Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Chương 1




    Bao giờ mày về Mỹ hở Bill?

    - Tôi không biết.

    - À, mày thích nước tao không?

    - Tôi thích nước "mày" lắm.

    - Tại sao mày thích?

    - Vì "tao" nói được tiếng nước "anh".

    - Nước tao nhỏ bé, nghèo nàn, đâu bằng nước Mỹ của mày.

    - Nước Việt Nam có nhiều người tốt. "Tôi" thích nước "mày" lắm.

    - "Ve ri mốt"?

    - "I ét, ve ri mốt"...

    Chương còm vỗ vai Bill:

    - Tao cứ sợ mày dóc tổ.

    Con nhà Bill tròn đôi mắt xanh:

    - Dóc tổ là gì?

    Chương còm cười thật tươi:

    - Dóc tổ là xạo ke!

    Bill nhăn nhó:

    - Xạo ke là gì?

    Chương còm vẫn cười:

    - Xạo ke là... đía.

    Bill đưa tay vò mái tóc mầu mật ong bó sát lấy đầu nó:

    - Ðía là gì?

    Chương còm nắm chặt cổ tay Bill:

    - Hì hì, còn lâu mày mới nói được tiếng nước tao. Tiếng nước tao khó nhất thế giới.

    Bill gỡ tay Chương còm khỏi tay nó, năn nỉ:

    - Dóc tổ, xạo ke, đía là gì?

    Nó phát âm không đúng. Y hệt một người Thượng nói tiếng Kinh.

    - Là là... nói phét!

    Bill giậm chân:

    - Trời ơi!

    Hai tiếng "trời ơi" từ miệng Bill thoát ra, nghe dễ thương biết mấy. Nó bứt một sợi tóc:

    - Nói phét là gì?

    Chương còm hỉnh hỉnh mũi:

    - Mày phải mất cái gì chứ?

    Bill hỏi:

    - Mày muốn gì?

    Chương còm liếm mép:

    - Kẹo sô cô la. Tại thằng Jack đấy. Hôm nọ tao nhờ nó tí việc, nó bắt tao trả nó trái ổi, nay tao bắt mày trả kẹo sô cô la.

    Bill nói:

    - Hôm nào "mày" nhờ "tôi" đi, "tao" không bắt "anh" trả gì đâu. "Tao" không thích thằng Jack.

    Chương còm đá khẽ vào chân Bill:

    - Mày giống chúng tao. Chơi với nhau mà cứ đòi trả cái này, cái nọ. Thôi mày khỏi đưa kẹo sô cô la, tao nói đây: Xạo ke, dóc tổ, đía, nói phét, cuội, ba hoa là nói láo là không nói thật.

    Bill phụng phịu:

    - Tôi nói thật, tôi không "nói phét", tôi thích nước Việt Nam của "mày".

    Hai đứa nhỏ đã ngồi phệt xuống nền xi măng, cửa nhà Hưng mập, dưới giàn hoa giấy. Bill mới dọn nhà tới cư xá Chu Mạnh Trinh. Bố nó là một mục sư đạo Tin Lành. Mẹ nó đẹp như tài tử màn bạc. Trước Bill, gia đình nhà thằng Jack, thằng John, thằng Jimmy đã tới cư xá này. Và bố mẹ chúng đều là người truyền giáo, nói tiếng Việt rất giỏi. Nhưng bọn Chương còm không thích chơi với nhô con Mỹ. Từ hôm Bill về đây, cái biên giới ngăn cách giữa nhô con Việt Nam và nhô con Mỹ không còn nữa. Bill làm quen Chương còm. Nó nói tiếng Việt. Chương còm thú quá. Tiếng Việt Nam đã là nhịp cầu để bọn nhô Việt chở sự hồn nhiên của chúng đổ vào tâm hồn bọn nhô Mỹ, và ngược lại. Tuổi thơ không có biên giới. Và sự hồn nhiên chẳng cho phép ai kỳ thị ai. Chương còm đã thân với Bill. Bill cầm tay Chương còm, Hưng mập, Dzũng Ðakao, Bồn lừa đặt vô bàn tay Jack, John, Jimmy. Và những bàn tay trẻ con đan chặt lấy nhau. Thương mến.

    Bill dẫn Chương còm đến nhà nó ở gần chùa. Mẹ Bill bắt tay Chương còm rồi bế bổng nó lên, hôn má, tặng kẹo bánh nó. Mỗi lần qua nhà Bill chơi, lúc về, mẹ Bill đều cho Chương còm một tấm hình Chúa Giêsu. Chương còm khoe mẹ nó. Mẹ thằng Chương com bắt nó lôi Bill ghé nhà chơi. Mẹ nó tặng Bill kẹo chuối, bánh gan. Bill về nói gì với mẹ mà mẹ nó ăn mặc thật đẹp sang nhà Chương còm. Hai bà mẹ nói chuyện vui vẻ. Mẹ Chương còm khen mẹ Bill đẹp như tài tử. Chương còm thấy đúng ghê. Bill khác tính Jack. Thằng Jack không bao giờ cho bạn một vật gì mà không đòi trao đổi vật khác. John thẹn thùng, còn Jimmy thì sai đâu làm đấy. Chương còm không thích Jack. Nhưng Bill bảo Chúa sẽ giúp thằng Jack được mọi người thương yêu.

    - Sắp Tết rồi, Bill ạ!

    - Hả?

    - Sắp Tết rồi, Tết ở Việt Nam, vui lắm. Chúng tao được đốt pháo và nghỉ học nửa tháng.

    - Ồ, thích nhỉ?

    - Mồng một Tết mày tới nhà tao, mẹ tao sẽ lì xì mày?

    - Lì xì là gì?

    - Là mừng tuổi đó. Cứ năm cũ hết, năm mới sang, mỗi người lại thêm một tuổi. Người lớn chúc nhau năm mới khỏe mạnh. Người lớn cho tiền trẻ con, gọi là lì xì để mừng trẻ con thêm một tuổi.

    - Không nhận được không?

    - Không nhận, người lớn buồn và trẻ con sẽ không gặp may mắn suốt một năm.

    Chương còm nhìn lên giàn hoa giấy:

    - Bố tao bảo tại chiến tranh nên Tết mất vui đi nhiều. Hễ hết chiến tranh, Tết ở nước tao kéo dài ba tháng.

    Bill chớp mắt:

    - Chúa không thích chiến tranh đâu. Chúa không muốn người ta giết nhau. Chúa dạy mọi người đều là anh em. "Tôi" với "mày" là anh em.

    Chương còm cười hóm hỉnh:

    - Tao là anh mày đấy nhé!

    Bill gật đầu:

    - "Mày" là anh "tôi".

    Chương còm hích khẽ Bill:

    - Mày thường nói bố mày ở gần Chúa, hả?

    - Ừ.

    - Sao mày không bảo bố mày nói với Chúa hóa phép cho súng đạn biến thành cát đi.

    - Phải tin Chúa.

    - Tao tin mà. Mẹ tao chủ nhật nào cũng đi lễ ở nhà thờ Ðức Bà.

    - Tin nữa đi. Chúa sẽ làm hết chiến tranh.

    Giọng con nhà Bill đúng là giọng... mục sư lỏi. Nó có "khiếu" truyền giáo. Chương còm không thích Chúa. Nó chỉ mến mẹ thằng Bill. Mẹ Bill có đôi mắt thật hiền từ. Bố nó cũng vậy. Những người Mỹ ở cạnh nhà Chương còm đã chẳng giống bố thằng Bill. Họ lơ láo, uống bia vất đầy vỏ hộp ra cửa, đậu xe bít cả ngõ và hay gây sự với người Việt. Bố Chương còm phải viết báo phê bình những người Mỹ này.

    - Bill ơi!

    - Gì?

    - Thằng Jack nó cậy nó to con, nó hay khoe nước Mỹ nó lớn và có thằng Tom Sawyer mí thằng Huckleberry Finn. Mày biết hai thằng này không?

    - Biết chớ.

    - Chúng nó ra sao?

    - Ðó là hai đứa trẻ con phi thường nhất nước Mỹ. Jack coi nó như Tom Sawyer. John nhận nó là Huckleberry Finn.

    - Mày biết nước tao có bao nhiêu thằng nhỏ phi thường không?

    - Không.

    - Anh em thằng Việt, thằng Còm, thằng Kình, thằng cu So, thằng Vũ, thằng Côn, thằng Khoa, thằng Vọng... Bây giờ là tao và thằng Bồn lừa. Chúng máy muốn uýnh lộn chăng?

    Bill lắc đầu:

    - Sao không đi coi chớp bóng?

    Chương còm nói:

    - Thằng Jack không tốt vì nó tưởng nó khỏe hơn chúng tao. Tao muốn nó thua chúng tao một trận nó sẽ hết làm tàng. Nước tao ngày xưa có Phù Ðổng Thiên Vương, nhóc con mà một mình một ngựa dẹp tan giặc Ân. Nước tao còn có Trần Quốc Toản mộ quân đánh giặc Tầu. Trẻ con nước tao giỏi nhất thế giới. Sức mấy bọn Tom Sawyer và Huckleberry Finn bì được. Mày bảo thằng Jack có giỏi uýnh lộn với chúng tao đi.

    Bill móc túi quần jean, lôi ra một thanh kẹo cao su đưa cho Chương còm:

    - Ăn đi và quên chuyện đánh nhau với thằng Jack.

    Chương còm lột hai lần giấy bọc thanh kẻo, bỏ vô miệng nhai lia lịa:

    - Tao không muốn đánh nhau nhưng tao muốn cho thằng Jack biết chúng tao không yếu như nó tưởng. Hồi tụi mày chưa đến cư xá này, thằng Thiện Mông Cổ là xếp. Nó bắt nạt tuốt mo. Nó đá bọn Mỹ con té nhào. Chúng ta đã dẹp bọn Thiện Mông Cổ. Chính tao bắt sống con nhà Thiện Mông Cổ. Nó lạy tao, xin hàng. Bây giờ nó dọn nhà đi rồi. Tao không sợ thằng nào lớn hơn tao. Tao không thích bọn nhô Mỹ khinh tụi tao gầy còm, ốm yếu. Vì thế tao sẽ "oong công oong" với thằng Jack.

    Bill không thể hiểu kịp những lời Chương còm nói. Nó chỉ lơ mơ biết Chương còm muốn đánh thằng Jack vì con nhà Jack cậy mình to xác. Bill nói:

    - "Tôi" có dám khinh "mày" gầy còm đâu nào?

    Chương còm nhả bã kẹo ra tay, vân vê thành hòn bi nhỏ rồi búng lên giàn hoa giấy:

    - Mày thấy thằng Hưng mập lớn hơn tao chứ?

    - Ừ.

    - Cả cư xá này không thằng nhãi nào đấm bụng nó làm nó đau. Thế mà tao đấm nó, nó thua cuộc đấy. Tao thắng giải cái hộp dế mí lỵ con dế than đá vô địch loài dế.

    Bill hỏi:

    - Hưng mập đi đâu chưa về?

    Chương còm duỗi chân:

    - Nó lên nhà anh nó ở cầu Kiệu. A tao nghĩ được cách này hay lắm. Chiều nay mày rủ bọn thằng Jack, John, Jimmy đến ngõ D nhé!

    Bill ngơ ngác:

    - Ðể làm gì?

    - Ðể đấm bụng Hưng mập, kéo tay tao và đua tài lừa bóng với Bồn lừa. Rồi chúng ta đến hồ tắm Chi Lăng coi Dzũng Ðaokao biểu diễn "bông nhông". Ô kê?

    - Ô kê.

    Hai đứa trẻ cùng đứng dậy một lượt. Bill thọc hai tay vào túi quần jean. Chương còm thọc hai tay vào túi quần soóc. Chương còm luôn luôn mặc quần soóc. Nó chê quần dài. Vì, hồi học mẫu giáo trường Saint Vincent, cu cậu mặc quần dài lúng túng cái lúc đau bụng. Kết quả cu cậu bỉnh ra quần trước khi cô giáo cởi kịp giùm cu cậu. Cu cậu phải mặc quần nhà trường và ôm gói quần đầy "ca ca" về nhà cho mẹ giặt. Từ đó, Chương còm sợ mặc quần dài. Chương còm vốn dĩ là bộ xương cách trí, nó mặc quần soóc để biểu diễn đôi chân ống xì đồng. Bill cho thêm Chương còm miếng sô cô la nữa. Chương còm vội "trả nợ" bạn hai cục xí muội. Hai ông nhô chia tay nhau, hẹn gặp gỡ buổi chiều.
  2. Tháng Chín



    Bây giờ, loài ve sầu đã mồ yên mã đẹp. Nhiều cậu đang chờ hóa kiếp bướm để được sống một lần với mùa xuân và nếu chết sớm, sẽ được ép vào những trang sách đẹp nhất của các cô học trò mơ mộng. Bây giờ, loài tu hú đã bay về rừng, đang tương tư rặng vải mùa hạ miền xuôi. Và, bây giờ, cây đang làm đám ma cho lá. Lá rơi ban ngày. Lá rụng ban đêm. Lá ốm. Lá úa. Rồi lá chết. Thương nhất là những chiếc lá bàng. Thân xác to lớn thế mà cũng bị sốt rét vàng da, biến chứng đỏ thẫm, chẳng đợi kịp gió đến rửa tội đã vội rớt xuống tuyền đài. Tuyền đài là mặt đường phố, là vỉa hè tháng chín. Tháng chín vào học. Những bước chân tựu trường giẵm nát xác lá. Lá đau. Lòng học trò hớn hở. Lòng tôi thì vướng mắc một chút sắt se. Tự nhiên tôi thấy thương xót.

    Năm nay, tôi nghỉ hè ở quê ngoại. Quê ngoại nhà tôi có một vẻ gì đó thật mơ hồ, một ngăn cách nào đó thật diệu vợi. Người con gái đã về nhà chồng là giã từ luôn quê mẹ như giã từ thời son trẻ của mình. Bổn phận làm vợ, làm mẹ bắt hình ảnh quê mẹ nhạt nhòa. Và hình ảnh ấy chỉ thiết tha sống dậy khi nỗi buồn nhuộm nắng hoàng hôn. Chiều chiều ra đứng cổng sau, Trông về quê mẹ ruột đau chìu chìu. Từ nỗi thiết tha của người mẹ, đứa con lớn lên, yêu quê ngoại hơn yêu quê nội. Quê nội gần gũi. Quê ngoại xa vời. Gần gũi quá, quen thuộc quá dễ gây chán nản. Xa vời quá, lạ lùng quá khiến ta mơ ước. Và ta ngỡ niềm mơ ước của ta sẽ no đầy nếu ta được sống ở quê ngoại rộn ràng trong ký ức, quê ngoại rực rỡ trong những câu chuyện kể của mẹ ta. Một lần.

    Mấy tháng trước, tôi đã đọc cuốn Quê Mẹ của Thanh Tịnh. Thấy tâm hồn xao xuyến chi lạ. Rồi đọc tiếp truyện ngắn Con So Về Nhà Mẹ, cũng của Thanh Tịnh, đăng trên Giai Phẩm Tết Ngày Nay, tôi rơm rớm nước mắt. Câu chuyện thật giản dị: Hai vợ chồng trẻ cưới nhau được một năm thì chị vợ mang thai. Nhà chị ở xóm làng bên kia sông. Gần ngày sinh đẻ, anh chồng đưa vợ về nhà mẹ sinh con so. Tiễn chân vợ tận bến đò anh chồng mới trở lại nhà mình. Con đò dẫn chị vợ về nhà mẹ. Chị nghĩ ngợi mông lung... Tôi không hỏi mẹ tôi xem ngày mẹ tôi sinh tôi, mẹ tôi có về quê ngoại. Nhưng câu chuyện Con So Về Nhà Mẹ bắt tôi tưởng tượng nhiều. Tôi thương mẹ tôi. Tôi thương quê ngoại vô vàn. Vì vậy, vụ hè năm nay, tôi xin bố mẹ tôi cho về nghỉ ngơi ở quê ngoại.

    Ở quê nội, tôi có ông chú nghiêm khắc. Ông là sinh viên luật khoa. Hè nào ông cũng về quê với những cuốn sách dầy cộm. Chú tôi kèm tôi học nửa buổi. Ông bắt tôi làm những bài toán hóc búa và bắt phân tích văn phạm Pháp văn mờ người. Tôi sợi nhất chia động từ. Mà chú tôi cứ muốn tôi thuộc lòng những động từ khuôn mẫu đủ "mốt", đủ "tăng". Những động từ bất quy tắt phải thuộc như cháo. Chú tôi đánh tôi thẳng tay. Ông thích đem "nhãn hiệu" sinh viên ra khuyên nhủ tôi. Mùa hạ, ở quê nội, không bao giờ là mùa xuân nữa. Ở quê ngoại thì tuyệt vời. Mọi người coi tôi như hãy còn bé bỏng. Các cậu tôi, các dì tôi thay phiên nhau chiều chuộng tôi, chỉ lo tôi buồn tôi đòi về tỉnh. Ông cậu út được phó thác trách nhiệm bày đặt các cuộc vui cho tôi chơi. Cậu tôi dẫn tôi đi câu.

    Những giấc ngủ trưa của tôi thường kéo dài đến xế chiều. Hễ thức dậy là có thức ăn ngay. Hôm nay bún rêu cua. Mai bánh cuốn. Mốt xôi chè... Ðêm trăng, bà ngoại tôi thả vó tôm. Tôi theo bà tôi đi cất vó. Những chú tôm giẫy đành đạch trong vó bằng vải màn cũ nhuộm nâu. Hắt các chú vào cái rổ có cành tre, các chú giẫy lạo xạo vui tai lắm. Trên đời, nếu những bữa cơm nào đáng nhớ nhất, tôi sẽ chẳng ngần ngại kể ngay những bữa cơm trưa ở quê ngoại nhà tôi. Một đĩa rau muống tía. Một bát tương nhỏ. Một đĩa tôm đầu đặc trứng kho mặn vắt chanh. Ly kỳ là bát nước rau muống. Ðang xanh, vắt chanh vào nó đỏ tía. Quê ngoại chiều chuộng tôi quá khiến tôi tưởng tôi còn bé bỏng thật tình, dù bà ngoại tôi vẫn nói đùa "Cháu lấy vợ được rồi đấy". Nghe con cá quẫy mạnh dữ.

    Ðiều làm tôi sung sướng hơn cả là, ở quê ngoại, không ai kèm tôi học hay giục tôi lo bài vở. Tôi tự do. Chiếc võng mắc dưới giàn hoa lý vườn sau, tôi nằm đọc truyện Tô Hoài, Ngọc Giao rồi ngủ. Cuốn sách cuối cùng đem về quê ngoại của tôi, tức mình ghê, không phải là cuốn truyện. Ðó là tập thơ Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính. Tôi đọc bài đầu, cất đi. Buồn quá, lại lôi ra đọc. Và tôi thích. Tôi học thuộc lòng. Tôi mê thơ từ đó, bắt đầu bằng thơ Nguyễn Bính. Tôi nhớ bài Cây bàng cuối thu:

    Thu đi trên những cành bàng
    Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi
    Hôm qua đã rụng một rồi
    Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn

    Hôm nay bởi thấy tôi buồn
    Lìa cành theo gió lá luồn qua song
    Hai tay ôm lá vào lòng
    Than ôi chiếc lá cuối cùng là đây


    Ba tháng hè ở quê ngoại, tôi biết yêu thơ, biết buồn. Quê ngoại nhà tôi phả vào tâm hồn tôi khói hương mơ mộng cùng lúc tuổi tôi vừa lớn. Cho nên, ngày khai trường năm nay, đi trên con đường cuối thu đầy lá chết, tôi thấy quanh tôi vướng mắc một nỗi buồn man mác. Phải chăng khi cậu trai biết buồn là cái nụ hoa đầu trong trái tim cậu muốn nở? Hay cánh bướm thoát khỏi hồn cậu đòi đậu trên một cánh hoa? Tôi đến trường hơi muộn. Vì đi chậm để thương những chiếc lá vàng. Vẫn cảnh náo nức cũ, cảnh náo nức của tựu trường. Tôi không tìm được một nỗi vuốt ve nào ở những mùi thơm của trường lớp, bàn ghế sau ba tháng hè xa vắng. Có lẽ, "mùa xuân trong mùa hạ" hãy còn quá ngon. Dường như, tựu trường không mang lại một xúc động cho niên thiếu. Kỷ niệm chỉ hiện hình và bao giăn nhịp điệu buồn tênh. Nhưng mùa xuân của học trò bước quá nhanh. Giờ cuối cùng một niên học chấm dứt, người học trò vui vẻ: Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết. Giờ cuối cùng của ba tháng hè chấm dứt, chẳng nghe ai mừng rỡ.

    Trống trường báo hiệu xếp hàng vào lớp. Tôi thẫn thờ vào lớp học cơ hồ con chim khuyên bị thả vào chiếc lồng tre. Cửa sổ mới sơn, cái cửa sổ thiếu mùi thơm của hoa cau, nhỏ bé nhìn rõ một khoảng trời không đủ các sắc mây. Tôi đâm ra khó tính và cảm giác quanh tôi hoàn toàn câm nín. Bàn ghế câm nín. Bảng đen câm nín. Ngay cả sự ồn ào sắp chỗ ngồi, tranh chỗ ngồi cũng câm nín. Thầy giáo xuất hiện. Những lời nói đầu: Năm nay là năm thi cử, các anh phải làm việc chuyên cần. Vượt đoạn đường này các anh mới hy vọng lên trung học đệ nhị cấp rồi lên đại học. Các anh chép thời khóa biểu... Bút viết ấn mạnh mực mới chịu ra. Tay run rẩy. Tôi chép thời khóa biểu khó khăn hơn làm bài tập đại số phương trình bậc hai. Buổi học đầu của niên học mới sao mà uể oải ! Thân hình nón. Ba điểm tạo nên một mặt phẳng. Tam giác quay không chịu sinh ra một bài thơ Nguyễn Bính.

    Sự uể oải kéo dài đúng một tuần lễ. Khi tôi nghĩ đến ông chú sinh viên luật khoa, nghĩ đến trường thi bên Nam Ðịnh, nghĩ đến tiếng thở dài não nuột của bố mẹ hay tin con mình thi trượt thì lớp học của tôi có một học sinh mới. Một nữ học sinh. Chiếc lồng nhốt con chim khuyên bỗng được thả lên một cánh hoa phượng. Vì tên nàng là Phượng. Trần Thị Hồng Phượng.

    Phượng là nữ sinh duy nhất của lớp đệ tứ. Lên trung học, tôi chuyên ngồi bàn đầu. Ông chú sinh viên của tôi khuyên tôi nên chiếm bàn đầu. "Vì thầy giảng bài dễ nghe. Vì thầy "chú ý" mình nhất. Vì sợ thầy "chú ý" mình hết dám lười biếng". Ðó là những điểm lợi của những anh học trò... gạo cỡ ông chú sinh viên của tôi. Còn những anh học trò "tài tử", yếu toán, kém lý hóa mà bị ngồi bàn đầu là một tai họa. Thầy yêu, cứ bắt lên bảng sửa toán thì nguy hiểm vô cùng. Thành thử, bàn đầu thường dành cho những tay xuất sắc. Con gái ưu tiên ngồi bàn đầu. Phượng vào học, tôi phải xuống bàn thứ hai, ngồi sau nàng, suốt buổi học ngắm suối tóc nàng chảy dài trên bờ vai. Khung cửa sổ nhỏ nhìn thấy một khoảng trời thiếu nhiều sắc mây bỗng trở nên vô nghĩa.
    Từ mái tóc Phượng tỏa ra một mùi thơm kỳ tuyệt. Mùi thơm của hương tóc hay mùi thơm con gái? Tôi ngột ngạt trong mùi thơm đó, tưởng chừng thấy một thế giới tiểu thuyết, một cõi trời thơ ở mái tóc nàng. Mùi thơm nàng bàng bạc khắp gian lớp. Không phân chất nổi nó giống mùi thơm nào của đất trời, hoa lá. Nhưng nó làm cả lớp học ngất ngây. Những anh học trò luộm thuộm nhất cũng đã chịu khó sửa lại cổ áo, mái tóc. Ngôn ngữ bạt mạng thì để dành lúc vắng nàng mới phóng ra. Nàng đã làm những anh học trò ngổ ngáo hóa thành nai vàng ngơ ngác. Nàng không hiểu nàng là quyền uy của lớp học. Ngồi bất động. Mắt chỉ nhìn lên bàn thầy. Giờ ra chơi nàng không thèm ra. Chơi với ai nhỉ ? Tôi nghĩ thế và bắt thương nàng cô đơn. Nàng là chiếc lá bàng cuối thu. Nàng là con chim khuyên.
    Hai hôm sau, tôi nhớ thật rõ, đúng rồi, hai hôm sau, nhằm giờ Việt văn, nàng quay xuống bàn tôi. Vừa học đoạn tài sắc của chị em cô Kiều và tôi thắc mắc tại sao Nguyễn Du quên tả mái tóc của Thúy Kiều. Cả Nguyễn Gia Thiều cũng quên tả mái tóc của người cung nữ. Người đời xưa không thích tả mái tóc giai nhân hay không biết tả mái tóc giai nhân? Có lẽ, ngày xưa, giai nhân đội khăn hoặc búi tóc nên thi sĩ không cảm nổi vẻ đẹp của mái tóc. Nàng quay xuống bất chợt khiến tôi hốt hoảng như một tên trộm bị bắt quả tang. Tên trộm đương say ngắm mái tóc nàng mà trách người tài tử ngày xưa. Ðôi mắt tôi, chắc chắn, chứa nhiều ý gian. Nàng mỉm cười. Nụ cười làm quen. Tôi ngẩn ngơ một nỗi. Nàng khẽ hỏi :
    - Anh có thể cho Phượng mượn những quyển vở của anh không ?
    Tôi thấy nóng ran đôi tai. Tôi thấy nhịp tim của tôi dồn dập. Tôi thấy hồn tôi thoát khỏi xác tôi và chui ra khung của sổ bay bổng lên trời cao.
    - Ðược chứ, anh?
    Tôi gật đầu, đáp gọn :
    - Ðược.
    Và hỏi :
    - Bây giờ à?
    Nàng cười. Lại cười:
    - Mai. Mai thứ bảy anh đem hết vở bài học, bài làm cho Phượng mượn. Chủ nhật Phượng ở nhà chép. Anh nhớ đấy nhé !
    Tôi gật đầu nữa. Nàng quay lên. Và tôi nguyền của tôi đần độn, ngu ngốc, thô lỗ, man di mọi rợ. Ðã đọc tiểu thuyết của Ngọc Giao, Tô Hoài, Thâm Tâm, Thạch Lam, thuộc hàng trăm câu đối thoại bay bướm, tình tứ mà có dịp đối thoại với con gái thì chỉ biết gật đầu và đáp, hỏi quê mùa, đồng chua nước mặn. Phượng hỏi mượn vở của tôi để chép bài cũ. Thế thôi. Thế mà cũng gây một "dư luận" trong lớp. Giờ ra chơi, bạn bè xúm quanh tôi phỏng vấn tình hình. Quan trọng lắm. Ðây là một biến cố của những chàng trai vừa lớn, những chàng trai hung hăng, bất chấp tất cả nhưng đứng trước mặt con gái thì đôi tay bỗng dài ngoẵng chẳng biết nên cất chỗ nào cho tiện, đôi mắt đang ngời sáng bỗng mờ tối, cái miệng đang liến thoắng bỗng nín thít, đôi khi nói chẳng nên lời, dùng ong tiểu thuyết, trong thơ. Tự nhiên, tôi mua sự bối rối và bầy đặt sự xấu hổ. Tôi yêu dễ dàng. Ôi, tình yêu dễ dàng, tình yêu đủ mầu sắc cầu vồng, tình yêu bong bóng trời mưa.
    Tan học về, tôi không thiết ăn cơm. Tháng chín tuyệt vời. Tựu trường tuyệt vời. Mùa thu năm nay mới là mùa xuân. Mùa hè vừa qua vất đi. Tiếng ve sầu, tiếng tu hú buồn nản. Không gian quê ngoại nằm gọn ở nụ cười của Phượng, người con gái hẳn đã yêu tôi, chỉ yêu tôi. Lục cuốn thơ Nguyễn Bính đọc vụ hè tìm một bài dặn dò xa xôi. Không có. Xin tiền mẹ bảo mua cuốn sách giáo khoa. Nhưng đến hiệu sách mua tập Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính. Cả buổi trưa mê man đọc và gửi lòng mình vào thơ. Tuổi trẻ, thơ và tình yêu. Ba thứ đó quyện lấy nhau, gắn bó keo sơn. Thiếu nó là không có tuổi trẻ, là tuổi trẻ què cụt, tuổi trẻ quáng gà, tuổi trẻ tàn bạo, tuổi trẻ thành đàn ông ưa lý sự, bất mãn nhằng và đói kém kỷ niệm làm người. Hạnh phúc không bao giờ đến vớ vẫn.

    Nguyễn Bính chưa giúp tôi được điều gì. Tôi cũng chưa hiểu mình nên dở cái trò gì trong những cuốn tập bài học, bài làm sắp cho Phượng mượn. Thôi hãy gượm. Vội vàng chi? Tôi tự nhủ tôi và sắp xếp những cuốn vở thật tươm tất. Ít ra, nàng sẽ phục ta là người học trò gương mẫu, sách vở sạch sẽ, bài làm toàn mười tám điểm trên hai mươi. Tôi nhìn tôi trong gương. Khen thầm: Ðược đấy, mày có vẻ Lục Vân Tiên lắm, Chương ạ ! Mày thuê nặn bức tượng nhỏ sửa soạn tặng Kiều Nguyệt Nga đi. Buổi chiều xuống thong thả. Những mảng nắng hoàng hôn đến với tôi bằng ý nghĩ khác. Tôi vừa biết thế nào là từng giọt nắng và nỗi rét mướt của thời gian chờ đợi.

    Sáng hôm sau, qua một đêm chiêm bao đẹp, giã từ chiêm bao đẹp, tôi đến trường thật sớm. Sân trường còn vắng hoe. Thế mà, ở gian lớp của tôi, Phượng đã có mặt. Qua song cửa sổ nhìn vào, Phượng giống hệt con chim khuyên cô độc. Tôi bước vào lớp. Nhẹ nhàng lắm nhưng vẫn làm lay động chiếc lồng. Con chim khuyên giật mình. Rồi đôi mắt nó long lanh mừng rỡ. Phượng cười. Nụ cười buổi sáng rực rỡ như bình minh. Nàng đứng dậy:
    - Anh tới sớm quá.
    - Phượng tới sớm hơn tôi.
    Nàng đỡ chồng vở trên tay tôi. Cử chỉ quen thân và hồn nhiên. Tôi bối rối. Tự nhiên, tôi cười vô duyên dáng, đoảng vị. Nàng ngó chăm chăm tên tôi viết nắn nót, viết bằng bút "lông" ở cái "ê ti két". Phượng thích thú :
    - Biết tên anh rồi. Thiên Chương. Những một ngàn chương cơ à?
    - Không phải đâu.
    - Thế là gì ?
    - Là những vì sao, là tinh tú, là văn chương trên trời.
    - Tên anh hay tuyệt.
    Tôi đã ngồi xuống ghế của tôi. Phượng cũng ngồi. Nàng ngồi quay lưng về phía bảng đen. Như vậy, hai chúng tôi giáp mặt nhau. Tôi thấy khuôn mặt nàng đẹp cơ hồ những giấc chiêm bao chợt đến, chợt đi đêm qua. Tôi chưa hiểu Phượng đẹp đến độ nào, chỉ biết nàng đang làm tôi xao xuyến. Có lẽ, người con gái ta quen trước nhất ở đoạn đầu niên thiếu mà ta tưởng chừng đã yêu nàng là người con gái đẹp nhất. Nếu một mùi hương khó phân chất, theo thi sĩ, thì Phượng càng không nên so sánh với bất cứ ai, bất cứ cái gì, trừ những chiêm bao đẹp. Nàng hỏi :
    - Anh Chương là học trò mới?
    - Tôi là ma cũ.
    - Anh định bắt nạt ma mới chăng?
    - Tôi không dám bắt nạt ai. Phượng chắc không phải người tỉnh này?
    - Vâng.
    - Mọi năm học đâu?
    - Hà Nội.
    - Ở đây buồn lắm, tỉnh lỵ nhỏ bé, dân đồng chua nước mặn.
    - Nhưng đời sống êm đềm. Học trò hiền ghê ghê là. Họ tránh đường cho Phượng đi và chẳng ai trêu cợt. À, hè qua anh có đi đâu chơi không?
    - Về quê ngoại.
    - Sao anh không ra bãi biển Ðồng Châu. Tỉnh này có bãi biển Ðồng Châu đẹp nhất Việt Nam.
    - Quê ngoại tôi đẹp hơn nhiều.
    Tôi kể chuyện quê ngoại nhà tôi cho Phượng nghe. Nàng ước ao một dịp hè nào đó sẽ theo tôi về quê ngoại nhà tôi. Câu chuyện đang vui và tôi hết bối rối thì bỗng dưng tôi nói một câu ngu ngốc :
    - Mai Phượng sẽ chép bài mỏi tay.
    Phượng mím môi rồi bẻ bão tay :
    - Chắc phải mua một lọ dầu Nhị Thiên Ðường.
    Tôi hỏi :
    - Ðể làm gì?
    Phượng nheo mắt :
    - Anh không hiểu để làm gì à?
    Tôi gật đầu :
    - Ðể làm gì vậy?
    Phượng cười:
    - Ðể bóp tay sau khi chép hết bài cũ.
    Tôi suy nghĩ giây lát:
    - Hay là...
    - Hay là bóp tay bằng dầu Con Hổ?
    - Hay là Phượng để tôi chép bài giúp.
    - Rồi Phượng làm gì?
    - Phượng...
    Tôi không biết trả lời sao. Im lặng. Tôi đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ. Một khoảng trời của tôi còn y nguyên. Vẫn thiếu đủ sắc mây song nó mới phủ lên một vẻ kỳ ảo. Tôi nghe rõ tiếng trái tim tôi đập. Tôi chớp mắt và tưởng một bình minh nạm vàng ngập lụt trong mắt tôi. Tháng chín quả là tuyệt vời. Tôi đứng lên :
    - Họ sắp tới.
    Và tôi bước nhanh khỏi lớp. Một lúc, sân trường đã đông đầy học trò. Những người bạn tinh nghịch vỗ vai tôi thân mật:
    - Kiều Nguyệt Nga đến sớm nghê, Kim Liên đâu hả, Lục Vân Tiên? Phong Lai cướp mất nàng rồi ư?
    Tôi làm bộ nghiêm nghị:
    - Ðừng đùa nhảm.
    Thì họ dọa:

    - Bạn chê Lục Vân Tiên, tôi sẽ là Lục Vân Tiên đánh Phong Lai cứu Kiều Nguyệt Nga.

    Tôi bỗng dậy từ đáy lòng chút gì hờn ghen, khó chịu. Hai giờ Ðại số, tôi không nghe kịp thầy giảng. Hồn tôi thả trên dòng suối tóc Phượng. Tôi nhớ một đoạn giảng văn óng ả học năm ngoái, đoạn giảng văn dịch của Chateaubriand. Suối tóc Phượng như thác Niagara. Và tôi, tôi là Chateaubriand đứng ngắm thác chảy "Mơ màng trên những bờ nước rộng, rút lại thấy một mình đứng trước Thượng Ðế". Mơ màng trên suối tóc ngạt ngào hương thơm và thấy mình ngồi dưới bảng đen. Tiếng phấn viết ken két nhằng nhịt những con số dễ làm nản chí. Ðừng tháng Mười vội. Thong thả đã. Hãy là đầu tháng Chín. Tháng Chín kéo dài cho mộng mơ no nê rồi tháng Mười không sao đâu. Tháng Chín cho tôi đủ thì giờ trách móc tôi khờ khạo, bí tắc một câu trả lời "Rồi Phượng làm gì".

    - Anh Chương !

    - Dạ.

    - Anh đang mơ mộng gì đó?

    - Dạ, con đang nghe bài.

    - Hiểu chứ?

    - Dạ hiểu.

    - Lên bảng!

    Tôi lên bảng, run run cầm cục phấn. Tay trái xóa bảng. Bụi phấn bay tung. Tôi quên tôi sắp bị mắng. Tưởng tượng bụi phấn như bụi tuyết trắng xóa đầu mình. Tưởng tượng mái tóc mình là cành lê điểm hoa phấn trắng. Tưởng tượng bụi phấn cơ hồ lớp sương buồn. Sương buồn ôm kín non sông. Ấy là cơn mơ mộng của cậu học trò. Tôi đang đóng trọn vẹn vai trò cậu ta. Và phải khó khăn lắm mới làm nổi bài ứng dụng tầm thường. Thầy đuổi về chổ:

    - Năm nay xuống dốc đấy nhé, Chương. Tại sao thế?

    Thưa thầy tại con bận tìm câu trả lời "Rồi Phượng làm gì". Câu trả lời khó gấp trăm lần bài toán khó nhất.

    - Phải cố gắng.

    - Dạ.

    Tôi nghĩ thầm: Tháng Chín chưa dứt. Tháng tuyệt vời của tôi chưa thể giã từ tôi. Ít nhất, trước khi giã từ, nó nên cho tôi một kỷ niệm. Phượng quay xuống:

    - Anh có buồn không ?

    Tôi nói :

    - Tôi chỉ buồn vì tháng Chín qua mau.

    - Tại sao?

    Vì chưa kiếm ra câu trả lời Phượng "Rồi Phượng làm gì" nếu tôi chép bài giùm Phượng.

    Phượng lại cười:

    - Liệu cuối tháng Chín anh kiếm nổi chưa?

    Tôi gật đầu:

    - May ra.

    Hai giờ nối tiếp là hai giờ Vạn Vật. Tôi không thèm nghe giảng bài. Thầy cứ giảng và tôi cứa vẽ mái tóc Phượng trong quyển vở nháp. Chợt nhớ bài thơ rất học trò của Tế Hanh:

    Những vở: Soạn bài hay toán, luận
    Ðịa dư, cách trí... dáng lo âu
    Chỉnh tề đầy đủ như ông giáo
    Vở nháp lôi thôi giống học trò

    Bìa rách lung lay giấy chẳng lành
    Mực thì đủ thứ: Tím, đen, xanh...
    Không cần giấy thấm, không cần thước
    Bài chép chưa xong đã chép hình

    Nháp luận chữ tây rồi quốc văn
    Ðôi lời thầy giảng chép lăng quăng
    Trò chơi giải trí bên bài toán
    Rất khó, bài thơ trải điệu vần...

    Và các tên người trạm khắp trường
    Làn môi, cặp mắt, vẽ từng đường
    Ấy là những lúc chàng trai nhớ
    Nghĩ đến ngày kia thoát khỏi trường.

    Ðó, đâu riêng gì tôi mơ mộng? Và đâu riêng gì tôi vẽ mái tóc một người bạn gái vào cuốn vở nháp? Chàng trai Tế Hanh vẽ làn môi, cặp mắt con gái và ghi nhằng nhịt tên các nàng để nghĩ "ngày kia thoát khỏi trường". Chứ tôi, tôi chỉ vẽ một mái tóc, chỉ viết một tên người có mái tóc và không bao giờ nghĩ ngày mai dời bỏ trường lớp. Tháng chín với tôi còn yêu dấu, nữa là trường lớp của tôi. Phượng không biết tôi đang vẽ mái tóc nàng. Mái tóc nàng là tấm bản đồ dẫn hồn tôi phiêu du đến bờ mơ bãi mộng. "Rồi Phượng làm gì" Phượng đừng làm gì cả, Phượng hãy ngồi yên cho tôi trốn những giờ học khô khan trên nụ cười nàng. Câu trả lời đã có. Nhưng cuối tháng chín liệu tôi dám trả lời Phượng không?

  3. Anh phải viết ngày này qua tháng nọ
    Viết đến khi anh phờ phạc dại khờ dĩ vãng hiện tại anh đảo lộn mập mờ.
    Viết đến khi anh đớn đau chết ngất.
    Đó là lúc người ta tìm ra sự thật để kết án anh dù anh chẳng có tội chi

    Sài Gòn Trường Ca

    1.-

    Em thuở ấy còn hoa phong nhụy
    Trên bản đồ địa lý giáo khoa thư
    Rất thật thà và cũng rất ngu ngơ
    Anh mực tím vẽ giấc mơ viễn xứ
    Giấy trắng học trò viết tên em đầy vở
    Viết đầy hồn tuổi nhỏ của anh xưa
    Chuyến tầu vô Nam còi thét trong mơ
    Nên ga bến chỉ đợi chờ tưởng tượng
    Thế đã đủ làm anh sung sướng
    Đủ làm anh chiêm ngưỡng em rồi
    Hỡi Sài Gòn xa lạ của anh ơi
    Anh thầm gọi khi đất trời hiu quạnh
    Nuốt miếng nắng vàng lòng thôi mưa lạnh
    Và thèm bay như đôi cánh hạc hồng
    Đêm sách đèn chữ nghĩa chạy lung tung
    Ngày trường lớp cũng uổng công thầy dậy
    Cái bảng đen mịt mù sao anh thấy
    Xa nơi anh lộng lẫy một Sài gòn
    Một Sài Gòn tươi mát ngọt ngon
    Đang vẫy gọi lời mật ong say đắm
    Bước chân đời hiền ngoan nhưng chậm lắm
    Anh theo nhanh mà vẫn cứ dại khờ
    Sài gòn ơi, biết đến bao giờ
    Anh khôn lớn để ước mơ đầy tuổi



    2.-

    Năm anh mười chín
    Đường hoa xưa lầy lội
    Quê nhà anh cằn cỗi thê lương
    Như chim hạc hồng anh vội trốn mùa đông
    Đôi cánh mỏng trĩu cong tâm sự
    Tổ quốc mình còn ho lao quá khứ
    Đã ung thư một hiện tại qua phân
    Anh đến cùng em, anh đến thật gần
    Với lòng anh bản đời ngày xưa vẽ dở
    Em nắng vàng xoài, mưa xanh vú sữa
    Nỗi sầu riêng hồn anh lịm cơn mê
    Sông miền Nam chẳng ai thích ngăn đê
    Nên tình cảm mênh mông biển nước
    Sài Gòn em là mộng ước
    Em áo bà ba đơn sơ và em giọng nói thiệt mùi
    Em chân tình và em tha thiết quá em ơi
    Xao xuyến ù ơ, bồi hồi vọng cổ
    Em cho anh hơi thở
    Cho anh niềm tin xây dựng tương lai
    Em cho anh cả đất lẫn trời
    Cả nắng thi ca, cả mưa tiểu thuyết
    Em cho anh đếm làm sao hết
    Đời yên vui nhờ liếp ấm em che
    Đời yên vui nhờ một chốn lui về
    Anh thấy rõ ngọn đèn soi cuộc sống
    Phóng tầm mắt anh nhìn xa trông rộng
    Thế giới ơi, tôi kiêu hãnh có Sài gòn.
    Nếu phải lìa em, anh sẽ mỏi mòn
    Anh sẽ giối giăng đọc tên em từng hàng cây, con phố
    Theo bước chân người anh rày đây mai đó
    Mỗi chia ly mỗi gần gũi em hơn
    Mỗi chia ly mỗi thơm ngát nỗi buồn
    Anh mới hiểu
    Sài gòn trái tim anh, tim đất nước
    Anh mới hiểu
    Tại sao mình yêu tổ quốc
    Và tại sao mình yêu dấu Sài Gòn
    Em cho anh nhiều, em nhớ nổi không
    Tiếng hát thê lương, điệu ru kỷ niệm
    Em cho anh no tròn sự nghiệp
    Để anh đi làm đẹp cuộc đời
    Sài Gòn
    Tên em trên những vệt son môi
    trong ánh mắt và trong hơi thở
    trong hạnh phúc và trong đau khổ
    ở tuổi non và ở tuổi già
    ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua
    ở hôm nay anh sống và ngày mai anh chết
    ở ngàn dặm kẻ chân mây mù mịt
    ở tấc gang người cuối phố đầu phường
    ở sớm công viên ngọn cỏ ngậm sương
    ở chiều bùng binh đèn mầu phô sắc
    ở bình minh nụ cười
    ở hoàng hôn nước mắt
    ở chốn ngoài ta
    ở cõi vô thường
    ở nghẹn ngào vết chém thê lương
    của lịch sử trăm năm phản bội
    của lịch sử làm nên bởi những tên gian dối
    những tên bù nhìn yêu nước độc quyền
    những tên tay sai tráo trở đảo điên
    Em ngự đền đài, em là đà huyệt mộ
    ở mọi nơi vì em là thành phố
    Là chứng nhân và là cả nạn nhân
    Anh yêu em muốn cắn nát vai trần
    Muốn ghì chặt môi hôn bây giờ và mãi mãi

    3.-

    Sài Gòn khăn sô
    Mùa xuân tím tái
    Lưỡi lê đàng ngoài thù hận đàng trong
    Chim hạc hồng tiếp tục trốn mùa đông
    Chả thấy Hoàng Diệu nào tuẫn tiết
    Anh chỉ thấy bọn tướng hèn khốn kiếp
    Lột xé chiến bào, phi tang tích huân chương
    Đứa tham sinh rời lủi quê hương
    Đứa úy tử gục đầu chịu trói
    Sài gòn ơi, anh biết em đau nhói
    Anh biết em nhục nỗi tháng Tư
    Nỗi nhục ghim sâu, em vẫn thủ đô
    Vẫn rực rỡ tự hào những người
    Ta không bỏ em cao thượng
    Ta ở lại địa ngục trần gian
    và ta tự tìm lên thiên đàng hạnh phúc
    Bởi vì ta được khóc với Sài gòn
    Nước mắt ta nhỏ xuống vết thương non
    Vết thương xót xa làm ta khôn lớn

    Sài Gòn
    Em đã cho anh hai mươi năm sung sướng
    Anh phải van lơn để hứng chịu cơ cầu
    Ngày mai, trong ngục tù hay phát vãng rừng sâu
    Anh không thẹn khi nói: Anh yêu em tha thiết
    Hãy mơn nhẹ nỗi đau, đừng rên xiết
    Hãy thinh không niềm bí ẩn trùng khơi
    Sài Gòn ơi
    mãi là em nhé,
    Sài Gòn ơi

    Dù biển dâu có khoác áo chồn tinh
    lên tên em diễm tuyệt
    Mãi là nắng thi ca là mưa tiểu thuyết
    Dù đường xưa đầy dấu vết kên kên
    Mãi là em,
    mãi là em ngơ ngác, dịu hiền
    Để anh vững hành trang xa em biệt xứ
    Để anh vỗ về tương lai bằng điệu ru quá khứ
    Để anh yên vui còn một chốn lui về



    4.-

    Tháng sáu mây chì
    Mưa tiễn anh đi
    Mưa sướt mướt hay Sài Gòn sướt mướt
    Anh đi theo nổi trôi vận nước
    Anh đi theo dâu biển quê nhà
    Anh hết là anh
    Anh đã là ta
    Cái tiểu ngã nhập vào đại ngã
    Nỗi thống khổ chẳng riêng ai chịu nữa
    Nó đè lên vai cả dân tộc
    cả thế giới chúng mình
    Nó trong giọt nước mắt già và trên ngọn tóc xanh
    Nó ở cuộc đời thênh thang
    và ngục tù tăm tối
    Nó ở ban mai kinh nguyện cầu
    nửa đêm kinh sám hối
    ở hồi chuông cáo phó
    ở tiếng khóc chào đời
    Nó gầm gừ đe dọa dài dài
    Sau mỗi hòa bình của chiến tranh ý thức hệ
    Nó là tham lam, ích kỷ
    là kiêu căng, ngu xuẩn là độc ác dối gian
    Nó xui Việt Nam tàn nhẫn với Việt Nam
    Và bắt nhân loại phải rời xa nhân loại
    Nó đã bắt ta xa em, Sài gòn hỡi
    Nó đầy ta suối độc, rừng thiêng
    Nó còn giả vờ giăng khẩu hiệu nhân quyền
    Con ó bảo mỏ mình thôi nhọn hoắt
    và con gấu khoe chân mình cùn nanh vuốt
    Nhưng loài người vẫn bị mổ mắt, vẫn bị cấu cào
    Ta thì vẫn nằm dài trong những đề lao
    Nghe nỗi nhớ Sài Gòn thơm ngát.


    5.-

    Mùa thu nghe con cuốc cuốc
    Có gần ta những buổi chiều nhung
    Em đến luôn luôn, em đến rất thường
    Với cỏ úa công viên, với cây khô tước vỏ
    Với phấn son, lược gương vất bỏ
    Với móng tay dài, ánh mắt diều hâu
    Phan Đình Phùng tạm trú nơi đâu
    Trần Quý Cáp hộ nào chứa đó

    Ôi, Cần Vương trăm năm cũ
    Cũng biển dâu dâu biển dưới mồ
    Giải khăn sô trên vừng trán tháng Tư
    Cho người chết và cho lịch sử
    Cho nhiệt tình và cho danh dự
    Cho quên trời xa cho nhớ đất gần
    Em đến hoài hoài, em đến thật chăm
    Với bước chân em rã rời cõi tạm
    Với mũi tên găm tim xưng phổi nám
    Em gọi ta về máu đỏ chiêm bao

    Em gọi ta về xao xuyến dạt dào
    Em có hiểu vì sao ta ở lại
    Em có hiểu vì sao ta đóng đinh chịu tội
    Sài gòn ơi, nay mới thật yêu em
    Xưa đã yêu rất mướt rất mềm
    Đã tha thiết chỉ gọi là tha thiết
    Chưa cuồng điên, dại rồ, mãnh liệt
    Vẫn ngỡ tình yêu khói nắng mơ hồ
    Vẫn tưởng tình yêu bọt nước hư vô
    Nên mới có bây giờ ta sám hối

    Ta tình nguyện lưu đầy chuộc lỗi
    Bởi mãi rong chơi nên đánh mất Sài Gòn
    Bởi trót lơ là làm héo đóa môi son
    Làm suối lệ thành đại dương nước mắt
    Hạnh phúc trong tay ta vừa vuột mất
    Em gọi ta về hiu hắt dặm đường xa
    Ta những chàng trai của Sài Gòn mở hội hôm qua
    Của hôm nay đề lao, tập trung lao cải
    Của Sơn La, Lai Châu, Lào Kay, Yên Bái
    Của Ninh Bình, Vĩnh Phú, Gia Trung
    Của Kàtum, Thanh Nghệ, Phước Long
    Của Trảng Lớn, Vườn Đào, Đồng Tháp
    Của Chí Hòa, Hàm Tân, Sa ác
    Của Gia Rai, Xuyên Mộc, vân vân
    Hỡi Sài gòn, người tình chói lọi chân dung
    Em gắng đợi ta về trong nỗi nhớ



    6.-

    Anh hỏi trời cao
    Trời cao hớn hở
    Anh chỉ đất thấp
    Đất thấp mặn nồng
    Có tình yêu, hạnh phúc nào già không
    Trời đất nói hạnh phúc, tình yêu nghìn năm son trẻ
    Và thành phố anh yêu cũng nghìn năm như thế
    Sài gòn ơi, em trẻ mãi chẳng già
    Anh sẽ về thắp sáng ngọn đèn xưa
    Vẽ lại chân dung em
    bản đồ giáo khoa thư địa lý
    Viết tên em Sài Gòn hoa phong nhụy

    Sài Gòn tình thơ anh
    Sài Gòn ấu thơ anh
    Sài Gòn mưa tâm tư
    Sài Gòn nắng tâm tình
    Sài Gòn mênh mông
    Sài Gòn vời vợi
    Sài Gòn rất tươi
    Sài Gòn thật mới
    Thế giới ơi, tôi không mất Sài Gòn

    (Sa Ác, 30-4-1979)