Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. TRỞ VỀ, ĐI TỚI
    Author: Nhạc sĩ Tuấn Khanh Posted on: 2017-11-11
    Trong một chuyến đi quốc nội, vô tình đoàn người đang xếp hàng lấy vé ra máy bay bỗng xuất hiện vài người khách Trung Quốc. Đó là những người khách hết sức ung dung. Họ ăn nói lớn tiếng, cười to và tự nhiên, không khác gì dân bản xứ. Hàng dài người Việt đang xếp hàng im lặng nhìn. Mỗi người một suy nghĩ.
    Bất chợt 2 người khách Việt nói với nhau:
    . -“Không biết mình qua Trung Quốc có tự nhiên được vậy không?”. Lời tán gẫu nhỏ, nhưng lại đủ cho vài người chung quanh nghe. Đột nhiên ai nấy đều cười.
    . Những nụ cười không cùng ý nghĩa. “Thì tụi nó qua đây, tự nhiên như nước nó rồi còn gì”, một người khác nói bâng quơ, nhưng như muốn tất cả những người Việt còn lại cùng nghe. Trên mỗi gương mặt Việt lại có một nụ cười. Cũng thật khó tả.
    Một người đàn ông lớn tuổi, đầu bạc trắng, cắt ngắn, đi dọc với tôi, kể rằng vừa rồi ông gặp một người khách Trung Quốc. Câu chuyện về ranh giới quốc gia, khác biệt dân tộc, chiến tranh… lại nổ ra.
    Người Trung Quốc rất tự tin, nói rằng từ nhỏ, ông ta đã được học về lịch sử, nói rằng Việt Nam thuộc về Trung Quốc từ ngàn năm, nhưng sau đó làm phản và tách ra. Vì vậy chuyện phải quay trở về mẫu quốc là điều tất nhiên.
    -“Tụi tao có một tỷ người học thuộc điều đó, tụi mày chỉ có một trăm triệu, cãi không lại tụi tao đâu”, người khách Trung Quốc này cười lớn. Dù không ác ý, nhưng sự diễn đạt rất thật của ông làm tôi lẫn người đàn ông Việt tóc bạc khi kể cho nhau nghe, đều nao lòng.
    Nếu như quả có một cuộc trở về định mệnh như vậy, thật xót xa cho lịch sử hàng ngàn năm của cha ông Việt đã chống chọi, bứt xiềng gông cho con cháu hôm nay. Một cuộc trở về như vậy, có lẽ chỉ có một ít người muốn, còn tất cả còn lại đều đau đớn, căm gan. Nhưng hôm nay, dường như mọi thứ đang “đi tới” chứ không phải “trở về”.
    Cuối tháng 10, ba chiếc tàu chiến Trung Quốc ghé cảnh Cam Ranh. Chính quyền tỉnh Khánh Hòa huy động người dân và đoàn thể ra phất cờ tiếp đón binh lính Trung Quốc. Chiếc tàu dẫn đầu là Tương Đàm 531, tên gọi của chiếc chiến hạm đã tấn công Gạc Ma năm 1988, thảm sát 64 binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam khi không có khả năng kháng cự. Nhiều năm sau cuộc chiến Gạc Ma, chiến hạm này đã được bán cho Bangladesh, nhưng vì cái tên Xiangtan/Tương Đàm gợi nhớ về chiến công hiển hách năm 1988, nên khi đóng tàu mới, chiến hạm Tương Đàm lại ra đời như niềm kiêu hãnh của ngành hải quân Trung Quốc. Điều khác nhau duy nhất là chiếc Tương Đàm cũ, có số hiệu 556, còn chiếc mới có số hiệu 531.
    Khi ca sĩ Khánh Ly hát ở Sài Gòn, mọi sự ngăn cấm của các quan chức đều dựa trên ý rằng: “không muốn gợi nhớ về một quá khứ không tốt”.
    Sau năm 1975, hơn 15.000 đầu sách của hai nền Cộng hòa miền Nam Việt Nam bị đốt, bị cấm và bị truy lùng vì cho là: “gợi lại hình ảnh và văn hóa đồi trụy”.
    Hàng chục ngàn bài hát cùng các văn nghệ sĩ miền Nam bị cấm, cô lập như kẻ thù. Thậm chí có người đã phải vào tù vì có “tội lỗi với nhân dân”…
    Ấy nhưng Tương Đàm, cái tên đẫm máu người Việt ngang nhiên mang quá khứ đi vào hiện tại, từ Gạc Ma vào nơi quan yếu của Việt Nam, Cam Ranh, lại được chính quyền mở champagne chào đón.
    Chắc những người được lệnh chào đón ba chiếc tàu chiến Trung Quốc cũng không biết rằng, vào lúc này, Bắc Kinh đã hoàn thành xong vành đai chiến lược để bao vây đảo Trường Sa của Việt Nam.
    Phi đạn và chiến đấu cơ của Trung Quốc tạo nên một vòng hỏa tuyến đảo đá Chữ Thập, Su Bi, Châu Viên, Vành Khăn, Gaven, Tư Nghĩa, Gạc Ma. Từ đây, Trung Quốc có khả năng uy hiếp trực tiếp Sài Gòn, Cam Ranh và Trường Sa. Tờ Focus Taiwan đưa tin này, mới đây, vào ngày 18/10/2016.
    Người Trung Quốc chắc không còn nói chuyện Việt Nam trở về, mà hình như họ chọn cách đi tới, vì mọi thứ đều đã thuận lợi.
    Hôm nay thì chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã chính thức có chính sách mỗi ngày cho 100 xe Trung Quốc lái thẳng vào Việt Nam. Một sự ưu ái khá lạ lùng và sẽ sớm là chuyện của các cửa khẩu ở những vùng khác noi theo, mà chắc con số 100 xe mỗi ngày sẽ dần chỉ là thông báo ước lệ.
    Không lâu nữa, năm 2018, bởi những ràng buộc bởi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), một loại thỏa ước thương mại mà Bắc Kinh lập ra để đối đầu với TPP của Mỹ, từ Trung Quốc, các loại động vật sống dùng để nhân giống; nhiều loại thịt, nhiều loại thuỷ hải sản đông lạnh và hoa quả sẽ được miễn thuế 0% khi vào Việt Nam. Thật đúng lúc, giữa lúc bốn tỉnh miền Trung chịu nạn biển nhiễm độc, lũ lụt tàn phá hoa màu, nhà cửa, giới chăn nuôi khánh kiệt… thì ngay lúc họ chuẩn bị hồi phục, đã bị nhấn chìm trong cơn đại hồng thủy nhập khẩu 0% từ Trung Quốc.
    Tôi có kể với bạn về chuyện người Trung Quốc học lịch sử rằng Việt Nam phải trở về mẫu quốc !
    Có một sự thay đổi nhỏ, có màu máu và nước mắt, là chính quyền Cộng sản Trung Quốc đang sốt ruột đi tới thật nhanh, chứ không đợi ai đó trở về.
    Cuộc đi tới này lộng lẫy và man rợ không kém gì các đạo quân của Thành Cát Tư Hãn tràn tới: cỏ không thể mọc, con người chỉ còn biết quỳ xuống và ngửa mặt khóc than vì sao đất nước chúng ta lại đến nông nỗi như vầy.
    Trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tháng 9 năm nay, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã hứa là sẽ sớm quyết việc thanh toán thương mại Việt Nam – Trung Quốc bằng đồng Nhân dân tệ.
    Còn bà phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Thị Hồng, người tháp tùng thủ tướng, thì hân hoan nói rằng chuyện này không khó, vì lâu nay các tỉnh phía Bắc đã “thử” làm như vậy rồi.
    Không biết Quốc hội Việt Nam có biết về việc này không?
    Liệu Quốc hội mới có ít hơn những kẻ ngủ gục, chơi game và xin nghỉ sớm để lên tiếng về những hiểm họa như vậy?
    Bất kỳ ai có một học vấn tối thiểu cấp trung học, cũng đều hiểu việc Nhân dân tệ hóa nền kinh tế Việt Nam mang đến nguy cơ lệ thuộc như thế nào. Đặc biệt, Trung Quốc đang “đi tới” rất ào ạt trong sự hân hoan của những kẻ như bà Nguyễn Thị Hồng, và trong với bối cảnh vô cùng thuận lợi khi hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đồng bộ hô to chương trình chống đô-la hóa bằng quyết định 2589/QĐ-NHNN, hạ lãi suất tiền gửi bằng đô-la.
    Trung Quốc đang biến nhiều quốc gia Châu phi trở thành những chư hầu kinh tế, cũng bằng cách dùng nhân dân tệ hóa như vậy.
    Hiện tại Zimbabwe, Angola và Nam Phi đã trở thành những quốc gia lệ thuộc kinh tế nặng nề vào Trung Quốc khi áp dụng thanh khoản bằng đồng Nhân dân tệ.
    Bạn nghĩ rằng chỉ là vấn đề thương mại?
    Áp lực kinh tế này, cũng đã trở thành áp lực chính trị khiến Nam Phi 3 lần từ chối cấp visa cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, chỉ vì muốn ve vuốt Bắc Kinh. Đại hội những người đoạt giải Nobel Hòa Bình tại Cape Town ở Nam Phi vào năm 2014, kể cả thị trưởng của thành phố cũng đã tuyên bố hủy hội nghị, nhằm tố cáo Pretoria đã cúi đầu trước Trung Quốc.
    Campuchia cũng vậy, trong vòng xoáy trở thành chư hầu của Bắc Kinh để chống lại Việt Nam, chính quyền này cũng đã ướm việc chính thức thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ, khởi đầu bằng du lịch.
    Trong câu chuyện mà người đàn ông nói giọng Bắc, tóc bạc, kể với tôi về cuộc trò chuyện với người Trung Quốc. Giọng cười của ông rất sảng khoái. Một người biết ông, nói nhỏ với tôi rằng ông đã cùng gia đình tìm đường định cư ở nước ngoài rồi. Có lẽ, vì vậy mà giọng cười của ông rất nhẹ nhàng, tiếng cười của một người đứng ngoài một nồi nước sôi sùng sục, hé nắp nhìn vào.
    Nhưng tôi và hàng triệu con người khác – những người ở trong nồi – chắc không thể an nhiên được như ông. Vì bởi chúng ta là những người ở lại, là những người không có khả năng ra đi hay đã quyết chọn sống còn trên mảnh đất này. Tôi chắc rằng sẽ không có nhiều những kẻ muốn “trở về” trong chiếc nồi đóng kín nắp ấy.
    Nhưng chúng ta lại chứng kiến một cuộc đi tới, chà xát mọi thứ, không có sự xót thương di sản cha ông để lại.
    Cuộc đi tới của những chiến hạm Trung Quốc, của những đoàn xe tự do đi lại trên đất nước này, những đợt cuồng phong áp thuế 0% dẫm nát nông dân Việt Nam, và có thể có cả những đồng Nhân dân tệ mà chúng ta sẽ cầm trên tay để làm quen, không còn xa nữa.
    Tôi vừa leo ra khỏi nắp nồi ấy, bằng hy vọng và sự thật về quê hương của mình. Và tôi nhận thấy mình có một niềm tin mới, rằng sẽ không có một sự “trở về” hay “đi tới” nào cả. .
    Dân tộc này, đất nước này không thể đi vào khốn khó, nếu người người cùng nuôi hy vọng và nhìn bằng sự thật về đất nước mình, dân tộc mình, và cùng nhau leo ra khỏi nắp nồi đóng kín đó, trước khi quá muộn.

    Tuấn Khanh
  2. HOÀNG CƠ ĐỊNH, ANH LÀ AI?
    Author: Bằng Phong Đạng Văn Âu Posted on: 2017-10-30
    Thành Phố Westminster, Quận Cam, Thủ đô Người Việt Tị Nạn Cộng Sản,
    Ngày Chúa Nhật, 29 tháng 10 năm 2017.


    Thưa anh Hoàng Cơ Định,
    Tôi không cần tự giới thiệu với anh, tôi là ai. Bởi vì Mặt Trận đã từng cho người gọi điện thoại dọa giết tôi, khủng bố tinh thần vợ con tôi, khi tôi đăng bài “Vàng Rơi Không Tiếc” của nhà văn Không Quân Đào Vũ Anh Hùng trên giai phẩm Lý Tưởng, yêu cầu Nguyễn Kim Huờn cho biết sự thật về câu tuyên bố “10 ngàn quân” của Tướng Hoàng Cơ Minh. Anh Trần văn Nghiêm, nguyên Phi đoàn trưởng Phi đoàn 516, người hùng Bắc Phạt – Hội trưởng Không Quân Houston lúc bấy giờ – cũng bị Mặt Trận gọi điện thoại hăm dọa đến nỗi ông phải phát khóc trong buổi họp đông đảo anh em, vì tức tối.
    Trước năm 1975, tôi không hề biết trong Hải Quân VNCH có ông Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh. Vào giữa năm 1977, tôi dùng phương pháp dây chuyền, người này mời người kia, để có một số nhân vật tị nạn tên tuổi, đến nhà tôi bàn bạc việc thành lập Ủy ban Đấu tranh Nhân quyền cho Việt Nam.
    Thành phần tôn giáo tham dự gồm có: Thượng tọa Giác Đức và linh mục Trần Duy Nhất.
    Thành phần chính trị tham dự gồm có: Quý ông Chủ tịch Đảng Đại Việt Cách Mạng Hà Thúc Ký, Nghị sĩ Đoàn văn Cầu, Dân biểu Nguyễn văn Kim, Tổng trưởng Châu Kim Nhân, Cụ bà Đức Thụ (đồng chí cách mạng với bà Cả Tề), bà Lê thị Anh (đại diện Hòa Hảo), Đổng lý Chử Ngọc Liễn (thân sinh nhà báo Chử bá Anh), Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Luật sư Đỗ Đức Hậu, Luật sư Lê Chí Thảo, Sinh viên tranh đấu Ngô Vương Toại.
    Thành phần quân đội tham dự gồm có: Trung tướng Phạm Quốc Thuần, Trung tướng Nguyễn Bảo Trị, Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh, Đại tá Nguyễn Hợp Đoàn (Tỉnh trưởng Đà Lạt), Trung tá TQLC Nguyễn văn Phán và tôi (Thiếu tá Không Quân VNCH).
    Ở thời điểm mới bước chân vào đời tị nạn, mà có cuộc họp với thành phần tên tuổi tham dự không phải là chuyện dễ dàng. Tôi điều hợp buổi họp trôi chảy, được Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh đánh giá cao. Ông nói: “Tôi tưởng cậu chỉ biết lái máy bay thôi!”
    Tôi đề nghị giáo sư Nguyễn Ngọc Bích làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền, được mọi người chấp nhận. Còn tôi không giữ một chức vụ gì để khỏi mang tiếng có ý đồ thành lập tổ chức nhằm dương danh cá nhân mình.
    Chúng tôi đã tổ chức hai cuộc biểu tình trước Tòa Bạch Ốc tại Hoa Thịnh Đốn và hai cuộc biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Nữu Ước. Lần nào cũng trình thỉnh nguyện thư. Nhưng Hoa Kỳ và Thế giới muốn đóng hồ sơ Việt Nam, nên việc làm của chúng tôi chẳng có kết quả gì đáng kể.
    Phó Đề đốc HCM đề nghị với tôi rằng chúng ta phải tiến tới thành lập một tổ chức Cách Mạng Bạo Lực để lật đổ bạo quyền Việt Cộng; chứ đấu tranh Nhân Quyền chẳng ăn thua gì. Tôi đồng ý. Từ đó ông Minh đến nhà tôi thường xuyên, đôi khi phải ăn mì gói thay cơm. Thấy ông Minh làm nghề thợ sơn vất vả, lấm lem, tôi đề nghị ông nên bắt chước Phó Đề đốc Đinh Mạnh Hùng xin làm cho Xerox khỏe khoắn hơn.
    Tướng Minh cười: “Cậu không biết Hitler chỉ là anh thợ sơn mà trở thành nhân vật lịch sử thế giới à?”. Tôi không cãi ông Minh. Hitler không hề làm thợ sơn, mà là thợ vẽ (peintre), thi vào trường mỹ thuật không đỗ, bèn dấn thân vào trường tranh đấu, viết cuốn “Mein Kampf” (Cuộc đời tranh đấu của tôi) . Tôi đánh giá sự hiểu biết của Tướng Minh thông qua truyền khẩu “nghe hơi nồi chõ”; chứ không qua đọc sách chính văn.
    Qua câu trả lời của Tướng Minh, tôi biết ông là người có tham vọng lớn, muốn làm lãnh tụ như Hitler. Nghe nói ông từng là sĩ quan Chiến tranh Chính trị bên Hải Quân, nhưng tôi xem ra ông ít am hiểu về chính trị. Nhất là nguyên tắc xây dựng tổ chức cách mạng lật đổ. Sau nhiều tháng trời, tranh luận nhiều đêm dằng dai không đi đến đâu, tôi thẳng thừng nói: “Anh muốn làm cách mạng theo kiểu ‘mỳ ăn liền’ thì kệ anh, nhưng tôi bảo đảm trước sau gì, anh cũng trở thành thảo khấu”. Ông giận tôi, bỏ ra về giữa đêm khuya.
    Từ đó ông Hoàng Cơ Minh và tôi chia tay nhau. Nhưng tôi vẫn theo dõi việc làm của ông: Như là “cướp” Lực lượng Cờ Vàng của Trung tá Lục Phương Ninh, nhận đề nghị của ông Richard Armitage đi tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích vùng Thái – Lào, lên đường về Thái Lan lập chiến khu … Ông Nguyễn Thanh Hoàng, tức là ký giả Hồ Anh, Chủ nhiệm tờ Văn Nghệ Tiền Phong ủng hộ Tướng Minh hết lòng. Ông Hoàng Xuyên được ông Hồ Anh bỏ tiền, gửi đi theo đoàn để làm phóng sự. Trong đoàn còn có Đại tá Nguyễn Hữu Duệ – Cựu Tỉnh trưởng Thừa Thiên – tháp tùng như một quan sát viên.
    Đại tá Nguyễn Hữu Duệ cho tôi biết phóng sự của ký giả Hoàng Xuyên là hư cấu. Vụ chiếu phim trên đài CBS được đạo diễn và dàn cảnh vụng về. Tôi cảnh báo cho ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng biết việc kháng chiến của Hoàng Cơ Minh là bịp, nhưng ông Hồ Anh cho rằng tôi là người của đảng Đại Việt, nên chống phá việc làm của người khác. Tôi giận ông Hồ Anh vì ông ta coi tôi là người đố kỵ, xấu xa. Tôi nói sự thật để ông Hồ Anh tránh a tòng theo sự giảo hoạt của ông Minh. Cho đến khi nội vụ bịp bợm của Mặt Trận vỡ ra thì ông Hồ Anh mới đi tìm tôi và đích thân xin lỗi tôi.
    Nghị sĩ Nguyễn văn Chức cũng xin lỗi tôi, vì khi tôi nói cho ông Chức biết chuyện làm kháng chiến của Hoàng Cơ Minh là bịp bợm, thì ông Chức cũng bảo tôi nói xấu Mặt Trận. Ngay cả Đại tá KQ Vũ Thượng Văn – cấp chỉ huy cũ của tôi – cũng giận, vì tôi nói Mặt Trận HCM là bịp. Nhà báo Cao Thế Dung, không những giận tôi, mà còn viết báo “dũa” tôi. Anh Dung, anh Chức từng là “chiến hữu” trong Mặt Trận HCM, rồi về sau hai anh giả bút hiệu viết bài mạt sát Hoàng Cơ Minh rất dữ dội. Tôi chưa bao giờ mạt sát anh Hoàng Cơ Minh, mặc dầu biết anh làm chuyện tồi bại.
    Tôi không hề là đoàn viên của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Nhưng có đứa trong Mặt Trận vu cho tôi bị Mặt Trận khai trừ, rồi ra viết báo công kích Mặt Trận. Tôi khinh thủ đoạn hạ cấp của đứa vu cáo, nhằm mục đích hạ uy tín tôi, nên tôi không thèm trả lời.
    Hai anh Nguyễn văn Chức và Cao Thế Dung – hai nhân vật viết báo tên tuổi – không dùng tên thật của mình để lên án anh Hoàng Cơ Minh, khiến cho bài viết mất đi giá trị khả tín. Riêng tôi, tuy là một ngòi bút vô danh, nhưng khi viết bài nghị luận thì tôi luôn luôn dùng tên thật để chứng tỏ mình là người tự trọng và để phản ảnh bản chất Người Lính VNCH: Trách Nhiệm! Do đó, tôi được nhiều nhân vật danh tiếng tiếp xúc.
    – Giáo sư Vũ Qúy Kỳ, người sáng lập Hội Chuyên Gia của Việt Tân, đọc những bài viết của tôi trên mạng, nhìn nhận tôi là người viết thẳng thắn, nghiêm túc. Ông gửi email tán thưởng, tôi đáp lại lời cảm ơn. Hai vợ chồng Giáo sư Vũ Qúi Kỳ từ thành phố Atlanta, Georgia, bay sang Quận Cam mời tôi đi ăn phở. Chúng tôi thảo luận với nhau rất hài hòa về nhiều vấn đề thời sự Hoa Kỳ và Cộng Đồng Việt Nam. Tôi nói với giáo sư Vũ Qúy Kỳ rằng Việt Tân rất tai hại, vì họ bây giờ trở thành công cụ của Việt Cộng.
    – Tiến sĩ Đỗ Khánh Hoan, giáo sư Đại học Văn Khoa Sài Gòn trước 1975, người chuyển ngữ những tác phẩm văn chương, triết học của các tác giả lừng danh trên thế giới sang Việt ngữ, cũng liên lạc với tôi qua email, điện thoại. Khi về Little Sàigòn ra mắt sách, Tiến sĩ Đỗ Khánh Hoan ký sách tặng tôi với lời lẽ rất ưu ái.
    – Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà tranh đấu nhân quyền, ở trong nước cũng viết email cho tôi: “Bên này, chúng tôi thường đem bài viết của Bằng Phong ra thảo luận. Chúng tôi đồng ý 95% luận điểm của Bằng Phong. Chỉ có điều duy nhất chúng tôi không đồng ý với Bằng Phong kêu gọi bạo lực. Chúng tôi chủ trương tranh đấu ôn hòa”.
    Tôi đáp lại thư của Tiến sĩ Nguyễn Quang A như sau: “Đảng Cộng Sản bán nước Việt Nam, làm nhục dân tộc Việt Nam bằng mọi giá. Chưa bao giờ họ làm bất cứ một điều gì vì nước vì dân. Những ý kiến xây dựng của trí thức đóng góp, những than khóc của dân oan không làm lay chuyển lương tâm đám lãnh đạo cộng sản. Vậy toàn dân phải noi gương Đặng Ngọc Viết, Đoàn văn Vươn thì mới cứu được nước thôi!”.
    (Ghi chú: Đặng Ngọc Viết, Đoàn văn Vươn bị bọn Công An Việt Cộng cưỡng chiếm đất đai, đã dùng vũ khí tự chế bắn bọn Công An).
    – Tiến sĩ Hà Sĩ Phu viết email khuyên tôi nên “dịu giọng” (tone down) cách hành văn thì dễ thuyết phục các nhà “cách mạng lão thành” đứng về phía mình hơn. Tôi đáp: “Họ là bậc lão thành, đâu phải là thanh niên mới lớn mà tôi phải dùng lời nhẹ nhàng khuyên bảo? Họ phải tỏ ra có trách nhiệm với Non Sông chứ!”
    – Khi được tin ông Đặng Xương Hùng – Lãnh sự VC tại Genève, Thụy sĩ – từ chức và tuyên bố ly khai đảng Cộng sản, tôi viết bài “Hãy Trở Về Với Dân Tộc” để kêu gọi tất cả Đại sứ, Lãnh sự, nhân viên Ngoại giao và Tình báo Việt Cộng trên khắp thế giới nên noi gương Đặng Xương Hùng. Đó là cách cứu dân tộc ta thoát ách đô hộ Trung Cộng. Chính Anh – Hoàng Cơ Định – là người viết email khen ngợi bài viết của tôi có tính thuyết phục rất cao.
    Thưa anh Hoàng Cơ Định,
    Tôi nêu lên những nhân vật trí thức, danh tiếng từ trong nước ra hải ngoại, kể cả anh nữa, tiếp xúc với tôi bằng lời lẽ đầy thiện cảm, lịch sự, chẳng phải tự đề cao hoặc tự đánh bóng. Điều tôi muốn nhắn với mọi người rằng dù đồng ý hay bất đồng cũng phải tôn trọng lẫn nhau. Nếu tôi không phải là người viết có nhân cách, có trách nhiệm thì không bao giờ những nhân vật nêu trên tìm cách liên lạc với tôi.
    Thành phần chủ lực của cuộc tranh đấu xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản phải là những người có trí tuệ để nhận thức đúng, có văn hóa để xây dựng nền dân chủ, văn minh. Đất nước Việt Nam không cần những thành phần bịp bợm (treo đầu heo bán thịt chó), vô giáo dục, đầu đường xó chợ, đầu trâu mặt ngựa. Bọn này chỉ làm ô danh nòi giống ta mà thôi! Nên nhớ, có nhiều dân tộc khác trên thế giới đọc và hiểu tiếng Việt! Khi họ đọc thấy những lời tục tĩu, mất dạy của bọn đầu đường xó chợ, họ sẽ đánh giá trình độ văn hóa, văn minh của dân tộc ta. Việt Cộng bêu xấu dân tộc ta đã quá đủ rồi!
    Nhà báo Bùi Tín viết bài mắng tôi là người xấc xược, hỗn láo, vô lễ đối với bậc trưởng thượng và thường dùng chữ NGU đối với người khác quan điểm.
    Bùi Tín đã bóp méo sự thật. Chữ NGU tôi chỉ dùng khi sự điêu ngoa, man rợ của Việt Cộng hay Việt Tân đã quá rõ ràng mà kẻ ngoan cố cứ bào chữa cho bằng được.
    – Khi đọc lời tuyên bố của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện “Vô sản không đáng sợ bằng vô học”, tôi gọi điện thoại về nước để tranh luận với ông. Tôi hỏi: “Tại sao anh đi theo cộng sản, khi cái chế độ đó chủ trương tiêu diệt trí thức? Tại sao anh đi theo cộng sản, khi thân sinh anh – Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm – là một nhà nho đôn hậu, yêu nước mà bị cộng sản đấu tố cho đến chết?”. Bác sĩ Viện đáp: “Tại vì mình ngây thơ. Tại vì mình quá khao khát độc lập, tự do”. Tôi nói: “Anh không ngây thơ!”. Bác sĩ Viện cứ lặp đi lặp lại nhiều lần “anh ngây thơ”. Tôi bực quá, bèn nói: “Anh Viện à. Anh không ngây thơ, mà anh NGU”. Tôi giải thích: “Hồ Chí Minh đưa tay tuyên thệ trung thành với Xô Viết, chấp nhận làm đàn em Xô Viết thì làm sao Việt Nam mình có độc lập? Nền chính trị Xô Viết là chuyên chính, còn tệ hại hơn cả độc tài, Hồ Chí Minh cũng rập khuôn nền chuyên chính của Xô Viết, thì làm sao mình có tự do?
    – Học giả Phạm Quỳnh bị Hồ Chí Minh sai bộ hạ giết chết, nhạc sĩ Phạm Tuyên – con trai ông Phạm Quỳnh – làm bài hát “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng” thì tôi bảo ông nhạc sĩ là NGU, là bất hiếu thì không đúng hay sao?
    – Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – Cựu Đại sứ Việt Cộng – lên án bọn lãnh đạo Việt Cộng hậu sinh như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết tha hóa làm mất niềm tin của cán bộ, đồng bào. Ông ca ngợi cộng sản thời đại Hồ Chí Minh được dân thương, dân tin tưởng, dân kính trọng. Tôi viết bài phản bác, cụ Vĩnh đã ngót 100 tuổi mà nói lời điêu ngoa trắng trợn. Bởi vì Hồ Chí Minh chưa bao giờ tổ chức bầu cử thì làm sao biết dân tin tưởng? Hồ Chí Minh diệt quyền tự do ngôn luận, làm sao biết dân thương, ghét? Năm 1954, gần 1 triệu người dân Miền Bắc lìa bỏ cửa nhà, mồ mả tổ tiên để bồng bế nhau di cư vào Nam, mà bảo là dân thương là nói dối. Tôi bảo nói như thế là NGU!
    Trong bài viết phản bác sự cáo buộc của Bùi Tín, tôi chứng minh tôi không vô lễ, hỗn láo với bậc trưởng thượng. Tôi chê các “lão thành cách mạng” chỉ suốt ngày vỗ ngực tự hào về thành tích đánh Pháp, đuổi Mỹ và ngồi nhà viết kiến nghị là NGU. Bởi vì hình thức viết kiến nghị là nhìn nhận tính chính thống (legitimacy) của bọn cầm quyền. Hồ Chí Minh tuyên bố “cướp chính quyền” năm 1945 thì làm gì có sự chính thống?
    Tôi bảo rằng người hỗn láo, vô lễ với bậc trưởng thượng chính là cụ Bùi Bằng Đoàn, thân sinh của Bùi Tín kia kìa. Khi viên Chánh án Thực dân Pháp hỏi tên cụ Phan Bội Châu “Comment t’appelles-tu?” mà cụ Bùi Bằng Đoàn dịch sang tiếng Việt “Mày tên là gì?” đối với nhà cách mạng khả kính của dân tộc là không chấp nhận được!
    Tôi đã phân tích từng điểm một trong bài Bùi Tín nặng lời tố giác tôi bằng một bài trả lời hết sức nhã nhặn, lịch sự với những lý lẽ không thể chối cãi, khiến ông Bùi Tín viết cho tôi một email với chủ đề (subject): “Thư Riêng, xin không phổ biến”. Bằng giọng điệu hòa giải, Bùi Tín viết: “Hai gia đình họ Đặng họ Bùi là chỗ thân tình với nhau, các Cụ cùng làm quan ở Huế, nên các con cháu coi nhau như bạn bè, như anh em”. Đó là chiến thuật cộng sản: Khi không thể đánh bại đối phương thì dở trò đàm phán !
    Trong buổi ra mắt sách của nhà xuất bản “Tiếng Quê Hương” vào Tháng 4 năm 2017 do nhà báo Trần Phong Vũ tổ chức, tôi gặp Bùi Tín lần đầu. Dù không có trong chương trình, nhưng MC Đinh Quang Anh Thái vẫn giới thiệu Bùi Tín lên đọc bài thơ “Đất Nước Mình Ngộ Quá Phải Không Anh?” của cô giáo Trần thị Lam ở Hà Tĩnh. Bùi Tín đổi chữ NGỘ của nhà thơ bằng chữ KỲ, tôi nhận thấy Bùi Tín không tôn trọng tác giả, nên yêu cầu MC Anh Thái lên phát biểu. Nhân dịp đó, tôi nhìn thẳng vào mặt Bùi Tín và nói: “Thưa anh Bùi Tín, tôi là Bằng Phong Đặng văn Âu đây. Người mà anh đã mạt sát tôi bằng lời lẽ nặng nề đây ! Và tôi đã trả lời anh một cách hòa nhã, lịch sự. Anh có biết tại sao tôi hòa nhã, lịch sự với anh không? Tại vì tôi muốn chứng tỏ với độc giả trong nước và ngoài nước thấy được cung cách có văn hóa của Người Lính VNCH hơn hẳn anh ‘bộ đội cụ Hồ’, anh hiểu không?” Bà Đỗ thị Thuấn từng công kích tôi hết sức nặng lời, đang quay phim buổi đó, đã vỗ tay hoan nghênh tôi một cách nhiệt liệt.
    Tôi kể anh Hoàng Cơ Định mẩu chuyện nhỏ này để anh hiểu rằng dù thua trận, lâm vào cảnh nước mất nhà tan, nhưng trót mang danh người chiến sĩ VNCH thì phải tỏ ra có nhân cách lớn, mới được đối phương kính trọng. Dùng chiêu bài thiêng liêng, cao quý mà hành động tồi bại, lưu manh, nếu thắng trận như Việt Cộng, thì Đất Nước sẽ rơi vào tay kẻ thù và nền văn hóa dân tộc sẽ tiêu vong. Đó là lời tôi lặp đi, lặp lại nhiều lần với anh Hoàng Cơ Minh. Và nay tôi lặp lại với anh, anh Hoàng Cơ Định!
    Những nhà ái quốc chống Thực dân Pháp, chống Cộng Sản như Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng chết mất xác mà thủ phạm không phải do Pháp, ắt phải do Việt Cộng, dù không có bằng chứng. Nếu Việt Cộng không giết, chúng nó phải kết án bọn giết người sát hại các nhà ái quốc cùng có chủ trương chống Pháp giành độc lập.
    Không ai có chứng cớ bà Nguyễn thị Năm (tức là bá Cát Hanh Long) bị cộng sản giết, nhưng không có nghĩa là cộng sản vô tội. Bởi vì cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra. Trần Đỉnh là chứng nhân trong cuộc đấu tố, đã thấy Hồ Chí Minh mang túi vải bao râu và Trường Chinh mang kính đen giấu mặt.
    Ký giả Đạm Phong, Lê Triết bị giết vì phanh phui sự bịp bợm của Kháng Chiến HCM, dù không có bằng chứng, người ta vẫn kết án tội ác của băng đảng HCM, bởi vì Mặt Trận tới bây giờ vẫn không lên án bọn giết mướn sát hại nhà báo không vũ khí.
    Tôi không kết án, nhưng tôi đã viết bài đặt câu hỏi “Anh Là Ai?” cho Nguyễn Xuân Nghĩa. Nghĩa không trả lời vì không thể. Bây giờ tôi hỏi anh:
    – Nguyễn Xuân Nghĩa là cháu ruột Mười Cúc Nguyễn văn Linh – Tổng Bí thư Đảng Việt Cộng – ở lại Việt Nam, làm việc cho Việt Cộng trong 5 năm, rồi được sang Pháp bằng đường chính thức. Tốt nghiệp bằng Cao Đẳng Thương Mại (HEC) của Pháp mà không làm việc ở Pháp. Sang Hoa Kỳ, Nghĩa được kết nạp ngay vào Mặt Trận HCM với chức vụ Tổng Tuyên Huấn (bộ óc của Mặt Trận). Cụ Phạm Ngọc Lũy khám phá Nghĩa thường viết thư nặc danh nhằm phân hóa nội bộ, đòi đưa Nghĩa ra luận tội. Tại sao anh Hoàng Cơ Định bao che cho Nguyễn Xuân Nghĩa? Phải chăng anh đã ngầm hoạt động cho Việt Cộng với Nguyễn Xuân Nghĩa khi cùng học ở Paris?
    – Có phải anh âm mưu cùng Nguyễn Xuân Nghĩa đẩy Hoàng Cơ Minh vào chỗ chết để cưỡng đoạt số tiền 20 triệu đô-la ăn cướp của dân bằng tuyên truyền bịp bợm? Bởi vì không khi nào đoàn quân đi vào đất địch mà công khai giống như đi du ngoạn.
    – Tại sao sau khi anh Hoàng Cơ Minh đã chết ở vùng biên giới Thái – Lào vào năm 1987, anh âm mưu cùng Nguyễn Xuân Nghĩa – cháu ruột Mười Cúc, Tổng Bí thư Việt Cộng – giấu nhẹm chuyện này đến 14 năm sau mới công bố? Anh đã nhận chỉ thị của VC trong nước hay của Nguyễn Xuân Nghĩa để làm chuyện trái đạo lý này?
    – Tài liệu “Đảng Chế – Đảng Quy” của Việt Tân (đính kèm trong attach file) hoàn toàn giống Việt Cộng, từ ngôn ngữ đến cơ chế là do Việt Cộng hay Nguyễn Xuân Nghĩa biên soạn ? Bởi vì ngoài Nguyễn Xuân Nghĩa ra, các thành phần gọi là lãnh đạo Việt Tân, tôi nhận thấy không ai đủ trình độ, khả năng viết ra tài liệu đó.
    – Tại sao đảng Việt Tân hoạt động rập khuôn theo Việt Cộng? Gieo rắc sự sợ hãi bằng khủng bố. Khi không thể giết người thì quay sang dùng bọn đầu trâu mặt ngựa, bọn đầu đường xó chợ thi hành “character assassination” để bôi nhọ, làm mất uy tín bất cứ ai dám lên tiếng vạch trần âm mưu đen tối của Việt Tân?
    Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) – nhà tranh đấu ở Nha Trang – cho tôi biết bà được Việt Tân “gạ” tham gia vào tổ chức. Bà từ chối, liền bị Việt Tân vu cho bà là Công An Việt Cộng.
    Khám phá hành động tồi bại của Việt Tân, bà Trần Khải Thanh Thủy – một đảng viên tân tòng của Việt Tân – đặt tên cho Việt Tân thành Việt Tanh (hôi như cá ươn), bà liền bị bọn đầu trâu mặt ngựa Việt Tân dùng lời lẽ hạ cấp bôi nhọ rất bẩn thỉu.
    Nhà thơ Ngô Minh Hằng được bà Trần Diệu Chân (vợ Lý Thái Hùng) “gạ” làm thơ tưởng niệm Hoàng Cơ Minh, bà từ chối. Lập tức bọn đầu trâu mặt ngựa lên mạng để chửi rủa bà Ngô Minh Hằng suốt nhiều năm, bằng lời lẽ hết sức hạ cấp!
    Bác sĩ Trần văn Tích ở Đức từng khen Việt Tân giúp ông cờ quạt, hệ thống âm thanh trong các cuộc biểu tình Chống Cộng. Sau khi biểu tình về, được đoàn viên Việt Tân dọn thức ăn nóng cho ăn đỡ đói lòng. Tôi viết bài cảnh giác ông bác sĩ đừng ngây thơ trước những trò “tử tế bịp” mà bị rơi vào tròng chúng nó. Nhân vụ luật sư Trần Kiều Ngọc tuyên bố “Tôi không chống Cộng”. Ông chỉ “nhỏ nhẹ” viết đôi lời khuyên nhủ bà luật sư Trần Kiều Ngọc, liền bị bọn đầu trâu mặt ngựa, lâu la của anh sủa om sòm.
    Chính sách “vắt chanh bỏ vỏ” của Việt Cộng không bao giờ thay đổi. Võ Nguyên Giáp là một trong những người khai sinh đảng CSVN, làm tới chức Tổng Tư lệnh Quân Đội Nhân Dân, nhưng khi bị thất sủng là bị đuổi về làm công tác cai đẻ cho nhục chơi. Tướng Trần Độ cũng là công thần của CSVN, nhưng khi ông có ý kiến cải cách chế độ thì khi chết không ai được phép ghi hàng chữ phúng điếu “Vô Cùng Thương Tiếc”.
    Việt Tân cũng vậy, bác sĩ Trần văn Tích từng tuyên dương Việt Tân, nhưng chỉ cần viết bài khuyên nhủ bà Trần Kiều Ngọc, thì Việt Tân dùng bọn “cặn bã xã hội” tấn công bác sĩ Trần văn Tích ngay.
    Ngoài ra, có một điểm tương đồng quan trọng rất rõ rệt giữa Việt Cộng và Việt Tân, là thành phần lãnh đạo Việt Cộng và Việt Tân đều cực kỳ ngu dốt như nhau.
    – Hồ Chí Minh (viết tắt HCM) lập ra Đảng CSVN nhằm mục đích bán nước cho Trung Cộng: Chủ tịch Nước lấy tư tưởng Mao Trạch Đông để trị nước. Tiêu diệt thành phần trí thức (bộ óc dân tộc), dùng bạo lực cưỡng bức người dân thành súc vật (có đầu không được phép nghĩ, có miệng không được phép nói, cho ăn mới được phép ăn). Trật tự xã hội và đạo lý cũng bị tiêu diệt (ép buộc cha, mẹ, vợ, chồng, con cái đấu tố nhau). Không một tên lãnh đạo nào còn có sợi dây thần kinh biết xấu hổ. Bây giờ xúc tiến thành lập Viện Đạo Đức càng chứng tỏ sự ngu dốt hơn. Tiến sĩ triết học Karl Marx – Lénine thì đông, nhưng không có tên nào dám nhận lời thách thức tranh luận công khai với Bằng Phong Đặng văn Âu.
    – Hoàng Cơ Minh (viết tắt HCM) thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam để đánh đổ Việt Cộng, tại sao tạo cho mình hình ảnh y hệt Hồ Chí Minh (để râu, quấn khăn rằn, mặc bà-ba đen) là tên tội đồ của dân tộc. Như thế không ngu à?
    – Nguyễn Xuân Nghĩa – Cháu ruột Mười Cúc Nguyễn văn Linh, Tổng Bí thư Việt Cộng – sau năm 1975, ở lại Việt Nam làm việc cho Việt Cộng suốt 5 năm, đậu bằng HEC không làm việc ở Pháp. Sang Mỹ, Nguyễn Xuân Nghĩa nhảy ngay vào Mặt Trận và được giao ngay chức Tổng Tuyên huấn mà Hoàng Cơ Minh chẳng cần sưu tra lý lịch đương sự, nhất quyết tin dùng Nghĩa làm quân sư. Như thế không ngu à?
    – Ký giả Đạm Phong, Lê Triết viết bài tố giác Mặt Trận lừa đảo, ăn cắp thì thuê kẻ giết mướn sát hại đối thủ trong một quốc gia có pháp luật, tức là tự động tỏ ra mình là một đảng cướp; chứ không phải đảng giải phóng nhân dân thoát khỏi ách cộng sản man rợ. Như thế không ngu à? Chẳng qua cơ quan an ninh Mỹ không nhúng tay điều tra, vì họ cho đó là đám tị nạn hủi thanh toán lẫn nhau, không liên quan gì đến họ. Mặt Trận thử giết một người ký giả Mỹ xem. Giới truyền thông Mỹ sẽ làm ầm lên ngay; chứ đâu hèn hạ như đám truyền thông Việt Nam câm miệng hến?
    – Rất nhiều người, trong đó có tôi, công khai đặt vấn đề với Việt Tân. Nguyễn Thanh Tú họp báo, đóng cọc nhiều cái vòi của băng đảng. Lãnh đạo Việt Tân không có một một người ra hồn đủ khả năng phản bác. Nguyễn Xuân Nghĩa, cháu Mười Cúc, một nhân vật được đám truyền thông không có tư cách, điếu đóm xun xoe, dọa kiện ký giả AC Thompson về tội chụp mũ. AC Thompson hứa sẵn sàng ra tòa với chứng cớ. Thế là rụt vòi! Việt Tân chỉ có mỗi một anh kép hát Nam Lộc, mặt trơ trán bóng, mồm thì xoen xoét Chống Cộng, lại thông đồng làm ăn với Việt Cộng qua dịch vụ điện thoại gọi về trong nước, đứng ra bào chữa cho băng đảng một cách dốt nát. Buồn cười nhất là có một anh ra chiều thông thái, phán: “Chống Cái Ác, tức là Chống Cộng rồi! Bàn cãi làm gì cho mất công?” Thế thì cả thế giới chống Cái Ác của ISIS là họ đang Chống Cộng đấy sao? Rồi có một tên lưu manh nào đó làm trò đánh lận con đen, dùng bài viết của tôi, nhét thêm vài câu tầm bậy để đánh lừa độc giả. Thực sự, anh chỉ có một đám đầu trâu mặt ngựa, cặn bã xã hội, phun chất bẩn làm ô uế Cộng Đồng thôi. Như thế không ngu à?
    Thưa anh Hoàng Cơ Định,
    Nhìn vào danh sách dòng họ nhà anh, tôi thấy có nhiều tay khoa bảng nổi tiếng, như Hoàng Cơ Nghị, Hoàng Cơ Bình, Hoàng Cơ Thụy, Hoàng Cơ Lân, Hoàng Cơ Minh, Hoàng Cơ Long, Hoàng Cơ Trường, Hoàng thị Nga, Hoàng thị Châu Quy và anh. Có thể nói đó là một dòng họ khá vinh hiển. Thân phụ anh là Hội trưởng Hội Khai Trí Tiến Đức, tại sao ông không thể “khai trí” đàn con cháu đừng làm những chuyện ngu xuẩn? Tại sao lại có phần tử như dưới đây làm điếm nhục gia phong?
    – Luật sư Hoàng Cơ Thụy thông đồng với tay sai Thực dân Pháp – Trần Đình Lan, Vương văn Đông – để lật đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa do Hoa Kỳ viện trợ? Trí tuệ của luật sư Hoàng Cơ Thụy để đâu, mà không nhìn thấy Hoa Kỳ đã giúp dân ta chấm dứt nền đô hộ của Thực dân Pháp suốt 80 năm? Tại sao ông Thụy không nghĩ ra được rằng Hoa Kỳ không đời nào để cho cuộc chính biến đó thành công? Giả thiết rằng cuộc lật đổ đó thành công, đưa Thực dân Pháp trở lại cai trị Việt Nam. Có phải ông Thụy sẽ làm cho dòng họ Hoàng Cơ bị ô danh muôn thuở, vì phản lại sự hy sinh của những vị anh hùng chống Thực dân Pháp từng bị rơi đầu dưới chế độ Thực dân?
    – Tại sao Phó Đề đốc, một Tướng lĩnh VNCH, không biết nghe lời khuyên răn của tôi, đừng thi hành chủ trương bá đạo, đừng nóng vội làm kháng chiến “mì ăn liền” để chết thảm như một tên thảo khấu trong rừng; chứ chẳng phải là anh hùng đem thân giúp nước? Tại sao ông Hoàng Cơ Minh không nghĩ được hành động kháng chiến bịp bợm của ông là giết chết NIỀM TIN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC của những thế hệ tương lai?
    – Còn anh, Hoàng Cơ Định, Tiến sĩ Hóa học, tốt nghiệp ở Paris, tại sao không lo làm ăn tử tế như Hoàng Kiều chỉ chế huyết thanh mà cũng trở thành tỷ phú, lại ôm bó bạc bất chính, lừa đồng bào để lập hàng tá cái vòi bạch tuột tiếp tục lừa đảo đồng bào? Nếu làm ăn lương thiện, thì hai vợ chồng anh đâu đến nỗi bị Cảnh sát Liên Bang còng tay vì tội trốn thuế? Tại sao anh thông đồng với Nguyễn Xuân Nghĩa – Cháu ruột Mười Cúc Nguyễn văn Linh, Tổng Bí thư Việt Cộng – để đẩy anh mình và bao nhiêu chiến sĩ ưu tú VNCH nhẹ dạ đi vào chỗ chết một cách ồn ào? Anh tưởng rằng Việt Cộng mù hay sao mà dám hô hào Đông Tiến I, Đông Tiến II, III với hy vọng Tướng Hoàng Cơ Minh sẽ bình an vô sự? Tại sao trong Tòa Án, anh nhẫn tâm không nhìn nhận tấm ảnh đăng trên báo Thái Lan là Hoàng Cơ Minh đã chết?
    Anh xúi giục con cháu anh như Hoàng Tứ Duy, Đỗ Hoàng Điềm tuân theo chỉ thị của Việt Cộng để làm công tác chuẩn bị tư tưởng quần chúng hải ngoại “Không Chống Cộng” là anh dạy con cháu tiếp tục làm điếm nhục gia phong, anh biết không?
    Người Quốc gia không có bằng chứng ai giết Đạm Phong, Lê Triết. Nhưng tôi tin Việt Cộng có bằng chứng. Bởi vì chúng rải tình báo hoạt động khắp nơi và đã trà trọn vào tổ chức Mặt Trận. Do đó chúng dễ dàng “blackmail” (chantage) để anh phải làm công cụ cho chúng. Giống như chúng đã làm với những chính trị gia, linh mục, thượng tọa ở Miền Nam trước năm 1975. Anh hãy nói cho đồng bào hải ngoại biết, lâu nay vì bị Việt Cộng “blackmail”, nên Việt Tân phải làm những việc như:
    – Xâm nhập, vu cáo, gây chia rẽ để làm cho Cộng Đồng luôn luôn xáo trộn.
    – Nơi nào Việt Tân không thể tạo ảnh hưởng thì lập ra một Cộng Đồng hai hoạt động song song.
    – Vu khống, bôi bẩn một cách nhớp nhúa, tục tĩu bất cứ ai lên tiếng phản ứng hành vi bất chính của Việt Tân, để cho người có tư cách, có trách nhiệm không dám ra làm việc công cộng, vì sợ gieo tai tiếng, xấu hổ với con cháu.
    – Nhờ có tiền dồi dào từ sự bịp bợm, Việt Tân mua bọn truyền thông vô tư cách làm việc cho mình. Nhờ tiền bất chính, chỉ có Việt Tân mới đủ khả năng tổ chức “Đại Hội Trẻ Thế Giới” để lôi kéo thanh niên kém hiểu biết về thủ đoạn Việt Cộng sa vào bẫy bán Nước mà tưởng là yêu Nước.
    Đảng CSVN do Hồ Chí Minh và đồng bọn lập ra không nhằm mục đích mang lại Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc cho đồng bào ta. Những bằng chứng quá rõ ràng cho ta thấy đảng CSVN toa rập với kẻ thù truyền kiếp để biến nước ta thành một phiên thuộc. Người Tàu đã cai trị dân ta suốt một ngàn (1000) năm, nhưng dân ta đã bao lần “châu chấu đá xe”, giành lại quyền tự chủ, nhờ ý chí quật cường và lòng yêu nước. Lần này, Mao Trạch Đông thâm hiểm hơn. Nó dùng Hồ Chí Minh biến dân ta thành súc vật, biến một tập đoàn thống trị hoàn toàn mất khả năng biết xấu hổ, biết nhục nhã để thề nguyền “Thà mất Nước, còn hơn mất Đảng”. Bề ngoài, Việt Cộng giả vờ nghiêng về phía tự do để ta tưởng chúng thực tâm hòa hợp hòa giải. Nhưng chúng lại sai Tiến sĩ (!) Tương Lai tuyên bố bỏ đảng CSVN để quay về Đảng Lao Động thời Hồ Chí Minh. Hóa ra “đi vô, đi ra, vẫn thằng cha khi nảy”.
    Ở Hải ngoại, Việt Cộng ra lệnh Việt Tân sai tay chân bộ hạ tuyên bố “Chúng ta đòi lật đổ Nhà Nước Việt Nam là sai, chúng ta chỉ xin Nhân Quyền thôi!”; tiếp theo: “Chúng con không Chống Cộng; chúng con chỉ chống Cái Ác và chọn con đường Nhân Bản mà đi thôi”. Vở tuồng “bài ba lá” đó chỉ có khả năng đánh lừa kẻ ngây thơ, nhẹ dạ. Đừng giở những luận điệu “Việt Cộng đâu còn nữa mà chống?” hoặc “chống Việt Cộng suốt mấy chục năm không xong, thì nay chỉ còn chống gậy, chứ chống Cộng gì nữa?”. Đó là luận điệu rẻ tiền, chỉ có đứa nào ngu hoặc đứa bán linh hồn cho Quỷ mới tin theo thôi.
    Chống ngoại xâm là truyền thống bất biến của tổ tiên ta dạy dỗ con cháu. Huống chi, nòi giống Việt đang trên đà bị hủy diệt; chứ không còn là nguy cơ nữa. Một nòi giống chỉ sống còn, khi dân tộc đó có lòng tự trọng, có khí phách, biết nhục để vùng lên.
    Anh Hoàng Cơ Định đừng tưởng dùng bọn đầu trâu mặt ngựa, bọn cặn bã xã hội phun chất bẩn vào những người yêu nước là có thể xóa cái tội của dòng họ Hoàng Cơ làm điếm nhục gia phong. Nhiều người khinh bỉ dòng họ anh lắm đấy! Đến nỗi các đoàn viên Việt Tân cứ chối leo lẽo họ không phải Việt Tân ! Anh hãy chấm dứt trả lương cho loài ký sinh đó, để Cộng Đồng sạch sẽ được không?
    Anh đừng thắc mắc hỏi tôi dựa vào thế lực nào đứng đàng sau để khiến tôi viết bức thư này cho anh, như băng đảng Việt Tân thường đặt ra để gây nghi ngờ. Tôi nói cho anh biết, tôi là Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, là chiến sĩ tiền tuyến, từng vào sinh ra tử. Tôi còn sống sót trong cuộc chiến kinh hoàng vừa qua là do Thiên Chúa hay Đức Phật cho tôi sống sót, ắt hẳn các Ngài truyền lệnh cho tôi tiếp tục làm Người Lính có Khí Phách để không làm ô danh một Quân Lực bị kẻ thù gán vào cái tội “Lính Đánh Thuê”. Trước kia tôi thi hành công tác theo lệnh cấp chỉ huy. Ngày nay tôi chiến đấu chống sự bịp bợm của Việt Cộng, của Việt Tân là do mệnh lệnh của Tổ Tiên và mệnh lệnh của những vong hồn tất cả con dân Việt bị Việt Cộng giết suốt gần 90 năm qua.
    Tôi tin tưởng rằng nếu anh thuê quân giết mướn hạ sát Đặng văn Âu này, thì sẽ có Đặng văn Âu khác đứng lên. Phải có NIỀM TIN sắt đá như vậy, người chiến sĩ mới không lùi bước trước tội ác của ma quỷ, anh Hoàng Cơ Định có hiểu không?
    Nếu anh tin lời tôi, anh hãy khẳng khái đứng ra nhìn nhận tội lỗi của anh Hoàng Cơ Minh và của chính anh thì may ra danh giá dòng họ Hoàng Cơ được cứu vãn. Nhược bằng anh cứ loay hoay trong vũng bùn, dùng mọi cách giẫy dụa thì dòng họ Hoàng Cơ sẽ bị nguyền rủa muôn đời.
    Tháng trước, tôi viết bài phê bình văn hào Nhất Linh, vì ông là nhà cách mạng văn hóa, nhà lãnh đạo đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng mà không đem sự hiểu biết của mình để dạy cho trí thức, sinh viên Miền Nam về nguy cơ mất nước. Ông lại nhàn nhã lên rừng kiếm hoa lan, là người vô trách nhiệm với tương lai dân tộc. Ông Nhất Linh còn toa rập với tay sai Thực dân Pháp lật đổ nền tự do non trẻ mới giành được độc lập. Sau khi thất bại, ông kết liễu đời ông bằng một thư tuyệt mệnh để cuộc xâm lăng của Việt Cộng có chính nghĩa.
    Tôi chỉ là một sĩ quan cấp tá, không có tên tuổi giống như nhà văn Nhất Linh, nhưng tôi có thể tiên đoán âm mưu của Việt Cộng như sau: “Việt Cộng sẽ giao nước Việt Nam cho Trung Cộng vào năm 2020 theo thỏa ước Thành Đô. Chúng tự biết chúng không thể nào sống dưới ách đô hộ của Trung Cộng. Cho nên chúng dùng Việt Tân để sửa soạn bãi đáp (landing field) cho chúng tại Hải ngoại, đặc biệt là Hoa Kỳ.
    Trong năm 2016, chúng đã bỏ ra 3 tỉ 200 triệu đô-la để mua nhà tại Hoa Kỳ (theo tài liệu của sở địa ốc). Không rõ trong ngân hàng chúng có mấy trăm tỉ. Việt Cộng đã xuất cảng nhiều sư quốc doanh, linh mục quốc doanh để lãnh đạo tinh thần người mộ tôn giáo, mặc dầu từng bị chúng nhốt tù trong các trại tập trung. Chúng đang có chủ trương làm cho thế hệ con cháu của chiến sĩ quốc gia quên dần tội ác của chúng.
    Tại sao cái đảng Việt Tân của anh lại tiếp tay cho Việt Cộng để “cải tạo” tư tưởng đồng bào Hải ngoại bằng những tuyên bố “Đòi lật đổ Nhà Nước cộng sản là sai”, “Cộng đồng không cộng sản” và “Con không Chống Cộng” để cho Cộng Đồng vốn đã chia rẽ càng thêm chia rẽ trong các cuộc tranh luận vô bổ?
    Người Việt không chấp nhận sống với Việt Cộng, bỏ quê hương sang sống tại các nước tự do, cần mẫn nuôi con ăn học thành tài, với hy vọng con cái mình tiếp tục sự nghiệp diệt Cộng cứu giống nòi thì bị con cái miệt thị chúng ta là loại “Di dân tư tưởng”, tức là loại người “tha phương cầu thực”, “giá áo túi cơm” chứ chẳng có lý tưởng gì cả!
    Đó là cách Việt Cộng dùng Việt Tân trồng người theo lời dạy của tên bán nước Hồ Chí Minh. Một mặt chúng đẩy người tị nạn thành loại người “giá áo túi cơm”, “tha phương cầu thực” một cách nhục nhã; một mặt chúng dùng tuổi trẻ do chúng ta nuôi nấng thành một tầng lớp vô ơn, coi khinh cha mẹ, thì sẽ coi khinh giống nòi.
    Thử hỏi có nỗi đau đớn nào bằng?
    Trước năm 1975, đâu có quốc gia nào trên thế giới treo tấm biển “Ăn cắp là tội đại hình” bằng chữ Việt ở các nơi buôn bán lớn? Anh Hoàng Cơ Định không thấy rằng Việt Cộng đang thừa lệnh Trung Cộng thi hành chủ trương làm nhục dân tộc Việt Nam?
    Dòng họ Hoàng Cơ làm chuyện “điếm nhục gia phong” là quyền của dòng họ anh. Nhưng tại sao anh âm mưu với Việt Cộng để biến con cái do công lao chúng tôi nuôi nấng trở thành một bọn làm “điếm nhục gia phong” chúng tôi?
    Tôi đích thân viết bài này hỏi anh. Nếu anh im lặng, tức anh là ma, chứ không phải người. Nguyễn Thanh Tú, con trai nhà báo Đạm Phong, gọi cái đảng của anh là “VIỆT TÂN MA” cũng đúng thôi!
    Tôi biết phản ứng của anh cũng như của VIỆT TÂN MA là dùng bạo hành thủ tiêu người viết SƯ THẬT, người nói lên SỰ THẬT.
    Đây là địa chỉ nhà tôi: 10200 Bolsa Ave. SPC # 89 Westminster, CA.92683.
    Anh cứ sai người đến bắn. “Tôi thà chết đứng; hơn là sống quỳ.

    Tôi không bao giờ sợ cái Đảng Việt Tân Ma của anh!
    Giết người diệt khẩu không phải là phương cách xóa được tội lỗi của dòng họ mình đâu, anh Hoàng Cơ Định ạ! “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, anh Hoàng Cơ Định đừng bao giờ quên điều đó nhé!

    Bằng Phong Đặng văn Âu
  3. Bỏ Rơi Hay Phản Bội – Bùi Anh Trinh
    October 27, 2017 | by Ban Tu Thư | 0

    * Ngày 29-9 năm nay đã là ngày giỗ thứ 14 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

    Ⅰ – PHẢI CHĂNG MỸ BỎ RƠI?

    Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

    Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

    Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

    Ⅱ – Frank Snepp, THÁNG 3 NĂM 1973.

    Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.

    Đến năm 1972 ông bị đày đi Việt Nam vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

    Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại Việt Nam trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

    CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval.

    Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại Việt Nam thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại Sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

    Ⅲ – Nixon THẤT HỨA VỚI Liên Sô, THÁNG 8 NĂM 1974.

    Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

    Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Sô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

    Vì vậy quốc hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với Liên Sô, Trung Quốc và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

    Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội Hoa Kỳ. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

    Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Sô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm miền Nam, Liên Sô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí.

    Ⅳ – HÀ NỘI CAY ĐẮNG.

    Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

    Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

    Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

    Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỷ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỷ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi Việt Nam thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.

    Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Sô cử Tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

    Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

    *(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi miền Nam là 5,88%)

    Ⅴ – HẾT ĐẠN VÀ HẾT NHIÊN LIỆU.


    Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

    Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

    Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

    Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (tổng cục trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ Tổng Tham Mưu. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

    Năm 1974 tháng 5, theo Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng (bộ trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.
    Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (tổng cục phó Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (tham mưu trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (phụ tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (chánh văn phòng của Tướng Khuyên).

    Thiếu Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

    Như vậy là kịch bản bỏ rơi miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

    Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của quốc hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam”(trang 146).

    Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lập kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

    Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

    Ⅵ – Và TÌNH HÌNH THỰC SỰ VÀO THÁNG 3 NĂM 1975:

    -Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “… he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

    – Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao Hoa Kỳ trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để quốc hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

    Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

    Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

    Ⅶ – THẾ BẮT BUỘC của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

    Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

    *“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi giá… Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).
    “Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).
    Các đoạn trích dẫn trên đây đã giải thích vì sao Tổng Thống Thiệu phải bỏ Vùng 1 cũng như Vùng 2. Và vì sao Tướng Viên không nhiệt tình tham gia kế hoạch của Tướng Thiệu.

    Cuối cùng, sau 30-4-1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 40 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.
  4. Kẻ phản chủ:
    MARCUS BRUTUS

    Author: người lính già oregon Posted on: 2017-10-26
    [​IMG]
    Marcus Junius Brutus (85-42 BC)
    Những ngày gần đây, vài người bạn thân hỏi riêng tiện nhân nghĩ gì về cựu tướng Tôn Thất Đính vừa từ trần và những phản tướng đã nhúng tay vào máu của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, tháng 11 năm 1963. Tiện nhân trả lời: “Tôi không nghĩ gì cả. Vì người chết đã chết, để lại bao nhiêu oan khiên, thù hận, chia rẽ cho người sống, bên này hay bên kia dãy núi Pyrénées với sự thật mà mỗi bên muốn ôm khư khư với ít nhiều cố chấp. Nếu phải nói, tôi chỉ nói một điều mà ai cũng phải công nhận, bọn người đảo chánh, đúng sai chưa cần bàn, đã quá hạ tiện, dã man, rừng rú: giết một lãnh tụ đã chịu đầu hàng, một cách tàn nhẫn và đê hèn đến thế!”
    Tiện nhân đã đọc đầy dẫy những bài ca tụng, ghi công lao của những tướng lãnh đã làm cuộc binh biến lật đổ và giết cụ Ngô Đình Diệm, cũng như những bài văn, bài thơ, hay sách vở (cf sách của cựu thẩm phán Lê Nguyên Phu, Trong bóng tốí lịch sử, Montréal, 2008) hài tội gắt gao những phản tướng. Tuy nhiên, tiện nhân tự kềm chế, không lên tiếng phụ họa, chẳng phải vì ba phải, hoặc muốn làm thầy đời đạo đức giả, hoặc không thương cụ Diệm, trái lại thế, nhưng bởi những lý do sau đây:
    1) Nhiều người đã viết để kết án họ rất hay, với đầy đủ tài liệu, dẫn chứng, tiện nhân nếu muốn viết thêm cũng không thể bằng được.
    2) Hiểm họa Cộng sản, Việt cũng như Tàu, hiện nay còn nặng như tảng băng trước mắt. Nặng hơn cái chết của cụ Diệm, dù sao cũng đã xảy ra nửa thế kỷ rồi và đã thuộc về lịch sử, và lịch sử thì lúc nào cũng công minh, công bằng, công chính, kể cả nếu phải đợi hàng trăm, ngàn năm, bao nhiêu thế hệ nữa mới gặp thấy được. Năm mươi năm, dù sao, vẫn chưa đủ cho những xúc cảm cá nhân lắng xuống và lòng người thật bình tĩnh. Biết thế, mỗi năm, nhất là vào tháng 11, Việt Cộng xúi giục bên này đánh trước bên kia, để bên kia trả đũa bên này, mà quên đi kẻ thù chính và duy nhất, là chúng nó, một lũ đích thực gian ác, trong khi chúng nó đứng ngoài vỗ tay, trục lợi. Chúng ta không dại.
    3) Việc lật đổ và thảm sát cụ Diệm, phải chăng nếu không có bàn tay lông lá của quan thầy Mỹ nhúng vào, thì dù có hàng trăm Thích Trí Quang, hàng ngàn Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính… cũng bất thành ! Nếu đúng thì thường người ta mắng chủ, ai lại đi đánh tớ ?
    Quả vậy, trong bản thảo hồi ký của Bà Ngô Đình Nhu (do Luật sư Trương Phú Thứ, người quen thân bà Nhu, đang cất giữ, mà tiện nhân đã được may mắn đọc trong tư cách đồng dịch giả và hiệu đính viên, chứ không phải quyển sách do con bà, Ngô Đình Quỳnh, mới xuất bản và ra mắt tại Paris mà tiện nhân chưa đọc), bà không hề nhắc đến bất cứ phản tướng nào. Bà chỉ kết tội một cá nhân duy nhất: John F Kennedy, và chính trị lật lọng cố hữu của Mỹ mà bà gọi là impéro (đế quốc, đáng chê, chỉ sau Coco, cộng sản, và Colo, thực dân).
    Ngày 22/11 vừa qua, kỷ niệm 50 năm ngày JFK bị ám sát, báo chí, truyền hình, truyền thanh Mỹ cho đi hàng loạt những bài tưởng niệm và vinh danh ông. Không một chi tiết nào trong đời sống, cái chết, và sự nghiệp chính trị của ông bị bỏ sót. Ngoại trừ việc âm mưu giết cụ Diệm để đưa quân Mỹ vào chiến đấu tại Việt Nam. Tại sao? Vì, theo thiển ý, âm mưu ấy, nay đã được giải mật, là một vết nhơ trong lịch sử cận đại Hoa Kỳ, không bao giờ tẩy rửa được.
    Brutus trong vở kịch Julius Caesar của Shakespeare
    [​IMG]

    Cái chết của Caesar bởi Vincenzo Camuccini
    . Trong đám phản tướng 1963 có một người mà mỗi lần được nhắc làm tiện nhân không khỏi nghĩ đến Marcus Julius Brutus (85-42 BC), sống cùng thời với người hùng Julius Caesar. Đó là Tôn Thất Đính.
    Brutus là một chính trị gia (senator, thượng nghị sĩ) vào cuối đời Cộng Hòa Rome (trước khi Rome trở thành đế quốc dưới triều hoàng đế tiên khởi Augustus, tức Octavius). Brutus được dư luận cho là con nuôi hoặc người thân cận chịu ơn của Caesar. Dù với danh nghĩa nào, Brutus được Caesar hết lòng tin cậy và nâng đỡ, cho làm thống đốc của xứ Gaule (tiền thân của Pháp quốc bây giờ, bị Caesar chiếm đóng năm 58-51BC, trở thành một tỉnh của Rome) khi ông này đưa quân vào Africa đuổi theo Caton và Scipion. Năm 45, Brutus được bổ nhiệm làm thẩm phán (praetor urbanus) quyền hành rộng lớn, và chính điều này là một trong những nguyên nhân khiến Gaius Cassius, anh vợ và thượng nghị sĩ đồng nghiệp của Brutus, rất bất mãn với Caesar.
    Theo lịch sử, năm 44, Caesar bị đâm tại thềm Thượng viện bởi Casca và Cassius, và vài kẻ phiến loạn khác, chưa chết và còn rút kiếm chống đỡ, và cuối cùng bị Brutus đến đâm bồi thêm và ngã xuống.
    Trong vở kịch Julius Caesar (1599), Shakespeare giữ những chi tiết lịch sử (cf Plutarque, Marcus Brutus, viết năm 75 sau Thiên Chúa) nhưng thêm những câu bất hủ, trở thành danh ngôn, chẳng hạn câu này Caesar nói với vợ, Calphurnia, lúc bà can ngăn ông đừng đi đến Thượng viện ngày hôm ấy (vì thấy trên trời xuất hiện những chùm sao chổi, comets, báo hiệu cái chết của những hoàng tử, princes, ngụ ý người cao sang, tức chồng mình):
    . Calphurnia: When beggars die there are no comets seen:
    The heavens themselves blaze forth the death of princes.
    Caesar: Cowards die many times before their deaths;
    The valiant never taste of death but once.
    (Những kẻ hèn nhát chết nhiều lần trước khi chết thật
    Người dũng cảm biết cái chết chỉ một lần thôi)
    Of all the wonders that I yet have heard,
    It seems to me most strange that men should fear,
    Seeing that death, a necessary end,
    Will come when it will come
    (Act I, scene 2, 30-37)
    Hoặc khi thấy Brutus tiến đến đâm mình, ông không chống cự nữa, lấy vạt áo che đầu và đau đớn hỏi:
    Caesar: Et tu, Brute?
    (Latin, có nghĩa: You too Brutus? Cả ngươi nữa, Brutus?)
    – Then fall, Caesar!
    [Dies] (Act II, Scene 1, 77).
    Ghi chú: Theo sử gia Latin Suetonius (69-125 sau TC) trong quyển Vies des douze Césars thì khi thấy Brutus sấn tới, Caesar đã thồt lên bằng tiếng Hy Lạp, có nghĩa: And you, my son? (Và cả con nữa sao, hỡi con trai?).
    Sau đó, theo lịch sử và vở kịch của Shakespeare, Cassius và Brutus bị Octavius và Marcus Antonius –trung thành với Caesar– buộc vào tội phản nghịch, làm quốc gia rối loạn, phải bỏ trốn đến đảo Crete của Hy Lạp, mộ lính, chiến đấu chống quân của hai tướng La Mã. Trong trận Philippi (42 BC), Brutus bị đánh bại và tự tử.
    Có những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật Brutus và Tôn Thất Đính:
    a- Cả hai đều thọ ơn, nếu không nói là con cưng, của người mình phản bội; cả hai được chủ tín cẩn và ban cho tước quyền cao trọng
    b- Khác với Brutus: Tôn Thất Đính không trực tiếp giết cụ Diệm, không chống chủ mình vì lý tưởng quốc gia, không tự tử chết tại chiến trường.
    Brutus trong Inferno của Dante
    (cf A Reading of Dante’s Inferno, U. of Chicago Press, 1981 của Wallace Fowlie)
    Inferno (Địa ngục, viết năm 1300) là phần đầu (trước Purgatorio, Luyện ngục, và Paradiso, Thiên đàng) trong tuyệt phẩm La Divina Commedia (La Divine Comédie) của thi hào Ý Dante Alighieri (1265-1321). Trong sách, người kể truyện, tức Dante, được thi hào Latin Virgile (70-19 BC, tác giả thiên anh hùng ca L’Énéide) dẫn xuống thăm Địa ngục, dưới đáy mặt đất –nơi mà trước cửa có một tấm biển đề rõ: “Lasciate ogni speranza voi ch’entrate” (Hỡi các ngươi đang bước vào, hãy vứt bỏ hết mọi hy vọng).
    Địa ngục trong Dante có chín tầng, dưới dạng chín vòng đồng tâm (concentrique), giam giữ các linh hồn tùy theo tội trạng lúc còn sinh tiền. Đầu tiên hai thi hào được dẫn vào tiền đình (vestibule), nơi “tập trung cải tạo” những người, được gọi là uncommitted, khi ở trần gian không chịu dấn thân, thiếu lập trường trước / về điều thiện hay điều ác –những kẻ mà danh từ hôm nay gọi là ba phải, cẳng giữa, nửa nạc nửa mỡ, ngậm miệng ăn tiền. Trong số có Pontius Pilate, tổng trấn xứ Judée, và trong Phúc Âm là thẩm phán đã xử án Chúa Giêsu, rửa tay, trốn trách nhiệm, phó mặc số phận Ngài cho đám dân chúng quá khích.
    Sau đó hai người được chở qua sông Acheron đến khu vực địa ngục chính thức gồm chín tầng: tầng 1-5 giam những tội phạm nhẹ, chẳng hạn tà dâm, ngoại tình (tầng 2), tham ăn (tầng 3), ham tiền, hà tiện (tầng 4), nóng giận (tầng 5).
    Càng xuống sâu, tội càng nặng: tầng 6-7 giam những tội nhân, như rối đạo, đạo đức giả, xúc phạm thần thánh, tự tử, giết người, bói toán.
    Hai tầng 8-9 được dành cho tội nặng nhất. Tầng 8, chia thành mười bờ hào bằng đá có cầu thông nhau (bolgia), được canh giữ bởi Gyreon, quái vật có cánh, ba đầu và ba thân mình dính với nhau, nhốt những kẻ mang tội lừa đảo, gian dối, như dụ dỗ, nịnh hót, ăn cắp, ngụy cố vấn, gây chia rẽ, tham nhũng, coi tử vi, phù thủy, tiên tri giả… (Trong truyện Nôm khuyết danh, Phạm Công Cúc Hoa, của văn chương ta, không rõ thế kỷ nào, quan trạng Phạm Công được vua cho phép xuống âm phủ tìm vợ Cúc Hoa, và cuộc hành trình của chàng được vua theo dõi qua kính chiếu yêu của công chúa. Tại cửa của "Chàng Năm", tức vòng Âm phủ 5, Phạm Công cũng thấy giam rất nhiều "bọn thầy phù thủy chuyên bề gian ngoan", câu 2624, và "thấy lũ thầy bói lao nhao khóc ròng", câu 2656).
    . Cuối cùng là tầng 9 (canto, đoạn, XXXI), gồm bốn vòng, giam những kẻ phạm tội nặng hơn hết, dưới mắt Dante. Đó là tội phản bội (trong L’Éneide, 29-19 BC, quyển 6, của Virgile, thi hào Latin được nàng Sibylle của Cumae dẫn xuống địa ngục tìm cha, đi qua nhiều cửa ngục giam giữ những tội nhân, nhưng khác với trong Inferno, người ta không thấy câu nào trong L'Énéide nhắc đến những kẻ phản bội. Trong truyện Phạm Công Cúc Hoa cũng thế). Tội nhân bị dìm đến cổ trong nước hồ Cocytus, quanh năm lạnh cóng. Đứng đầu là Satan, kẻ phản bội Thiên Chúa, có ba mặt với ba màu đỏ, đen và vàng. Vòng 1 giam những kẻ phản bội anh em, gia đình, ví dụ Cain, trong Kinh Thánh, đã giết Abel, em ruột của mình. Vòng 2, những kẻ phản quốc. Vòng 3, phản bội tân khách của mình (hôtes).
    Vòng 4 (canto XXXIV), chót nhất của Inferno, giam những kẻ phản bội chủ, thầy và ân nhân. Tại đây, Satan được chỉ định làm “cai tù”, tức “tù đầu gấu”, chuyên hành hạ những đồng tù, trong số có Judas Iscariot, kẻ bán Chúa, bị Satan nhai nát đầu, nhả ra, lột da lưng, nhưng cứ sống mãi, để cứ chịu cực hình ấy và đau đớn mãi. Và Cassius và Brutus, mà Dante cho là hai thủ phạm đã gây ra cuộc chính biến, phản bội và ám sát một người công chính, Caesar, và đã từ đó làm xáo trộn và hủy hoại sự thống nhất của đế quốc Rome. Satan dùng hai miệng bên trái và bên phải để ngậm và nhai đi nhai lại thân xác của Cassius và Brutus bị ngoạm ngược từ chân lên…
    Rời Địa ngục, hai thi hào của chúng ta đến thăm Purgatorio, nhưng đó là một chuyện kể khác.
    [​IMG]

    Dante nói chuyện với tội nhân (phản bội chủ và ân nhân) ở tầng 9, vòng 4
    . Rất tiếc, thi hào Dante sống vào thời Trung cổ Âu Châu. Nếu Inferno được viết vào những năm 1963 và sau đó nữa, chắc chắn ông sẽ ghi thêm một số tên lừa thầy phản bạn đời nay, Mỹ cũng như Việt Nam, vào danh sách những tội nhân bị giam dưới vòng cuối tầng 9 địa ngục, mà cái đầu bị Satan nhai mãi nhai hoài, vĩnh viễn.
    Trong số đó, ngoài những phản tướng, những Brutus thời đại, đã giết chủ mình, phải kể đến tên Hồ tặc và lũ lâu la bộ hạ phản quốc đã mang chủ nghĩa Cộng sản khốn nạn, quái thai, quái đản, quái dị, áp đặt trên đất nước Việt Nam, sát hại dân lành. Và xa hơn, nhưng không kém ác ôn, những tên Việt Gian hải ngoại –phản bội quê hương Miền Nam đã nuôi mình khôn lớn, phản bội lý tưởng quốc gia, xóa bỏ quốc kỳ và quốc ca mà biết bao chiến sĩ đã hy sinh máu xương để bảo vệ– thay nhau trở về tình nguyện làm thân khuyển mã cho bọn lãnh tụ Việt Cộng, tự phong, tham tàn, độc tài, ngu dốt.
    Phải chăng trong thời đại vô liêm sỉ, đảo điên, lừa lọc, tráo trở hiện nay của chúng ta, cũng giống như thời đại của Dante, tội phản bội là tội nặng nhất, đê tiện nhất?

    Portland, 28/11/2013
  5. DI SÃN OBAMA
    Author: Vũ Linh Posted on: 2017-10-24
    ...những chính sách thiên tả từ Mỹ qua Âu Châu đều thất bại...
    TT Trump đang lẳng lặng phá gỡ gia tài của TT Obama, lấy đi từng viên gạch một. Thiên hạ bị TTDC hớp hồn với những đòn đánh TT Trump đủ kiểu nổi đình nổi đám, nên ít để ý đến cả ngàn luật lệ và thủ tục lớn nhỏ đã và đang bị thu hồi hay lật ngược.
    Quyết định đầu tiên ai cũng thấy ngay là việc Mỹ chấm dứt tham gia vào hiệp ước xuyên Thái Bình Dương TPP.
    Quyết định gây sốc với thế giới là việc rút ra khỏi thoả thuận Paris về thay đổi khí hậu, xí xóa việc Mỹ còn thiếu hai tỷ đô do TT Obama hứa mà chưa đóng góp.
    Quyết định chấm dứt không nhận đơn xin gia hạn cư trú của trẻ em gốc Mỹ La-Tinh bị bố mẹ lùa qua Mỹ làm mỏ neo gây tranh cãi mạnh, dù TT Trump không thu hồi ngay sắc lệnh ‘ân xá’ trá hình của TT Obama mà chỉ ‘nhường’ quyền quyết định cuối cùng cho quốc hội.
    Quyết định gây khó khăn cho đồng minh là việc TT Trump từ chối không xác nhận Iran đã tôn trọng thỏa hiệp không phát triển vũ khí hạt nhân. Theo một quyết định do Thượng Viện biểu quyết năm 2015, quốc hội có hạn kỳ 60 ngày sau quyết định của tổng thống để biểu quyết gia hạn hay hủy bỏ thỏa ước.
    Với hai quyết định trên, TT Trump trao cho quốc hội quyền xác định lại theo đúng Hiến Pháp, chứ không giữ lại những sắc lệnh lờ mờ bất hợp hiến của TT Obama để lại. Ta cần thấy rõ là ông không chống cũng không ủng hộ hẳn hai quyết định DACA và Iran của TT Obama, chỉ là muốn hợp lệ hoá bằng cách để quốc hội chính thức quyết định.
    Mới đây nhất, TT Trump đã ra hai quyết định lớn liên quan đến Obamacare, không kể cỡ 4-5 quyết định nhỏ khác.
    Sắc lệnh đầu cho phép các công ty kinh doanh nhỏ kết hợp lại thành khối để có thể mua bảo hiểm tập thể cho nhân viên của họ. Trên căn bản mỗi công ty nhỏ mua bảo hiểm riêng rẽ sẽ phải trả bảo phí đắt hơn vì ít khách hàng nên sở phí nặng hơn, cũng như vì nhỏ nên khả năng trả giá với mấy hãng bảo hiểm lớn rất yếu. Hợp lại, họ có nhiều người mua bảo hiểm hơn, đồng thời cũng có tiếng nói mạnh hơn để có thể mua bảo hiểm rẻ hơn. Quyết định này nhắm giúp giới tiểu thương đang phải trả bảo phí quá cao dưới Obamacare.
    Sắc lệnh thứ hai chấm dứt việc liên bang trợ cấp các hãng bảo hiểm đang bị lỗ lã. Trong Obamacare, có điều khoản chính quyền liên bang có thể trợ cấp tài chánh cho các hãng bảo hiểm bị lỗ lã nặng. Nhưng vấn đề là Hạ Viện, là cơ quan nắm hầu bao theo Hiến Pháp, mới có quyền quyết định ngân sách trợ cấp này. Ngay khi Obamacare được ban hành, đảng DC còn nắm đa số, mà Hạ Viện vẫn không đạt được thoả thuận, do đó đã không chuẩn chi số tiền dành cho trợ cấp này. Sau khi CH nắm đa số năm 2011 thì dĩ nhiên Hạ Viện không chuẩn chi nữa. Tức là không có tiền để trợ cấp. TT Obama đơn phương xuất quỹ trợ cấp, cho đến nay lên tới hơn 7 tỷ đô. Phe CH khởi kiện TT Obama vi phạm nguyên tắc phân quyền, lấn qua quyền của Lập Pháp, tự ý chi tiền không do Hạ Viện chuẩn chi. Tòa án liên bang phán quyết TT Obama vi phạm Hiến Pháp. Ông Trump đắc cử, tuân thủ theo quyết định của tòa, chấm dứt quyết định vi hiến này của TT Obama.
    Cả hai quyết định bị đảng DC và TTDC tấn công tàn bạo, cho rằng nếu Obamacare thất bại trong những năm tháng tới, đó sẽ là do TT Trump cố tình phá hoại. Chưa chi thì DC và TTDC đã dàn trận để chuẩn bị đổ thừa TT Trump là nguyên nhân Obamacare thất bại.
    Miả mai thay, chấm dứt một quyết định vi hiến của TT Obama theo án lệnh tòa lại bị TTDC tấn công là làm chuyện phi pháp. Đố ai giải thích được?
    Các hãng bảo hiểm bị mất trợ cấp dĩ nhiên nhao nhao phản đối, hù dọa cả triệu người sẽ phải trả bảo phí cao hơn, hay thậm chí mất bảo hiểm luôn vì nhiều hãng bảo hiểm sẽ khánh tận, đóng cửa.
    TTDC mau mắn đổ lỗi bảo phí sẽ tăng 30%-50% sau quyết định của TT Trump. Fake news dĩ nhiên! Bảo phí đã tăng không ngừng từ ngày Obamacare ra đời, trên cả nước, chứ không phải đợi đến quyết định mới của T Trump mới tăng, nhất là khi quyết định này chỉ ảnh hưởng tới vài hãng bảo hiểm nhỏ với tổng cộng 5-7 triệu khách hàng, chứ không ảnh hưởng gì đến hơn 330 triệu dân Mỹ. Nghiã là bảo phí tăng hoàn toàn do Obamacare khiến các hãng này lỗ nặng, cần tăng bảo phí thôi, chẳng ăn nhập gì đến quyết định của TT Trump.
    Ở đây, các ông bà tỵ nạn nên cảnh giác kẻo bị fake news lừa. Trợ cấp TT Trump chấm dứt là trợ cấp của chính quyền liên bang giúp nuôi dưỡng các công ty bảo hiểm nhỏ đang bị lỗ lã, không phải là trợ cấp những người lợi tức thấp nhận được để giúp mua bảo hiểm y tế. Nguyên tắc Nhà Nước trợ cấp nuôi các kinh doanh lỗ lã luôn là nguyên tắc chỉ đạo của các chế độ CS và xã hội chủ nghiã để nuôi dưỡng các công ty quốc doanh quản trị bết bát.
    Với việc chấm dứt trợ cấp, các hãng bảo hiểm này bắt buộc phải chỉnh đốn quản lý, nếu không sẽ bị đào thải. Thông thường là sẽ bị các hãng bảo hiểm lớn hơn, quản trị tốt hơn, mua lại. Chẳng ảnh hưởng gì đến người mua bảo hiểm. Trong trường hợp mấy hãng yếu kém này tăng co-pay hay bảo phí, đương nhiên sẽ mất khách hàng khi người mua bảo hiểm đổi qua hãng khác.
    Tóm lại, dân tỵ nạn không có gì phải hoảng hốt. Medicare, MediCal hay Medicaid đều không bị ảnh hưởng. Những người đang có Obamacare cũng không liên lụy gì. Đừng tin fake news của TTDC, nhất là những tin được vài cụ tỵ nạn thêm cả hũ mắm ruốc vào.
    Trên căn bản, Obamacare có quá nhiều sai sót, là một đại họa kinh tế đúng ra phải thu hồi, thay thế bằng một luật y tế mới. Nhưng vì những bất đồng quan điểm nội bộ, phe CH đã không đạt được thống nhất ý kiến để rồi không đủ phiếu để thay thế Obamacare. TT Trump bất mãn trước sự thất bại này, quyết định ra tay, vừa gặm nhấm luật, vừa ép quốc hội phải làm một cái gì để ít ra cũng sửa dần những sai lầm của Obamacare. Trong tương lai, TT Trump chắc chắn sẽ kiếm ra thêm kẽ hở để ép quốc hội phải sửa đổi thêm nữa nếu phe CH vẫn không thể đồng ý để thay thế toàn bộ Obamacare, cho đến khi Obamacare biến thái, không còn là Obamacare nữa. Đó là cách TT Trump lẳng lặng thu hồi Obamacare sau khi CH thất bại tại quốc hội.
    Sở dĩ TT Trump có thể thu hồi, hủy bỏ, quá dễ dàng những ‘luật’ của TT Obama như vậy chỉ vì những luật đó đều bất hợp lệ, bất hợp pháp, hay bất hợp hiến! Những quyết định lớn đó đều do TT Obama đơn thân độc mã tự ý quyết định không chính thức là luật được quốc hội phê chuẩn, nên TT Trump cũng có thể hoàn toàn đơn thân độc mã thu hồi hay hủy bỏ, không cần bàn với quốc hội. Ta nhìn lại mỗi trường hợp sẽ thấy rõ.
    1. TPP. TT Obama bỏ cả 8 năm điều đình mới ra được một thoả thuận về quan hệ giao thương liên Thái Bình Dương. Nhưng ông biết rõ những điều ông thỏa thuận rất bất lợi cho Mỹ, đặc biệt là cho giới lao động thợ thuyền Mỹ và sẽ bị chống đối mạnh. Nên ông ma mãnh, ngâm tôm, không đưa ra quốc hội để thảo luận, cũng chẳng chính thức ký gì, hy vọng sẽ bán cái qua vị tổng thống kế nhiệm, tức là bà Hillary. Không ngờ ông Trump đắc cử, hủy bỏ TPP dễ như trở bàn tay vì chưa được quốc hội thảo luận, chưa ai ký.
    2. Hiệp Ước Paris về hâm nóng địa cầu. Cả trăm nước thỏa thuận thật, nhưng không kể các nước độc tài ruồi bu, hầu hết các đại cường tham gia đều hiểu sẽ không có cách nào thỏa thuận đó có thể thông qua quốc hội hay cho dù được thông qua, cũng chẳng thể thi hành được. Do đó, tất cả đều đồng ý thỏa ước này chỉ có tính... tùy hỷ, ai muốn tôn trọng thì tôn trọng, không tôn trọng cũng chẳng sao. Ngay cả TT Obama cũng chẳng hề mang thỏa ước Paris ra trước quốc hội để thảo luận, chứ đừng nói phê duyệt. Kết quả, TT Trump xé một cái rẹc, chẳng có vấn đề pháp lý gì ráo.
    3. DACA. Đây cũng là một quyết định đơn phương qua sắc lệnh của TT Obama chứ không phải một luật chính danh được quốc hội phê duyệt. TT Trump có muốn chấm dứt hoàn toàn cũng chẳng có trở ngại pháp lý nào.
    4. Hiệp ước Iran. Thỏa ước không mang tính cách thỏa ước quốc tế chính thức đã được quốc hội phê chuẩn mà chỉ là một quyết định của Hành Pháp Obama mà Hành Pháp Trump có thể thu hồi bất cứ lúc nào.
    5. Obamacare. Ngay cả thành quả để đời của TT Obama, Obamacare cũng chỉ là một luật thông qua bằng cửa sau, được Thượng Viện phê chuẩn như một phụ đính của luật ngân sách (budget reconciliation). Đã vậy, việc thực hành Obamacare lại còn dựa trên những sắc lệnh phụ đính hoàn toàn bất hợp hiến như sắc lệnh của TT Obama chi 7 tỷ đô trợ cấp đã bàn ở trên.
    Nếu tất cả những quyết định đó của TT Obama đều quá đúng, quá tốt như phe cấp tiến đang cố bênh vực, thì sao không được quốc hội phê chuẩn một cách danh chính ngôn thuận, thành luật không dễ dàng thu hồi được? Trẻ con tiểu học cũng trả lời câu hỏi này được.
    New York Times sỉ vả TT Trump là Hitler, hành xử bất chấp luật lệ khi ông ra tay thu hồi hay hủy bỏ các sắc lệnh của TT Obama. Điều lạ là sao NYT không khiếu nại TT Obama đã hành xử độc tài, bất hợp pháp khi quản trị nước bằng sắc lệnh không thông qua quốc hội? Thay vì ký sắc lệnh loạn xà ngầu, TT Obama ra luật đàng hoàng với quốc hội phê chuẩn một cách chính danh, hợp hiến, thì làm sao TT Trump có thể ký sắc lệnh thu hồi được. Một người bừa bãi ký sắc lệnh bất hợp hiến, một người thu hồi lại, ai là Hitler?
    Một câu hỏi lớn: trước việc di sản của mình đang thành mây khói, TT Obama đã phản ứng ra sao? Rõ ràng là ông đã không lớn tiếng chống đối vì ông hiểu rõ những quyết định của ông bất hợp pháp, không được hậu thuẫn ngay từ đầu, do đó mới không thông qua quốc hội được. Với kinh nghiệm của một chuyên gia tổ chức cộng đồng, ông lẳng lặng ở lại thủ đô để tổ chức từ hạ tầng quần chúng một phong trào chẳng những chống phá TT Trump, mà trường kỳ hơn, chống CH, chống ý thức hệ bảo thủ, phát huy những tư tưởng thiên tả của ông. Những cán bộ chủ chốt của tổ chức này, tên là Organization for Action, phần lớn là những chuyên gia xách động quần chúng của các tổ chức thiên tả nhất. Tổ chức hiện nay đã có hơn 30.000 đoàn viên, hầu hết là dân da đen và sinh viên thiên tả.
    Tổ chức này hiện nay chủ yếu chống mọi quyết định của TT Trump. Mỗi lần có quyết định nào, tổ chức vội xách động quần chúng biểu tình, liên lạc qua emails, twitter, facebook chống lại, đồng thời vận động hành lang với các nghị sĩ và dân biểu, và phối hợp với TTDC để đồng loạt đánh cho nhịp nhàng. TT Obama là cựu tổng thống duy nhất trong lịch sử Mỹ chơi trò này đối với vị tiền nhiệm.
    Càng ngày các chuyên gia càng nhìn thấy sau lưng những múa may, hò hét lăng nhăng của TT Trump là cả một chiến lược quy củ, mang dấu ấn ‘Trump’ rõ nét nhất.
    Cách hành xử của TT Trump không giống bất cứ vị lãnh đạo nào. Bình thường thì người lãnh đạo đứng sau (kiểu như sách lược ‘lãnh đạo từ phiá sau’ của TT Obama !), đóng vai kẻ cả, cho đàn em đi húc đánh thiên hạ. TT Trump ngược lại, đóng vai trò xe ủi đất đi trước ‘ủi bãi đáp’ cho đàn em thong thả làm công việc của họ. Nói như bộ trưởng Gia Cư Ben Carson, “ông Trump nhẩy ra khiêu khích để lãnh đạn hết, cho chúng tôi rủng rỉnh lo công việc, ít ai để ý, ít ai cản trở”.
    Đó là lý do chính giải thích tại sao TT Trump có quyền sỉ vả nội các, mà mấy ông này vẫn bình thường, chẳng ai giận, từ chức hết. Họ biết TT Trump đang đóng vai chặt cây mở đường cho họ nên họ chấp nhận những bực mình chửi bới của ông khi công việc họ làm không trơn chu. Họ cũng hiểu TT Trump đang có kế sách điệu hổ ly sơn, lôi sự chú ý của đối lập vào những trò màu mè vô nghiã trong khi lẳng lặng làm chuyện đổi luật.
    Các viên chức cao cấp tỷ phú trong nội các Trump, họ làm việc vì lý tưởng, vì dấu ấn họ muốn để lại, chứ không phải vì đồng lương. Họ cũng đủ khả năng để hiểu thành quả cuối cùng mới quan trọng chứ ba cái chuyện bực mình la hét của TT Trump không đáng quan tâm. Ông Gary Cohn, chủ tịch hội đồng cố vấn kinh tế, có nhiều bất đồng với TT Trump, bị TTDC xúi dục từ chức. Ông nói huỵch tẹt “TT Trump nhờ tôi giúp trong kế hoặch giảm thuế, đây là công việc để đời quá quan trọng, tôi không để ý đến những chuyện lặt vặt khác”.
    Báo ‘cừu địch’ Newsweek nhận định nội các của Trump đa số là những người lớn phải đóng vai canh chừng anh con nít Trump. Newsweek quên mất chính anh “con nít” Trump đã là người tuyển lựa cái nội các “người lớn” đó.
    Ở đây, ta nhớ lại TT Nixon chuyên môn đóng vai điên khùng –mad man- để nhường vai trò chính khách thương thảo nghiêm chỉnh –stateman- cho Kissinger.
    TTDC dĩ nhiên vì lo đánh Trump, nên chỉ nhìn thấy diện mà không nhìn thấy điểm, chỉ đào bới chuyện vụn vặt mà không nhìn thấy bức tranh lớn. Họ cũng quên mất đánh quá sẽ mất hết ý nghiã, nhàm chán, không ai muốn đọc hay tin nữa, ngoại trừ một thiểu số chống cuồng dại, muốn đọc và phổ biến những tin bất lợi cho TT Trump, dù là tin loại “xe cán chó”, để tự thỏa mãn, bớt ấm ức.
    Thăm dò mới nhất của Politico –một trang thông tin mạng không “thân thiện” gì với TT Trump- cho thấy gần một nửa dân Mỹ (46%) cho rằng TTDC phịa tin –fabricate news- để đánh Trump, trong đó có cử tri độc lập không đảng phái (44%), và cả cử tri đảng DC luôn (20%, tức là trong 5 cử tri DC thì đã có 1 người nghĩ TTDC phịa tin!).
    Tin mới nhất do Newsweek tung ra: bà Melania đã bỏ ông Trump, người đang đi cạnh ông là người khác giả dạng. Newsweek, một trong những tạp chí lớn uy tín, đã biến thành loại báo lá cải phát không tại chợ Bolsa, không khác gì Time, New York Times hay Washington Post. Chẳng trách chỉ có chưa tới 30% dân Mỹ tin TTDC, thua xa tỷ lệ hậu thuẫn bị coi là yếu kém của TT Trump.
    Vấn đề lớn mà những người mù quáng chống TT Trump không nhìn thấy là con người TT Trump cũng như cách hành xử của ông, có nhiều chỗ đáng chê trách và dân Mỹ, kể cả không ít những người đã bầu cho ông, có nhiều người không ưa ông ta thật, nhưng các chính sách của ông lại là những cái mà dân Mỹ ngày nay thấy hợp ý nhất. Từ quan điểm chống di dân, đến việc chống chế độ Nhà Nước vú em, quyết tâm thay thế Obamacare, ý định giảm thuế đồng loạt, phục hồi công ăn việc làm, cắt giảm luật lệ và thủ tục hành chánh quá rườm rà, nhất quyết đánh khủng bố mạnh tận gốc, làm cho nước Mỹ mạnh lại,... tất cả đều là những điểm thu hút hậu thuẫn mạnh của dân Mỹ.
    Lật ngược tất cả các điểm trên, ta sẽ thấy quan điểm của đảng đối lập DC, và hiểu tại sao DC đã thất bại nặng trong mấy kỳ bầu cử mấy năm qua, và vẫn không có triển vọng chiếm lại quyền trong tương lai gần. Do đó, không nên lấy làm lạ khi ông Trump vẫn là sự lựa chọn của dân Mỹ bất kể cách hành xử quái chiêu của ông ta, vì ông là người thi hành những chính sách mà dân Mỹ mong muốn.
    Nói cách khác, trình độ ý thức chính trị của dân Mỹ đủ cao để phân biệt rõ ràng cá nhân và chính sách. Họ bỏ phiếu cho Trump là bỏ phiếu cho một chính sách, chứ không nhất thiết là bỏ phiếu cho một cá nhân.
    Nhìn vào tình hình thế giới, dường như quan điểm bảo thủ, ái quốc tích cực, trong chủ trương ‘America first’ hiện nay đang là trào lưu mới của thế giới. Nước Áo (Austria) mới đây đã bầu một thủ tướng trẻ măng, mới có 31 tuổi, thuộc khuynh hướng bảo thủ nặng, chống chính sách di dân thả giàn hiện hữu của Áo, và cũng chủ trương ‘Austria First’ y chang TT Trump. Áo cũng là quốc gia mới đây đã ra luật cấm phụ nữ mặc burqa, tức là áo choàng đen bịt kín từ đầu đến chân của phụ nữ Hồi. Ngay cả tiểu bang Quebec của xứ cấp tiến nặng Canada cũng đã ra luật cấm phụ nữ bịt mặt khi giao dịch với nhân viên công quyền, kể cả đi xe buýt công cộng, hay vào thư viện của Nhà Nước, hay làm giấy tờ hành chánh. Những chuyện này mà xẩy ra ở Mỹ, bảo đảm sẽ có vài ông quan tòa cấp tiến ra lệnh cấm thi hành ngay vì kỳ thị Hồi giáo.
    Cộng Hòa Tiệp (Czech Republic) vừa có bầu cử và ông chính khách có biệt danh là ‘Trump của Tiệp’ đã đại thắng, sẽ là thủ tướng. Tại Tân Tây Lan, bà tân thủ tướng đang thành lập chính phủ liên hiệp với đảng New Zealand First, một đảng bảo thủ mà cái tên không cũng đã mang đầy đủ ý nghiã.
    Thế giới đang đi về phiá hữu khi các phong trào quốc gia bộc phát mạnh như phản ứng tự nhiên sau khi những chính sách thiên tả từ Mỹ qua Âu Châu đều thất bại.
    Dù sao, những việc TT Trump đang làm chỉ mới là những bước đầu. Gia tài tai hại TT Obama để lại còn nhiều lắm: kỷ lục dân sống nhờ trợ cấp, cả triệu dân lao động chưa kiếm lại được việc làm tương xứng, cả chục triệu di dân bất hợp pháp chưa biết phải giải quyết như thế nào, nền tảng đạo đức luân lý lung lay tận gốc dưới những quái chiêu ‘phải đạo chính trị’, kiểu như những người hùng của thời đại là những người coi quốc kỳ như dẻ rách nhân danh tự do tư tưởng.
    Chưa nói đến chuyện trong 8 năm Obama, TC hùng cứ Biển Đông, Nga thao túng Bắc Á, Cậu Ấm Ủn tự do phát triển bom và hỏa tiễn,... là những tai họa lớn mà TT Trump khó có thể lật ngược lại được.
    Nói trắng ra, gia tài của TT Obama chỉ là một lâu đài bài tây xếp trên cát vì đều bất hợp lệ. Đây chính là cái dở, cái sai lầm lớn của TT Obama để rồi sau khi ra đi, gia tài ông để lại không có một thành quả tốt nào. (22-10-17)
    Vũ Linh
  6. Thân phận "đồng minh" của Đệ nhất VNCH...

    Khi Mỹ vẽ lại lịch sử cuộc chiến VN.
    • [​IMG]
    • [​IMG]
    Thứ Năm, 12 tháng Mười năm 2017 15:49
    Tác Giả: Lữ Giang



    Trong bài “Tất cả chính trị đều là ‘thực tế’ được giàn dựng”, cựu Dân biểu Robert Linlithgow đã viết: “Chính trị được giàn dựng. Nó không phải là thực tế.” (Politics is staged. It’s not reality). Quả đúng như vậy. Nhìn lại đống tài liệu về cuộc chiến Việt Nam từ 1954 đến 1975 dày khoảng 150.000 trang đã được Mỹ giải mã, chúng ta thấy các biến cố quan trọng đều do Mỹ giàn dựng rất công phu, từ việc lèo lái chính phủ Ngô Đình Diệm đi theo đường lối của Mỹ đến vụ giết hai tổng thống Ngô Đình Diệm và John Kennedy để đổ quân vào Việt Nam, thực hiệc mục tiêu của cuộc chiến rồi bỏ rơi Miền Nam… đều đã được tính toán rất tỉ mỉ và chính xác.

    [​IMG]
    Averell Harriman, kẻ ra lệnh giết ông Diệm và ông Nhu

    Mặc dầu đống tài liệu được giải mã cao ngất còn nằm sờ sờ trước mắt, tứ 1975 đến nay, Mỹ đã cho giàn dựng lại cuộc chiến Việt Nam với nhiều tình tiết rất khác xa với thực tế và sử liệu đã được công bố, để phục vụ cho các chính sách và mục tiêu từng giai đoạn của Mỹ.

    NHỮNG NỖ LỰC ĐÁNG BUỒN

    Có 4 bộ phim giàn dựng lại cuộc chiến VN đã được người Việt hải ngoại quan tâm và phản đối vì cho rằng không trung thực.

    Bộ thứ nhất: “Vietnam The Ten Thousand Day War” (Việt Nam cuộc chiến 10.000 ngày) của Michael Maclear phổ biến 1980. Trọn bộ 13 tập.

    Bộ thứ hai: “Vietnam: A Television History” (Việt Nam: một Lịch sử Truyền hình) gồm 13 tập do hãng WGBH-TV (thuộc PBS) ở Boston phổ biến năm 1983.

    Bộ thứ ba: “Last days in Vietnam” (Những ngày cuối cùng ở Việt Nam) do đạo diễn Rory Kennedy thực hiện và phổ biến năm 2014.

    Bộ thứ tư: “The Vietnam War” (Cuộc chiến Việt Nam) gồm 10 tập, do hai nhà đạo diễn Ken Burnes và Lynn Novick thực hiện, PBS mới phổ biến.

    Bộ thứ tư này quan trọng nhất, được mấy chục tổ chức tài chánh và truyền hình Mỹ tài trợ, đứng đầu là BANK OF AMERICA, Corporation for Public Broadcasting (CPB), The Public Broadcasting Service (PBS), The Park Foundation, The Arthur Vining Davis Foundations… Đạo diễn Ken Burns khoe đã phỏng vấn gần 80 nhân chứng, bao gồm cả những người Mỹ từng tham chiến và những người phản chiến, những người lính chiến và dân thường của cả hai phía Việt Nam, người thắng và người bại trong cuộc chiến. Ông nói: Hơn bốn mươi năm đã trôi qua kể từ khi cuộc chiến kết thúc, chúng ta vẫn chưa thể quên Việt Nam. Và chúng ta vẫn còn tranh luận vì sao cuộc chiến này lại đi đến sai lầm, trách nhiệm thuộc về ai và có đáng có một cuộc chiến như thế này không.”

    Như chúng tôi đã nói, những thông tin được thu lợm kiểu này chỉ có thể được dùng để nói lên cách nhìn của một số cá nhân về cuộc chiến hay đưa tới những kết luận mà người phỏng vấn muốn, chứ không thể dùng làm sử liệu được, vì việc chọn người được phỏng vấn nhiều khi thiếu khách quan, những điều họ biết nhiều khi chỉ là một phần nhỏ của vấn đề và cảm tính thường xen lấn vào…

    Ngoài dùng phim ảnh, Mỹ còn tổ chức các cuộc hội thảo để vẽ lại cuộc chiến Việt Nam.

    Trong ba ngày 26, 27 và 28.4.2016, “Hội Nghị Thượng Đỉnh về Chiến Tranh Việt Nam” (Vietnam War Summit) đã được Hoa Kỳ tổ chức tại Thư Viện LBJ, Austin, Texas, để vẽ lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam và đưa chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào thay chỗ của VNCH trước 1975. Nhân vật chính trong hội nghị là cựu Ngoại Trưởng Kissinger đã tuyên bố: “Không có ai muốn chiến tranh, không có ai muốn leo thang chiến tranh. Họ đều muốn hòa bình. Nhưng câu hỏi là, “Trong những điều kiện nào bạn có thể làm điều đó?”. Theo ông, thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam là do chính người Mỹ tự gây ra, và trước hết là đã đánh giá thấp sự kiên trì của giới lãnh đạo Bắc Việt!

    KHÓ GỠ THÌ TÌM CÁCH ĐẠP XUỐNG

    Khi vẽ lại chiến tranh Việt Nam để biến đen thành trắng và trắng thành đen, điều mà Mỹ gặp khó khăn nhất là việc lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trong cuốn hồi ký mang tên “The memoirs of Richard Nixon”, Tổng Tống Nixon có kể lại rằng khi đến Pakistan, ông đã gặp lại người bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan. Tổng Thống Khan đã nói một cách đau buồn về việc hạ sát Tổng Tống Ngô Đình Diệm như sau:

    “Tôi không thể nói – lẽ ra các ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm ngay từ đầu. Nhưng các ông đã ủng hộ ông ta trong một thời gian dài và mọi người ở Á Châu đều biết điều đó. Dù họ có tán thành hay không tán thành điều đó, họ biết điều đó. Rồi đột nhiên các ông ngừng ủng hộ ông ta – và ông Diệm đã bị giết.” Ông ta lắc đầu và kết luận: “Việc hạ sát ông Diệm có ba ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo Á Châu: làm một người bạn với Hoa Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải trả cái giá của nó; và đôi khi làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt hơn! Lòng tin cậy như một sợi chỉ mong manh và một khi nó đã đứt, rất khó mà nối lại.”

    Đó là một thực tế không thể phủ nhận được. Để làm giảm nhẹ bớt ảnh hưởng của biến cố tai hại này. khi vẽ lại lịch sử, Mỹ gần như không muốn nói về những gì đã xảy ra dưới thời Đệ I VNCH, chỉ đưa ra vài lời “chúc dữ” ông Diệm với ẩn ý giải thích tại sao Mỹ phải lật đổ và giết ông ta. Trong bộ phim “Vietnam: A Television History”, Mỹ đặt tên tập 3 là “America's Mandarin (1954–1963)" (Vị Quan lại của Hoa Kỳ) trong đó mô tả ông Diệm đã áp dụng chế độ gia đình trị, nên Việt Cộng nổi lên chống Diệm và trở thành một sự đe dọa nghiêm trọng khiến Mỹ phải đưa quân vào để cứu Miền Nam. Trong bộ “The Vietnam War” Mỹ lại cho rằng ông Diệm "kiêu căng" và "ngạo mạn" một "đấng cứu thế không có thông điệp"…

    Tuy nhiên, mặc dầu đã lấp liếm và đạp Đệ I VNCH xuống như vậy, hiện nay không một nước nào ở Đông Nam Á chịu đi theo Mỹ như VNCH trước đây, một số đứng hẳn về phía Trung Quốc và một số bắt cá hai tay. Để ngăn chận Việt Nam đứng hẵn về phía Trung Quốc, Mỹ phải ký tuyên bố “đối tác toàn diện” với Việt Nam và đang vẽ lại lịch sử chiến tranh Việt Nam để tiến tới “hòa giả hòa hợp”.

    Để làm sáng tỏ lịch sử trong giai đoạn này, trong phạm vi bài này chúng tôi sẽ căn cứ vào sử liệu do Mỹ công bố, trình bày khái lược những thủ đoạn Mỹ đã xử dụng khi xây dựng rồi phá sập chế dộ Đệ I VNCH để tạo lý do đổ quân vào Việt Nam, thực hiện cuộc chiến mà Mỹ muốn.

    CHUYỆN ‘KHI ĐỒNG MINH NHẢY VÀO”

    Cầm cuốn “Khi Đồng Minh nhảy vào” của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, tôi mở ra và tìm ngay có Nghị quyết số NSC 5429/2 ngày 20.8.1954 của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ hay không.

    Ông Diệm mới chấp chánh ngày 7.7.1954 thì ngày 20.8.1954, tức chỉ 43 ngày sau, HĐANQGHK đã họp và ban hành nghị quyết nói về chính sách của Hoa Kỳ sau Hiệp định Genève (US policies toward post-Geneva Vietnam), đồng thời phái Trung Tá Lansdale thuộc cơ quan OSS (tiền thân của CIA) đến hướng dẫn ông Diệm làm. Ông Diệm và ông Nhu không hay biết gì cả. Nghị quyết này được in trong bộ Foreign Relations of the United States (FRUS), 1952–1954, East Asia and the Pacific, Vol. XII, Part 1. p. 769 – 976.

    [​IMG]
    Đại tá Lansdale được phái đển giúp ông Diệm

    Tôi rất mừng khi thấy sách Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có nghị quyết đó đăng ở trang 198 – 200. Nhưng tôi thất vọng khi thấy Tiến Sĩ Hưng chỉ tóm lược phần phân tích và nhận định của nghị quyết mà thôi, còn phần các kế hoạch hành động cụ thể không được nói đến. Có lẽ Tiến Sĩ Hưng chưa đọc hết các tài liệu liên quan, nên không biết kế hoạch đó nằm trong phần Phụ đính, không in trong bộ FRUS 1952 – 1954, mà in trong The Pentagon Papers!

    Về phương diện chính trị, kế hoạch này đã ấn định như sau:

    “Chính trị: Pháp phải trao trả độc lập hoàn toàn (gồm cả quyền rút lui khỏi Liên Hiệp Pháp) cho Nam Việt Nam và và yểm trợ một chính phủ bản xứ mạnh (a strong indigenous government). Diệm phải mở rộng căn bản chính phủ, bầu cử quốc hội, soạn thảo hiến pháp và truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp (legally dethrone Bao Dai). Sự hợp tác và hỗ trợ của Pháp cho những chính sách này là cần thiết; duy trì FEC (French Expeditionary Corps - Quân Đội Viễn Chính Pháp), là chủ yếu đối với an ninh Nam Việt Nam.”

    (Gravel Edition, The Pentagon Papers, Volume I, Beacon Press, Boston, 1971, p. 204)

    Chỉ với những câu viết vắn gọn như vậy, khi được triển khai, nó trở thành những biến cố lớn. Đọc các sử liệu tiếp theo, chúng ta sẽ hiểu tại sao ông Diệm phải truất phế Bảo Đại đến hai lần, việc dẹp tan các giáo phái, thống nhất quân đội và hình thành một chính phủ bản xứ mạnh (a strong indigenous government) bằng cách tiến tới một chế độ độc đảng gióng Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan.

    Tướng Lansdale đã tranh luận rất gay gắt với ông Frederick Reinhardt, Đại Sứ Hoa Kỳ tại VNCH (1955 – 1957) lúc đó về việc thành lập Đảng Cần Lao. Nhưng Đại sứ Reinhardt bảo: “Vì ông Diệm nay là Tổng Thống được bầu, ông ấy cần có một đảng riêng của ông”. Tướng Lansdale cho biết thêm: “Ông Reinhardt nói với tôi một cách cương quyết rằng quyết định về chính sách của Hoa Kỳ đã được ấn định và tôi phải hướng các hành động của tôi theo nó.” Trong bản phúc trình 17.1.1961 Tướng Lansdale nói rõ: “Đảng Cần Lao không phải là ý kiến của nhà Ngô, “trước tiên nó được đề xướng bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ” để loại bỏ cộng sản ra khỏi đất nước (the CLP was not their idea; it "was originally promoted by the U.S. State Department" to rid the country of communists).

    Tuy nhiên, khi Mỹ muốn đem quân vào Việt Nam để thực hiện mục tiêu mà Mỹ muốn, ông Diệm không đồng ý, Mỹ liền đảo ngược kế hoach lại.

    KHI MỸ QUYẾT PHÁ SẬP ĐỆ I VNCH

    Ngày 14.3.1957, ông Elbridge Durbrow được bổ nhiệm làm Đại sứ Mỹ tại VNCH thay thế Đại sứ G. Frederick Reinhardt. Kế hoạch phá sập chế độ Ngô Đình Diệm bắt đầu.

    [​IMG]
    Đại sứ Durbrow được phái đến để phá sập Đệ I VNCH

    Nếu khởi đầu Mỹ muốn ông Diệm hình thành tại miền Nam một chế độ gióng các chế độ chuyên chế của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, của Park Chung Hee ở Nam Hàn, của Sukarno và Suharto ở Nam Đương hay của Lý Quang Diệu ở Singapore... để loại bỏ cộng sản khỏi đất nước (to rid the country of communists), thì nay Đại sứ Durbrow yêu cầu ông Diệm “thực hiện dân chủ để được lòng dân và thắng cộng sản”. Tướng Lansdale đã phản đối vì cho ràng việc thay đổi nhanh như thế sẽ làm Miền Nam trở thành bất ổn.

    Năm 1960 Đại Sứ Durbrow đã yểm trợ thành lập Khối Tự Do Tiến Bộ, thường được gọi là nhóm Caravelle, do ông Phan Khắc Sửu làm Trưởng Khối, để vận động thay thế ông Diệm. Tướng Lansdale đã viết giác thư đề ngày 20.9.1960 phân tích những sai lầm của Đại Sứ Durbrow. Nhưng Washington im lặng.

    Một cuộc đảo chánh đã xảy ra ngày 11.11.1960, có nhiều thành phần của nhóm Caravelle tham dự. Cuộc đảo chánh thất bại. Hôm 4.12.1960 Đại Sứ Durbrow đã phải cho Luật sư Hoàng Cơ Thụy ngồi co gối trong thùng ngoại giao (valise diplomatique) để đưa ra khỏi Việt Nam.

    Vì Đại Sứ Durbrow có nhiều bất đồng với chính phủ Ngô Đình Diệm và tai tiếng trong vụ đảo chánh ngày 11.11.1960, ngày 15.3.1961 Tổng Thống Kennedy đã quyết định cử ông Federick E. Nolting làm Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn thay thế Durbrow. Nhưng ngày 17.8.1963 Bộ Ngoại Giao đã cử ông Henry Cabot Lodge đến làm đại sứ tại Sài Gòn để tổ chức lật đổ và giết Tổng Thống Diệm.

    MỞ ĐƯỜNG CHO BẮC VIỆT XÂM NHẬP VÀO MIỀN NAM

    Từ ngày 12 đến 22.1.1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN đã họp Hội nghị lần thứ 15 tại Hà Nội dưa ra nghị quyết “giải phóng miền Nam”. Tháng 5 năm 1959, Hà Nội quyết định mở con đường Tây Trường Sơn trên đất Lào để xâm nhập vào Miền Nam, lấy tên là Đường 559, thường được gọi là đường Hồ Chí Minh.

    Muốn đi vào Nam, bộ đội Bắc Việt phải từ Quảng Bình theo quốc lộ 12 đi qua Lào bằng đèo Mụ Giạ rồi tiến vào Nam. Cái trở ngại lớn mà Cộng quân gặp phải là con đường số 9 nối liền Đồng Hà với tỉnh Savannakhet, nơi có quân đội VNCH tuần phòng thường xuyên. Cộng quân phải lập mật khu 601 gần Tchépone, nằm cách biên giới Việt – Lào khoảng 40 cây số để làm nơi trú quân. Từ đó Cộng quân vượt qua đường số 9 rồi đi lên cao nguyên Boloven để xuống ngã ba Tam Biên.

    Chính phủ Ngô Đình Diệm đã ký hiệp ước với Lào cho Quân Lực VNCH đóng chốt ở Tchépone và Mường Phín, đồng thời giao cho Thiếu Tá Trần Khắc Kính, Phó Giám Đốc Sở Liên Lạc, mở các cuộc hành quân trên đất Lào để ngăn chận Cộng quân xâm nhập vào miền Nam. Số quân VNCH đóng chốt và hành quân ở Lào có lúc lên đến khoảng 170.000 người. Cộng quân khó xâm nhập được.

    Đùng một cái, ngày 25.1.1963, Tổng Thống Kennedy tuyên bố ông muốn biến Lào thành “một nước độc lập, hòa bình và không liên kết”. Averell Harriman, Thứ Tưởng Ngoại Giao về Vấn Đề Chính Trị, được coi là người có quyền hành nhất lúc đó tại Tòa Bạch Ốc, cho rằng phải trung lập hóa Lào để ngăn chận Cộng quân dùng đất Lào xâm nhập vào Miền Nam. Ngày 16.5.1961, một Hội Nghị Quốc Tế Giải Quyết Vấn Đề Lào được triệu tập tại Genève. Chính phủ Ngô Đình Diệm phản đối rất mạnh, nhưng Harriman cứ tiến tới. Ngày 23.7.1962, Hiệp Ước Hòa Bình tại Lào đã được ký kết, 666 cố vấn Mỹ và toàn bộ quân đội của VNCH phải rút khỏi Lào. Bắc Việt cũng cam kết như thế. Nhưng thực tế không như Harriman tuyên bố. Theo báo cáo của CIA, sau khi Lào tuyên bố trung lập, khoảng 7000 bộ đội Bắc Việt chẳng những không chịu rút khỏi Lào mà còn bành trướng thêm.

    [​IMG]
    Henry Cabot Lodge, kẻ thi hành lệnh đảo chánh, giết ông Diệm và ông Nhu

    Nhiều người tin rằng Harriman đã mở đường cho Bắc Việt tràn vào Miền Nam rồi viện vào lý do đó tuyên bố phải đổ quân vào để “cứu Miền Nam”!

    LỊCH SỬ VẪN LÀ LỊCH SỬ…

    Trên đây là những nét đại cương về tình hình Miền Nam dưới thời Đệ I VNCH được tìm thấy trong sử liệu của Mỹ, nhưng khi vẽ lại lịch sử chiến tranh Việt Nam để phục vụ mục tiêu mới, Mỹ đã tìm cách bôi bác để che dấu sự thật.

    Robert F. Turner, Giáo sư Luật tại Đại học Virginia và cũng là một học giả nổi tiếng về chủ nghĩa cộng sản Việt Nam, đã từng nhận định rằng đa số những gì về chiến tranh Việt Nam đang được giảng dạy tại các trường trung học và đại học ở Mỹ lại gần với thần thoại hơn là lịch sử.

    Nhưng Đức Dalai Latma đã nói: “History is history. And my statement will not change past history”. Lịch sử là lịch sử. Và lời tuyên bố của tôi không thay đổi được lịch sử đã qua.

    Ngày 12.10.2017
    Lữ Giang
  7. Bài học cho những kẻ lầm lạc...

    Nancy Nguyễn, hình ảnh của kẻ lạc đường.
    Author: Bằng Phong Đặng Văn Âu Posted on: 2017-10-10
    Cô Nancy Nguyễn,
    Tôi chưa bao giờ chụp mũ cô là đảng viên Việt Tân. Vì đọc thư cô viết cho Bố Mẹ cô từ "Mặt Đường Dậy Sóng", tôi nhận thấy đây là cô con gái ở Hải ngoại có thể sánh với cô Phương Uyên ở Quốc Nội.
    Cô Phương Uyên ở Quốc Nội bị Việt Cộng cầm tù vì đòi dân chủ. Khi ra tòa, quan tòa hỏi tại sao cô chống lại Tổ Quốc? Cô Phương Uyên, một cô bé có nét mặt ngây thơ, có nụ cười thánh thiện, đã nhìn vào mặt quan tòa Việt Cộng: "Tôi không chống lại Tổ Quốc; tôi chỉ chống lại Đảng Cộng sản!".
    Giữa một bầy súc vật, chỉ biết tuân theo khẩu hiệu "Còn Đảng, Còn Mình" mà cô Phương Uyên dám nói như thế, thì tôi coi cô Phương Uyên là một bậc anh thư mà chưa một ông "lão thành cách mạng" tự hào về chiến công đánh Pháp, đuổi Mỹ dám mở miệng nói.
    Tôi đã viết cho cô một bức thư để bày tỏ nỗi vui mừng của một ông giả ở cuối tuổi gần 80 được nhìn thấy thế hệ con cháu vươn mình đứng dây như Phù Đổng.
    Cô im lặng. Tôi lại gửi email để hỏi cô có nhận bài viết của tôi? Cô im lặng.
    Do đó, tôi nghĩ rằng cô là đảng viên Việt Tân, vì đảng viên Việt Tân không ưa tôi. do tôi liên tục lột mặt nạ anh em Hoàng Cơ Minh, Hoàng Cơ Định làm kháng chiến bịp để ăn tiền đồng bào nhẹ dạ.
    Tuy nhiên, tôi không hồ đồ chụp mũ cô là Việt Tân khi chưa có chứng cớ. Tôi đích thân tìm gặp cô để hỏi thật hư.
    Sở dĩ tôi phải tìm cô vì tôi lo ngại cho tương lai tuổi trẻ. Một mầm non hiếm quý như vậy mà sa vào vũng bùn Việt Tân thì uổng quá. Tôi là người chiến sĩ đã ra trận đánh nhau với kẻ thù khi còn trẻ. Dù bây giờ không còn vũ khí, tôi vẫn tiếp tục chiến đấu bằng cách cổ vũ tuổi trẻ tiếp tục chiến đấu để giữ gìn nòi giống. Thiện chí của tôi đối với cô là rất chân thành.
    Bọn cộng sản Việt Nam đang thi hành kế hoạch diệt chủng tộc Việt, cô biết không?
    Tôi không bao giờ chụp mũ ai khi tôi không có bằng chứng. Đến như Nguyễn Xuân Nghĩa, cháu ruột của Mười Cúc Nguyễn văn Linh, Tổng Bí thư Việt Cộng, ở lại trong nước sau năm 1975, làm việc cho Việt Cộng, rồi được Việt Cộng đưa ra hải ngoại bằng đường chính thức để gia nhập vào Mặt Trận Kháng Chiến HCM ở địa vị lãnh đạo, tôi cũng không chụp mũ anh ta là Việt Cộng. Tôi chỉ viết bài "Nguyễn Xuân Nghĩa, Anh Là Ai?" để chính anh ta phải nói cho những cho những người yêu nước chống Cộng như tôi biết rõ. Nguyễn Xuân Nghĩa im lặng thì tôi đã biết anh ta là ai.
    Cô Nancy Nguyễn viết Hồi Kỳ kể lại những ngày trong nhà tù Việt cộng, tôi nhận thấy cô là người có bản lĩnh đối phó với bọn Công An. Chắc chắn cô là người có kinh nghiệm hoạt động chính trị, cách mạng.
    Một người có kinh nghiệm hoạt động cách mạng, chính trị như cô, ắt cô phải biết đảng Việt Tân là một đảng chính trị tồi bại, nhớp nhúa, chuyên môn dùng thủ đoạn chia rẽ các đoàn thể Quốc Gia.
    Vậy khi nghe tôi hỏi cô có phải là Việt Tân, thì phản ứng đương nhiên của người làm cách mạng chân chính phải hỏi lại: "Nếu Bác có khinh miệt tôi, thì bác khinh miệt vừa vừa thôi! Tại sao tôi là người dấn thân đi làm chuyện cứu nước, mà bác nghĩ tôi là người của băng đảng Việt Tân, một đảng mà mọi người đều ghê tởm?"
    Trái lại, cô chỉ cười cười, không phủ nhận và cũng không nhìn nhận. Tôi thất vọng vô cùng, vì tiếc cho tuổi trẻ Việt Nam, thương cho tương lai dân tộc.
    Sau khi có dư luận ồn ào về câu tuyên bố của bà Trần Kiều Ngọc: "Tôi không Chống Cộng; tôi chỉ chống CÁI ÁC", bị nhiều người phía Quốc Gia lên án.
    Cô viết bài THƯ CUỐI GỞI CÔ CHÚ BÁC CỦA CON ( bài của Nancy Nguyễn)" để chửi xéo những người CHỤP MŨ (!) bà Trần Kiều Ngọc.
    Tôi chưa nghe ai chụp mũ mà cô, mà cô, mà cô lên tiếng thì tôi phải "connect the dots".
    Đọc xong thư của cô, tôi nghĩ thầm: "Việt Tân (Nancy Nguyễn) đang bênh vực Việt Tân (Trần Kiều Ngọc) đây!".
    .
    Thưa cô Nancy Nguyễn,
    Cô đừng tưởng bọn già chúng tôi là một lũ ngu! Cô xưng "CON" để tỏ ra sự lễ phép của con nhà gia giáo, giống như Trần Kiều Ngọc cũng xưng "CON", nhưng so sánh bài viết của cô và những câu trả lời của bà Trần Kiều Ngọc thì ai cũng thấy có điểm giống nhau về sự hỗn láo, xấc xược, ngạo mạn, dót nát nhưng ưa khoe vài ba câu chữ Hán rỗng tuyếch.
    Riêng hai chữ "THƯ CUỐI" trong đầu đề của cô là đủ cho người đọc thấy sự ngạo mạn và dốt của cô. Trong sinh hoạt dân chủ, đối thoại, trao đổi quan điểm là rất cần thiết. Cô dùng chữ "THƯ CUỐI" để chứng tỏ ta đây nói với các ngươi lần này là thôi, là chấm dựt! Không cần bàn cãi gì nữa!
    Một thái độ kẻ cả, phản dân chủ mà dám mở miệng dạy dỗ về DÂN CHỦ cho các bậc Cha, Chú thì rõà cô lên tiếng thì tôi phải "connect the dots". ràng cô chẳng cần biết trời cao đất dày gì cả.
    Tôi định viết thư cho cô để giáo hóa cô trở thành người có học, biết bỏ tính ngạo mạn để tiến bộ. Nhưng tình cờ đọc được bài viết của bà Hoàng Lan Chi và ông Peter Phạm thì tôi khỏi cần viết thư cho cô, mà chỉ cần chuyển bài viết của bà Hoàng Lan Chi và ông Peter Phạm cho cô đọc là đủ.
    Tôi cũng CC cái thư này cho cả Hoàng Cơ Định và nhiều người khác để thấy cái đảng Việt Tân đã "ĐẺ" ra cái thứ "NHẢI RANH" (chữ của bà Hoàng Lan Chi) mới nứt mắt mà dám hỗn hào gọi các bậc cha mẹ đi tìm tự do để cho con cái có tương lai tươi sáng, là "DI DÂN TƯ TƯỞNG". Cô có biết cô xài mấy chữ đó là cô đang chửi cả bố mẹ cô nữa không? Tôi bắt đầu nghi ngờ cô không phải là tác giả bức thư viết cho Bố Mẹ cô từ mặt đường dậy sóng. Bởi không bao giờ có một người viết được bức thư khiến mọi người khâm phục, đến tôi phải ứa nước mắt, lại có thể dùng mấy chữ "Di dân tư tưởng". Cô nên nhớ chúng tôi không thể sống với bọn cộng sản man rợ, nên phải tị nạn ở xứ người, chứ không phải là hạng di dân kinh tế như bọn giá áo túi cơm, tha hương cầu thực.
    Tôi đề nghị cô Nancy Nguyễn, nếu còn biết phục thiện, thì về xin lỗi Bố Mẹ cô và chấm dứt đàn đúm với bọn chính trị gia hoạt đầu "tuần chay nào cũng có nước mắt". Nếu không nghe lời tôi, tương lai chính trị của cô coi như vứt đi!
    Từ chỗ tôi viết thư ca ngợi cô là Thiên Thần, Bồ Tát tái sinh sau khi đọc cái thư cô viết cho Bố Mẹ cô từ mặt đường dây sóng, đến chỗ tôi đồng ý với bà Hoàng Lan Chi ví cô là CON NHẢI RANH, là lòng tôi đâu đớn vô cùng.
    Đau đớn vì Việt Tân đã đào tạo một thế hệ tương lai hỗn hào, mất dạy như Trần Kiều Ngọc, Nancy Nguyễn và còn nhiều nữa mà chưa lộ diện.
    Tôi nhớ mãi lời thơ của cô giáo Trần thị Lam ở Hà Tĩnh tự thán: "Đất Nước này rồi sẽ ra sao?" khi có những người trẻ tuổi như Trần Kiều Ngọc, Nancy Nguyễn?
    Xin những ai còn nghĩ đến tương lại nòi giống, hãy hợp sức nhau để kéo Việt Tân ra khỏi gọng kềm Việt Cộng để xây dựng một Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tử tế.
    Mong lắm thay..


    Bằng Phong Đặng văn Âu
  8. Gọi tên cuộc chiến...
    Trần Trung Đạo
    [​IMG]

    Giới thiệu:

    Điểm khác nhau căn bản giữa Chủ thuyết Nixon và Chủ thuyết Truman là sự thay đổi từ ngăn chận làn sóng CS (containment of communism) sang hợp tác (với Trung Cộng) và hòa hoãn (với Liên Xô). Đối với xung đột quân sự tại Việt Nam, Nixon chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” (Vietnamization).

    Trong diễn văn đọc tại Guam tháng 11, 1969, TT Nixon tuyên bố Mỹ chỉ yểm trợ vũ khí và phương tiện cho các quốc gia đồng minh nhưng bảo vệ lãnh thổ là trách nhiệm của chính phủ và nhân dân các nước đó. Theo cách hiểu của các nhà lãnh đạo Mỹ, từ khi chiến tranh bộc phát cho đến khi người lính Mỹ tác chiến cuối cùng rời Việt Nam là cuộc chiến tranh giữa Mỹ và CSVN.

    Cả Mỹ và CSVN đều cố tình bỏ qua một thành phần khác, một cuộc chiến tranh khác, đó là cuộc chiến của nhân dân miền Nam Việt Nam bảo vệ chế độ Cộng Hòa non trẻ, bảo vệ quyền được sống trong tự do, dân chủ sau gần 100 năm trong bóng tối thực dân.

    Quan điểm chiến tranh Việt Nam là chiến tranh giữa Mỹ và CSVN ăn sâu vào nhận thức của không ít các tầng lớp người Mỹ, từ người dân bình thường cho đến giới trí thức, văn nghệ sĩ, nhà làm phim Mỹ.

    Họ quên rằng, chiến tranh không diễn ra tại Washington DC, không diễn ra tại Hà Nội mà diễn ra tại miền Nam Việt Nam.

    Sự hy sinh của 58,220 người lính Mỹ là sự hy sinh to lớn và đáng kính, nhưng không thể so với sự chịu đựng của hơn hai chục triệu dân miền Nam Việt Nam, trong đó nhiều trăm ngàn người đã chết trong cuộc chiến, nhiều trăm ngàn người đã bị đày ải trong lao tù sau cuộc chiến. Từ những cụ già ở Huế cho đến những em bé còn mặc tã ở nhà hàng Mỹ Cảnh hay tuổi chưa lên mười ở Tiểu học Cai Lậy đã chết trong tức tưởi vì tham vọng CS hóa toàn cõi Việt Nam của đảng CSVN bắt đầu tại Cửu Long, Hương Cảng tháng 2, 1930. Do đó, ngay cả khi hoan hô các nhà làm phim Mỹ đưa ra ánh sáng vài mặt xấu xa, độc ác của chế độ CS cũng đừng quên sự hy sinh và chịu đựng của ông bà, cha chú mình và nhất là đừng quên, dù có người Mỹ hay không, cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ vẫn đã và đang diễn ra ngay trong phút giây này của lịch sử Việt Nam.

    o O o


    Ngày 23 tháng 3, 2017, Giáo sư Drew Gilpin Faust, Viện trưởng Viện Đại Học Harvard viếng thăm Đại học Fulbright Việt Nam. Nhân dịp này bà đọc một diễn văn tại Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn. Phần khá dài của diễn văn, bà dành để nói về Chiến tranh Việt Nam, nội chiến Hoa Kỳ và hòa giải Nam Bắc Mỹ.

    Trong suốt diễn văn bà Drew Faust không hề nhắc đến sự chịu đựng của người dân miền Nam Việt Nam hay nhắc đến Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), chính phủ đại diện cho hơn một nửa dân số Việt Nam ngày đó.

    Người viết không nghĩ bà dè dặt hay không muốn làm buồn lòng quốc gia chủ nhà. Nhưng giống như một số khá đông các trí thức Mỹ trước đây, sau 44 năm từ khi các đơn vị trực tiếp chiến đấu Mỹ rút khỏi Việt Nam vào tháng Ba năm 1973, bà vẫn chưa nhìn sâu được vào bản chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam.

    Việt Nam trong diễn văn của bà Drew Faust là Cộng Sản Việt Nam.

    Bà Drew Faust không hiểu được trên con đường Việt Nam đầy máu nhuộm chạy dài suốt 158 năm, từ khi viên đại bác của Rigault de Genouilly bắn vào Sơn Chà, Đà Nẵng sáng ngày 1 tháng 9, 1859 cho tới hôm nay, nhiều triệu người Việt đã hy sinh vì độc lập tự do dân tộc. Đảng CS là một nhóm rất nhỏ, và chỉ ra đời vào tháng 3, 1930. Cộng Sản thắng chỉ vì họ có mục đích thống trị rõ ràng, dứt khoát, kiên trì và bất chấp mọi phương tiện để hoàn thành mục tiêu đã vạch ra.

    Bà Drew Faust là người học nhiều, hiểu rộng. Chắc chắn điều đó đúng. Nhưng nghe một câu chuyện và cảm thông với những nạn nhân trong câu chuyện là một chuyện khác. Ngôn ngữ không diễn tả được hết nỗi đau và đôi mắt thường không thấy được những vỡ nát bên trong một vết thương.

    Là một sử gia, bà biết lịch sử được viết bởi kẻ cưỡng đoạt không phải là chính sử. Chính sử vẫn còn sống, vẫn chảy nhưng chỉ được hiểu bằng nhận thức khách quan, tinh tế, chia sẻ với những tầng lớp người đang chịu đựng thay vì đứng về phía giới cầm quyền cai trị.

    Một ví dụ về chính sử. Năm 1949 tại Trung Cộng, trong cuộc bỏ phiếu bầu chức vụ Chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Mao tin tưởng tuyệt đối 547 đại biểu sẽ bỏ phiếu cho ông ta. Không, chỉ có 546 người bỏ phiếu thuận, nhà nghiên cứu triết học Zhang Dongsun bỏ phiếu chống lại Mao. Ông bị đày đọa và chết trong tù nhưng lịch sử Trung Hoa ngày sau sẽ nhớ đến ông như một người viết chính sử Trung Hoa.

    Việt Nam cũng thế. Chính sử vẫn đang được viết không phải từ những người đang đón tiếp bà mà bằng những người đang ngồi trong tù, đang bị hành hạ, đày ải, trấn áp dưới nhiều hình thức. Khát vọng độc lập, tự do, từ những ngày đầu tháng 9, 1859 ở Cẩm Lệ, Quảng Nam, nơi máu của Đô Thống Lê Đình Lý chảy xuống cho đến hôm nay, vẫn cùng một dòng và chưa hề gián đoạn.

    Nhân dịp tháng Tư năm 2017, người viết xin phân tích một số định nghĩa về nội dung của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Bài này tổng hợp một số bài ngắn của người viết đã phổ biến trước đây.

    Chiến tranh Việt Nam là Chiến tranh Ủy nhiệm (Proxy War)?

    Chiến tranh ủy nhiệm (Proxy War) là cuộc chiến tranh mà các quốc gia bên ngoài, thường là cường quốc, không tham gia trực tiếp cuộc chiến nhưng qua hình thức cung cấp võ khí, tài chánh cho các phe cánh, lực lượng trong quốc gia đó đánh nhau vì quyền lợi riêng của các phe nhóm này nhưng cũng tương hợp với quyền lợi của nước bên ngoài.

    Chiến tranh đang diễn ra tại Syria thường được báo chí gọi là chiến tranh ủy nhiệm. Mỹ, Nga, Iran, Thổ, Anh, Pháp, Saudi Arabia và Qatar góp phần tàn phá Syria khi yểm trợ cho các phe nhóm, nhiều khi bất cần hành vi khủng bố của các phe nhóm này, để tranh giành ảnh hưởng và tài nguyên của vùng Trung Đông.

    Không ít báo chí quốc tế và nhà nghiên cứu Chiến tranh Lạnh gọi chiến tranh Việt Nam trước khi Mỹ đổ bộ vào tháng Năm, 1965, là chiến tranh ủy nhiệm, trong đó Trung Cộng, Liên Xô một bên, Mỹ và đồng minh một bên.

    Định nghĩa chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ủy nhiệm chỉ đúng khi nhìn cuộc chiến từ quan điểm đế quốc dù là Mỹ, Liên Xô hay Trung Cộng chứ không phải từ vết thương, từ vị trí của nạn nhân buộc phải chiến đấu để sống còn như dân và quân miền Nam Việt Nam.

    Như có lần người viết dẫn chứng, một người lính nghĩa quân gác chiếc cầu ở đầu làng để mấy anh du kích khỏi về giựt sập cũng là một biểu hiện hùng hồn của lý tưởng tự do và chủ quyền. Chiếc cầu là huyết mạch kinh tế của làng, là trục giao thông chính của làng, là vẻ đẹp của làng, và bảo vệ chiếc cầu là nhiệm vụ sống còn mà người lính nghĩa quân phải làm cho bằng được.

    Không ai “ủy nhiệm” anh lính Nghĩa Quân cả. Anh không bảo vệ chiếc cầu giùm cho Mỹ mà cho chính anh và bà con trong thôn xóm của anh. Lý tưởng tự do của một dân tộc dù thiêng liêng to lớn bao nhiêu cũng bắt nguồn từ những hình ảnh nhỏ nhoi nhưng đầy ý nghĩa đó.

    Trong phần lớn chiều dài của cuộc chiến, quyền lợi của Mỹ ở Đông Nam Á và quyền lợi của VNCH tương hợp. VNCH đã nhận hầu hết viện trợ quân sự của Mỹ kể cả nhân lực nhưng không đánh thuê cho Mỹ như CS tuyên truyền.

    Sau Thông Cáo Chung Thượng Hải năm 1972 và Hiệp Định Paris năm 1973, chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á thay đổi, quyền lợi VNCH và Mỹ do đó không còn tương hợp nữa. Mỹ rút quân và cắt giảm viện trợ quân sự vốn đã quá chênh lệch so với nguồn viện trợ quân sự CSVN nhận từ Liên Xô, Trung Cộng và phong trào CS Quốc Tế.

    Cho dù cạn kiệt nguồn cung cấp, quân và dân VNCH vẫn chiến đấu và hy sinh cho tự do của họ, không phải chỉ sau Hiệp định Paris 1973, không phải đến ngày 30-4-1975 mà cả sau 30-4-1975, hôm nay và cho đến khi chế độ CS còn hiện diện tại Việt Nam.

    Chiến tranh Việt Nam là Nội chiến (Civil War)?

    Nhiều người chỉ nhìn vào mái tóc, màu da, khuôn mặt, chủng tộc, dòng máu và kết luận chiến tranh Việt Nam là nội chiến. Thật ra, mái tóc, màu da, khuôn mặt, dòng máu chỉ là hình thức.

    Thế nào là nội chiến?

    Theo các định nghĩa chính trị học, Nội chiến (Civil War) là cuộc chiến tranh giữa hai thành phần có tổ chức trong cùng một quốc gia vốn trước đó thống nhất, mục đích của một bên là chiếm đoạt bên kia để hoàn thành ý định chinh phục lãnh thổ hay thay đổi chính sách nhưng không thay đổi thể chế.

    Theo định nghĩa này, chiến tranh Nam-Bắc Mỹ là nội chiến, hoặc xung đột võ trang giữa chính phủ da trắng và Nghị Hội Toàn Quốc Nam Phi (African National Congress) gọi tắt là ANC chống chính sách Phân biệt Chủng tộc tại Nam Phi là nội chiến.

    Bắc Mỹ dưới sự lãnh đạo của TT Abraham Lincoln thắng cuộc nội chiến Mỹ nhưng chỉ thay đổi chính sách nô lệ, trong lúc cơ chế chính trị và chính phủ cấp tiểu bang gần như không thay đổi nhiều.

    Tại Nam Phi cũng vậy. Sau cuộc đấu tranh dài dưới nhiều hình thức, cuối cùng ANC đã thắng nhưng cũng chỉ hủy bỏ chính sách Phân Biệt Chủng Tộc (Apartheid) tại Cộng Hòa Nam Phi nhưng không xóa bỏ nền kinh tế thị trường tư hữu. Không chỉ cựu Tổng thống de Klerk trở thành cố vấn của TT Nelson Madela trong suốt nhiệm kỳ mà nhiều viên chức trong chính phủ của de Klerk, các tư lịnh quân binh chủng, lực lượng cảnh sát quốc gia đều tiếp tục nhiệm vụ của họ.


    Sau Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam Cộng Hòa không có ý định chiếm đoạt lãnh thổ miền Bắc hay lật đổ cơ chế CS miền Bắc. Chính phủ và nhân dân VNCH hoàn toàn không muốn chiến tranh. Sau một trăm năm chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ dưới ách thực dân, mục đích trước mắt của nhân dân miền Nam là có được cơm no, áo ấm, có được cuộc sống tự do và xây dựng miền Nam thành một nước cộng hòa hiện đại.

    Giấc mơ tươi đẹp của nhân dân miền Nam đã bị ý thức hệ CS với vũ khí của Liên Xô, Trung Cộng tàn phá vào buổi sáng 30-4-1975.

    Sau khi VNCH bị cưỡng chiếm, đảng CSVN không phải chỉ thay đổi về chính sách như trường hợp Mỹ hay Nam Phi mà thay đổi toàn bộ cơ chế. Nói theo lý luận CS đó là sự thay đổi tận gốc rễ từ thượng tầng kiến trúc chính trị đến hạ tầng cơ sở kinh tế bằng các phương pháp dã man không thua kém Hitler, Mao, Stalin.

    Do đó, gọi chiến tranh Việt Nam là nội chiến chỉ đúng về hình thức, nội dung vẫn là chiến tranh của các chính phủ và nhân dân miền Nam chống ý thức hệ CS xâm lược.

    Chiến tranh Việt Nam là “Chiến tranh chống Mỹ Cứu Nước”?

    Stalin, trong buổi họp với Mao và Hồ Chí Minh tại Moscow giữa tháng Hai, 1950 đã phó thác sinh mạng CSVN vào tay Trung Cộng. Theo William J. Duiker trong Ho Chi Minh: A Life, Stalin nói với Hồ Chí Minh tại Moscow “Từ bây giờ về sau, các đồng chí có thể tin tưởng vào sự giúp đỡ của Liên Xô, đặc biệt hiện nay sau thời kỳ chiến tranh, thặng dư của chúng tôi còn rất nhiều, và chúng tôi sẽ chuyển đến các đồng chí qua ngả Trung Quốc. Tuy nhiên vì điều kiện thiên nhiên, chính yếu vẫn là Trung Quốc sẽ giúp đỡ các đồng chí. Những gì Trung Quốc thiếu chúng tôi sẽ cung cấp.” Sau đó tới phiên Mao, y cũng lần nữa xác định với Hồ “Bất cứ những gì Trung Quốc có mà Viêt Nam cần, chúng tôi sẽ cung cấp.”

    Theo Trương Quảng Hoa trong Hồi ký của những người trong cuộcHồ Chí Minh thưa với Mao trên xe lửa từ Liên Xô về Trung Cộng “Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc.”


    CSVN hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng, không chỉ phương tiện chiến tranh, kinh tế, quốc phòng, hệ ý thức, cơ sở lý luận mà cả cách nói, cách ăn mặc, cách chào hỏi. Mao gần như đơn phương quyết định mọi hoạt động quân sự của Việt Minh kể cả việc chọn ngày, chọn tháng cần phải chiếm Điện Biên Phủ.

    Sau xung đột Eo Biển Đài Loan, và trầm trọng hơn, sau chiến tranh Triều Tiên với gần 400 ngàn quân Trung Cộng bị giết, trong số đó có Mao Ngạn Anh (Mao Anying), con trai trưởng và gần gũi nhất của Mao, từ đó kẻ thù lớn nhất của Mao Trạch Đông là Mỹ. Mao chỉ thị toàn bộ bộ máy tuyên truyền tại Trung Cộng phải chống Mỹ bằng mọi giá. Chống Mỹ từ xa, chống Mỹ ở gần, chống Mỹ trong lý luận, chống Mỹ trong thực tế, chống Mỹ khi có mặt Mỹ và chống Mỹ khi không có mặt Mỹ.

    Tuân lệnh Mao, trong Hội nghị Lần thứ Sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ.”

    Khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” được thai nghén từ quan điểm và thời điểm này.

    Nhưng “nước” trong khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” phải hiểu là nước Tàu chứ không phải nước Việt, lý do trong thời điểm này chưa có một người lính hay một cố vấn Mỹ nào ở Việt Nam. Hôm đó, ngay cả Hiệp định Geneva 1954 cũng còn chưa ký.

    Với chỉ thị của Mao và kiên trì với mục đích CS hóa Việt Nam đề ra từ 1930, vào tháng 5, 1959, Ban Chấp hành Trung ương đảng Lao Động sau khi biết rằng việc chiếm miền Nam bằng phương tiện chính trị không thành, đã quyết định đánh chiếm miền Nam bằng võ lực dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Hồ Chí Minh đã nói. Gần hết đồng bào miền Bắc bị đảng lừa vào cuộc chiến “giải phóng dân tộc” và hàng triệu người đã uống phải viên thuốc độc bọc đường “chống Mỹ cứu nước” nên bỏ thây trên khắp hai miền.

    Lý luận chính phủ VNCH không thực thi “thống nhất đất nước” theo tinh thần Hiệp định Geneva chỉ là cái cớ tuyên truyền.

    Thực tế chính trị thế giới của giai đoạn sau Thế Chiến thứ Hai là thực tế phân cực và sự chọn lựa của thời đại là chọn lựa giữa ý thức hệ Quốc gia và Cộng sản. Không chỉ các quốc gia bị phân chia như Nam Hàn, Tây Đức mà cả các quốc gia không bị phân chia như Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ v.v… cũng chọn thế đứng dân chủ Tây Phương để làm bàn đạp phát triển đất nước.

    Giả sử, nếu có bầu cử để “thống nhất đất nước” và đảng CS thua, liệu họ sẽ giải nhiệm các cấp chính trị viên và sáp nhập vào quân đội quốc gia, giải tán bộ máy công an chìm nổi, đóng cửa các cơ quan tuyên truyền, từ chức khỏi tất cả chức vụ điều hành đất nước? Trừ phi mặt trời mọc ở hướng tây và lặn ở hướng đông điều đó không bao giờ xảy ra.

    “Trên trời có đám mây xanh,
    Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng…”

    Câu ca dao quen thuộc mà ai cũng biết. Đó là chưa kể đến mây xám, mây đen, mây hồng, mây tím trong thơ và nhạc. Nhưng mây màu gì? Mây thực sự chỉ là màu trắng. Màu mây thay đổi do ánh nắng mặt trời tùy theo mỗi khoảnh khắc trong ngày.

    Cuộc chiến Việt Nam cũng vậy. Tên gọi của cuộc chiến khác nhau tùy theo quan điểm, góc nhìn, quyền lợi và mục đích, nhưng với nhân dân miền Nam, đó chỉ là cuộc chiến tự vệ của những người Việt yêu tự do dân chủ chống lại ý thức hệ CS độc tài toàn trị xâm lược.

    Không thấy rõ bản chất xâm lược của ý thức hệ CS sẽ khó có thể chọn con đường đúng để phục hưng Việt Nam.

    Trần Trung Đạo
  9. Bài Viết của Phu Nhân Tướng Lê Văn Hưng gửi cho bà Đặng Thi Tuyết Mai và Nguyễn Cao Kỳ Duyên nhân dịp 30 tháng 4 / 2010
    • [​IMG]
    • [​IMG]
    Thứ Hai, 02 tháng Mười năm 2017 02:54
    Tác Giả: Phạm Thị Kim Hoàng
    [​IMG]
    Tôi chuyển đến cô bài viết này nhân dịp 30 tháng 4, 2010. Cô hãy đọc và xin cô chuyển đến ba cô,cựu Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ Phó TT VNCH như là một lời trần tình của một công dân VNCH gửi đến vị cựu Phó TT VNCH qua lời phát biểu của ông rằng: "Từ TT Nguyễn văn Thiệu trở xuống đều ham sống sợ chết". Nếu nhận được hồi âm của cô hay ba cô thì tốt quá. Vì không có địa chỉ email của ba cô, mong cô giúp tôi.
    Cám ơn cô.
    ----------
    Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói:
    “Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ”. Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

    Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm.

    Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử. Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:
    - “Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì”. Họ còn hỏi nhau:
    - “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?”

    Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi:
    - “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:
    - “Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng”.

    Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân. Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:
    - “Tại sao Tướng Nam, Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?”

    Lại có người nghiêm khắc trách tôi:
    - “Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?”

    Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?

    Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi: Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”. Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị TướngNguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng . Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.

    Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sàigòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc “kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”

    Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:
    - “Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng”.

    Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.” Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.

    Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.

    Trong khi Sàigòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

    Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.

    Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

    Tìm kiếm Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:
    - “Có đồng ý đem con lánh nạn không?”

    Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:
    - “Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?” Tôi đáp:
    - “Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản”.

    Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú. Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu:
    - “Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường…”.

    Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:
    - “Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng”.

    Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:
    - “Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh”.

    Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:
    - “Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào”.

    6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.

    7g30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh:
    - “Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Đại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ”

    Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng:
    - “Em phải sống ở lại nuôi con”.

    Tôi hoảng hốt:
    - “Kìa mình, sao mình đổi ý?”
    - “Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con.”
    - “Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản. Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc”.
    - “Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta”.
    - “Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?”

    Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc:
    - “Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?”

    Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi:
    - “Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế”.

    Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:
    - “Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào”.

    Tôi phát run lên hỏi:
    - “Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?”

    Nắm chặt tay tôi, Hưng nói:
    - “Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình”

    Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:
    - “Vâng, em xin nghe lời mình”.

    Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:
    - “Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi”.
    - “Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?”

    Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi:
    - “Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh”.

    Tôi quay đi Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:
    - “Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó”.

    Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi:
    - “Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên”.

    Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống.

    Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói:
    - “Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau.

    Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh”.

    Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:
    - “Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả”.

    Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:
    - “Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết”.

    Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:
    - “Nghĩa trở lại với tôi”.

    Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa. Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết.

    Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:
    - “Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?”

    Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:
    - “Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!”

    Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng Tôi đưa tay vuốt mắt cho người Nghĩa vẫn gào khóc:
    - “Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”

    Tôi bảo Giêng:
    - “Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào chũng phải ngăn chận Việt Cộng”.

    Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.

    Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam, không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang:
    - “Alô, Alô, ai đây?”
    - “Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây”. Tôi bàng hoàng:
    - “Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?”

    Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi:
    - “Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút”. Tôi lúng túng vài giây:
    - “Ông đang điều động quân ngoài kia”.
    - “Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?”
    - “Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé”.

    Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:
    - “Đại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?” Nghĩa lúng túng:
    - “Cô nói Thiếu Tướng chết rồi”.
    - “Không thể nói như vậy được. Đại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng”.

    Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt:
    - “Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Địch ra sao?”
    - “Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?”
    - “Cẩn vui lòng chờ chút”.

    Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:
    - “Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?”

    Cẩn đáp thật nhanh:
    - “Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!”
    - “Tốt lắm, vậy thì y lịnh”.
    - “Dạ, cám ơn chị”.

    Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:
    - “Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!”

    “Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!” Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?

    Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định.

    Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.

    11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam:
    - “Alô, chị Hưng!”

    Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:
    - “Thưa Thiếu Tướng…”

    Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:
    - “Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng”.

    Tôi vẫn nức nở:
    - “Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?”
    - “Hưng đã nói với chị hết rồi hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình”.

    Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:
    - “Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?”
    - “Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?”
    - “Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì… Đàng chị thế nào?”
    - “Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản”.
    - “Còn mấy chú đâu hết?”
    - “Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng”
    - “Chị tẩm liệm Hưng chưa?”
    - “Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới”.
    - “Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp. chúng nó sẽ không để yên”.
    - “Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?”

    Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên:
    - “Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót”.

    Người chép miệng thở dài:
    - “Thôi chị Hưng ơi”.

    Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi
    - “Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước”

    Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:
    - “Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới”.
    - “Dạ, cám ơn Thiếu Tướng”.

    Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế.

    Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam

    7 giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện:
    - Xin Thiếu Tướng tha thứ. Tôi không dám bỏ xác Hưng để đến vuốt mắt Thiếu Tướng và lo việc tẩm liệm cho Thiếu Tướng. Bây giờ linh hồn của Thiếu Tướng đã gặp Hưng, xin linh thiêng phò hộ cho mẹ con tôi thoát khỏi tay Cộng Sản. Xin thương xót cho quê hương, cho dân tộc chúng ta. Xin thương xót cho toàn thể anh em binh sĩ.

    Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

    Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Đại Tá kia.

    Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.

    Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?

    Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống?.

    Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn Sáu Chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệ

    Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Đừng vô tình, thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho Tổ Quốc.

    Phạm Thị Kim Hoàng
  10. NÓI VỚI CHỊ TRẦN KIỀU NGỌC
    Author: Hoàng Thị Posted on: 2017-09-30

    Chúng tôi là thế hệ hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa , lớn hơn hay trẻ hơn chị trên dưới mười tuổi nữ có, nam có, ở nhiều quốc gia hải ngoại nơi ông, cha chúng tôi định cư từ hơn bốn mươi năm nay sau khi bọn Cộng Sản VN xâm chiếm VNCH, Miền Nam thân yêu của chúng tôi. Ông, Cha chúng tôi và cả chúng tôi xem ngày 30 tháng tư 1975 là ngày quốc hận. Quốc hận vì kẻ thù cộng sản đã cướp đất nước chúng tôi khiến cha ông chúng tôi phải đau đớn rời bỏ quê cha đất tổ.

    Sự kiện xưng hô « chúng tôi » với chị rõ ràng không được thân mật vì chúng tôi là những hậu duệ dứt khoát CHỐNG CỌNG vì lý do ghi rõ trên, trong lúc chị chỉ CHỐNG CÁI ÁC chứ KHÔNG CHỐNG CỌNG.

    Rõ ràng chúng tôi và chị không đi cùng một đường. Vì sao vậy ?

    Cái ác đâu cũng có, ở một cá nhân, ở một tập thể, cũng như cái thiện vậy, âu đấy cũng chỉ là cái đặc tính của con người, sinh ra đời đã có mầm mống khác nhau rồi chịu thêm ảnh hưởng khác nhau của xã hội.

    Cộng sản quốc tế và cộng sản Việt Nam không phải là cái ác của một cá nhân thường tình, của một nhóm nhỏ, một băng đảng trộm cướp mà tác hại hạn chế cho một cá nhân hay một số người.

    Cái ác của Cộng sản quốc tế từ Đế quốc Nga Sô đến Trung Cọng đã giết chết không dưới 100 triệu người cho đến khi Nga Sô và các nước chư hầu ở Đông Âu sụp đổ từ 1989 đến 1991.

    Trong cái « thành tích » của tội ác chống nhân loại mà lịch sử loài người chưa bao giờ có, Kmer Đỏ dự phần với 2 triệu đồng bào của chúng và……Cộng sản Việt Nam mà chị không chống đã tạo nên 3 triệu vành khăn tang, 3 triệu đồng bào Việt Nam của hai Miền Nam Bắc đã chết vì cuộc chiến tranh dai dẳng 30 năm mà chúng đã gây nên, từ ngày chúng cướp chính quyền của một quốc gia Việt Nam đã được độc lập tự chủ,mà Nhật Bản đã trao trả cho Hoàng Đế Bảo Đại tháng 3,1945 sau khi lật đổ chính quyền Pháp. Việt Cọng ( xin gọi vậy cho gọn) không phủ nhận chính chúng đã gây nên cuộc chiến mà còn khoe khoang « chiến thắng » của chúng, nhuộm đỏ nước Việt Nam và góp phần nhuộm đỏ cả ba nước Đông Dương, hoàn thành sứ mạng mà Hồ Chí Minh đã đảm nhận với quan thầy Trung-Sô của hắn.

    Tội ác của chúng nó còn chồng chất thêm với 42 năm qua đày đọa cả dân tộc, hèn với giặc,ác với dân, vơ vét tài sản quốc gia chất đầy túi tham của chúng. Uất hận dâng lên ngút ngàn trong nước. Ngoài Bắc, trong Nam, nhiều bạn trẻ trên dưới hai mươi đã và đang đứng lên tranh đấu chống cường quyền cộng sản, bất chấp tù đày, tra tấn đến chết. Chị không nghe, không biết sao ? trong lúc từ bao nhiêu năm nay mổi giờ, mổi ngày các phương tiện truyền thông trong nước, ngoài nước đã nói đến, đã tường thuật từng chi tiết.

    Chị dám nói các em, các cháu ở ngoài VN không hay biết, không nghe cha, ông kể lại những tang tóc đau thương của 30 năm chiến tranh do cộng sản gây nên khiến cho cha, ông của các cháu phải rời bỏ quê hương ra đi mà một số, cả trăm ngàn người, đã gục ngã trong rừng sâu, chết trong biển cả !

    Chúng tôi chưa bao giờ thấy một kẻ dám tuyên bố như vậy,gián tiếp phủ nhận cả một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt của dân tộc.

    Chị chống Tội Ác chứ không chống Cọng trong lúc Việt Cọng là thủ phạm công khai của hàng triệu tội ác do chúng thi hành trên sinh mạng của hàng triệu đồng bào . Một kẻ ngu dốt nhất cũng không lý luận như vậy.

    Cái danh xưng nghe khiếp quá : « Phong Trào giới trẻ thế giới vì nhân quyền » mà chị tự khoái chí đặt ra đếm được mấy chục tên ? Đã biết nhiều kẻ nói khoát nhưng thú thật với chị, chúng tôi chưa bao giờ và có lẽ không bao giờ nghe được một trường hợp nói khoát dữ dội đến……..buồn cười như vậy !!!

    « Vì Nhân Quyền » mà « Không Chống Cọng » trong lúc Việt Cọng chà đạp nhân quyền, cả nước VN và gần khắp thế giới đều biết, quả thật là một luận cứ phát xuất từ một đầu óc không bình thường hiếm có.

    Càng giải thích quanh co, chị càng làm cho người ta đâm ra nghi ngờ tư tưởng và lập trường của chị. Cố gắng lôi cuốn mấy em trẻ theo chị để « không chống Cọng » càng làm cho người ta nghi ngờ dụng ý của chị.

    Những lời công kích chị đã khá nhiều, chúng tôi chỉ muốn chị biết ý kiến của hậu duệ chúng tôi : rõ ràng , dứt khoát, chống Cọng, với sự tin tưởng một ngày không xa chế độ cộng sản sẽ sụp đổ trên Quê Hương Việt Nam thân yêu của chúng tôi.


    California, ngày 29 tháng 9, 2017

    TM. KHỐI HẬU DUỆ CALIFORNIA

    Hoàng Thị





    Ý KIẾN ĐỘC GIẢ:

    Dộc giả chuyển bài: Thànhh thật cảm ơn cháu Hoàng Thị và Khối Hậu Duệ đã chuyển đến tôi thư của cháu gửi cho cô Trần Kiều Ngọc. Chúng ta đã tranh đấu cho nhân quyền hơn 40 năm qua nhưng kết quả thật khiêm tốn trong lúc Tổ Quốc đang lâm nguy vì manh tâm Hán hóa, đồng bào đang rên xiết dưới ách thống trị của tập đoàn Việt Cọng
    ..Lập trường trong sáng, kiên định chống Cọng, tha thiết với quê hương của các cháu dù nhiều cháu chưa được thấy khung trời Việt Nam thật đáng khâm phục và đáng làm gương cho thế hệ trẻ Việt Nam,đặc biệt ở hải ngoại. Thân chúc các cháu mạnh tiến trên đường tranh đấu vì Nước, vì Dân.Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam.
    .
    Thị là nhìn thấy thật hay giả
    Hoàng đàng hoàng rõ trắng rõ đen
    Duệ hậu duệ lòng sắc son ái quốc
    Khối vững bền bất khuất kiên trì
    Trần lạy ông tôi ở bụi này
    Kiều họ lót làm sao khá được
    Ngọc giả lường gạt là ngọc thật
    Tẩy chay khai trừ ra đoàn thể
    Quốc gia di - tỵ nạn cộng sản



    Phải tim cho ra cái lũ che mặt nằm sau lưng con bò cái Trần Kiêu Ngọc. Hãy nhìn vào hình vẽ "CHỢT NGHE" trên Ba Cảy Trúc là suy ra ngay. Thằng nào, tổ chức nào đã đưa mẹ nó qua Mỹ? Hỏi anh chủ tịch Hoa Thịnh đốn hay đà TV Sinh BắcTử Nam thì biết ngay.

    Nguyễn Dình Bốp.

    Cám ơn LS Lê Trọng Quát ,

    Chúng tôi đã nhận được bài viết của Hoàng Thi , khối Hậu duệ VNCH ở Cali và của LS.

    Chúng tôi rất đồng quan điểm với những bài viết nêu trên ! Thân chúc mọi điều may lành .

    Trân trọng .

    ĐỖ van Soan
  11. Nữ cử tri Mỹ nói Tổng thống Trump là niềm hy vọng lớn nhất trong nhiều năm qua
    Author: Thành Tâm Source: Đại Kỷ Nguyên Posted on: 2017-09-24
    [​IMG]

    Tổng thống Mỹ Donald Trump và những người ủng hộ (Ảnh: Alex Wong/Getty)
    Một phụ nữ Ohio nhận định Tổng thống Trump có những ý tưởng rất tốt nhưng các đảng viên Dân chủ thà thấy nước Mỹ thất bại còn hơn muốn thấy ông Trump thành công.
    Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh đã nói chuyện với năm người dân ở tiểu bang Ohio để biết những giá trị của họ phù hợp với Tổng thống Trump như thế nào và những vấn đề quan trọng đối với họ. Các cuộc phỏng vấn này diễn ra từ ngày 28/7 đến ngày 5/8.
    Bà Marsha, 66 tuổi, không muốn nêu đầy đủ tên họ trong cuộc phỏng vấn này, vì “với đất nước chúng ta bị chia rẽ như hiện nay, chúng tôi không cảm thấy an toàn.”
    “Chúng tôi là những người ủng hộ ông Trump, nhưng chúng tôi sợ không dám dán decal [ủng hộ ông] lên xe hơi vì sợ rằng có người sẽ đập vỡ cửa kính. Chúng tôi không dám để tấm biển [ủng hộ] nào trong sân vì sợ có người sẽ ném cái gì đó qua cửa sổ.”
    “Thật kinh khủng khi phải như vậy, bởi vì tôi là một người hướng ngoại. Nhưng bạn phải như vậy, bởi vì bạn còn có con cháu, ai mà biết được là ai đó có thể sẽ làm gì khi họ trở nên điên rồ.”
    “Trước kia chưa từng bao giờ như vậy. Chưa bao giờ.”
    [​IMG]

    Những người ủng hộ ứng viên tổng thống Donald Trump tại cuộc vận động tranh cử ngày 7/3/2016 tại Concord, North Carolina. (Ảnh: Sean Rayford / Getty Images)
    Bà Marsha, một nhân viên ngân hàng đã nghỉ hưu, quý trọng sự tự do và an toàn cho gia đình mình – bà có bốn người con và sáu người cháu. An ninh Xã hội là vấn đề hàng đầu đối với bà, kế đến là hưu trí và chăm sóc y tế.
    Bà rất tin tưởng vào Tổng thống Trump và không cảm thấy phiền vì tính bộc trực của ông.
    “Ông ấy là niềm hy vọng lớn nhất mà chúng ta có trong rất rất nhiều năm qua, bởi vì ông ấy không ngại hành động.”
    “Ông ấy không đấm ai cả, ông ấy chỉ nói những gì ông ấy nghĩ. Ông ấy không phải là người ngoại giao. Ông Obama thì rất ngoại giao, được học cao và rất giỏi diễn thuyết. Ông Trump rất tốt, ông ấy chỉ nói với bạn những gì ông ấy nghĩ, nếu bạn không thích điều đó thì quá tệ, điều đó động chạm đến rất nhiều người.”
    “Tôi chỉ nhìn vào những gì mà ông ấy muốn hoàn thành thay vì ông ấy bóng bẩy như thế nào với một chiếc micro. Nếu ông ấy có thể xoay chuyển đất nước này thì đó là một điều thần kỳ. Không chỉ thoát ra khỏi đống nợ, và còn ngăn chặn tất cả những người nhập cư [bất hợp pháp] không cho họ vào, và trả lại việc làm cho người dân Mỹ.”
    “Mọi người không nhận ra là điều đó sẽ tốt đẹp hơn như thế nào. Họ chỉ nghĩ rằng, “Ồ, tôi không thích ông ấy, ông ấy thật là khó chịu.’ Chà, ông ấy có thể thật khó chịu, nhưng ông ấy thật sự có một số ý tưởng tốt.”
    [​IMG]

    Bà Marsha cho rằng Tổng thống Trump có những ý tưởng rất tốt. (Ảnh: Getty)
    An ninh Xã hội
    Bà Marsha là một người ủng hộ việc xét duyệt kỹ hoạt động nhập cư.
    “Không phải là chúng ta không muốn họ, [chúng ta] phải đảm bảo rằng họ sẽ không làm hại chúng ta. Chúng ta cần phải xét duyệt họ kỹ càng hơn… để mà chúng ta có thể biết được là liệu họ có mối quan hệ nào với khủng bố hay không.”
    “Đó là để gìn giữ sự tự do mà chúng ta có và không để cho nó bị làm hại bởi những nhóm người đang cố gắng thiết lập một đất nước của riêng họ ở trong đất nước của chúng ta – luật Sharia và tất cả những thứ đó.”
    “Các bạn được chào đón đến đất nước này, nhưng nếu các bạn sẽ sống ở đây, hãy tôn trọng văn hóa của chúng tôi và học ngôn ngữ của chúng tôi. Đó là điều thường thấy trước kia. Nếu bạn muốn ở đây, bạn có thể là một người Mỹ. Nhưng nếu bạn chỉ muốn đến đây và làm điều của riêng bạn, thì đó không phải là điều chúng tôi muốn. Đó không phải là điều làm nên nước Mỹ.”
    Bà muốn thấy sự kết thúc của các thành phố tạo trú ẩn cho tị nạn và chấm dứt việc thuê mướn những người nhập cư bất hợp pháp với giá rẻ hơn.
    [​IMG]

    Một khu dân cư gần nơi bà Marsha sống ở phía tây bắc Columbus, Ohio, ngày 28/7/2017. (Benjamin Chasteen/Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh)
    Các giá trị bị thay đổi
    Bà Marsha đã thấy những giá trị Mỹ bị suy giảm theo thời gian và tin rằng điều đó bắt đầu khi lời cầu nguyện bị xóa bỏ khỏi các trường học.
    “Mọi thứ đã xuống dốc kể từ đó. Và điều đó đã bắt đầu lâu rồi. Đặc biệt là các trường tiểu học, giáo viên, họ rung chuông, họ nói Lời nguyện Trung thành (Pledge of Allegiance), và sau đó họ cầu nguyện một chút.”
    “Đối với những người đi nhà thờ – không quan trọng là nhà thờ nào – nếu họ đi nhà thờ, họ có những điều chung với người khác, họ có những giá trị của tôn giáo, nếu họ tôn trọng những giá trị đó, thì mọi thứ sẽ hài hòa. Nhưng một khi họ vứt bỏ tất cả những điều đó, thì cái gì cũng ra đi.”
    Giấc mơ Mỹ
    “Giấc mơ Mỹ ngày nay vẫn y như 50 năm trước đây. Tất cả chúng ta đều muốn được giáo dục, muốn có nhà riêng, có gia đình, có xe hơi, được an toàn, nhưng điều đó ngày càng trở nên khó hơn – giấc mơ mà tất cả chúng ta có nhiều năm trước đây, nó không còn đó nữa,” bà Marsha nói.
    Bà Marsha cho rằng tình trạng việc làm không còn ổn định như trước, và điều đó trở thành một mối đe dọa đối với người Mỹ.
    “Nếu họ có thể thay thế bạn với một nửa tiền lương, thì họ sẽ làm như vậy. Đặc biệt là khi bạn trở nên già đi. Bây giờ mọi cái đều vì những công ty đó. Họ không quan tâm đến người Mỹ, bạn đã làm việc bao nhiêu lâu, bạn đã trung thành như thế nào đối với công ty, bạn cống hiến những gì cho công ty. Tất cả những điều đó đều bị ném ra ngoài cửa sổ hết rồi,” bà nói.
    “Chúng ta cần phải làm những điều mà đã khiến ông Trump thắng cử. Ông ấy đã hứa về việc kiểm soát và an ninh biên giới. Ông ấy đã hứa về việc xét duyệt những người nhập cư từ những nước Hồi giáo để đảm bảo rằng chúng ta không nhận bất cứ người nào vào đây để phát động các thứ. Ông ấy hứa hỗ trợ cảnh sát, việc thi hành pháp luật. Ông ấy hứa sẽ làm sạch các thành phố đang mục ruỗng, tăng cường quân đội, và chấm dứt các thế hệ sống bằng tiền trợ cấp xã hội… Nếu họ là những người có sức khỏe để làm việc, và không có vấn đề gì cả, thì họ nên làm việc.”
    Nói chung, bà Marsha hài lòng với những gì mà ông Trump đang làm.
    “Ông ấy đang làm rất tốt. Ông ấy đã tự làm những gì mà ông ấy có thể, nhưng những người phá rối thuộc Đảng Dân chủ đang đứng ngáng đường để ngăn cản việc cải cách thuế và chăm sóc y tế. Dường như những người Dân chủ thà thấy nước Mỹ thất bại còn hơn là thấy ông Trump thành công.”

    Thành Tâm,
    theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Anh
  12. Sự dối trá trong bài viết của Ls Trần Kiều Ngọc
    Source: Hữu Nguyên Posted on: 2017-09-23
    Kính thưa Quý vị,

    Sau khi đoạn video, ghi lại đầy đủ hình ảnh, âm thanh lời tuyên bố của LS Trần Kiều Ngọc trong đó có câu, “chúng con không chống cộng, chỉ chống cái ác”, được phổ biến rộng rãi, đông đảo đồng hương, nhất là thế hệ trẻ VN hải ngoại, đã thẳng thắn và phẫn nộ lên tiếng phản đối TKN. Hoảng hốt chữa cháy, bà LS TKN vội viết bài “HÃY ĐỂ TUỔI TRẺ LÊN TIẾNG!” Nhưng phần vì gian dối, né tránh sự thực, phần ăn phải bả tuyên truyền VC và phần bị tiêm nhiễm ngôn ngữ “công giáo quốc doanh”, bài viết của TKN, một luật sư 36 tuổi, với hào quang “sao xẹt”… Anh Thư Nước Việt, Đệ Nhất Nữ Lưu VN, Viên ngọc quý giữa đêm thâu, Cứu tinh của dân tộc VN,… thực sự là một sự hổ lốn của những sáo ngữ đầy dối trá, lý luận đảo điên, văn phong nguỵ biện, lời lẽ mâu thuẫn…

    Sau đây là nguyên văn bài viết của LS TKN cùng nhận xét của SGT, với hy vọng được sự quan tâm, chia sẻ và phổ biến của Quý vị. Cũng xin thưa, để bảo đảm quyền tự do ngôn luận được cổ võ và thực thi một cách trọn vẹn và hợp pháp, tất cả bài vở, ý kiến, hình ảnh, được SGT đăng tải và phổ biến qua mọi hình thức, đều được Công Ty Ledinh Lawyers Pty. Ltd. cố vấn, kiểm duyệt, chấp thuận và hoàn toàn chịu trách nhiệm. Mọi khiếu nại, tranh tụng, vui lòng coi “Thông Báo Trách Nhiệm Pháp Lý” trên trang web Saigon Times (Tiếng ViệtTiếng Anh).

    Nếu Quý vị nhận được email này hơn một lần, xin thông cảm; nếu phiền lòng, xin thứ lỗi và email về huunguyen@saigontimes.org.

    Trân trọng,
    Hữu Nguyên
    [​IMG]

    Sự dối trá trong bài viết của Sao Xẹt TKN:"Hãy Để Tuổi Trẻ Lên Tiếng!"(LS Trần Kiều Ngọc)

    [​IMG]

    HÌNH TRÊN, Trần Kiều Ngọc với giọng nói chanh chua, lối lý luận đanh đá, hùng hổ, giống hệt cán bộ cái VC và mấy bà tổ trưởng dân phố của VC ở Sàigòn sau 1975, đang hùng hổ tuyên bố: Mục đích của chúng con làm là vì yêu thương, không phải vì chống cộng. Mà nếu, tất cả những thế lực nào, bất cứ ai, mà cản cái con đường cho chúng con đến với anh em [VC] của chúng con, thì chúng con sẵn sàng chiến đấu cho đến cùng. (Xin click vô đây coi nguyên văn).

    KIỀU NGỌC VIẾT: Anh chị em thân mến. Gần đây vì câu nói ‘không chống cộng, chỉ chống cái ác’ của Kiều Ngọc đã tốn không biết bao thì giờ tranh luận của anh chị em trên các mạng xã hội.

    SGT NHẬN XÉT: Ngay câu đầu tiên, KN đã phải thú nhận 3 điểm quan trọng. 1. Câu nói ‘không chống cộng, chỉ chống cái ác’ của KN đã bị rất nhiều người phản đối. 2. HỌ, những người phản đối KN, đều thuộc thế hệ trẻ, ở lứa tuổi “anh chị em” của KN. 3. HỌ, cũng giống như KN, đều lớn lên tại hải ngoại “chưa hề trải qua một ngày lao tù, hay bị đấu tố dưới chế độ cộng sản”. Vì vậy, 2 câu hỏi cần được đặt ra: 1. Tại sao HỌ lại đủ khôn ngoan và hiểu biết về CS, để khẳng định với KN, “muốn chống cái ác thì phải chống cộng”, trong khi KN, được ca ngợi là Anh Thư Nước Việt, Đệ Nhất Nữ Lưu VN, Viên ngọc quý giữa đêm thâu, Cứu tinh của dân tộc VN… thì lại khăng khăng một mực chọn con đường phản bội ‘không chống cộng, chỉ chống cái ác’? 2. Tại sao HỌ, thế hệ trẻ như KN, biết thẳng thắn phản đối KN; trái lại, thế hệ ông, cha, anh của KN (như BS Nguyễn Văn Hoàng, Ô. Lưu Tường Quang, Ô. Võ Đại Tôn, LM Nguyễn văn Khải, Giám Mục Nguyễn văn Long, BS Nguyễn Văn Hoàng…), không những không phản đối KN, lại còn hoan hô, ca ngợi, tiếp tay cho KN phản bội?

    KIỀU NGỌC VIẾT: Trước hết, chắc anh chị em cũng biết, để nhận xét sự yêu thương và thuỷ chung của người bạn đời thì cần đòi hỏi một thời gian rất dài cùng nhau trải qua bao thăng trầm trong cuộc sống. Chỉ một lời nói hay một hành động tách biệt không đủ để chúng ta đánh giá được. Dù anh chị em có muốn biết ngay đi chăng nữa thì thường mình cũng chỉ nhìn và diễn giải theo ý riêng của mình. Trong chuyện này cũng tương tự.

    SGT NHẬN XÉT: Sự thật, nhiều người chỉ một lời nói hay một hành động, cũng đủ nói lên bản chất tội lỗi của họ. Một vị linh mục cả đời rao giảng lời Chúa, bị bắt quả tang một lần ấu dâm với cậu bé giúp lễ nhà thờ, đủ để vị linh mục đó bị vô tù và cả đời bị nguyền rủa. Một người làm từ thiện, chỉ cần một lần biển thủ tiền bạc, đủ để người đó sống suốt đời trong nhục nhã. Một Ngô Thanh Hải (Canada), đi đâu cổ cũng quấn Cờ Vàng, miệng lúc nào cũng hô hào chống cộng, nhưng chỉ một lần bí mật bắt tay Thứ trưởng ngoại giao VC Nguyễn Thanh Sơn, để rồi sau đó vận động quốc hội Canada thông qua đạo luật xoá bỏ ngày Quốc Hận, cũng đủ để người Việt yêu nước khắp nơi nhìn ra chân tướng bưng bô VC của y. Với KN, chỉ một lần nói ‘không chống cộng, chỉ chống cái ác’, cũng đủ cho mọi người nhìn thấy bản chất VC/VT & Việt gian của KN.

    KIỀU NGỌC VIẾT: Lời lẽ hay cử chỉ xuất ra, phản ánh tâm thức, tư duy của một người. Bản thân Kiều Ngọc lớn lên tại Úc, chưa hề trải qua một ngày lao tù, hay bị đấu tố dưới chế độ cộng sản. Khi ai áp đặt Kiều Ngọc phải chống cộng sản, Kiều Ngọc khó mà cảm được. Và nếu ba mẹ Kiều Ngọc có bắt Kiều Ngọc chống cộng sản đi chăng nữa, thì cuộc đấu tranh đó cũng chỉ là một sự gượng ép vô nghĩa.

    SGT NHẬN XÉT: Viết câu, Lời lẽ hay cử chỉ xuất ra, phản ánh tâm thức, tư duy của một người, chính KN đã tự mâu thuẫn với đoạn trên, một lời nói hay một hành động tách biệt không đủ để chúng ta đánh giá được. Hơn nữa, KN đã nguỵ biện một cách ấu trĩ, khi cho rằng, KN ‘không chống cộng, chỉ chống cái ác’, là vì Bản thân Kiều Ngọc lớn lên tại Úc, chưa hề trải qua một ngày lao tù, hay bị đấu tố dưới chế độ cộng sản. Sự thật, cả trăm năm qua, hầu hết những người chống CS trên trái đất, bao gồm cả dân tộc VN, cả đời họ, thậm chí cả cha mẹ anh chị em của họ, chưa hề trải qua một ngày lao tù hay bị đấu tố dưới chế độ CS. Chính KN cũng đã xác nhận, ngay câu đầu tiên của bài viết, những người phản đối KN đều thuộc thế hệ trẻ, và chắc chắn HỌ chưa hề trải qua một ngày lao tù, hay bị đấu tố dưới chế độ cộng sản.

    KIỀU NGỌC VIẾT: Còn tuổi trẻ trong nước thì sao? Các bạn từ nhỏ đã được dạy yêu ‘bác Hồ’. Nhớ lại hồi còn bé, Kiều Ngọc hát ra rả:‘Em yêu cuộc đời… em yêu thành phố Bác thân thương…’. Qua Úc vẫn còn hát, bỗng có một ngày, nhóc tì Kiều Ngọc bị một chú chạy lại, tát cho một cái, văng tục và mắng xối xả vào mặt. Sau nhiều năm, Kiều Ngọc tự hỏi: “Chú ấy nghĩ gì khi hành động như thế nhỉ?” Chắc lúc đó chú ấy vô cùng phẫn uất với cộng sản. Chú phẫn uất đến độ quên đi hiện tại, để còn sáng suốt nhận ra rằng, con bé cũng là người Việt Nam như chú, cũng là nạn nhân của một chế độ phi nhân. Chú quên rằng, chú chưa hề cho nó một cơ hội để kịp trưởng thành, để tự đi tìm hiểu và tự chọn lựa lấy.

    SGT NHẬN XÉT: Đọc câu, Các bạn [tuổi trẻ trong nước] từ nhỏ đã được dạy yêu ‘bác Hồ’, thấy KN dùng chữ ĐƯỢC DẬY, thay vì chữ BỊ NHỒI NHÉT, người đọc đã nhìn thấy thấp thoáng tâm can “cháu ngoan Bác Hồ” của KN. Vì vậy, khi ở VN “cháu ngoan Bác Hồ” Kiều Ngọc hát ra rả: ‘Em yêu cuộc đời… em yêu thành phố Bác thân thương…’, qua Úc KN vẫn còn hát… cũng là điều hợp tình, hợp lý và dễ hiểu, đối với một KN chưa đầy 10 tuổi. Vì thế, việc VC/VT phát hiện kịp thời “mầm non cháu ngoan Bác Hồ KN của đảng” trên ghế nhà trường, đưa về VN huấn luyện để trở thành nữ cán bộ tuyên huấn cho đảng tại hải ngoại, là lẽ đương nhiên. Hậu quả, ngày nay, khi ở tuổi 36, với sự hậu thuẫn của VC/VT và Tứ Hộ Pháp Vương, KN đã có đủ 12 thành công lực, hùng hổ tuyên bố KN không chống cộng, chỉ chống cái ác, và tất cả những thế lực nào, bất cứ ai, mà cản cái con đường KN đến với anh em [VC] của KN, thì KN sẵn sàng chiến đấu cho đến cùng!!! Nghe khiếp quá, đúng là con cháu của “anh hùng Võ Thị Sáu”!!!

    KIỀU NGỌC VIẾT: Con người chỉ chọn lựa đúng đắn và trung thành với chọn lựa của mình khi chính họ quyết bỏ công đi tìm lời giải đáp. Có câu: ‘Đức tin không thể cho đi mà cần phải tìm kiếm’. Phong Trào Giới Trẻ Vì Nhân Quyền không thể kêu gọi tuổi trẻ trong và ngoài nước đứng lên chống cộng được. Phong Trào muốn cũng được, nhưng Kiều Ngọc thiết nghĩ, khi mình áp đặt là mình tự chuốc lấy khổ đau và thất vọng. Trừ khi cộng sản Việt Nam bỗng trở nên lương thiện, yêu nước thương dân đích thực, thì câu nói của Kiều Ngọc có thể hợp lý. Cònnếu cộng sản Việt Nam luôn làm điều ác thì hãy để câu trả lời chống hay không chống cộng sản dành cho chính thế hệ trẻ Việt Nam lên tiếng cùng chúng ta!

    SGT NHẬN XÉT: Có 3 điểm sai lầm trong đoạn này. Thứ nhất, từ khi “cháu ngoan Bác Hồ” KN bị ăn tát lúc chưa đầy 10 tuổi, cho đến lúc 36 tuổi, tuyên bố không chống cộng, chỉ chống cái ác, KN đã có gần 20 năm sống tại hải ngoại. Gần 20 năm sống bên cạnh thân phụ, một người lính VNCH từng bị tù đầy trong ngục tù CS, giữa cộng đồng người Việt tỵ nạn CS hải ngoại, tại sao KN không chịu bỏ công đi tìm lời giải đáp về những tội ác của CS? Thứ hai, nếu KN đã biết đưa ra giả thuyết, vĩnh viễn không bao giờ xảy ra, Trừ khi cộng sản Việt Nam bỗng trở nên lương thiện, yêu nước thương dân đích thực, thì câu nói của Kiều Ngọc có thể hợp lý, thì tại sao KN lại VÔ LÝ tuyên bố: ‘không chống cộng, chỉ chống cái ác’? Thứ ba, CSVN làm điều ác là SỰ THỰC xuyên suốt lịch sử VN gần thế kỷ qua. Điều đó ai ai cũng biết. Vậy thì tại sao, KN lại cố tình chạy tội cho CS, bằng cách đánh tráo SỰ THỰC HIỂN NHIÊN đó bằng một giả thuyết NẾU đầy mập mờ, để đánh lừa thế hệ trẻ?

    KIỀU NGỌC VIẾT: Và cho tới một ngày, khi chúng ta nghe và nhìn thấy tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi cùng đồng thanh lên tiếng chống cộng sản Việt Nam, thì lúc ấy, Kiều Ngọc tin, đó là dấu chỉ của ngày quang phục quê hương Việt Nam sắp gần kề.

    SGT NHẬN XÉT: KN may mắn có thân phụ là một quân nhân QLVNCH, lại được trưởng thành trong xã hội tự do dân chủ, giữa cộng đồng người Việt tỵ nạn CS, đi đâu cổ cũng quấn Cờ Vàng, bên cạnh luôn có Tứ Hộ Pháp Vương (Lưu Tường Quang, Võ Đại Tôn, LM Nguyễn Văn Khải, GM Nguyễn Văn Long), là những người nổi tiếng chống cộng dìu dắt, giúp KN trở thành Anh Thư Nước Việt, Đệ Nhất Nữ Lưu VN, Viên ngọc quý giữa đêm thâu, Cứu tinh của dân tộc VN,… vậy mà KN vẫn khăng khăng một mực tuyên bố: ‘không chống cộng, chỉ chống cái ác’. Như vậy thử hỏi, cho đến bao giờ, “cháu ngoan Bác Hồ” trong nước và tuổi trẻ Việt Nam khắp nơi cùng đồng thanh lên tiếng chống cộng sản Việt Nam?

    KIỀU NGỌC VIẾT: Ngoài ý niệm trên, xin anh chị em hãy tin rằng dòng máu đang chảy trong huyết quản của tuổi trẻ Việt Nam ngày nay, không chỉ là con, là cháu, là em của cô chú bác anh chị, mà còn là những dòng máu can trường bất khuất của các bậc hào kiệt Lý, Lê, Trần. Chắc chắn, dù có bị chế độ độc tài phi nhân đang ra sức tàn phá bao nhiêu đi chăng nữa, thì đâu đó, dòng máu ấy vẫn còn đang lưu chảy âm ỉ trong nhiều trai gái trẻ… chờ ngày vực dậy!

    KIỀU NGỌC VIẾT: Dù bóng tối đêm đen có kéo dài đến đâu, rồi bình minh cũng phải đến! Vâng, xin chúng ta cứ vững tin như thế.

    Xin chào anh chị em trong tình thương mến.


    Kiều Ngọc

    SGT NHẬN XÉT: Đọc đoạn văn này, ai cũng thấy KN đã ăn phải bả tuyên truyền rẻ tiền của những chiếc loa rỉ CS ở đầu làng hay cuối phố. Thực tế, KN đã cố tình che giấu những SỰ THỰC QUAN TRỌNG: TRONG HUYẾT QUẢN CỦA KN HÔM NAY VẪN ĐANG LUÂN LƯU DÒNG MÁU PHẢN BỘI, DÒNG MÁU CỦA CHÁU NGOAN BÁC HỒ…. CÙNG NHỮNG LỜI CA ĐƯỢC KN THÌ THẦM TRONG ĐÊM KHUYA… “EM YÊU CUỘC ĐỜI… EM YÊU THÀNH PHỐ BÁC THÂN THƯƠNG…”



    Hữu Nguyên
  13. Trần Kiều Ngọc, kẻ binh người chống !
    Hồng Lĩnh vs Ngô Minh Hằng + Nguyễn thị Mân ++
    [​IMG][​IMG]
    BBT: Dưới đây là một loạt bài nói về quái thai Trần Kiều Ngọc và những kẻ ủng hộ cô này (rất tiếc đa số họ mang nhản hiệu Công Giáo). Trước tiên là email được ký tên là Hồng Lĩnh (nhưng địa chỉ người gởi là nambac053@gmail.com). Do email hung hăng này mà nữ thi sĩ chống Cọng Ngô Minh Hằng đã viết bài phê bình đính kèm. Và tiếp theo chúng tôi cho phổ biến bài viết của tác giả Man Nguyen (Mannguyenthi) giải thích cho biết Trần Kiều Ngọc là "gì" !
    Trần Kiều Ngọc, kẻ binh người chống !
    Author: Hồng Lĩnh vs Ngô Minh Hằng + Nguyễn thị Mân Posted on: 2017-09-21
    Email ký tên Hồng Lĩnh (From: nambac053@gmail.com)
    Xin mời vào đây để xem một tuổi trẻ công giáo TKN.
    http://khoitinhthanngodinhdiemducquoc.blogspot.ch/
    Tống cổ tên CSVN Hữu Nguyên SaiGon Bao Úc Châu nằm vùng. Nó ngoan cố bôi nhọ cố TT Ngô Đình Diệm. Nay nó nhất định dùng chiêu bài đánh VT để tấn công TKN. Bà nầy được khối công giáo Việt bên Úc ủng hộ.
    Đức Cha Nguyễn Thanh Long , cha tổng tuyên úy Paul Văn Chi, cha Khải nhiệt tình ủng hộ, hầu tạo một phong trảo tuổi trẻ quốc nội nắm lấy vận mệnh dân tộc. Nên CSVN đang hú lên như bị chọc tiết và tìm đủ mọi cách đánh phá.
    Hồng Lĩnh
    -----------
    Thư của Ngô Minh Hằng gởi Hồng Lĩnh
    Thưa Tiến sĩ Hồng Lĩnh,
    Nmh thiển nghĩ, gần một thế kỷ nay, CSVN tàn ác, trí trá, lừa bịp, giết hại dân tộc VN như thế nào, phản bội tổ quốc quê hương VN như thế nào, toàn dân Vn, thế giới và Tiến sĩ cũng đều biết rõ. Nỗi đau thương, ai oán, căm hờn của dân tộc VN với CSVN đã chất ngất trời mây. Tội ác của CSVN với dân tộc và đất nước VN đã cao trùng trùng, sâu vời vợi, không bút mực nào tả xiết, nước biển Đông rửa ngàn năm cũng không hết được.
    Thưa Tiến sĩ Hồng Lĩnh, dân VN, những nạn nhân của CSVN hoặc những người có lòng xót nước thương nòi, ai ai cũng oán hờn VC, mong cho chế độ độc tài tàn ác CSVN sớm chấm dứt, sớm tan tành trên lãnh thổ VN để con người VN được sống quyền con người mà Thượng Đế đã ban cho họ. Không ai hiểu CS hơn người CS, vì thế, chính Tổng Thống Nga Boris Yeltsin đã nói: "Cộng Sản không thể nào sửa chữa mà cần phải đào thải nó".
    Vậy mà Tiến sĩ Hồng Lĩnh lại đi kêu gào mọi người yểm trợ cho những kẻ tuyên bố rõ ràng chủ trương của họ là " KHÔNG CHỐNG CỘNG" thì Tiến sĩ có thấy rằng Tiến sĩ đã làm ngơ trước những tiếng thét thất thanh cầu cứu của chính đồng bào mình, đã đi ngược lại ước mong chính đáng của dân tộc VN, đã tiếp tay dập tắt nguồn hy vọng của những nạn nhân CSVN không?
    Lại nữa, Chiêu Hồi là chính sách nhân đạo của VNCH từ thời Đệ Nhất và chương trình này đã cứu vớt được bao nhiêu cuộc đời thiếu niên non trẻ VN vì lỡ sinh vào thời VC và bị VC đẩy vào trò chơi bạo tàn súng đạn và sau khi hồi chính, nhiều người đã RẤT XỨNG ĐÁNG cho ta HỌC HỎI VÀ KÍNH TRỌNG. Ví dụ Nhà văn XUÂN VŨ. Những tác phẩm đầy TÍNH NHÂN BẢN, CHÂN THỰC, VẠCH RÕ TỘI ÁC CỦA VC VÀ CHỐNG CỘNG KHÔNG KHOAN NHƯỢNG của Nhà Văn Xuân Vũ đã nói lên điều đó. TINH THẦN QUỐC GIA DÂN TỘC của Nhà Văn XUÂN VŨ chắc chắn ghi lại dấu ấn đẹp đẽ trong lòng những người yêu quê hương, yêu sự thật và sẽ tồn tại trong dòng lịch sử. Và gần đây có Đặng Chí Hùng. Dù VNCH và Bộ Chiêu Hồi không còn nữa nhưng Đặng Chí Hùng ĐÃ TỰ TÌM VỀ với LINH HỒN CỦA VNCH, với LÁ CỜ VÀNG CỦA DÂN TỘC VN bằng lòng yêu nước, bằng tinh thần Quốc Gia, do anh yêu qúi và tự chọn. Những bài viết của Đặng Chí Hùng đã nói lên những tâm tình chân thật ấy. Những ai đã đọc Đặng Chí Hùng sẽ nhận ra thật, giả ngay thôi.
    Thưa Tiến sĩ Hồng Lĩnh, Nmh nghĩ, KHÔNG PHẢI AI LÀ BỘ ĐỘI CŨNG CÓ BẢN CHẤT SẮT MÁU DÃ MAN PHẢN TRẮC CỦA VC, cũng như KHÔNG PHẢI AI VỖ NGỰC LÀ NGƯỜI QUỐC GIA, LÀ NGƯỜI CHỐNG CỘNG cũng có TINH THẦN NHÂN BẢN CHÂN CHÍNH VÀ TRUNG THÀNH CỦA QUỐC GIA. Nhiều kẻ đã lớn lên từ cái nôi của Quốc Gia, được Quốc Gia thương yêu bảo bọc mà đã nhẫn tâm, đã trắng trợn phản lại Quốc Gia thì thử hỏi, những kẻ đó có bằng những cán binh VC hồi chánh mà thật lòng yêu Quê Hương Dân Tộc hay không? Muốn đánh giá họ cho thật đúng, chúng ta không thể căn cứ vào cái màu áo họ khoác, những lời hoa mỹ họ ru mà CẦN THỜI GIAN ĐỂ NHÌN VÀO NHỮNG VIỆC HỌ LÀM !!!
    Thưa Tiến sĩ, vì nhận được emails kêu gọi sự yểm trợ người KHÔNG CHỐNG CỘNG SẢN của Tiến sĩ, Nmh cảm thấy chán nản nên viết thế thôi chứ không có mục đích tranh cãi với Tiến sĩ đâu. Nếu Tiến sĩ thấy lời thật mà chướng tai thì xin Tiến sĩ xóa giúp cho và bỏ lỗi cho Nmh.
    Trân trọng
    Ngô Minh Hằng
    ---------
    Bài viết của Nguyễn thị Mẫn
    (https://www.facebook.com/mannguyenthi.57/posts/353882495055195)
    GỌI TRẦN KIỀU NGỌC LÀ GÌ ?
    (Hãy để tôi phân tích cho những ai còn mơ hồ về ả này)
    Tại sao nhiều kẻ tiếp tục bao che và ngụy biện tiếp tay cho ả ? Những kẻ này là ai nếu không thuộc về tay chân trong tổ chức của Trần Kiều Ngọc? Với tâm lý một người bình thường, khi nghe tới một vấn đề gây tranh cãi, họ sẽ tìm tòi, xem xét, đánh giá và tranh luận từ mọi góc độ bản chất của vấn đề rồi mới đưa ra nhận xét, góp ý ủng hộ hay chỉ trích. Thế nhưng tay chân của Trần Kiều Ngọc không làm thế, chúng rào trước đón sau khi đăng status về ả này, chúng lấy dẫn chứng câu sau mà quên câu trước. Khi không thuyết phục được người đọc, chúng ngụy biện ả này nói sai ngữ pháp về câu "chúng con không chống cộng" rồi mang hai chữ luật sư ra để dọa kiện những người chống lại ả. Bản chất lưu manh và điếm đàng của những con súc vật lưu manh giả danh trí thức nằm ở chỗ này….
    Xem lại video ả tiếp xúc với bà con tại Canada, các bạn cần theo dõi và phân tích từng cử chỉ, hành vi ứng xử trước hai câu hỏi về hiệp định Paris và đạo luật Magnitsky, những tử huyệt của bọn mafia đỏ mà ả không thể trả lời được, không những thế còn dùng hai từ "tình thương " để đáp lại yêu cầu phải hành động ngay với đạo luật Magnitsky.
    Trong khi đó tay chân của ả, một nhóm ra sức lan truyền khẳng định rằng ả chống cộng. Nhóm khác lại tuyên truyền rằng đường lối "tình thương" của ả khác mọi người nên tất cả phải tôn trọng quan điểm không chống cộng của ả. Nói chung là tự chúng mâu thuẫn chống lại tư tưởng lẫn nhau. Mấu chốt quan trọng nhất là tên Anthony Chim diễn giả của tổ chức " con đường nhân bản" sử dụng những từ "rẻ tiền", "ngu dốt", "chó", "kém hiểu biết" tự xưng mình là "ông" "bố" để phản biện và chụp mũ "cộng sản" hay "dư luận viên" cho bất kỳ ai chỉ trích chúng mà chúng không thể biện bạch cho những thắc mắc của những người không ủng hộ chúng. Sau đó xoá và block comment từ những tiếng nói trái chiều.
    Tôi cần nhắc lại với các bạn về tình hình chính trị tại Việt Nam. Những kẻ bảo vệ chế độ cộng sản như các lực lượng vũ trang có thể đã từng là một khối thống nhất (giờ này thì chưa chắc), nhưng có một điều là nội bộ lãnh đạo cao cấp từ Bộ Chính Trị của chúng từ xưa tới giờ chắc chắn không phải là một khối thống nhất. Chúng chia năm, xẻ bảy tạo thành phe nhóm lợi ích đấu đá, xâu xé nhau đến chết. Mỗi phe nhóm lại có những chiêu bài chính trị khác nhau từ sử dụng bạo lực cho tới các biện pháp friendly hơn… là ru ngủ hay làm tình dân chủ bằng phương pháp dụ dỗ ăn kẹo mút "tình thương" "nhân bản". Nhưng ở chiêu bài nào thì cũng chỉ vì một mục đích tiếp tục cai trị càng lâu càng tốt dưới dạng đổi màu như kỳ nhông.
    Khi nghị quyết 36 ra đời tạo đường mòn cho Cộng sản bành trướng ra hải ngoại bằng đủ mọi mưu kế quỷ quyệt thì các phe nhóm của nó cũng hình thành các tổ chức chính trị riêng tại các nước phát triển để phù hợp với diễn biến chuyển hoá trong nước. Chúng đã gột rửa phèn dưới chân bằng cách đồng hoá với người Việt quốc gia như ăn chung, ngủ chung... lý tưởng chung, nên chúng không bao giờ tự gọi mình là cộng sản nữa. Có thể là bất cứ một cái tên nào chúng nghĩ ra được miễn là phải to lớn và vĩ đại nhất rồi ôm cờ vàng để hợp thức hoá sự có mặt của chúng cho cùng màu với số đông.
    Với ngân sách khủng mà cộng sản chi ra hàng năm, chúng mua người Việt quốc gia để phát ngôn cho chúng, mua xưởng in, đài phát thanh, trung tâm ca nhạc, mở nhà hàng, chợ, trung tâm cộng đồng, thành lập hội nhóm, đoàn thể đối lập với thực thể của chúng trong nước để đợi ngày xoá bỏ từ hai từ "cộng sản" mà chúng sẽ dùng để ngụy trang cho bản chất tham lam, nhũng loạn của chúng sau này ... cho nên hiện tình hải ngoại bây giờ không khác gì Sài Gòn trước nay và bây giờ. Chúng có mặt khắp nơi.
    Một người chống cộng có kinh nghiệm không bao giờ tham gia các nhóm hội đoàn kêu gọi quyên góp lập quỹ. Vì chiêu bài của nghị quyết 36 là sử dụng chính nhân lực và vật lực của người Việt quốc gia để phục vụ cho mưu đồ của chúng. Có ai hỏi chúng đã sử dụng tiền lập quỹ vào những việc gì, audit ra sao? Thêm nữa, nếu giữ tinh thần chống cộng cực đoan mà thể hiện ra tại các hội đoàn thì chắc chắn một ngày bạo lực sẽ tìm đến gõ cửa.
    Cho nên bây giờ gọi chúng là cộng sản chắc chắn một điều chúng sẽ từ chối, lắc đầu ngay ! Mafia, tư bản đỏ làm chính trị ? Vâng những từ ngữ ấy hợp hơn để chuẩn bị một ngày chúng thay đổi tên gọi hay trở cờ cho thể chế hiện nay. Nhưng dù ở bất cứ tên gì thì cũng đừng quên chúng có rất nhiều tỉ USD và tội ác chúng đã và đang reo rắc khắp nơi trên đất mẹ.
    Đừng bao giờ quên lòng hận thù chỉ vì một con điếm dụ dỗ "yêu thương" "nhân bản" sáo rỗng.
    Nếu căm thù cộng sản, đừng bao giờ quên nghị quyết 36 và những gì đã và đang diễn ra tại quê hương thứ 2 này.
    Trong giới hạn của một status tôi không thể nói dài dòng. Các bạn hãy nghe sự chia sẻ của những bậc trưởng thượng đã chứng kiến nghị quyết 36 diễn ra tại hải ngoại như thế nào ở YouTube, từ đó mà tìm được bản chất thật của ả Trần Kiều ngọc.
    [​IMG]
    ---------
    Ý kiến độc giả :

    Như Bà Ngô Minh Hằng đã viết "không phải ai vỗ ngực là người quốc gia đều là người chống cọng" thì tôi cũng xin có ý kiến phụ theo như sau:
    Không phải ai Công Giáo cũng là giữ đúng chân lý và sự thật của Chúa Giêsu. Đa số người Công Giáo có bản chất tôn thờ thần tượng, tức là tôn thờ các vị lãnh đạo của họ như Đức Giáo Hoàng, Đức Giám mục để rồi mê muội vâng lời giới lãnh đạo này. Tại sao dưới thời của cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ Nhị không hề ló dạng cái chiêu bài KHÔNG CHỐNG CỌNG mà chỉ dưới triều của giáo hoàng Phanxicô hiện nay mới nở rộ ra cái phong trào quái đản này khiến cả lớp triều thần và tín hửu đều riu ríu nghe theo và tung hô cái chiêu bài "Không Chống Cọng" này ?? Dễ hiểu thôi, đó là một khi lãnh tụ Mao Trạch Đông ra lệnh giết người thì Hồ Chí Minh và bọn cán bộ đều thi nhau đấu tố địa chủ để giết cho bằng được vài trăm ngàn người dân vô tội cho đủ túc số mà Mao đòi hỏi. Và cũng tương tự như thế, một khi mà Giáo Hoàng Phan xi cô, một giáo sĩ được nuôi dưởng trong cái lò THẦN HỌC GIẢ PHÓNG của xứ Argentine đã tuyên bố rằng "Người Cọng Sản là tốt và tôi không bị họ xúc phạm" và hô lớn "hãy thực hiện tình thương và nhân bản" để ôm bọn Cọng Sản TỐT này vào lòng …. thì lập tức cả đám triều thần của Ngài đều tung hô và răm rắp nghe theo ý chỉ của Ngài để KHÔNG CHỐNG CỌNG, mà chẳng thèm đoái hoài gì đến công lý của Chúa Giêsu cả ! Chỉ vậy thôi !!
    Tất cả bọn họ đều theo đạo của Giáo Hoàng chứ không theo đạo của Chúa Kitô (tức đạo nguyên thủy do Chúa Giêsu lập nên, khai trừ bọn Satan chống Chúa, bọn hảm hại người lương thiện). Nếu đương kim giáo hoàng Phanxicô thất lộc và một giáo hoàng khác có đức tính cương trực như Đức Gioan Phao Lô Đệ Nhị nối ngôi và dám khuyên nhủ thần dân ĐỪNG SỢ CỘNG SẢN thì thử hỏi cái đám nô bộc ngu si mà ông Hồng Lĩnh đã nêu danh và vênh vang hảnh diện đó… có cúi đầu trở cờ để tiếp tục chống Cọng và chống Satan hay không ?
    Tui không bao giờ đặt lòng tin tưởng vào cái đám nô bộc công giáo này. Họ không có lòng trung thành với Đức Kitô và giáo lý của Ngài mà chỉ biết vâng theo Vatican vì sợ giới uy quyền ở nơi này kết tội, bởi Vatican đã tỏ uy lực của mình khi vin theo Kinh Thánh (Matthew 18:18) để khẳng định rằng "những gì Vatican ràng buộc ở trần thế thì Thiên Chúa trên trời cũng ràng buộc, đứa nào nghịch với ta thì chỉ có đường xuống hỏa ngục mà thôi !!" cho nên dù có can đảm và yêu nước bao nhiêu đi nữa như Đức Cha Ngô Quang Kiệt, mà một khi Vatican cất giọng bảo IM và dọa "dứt phép thông công" thì Ngài cũng phải im re vì cái vòng kim cô "mất linh hồn" đang bị Vatican xiết chặt quanh đầu . Giám mục Nguyễn văn Long hay linh mục Nguyễn văn Khải hoặc cả Hội Đồng GMVN cũng là thứ tương tự, họ chỉ theo đạo Vatican với cái vòng Kim Cô mà thôi chứ không phải là theo Chúa Giêsu với cái Thập Tự Giá của sự hy sinh bản thân để cứu người !!
    Muốn cho cái bọn ngu đần công giáo thay đổi lập trường để tiếp tục chống Cọng, chống bọn phỉ báng Thiên Chúa và cứu nước Việt khỏi tay của Cọng Sản và không còn bị nhóm Thần Học Giải Phóng và nhóm Việt Gian Vịt Tân lèo lái thì chỉ còn 1 cách là LỚN TIẾNG KÊU LÊN Đức Giáo Hoàng Phanxicô để Ngài chuyển đổi lập trường và cất giọng phán rằng : Tui có mắt như mù ! Bọn Cọng Sản giết người gần cả 100 triệu mạng người trên toàn thế giới bấy lâu nay, thế mà tui lại mở miệng khen chúng là tốt. Tui xin rút lui lời nói vụng dại đó của tui để tuyên bố lại rằng PHẢI CHỐNG CỌNG vì chúng chính là bọn Satan phỉ báng Thiên Chúa của chúng ta, chúng giết hại và đàn áp con cái của Ngài, ngăn cản mọi người thi hành công lý của Thiên Chúa. Xưa kia Chúa Giêsu đã thằng thừng đuổi Satan xa khỏi Ngài, thế nhưng tui đây lại làm điều trái ngược, tui vui vẻ tiếp cận Satan và bắt tay hòa giải với nó, đó là một hành động sai lầm phản bội lại Thiên Chúa trên trời. Tui không xứng đáng làm giáo hoàng, tui phải từ chức để cho một vị lãnh đạo khác có Đức Tin vững như ĐÁ hơn tui lên dẫn dắt giáo hội. Tui chỉ là kẻ yếu đuối, tui đã từng tuyên bố với báo chí rằng tui đã có lúc HOÀI NGHI SỰ HIỆN HỮU của Thiên Chúa, vậy tui làm sao có thể đại diện cho Ngài được. Giáo dân ơi ! Giáo hội ơi ! Hãy tiếp tục chống Satan, chống Cọng Sản vì chúng đang làm cho giáo hội rung lay vì Tui chính là Bùn chứ không phải là Đá để Chúa Giêsu xây dựng giáo hội của Ngài lên đó !! Mea Culpa !! Amen.

    JB Trường Sơn
  14. Thư trả lời như lột trần bộ mặt trơ trẽn của lũ Vẹm.

    Lời mời gọi "Hòa Hợp Hòa Giải" của Hội Nhà Văn Hà Nội
    Author: Hữu Thỉnh vs Phan Nhật Nam Posted on: 2017-09-14
    Lời giới thiệu :

    Thưa các NT và các bạn.
    Hôm nay, tôi được đọc thư mời của ông Hữu Thỉnh, Hội Nhà Văn Hà Nội, gửi cho Nhà Văn QĐ Phan Nhật Nam ngày 1 tháng 9 năm 2017.
    Nội dung mời Nhà Văn PNN về Hà Nội để gặp các nhà văn trong nước vào tháng 10 năm 2017.
    Biết rõ đây là âm mưu "Hoà hợp hoà giải" giả hiệu theo nghị quyết 36 của VC. Nên Nhà Văn PNN đã có thư trả lời và vạch trần âm mưu gian xảo, bản chất xấu muôn đời của VC, chỉ nhằm lừa bịp được những người chưa có kinh nghiệm đau thương với VC.
    Những VC tay sai chỉ có mục đích duy nhất là làm tiêu tan uy tín, danh dự những kẻ vì tham tiền, ham gái, ham danh hão như : NCK, PD, DTL,..., và nhằm chia rẽ sự đoàn kết của Cộng Đồng NVQG tại hải ngoại.
    Xin gửi đính kèm đưới đây :
    1 Thư mời của ông Hữu Thỉnh.
    2. Thư trả lời của Nhà Văn QĐ Phan Nhật Nam.
    Xin giới thiệu các nội dung nêu trên.

    LQ Liễn K20
    **********
    [​IMG]
    Hữu Thỉnh
    THƯ CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI :
    Thư gửi : Nhà văn PHAN NHẬT NAM
    Thưa anh,
    1/ Để đỡ đường đột, xin giới thiệu. Tôi là Hữu Thỉnh, người từng đọc anh đã lâu, hiện nay đang làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi mới gặp Thụy Kha vừa ở bên ấy về, cho biết có gặp anh và hai người đã từng cùng nhau uống bia vui vẻ. Đấy quả là một sự kiện bất ngờ thú vị. Với dư âm của các cuộc gặp ấy, tôi viết thư này thăm anh và bày tỏ nguyện vọng "tái bản" cuộc gặp ấy, và di chuyển nó về quê nhà với quy mô rộng hơn, thời gian dài hơn trong khuôn khổ một cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài. Đây là một cuộc hội ngộ mà chúng tôi mong mỏi từ lâu, nay mới có thể thực hiện được. Với ý nghĩa cao cả, góp phần làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp. Tôi chờ đợi được anh chia sẻ điều đó và chân thành mời anh tham gia sự kiện nói trên.
    Anh Nam ơi, tôi muốn nói thêm rằng, chúng ta đều không còn trẻ nữa. Tôi hình dung cuộc gặp này là rất có ý nghĩa cho những năm tháng còn lại của mỗi chúng ta. Tôi cũng dự đoán rằng, có thể có những khó khăn. Nhưng từ trong sâu thẳm thiên chức nhà văn, chúng ta cùng chọn Dân Tộc làm mẫu số chung để vượt qua tất cả.
    2. Cuộc gặp mặt dự kiến sẽ diễn ra từ 20 đến 25 tháng 10 năm 2017 tại Hà Nội và một số địa phương ở phía Bắc. Trường hợp anh Nam, Ban tổ chức sẽ lo chi phí toàn bộ đi về và thời gian tham gia Cuộc gặp mặt. Vì là lần đầu, còn nhiều bỡ ngỡ, xin anh vui lòng lấy vé giúp và cho biết thời gian chuyến bay để chúng tôi ra đón anh tại sân bay Nội Bài. Quá trình chuẩn bị có gì cần trao đổi, xin anh cho chúng tôi biết sớm.
    3. Ngay sau khi được hồi âm của anh, tôi sẽ gửi giấy mời chính thức cùng chương trình của Cuộc gặp mặt. Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt đang chờ đón Cuộc gặp mặt của chúng ta.
    Chúc anh sức khỏe, may mắn, gia đình hạnh phúc và mong sớm nhận tin tốt lành. Hà Nội 1/9/2017
    **************************
    [​IMG]
    Thư gủi Ông Hữu Thỉnh,
    Hội Nhà Văn Hà Nội
    Qua địa chỉ điện thư Cô Đào Kim Hoa
    Phụ Tá Ngoại Vụ Hội Nhà Văn.
    Tôi, Phan Nhật Nam nguyên là một sĩ quan cấp Đại Úy Hiện Dịch Thực Thụ thuộc Sư Đoàn Nhẩy Dù/Quân Lực VNCH gởi đến Ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hà Nội để trả lời thư đề ngày 1 tháng 9, 2017 qua điện thư của Cô Đào Kim Hoa
    #1-Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân Lực Miền Nam như trên vừa kể ra, với tính khách quan, độc lập của người không liên hệ đối với sinh hoạt của giới văn hóa, học thuật trong nước, ở Hà Nội trước, sau 1975.. Tôi có thư nầy để trả lời mời gọi mà ông Hữu Thỉnh đã trực tiếp gởi đến cá nhân tôi nhằm thực hiện tiến trình gọi là "Hòa Hợp Hòa Giải". Câu trả lời trước tiên, dứt khoát là: Tôi xin được hoàn toàn từ chối sự mời gọi vì nhiều lẽ ..
    #2- Là một người sinh trưởng từ thập niên 1940, tiếp sống qua hai cuộc chiến 1945-1954; 1960-1975, thực tế lịch sử, chiến tranh, xã hội Việt Nam trước, sau 1975 đã cho người lính chúng tôi xác chứng: KHÔNG HỀ CÓ CHỦ TRƯƠNG HÒA HỢP HÒA GIẢI từ người / chủ nghĩa / chế độ cộng sản trong lý thuyết cũng như qua sách lược hành động.
    #3-Từ thực tiễn của #2 thêm kinh nghiệm mà bản thân cá nhân là một đối tượng thụ nạn của thành phần gọi là "Ngụy Quân-Ngụy Quyền" thuộc chế độ Quốc Gia Việt Nam (1948-1954); Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) đến hôm nay vẫn tiếp tục bị miệt thị, xuyên tạc, và triệt hạ dẫu chiến tranh đã chấm dứt từ 1975.
    #4- Trong tình thế chung nhất của #2;#3, chắc chắn rằng không thể nào thực hiện được "Hòa Hợp Hòa Giải" như thư ông Hữu Thỉnh đề nghị! Cũng bởi, giới Nhà Văn chính là đối tượng hàng đầu bị bách hại đối với tất cả chế độ cộng sản Đông-Tây. Lịch sử đẫm máu 100 năm của chế độ cộng sản từ 1917 đến nay như một vũng tối ghê rợn phủ chụp lên lương tri nhân loại.. Hỏi thử buổi gặp mặt Tháng 10 tại Hà Nội (cho dẫu thực lòng đi nữa) sẽ gây được tác dụng gì? Nhà Văn? Nhà Văn Việt Nam đích thực là những ai? Nhưng đây không phải là vấn đề của cá nhân tôi - Trước sau chỉ là một Người Lính-Viết Văn. Cũng bởi, tôi chưa hề nhận Chứng Chỉ Giải Ngũ của Bộ Quốc Phòng/VNCH cho dù đã không mặc quân phục từ 1975.
    #5- Cuối cùng, với bản chất đơn giản, chân thật của một Người Lính, tôi có một đề nghị như sau: Để thực hiện tinh thần và nội dung "Hòa Hợp, Hòa Giải Dân Tộc" như lá thư mời của ông Hữu Thỉnh đã đề cao.. Hệ thống cầm quyền, cụ thể thành phần cán bộ làm công tác văn hóa, học thuật, truyền thông, báo chí.. dưới chỉ đạo của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng nơi Hà Nội chấm dứt, điều chỉnh MỘT CÁCH THÀNH THỰC danh xưng miệt thị "Ngụy Quân/Ngụy Quyền" trong tất cả sử liệu, văn khố, tài liệu giáo khoa, văn thư hành chánh, sinh hoạt xã hội.. Cụ thể hơn hãy chấm dứt cách biểu tình với lời hô "Đả đảo Thương Phế Binh VNCH!!" như đã xẩy ra nơi Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn ! Hãy nhìn lại.. Thương phế binhVNCH là những lão nhân phế binh, thương trận đã không được sống với dạng Con Người từ 30 Tháng 4, 1975. Hãy để cho Người Lính QLVNCH còn sống sót và gia đình được trở lại Miền Nam sửa sang phần mộ Chiến Hữu nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là nơi giới cầm quyền Hà Nội chủ trương phá bỏ một cách có hệ thống, dẫu người chết gần nửa thế kỷ qua không thể nào đe dọa đối với Chế độ XHCN! Xin hãy "Hòa Hợp Hòa Giải" với những người đã chết, với người đang cố sống sau thảm họa Formosa, Nghệ An. Hãy hoà hợp, hòa giải với “Khúc ruột ở trong nước” trước. Khi ấy không cần mời, chúng tôi “Khúc ruột ngàn dặm” sẽ về. Về rất đông. Người Viết Văn - Lương Tri và Chứng Nhân của Thời Đại sẽ VỀ. TẤT CẢ CÙNG VỀ VIỆT NAM .
    Kính thư,
    Người Lính-Viết Văn,
    Công Dân Mỹ gốc Việt,
    Phan Nhật Nam
    Washington DC, 9 Tháng 9, 2017
  15. TÍNH CHÁNH DANH VÀ HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA
    Author: Thẩm Phán Phạm Đình Hưng Posted on: 2017-08-31
    [​IMG]
    Ngày 20-7-2015, tôi đã phổ biến trên các mạng xã hội một bài viết về “Tính Chánh Danh vàHợp Pháp Của Nhà Cầm Quyền”. (Phạm Đình Hưng, Thay Ngôi Đổi Chủ, Chương 2, 2016, Hoa Kỳ)
    Mới đây, nhân dịp phát hành bộ Sử Việt Nam tu chính lần thứ nhứt theo chỉ thị của một cấp cao trong hệ thống quyền lực ở Hà Nội với một mục đích thầm kín, “sửgia” Trần Đức Cường, nguyên Viện trưởng Viện Sử Học Việt Nam cộng sản, đã buộc lòng phải công nhận chánh thể Việt Nam Cộng Hòa nhưng lại công khai phỉ báng và miệt thị Việt Nam Cộng Hòa thiếu chánh danh và bất hợp pháp !
    Với tư cách Giám Sát của Giám Sát Viện Việt Nam Cộng Hòa trước 30-4-1975 (thời quân chủ gọi là Giám sát Ngự sử), tôi cần viện dẫn một số sự kiện lịch sử chính xác để chứng minh Việt Nam Cộng Hòa là một chánh quyền có chánh danh và hoàn toàn hợp pháp. Ngược lại, tôi cũng phải nêu ra vài sự kiện lịch sử hoàn toàn có thật để vạch trần ngụy danh và tính bất hợp pháp của nhà cầm quyền cộng sản từ thời Hồ Chí Minh đến thời Nguyễn Phú Trọng.
    Tính chánh danh của Việt Nam Cộng Hòa
    1-Việt Nam Cộng Hòa (Republic of Vietnam) là hậu thân của Quốc Gia Việt Nam (État du Vietnam) do Cựu Hoàng Bảo Đại lãnh đạo với cương vị Quốc trưởng (Chef d’État) từ 1948 đến 1955. Quốc trưởng Bảo Đại, vị vua thứ 13 của Nhà Nguyễn nối ngôi vua Khải Định ngày 8-1-1926, đã thừa kế chánh danh của Vương triều Nhà Nguyễn đã có từ thời Hoàng đế Gia Long lên ngôi cữu ngũ năm 1802. Chánh danh của Quốc Gia Việt Nam đã chuyển qua Việt Nam Cộng Hòa từ ngày Trưng Cầu Dân Ý (Referendum) 23-10-1955.
    Về địa lý và chánh trị, Quốc Gia Việt Nam là một nước độc lập và thống nhứt từ 1948, lãnh thổ bao gồm Nam Phần, Trung Phàn và Bắc Phần chạy dài từ ãi Nam Quan đến mũi Cà Mau.
    2- Tính chánh danh của Quốc Gia Việt Nam (1948-1955) và Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) đã được củng cố do các thành tích bảo quốc an dân, duy trì và phát triển dân tộc, xây dựng một đất nước phồn thịnh, ổn định xã hội, tôn trọng dân chủ, nhân quyền và dân quyền, tạo lập an bình, tự do và hạnh phúc cho quần chúng nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, thành phần xã hội.
    3- Đến ngày nay, không ai có thể qui trách Quốc Gia Việt Nam hoặc Việt Nam Cộng Hòa đã nhượng bán lãnh thổ cho ngoại bang và để lại cho người dân một món nợ công nào sau ngày Bắc Việt cộng sản xâm lăng, chiếm đoạt và thống trị miền Nam Việt Nam như một thuộc địa.
    4- Các “sử gia” cộng sản cũng không thể vu cáo Chánh phủ Quốc Gia Việt Nam đã chia cắt đất nước Việt Nam tại Hội nghị Genève 1954. Thật vậy, phái đoàn Quốc Gia Việt Nam do Bác sĩ Trần văn Đỗ lãnh đạo đã không ký Hiệp định Genève nhưng chính Thứ trưởng bộ Quốc Phòng Tạ Quang Bửu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Minh) đã ký hiệp định nầy cùng với Thiếu tướng Delteil, Đại diện Chánh phủ Pháp, theo quyết định của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai để phân chia nước Việt Nam ra hai miền Nam Bắc, mỗi miền có một chánh thể riêng và ranh giới giữa hai miền Nam Bắc được ấn định rõ rệt tại vĩ tuyến 17. Một Khu Phi Chiến (DMZ) rộng 3 miles (hải lý) từ ranh giới của hai bên cũng được thiết lập để ngăn cách hai miền Nam Bắc Việt Nam.
    5-Thể chế dân chủ pháp trị đã được Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa liên tục áp dụng để bảo đảm nhân quyền và dân quyền, đồng thời xây dựng dân chủ và phát triển đất nước. Các cuộc bầu cử ở các cấp trung ương, tỉnh và xã đã được tổ chức theo nguyên tắc tự do ứng cử và bầu cử và phổ thông đầu phiếu.
    6- Báo chí tư nhân đã được tự do xuất bản căn cứ theo đạo luật ban hành năm 1881 tại Pháp và được áp dụng tại Nam kỳ (Nam Việt Nam) từ thời thuộc địa Pháp để tôn trọng quyền tự do báo chí và quyền tự do tư tưởng. Tư nhân xuất bản sách báo chỉ cần tôn trọng quy chế nạp bản tại Văn khố (Archive).
    7- Hoạt động của các cơ quan cảnh sát công an đặt dưới quyền kiểm soát chặt chẻ của bộ Nội Vu, Công tố viện và Tòa án. Nói một cách cụ thể, dưới chánh thể Đệ Nhứt Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Thẩm phán Huỳnh Sanh Phương (anh của Giáo sư Huỳnh Sanh Thông, dịch giả Flowers In Hell từ tập thơ Hoa Địa Ngục của Nguyễn Chí Thiện), Chánh Biện Lý Tòa Sơ thẩm Sài Gòn đã mở cuộc điều tra sâu rộng khi một bị can chết trong thời gian bị tạm giam tại Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia.
    8- Chánh nghĩa sáng ngời của Quốc Gia Việt Nam đã được thể hiện qua lập trường của Thủ tướng Trần văn Hữu xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị San Francisco 1951 kết thúc Thế Chiến II. Phái đoàn của hai nước cộng sản Liên Xô và Trung Quốc đã không tranh cải về chủ quyền trên hai quân đảo kể trên với phái đoàn Quốc Gia Việt Nam.
    9- Chánh nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa trên chánh trường và dư luận quốc tế cũng đã được soi sáng bởi sự hy sinh cao cả của 74 chiến sĩ Hải quân trong trân hải chiến hào hùng tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974 để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông mặc dầu trận chiến không cân xứng.
    Tính Hợp pháp của Việt Nam Cộng Hòa
    Trong thế kỷ 20, Việt Nam Cộng Hòa thật sự là một quốc gia độc lập, hợp pháp và có chủ quyền.
    1- Về mặt quốc tế công pháp, Việt Nam đã được hai nước Nhựt và Pháp lần lượt trao trả độc lập trước và sau khi chấm dứt Thế Chiền II :
    - Ngày 9-3-1945, quân đội chiếm đóng Nhựt bổn đảo chánh nhà cầm quyền Pháp và Đại sứ Toàn Quyền của nước Nhựt trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11-3-1945, Hoàng đế Bảo Đại tuyên cáo hủy bỏ các hiệp ước 1862, 1874 và 1884 và ban hành Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhứt: nước Việt Nam đôc lập gồm cả ba miền Nam, Trung, Bắc. Nội các Trần Trọng Kim do Hoàng đế Bảo Đại bổ nhiệm gồm có nhiều trí thức lỗi lạc. Nhưng ngày 19-8-1945, đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng bạo lực cướp chánh quyền của Hoàng đế Bảo Đại và cưỡng bức nhà vua phải thoái vị để tránh khỏi nội chiến. Nhận thấy rõ đảng Cộng Sản chủ trương bạo động để cướp đoạt chánh quyền, Cựu Hoàng Bảo Đại đã rời Hà Nội, đi lưu vong tại Trùng Khánh và Hong Kong trước khi thương thuyết với Cao ủy Pháp Emile Bollaert và ký kết hiệp định Vịnh Hạ Long (Accords du Baie d’Along) ngày 5-6-1948 công nhận nền độc lập của nước Việt Nam trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Hiệp định Vịnh Hạ Long đã được bổ túc bởi hiệp ước Élysée (Traité d’Élysée) ký kết ngày 9-3-1949 giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol công nhận một Quốc Gia Việt Nam thống nhứt và độc lập hoàn toàn. Ngay sau đó, Quốc Gia Việt Nam (État du Vietnam) dưới quyền lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại đã được nhiều nước trong Thế Giới Tự Do (Free World) công nhận và trao đổi quan hệ ngoại giao. Ngoài ra, Quốc Gia Việt Nam còn tham gia một số lớn tổ chức quốc tế như Văn Hóa Quốc tế (UNESCO), Lương Nông Quốc Tế (FAO), Y Tế Thế Giới (WHO) v.v...
    Sau ngày Trưng Cầu Dân Ý (23-10-1955), nền Đệ Nhứt Cộng Hòa dưới quyền lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã được thành lập và thay thế chế độ Quốc Gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại. Dưới chánh thể Cộng Hòa, miền Nam Việt Nam đã đẩy mạnh việc phát triển các quan hệ quốc tế. Vì Liên Xô phủ quyết (veto) sư gia nhập Liên Hiệp Quốc của Việt Nam Cộng Hòa, vị trí Quan sát viên thường trực Liên Hiệp Quốc đã được Tổ chức quan trọng nầy dành cho Việt Nam Cộng Hòa.
    2- Về mặt nội trị, Quốc Gia Việt Nam cũng như Việt Nam Cộng Hòa đã được tổ chức và điều hành theo thể chế dân chủ pháp trị:
    - Ban hành Dụ số 1 ngày 1-7-1949 tổ chức nền hành chánh trung ương và Dụ số 2 ngày 1-7-1949 tổ chức nền hành chánh địa phương.
    - Thành lập Quân đội Quốc gia và ngành Tư pháp độc lập năm 1950.
    - Áp dụng Quy chế Công vụ (Statut de la Fonction Publique) quy định nghĩa vụ và quyền lợi của công chức cùng các hình thức thưởng phạt công minh.
    - Tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo, biểu quyết và ban hành Hiến pháp ngày 26-10-1956 dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa và Hiến pháp ngày 1-4-1967 dưới thời Đệ NhịCộng Hòa.
    - Các cơ quan công quyền phải điều hành một cách minh bạch căn cứ theo pháp luật. Không cá nhân nào có quyền đứng trên Hiến pháp và luật pháp.
    - Thành lập Giám Sát Viện với thẩm quyền của một định chế hiến định độc lập phụ trách bài trừ tham nhũng, thẩm tra kế toán và kiểm kê tài sản của tất cả nhân viên các cơ quan cộng quyền, kể cả Tổng Thống.
    Chế độ cộng sản Việt Nam có chánh danh và hợp pháp hay không?
    Các sự kiện lịch sử kể sau có thể chứng minh nhà cầm quyền cộng sản thiếu chánh danh và bất hợp pháp:
    1- Cướp chánh quyền bằng bạo lực: Các tài liệu tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam công nhận đã sử dụng bạo lực của súng đạn để cướp chánh quyến chánh thống của Hoàng đế Bảo Đại ngày 19-8-1945 tại Hà Nội và ngày 23-8-1945 tại Sài Gòn. Chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòacủa Hồ Chí Minh đã ra đời từ bạo lực cướp chánh quyền thay vì do nhân dân bầu cử. Một người xa lạ từ hang Pác Bó ở Cao Bằng tự nhiên về Hà Nội làm Chủ tịch nước mặc dầu không được người dân bầu cử lựa chọn để lãnh đạo quốc gia Việt Nam mới thâu hồi độc lập sau khi Nhựt đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945. Nhân vật kỳ bí nầy lại nói và viết tiếng Việt không rành, cầm bút sắt hoặc bút bi theo kiểu cầm bút lông để viết chữ Hán.
    Từ khi cướp được chánh quyền của Nội các Trần Trọng Kim, nhà cầm quyền cộng sản từ thởi Hồ Chí Minh đến Nguyễn Phú Trọng đã tổ chức các cuộc bầu cử theo lối “đảng cử, dân bầu”. Nếu không phải là đảng viên cộng sản, người dân không có quyền tự do ứng cử và bầu cử. Ứng cử viên phải được Mặt Trận Tố Quốc, một cơ quan ngoại vi của đảng Cộng Sản, tuyển chọn trước.
    Tiếp nối theo hành động cướp chánh quyền năm 1945, đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành cuộc chiến tranh 30 năm để chiếm đoạt chánh quyền trong cả nước năm 1975 với viện trợ võ khí hùng hậu của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Bạo lực giết người đã giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam trở thành chủ nhân ông của dân tộc Lạc Việt và hoàn thành sứ mạng nhưộm đỏ cả nước Viêt Nam do Liên Xô và Trung Quốc giao phó. Đối với đảng Cộng sản Việt Nam, mục đích biện minh cho phương tiện.
    2- Quốc tế không công nhận ngụy quyền Hồ Chí Minh: Hình thành từ bạo lực của một vài tay súng ngày 19-8-1945 thay vì do nhân dân bầu cử, ngụy quyền Hồ Chí Minh đã không được các nước trên thế giới công nhận, kể cả Liên Xô. Mãi đến đầu năm 1950, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh, một cán bộ cộng sản quốc tế, thành lập ngày 2-9-1945 mới được nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa công nhận. Quốc gia nầy là đại quốc cộng sản đầu tiên tại Á châu có ảnh hưởng chi phối đối với nước lân bang Việt Nam nhờ Chủ tịch đảng Cộng Sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã có viễn kiến gởi Thiếu tá gián điệp Hồ Quang đến hang Pác Bó trong tỉnh Cao Bằng từ cuối năm 1940 để lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Nối tiếp theo Trung Quốc, Liên Xô và một vài nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chư hầu của Liên Xô, mới lần lượt công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuy nhiên, từ 1945 đến cuối thập niên 1960, chế độ cộng sản của Hồ Chí Minh chưa gia nhập các tổ chức quốc tế và cũng không phải là Quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc như Việt Nam Cộng Hòa.
    3- Hiến pháp chỉ là một mãnh giấy vô giá trị đối với Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam:Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời trong tháng 11-1946 nhưng bị đình chỉ thi hành từ ngày 19-12-1946 đến khi bị thay thế 13 năm sau bởi bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa ban hành năm 1959. Bản Hiến pháp đầu tiên tương đối dân chủ chỉ sống được trên một tháng mà thôi. Hiến pháp chỉ là một bày trò dân chủ của đảng Cộng sản. Từ 1945 đến ngày nay, chế độ Cộng sản Việt Nam đã lần lượt ban hành 5 bản Hiến pháp vào các năm 1946, 1959, 1980,1992 và 2013 nhưng Hiến pháp của chế độ cộng sản Việt Nam bị đặt dưới các nghị quyết của đảng Cộng sản. Xây dựng một chế độ độc tài toàn trị, Đảng và Nhà nước cộng sản không bị bắt buộc phải tôn trong Hiến pháp như các quốc gia dân chủ trong đó có Việt Nam Cộng Hòa. Về nội dung, các bản Hiến pháp của Việt Nam cộng sản ngày càng tệ hại thay vì cải tiến theo xu hướng dân chủ hóa đất nước.
    4- Gây ra 30 năm chiến tranh (1945-1975): Dưới các chiêu bài giả dối “giải phóng dân tộc”, “thống nhứt đất nước” và “đánh Mỹ cứu nước”, đảng Cộng sản Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Thiếu tá Tình báo Hồ Quang đã liên tục tiến hành hai cuộc Chiến Tranh Đông Dương (Indochina Wars) để bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi Đông Dương và Đông Nam Á theo chỉ thị và với viện trợ hùng hậu của Trung Quốc và Liên Xô. Chính Lê Duẫn, cố Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam đã công khai nhìn nhận: Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc và cho các nước xã hội chủ nghĩa. Dân tộc Việt Nam đã phải trả giá quá đắt cho 30 năm chiến tranh do đảng Cộng sản gây ra theo lịnh truyền của ngoại bang bằng xương máu và nước mắt của cả chục triệu đồng bào vô tội. Ngoài tổn thất sinh mạng và tang tóc lan tràn khắp mọi nhà, 30 năm chiến tranh đã tàn phá đất nước vô cùng nặng nề. Người hưởng lợi chiến tranh chỉ là đảng Cộng Sản Việt Nam và cán bộ, đảng viên mà thôi: chiếm đoạt chánh quyền trong cả nước, trở thành vua quan, đại gia và tư bản đỏ sống trên nhung lụa, xương máu và khổ đau của đồng bào nghèo khổ bị đối xử và bóc lột như người nô lệ trong thời thượng cổ.
    5- Vi phạm luật pháp quốc tế: Khi xâm lăng và thôn tính Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia độc lập và có chủ quyền, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt cộng sản) đã công khai vi phạm Hiệp định Genève 1954 và Hiệp định Paris 1973. Vi phạm luật pháp quốc tế là một hành động hợp pháp hay bất hợp pháp ? Một nước sử dụng bạo lực của súng đạn để thôn tính một nước láng giềng phải bị lên án là một nước xâm lược có hành động bất hợp pháp !
    6- Vi phạm Công Ước Geneva ngày 27-27-1929 về tù binh: Sau ngày đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia độc lập đã chiến đấu tự vệ chống lại sự xâm lăng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kẻ thắng trận đã xem tất cả quân, cán, chánh miền Nam Việt Nam là tù binh và bắt giam họ dài hạn trong các nhà tù và trại tập trung cải tạo nhưng không xét xử trước tòa án. Trong thời gian tù đày vô hạn định, các tù binh Việt Nam Cộng Hòa đã bị hành hạ, ngược đải dưới nhiều hình thức: lao động khổ sai, thiếu ăn, thiếu uống, thiếu chăm sóc sức khỏe, bặt tin tức gia đình, bị đánh đập, đay nghiến tinh thần, chửi bới, răn đe v.v... Rất nhiều trí thức và nhân tài của miền Nam Việt Nam đã chết trong ngục tù cộng sản, trong số đó có Bác sĩ Phan Huy Quát, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân, Đại tá Sử gia Phạm văn Sơn, Đại tá Khổng văn Tuyển, Giám Đốc Nha Viễn Thông bộ Nội Vụ v.v.
    7- Tiến hành Cải Cách Ruộng Đất từ 1953 đến 1955 theo chỉ thị của Liên Xô và Trung Quốc, Việt Cộng đã giết hại 172,000 đồng bào vô tội. Chánh sách dã man “Trí, Phú, Địa, Hào. Đào Tận Gốc, Trốc Tận Rễ” đã tố cáo chế độ cộng sản Việt Nam là một chế độ gian ác, man rợ và vô nhân tính đã giết chết ngay từ ngày đầu bà Nguyễn thị Năm tức bà Cát Hanh Long, một ân nhân của các lãnh tụ cộng sản đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Minh trong buổi ban đầu.
    8- Vi phạm thỏa hiệp ngưng bắn trong 3 ngày Têt Mậu Thân (1968), Cộng Sản Việt Nam đã gây ra nhiều tang tóc cho đồng bào trong 3 ngày Tết Nguyên đán, nhứt là giết chết 7,000 thường dân trong thời gian tạm chiếm cố đô Huế. Sự vi phạm thỏa hiệp ngưng bắn và lạm sát người vô tội nầy là những hành động diệt chủng (genocide), phi pháp và bất xứng.
    9- Cướp đoạt tài sản của Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa và nhân dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30-4-1975 là những hành vi cướp giựt hoàn toàn bất hợp pháp. Mọi người đều thấy vô số xe tải, xe lửa và tàu thủy liên tục chở rất nhiều vật dụng và xe, máy có giá trị từ Nam ra Bắc trong nhiều tháng. Dân chúng miền Nam Việt Nam cũng chắc chắn còn nhớ rõ 3 lần đổi tiền, chiến dịch đánh tư sản mại bản và chiến dịch đánh tư sản dân tộc do Đỗ Mười điều khiển để tước đoạt tài sản của họ và đánh sập nền kinh tế thị trường của miền Nam. Trong số tài sản cướp đọat của Việt Nam Cộng Hòa có 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam do Pháp quốc chuyển giao cho Quốc Gia Việt Nam để làm trử kim bảo đảm giá trị đồng bạc của nước ta.
    10- Vay nợ công : Đến nay, Nhà nước cộng sản và các Doanh nghiệp quốc doanh của các cán bộ, đảng viên đã vay vài trăm tỷ Mỹ kim của các quốc gia phát triển và các định chế tài chánh quốc tế để ăn chận, thủ lợi riêng. Nếu không có khả năng trả nợ (vốn lẫn lời) và quỵt nợ, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ bị xem là những kẻ lường gạt bêu xấu đất nước. Phải chăng đảng Cộng sản muốn giao gánh nặng nợ công cho các thế hệ chưa ra đời ? Quỵt nợ là một hành vi bất hợp pháp và nhục nhã!
    11- Nhượng bán đất nước cho Trung Quốc: Từ 1958 đến nay, Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam đã ký kết nhiều văn kiện nhưọng bán lãnh thổ cho Trung Quốc vì đã mang ơn Trung Quốc giúp đỡ đánh chiếm được chánh quyền trên toàn cõi đất nước Việt Nam từ 1950 đến 1975:
    - Công hàm ngày 14-8-1958 của Phạm văn Đồng, Thủ tướng trong nửa thế kỷ 20 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo mật lịnh của Hồ Chí Minh. Ngày nay, Trung Quốc đã sử dụng công hàm nầy để độc chiếm Biển Đông (South China Sea), lấn chiếm Thềm lục địa (200-350 hải lý) và Vùng Đặc quyền Kinh tế (200 hải lý trùng lấp với Thềm lục địa) của Việt Nam, giành độc quyền đánh cá và khai thác các tài nguyên dồi dào của Biển Đông (dầu khí, khoáng sản, rong biển), chận bít đường đi ra hải phận quốc tế của tàu thuyền Việt Nam, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, xây dựng và quân sự hóa các thực thể nhân tạo trên quần đảo Trường Sa để uy hiếp các tỉnh miền Nam Việt Nam và kiểm soát con đường hàng hải quốc tế trên Biển Đông. Trong tương lai không xa, Trung Quốc có thể thiết lập Vùng Nhận Dạng Phòng Không trên vùng Trường Sa để khống chế không lưu.
    - Ký kết hiệp định ngày 30-12-1999 dưới thời Tổng Bí thư đảng Cộng sản Lê Khả Phiêu chuyển nhượng cho Trung Quốc trên 700 km2 đất liền dọc theo các tỉnh biên giới Việt-Hoa, trong đó có Ãi Nam Quan, Bãi Tục Lãm, thác Bản Giốc, cao điểm Lão Sơn. Hiệp định nầy đã được Quốc Hội phê chuẩn.
    - Ký kết hiệp định ngày 25-12-2000 dưới thời Tổng Bí thư đảng Cộng sản Lê Khả Phiêu tăng thêm 11,000 km2 diện tích biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc trong Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin). Căn cứ theo hiệp ước Thiên Tân ký kết năm 1887 giữa Lý Hồng Chương, đại diện Đại Thanh và Patenôtre, đại diện Pháp quốc, Vịnh Bắc Việt đã được phân chia như sau có lợi cho Việt Nam: Việt Nam: 63% Trung Hoa (Chine) : 37%. Ngày nay, dưới thời cộng sản, diên tích biển trong Vịnh Bắc Việt của Việt Nam và Trung Quốc gần như bằng nhau. Hơn nữa, Trung Quốc có quyền lựa chọn vùng biển có dầu khí dưới đáy biển trong Vịnh Bắc Việt thuộc chủ quyền của mình. Hiệp định ngày 25-12-2000 cũng đã được Quốc Hội bù nhìn cộng sản Việt Nam phê chuẩn.
    - Ký kết mật ước Thành Đô năm 1990: Sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sụp đỗ tại Âu châu năm 1989, đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận đầu hàng Trung Quốc và Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh đã thẳng thừng tuyên bố: Thà mất nước hơn mất đảng. Để được Trung Quốc giúp giữ vững ngôi vị thống trị Việt Nam, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Nguyễn văn Linh, Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố Vấn Phạm văn Đồng đã đến Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, hội kiến Chủ tịch đảng Công sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng. Phái đoàn cộng sản Việt Nam ngỏ ý Việt Nam muốn xin làm một Khu Tự trị của Trung Quốc. Giang Trạch Dân chấp nhận đề nghị của Việt Nam và quyết định Việt Nam phải sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 tức là 30 năm sau hội nghị Thành Đô. Sau khi thi hành mật ước Thành Đô trước hoặc sau năm 2020, nước Việt Nam sẽ không còn là một nước độc lập trên bản đồ thế giới trong vài năm tới!
    - Ký kết 15 mật ước năm 2016: Để chuẩn bị thi hành mật ước Thành Đô vào năm 2020, Nguyễn Phú Trọng, đương kim Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, đã lén lút ký kết với Trung Quốc 15 văn kiện quan trọng. Đến nay, Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam tiếp tục giấu kín mật ước Thành Đô 1990 và 15 văn kiện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Trung Quốc. Mặc dầu vậy. mọi người dân Việt đều biết rõ mật ước Thành Đô và 15 văn kiện bán nước của Nguyễn Phú Trọng nhằm mục đích sát nhập Việt Nam vảo mẫu quốc Tàu của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam.
    Nói tóm lại, dưới sự dìu dắt của Thiếu tá Tình báo Hồ Quang, “ Cha Già Dân Tộc” của người cộng sản, nước Việt Nam sẽ là một bộ phận của nước Tàu như dưới thời Nhà Hán trong thế kỷ thứ nhứt và dân tộc Lạc Việt sẽ bị Hán hóa như các bộ tộc Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử sau khi đã hy sinh ít nhứt 10 triệu người trong 30 năm chiến tranh để thực hiện lời dạy của ông gián điệp Tàu gốc Hẹ: Hãy bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi Việt Nam. Đò là “thiên đường” của dân tộc Việt Nam và “mùa xuân của nhân loại” !
    California, ngày 29-8-2017

    Thẩm phán Phạm Đình Hưng