Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size


  1. CẢM TẠ


    Bà quả phụ NGUYỄN NGỌC PHƯỢNG và các con :
    -Trưởng Nam Lê- Dũng và gia đình ở Phường 5, Thành phố Vĩnh Long .
    - Út nam Lê Quang Phúc và gia đình ở khu Dân cư Hoàng Hảo, Long Hồ Vĩnh Long
    Gia đình chúng tôi xin chân thành Cảm Tạ :
    - Ban Lãnh đạo Sở Y Tế tỉnh Vĩnh Long,
    - Quý Cơ Quan, Ban Nghành, Đoàn thể của BHYT Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Vĩnh Long, BHXH Huyện Bình Minh, huyện Vũng Liêm, huyện Long Hồ ...
    - Bệnh Viện Y học Dân tộc Cổ Truyền Thành Phô Vĩnh Long
    - Khoa Mắt Bệnh viện Vĩnh Long
    - Trung tâm Y Tế Dự Phòng Vĩnh Long
    - Hội ái hữu của cựu Sinh Viên Y Khoa khóa 1968 - 1975 đã phúng điếu và thăm viếng Quý Đồng nghiệp, Thân Bằng quyến thuộc Nội - Ngọai hai bên .
    * Gia đình thông gia ở Phường 5 TP Vĩnh Long .
    * Gia đình Thông Gia ở Hốc Môn - Sài Gòn
    - Quý bạn bè thân thiết, xóm giềng Đường Lý Thường Kiệt Phường 1 Thành phố Vĩnh Long.
    Quý bạn bè Cận lân khu Dân cư Hoàng Hảo
    *Thầy Tạng Thanh *Di Lạc Hạ Lai *
    * Nhà thơ Trần Ngọc Hường
    * Thầy Dương Văn Huyện
    * Nhóm bạn khóa 9 trường Trung Học Công Lập Gò Công ngày xưa
    * Hội Thân Hữu Gò Công - Hoa Thịnh Đốn
    *Nhóm bạn thân Sang, Nhan, Nhưng, Dung, Phụng của Đệ Tứ 5 ngày Xưa
    * Nhóm Bạn Khánh Phượng, Hữu Hiền, Nhung , Nguyễn Văn On, Nỉ,Sáu.,Phan Thị Kim Hồng của Đệ Nhị B3 ngày xưa
    Đã ân cần thăm hỏi và chia buồn cùng chúng tôi .
    Đã đến Phúng điiếu và tiển đưa Chồng, Cha, Ông của chúng tôi đến nơi an nghĩ cuối cùng . Trong lúc tang gia nhiều bối rối và đơn chiếc, nên có rất nhiều sơ suất kính mong quý vị niệm tình tha thứ cho gia đình tôi

    TANG GIA ĐỒNG CẢM TẠ


  2. Các bệnh nhân bị đau dạ dày nên biết cách chữa đau dạ dày bằng củ nghệ vàng tươi. Đây là bài thuốc dân gian chữa đau dạ dày rất công hiệu, được nhiều bệnh nhân bị đau dạ dày tin tưởng và áp dụng.

    Các thành phần chữa bệnh có trong củ nghệ vàng


    Thành phần hóa học quan trọng nhất của nghệ là nhóm curcuminoid, bao gồm: curcumin, demethoxycurcumin, bisdemethoxycurrcumin. Curcumin là chất quan trọng mang nhiều công dụng chữa bệnh nhất.

    Ngoài ra, nghệ vàng còn chứa nhiều loại tinh dầu như atlantone, zinggiberene, turmerone. Nghệ vàng còn có các thành phần quan trọng khác là đường, nhựa và protein.

    Các nhà nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh curcumin trong nghệ là một thần dược có tác dụng chống viêm, chống ung thư, bảo vệ gan thận,…. Theo đó, công dụng của nghệ vàng trong chữa bệnh đó là chữa được đau dạ dày, viêm loét dạ dày hành tá tràng, ung thư, tim mạch, mỡ trong máu cao, bệnh về gan mật,…Bệnh nhân đau dạ dày nên chọn một trong các cách chữa đau dạ dày bằng củ nghệ vàng tươi sau đây.

    Cách chữa đau dạ dày bằng củ nghệ vàng tươi
    Cách 1: Dùng nghệ tươi mật ong

    Nguyên liệu
    – 1 củ nghệ tươi

    – 2 muỗng café mật ong

    Cách làm
    Củ nghệ tươi đem gọt vỏ, rửa sạch và giã nát, vắt lấy 3 muỗng café nước nghệ.

    Đem trộn nước nghệ và mật ong vào 100ml nước ấm, uống mỗi ngày 2 lần sau bữa cơm trưa và tối 30 phút, uống liên tục trong 2 tháng.

    Công dụng của bài thuốc
    Bài thuốc này giúp tăng tiết mật, hỗ trợ tiêu hóa (nhưng không làm tăng tiết dịch dạ dày vô ích). Bệnh nhân bị ứ trệ, khó tiêu, đầy bụng cũng nên uống nghệ mật ong. Curcumin trong nghệ vàng đóng vai trò như một lớp màng bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi các aicd tấn công.

    Xem thêm: Cách chữa đau dạ dày bằng nghệ đen

    Cách 2: Nghệ tươi, chuối chát, sắn dây chữa đau dạ dày hiệu quả

    Nguyên liệu
    – 10 củ nghệ tươi

    – 5 trái chuối chát còn xanh

    – 5 củ sắn dây

    Cách làm
    Củ nghệ tươi đem gọt vỏ, rửa sạch, để ráo rồi xay nhuyễn, đem phơi ở nơi khô ráo cho bột khô rồi bảo quản trong hũ thủy tinh có nắp đậy. Chế biến nghệ vàng thành bột nghệ tiện lợi khi dùng, xay nghệ một lần có thể dùng trong 2-3 tuần.

    Củ sắn dây cũng rửa sạch, gọt vỏ rồi thai thành từng que nhỏ, phơi khô rồi đem xay thành bột, bảo quản trong hũ có nắp đậy.

    Chuối chát xanh cũng thực hiện như với sắn dây. Vậy là ta đã chuẩn bị được 3 vị thuốc có thể dùng dần mỗi ngày.

    Khi làm thuốc: Đem pha 2 muỗng café bột nghệ, 1 muỗng café bột chuối chát xanh, 1 muỗng café bột sắn dây trong 100ml nước ấm, uống mỗi ngày 2 lần sau bữa cơm trưa và tối 30 phút, sau 2 tháng là khỏi hẳn bệnh đau dạ dày.

    Công dụng của bài thuốc
    Chữa bệnh được tất cả chứng bệnh viêm dạ dày như viêm cuống dạ dày, viêm niêm mạc dạ dày hành tá tràng, viêm hang vị dạ dày. Ngoài ra, bài thuốc còn chữa được chứng bệnh loét dạ dày hiệu quả.

    CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

    PHYTAN likes this.
  3. [​IMG]

    Treo tranh rồng, hổ, ngựa thế nào để không rước xui xẻo vào nhà?

    1. Tranh phong thủy biểu tượng con Rồng

    Trong phong thủy, rồng mang biểu tượng của quyền lực tối cao. Truyền thuyết kể rằng, 4 linh vật rồng xanh, phượng hoàng đỏ, hổ trắng và rùa đen bắt tay nhau tạo nên thế giới và chia bầu trời thành 4 góc. Mỗi hướng có một con vật cai quản, trong đó rồng chiếm góc phía Đông.

    Xét về đặc tính, rồng thông minh, quyết đoán và vô cùng mạnh mẽ. Treo tranh phong thủy mang biểu tượng rồng tượng trưng cho trí tuệ, sự may mắn, sức mạnh, tài lãnh đạo và cả lòng bao dung, nhân từ. Nhưng nếu không đặt tranh đúng chỗ, rồng dễ biến thành rắn, biểu tượng của sự hung bạo, xấu xa. Khi treo tranh rồng cần chú ý:

    – Đặt tranh sao cho đầu rồng không hướng ra ngoài. Vì điều này có nghĩa là người trong nhà luôn muốn ra ngoài, không cảm thấy yên ổn khi ở trong nhà.

    – Nên đặt tranh rồng ở tường phía Đông ngôi nhà. Nếu đặt ở phía bên phải ngôi nhà, có thể gây ra nhiều tranh cãi, mâu thuẫn trong gia đình.

    – Kị treo tranh biểu tượng rồng ở gần hoặc trong phòng tắm.

    – Tránh cuộn hoặc cất tranh vào góc nào đó hay nhà kho.

    – Trong một ngôi nhà, không nên treo quá 5 bức tranh rồng. Biểu tượng rồng sẽ tiếp thêm năng lượng cho chủ nhân ngôi nhà, khiến họ luôn khao khát làm việc và tiến về phía trước. Nhưng nếu quá nhiều năng lượng dễ khiến tâm lý con người bị kích động, bồn chồn, khó thư giãn. Vì vậy mà, thành công đạt được có thể phải đánh đổi bằng sức khỏe của cá nhân và gia đình.

    2. Tranh phong thủy biểu tượng con Hổ

    Trong phong thủy, hổ mang biểu tượng của phẩm giá cao, sức mạnh, sự vinh quang, lòng nhiệt huyết và quả cảm. Treo tranh hổ nhằm xua đuổi những điều bất hạnh trong gia đình như tà khí, ma quỷ, hỏa hoạn hoặc trộm cướp. Những điểm cần lưu ý khi treo tranh phong thủy mang biểu tượng hổ:

    – Khi treo tranh, nên để đầu hổ hướng ra ngoài nhà hoặc cửa chính, không nên để hưởng vào trong, vì điều này ám chỉ hổ đang chuẩn bị săn mồi.

    – Những khu vực có nguồn năng lượng thấp như phòng tắm, nhà kho, gara ô tô… không nên treo tranh hổ ở đây. Nên treo loại tranh này ở gần những nơi có không gian mở.

    – Đặt tranh quá cao hoặc quá thấp so với tầm mắt là điều nên tránh. Theo quan điểm phong thủy, đặt tranh quá cao sẽ tạo ra quá nhiều năng lượng so với mức cần thiết, đặt thấp thể hiện sự thiếu tôn trọng.

    – Cũng tương tự tranh rồng, không nên treo quá 5 bức tranh hổ trong nhà.

    – Khi treo tranh, dán một mảnh giấy đỏ kích cỡ khoảng bằng một tờ tiền đô la lần lượt vào đầu và đuôi con hổ. Việc này nên được tiến hành vào buổi trưa và đồng thời lẩm nhẩm trong đầu: “Thưa Đức Phật, xin Người hãy dẫn hổ quay lại chỗ mà nó tới. Từ giờ trở đi, bức tranh này chỉ là một tác phẩm nghệ thuật”.

    – Không nên chụp ảnh với hổ, bất kể là hổ thật hay chỉ trong các tác phẩm nghệ thuật (tranh vẽ, tượng điêu khắc…) Nếu đã lỡ chụp, hãy cắt phần ảnh chứa con hổ và đốt đi, tránh bị bệnh tật, ốm đau.

    3. Tranh phong thủy mang biểu tượng con Ngựa

    Ngựa mang biểu tượng cho tốc độ, sự bền bỉ, tự do, lòng dũng cảm. Tranh ngựa tượng trưng cho nhân tố Lửa (Hỏa) trong phong thủy. Bản thân con vật này mang nhiều năng lượng dương nên có tác dụng tăng may mắn, mang tới danh tiếng, sự thành công, địa vị cho gia chủ. Vì thế mới có câu “Mã đáo thành công”. Khi treo tranh mang biểu tượng ngựa cần chú ý những điểm sau:

    – Treo tranh sao cho đầu ngựa hướng vào phía trong nhà. Nếu làm ngược lại, nó sẽ ảnh hưởng xấu tới vận may tài lộc của gia chủ, ví dụ như chi tiêu nhiều hơn thu nhập, nhiều khoản nợ chồng chất, buôn bán thua lỗ…

    – Nên treo tranh mang biểu tượng ngựa ở phía Nam, Đông Nam của ngôi nhà, đối diện cửa ra vào hoặc cửa sổ.

    – Kị treo tranh chỉ có một con người, nhất là đối với những gia đình buôn bán, kinh doanh. Một ngựa là “độc mã”, ngụ ý khiến bạn bị mất phương hướng, chỉ một mình làm việc, không được nhân viên cấp dưới ủng hộ.

    – Hình ảnh ngựa phi nước đại được coi là mang nhiều dương khí cho gia chủ. Tuy nhiên nên tránh tranh vẽ nhiều con ngựa chạy phi nước đại về phía ngược nhau. Điều đó ám chỉ xung đột giữa các thành viên trong gia đình.

    – Không nên treo tranh những con ngựa chiến, có hình dáng kỳ dị hoặc thể hiện cảm xúc giận dữ. Đồng thời tránh chọn tranh vẽ các con ngựa có màu sắc đỏ, xanh lá, xanh nước biển. Nên chọn ngựa đen, nâu hoặc trắng.

    – Vị trí không nên treo tranh: gần hoặc đối diện cửa hướng ra ngoài đường, phòng tắm, bếp; sảnh chờ đối diện với kho hàng tại công ty…

    – Tránh treo tranh mang biểu tượng này ở phòng ngủ, vì nguồn năng lượng mạnh mẽ từ chúng sẽ làm xáo trộn không gian thư giãn, nghỉ ngơi. Nên treo tranh tại những khu vực chính trong nhà như phòng khách, sảnh chính…







  4. NÉT ĐẸP MIỀN NAM

    [​IMG]

    1/ Nam Phương hoàng hậu trong triều phục, 1934.
    2/ Nguyễn Hữu Thị Lan (tức hoàng hậu Nam Phương) năm 1930 khi đang theo học tại Pháp.

    Giới thiệu Quí Bà tần cung Đinh Thị Hạnh

    Nghĩ cũng lạ ! Nhơn tính của một con người từ thánh nhân cho đến thằng lếu láo đều luôn tự mâu thuẫn. Họ luôn tự vấn(lương tâm) và nói ra những điều lo sợ nhất ,những yếu kém được xảo biện và đó là một trong những huyền nhiệm lớn lao của đời sống...
    Có lần Hoàng đế Bảo đại tự vấn rằng " Trẫm thuận lấy Nam phương là vì học theo ý muốn của các tiên Đế..là lấy người đàn bà phương nam.".Thực ra Ông Hoàng Bảo đại si mê nhan sắc của Bà Nam phương phần nhiều ! Thì đúng hơn?
    Thế nhưng điều đó vô tình mở toang cánh cửa mật cung mà thiên hạ gọi là "thâm cung bí sử"
    Quy tắc chuẩn cho các thế tôn Hoàng đế là buột "lấy người đàn bà phương nam" Để duy truyền hậu thế cho Hoàng gia thay vì được tắm ao ta và giữ gái làng nhà ?
    Câu chuyện bắt đầu từ thời tiên đế Gia long. Trước khi băng hà Hoàng đế viết di mật chiếu truyền ngôi cho con trai thứ là Minh mạng.Việc này chưa từng có tiền lệ (phế trưởng lập thứ) nên rất nang giải cần trao cho hai cận thần tin cẩn là Phạm Đăng Hưng và Lê Văn Duyệt hậu thuẫn
    Phụng mệnh Hoàng đế ,Minh mạng lên ngôi Vua suông sẻ( dưới sự phản đối của các cựu thần).. nên nhà Vua hàm ơn Ông Lê v Duyệt và Ông Phạm Đ Hưng bằng cách giao cho Ông Lê van Duyệt quản lý -Tam cung lục viện.Ông Duyệt cho tiến cung cháu họ của mình là Bà Đinh Thị Hạnh người ở Giồng Đồng sơn -Gocong làm hầu cung cho thái tử Miên tông(con trai trưởng của Minh Mạng về sau là Thiệu Trị hoàng đế) và sinh được hai Hoàng nam là Nguyễn phước hồng Bảo và Nguyễn phước hồng Cai..
    Năm 1825 thượng thơ Phạm Đăng Hưng qua đời nên trưởng nữ của quan thượng thơ là Phạm thị Hằng sinh ở Giồng sơn qui- Gocong được lệnh tiến cung làm cung phi(Vợ) cho thái tử Miên tông và sinh được Hoàng nam là Nguyễn phước hồng Nhậm(Tự Đức)
    Trong suốt thời gian làm dâu xứ lạ của Bà Từ Dũ và Bà Đinh thị Hạnh được Ông Bác đồng hương Lê văn Duyệt chu toàn nên hai người xem nhau như chị em dù phải chịu đựng cảnh "thay phiên gác đêm" của kiếp chồng chung
    Năm 1847 Vua Thiệu trị (Miên tông)băng hà - Nguyễn Phước Hồng Nhậm (Tự Đức) được tôn chỉ lên ngôi Vua trong sự ngỡ ngàng của" thế tôn"Hoàng thái tử Hồng Bảo( trưởng nam của Bà Đinh thị Hạnh) vì quá kỳ vọng việc thừa kế ngai vàng nên Hoàng thái tử hồng bảo nhiều lần"làm mình làm mẩy" buộc người em cùng cha khác mẹ là Vua Tự Đức phải giam Ông anh "siêu quậy "vào mật thất... dù đã nhiều lần tha thứ .. nhưng Hồng bảo phẫn phẫn uất ..Rồi tuẫn tiết chết trong ngục các con của Ông Hồng Bảo phải buộc từ bỏ tước hiệu hoàng tộc trở về cuộc sống dân dã
    Của đáng tội cho người Mẹ nuôi là Bà Từ Dũ ! Vì Bà tần cung Đinh Thị Hạnh trước lúc qua đời (1848)đã gởi gắm cốt nhục của mình cho Lệnh phi Từ Dũ dưỡng nuôi vì vậy lên ngôi Hoàng thái hậu Từ Dũ phải chịu đựng nhiều sức ép bởi những lời đàm tếu thị phi ghanh ghét của đám cựu thần.. .Nhưng vì được huấn giáo từ lúc nhỏ trong gia đình nho học nên Bà thuộc lòng câu "trọn nghĩa phu,thê- phu xướng phụ tùy" nên ngậm ngùi nhìn cảnh "Tuồng ảo hóa giải bày ra đấy - kiếp phù sinh trong thấy mà đau"..Chấp nhận luật lệ của hoàng gia "Tôn quyền thất tộc" là do diễn tiến thời cuộc, do các Tam phụ đại thần định đoạt việc quốc an.
    Tuy nhiên Bà Từ Dũ vẫn âm thầm bảo vệ, nuôi duỡng người con trai út của Bà Đinh T Hạnh là Nguyễn phước hồng Cai và trong giờ phút cấp bách của Hoàng tộc họ phải nhờ tới "quyền uy tối thượng" của Mẫu hậu
    Bà Từ Dũ thực hiện một ý nguyện hết sức cao cả là phục hồi quyền thế tôn Vương triều cho các con trai của Nguyễn phước Hồng Cai là Vua Kiến Phúc -- Vua Hàm Nghi-- Vua Đồng khánh, tức cháu nội Tần phi Đinh Thị Hạnh .Tất nhiên các đời Vua Thành Thái, Duy Tân ..Khải Định .cho đến Vị hoàng đế cuối cùng là Bảo Đại cũng là phối ngẫu của Bà cố nội Đinh Thị hạnh..

    Đức hạnh cao cả nhất của nhơn tính là lòng từ bi bác ái .Sự miễn cảm là vô nhiễm và Bà Từ dũ và Bà Đinh Thị Hạnh là những người tiên phong làm nên danh giá và đức hạnh cho người đàn bà phương nam trở thành danh tiếng đời đời ...
    Và người xinh đẹp nhất dương thế ! Tên là Nam phương chuẩn hóa cho tất cả các tiêu chí là xinh đẹp, thông minh và bản lĩnh..cho những người đàn bà phương nam ..Nam phương hay phương nam là hiện thực cho những gì đẹp đẽ nhất..
    . (VTL..tổng hợp)
    [​IMG] [​IMG]
    PHYTAN likes this.

  5. Phật Mẫu Chuẩn Đề

    [​IMG]
    [​IMG]

    Phật Mẫu Chuẩn Đề tên Phạn là Cundì, Cunïdïhi(चुन्दी), tên chữ Hán là Thất Câu Chi Phật Mẫu hay Thất Câu Đê Phật Mẫu, Chuẩn Đề Bồ Tát. Ngài là một trong lục quan âm của Phật giáo, trong Tạng Giới Man Đa La ghi Chuẩn Đề là một trong 3 vị Phật Mẫu thuộc Biến Tri Viện.

    Chuẩn Đề là một vị bồ tát trong trường phái Đại thừa, và đặc biệt được nhắc đến nhiều trong Kim cương thừa. Bà được xem là Bhagavathi (trong tiếng Phạn có nghĩa là "nữ thần"), hay "mẹ của các Phật", và thường được xem là ngang hàng với Quán Thế Âm. Chuẩn Đề có thể có liên quan đến vị nữ thần Chandi trong Ấn Độ giáo.
    Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc. Đầu đội mão báu có ngọc lưu ly rũ treo, có 18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.

    Hiện thân của Chuẩn Đề Bồ Tát có nhiều hình hài, nhưng chân thân của bà được cho là:

    • Bửu tượng có nhiều vẻ quang minh tốt đẹp, đều chiếu diệu cả mình, còn thân tướng thì sắc vàng mà có lằn điển quang trắng.
    • Chỉ ngồi kiết già, trên thì đắp y, còn dưới thì mặc xiêm đều trọn một sắc trắng mà có bông, lại có đeo chuỗi anh lạc và trên ngực có hiện ra một chữ "vạn".
    • Còn hai cườm tay có đeo hai chiếc bằng ốc trắng, hai bên cánh tay trỏ có xuyến thất châu coi rất xinh lịch, lại hai trái tai có được ngọc bửu đương và trong các ngón tay đều có đeo vòng nhỏ.
    • Trên đầu thì đội mão Hoa quang, trên mão ấy có hóa hiện ra 5 vị Như Lai.
    • Khuôn mặt có 3 mắt, mỗi con mắt ấy có ánh nhìn sắc sảo.
    • Toàn thân có mười tám cánh tay, mỗi bên chín cánh.
    • Hai bàn tay ở trên hết thì kiết ấn Chuẩn đề, như tướng đương lúc thuyết pháp.
    • Tay trái thứ hai cầm lá phướn như ý, còn tay mặt cầm cái thí vô úy.
    • Tay trái thứ ba cầm một bông sen đỏ, còn tay mặt cầm cây gươm.
    • Tay trái thứ tư cầm một bình nước, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi Ni ma bửu châu.
    • Tay trái thứ năm cầm một sợi dây Kim cang, còn tay mặt cầm một trái la ca quả.
    • Tay trái thứ sáu cầm một cái bánh xa luân, còn tay mặt cầm một cái búa.
    • Tay trái thứ bảy cầm cái pháp loa, còn tay mặt cầm cái thiết câu.
    • Tay trái thứ tám cầm một cái bình như ý, còn tay mặt cầm một cái chày kim cang.
    • Tay trái thứ chín cầm một cuốn Kinh Bát nhã Ba La Mật, còn tay mặt cầm một xâu chuỗi dài.
    • Bồ tát Chuẩn Đề ngồi trên tòa sen, dưới có hai vị Long Vương ủng hộ.
    Chuẩn đề phật mẫu oai linh chú (chú Chuẩn đề)
    Theo Chuẩn Đề Đà la ni kinh (Cundī Dhāraṇī Sūtra), chú Chuẩn Đề được ghi như sau[1]:

    Tiếng Phạn

    namaḥ saptānāṃ samyaksaṃbuddha koṭīnāṃ tadyathā

    oṃ cale cule cunde svāhā

    Phiên âm tiếng Việt:
    {{Khể thủ quy y Tô Tất Đế, đầu diện đảnh lễ Thất Câu Chi, Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha
    Úm, chiết lệ, chủ lệ, Chuẩn Đề ta bà ha}}


    Dịch nghĩa

    Tôi quy y trước bảy mươi triệu hoàn hảo giác ngộ chư Phật. Này đây: Om! chuẩn đề! chuẩn đề! Cầu mong lời nguyện thanh tịnh này có thể là sự thật!
    Dịch thơ:

    Cúi đầu quy kính pháp viên thành
    Đỉnh lễ đủ bảy trăm ức Phật
    Con nay xưng tán Đức Chuẩn Đề.
    Nhờ lượng từ bi thương ủng hộ.
    Trong bộ kinh này, Đức Phật Thích Ca cũng giảng giải về tác dụng của việc tụng bài chú Chuẩn Đề. Bài chú được cho là gắn với khả năng thanh tịnh, nâng đỡ trong tự nhiên và liên quan chặt chẽ đến việc giải thoát cho bản thân.[1]
    Nếu có tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di nào thọ trì đọc tụng thần chú này mãn 80 vạn biến thì những tội ngũ vô gián đã tạo từ vô lượng kiếp đến nay hết thảy đều được tiêu diệt. Sanh ra chỗ nào cũng gặp chư Phật và Bồ Tát, đời sống tư sanh tùy ý đầy đủ, đời đời thường được xuất gia, trì đủ luật nghi tịnh giới của Bồ Tát, thường sanh nhơn thiên, không đọa ác thú, thường được chư thiên thủ hộ. Nếu có những người tại gia nam nữ thường trì tụng, thì nhà kẻ ấy không có khổ não tai ương, bịnh khổ. Ra làm việc gì đều được hanh thông, nói ra lời gì đều được tín thọ.
    Nếu tụng thần chú này mãn 10 vạn biến trong chiêm bao thấy được chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tự thấy trong miệng mửa ra vật đen. Nếu có ngũ nghịch tội thì không được thấy những hảo mộng như vậy. Nên tụng mãn 70 vạn biến thì sẽ được thấy những tướng như trước cho đến mộng thấy mửa ra sắc trắng như sữa, cơm, vân vân thời phải biết người đó tội diệt, được tướng thanh tịnh.


  6. cúng giỗ ÔNG BÀ CHA MẸ người mới MẤT"49 ngày như thế nào mới đúng ?




    Bàn thờ gia tiên là một trong những tín ngưỡng tổ tiên và phong tục tập quán của người Việt Nam được truyền từ đời này sang đời khác. Bàn thơ gia tiên thể hiện sự tưởng nhớ, “uống nước nhớ nguồn” của con cháu dành cho ông bà đã khuất của mình. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn bạn Cách bài trí bàn thờ gia tiên trong nhà chuẩn nhất để mang đến bình an, hạnh phúc cho gia đình.

    Thờ cúng ông bà hay người đã chết là một trong những truyền thống thường gặp ở các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Ở mỗi gia đình đều có một bàn thờ gia tiên được đặt ở những khu vực trang trọng, rộng rãi nhất. Tùy theo từng vùng, từng miền mà có Cách bài trí bàn thờ gia tiên trong nhà khác nhau nhưng theo phong thủy hướng tốt nhất để đặt bàn thờ chính là hướng Tây Bắc.

    Bàn thờ gia tiên là nơi thờ phụng thiêng liêng, do đó phải luôn sạch sẽ, các vật dụng trên bàn thờ phải được sắp xếp ngăn nắp.

    Ở giữa bàn thờ thường đặt bài vị hay di ảnh của ông bà đã khuất. Phía trước là bát nhang để cắm hương mỗi ngày. Bát hương tốt nhất nên dùng bát sứ và kị có màu vàng vì bát hương màu vàng chỉ dùng cho những nơi thờ thánh, thần. Hai bên bát nhang là chân đèn để thắp nến hoặc thắp đèn nhỏ loại trái ớt. Chúng luôn được thắp sáng mỗi ngày hoặc vào những ngày rằm, ngày giỗ để mang lại không khí ấm áp cho bàn thờ và thể hiện rằng linh hồn người chết sẽ không bao giờ tắt.

    [​IMG]

    Lọ độc bình thường dùng để cắm hoa, thần tài được đặt ở bên trái bàn thờ theo hướng đông vì ông bà ta có câu “đông bình tây quả”. Cũng theo quan niệm này, các loại trái cây khi cúng trên bàn thờ thường đặt ở hướng tây –tay phải.

    Trên bàn thờ thường được đặt thêm các loại cây vàng khối hoặc cây xanh để tăng thêm sinh khí cho bàn thờ.

    Với những gia đình có điều kiện trên bàn thờ có thể có thêm đỉnh đồng chạm khắc hình long, lân để đốt trầm vào mỗi dịp tết, cúng giỗ. Đỉnh đồng phải đặt trước di ảnh, sau bát nhang mới đúng vị trí.

    Với nhiều gia đình trước bàn thờ còn có một bức màn ỷ môn, khi cúng vái xong phải hạ màn xuống với ngụ ý rằng khi ông bà “ăn” phải che khuất để người ngoài không nhìn thấy.

    Hi vọng qua bài viết Cách bài trí bàn thờ gia tiên trong nhà ở trên bạn đã không còn thắc mắc nữa. Việc chăm chút bàn thờ sẽ giúp củng cố đức tin và thể hiện lòng kính yêu của bạn cho ông bà những người đã khuất do đó hãy cố gắng thực hiện đúng nhé.
  7. Địa Tạng Vương Bồ Tát - Thần Chú Giải Định Nghiệp















  8. CÁO PHÓ

    Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cùng thân bằng- quyến thuộc- Nội Ngoại hai bên :
    Chồng, Cha , Ông của chúng tôi là BS LÊ VĂN PHƯỚC nguyên:

    - Cựu Sinh Viên Y Khoa Sài Gòn Khóa 1968 - 1975
    - Cựu Phó Giám Đốc BẢO HIỂM XÃ HÔI
    - Cựu Phó Giám Đốc BẢO HIỂM Y TẾ
    -Cựu GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN THỊ XÃ TỈNH VĨNH lONG
    - Đã phục vụ trong các cơ Quan Ban Nghành và Đoàn Thể : Trạm Vệ Sinh Phòng Dịch,Đoàn Khám Tuyển Nghĩa Vụ Quân Sự tỉnh Vĩnh Long, đã tử trần lúc 13 giờ 5 phút ngày 17 tháng Tư năm 2017 , nhằm ngày 21 tháng 3 năm Đinh Dậu .
    * Lễ Động Quan lúc 7 giờ ngày 25 tháng 3 âm lịch và Hỏa Thiêu tại Sa Đéc lúc 10 giờ cùng ngày .

    Tang Gia Đồng khấp báo .

    =============================

    CẢM TẠ

    Bà Quả phụ NGUYỄN NGỌC PHƯỢNG và các con :
    - Trưởng Nam Lê- Dũng và gia đình ở Phường 5, Thành phố Vĩnh Long .
    - Út nam Lê Quang Phúc và gia đình ở khu Dân cư Hoàng Hảo, Long Hồ Vĩnh Long

    Gia đình chúng tôi xin chân thành Cảm Tạ ;
    - Quý Cơ Quan, Ban Nghành, Đoàn thể của BHYT Bảo Hiểm Xã Hội Thành Phố Vĩnh Long, BHXH Huyện Bình Minh, huyện Vũng Liêm, huyện huyện Long Hồ ...
    - Bệnh Viện Y học Dân tộc Cổ Truyền Thành Phô Vĩnh Long
    - Khoa Mắt Bệnh viện Vĩnh Long
    - Trung tâm Y Tế Dự Phòng Vĩnh Long
    - Hội ái hữu của cựu Sinh Viên Y Khoa khóa 1968 - 1975 đã phúng điếu và thăm viếng
    - Ban Lãnh đạo Sở Y Tế tỉnh Vĩnh Long, Ban Lãnh Đạo BHXH, - Quý Đồng nghiệp, Thân Bằng, quyến thuộc Nội Ngọai hai bên .
    - Quý bạn bè thân thiết, xóm giềng Đường Lý Thường Kiệt F1 Thành phố Vĩnh Long.
    Quý bạn bè Cận lân khu Dân cư Hoàng Hảo - Long Hồ - Vĩnh long.
    Đã đến Phúng điếu và tiển đưa Chồng, Cha, ông của chúng tôi đến nơi an nghĩ cuối cùng . Trong lúc tang gia nhiều bối rối và đơn chiếc, nên có rất nhiều sơ suất kính mong quý vị niệm tình tha thứ cho gia đình tôi

    TANG GIA ĐỒNG CẢM TẠ .

    -------------------------------------

    CẢM TẠ


    Bà quả phụ NGUYỄN NGỌC PHƯỢNG và các con
    -Trưởng Nam Lê- Dũng và gia đình ở Phường 5, Thành phố Vĩnh Long .
    - Út nam Lê Quang Phúc và gia đình ở khu Dân cư Hoàng Hảo, Long Hồ Vĩnh Long
    Gia đình chúng tôi xin chân thành Cảm Tạ :
    Thầy Tạng Thanh *Di Lạc Hạ Lai *
    * Thầy p324530, * Hội Viên NauAn , TNV HuouDiemtinh của Trang nhà TVTC
    * Nhóm bạn khóa 9 trường Trung Học Công Lập Gò Công ngày xưa
    * Hội Thân Hữu Gò Công - Hoa Thịnh Đốn
    *Nhóm bạn thân Sang, Nhan, Nhưng, Dung, Phụng của Đệ Tứ 5 ngày Xưa
    * Nhóm Bạn Khánh Phượng, Hữu Hiền, Nhung , Nguyễn Văn On, Nỉ,Sáu của Đệ Nhị B3 ngày xưa
    * Nhà thơ Trần Ngọc Hưởng
    * Thầy Dương Văn Huyện
    Đã ân cần thăm hỏi và chia buồn cùng chúng tôi .
    Trong lúc tang gia nhiều bối rối và đơn chiếc , nên có rất nhiều sơ suất, mong quý vị niệm tình bỏ lỗi cho.

    TANG GIA ĐỒNG CẢM TẠ













  9. Thương hiệu Việt Nam GẠO HOÀNG GIA
    Một trong những "thương hiệu Việt" đầu tiên xuất hiện vào năm 1863 Đó là "Gạo Gò Công"Nức tiếng chỉ dành cho Cung Đình (Huế) vậy tại sao được gọi là "thương hiệu" ? thay vì chỉ là đặc sản địa phương ?
    Hồi đó tồn tại một câu thành ngữ cổ"Gạo Gò công nước sông Đồng nai " đó chính là một" khẩu hiệu"có ý nghĩa tương đương với việc quảng bá thương hiệu trong hoạt động kinh doanh (cho dù người ta không cố ý)
    Nội hàm của khẩu hiệu này là Gạo Gò công được nấu với nước sông Đồng nai chứ không phải là gạo (lúa) được trồng ở Gò công và được dẫn tưới từ nước sông Đồng nai..
    Xét thực tế về mặt địa lý thì không thể thực hiện được.. bởi Vàm sông Đồng nai đổ ra cửa biển Lý nhơn+ Cần giờ nằm xa vùng trồng lúa cao sản (hầu hết nằm bên trong nội địa) .Vậy giống lúa này được trồng ở đâu ? tại sao mang tên là Gạo Gò công ?

    Năm 1867sau khi người Pháp thành lập Tỉnh Gò Công thì họ cho xây một thương cảng dài khoảng 500 m (kè đá phía bên hông chợ Cửa khâu ) .Và nơi này trở thành một nơi mua bán trao đổi sầm uất
    Hầu hết lúa gạo từ các vùng xung quanh được chuyển về đây trong đó có giống lúa đặc biệt "Nàng thơm "miệt Chợ đào(Cần đước Tân an) chuyển sang.. từ miền tây nam bộ chuyển về qua ngõ kênh Chợ gạo và giống gạo xóc nâu được trồng ở giồng nâu Gò công đưa đến.
    Tại đây các giống gạo được những người hàng sáu (người có kỹ năng trộn lẫn các giống gạo) bằng bàn tay khéo léo đã lai tạo một dòng gạo dẽo đặc biệt ,thơm ngon.lừng danh xứ Nam kỳ.
    Nhưng để tạo được danh tiếng cho dòng gạo này đạt hàng "King size" thì phải có một "Đại sứ thương hiệu" và người đó không ai khác chính là Mẫu Hậu Từ Dũ.. Bà chỉ muốn ăn dòng gạo từ Gò công và được nấu với nước sông Đồng nai.. đó mới là vị ngọt quê hương, mang hơi thở thơm tho từ hạt sữa quê Mẹ.. và đó là niềm hạnh phúc lớn lao trong những ngày tháng xa quê vời vợi của Mẫu hậu,
    Mỗi năm 1 đoàn thương thuyền từ xứ Gò công của cụ Bà Trần thị Sanh, cập bến Cửa Eo(Huế) bốc dỡ gạo Gò công chỉ dành riêng cho Hoàng gia vì vậy Gạo Gò công còn một cái tên rất hách đó là Gạo Hoàng Gia và phải được viết hoa mới xứng đó nghen !

    [​IMG]
  10. [​IMG]


    Wednesday, February 3, 2010
    Lời tự thuật của tác giả bài thơ "Màu Tím Hoa Sim"

    Có lẽ những người yêu thơ và nhạc không ai không biết đến bài Màu tím hoa sim, mà Phạm Duy phổ thành nhạc trong ca khúc Áo anh sứt chỉ đường tà. Ngoài ra, Dũng Chinh cũng phổ nhạc bài thơ này, nhưng tôi không thích bằng bài của Phạm Duy. Trong bài sau đây, Hữu Loan kể lại bối cảnh ra đời của bài thơ. Dù đã nghe qua những khó khăn lớn của ông, nhưng tôi không ngờ ông lại khổ cực như mô tả trong bài tự thuật này. Đọc để cảm phục cái tính can trường và bất khuất của tác giả.

    Bài viết còn nhắc đến vụ CCRĐ với một cảnh man rợ như mô tả trong đoạn này: "
    Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết."

    NVT


    ===

    [​IMG] [​IMG]

    Lời tự thuật của tác giả bài thơ "Màu Tím Hoa Sim"

    Hữu Loan: Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi - Nguyễn Hữu Loan.

    Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

    Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt .....

    Có lần tôi kể chuyện " bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu" Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....

    Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ....Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

    Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

    Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...

    Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ...

    Chín năm sau, tôi trở lại nhà...Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp....

    Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm " soạn kịch bản".
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: " yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

    Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

    Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

    Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn....Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói "Khi tóc nàng đang xanh ..." ...Tôi về không gặp nàng...

    Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

    Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chổ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

    Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
 / Những đồi sim, những đồi hoa sim / 
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
 / Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt / 
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết / 
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

    Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi" hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi". Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

    Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng....Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

    Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi...

    Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

    Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.



    [​IMG]

    Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu


    Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

    Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

    Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

    Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

    Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai , 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

    Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

    Năm 1988, tôi " tái xuất giang hồ" sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

    Nguồn: www.danchimviet.com/articles/2004/1/Li-t-thut-ca-tac-gi-1-bai-th-ni-ting-Mau-Tim-Hoa-Sim/Page1.


    sưu tầm
  11. BI HOA KINH
    (Trọn bộ một cuốn)
    PHÁP SƯ: BẮC LƯƠNG THIÊN TRÚC TAM TẠNG
    ĐÀM VÔ SẤM Dịch ra Hoa Văn trọn bộ

    TRUNG ƯƠNG HỘI THƯỢNG
    42 HỒNG BÀNG 42
    NHA TRANG
    VIỆT NAM

    NĂM 1982 - 1983
    MỤC LỤC BI HOA KINH
    QUYỂN THỨ 1:
    Phẩm thứ nhứt: Chuyển Pháp Luân
    Phẩm thứ nhì: Đà - La- Ni
    QUYỂN THỨ 2:
    Phẩm thứ ba phần 1: Đại- thí
    QUYỂN THỨ 3:
    Phẩm thứ ba phần 2: Đại - thí
    Phẩm thứ bốn phần 1: Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký

    QUYỂN THỨ 4:

    Phẩm thứ 4 phần 2: Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký

    QUYỂN THỨ 5
    Phẩm thứ 4 phần 3: Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký

    QUYỂN THỨ 6
    Phẩm thứ 4 phần 4: Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký

    QUYỂN THỨ 7
    Phẩm thứ 4 phần 5: Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký

    QUYỂN THỨ 8
    Phẩm thứ 4 phần 6: Chư Bồ Tát Bổn Thọ Ký

    Phẩm thứ 5 phần 1: Đàn ba- la- mật

    QUYỂN THỨ 9
    Phẩm thứ 5 phần 2: Đàn ba- la- mật


    QUYỂN THỨ 10

    Phẩm thứ 5 phần 3: Đàn Ba La Mật

    Phẩm thứ 6: Nhập Định Tam Muội Môn

    PHẦN CHÚ THÍCH
    000000000000000000000

    PHẨM THỨ NHẤT
    CHUYỂN PHÁP LUÂN
    Như vầy tôi nghe: Một thời Phật ở thành Vương xá núi Kỳ xà Quật, cùng chư tăng là sáu vạn 2 ngàn Đại - Tỳ- kheo Hội hợp . Chư vị đều là A la Hán, các lậu đã hết : Không còn phiền não, thảy đều tự tại: TÂM được giải thoát, TUỆ được giải thoát, tỷ như voi chúa khéo được huấn luyện việc cần làm làm xong,
    Trút bỏ gánh nặng xuống ( không còn bị thân Tứ Đại làm phiền lụy nữa) thành tựu mục đích của mình, diệt hết các hữu ( các hữu trong 12 nhân duyên là kiết sử buộc phải giải thoát bằng CHÁNH TRÍ TÂM tự tại , tất cả TÂM đều được độ qua bờ bên kia, chỉ trừ A NAN cùng Bồ Tát Ma Ha Tát gồm có 440 vạn người, Bồ Tát Di Lạc làm Thượng thủ, Các vị nầy đều đươc Đà la NI Nhẩn Nhục Thiền Định, hiểu sâu các pháp Không Vô Định Tưởng .Các Đại sĩ như thế không còn thối chuyển nữa.
    Lúc ấy còn có : Đại Phạm Thiên Vương cùng họp với vô lượng trăm ngàn các Phạm Thiên tử, Tha hóa Tự tại Thiên Vương cùng họp với quyến thuộc của họ là 400 vạn người .Hóa Lạc Thiên Vương cũng họp với quyến thuộc là 350 vạn người. Đâu Suất Thiên Vương cũng họp với quyến thuộc là 300 vạn người.
    Dạ Ma Thiên Vương cũng họp với quyến thuộc là 350 vạn người. Đạo Lợi Thiên Vương là Thích Đế Hoàn Nhân cũng họp với quyến thuộc là 400 vạn người . Tỳ Sa Môn Thiên Vương cũng họp với với các quỷ thần quyến thuộc là 10 vạn người.
    Tỳ Lâu Lặc Thiên Vương cũng họp với Câu Biện Trà quyến thuộc là một ngàn người .
    Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên Vương cũng họp với Các Rồng quyến thuộc là một ngàn vị.
    Đề Đầu lại Tra Thiên Vương cùng họp với các Càn Thát Bà quyến thuộc là một ngàn vị.
    Nan Đà Long Vương, Bà Nan Đà Long Vương cũng đều họp với một ngàn quyến thuộc, nhờ vậy các chúng ấy đều đã phát tâm hướng về Đại Thừa đã thực hành sáu ba la Mật.
    Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn được các quyến thuộc vây quanh Ngài vì Đại chúng nói Pháp vi diệu, trừ bốn điên đảo làm rõ Thiện Pháp, mở sáng trí tuệ, giải xong bốn Thánh đế, Ngài muốn khiến cho đời sau các Bồ Tát nhập được Tam muội, nhập Tam muội rồi, vượt quá Thanh văn, và Bích chi Phật, nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề không còn phải thối chuyển nữa.
    Lúc ấy Di Lặc Bồ Tát, Sư Tử Ý Bồ Tát,Vô Si Kiến Bồ Tát, Thủy Thiên Bồ Tát, Nhựt Quang Bồ Tát...các vị Thượng Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát là Mười ngàn Người Hội Họp,
    chư vị từ chỗ ngồi trịch áo vai phải, chân phải quỳ xuống đất, xoa thủ chắp tay hướng về phương Đông Nam, một lòng vui mừng cung kính, chiêm ngưỡng đồng nói lên lời nầy: " Nam mô Liên Hoa tôn đa -đà-a-già-độ-a-la-ha Tam miệu tam Phật Đà! Nam mô Liên Hoa tôn đa -đà-a-già-độ-a-la-ha Tam miệu tam Phật Đà! Bạch Thế Tôn, ít có, Thành A Nậu đa la tam-miệu tam bồ đề chẳng bao lâu mà Ngài đã thị hiện vô lượng biến hóa thần túc, khiến cho vô lượng-vô biên-trăm ngàn ức na do tha chúng sanh được trồng căn lành, được chẳng thối chuyển nơi A Nậu đa la tam miệu tam Phật- Đà ! "
    trang 7
  12. Nhận Diện Và Chữa Lành Vết Thương Trong Tâm Hồn (KT71) - Thầy Thích Minh Niệm 2016