Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Mặc dù hằng ngày phải bươn chải, va chạm với cuôc sống, nhưng cũng có những lúc nhớ về dĩ vãng. Kỷ niệm đẹp luôn nằm trong ký ức dẫu cho thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, chỉ có những cảm nghĩ phát xuất từ tiềm thức là chân thật nhất, vội vã ghi chép lại để đừng quên vì mỗi một chữ là tiếng nói phát xuất từ con tim.
Hn.VĩnhKim
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Có 2 thứ bạn nên tiết kiệm là sức khỏe và lời hứa.
    Có 2 thứ bạn phải cho đi là tri thức và lòng tốt.
    Có 2 thứ bạn phải thay đổi là bản thân và nhận thức.
    Có 2 thứ bạn phải giữ gìn là niềm tin và nhân cách.
    Có 2 thứ bạn phải trân trọng là gia đình và hiện tại.
    Có 2 thứ bạn phải tự mình thực hiện là lao động và chịu trách nhiệm với việc mình làm.
    Có 2 thứ bạn phải lãng quên là đau thương và hận thù.
    Có 2 thứ bạn phải khắc ghi là công ơn Mẹ Cha và sự giúp đỡ của người khác.
    Có 2 thứ bạn buộc phải có để thành công là đam mê và lòng kiên trì.
    Có 2 thứ bạn không được làm là hãm hại người khác và phản bội lòng tin.
    Có 2 thứ bạn phải bảo vệ là danh tín và lẽ phải.
    Có 2 thứ bạn phải chấp nhận là cái chết và sự khác biệt.
    Có 2 thứ bạn phải kiểm soát là bản năng và cảm xúc.
    Có 2 thứ bạn phải tránh xa là cám dỗ và sự ích kỷ.
    Có 2 thứ bạn luôn phải sử dụng mà đừng hà tiện, là tiền bạc và kinh nghiệm.
    Có 2 thứ bạn không được sợ sệt là cái ác và sống thật.

    Sưu Tầm
    p324530 likes this.


  2. [​IMG]

    SBTN vừa nhận được tin buồn cho biết ca sĩ Giang Tử vừa qua đời tại bệnh viện LBJ Houston, Texas, lúc 3 giờ 35 chiều (giờ Houston) hôm nay, ngày 16/9/2014, hưởng thọ 70 tuổi. Anh đã chống chọi với căn bệnh ung thư vòm họng trong một thời gian và đến hôm nay đã phải nói lời giã từ với gia đình cũng như những khán giả ái mộ.

    Ca sĩ Giang Tử tên thật là Nguyễn Văn Giang, sinh ngày 1/2/1944 tại Hải Phòng và theo gia đình di cư vào Nam. Tánh tình phóng khoáng thích la cà cùng bạn bè cho nên được bằng hữu đặt cho nghệ danh là Giang Tử - một người lãng tử tên Giang. Anh đã từng theo học nhạc với nhạc sĩ Y Vân. Lúc đầu anh thích hát những dòng nhạc tiền chiến, nhưng khi vào quân ngũ năm 1963 thì chuyển hướng hát những bài ca về lính và quê hương với thể điệu Bolero.

    Một trong những bài hát gắn liền với tên tuổi Giang Tử thời Sài Gòn năm 1968 là bản Căn Nhà Màu Tím (Hoài Linh). Mỗi lần anh cất tiếng ca " Chiều nhìn ra đầu ngõ dâng dâng niềm thương nhớ dáng xinh xinh một người " là khán giả vỗ tay tán thưởng. Thời thập niên 70 ở Sài Gòn thì ngoài Chế Linh thì tiếng hát Giang Tử là một giọng nam chuyên hát các bản Bolero mùi mẫn chủ đề quê hương và lính chiến. Cả hai người đã từng song ca với nhau nhiều lần và cặp Chế Linh - Giang Tử đã tạo nên một hiện tượng ăn khách một thời.

    Năm 1969, Giang Tử hát độc quyền cho hãng đĩa Dư Âm, rồi kế tiếp là hãng đĩa Việt Nam, hát chung với một số nữ ca sĩ như Hương Lan, Trang Mỹ Dung, Giáng Thu...

    Sau tháng 4/1975 Giang Tử cư ngụ tại Gò Vấp, Sài Gòn.

    Từ năm 1975 đến 1990, anh cộng tác với các đoàn ca nhạc như Đoàn Kim Cương, Hương Miền Nam... và sau đó từ giã sân khấu ở trong nước.

    Nhiều lần vượt biên không thành, cho đến năm 2010, Giang Tử được đứa con gái ở Mỹ bảo lãnh sang sinh sống tại Houston từ đó cho đến nay.

    Tính ra Giang Tử đã ở lại trong chế độ Cộng Sản được 35 năm: 1975-2010 và khi ra hải ngoại anh đã được khán giả mến mộ và đã thu hình với trung tâm Asia cũng như là trung tâm Thúy Nga. Mặc dù tuổi đã cao nhưng anh vẫn được mời đi trình diễn thường xuyên ở nhiều thành phố. Anh thường trình bày những bài ca ngợi người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cũng như những nhạc phẩm tình tự quê hương. Dù qua Mỹ hơi trễ nhưng cuối đời ca sĩ Giang Tử vẫn an ủi với gia đình êm ấm và tình cảm của người ái mộ giọng ca của anh.
    (Trần Chí Phúc)




    <iframe src="//www.youtube.com/embed/UK7XbdG3khU" allowfullscreen="" frameborder="0" height="315" width="500"></iframe>

    <iframe width="500" height="315" src="//www.youtube.com/embed/QIEtovsGqY0" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>



  3. [​IMG]


    Nói về nền âm nhạc ca khúc Việt Nam, rất nhiều người có cùng nhận xét: khán giả cả trong nước lẫn hải ngọai vẫn thích nghe những ca khúc sáng tác trước 1975 hơn là sau này. Cũng chỉ trong khỏang thời gian ba thập niên, những nhạc sĩ Việt Nam trong giai đọan 1945-1975 đã để lại một gia sản ca khúc đồ sộ, vô giá, mà có lẽ các thế hệ sau còn lâu mới bắt kịp.

    Bình luận về ca khúc Việt Nam trong giai đọan này, đó phải là công trình cả ngàn trang giấy của các nhà phê bình âm nhạc. Những người hâm mộ thuộc thế hệ hậu bối như tôi, thường thì say mê ca khúc chỉ bằng cảm nhận khi nghe qua tiếng hát của một ca sĩ nào đó. Tôi nghĩ những ca sĩ thường hiểu bài hát & tác giả hơn là người nghe. Sang đến thể kỷ 21 này, tôi giật mình khi nhận thấy rằng những ca sĩ mà mình yêu mến ngày nào như Thái Thanh, Khánh Ly, Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú… đang dần dần trở thành quá khứ! Tôi vội vàng tìm cách xin gặp nữ ca sĩ Quỳnh Giao, người em út trong lớp ca sĩ thế hệ vàng, để ghi nhận lại một vài suy nghĩ của chị về ca khúc Việt trước 1975…

    Hiện nay, chị Quỳnh Giao cũng đã ít xuất hiện trên sân khấu đi nhiều. Lần gần đây nhất là trong đêm nhạc Dương Thiệu Tước -Tiếng Xưa Của Chúng Ta- vào tháng 7/08. Họat động âm nhạc thường xuyên nhất của chị bây giờ là dạy piano tại nhà riêng của chị. Có một điều khán giả hâm mộ như tôi ít biết đến: chị Quỳnh Giao là một pianist được đào tạo chuyên nghiệp có hạng của Trường Quốc Gia Aâm Nhạc Sài Gòn trước 1975. Có lẽ là do chị hay xuất hiện trước khán giả như là một ca sĩ hơn. Nhưng nếu có dịp được nghe lại những CD chị tự đệm đàn piano cho mình hát, chúng ta sẽ thấy rằng cả tiếng hát và tiếng đàn đều đẹp như nhau.

    Khi được hỏi đâu là giá trị của những ca khúc Việt trước 1975, khiến cho khán giả ngày nay vẫn còn say mê nghe và hát, chị Quỳnh Giao trả lời có lẽ là ở tâm hồn của người nhạc sĩ. Hãy tưởng tượng khi Cung Tiến viết Hương Xưa năm 18 tuổi, Phạm Duy viết Khối Tình Trương Chi ở lứa tuổi đôi mươi, thì tâm hồn của những nhạc sĩ này đã trưởng thành như thế nào so với thanh niên cùng lứa của thế hệ hôm nay. Có thể nói rằng xã hội ngày nay với nền khoa học tiến bộ đã làm thế hệ trẻ rất giàu về mặt kỹ thuật, nhưng lại nghèo đi về mặt tâm hồn. Người nghệ sĩ ngày xưa, với những phương tiện đơn giản, đã dùng niềm đam mê, sự rung động thật của tâm hồn để sáng tác, cho nên những ca khúc của họ có chiều sâu để đi vào lòng người.

    Tuy nhiên, chị Quỳnh Giao còn cho rằng yếu tố kỷ niệm cũng đã góp phần làm cho đời sống của các ca khúc trước 1975 dài hơn. Bởi vì rất nhiều người trong chúng ta hay gắn một phần đời tươi đẹp của mình trong quá khứ với một bản nhạc, một lời ca. Khi viết bài Ly Rượu Mừøng, có lẽ nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã cảm hứng từ không khí xuân rộn ràng, lạc quan vào tương lai của Miền Nam Tự Do. Để rồi từ đó, cứ mỗi độ xuân về, mỗi lần nâng chén chúc nhau trong ngày đầu năm, người dân miền Nam lại cùng nhau nghe, cùng nhau hát Ly Rượu Mừøng, để cùng có cảm giác “…hương thanh bình đang phơi phới…”. Bài hát này đã trở thành biểu tượng của mùa xuân miền Nam như vậy đó. Những cảm xúc của chúng ta dành cho bài hát này có thể không có ở những người sống ở miền Bắc, hoặc thế hệ trẻ lớn lên ở hải ngoại.

    Một bài hát muốn trở thành bất tử thì bản thân nó phải là một bài nhạc hay. Chị Quỳnh Giao phân biệt ca khúc ra làm hai lọai: ca khúc phổ thông và ca khúc nghệ thuật. Ca khúc phổ thông thì dễ nghe, dễ hát. Đặt một giai điệu, rồi đặt lời vào là đã có một bài hát. Những ca khúc nghệ thuật thì đòi hỏi nhiều hơn. Phải có sự phối hợp giữa nhạc và lời. Tiết tấu, giai điệu và cả phần hòa âm cùng góp phần hình tượng hóa nội dung của lời hát. Là một trong những ca sĩ hay trình diễn ca khúc nghệ thuật, chị Quỳnh Giao cảm nhận được sâu sắc giá trị của những ca khúc này. Nghe Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước, ta có cảm giác mình đang lướt trôi trên một dòng sông, qua những bến sông êm đềm, cảm nhận những nhịp sóng vỗ vào mạn thuyền theo mái chèo đưa. Nghe Qua Suối Mây Hồng trong Đạo Ca của Phạm Duy, ta như đang xem cuộc chiến tranh dành Mỵ Nương của Sơn Tinh và Thủy Tinh, nghe Thủy Tinh làm mưa, dâng nước lũ qua lời hát “…sóng ầm ầm, sóng ầm ầm nổi dậy…”. Hoặc nghe Hội Trùng Dương của Phạm Đình Chương, ta phân biệt được rõ ràng đời sống ba miền Bắc- Trung-Nam trên ba dòng sông Hồng, Hương Giang và Cửu Long… Những ca khúc như vậy là một tác phẩm nghệ thuật, không nhiều trong nền âm nhạc Việt Nam sau 1975. Chị Quỳnh Giao nói những nhạc sĩ lớn thường có trình độ về âm nhạc lẫn bề dầy về văn hóa, cho nên họ mới có được những tác phẩm để đời.

    Nhiều nhà phê bình âm nhạc quốc tế cho rằng những tác giả lớn của nền âm nhạc cổ điển Tây Phương như Beethoven, Tchaikovski… đều đem được nguồn nhạc dân gian của dân tộïc mình vào trong tác phẩm. Theo chị Quỳnh Giao, điều này cũng đúng với ca khúc Việt Nam. Dân ca là suối nguồn tâm linh của người nhạc sĩ. Để có giá trị lớn ở tầm vóc quốc tế, những ca khúc Việt cần tạo chỗ đứng của riêng mình bằng cách dựa trên nền dân nhạc. Tác giả nào thành công nhất trong lĩnh vực này? Đó chính là Phạm Duy. Oâng là người đã đem dân ca vào ca khúc của mình một cách tự nhiên nhất, thậm chí cải biên để cho dân ca trở nên phổ biến hơn trong nền tân nhạc Việt Nam. Những tác phẩm viết về quê hương như Tình Hoài Hương, Tình Ca, Nương Chiều,… đều trở thành bất tử dưạ trên nền dân ca Việt Nam. Còn nhiều nhạc sĩ khác cũng làm được điều này. Nhạc sĩ Lê Thương sáng tác không nhiều, nhưng Hòn Vọng Phu của ông xứng đáng là một tác phẩm để đời, mang đậm chất dân ca. Mặc dù Dương Thiệu Tước được nhắc đến nhiều với những ca khúc mang đậm nét cổ điển Tây Phương, nhưng hai nhạc phẩm rất được yêu thích của ông là Đêm Tàn Bến Ngự và Tiếng Xưa đều có âm hương dân ca.

    Một đặc điểm nữa của những ca khúc trước 1975 là rất giàu cá tính. Nhiều nhạc sĩ tạo được màu sắc riêng trong những tác phẩm của mình. Giai điệu và lời của nhạc Trịnh Công Sơn như của một kẻ rong ca, không lẫn được với nhạc của ai khác. Ca khúc của Lê Uyên Phương đầy những tình cảm mãnh liệt của đôi uyên ương chưa muốn rời xa nhau. Nhạc Văn Phụng là nhạc của những người hạnh phúc, yêu đời… Những ca khúc đầy cá tính này lại còn được trình bày bởi những giọng ca cũng đầy cá tính nữa chứ. Chị Quỳnh Giao có cùng nhận xét với tôi là những ca sĩ trong nước bây giờ, giọng hát có thể rất điêu luyện, nhưng lại giống nhau quá! Chứ ngày xưa, từ Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu cho đến Thanh Thúy, Mai Lệ Huyền…, khán thính giả chẳng thể lẫn lộn được. Tại sao vậy? Bởi vì ca sĩ ngày xưa ít có ai được học hát trong những trường dạy thanh nhạc chuyên nghiệp. Họ tự nhiên hình thành giọng ca của mình. Bản thân chị Quỳnh Giao cũng chỉ đi học thêm kỹ thuật hát sau khi đã thành danh. Lại càng ít có chuyện ai bắt chước giọng ai. Người nghe thời ấy tha hồ mà lựa chọn giọng ca cho riêng mình. Nhạc sĩ cũng lựa chọn ca sĩ cho hợp với ca khúc của mình. Ai hát nhạc Trịnh hay hơn Khánh Ly? Ai có thể hát Bà Mẹ Gio Linh thống thiết hơn Thái Thanh? Nhạc Sĩ Vũ Thành thì cho rằng Quỳnh Giao hát Tiếng Chuông Chiều Thu mới là “tuyệt chiêu”. Đời sống tinh thần thời đó nhờ thế mà phong phú làm sao!

    Tôi hỏi chị nam ca sĩ nào chị thích nhất, chị trả lời: Anh Ngọc. Giọng hát của ông là giọng hát của một “đại trượng phu”. Ông hát nhạc tình một cách từng trải, như người đã đứng trên những niềm vui nỗi buồn trong tình yêu mà kể lại, độc đáo vô cùng…Trong khi đó, giọng Sĩ Phú tình cảm hơn, kể chuyện tình nhiều cảm xúc hơn. Vì vậy, Sĩ Phú hát Cô Láng Giềng là nhất rồi. Thế còn nữ ca sĩ? Chị Quỳnh Giao nói ngay: Thái Thanh. Cô Thái là một hiện tượng, không ai có thể so sánh được. Nhưng nhiều khán giả chưa thích giọng hát này khi còn trẻ. Phải trưởng thành một chút, càng nhiều kinh nghiệm, vui buồn trong đời, nghe giọng cô Thái càng hay…

    Nói chuyện với chị Quỳnh Giao về ca khúc Việt Nam trước 1975 như nói với người tri kỉ, không dứt ra được. Khi chia tay, chị còn gởi cho tôi vài CD của một số ca khúc Vũ Thành hòa âm trước 1975. Chị bảo rằng sau này nhiều nhạc sĩ cũng có dàn dựng lại, với kỹ thuật âm thanh cao hơn, nhưng không thể so sánh được với version này. Chị bảo đó là những món quà vô giá dành cho khán thính giả Việt Nam. Tôi nghĩ thầm (dù chị không hề nhắc): chị cũng là một phần trong món quà vô giá đó, đối với thế hệ sau như tôi…

    Đoàn Hưng
  4. FOUNTAIN VALLEY, California (NV)

    Nghệ sĩ Quỳnh Giao qua đời sáng sớm Thứ Tư, 23 Tháng Bảy, tại nhà riêng ở Fountain Valley, California, sau một thời gian bạo bệnh, hưởng thọ 68 tuổi.

    Nhà bình luận Nguyễn Xuân Nghĩa, phu quân của bà, cho nhật báo Người Việt biết.

    Quỳnh Giao tên thật là Nguyễn Ðoan Trang, Pháp Danh Như Nghiêm, sinh năm 1946 tại làng Vỹ Dạ, Huế, là con gái của nữ danh ca tân nhạc Minh Trang.

    Khi mới 5 tuổi, thân phụ của bà qua đời, và người mẹ tái giá với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

    Nghệ sĩ Quỳnh Giao nổi tiếng ngay từ lúc thiếu thời, từng hát trên đài phát thanh quốc gia Sài Gòn, trong các chương trình của Ban Nhi Ðồng Kiều Hạnh.

    Nghệ sĩ Quỳnh Giao tốt nghiệp thủ khoa lớp dương cầm, và được một nhạc sĩ của Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Alliance Française, hướng dẫn về thanh nhạc và opera.

    Từ tuổi 15, Quỳnh Giao đã trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp, là một trong những ca sĩ quan trọng trong các chương trình của các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Ðội và Tiếng Nói Tự Do.

    Trong những năm đầu thập niên 1970, Quỳnh Giao cũng với các em gái là Vân Quỳnh, Vân Khanh và Vân Hòa thành lập ban tứ ca Bốn Phương, chuyên hát tại vũ trường Ritz và thu âm cho các trung tâm băng nhạc Jo Marcel, Phạm Mạnh Cương và Premier.

    Bà sang Mỹ năm 1975, định cư đầu tiên tại tiểu bang Virginia, đến thập niên 1990 thì chuyển về sống tại California.

    Nghệ sĩ Quỳnh Giao cùng với hai ca sĩ Mai Hương và Kim Tước lập ban Tiếng Tơ Ðồng ở hải ngoại và thu được nhiều thành công.

    Ngoài ra, bà luôn luôn hỗ trợ các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật trong cộng đồng, và cũng cộng tác với nhiều cơ quan truyền thông Việt ngữ. Nghệ sĩ Quỳnh Giao phụ trách mục Câu Chuyện Âm Nhạc trên nhật báo Người Việt và Người Việt TV trong nhiều năm.

    Vài tháng cuối đời, vì sức khỏe yếu, bà không còn viết nữa.

    Tuy nhiên, chỉ cách đây vài tuần, bà đã viết bài viết - có lẽ là cuối cùng trong đời - về âm nhạc Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975, cho số báo đặc biệt kỷ niệm 60 Năm Hiệp Định Geneva, đăng trên Người Việt. (Ð.D.)

    [​IMG]


    Theo Tự điển bách khoa mở:

    Quỳnh Giao là một nữ ca sĩ Việt Nam, tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang, sinh năm 1946 tại làng Vỹ Dạ, Huế, Việt Nam. Quỳnh Giao là con gái của Minh Trang, nữ danh ca của tân nhạc những năm đầu. Năm Quỳnh Giao 5 tuổi, cha của bà qua đời và mẹ bà tái giá với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

    Ngay từ bé, với tên thật Đoan Trang, Quỳnh Giao đã hát trên đài Phát thanh Quốc Gia Sài Gòn, trong những chương trình Tuổi Xanh của Ban Nhi Đồng Kiều Hạnh. Quỳnh Giao cũng từng tốt nghiệp thủ khoa lớp dương cầm và được bà Robin của Trung Tâm văn Hóa Pháp, Alliance Française, hướng dẫn về thanh nhạc và opera.

    Quỳnh Giao thực sự đến với âm nhạc khi 15 tuổi. Đó là năm 1961, bà Minh Trang đang cộng tác với ban Tây Hồ của nhạc sĩ Hoàng Trọng thì mất giọng do căn bệnh hen suyễn nên Quỳnh Giao được mời vào thay thế cho mẹ. Từ đó bà đi hát với nghệ danh Quỳnh Giao và trở thành một ca sĩ quan trọng trong những chương trình ca nhạc của các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội và Tiếng Nói Tự Do trước năm 1975. Trong những năm đầu 1970 Quỳnh Giao cũng với các em gái Vân Quỳnh, Vân Khanh và Vân Hòa thành lập Ban tứ ca Bốn Phương chuyên hát tại vũ trường Ritz và thâu âm cho các trung tâm Băng nhạc Jo Marcel, Phạm Mạnh Cương và Premier.

    Ngày 24 tháng 4 năm 1975, Quỳnh Giao cùng chồng và con rời Việt Nam sang cư ngụ tại thành phố Annandale, tiểu bang Virginia. Trong thời gian ở Annandale, bà gần như ngưng mọi hoạt động về ca nhạc ngoài việc tiếp tục mở lớp dạy dương cầm và thỉnh thoảng thực hiện vài băng nhạc có tính cách lưu niệm do chính bà tự đàn và hát.

    Năm 1990, sau khi lập gia đình lần thứ hai, Quỳnh Giao cùng chồng về sống tại California. Từ đó, bà bắt đầu quay lại với âm nhạc và phát hành nhiều CD thành công như Khúc nguyệt quỳnh, Hành trình Phạm Duy... Quỳnh Giao cũng cùng với Mai Hương, Kim Tước lập ban Tiếng Tơ Đồng ở hải ngoại và thu được nhiều thành công.

    Ca sĩ Quỳnh Giao qua đời vào lúc 3 giờ sáng hôm thứ tư ngày 23 tháng 7 năm 2014 tại Garden Grove, California, hưởng thọ 68 tuổi.


    CD của Quỳnh Giao đã phát hành:

    Khúc Nguyệt Quỳnh, 1992
    Đêm Tàn Bến Ngự - Tình Khúc Dương Thiệu Tước. Cùng Kim Tước, 1995
    Tình khúc Văn Cao. Cùng Mai Hương, 1995
    Tiếng chuông chiều thu, 1996
    Chiều về trên sông, 1997
    Ngàn thu áo tím, 1998
    Tìm nhau bốn mùa. Cùng Kim Tước, Mai Hương và Duy Trác, 1998
    Hành trình Phạm Duy, 1999
    Hình ảnh một buổi chiều, 2000
    Tình khúc Văn Phụng & Hoàng Trọng, 2001
    Thơ tình phổ nhạc, 2002
    Hoa xuân, 2003
    Tình ca Phạm Duy, 2005
    Trở về thôn cũ, 2005
    Các bản thâu âm lẻ cho các Chương trình CD: Đoàn Chuẩn, Xuân, Hùng Ca, Giáng Sinh của Trung tâm Mai Ngọc Khánh từ năm 1995 ~ 1998
    Các bản thâu âm lẻ cho các Chương trình CD: CD Đưa Người Về Phương Đông-Tình Ca Phạm Anh Dũng phát hành 1992. CD Thiền Ca do Tuấn Khanh soạn nhạc, thơ thiền Tu sĩ Tịnh Liên do Thiền viện Sùng Nghiêm phát hành 2001
    ST.
  5. [​IMG]

    Mẹ ơi! Đừng khóc
    Tác giả: Việt Phương


    Thế rồi gia đình tôi lại được dọn đến một chốn riêng tư của mình, mặc dù nơi chúng tôi mới đến chỉ là căn nhà gỗ đơn sơ, không có điện. Chúng tôi đến nhà mới khi buổi chiều đang tàn. Mẹ tôi loay hoay dọn dẹp chỗ cho chúng tôi ngủ tạm. Khuôn mặt người thật vui, tôi biết. Vì qua bao nhiêu tháng dài chung sống chật hẹp trên căn gác lửng của một người bà con, mẹ tôi đã trải qua không biết bao nhiêu cay đắng. Căn gác nhỏ với những trưa mùa hè nóng cháy da và anh em chúng tôi lại nằm xếp hàng như cá, thin thít, dù không ngủ được. Mẹ tôi là một người đàn bà tự trọng, không muốn để anh em chúng tôi làm phiền lòng hàng xóm, nhất là chủ nhà, trong những trưa êm ả họ cần một giấc ngủ ngắn.
    Anh em chúng tôi đến nhà mới như cá được thả vào nước. Chúng tôi tha hồ leo trèo lên những thân cây cằn cỗi không được chủ trước chăm sóc. Căn nhà có vườn bao bọc chung quanh, nằm ở ngoại thành. Mỗi ngày ba tôi phải đạp xe đi làm xa hơn, nhưng người chấp nhận nó với số tiền khiêm nhường có thể tậu đuợc một chốn riêng tư cho gia đình chúng tôi. Chúng tôi mất hết trong cuộc tấn công của Việt cộng năm Mậu Thân ở Huế. Trong một thời gian ngắn mà ba mẹ chúng tôi lại xoay sở được một ít tiền để mua nhà thì thật là một điều không đơn giản.
    Trở về với căn nhà gỗ, nơi có những nỗi vui buồn của gia đình chúng tôi. Mặc dù sau này, căn nhà đã biến dạng thành một dãy nhà khang trang, nhưng kỷ niệm trong căn nhà gỗ vẫn là những hình ảnh tôi không bao giờ quên được. Buổi sáng, lo xong cho chúng tôi mọi thứ, mẹ tôi lại quẩy gánh cho kịp chuyến hàng sáng. Cứ như thế, phụ với đồng lương công chức của ba tôi cũng đắp đổi được qua ngày.
    Căn nhà gỗ với những buổi sáng nắng chiếu xuyên qua những lỗ đinh dọi xuống khuôn mặt chúng tôi. Rồi những lúc trời mưa nhỏ nước xuống gối chăn. Lúc đó, nồi niêu soong chảo được dàn binh bố trận cùng khắp nhà. Tôi nghe mẹ tôi nén tiếng thở dài trong những lúc lăng xăng hứng những giọt nước mưa đổ xuống. Những ngày mưa chợ ế, mẹ tôi xong việc trong nhà, ngồi nhìn những bọt bong bóng nổ lách tách bên hiên nhà, mắt buồn rười rượi.
    Tôi đã thấy mẹ tôi khóc bên nồi cơm vừa bắc lên. Đó là buổi chiều sau một ngày mưa dầm dề, mẹ tôi với gánh hàng còn nặng trĩu trở về nhà cùng nỗi buồn còn đọng lại trên đuôi mắt. Mẹ tôi lặng lẽ ra sau bếp. Tôi biết mẹ tôi buôn bán ế ẩm hôm nay. Tôi ngồi nhìn những hạt mưa rơi tí tách từ tàu lá chuối. Chán chê. Tôi mới xuống bếp, lân la lại gần hỏi nhỏ:
    "Mạ khóc?"
    "Không, tại khói. Trời mưa làm bếp núc, than củi ướt hết."
    Tôi nhìn từng đợt khói ngùn ngụt trong bếp, ngần ngại:
    "Hay mạ để con thổi lửa cho."
    Mẹ tôi xoa đầu tôi, cười gượng gạo:
    "Hơi hám mô mà thổi. Con trai không nên vô bếp, học dốt cho coi. Đói bụng rồi phải không?"
    Tôi dúi mặt vào lưng mẹ tôi, cười:
    "Mô có."
    "Thôi con lên nhà chơi đi, chờ ba con về rồi ăn cơm. Sắp xong rồi. Hôm nay, có món đặc biệt lắm."
    Tôi nhìn vào chiếc rổ bên cạnh, reo lên:
    "A! Hôm nay mạ chiên mực ống dồn thịt."
    Mẹ tôi cười rạng rỡ:
    "Con thích lắm phải không? Hồi sáng thấy bà bán cá nài nỉ quá, mạ mua giúp bà ấy. Lâu lắm rồi ba con chưa có được miếng ăn ngon."
    Sau cơn mưa, trời tối rất nhanh. Mẹ tôi lên tiếng sai anh tôi thắp đèn. Ba tôi vẫn chưa về tới nhà. Hình như mẹ đang sốt ruột:
    "Không biết ông ấy làm chi mà giờ này còn chưa về?"
    Anh em chúng tôi nôn nao ngồi bên cửa chờ ba về. Mưa đã ngưng hạt, ngõ vào nhà lầy lội. Ánh sáng ngọn đèn dầu trong nhà hắt ra vườn một vùng sáng yếu ớt. Vài chú ễnh ương kêu gọi bóng đêm đổ xuống nhanh hơn. Có một bóng đen đang bước vào vườn, hình như là bóng ba. Tôi reo lên:
    "Ba về, ba về."
    Mẹ tôi nghe tiếng tôi gọi, vội vàng chạy xuống bếp hâm đồ ăn. Ba tôi thiểu não bước vào, tóc người đẫm ướt. Người cởi chiếc áo mưa ra máng lên vách. Chiếc áo mưa cũ và rách nhiều chỗ không đủ che cho người. Áo quần ba tôi ướt sũng, nhểu nước xuống nền nhà. Ba tôi cố giấu run vì lạnh. Tôi thấy môi ba tôi tái ngắt. Anh tôi cất tiếng hỏi:
    "Xe mô mà ba đi bộ rứa?"
    Ba tôi đặt ngón tay trỏ lên môi ra dấu cho anh em chúng tôi đừng nói lớn. Ba tôi lặng lẽ vào buồng riêng. Sau khi lau tóc và thay quần áo. Ba bước tới ngồi bên bàn ăn, cố nói giọng tự nhiên:
    "Mình ơi! Đói bụng lắm rồi đó."
    Tiếng mẹ tôi từ trong bếp vui vẻ vọng ra:
    "Gần xong rồi."
    Anh em chúng tôi háo hức ngồi bên cạnh ba tôi. Chúng tôi mở lớn mắt nhìn xuống bếp, chờ đợi. Tôi đang náo nức với những con mực được mẹ tôi nhồi thịt, cùng nấm mèo và bún tàu. Con nào cũng nung núc được mẹ tôi chiên lên rồi kho rim lại thơm nức mũi. Còn chiếc chảo nữa, tôi đã quanh quẩn với mẹ dưới bếp "đặt cọc" trước để... trộn cơm; chiếc chảo mà tôi biết chắc rằng mẹ tôi sẽ còn dành ở đó vài cái đầu mực. Tôi nghe có tiếng soong chảo chạm vào nhau dưới bếp. Ba tôi sốt ruột lên tiếng hỏi:
    "Răng mà lâu rứa mình?"
    Không có tiếng trả lời của mẹ tôi từ sau bếp. Ba tôi quay qua bảo anh tôi:
    "Con xuống dưới xem mạ con đang làm chi mà lâu rứa?"
    Khi tôi xuống nhà bếp thì thấy mẹ tôi đang ngồi nhặt từng con mực dưới nền đất lên chùi cát. Cái chảo nằm lăn lóc bên cạnh. Những con mực đang nằm tội nghiệp rải rác chung quanh, vài ba con nằm phơi mình trong vũng nước đọng trên nền như mắc cạn. Tôi hốt hoảng ngồi xuống bên mẹ:
    "Mạ làm đổ hết rồi hở?"
    Mẹ tôi im lìm. Người lặng lẽ lau sạch những con mực bỏ vào đĩa. Tôi thấy mẹ tôi khóc. Tôi bồi hồi nhặt một con mực lên chùi cát giúp mẹ. Bóng hai mẹ con tôi chập chờn bên ngọn đèn dầu. Mẹ tôi lẩm bẩm:
    "Con mèo nhà ai mà vô hậu rứa không biết. Mạ vừa quay lưng là nó tha đi gần hết, còn làm đổ tứ tung nữa. Mạ thật vô ý. Làm ba và tụi con hỏng ăn."
    Tôi làm vẻ thông minh:
    "Mình đem rửa rồi rim lại."
    Mẹ tôi gượng cười:
    "Như rứa thì còn chi mà ngon nữa? Thôi, con lên trên nói ba con đợi một chút nghe."
    Tôi tiu nghỉu bước lên nhà trên. Anh em tôi nghe tin cũng xụ mặt xuống, chống cằm lên bàn, thiểu não. Ba tôi rời ghế đi xuống bếp. Một lúc sau, tôi nghe tiếng người nói với mẹ tôi:
    "Đổ hết rồi thì thôi, ăn chi lại không được. Thôi đừng buồn nữa mình ạ."
    Tiếng mẹ nức nở:
    "Nhưng bấy lâu nay cả nhà đâu có được miếng ăn ngon, toàn là cơm rau muối mắm. Tội nghiệp thằng Tí thòm thèm từ hồi chiều đến giờ."

    Không dưng, tôi thấy thương mẹ tôi thật nhiều. Tôi nhớ khuôn mặt mẹ lúc chiều rạng rỡ bên rổ mực tươi. Tôi nhớ mẹ thấy tôi mừng làm mẹ rất vui. Giờ đây, giọng mẹ nghẹn ngào chỉ vì ước mơ nhỏ nhặt của tôi bị vụn vỡ. Tôi tự hứa với lòng là từ nay về sau sẽ không háu đói để mẹ khỏi bận lòng nữa.

    Tối hôm đó, gia đình chúng tôi trải qua một bữa cơm thật ảm đạm. Sáng hôm sau, khi tôi vừa mở mắt dậy thì lại nghe tiếng mẹ tôi khóc:
    "Răng anh không nói cho em biết sớm?"
    Ba tôi ngồi vừa nhấp trà, vừa nhỏ giọng:
    "Tối hôm qua thấy em buồn quá làm sao anh mở miệng được?"
    Mẹ tôi ngơ ngác hỏi:
    "Bây giờ anh tính sao?"
    "Thì phải đón xe lam đi làm tạm một thời gian đã."
    Ba tôi ngập ngừng trả lời. Mẹ tôi cất giọng tiếc nuối:
    "Gia tài chỉ còn có chiếc xe đạp cho anh đi đỡ chân cũng bị mất. Không biết sao mà xui xẻo quá đi."
    Ba tôi an ủi:
    "Thôi, việc đến đâu hay đến đó, lo lắng cũng không giải quyết được chi."
    Mẹ tôi suy nghĩ một chút rồi nói nhỏ với ba:
    "Hay là đem nữ trang anh tặng em lúc cưới, bán đi để mua cho anh chiếc xe khác?"
    Ba tôi nhổm người lên như đỉa phải vôi:
    "Nhất định là không được, lúc trước cần tiền mua nhà chúng mình cũng quyết định không bán mà. Đó là kỷ vật của em."
    Thấy mẹ tôi như muốn nói thêm. Ba tôi tiếp lời, dứt khoát:
    "Để xem anh em ở sở ai có chiếc xe cũ nào cần bán, anh sẽ mua lại."

    o O o

    Đời sống thường mang lại quá nhiều phiền muộn, nhất là những người nghèo khổ như chúng tôi. Mẹ tôi chạy ăn từng ngày vẫn không đủ cho chúng tôi ngày càng lớn. Nỗi lo làm tóc mẹ tôi bạc sớm, lưng mẹ tôi còng mau. Hai người anh lớn của tôi phải ra chiến trường. Chiến tranh đã bắt đầu leo thang. Căn nhà gỗ của chúng tôi lại rung lên từng đêm khi có tiếng bom đạn dội về. Khoảng cách của tiếng bom đạn dần thu ngắn trong cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Rồi Tháng Tư gẫy gánh. Tháng Tư tôi bỏ trường về lại mảnh vườn xưa. Tháng Tư anh ba tôi chết trên đường triệt thoái cao nguyên. Tháng Tư ba tôi đi lao động khổ sai.Tháng Tư nhà tôi tan nát. Căn nhà năm xưa tuy nghèo nhưng đầy vang tiếng cười, nay chỉ còn mình tôi bên cạnh mẹ tôi hiu hắt tiếng thở dài. Mẹ tôi lại buôn thúng bán mẹt chắt chiu từng chút một để dành có dịp thăm nuôi ba tôi. Còn người anh cả của tôi không biết lưu lạc phương nào? Mẹ tôi thường nằm mơ thấy anh tôi vẫn còn sống, nhưng tôi nghĩ là không thể nào. Nếu có, anh cũng trở về bên chúng tôi hoặc ít nhất là cho chúng tôi biết tin. Nhưng mẹ tôi vẫn tin tưởng ông trời có mắt, lúc nào cũng nhìn xuống lòng thành của con người.

    Cuộc sống ngày càng chật vật, chúng tôi phải đương đầu với nhiều áp lực của chính sách mới. Chính sách thay đổi bất chợt, từng ngày. Như bữa cơm đạm bạc trong gia đình chúng tôi; hôm qua có khoai thì độn khoai, hôm nay có bắp thì độn bắp, ngày mai không biết chừng chúng tôi chỉ đuợc ăn khoai luộc trừ cơm. Tôi lại bị kêu đi làm nghĩa vụ lao động liên miên, riết rồi thành nghề của tôi. Ai mướn đi làm thế, cũng nhận lời. Cuối cùng sự gặp gỡ giữa mẹ tôi và tôi cũng thưa dần.

    Một hôm, mẹ tôi cầm bàn tay đen đúa và khô nhám của tôi bật khóc. Mạ đã lo cho con đâu vào đó rồi. Gia tài của mạ chỉ còn lại sợi dây chuyền và chiếc vòng tổng cộng là ba lượng. Ba và Mạ không bao giờ dám nghĩ là sẽ tiêu xài đến nó, vì đây là quà cưới của ba con cho mạ. Nhưng thấy con khổ cực quá, mạ phải lo cho con. Con cái người ta đã lần lượt vượt biên hết, con cũng nên đi tìm tương lai cho mình. Mạ không thể nào thấy con như vậy mà không đau lòng. Mạ sẽ chờ ba con về. Tôi gục đầu vào vai mẹ tôi khóc ròng. Hình như hôm đó là buổi chiều. Nắng thoi thóp trên tàn cây trứng cá trong vườn. Mạ tôi tiếp. Mạ tưởng con không về kịp hôm nay. Mạ sợ con hụt chuyến này thì mạ sẽ ân hận suốt đời. Ngày mai con phải đi rồi đó, tất cả mọi thứ mạ đều chuẩn bị cho con cả rồi. Tôi bật người ra sau, thảng thốt:
    "Ngày mai? Mau vậy?
    Mẹ tôi lặng lẽ gật đầu. Tôi không còn nhớ tâm trạng của tôi lúc ấy ra sao, có lẽ tôi vui, vì chung quanh, bạn bè đã ra đi gần hết. Tôi thường ngưỡng mộ những đứa bạn tôi đã ra đi trót lọt, nhưng tôi biết khả năng kinh tế của gia đình tôi không để cho ước mơ của tôi có dịp bộc lộ. Nhưng ngày mai? Trời ơi! Đột ngột quá. Tôi không biết nói gì với mẹ tôi hết, tôi chỉ biết rưng rưng mắt mà lòng xót đau. Tối hôm đó, nhìn bóng mẹ tôi khòm khòm đi lại trong nhà, thỉnh thoảng người lại mở túi xách của tôi xem xét còn thiếu món gì nữa không, tôi không khỏi mủi lòng. Ánh sáng của ngọn đèn dầu đêm đó hình như làm lưng mẹ tôi còng thêm theo từng vệt sáng tù mù hắt lên tường nhà. Thỉnh thoảng, mẹ tôi dừng tay, nói như để trấn an tôi:
    "Con đừng sợ, đây là nơi thân tín, mạ năn nỉ quá họ mới nhường cho mình một chỗ. Lúc đầu họ đâu chịu nhận nữ trang, nhưng số con may mắn lắm đó..."
    Suốt đêm hôm đó, tôi nằm thao thức theo tiếng trở mình của mẹ tôi.

    o O o

    Rồi tôi cũng được qua tới Mỹ, với lần tiếp kiến phái đoàn Mỹ thật là trôi chảy, trôi chảy như chuyến vượt biên của chúng tôi. Ba tôi còn trong trại cải tạo là lý do khiến tôi được phái đoàn Mỹ chấp nhận sớm nhất, trong thời gian mà những người Việt Nam vượt biên bằng những chiếc thuyền gỗ mỏng manh còn làm thế giới lưu tâm tới. Tôi qua đến Mỹ, vừa học vừa làm cũng có chút tiền gởi về thường xuyên cho mẹ. Nhu cầu của mẹ tôi không nhiều nên vấn đề xoay sở của tôi bên này không phải là gánh nặng cho tôi trong thời gian còn đi học. Tôi vẫn nhận được thư của mẹ tôi thường xuyên. Và lá thư làm tôi không thể nào ngủ được mấy đêm liên tục, đó là lá thư của anh cả tôi. Người anh tưởng như đã chết trong cuộc tháo chạy năm nào, nay đang bình yên ở Mỹ. Tôi gọi điện thoại cho anh tôi bày tỏ nỗi hân hoan cùng lòng xúc cảm. Anh em chúng tôi khóc với nhau trên đường dây điện thoại. Chuyện nhà, chuyện ba mẹ được tôi tường tận kể ra cho anh tôi cùng những dòng nước mắt tủi hờn. Mùa hè năm đó, theo lời anh tôi, tôi bay lên miền Bắc nước Mỹ thăm anh tôi. Cuộc đón tiếp nơi phi trường làm tôi ngỡ ngàng. Anh tôi cùng người đàn bà Mỹ và một nhóc tì tròn trịa nhìn tôi bằng đôi mắt bi ve không nhấp nháy. Người đàn bà lạnh lùng bắt tay tôi với một câu xã giao thường lệ. Anh tôi rưng rưng nước mắt nhìn tôi im lặng. Ngay trên chiếc xe đưa chúng tôi về nơi anh cư ngụ, là tôi đã có ý định thu ngắn thời gian ở lại với anh tôi. Anh tôi nói với tôi bằng những giọng nhát gừng, thỉnh thoảng xen một vài câu tiếng Anh vào khi thấy khuôn mặt hơi cau lại của bà vợ. Người chị dâu đã không cho tôi được cái thiện cảm tôi gặp lúc đầu. Nhìn bà phục phịch bước lên xe là tôi đã cảm thấy có một chút gì đó bất hạnh xảy ra trong đời sống của anh tôi. Anh tôi biết ý đã giải thích với tôi bằng một câu rất gọn. Năm 1975, lúc anh mới qua Mỹ không có chỗ nào hơn ngoài gia đình June. Hình như tôi có gợi ý với anh dọn về nơi nắng ấm, nhưng anh tôi khẽ lắc đầu. Sống đâu quen đó rồi chú ạ.

    Tối hôm đó, anh em chúng tôi thức suốt đêm để ôn lại những ngày tháng cũ. Vợ anh thỉnh thoảng lại bước ra phòng khách giục anh đi ngủ nhưng anh làm lơ. Anh hỏi tôi:
    "Chú có định lên đây ở cho có anh có em không?"
    Tôi lắc đầu, vì tôi biết anh tôi hỏi để mà hỏi. Tôi không muốn anh bị lấn cấn tình cảm giữa anh em và vợ chồng.

    Đến ngày tôi ra phi trường để về lại nơi tôi ở, anh tôi đưa tôi đi một mình. Anh hỏi tôi khi tôi đang chờ kiểm tra hành lý. Sao chú lại về nhanh quá vậy? Có điều gì chú không bằng lòng nơi anh phải không? Tôi đáp nhỏ. Em có cảm tưởng chị June không thích sự hiện diện của em lắm. Anh tôi im lặng. Tôi biết lời nói của tôi đã làm cho anh tôi buồn nhiều. Lúc máy bay cất cánh, tôi thấy anh tôi vẫn còn đứng trong phi trường, dáng anh thật cô đơn.

    o O o

    Ba tôi qua đời trong trại cải tạo đã làm kiệt quệ mẹ tôi. Tôi biết và càng đau lòng hơn khi thấy bóng dáng mẹ tôi nơi phi trường. Người lựng khựng bước ra với chiếc áo dài nâu lạc lõng trên phi trường quốc tế. Vợ tôi ngọt ngào săn đón. Phải! Tôi đã có vợ sau khi ra trường đi làm được vài năm. Vợ tôi người Bắc, khéo ăn, khéo nói. Thời gian sau này tôi cũng bị vợ tôi hạn chế gửi quà về cho mẹ. Đến bây giờ, tôi mới thông cảm nỗi khổ của anh tôi. Thảo nào, gần hai mươi năm sống ở Mỹ, anh tôi chỉ gửi quà về cho mẹ tôi được vài lần, rồi thôi. Trước khi mẹ tôi qua, anh em chúng tôi cũng đã bàn thảo với nhau ai sẽ rước mẹ về ở chung. Giọng anh tôi ra điều thiểu não:
    "Chú bây giờ dầu sao cũng được ổn định. Anh công ăn việc làm tạp nham, hơn nữa June nó người Mỹ sợ mạ không thích. Vợ chú dầu sao cũng là người Việt Nam. Mạ cũng dễ sống."

    Tôi xuôi lòng dầu biết rằng vợ tôi cũng có phần khó chịu. Anh tôi cũng có mặt trong ngày mẹ tôi qua Mỹ. Nhìn mẹ đi đứng khép nép trong phi trường, tôi đâm ra thương mẹ lạ lùng. Tôi tự nhủ lòng sẽ hết lòng săn sóc, hiếu thảo với mẹ.

    Những ngày đầu mẹ tôi đến Mỹ, chúng tôi sống với nhau thật là vui vẻ. Vợ tôi thấy mẹ tôi chăm sóc cho bé Nam chu đáo cũng mến mẹ tôi. Tôi biết, trong thâm tâm vợ tôi là tiết kiệm được một số tiền gửi trẻ. Nhưng không sao, mẹ tôi cũng rất cưng cháu nội của bà. Hơn nữa, ở nhà một mình, có bé Nam cũng làm cho mẹ tôi khuây khỏa được phần nào.
    Cho đến một hôm tôi đi làm về sớm hơn thường lệ, thì nghe có sự lớn tiếng trong nhà. Tôi rón rén bước vào, thấy vợ tôi hùng hổ:
    "Con đã nói với mẹ rồi, bé Nam phải cho ăn uống đúng giờ đúng giấc. Mẹ làm thế nào mà mấy bình sữa của bé Nam vẫn còn y nguyên?"
    Mẹ tôi nhỏ giọng:
    "Tại mạ thấy bé Nam ngủ ngoan quá, nên không đành lòng thức nó dậy để bú sữa."
    Giọng vợ tôi, cất lên chua buốt xương:
    "Mẹ làm vậy là giết con đó. Nó ngủ đẫy giấc, tối nay nó quấy con thì làm sao con ngủ cho được? Ở Mỹ phải tập cho con nít nó ngủ đêm. Mẹ không biết gì cả."

    Tôi không kềm được giận dữ, xông vào, tát vợ tôi một cái. Nàng tru tréo lên:
    "Anh dám đánh tôi? Có ngon thì đánh tôi thêm một cái nữa đi nào?"
    Nói xong, nàng xấn tới phía tôi chìa mặt thách thức:
    "Anh có tin là tôi kêu cảnh sát bắt anh không nào?"
    Tôi giận quá, mất khôn, tát nàng thêm một cái nữa. Nàng òa ra khóc như cha chết rồi quay qua chiếc điện thoại, chụp bấm lia lịa. Tôi xông tới, mẹ tôi sợ tôi đánh nàng nên vội kéo tay tôi ra:
    "Thôi con à. Mọi sự cũng tại mạ hết."
    Tôi quát lớn:
    "Bấy lâu nay vợ con đối xử với mạ như vậy sao mạ không cho con biết... Thật là quá đáng mà."
    Tôi buông mình xuống sô pha ngồi thở dốc. Nửa tiếng đồng hồ sau, xe cảnh sát chạy đến trước nhà tôi như điều tôi đã đoán. Sáng hôm sau, tôi gọi điện thoại về bảo vợ tôi mang tiền đến bảo lãnh tôi ra, nhưng nàng không chịu. Giọng nàng còn tức tối:
    "Có gan đánh vợ thì có gan ở trong đó vài ngày. Kêu réo làm gì?"
    Nàng cúp dây. Tôi đành muối mặt gọi bạn tôi nhờ đến lãnh tôi ra. Khi tôi về đến nhà thì mẹ tôi đang ngồi khóc trong bếp. Tôi ngồi xuống vỗ về:
    "Xin lỗi mạ. Con không biết mạ bị vợ con xài xể sau lưng."
    Mẹ tôi vuốt đầu tôi:
    "Mạ sợ họ nhốt con luôn chứ. Trời ơi! Xứ chi mà đánh vợ một cái nhẹ là bị công an còng tay."
    Tôi cười, giễu:
    "Đàn bà, nhất là đàn bà Việt Nam ở đây là những động vật sắp bị tuyệt giống, cần phải bảo vệ kỹ lưỡng mà mạ."
    Mẹ tôi đánh yêu vào má tôi (như dạo tôi còn bé):
    "Thằng con. Rứa mà cũng giỡn được."
    Tôi đứng dậy:
    "Thôi để con vô tắm cái đã."
    Mẹ tôi nói với theo:
    "Rứa con định tính sao với con Duyên?"
    "Thì coi như không có nó."
    Nói như vậy nhưng lòng tôi đang thắc mắc là giờ này nàng đang làm gì? Ở đâu?

    o O o

    Tôi tưởng là tôi có thể làm mặt lơ được. Nhưng không, vợ tôi còn lỳ hơn tôi. Nàng có thể im lặng không nói từ tuần lễ này sang tuần lễ khác. Đôi khi nàng biểu lộ sự bực mình của nàng bằng cách quăng chén bát dơ vào chậu rầm rầm. Đôi khi vô cớ nàng đánh tét vào mông bé Nam cho nó ré lên ngặt nghẽo. Mẹ tôi giơ tay ra bế thì nàng lại ngoe nguẩy vác bé Nam vào phòng. Tôi nhìn ngứa mắt lắm nhưng cố tình làm ngơ. Không khí trong gia đình tôi ngột ngạt, đến mức độ sau khi tan sở, tôi thật sự không muốn về nhà chút nào hết.

    Một hôm, mẹ tôi gọi tôi vào phòng. Người bảo:
    "Mạ không muốn ở đây cản trở hạnh phúc của con nữa. Mạ muốn về Việt Nam."
    Tôi khóc:
    "Mạ giận con phải không? Khó khăn lắm mới qua được bên này, mạ về Việt Nam cũng đâu còn ai?"
    Mẹ tôi cười hiền từ:
    "Mạ còn bà con láng giềng. Ở đây mạ như mù như điếc. May mà căn nhà ở Việt Nam mạ không bán, mạ chỉ cho gia đình dì Huệ ở và coi sóc giùm hương khói ba con và thằng Ba."
    Tôi cất giọng thống thiết:
    "Con có làm điều chi sai thì mạ thứ lỗi cho con, dầu sao con cũng là con của mạ. Con thà bỏ vợ chứ không thể để mạ trở về Việt Nam đâu."
    "Con đừng nói rứa mà mạ mang tội. Mạ già rồi, ở đâu lại không được. Vợ chồng đánh nhau đầu giường thì hòa nhau cuối giường, có chi mô mà con làm cho lớn chuyện?"

    Cuối cùng rồi tôi cũng bị mẹ tôi thuyết phục. Ngày mẹ tôi ra phi trường để về lại Việt Nam, chỉ có mình tôi đưa. Lại chiếc áo dài nâu mẹ tôi đã mặc trong ngày qua Mỹ, mẹ tôi nhỏ nhoi vô cùng giữa hàng người hớn hở về thăm quê hương. Tôi không còn cầm được nước mắt. Mẹ tôi cũng vậy, người hứa sẽ trở lại thăm chúng tôi, nhưng tôi biết chắc mẹ tôi sẽ không bao giờ trở lại lần nữa. Lúc máy bay cất cánh. Tôi thấy mẹ tôi đã mang theo rất nhiều điều tôi chưa nói được...

    ST.
  6. [​IMG]
  7. Thoát!
    Hoang sơ phủ kín đêm tàn
    Rối ren hoài niệm ngút ngàn hẩm hiu
    Trăng dịu vợi_sắc nâng niu
    Kiêu sa lấm gót vấy điều trầm luân

    Chân tra đôi bước ngại ngần
    Lối quen sương khảm_giam thân lụy phiền
    Dáng thu nét rũ còn nguyên
    Chưa nâng bóng ngã đã nghiền nát thơ

    Nhớ thương lẩn quất đêm chờ
    Cơn mơ non nớt bất ngờ tuột tay
    Khẽ rơi vào giấc phôi phai
    Chợt nghe trăng lạ thở dài niệm đau

    Cõi mình kinh kệ sát sao
    Cõi lòng dư lệ ngọt ngào bể dâu
    Tụng đêm nguyệt tận nhiệm mầu
    Nhiêu khê ảo vọng nhốt vào lầu chuông
    ..............
    May ra siêu thoát nỗi buồn!
    Nắng mưa hoan hỉ cội nguồn vô ưu
    Hn.VĩnhKim
  8. Ngẫm!
    Hương trăng, hương trăng ngát đỉnh sầu
    Hồn mây than thở quánh đêm sâu
    Đường xưa bén gót mùa như thể
    Tiếng lá trở mình tiếng thu đau

    Mong manh, mong manh áo thời gian
    Gấp nếp phôi phai khéo ngỡ ngàng
    Thói đời cũ mới khuôn thiên hạ
    Cười khóc lời thơ vụng ngửa ngang

    Bâng khuâng, bâng khuâng phím rung tay
    Cau mày con chữ chạm mỉa mai
    Gõ dòng quá khứ_thôi chấm hết
    Để những vô tình sẽ thoát thai!
    Hn.VĩnhKim
  9. Muôn Thuở Trắng Màu Tang!

    Năm tháng khôn nguôi nhớ mẹ hiền
    Thu về lá đỏ rụng ngoài hiên
    Trật trầy nắng rướn, mưa rơi khẽ
    Rưng rức giọt sầu cảnh chùa thiêng

    Khói hương lan toả, chạnh niềm riêng
    Thương mẹ cô đơn chốn cửu tuyền
    Mõ chuông ray rứt lời kinh nguyện
    Ngàn thu an giấc, mẹ bình yên!
    ............
    "Con mời cô chọn một nhánh bông"
    Hai sắc hoa tươi...nát cõi lòng
    "Cho cô một nhánh bông hồng trắng"
    Cô bé lặng nhìn, mắt cảm thông...
    Hn.VĩnhKim
  10. Lời Nguyện Thiêng Liêng!

    Nhớ xưa theo má đi chùa
    Áo lam xúng xính má vừa mới may
    Ngày còn tóc bím thả vai
    Quỳ nghe kinh kệ loay hoay nhìn trời
    Khó khăn thuộc chữ, thuộc lời
    Những câu má nguyện suốt đời không quên
    "Cầu cho gia quyến bình yên
    khổ đau cam chịu muộn phiền riêng mang
    dẫu cho số phận gian nan
    xin cho con trẻ bình an nên người!"
    Con khôn lớn, má về trời
    Công danh sự nghiệp dòng đời êm trôi
    Vẫn là thân phận cút côi
    Thèm nghe tiếng gọi "con ơi" ngọt ngào
    Còn mẹ hạnh phúc biết bao
    Mồ côi thấm thía niềm đau vô bờ
    Ngồi bên mâm cỗ chơ vơ
    Nhìn lên di ảnh lệ mờ dâng cơm
    ..................
    Nhang đèn hương khói quyện tròn
    Cám ơn má đã cho con cuộc đời
    Hn.VĩnhKim
    (31.07.2013 Ngày Giỗ Má)
  11. [​IMG]
  12. Vô Tâm_Vô Tình!
    Có khi nào bất chợt người con trai đó nghĩ về mái ấm gia đình hay không? Nơi mà đã chung sống với ba mẹ và một người chị hơn hai mươi năm trời, một thời gian không dài so trăm năm cuộc sống nhưng cũng đủ để họ chia sẻ cho nhau những buồn vui, hạnh phúc. Có lẽ là không! Vì anh đã lạnh lùng đánh đổi tình thương như biển trời đó để chạy theo tiếng gọi của tình yêu, anh quên hẳn người mẹ đã đưa anh vào đời với tiếng khóc đầu tiên bằng những cơn đau cắt da xẻ thit, người cha nghe tin con mình là một đứa con trai đã rơi nước mắt và thể hiện sự vui mừng không kể xiết bằng hành động nhảy qua hai, ba bậc cầu thang chạy đi lấy đồ cho con khi nghe bà mụ ra báo: "Con trai đó ông, hãy đi lấy đồ bận cho em bé".
    Anh không hề quan tâm đến sự sa sút tinh thần cũng như thể xác của song thân theo ngày tháng...Mẹ anh vẫn hằng đêm trăn trở với giấc mơ được ôm con trong vòng tay và luôn cầu bình yên cho anh, một người cha nuốt lệ âm thầm chờ đợi. Hình như hai người họ đang mong một phép lạ đưa anh trở về, nhưng không có sự mầu nhiệm nào xảy ra vì anh đã nhiều lần về qua con phố cũ mà chưa hề một lần gõ cửa nhà để hỏi:
    -"Ba, mẹ có khoẻ không?"
    Vậy mà ba mẹ anh vẫn nuôi hy vọng, họ sẵn sàng tha thứ và mở rộng vòng tay đón con trở về. Nhưng tiếc rằng...sự vô tâm của anh lại vô tình lớn dần với thời gian!!!


    Mòn Mỏi!
    Có những niềm đau vẫn còn trẻ mãi
    Dẫu thời gian vương vãi nỗi chia ly
    Để nhớ thương cấu xé...mẹ gan lì
    Cha che giấu nỗi buồn_sâu ánh mắt

    Mấy mùa đông tin con đều vắng bặt
    Lạnh đêm sương se sắt khẽ lời kinh
    Mang tuổi đời xin đổi lấy một niềm tin...
    Trời thảng thốt trên cao cười ray rứt!
    .........
    Hn.VĩnhKim​
  13. [​IMG]
  14. Hoa Trắng...Mồ Côi
    Xót xa hai chữ mồ côi
    Vu Lan tháng bảy, Má ơi con buồn!
    Áo cài hoa trắng lệ tuôn
    Dòng thơ khắc khoải lỗi nguồn hiếu tâm

    Nỗi lòng đau đáu tháng năm
    Mỗi khi nhớ Má khóc thầm phương xa
    Mộ phần hiu quạnh quê nhà
    Thương con xin Má thứ tha vạn lần

    Hơn mười năm lẻ tủi thân
    Bỏ con, nơi cõi vĩnh hằng Má đi
    Công lao dưỡng dục mấy khi
    Làm con đạo hiếu lấy chi vuông tròn

    Ngàn năm ơn nghĩa vẫn còn
    Áo cài hoa trắng lòng con não nề!
    Hn.VĩnhKim

    Viết cho Má trong ngày lễ Vu Lan
    31.08.2012 (15.07 Âm Lịch)


  15. [​IMG]


    Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tuần tự trôi qua theo chu kỳ của năm tháng, trước đó mấy tuần còn nhìn thấy lá vàng rụng đầy sân, cứ mỗi sáng phải đi quét sân gom lá, thế mà sáng nay khi thức giấc nhìn ra ngoài cửa sổ,con đường, nóc nhà, cây cối đã bám đầy tuyết trắng, bên nhà hàng xóm đã có trang trí đèn, những hình ảnh tượng trưng cho ngày lễ dán trên cửa kiếng rồi bất chợt thở dài...lại thêm một "Mùa Giáng Sinh" trên xứ người!

    Những kỷ niệm về Giáng Sinh ở quê nhà mà người Việt mình hay gọi theo thói quen là "Nô-en" luôn là một nỗi niềm dai dẳng trong tôi. Ngày đó, vào cái lứa tuổi chỉ biết đi học về quăng cặp vào góc nhà rồi dông một mạch đi kiếm đám bạn nhóc con trong xóm bày trò chơi hay tán dóc, tôi chưa hề có một khái niệm lo âu về tuổi đời, về cuộc sống nên cứ mong cho thời gian qua thật nhanh để chóng đến tháng 12 vì đó là thời gian giao mùa giữa năm cũ và năm mới, không khí mát mẻ, cảnh vật xanh tươi. Điều buồn cười nhất là ai cũng biết ở Sài Gòn hầu như không có ngày lạnh cho dù đang vào mùa đông-,sáng sớm hay đêm về thì hơi mát nhưng cũng đủ cho tôi làm ra vẻ như đang lạnh co ro để được khoác cái áo len mới do chính tay má tôi cặm cụi ngồi đan suốt mấy ngày rồi tung tăng chạy khắp nơi đi khoe.

    Tuy tôi ngoại đạo, nhưng hình như vào cái đêm Giáng Sinh không riêng gì những người đạo Thiên Chúa mà hầu như nhà nhà đều chung vui đón mừng-,nhất là bọn trẻ như chúng tôi thì còn nao nức hơn, nửa đêm gia đình tôi cũng tổ chức ăn uống, nói tổ chức nghe cho xôm chứ ngày hôm đó anh em tôi được ăn món ngon hơn mà ngày thường rất hiếm thấy. Trước đó thì được Cô, Dì, Chú, Bác chở một vòng ra Sài Gòn đi ngang qua nhà thờ Đức Bà để nhìn thấy chung quanh treo đầy đèn và những ngôi sao sáng chói, trong ngoài nhà thờ mặc dù chưa tới nửa đêm nhưng đã đông nghẹt các "Con Chiên" ngoan đạo của Chúa đang chen chúc từ trong ra tới ngoài đường để chờ đến giờ làm lễ, chỉ vậy thôi mà tôi nôn nao chờ đợi hết mấy ngày để được diện đồ mới, mặc áo len đẹp, nắm tay người lớn đi vòng vòng trố mắt nhìn người, nhìn cảnh vật một cách say mê không biết chán, chỉ thế thôi rồi quay về nhà chờ đến 12 giờ để được thưởng thức bữa ăn nửa đêm với gia đình, năm nào cũng vậy riết rồi thành như một thông lệ.

    Tôi còn nhớ rất rõ vào những ngày lễ, hình như tâm lý chung ai cũng có cùng một ý nghĩ nếu đi trễ sẽ bị kẹt xe nhất là vào đêm Nô-en nên chưa đến 11giờ thì đường phố đã đầy ứ xe cộ, những người đi xe gắn máy chỉ nhích được từng chút, người đi bộ thì lũ lượt chen chân, cái không khí vui vẻ ồn ào náo nhiệt hoà lẫn với sự ấm cúng tình người trong "Đêm Đông Chúa Sinh Ra Đời", dù quen hay lạ tôi đều nhìn thấy trên nét mặt của mọi người đầy vẻ hân hoan, cử chỉ thân thương tay trong tay len lỏi giữa dòng người cười giỡn vô tư khiến tôi cũng bị lôi cuốn vào không ngoại lệ, đến khi hiểu biết đôi khi nhớ lại những hình ảnh đó rồi tôi tự nghĩ , có phải đó là một "hiệp thông của Chúa" mang đến cho mọi người tình yêu thương đồng loại mà tôi vẫn thường nghe hay không?

    Khi trưởng thành, những ngày nầy là những ngày đẹp nhất của tôi với người yêu, với bạn bè, nhưng rồi vì hoàn cảnh vì số phận mỗi người một nơi, hình như tôi chưa bao giờ cảm nhận được một Giáng Sinh trọn vẹn nơi xứ người! Cũng vào đêm Nô-en, trong phòng khách nhà tôi, mọi người quây quần ăn uống vui đùa, những bản nhạc Giáng Sinh liên tục văng vẳng bên tai nhưng tôi lại thích tìm cho mình một chỗ ngồi bên cạnh cửa sổ, thầm lặng nhìn ra ngoài trời tuyết đang rơi để tâm hồn đón nhận những cảm giác bâng khuâng không thể tả.
    Khi tiếng chuông nhà thờ nửa đêm vang lên, ly rượu trên tay cũng được nâng cao chúc tụng như một cảm tính của thói quen nhưng tâm tư của tôi thì đang trở về một nơi thật xa xôi, cái nơi mà tôi đã từng có những kỷ niệm quá đẹp quá hạnh phúc bên cạnh những người đã cho tôi trọn vẹn niềm tin và tình yêu nhưng bây giờ chỉ là một hoài niệm buồn vui, mất mát!
    Qua Giáng Sinh rồi sẽ đến Tết, nhưng tha hương luôn là một nỗi niềm trăn trở trong tôi, nhớ nhà, nhớ bạn bè...nhớ ơi là nhớ!!!
    VĩnhKim



    <embed src="http://www.4shared.com/embed/1034151917/4f14c6f6" width="300" height="50" allowfullscreen="false" allowscriptaccess="always"></embed>​