu hoá sinh ra sôi bụng, miệng khô, bụng đầy, ăn kém. Vì vậy theo bác sĩ Peter Morita, đối với bệnh hay đánh hắng cho thông đàm nơi cổ thì phải uống thuốc tiêu đàm trong phổi bệnh sẽ hết thôi. Để chữa bệnh tiêu đàm trong phổi, nên dùng loại thuốc Bài Độc Bổ Phổi mà tôi biến thành tiếng Việt cho dễ nhớ là Lưng Cá ( Lung care) của công ty Princess Lifestyle do bác sĩ Peter Morita chế tạo sau khi đã dày công nghiên cứu lâu năm mới hoàn thành. Bác sĩ Peter Morita giải thích cho tôi nghe rằng toa thuốc trừ đàm ở phổi Lung care này gồm tất cả 11 loại dược thảo như sau:
    1- Astragalus
    2- Lonicera Flower
    3- Chinese Thoroughwax
    4- Baikal Skullcap
    5- Baphicacanthus
    6- Aspidum
    7- Atractylodes
    8- Coix
    9- Agastache
    10 - Siler
    11- Licorice
    Bác sĩ Peter Morita dặn rằng loại thuốc này đựng trong chai tất cả là 60 viên, mỗi ngày uống ba lần, mỗi lần 2 viên uống trước bữa ăn. Theo lời khuyên dặn của bác sĩ, tôi mang về nhà uống liên tục 2 tháng thì hết bệnh đánh hắng nầy. Có lẽ chất thuốc vào đã đẩy đàm trong phổi ra khỏi cơ thể theo đường bài tiết nên không còn đàm chạy xuống trong cuống họng nữa, thế là hết đánh hắng. Hay thật! Từ đó về sau mỗi khi cảm thấy đàm nhiều trong cổ, tôi liền đi tìm Chàng Lưng Cá (Lung care) ngay. Tuy nhiên, không phải loại thuốc này chỉ trừ đàm không thôi, thuốc còn trị những bệnh khác nữa như tẩy sạch chất độc trong phổi, bổ phổi, thông hơi thở, trị nghẹt mũi, ho, dị ứng hen suyễn, tăng cường hệ thống miễn nhiễm cho đường hô hấp vv…


    Trên đây tôi đã đề cập đến toa thuốc tiêu đàm ở phổi, tức toa thuốc Chàng Lưng Cá ( Lung care). Bây giờ tôi xin được đề cập đến bài thuốc chữa bệnh đau bao tử, tức toa thuốc Nàng Tố Mai ( Stomaisu).
    Vì uống thuốc Chàng Lưng Cá ( Lung care ) lành bệnh nên lúc bị đau bao tử, uống prilosec, zantac cũng không lành, tôi liền đổi sang thuốc Bắc xem sao. Thế là tôi chờ bácsĩ Peter Morita xuất hiện trên đài truyền hình xem ông ta có nói về thuốc chữa bệnh đau bao tử không. Và đúng như sự mong chờ của tôi, chiều hôm ấy ông ta lại nói về thuốc trị bệnh bao tử. Sau khi nghe bác sĩ Peter Morita nói về bệnh đau bao tử và giới thiệu loại thuốc Stomaisu ( Nàng Tố Mai), tôi liền đến phòng mạch của ông ta để khám bệnh và để hỏi cho tường tận tại sao bệnh đau bao tử của tôi không lành.
    Tại phòng mạch, cũng như lần trước, lần này bác sĩ Peter Morita giải thích cho tôi nghe
    nguyên nhân của bệnh đau bao tử rất rõ ràng, dễ hiểu và thật tường tận.
    Bác sĩ Peter Morita nói rằng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng thuộc phạm vi chứng vị quản thống và chứng vị thống của đông y. Nguyên nhân gây bệnh này do tình chí bị kích thích, khí uất trong gan mất khả năng sơ tiết làm rối loạn khí cơ thăng thanh giáng trọc của tỳ vị mà gây ra những chứng đau như ợ hơi, ợ chua vv…Hoặc do ăn uống thất thường làm tỳ vị bị tổn thương mất khả năng kiện vận, hàn tà nhân cơ hội này mà xâm nhập gây nên khí trệ huyết ứ sinh ra các cơn đau. Bác sĩ Peter Morita nói rằng nguyên nhân bệnh nầy có nhiều loại. Loại thứ nhất gọi là Can khí phạm vị ( còn gọi là can vị bất hoà, can khắc tỳ, can mộc khắc tỳ thổ). Loại này thường chia làm ba thể nhỏ : khí trệ, hoả uất, huyết ứ.
    Triệu chứng của khí trệ này thường đau từng cơn ở vùng thượng vị, lan ra hai mạng sườn, xuyên ra sau lưng. Bụng đầy chướng, ấn vào thấy đau. Hay ợ hơi, ợ chua. Chất lưỡi màu hơi đỏ, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng mỏng.
    Riêng triệu chứng của hoả uất thì vùng thượng vị đau nhiều, miệng khô, ợ chua, đắng miệng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Còn triệu chứng của huyết ứ thì thường đau dữ dội ở một vị trí nhất định, ấn vào ( gọi là cự án) đau tăng thêm, ấn vào thấy khó chịu.
    Triệu chứng này chia làm hai loại thực chứng và hư chứng:
    Thực chứng thì nôn ra máu, ỉa phân đen, môi đỏ lưỡi đỏ,rêu lưỡi vàng. Hư chứng thì sắc mặt xanh nhợt, người mệt mỏi, môi nhạt, chân tay lạnh, chất lưỡi có điểm ứ huyết, rêu lưỡi nhuận. Về thực chứng ta phải thông lạc hoạt huyết hay lương huyết chỉ huyết, về hư chứng ta nên bổ huyết chỉ huyết.Đó là loại đau bao tử thứ nhất.
    Loại đau bao tử thứ hai là loại tỳ vị hư hàn. Triệu chứng của loại này ta thường thấy là hay đau ở vùng thượng vị mãi, nôn nhiều, hay mệt mỏi, thích xoa bóp, chườm nước nóng. Ngoài ra ta thường thấy đầy bụng, nôn ra nước trong, sợ lạnh tay chân lạnh, phân nát, có lúc bón, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhạt. Phương pháp chữa cho bệnh đau bao tử loại này là, ôn bổ tỳ vị, ôn vị kiện trung.
    Bác sĩ Peter Morita còn giải thích rất nhiều vấn đề liên quan đến bệnh đau bao tử nữa, nhưng tôi nhớ không hết được. Thỉnh thoảng ông nói nhiều danh từ về đông y nghe là lạ tai nhưng tổng thể thì cũng dễ hiểu. Sau đó bác sĩ Morita giới thiệu loại thuốc chữa bệnh
    bao tử cũng của công ty Lifeprincess tên là Stomaisu( Nàng Tố Mai) do ông ta điều chế. Bác sĩ Peter Morita nói rằng loại thuốc này gồm có 10 loại dược thảo sau sau đây:
    1- Hawthorn
    2- Raphanus
    3- Massa Medicata Fermentata
    4- Pinellia
    5- Forsythia
    6- Poria
    7- Cuttlebone
    8- Baikal Skullcap
    9- Sanguisorba
    10- Corydalis
    Loại thuốc Stomaisu nầy chữa tất cả các bệnh liên quan về bao tử như sình bụng, đầy hơi ợ chua, yếu bao tử, ngăn ngừa cồn cào xót bao tử, đau bụng, bị đi tiêu chảy .
    Vì tôi đã lành hai bệnh nhờ uống hai loại thuốc này nên tôi tin chắc rằng những bệnh khác, nếu cũng dùng loại thuốc của công ty nổi tiếng Lifeprincess do bác sĩ Peter Morita bào chế, rồi cũng sẽ lành bệnh thôi. Bác sĩ Peter Morita còn nói với tôi rằng chữa bệnh giống như chữa lửa vậy, khi lâm bệnh phải tìm thuốc mà uống ngay chứ đừng chờ bệnh nặng mà uống thì coi như không. Lúc ấy lại bảo tại sao thuốc của bác sĩ này không lành, thuốc của bác sĩ kia không hay, vì đã quá muôn rồi!
    Vì vậy, cứ mỗi lần đau bao tử và bị đàm nhiều trong phổi, tôi đi ngay ra các tiệm thuốc Đông y có bán thuốc của công ty Princess Lifestyle mua ngay thuốc nàng Tố Mai ( Stomaisu ) và thuốc chàng Lưng Cá ( Lung care ) để uống. Bởi vì tôi biết chắc rằng đây là những loại thuốc do bác sĩ Peter Morita nghiên cứu rất công phu trong suốt mười mấy năm trời sau khi ông ta đã tốt nghiệp vừa bác sĩ Đông y, vừa bác sĩ Tây y, vừa lặn lội đến tận miền quê nội ở xứ Hoa Anh Đào đất Phù Tang để học thêm những loại thuốc gia truyền nữa.

    California ngày 11 tháng 11 năm 2008.
  9. Mới đọc nhan đề ai cũng ngạc nhiên tại sao có người lại mang tên kỳ lạ như thế. Chán gì danh xưng mà lại lấy tên là Lưng Cá. Xin thưa đây không phải là tên người mà là tên của một loại thuốc Đông y. Đó là thuốc “ Bài Độc Bổ Phổi”, tiếng Anh là Lung care . Còn loại thuốc trị bệnh bao tử là Tố Mai tiếng Anh là Stomaisu. Đây là hai loại thuốc trong những loại thuốc trị bệnh nổi tiếng nhất của công ty Princess Lifestyle do bác sĩ Peter Morita chế tạo.
    Sở dĩ tôi “biến” hai danh từ Lung care và Stomaisu thành tiếng Việt là để cho dễ nhớ mỗi khi đi mua thuốc mà thôi.
    Tại sao tôi chỉ đề cập đến hai loại thuốc này mà thôi. Bởi vì tôi đã dùng hai loại thuốc này và đã lành bệnh . Số là tôi có tật hay đánh hắng nơi cổ vì đàm nhiều. Tôi không biết tại sao đàm cứ xuống nằm trong cuống họng tôi mãi. Lúc đầu các bác sĩ nghĩ rằng tôi bị cảm nên thường hay ho rồi cho thuốc ho về uống. Nhưng rồi tôi vẫn thấy đàm đâu trong cuống họng vẫn làm tôi khó chịu nên tôi vẫn tiếp tục đánh hắng. Tình cờ thấy bác sĩ Peter Morita nói trên đài truyền hình về thuốc chữa bệnh đàm nhiều trong phổi, tôi liền đến công ty dược thảo nổi tiếng PRINCESS LIFESTYLE LLC của ông ta ở số 4801
    Littlejohn St, Ste E, Baldwin Park, Ca 91706 để xin khám bệnh để xin khám bệnh. Bác sĩ Peter Morita giải thích rằng sở dĩ tôi cảm thấy đàm nhiều ở cuống họng là do đàm tích tụ ở trong phổi quá nhiều. Chỉ có cách duy nhất làm cho hết đàm trong phổi là uống loại thuốc Lung care. Rồi bác sĩ Peter Morita giải thích rằng, người ta ai ai cũng có đàm cả.
    Bác sĩ Morita nói rằng người ta thường gọi chung là đàm ẩm. Đó là sản vật bệnh lý, đàm là chất đặc, ẩm là chất trong loãng. Đàm ẩm sau khi sinh ra sẽ gây những bệnh mới, phạm vi gây bệnh của đàm rất rộng rãi. Đàm ẩm do tân dịch ngưng tụ biến hoá thành. Do
    thất tình ( vui, giận, buồn, lo, nghĩ ,kinh, sợ) và lục dâm (……….) khiến cơ năng của tạng tỳ, phế, thận bị ảnh hưởng, tân dịch không được phân phối và vận hành nên ngưng đọng lại thành thấp, thấp sẽ biến thành đàm ẩm. Đàm ẩm này sẽ theo khí di chuyển đến lục phủ ngũ tạng và khắp mọi nơi trong cơ thể làm ảnh hưởng đến sự lưu thông của khí huyết, ảnh hưởng đến sự thăng giáng của khí rồi gây ra các chứng bệnh ở trong lục phủ ngũ tạng. Nếu đàm vào tim sẽ sinh ra điên cuồng, tâm quý, vào dạ dày sẽ sinh lợm giọng nôn mửa, vào ngực sẽ tức ngực rồi suyễn, nếu nghịch lên trên sẽ huyền vững, vào kinh thiếu dương sẽ sinh ra sốt rét. Nếu đàm vào phổi sẽ sinh ra hen suyễn, khạc ra đàm vì đàm thường chạy xuống cuống họng. Còn ẩm nều tràn ra ngực sườn gây ho, hen suyễn, tràn ra cơ nhục gây phù thủng, nằm trong tiêu hoá sinh ra sôi bụng, miệng khô, bụng đầy, ăn kém. Vì vậy theo bác sĩ Peter Morita, đối với bệnh hay đánh hắng cho thông đàm nơi cổ thì phải uống thuốc tiêu đàm trong phổi bệnh sẽ hết thôi. Để chữa bệnh tiêu đàm trong phổi, nên dùng loại thuốc Bài Độc Bổ Phổi mà tôi biến thành tiếng Việt cho dễ nhớ là Lưng Cá ( Lung care) của công ty Princess Lifestyle do bác sĩ Peter Morita chế tạo sau khi đã dày công nghiên cứu lâu năm mới hoàn thành. Bác sĩ Peter Morita giải thích cho tôi nghe rằng toa thuốc trừ đàm ở phổi Lung care này gồm tất cả 11 loại dược thảo như sau:
    1- Astragalus
    2- Lonicera Flower
    3- Chinese Thoroughwax
    4- Baikal Skullcap
    5- Baphicacanthus
    6- Aspidum
    7- Atractylodes
    8- Coix
    9- Agastache
    10 - Siler
    11- Licorice
    Bác sĩ Peter Morita dặn rằng loại thuốc này đựng trong chai tất cả là 60 viên, mỗi ngày uống ba lần, mỗi lần 2 viên uống trước bữa ăn. Theo lời khuyên dặn của bác sĩ, tôi mang về nhà uống liên tục 2 tháng thì hết bệnh đánh hắng nầy. Có lẽ chất thuốc vào đã đẩy đàm trong phổi ra khỏi cơ thể theo đường bài tiết nên không còn đàm chạy xuống trong cuống họng nữa, thế là hết đánh hắng. Hay thật! Từ đó về sau mỗi khi cảm thấy đàm nhiều trong cổ, tôi liền đi tìm Chàng Lưng Cá (Lung care) ngay. Tuy nhiên, không phải loại thuốc này chỉ trừ đàm không thôi, thuốc còn trị những bệnh khác nữa như tẩy sạch chất độc trong phổi, bổ phổi, thông hơi thở, trị nghẹt mũi, ho, dị ứng hen suyễn, tăng cường hệ thống miễn nhiễm cho đường hô hấp vv…


    Trên đây tôi đã đề cập đến toa thuốc tiêu đàm ở phổi, tức toa thuốc Chàng Lưng Cá ( Lung care). Bây giờ tôi xin được đề cập đến bài thuốc chữa bệnh đau bao tử, tức toa thuốc Nàng Tố Mai ( Stomaisu).
    Vì uống thuốc Chàng Lưng Cá ( Lung care ) lành bệnh nên lúc bị đau bao tử, uống prilosec, zantac cũng không lành, tôi liền đổi sang thuốc Bắc xem sao. Thế là tôi chờ bácsĩ Peter Morita xuất hiện trên đài truyền hình xem ông ta có nói về thuốc chữa bệnh đau bao tử không. Và đúng như sự mong chờ của tôi, chiều hôm ấy ông ta lại nói về thuốc trị bệnh bao tử. Sau khi nghe bác sĩ Peter Morita nói về bệnh đau bao tử và giới thiệu loại thuốc Stomaisu ( Nàng Tố Mai), tôi liền đến phòng mạch của ông ta để khám bệnh và để hỏi cho tường tận tại sao bệnh đau bao tử của tôi không lành.
    Tại phòng mạch, cũng như lần trước, lần này bác sĩ Peter Morita giải thích cho tôi nghe
    nguyên nhân của bệnh đau bao tử rất rõ ràng, dễ hiểu và thật tường tận.
    Bác sĩ Peter Morita nói rằng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng thuộc phạm vi chứng vị quản thống và chứng vị thống của đông y. Nguyên nhân gây bệnh này do tình chí bị kích thích, khí uất trong gan mất khả năng sơ tiết làm rối loạn khí cơ thăng thanh giáng trọc của tỳ vị mà gây ra những chứng đau như ợ hơi, ợ chua vv…Hoặc do ăn uống thất thường làm tỳ vị bị tổn thương mất khả năng kiện vận, hàn tà nhân cơ hội này mà xâm nhập gây nên khí trệ huyết ứ sinh ra các cơn đau. Bác sĩ Peter Morita nói rằng nguyên nhân bệnh nầy có nhiều loại. Loại thứ nhất gọi là Can khí phạm vị ( còn gọi là can vị bất hoà, can khắc tỳ, can mộc khắc tỳ thổ). Loại này thường chia làm ba thể nhỏ : khí trệ, hoả uất, huyết ứ.
    Triệu chứng của khí trệ này thường đau từng cơn ở vùng thượng vị, lan ra hai mạng sườn, xuyên ra sau lưng. Bụng đầy chướng, ấn vào thấy đau. Hay ợ hơi, ợ chua. Chất lưỡi màu hơi đỏ, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng mỏng.
    Riêng triệu chứng của hoả uất thì vùng thượng vị đau nhiều, miệng khô, ợ chua, đắng miệng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Còn triệu chứng của huyết ứ thì thường đau dữ dội ở một vị trí nhất định, ấn vào ( gọi là cự án) đau tăng thêm, ấn vào thấy khó chịu.
    Triệu chứng này chia làm hai loại thực chứng và hư chứng:
    Thực chứng thì nôn ra máu, ỉa phân đen, môi đỏ lưỡi đỏ,rêu lưỡi vàng. Hư chứng thì sắc mặt xanh nhợt, người mệt mỏi, môi nhạt, chân tay lạnh, chất lưỡi có điểm ứ huyết, rêu lưỡi nhuận. Về thực chứng ta phải thông lạc hoạt huyết hay lương huyết chỉ huyết, về hư chứng ta nên bổ huyết chỉ huyết.Đó là loại đau bao tử thứ nhất.
    Loại đau bao tử thứ hai là loại tỳ vị hư hàn. Triệu chứng của loại này ta thường thấy là hay đau ở vùng thượng vị mãi, nôn nhiều, hay mệt mỏi, thích xoa bóp, chườm nước nóng. Ngoài ra ta thường thấy đầy bụng, nôn ra nước trong, sợ lạnh tay chân lạnh, phân nát, có lúc bón, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhạt. Phương pháp chữa cho bệnh đau bao tử loại này là, ôn bổ tỳ vị, ôn vị kiện trung.
    Bác sĩ Peter Morita còn giải thích rất nhiều vấn đề liên quan đến bệnh đau bao tử nữa, nhưng tôi nhớ không hết được. Thỉnh thoảng ông nói nhiều danh từ về đông y nghe là lạ tai nhưng tổng thể thì cũng dễ hiểu. Sau đó bác sĩ Morita giới thiệu loại thuốc chữa bệnh
    bao tử cũng của công ty Lifeprincess tên là Stomaisu( Nàng Tố Mai) do ông ta điều chế. Bác sĩ Peter Morita nói rằng loại thuốc này gồm có 10 loại dược thảo sau sau đây:
    1- Hawthorn
    2- Raphanus
    3- Massa Medicata Fermentata
    4- Pinellia
    5- Forsythia
    6- Poria
    7- Cuttlebone
    8- Baikal Skullcap
    9- Sanguisorba
    10- Corydalis
    Loại thuốc Stomaisu nầy chữa tất cả các bệnh liên quan về bao tử như sình bụng, đầy hơi ợ chua, yếu bao tử, ngăn ngừa cồn cào xót bao tử, đau bụng, bị đi tiêu chảy .
    Vì tôi đã lành hai bệnh nhờ uống hai loại thuốc này nên tôi tin chắc rằng những bệnh khác, nếu cũng dùng loại thuốc của công ty nổi tiếng Lifeprincess do bác sĩ Peter Morita bào chế, rồi cũng sẽ lành bệnh thôi. Bác sĩ Peter Morita còn nói với tôi rằng chữa bệnh giống như chữa lửa vậy, khi lâm bệnh phải tìm thuốc mà uống ngay chứ đừng chờ bệnh nặng mà uống thì coi như không. Lúc ấy lại bảo tại sao thuốc của bác sĩ này không lành, thuốc của bác sĩ kia không hay, vì đã quá muôn rồi!
    Vì vậy, cứ mỗi lần đau bao tử và bị đàm nhiều trong phổi, tôi đi ngay ra các tiệm thuốc Đông y có bán thuốc của công ty Princess Lifestyle mua ngay thuốc nàng Tố Mai ( Stomaisu ) và thuốc chàng Lưng Cá ( Lung care ) để uống. Bởi vì tôi biết chắc rằng đây là những loại thuốc do bác sĩ Peter Morita nghiên cứu rất công phu trong suốt mười mấy năm trời sau khi ông ta đã tốt nghiệp vừa bác sĩ Đông y, vừa bác sĩ Tây y, vừa lặn lội đến tận miền quê nội ở xứ Hoa Anh Đào đất Phù Tang để học thêm những loại thuốc gia truyền nữa.

    California ngày 11 tháng 11 năm 2008.
  10. DƯƠNG VIẾT ĐIỀN ĐỌC “QUÊ HƯƠNG QUA THI CA VIỆT NAM”
    (Anthology of Homeland in Vietnamese Poetry and Songs)
    CỦA CỤ NGUYỄN HỮU LÝ

    Sau khi đọc xong Tuyển Tập Việt Anh QUÊ HƯƠNG QUA THI CA VIỆT NAM (Anthology of homeland in Vietnamese Poetry and Songs) của cụ Nguyễn hữu Lý gởi tặng, tôi bàng hoàng đến xúc động. Không xúc động sao được khi thấy một cụ già đã trên 80 tuổi vẫn miệt mài với văn chương chữ nghĩa, ngày đêm đèn sách quyết chí hoàn thành những ước mơ tiềm tàng trong lòng mình là xuất bản cho được thi phẩm nói về Quê Hương Việt Nam mến yêu của chúng ta.
    Có lẽ vì xa nhà biền biệt đã lâu, vì nhớ nhà, nhớ quê cha đất tổ, nhớ giếng nước bờ ao, nhớ luỹ tre xanh bao bọc quanh làng, lòng tác giả đã quặn thắt để rồi buồn vời vợi mấy chục năm trời vì nghìn trùng xa cách.
    Vì tình hoài hương dễ làm xúc động lòng người nên bất kỳ ai xa quê hương cũng nhớ nhà, nhớ quê da diết. Không nơi nào bằng quê nhà, không nơi nào bằng nơi chôn nhau cắt rún. Cho dù đang ở trên tháp ngà cao ngất trời xanh giữa chốn phồn hoa đô hội nơi đất khách quê người, cho dù đang được hưởng thụ nền văn minh vật chất tối tân nhất của nhân loại giữa thủ đô ánh sáng Paris hay tại thành phố Newyork, nhưng tất cả mọi người trên trái đất này, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, không phân biệt nam nữ hay trẻ già, mỗi lần nhắc đến quê hương ai ai cũng cảm thấy nhớ nhà da diết, ai ai cũng cảm thấy xúc động trong lòng.
    Chính điểm này khiến thi sĩ Anh quốc Lord Byron khi quá nhớ nhà đã không ngần ngại hạ bút viết:
    Home, home, home, sweet home !
    How humble the home may be !
    There is no place like home !
    (Ta về ta tắm ao ta
    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn)
    Và cũng vì chạnh lòng nơi quê người đất khách, vì quằn quại triền miên phải thao thức biết bao đêm trường mỗi lần nhớ về quê mẹ, thi sĩ Ella Goodwin người Mỹ cũng đã xúc động con tim mà sáng tác nên mấy vần thơ bất hủ sau đây :
    “I'm homesick to- night, just homesick,
    O! how I long once more
    Just to sit as of old in the twilight
    On the step of the old kitchen door...
    I'm homesick to- night, O how homesick,
    Never my tongue may tell,
    Tho' my heart may break with longing
    For the scenes that I love so well;
    But the dear old home in the valley
    Will be mine, O never again:
    No more will its sunshine cheer me,
    And wishes and tears are in vain.”
    (“Homesick”, Ella Goodwin)
    Nhà thơ Việt Hải đã phỏng tác thành thơ như sau:
    “Đêm nay sao bỗng nhớ nhà,
    Nghe hồn tư lự thiết tha nữa kìa
    Nhìn trăng ánh tỏa ngoài kia
    Bên thềm cửa bếp lòng dìa bâng khuâng...
    Ôi sao nhớ quá, lâng lâng
    Ngập hồn nhung nhớ ngàn lần tình quê
    Nhịp tim hơi thở tìm về
    Quê xưa cảnh cũ tràn trề tâm can
    Luỹ tre khóm trúc đầu làng
    Cho ta tìm lại giang san gọi mời
    Bình minh tỏa sáng trên trời
    Lệ tràn nhung nhớ một đời: Quê Hương.”
    ( “ Nhớ Nhà” Việt Hải )
    Vì thế, con tim của cụ Nguyễn hữu Lý cũng không khác gì con tim của thi sĩ Anh quốc Lord Byron, không khác gì con tim của nhà thơ Mỹ Ella Goodwin, cũng không khác gì những con tim của hằng vạn người sống xa quê nhà, nên lòng cụ vẫn thường xuyên nhớ về quê mẹ Việt Nam mến yêu bây giờ đã xa cách nghìn trùng.
    Đã thế, Việt Nam là một quốc gia có trên bốn ngàn năm văn hiến. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc oai hùng. Từ thời vua Hùng dựng nước, qua các triều đại Đinh Lê Lý Trần cho đến ngày hôm nay, lịch sử Việt Nam đã ghi lại biết bao nhiêu những chiến tích oai hùng . Đã thế Quê Hương Việt Nam toàn là những rừng vàng biển bạc, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu đâu đâu cũng có nhiều danh lam thắng cảnh thật tuyệt vời.
    Vì vậy, cụ Nguyễn hữu Lý muốn cho giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại tìm hiểu về Quê Hương, nguồn gốc dân tộc và giúp cho các dân tộc khác trên thế giới biết rõ hơn về văn hóa, lịch sử và về địa hình, địa vật được cấu trúc bởi tạo hoá thành những vẻ đẹp thiên nhiên trên mảnh đất giang sơn gấm vóc này.
    Trong quá trình thực hiện những ước mơ này, cụ Nguyễn hữu Lý đã bỏ hết thời gian của buổi chợ chiều của cuộc đời và bỏ rất nhiều công sức để sưu tầm những tác phẩm văn chương, những bài thơ bất hủ của các thi nhân ca ngợi Quê Hương Việt Nam từ thời lập quốc cho đến ngày hôm nay. Cụ Nguyễn hữu Lý đúng là một mẫu người có chí lớn.
    Thật thế, cụ nguyên là Trung Tá Thiết Giáp thuộc Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà, xuất thân Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt năm 1955, tốt nghiệp trường Thiết Giáp QLVNCH năm 1957 và trường Thiết Giáp Fort-Knox Kentucky ở Hoa Kỳ năm 1962.
    Những chiến tích huy hoàng của cụ trong thời chinh chiến ở trong quân Lực Việt Nam Cọng Hoà đã được đánh đổi thành 10 năm tù trong các trại tù từ Nam ra Bắc sau khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Cụ đến định cư tại Mỹ năm 1990 theo diện HO lúc tuổi đã lớn, sức lực đã kiệt vì những tháng năm bị hành xác trong ngục tù. Ấy thế mà cụ vẫn quyết chí cắp sách đi học trở lại làm cho mọi người phải thán phục. Dĩ nhiên khi chí đã quyết thì mộng phải thành. Cụ đã đậu được bằng Cao Học Nhân Văn Văn Chương Mỹ ( Master of Arts in the Humanities- Major in Studies in Literature ) tại Viện Đại Học Dallas vào năm 2000 lúc bấy giờ tuổi đời đã quá tuổi thất thập cổ lai hy!
    Nhờ vốn liếng Anh ngữ qua những tháng ngày nghiên cứu tại đại học Dallas, dịch giả Nguyễn hữu Lý liền bắt tay vào việc dịch thuật tất cả những tác phẩm văn chương của các thi nhân Việt Nam đã ca ngợi Quê Hương Việt Nam mà cụ đã sưu tầm được từ bấy lâu nay.
    Đây là một công trình văn học nghệ thuật vĩ đại. Nhờ công trình này các thế hệ trẻ tương lai và các người ngoại quốc thấy rõ được những nét đặc thù về lịch sử, nhân văn, địa lý của nước Việt Nam chúng ta.
    Tuyển tập song ngữ Việt Anh nầy có tên là QUÊ HƯƠNG QUA THI CA VIỆT NAM (ANTHOLOGY OF HOMELAND IN VIETNAMESE POETRY AND SONGS) gồm tất cả hơn 100 thi, nhạc phẩm của trên 80 tác giả nổi tiếng từ thế kỷ 11 cho đến ngày hôm nay.
    Điểm qua các nguyên bản những bài thơViệt ngữ rồi đọc những bài đã đựơc dịch ra Anh ngữ, chúng ta thấy dịch giả Nguyễn hữu Lý đã giữ được tối đa ý thơ và hồn thơ từ nguyên tác của từng tác giả. Thêm vào đó, dịch giả còn kèm theo các cước chú rất công phu và rõ ràng giúp cho độc giả có thể hiểu thấu đáo nội dung của từng tác phẩm.
    Trong Tuyển Tập nầy, dịch giả đã đưa ra những tác phẩm rất nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam như những bài:
    - Nam Quốc Sơn Hà ( The South Empire’s Land) của Lý thường Kiệt (1019-1105).
    - Tòng Giá Hoàn Kinh ( Following our Emperor’s Triumphal Return to the Capital) của Trần quang Khải ( 1248-1294).
    -Bình Ngô Đại Cáo ( The Proclaimation of Victory over the Wu ) của Nguyễn Trãi (1380-1442).
    - Hai Chữ Nước Nhà ( Two-word phrase “ Home Country”) của Á Nam Trần Tuấn Khải
    ( 1894-1983 ).
    - Chí Làm Trai (The young man’s will) của Nguyễn công Trứ ( 1778-1858 ).
    - Thăng Long ( Thang Long Capital ) của Nguyễn Du ( 1765-1820 ).
    - Cảnh Đẹp Hạ Long ( Picturesque Panorama View of Ha Long Bay ) của Vua Lê Thánh Tông ( 1442-1497 ).
    - Bài Thơ Khắc Trên Núi Đá Ở Lai Châu ( Poem Engraved on A Rocky Mountain in Lai Châu ) của Vua Lê Lợi ( 1385-1433 ).
    - Động Hương Sơn ( The Hương Sơn Cavern ) của Chu Mạnh Trinh.
    - Đập Đá Ở Côn Lôn ( Breaking Rocks on Con Lon Island ) của Phan châu Trinh ( 1872-1926 ).
    Và mấy chục bài thơ nổi tiếng khác nữa.
    Điểm qua một vài bài thơ nổi tiếng mà tác giả đã dịch ra Anh ngữ, ta thấy chỉ cần đọc nội dung bài thơ cũng có thể biết rất rõ hoàn cảnh đất nước Việt Nam qua từng thời đại nhờ tác giả cước chú rất rõ ràng cả Việt ngữ lẫn Anh ngữ. Chẳng hạn như bài Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt sau đây:

    Đất nước Nam nầy, Nam đế chủ
    Sách trời định phận rõ non sông
    Cớ sao nghịch tặc dám xâm phạm?
    Bạn hãy chờ coi, chuộc bại vong!

    (Nam quốc sơn hà Nam đế cư
    Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.)
    Phần Anh ngữ:
    The South Empire’s Land

    The South Empire’s Land is where the South Emperor reigns over
    Evidently, that has been predestined in the Celestial Book
    Aggressor! Why dare you come to invade our Empire?
    Beware! All of you will be annihilated undoubtedly.

    Nhờ cước chú rất cẩn thận và minh bạch, độc giả ngoại quốc hay con cháu người Việt thuộc các thế hệ tương lai ở hải ngoại có thể biết được nhân vật Lý thường Kiệt là ai trong lịch sử Việt Nam, quê ở đâu. Và ông ta đã sáng tác một tác phẩm văn chương bất hủ mang tên Nam Quốc Sơn Hà với mục đích gì?
    Qua những lời trình bày ở trên, ta nhận thấy rằng Tuyển Tập song ngữ Việt Anh nầy xứng đáng có một chỗ đứng trang trọng trong văn đàn Việt Nam ở hải ngoại. Đây là những tài liệu vô cùng quý giá về văn hoá Việt Nam cho các trường Đại học ở Hoa Kỳ và tất cả các nước khác trên thế giới nữa. Vì vậy chúng ta nên tìm đọc cho được tác phẩm nầy trước là để ôn lại lịch sử, địa lý, danh nhân vv…của nước Việt, sau nữa là để cho con cháu chúng ta có tài liệu khi nghiên cứu về văn hoá của đất nước Việt Nam.
    Nói chung, vì xa quê nhà biền biệt đã quá lâu nên cụ Nguyễn hữu Lý đã triền miên thao thức hằng đêm, nằm nghe tâm hồn quằn quại vì nhớ Quê Hương chất ngất. Cũng vì niềm thương nỗi nhớ quê nhà đó khiến cụ quyết hoàn thành tác phẩm “Quê Hương Qua Thi Ca Việt Nam” rồi ngày đêm miệt mài dịch thuật toàn bộ tác phẩm này để cống hiến cho nền văn học Việt Nam hải ngoại.
    Giờ đây, Quê Hương Việt Nam đang nằm trong chế độ độc tài nên không thể trở lại quê nhà được. Chờ một ngày đẹp trời khi chế độ Cộng Sản trên đất nước ta hoàn toàn được giải thể và hoa tự do nở rộ giữa Quê Hương, chúng ta cũng như cụ dịch giả Nguyễn hữu Lý sẽ cùng nhau trở lại quê nhà. Đó cũng là lý do tại sao khi Hoàng Đế Napoléon cho phép đại văn hào Pháp quốc Victor Hugo đang sống lưu vong ở đất khách quê người trở về quê cũ, ông ta đã từ chối rồi khẳng khái trả lời với Napoléon rằng, khi nào tự do trở về tôi sẽ trở về (Je rentrerai, quand la Liberté rentrera ).
    California, ngày 10 tháng 05 năm 2009
    Dương viết Điền
  11. DI CHÚC CHO NGƯỜI TÌNH CUỐI CÙNG


    Sau này
    khi nghe anh đã chết,
    Hãy đi tìm anh
    trong nghĩa địa đa tình
    Thắp cho anh
    một nén hương tàn
    khi đã thấy được mộ phần
    Rồi đặt vòng hoa chiến bại
    của cuộc tình
    ngay trên nấm mộ
    Bởi anh và em yêu nhau
    khi tình đà dang dở
    Bởi anh và em yêu nhau
    khi tình đã lỡ làng
    Thì làm sao chúng mình
    có thể đạt được
    những chiến tích huy hoàng!
    Nên anh đành phải
    ngậm ngùi
    nơi chín suối




    Có nhớ thương anh
    thì đừng quên
    những lời trăn trối:
    Cho dù chết rồi
    anh vẫn mãi
    yêu em
    Một ngàn năm
    rồi một vạn năm sau
    làm sao anh
    lại có thể quên
    Người tình cuối
    là em,
    là THIÊN THẦN bất tử.

    HẠ ÁI KHANH
  12. ĐỂ PHÒNG BỆNH VÀ CHỮA BỆNH.

    Người xưa thường nói “Trị phong tất trị huyết, huyết hành tất phong diệt”. Thật vậy, nếu tất cả lục phủ ngũ tạng của cơ thể ta được tim đưa máu đến đầy đủ để nuôi dưỡng thì chúng ta sẽ ít khi mang bệnh tật. Theo Bác Sĩ Nguyễn ý Đức, “tim được ví như toà nhà song lập hai tầng với hai tâm nhĩ ở trên, hai tâm thất ở dưới ngăn cách nhau bằng một chiếc van để hướng dẫn máu lưu thông một chiều từ trên xuống dưới.

    Mạng lưới mạch máu gồm mạch máu phổi bắt nguồn từ tâm thất phải, đưa máu nhiều thán khí lên phổi để trao đổi lấy dưỡng khí. Còn mạng mạch máu tổng quát thì đưa máu đỏ nhiều oxy từ tâm thất trái đi nuôi dưỡng khắp châu thân.

    Mỗi ngày tim bơm khoảng 7000 lít máu vào hơn 100,000 cây số mạch máu lớn, nhỏ. Nhịp tim bình thường là 70-80 / một phút. Một tế bào máu chạy từ tim xuống ngón chân rồi trở lại tim mất 12 giây“. Vì vậy điều quan trọng để khỏi mang bệnh tật là chúng ta làm sao cho máu luôn luôn được luân lưu trong cơ thể, để vào hơn 100,000 cây số mạch máu lớn nhỏ chạy từ não bộ đến chân chúng ta.

    Phương pháp hay nhất làm cho máu luân lưu trong cơ thể là tập thể dục hằng ngày. Nhưng đối với những người lớn tuổi đi đứng khó khăn hay không muốn tập thể dục thì vào tắm trong hồ nước nóng cũng làm cho máu trong cơ thể lưu thông được.

    Để được tắm trong hồ nước nóng, chúng ta nên ghi danh vào các câu lạc bộ thể thao thể dục như hội BALLY CLUB vv…Khi đã vào câu lạc bộ này, chúng ta sẽ tha hồ tập thể dục vì câu lạc bộ có cả trăm máy tập. Câu lạc bộ lại có cả hồ bơi nước lạnh, hồ tắm nước nóng, phòng tắm hơi, vv… Như vậy, để cho khí huyết luân lưu trong cơ thể thường xuyên, hằng ngày ta nên xuống hồ nước nóng ngâm mình khoảng nửa tiếng đồng hồ là được. Tuy nhiên để cho khí huyết lưu thông được nhanh chóng và len lỏi đến tận tất cả những tỉnh mạch nhỏ nhất của cơ thể, ta cần phải để cho vòi nước phun vào các huyệt đạo trên cơ thể để đả thông kinh mạch.

    Vì hồ tắm nước nóng (spa) của câu lạc bộ tương đối nhỏ, đông nhất chỉ được 16 người. Những người vào tắm thường ngồi quanh bờ thành và hướng lưng vào trong thành. Khi ngồi, vòi nước từ trong thành phun ra ngang thắt lưng thôi nên muốn cho vòi nước di chuyển trên các huyệt đạo để đả thông kinh mạch, ta phải tự mình di chuyển cơ thể mình lên xuống, qua lại, khi quay bên trái, khi quay bên phải, khi dang chân ra, khi khép chân lại, khi nằm nghiêng, khi hướng ngực vào thành bờ hồ vv… Tất cả những động tác của ta làm sao để cho vòi nước phun vào các huyệt đạo là được.

    Hầu hết tất cả mọi người đều chỉ thích ngồi quay lưng vào thành bờ hồ tắm để cho vòi nước nóng phun vào lưng rồi di chuyển lưng lên xuống qua lại mà thôi. Vì đây là thế ngồi tắm nước nóng thoải mái và dễ chịu nhất. Còn tôi vì muốn đả thông kinh mạch và cũng để ngừa bệnh cũng như chữa bệnh nên luôn luôn có những động tác như đã trình bày ở trên. Vì vậy, mỗi lần vào hồ nước nóng để tắm, tôi luôn luôn cho vòi nước nóng phun vào những huyệt nằm trên các đường kinh mà tôi sẽ trình bày sau đây. Và sở dĩ tôi chỉ giới hạn một số huyệt nằm trên mỗi đường kinh vì vị thế của vòi nước, vì người ngồi ngâm nước bên cạnh, vì chỗ ngồi của ta, vì thời gian ngâm nước nóng, vì sức khoẻ vv…không cho phép ta được tự do hay thoải mái toàn diện, triệt để được.

    Sau đây là những huyệt đạo nằm trên các kinh mạch tôi thường sử dụng:

    1-Các đường kinh mạch, huyệt đạo ở sau lưng và hai bên chân:
    a- Hai huyệt kiên tỉnh (kinh…) ở hai vai.
    b- Đốc mạch có tất cả 28 huyệt nhưng ta chỉ cần 14 huyệt sau lưng thôi, gồm những huyệt sau đây: Trường Cường, Yêu Du, Dương Quan, Mệnh Môn, Huyền Xu, Tích Trung, Trung Xu, Cân Súc, Chí Dương, Linh Đài, Thần Đạo, Thân Trụ, Đào Đạo, Đại Chùy.
    c- Kinh Túc Thái Dương bàng quang có tất cả 67 huyệt, nhưng ta chỉ dùng 20 huyệt ở sau lưng gồm: Đại Trử, Phong Môn, Phế Du, Đốc Du, Tâm Du, Quyết Âm Du, Cách Su, Can Du, Đởm Du, Tỳ Du, Vị Du, Tam Tiêu Du, Thận Du, Khí Hải Du, Đại Trường Du, Quang Nguyên Du, tiểu trường du, bàng quang du, cao hoang, chí thất.
    d-Hai huyệt hoàn khiêu ở hai mông thuộc kinh túc thiếu dương đởm
    e- Các huyệt chính ở chân gồm : phong thị ( kinh túc thiếu dương đởm), độc tỷ, túc tam lý ( kinh túc dương minh vị).
    f- Tất cả các huyệt nằm trên mu bàn chân.
    g- Tất cả các huyệt nằm dười lòng bàn chân, tuy nhiên nên cho vòi nước nóng hướng vào huyệt dũng tuyền lâu hơn các huyệt khác vì huyệt này tương đối quan trọng hơn. Nhìn hình dưới đây, ta thấy các bộ phận lục phủ, ngũ tạng hiện lên rất rõ :


    Trong lòng bàn chân
    2-Các đường kinh mạch, huyệt đạo ở trước mặt và hai cánh tay:
    - Nhâm mạch có tất cả 24 huyệt, nhưng ta chỉ xử dụng 20 huyệt nằm ở ngực và ở bụng:
    trung cực, quang nguyên, thạch môn, khí hải, âm giao, thần khuyết, thuỷ phân, hạ quan, kiên lý, trung quản, thượng quản, cự khuyết, cưu vỹ, trung đình, chiên trung, ngọc đường, tử cung, hoa cái, triền cơ, thiên đột.
    - Kinh thủ dương minh đại trường ở hai cánh tay gồm tất cả 20 huyệt, nhưng ta chỉ cần xử dụng 9 huyệt gồm những huyệt sau đây: thương dương, nhị gian, tam gian, hợp cốc, dương khê, thiên lịch, ôn lưu, thủ tam lý, khúc trì.
    - Tất cả các huyệt ở mu bàn tay.





    Hình trích từ Wikipedia ( Hình vẽ này gồm những huyệt của nhiều đường kinh. Nhưng vì ngâm nươc nóng một thời gian rất ngắn nên ta chỉ nên xử dụng những huyệt nêu trên cho phù hợp với những động tác và vị trí ngồi trong hồ nước nóng)
    Thông thường, chúng ta có những động tác thế nào để vòi nước nóng phun vào các huyệt là được. Nhưng để khỏi quên một số huyệt quan trọng cũng như để cho thuận chiều và dễ dàng trong lúc hành động, chúng ta nên làm theo thứ tự như sau:
    Trước hết ta ngụp lặn toàn thân xuống dưới hồ nước nóng để cho cơ thể ta từ chân đến đầu đều được nóng cả. Sau đó ta ngồi quay lưng vào thành bờ hồ cách bờ hồ khoảng một tấc. Trong các hồ nước nóng có rất nhiều vòi phun . Trong những vòi phun này thường chỉ có một hay hai vòi nước phun rất mạnh. Ta nên đến ngồi tựa lưng vào các vòi nước phun mạnh nầy thì tốt hơn. Sau khi đã ngồi an vị với vòi nước nóng sau lưng, ta bắt đầu cho vòi nước nóng phun vào thắt lưng ( giữa hai đốt sống lưngL4 và L5 ). Sau đó di chuyển lưng qua lại sao cho vòi nước nằm trên một đường thẳng thẳng góc với cột sống. Động tác này để chữa đau thắt lưng. Tiếp theo ta di chuyển lưng lên xuống sao cho vòi nước phun vào các huyệt nằm dọc theo trên cột sống ( các huyệt thuộc Đốc mạch ở sau lưng) từ cổ đến đốt xương cuối cùng của cột sống. Sau đó ta di chuyển lưng sao để cho vòi nước chạy tuần tự trên hai đường thẳng song song với cột sống, mỗi đường thẳng cách cột sống khoảng một phân rưởi ( các huyệt thuộc Bàng quang kinh ở sau lưng).
    Và để cho cổ và vai khỏi bị đau nhức hằng ngày, ta nên cho vòi nước nóng phun vào hai huyệt kiên tỉnh ở trên hai vai. Để biết huyệt kiên tỉnh, ta đưa bàn tay phải đặt nhẹ lên vai trái, chỗ ngón giữa của bàn tay chạm vào vai là huyệt kiên tỉnh. Làm tương tự đối với tay trái, ta cũng có huyệt kiên tỉnh ở vai bên phải. Để cho vòi nước phun vào huyệt kiên tỉnh, ta phải di chuyển lưng xuống thật thấp dưới nước và mặt ta phải nhìn lên trời mới được. Tuy nhiên muốn cho vòi nước phun vào huyệt kiên tỉnh dễ dàng hơn, ta ngụp lặn toàn thân xuống dưới nước. Trong trường hợp này ta không thể thở được vì mũi đang nằm dưới nước. Nếu cho vòi nước phun vào huyệt kiên tỉnh quá khó khăn thì ta bỏ hai huyệt này cũng được vì những huyệt khác cũng có thể làm cho vai và cổ đỡ đau nhức.
    Sau đó ta bắt đầu sang hai cánh tay. Ta cũng di chuyển cánh tay từ vai đến bàn tay một hai lần lướt qua vòi nước nóng đang phun rồi xuống dưới hông. Để làm các huyệt dưới hông ta quay người sao cho hông song song với thành hồ tắm rồi di chuyển thân mình nhè nhẹ lên xuống sao cho vòi nước phun vào hông đều đặn. Sau khi làm các huyệt ở hông xong ta cho vòi nước bắt đầu phun vào huyệt hoàn khiêu ở mông rồi huyệt phong thị ở đùi (thuộc Đởm kinh ), độc tỷ, túc tam lý (thuộc vị kinh ) và các huyệt còn lại cùng nằm trên đường kinh vị. Khi di chuyển chân nghe vòi nước vừa đến huyệt túc tam lý, ta nên dừng lại cho vòi nước phun vào huyệt này tương đối lâu hơn một chút vì huyệt này chữa được rất nhiều bệnh cũng như ngừa được bệnh tật. Sau đó ta tiếp tục di chuyển cho mu bàn chân qua lại dưới vòi nước. Tiếp theo ta cho lòng bàn chân di chuyển dưới vòi nước để cho vòi nước phun vào các huyệt. Dưới lòng bàn chân có huyệt khúc tuyền rất quan trọng nên khi vòi nước vừa đến huyệt này ta để cho vòi nước phun vào hơi lâu một chút. Sau khi làm chân bên phải xong ta tiếp tục di chuyển chân bên trái sao cho vòi nước phun vào các huyệt giống hệt như những huyệt nằm ở chân bên phải vậy. Sau khi vòi nước phun vào huyệt hoàn khiêu của chân bên trái xong ta đã xong một chu kỳ. Sau đó ta tiếp tục làm lại lần thứ hai, lần thứ ba vv… cho đến khi nào chúng ta muốn chấm dứt thì thôi.
    Trên đây là tất cả các huyệt mà tôi thường cho vòi nước nóng đi ngang qua lại nhiều lần mỗi khi tôi nhảy vào hồ để ngâm mình trong nước nóng.
    Vì quá nhiều huyệt nên tôi chỉ cho vòi nước nóng lướt qua thật nhanh. Tuy nhiên những huyệt tương đối quan trọng tôi để vòi nước hướng vào lâu hơn. Dĩ nhiên, mình phải tính toán sao để cho vòi nước phun vào các huyệt vừa đủ thời gian mình ngâm mình trong nước. Bởi vì ta không thể ngâm mình trong nước nóng lâu được vì có hại cho sức khoẻ. Thường thì tôi chỉ ngâm khoảng nửa giờ đồng hồ thôi. Tôi thấy có nhiều người Mỹ ngâm khoảng bốn mươi lăm phút, có người chỉ mười lăm phút. Tuỳ theo sức chịu đựng, sức khoẻ và sở thích của mỗi người. Sau khi ngâm mình trong hồ nước nóng, chúng ta nên vào hồ nước lạnh bơi một vòng cho cơ thể hạ bớt nóng, rồi nên vào phòng tắm hơi mà tắm để cho mồ hôi toát ra vì nước đã thấm vào cơ thể ta khá nhiều lúc ta ngâm mình trong nước. Lúc tắm hơi, ta cần lưu ý thời gian bao lâu đủ để mồ hôi toát ra vừa phải, chứ không nên tắm lâu quá sẽ có hại cho sức khoẻ. Bởi vì nếu tắm lâu mồ hôi sẽ toát ra quá nhiều, cơ thể sẽ mất nước làm âm dương mất thăng bằng vì hiện tượng âm hư xảy ra. Phần dương trong cơ thể nhân âm hư liền nổi lên sinh ra chứng hư nhiệt gọi là “âm hư sinh nội nhiệt”. Khi âm hư xảy ra ta sẽ thấy các triệu chứng sau đây: triều nhiệt, nhức trong xương, ho khan, họng khô, hai gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, ra mồ hôi trộm, mạch đập tế, sác. Thế là cơ thể ta bị bệnh. Vì vậy ta cần để ý thời gian lúc vào tắm hơi. Chỉ nên ngồi khoảng năm, mười phút là vừa. Và để âm dương trong cơ thể được cân bằng, khi tắm xong ta nên uống ngay vài ngụm nước ở vòi nước trong câu lạc bộ để bù vào số nước vừa mới toát mồ hôi khi tắm hơi.
    Tắm hơi cũng là một trong những phương pháp bảo vệ sức khoẻ cho chúng ta. Bởi vì lúc tắm hơi, các chất cặn bả trong cơ thể sẽ toát ra theo mồ hôi từ hằng triệu tuyến mồ hôi trên cơ thể chúng ta làm ta thấy khoẻ khoắn ngay. Và cũng nhờ tắm hơi, nước ngấm vào trong cơ thể ta thoát ra được. Nếu không, nước ở trong cơ thể sẽ biến thành nhiệt làm cho ta sẽ lâm bệnh.
    Hằng ngày, cứ mỗi lần sau khi ngâm ngước nóng về, tối lại ta sẽ thấy cơ thể thật thoải mái. Giấc ngủ luôn luôn thật ngon lành, chẳng thấy đau nhức vì như ta đã nói ở trên, trị phong tất trị huyết, huyết hành tất phong diệt.
    Đó là lý do tại sao ta thấy ngâm mình trong nước nóng và xử dụng thêm vòi nước nóng phun vào các huyệt đạo để đả thông kinh mạch là một trong những phương pháp thật tuyệt vời để phòng bệnh và chữa bệnh vậy.

    California, ngàỵ 25 tháng 12 năm 2008
    ( Ngày Lễ Giáng Sinh)
  13. Sau khi nhận được lời mời của nhà văn Việt Hải, chủ bút VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM, tôi chuẩn bị xuống trung tâm CÁ BAY(Flying Fish) tại Fountain valley để thăm giáo sư Lê hữu Mục mới vừa từ Montreal ở Canada qua California. Chưa biết đi bằng phương tiện nào thì nhà văn Việt Hải gọi điện thoại bảo tôi qua cùng đi với anh vì có nhà văn Nguyễn Chinh cho quá giang xe . Anh chị Nguyễn Chinh từ San Jose xuống Quận Cam để tham dự ngày hội ngộ của sinh viên đại học Vạn Hạnh, và để chuẩn bị ngày ra mắt tác phẩm « Những mùa xuân trở lại”của nhà báo lão thành Sơn Điền Nguyễn viết Khánh, nên khi đi ngang qua vùng chúng tôi ở, anh chị ấy ghé lại nhà chở chúng tôi đi luôn.
    Sợ kẹt xe nên chúng tôi đi tương đối sớm . Vì vậy khi đến nhà chị Hồng Vũ Lan Nhi ở đường Flying Fish mà anh Việt Hải đùa là trung tâm CÁ BAY, chúng tôi chưa thấy ai cả ngoài giáo sư Lê hữu Mục(sau khi chị Hồng Vũ Lan Nhi giới thiệu tôi mới biết), chị của nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi và nhà văn Hà Phương Hoài.
    Cách đây mấy tuần, chị Hồng Vũ Lan Nhi (HVLN), em ruột của giáo sư Lê hữu Mục, đã cho chúng tôi biết rằng giáo sư Lê hữu Mục bị stroke 2 lần liên tiếp. May nhờ đưa vào bệnh viện kịp thời nên tai qua nạn khỏi .Tuy nhiên vì bị stroke hai lần nên sức khoẻ giáo sư giờ đây yếu hẳn. Từ lâu tôi đã nghe tiếng giáo sư qua những tác phẩm viết và sưu tầm về văn học sử Việt nam rất công phu nhất là những tác phẩm liên quan đến chữ nôm, chứ chưa được hân hạnh diện kiến giáo sư bao giờ. Nói đến những tác phẩm của giáo sư Lê hữu Mục chúng ta không thể không đề cập đến những tác phẩm rất có giá trị về văn học nước nhà và viết rất công phu. Những tác phẩm quan trọng mà giáo sư viết trong thời gian vừa dạy học vừa nghiên cứu, sưu tầm, chúng ta phải kể đến tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái, Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên (do giáo sư dịch), Thuyết bất vô, Nước, Đặc Trưng Hình Thái Của Tư Tưởng Việt nam, Văn Hoá Việt Nam Và Những Thách Đố Của Nó Đối Với Giới Trẻ Việt Nam Sống Trên Đất Mỹ, Văn Hoá Việt Nam Đối Diện Với Văn Hoá Mỹ vv…Đã thế giáo sư Lê hữu Mục còn sáng tác rất nhiều ca khúc đượm tình yêu quê hương và tình tự dân tộc. Số tác phẩm trước 1975 khoảng 40 cuốn và sau 1975 khoảng 10 cuốn. Lúc vào nhà tôi thấy một người đàn ông đầu tóc bạc phơ, dáng người hơi thấp, đi qua đi lại chầm chậm trong nhà . Nhờ chị HVLN giới thiệu tôi mới biết đó là giáo sư Lê hữu Mục năm nay đã 84 tuổi. Sau khi chúng tôi tự giới thiệu tên tuổi cho giáo sư biết, giáo sư bắt đầu kể chuyện cho chúng tôi nghe. Lúc còn theo học tại các trường trung học ở Đà nẵng, tôi nghe bạn bè nói giáo sư có dạy tại Viện đại học Huế và sau đó cũng có dạy tại trường Sao Mai ở Đà nẵng. Vì đã học tại trường Sao Mai ở Đà nẵng năm đệ nhất niên khoá 1962- 63 (Sao Mai là trường tư thục đầu tiên, ở Đà nẵng, mở lớp đệ nhất trong niên khoá này) nên khi nghe giáo sư Lê hữu Mục nói có dạy ở Đà nẵng, tôi liền đề cập một vài chuyện liên quan đến nhà trường và vài kỷ niệm về thầy xưa trường cũ cho giáo sư nghe.
    Nhớ mái trường xưa bỗng tôi nghĩ đến thầy hiệu trưởng là Cha Ấn nên tôi hỏi giáo sư Mục:
    - Giáo sư có còn nhớ Cha Ấn hiệu trưởng không?
    Giáo sư trả lời:
    - Nhớ chứ! Cha Ấn rất giỏi. Lúc bấy giờ Cha Ấn đã tốt nghiệp cử nhân luật ở Pháp rồi.
    Tôi hỏi tiếp:
    - Vậy thì hồi đó giáo sư dạy thường trực tại trường Sao Mai hay chỉ dạy giờ thôi thưa giáo sư ?
    Giáo sư Mục trả lời:
    - Hồi đó tôi chỉ dạy một tuần có 2 giờ thôi. Nhà trường nói quá nên tôi vào dạy đó thôi chứ phương tiện thưở ấy khó khăn lắm. Tôi phải ra vào bằng xe đò rất vất vả. Nhiều khi dọc đường còn sợ Việt cộng nữa.
    Bỗng nhớ tới thầy Hoàng văn Giàu dạy môn triết học năm đệ nhất, tôi liền hỏi giáo sư Mục:
    - Giáo sư có biết thầy Hoàng văn Giàu không thưa giáo sư?
    Giáo sư Mục trả lời ngay:
    - Biết chứ, nó là học trò của tôi. Ôi giời ôi ! Đầu tóc nó bờm xờm suốt đời. Có lần tôi bảo nó đi hớt tóc đi nó bảo không có tiền.Thế là tôi cho nó tiền rồi bảo nó đi hớt tóc ngay đi. Nhưng rồi mấy ngày sau đâu vẫn vào đấy, đầu tóc nó vẫn để nguyên không chịu hớt!
    Tôi hỏi nó tại sao không chịu hớt tóc nó bảo tiền nó mua bánh ăn mất rồi!
    Khi nghe giáo sư Mục kể một chuyện vui về thầy Hoàng văn Giàu dạy triết năm nào, tôi bỗng phì cười. Lúc này, chị Nguyễn Chinh đứng dậy nhảy vào bếp giúp chị HVLN một tay, còn anh Nguyễn Chinh ra ngoài xe lấy mấy tác phẩm của anh vừa mới ra mắt tại quận Cam tuần trước vào để ký tặng giáo sư Lê Hữu Mục.
    Bỗng chị HVLN quay mặt về phía giáo sư Lê hữu Mục rồi nói:
    - Thôi, bây giờ anh Mục ra đàn cho anh em nghe vài bản nhạc cho vui trong lúc chờ đợi bạn bè đến .
    Rồi nhìn về phía chúng tôi, chị HVLN nói:
    - Anh ấy đàn hay lắm. Anh ấy có thể ngồi đàn liên tục 2 tiếng đồng hồ mà không biết mệt.
    Nghe em mình nói như vậy giáo sư Lê hữu Mục liền đứng dậy đi chầm chậm ra ngoài phòng khách rồi từ từ ngồi vào ghế trước đàn piano .Tôi và nhà văn Việt Hải đi theo sau giáo sư rồi chúng tôi đứng sát cạnh đàn Piano chờ nghe giáo sư đàn. Bỗng giáo sư đưa mười ngón tay lướt nhẹ trên phím đàn piano rồi bắt đầu đàn. Vừa nghe âm thanh mấy nốt đầu chúng tôi biết ngay giáo sư đang đàn bản nhạc nổi tiếng Le Beau Danube Bleu của nhạc sĩ Johann Strauss Jr ngay. Trời ơi! Mười ngón tay của giáo sư lướt nhẹ trên phím đàn dương cầm thật tuyệt vời ! Giáo sư đàn mỗi lúc một hay . Âm thanh thật êm ái nhẹ nhàng khi trầm khi bỗng. Bất giác tôi trợn tròn đôi mắt nhìn nhà văn Việt Hải, miệng há to ra như muốn nói « oh ! my god !”. Tôi có ngờ đâu một ông già 84 tuổi gần đất xa trời, đi lụ khụ gần té, mới bị stroke hai lần suýt chết lại đàn piano sao mà tuyệt diệu thế! Nghe giáo sư đàn tôi càng say mê, mười ngón tay”búp măng già”lướt nhẹ trên phím đàn thật tài tình, nhất là mấy nốt láy nghe mà rụng rời tay chân! Tôi cứ tưởng nhạc sĩ Johnn Strauss Jr hiện về đang ngồi đàn bản nhạc của chính ông ta sáng tác. Bỗng lòng tôi say đắm rồi thả hồn theo tiếng đàn piano, ru hồn vào cõi mộng, văng vẳng nghe nữ danh ca TháiThanh hát bên tai bản nhạc Dòng Sông Xanh ngày nào do nhạc sĩ Phạm Duy dịch ra tiếng Việt:
    Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
    Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
    Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
    Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
    Quay về miền đời lúc mơ huyền

    Ánh dương lên xôn xao, hai ven bờ sông sâu
    Cười ròn tiếng người, đẹp lòng sớm mai.
    Những cô em tươi môi ngồi giặt yếm yên vui
    Thả ý thắm theo người chở gió về xuôi.
    Hát vang lên cho vui, cô nàng ngồi bên tôi
    Đời là khúc nhạc, đời là tiếng thơ
    Nước sông reo như ru cuồn cuộn sóng trôi xa
    Là tiếng hát mơ hồ mời đón lòng ta.
    Sông về sông dào dạt ý
    Hát tang bồng theo tầu mà đi
    Ai giang hồ sau ngàn hải lý
    Lỡ tình duyên nơi đâu đó ghé qua kinh kỳ.
    Ôi, mắt em hoe như mây chiều rơi, rơi vàng lòng đời.
    Ôi, mắt em xanh như đêm dài, để người quên kiếp mai.
    Sông về, sông cười ròn tiếng
    Yêu mối tình bên bờ Thành VIENNE.
    Đôi giang hồ quay về bờ bến
    Ngỡ mình vui trong ánh sáng muôn sao Thiên Đàng.
    Ngày ấy, có tiếng ai khoan hò thuyền về.
    Ngày ấy, có dáng em soi dòng chiều hè.
    Ngày ấy, có tiếng ta hát gọi tình về
    Nước sông miên man trôi đi.
    Ngày ấy, lúc đến với em một lời thề.
    Ngày ấy, lúc nói với em một chuyện gì.
    Ngày ấy, lúc vui cuộc sống nhịp tràn trề
    Nước sông miên man trôi đi.
    . . . . .
    A á a a a a a a a a ! Em ơi ! Em ơi ! Yêu đi !
    A á a a a a a a a a ! Có sóng nước trên sông ghi.
    A á a a a a a a a a ! Em ơi ! Em ơi ! Ra đi !
    A á a a a a a a a a ! Nước cũ đón đưa về...

    Người hỡi ! Ánh trăng rụng không tới nước.
    Vì đêm rét mướt, dòng sông lắng câm.
    Người hỡi ! Giúp nhau mở đôi mắt ướt
    Ngắm cầu nhớ sông im cúi gầm.
    Đi về đâu ? Đi về đâu ?
    Nước lặng khô cứng đờ.
    Màn tang buông tuyết phủ.
    Người ơi ! Đi về đâu ?
    Kiếp tù đầy nước giá
    Xót thương cho cây khô nghèo.
    Rồi đàn chim xanh từ trời thanh về vờn quanh.
    Gió Đông chết ngoài sông mới, mùa Xuân tới.
    Ai mơ hồ ngủ kỹ, mau ra đời.
    Bông hoa đầu rụng rơi trên sông xanh lơ.
    Đi ! Ta đi, cùng đi theo sông, vờn sóng nước biếc.
    Theo nhịp sóng vui tưng bừng.
    Sông vi vu ù u... vui nghe tầu hú... u hú.
    Sẽ đưa ta đi nơi xa mờ
    Cùng đi, vào Thương với Nhớ.

    Sau khi đàn xong , giáo sư Mục lại đàn thêm một lần nữa khiến tôi lại tiếp tục say sưa lắng nghe rồi lại tiếp tục ru hồn vào cõi mộng, văng vẳng bên tai giọng hát bây giờ không phải của nữ danh ca Thái Thanh mà của ca sĩ nổi tiếng như sóng cồn Mathé Altéry bằng tiếng Pháp:

    Danube bleu
    Aux flots merveilleux
    Fleuve au noble cours
    Nous t'aimons d'amour
    Nous nous exaltons
    Et nous t'admirons
    D'une âme touchante d'amour
    Lorsque nous te chantons

    Dans le clair matin
    Elfes et lutins
    Se balancent rient et dansent
    Au bord de cette eau
    Parmi les roseaux
    Rient et les chansons des oiseaux
    Alors au bord des rives
    Bientôt par deux arrivent
    Garçons et jouvencelles
    Venant s'embarquer dans les nacelles

    On voit sur le chemin mouvant
    Allant tous au gré du vent
    Les amants tendrement enlacés
    Rêvant sans se lasser
    L'amour chaque semaine
    Toujours gaiement ramène
    Sur tes jolis flots bleus
    Le cortège innocent des amoureux

    Allons charmants et joyeux diablotins
    Allons goủter la douceur du matin
    Et sur le Danube enchanté
    Aimer rêver chanter
    Moi j'ai laissé les beaux jours
    toujours
    Écoutez pauvres inconstants
    Et profitez de vos vingt ans

    Le long des prés monte un parfum de fleurs
    Rutilantes aux vives couleurs
    Qu'ils sont doux sur le Danube bleu
    Les soirs d'été merveilleux

    Des baisers très rusés
    Sont vite échangés
    Mais sans grand danger
    Des serments notamment
    Font murmurer langoureusement

    Mais le soir vient apportant à son tour
    La fin du rêve et l'instant du retour
    Le jour peu à peu s'évanouit
    Le ciel s'assombrit et c'est la nuit

    Oh combien de secrets sont posés
    Pour des coeurs, répétés pour des coeurs enflammés

    Oh tes flots merveilleux
    Oh beau Danube bleu
    Thế rồi bỗng mười ngón tay”búp măng già”ngưng lướt trên phím đàn piano thì tiếng đàn cũng vừa dứt đưa tôi trở về với thực tại rồi vừa nhìn giáo sư Mục tôi vừa nói:
    - Giáo sư đàn hay quá. Thật tuyệt vời giáo sư ạ!
    Bỗng nhà văn Việt Hải hỏi giáo sư Mục:
    - Giáo sư có thể đàn bản nhạc Trở Về Mái Nhà Xưa (Come Back To Sorrento)cho chúng tôi nghe được không?
    Chẳng nói chẳng rằng giáo sư Mục liền lướt mười ngón tay”búp măng già”trên phím đàn piano một vòng rồi bắt đầu đàn. Cũng như bài Dòng Sông Xanh, bài Về Mái Nhà Xưa giáo sư đàn nghe cũng tuyệt vời không kém! Âm thanh cũng khi bỗng khi trầm khi cao khi thấp .Vì bài này ngắn hơn nên thời gian đàn cũng nhanh hơn bài trước.
    Cũng như lần trước, khi nghe bản nhạc Trở Về Mái Nhà Xưa qua tiếng đàn thật điêu luyện của giáo sư Lê hữu Mục, tôi lại bắt đầu mơ màng đến bờ biển SURRIENTO ở vùng NAPOLI bên nước Ý, nơi có hằng trăm chiếc thuyền nhấp nhô trên sóng biển đẹp tuyệt trần, nơi mà nhạc sĩ ERNESTO DE CURTIS đã xúc động tâm hồn rồi dệt nên bản nhạc TORNA A SORRIENTO này. Bên tai tôi như văng vẳng đâu đây giọng ca bằng tiếng Ý thật điêu luyện của nữ danh ca CONNIE FRANCIS đã từng vang bóng một thời:
    Vide 'o mare quant'è bello.
    Spira tantu sentimento,
    Comme tu a chi tiene mente,
    Ca scetato 'o faie sunnà.
    Guarda, guá, chisto ciardino.
    Siente, sié sti sciure arance,
    Nu profumo accussì fino
    Dinto 'o core se ne va.

    E tu dice: “ễ parto, ađio!”
    T'alluntane a stu core,
    Da sta terra de l'ammore
    Tiene 'o core 'e nun turnà?
    Ma nun me lassà,
    Nun darme stu turmiento!
    Torna a Surriento,
    Famme campà!

    Vide 'o mare de Surriento,
    Che tesoro tene 'nfunno,
    Chie ha girato tutto 'o mummo
    Nun l'ha visto comm'a ccà.
    Guarda attuorno sti Sserene,
    Ca te vonno tantu bene
    Te vulessero vasà.

    E tu dice: “ễ parto, ađio!”
    T'alluntane a stu core,
    Da sta terra de l'ammore
    Tiene 'o core 'e nun turnà?
    Ma nun me lassà,
    Nun darme stu turmiento!
    Torna a Surriento,
    Famme campà!


    Bỗng có tiếng của nhà văn Hà Phương Hoài từ trong nhà bếp gọi ra:
    - Mời các anh ra ăn bún bò Huế.
    Thế là chúng tôi cùng nhau ra phía sau để ăn bún bò Huế .
    Khi nào đến nhà chị HVLN chơi, chúng tôi cũng được ăn một tô bún bò Huế thật ngon miệng. Nguời chuyên môn đặc trách món ăn này là nhà văn Hà Phương Hoài. Vì gốc là người Huế nên anh ta nấu món ăn này ngon hết sẩy.
    Sau khi ăn xong, anh chị Nguyễn Chinh vội vàng từ giả giáo sư Lê hữu Mục và chúng tôi để đến tham dự cho kịp Đại hội của Viện đại học Vạn hạnh và gặp nhà báo Sơn Điền Nguyễn viết Khánh để bàn luận việc tổ chức ra mắt sách”Những Mùa Xuân Trở Lại”của ông ta vào ngày mai. Lúc này khoảng 5 giờ rồi nhưng vẫn chưa thấy ai đến cả. Trên giấy mời bằng e-mail, tôi thấy anh Việt Hải mời đúng 6 giờ chiều nên bây giờ vẫn còn sớm. Có lẽ hơi nóng lòng vì thấy chưa có ai đến nên giáo sư Lê hữu Mục nhấc điện thoại lên rồi gọi một vài người nào đó xem họ có trở ngại gì chăng . Sau khi cúp điện thoại , giáo sư Lê hữu Mục nói với tôi rằng anh Nguyễn lý Tưởng không đến tham dự được vì không có xe.Thế rồi giáo sư Mục hỏi tôi:
    - Anh có biết Nguyễn lý Tưởng thường hay viết những đề tài gì không?
    Vì thỉnh thoảng đọc báo tôi thấy có nhiều bài anh Nguyễn lý Tưởng viết liên quan đến vấn đề sử học nên tôi trả lời:
    - Thưa giáo sư, đọc báo tôi thấy anh Nguyễn lý Tưởng thường hay viết những đề tài liên quan đến sử học giáo sư ạ.
    Bỗng tôi thấy một người đàn ông cũng đã luống tuổi, mái tóc đã bạc, mặc một bộ đồ vét màu huyết dụ, cổ thắt cà vạt, tay chống gậy bước vào nhà rồi tiến đến chỗ chúng tôi đang ngồi.Thì ra đó là cụ Lê ngọc Linh em ruột của giáo sư Lê hữu Mục. Trong lúc chờ đợi quan khách, bạn bè, thân hữu đến, giáo sư Mục, cụ Linh, tôi và nhà văn Việt Hải ngồi nói chuyện với nhau. Nhận thấy giáo sư Mục là anh, mà cụ Linh là em nên tôi liền nói với cụ Linh rằng, nếu thân sinh của cụ đặt tên cho giáo sư mục là Linh còn tên cụ là Mục thì giáo sư Mục và cụ trở thành một linh mục, thế thì hay biết mấy! Cụ linh trả lời:
    - Đấy,vì ông thân sinh tôi không đặt tên như thế nên hai chúng tôi không trở thành linh mục được.
    Chúng tôi đang ngồi nói chuyện phiếm với nhau thì thấy nhiều người bước vào nhà. Giáo sư Mục và cụ Linh tiến ra cửa mời họ vào. Có lẽ họ là những thân nhân bà con, những học trò cũ, những người bạn vong niên của giáo sư Mục và của gia đình. Trời cũng vừa bắt đầu tối, quan khách bạn bè thân hữu đến cũng khá đông. Đến một lần đông nhất là ban nhạc thân hữu của gia đình chị Hồng Vũ Lan Nhi .Vì khi vào nhà tôi thấy người thì mang micro, người thì mang đàn guitare, người thì khiêng đàn organ vv…Sau nầy khi giới thiệu từng người một lên hát, tôi mới biết ban nhạc này đúng là ban nhạc”super”.
    Bởi vì các ca sĩ và nhạc công trong ban nhạc toàn là những thành phần trí thức cả: giáo sư đại học, bác sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ . Tôi thấy một số người đến thăm giáo sư mục rồi hàn huyên tâm sự khoảng mười phút sau đó từ giả ra về chứ không ở lại. Có lẽ vì người ta bận việc riêng tư. Cuối cùng còn lại khoảng 40 người. Lúc trời bắt đầu tối chị HVLN tuyên bố nguyên nhân buổi họp mặt hôm nay rồi mời tất cả mọi người dùng cơm tối. Trời ơi! Mới ăn tô bún bò cách đây hai giờ mà sao khi thấy đồ ăn dọn sẵn giữa bàn bụng lại thấy đói ngay! Có lẽ gia đình chị HVLN muốn đãi khách một bữa thật no say để vừa mừng người anh vừa thoát khỏi tử thần qua hai lần bị stroke, vừa để đón chào bạn bè gần xa lâu ngày hội ngộ đến thăm anh mình nên tất cả món ăn đều là cao lương mỹ vị cả. Đã thế, trước mặt tôi lại có một chai rượu Hennessy nữa chứ! Thảo nào khi tôi đang vừa ăn vừa nhắp rượu Hennessy thì nhà văn Hà Phương Hoài từ bàn bên cạnh bay sang bàn tôi rồi nói nhỏ:
    - Anh Điền, cho tôi mượn bình nước trà vài phút nhé.
    Nhìn quanh nhìn quất tôi chẳng thấy bình trà đâu cả! Bỗng tôi chợt hiểu ngay sau vài dây suy nghĩ. Tôi liền trao chai rượu Hennessy cho nhà văn Hà phương Hoài rồi mỉm miệng cười khi khám phá ra được rằng, màu rượu trong chai Hennessy giống hệt như màu của nước trà vậy!
    Sau khi dùng cơm tối xong, giáo sư Lê hữu Mục mời tất cả mọi người ra phòng khách để bắt đầu chương trình mà nhà văn Việt Hải gọi là CHIỀU THƠ & NHẠC LÊ HỮU MỤC. Vừa ra tới phòng khách, tôi thấy một cậu bé khoảng mười ba tuổi ngồi đàn piano vừa đàn xong một bản nhạc gì đó khiến nhiều người vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Giáo sư Lê hữu Mục liền đến hỏi cậu ta ai dạy đàn cho cậu ta, cậu ta trả lời rằng mẹ cậu ta dạy.Giáo sư Mục lại hỏi tiếp ai dạy nữa, cậu ta trả lời là bố dạy. Sau đó theo câu hỏi của giáo sư Mục, cậu ta trả lời cho chúng tôi biết rằng cậu ta học đàn lúc mới sáu tuổi, bây giờ cậu ta 12 tuổi. Sau khi hỏi cậu bé mấy câu, giáo sư Mục bảo cậu ta đến đàn thêm một bài nữa. Thế là cậu ta đến Piano đàn bản nhạc TRISTESS của Chopin . Khi nghe cậu ta đàn tôi có cảm tưởng đây là một thần đồng về Piano vì cậu ta tuổi còn nhỏ nhưng lại có một vài ngón thật điêu luyện. Tiếng đàn vừa dứt, mọi người trong phòng vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Sau đó cậu ta tiến đến cái ghế trước mặt rồi nằm dài xuống ngủ một giấc. Giáo sư Mục vừa chỉ tay vào cậu ấy vừa nói rằng vì cậu ấy vừa ở phi trường về hơi mệt nên cậu ấy nằm ngủ rồi.Giáo sư Mục cho biết cậu bé kia vừa ở bên Đức sang đây. Tôi chỉ biết có thế thôi. Thế rồi sau khi về nhà đọc nhật báo Người Việt trang Địa Phương, khi đọc một tít lớn “THẦN ĐỒNG PIANO PHẠM NGUYỄN LAN PHIÊN BIỂU DIỄN TẠI NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT” và đọc nội dung của bài báo này thấy thần đồng Phạm Nguyễn Lan Phiên hiện sống tại thành phố Bad Vilbel, một thành phố gần Frankfurt, ở Đức, sẽ biểu diễn các tác phẩm của các nhạc sĩ Bach, Tchaikovsky, Schubert, Chopin, Mendelssohn và thấy bức ảnh của cậu ta in trên trang báo tôi mới biết rằng, cậu bé đàn piano trong đêm ấy là thần đồng Phạm Nguyễn Lan Phiên !Thảo nào! Trở lại đoạn lúc tất cả mọi người rời phòng ăn ra phòng khách để tham dự chương trình văn nghệ . Sau khi nghe cậu bé Lan Phiên đứt tiếng đàn, tất cả mọi người đều vào ghế ngồi để chuẩn bị xem chương trình văn nghệ. Lúc này tất cả mọi người ngồi yên để nghe các ca sĩ trình diễn nên người này có thể nhìn rõ người kia, người kia có thể nhận ra người nọ. Riêng tôi, tôi chỉ biết được một vài nhân vật trong số những người đến thăm giáo sư Lê hữu Mục hôm nay mà thôi vì lâu lâu mới về quận Cam nên không biết được nhiều người. Chẳng hạn tôi thấy tối hôm ấy có giáo sư Lê xuân Khoa, nhà báo Ngô nhân Dụng, cụ Lê hữu Linh(em giáo sư Mục), nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Những người còn lại tôi cũng chưa được hân hạnh quen biết trước đây. Sau khi ngồi nghe các ca sĩ trình diễn tôi mới biết đêm Thơ&Nhạc hôm ấy có các bác sĩ Vũ quang Bân, bác sĩ Giụ , anh Nguyễn đình Cường, các chị Bạch Hường, Ngọc Anh, Hoàng Cúc vv...
    Sau khi giáo sư Lê hữu Mục tuyên bố lý do tổ chức chương trình CHIỀU THƠ & NHẠC, anh Nguyễn đình Cường, em-xi, liền bắt đầu giới thiệu chương trình văn nghệ. Tuy nhiên trước khi các”ca sĩ”lên trình diễn, chị HVLN xin tất cả mọi người tự giới thiệu mình với các bạn bè trong phòng. Sau phần tự giới thiệu nầy, giáo sư Lê hữu Mục là”ca sĩ”đầu tiên hát bản nhạc RỦ NHAU do chính giáo sư sáng tác cách đây gần nửa thế kỷ để mở màn cho CHIIẾU THƠ & NHẠC. Ngồi theo dõi chương trình văn nghệ từ đầu đến cuối, tôi thấy chương trình văn nghệ bỏ túi này thật kỳ lạ, hay hay. Bởi vì các”ca sĩ”hầu hết là những người thuộc lứa tuổi trung niên và những cụ già lớn tuổi, nhưng giọng ca chẳng khác gì các ca sĩ chuyên nghiệp !
    Ngoài”ca sĩ”giáo sư 84 tuổi Lê hữu Mục ra, tôi còn thấy “ca sĩ” 80 tuổi, cụ Lê ngọc Linh, em ruột của giáo sư Lê hữu Mục, lên hát một bản nhạc do cụ sáng tác năm 1949 để tặng hiền huynh mình. Đã thế còn có cụ bà”ca sĩ” 74 tuổi, em ruột của giáo sư Mục và cụ Linh, cũng đứng bên cạnh cụ Linh để cùng hát với anh mình. Riêng chị Hồng Vũ Lan Nhi, em út trong gia đình của giáo sư Lê hữu Mục không thích âm nhạc bao nhiêu nên chị chẳng lên hát bài nào cả, chỉ ngồi nghe các anh chị mình hát mà thôi nhưng chị lại là một nhà thơ, một nhà văn nên tâm hồn chị cũng là tâm hồn của một nghệ sĩ. Chị Hồng Vũ Lan Nhi nói với tôi rằng anh chị em trong gia đình chị rất thích âm nhạc. Mỗi người thích xử dụng một nhạc cụ khác nhau. Riêng giáo sư Lê hữu Mục xử dụng thông thạo đến 4 loại nhạc cụ . Nhờ chị HVLN tâm sự, tôi mới biết gia đình họ Lê Huy của giáo sư Lê hữu Mục gồm 8 trai, 3 gái theo thứ tự như sau:
    Lê Ngọc Huynh Violon (tay trái) / Giáo sư
    Lê Huy Giáp , Accordeon / Thượng sĩ
    Lê Huy Bằng - violon - Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế
    Lê Như Khôi Saxo Alto (Nhạc trưởng , Dược sĩ )
    Lê Đăng Khoa , accordeon (amateur thôi) - Kỹ sư Canh Nông
    Lê Thi Hồng Chi - thương gia
    Lê Hữu Mục Saxo Tenor / piano / violon / mandoline / banjo
    Lê Ngoc Linh - Trompette , Sĩ quan
    Lê Thị Hồng - Dược sĩ
    Lê Đình Ngan - Dược sĩ
    Lê Hồng Diệp tức Hồng Vũ Lan Nhi /giáo sư
    Một gia đình 11 người mà đến 7 người biết thông thạo âm nhạc thì đúng là một gia đình nghệ sĩ vậy!
    Sau các « ca sĩ”cao niên, anh Nguyễn đình Cường liền hát một bản nhạc mang tựa đề”Tôi muốn yêu, tôi muốn tin cuộc đời”(thơ của Nguyễn xuân Thiệp, nhạc của Lê uyên Phương) . Anh Cường hát rất hay, có lẽ đang ở vào lứa tuổi trung niên nhưng từ bộ điệu cho đến giọng ca, tôi thấy anh hát không khác gì những ca sĩ chuyên nhiệp. Chương trình văn nghệ cứ thế vẫn tiếp tục thật vui, thật hấp dẩn do các anh chị em thân hữu của gia đình chị HVLN trình diễn. Sau khi hát xong anh Cường liền ngâm một bài thơ của một người học trò cũ của giáo sư Lê hữu Mục, tên là Phạm văn Phái, vừa gởi tặng. Nội dung bài thơ thật cảm động như sau:
    Kính thăm thầy

    Ba mươi năm xa cách
    Nay con được tin thầy
    Tuổi già và sức yếu
    Đau vừa khỏi ít ngày
    Mừng thầy qua cơn bệnh
    Đường xa xôi nghìn trùng
    Không vấn an tại chỗ
    Xin chắp tay nguyện lòng:
    Cầu mong thầy sống thọ
    Vui thú cảnh nước non
    Rồi một ngày nào đó
    Thầy về lại Sài gòn
    Trong Bình Minh rực rỡ
    Bên thầy là chúng con

    Phạm văn Phái
    ĐHSP - 1967
    Sau đó giáo sư Lê hữu Mục lên ngâm một bài thơ do giáo sư sáng tác để tặng tất cả mọi người đến tham dự CHIỀU THƠ & NHẠC hôm ấy. Chương trình lại được tiếp tục với bản nhạc”Như một lời chia tay”do hai chị Hoàng Cúc và Bạch Hường song ca,”Biển nhớ”chị Ngọc Anh,”Chiều tím”anh Trường Thọ, anh Trường Thọ lên hát bài này để tặng thầy mình là giáo sư Lê hữu Mục. Rồi đến bài “La vie en Rose”, chị Bạch Hường, “Je croie en toi, mon Dieu” tam ca Mai Hồng Linh (tức chị Tố Mai, chị Ngọc Linh,và chị Hồng Lê )
    Sau đó để thay đổi không khí, chị HVLN lên kể một chuyện vui xảy ra tại quê nhà Lưu Phương ở ngoài Bắc việt cách đây cũng đã lâu khiến mọi người ai cũng cười đến lăn chiêng đổ đèn. Chương trình văn nghệ đang tiếp diễn thì tôi thấy nhà báo Ngô nhân Dụng bước vào phòng. Anh ta liền đến chào giáo sư Lê hữu Mục và nói với giáo sư Mục vì bận việc riêng tư nên đến hơi trễ. Sau đó nhà báo Ngô nhân Dụng ngồi xuống nghe chị HVLN kể một chuyện tiếu lâm khác khiến anh ta cũng phải cười đến đổ đèn lăn chiêng. Thấy nhà báo Ngô nhân Dụng ngồi cười có vẽ đắc chí, chị HVLN liền mời anh ấy tham gia vào chương trình văn nghệ luôn. Thế là anh Ngô nhân Dụng lên kể một chuyên vui làm anh chị em trong phòng được một dịp cười thoả thích . Sau khi anh Ngô nhân Dụng vừa kể chuyện vui xong, anh Nguyễn đình Cường hát ngay bài”Mộng dưới hoa”để thay đổi không khí và anh Cường cũng nói rằng anh ta hát bài này để tặng vợ anh ấy và tất cả anh chị em trong phòng.Tiếp theo, chị Hoàng Cúc hát bài”Nỗi lòng”sau bài anh Cường vừa hát xong. Trong chương trình văn nghệ nầy, tôi thấy có một”ca sĩ”tuổi trên 60, khoảng 65, hát mấy bài cũng rất hay, giọng trầm, ấm. Đó là”ca sĩ”bác sĩ Vũ quang Bân. Bác sĩ Vũ quang Bân hát bài”Mùa lá bay”thật tuyệt vời. Mặc dầu đã lớn tuổi nhưng bác sĩ”ca sĩ”Vũ quang Bân hát lại càng tuyệt vời hơn trong bài Tân cổ giao duyên “Nỗi lòng người đi”cùng với chị Giũ ngâm thơ, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi đàn dương cầm và nhạc sĩ Nguyễn đức Mỹ chơi Organ.
    Khoảng 11 giờ khuya, anh Nguyễn đình Cường thấy chương trình văn nghệ đến đây cũng tạm đủ rồi nên tuyên bố chấm dứt chương trình văn nghệ CHIỀU THƠ & NHẠC LÊ HỮU MỤC và ban nhạc thân hữu của gia đình chị HVLN cử bài AU REVOIR để tiễn đưa các thân hữu ra về. Riêng tôi và nhà văn Việt Hải đứng nhìn nhau mà lòng buồn vời vợi vì anh chị Nguyễn Chinh phải ở lại Quận cam để ngày mai tổ chức buổi ra mắt sách của nhà báo lão thành Sơn Điền Nguyễn viết Khánh nên không có ai chở về nhà. Cuối cùng khi biết được chuyện nầy, nhà văn Hà Phương Hoài và nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi đã chở chúng tôi về tận nhà mặc dầu phải mất khoảng một giờ mười lăm phút mới đến nhà và phải mất một giờ mười lăm phút nữa để anh Hà Phương Hoài và chị Hồng Vũ Lan Nhi trở lại nhà mình.Thật là cảm động!

    California, một buổi chiều nhạt nắng.
  14. Theo chương trình đã định, sáng thứ Sáu ngày 05 tháng 09 năm 2008, chúng tôi gồm nhà văn Bác Sĩ Peter Morita, nhà văn Việt Hải và tôi lên đường để đi San Jose tham dự buổi ra mắt sách của Văn Đàn Đồng Tâm và của Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh ngõ hầu gây quỹ yểm trợ thương phế binh của Việt Nam Cộng Hòa.

    Chúng tôi khởi hành lúc 9 giờ sáng và đã đến San Jose lúc 3 giờ chiều. Vừa đến San Jose, chúng tôi liền vào nhà anh Nguyễn Cao Can ở lại vì anh Nguyễn Cao Can là trưởng ban tổ chức hai buổi ra mắt sách tại tỉnh nhà.

    Vừa ra khỏi xe, một ngọn gió từ đâu thổi tới làm rát cả mặt. Thì ra ở San Jose, thời tiết ngày hôm nay cũng nóng nực chẳng khác gì ở dưới Los Angeles, nơi chúng tôi ở.

    Thấy chúng tôi vừa xuất hiện trước nhà, anh Nguyễn Cao Can liền ra đón tiếp và mời chúng tôi ra sau vườn ngồi nghỉ cho đỡ nóng. Mấy phút sau khi biết chúng tôi vừa mới đến, nhà văn Bác Sĩ Tạ Xuân Thạc và phu nhân là nhà văn Lê Kim Anh, chị Nguyễn Cao Can, và Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ từ trong nhà bước ra sau vườn thăm hỏi chúng tôi.

    Được biết Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ và nhà văn Tạ xuân Thạc cùng phu nhân đã từ Texas đi máy bay qua, cũng vừa được Giáo Sư Nguyễn Cao Can ra đón tại phi trường và chở về đây trước chúng tôi khoảng 2 giờ. Vì sợ chúng tôi đói bụng nên anh chị chủ nhà Nguyễn Cao Can đã mời ba anh em chúng tôi ăn ba tô cháo gà nóng thật ngon lành.

    Như chương trình đã vạch sẵn, anh em trong Văn Đàn Đồng Tâm từ Giáo Sư Cố Vấn Doãn Quốc Sĩ, nhà văn Chủ Nhiệm Tạ xuân Thạc, nhà văn Chủ Bút Việt Hải, nhà văn Tổng Thư Ký Vũ Tiến Thăng, trưởng ban tổ chức ra mắt sách nhà văn Nguyễn Cao Can, cùng tất cả các anh chị em hội viên của Văn Đàn Đồng Tâm cũng như trong ban tổ chức họp lại tại nhà anh Nguyễn Cao Can để hoạch định công tác cho hai buổi ra mắt sách ngày mai.

    Vì ngày mai cũng sẽ có một buổi phỏng vấn năm bậc tiền bối trong làng văn cho chương trình “Từ Cánh Đồng Mây” của nhạc sĩ Phan Đình Minh nên Văn Đàn Đồng Tâm cũng đã mời các cụ đến tham dự buổi họp mặt này luôn . Vì vậy, trong buổi sơ ngộ tại “vườn dâu” của nhà anh Nguyễn Cao Can chiều thứ Sáu ngày 05 tháng 09 năm 2008, tôi thấy có sự hiện diện của rất nhiều người trong giới tao nhân mặc khách sau đây:

    Nhà thơ lão thành Hà Thượng Nhân, nhà văn giáo sư Doãn Quốc Sĩ, ký giả Thanh Thương Hoàng, nhà văn Bác Sĩ Tạ Xuân Thạc và phu nhân là nhà văn Lê Kim Anh, nhạc sĩ Phan đình Minh và phu nhân là ca sĩ Ánh Chi, nhà văn Nguyễn cao Can, nhà văn Bác Sĩ Peter Morita, nhà văn Việt Hải, nhà thơ Mạc phương Đình, ký giả Lê Bình, nhà văn Vũ Tiến Thăng, nhà văn Diệu Tần Nguyễn tinh Vệ, nhà văn Nguyễn ngọc Linh vv… Riêng giáo sư khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, một trong những nhà văn cố vấn của Văn Đàn Đồng Tâm, vì phu nhân của giáo sư lâm bệnh nên không thể đến được. Ngoài những hội viên của Văn Đàn Đồng Tâm và những người trong ban tổ chức, tôi thấy có sự hiện diện của một số thân hữu như chị Tham, bạn của anh chị Phan Đình Minh, từ Nữu Ước mới sang, anh Phương, cựu thiếu tá hoa tiêu, bạn của anh chị Phan Đình Minh. Sau buổi họp bỏ túi, anh chị Nguyễn cao Can mời tất cả anh chị em dùng bữa cơm chiều ở ngoài trời dưới tàn cây dâu với những cành lá toả ra thật rộng phủ cả một khoảng đất lớn sau nhà. Bữa cơm thật vui tươi và đậm đà trong gió chiều đầy tình người và chan chứa những tình nghệ sĩ bởi hầu hết những người tham dự chiều nay là giới tao nhân mặc khách.

    Tối nay chúng tôi ngủ lại tại nhà Can để tiện việc cho buổi sáng mai cùng nhau tham dự buổi phỏng vấn năm vị trưởng lão về các chủ đề văn học, văn hoá và xã hội, được trực tiếp truyền thanh qua hai đài phát thanh Saigon Dallas va Saigon Houston về Texas và truyền hình tiếp vận qua đài Cali Today Daily Television của ký giả Nguyễn Xuân Nam tại San Jose.

    Như chương trình đã vạch sẵn, đúng 8 giờ 30, chúng tôi gồm Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ, nhà văn Tạ Xuân Thạc, nhà văn Nguyễn Cao Can, nhà văn Bác Sĩ Peter Morita, nhà văn Việt Hải và tôi đã có mặt tại văn phòng của đài truyền thanh và truyền hình của ký giả Nguyễn xuân Nam. Sau đó, như đã thông báo chiều qua, tôi thấy lần lượt 5 vị lão thành trong làng văn cũng bắt đầu đến: Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, thi sĩ Hà Thượng Nhân, ký giả Thanh Thương Hoàng, nhà văn khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh và nhạc sĩ Phan đình Minh cùng phu nhân. Khi tất cả năm vị lão thành đến đầy đủ, nhạc sĩ Phan Đình Minh, cựu thiếu tá hoa tiêu của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà, một xướng ngôn viên ăn nói thật tuyệt vời của chương trình “TỪ CÁNH ĐỒNG MÂY” trên đài phát thanh ở tiểu bang Texas mời tất cả vào phòng để bắt đầu chương trình phỏng vấn như đã hoạch định. Chúng tôi cũng vào ngồi bên cạnh 5 vị lão thành đó và yên lặng lắng tai nghe.

    Để mở đầu buổi phỏng vấn, nhạc sĩ Phan đình Minh đã nói tổng quát về chương trình của cuộc phỏng vấn. Sau đó Giáo Sư Nguyễn Cao Can trưởng ban tổ chức có đôi lời tổng quát về mục đích của cuộc phỏng vấn hôm nay của Văn Đàn Đồng Tâm rồi giới thiệu với thính giả nghe đài năm bậc tiền bối trong làng văn sẽ được phỏng vấn là cụ thi sĩ Hà thượng Nhân, cựu thủ tướng Nguyễn bá Cẩn, nhà văn Doãn quốc Sĩ, nhà văn Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh và nhà văn Thanh Thương Hoàng. Sau đó tôi thấy anh Phan Đình Minh bắt đầu phỏng vấn thi sĩ lão thành Hà thượng Nhân trước tiên. Ở đây tôi chỉ xin ghi lại nội dung phỏng vấn thật tóm tắt của từng nhân vật mà thôi.

    Nhìn cụ Hà Thượng Nhân nhạc sĩ Phan đình Minh nói rằng, trước tiên mời quý vị nghe cụ Hà Thượng Nhân có đôi lời tâm tình về sự họp mặt giữa cụ và những người thân, cùng tuổi tác, cùng ở trong làng văn với nhau, hiện đang có mặt trong phòng.

    Cụ Hà Thượng Nhân liền tâm tình rằng 56 năm mới gặp lại được nhà văn Doãn Quốc Sĩ, nhà văn Thanh Thương Hoàng, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, nhà văn Nguyễn Bá Cẩn nên rất vui mừng. Cụ bảo cụ từng nói với nhà văn Thanh Thương Hoàng rằng cụ sống thọ quá năm nay cũng đã 90 tuổi rồi, người Á Đông thường thích sống dai, sống dai quá không biết có ích lợi gì không đây. Thế rồi cụ kể một giai thoại rằng lúc đang còn ở tại Hà Nội, có lần về phòng thấy nhà văn Doãn Quốc Sĩ nằm trên giường cụ liền hỏi “Anh là ai?”, nhà văn Doãn Quốc Sĩ trả lời “Tôi về đây để dạy học thay anh đó”.

    Sau cụ thi sĩ lão thành Hà Thượng Nhân, anh Phan Đình Minh liền phỏng vấn nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Nhạc sĩ Phan Đình Minh nói với nhà văn Doãn Quốc Sĩ rằng, anh em thường nghĩ rằng nhà văn Doãn Quốc Sĩ là một người rất đôn hậu, có tâm hồn cao thượng, cuộc sống thật thanh thản. Anh Phan Đình Minh nhìn Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ rồi nói tiếp rằng, nếu giáo sư làm nghề gì đi nữa thì thường người ta cũng quên, nhưng nếu giáo sư làm những gì liên quan đến chữ nghĩa thì người ta luôn luôn nhớ đến giáo sư. Thế rồi anh Phan Đình Minh hỏi nhà văn Doãn Quốc Sĩ lý do gì giáo sư lại chọn nghiệp văn chương. Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ trả lời rằng giáo sư thích văn chương từ lúc 16 tuổi, thời với nhóm Tự Lực Văn Đoàn xuất hiện. Lúc bấy giờ tại Hà Nội có tờ Hà Nội báo thường hay khuyến khích các nhà văn trẻ. Vì giáo sư lúc mới viết văn có gởi bài cho tờ báo này và đã được đăng ngay nên giáo sư tiếp tục viết văn vì được khuyến khích. Lúc bấy giờ giáo sư lấy bút hiệu là Tô Giang Khách và có viết truyện ngắn mang tựa đề là “Xe Lửa”.

    Khi di cư vào Nam, giáo sư đã mang bài này vào luôn và đã được đăng trên báo. Chính vì vậy giáo sư có cảm hứng nên theo sự ngiệp văn chương luôn. Sau đó anh Phan Đình Minh hỏi nhà văn Doãn Quốc Sĩ câu cuối cùng rằng, nếu nhà văn Doãn Quốc Sĩ chỉ còn sống một ngày nữa thôi thì nhà văn Doãn Quốc Sĩ sẽ làm gì. Nhà văn Doãn Quốc Sĩ trả lời rằng, nếu chỉ còn sống một ngày nữa thôi nhà văn Doãn Quốc Sĩ sẽ sống một cuộc sống thanh đạm và làm lành suốt đời.

    Tiếp theo đó anh Phan Đình Minh phỏng vấn cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn. Trước khi phỏng vấn, anh Phan Đình Minh cho mọi người biết cựu thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn vừa trải qua một cơn bạo bệnh. Cụ Nguyễn Bá Cẩn nói rằng vì tuổi già sức yếu nên đã ảnh hưởng đến tim. Tuy nhiên nhờ bác sĩ chăm sóc chu đáo nên cũng đã tai qua nạn khỏi. Cụ Nguyễn Bá Cẩn nói rằng cụ rất hân hạnh được gặp một nhà thơ đáng kính là cụ thi sĩ Hà Thượng Nhân và một nhà văn nổi tiếng là Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ chưa bao giờ được gặp. Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn cũng bày tỏ niềm hân hoan khi gặp lại nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân vinh và ký giả Thanh Thương Hoàng. Cụ Nguyễn bá Cẩn vừa dứt thì anh Phan Đình Minh đọc cho cụ Nguyễn Bá Cẩn nghe hai câu thơ sau:

    “Trời làm một trận lăng nhăng,
    Ông hoá ra thằng thằng hoá ra ông”. |

    Sau đó anh Phan Đình Minh liền hỏi cụ Cẩn rằng, người ta đứng ra lãnh đạo việc nước vì trách nhiệm hay là vì cơ hội đến với mình.
    Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn trả lời rằng cụ không thích nói về cái tôi của mình mà cụ chỉ trình bày rằng, khi đến tuổi thanh niên cũng giống như nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, nhà văn Thanh Thương Hoàng cùng một tuổi, trong lòng ai ai cũng rạo rực về đất nước. Vì vậy mà cụ cũng đã theo học khoá I Thủ Đức và khoá I Quốc Gia hành chánh.

    Sau đó có người thì theo binh nghiệp, có người thì theo dân sự. Cụ Cẩn nói rằng vì thế bắt buộc nên phải đứng chung với thế giới tự do để chống Cộng nên bị Việt Cộng tuyên truyền là theo đế quốc. Sau đó Ông Ngô Đình Diệm thành lập chế độ Cộng Hòa mang lại ánh sáng cho toàn dân nên cụ cũng hoà mình vào với chế độ. Rồi cụ Cẩn nói rằng vì trách nhiệm nên phải dấn thân hơn là vì cơ hội. Và cũng gống như Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ được hỏi, cụ Cẩn được anh Phan Đình Minh hỏi rằng nếu chỉ còn một ngày để sống, cụ sẽ làm gì. Cụ Nguyễn Bá Cẩn trả lời rằng mình đã hết trách nhiệm chưa, chưa hết. Tất cả mọi người đều chưa hoàn thành trách nhiệm vì dân chúng đang còn quằn quại dưới chế độ độc tài của Cộng Sản. Cuối cùng cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn kết luận rằng nếu còn sống một ngày nữa cụ cũng vẫn tranh đấu đến cùng vì trách nhiệm vẫn chưa hoàn thành.
    Đến lượt phỏng vấn nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, nhạc sĩ Phan Đình Minh sau vài ba câu chuyển tiếp, đã đọc hai câu thơ cho nhà toán học Nguyễn Xuân Vinh nghe:

    Chân thật mới bước hiên ngang
    Không gian mới thấy không gian tuyệt vời.

    Thế rồi anh Phan Đình Minh hỏi nhà văn Toàn Phong rằng, giáo sư có thấy không gian tuyệt vời không. Giáo Sư Nguyễn xuân Vinh trả lời rằng đối với giáo sư, không gian luôn luôn tuyệt vời. Bằng chứng là vì thích không gian nên giáo sư đã tình nguyện theo học khóa không quân đầu tiên và sau năm1975, giáo sư vẫn sát cánh với không quân tại quê người đất khách. Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh cũng bày tỏ niềm hân hoan khi được gặp bốn nhà văn lão thành cùng hiện diện trong phòng.

    Tiếp theo, anh Phan Đình Minh hỏi Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh có kỷ niệm nào giáo sư nhớ mãi trong đời không, Giáo Sư Nguyễn xuân Vinh kể rằng, ngày mai Văn Đàn Đồng Tâm sẽ ra mắt hai tác phẩm “Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia” và “Tìm Nhau Từ Thưở”. Trong hai tác phẩm này có nhiều kỷ niệm của giáo sư. Thế rồi giáo sư nhắc đến một người bạn là Bác Sĩ Peter Morita quen biết qua giao cảm và khi nghe Bác Sĩ Morita kể chuyện, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh mới biết Bác Sĩ Peter Morita trong người mang hai dòng máu anh hùng. Vì vậy khi nói đến Nhật Bản, giáo sư Nguyễn xuân Vinh kể cho anh Phan Đình Minh nghe một kỷ niệm ở bên Nhật theo đó, có lần Giáo Sư Nguyễn xuân Vinh được Bộ Quốc Phòng Nhật bản mời qua thuyết trình. Khi vừa đến Nhật, giáo sư đã thấy 3 tuỳ viên Hải, Lục, Không Quân xuất hiện để thay nhau bảo vệ giáo sư ngay. Những tùy viên này đã được huấn luyện thật tuyệt vời khiến cho giáo sư cảm thấy thật sung sướng và thoải mái. Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh kể rằng có lẽ người ta biết mình, quý mình nên có một tùy viên đã hỏi giáo sư rằng giáo sư có muốn đến các hiệu sách hay không. Đó là kỷ niệm nhớ đời của giáo sư Nguyễn xuân Vinh. Riêng câu hỏi nếu chỉ còn sống một ngày nữa sẽ làm gì, Giáo Sư Nguyễn xuân Vinh trả lời rằng giáo sư sẽ tiếp tục theo đuổi những gì giáo sư đã làm từ trước đến nay.

    Nhân vật cuối cùng được phỏng vấn là ký giả, nhà văn Thanh Thương Hoàng. Trước khi phỏng vấn, nhạc sĩ Phan Đình Minh đọc hai câu thơ cho nhà văn Thanh Thương Hoàng nghe:

    Lấy chồng chẳng biết mặt chồng
    Đêm nằm mơ tưởng đến ông láng giềng.

    Rồi anh Phan Đình Minh nói rằng, người ta thường nói trâu chậm uống nước đục vì nhà văn Thanh Thương Hoàng đến Mỹ quá trễ. Nhưng anh Phan Đình Minh nói rằng thực ra ở Mỹ không có nơi nào nước đục cả, chỉ buồn cho nhà văn Thanh Thương Hoàng vì sức khoẻ đã yếu, lực bất tòng tâm rồi.

    Sau đó anh Phan Đình Minh hỏi nhà văn Thanh Thương hoàng rằng nhà văn đến Mỹ cách đây 10 năm có gì vui không và tại sao người ta thường gọi ông Thanh Thương Hoàng là ký giả chứ không gọi là nhà văn. Nhà văn Thanh Thương Hoàng nói rằng hôm nay ông ta rất vui khi thấy có phái đoàn truyền thông từ Dallas qua đây. Để trả lời vụ qua Mỹ quá trễ nhà văn Thanh Thương Hoàng nói rằng mặc dầu ra khỏi tù năm 1985, sau mấy lần phỏng vấn cũng không được đi, nhà văn Thanh Thương Hoàng gởi thư nhờ Ông Funsett và bà Khúc Minh Thơ làm sao giúp ông cho ông được sang Mỹ theo diện HO. Và khi đến được Mỹ vào năm 1999 ông rất vui mừng.

    Để trả lời câu hỏi tại sao người ta hay gọi ông ta là ký giả hơn là nhà văn, nhà văn Thanh Thương Hoàng trả lời rằng ông ta viết văn từ năm 1953. Sở dĩ ông ta thích làm báo vì ông muốn có thật nhiều tài liệu để viết văn và cũng vì nhờ sự đưa đẩy của lịch sử mà ông trở thành ký giả.

    Sau buổi phỏng vấn trực tiếp truyền thanh một tiếng đồng hồ, ký giả Nguyễn Xuân Nam và nhạc sĩ Phan đình Minh mời 5 vị lão thành ra sân sau ngồi để phỏng vấn trực tiếp truyền hình.



    Từ trái: Nhà văn Tạ Xuân Thạc, tác giả, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, nhà văn Doãn Quốc Sĩ, thi lão Hà Thương Nhân.

    Từ trái: Giáo Sư Nguyễn Cao Can, ký giả Thanh thương Hoàng, nhà văn Việt Hải, nhà văn Tạ Xuân Thạc, nhạc sĩ Phan Đình Minh, ký giả Nguyễn Xuân Nam, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, nhà văn Doãn Quốc Sĩ, thi lão Hà Thượng Nhân.




    Từ trái: Ký giả Nguyễn xuân Nam, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, ký giả Thanh Thương Hoàng và tác giả.

    Có lẽ đây là một việc bất ngờ nên năm vị lão thành hơi ngạc nhiên vì cứ nghĩ rằng phỏng vấn truyền thanh xong là về. Tuy nhiên vì đã lỡ đến đây rồi nên năm vị lão thành cũng cố gắng nán lại để chờ phỏng vấn cho xong.

    Từ trái: Nhà văn Việt Hải, nhà văn Tạ Xuân Thạc, tác giả, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh

    Sau buổi phỏng vấn, trưởng ban tổ chức là Giáo Sư Nguyễn Cao Can mời tất cả anh em đi bộ đến tiệm cơm gần đấy để dùng cơm trưa. Trong bữa cơm trưa, tình cờ tôi lại ngồi bên trái cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn nên nghe cụ Nguyễn Bá Cẩn kể nhiều chuyện cũng vui vui. Đặc biệt là câu chuyện về các bác sĩ giải phẩu tim cho cụ bằng cách điều khiển robot để chữa thật tuyệt vời.

    Từ trái: Tác giả, cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn, nhà văn Việt Hải

    Sau khi dùng cơm trưa xong, chúng tôi liền qua tiệm ăn Hanoi’s Corners để chuẩn bị cho buổi ra mắt Tuyển Tập Đồng Tâm quyển thứ 7 của Văn Đàn Đồng Tâm. Trong số quan khách tham dự, tôi thấy có sự hiện diện của nhà văn Toàn Phong Ngyễn Xuân Vinh, nhà văn Doãn quốc Sĩ, nhà văn Tạ Xuân Thạc và phu nhân là nhà văn Lê Kim Anh, nhà văn Bác Sĩ Peter Morita, nhà văn Việt Hải, nhà văn Chinh Nguyên, nhà thơ Mạc Phương Đình, nhà văn Nguyễn Ngọc Linh, nhà văn Diệu Tần, nhà văn Nguyễn Phước Đáng, nhà văn Bác Sĩ Phạm nguyên Lương, nhà thơ Bích Ty, ký giả Duy văn, nhà thơ Võ Thanh Văn, phóng viên Trương Xuân Mẫn vv…. Nhờ các anh chị em trong ban tổ chức như Giáo Sư Nguyễn Cao Can, nhà văn Diệu Tần Nguyễn Tinh Vệ, nhà báo Lê Bình, nhà thơ Mạc Phương Đình, nhà văn Nguyễn Ngọc Linh, nhà thơ Võ Thành Văn, nhà thơ Chinh Nguyên, cô Đoan Trang, cô Bạch Hạc vv… hăng say hoạt động nên chương trình buổi ra mắt sách thật êm đẹp, vui vẻ và thành công tốt đẹp. Các em xi như ông Hoàng ngọc Văn, nhạc sĩ Phan Đình Minh, nhà thơ Võ Thành Văn, nhà thơ Bích Ty, nhà thơ Bạch Hạc, cô Đoan Trang vv…thay phiên nhau giới thiệu các diễn giả lên trình bày quan điểm của mình về Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm quyển thứ 7 cũng như giới thiệu các ca sĩ trong chương trình văn nghệ thật vui nhộn, sôi nổi và hào hứng. Các diễn giả thay phiên nhau lên trình bày quan điểm của mình về Văn Đàn Đồng Tâm gồm có Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh với đề tài “Cái tâm trong Văn Đàn Đồng Tâm”, Giáo Sư Doãn quốc Sĩ với đề tài “Từ Sáng Tạo đến Đồng Tâm”, nhà văn Tạ Xuân Thạc nói về “Chủ trương và hoạt động của Văn Đàn Đồng Tâm”, nhà văn Nguyễn Phước Đáng cũng có những nhận xét thật sâu sắc và rất đầy đủ về Tuyển Tập Đồng Tâm 7. Trong buổi ra mắt sách này, tôi thấy nhiều ký giả, phóng viên của một số tạp chí, tuần báo, nguyệt san ở tỉnh nhà như Cali Today, TV Dân Sinh, TV Việt, Việt Nam Tự Do, Nàng Magazine, Việt Tribune. Cuối cùng, ký giả Lê Bình thay mặt ban tổ chức lên cám ơn quý vị quan khách đã bỏ chút thời giờ quý báu đến tham dự buổi ra mắt sách để gây quỹ yểm trợ thương phế binh của Việt Nam Cộng Hoà.

    Chụp hình lưu niệm sau buổi ra mắt Tuyển Tập Đồng Tâm7 tại Hanoi’corners.

    Sau đó ban tổ chức mời quan khách dùng bữa ăn nhẹ ngay trong tiệm Hanoi’s corners này luôn. Thế rồi chúng tôi chia tay nhau ra về lúc ánh nắng chiều còn trải dài trên xứ Thung Lũng Hoa Vàng đầy ắp tình nghệ sĩ và chan chứa tình người.

    Theo chương trình đã ấn định, sau buổi phỏng vấn năm bậc lão thành trong làng văn học vào sáng thứ bảy, ra mắt Tuyển Tập Đồng Tâm 7 buổi chiều, thì ngày Chủ Nhật kế tiếp sẽ ra mắt hai tác phẩm “Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia” và “Tìm Nhau Từ Thưở” của giáo sư Nguyễn xuân Vinh lúc 2giờ chiều. Vì 2 giờ chiều mới bắt đầu nên buổi sáng, nhà văn Nguyễn ngọc Linh đã hướng dẫn chúng tôi đến công viên Nhật bản để ngắm cảnh. Nếu so sánh với nhiều danh lam thắng cảnh ở nơi khác thì tại nơi đây, nhiều cảnh cũng đẹp tuyệt trần, như chiếc cầu gỗ nho nhỏ xinh xinh bắc qua một hồ nước phẳng lặng như tờ. Dưới hồ, hằng trăm con cá đủ màu sắc bơi qua lượn lại trông thật quyến rũ và đẹp mắt. Xa xa, mấy con vịt trắng ngần đang bơi lội và đùa giỡn nhau dưới hồ trong nắng mai làm tung toé nước trên mặt hồ rất đẹp và thật nên thơ. Mặc dầu công viên không vĩ đại lắm, nhưng diện tích cũng khá rộng rãi,vì thế có nhiều đoạn đường dốc cũng hơi cao.Tôi, bác sĩ Peter Morita và nhà văn Nguyễn Ngọc Linh đi lên dốc không khó khăn lắm. Chỉ tội nghiệp cho nhà văn Việt Hải, bị strock 2 lần suýt chết vì đã cố gắng vừa làm vừa học quyết chí lấy cho xong mảnh bằng master nhưng rồi “nửa chừng xuân thoắt, gãy cành thiên hương” nên bây giờ đi phải chống gậy. Vậy mà chàng ta ham vui nên thừa thắng xông lên cũng quyết chí chống gậy đi theo. Cuối cùng rồi anh ta cũng leo lên được dốc vì như mây gặp được rồng, cá gặp được nước nên tha hồ tung hoành cho thoả thích vì quanh năm suốt tháng, anh ta chỉ đơn thương độc mã ngồi trước computer để viết lách chỉ bằng hai ngón tay của bàn tay phải, tốc độ viết (gõ) chậm hơn rùa. Vậy mà anh ta cũng đã viết được khoảng mấy trăm bài thật khủng khiếp! Thấy cảnh đẹp nên thơ, thấy nắng vàng xuyên qua các lùm cây kẻ lá, thấy cá lội tung tăng dưới mặt hồ thật đẹp mắt, chúng tôi liền chụp vài bức hình để làm kỷ niệm cho một chuyến đi. Đặc biệt chuyến đi này là chuyến đi lên xứ thung lũng hoa vàng có nắng chiều tuyệt đẹp chan chứa tình nghệ sĩ và chứa chan tình người nhưng nghe đâu, thung lũng hoa vàng đang dậy sóng!

    Còn khoảng một giờ nữa là đến giờ ra mắt sách, chúng tôi liền từ giả công viên Nhật bản để lên xe về hội trường học khu Eastside Union High School District, nơi tổ chức ra mắt sách kỷ niệm về nhà văn Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh với hai tác phẩm “Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia” và “Tìm Nhau Từ Thưở” .

    Khi chúng tôi đến thì hội trường còn trống vắng, chỉ thấy một vài người thấp thoáng ở bên ngoài. Sau đó người ta đến mỗi lúc một đông.

    Như thủ tục thường lệ, Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh ngồi ký sách tặng cho mọi người đến tham dự. Trong số những người đến tham dự chương trình ra mắt sách ta thấy có nhà thơ lão thành Hà Thượng Nhân, nhà văn Diệu Tần, ký giả Thanh Thương Hoàng,
    nhà văn Doãn Quốc Sĩ, nhà văn Bác Sĩ Tạ xuân Thạc và phu nhân, văn bút Việt Nam Tây Bắc Hoa kỳ, nhà thơ Mạc Phương Đình, nhà văn Chinh Nguyên, nhà thơ Võ Thanh Văn, ký giả Duy Văn, ký giả Lê Bình, nhạc sĩ Lê Quốc Tuấn, các cụ trong Hội Người Việt Cao Niên. Ngoài ra tôi còn thấy có sự hiện diện của các cơ quan truyền thông báo chí như Cali Today, TV Dân sinh, TV Việt, Việt Nam Tự Do, Nàng Magazine, Việt Tribune, Đời Mới vv… Đúng 2 giờ chiều ngày07 tháng 09 năm 2008, chương trình ra mắt sách bắt đầu. Sau buổi chào cờ và phút mặc niệm những anh hùng đã vị quốc vong thân,
    trưởng ban tổ chức Giáo Sư Nguyễn Cao Can lên giới thiệu chương trình buổi ra mắt sách
    kỷ niệm về nhà văn Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh với hai tác phẩm “Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia”và “Tìm Nhau Từ Thưở”. Giáo Sư Nguyễn Cao Can nói rằng nhà văn Nguyễn Xuân Vinh là bậc thầy của những bậc thầy và là tấm gương sáng cho giới trẻ ngày hôm nay. Sau đó em xi nhạc sĩ Phan Đình Minh giới thiệu ký giả, nhà văn Thanh Thương Hoàng lên bày tỏ đôi lời về nhà văn Nguyễn Xuân Vinh.

    Ký giả Thanh Thương Hoàng nói rằng chỉ cần nhắc đến tên Nguyễn xuân Vinh người ta đều biết ông ấy là ai ngay vì Nguyễn xuân Vinh lẫy lừng từ hơn nửa thế kỷ nay rồi. Cho nên dù có tán tụng, ca ngợi ông ta bao nhiêu đi nữa cũng vậy thôi.

    Tiếp theo ký giả Thanh Thương Hoàng là Bác Sĩ Nguyễn Thường Vụ, một người bạn thân của Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh lên trình bày quan điểm của mình .

    Bác Sĩ Nguyễn thường Vụ cho rằng tác phẩm của nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã nêu lên hai luận án đặc biệt, luận án thứ nhất là nêu cao tinh thần yêu nước, đáp lời sông núi để dấn thân chống lại Cộng Sản. Luận án thứ hai là sự chung thuỷ của người đàn bà Việt nam mà sự thể hiện rõ nét nhất là “con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non” khi chồng còn ở trong các trại tù cải tạo. Bác Sĩ Nguyễn Thường Vụ nhấn mạnh rằng, hình ảnh người đàn bà ôm con tựa cửa đợi chồng đã in sâu vào trong tâm khảm của mọi người không bao giờ quên được. Đó là những gì mà Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã đề cập và cổ xuý trong tác phẩm của ông ta.
    Tiếp theo là nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Nhà văn Doãn Quốc Sĩ nói rằng nhà văn Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh là bạn thân của ông lúc cùng dạy học tại trường Chu Văn An. Mặc dầu dạy môn toán nhưng nhà văn Toàn Phong lại thích văn chương. Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ nhấn mạnh rằng, tác phẩm “Tìm Nhau Từ Thưở” của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh đã dẫn dắt ta vào vườn hồng của tình ái.

    Sau đó, nhà văn Bác Sĩ Tạ Xuân Thạc, chủ nhiệm của Văn Đàn Đồng Tâm lên trình bày chủ trương và hoạt động của Văn Đàn Đồng Tâm. Xen lẫn giữa những diễn giả lên bày tỏ cảm nghĩ của mình đối với nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh là chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn nhưng rất tuyệt vời qua tiếng hát của các ca sĩ Ánh Chi, Thu Nga, Phương Trang và ngâm thơ của nữ nghệ sĩ Bích-Ty .
    Tiếp theo là buổi tặng quà lưu niệm củaVăn Đàn Đồng Tâm và Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh cho giáo sư, nhà văn, khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh.

    Vinh danh nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh

    Sau đó, giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh tặng hoa cho các tác giả đã có mặt trong tác phẩm “Từ Chiến Sĩ Đến Khoa Học Gia”. Cuối cùng tất cả đứng chụp chung một tấm hình lưu niệm.

    Chụp hình lưu niệm



    Các tác giả đang nhận hoa hồng do nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh tặng.

    Lúc vào hội trường để tham dự buổi ra mắt sách, ai cũng thấy mấy chục con heo đất được sắp xếp nằm thứ tự trên sân khấu. Người ta không hiểu sự hiện diện của mấy chục con heo đất này có ý nghĩa gì. Trước khi chấm dứt chương trình ra mắt sách, Bác Sĩ Phạm Đức Vượng và Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh mới bắt đầu giải thích cho mọi người biết và bắt đầu phát động gây quỹ yểm trợ thương phế binh của Việt Nam Cộng Hoà. Giáo sư nói rằng nếu mỗi người trong chúng ta mua một con heo đất nầy mang về nhà và hằng ngày, mỗi thành viên trong gia đình bỏ tiền vào rồi chờ đến ngày 19 tháng 06 mang con heo đất nầy đến đây, thì chúng ta sẽ quyên được tương đối nhiều tiền hơn cho thương phế binh của Việt Nam Cộng Hòa ở quê nhà. Sau khi nghe giải thích tại sao có mấy chục con heo đất được sắp sẵn trên sân khấu, những người tham dự ra mắt sách đã giành nhau mua mấy chục con heo đất ngay. Và chỉ vài phút sau anh chị em đã mua hết mấy con heo đất, không còn một con. Được biết đây là sáng kiến của Bác Sĩ Phạm Đức Vượng và nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh thuộc Tập Thể Chiến Sĩ Bắc Cali. Đúng là một sáng kiến đầy ý nghĩa và thật tuyệt vời!

    Cuối cùng, Giáo Sư Nguyễn Cao Can, trưởng ban tổ chức, đã mời ông chủ tịch Hội Thương Phế Binh ở bắc Cali lên rồi trao tất cả số tiền thu được trong hai ngày ra mắt sách cho ông ta để nhờ ông ta gởi về giúp thương phế binh của Việt Nam Cộng Hòa.

    Cũng giống như trong buổi ra mắt Tuyển Tập Đồng Tâm 7 tại Hanoi’scorners, tất cả quan khách tham dự được mời dùng bữa ăn nhẹ trước khi ra về.

    Sau đó, chúng tôi đến nhà hàng Dynasty để dùng cơm tối với nhà văn bác sĩ chủ nhiệm Văn Đàn Đồng Tâm Tạ Xuân Thạc và phu nhân là nhà văn Lê Kim Anh, Giáo Sư Nguyễn Cao Can, Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ và nhà thơ lão thành Hà thượng Nhân, Bác Sĩ Phạm Nguyên Lương và phu nhân là nhà thơ Bích Ty vv… cùng một số anh chị em trong ban tổ chức.

    Sau bữa cơm tối, chúng tôi về lại tư gia của nhà văn Nguyễn Ngọc Linh để ngủ lại, chuẩn bị sáng mai lên đường trở về Los Angeles sau 3 ngày thăm viếng thung lũng hoa vàng.

    Như đã hội ý chiều hôm qua với Bác Sĩ Peter Morita cùng nhà văn Việt Hải, sáng nay chúng tôi dậy thật sớm để chuẩn bị hành lý trở về Los Angeles. Sau khi từ giả gia chủ nhà văn Nguyễn Ngọc Linh, đúng 5 giờ 30 sáng lúc trời còn mù sương, chúng tôi tất cả lên xe trở lại nhà. Dọc đường, chúng tôi thay phiên nhau kể chuyện vui, rồi hát cho nhau nghe những bản tình ca thật lãng mạn chan chứa những hương tình để giải khuây vì “đường về quê” xa lắc xa lơ, phải mất gần 6 tiếng đồng hồ mới đến nhà. Nếu trước đây một nhà văn Pháp nào đó đã nói rằng đi là chết trong lòng một ít (Partir, c’est mourir un peu) thì ngày hôm nay, tâm hồn chúng tôi lại trái ngược với ông ta vì trong chuyến đi này, chúng tôi đã được ngồi bên những bậc lão thành với tuổi tác gần đất xa trời để nghe các cụ kể chuyện văn học, được gặp lại những người bạn nghệ sĩ thân thương ở xứ thung lũng hoa vàng toả ánh nắng chiều thật đẹp mắt, được nhìn những rừng nho, rừng cam, cùng núi đồi trùng trùng điệp điệp dọc hai bên xa lộ chạy dài đến nơi xa tít tận chân trời.
    Bỗng đâu, giọng một ca sĩ nào đó cất lên tiếng hát bài “Trở Về Mái Nhà Xưa” (Torna A Surriento) của nhạc sĩ Ernesto De Cutis người Ý vang lên trong radio ở trong xe như thúc dục chúng tôi lái xe nhanh lên để sớm trở lại nhà:

    Vide 'o mare quant'è bello.
    Spira tantu sentimento,
    Comme tu a chi tiene mente,
    Ca scetato 'o faie sunnà.
    « Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.
    Về đây với mầu gió ngày lang thang
    Về đây xác hiu hắt lạnh lùng.
    Ôi lãng du quay về điêu tàn. »

    California, ngày 14 tháng 09 năm 2008
    Dương Viết Điền
  15. TÌNH YÊU QUA THI CA VIỆT NAM

    Khi nói đến tình yêu, thông thường người ta hay đề cập đến sự rung động hai con tim của một cặp nhân tình. Nói khác đi, khi hai trái tim của một nam và một nữ đang cùng thổn thức bên nhau bất chấp cả thời gian lẫn không gian, người ta nói rằng họ đang yêu nhau. Như vậy ở đây chúng ta cần loại bỏ những trường hợp tình yêu không do sự rung động của hai con tim bắt nguồn từ một vài trường hợp nào đó, hay vì những hoàn cảnh khác tạo thành. Chẳng hạn như hai người thành vợ thành chồng nhưng không phải vì họ đã yêu nhau, mà do cha mẹ của hai gia đình đã hứa hẹn với nhau từ trước như ngày xưa qua mấy câu thơ sau:
    Chồng chị là ai
    Chị nào có biết
    Đợi đến ngày mai
    Dòm sang kẻ liếp
    Hay là trường hợp của hai nhà khoa học trong tổ chức“American Association for the Advancement of Science”đã tuyên bố nhân ngày Valentine năm 1997 tại Washington rằng, tình yêu lãng mạn của con người từ cổ chí kim, từ đông sang tây là do ảnh hưởng bởi những chuổi phản ứng hoá học mà thôi. Sở dĩ chúng ta cần loại bỏ những trường hợp nói trên vì hai chữ tình yêu mang một ý nghĩa quá rộng lớn và cũng để cho phù hợp với đề tài vậy.
    Ai cũng biết rằng “Cái tình là cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”. Cái chi chi ở đây là sự yêu nhau say đắm, là sự nhớ nhung chất ngất. Cái chi chi ở đây là những quằn quại đớn đau, là những năm tháng giận hờn. Chàng yêu nàng rồi thề non hẹn biển. Nàng yêu chàng để rồi nức nở sầu thương. Khi yêu nhau họ chẳng biết trời trăng mấy nước đâu cả. Đến lúc xa nhau vì không còn yêu nhau nữa, họ bắt đầu nhìn trời trăng mây nước mà lòng buồn vời vợi vì “nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười!”.Thật vậy, tình yêu đúng là “cái chi chi”. Lắm lúc yêu nhau để rồi nhớ nhau mất ngủ. Lắm lúc yêu nhau nhưng bỗng nhiên lại giận nhau để rồi khắc khoải đêm ngày. Yếu tố “thất tình”(vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ) luôn luôn ám ảnh cặp tình nhân khi hai trái tim họ đang cùng thổn thức.
    Theo y lý Đông phương, yếu tố “thất tình”đưa đến tình chí bị kích động, sang chấn về tinh thần. Điều này làm cho âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mất thăng bằng rồi sinh ra đủ thứ bệnh tật. Bởi vì khi hai người yêu nhau, chắc chắn những chuyện vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ sẽ xuất hiện trong tâm hồn họ hằng ngày. Cứ thế, nếu chàng và nàng càng yêu nhau, yếu tố “thất tình”xuất hiện trong tâm hồn họ càng mãnh liệt. Và cũng theo thuyết Đông y, nếu vui quá sẽ hại tim, giận quá sẽ hại gan, suy nghĩ quá sẽ hại tỳ, lo lắng quá sẽ hại phổi, sợ hải quá sẽ hại thận. Vì sự xuất hiện của “thất tình”khi họ đang yêu nhau nên nếu ta biểu diển tình yêu của họ trên một đồ thị, ta sẽ thấy đường cong khi lên khi xuống, khi cao khi thấp thất thường. Và một ngày nào đó nếu ta thấy đường cong ấy đâm thẳng xuống và đụng trục hoành, thế là xong: chàng và nàng vì một lý do nào đó không lấy nhau được nên đã cùng nhau nhảy xuống sông để vĩnh biệt cõi đời cho trọn tình trọn nghĩa, cho trọn vẹn lời thề. Anh chàng Romeo và nàng Juliete của Shakespear đúng là biểu tượng của đường cong này ở nơi có dòng sông tuyệt đẹp Adige chảy qua thành phố Verona bên bờ hồ Garda ở miền Bắc nước Ý đầy những di tích cổ kính nhiệm màu. Anh chàng Lương sơn Bá và nàng Chúc anh Đài cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó ở bên xứ Vạn Lý Trường Thành.
    Riêng tại nước ta, lịch sử tình yêu cũng đã cho ta thấy rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, mỗi khi nhớ lại ai ai cũng phải rơi lệ đến nghẹn ngào. Vậy thì qua thi ca Việt nam, ta hãy xem “cái tình lá cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”đó được diễn tả như thế nào?
    Vì hai chữ tình yêu quá rộng lớn nên để trình bày được dễ dàng, chúng ta tạm thời chỉ đề cập đến ba phần: lúc đang yêu nhau, tình yêu bất thành và tình yêu đã thành nhưng rồi phải xa nhau.
    A. Lúc đang yêu nhau:
    Một triết gia Tây phưong, ông Virgile, đã từng nói rằng ái tình còn mạnh hơn sự chết. Vì thế mà lúc đang yêu nhau, đôi tình nhân chẳng biết trời trăng mây nưóc hiện giờ nẳm ở đâu. Họ chỉ biết yêu nhau thật say đắm, yêu nhau thật điên cuồng, miễn sao họ cảm thấy đê mê trong hồ bơi tình ái cho dù nếu có động đất xảy ra đến 9 hay 10.9 Độ Richter, họ cũng vẫn yêu nhau đắm say vì “ái tình còn mạnh hơn sự chết”mà! Lúc mới bắt đầu yêu, đôi tình nhân nghe tim mình đập thình thịch. Thế rồi bốn mắt nhìn nhau như bị thôi miên vì đang say đắm và ngụp lặn trong men tình. Rồi môi bắt đầu run như bị cảm lạnh khi đi giữa đêm đông đầy giá rét. Cặp tình nhân cảm thấy như có cái gì chận ở cuống họng nên bị nghẹn lời. Vâng, họ đang yêu nhau đấy:
    Môi run, lời chẳng ngỏ,
    Mắt đắm trong men tình:
    Thì ra hai đứa chúng mình say yêu,
    Lòng phiêu phiêu.
    Ngợp trong cảm giác rất nhiều mến thương.
    Phải chăng giấc mộng yêu đương
    Hay cơn say tình bất thường là đây?
    (Trong bài “Say Yêu”của Nguyễn thị Vinh)
    Tuy nhiên có nhiều đôi tình nhân không muốn trầm lặng, không muốn nghẹn ngào. Bởi vì chàng muốn nàng phải nói, phải nói và phải nói. Chàng muốn nàng phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần. Chàng muốn nàng khi yêu thì tay phải riết, miệng phải cười, đầu phải ngà chứ đừng êm đềm và phẳng lặng như mặt nước hồ thu khi đứng gió. Yêu tha thiết như thế vậy mà vẫn thốt lên là chưa thấm vào đâu:
    Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ,
    Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần;
    Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân,
    Đem chi bướm thả trong vườn tình ái.
    Em phải nói, phải nói và phải nói:
    Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày.
    Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say,
    Bằng đầu ngả, bẳng miệng cười, tay riết,
    Bằng im lặng, bằng chi anh có biết!
    Cốt nhất là em chớ lạnh như đồng,
    Chớ thản thiên bên một kẻ cháy lòng,
    Chớ yên ổn như mặt hồ nước ngủ.
    Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ.
    (Trong bài: “Phải Nói”của Xuân Diệu)
    Để tiếp tục cuộc chiến tình yêu như đôi nhân tình nói trên, nhiều cặp tình nhân yêu nhau quá cuồng nhiệt. Tình yêu của họ được biểu lộ qua những động tác hết sức mãnh liệt đầy dục tình. Nhất là lúc họ đã trở thành đệ tử của Lưu Linh để cố say sưa cho quên đời mặc cho trời đất nghiêng ngửa, mặc cho mưa gào gió thét, cho dù đó chỉ là hư ảnh của nàng mà chàng đang ngồi mơ tưởng:
    - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
    Ánh đèn tha thướt
    Lưng mềm, não nuột dáng tơ
    Hàng chân lả lướt
    Đê mê hồn gởi cánh tay hờ.
    Âm ba gờn gợn nhỏ,
    Ánh sáng phai phai dần
    Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
    Lui đôi vai, tiến đôi chân,
    Riết đôi tay, ngả đôi thân
    Sàn gỗ trơn chập chờn như biền gió
    Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,
    Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!
    Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa
    Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng.
    Chưa cuối xứ Mê Ly, chưa cùng trời Phóng Đãng
    Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men.
    Say đi em! Say đi em!
    Say cho lơi lả ánh đèn
    Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt.
    Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!
    Ta quá say rồi
    Sắc ngả màu trôi
    Gian phòng không đứng vững
    Có ai ghì hư ảnh sát kề môi.
    Chân rã rời
    Quay cuồng chi được nữa
    Gối mỏi gần rơi
    Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa
    Say không còn biết chi đời
    Nhưng em ơi,
    Đất trời nghiêng ngửa
    Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ;
    Đất trời nghiêng ngửa
    Thành Sầu không sụp đổ em ơi!
    (Trong bài: “Say đi em”của Vũ hoàng Chương)
    Ngược lại với chuyện tình trên, đôi uyên ương khác lại muốn khi yêu nhau hãy để cho tình yêu nằm lơ lững giữa trời! Chàng không muốn gặp nàng để cho cuộc tình trở thành huyền thoại, để cho cuộc tình đẹp mãi nghìn đời. Em hẹn anh rồi nhưng đừng đến nghe em. Có như thế anh mới nhớ em đến điên cuồng và khờ dại, anh mới nhớ em đến điêu đứng, quay quắt để rồi rối loạn cả tâm hồn. Nếu đã trót lỡ đến thăm anh dù trời đang mưa hay nắng, em hãy cố gắng quay về đừng gặp anh nữa nghe em, đề cho anh được rung cảm hồn anh theo một giai điệu trầm bỗng tuyệt vời: Đời mất vui khi đã vẹn câu thề, tình chỉ đẹp những khi còn dang dở. Mấy vần thơ sau đây của thi sĩ Hồ Dzếnh đã diễn tả chuyện tình này thật diễm tuyệt:
    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
    Để lòng buồn anh dạo khắp trong sân.
    Ngó lên tay thuốc lá cháy lụi dần,
    Anh nói khẽ: “Gớm, sao mà nhớ thế!”
    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
    Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu?
    Nếu là không lưu luyến lúc ban đầu,
    Thưở ân ái mong manh như nắng lụa.
    Hoa lá ngập ngừng, cỏ cây lần lữa,
    Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi
    Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi.
    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
    Anh sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ:
    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
    Đời mất vui khi đã vẹn câu thề,
    Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở.
    Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
    Cho nghìn sau lơ lửng...với nghìn xưa.
    (Bài “Ngập ngừng”của Hồ Dzếnh)
    Tuy nhiên có nhiều cặp tình nhân thật là rắc rối, mong người yêu đến từng giờ, từng phút, từng giây vì khi xa người yêu thì nhớ nhung chất ngất. Nhưng khi người yêu đã đến với nàng cũng vì nhung nhớ đến điên cuồng, nàng lại phủ nhận sự hiện hữu của chàng bên cạnh! Giận quá chàng không biết phải làm sao, chỉ biết thổ lộ tâm tình qua mấy vần thơ:
    Tao ở nhà tao, tao nhớ my,
    Nhớ my nên phải bước chân đi.
    Không đi my nói rằng không đến,
    Đến thì my nói đến làm chi.
    Làm chi tao đã làm chi được,
    Làm được chớ tao đã làm chi.
    (Bài “Bỡn tình nhân”của Nguyễn công Trứ)
    B. Tình yêu bất thành:
    Không phải bao giờ yêu nhau cũng thành tựu cả. Biết bao nhiêu mối tình lúc đầu thật đẹp, thật nên thơ nhưng rồi vì một lý do nào đó đã làm cho họ bất thành, để rồi phải xa nhau đời đời không sống chung với nhau được nữa. Có lẽ lúc mới gặp nàng lần đầu, chàng ta còn bỡ ngỡ rụt rè, tim đập loạn nhịp vì chưa bao giờ yêu. Phần vì thẹn thùng, phần vì ngại ngùng nên chàng chỉ biết nhìn nàng mà không nói nên lời. Để rồi sau này khi nghe nàng trần tình, chàng mới tiếc quay quắt vì chỉ có “ba đồng một mớ trầu cay”là có thể làm chủ được trái tim nàng mà không biết:
    Trèo lên cây bưởi hái hoa
    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
    Em có chồng anh tiếc lắm thay
    Ba đồng một mớ trầu cay
    Sao anh không hỏi những ngày còn không
    Bây giờ em đã có chồng
    Như chim vào lồng như cá cắn câu
    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
    Chim vào lồng biết thưở nào ra
    (Ca dao Việt nam)
    Tuy nhiên nhiều khi hai người mới gặp nhau có lẽ chỉ mới liếc mắt đưa tình mà trong lòng đã thấy bang khuâng rồi nhung nhớ. Thế rồi sau đó họ đã xa nhau để rồi một trong hai người thấy buồn diệu vợi mà ngâm lên một giai điệu thật não nùng:
    Chim xa rừng thương cây nhớ cội
    Người xa người tội lắm người ơi!
    Thà rằng chẳng biết thì thôi
    Biết rồi mỗi đứa một nơi sao đành!
    (Ca dao Việt nam)
    Cũng giống trường hợp như trên, nhưng chàng và nàng ở cùng tổng nhưng lại khác làng. Hai người đã gặp nhau đâu đó khi đi cấy đi cày, hay lúc ra đồng gặt lúa rồi bất chợt nhìn nhau liếc mắt trao tình đề rồi hai con tim của chàng và nàng bỗng nghe xao xuyến, bang khuâng. Thế rồi đêm khuya thanh vắng, nàng ngồi một mình mắt nhìn về làng nơi chàng đang ở mà nhớ, mà yêu, mà sầu, mà thảm, rồi cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi! Và nàng đã thốt lên trong cơn mê rằng thương chàng lắm lắm chàng ơi!:
    Đêm qua mưa bụi gió bay,
    Gió rung cành bạc, gió lay cành vàng
    Em với anh cùng tổng khác làng
    Nào em biết ngõ nhà chàng ở đâu!
    Một thương, hai nhớ, ba sầu,
    Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.
    Thương chàng lắm lắm chàng ơi!
    Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than,
    Muốn than mà chẳng được than,
    Kìa như đá đổ bên ngàn lầu Tây,
    Đá đổ còn có khi đầy,
    Thương chàng biết thưở nào khuây hở chàng.
    (Bài “Thương nhớ anh”, ca dao Việt nam)
    Có nhiều cặp tình nhân đang yêu nhau tha thiết thì chiến tranh bùng nổ. Chàng phải lên đường để bảo vệ non sông vì quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Thế rồi cảnh biệt ly sao mà buồn da diết. Chàng và nàng bắt đầu nhớ thương nhau. Chàng ở chốn biên thùy đang say khói súng giữa chiến địa hoang tàn, nhưng lòng vẫn buồn vời vợi và mắt luôn luôn vọng về cố quận xa xăm vì mỗi người mỗi ngã, đôi ngã đôi ta. Nàng ở quê nhà cũng buồn da diết vì nhớ thương chàng để rồi dòng lệ dạt dào tuôn trào trên má vì đôi bờ ngăn cách:
    Xa quá rồi em người mỗi ngã
    Bên này đất nước nhớ thương nhau
    Em đi áo mỏng buông hờn tủi
    Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?
    (Trong bài: “Đôi Bờ”của Quang Dũng)
    Hay là cái thưở ban đầu lưu luyến ấy vào một đêm vừa gió lại vừa mưa, hai mươi bốn năm xưa, trong một gian nhà nhỏ, chàng và nàng ngồi nhìn nhau bên ngọn đèn dầu hiu hắt để rồi cùng nhau than vắn thở dài rằng, tình thương nhau thì vẫn nặng, nhưng lấy nhau thì cả hai người biết chắc rằng không đặng. Có lẽ chàng và nàng đều biết cha mẹ sẽ không bằng lòng. Nhưng khi chàng và nàng đã quấn quýt bên nhau giữa một đêm mưa gió bão bùng thì buông nhau làm sao cho nỡ. Thôi thì chàng và nàng thương nhau được chừng nào thì thương nhưng rồi phải liệu tìm cách mà xa nhau vì không bao giờ thành vợ thành chồng làm sao mà tính việc thủy chung:
    Hai mưa bốn năm xưa
    Một đem vừa gió lại vừa mưa
    Dưới ngọn đèn mờ
    Trong gian nhà nhỏ
    Hai cái đầu xanh kề nhau than thở
    “- Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
    Mà lấy nhau hẵn là không đặng.
    Để đến nỗi tình trước phụ sau,
    Chi cho bằng sớm liệu mà xa nhau!”
    “Hay. Nó mới bạc làm sao chớ.
    Buông nhau làm sao cho nỡ?
    Thương được chừng nào hay chừng ấy.
    Chẳng qua ông trời bắt ta phải vậy:
    Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng.
    Mà tính việc thủy chung?”
    Hai mươi bốn năm sau,
    Tình cờ đất khách gặp nhau,
    Đôi cái đầu đều bạc,
    Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được!
    Ôn chuyện cũ mà thôi
    Liếc đưa nhau đi rồi!
    Con mắt còn có đuôi.
    (Bài “Tình già”của Phan Khôi)
    Tuy nhiên không phải ai ai cũng yêu nhau để rồi tính việc chung thủy đời đời mà trái lại nhiều khi mới yêu nhau, nhưng nàng lại tìm cách xa chàng vì tiếng sét ái tình từ duyên mới. Điều này làm cho chàng bơ vơ lạc lòng giữa dòng đời để rồi vết thương lòng triền miên tê tái khiến chàng đã phải thốt lên một giai điệu đắng cay:
    Sao em hờ hững thế cho đành,
    Duyên mới cùng người hất hủi anh.
    Tội nghiệp cho đời anh biết mấy!
    Trăm năm chưa chắc vết thương lành”
    (Trong bái “Hờ hững”của Tế Hanh)
    Và cũng thế, chàng và nàng khi đã yêu nhau cứ tưởng sẽ yêu nhau mãi mãi trọn đời để rồi họ cùng nhau đắm say dưới ánh trăng vàng trong đêm khuya thanh vắng. Ngờ đâu chỉ vì một lỗi lầm nho nhỏ chạm tự ái nhau, chàng và nàng cuối cùng đã phải xa nhau khiến chàng ôm hận muôn đời khi biết nàng đang điên trên gối mộng người thương:
    Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu.
    Em cười, em nói suốt trăng thâu;
    Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi,
    Tình đến muôn năm chữa bạc đầu
    ............................
    .......................................................
    ......................................................
    Tình ái hay đâu mộng cuối trời...
    Nhầm nhau giây lát hận muôn đời
    Kẻ ra non nước người thành thị,
    Đôi ngã tình đi, người mỗi nơi.
    Hôm nay ngồi ngắm ở bên sông,
    Ta được tin ai mới lấy chồng;
    Cười chưa dứt câu tình đã vội...
    Nàng điên trên “gối mộng”người thương
    (Trong bài “Tình điên”của Lưu trọng Lư)
    Nhưng nhiều khi nàng yêu chàng đến say đắm, điên cuồng và luôn luôn ước mơ xây dựng một lâu đài chung thủy nghìn năm. Nhưng rồi nàng đã vỡ mộng vì gia đình bắt nàng phải lấy một người chồng mà con tim nàng chưa bao giờ có một mảy may rung động hay thổn thức. Cuối cùng nàng đành phải ngậm đắng nuốt cay trước những ái ân lạt lẽo của người chồng qua biết bao nhiêu mùa lá rụng, để rồi lặng lẽ dệt mấy vần thơ thật nghẹn ngào đầy nước mắt:
    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
    Mà từng thu chết, từng thu chết
    Vẫn giấu trong tim một bóng người.
    (T.T.K.H)
    Khi đọc mấy vần thơ trên của người yêu cũ, chàng thấy nhức nhối con tim để rồi đầm đìa giọt lệ vì thương nhớ nàng. Đêm đêm ngồi khắc khoải sầu thương khóc cho tình yêu sao mà đầy khổ lụy, chàng cũng liền dệt mấy vần thơ rồi gởi cho nàng để an ủi đời nàng:
    - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
    Thôi em nhé! Từ đây anh cất bước,
    Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui
    Đừng buồn thương, nhớ tiếc, hoặc ngậm ngùi,
    Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp.
    (Bài “Dang dở”của Thâm Tâm tặng T.T.K.H)
    Hay là:
    - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
    K. hỡi! Người yêu của tôi ơi!
    Nào ngờ em giết chết một đời!
    Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ
    Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.
    (Bài “Màu máu Ti gôn”của Thâm Tâm gởi T.T.K.H)
    Tuy nhiên có nhiều trường hợp không phải vì chàng và nàng yêu nhau, mà tình yêu chỉ xảy ra đơn phương cho chàng mà thôi. Vâng, chàng thấy nàng thấp thoáng bên cạnh nhà năm ba lần rồi bắt đầu thương nhớ. Chàng nhớ cô hàng xóm, chàng thương cô láng giềng. Hai người sống giữa cô đơn, nhưng chàng lại không bao giờ chịu qua thăm nàng:
    Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
    Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.
    Hai người sống giữa cô đơn,
    Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi
    Giá đừng có dậu mùng tơi,
    Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.
    (Trong bài “Cô hàng xóm”của Nguyễn Bính)
    Vì không chịu qua thăm nàng nhưng thỉnh thoảng lại nhớ nàng đến quằn quại nên chàng đành phải nhờ một người trung gian, qua một giấc mơ, để liên lạc đêm ngày: con bướm trắng. Khi con bướm trắng bay vào nhà chàng, chàng muốn hỏi con bướm tại sao chả bao giờ thấy nàng cười mỗi khi nàng ra hong tơ ướt ở ngoài mái hiên, mà chỉ thấy mắt nàng đăm đắm trông lên. Nhưng chưa hỏi kịp thì con bướm đã bay về bên kia rồi. Thế rồi mấy hôm nay vì tầm tầm trời cứ đổ mưa nên chàng chẳng thấy nàng ra hong tơ nữa, nhớ ơi là nhớ! Nhưng mấy ngày sau, bầu trời đã quang đãng rồi, mưa cũng đã tạnh, nhưng chàng vẫn không thấy bóng nàng thấp thoáng sau cái dậu mùng tơi, chàng cũng vẫn không thấy con bướm trắng bay sang nhà chàng nữa. Thì ra đêm qua nàng đã chết rồi, khiến chàng đớn đau quằn quại để rồi rưng rưng chàng gục xuống bàn rưng rưng. Nghẹn ngào chàng khóc đến điên cuồng, khờ dại vì chàng đã yêu nàng da diết, yêu nàng đến đắm say:
    - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
    Tầm tầm trời cứ đổ mưa
    Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.
    Cô đơn buồn lại thêm buồn,
    Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?
    Hôm nay mưa đã tạnh rồi!
    Tơ không hong nữa bướm lười không sang,
    Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,
    Rưng rưng...tôi gục xuống bàn rưng rưng...
    Nhớ con bướm trắng lạ lùng!
    Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.
    Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
    Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
    Đêm qua nàng đã chết rồi,
    Nghẹn ngào tôi khóc...Quả tôi yêu nàng.
    Hồn trinh còn ở trần gian?
    Nhập vào bướm trắng mà sang bên này?
    (Trong bài “Cô hàng xóm”của Nguyễn Bính)
    Và rồi cũng chỉ đơn thương độc mã, một mình một ngựa, chàng cũng chỉ đơn phương yêu nàng nhưng không phải yêu cô hàng xón mà yêu một người ở xa tận cuối thôn Đông. Cho dù thôn Đông là thôn nàng ở, và thôn Đoài là thôn chàng cư ngụ, nhưng hai thôn cùng thuộc một làng nên chàng và nàng cách nhau chẳng xa gì cho lắm. Vậy mà nàng chẳng bao giờ sang bên này cho chàng được thấy dung nhan, để rồi chàng thương, chàng nhớ, khiến chàng đã tương tư thức mấy đêm rồi, biết cho ai biết, ai người biết cho:
    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
    Mộng người chín nhớ mười mong một người.
    Gió mưa là bệnh của trời,
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
    Hai thôn chung lại một làng,
    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,
    Ngày qua ngày lại qua ngày,
    Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng.
    Bảo rằng cách trở đò giang,
    Không sang là chẳng đường sang đã đành
    Nhưng đây cách một đầu đình
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
    Tương tư thức mấy đêm rồi,
    Biết cho ai biết, ai người biết cho.
    Bao giờ bến mới gặp đò,
    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.
    Nhà em có một giàn trầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?
    (Bài “Tương tư”của Nguyễn Bính)
    C. Tình yêu đã thành rồi xa nhau:
    Trong mục này, tình yêu đã thành có nghĩa là hai người đã lấy nhau thành vợ thành chồng rồi, nhưng cuối cùng rồi phải xa nhau vì số phận đã được an bài: chàng và nàng đành phải ly biệt vì chiến tranh hay vì chiến tranh triền miên kéo dài quá lâu ngày, hoặc là một trong hai người đã thành người thiên cổ.
    Chúng ta ai cũng biết rằng vua Tự Đức là một thi sĩ nổi tiếng vang bóng một thời. Khi bà Bằng Phi qua đời, Ông đã biểu lộ tâm tư của mình qua bài “Khóc Bằng Phi”thật là não nùng ai oán.
    Nhớ Bà Bằng Phi quá đến nỗi Ông muốn đập vỡ kính ra để tìm bóng “nàng”, rồi xếp mấy tấm áo quần cũ của bà ta lại để dành hơi!:
    Ới Thị Bằng ơi! Đã mất rồi,
    Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi!
    Mùa hè nắng chái oanh ăn nói,
    Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi.
    Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
    Xếp tàn y lại để dành hơi.
    Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
    Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
    (Bài “Khóc Bằng Phi”của vua Tự Đức)
    Ngược lại với sự ra đi của nàng là chàng. Ở đây chàng đã qua đời lúc nàng còn quá trẻ, khiến cho nàng bàng hoàng rồi xúc động đến nghẹn ngào. Đó là nữ sĩ Tương Phố Đỗ thị Đàm.
    Nữ sĩ Tương Phố lấy chồng năm 17 tuổi, xa chồng năm 19 tuổi và trở thành góa phụ năm 21 tuổi. Khi nghe chồng là bác sĩ Thái văn Du qua đời, bà đã vào Huế rồi ôm con ngồi khóc bên mộ chồng đến khô cả dòng lệ. Sau đó bà đã nức nở sầu thương thật lâm ly bi thảm, thật thống thiết ngậm ngùi qua thi tập GIỌT LỆ THU đến nỗi một nữ sĩ Pháp, bà Jeanne DUCLOSSALESSES quá xúc động nên đã dịch sang Pháp ngữ với tựa đề “Larmes d'Automme”. Sau này khi về lại Huế thăm mộ chồng, bà vẫn ngậm ngùi thương tiếc qua mấy dòng thơ trong bài “Bình hương lỗi nguyện”:
    - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
    Bỗng một phút bình tan gương vỡ
    Để tình này dang dở, dở dang;
    Thề duyên thôi đã phụ phàng,
    Non sông trăng nước bẽ bàng vì ai.
    Nay trở lại ngậm ngùi cảnh cũ ;
    Người xưa say giấc ngủ ngàn năm!
    Tử sinh xé giải đồng tâm,
    Trước mồ, lã chã không cầm hàng châu.
    Khóc nhau, dễ gặp nhau đâu nữa,
    Tìm nhau đành tìm ở chốn nầy;
    Tro vàng lẫn khói hương bay,
    Tro tàn, khói tỏa bao khuây hận tình!
    Trên đây là chuyện tình đầy nước mắt cùa nàng và chàng để rồi cuối cùng nàng chỉ biết ngồi khóc trên mộ chàng qua những năm tháng còn lại của cuộc đời đầy đau khồ.
    Tuy nhiên có nhiều người vì quá nhớ thương yêu người mình đã chết, liền ra ngồi bên nấm mộ mà nức nở sầu thương, rồi như muốn đánh thức hồn ma dậy để nói chuyện và chàng muốn xuống dưới mộ để thăm nàng! Ta hãy nghe nhà thơ Đinh Hùng nói chuyện với hồn ma dưới đáy mộ giữa đêm khuya thanh vắng với những vần thơ thật ghê rợn qua bài “Gởi người dưới mộ”:
    Trời cuối thu rồi em ở đâu?
    Nằm trong đất lạnh chắc em sầu?
    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
    Em mộng về đâu?
    Em mất về đâu?
    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu
    Đây màu hương khói là màu mắt xưa
    Em đã về chưa?
    Em sắp về chưa?
    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn
    Em hãy cười lên, vọng cõi âm
    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm
    Những hồn phiêu bạt bao năm trước
    Nay đã vào chung một chỗ nằm,
    Cười lên em!
    Khóc lên em!
    Đâu trăng tình sử
    Nép áo trần duyên?
    Gót sen Tố nữ
    Xôn xao đêm huyền
    Ta đi lạc xứ thần tiên
    Hồn trùng dương hiện bóng thuyền u minh
    Ta gởi bài thơ anh linh
    Hỡi người trong mộ có rung mình!
    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?
    Hỡi hồn tuyết trinh!
    Hỡi người tuyết trinh!
    Mê em ta thoát thân hình,
    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
    Em có vui thêm?
    Em có buồn thêm?
    Ngồi bên cửa mộ
    Kể cho ta biết nỗi niềm.
    Thần chết cười trong bộ ngực điên,
    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền,
    Nỗi lòng xưa dậy tan thanh vắng,
    Hơi đất mê người! Trăng hiện lên!
    (Bài “Gởi người dưới mộ”của Đinh Hùng)
    Nói chung,cũng như tất cả các dân tộc khác trên thế giới qua thi ca, nước Việt nam ta cũng có rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, nhiều chuyện tình thật cay đắng, nghẹn ngào đầy nước mắt trong lịch sử tình yêu như ta đã thấy.

    California, mùa Valentine .