Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. KẾT CẤU CÁC NHÓM SỐ TRONG LIỆU PHÁP TƯỢNG SỐ

    Cách lập các nhóm số. Tương tự như việc lập ra các phương huyệt trong châm cứu, các nhóm số được kết cấu căn cứ vào biện chứng luận trị, có thể dựa theo nhiều cách khác nhau.
    Lập số theo tượng bát quái. Tùy theo vị trí hoặc triệu chứng bệnh ứng với quái tượng nào để lập số. Ví dụ: Một trường hợp hàn điện bị tia lửa bắn vào mắt làm mắt bị xót, bị đau. Tượng số được lập là 003. Số 3 là tượng số của mắt, hai số 0 ở trước là thiên về lạnh mát để chống lại viêm, rát thuộc Hỏa (Thủy khắc Hỏa).

    Lập số theo lý luận tạng tượng. Tạng tượng là một học thuyết cơ bản của y học cổ truyền. Do đó lý luận về tạng tượng là căn cứ quan trọng nhất để lập số. Chẳng hạn trong khi hiểu biết thông thường cho rằng Phế chủ về hô hấp, nhưng lý thuyết về tạng tượng của Đông y còn cho thấy Phế chủ da và lông hoặc Phế điều thông thủy đạo. Do đó nhiều bệnh chứng về da hoặc về tiết niệu đều có liên quan đến tượng số 2, tức Phế Kim. Ví dụ: Nhóm số 2000 có thể dùng để phát tán mẩn ngứa hoặc tà độc ra khỏi da.

    Lập số theo đường đi của kinh lạc. Chỗ đau thuộc vùng đường kinh nào sẽ lập số tương ứng với đường kinh đó. Ví dụ: Ở bệnh viêm mũi do mũi thuộc vùng tuần hành của kinh Dương Minh nên lập số là 70 để hoạt hóa cục bộ.

    Cách sử dụng số không (0): Theo người xưa, số không là tượng số của Thái cực khi trời đất chưa chia, vũ trụ chưa thành hình. Trong LPTS, số không được thêm vào nhóm số có tác dụng làm gia tăng cường độ hoạt hóa hai khí Âm, Dương. Số không đặt sau thiên về Dương và tăng tính phát tán. Số không đặt trước nhóm số có tác dụng thiên về Âm và gia tăng tính dưỡng Âm lương huyết.
    Tổ hợp các nhóm số. Dãy số được lập ra để điều trị cho một bệnh nhân có thể gồm một hay nhiều nhóm số. Giữa nhóm số trước và nhóm số sau có thể có quan hệ độc lập, quan hệ tương khắc hoặc quan hệ tương sinh. Nhưng thường nhất vẫn là quan hệ tương sinh. Mỗi nhóm có thể gồm một hay nhiều tượng số khác nhau. Các quan hệ của những tượng số trong cùng một nhóm luôn là quan hệ tương sinh. Mỗi tượng số có một chức năng điều trị cụ thể hoặc nhằm vào một triệu chứng nhất định. Tùy thuộc vào bệnh tình hoãn hay cấp, tiêuhay bản mà dùng dãy số gồm một, hai hoặc ba nhóm số hoặc nhóm nào được đặt trước hay sau nhóm khác. Ví dụ: 720.650.380được áp dụng để điều trị cho một bệnh nhân nam bị thấp khớp mãn tính có triệu chứng đau lưng, đau nhức các khớp, người nặng nề khó chịu, hay tiểu đêm. Bệnh nhân được chẩn đoán là Thận Dươngsuy, phong hàn thấp xâm nhập làm khí huyết ứ trệ sinh đau nhức. Giải pháp là ôn bổ Thận Dương, kiện Tỳ, hóa thấp. Dãy số gồm ba nhóm số. Nhóm số 720 có số 7 là tượng số Dương Thổ, thuộc kinh Dương Minh nên có tác dụng tán hàn táo thấp. Ngoài ra về mặt quái tượng, số 7 còn ứng với lưng, đầu gối, các khớp, các đốt xương, những chỗ lồi ra, những chố kết tụ. Do đó nhóm 720 được đặt trước nhằm ưu tiên cho việc tả thực tà ở các khớp, giải tỏa ứ trệ cục bộ, làm giảm đau. Nhóm số 650 với số 5 là tượng số của Dương Mộc. Sự kết hợp 650 có ý nghĩa ôn bổ Thận Dương. Ngoài việc chữa suy thận, 650 còn có ý nghĩa tăng cường Dương khí tiên thiên để hỗ trợ cho Dương khí hậu thiên, khu trừ hàn thấp. Nhóm số 380 với Hỏa sinh Thổ là những số thường dùng để kiện Tỳ. Theo Đông y, Tỳ ố thấp, Tỳ chủ vận hóa và Tỳ chủ hậu thiên. Do đó chữa phong thấp thường phải kiện Tỳ để tăng cường Dương khí hậu thiên, giúp thông kinh hoạt lạc, tản hàn trừ thấp và ôn bổ khí huyết toàn thân. Ngoài ra, cách sắp xếp dãy số từ số 7 đến các số 2,6,5,3,8 theo thứ tự vòng tương sinh liên tục từ số trước đến số sau còn có tác dụng kích hoạt để tạo ra một sự luân chuyển khí huyết toàn thân đều khắp ngủ khí, ngủ tạng. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh đối với những người cao tuổi, những người có cuộc sống tĩnh tại, kém vận động, hoặc những người cả khí huyết đều suy với nhiều chứng trạng khác nhau.

    Còn tiếp

    Bài 3

    THỰC HÀNH LIỆU PHÁP TƯỢNG SỐ

    LPTS không ràng buộc về thời gian, địa điểm hoặc tư thế. Người bệnh có thể thực hành nhẩm niệm dãy số được lập ra bất cứ lúc nào. Có thể nhẩm niệm trong lúc đi bộ, ngồi xe, rữa bát hoặc lúc nằm nghĩ. Có thể niệm gián đoạn hoặc liên tục. Niệm càng lâu càng có hiệu quả. Nếu có thể thư giãn, tinh thần tập trung vào tượng số thì hiệu quả càng đến nhanh. Niệm không cần phát ra tiếng nhưng tâm phải ý thức rõ dãy số, rõ ràng từng số một. Giữa mỗi nhóm số nên ngưng một tích tắc. Chẳng hạn 650.820 niệm là : Sáu năm không – tám hai không – Sáu năm không – tám hai không – Sáu năm không – tám hai không….Trong LPTS, không phải âm tiết, ngôn ngữ mà làtượng số, chữ số tác động lên não. Do đó dù nhẩm niệm bằng ngôn ngữ nào, Trung Quốc, Việt Nam hay Mỹ v.v., thì đối với một tượng số tín hiệu tiếp nhận vẫn như nhau.

    Sau khi lập số nên quan sát cảm giác của người bệnh trong năm đến mười phút nhẩm đọc đầu tiên để có thể điều chỉnh nhóm số thích hợp. Cá biệt, một vài trường hợp đau nhức có thể tăng lên trong quá trình sóng thông tin xung kích vào ổ bệnh. Cảm giác đau nhức sẽ nhanh chóng qua đi khi bệnh nhân tiếp tục niệm. Về hiệu quả lâm sàng, theo những tài liệu và bệnh án của nhóm Bác sĩ Lý Ngọc Sơn (Trung Quốc), trong số 1860 trường hợp chữa bằng LPTS được ghi nhận thì tỉ lệ có hiệu quả là 98%, chữa khỏi đạt 71%. Không có phản ứng phụ nào đáng kể. Tuy nhiên theo thiển ý, nên cẩn thận khi dùng tượng số 1. Tượng số 1 thuộc Dương, tính nhiệt, ngoài việc tương ứng với Đại tràng và xương, số 1 còn là tượng số của đầu, của mạch Đốc nên khi niệm cần theo dõi để tránh dương khí thượng nghịch. Những trường hợp bình thường có thể dùng tượng số 2 để tác dụng vào Đại tràng.

    LPTS và HỌC THUYẾT TÀNG TƯỢNG
    Người xưa cho rằng Trời có ngũ khí, đất có ngũ vị, người có ngũ tạng. Vũ trụ và con người là đồng một thể. Từ “tạng” trong tạng tượng có nghĩa là tàng trữ, thu tàng những tinh hoa của trời đất để kết thành cơ thể con người. Các tổ chức nhân thân được đề cập trong học thuyết tạng tượng gồm năm tạng và sáu phủ. Năm tạng gồm Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận. Sáu phủ gồm ruột non, túi mật, dạ dày, ruột già, bàng quang và tam tiêu. Sự phân biệt giữa tạng và phủ căn cứ vào chức năng và đặc điểm của chúng. Năm tạng là những cơ quan tàng trữ tinh khí hoặc huyết dịch, trong khi lục phủ có chức năng hấp thu, chuyển vận, tiêu hoá hoặc bài tiết. Ngoài lục phủ còn có những phủ đặc biệt như não, tuỷ, xương, mạch và bào cung. Thực hành LPTS cần nắm vững tương quan đối ứng giữa tượng số, tạng tượng và bệnh chứng. Sau đây là khái quát một số nét chính về sinh, bệnh lý của tạng phủ và những tượng số tương ứng thường được vận dụng trong LPTS:

    Tâm. Tâm nằm trong lồng ngực, có quan hệ biểu lý với Tiểu trường. Tâm là trung tâm hoạt động sống của cơ thể con người. Tâm thuộc quẻ Ly, hành Hoả, quái số là 3.
    Tâm chủ huyết mạch. Tâm chủ huyết mạch, đề cập đến chức năng thúc đẩy lưu thông khí huyết và vận chuyển chất dinh dưỡng đi khắp châu thân. Tâm huyết tốt được thể hiện qua mạch tượng có sức, sắc mặt hồng nhuận. Trái lại nếu tâm khí suy mạch sẽ nhỏ, yếu, mạch đập thất thường, sắc mặt xanh xám hoặc nhợt nhạt. Trường hợp này tượng số là 650 với ý nghĩa ôn thông khí dương để trợ tâm khí. Số 6 là tượng số của thận thuỷ, số 5 là tượng của Dương Mộc. Sự kết hợp650 tức Thuỷ sinh Mộc, có tác dụng bồi bổ Dương khí tiên thiên, tức Dương khí toàn thân, bao gồm cả tâm khí. Mặt khác, theo nguyên tắc “hư bổ mẫu”, bổ cho Mộc cũng là gián tiếp bổ cho Hoả vì Mộc là mẹ của Hoả (Mộc sinh Hoả). Ngoài ra, những bệnh lý về tim mạch thông thường trên lâm sàng thường là những bệnh do xơ vữa động mạch. Ngoại trừ những trường hợp cấp cứu như nhồi máu cơ tim, tai biến não cần được chuyển đến cơ sở chuyên khoa, liệu pháp tượng số có thể được sử dụng để hoạt hoá tâm khí, ôn bổ Tỳ Dương, tăng cường lưu thông khí huyết, thăng thanh giáng trọc, qua đó có thể làm hạ được cholesterol trong máu và điều chỉnh huyết áp. Nhóm số để kiện Tỳ hoá thấp, thăng thanh giáng trọc thường là những nhóm số820, 380 hoặc 30.80. Những trường hợp này không nhằm bổ hoặc tả một tạng nào mà nhằm kích hoạt để làm phấn chấn khí cơ của những tạng hoặc phủ có liên quan để tăng cường khả năng sinh khắc chế hoá cho yêu cầu thanh lọc và bài tiết. Chẳng hạn nhóm số 820 về hình thức là Thổ sinh Kim tức kiện Tỳ ích khí. Nội khí được sinh sẽ tiếp tục bồi bổ trở lại Thổ khí để gia tăng khả năng chuyển vận và thanh lọc. Nhóm số 380 hoặc 30.80 có ý nghĩa là Hoả sinh Thổ, kích hoạt đồng thời hai tạng Tâm và Tỳ nhằm tăng cường khả năng kiện vận để lưu thông khí huyết. Tuy nhiên trong khi 380 thiên về bệnh hoãn, chủ yếu nhằm vào kiện Tỳ, thì 30.80 hoặc 30.820 ưu tiên giải toả những triệu chứng cấp ở tim như tim đập nhanh, hồi hộp, tim đập không đều hoặc đau thắt ngực. Một số trường hợp cấp diễn của cơn đau thắt ngực có thể nghĩ đến nhóm số 720.40 với ý nghĩa sơ tiết Can khí (40) và dùng sức nóng hậu thiên (7) để tuyên thông Tâm Dương (720). Về khí, cùng là hổ trợ tâm khí nhưng nhóm số 650nhằm vào dương khí tiên thiên trong khi những nhóm số sau, 30, 80hoặc 720 nhằm vào dương khí hậu thiên.

    Tâm tàng thần. Thần ám chỉ hoạt động ý thức và tư duy của con người. Nếu chức năng này có trở ngại sẽ gây ra khó ngủ, mộng mị, hay quên. Kiện Tỳ thường đi đôi với an thần. Nhóm số có tác dụng kiện Tỳ, an thần thường là 30.80 với ý nghĩa hoạt hoá khí cơ của Tâm và Tỳ.

    Phế. Phế là cơ quan chủ về hô hấp. Phế có quan hệ biểu lý với Đại trường. Phế thuộc quẻ Đoài, hành Kim, tượng số là 2.
    Phế chủ khí. Khí ở đây bao gồm cả khí do hô hấp và chân khí hay chính khí của cơ thể. Nếu chức năng của Phế suy yếu sẽ làm cho hô hấp khó khăn, tiếng nói nhỏ yếu, người dễ mệt mỏi. Tượng số để tăng cường chức năng của Phế thường là 820. Tượng số 8 thuộc quẻ Khôn, chủ Tỳ thuộc Thổ; tượng số 2 thuộc quẻ Đoài, chủ Phế, thuộc Kim. 820 có ý nghĩa Tỳ Thổ sinh Phế kim, dùng khí của mẹ để bổ hư cho con.

    Phế chủ tuyên phát. Phế chủ da và lông. Điều này nói đến chức năng của Phế khí thúc đẩy huyết dịch đi khắp cơ thể, từ kinh lạch, phủ tạng đến cơ bắp, da, lông… Nếu Phế khí ủng tắc có thể sinh tức ngực, khó thở, nghẹt mũi, ho hen. Nhóm số có tác dụng tuyên phát Phế khí thường là 20 hoặc 2000. Tượng số 2 thuộc quẻ Đoài, thuộc Kim, có thêm ba số 0 ở phần sau nhằm làm gia tăng chức năng hoạt hoá để giải toả sự ngăn nghẹt. Vì Phế chủ da và lông nên tượng số này còn sử dụng trong nhiều bệnh lý về da, chẳng hạn chữa trị viêm nhiễm ở da có thể lấy số 0002, với ý nghĩa vừa tuyên phát vừa dưỡng âm lương huyết. Số 0 ở trước mỗi tượng số có tác dụng thiên về Âm.

    Phế chủ túc giáng. Phế điều thông thuỷ đạo. Theo Đông y, Kim và Thuỷ cùng nguồn. Phế là nguồn trên của nước. Với chức năng tuyên phát, Phế khí làm cho ra mồ hôi thì Phế chủ túc giáng có tác dụng làm lợi tiểu. Nếu chức năng này của Phế bị trở ngại có thể dẫn đến tiểu bị khó, phù nề. Nhóm số để tăng cường chức năng túc giáng, lợi tiểu có thể dùng 2000.60 với ý nghĩa 2000 để hoạt hoá Phế khí, thúc đẩy túc giáng, 60 để tăng cường Thận khí, kết hợp quan hệ Kim (2) sinh Thuỷ (6) sẽ làm lợi tiểu.

    Phế khai khiếu ở mũi. Mũi là cửa ngỏ của Phế. Phế khí tốt thì mũi thông lợi, khứu giác sẽ tinh nhạy. Nếu bị ngoại cảm, phong hàn làm Phế khí không thông có thể gây tắc mũi, chảy nước mũi. Cảm nhiễm dây dưa sẽ dẫn đến ho, phổi bị viêm hoặc viêm mũi mãn tính. Nếu do phong hàn có thể lập số 70. Tượng số 7 thuộc quẻ Cấn, ứng với Dương Thổ và kinh Dương minh đi qua vùng mũi. Tượng số 7 còn là tượng của cái mũi trong thân thể. Trường hợp viêm xoang lâu ngày, phần âm đã bị tổn hại, có thể dùng nhóm số 70.260 với ý nghĩa vừa thông kinh hoạt lạc tại chổ ở mũi, vừa dưỡng âm bổ Thận để củng cố phần hạ tiêu, ngăn ngừa khí nghịch.

    Tỳ. Tỳ thuộc quẻ Khôn, hành Thổ, tượng số là 8. Tỳ có quan hệ biểu lý với Vị. Chức năng của Tỳ có liên quan đến toàn thể hệ thống tiêu hoá và hấp thu của cơ thể.
    Tỳ chủ vận hoá. Chức năng vận hoá của Tỳ bao gồm cả tinh hoa của thức ăn và thuỷ dịch của cơ thể để phân bổ cho các tổ chức, cơ quan. Nếu Tỳ hư, vận hoá bị đình trệ, có thể gây ra biếng ăn, đầy bụng, tiêu chảy, người nặng nề, mệt mỏi. Tượng số để kiện Tỳ, tăng cường vận hoá thường là 380 với ý nghĩa Hoả sinh Thổ, dùng khí của mẹ (Hoả) để bổ hư cho con (Thổ). Quá trình vận chuyển và phân bổ thuỷ dịch cần đến tác động tổng hợp của cả ba tạng Tỳ, Phế, Thận. Do đó khi gặp những bệnh lý thuỷ thấp ủng trệ đôi khi cần dùng đến nhóm số 650.820 hoặc 650.3820. Nhóm số 650 để ôn bổ Thận Dương; 820 hoạt hoá Tỳ Thổ, trợ Phế khí, lợi túc giáng. Tổ hợp650.3820 được sắp xếp theo thứ tự tương sinh của ngũ hành để hoạt hoá và tăng cường sinh khắc chế hoá cho cả năm tạng.

    Tỳ thống huyết. Chức năng này đề cập đến tác dụng thống nhiếp huyết dịch, giữ không cho nó tràn ra ngoài mạch. Những triệu chứng như đại tiện ra máu, thổ huyết, băng huyết, thường chú trọng đến kiện Tỳ nhiếp huyết làm đầu. Tượng số thường dùng là 380.

    Can. Can thuộc quẻ Chấn, tượng số là 4, thuộc Âm Mộc. Can có quan hệ biểu lý với Đởm (túi mật). Đởm có tượng số là 5, thuộc Dương Mộc.
    Can tàng huyết. Can có chức năng tàng trữ huyết dịch và điều tiết lượng máu đến các cơ quan. Nếu Can huyết thiếu có thể xuất hiện hoa mắt, nhìn không rõ, cơ bắp dễ bị co giật. Can huyết thiếu ở nữ giới có thể dẫn đến kinh ít hoặc bế kinh. Tượng số liên quan đến chức năng này thường dùng 640 với ý nghĩa Thuỷ sinh Mộc, dùng khí của mẹ (Thận Thuỷ) để bổ hư cho con.

    Can chủ sơ tiết. Khi tinh thần thoải mái, cơ thể khoẻ mạnh thì chức năng sơ tiết của gan được điều hoà. Trái lại khi tâm lý căng thẳng hoặc có việc tức giận, Can khí bị uất kết có thể dẫn đến tức ngực, đau hông sườn, ăn uống mất ngon… Những ảnh hưởng của Can khí uất kết có thể xem tương đương với những biểu hiện stress của y học hiện đại. Stress có thể làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và tác động xấu đến hầu hết các chức năng của các phủ, tạng. Tượng số thông thoát Can khí có thể dùng 430.20. Nhóm số 430 có tác dụng tiết bớt khí của Can Mộc (4) sang cho con là Ly Hoả (3), một hình thức tả thực ở Can. Nhóm số 20 làm thông thoáng khí cơ toàn thân. Ngoài ra một số trường hợp tức hơi, đau thốn thình lình ở vùng hông, sườn hoặc dạ dày do Can khí uất kết cũng có thể được sơ tiết bằng nhóm số 4000. Số 4 là tượng số trực tiếp của Can, còn là tượng số của những hiện tượng, những triệu chứng mang tính cấp bách và tính động (Chấn ứng với tiếng sấm trong thiên nhiên). Ba số không (000) làm gia tăng cường độ hoạt hoá để sơ tiết Can khí.

    Can khai khiếu ở mắt. Nếu Can đủ huyết mắt sẽ sáng. Can huyết kém, mắt sẽ khô, thị lực kém. Can nóng mắt sẽ đỏ. Can huyết thiếu là trường hợp hư chứng thường dùng 640 với ý nghĩa Thận Thuỷ sinh Can Mộc. Riêng trường hợp mắt đỏ, mắt đau là mộtthực chứng do phong nhiệt có thể dùng 30 hoặc 3000 để phát tán tà khí ở mắt, vì số 3 vừa ứng với mắt vừa ứng với hoả.

    Phủ có quan hệ biểu lý với Can là Đởm tức túi mật. Đởm thuộc Dương Mộc, tượng số là 5. Do đó nếu 640 là nhóm số có tác dụng bổ Can huyết, làm mát huyết thì 650 là nhóm số có tác dụng ôn bổ tinh huyết, ôn bổ hạ tiêu. Về mặt quái tượng, số 4 là tượng số của Chấn, ứng với tiếng sấm của thiên nhiên và phần động nhất của thân thể tức 2 chân. Số 5 ứng với Phong khí, một yếu tố gây bệnh có liên quan với hành Mộc. Do đó một số trường hợp trúng phong trúng gió hoặc cảm mạo gây đau nhức có thể dùng nhóm số 50 để giải phong.

    Thận. Thận thuộc quẻ Khảm, hành Thuỷ tượng số là 6, có quan hệ biểu lý với Bàng quang. Thận đóng vai trò quan trọng trong lục phủ ngũ tạng. Đông y cho rằng Thận chủ về tiên thiên và là nguồn gốc của năm tạng. Thể tạng và thần kinh của con người phần lớn đều do Thận quyết định.
    Thận tàng tinh. Tinh là vật chất cơ bản cấu tạo thành cơ thể con người và các hoạt động chức năng của cơ thể. Tinh được phân thành tiên thiên và hậu thiên. Tinh tiên thiên ở Thận cần được tiếp sức và bồi bổ bằng tinh hậu thiên qua thu nạp ngũ cốc thông qua Tỳ Vị. Thận được phân ra Thận Âm và Thận Dương. Thận Âm là nguồn gốc các dịch thể trong thân người, làm trơn các tổ chức. Thận Dương là nguồn gốc Dương khí, có tác dụng làm ấm và sinh hoá các ngũ tạng. Giữa Thận Âm và Thận Dương cần có sự cân bằng và chế ước nhau để tồn tại. Thường nói khí Dương thường thừa và khí Âm thường thiếu. Âm hư dẫn đến khí nghịch thường gây ra nhức đầu, hoa mắt, mất ngủ, áp huyết tăng…. Trường hợp này có thể dùng nhóm số260. Nhóm số 260 có tác dụng tư Âm tiềm Dương, chuyển hư hoả thượng nghịch trở về Mệnh môn. 260 có thể bồi bổ Âm huyết, bao gồm cả Can huyết, vì Thuỷ là mẹ của Mộc (Thuỷ sinh Mộc). Do đó bổ Thận cũng là bổ Can (hư bổ mẫu). Trường hợp cả Âm Dương đều suy kém thường xuất hiện các triệu chứng tinh thần mệt mỏi, đau lưng, tứ chi lạnh, hay tiểu đêm… có thể dùng nhóm số 650.3820. Nhóm số này có thể vừa bổ Thận Dương (650) vừa hoạt hoá khí cơ, ôn bổ toàn thân (3820).

    Thận chủ thuỷ dịch. Các loại huyết dịch cấu tạo hơn 70% cơ thể con người. Sự vận chuyển và thay thế thuỷ dịch chủ yếu dựa vào tác dụng khí hoá của Thận Dương. Thuỷ dịch do dạ dày thu nạp, Tỳ vận chuyển, thông qua Phế Thận để chuyển đi các nơi. Riêng các chất độc, chất thải được đưa xuống Bàng quang và thải ra ngoài. Việc thay thế thuỷ dịch có liên quan đến hầu hết các tạng phủ nhưng quan trọng nhất vẫn là Tỳ, Phế, Thận. Vì vậy tượng số thường dùng để bổ thận dương và kiện Tỳ hoá thấp với nhóm số 650.3820 cũng được áp dụng cho vận hành thuỷ dịch.

    Thận nạp khí. Theo y học truyền thống, Phế chủ khí nhưng Thận nạp khí vì nguồn gốc của khí là ở Thận. Do đó những trường hợp khí nghịch làm ho hen, suyển tức, hô hấp khó khăn cần phải bổ Thận, nạp khí. Tượng số thường là 260 tức Phế Kim sinh Thận Thuỷ. Nhóm số 260 vừa bổ hư ở Thận lại có thể tả khí thực ở Phế và hoạt hoá khí cơ toàn thân hướng về Thận.

    Thận chủ xương cốt, sinh tuỷ, Thận khai khiếu ở tai, biểu hiện ở tóc. Do đó những bệnh chứng có liên quan đến xương cốt, đến tai đều có liên quan đến Thận. Thận tàng tinh, tinh sinh Thuỷ. Nếu Thận tinh dồi dào sẽ là một sinh hoá tốt cho xương. Nếu tinh kém, xương sẽ yếu, dễ gảy, răng dễ bị hư hoại, tóc cũng thô, xấu. Tinh ở đây bao gồm cả tiên thiên lẫn tinh hậu thiên nên vẫn cần có sự hổ trợ khí hoá của nhiều tạng phủ khác nhau. Dãy số điều trị có thể gồm nhiều tượng số có tác dụng tương sinh như 20.650.30.80 hoặc650.3820.

    Bàng quang là phủ có quan hệ biểu lý với Thận, có cùng tượng số với Thận. Triệu chứng bệnh lý thường gặp ở bàng quang là tiểu khó, tiểu rát do nhiễm trùng đường tiểu, do sang chấn hoặc do sỏi. Nhóm số để làm phấn chấn Thận Dương, thúc đẩy khí hoá Bàng quang có thể áp dụng 2000.60 hoặc 2000.650. Vì Phế chủ túc giáng, Phế điều thông thuỷ đạo nên tượng số 2 thuộc Phế Kim được phối hợp với 6 của Thận Thuỷ để tăng cường khí hoá và lợi tiểu. Đối với trường hợp bị sỏi, sỏi Thận, sỏi bàng quang hoặc sỏi mật, ngoài việc hoạt hoá và tăng cường khí hoá cục bộ, LPTS còn phối hợp với nhóm số 720hoặc 70. Số 7 là tượng của Dương Thổ ứng với đá, sỏi. Nhóm số720 có tác dụng tả khí thực của Cấn Thổ, làm cho sỏi bị tiết khí, hao mòn… Hoạt hoá hoặc tiết khí đều nhằm áp dụng quy luật “tụ lại thành hình, tán ra hoá khí” để tán sỏi và tiêu sỏi. Nhiều bệnh án đã được phổ biến ở Trung Quốc cho thấy LPTS chữa được nhiều trường hợp sỏi có đường kính trên dưới 1cm. Ngoài ra dùng LPTS số để tăng cường khí hoá ở Thận và bàng quang sẽ ngăn ngừa được việc kết tụ sỏi sau này.

    Chống chỉ định
    LPTS là một phương pháp trị liệu bằng khí công. Công phu khí hóa trong LPTS không phải do một người có công năng khí công cao thực hiện mà do chính bệnh nhân tự điều chỉnh lấy trường khí của mình. Do đó cần có thời gian để việc chữa trị đạt được hiệu quả. Vì vậy không nên dùng LPTS để điều trị các trường hợp cấp cứu hoặc các chứng viêm nhiễm nặng. Ngoài ra không áp dụng LPTS cho những bệnh nhân mất trí nhớ, hay quên, dễ nhầm lẫn, và những người không đủ độ minh mẫn cần thiết để ghi nhớ các con số.

    Khí công cũng như Dịch học là những lý thuyết rất cổ xưa. Tuy nhiên cách vận dụng nó vẫn không ngừng được phát huy qua các thời đại. Phạm vi bài viết, những đối ứng về quái tượng và lý luận về nhóm số chỉ có tính cách gợi ý. Với phương châm vì lợi ích cho người bệnh mong rằng nhiều thầy thuốc y học dân tộc sẽ tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng LPTS như một liệu pháp bổ sung, nhất là các thầy thuốc ở vùng sâu, vùng xa, trong điều kiện thuốc men và thiết bị chuyên môn còn chưa được dồi dào.

    Bài viết của Lương y VÕ HÀ

    ( Hoa Hạ sưu tầm và lưu lại )
  2. Vở học trò : PHẦN 5 *** PHONG THỦY THỰC DỤNG

    B / Tự mình phân tích và hóa giải phong thủy nhà mình ."

    *** BÀI LÀM : Những việc Hh đã làm cho cổng Ngõ và tay Long tay Hổ :

    Sau khi đã quan sát ngoại cảnh chung quanh nhà tìm được chính khí và nhận định sự hòa hợp hay chống đối của Tam Tài thiên nhân địa Hh đã hóa giải
    1/
    Ác sát cây trụ đèn đè bóng từ hướng Đông áp lên mái nhà . làm ảnh hưởng Cấn cung . Cung Cấn là con trai Út, tọa Đông Bắc được khí đương vận Bát Bạch nên đã hóa giải được ác khí nầy .Sẽ giải kỷ hơi ở phần sau .
    2/ Trồng ngoài vỉa hè một cây đu đủ và vài cây có dáng cao đẹp tạo một đầu rồng . Vì Cổng Ngõ mở thiên môn Tả , TL chiếm 1/4 và BH chiếm 3/4 chiều ngang nên cho Rồng vô sâu tận Chính Môn , kết hợp tranh treo tường Mầu xanh, đen cẩn hình bầy ngựa từ cung Tây Bắc quay đầu về Chính Môn .
    3/ Bên BH Cũng dùng những chậu kiểng, trồng cây kích hoạt cung tài . Dùng chậu Vạn Niên Thanh và 5 chậu kiểng nhỏ ,
    Và dùng mầu sắc đặc trưng của hai hành Kim và mộc , từ bên trong cột đèn xếp dài theo vách ngăn mầu trắng khoảng 1m.
    Vậy là Hh đã có tay Long tay Hổ quy triều của riêng căn hộ . Đặt thêm một bóng đèn trong sân để thu hút khí .
    3/ Treo màn chắn gió mưa mầu xanh đen, đồng thời cũng giới hạn bớt tay Hổ bằng cách chừa một khoảng trống làm cửa sổ, mở đều hai bên cánh cửa rào . Thầy dạy cửa sổ phải mở đều hai bên không được mắt nhắm mắt mở ...
    4/ Đặt một chậu cá cảnh bên Bạch Hổ nhưng không có nước Thầy dạy thủy lấy suy làm vượng ..
    5/ Treo một lồng đèn : mầu đỏ của Cửu Tử và số 1 Lạc Thư hành thủy sinh ở 1 Cửu tử mà thành ở 6 chậu kiểng bên tay Hổ . Cấn Cung ở ô số 3 đang bị vô khí , Chính khí thủy sinh mộc hành , mộc sinh hỏa Cửu tử lưu niên, hỏa sinh thổ Cấn cung . Vậy là trời đất giao hòa , Cung Cấn được thông khí .
    6/ Số 6 hành thủy + mầu xanh đen của màn chắn hành thủy làm cho thủy khí của cái hồ cá để không được vương . Thủy sinh kim của Tay Hổ , sinh Đoài kim của cung Phi cha con ông chủ nhà ..thế là hai KIM MỆNH được tương sinh dù là sinh xuất, Vã lại, nửa năm đầu là khí tư thiên, và xuất cái không vô khí thì không còn là không nữa .THIÊN NHÂN ĐỊA hóa hợp nhau .
    ** 7/ Kim của cây cột điện bên ngoài bị tiết khí và hủy diệt theo con đường vô tình chạy ngang trước ngõ. Sáng theo măt trời đi Tây chiều theo Tay Long của khu dân cư rẽ trái về Đông không còn tụ khí tàng phong nơi cột điện khắc chế Cấn Cung .
    Hh chỉ mới thấy được có bao nhiêu cái không tốt, và cách hóa giải có gì không đúng nhờ Thầy chỉ dạy thêm . Tạ ơn Thầy .

    Lần sau Hh sẽ luận Nội Trạch .

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]
  3. QUẺ AN TỊNH & TÂM PHÁP KHÔNG THỦ ĐẠO
    Người viết : Hoa Hạ

    6/ Lời Thầy dạy : " Thần báo tại hào động "
    Quẻ an tịnh là gì? Nếu gieo được một quẻ an tịnh thì có luận quẻ được không?

    Trước khi trả lời câu nầy HH mời các bạn đọc một câu chuyện ngăn ngắn
    Tâm Pháp Không Thủ Đạo
    Các võ sư Không Thủ Đạo trong các buổi giảng huấn thường hay nói tới câu " Mizu No Kokoro" nôm na là Tâm phẳng lặng như mặt nước.( A Mind like Water)

    Thật vậy hảy quan sát mặt nước trong một trong một cái ao hay hồ; nếu nước trong vắt và an tỉnh thì mặt hồ nước sẻ phản chiếu mọi sự vật chung quanh như một tấm gương, trái lại nếu nước bị giao động thì sự phản chiếu bị sai lệch.

    Trong sự luyện tập Không Thủ Đạo, môn sinh phải tưởng tượng tâm của mình phải an tỉnh như mặt nước của hồ, thấy tất cả sự vật chung quanh một cách chính xác như thị.Cũng như mặt nước của hồ phản chiếu mọi sự vật chung quanh trong chu vi của hồ nước, tâm của môn sinh KTD cũng phải như thế.Và khi đạt được trạng thái yên lặng tâm của môn sinh sẻ cảm nhận thức mọi sự việc thích đáng với ngoại cảnh và như thế sẻ cảm nhận được tất cả cử động của đối thủ.

    Nếu môn sinh không tập trung tinh thần để tâm bị giao động giống như ném hòn đá xuống mặt hồ nước, sự an tỉnh của hồ nước sẻ bị giao động không còn phản chiếu sự việc như thị mà sẻ bị thay đổi. Môn sinh sẻ không còn thấy hảy nhận thức được đòn thế của đối thủ và thời gian phản ứng (thủ hay phản công) sẻ bị chậm đi.
    Trích từ chanquang -
    ------------------
    vậy, Quẻ an tịnh là gì? Nếu gieo được một quẻ an tịnh thì có luận quẻ được không?
    Quẻ an tịnh là quẻ không có hào nào động cả.
    Khi gieo quẻ các bạn hãy gieo lúc tâm hồn mình nếu không được phẳng lặn như mặt nước thì cũng đừng quá phân tâm nghĩ ngợi nhiều chuyện, hay câu hỏi không rõ ràng, hỏi một việc mà lòng lại nghĩ đến chuyện khác...
    Bởi vậy, gieo quẻ mà được một quẻ an tịnh, nếu chiêm về gia trạch thì mừng vì đó là nhà cửa đươc bình an, chiêm về tình duyên mà được quẻ an tịnh thì sắt cầm hoà hiệp, Nghĩa là tuỳ theo câu hỏi .... nhưng nếu vấn chuyện mà gặp quẻ an tịnh thì không nên giải vì có thể lúc gieo trong lòng không được an, hay nghĩ ngợi lung tung nhiều việc, hay người gieo không thật lòng chiêm hỏi nên quẻ ra mù mờ ,quẻ không linh ứng .Tốt hơn là nên gieo lại.
    Nếu bắt buộc phải giải quẻ, chúng ta phải xét xem có hào ám động không ? nếu có hào ám động thì đựơc ,có thể giải, vì thần cũng đã báo tại hào nầy .Các bạn nên nhớ " nhật thần xung hào có hai trường hợp: hào đó vượng thì gọi là ám động ( có khả năng hoạt động như hào động ) và hào đó hưu tù vô khí hay suy nhược thì gọi là nhật xung " và mời các bạn đọc lại câu nầy trong PPL của Thầy :
    PPL Tr. 27 - Phần Ðộng Biến – Ví Dụ 1 :Ngày Thìn tháng Thân , chiêm Quẻ, quẻ đắc Thủy Thiên Nhu . . .
    Lưu Ý :

    ” 5: Hào Tịnh là hào như đang Ngũ hoàn toàn không đi sinh, không đi khắc những hào khác trong quẻ. Nhưng khi hào Tịnh trở thành hào Ám Động, xung Khai, Tịnh Khởi, Hiệp khởi thì như đang ngũ mà bị đánh thức dậy để lại có thể đi sinh hay đi khắc lại những hào khác trong quẻ y như hào Minh động vậy. Chỉ khác là không phải Minh Động cho nên không Biến . Vì vậy hào Ám Động không bị ảnh hưởng sinh khắc của hào biến. ” -

    Thân mến
    Hoa Hạ
  4. [​IMG]


    VÒNG HOA CHO ANH **Hết

    Và Em đã không quên, ba mươi năm sau Em cũng vẫn chưa quên..

    Em Đến Nhà Anh Lần Thứ Ba.

    Vâng, ba mươi năm sau....
    Em đến thăm Anh lần thứ ba.

    Năm đó sau bao nhiêu biến động thăng trầm, gia đình Em được đoàn tụ - gặp nhau hết không thiếu một người nào dù ở Việt Nam hay về từ nước Mỹ.Như một sự sắp đặt của Định Mệnh, đó lại là tháng Năm, còn hai ngày nữa là đến kỷ niệm 30 năm ngày Anh mất và sinh nhật lần thứ 57 của Anh. Như có một động lực nào vô hình mà mạnh mẽ lắm thúc giục Em phải làm...
    Em hỏi thăm đứa em thứ Tám:
    - Em nói em học chung với Đan Tâm, em gái anh Đông hả Oanh?

    - Dạ, hồi đó nó với em học chung, nhà nó ở dưới kia kìa. Đường xuống Lăng Hoàng Gia.
    - Đi, em chở chị xuống đó nha.
    - Chi vậy?
    - Đi thăm gia đình ảnh, ngày mai là ngày giỗ của ảnh mà.

    Sau khi ra chợ mua một trái sầu riêng và thêm một ít trái cây (như hàng năm Em vẫn làm như thế còn có thêm bình hoa Cúc tím nữa), một bó nhang trầm để kỷ niệm ngày Anh mất, viết trên tấm thiệp một dòng:
    - "Em thắp cho anh ba mươi nén hương để kỷ niệm ba mươi năm ngày Anh nằm xuống"...
    và một giỏ hoa Hồng đủ mầu, trên.tấm thiệp thứ 2 kèm theo ghi vài chữ:
    -"Em đốt cho Anh 57 ngọn nến để mừng sinh nhật lần thứ 57 của Anh."

    Rồi hai chị em đi xuống đến nhà Đan Tâm, Em gặp Bác gái. Bác thật là phúc hậu nước da trắng người điềm đạm không mập không ốm, hơi thấp và tóc cũng bạc trắng. Sau khi hỏi thăm đôi điều và sau khi nghe Em nói là xin Bác cho Em đốt nén nhang thăm Anh thì Bác hỏi:

    - Cô là gì của nó mà thăm nó?

    - Dạ Con là bạn của anh Đông. Con ở xa lắm lâu lâu mới về quê một lần, con nhớ là sắp đến ngày giổ Anh nên nhân dịp về quê con đến thăm anh Đông.

    - Nó chết đâu có đem xác về được đâu...thờ là thờ vậy thôi, con muốn thăm nó thì ra nhà ở Bình Xuân, bàn thờ của nó ngoài đó. Còn đây là nhà của em nó thôi.

    Rồi Bác chỉ đường cho Em đi đến nhà ngoài Bình Xuân. Nhìn Bác Em nhớ Anh mà cũng thương Bác quá, thương cái cảnh tre già khóc măng non. Em rươm rớm nước mắt nhớ lời Thanh nói
    -"Nghe tin ảnh chết. Má Em khóc kể: Chị học nghề nầy mà anh Tư bị thương không ai cứu...", và Anh ơi, em thấy Bác cũng quay mặt đi.

    Em cám ơn Bác, chào Bác đi về.

    Oanh nói với Em:

    - Đi nữa hông chị? Nhà ở Bình Xuân thì em không biết, thôi bây giờ mình về đi, mai chị đi với anh Năm.

    Nhưng Em đâu đợi được đến ngày mai, như có một cái gì đó lạ lùng lắm thúc giục Em phải đi liền và đi tức thời, không đợi được. Em về rủ thằng em thứ Năm nó cũng biết Anh và nó đồng ý chở Em đi ra Bình Xuân.

    Từ Chợ Gò Công, qua Lăng Hoàng Gia xuôi ra bắc Cầu Nổi, gần đến bến phà bên tay phải là đồn Bình Thạnh Đông, chưa tới đồn, phía bên tay trái có con lộ đất đỏ nho nhỏ, dọc hai bên đường rải rác có những cây Phượng hồng đang đua nở... đó là con đường vào Bình Xuân, nhà của Anh.

    - Đây nè chị Hai, chắc cái tiệm nầy, mình vô hỏi thăm rồi gửi xe luôn.

    T hỏi cô chủ tiệm:

    - Cô ơi phải con đê nầy vô nhà của Đan Thanh, Đan Tâm ...không cô?

    - Nhà của Ông Nghệ phải không? Ba Đan Tâm... Dạ đúng rồi. Anh đi vô bờ đất đó rồi qua cái đê cao đó. nhà của Đan Thanh ở dưới mé sông.

    Em và T xin gửi chiếc xe ở đây rồi xách đồ đi theo lời chỉ, đi theo bờ nhỏ băng qua hai ba thửa ruộng săm sắp nước, trước mặt là con đê cao và đứng trên bờ thấy nhà Anh ở sát bờ sông Soai Rạp. Nhìn qua bên kia sông là phà Cầu Nổi lên Sài Gòn.

    Trước mặt Em là căn nhà gạch có khoảng sân tráng xi măng rất rộng, tay trái là một cây rơm và rải rác có vài cây ăn quả lẫn cây kiểng, nhà bếp nằm vô trong và sát bờ sông.

    Em và T hồi hộp đi vô nhà. Cửa nhà trên đóng kín, chỉ có gian bếp là cửa mở.

    T gõ cửa.... và một người đàn ông khoảng trên dưới 60 ra chào. Em hỏi :

    - Thưa anh, đây có phải là nhà của Ba Mẹ Đan Thanh Đan Tâm Không anh?
    Anh gật đầu và nói
    - Phải. Cô là ai?
    - Dạ em là bạn của Đan Thanh và Anh Đông. Sáng nay em có thăm Bác và gặp Bác ở nhà Đan Tâm. Em được Bác chỉ đường vô đây để thăm anh Đông

    Khi nghe nói Em có ý định đốt nhang thăm Anh thì anh Ba từ chối - anh ấy là anh thứ ba của Anh tên là H trước kia là giáo sư dạy ở Sài Gòn.Trong nhà chỉ có mình anh, không thấy Đan Thanh. Anh nói Thanh đã có chồng và đang sống trên Sài gòn. Anh không tin là ba mươi năm sau bạn gái của Anh vẫn còn có người nhớ mà đi thăm Anh nên ảnh cứ nói hoài. "... Lâu quá rồi... Bạn nó thì thôi vô số biết ai là ai...". Em chới với định từ giã ra về rồi, trong lòng thì thật buồn lắm, nhưng biết sao hơn Em nói:
    - Anh Ba nói vậy thì thôi, Em xin chào anh Em về. Anh cho Em nhắn lời thăm Đan Thanh và nói giúp dùm Em là Em có đến thăm Thanh và anh Đông mà không gặp. Thưa anh Ba em về, cho Em kính lời thăm Bác gái mai Em đi CT rồi chắc không có dịp về nữa.

    Em vừa đứng dậy thì bổng Anh ấy nói..

    - Cô nói vậy thì...thôi để tôi đưa lên nhà cho cô thăm nó. Anh đi trước, ra ngoài sân mở cửa nhà trên mời Em vào bằng cổng chính.
    Em nói với anh Ba:
    - Năm nào đến ngày giỗ anh Đông Em cũng có chừng nầy trái cây, không có chi nhiều anh nhận cho Em vui.....

    Trước mặt Em là một bàn thờ như mọi cái bàn thờ của người dân Việt. Gỗ nâu đánh verni có chạm cẩn ốc sa cừ, phần trên thờ Phật, bàn bên dưới để hai chân dung người quá cố. Một cái hình Em đoán là của bác trai và một khung hình.....Anh đây sao? Trong hình là một thanh niên với chiếc áo chemise trắng, hình chụp lại không lâu nhưng đã hơi mờ....

    Nghe kể lại, Đại Uý Lộc đã dẫn quân chạy băng băng vô rừng không một phút giây ngừng nghĩ với một quyết tâm lạ lùng "Phải vào An Lộc" mới được. Còn Em, hôm ấy Em cũng làm theo một mãnh lực thôi thúc trong lòng, phải đi Bình Xuân, Em phải đi đến nhà Anh ngay hôm nay không đợi đến ngày mai được, ngày mai Em phải về CT và sẽ không có dịp nào như thế nầy nữa...
    Và bây giờ hơn ba mươi năm mình đã gặp lại nhau!! Không phải, Em đã đến thăm Anh. Nhưng hình nầy... không giống Anh của cái thời có Em. Tấm ảnh nầy chụp lại một hình thời trung học, rất trẻ, phong độ, nho nhã của một thư sinh trói gà không chặt chứ không phải một sĩ quan chỉ huy Đại Đội của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Em hỏi Anh Ba :

    - Bàn Thờ của Bác trai ở đâu Anh Ba?
    Anh H trả lời:
    - Bàn thờ của nó chung với ba đó.

    Anh H đem cho Em một ngọn đèn dầu nhỏ để đốt nhang. Em xếp hai tấm thiệp, cặp đèn cầy trắng, xếp giỏ hoa Hồng trước tấm ảnh của Anh. anh H đứng ỡ đầu một cái bàn dài nhìn Em đốt hết một bó nhang, cắm từng cây vào tất cả chỗ thờ trong nhà, số còn lại Em đến bàn thờ chính khấn nguyện rồi ghim hết vào lư hương.

    Mùi trầm hương bốc lên nhanh, lan tỏa...... Anh lặng lẽ nhìn Em đứng bên bàn thờ, bất động nhìn đăm đăm khung ảnh của Anh. Anh lặng lẽ nhìn Em tựa đầu bên hông bàn thờ mà khóc, âm thầm, lặng lẽ. Chiếc khăn tay Em lau bụi khung hình của Anh hôm nay, Em sẽ giữ mãi để kỷ niệm ngày mình đối diện với nhau.
    Em nhìn Anh thêm lần nữa rồi quay ra, xuống nhà sau.

    Anh H vẫn còn ngồi đó, trên đầu một cái bàn dài và nhìn Em. Em cười nhẹ khi đi ngang qua anh Ba mà nước mắt còn ướt mi.

    Ngồi xuống bàn anh H ngập ngừng:

    - Có những chuyện mà nếu bây giờ mình không làm, không nói thì sau nầy sẽ hối hận.

    Em nhìn anh ấy ngầm hỏi. Anh H nói tiếp:

    - Tôi thành thật xin lỗi Cô. Lúc đầu tôi đã không phải với Cô. Tôi không nghĩ và cũng không ngờ được...

    - Không có gì đâu anh, anh e ngại cũng đúng thôi... Em hiểu mà ...

    Em nói với anh H:

    - Hình của anh Đông còn trẻ quá, hình như chụp hồi còn trung học...

    - Vậy chứ đâu có dám để mấy tấm hình kia...đốt hết rồi...

    "Đốt hết rồi". Em đốt hết rồi, gia đình của Anh cũng đốt hết rồi... Chân dung của Anh bây giờ chỉ còn trong tim của những người yêu thương Anh. Nhưng Anh chưa tan biến đâu, không mất đâu. Em vẫn còn thấy Anh rõ lắm mà...

    Thay lời kết

    [​IMG]

    Khi viết lại chuyện riêng của mình vào đây, Hoa Hạ chỉ có một ý nghĩ duy nhất là đem Anh - đem tên tuổi Anh về với đại gia đình mình. Đây là nhà Anh - là trại gia binh của Anh mà !! Anh nói Hoa Hạ là người yêu sau cùng của Anh, là vị hôn thê của Anh nên chỉ có một mình Hoa Hạ là có thể làm được chuyện nầy, thực hiện mong ước cuối cùng cho Anh mà thôi.

    Anh hiền lành dễ thương thế nầy sao cái chết của Anh lại tàn khốc như vậy hỡi Trời! Anh không những chết một lần mà năm bảy lần, rồi tan biến vào hư không... Hoa Hạ không cam tâm, không đành lòng, không muốn Anh không cửa không nhà, không có cả mảnh Quốc Kỳ phủ ấm như Anh đã từng viết:
    "Nếu anh chết xin em đừng khóc, cờ tổ quốc mầu vàng đẹp lắm, ba sọc đỏ ba miền dân tộc, phủ lên hình hài của đứa con, thế là anh mãn nguyện lắm rồi.".

    Bây giờ Anh đã bằng lòng chưa? Người tình trong cõi hư vô của cô học trò mang tên loài hoa đỏ - Hoa của mùa Hè khói lửa 1972 - hoa có mầu đỏ alpha Võ Bị, mầu của sư đoàn được ân thưởng Bảo Quốc Huân Chương. Ngày xưa thì Em không biết, bây giờ thì Em biết rồi ...Đó là Sư Đoàn 5 với lời thề của Danh Tướng Lê Văn Hưng "TỬ THỦ BÌNH LONG - AN LỘC"
    Bây giờ Em đã đem Anh về với mầu cờ, sắc áo, với đồng đội của Anh và với "Sư Đoàn ngon lành lắm" của Anh rồi đó. Em như thấy Anh cười, nụ cười thật đẹp...
    ... Anh đi nhen Em...
    Dạ Anh đi đi, đi về cõi hư không đầy huyền thoại của mùa Hè đỏ lửa 1972, nhưng ở nơi đây sẽ muôn đời giữ mãi, muôn đời lưu lại dấu chân Anh...

    Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 74 & 47 năm ngày mất

    Cố Đại Úy Nguyễn Thành Đông
    Đại Đội Trưởng Đại Đội 1-

    Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh
    - KBC 4441

    [​IMG]

    Attached Files:

  5. [​IMG]




    Em đứng đó mùa mưa về vương mắt
    Con đường dài, lá thấp dưới hàng mi
    Mưa trên vai, mưa lạnh gót chân hài
    Mưa qua Phố thương ngày chưa tiếng khóc
    Trường ngói đỏ năm xưa còn đi học
    Tóc buông mềm hoa tím ngỡ ngàng thơm
    Giấy trắng mực xanh tay nhỏ ngón hồng
    Mùa mưa đến áo bay trong giọt nắng
    Có những mùa mưa đi về trên lối vắng
    Cô học trò má thắm bỗng bâng khuâng
    Ôi vòng tay ôi đôi mắt ngại ngần
    Đường tình ái kết bằng hoa mới nở
    Quân trường xa đợi chờ trong hơi thở
    Hoả châu vàng trút nhớ sáng tàn đêm
    Ba lô bạc mầu ai khắc đậm tên em
    Về khu chiến qua miền quen lửa đạn
    Có những mùa mưa, mưa đổ về suốt sáng
    Thành phố âm thầm như dáng đồi non
    Vòng kẽm gai đau buốt, đá sỏi tròn
    Em thao thức lệ mòn như giọt nến
    Mùa mưa đi, rồi mùa mưa lại đến
    Duyên không thành còn thương mến nhiều không?
    Tiễn người đi sầu giăng tím cả lòng
    Em đứng đó, mùa mưa về vương mắt
    HH
    [​IMG]

    Anh thân yêu,

    Thôi như vậy Em cũng mừng. Em cũng chúc cho Anh rũ sạch nợ trần, tu hành đắc đạo, nhưng vui nhất là Anh được siêu thoát Lời nguyện cầu của Em đã được đấng thiêng liêng chấp nhận " Anh luôn được an lành trên đỉnh bình yên".

    Anh thân thương,

    Quyển nhật ký đã mất, hình Anh Em cũng không thể tìm lại được nhưng nếu Em biết vẽ chân dung, Em có thể họa lại dễ dàng, . Và bây giờ Em vẫn có thể viết lại quyển hồi ký ghi lại hết những gì quan trọng đã xảy ra trong quá khứ, chắc chắn, nó không có được những tâm tư, những xúc cảm chân thành như nguyên thủy, nhưng vẫn gói ghém hết tâm tư tình cảm chất chứa trong lòng Em. Còn thư Anh thì Em đã đọc thuộc lòng những lá "dễ thương" nhất. Anh tuy lãng mạn nhưng rất đứng đắn, viết thư cho Em tuy rất chân thành, trìu mến nhưng lịch sự, không dùng những từ ngữ thái quá bao giờ.

    Từ ngày Anh đính ước với Em bằng chiếc nhẫn của Anh và bằng câu dặn dò: "Chờ Anh ra trường về làm tiệc lớn dẫn Em đi theo luôn", thì đêm đó sau khi chia tay, về đến trường Anh gửi thư cho Em, Anh đã thay tiếng "Phượng mến" bằng tiếng "Phượng yêu" hay "Em yêu của Anh", Anh cũng đã thay tiếng bé Phượng bằng tiếng Em của Anh.. và chấm dứt những câu hỏi bằng: Phải không Em yêu?...Rồi kết thúc lá thư bằng hai tiếng "Hôn Em".

    Bởi vậy nghe nhạc Nhật Trường nhớ Anh thôi là nhớ... và nghe bài hát "Tình Thư Của Lính", "Tâm Sự Người Lính Trẻ", hay "Sắc Hoa Mầu Nhớ" của Nguyễn Văn Đông ...Em mới thấy hết cái lãng mạn của ông lính NTĐ...mà người Gò Công thì " ...
    Ngày xưa trai Gò Công và gái Đà Lạt đã tạo ra thiên tình sữ "Đồi Thông Hai Mộ" có một không hai. Chàng trai trong thiên tình sử nầy là người Gò Công lên Đà Lạt học trường Võ Bị...

    Cám ơn Anh, Đông ơi, Em cám ơn Anh đã cho Em một tình yêu cuối cùng thật đẹp. Để Em có được một tình yêu đầu đời không thể lãng quên. Em như nghe Anh trả lời: "Mình là người Gò Công mà!", hồi đó Anh hay nói như vậy lắm. Vâng, mình là người Gò Công, mà Trai Gò Công thành thật chung tình, gái Gò Công hiền hoà chung thủy. Tình người Gò Công mộc mạc đơn sơ nhưng nồng thắm như những trái sơ ri chín đỏ, có những bông nho nhỏ tím buồn....thì dù có xa nhau đến đâu cũng không làm sao quên được.

    Và Em đã không quên, ba mươi năm sau Em cũng vẫn chưa quên..

    HH

    Attached Files:

  6. [​IMG]

    Anh thân yêu,

    Lịch sử đã sang trang. Quãng đời đẹp nhất của Em cũng đã đóng lại.
    Trường Cán Sự Điều Dưỡng Cần Thơ cũng đã thay tên, trở thành "Trường Bổ Túc Y Dược Trung Cấp".
    Từ đó Em cũng đã cuốn theo dòng đời mà trôi nổi, lênh đênh theo "nhu cầu công tác " : Trại Nội Khoa B/V Trà Vinh, Công ty Dược Vĩnh Trà, Phòng Xét Nghiệm Trạm Vệ Sinh Phòng Dịch & Da Liễu, nghĩa là nơi nào thiếu người và chưa được ổn định thì họ điều chúng em về ổn định rồi lại đi ..... Lâu lắm rồi Em cũng không viết cho Anh. Nhưng dù có đi bốn phương tám hướng, nhưng

    Chưa bao giờ Em thôi nhớ về Anh
    Dẫu trong mơ hay giữa ngày vội vã
    Những cái mất bây giờ thành xa lạ
    Cố giữ cái còn theo nắng Hạ mưa Đông

    Ba tấm hình của Anh, Em chưa đốt nhưng cũng không giữ được, lần đó Em đem về phòng cất trong bìa của quyển nhật ký. Đám giỗ đầu của Ngoại, Em về Gò Công đem theo định để lại nhà luôn, chung với nhiều lá thư của Em viết cho Anh mà không gửi - vẫn dán kín lại và dán cả tem - Những lá thư Em viết trong trại bệnh, trong những cas trực đêm rỗi rảnh hay trong những lúc bất chợt nghĩ về Anh mà không có quyển Nhật ký. Lần ấy gồng gánh đem về nhà đủ thứ " nhu yếu phẩm" vì dù sao Em cũng thuộc thành phần công nhân viên còn đi làm nên có được hưởng những nhu cầu về nhu yếu phẩm hơn là thường dân một chút, nên rán gom góp đem về nhà làm đám giỗ Ngoại ..nào ngờ khi qua phà đón xe (hồi ấy đi xa là cả một sự khó khăn, phải chen lấn dành nhau mua vé, Em bị giựt mất hai túi xách...mất cả quyển nhật ký, mất hết thư từ và hình của Anh !! Mất hết rồi. Em ngồi tiếc ngẩn tiếc ngơ.!!

    Anh biết không, hồi mới ra trường chỉ số lương tập sự là 350, vừa mới bổ túc văn bằng Tú Tài và giấy tờ để nhập ngạch lên 380 thì "đổi đời" lương hướng toàn bộ bị giảm chỉ còn lãnh 1/2 lương. Em sống một mình gói ghém lắm thì tạm đủ, muốn giúp Mẹ thay Ba nuôi con dại và ba đấng sinh thành: Cha ruột và Ba Mẹ chồng, tất cả gia đình hơn 10 người chỉ trông vào hai mẹ con là có công ăn việc làm thôi .

    Loan có chồng. Yến bệnh chết. Mấy đứa Em từ thứ 5 trở xuống chẳng đứa nào thi đậu nổi cái bằng trung học, ba thằng em trai học không được nữa và đi thanh niên Xung Phong.Tội nghiệp thằng Út! Thằng em trai út thấy Mẹ lên thăm, ôm khóc như mưa, đêm đó hai mẹ con ngủ chung trong chiếc vạt nhỏ, láng sát bìa rừng, phần muỗi cắn, phần thì nó cứ ôm cứng lấy Mẹ ...đòi bỏ về ..ngủ gì được hai mẹ con khóc đến sáng. Và nó cũng chỉ được đi thăm duy nhất có một lần ...

    Ba em từ hôm thăm Em ở Cần Thơ, về đến nhà thì bị gọi tập trung rồi đi đâu mất luôn, ở nhà không biết tin tức đâu mà thăm nuôi. Hơn năm sau gia đình mới có tin về: Ba em đang ở trại Vĩnh Phú Hà Nội. Hơn bảy năm trời ...mà gia đình, đại diện là Mẹ chỉ đi ra Hà Nội thăm Ba được có một lần.Vâng, một lần duy nhất. Lần đó có người thăm thân nhân ở chung trại với Ba, gặp Ba, Ba nhắn được có một câu:
    - "Chị nói vợ tôi ráng đi thăm tôi một lần, rủi có chết cũng còn nhắm mắt .." Vì hơn ai hết, Ba hiểu vắng Ba bao nhiêu nhọc nhằn bươn chải vì sinh kế, nuôi cha mẹ, nuôi con ...đã trút xuống đôi vai của Mẹ. Mẹ đang là cô giáo của trường tiểu học thị xã, bị điều về tận một quận cách đó hơn 12 km. Ngày ngày đạp xe đi dạy trong cái nóng của miền Nam, hay trong cơn mưa tầm tã và trong những cơn gió lồng lộng vùng ven biển thổi giật từng cơn .

    Bao nhiêu đồ đạc trong nhà cứ tuần tự thay Mẹ thay các con mà đi thăm Ba trong những chuyến được gửi đồ. Trong xóm có người quen ra Hà Nội thăm chồng, Mẹ năn nỉ đem dùm cho Ba một gói nhỏ lương thực nhờ vậy mà thím gặp được Ba. Thím Năm vừa nói vừa khóc: Anh Ba ảnh ốm nhách đen thui tui nhìn không ra. Ảnh bịnh nặng lắm chị có cái gì bán được bán hết đi thăm ảnh ...nhất định chị phải thăm ảnh một lần mới được. Và với sự giúp đỡ ít nhiều của bè bạn, lối xóm, và cái gì bán được bán hết. Mẹ cùng vài người bạn chung "xuồng" ngược lên miền Bắc, ra tới Vĩnh Phú thăm Ba.

    Chưa thăm thì buồn nhưng chưa khóc. Thăm về rồi khóc bảy ngày chưa nguôi .

    Đó Anh, đại khái nếp sinh hoạt gia đình Em là như thế.

    Và cả nhà dấu Ba, không dám cho Ba hay Loan đã chết.
    Loan - bạn của Đan Thanh em gái anh đó, nó cũng chết rồi. Chết năm 1978. Hôm đó, Em vừa được điện khẩn của Má cho hay Ngoại chết, vừa về đến đầu ngõ thôi thì gặp ông Nội, Nội mếu máo nói với Em:
    -"Con mất thêm một đứa em nữa rồi hay chưa con?". Trong đầu Em lại nghĩ đến một trong ba đứa em trai đi thanh niên xung phong, chứ không ngờ lại là nó. Đứng ngẩn người ra, nhìn trong nhà đông nghẹt những người...

    Ông Ngoại mất bữa trước thì hôm sau đến nó ..nhà hai người chết,nó chết tức chết tưởi ...chết luôn đứa con trong bụng, có thai gần 7 tháng rồi ...nguyên nhân tại sao? Thôi hôm nào sẽ kể cho Anh nghe sau vậy. Và Em thật sự hãnh diện vì Mẹ. Mẹ Em thật đáng hoan hô. Bao nhiêu khó khăn tủi cực mà ngày Ba về vẫn còn căn nhà để nương náu dù chỉ có bốn bức vách tường, trong ruột trống không.

    Loan mất, Mẹ em cứ ấm ức, cứ muốn nghe Loan nó nói tại sao nó chết tức chết tối như vậy, nên nghe ai nói chỗ nào coi bói hay, hay gọi hồn giỏi, Mẹ cũng lén đi tìm tới. Có lần xuống đến Kiểng Phước, bà nầy coi hay đến nỗi...họ kéo nhau đi ngồi chờ từ sáng đến trưa mới đến lượt mình. Bị cấm, bà thay đổi chiến thuật, không coi ở nhà mà đến tận nhà thân chủ, may quá lần đó có Em về. Mẹ rước lên nhà "gọi hồn" Loan về. Em nghe "nó" nói mà nổi gai ốc. Dù không tin Em cũng phải tin.Nó "về " thật Anh ạ. - Anh nên nhớ là Em đi xa nhà bỏ xứ đã lâu rồi, và trước lúc cả nhà nói chuyện với bà ấy, không có Em, vừa từ nhà sau lên chưa kịp ngồi xuống chiếu thì nó hỏi Em :
    - "Chị Hai, chị về nhà hồi nào vậy ? " !! Hỏi vài ba câu xong, Em chợt nhớ đến Anh, nên Em hỏi thử nó :
    - " Ở dưới Em có gặp anh Đông không ?

    Nó suy nghĩ một chút rồi lắc đầu:
    - Không em không gặp ảnh . Mà anh ấy chết trước em ...lâu lắm rồi mà ??
    Nếu là "giả tạo" thì sẽ không thể nói được câu nầy ..
    Má kêu Em ra ngoài rồi nói hay con gọi thử xem coi Đông nó... có về không? Đơn giản lắm chỉ cần con nói rõ họ tên và năm mất bả đi tầm về ...có hay không biết liền.

    Em còn đang lưỡng lự thì mấy đứa em xúi: "Kêu đại đi, được không trúng trật gì cho chị khỏi ấm ức, mai mốt muốn kêu cũng không biết làm sao mà gọi ... bà đi nhiều nơi khó kiếm lắm.
    - "Kêu thì kêu. Em đốt ba cây nhang khấn tên họ cùng năm Anh mất ... Rồi viết ra giấy đưa cho bà ấy ..
    Xem xong, bả đốt đi ...và nhắm mắt lại..

    XXX

    Xem xong bà ấy đốt miếng giấy đi và nhắm mắt lại...hai tay chắp lên ngực miệng đọc cái gì không nghe được.. Em hồi hộp nhìn chăm chăm... bà nhắm mắt, rồi lắc đầu... rồi..nhắm mắt...

    Bỗng bà lấy ba cây nhang nữa, đốt và khấn nguyện gì nữa đó...trán Em lấm tấm mồ hôi, tay chân lạnh ngắt... bây giờ mà... bà ấy mở mắt ra và kêu tên Em: "Phượng ơi " một cái chắc Em té xĩu liền...

    Bổng bà nói (mắt còn nhắm):

    - Người nầy là binh gia phải không?
    Má em nói:
    - Phải rồi.
    Bà nói tiếp:
    - Không phải là người thường, làm người trông coi mà. Chết mất xác mà, không tầm được...!! Đi rồi, không còn ở đây. ...Ổng dẫn một đoàn người đông lắm...đông lắm...họ đi lên núi hết rồi. Không gọi về được đâu...Rồi bà thoát ra..

    Em thở một hơi dài không biết để thoát cái hồi hộp ra khỏi ngực hay buồn vì không gặp Anh ! Em không tin cũng không được. Trong tờ giấy Em chỉ ghi ngắn gọn: "Nguyễn Thành Đông mất ngày mùng 3 tháng 4 năm Nhâm Tý Âm lịch" không thêm một chi tiết nào nữa..Vậy mà... Kể ra cũng hay khi bà tầm được Anh là lính, mà còn là cấp chỉ huy ...chết mất xác..và dẫn đầu một đoàn người đông lắm.. đông lắm...( sau nầy Em mới biết gần như Trung đoàn 7- SĐ 5 BB của Anh đã bị .." xóa tên " trong chiến trường An Lộc !!)

    Anh mất ngày 15 tháng 5 năm 1972 tức là (ngày mùng 3 tháng 4) năm Nhâm Tý -Tháng Ất Tỵ ngày Bính Ngọ, như vậy Em nghĩ : Chắc Anh mất nhằm giờ Mão - Từ 5 giờ đến 7 giờ sáng - vì Anh tuổi Dậu mà Tý Ngọ mão Dậu là tứ hành xung... !!

    Hồi xưa Anh đã nói rồi: "Người đi thì đã yên phần, người ở lại mới hứng chịu hết đau thương..".

    Em mở cửa sổ nhìn ra đường, con đường hàng dương ướt sũng nước, cây dương gần nhà lấp lánh nước mưa...và Em như thấy Anh với nụ cười ngày nào...

    - Thôi Anh về nhen. Phượng ở nhà ráng học nghen. Mai Anh lên Đà Lạt. Tới trường rồi Anh viết thư về liền cho Em hay...
    - Dạ Anh về. Nhớ viết thư liền nhen.
    - Ừ, nhớ !
    Anh đi năm bảy bước rồi mà còn quay lại, cười với Em một cái thật tươi !!


    [​IMG]

    Vâng, Thật buồn .Tuy rằng đau khổ nhưng có những chuyện người ta thực chẳng nỡ quên đi trong đời, vẫn là muốn khắc cốt ghi tâm mãi mãi…

  7. ** NGƯỜI TỬ TRẬN 3 LẦN:
    CỐ THIẾU TÁ “BẮC ĐẨU” NGUYỄN NGỌC BÍCH


    Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Thiết Đoàn 18 KB được lệnh tăng cường cho chiến trường Quảng Trị, phía bắc sông Thạch Hãn. Một quả pháo 130mm của địch quân CSBV đã rơi ngay chiếc Thiết vận xa M-113 của Đại Úy Nguyễn Ngọc Bích và ông đã tử trận. Ngày 27/4/1972, thi hài cố Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Bích được di tản về Mỹ Chánh, Quảng Trị bằng quân xa GMC, đến Cầu Ga thì quân xa chở thi hài ông bị trúng đạn hỏa tiễn tầm nhiệt AT-3, ông tử trận lần thứ nhì.

    Đồng đội đã đóng cho ông một chiếc áo quan tạm thời thứ hai và tiếp tục di tản. Ngày 30/4/1972, quân xa sang sông bị mắc lầy và xe ông trúng đạn pháo kích một lần nữa, ông tử trận lần thứ 3 trước khi thi hài ông được đưa về với gia đình!

    Cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh nghe được câu chuyện thương tâm này, đã cảm kích và sáng tác bài hát BẮC ĐẨU để tặng người Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân Thiết Kỵ QL-VNCH Nguyễn Ngọc Bích. BẮC ĐẨU là danh hiệu truyền tin của cố Thiếu Tá

    Về Bắc Đẩu Nguyễn Ngọc Bích: Cố Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Bích tốt nghiệp Khóa 18/SQTB Thủ Đức và Khóa 13 Sĩ Quan Căn Bản Thiết Giáp. Ông là Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 218 thuộc Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh QL/VNCH. Đơn vị ông đã từng lập công trong trận tái chiếm căn cứ Alpha trên chiến trường Kampuchia và đã được trao tặng huân chương Anh Dũng Bội Tinh Nhành Dương Liễu.

    Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu,
    lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu
    Cây “Cầu Gà” nhỏ anh qua anh qua
    Vì sao Bắc Đẩu trôi dạt đêm mưa,
    người xa cách người, nước mắt tiễn đưa
    đã thấy xót xa một lần anh đi
    đã thấy xót xa từ ngày hôm qua

    Đây thinh không thiên thần lên tiếng hát,
    chiêu hồn người từ hỏa ngục dương thế .
    Kìa bầu trời Ngọc Bích đã thênh thang …
    Ôi …lời mời gọi anh bước chân sang .
    Xin muôn năm như vì sao sáng đó
    Hỡi người định mệnh là vì sao lẻ .
    Dậy đi Bắc Đẩu!
    Dậy đi Bắc Đẩu
    Bừng mắt dậy soi sáng thiên thu.

    Người tên “Bắc Đẩu” chết trận hôm nao?
    Một áo quan đóng vội một chuyến cuối phiêu du …
    “Có thấy dấu chiến xa của người của hôm qua ?”
    “Có thấy chiếc mũ đen của người lạc trong đêm?”

    Người tên “Bắc Đẩu” chết trận La Vang, liệm xác ba lần …
    Ngọc bích cũng tan chỉ còn vì sao thôi, chỉ còn vì sao thôi …
    Cuộc đời vài mươi năm
    Người vội về xa xăm

    [Tặng anh hùng mũ đen Bắc Đẩu Nguyễn Ngọc Bích]




    "Cười với nắng một ngày sao chóng thế,
    Nay mùa Xuân, mai mùa Hạ buồn chăng?"
  8. Vòng Hoa Cho Anh * 16

    Khoảnh Khắc Hoa Quỳnh Nở

    [​IMG]


    Mùa Xuân năm ấy bất ngờ mà Anh đến với Em, với cô bé vừa mới lên 17 tuổi hồn nhiên trong áo trắng học trò. Sau đó, anh Trí đã một mình đến nhà xin địa chỉ của Em để về Đà Lạt liên lạc thư từ cho vui...miệng anh ấy dẻo đeo nói mãi chừng nào Em ghi cho mới chịu. Nhưng người xin không gửi mà trao cái địa chỉ đó cho Anh. Một tháng sau Em nhận được một phong thư xanh có cái dấu hiệu nho nhỏ: Người gửi là " nguyenthanhdong" - Anh viết vậy đó, không bỏ dấu. Em cho địa chỉ rồi Em cũng quên, một hôm đi học ngang nhà Chúc, nó thấy chạy ra kêu :

    - Ê Phượng mầy có thư nè..
    Lúc đưa ra lá thư đầy bụi Chúc cười nói:
    - 'Nó nằm trên đầu tủ hơn 10 ngày rồi, sao mầy không ghé lấy, đi học tao cũng quên luôn."

    Nếu Chúc quên luôn thì bây giờ Em đâu có biết Nguyenthanhdong là ai, Anh há. Và lâu rồi Em cũng không gặp anh Trí. Bây giờ nếu gặp lại Em sẽ tặng anh ấy một bó hoa, vì nhờ anh ấy mà Em có được một mối tình đầu thật đẹp, đồng thời Em cũng sẽ tặng anh ấy " mười lăm củ " vì Em cũng đã khóc hết nước mắt vì cái tình yêu đầu đời đó. Lần sau cùng gặp nhau đến bây giờ đã hơn bốn năm rồi...Em cũng vẫn chưa quên.
    Hình như nhà văn Nguyễn Thị Hoàng có viết một câu tương tự như thế nầy :
    " Nếu xa cách đưa tới lãng quên thì tình yêu khi có mặt dù nồng nàn đến đâu cũng không đáng được gìn giữ, xa cách không thể là một trở lực hay một hủy diệt, trái lại xa cách còn làm cho tình yêu lớn lao và toàn vẹn hơn nữa, vì đời người bao giờ cũng vậy. có những ước muốn không thành tựu, ước muốn đó thời gian qua cầu làm thành những ngậm ngùi trong quá khứ, khiến cho tâm hồn con người còn mãi những bâng khuâng... "

    Lại khóc. Nhưng không sao, cứ khóc nữa đi vì cuộc đời không có nước mắt như mùa Hè không có hoa Phượng như mùa Đông không có gió heo may.
    Hôm kia vừa thi xong, sáng nầy thì làm lễ mãn khoá Hậu tốt nghiệp Huấn Luyện Viên, và chị Vân Anh Huấn Luyện Viên của trường Cán Sự Huế, trước khi về qua nội trú từ giả mấy đứa em, chị nói:
    "Về ngoải chị có nhớ đến khoá 7 HLV/1974 BYT chị sẽ nhớ đến Phượng , với cái tài nằm lăn trên giường mà viết - Thức thì thức suốt đêm, ngủ thì ngủ li bì...Ngày đầu vô đây, chị với chị Hoàng gặp em đang lơn tơn cầm muổng nĩa xuống phòng ăn cơm, chị bảo với chị ấy:
    - " gớm sao học trò trường nầy nhỏ nhỏ không há...", dè đâu sáng hôm sau, trong buổi học đầu tiên lại thấy cô bé cầm tập vở từ khu nội trú bước vô, quét bàn mở quạt lau bảng lấy phấn...hoá ra lại là cô giáo học chung với mình !

    - Hihi em dân nội trú mà chị.Thổ địa trường nầy ba năm chứ ít sao ít nhất cũng phải biết nằm mà viết.
    Hôm nào nếu có dịp đi Huế em sẽ ghé trường phá chị nè, nhớ dẫn em đi chơi nữa hén. Cho ăn cái cơm hến cơm sò gì mà vừa ăn vừa khóc đó nhen.
    - Còn Phượng có nhớ tụi ni răng hè ..úi chu choa ơi chắc quên mất hỉ..?
    - Em không quên mô! Vì chị đã hứa là sẽ về " kiểm duyệt" xem đám em trai của chị ai " chửa vợ " thì chị làm mai cho Em mà...!!
    Cả bọn cùng cười ồ lên.....

    Đêm khuya rồi, mà cũng hết giấy nữa, Em dừng bút nhen - ngày xưa Anh cũng hay nói như vậy đó -

    Mai Em sẽ trở về trường Cần Thơ và Em sẽ đi học Anh Văn. vì Em có ông dượng -chồng của bà Dì làm ở Bộ Y Tế, hôm Em ra nhà thăm dì, dượng ấy bảo Em nếu đang công tác ở Trường thì học Anh Văn đi, có bằng Proficency rồi dượng giúp cho qua Nhật học 6 tháng, rồi qua Mỹ học tiếp một năm rưởi nữa," học cái gì đó " như Anh vậy...Lấy cái bằng gì cũng được, học cái gì cũng xong, miễn được đi học là vui rồi...!! Anh há?.Tặng Anh nè

    Khoảnh Khắc Hoa Quỳnh Nở

    Gom nắng Hạ ươm hồng nổi nhớ
    Giếng linh hồn nổi lá mộng lênh đênh
    Người đi cuối bãi đầu ghềnh
    Đốt tương tư thảo quên bao ưu phiền
    Em về đem hết niềm riêng
    Kết thành thuyền mộng thả dòng sông mơ
    Sông Tương nước chảy lững lờ
    Đưa thuyền Em đến bến bờ có Anh
    " Hoa chanh nở giữa vườn chanh " -( NB)
    Ướp hương lên mái tóc xanh lời thề
    Tình mình đẹp tựa trăng quê
    Cách xa xin ánh trăng thề chia đôi
    Người đi nửa mảnh trăng soi
    Nửa vầng thắp sáng tình tôi với người
    Tiễn Anh không tiễn dặm trường
    Đưa Anh chỉ có Quỳnh hương ngậm ngùi...
    Trong khoảnh khắc đoá Quỳnh chợt nở
    Chút hương thầm gợi nhớ người ơi !!

    Em của Anh
    Hoa Hạ



  9. 17 * Tình Khúc Kinh Kha* 3

    Người Vợ Lính Ở Thủ Đức –
    Giao Chỉ

    Đám cưới nhà quê. Chuyện người vợ.


    Mùa xuân năm 1959. Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê. Cô dâu Nguyễn Thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ. Chú rể là anh trung sĩ huấn luyện viên của trường Bộ Binh Thủ Đức. Cha làm phép hôn phối. Họ Đạo tham dự và chúc mừng. Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa. Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo. Cô gái quê ở Thủ Đức, 18 tuổi còn ở với mẹ. Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu. Cha cậu là hạ sĩ quan, gửi con vào Thiếu Sinh Quân Gia Định từ lúc 13 tuổi. Khi trưởng thành, anh thiếu sinh quân nhập ngũ. Đi lính năm 1956. Mấy năm sau đeo lon trung sĩ.

    Quê anh ở Rạch Giá, làng Vĩnh Thanh Long, sau này là vùng Chương Thiện. Ngày đám cưới, ông già từ quê lên đại diện nhà trai. Đứng trước bàn thờ, cha xứ hỏi rằng anh quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không. Chú rể đáp thưa có. Cha hỏi cô gái có nhận anh trung sĩ này làm chồng. No đói có nhau. Gian khổ có nhau. Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có. Anh trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường Bộ Binh đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng. Cô gái thề trước nhà Chúa, có cả họ Đạo chứng kiến. Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính.

    Từ vợ trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân đại tá trong Dinh Tỉnh Trưởng. Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến để rồi 30 tháng 4 năm 75 trở thành vợ người tử tội. Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn. Dù thăng cấp, dù thắng hay bại, dù sống hay chết, chồng cô vẫn là người anh hùng. Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính. Anh lính đầu đời chinh phu của cô lúc lấy nhau đeo lon trung sĩ và khi ra đi đeo lon đại tá. Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính.

    Chồng của cô là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức, sau khi tìm đường vượt biên, đem con trai duy nhất qua Bidong, Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali. Cô may thuê. Bán quán nuôi con. Con trai lập gia đình có 2 cháu. Người vợ lính năm xưa từ 75 đến nay, ở vậy thờ chồng đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu. Suốt đời vẫn nghèo, nghèo từ trung sĩ mà nghèo lên đại tá. Nghèo từ Thủ Đức mà nghèo qua Chương Thiện. Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cái nghèo qua Mỹ. Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính.

    Một đời chinh chiến. Chuyện người chồng.

    Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938. Xuất thân Thiếu Sinh Quân Gia Định rồi nhập ngũ và lên cấp trung sĩ huấn luyện viên vũ khí tại trường Bộ Binh. Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh trung sĩ tìm cách tiến thân xin vào học lớp sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế. Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau Hồ Ngọc Cẩn trở thành đại tá tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện, hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận. Ông đã từng mang mầu áo của Biệt Động Quân và các sư đoàn Bộ Binh. Huy chương và chiến công nhiều vô kể.

    Suốt một đời chinh chiến từ trung đội trưởng lên đến trung đoàn trưởng, Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu Giang và Tiền Giang. Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể Sư Đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho Quân Đoàn 3 giải tỏa An Lộc. Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 trung đoàn của Sư Đoàn 9. Tư lệnh quân khu, ông Trưởng nói với ông Lạc Sư Đoàn 9 đưa một trung đoàn nào coi cho được. Trung Tá Hồ ngọc Cẩn dẫn Trung Đoàn 15 lên đường. Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng Nhẩy Dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc. Anh đại úy đại đội trưởng của trung đoàn suốt mấy tuần dằng co với địch trước phòng tuyến của Tướng Hưng tư lệnh An Lộc, nhưng chưa vào được. Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ. Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau. Chỉ có Bộ Binh của Trung Đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến. Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới. A, tay này ngon. Chợt thấy một ông xếp từ thiết vận xa bước ra, phóng tới phòng tuyến của đại đội. Nhìn ra ông Trung Đoàn Trưởng Hồ Ngọc Cẩn. Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào. Cùng với tiền đạo của Nhẩy Dù, Trung Đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc. Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng, ông Thiệu hứa cho mổi người lên 1 cấp. Trung Tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon đại tá trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc. Rồi ông được đưa về làm tiểu khu trưởng Chương Thiện. Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa.

    Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng, nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ nên Chương Thiện chưa chịu hàng. Chiều 29 sang 30 tháng 4, tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy. Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng, các đơn vị bên ta rã ngũ. Lính tráng từ tiểu khu và dinh tỉnh trưởng tan hàng, Đại Tá Tiểu Khu Trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính Cộng Sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí, quân phục cấp bậc đầy đủ. Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng, đã được người vợ kể lại cho chúng tôi. Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm.

    Giây phút cuối của Chương Thiện

    Bà Cẩn với âm hưởng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại. Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết. Bà nói:

    “Kể lại cho bác rõ, những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân. Đánh nhau ngay trong tiểu khu. Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân. Nhà bị pháo kích. Tuy gọi là Dinh Tỉnh Trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường. Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài. Đi lẫn vào dân. Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ tỉnh trưởng. Ai cũng tưởng là vợ lính. Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi. Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần Thơ. Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ. Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ. Mẹ con vừa đi vừa khóc. Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep, Cộng quân cầm súng vây quanh. Bước xuống xe, anh không chống cự, không vùng vằng, không nói năng. Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa, giơ tay phất nhẹ. Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con. Chạy đi. Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua. Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại. Thân nhân bên anh Cẩn, mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt. Sợ bị bắt. Được tin anh ra tòa nhận án tử hình. Rồi tin anh bị xử bắn. Thời gian anh bị giam gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt. Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về. Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ, gia đình cũng không ai được báo tin riêng, nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết. Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi. Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn. Chị kể lại là không khí im lặng. Từ xa, nhìn qua nước mắt và nín thở. Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt. Nhưng Cộng quân vẫn bịt mắt. Bác hỏi em, bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975. Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc nên cũng không có gì mà kể lại. Chúng bịt mồm, bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì. Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì như vậy. Vẫn lầm lì chịu bị bắt, không giơ tay đầu hàng, không khai báo, không nói năng gì cho đến chết. Anh làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng rồi đến tiểu khu trưởng. Báo chí, anh em nói gì thì nói, anh Cẩn chả nói gì hết. Bác hỏi em là mồ mả ra sao. Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức. Gia đình không cho em ra mặt. Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được. Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ. Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá. Rồi đến khi khu này bị giải tỏa nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên. Ngày nay, em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này. Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình“.

    “Cô đi năm nào”, tôi hỏi bà Cẩn.

    “Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 75. Đến 78 thì vượt biên qua Pulo Bidong. Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ. Qua bên này mình chả biết ai, không ai biết mình. Cũng như bao nhiêu thuyền nhân, mẹ con ở với nhau. Em đi làm nghề may, rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ. Bây giờ cháu trai duy nhất của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con.”

    Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng, tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng.Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác. “Nãy giờ nói toàn chuyện buồn, cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới 75, cô có những kỷ niệm nào vui không.”

    Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ.

    “Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi. Toàn lo việc nhà, nội trợ nuôi con. Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo. Từ trại gia binh đến cư xá sĩ quan. Chúng em không có nhà riêng, không có xe hơi, không có xe gắn máy. Từ Sa Đéc trung đoàn 15 qua đến tiểu khu Chương Thiện, toàn là ở trại lính”.

    Tôi hỏi tiếp:

    “Cô có đi dự tiệc tùng, mừng lên lon, thăng cấp, dạ hội gì không?”.

    “Không, em chả có đi đâu. Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ. Dân chúng cũng không biết em là ai. Mua bán gì em về Cần Thơ, đông người, cũng chả ai biết em là ai. Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc. Lương nhà binh cũng chẳng có là bao. Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo. Năm 1972 ở An Lộc về, anh Cẩn mang lon đại tá không biết nghĩ sao anh nói với em, vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm. Đây là tấm hình gần như duy nhất. Xin bác dùng tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử”.

    Tôi nói rằng, tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm. Hoàng Mộng Thu có đưa cho tôi xem. Chúng tôi sẽ dùng hình này. Nhưng tôi vẫn gặng hỏi. “Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không?”.

    ”Em đâu có biết. Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười. Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh”.

    “Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không?”.

    Bà Cẩn thật thà nói rằng.

    “Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển. Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu. Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…”

    Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, dường như sĩ quan, anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu. Hồ Ngọc Cẩn ở Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ Thủ Đức đi Vũng Tàu. Trong quân đội, dù là tướng tá hay sĩ quan, anh nào mà chả có thời làm lính. Sau đó mới làm quan. Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh, vợ đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời. Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức. Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ, ở bên kia địa cầu, trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng chủ nhật cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ.

    Theo: Giao Chỉ, San Jose

    Hình chụp ông bà Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn.

    Nguồn : Thư Viện Toàn Cầu

    Anh Đông nè,
    Bây giờ thì Em đã biết tại sao ngày đó ở Sân vận động Cần Thơ Em tìm hoài mà không thấy người đàn bà nào khóc lóc thảm thiết vì cảnh nảo lòng tử biệt sanh ky nầy :

    " Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ, gia đình cũng không ai được báo tin riêng, nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết. Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi. Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn. Chị kể lại là không khí im lặng. Từ xa, nhìn qua nước mắt và nín thở. Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt...."


    "Cười với nắng một ngày sao chóng thế,
    Nay mùa Xuân, mai mùa Hạ buồn chăng?"
  10. Đông thương nhớ

    Em đã lên đến cao điểm của nỗi sầu tử biệt nên đối với Em còn nỗi buồn nào hơn thế nữa? Và bây giờ biết có ai không, cũng như Em sẽ phải nát lòng trước cảnh tử biệt sanh ly nầy? Chung quanh Em những gương mặt chìm một nửa sau vành nón lá, Em cũng vậy. Cúi mặt vẽ vu vơ trên cát mà chờ đợi. Lần đầu tiên trong đời có mặt trong một cuộc mít tinh để nghe xét tội một người mà đối với một bên là ác ôn, là có nợ máu với nhân dân, và đối với một bên là một vị anh hùng, đã anh dũng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng cho quê hương cho mầu cờ, sắc áo.

    Với Em , người ấy như thế nào? Không có nợ nần gì với Em cả. Em không hề biết Ông, và cũng như nhiều người hiện có mặt trong đây đều không hề biết đến Ông.. Họ cũng như Em đều tuân theo một lệnh truyền : - "Tất cả 3 trường của Trung Tâm Y Tế, từ thầy cô đến các học trò đều phải có mặt tại Sân vận Động Cần Thơ tham dự.
    -Ổng kìa Phượng! trời ơi còn trẻ quá ..
    - Nghe nói là Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện - không chịu buông súng đầu hàng nên bị bắt...

    Em nhìn ra cổng..Trước mắt Em là Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương Thiện Hồ Ngọc Cẩn .
    Khoảng cách tuy xa nhưng cũng đủ để thấy Ông đang bình thản đi vào. Trước mặt Em là một vị Đại Tá không giày saut áo trận, bình dị trong bộ bà ba đen, ung dung đi giữa nghi thức áp giải mà như đi trong tiếng nhạc quân hành. Có lẽ tuổi khoảng chừng trên dưới bốn mươi, người vừa tầm, gọn gàng, nước da hơi xanh, cái xanh của thiếu nắng. Đầu trần không nón sắt thấy rõ mái tóc cắt cao như sẳn sàng hứng hết mọi tai ương của định mệnh. Một định mệnh dành cho người thất thế, sa cơ. Vừa đi Ông vừa đảo mắt nhìn quanh, hình như hơi mĩm cười rồi tiến sâu vào trong khán đài, một vị trí cuối cùng của một đời ngang dọc.

    Em lẩn thẩn tự hỏi : Không biết Ông xuất thân từ trường nào? quê Ông ở đâu mà bây giờ dừng lại nơi đây? Em lại nhớ đến cái chết của Anh. Anh đã đổ ra hết đến giọt máu cuối cùng, rồi nằm xuống, lính chôn Anh trước cổng tiểu khu Bình Long ... rồi tất cả đều bị san bằng dưới cơn mưa pháo. Đời trai như chiến sĩ Kinh Kha một lần qua sông Dịch, nhưng mỗi người sang sông bằng một cách khác nhau, và Không biết "VỢ ÔNG" - em muốn gọi bằng hai tiếng thân thương "vợ ông" chứ không muốn gọi bằng chức vụ - Vâng, chỉ có vợ ông bây giờ chắc đứt ruột từng cơn !! Em đưa mắt nhìn quanh cố tìm, nhưng không thấy người đàn bà nào đang khóc như Em nghĩ. Dưới gốc sân vận động, phía ngoài vòng rào lại là một cây Phượng vĩ đang nở bông đỏ thắm, trên cây có vài đứa trẻ hiếu kỳ leo lên nhìn vào .

    Cuộc xét xử đã bắt đầu, nhưng Em không nghe được gì cả, Em ở xa khán đài lắm nên không trông thấy Ông nữa. Em bỗng nhớ bài Thơ "NHỚ RỪNG" của Thế Lữ

    Nhớ Rừng

    (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

    Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
    Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
    Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
    Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
    Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
    Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
    Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

    Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
    Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
    Với khi thét khúc trường ca dữ dội
    Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
    Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
    Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
    Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
    Ta biết ta chúa tể muôn của loài
    Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
    Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
    Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

    Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
    Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
    Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
    Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
    Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
    Len dưới nách những mô gò thấp kém;
    Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
    Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
    Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

    Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
    Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
    Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
    Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
    Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
    Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
    Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
    Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

    1936
    THẾ LỮ

    XXXXX

    Và Cuối cùng,điều gì phải đến cũng đã đến....

    Một tràng đạn nổ dòn chát chúa vang lên như tiếng sấm ...

    Và mưa..!!. Mưa của trời đất, mưa trong lòng người thân và mưa của cây phượng cuối sân vận động vào một sáng sang Thu

    Hoa Hạ



  11. 16 * Tình Khúc Kinh Kha

    Cuộc chiến Việt Nam đối với Em đã chấm dứt ở An Lộc. Từ đó, Em không dám đụng đến cái Radio, không còn hồi hộp theo dõi tình hình chiến sự vì đâu còn có ai làm chinh phu cho em là chinh phụ ngóng trông !! Vì hồi đó vừa khóc vừa học bài, cuối năm thứ 2 với những môn thi dồn dập. Năm thứ ba với những trại thực tập "nặng ký " với kỳ thi ra trường. Còn thời giờ đâu mà nghĩ ngợi đến chiến tranh? Và Vùng bốn chiến thuật thật an lành. Chiến tranh chỉ có trong những bài nhạc, trong những quán cà phê và Chiến tranh đối với em chỉ còn là thơ của Chinh Phụ Ngâm Khúc :

    Chinh Phụ Ngâm Diễn Nôm
    I
    Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
    Xanh kia thăm thẳm tầng trên
    Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
    Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
    Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
    Chín tầng gươm báu trao tay
    Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh
    Nước thanh bình ba trăm năm cũ
    Áo nhung trao quan vũ từ đây
    Sứ trời sớm giục đường mây
    Phép công là trọng, niềm tây sá nào
    Ðường giong ruổi lưng đeo cung tiễn
    Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa
    Bóng cờ tiếng trống xa xa
    Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng
    II
    Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung
    Thành liền mong tiến bệ rồng
    Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
    Giã nhà đeo bức chiến bào
    Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
    Ngòi đầu cầu nước trong như lọc
    Ðường bên cầu cỏ mọc còn non
    Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn
    Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
    Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
    Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
    Nhủ rồi tay lại trao liền
    Bước đi một bước lại vin áo chàng
    Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
    Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San
    Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
    Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
    Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử
    Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba
    Áo chàng đỏ tựa ráng pha
    Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
    Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống
    Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay
    III
    Hà Lương chia rẽ đường này
    Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi
    Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
    Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương
    Quân đưa chàng ruổi lên đường
    Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
    Tiếng địch trổi nghe chừng đồng vọng
    Hàng cờ bay trong bóng phất phơ
    Dấu chàng theo lớp mây đưa
    Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
    Chàng thì đi cõi xa mưa gió
    Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
    Ðoái trông theo đã cách ngăn
    Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh
    Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
    Ngàn dâu xanh ngắt một mầu
    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?


    Nghe Trọn vẹn thi phẩm nầy trong video dưới đây



  12. guyen Phuc Nguyen
    Vinny Tran
    10 TRIỆU ĐÔ LA MỸ ĐỂ CỨU 7 MẠNG NGƯỜI VIỆT NAM ( CHUYỆN THẬT) ..
    Tôi Vinny Tran / cůu KQ-QLVNCH Phi Đoàn Hai Âu 227 (Trung Tá TRÂN CHÂU RÊT Phi Đoàn Truởng) .. Tôi đã có măt trên chiêc Hàng Không Mâu Ham MIDWAY ngày 30/4/1975 va` la` Nhân Chung*' Sô'ng .. trong câu chuyên có thât 100% này .
    .. XIN CÃM TA ON* TRÊN VÀ THUYÊN TRUÕNG LARRY CHAMBERS .. ĐÃ CŮÚ MANG. CHÚNG TÔI VÀ MANG CHÚNG TÔI ĐÊN' MÌÊN ĐÂT' HŮÁ .. GOD BLESS THE USA !!! *()*
    Biểu tượng cảm xúc heart
    ------------------------------------------------------
    Câu chuyện này được dựng lại, trong đó xen kẽ những đoạn phim tư liệu có thật: Thiếu tá phi công Lý Bửng thuộc Không Lực Việt Nam Cộng Hòa, là người đầu tiên đã can đảm và rất tự tin khi thực hiện thành công cú đáp lịch sử khiến mọi người thán phục bằng máy bay L19 xuống Hàng Không Mẫu Hạm USS Midway (thay vì đáp xuống biển rồi chờ cứu hộ vì Hàng Không Mẫu Hạm không có thiết bị hỗ trợ hạ cánh cho máy bay này).
    Trong điều kiện hết sức ngặt nghèo bởi máy bay gần cạn nhiên liệu và quá tải rất nguy hiểm (quy định 2 người kể cả phi công mà anh lại chở đến 7),
    lại không có vô tuyến liên lạc với Hàng Không Mẫu Hạm , nên anh cố gắng dùng loa phóng thanh nói vọng từ trên trời xuống.
    Trong Clip này không hiểu sao anh lại sử dụng mỗi tiếng Việt? Nhưng thực tế là anh ấy đã liên lạc vớHàng Không Mẫu Hạm để nói về tình trạng khẩn cấp của mình bằng cách dùng những mảnh giấy viết bằng tiếng Anh, buộc vào con dao, kế đến là dây đeo súng rồi thả xuống sàn tàu, nhưng cả 3 lần đều văng hết xuống biển. Đến lần thứ 4 anh ghi lên mảnh giấy được xé ra từ trang bản đồ (dòng chữ tiếng Anh viết vội nhưng rất đẹp) buộc vào khẩu súng P.38, bay thật thấp rồi liệng xuống.
    Nội dung: "Các ông làm ơn dời chiếc trực thăng sang bên kia cho tôi đáp xuống đường băng. Tôi có thể bay thêm một tiếng nữa, chúng ta có đủ thời gian để dời. Làm ơn cứu tôi. Thiếu tá Bửng, vợ và 5 đứa con".
    Ông Larry Chambers, thuyền trưởng tàu Midway đồng ý nhưng thấy không đủ chỗ đáp, nên ra lệnh cho các thủy thủ đẩy mấy chiếc trực thăng VNAF UH-1 Huey xuống biển (trị giá số máy bay ấy khoảng 10 triệu USD lúc bấy giờ)..
    Hiện nay HKMH USS Midway đang được neo đậu tại hải cảng San Diego, miền Nam California, trở thành vật trưng bày và trên ấy vẫn còn mảnh giấy này.
    Chiếc L19 của anh giờ triển lãm tại Bảo Tàng Viện Hải Quân tiểu bang Florida. Chứng tích của một cuộc chiến vô cùng khốc liệt.
    Soucrce => Van chuong NGUYEN




    HH sưu tầm trên internet và ghi lại

    "Cười với nắng một ngày sao chóng thế,
    Nay mùa Xuân, mai mùa Hạ buồn chăng?"
  13. [​IMG]

    Trong đời người có ai muốn mùa đông ở lại có ai muốn mùa xuân không đến nữa,

    Bông Cúc Trắng

    " ...Chiều cuối năm, bên hiên nhà em, một bông hoa âm thầm,
    Bông cúc trắng nhìn theo chút nắng, trên lối đi nhớ những gì,
    khi mùa đông đã qua rồi, khi mùa đông đã xa rồi.
    Bông cúc nở ngoài kia không trắng nữa.
    Em bước vào mùa xuân, nhẹ hơn gió, sớm hơn rạng đông.
    Tình yêu đó ấm hơn lửa nồng.
    Phố em qua chưa đông ...chưa đông ...
    Bước chân em thong dong, thong dong.
    Đôi lúc bàng hoàng thấy chính đời mình vừa thay lá mới,
    Xin nghĩ về đời tôi, hạt mưa rớt xuống cho đời vui
    Là tia nắng khuất bên kia đồi,
    Sẽ nuôi cho cây xanh cây xanh,
    Sẽ vì người thật tình thật tình
    Sẽ hát điều gì với những bạn bè gần gũi của tôi,
    với những nụ cười là đóa hồng tươi.

    Chiều cuối năm mong em về thăm,
    Cành bông trắng trong ngần,
    Bông Cúc trắng ở đâu cũng trắng,
    Như dáng em trước sân trường
    Như là em giữa phố phường
    Như mọi khi hát trong vườn,
    trong cửa nhà nếu như có cành mai cành đào,
    nếu như có cụm hồng hay cúc trắng, sẽ thấy đời nhẹ vui như bé hát.
    Xin nghĩ về đời tôi, hạt mưa rớt xuống cho đời vui,
    Là tia nắng khuất bên kia đồi
    Sẽ nuôi cho cây xanh cây xanh sẽ vì người thật tình thật tình,
    sẽ hát điều gì với gió biển trời về giữa đời ai,
    gió hát ngày ngày từng khúc nhạc vui,
    Cúc trắng dịu dàng nở giữa mùa xuân..."

    https://www.nhaccuatui.com/mh/auto/...MsHCT-FJ-IVkKgZLwQo5SSJFxzeWW8sr9itKh_9QEJIUw

    Nhạc phẩm Bông Cúc Trắng
    Ca Sĩ Thanh Lan

    [​IMG]


    Kỹ niệm 44 năm ngày mất của :
    Cố Đại Úy NGUYỄN THÀNH ĐÔNG
    ĐĐT ĐĐ1- TĐ 2/7 SĐ 5 BB
    KBC 4441


    Hoa Hạ
  14. [​IMG]

    Thương Hoài Tờ Thư Cũ * 2

    Anh à,

    Ông BS Thể nói: : " Họ đánh nhau rầm rầm mấy tháng nay rồi, hỏng biết chừng nào đến mình ..." Em lẩn thẩn tự hỏi :-.Sao vậy hả Anh? Em không biết gì hết, từ ngày đó đến giờ cái radio bị Em bỏ quên, hôm trước đem ra, pin bị chảy hết rồi. Ở đây an toàn lắm mà ! hay đó chỉ là sự bình an của một ngọn núi lửa ?..hay...có những cái yên bình đến " lạnh lùng, khó thở " phải không Anh? ..chứ trong thành phố nầy Em vẫn còn đi học, vẫn thấy Phượng về ..và nếu không có một hai lần pháo kích chết và bị thương nhiều như hôm ấy ...thì dễ quên là đang có chiến tranh - ít ra trong thành phố nầy -..

    "…không có chiến tranh ..." nghe sao mà dễ thương quá !!Miền tây không sôi động như ở ngoài kia thôi, chứ thỉnh thoảng nghe tin vài trận đánh ở đâu dưới các quận xa, thỉnh thoảng nghe tin " mấy ổng " về đấp mô giật mìn ở quốc lộ .. mà cũng nhiều lần thấy những đám tang...phủ lá Quốc Kỳ chầm chậm qua phố một sự hiện diện đến đau lòng của chiến tranh chứ không có làm sao được ! sao Ba lại dặn Em như vậy nhỉ !!

    " Ừ mà mấy hôm nay có giới nghiêm nữa đó Anh
    ...Ừ mà hôm trước mới vừa được thư Loan, nó hỏi Em ở đó bình yên không có đánh nhau không? Nó còn nói " Ba dặn chị nếu có gì thì cứ ở đâu ở đó đừng chạy lung tung nguy hiểm lắm, có gì chờ Ba qua.".. cả nhà lo cho chị không biết cái thân ốm yếu của chị có chạy giặc nỗi không ? Hôm đó em về thăm Nội, Bà Nội nhắc chị nữa đó. Nhắc chị mà cũng chửi chị -" Bà già " coi vậy mà chửi một câu văn hoa lắm nghe :
    " Hồi đó mỗi lần hè cái cây Phượng nầy nó nở thì có con Phưọng nó về nó ở với tao, mấy năm nay rồi , cây Phượng nầy nó nở mà nó đi luôn rồi không về ở với tao nữa, thôi tao kêu thằng tư Giêng vô đốn cho rồi ..."

    [​IMG]
    Anh Đông nè,

    Sắp bước sang tháng Năm nữa rồi, hàng Phượng vĩ đường Hoà Bình, hàng phượng vĩ ở bến Bắc Cần Thơ đã nở tung toé ...cây Phượng vĩ to sầm ở chân Cầu Cái Khế mỗi lần đi học lại ngang qua, cây Phượng vĩ ở gốc trường Cán Sự mỗi lần qua văn phòng Em cũng phải ngước mắt nhìn một chút, ...mầu đỏ nhức tim đau óc ..mầu đỏ alfa rực rỡ kiêu sa ..và đớn đau như Bình Long An Lộc ..!! Chắc chừng nào trên đời nầy không còn cây Phượng vĩ nào nữa hết thì mới quên được chăng? Mai nầy Em có lập gia đình không? Người ấy là ai, Em cũng chưa biết. Nhưng Em mong là người có học, có hiểu biết và nhất là phải biết quý trọng dĩ vãng của vợ mình...!!

    Hôm qua chủ nhật,chị T Loan về Sài Gòn để ghé Caritas mượn bộ áo truyền thống của cô Tổ Điều Dưỡng, chuẩn bị cho khoá 1/CS Cần Thơ ra trường, Duyên thì về Sa Đéc,chỉ có chị Yến, Em và Nguyệt ở lại nội trú...bổng chị Yến hỏi :
    Lưỡng mộc thì mộc chiếc, lưỡng kim thì kim khuyết, lưỡng thổ thì thành non.." vậy còn lưỡng hoả thì sao tụi bây?
    - Bộ chị hỏi tuổi đặng có chồng nữa hay sao? giờ nầy mà còn lưỡng gì nữa..? Lưỡng hoả thì cháy nhà chứ sao giờ !
    - Hoả thì năm bảy thứ hoả, chị phải hỏi cho kỹ coi ảnh bốc hoả gì , hoả dầu xăng dầu hôi thì lấy mềm mà chụp, hoả cây hoả củi thì lấy nước tưới lên không thôi cháy lan cháy nhà rán chịu.
    Làm Em nhớ lần trước về thăm nhà, Em hỏi Ngoại.." nếu con lập gia đình với người có tuổi Mùi..lớn hơn con nhiều tuổi...Ngoại thấy được không? - Em đinh ninh là Ngoại sẽ nói ờ được đó,nhưng không dè Ngoại nói “Thôi, hỏng được nghe con..chọn người khác đi.”
    "Ủa sao kỳ vậy Ngoại, hợi mẹo mùi tam hạp mà Ngoại?
    “Không có hạp đâu con ơi, tử biệt sanh ly đó.."

    Từ đó Em ra nhà sau thì Ngoại theo sau ngăn : "Đừng nghe con " , Em ra ngoài trước Ngoại theo ra ngoài trước: "Thôi nghe con.". thấy Ngoại can ngăn quyết liệt quá Em mới nói:

    "Con hỏi Ngoại vậy thôi chứ chưa có gì đâu mà, Ngoại yên tâm đi. Con bị tứ hành xung rồi nên bây giờ con sợ lắm...Ngoại đừng lo...”

    Anh thân thương ,

    Gần đến sinh nhật của Anh nữa rồi. Hôm sinh nhật vừa qua của Em, Em nhận được một tấm thiệp chúc mừng, chỉ có một đoá Hồng mầu rose - Một đoá thật to từ trong nhuỵ hoa có một em bé gái rất dễ thương nhoài người ra bắt một con bướm bé xíu và một bài thơ bằng tiếng Anh :

    " For you on your Birthday
    There' s only one You "

    x x

    To bring you warm wishes
    And let you know, too
    There are many nice people
    But there' s only one you

    Đó Anh thấy chưa, Em đã nói là Em sẽ kể cho Anh nghe hết những nỗi vui buồn của Em mà, nhất định không dấu gì cả vì đến bây giờ Em cũng chỉ có Anh là thân thương nhất. Nhưng viết đến đây Em cũng buồn lắm, vì Em biết và Em tiếc là mình không thể làm một Kiều Nguyệt Nga suốt đời tang chế thờ phụng Lục vân Tiên. Vì bên Em cũng còn có gia đình, vì Em đang sống trong xã hội nầy với những cuốn hút của nó. Em biết là Em sẽ mất một cuộc tình đẹp nhất, ước gì nó là cuộc tình duy nhất của Em? Hạnh phúc thay cho những ai yêu chỉ một lần và cùng người yêu đi trọn cuộc đời..phải không Anh?
    HH


    [​IMG]
  15. * Thương Hoài Tờ Thư Cũ * 1

    KBC 4027, ngày...tháng ...năm ...
    Những lá thư viết từ cao nguyên lạ
    về phố xưa , lộ vắng gió lạnh buồn ...


    " - Thôi không biết , Em mắc đền Anh đó
    Tuần một lần thư sao trể hẹn thư Em ?
    - Tại ra trường dạo phố mãi mê xem ...
    quên mua giấy, hết mực rồi không thư được "
    ....."

    *Chiều dạo phố gái cao nguyên môi hồng má thắm
    Anh không nhìn, cúi mặt nhớ người thương
    Đừng giận anh nghen, thôi anh sẽ xin thường
    mua giấy mực, viết thật nhiều cho Em đó

    * Đừng hờn nữa nghen, người thương bé nhỏ
    Mận ở đây nhiều nhưng Anh thích sơ ri thôi
    Nếu có ăn, Em nhớ cắn làm đôi
    Cho Anh một nửa,..chúng mình thương nhau nhất "

    *Niềm thương đó bây giờ Anh quên mất
    Lớp học buồn Em đếm lá thu bay
    Đếm lá rơi như đếm tháng năm dài
    Người đã mất sao thương hoài tờ thư cũ .?!

    Gò Công ngày...tháng....năm..
    ĐP

    Lần ấy hơn nữa tháng trời Em chưa nhận được thư Anh .Lần ấy Anh bảo là " Anh vừa đi xa trường để học nhảy dù nên không viết thư cho Em được ...lần ấy Anh còn hứa là sau khóa học Anh sẽ được nghỉ phép, chừng nào về Gò Công Anh sẽ kể cho nghe nhiều chuyện vui lắm . !!....

    Em cũng vừa ở Gò Công qua Cần Thơ nè, mua cho mấy đứa bạn vài ký Sơ Ri và một hủ mắm tôm chua ...
    Em lại nhớ Anh nói " cái gì của quê hương mình dù đơn sơ đến đâu cũng thấy thật đẹp thật mến thương !!
    Anh yêu, Sau khoá học Huấn Luyện Viên nầy, Về lại Cần Thơ Em chính thức thay anh Gíam Học dẫn SV năm thứ hai và thứ 3 thực tập Điều Dưỡng Phòng Mỗ - Vậy là Em sẽ còn được trở về Bộ Y Tế học khoá tu nghiệp về Điều Dưỡng Phòng Mỗ nữa khi bộ Y Tế mở khóa chuyên khoa nầy. Anh ngạc nhiên lắm sao? Tụi em cũng là dân " Đa năng đa hiệu " mà !! Là CSĐD cái gì cũng phải biết, Nội, Ngoại, Nhi, Nhiễm, kiêm cả Sản khoa, Phòng Mỗ, Tai Mũi Họng, đều phải học qua và khi nào ra trường, tuỳ theo nhu cầu mà sẽ có những khoá học bổ túc hậu tốt nghiệp: Huấn luyện viên, Phòng Mỗ, Tai Mũi Họng ...cho đúng chức năng và nhiệm vụ mình đang phụ trách
    Anh Đông nè,
    Bây giờ thì sáng Em dẫn học trò thực tập, chiều về trường dạy lý thuyết.
    Tuần lễ ba ngày chiều chiều đạp xe dọc đường Hoà Bình đến Hội Việt Mỹ học Anh Văn, rồi ghé chợ mua bánh Cống, bánh xèo ..!! Anh biết không xuống đây Em mới biết cái bánh Cống đó. Nghe tên thì lạ nhưng ăn rồi thấy nó cũng giống giống như cái bánh Giá của mình, mà bún ở đây thì to lắm, cọng bún gì mà gần bằng cọng " bánh tằm " ở quê mình ..Dưới quê mình sợi bún nhỏ xíu, mịn màng và món bún bánh Giá thì tuyệt Anh há ! Bún bánh giá là món ruột của Em cùng với món bún tôm chua - món ăn quê hương Gò Công mà bà HTH Từ Dũ đã " mua chuộc " được cảm tình của các quan triều Nguyễn, sau nầy đến Vua cũng còn mê ...về đây Em học được cách làm món mắm tôm chua nầy rồi ..

    Ngày tháng cứ thế êm ả trôi qua với Em trong cái xao động, rối ren của chiến trường từ quân khu I chạy dài về Quảng Trị tất cả những nơi chốn ấy, bây giờ đã thực sự không còn có Anh. Em không còn khấn nguyện cùng Phật Trời ban cho Anh bình an, may mắn gì nữa, Anh đang ngủ thật an lành trên đỉnh bình yên. và ...
    Vùng 4 chiến thuật thật an bình .
    Nhưng có thật bình yên không Anh .!!.....Thành phố Cần Thơ đã bị Pháo Kích !!
    HH



    X X XXX


    Lúc Sáng, Em đang đứng dán bảng phân công trực của khoá 2 /Cán Sự, em nghe có tiếng hỏi :

    - Cô là cô giáo?
    - Dạ
    - Cô là cô giáo của mấy cô học trò nầy?
    - Dạ phải, có chi không Bác Sĩ?

    - Trời đất ơi tui tưởng Cô là học trò chứ. Cô giáo gì mà nhỏ xíu vậy Cô ?

    Anh biết không, mấy chị nhân viên thì cười hả hả, còn mấy đứa học trò thì bụm miệng cười.... làm Em tức muốn khóc vậy đó.

    - Cô bao nhiêu tuổi rồi cô Phượng ?

    - Dạ 21, hay 22 hay 30 tuổi gì làm Huấn Luyên Viên cũng được mà Bác Sĩ? Đâu có nghe Bộ Y Tế cấm cô giáo... hỏng được nhỏ tuổi đâu...?

    - 1 - 0 rồi bác sĩ Khải ơi.!!

    Lúc ấy BS Thể cũng vừa bước vào phòng tiếp liệu:

    -Thôi BS Khải ơi ông chọc một hồi cô giáo khóc thét lên mất công học trò dỗ lắm đó.

    - Đâu được nà, BS Khải chọc cô giáo khóc thì BS Khải phải dỗ chứ sao lại bắt học trò dỗ cô giáo !!

    Tại Anh đó. Anh cứ kêu Em là " Bé" cho nên mãi đến bây giờ Em cũng chưa lớn.!! Em đã tính bỏ ra ngoài rồi, dân phòng mỗ mà. dạn ăn dạn nói nhất Bệnh Viện, làm sao Em dám tranh luận với họ. Nhưng BS Khải cười :

    - Thôi bây giờ nói chuyện đàng hoàng nghe cô giáo: Bác Sĩ Trưởng Khoa nhờ tui nói lại với cô giáo là BS chấp nhận lời đề nghị của cô, sau mỗi cas mỗ lớn cô cứ họp học trò ngoài phòng họp, sẽ có intert nào phụ mỗ trả lời và giải đáp thắc mắc về bệnh lý của các em...

    - Ngay bây giờ hả BS? Cám ơn BS nhiều...

    Anh biết không vài ngày trước, CT bị pháo kích, hình như hơi xa chứ không phải ở thị xã. Em không rõ ở đâu nhưng đã có một bầu không khí căng thẳng bao trùm lên thành phố. Ban đêm đã có lệnh giới nghiêm và bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa, Khoa Ngoại đông hẳn lên., BV nầy có bốn phòng mổ mà làm việc liên tục không phút nào ngừng nghĩ.

    Hôm qua Em đang ngủ vì chưa đến giờ làm việc buổi chiều thì Nguyệt, nhân viên phòng mổ, lên phòng gặp Em :

    - Trời! Giờ nầy cô giáo ngủ hả? Pháo kích vô hồi hôm bây giờ bệnh ở cấp cứu nằm la liệt, còn OR thì mổ liên tục tui làm hết nổi rồi, cô vô đứng phụ đi. Bây giờ hai chân tui tê cứng, đi mà hỏng biết mình đi trên chân ai nữa. Đêm hôm qua cas trực của con Xuân còn te tua hơn nữa, vô ra liên tục sáng đêm luôn-Xuân là bạn của Em, cùng khoá 14 /CSĐD

    - Rồi, chị về trước đi. Phượng thay đồ xong xuống liền...

    Mặc vội bộ đồ xanh phòng mỗ Em qua trường báo cho anh Giám Học hay là Em xuống tăng cường cho nhân viên bệnh viện rồi băng ngả cấp cứu vào OR. Trước mắt Em...từ hành lang cho đến trong phòng cấp cứu chật ních những người, mỗi giường 2,3 người...nằm cả trên băng ca xếp dài ngoài hành lang qua OR chờ mỗ: Cắt bỏ tay, chân, làm Parage......vv và vv...

    - Dữ vậy sao...!! Trời ơi lần đầu tiên Em mới thấy nhiều như vậy.!! Nhân viên phòng mổ, nhân viên phòng xét nghiệm, nhân viên hậu giải phẩu, chạy tới, chạy lui, ai cũng đều khẩn trương, gấp rút...

    Thấy Em đi vô BS Thể la to :

    - Trời cô giáo nở lòng nào ở trển ngủ hồi hôm đến giờ cô không xuống phụ tụi tôi...gần chết rồi nè....

    - Em đâu có phận sự ở đây BS, tụi em ở bên trường mà, đang lo soạn bài thi ra trường

    - Thi cử gì nữa cô ơi, họ đánh nhau rầm rầm mấy tháng nay rồi, không biết chừng nào đến mình đây...!!

    Nói vậy nhưng Em cũng mặc áo choàng, mang mask , đội nón...và rửa tay, bước vào cas mỗ thay dùm cho chị Nguyệt. Lần đầu tiên tên Em chính thức đứng trong một ê kíp mỗ và lưu vào sổ phúc trình của OR.