Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Tôi vẫn cảm ơn internet vì đã giúp chúng ta mở rộng quan hệ nhiều và nhanh. Từ internet, tôi có những “cộng đồng mạng nhỏ” của riêng tôi. Nhóm nói chuyện văn nghệ, nhóm bàn chuyện thời sự, nhóm nói chuyện gia chánh.

    Internet cũng đem đến cho tôi những người tôi ái mộ. Tôi ái mộ họ có thể là văn, có thể là thơ, có thể là nhạc, có thể là trí thức, có thể là sự thành công trong xã hội Hoa Kỳ, có thể là tâm tình họ với quê hương VN, và buồn cười là vì sắc đẹp của họ nữa.

    Hôm qua nói chuyện với một cô em, tôi sôi nổi nói về một nhan sắc. Đó là một người mẫu Pháp-Việt. Tôi chưa thấy ai đẹp hoàn hảo như vậy. Người mẫu thì thân hình đẹp rồi miễn bàn đến. Tôi nói về sắc đẹp. Cô này, người bên phải trong hai người dưới đây, có khuôn mặt rất tuyệt, không có một lỗi nào và hết sức sang trọng, quý phái.

    [​IMG]

    Buổi tối lang thang tìm bài cũ trong computer, tôi nhặt ra được một bài thơ của CPSN mà tôi vẫn thích. Bốn câu cuối của bài đó đây:

    Tôi không biết bên ấy có buồn không
    Cũng chưa lần nào nghe ai nói
    Nhưng cứ từng mỗi hòang hôn
    Gió nhắn trên sông như lời chị gọi

    Tôi chuyển cho một cậu em, chủ tịch cộng đồng, có nghĩa đó là một người trong nhóm thời sự vì cậu là người rất thích thơ. Cậu viết trở lại cho tôi vài câu thật dễ thương, nhái theo bốn câu thơ trên:

    Tôi không biết bên Úc có buồn không
    Cũng chưa lần nào nghe ai nói
    Nhưng cứ từng mỗi hòang hôn
    Gió nhắn trên biển như lời chị gọi

    “Các chú lo liệu đừng để CS lấy mất CĐVN”

    Dễ thương và làm tôi bật cười. Bật cười vì cậu vẫn cảm ơn tôi đã làm nhiệm vụ “giải độc”, “quét rác” cộng đồng.

    Tôi viết tặng lại cho cậu, bài thơ tự do sau. Tôi chưa đặt tựa. Thôi thì nhờ người được tặng, đặt hộ vậy.

    Mai mốt chị về bên ấy

    Gió mùa Thu có buồn như nơi đây

    Trời mùa Đông chắc tuyết cũng chả phủ dầy

    Như năm xưa DC phủ trắng mầu trăng lạnh

    Rồi mùa Hạ cũng không rực hoa giấy đỏ

    Và mùa Xuân, sẽ sao nhỉ

    Em ơi!

    Cuộc đời như những chuyến tầu

    Mỗi khoảnh khắc qua ga là một thời không trở lại

    Người tiễn đưa hay kẻ ở chắc giống nhau

    Như tâm trạng và nỗi buồn chia cách

    Phải không em!

    Mai mốt chị về bên ấy

    Sóng trùng dương vị mặn cũng như nhau

    Xanh trời kia cũng chẳng khác chi nhau

    Lòng tự hỏi rồi có gì khác biệt

    Xuân, Hạ, Thu, Đông

    Xuân Hạ rồi lại Thu Đông

    Thế, em nhỉ!

    Hoàng Lan Chi

    10/2015
  2. Trích LanChiYesterday- Những vụn vặt đời sống quanh tôi


    Mấy hôm nay có vụ Hội Việt Học (Nam CA) mời mọi người tham dự “Đêm Văn Nghệ Chủ Đề "Biệt Li" của CLBVN Viện Việt Học”. Vì hai chữ “Biệt li” này mà Hội Việt Học bị nick chuyen.9811@gmail.com mỉa mai là Hội Thất Học. Mail mỉa mai này được mọi người ào chuyển tiếp theo kiểu “hồ hởi phấn khởi” vì bắt được quả tang Hội Việt Học dùng chữ Vc (cười).

    Cá nhân tôi trước đây cũng bị ngộ nhận như thế. Đơn giản thôi, kiểu “biệt li” không có thời trước 1975 và hiện tại trong nước thì vc dùng nhiều. Theo tam đoạn luận thông thường thì xem như vc là chủ xị của kiểu chữ đó. Tôi chỉ được giải tỏa vào năm 2014 qua một tình cờ thôi.


    Sự thể như vầy, tôi được sư huynh Lê Anh Kiệt gửi tặng cuốn “Mặt Trận Đại Học thời VNCH” của bạn sư huynh là Bạch Diện Thư Sinh. Khi đọc, tôi rất khó chịu vì một số Y bị viết thành I. Tôi mail bày tỏ với BDTS là mấy năm trước tôi lang thang net và có đọc bài của anh nhưng nó làm tôi “bối zối”. ( cười). Bối rối vì nội dung là “phe ta” mà hình thức lại dùng “chữ của VC”.


    Bạch Diện TS gân cổ lên cãi với tôi. Anh nói rằng khi được học môn Ngôn Ngữ Học ở Văn Khoa thì nhóm anh đã được biết những “điều chỉnh” đó. Lẽ ra nếu không vì tình hình chiến tranh thì Bộ Quốc Gia Giáo Dục sẽ phổ biến và như thế một số quy tắc mới “I/Y” sẽ được phổ cập từ bậc tiểu học.


    Tôi ngán ngẩm nói rằng, nếu Bộ đã không kịp phê chuẩn thì bây giờ cứ viết kiểu cũ đi. Chớ nếu viết vậy, mọi người không hiểu, sẽ cho là “sản phẩm made in VC”. Cộng đồng hải ngoại vốn đã rối ren nhiều thứ thì đừng làm rối ren thêm vì “I/Y”. Tuy tôi nói vậy, BDTS vẫn ngoan cố không nghe. Thôi thì trong lãnh vực ngôn ngữ , “đường lão lão Go, đường mợ mợ Go” vậy!


    Hôm thứ sáu ngày 11 tháng 9, 2015 tôi nhận mail từ một muội Gia Long. Cô này fw mail từ nick kia, nội dung chỉ trích Viện Việt Học đã viết “biệt li” và mỉa mai “Viện Thất Học”. Tôi chuyển cho Bạch Diện Thư Sinh và hỏi “ Họ viết Biệt li có đúng không lão?” thì lão giả nhời vầy:


    Lão nể Mợ cho nên đã đánh máy nguyên tắc 5 điểm này để "hầu" Mợ coi chơi.


    I, Y và UY (GS Đoàn Xuân Kiên)

    Nguyên tắc năm điểm:

    Viết Y trong những trường hợp sau đây:

    1) Khi tổ hợp âm /IÊ/ ở đầu một tiếng:

    Thí dụ: yên, yêu, yết.

    2) trong các tổ hợp âm chúm môi /UI/ và /UIÊ/ (viết là UY, UYÊ, UYA)

    Thí dụ: uy, chuyện, khuya, nguy, tuy.

    3) ở sau âm ngắn của A [trong chính tả hiện nay cũng viết bằng đồ vị /A/ và âm ngắn của Ơ [tức là đồ vị /Â/].

    Thí dụ: cay, dày, dạy, mây.


    Viết I trong những trường hợp sayu đây:

    4) khi âm /I/ là nguyên âm, hay là phần âm chính của âm tiết.

    Thí dụ: ỉ, bí, chim, hí, kim, lì, lính, sĩ, tị, vì, vinh.

    5) Khi âm /I/ là âm cuối, đứng sau phần âm chính ở thể thường, để khép âm tiết.

    Thí dụ: ngùi, đói, người, củi, hời, trai.

    (Trích GS Đoàn Xuân Kiên (Anh Quốc). Bài "Nói Thêm Về Chữ I và Y Trong Chính Tả Tiếng Việt". Trang 45. Tạp chí Định Hướng, Số 32, Mùa Thu 2002. Trung Tâm Nguyễn Trường Tộ)


    Tuy vậy, hôm nay, ngày 13 tháng 9 2015 khi có tên “khỉ” kia mạo nhận cựu nữ sinh Gia Long để viết mail chụp mũ cho Hội Ái hữu Cựu NS Gia Long Nam CA là “cố ý dùng I thay cho Y” và tôi bực mình vì đụng đến trường tôi nên tôi fw cho Bạch Diện TS thì lão “đùng đùng” vầy:

    1. Không! Lão không tranh cãi với ai. Lão chỉ nhẹ nhàng bảo là không nên chụp nón cối cho ai viết I thay Y mà thôi. Chưa có hàn lâm viện, chưa có luật thống nhất chính tả thì ai viết sao thì viết. Lão tôn trọng tự do.

    2. Lão không "ngoan cố". Lão theo tinh thần đại học khai phóng, tìm kiếm "khoa học". Ngữ Học là môn khoa học nhưng nó không cố định. Nó có đời sống, có tiến triển. Năm 1950 khác 2015.

    Lão nhờ ơn Trời cho tới cái tuổi "chống gậy", "Thất thập cổ lai hi". Lão thấy cái gì đúng, nên làm thì làm. Vị nào muốn nói chuyện Ngữ Học thì lão hoan nghênh và học hỏi với điều kiện họ cống hiến cái học thức, chứ còn cứ chửi vung xích chó lên, cứ tố cáo, cứ chụp mũ mà không đưa ra lí cứ, học thuật thì (xin lỗi) lão không việc gì phải quan tâm.


    Nể tình lão là bạn ‘tử tế’ nên tôi gửi lên đây bài lão viết về I/Y với hy vọng mai mốt bạn hữu tôi sẽ hiểu thêm và sẽ không nghĩ rằng đó là sản phẩm “made in Vc” nữa. Chẳng qua sau này trong nước, họ dùng thì người quốc gia cứ ngỡ đó là của vc mà thôi.


    Tôi còn nhớ hồi làm cho BPSOS thì chúng tôi, những người cũ, cũng “đụng độ” Nguyễn Đình Thắng về vụ ngôn ngữ này ( cười). Chúng tôi học thời VNCH và quen viết “hòa” hay “Ủy”. Ông Nguyễn Đình Thắng, có lẽ khi phải làm tờ Mạch Sống đã học lại Việt ngữ và ông đã học quy tắc bỏ dấu từ Đoàn Xuân Kiên (Anh Quốc) (tôi đoán vậy). Đó là bỏ dấu ở âm mạnh (strong, chính ). Vì thế bài tôi và các vị cao niên viết đều bị ô Thắng sửa “hòa” thành hoà” hết (cười) (ví dụ vậy). Sau vài tháng, ô Thắng “rầy rà” tôi là sao để staffs bỏ dấu sai hoài. Tôi “gào” lại với staffs và cộng tác viên. Hồi đó tôi rất “cáu” với ô Thắng. Khi tôi cãi, (ai bỏ dấu kiểu gì thì kệ họ) thì Thắng bảo, tờ Mạch Sống phải là một tờ báo “chuẩn mực” (Giê su ma lạy chúa tôi!). Dường như về sau, tôi có buổi “conference” huấn luyện cho staffs viết bài thì vài satff gào lên với tôi, phản đối vụ bỏ dấu. Tôi mail “report”cho Thắng và Thắng quyết định “ từ nay Thắng sẽ theo chúng tôi, phe đa số” vì Thắng không muốn bài ở Mạch Sống bỏ dấu khác nhau. Sau đó thì chuyện gì xảy ra thưa các bạn? Ô Nguyễn Đình Thắng nhà tôi “bỏ dấu tầm bậy” vì ông ta nghĩ là kiểu cũ của chúng tôi bỏ thế! Ông không hiểu, có những cái thì “cũ/mới” đều bỏ dấu giống nhau. Khi “edit” bài Thắng, tôi cười lăn cù chiêng với chữ này “óan”. Thế đó, một số người sau này học quy tắc bỏ dấu hay I/Y từ Đoàn Xuân Kiên và thế là bị chụp cái mũ "dùng chữ VC"!


    Đây là bài viết về I/Y của Bạch Diện Thư Sinh. Mong rằng sau khi đọc xong, có lẽ chúng ta sẽ không cò nghĩ “biệt li” là sản phẩm “made in vc” nữa. Hội Việt Học ở Nam CA đâu thể nào “xài chữ đặc quyền của Vc” được? (cười).


    Hoàng Lan Chi

    9/2015

    VIẾT ‘I’ HAY ‘Y’

    Bạch Diện Thư Sinh

    Báo Trẻ số 657 ra ngày 07.01.2010 có bài “Tiếng Việt ngày nay: Chữ và Nghĩa” của tác giả Quốc Thái đã gây cho tôi nhiều thiện cảm vì tác giả là một bạn trẻ sống ở hải ngoại mà rất quan tâm tới việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt; hơn nữa lại còn có tinh thần chống chế độ Cộng Sản độc tài, độc đảng rất cao.


    Tôi tán đồng hầu hết những điều tác giả Quốc Thái nêu ra trong bài viết, nhất là đoạn tác giả nhắc nhở cho vài vị cựu tù Cộng sản “không có ý thức”. Quốc Thái viết: “Trong công ty tôi có một Bác xưa là sĩ quan cao cấp của Quân lực VNCH mà nói với tôi rằng ‘hồi giải phóng vô, sau đó Bác đi học tập cải tạo, đất nước mình nghèo và lạc hậu, bây giờ đổi mới và phát triển rất nhiều so với thời VNCH và lúc mới giải phóng’. Tôi hỏi Bác, ai là giải phóng? Tại sao Bác gọi kẻ thù mà một thời Bác từng cầm súng chống sự xâm lăng của họ và bảo vệ miền Nam là giải phóng, họ giải phóng Bác và nhân dân miền Nam à? Và tại sao Bác lại nói rằng Bác ‘đi học tập cải tạo’, như vậy Bác tự cho rằng lý tưởng Quốc gia của Bác khi xưa là sai hay sao? Vậy tại sao Bác hiện diện ở xứ sở này để làm gì?”


    Chỉ có một điều tôi xin tác giả Quốc Thái xem xét lại. Đó là việc tác giả khẳng định rằng “CS hay viết I thay cho Y, ví dụ: mỹ, thì họ viết là mĩ, kỹ thì họ viết là kĩ, v.v. và Y thì lại thay cho I, ví dụ như sỹ quan, nhạc sỹ, bác sỹ. Lối viết này tôi thấy rất nhiều trên báo của người Việt hải ngoại”.


    Thiển nghĩ đây không còn phải là vấn đề Quốc - Cộng nữa mà là một vấn đề thuộc lãnh vực của môn ngữ học.

    Đã có biết bao nhiêu người thắc mắc, tự hỏi viết I hay Y trong chính tả chữ quốc ngữ, cách nào đúng? Có quy tắc gì không? Xưa nay,trong từ điển cũng như trên các sách vở báo chí rõ ràng đã có chuyện viết bất nhất hai chữ này; còn trong đời thường đã từng xẩy ra biết bao nhiêu cuộc cãi vã, thiếu điều ‘thượng cẳng tay hạ cẳng chân’ với nhau chỉ vì viết I hay viết Y mà ra!

    Do đó, dường như tất cả những ai quan tâm tới chữ quốc ngữ đều mong ước các nhà chuyên môn về ngữ học nghiên cứu và thống nhất với nhau về cách viết chính tả tiếng Việt, trước khi nhà nước, học đường, các nhà làm từ điển và các cơ quan truyền thông làm phần việc của họ để sớm hoàn tất việc định chuẩn hoá cách viết chính tả tiếng Việt, trong đó cách viết hai chữ I và Y nổi bật lên.

    Hôm nay, nhân đọc bài viết trên báo Trẻ của tác giả Quốc Thái, tôi nhớ lại trước đây trên Mục Sưu Khảo của Vietcatholic News, tôi đã được đọc một bài viết của Linh mục Nguyễn Ngọc Huỳnh, CssR, cũng bàn về chữ nghĩa, và về cách viết chữ I và Y. Mặc dù ngày xưa tôi có “giật” được Chứng chỉ Ngữ học Việt Nam (tại Văn Khoa/Đh Saigon) thật, nhưng tự nhận, tôi không chuyên môn về ngữ học, mà chỉ là một trong muôn vàn người quan tâm tới việc thống nhất chính tả Việt ngữ và muốn học hỏi thêm với các nhà chuyên môn, và tôi đã mạo muội đúc kết ý kiến của các vị đó thành một bài ngắn nêu lên lí do và quy tắc cho việc thống nhất cách viết hai chữ I và Y trong chữ quốc ngữ .

    1. Kỹ thuật hay kĩ thuật, tu sỹ hay tu sĩ?
    Lm.Nguyễn Ngọc Huỳnh cho là viết cách nào cũng được vì đọc lên nghe giống nhau cả, linh mục nói thêm: nếu viết tất cả bằng chữ I thì “gọn” hơn và tốt hơn cho việc thống nhất chính tả.

    Nói như Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh thì vấn đề vẫn còn tùy tiện. Thiển nghĩ, nên viết thống nhất bằng chữ I trong trường hợp này. Viết I trong trường hợp này là đúng theo nguyên tắc do Alexandre De Rhôdes đưa ra từ năm 1651: (a) chữ I dùng để ghi nguyên âm của âm tiết, có thể là nguyên âm đơn /i/ hay nguyên âm đôi /iê/ : bí, biết. (Xin đọc Gs. Đoàn Xuân Kiên. Nói Thêm Về Chữ I Và Chữ Y Trong Chính Tả Tiếng Việt. Định Hướng số 32, tr.43).

    [SIZE=2[B]2. Chú ý hay chú í, y học hay i học?[/B][/SIZE]
    Đây là trường hợp chữ I đứng một mình, không phụ âm đầu, không phụ âm cuối, chẳng có bán nguyên âm đệm, chẳng có bán nguyên âm cuối. Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh cho rằng trường hợp này viết Y sẽ có “thẩm mĩ hơn”, đỡ “tội nghiệp” hơn.

    Giáo sư Đoàn Xuân Kiên cũng nghĩ như vậy. Ông nêu lí do vì có “sự thiên vị trong tâm lí ngôn ngữ”: “ Trong chính tả hiện nay, khi âm /i/ đứng ở đầu âm tiết thì khi viết có tình hình nước đôi: ý tưởng, nhưng í ới. Nếu theo đúng nguyên tắc (a) của De Rhodes thì phải nhất loạt viết là I mà thôi. Tuy vậy, trong khi chúng ta viết âm ỉ, ầm ĩ, đi ỉa theo đúng nguyên tắc âm vị học thì sự thiên vị trong tâm lí ngôn ngữ đã dẫn đến thói quen viết y thị, ý kiến, ỷ lại.”

    Nếu tôi không lầm về thời điểm thì vào năm 1983 (không dám chắc lắm), lúc đó tôi đang ở Trại A 20 (Trại Xuân Phước, Mật khu Kì Lộ, tác giả Nguyễn Chí Thiệp gọi là Trại Kiên Giam) và đã đọc được bài báo đưa tin về Hội nghị các nhà ngữ học VN (Bắc cũng như Nam) tại Đại học Tây Ninh, tức Đại học Cao Đài trước 1975. Hội nghị này đã khuyến cáo: Tạm thời có thể tùy ý viết I hoặc Y trong trường hợp chữ này đi một mình.

    3.Quy hay qui, quý hay quí, quỷ hay quỉ, quỳ hay quì, quỹ hay quĩ, quỵ hay quị?
    Xin đồng ý ngay với Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh khi ông cho rằng quỷ là q+uỷ, nhưng bảo củi là q+ủi thì không chính xác.

    Vì trong tiếng Việt, k viết trước các nguyên âm “i”, “e”, “ê”: ý kiến, kén chọn, kênh kiệu.

    c viết trước các nguyên âm khác: ca hát, con cá, cô cậu, cúc cung.

    q viết trước bán nguyên âm đệm “u”: qua loa, quan tòa, luẩn quẩn, loạng quạng.

    Lm. NguyễnNgọc Huỳnh nhấn mạnh “u” ở đây là bán nguyên âm, vì nếu là nguyên âm thì theo nguyên tắc ta phải viết “cu”. Thế nhưng ông lại chủ trương viết được cả hai cách các chữ quy hay qui, quý hay quí, v.v., lấy lí do khi đọc lên, viết cách nào,thì nghe cũng giống nhau cả!

    Đang khi đó, giáo sư Đoàn Xuân Kiên cũng nói âm /k/ được kí hiệu bằng 3 chữ cái c, k,q tùy trường hợp. Nhưng giáo sư nhấn mạnh trường hợp chữ q đi với tổ hợp âm chúm môi /ui/. Ông nhận xét trong tiếng Pháp, không bao giờ q viết một mình mà luôn luôn đi kèm với u cho nên người ta dễ lầm tưởng qu ở đây chỉ là phụ âm đầu trong trường hợp âm chúm môi và sẽ viết quí, quít vì âm /i/ nay là nguyên âm đứng làm phần âm chính của âm tiết. Sự thực thì phần chính của âm tiết chúm môi là /ui/ chứ không là /i/, cho nên nếu đã viết quyết, quyền thì tại sao lại viết quí mà không viết quý.

    Tóm lại, theo giáo sư Đoàn Xuân Kiên (cư ngụ tại Anh quốc), có nguyên tắc gồm 5 điểm để viết I và Y do Alexandre De Rhodes để lại như sau:

    Viết Y trong những trường hợp:

    1) Khi tổ hợp âm /iê/ ở đầu một tiếng.

    Thí dụ: yên, yêu, yết.

    2) Trong các tổ hợp âm chúm môi /ui/ và /uiê/ (viết là uy,uyê,uya).

    Thí dụ: uy, chuyện, khuya, nguy; (do đó đương nhiên sẽ viết: quy, quý, quỷ, quỳ, quỵ).

    3) Ở sau âm ngắn của a [trong chính tả hiện nay cũng viết bằng đồ vị /a/ và âm ngắn của ơ [ tức là đồ vị /â/].

    Thí dụ: cay, dày, đây, mây.

    Viết I trong những trường hợp:
    4) Khi âm /i/ là nguyên âm, hay là phần âm chính của âm tiết.

    Thí dụ: ỉ, bí, chim, hí, kìm, lì, lính, sĩ, tị, vì, vinh.

    5) khi âm /i/ là âm cuối, đứng sau phần âm chính ở thể thường, để khép âm tiết lại.

    Thí dụ: ngùi, đói, người, củi, hồi, trai.

    Trên đây là câu chuyện của những người quan tâm tới việc thống nhất chính tả tiếng Việt. Song dù các nhà ngữ học có công lao nghiên cứu đến đâu cũng chẳng đủ thẩm quyền để bắt mọi người phải viết theo nguyên tắc. Hơn nữa trong lãnh vực phong tục tập quán nói chung, lãnh vực ngôn ngữ nói riêng, vốn đã có một quy luật, đó là: thói quen là luật. Không dễ gì trong một sớm một chiều mà có thể thay đổi được một thói quen. Tuy nhiên, hãy cứ cổ võ, hãy cứ học hỏi với các nhà chuyên môn này. Hi vọng một ngày không xa, nhà nước, các học đường, các nhà làm từ điển và các cơ quan truyền thông sẽ đứng ra lãnh trách nhiệm san định, định chuẩn hóa tiếng Việt hầu có thể thống nhất chính tả Việt ngữ, làm cho tiếng Việt tiến lên trong sáng và trưởng thành. Khi đó một học sinh, sinh viên khi làm bài thi sẽ hết còn phải lo âu, như chính chúng tôi đã từng lo âu trước đây, không biết thầy mình ưng mình viết yêu quí hay yêu quý, nước Mĩ hay nước Mỹ, nhà Lí hay nhà Lý, hi sinh hay hy sinh, v.v., nếu không may viết trái ý thầy có thể sẽ bị đánh giá là lố lăng, lập dị thì rất tai hại cho kết quả thi cử.


    Tới đây, mong rằng tác giả Quốc Thái và quý độc giả hiểu việc viết I hay Y không phải là vấn đề chính trị, cũng không phải là chuyện lố lăng hay lập dị, mà là chuyện ngữ học, chuyện thống nhất chính tả Việt ngữ. Muốn thống nhất thì phải dựa trên những nguyên tắc hợp lí, phải được Quốc hội chân chính (được bầu lên một cách dân chủ thực sự) chấp thuận và chính phủ ban hành thành luật. Lúc đó mới có thể bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ một cách viết chính tả duy nhất đúng.


    Hiện nay tuy điều mong ước ấy chưa thành, vẫn còn tình trạng tùy tiện khi viết hai chữ I và Y, nhưng xin đừng ai quy kết cho nhau là học theo lối viết của Việt Cộng hay là lố lăng, lập dị khi viết: nhà Lí, nước Mĩ, li rượu, kĩ nghệ…hay là viết quý mà không viết quí, v.v., đang khi đó vẫn viết ỷ y, y tế, ý kiến (biệt lệ), nhưng lại viết y sĩ…, vẫn viết yêu, yên, yết, nhưng viết Ngã Ba Chú Ía, ỉa đái (xin lỗi)…. Bởi vì viết như vậy là đang áp dụng quy tắc của Alexandre De Rhodes đưa ra từ năm 1651. Quy tắc này rất hữu lí và có thể làm căn bản cho việc thống nhất cách viết hai chữ I và Y trong chữ quốc ngữ.

    Bạch Diện Thư Sinh
  3. Hoàng Lan Chi thực hiện

    Bản dịch: Khôi An-Hoàng Tích Hương

    Phỏng vấn Richard Botkin, tác giả “Ride The Thunder”



    LGT: Cuốn phim Ride The Thunder vừa được trình chiếu tại Orange County vào tháng 3/2015.Thu hút cả ngàn người trong những buổi chiếu đầu tiên vì đây là một phim nói về cuộc chiến Việt Nam, thực hiện bởi một chiến binh TQLC Hoa Kỳ, mục đích vinh danh quân đội VNCH, bác bỏ các luận điệu của giới truyền thông Hoa Kỳ 1970 là người lính VNCH không chiến đấu anh dũng, giới lãnh đạo chỉ tham nhũng.

    Tác giả cuốn sách cùng tên, xuất bản năm 2006, dày 800 trang, cựu Thiếu Tá TQLC Richard Botkin đã có vài buổi gặp gỡ với cộng đồng người Việt trên các màn ảnh nhỏ vào tháng 3/2015. Hôm nay, Hoàng Lan Chi xin được gửi buổi trò chuyện của ông với HLC. Tóm lược bộ phim là nói về tình bạn giữa hai người: cố vấn John Ripley và Trung Tá Lê Bá Bình. Bối cảnh là trận chiến Đông Hà. Nơi đây, cả hai đã quyết định phá cầu Đông Hà để bảo vệ Huế. Sự phá cầu này không dễ vì cầu rất kiên cố, không nhờ được Không Quân yểm trợ vì thời tiết, và dưới làn mưa đạn của cộng sản. Cảnh tù đày sau 1975 cũng được diễn tả.

    Richard Botkin chưa từng tham dự cuộc chiến VN nhưng để viết cuốn sách “Ride The Thunder”, ông đã mất gần mười năm nghiên cứu, cùng cựu TT Lê Bá Bình đi về VN bốn (4) lần để tận mắt nhìn Đông Hà, Quảng Trị..

    Cuốn sách đã được một nhóm người Việt dịch sang tiếng Việt. Richard Botkin cùng đạo diễn Fred Koster và vài thân hữu đã thực hiện bộ phim chỉ với một kinh phí tự góp hết sức nhỏ bé: một triệu Mỹ Kim. Phim được quay ở Hawaii. Tài tử Josept Hiếu rất xuất sắc trong vai TT Lê Bá Bình. Tài tử Mỹ, Eric St. John, cũng xuất sắc trong vai Ripley.

    Trong thời gian gấp gáp này, chúng tôi xin gửi bản phỏng vấn ô Richard Botkin chỉ về cuốn phim. Trong tương lai, sẽ có một buổi thứ hai đi sâu vào cuốn sách. Song song là một buổi phỏng vấn với Cựu TT Lê Bá Bình, ông đang cư ngụ ở San Jose.

    Để yểm trợ cho người làm phim, có thể tiếp tục thực hiện đề tài tương tự, lấy lại danh dự và vinh quang cho quân lực VNCH, xin quý vị hãy vào trang web sau đây để “vote” cho phim được trình chiếu rộng rãi: http://www.ridethethundermovie.com/contact/. Đồng thời xin quý vị cùng nhau đi xem phim, rủ cả gia đình, bạn hữu cùng đi.

    [​IMG]

    Hoàng Lan Chi

    Xem youtube TS Phan Quang Trọng phỏng vấn ô Richard Botkin nhân dịp phim chiếu ở San Antonio tháng 5/2015:

    Lan Chi: Xin chào ông Richard Botkin. Phải nói là đa số người Việt tị nạn cộng sản đều dành cảm tình cho cuốn sách và cả cuốn phim “Ride The Thunder”. Không phải chỉ vì phim vinh danh quân lực VNCH, xé toang màn u ám bao phủ cuộc chiến bởi giới truyền thông Hoa Kỳ thập niên 70, mà còn vì có rất nhiều “người trẻ” tham gia. Những người này chưa hề biết cuộc chiến VN, thậm chí chưa hề sống ở VN nhưng họ tham gia và nồng nhiệt trong sứ mạng viết lại lịch sử. Tính từ buổi công chiếu đầu tiên, tháng 3/2015 đến nay, phim đã được chiếu tại những tiểu bang nào và kết quả ra sao?

    Richard: Bộ phim của chúng tôi đã trình chiếu ở Westminster, San Jose, Houston, Phoenix/Tempe, Las Vegas, Oceanside and San Antonio. Thứ sáu tới đây ngày 19, sẽ được chiếu tại Prescott, AZ. Prescott là nơi mà chúng tôi đã quay rất nhiều cảnh trong bộ phim này. Đây sẽ là một thử thách cho chúng tôi vì nơi đây cộng đồng VN không đông. Lần ra mắt phim đầu tiên là ở Westminster CA. Chúng tôi chỉ chiếu một tuần lễ ở một rạp chiếu phim. Chúng tôi đã thành công rực rỡ cho lần chiếu này. Trong tuần lễ mở màn, số vé bán cho từng xuất chiều đạt chỉ số cao nhất trong toàn nước. Chúng tôi đã ngừng chiếu sau tuần lễ đầu tiên vì chúng tôi muốn giữ con số này. Chúng tôi cũng điều chỉnh lại một số đoạn phim mà chúng tôi nghĩ là quan trọng. Có một điều chúng tôi sửa đổi lại là bỏ thêm phụ đề tiếng Việt để những người Việt không nói được tiếng Anh có thể hiểu. Chúng tôi cũng biết rằng một số người Vietnam giúp chúng tôi dịch lại bộ phim này là những người thích Cộng sản nên có những đoạn dịch hoàn toàn khác nghĩa với điều chúng tôi muốn nói. Nhưng sau đó chúng tôi may mắn gặp được những người bạn Việt Nam tốt bụng đã giúp sửa đổi lại những phần này. Chúng tôi hy vọng việc sửa đổi này sẽ được hoàn tất trong tuần tới. Sau khi xong, chúng tôi dự định sẽ trình chiếu lại tại những thành phố đông người Việt cư ngụ.

    Về việc chiếu bộ phim này ở những thành phố khác trên nước Mỹ, chúng tôi đã thành công ở Houston và Phoenix, tàm tạm ở San Jose và Las Vegas, còn ở Oceanside và San Antonio thì không được khá. Chúng tôi rút kinh nghiệm rằng chúng tôi cần phải chọn địa điểm trình chiếu một cách tốt hơn. Trong tương lai, chúng tôi biết mình sẽ phải chiếu ở những nơi gần cộng đồng người Việt. Và chúng tôi cũng cần có nhiều hỗ trợ để việc quảng cáo bộ phim được hữu hiệu hơn.

    Lan Chi: Ông kỳ vọng những gì ở bộ phim này? Lợi nhuận nếu có ông sẽ tiếp tục đầu tư để thực hiện một bộ thứ hai về Việt Nam? Chủ đề nào sẽ được chọn? Cuộc chiến đấu anh dũng qua từng trận đánh hay đời người lính sau khi miền Nam bị bỏ rơi?

    Richard: Trước đây, tôi chưa từng sản xuất phim nên tôi không mong đợi gì cả, mặc dù khi làm phim này tôi có ý định là ít nhất phải huề vốn. Kế hoạch riêng của tôi: nếu phim thành công thì sẽ chia sẻ ít nhất 50% lợi nhuận với những cơ quan từ thiện mà tôi thấy là quan trọng. Cơ quan đầu tiên là Semper Fi Fund để giúp đỡ những chiến sĩ bị thương từ Iraq và Afghanistan. Cơ quan thứ hai là is Agape International Ministries. Cơ quan này giải thoát những bé gái khỏi những cuộc buôn bán nô lệ tình dục ở Cambodia. Từ 1988, mỗi năm đến tháng 11, tôi đều đi với một nhóm nhỏ gồm các bác sĩ, nha sĩ đến làm việc ở Cambodia 2 tuần. Ở đó, chúng tôi làm việc với Agape. Bên cạnh các cơ quan kể trên, có một điều tuy tôi chưa biết tường tận, nhưng tôi biết rằng có nhiều cựu chiến binh Việt Nam ở Mỹ không được hưởng các phúc lợi như các cựu chiến binh Mỹ. Nếu chúng tôi may mắn có được phương tiện, tôi muốn giúp đỡ nhóm người bị thiệt thòi này. Về những dự định trong tương lai thì tôi sẽ trả lời cặn kẽ trong các câu tới, nhưng câu trả lời ngắn gọn là “Có”, có rất nhiều điều cần phải làm trong nỗ lực nói lên sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam.

    Lan Chi: Chi phí thực hiện rất khiêm nhường và do sự đóng góp của nhóm bạn hữu. Nếu được cấp ngân khoản gấp 50 lần, ông sẽ ưu tiên thực hiện phân đoạn nào cho phim? Ý tôi muốn nói, cảnh nào là ưu tiên để gửi thông điệp đến khán giả, một thông điệp mà tôi cho là quan trọng vì dính líu đến bộ mặt của Hoa Kỳ đối với các quốc gia đồng minh?

    Richard: Câu hỏi rất hay. Nếu chúng tôi không bị giới hạn về tiền bạc thì chúng tôi sẽ có nhiều người tù hơn ở trong các cảnh về trại tù “cải tạo”. Chúng tôi cũng có thêm nhiều cảnh tại chiến trường, kể cả cảnh cầu Đông Hà bị nổ tung.

    Lan Chi: Mục đích của ông là trả sự thật cho lịch sử. Theo ông, giới thuyền thông Mỹ “thiếu tử tế” thập niên 70 sẽ có phản ứng gì về phim này? Ông sẽ làm gì với những phản ứng đó?

    Richard: Những người đứng về phía Tả, tức là những người theo phe VC hoặc là ghét người Mỹ sẽ không thích bộ phim này. Chúng tôi đã thấy rõ điều này qua một số ý kiến. Có rất nhiều người Mỹ ở độ tuổi phục vụ quân đội trong chiến tranh VN đã tin rằng HCM là một người tốt và việt cộng sản tấn công Miền Nam VN chỉ là cuộc nội chiến, họ cũng tin rằng MNVN tham nhũng và bỏ cuộc, và cộng sản thật ra không phải là điều xấu. Vì tin vào điều như vậy, họ đã không tham dự cuộc chiến và bản thân họ không hề cảm thấy tội lỗi khi đã đặt quyền lợi của mình lên trên quyền lợi quốc gia. Sự thật mà chúng tôi bày tỏ trong cuốn phim làm cho họ cảm thấy khó chịu, xấu hổ và mất danh dự.

    Lan Chi:Tôi đã được nghe ông nói rằng mục đích của ông khi viết sách, cũng như khi chung tay sản xuất phim với bạn hữu là vì ông muốn nói lên sự thật. Xin hỏi, động cơ chính cho việc nói lên sự thật là gì và ông đã lên tiếng bao lần cho những vấn đề hay con người nào, nhân danh nói sự thật?

    Richard: Tôi tin rằng Thượng Đế đã hướng dẫn tôi trong việc viết cuốn sách và thực hiện bộ phim này. Tôi bắt đầu viết cuốn sách này vào năm 2003. Tôi mất 5 năm để viết vào thời gian rảnh rỗi của mình. Trước khi cuốn sách được hiệu đính, nó dài 800 trang. Bây giờ, nó chỉ còn 600 trang thôi. Tôi về VN 4 lần, đi vòng quanh địa điểm trận chiến và những đường phố của Saigon để có thể có cái nhìn rõ hơn về đất nước này. Có một chuyến tôi đi chung với nhân vật chính là Lê Bá Bình. Ông ấy đã đưa tôi đến nơi ông ấy sinh trưởng và lớn lên, và những nơi ông ấy đã từng chiến đấu chống cộng sản. Tôi cũng đã gặp gỡ và phỏng vấn rất nhiều chiến binh Mỹ cùng vợ con của họ để viết về họ trong cuốn sách của tôi. Tôi đã học được rất nhiều điều so với trước khi tôi viết cuốn sách này. Điều quan trọng nhất mà tôi hiểu được là cuộc chiến VN không cần phải chấm dứt theo cái kiểu đó. Tôi được biết rằng người Miền Nam VN đã cố gắng hết sức để giữ lại VN khỏi tay cộng sản cho đến năm 1973, họ đã bị chính phủ Mỹ bỏ rơi và cắt viện trợ cho VN vào 1973, 1974, và 1975. Điều này gần như bảo đảm rằng cuộc chiến sẽ bị thất bại. Đặc biệt trong khoảng thời gian này, phong trào cộng sản ở Liên Xô và Tàu đang tiến triển rất mạnh. Thêm vào đó, chương trình có tênFlbirgh-Aiken Amendment vào mùa hè năm 1973 đã không cho phép Tổng Thống Nixon giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu đi theo hiệp định Paris. Những người MNVN yêu chuộng từ đó là nạn nhân của American Watergate. Sau khi cuốn sách xuất bản, tôi nhận ra rằng rất ít người thích đọc những cuốn sách “nghiêm chỉnh”. Phần lớn người Mỹ thích nói về thể thao hoặc là những chương trình TV, nhưng họ rất ít nói về lịch sử; hay là những điều đó không biết có phải là vấn đề ưu tư của họ hay không nữa. Tôi đã gặp cộng sự làm phim của tôi là Fred Koster và chúng tôi đã chia sẻ với nhau cùng một quan điểm rằng phim ảnh sẽ có sức ảnh hưởng đến quần chúng. Điều đáng buồn là những phim về chiến tranh VN thường rất tàn nhẫn. Những phim như “Apocalypse Now,” “Deer Hunter,” “Platoon,” “Full Metal Jacket,” “Rambo,” luôn tạo ra những hình ảnh người lính Mỹ cũng như lính VN rất tồi tệ. Nếu chúng ta không làm gì cả thì những hình ảnh sai lạc này về cộng sản và những người chống lại Mỹ sẽ trở thành “lịch sử” cho thế hệ sau.

    Lan Chi: Cá nhân tôi cho rằng có một sự huyền nhiệm nào đó đã xui khiến một cựu chiến binh TQLC Hoa Kỳ đã bỏ 12 năm trời để tìm hiểu về cuộc chiến VN, đặc biệt trận chiến Đông Hà mùa hè 1972, phối hợp giữa TT Lê Bá Bình và cố vấn John Ripley. Theo ông, chỉ đơn giản là muốn trả sự thật hay còn một lý do thầm kín nào đó? Cho lần đòi sự thật này, ông đoán mình sẽ thành công bao nhiêu %?

    Richard: Tôi không phải là cựu chiến binh của cuộc chiến Việt Nam. Thời tôi ở trong Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ là thập niên 80. Nhưng những người chỉ huy của tôi là cựu chiến binh Việt Nam và tôi hết sức cảm phục họ. Tôi cũng yêu nước mình sâu đậm. Từ khi tham gia vào công trình (làm phim) năm 2003, tôi đã thêm kính trọng những người người Mỹ đã phục vụ (trong quân đội) nhưng không có được sự biết ơn xứng đáng. Quan trọng hơn cả sự quý trọng mà tôi có được đối với nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam là việc tôi được học hỏi – và vẫn còn đang học sau 12 năm – về cái giá vô cùng to lớn mà người Việt phải trả cho sự tự do. Tôi thật sự ngẩn ngơ trước những điều mà người Việt tại hải ngoại đã làm được. Tôi cũng biết rằng mọi lời lẽ khó mà nói hết sự tàn độc của cộng sản. Lời lẽ cũng không thể nói hết những lợi lộc mà nước Mỹ đã nhận được từ những người Việt lưu vong. Bên cạnh sự chăm sóc cho gia đình riêng, tôi tin rằng Trời đã trao cho tôi nghĩa vụ tranh đấu cho sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam cho tới cuối đời. Tổng thống Nixon nói “Cuộc chiến Việt Nam là một sự kiện bị hiểu lầm nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Thời đó, cuộc chiến đã bị tường trình sai. Bây giờ, cuộc chiến lại bị sai khi nhớ lại.”Chúng ta không thể làm gì được về sự tường trình sai lạc. Điều đó thuộc về quá khứ. Nhưng chúng ta có thể thay đổi cách người ta nhớ về cuộc chiến. Đó là nhiệm vụ của phim “Ride the Thuder”. Chúng tôi muốn thay đổi ký ức của thế giới về chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi muốn đem sự thật ra ánh sáng, và đền đáp ít nhiều cho những người Việt và người Mỹ đã hy sinh rất nhiều cho một mục đích rất xứng đáng.

    Lan Chi :-Khi viết về chương tù vc, ông đã phỏng vấn được bao nhiêu người? Vì sao những cảnh tượng dã man cuả vc đã được hạ xuống khá nhiều khi đưa vào phim? Phải chăng, trên tâm lý người Mỹ, ông và đạo diễn không dám cung cấp những cảnh quá bạo lực?

    Richard: Đây là một câu hỏi rất hay. Tôi phỏng vấn nhiều người bị tù sau cuộc chiến, nhưng tôi phỏng vấn ông Lê Bá Bình nhiều nhất vì đây là câu chuyện của ông ấy. Kinh nghiệm của ông ta cũng là điều xảy ra với nhiều người khác, nhưng không phải tất cả mọi người. Thí dụ, tôi biết rõ rằng nhiều bà vợ đã bị cai tù hãm hiếp khi đi thăm chồng, và nhiều người tù đã chịu khổ rất nhiều hơn so với những gì chúng tôi chiếu trong phim. Cùng lúc đó, chúng tôi không muốn thay đổi câu chuyện của ông Bình vì tôi biết rằng nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ chú ý đến chúng tôi và tôi cần phải đi sát với những gì ông Bình và vợ ông ta đã chia sẻ. Trong mọi cuộc phỏng vấn, bà ta chưa bao giờ có ý nói rằng bà ta bị cai tù xâm phạm.

    Tương tự thế, con số mà chúng tôi dùng về những người chết trong tù, bị xử tử hoặc những thuyền nhân bị chết được giữ ở mức khá thấp. Chúng tôi làm vậy để những người cộng sản không thể vu cáo rằng chúng tôi thổi phồng các con số. Như tôi đã nói, tôi tin rằng ai có thể nói quá về sự tàn ác của cộng sản, hoặc nói quá về những điều mà người gốc Việt phải chịu đựng, cho tới nay, rất nhiều người vẫn đang bị trầm cảm. Càng ngày tôi càng biết nhiều hơn về những điều đó.

    Lan Chi:Với Jane Fonda và John Kerry, ông đã trả lời rằng bàn tay những người đó đã dính máu. Nếu tôi nói rằng họ chỉ là a dua theo, bề mặt nổi, còn tảng băng chìm, chính giới tài phiệt Do Thái mới là bàn tay dính máu, thì ông nghĩ sao?

    Richard: Tôi không biết tài phiệt Do Thái nào. Tôi vẫn tin rằng Jane Fonda, John Kerry, và cả triệu người phản chiến cùng với hàng tá Thượng Nghị Sĩ và Hạ Nghị Sĩ Hoa Kỳ trong những thập niên 1960, 1970 đều có trách nhiệm trong việc khuyến khích kẻ thù. Hành động của họ làm cho họ có trách nhiệm với những cái chết và những khổ sở của hàng triệu người Việt yêu tự do, và những chiến sĩ Hoa Kỳ đã phục vụ với danh dự.

    Lan Chi: Với tôi, ông đã tròn nhiệm vụ: nhiệm vụ người trai với những năm trong TQLC,nhiệm vụ gia đình với cương vị từng vice president của một công ty, nhiệm vụ với nhân loạikhi viết sách rồi thực hiện phim Ride The Thunder. Theo ông, nhận xét của tôi sai hay đúng hay chưa đủ? Ngoài ra, nếu mỗi người Việt đều đến nói với ông như tôi đã viết cho ông trong bức mail đầu tiên khi quen biết “Our duty is to be with you and your work” thì ông nghĩ gì?

    Richard: Cám ơn bạn đã nói rằng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Thật ra, tôi và Fred Koster tin rằng chúng tôi chỉ mới bắt đầu. Chúng tôi còn rất nhiều việc để làm. Lịch sử của chiến tranh Việt Nam rất phức tạp và một cuốn phim vỏn vẹn 105 phút không đủ để chính xác hóa mọi điều. Một trong những người bạn Việt Nam gợi ý rằng chúng tôi có thể dựng một bộ phim Ti Vi dài 40 tuần dựa trên 40 chương của quyển sách “Ride the Thunder”, giống như bộ phim“Band of Brothers”. Như vậy chúng tôi có thể nói rõ hơn về nhiều chi tiết của cuộc chiến và cung cấp kiến thức cho nhiều người hơn. Để làm việc đó, chúng tôi cần nhiều tài nguyên hơn là những gì tôi có thể cung cấp. Chỉ với cuốn phim này, tôi đã thật sự dùng hết tiền dành dụm cả đời cùng với sự tài trợ của vài người bạn.

    Người Mỹ gốc Việt có thể giúp chúng tôi bằng cách nào? Làm ơn kêu gọi mọi người di dân gốc Việt đều đến xem phim và mời theo những người bạn Mỹ cùng với những người bạn từ các sắc dân khác. Nếu chúng tôi có thể làm được những công trình khác, đó chỉ vì những công dân yêu mến đất nước này đến bên chúng tôi và cùng cộng tác.

    Lan Chi: Trước khi tạm biệt, xin một câu hỏi cá nhân, gia đình, nhất là bà nhà và các con ông đã đóng vai trò gì trong việc đi tìm sự thật để trả lại vinh quang và danh dự cho những người lính Mỹ và Việt xưa trong cuộc chiến chống cộng sản?

    Richard: Tôi đặc biệt may mắn có được một người vợ đã giúp đỡ tôi trong mọi nỗ lực với cuốn sách và cuốn phim. Chúng tôi đã lấy nhau được gần 33 năm. Chưa bao giờ bà ấy than phiền về thời gian và tài chánh tôi đã dùng để làm những công trình như thế này. Các con tôi cũng đồng lòng giúp đỡ tôi như vậy. Tôi nghĩ chúng cũng hiểu rằng đây là một cuộc tranh đấu cho tâm hồn của đất nước. Nước Mỹ đã làm một việc đúng đắn khi đương đầu với Cộng Sản tại Việt Nam. Sự liên hiệp của người Việt và người Mỹ, dù không đem lại kết quả như ý muốn, đã cung cấp thời gian cho các nước Á châu còn lại được lớn mạnh ngoài sự thống trị của Cộng Sản. Nếu không có nỗ lực tại Việt Nam, cục diện châu Á ngày nay sẽ rất khác. Và tôi luôn nghĩ rằng điều quan trọng cần phải nói rõ là Hoa Kỳ đã may mắn có được 2 triệu công dân mới từ Việt Nam, những người yêu hòa bình và quý trọng giá trị cuộc sống của một công dân Hoa Kỳ hơn hầu hết các người khác. Người Việt di dân đã đem đến Hoa Kỳ những lợi lộc không đo lường được.

    Những lời cuối, tôi cũng xin được nói rằng, công trình làm phim đã được giúp đỡ rất nhiều từ những người bạn vô cùng quan trọng trong cả hai cộng đồng Việt, Mỹ. Nếu không có sự giúp đỡ liên tục và quên mình của họ, chúng tôi đã không thể đạt được điều mà chúng tôi hướng đến. Những người bạn đó đã không làm vì tiền bạc, họ giúp chúng tôi vì họ có cùng nguyện vọng ‘làm đúng lịch sử’, vì tình yêu mến sâu đậm dành cho nước Mỹ, cho những cựu chiến binh Mỹ, và tất cả các thành viên của quân lực VNCH đã hy sinh quá nhiều và quá lâu cho sự tự do của họ. Chúng tôi – Fred Koster và cá nhân tôi – không thể nào đi một bước xa như vậy nếu không có sự yêu mến và nâng đỡ của họ. Chúng tôi gọi họ là “Gia đình Ride the Thunder“. Có tất cả 30-40 người trong gia đình này. Tôi có thể viết một câu chuyện dài về mỗi người. Nếu không có họ, điều chúng tôi làm được sẽ rất nhỏ nhoi.

    Hoàng Lan Chi thực hiện tháng 6/2015

    Bản Anh Ngữ

    Interview Richard Botkin about “Ride The Thunder”

    Introduction: the movies Ride The Thunder has just played in theater at Orange county in 03/2015. Hundreds of people attended during these first shows. This is the film about the Vietnam War, created by the US Veteran with the purpose to honor the Vietnamese soldier. He is also the author of the same book of 800 pages long published in 2006. The Veteran of the US Marine, Lieutenant Commander Richard Botkin had met with Vietnamese community through video chats. Today, Hoàng Lan Chi has the honor to send you a short talk between Mr. Botkin and Lan Chi. The movie is about a friendship between the U.S Counselor John Ripley and Vietnamese Major Le Ba Binh. The background is Dong Ha battle. In this battle, both agree to destroy Dong Ha bridge to protect Hue City. This was a tough mission since the bridge was built very firmly and they could not get the help from Air Force due to the rainy season plus they were under serious communists’ attack. The captivity of soldier under communist regime after 1975 was also shown.

    Richard Botkin was not attended the Vietnam War but in order to complete his book, he spent 10 years to research and made 4 trips to Vietnam with Major Le Ba Binh to see the Dong Ha, Quang Tri City.

    The book is translated into Vietnam by a group of Vietnamese people. Richard Botkin together with Director Fred Koster and some friends complete Ride The Thunder movie with the minimum budget of one million dollars. The film was done in Hawaii. The actor Joseph Hieu and Eric St. John are excellent in the role of Major Le Ba Binh and Counselor John Ripley.

    For the time being, I can only introduce you to the interview with Mr. Botkin about the film only. I hope that in the near future, we will focus more about the book. At the same time, I will interview Major Le Ba Binh, who is currently living in San Jose, CA.

    In order to support those who are willing to create similar movies which reveal the truth and honor VNCH soldier, please go the following website and vote for this movie to be shown in all theaters. http://www.ridethethundermovie.com/contact/

    Hoàng Lan Chi

    www.hoanglanchi.com

    Lan Chi: Hello Mr Botkin, I have to admit that most of Vietnamese refugee are deeply impressed by both the movies and the book ” Ride The Thunder”, specially there are many young Vietnamese who willingly involved this film, even some of these young ones who were not born in VN, had no idea or knowledge about the true historical Vietnam War but they enthused to participate in recovering the historical events. The South VN and American solders were smear by the unfair mainstream media. Mr Botkin, how successful the movie so far since it was shown in March?

    Richard: Our film has shown in Westminster, San Jose, Houston, Phoenix/Tempe, Las Vegas, Oceanside and San Antonio. This coming Friday the 19th we will premiere in Prescott, Arizona. Prescott is where we filmed many of the domestic US scenes. It will be a true test of the film where there will be very little Vietnamese support.

    Our initial premier was in Westminster California. We showed the film for one week only in one theater with two screens. We had an incredibly successful showing there. During the opening weekend, the film had the highest revenue per screen of any film in the entire country. We pulled the film after the first week as we wanted our initial numbers to look very strong.

    We also pulled the film to make some changes to it that we thought were important. One thing we are working on is producing a version that has Vietnamese language subtitles so that the older people who do not understand much English, will understand what we are trying to say. We have also learned that the people who initially translated our film into Vietnamese must have been pro-communist as the translations came back, in some cases saying the exact opposite of what we meant. We are fortunate to have trusted Vietnamese friends to ensure we get the correct translation. We hope to have that done in the next week or so. When we have that ready, we intend to go back into the main markets where the Viet Kieu live.

    In regards to the other markets where we showed the film, we did well in Houston and Phoenix, so-so in San Jose and Las Vegas, and poorly in Oceanside and San Antonio. We have learned the hard way that we need to have better control over the locations of the theaters we show the film in. Going forward we need to make sure the film is in or near Vietnamese neighborhoods. And we also need greater resources to market the film more effectively.

    Lan Chi:What do you expect from this movie? If there is any profit, would it be used to invest in making another film about VN? And if so, what topic would be- the brave fight or the soldier life after being abandoned?

    Richard: I have never made a movie before so I had no expectations, although I did this with the intention that we would at least break even. My personal plans, if the film is a success is to share at least 50% of the profits with a few charities which are important to me. The first is the Semper Fi Fund which support wounded warriors from Iraq and Afghanistan. My second charity is Agape International Ministries. They rescue young girls from the sex slave trade in Cambodia. Every year since 1998 I take a small team of dentists and physicians and we go to Cambodia for two weeks in November. We work with Agape there.

    In addition to those charities, and I do not know much about it yet, but I do know that there are many Vietnamese veterans here in the US who receive none of the services American vets receive. If we are blessed with resources, I would love to assist this underserved group. In terms of future projects, I answered that in a later question, but the short answer again is, yes, there is much more work to be done in telling the truth about the Vietnam War.

    Lan Chi: I understand that you keep the cost of making the movies to the minimum with the helps of friends and family. If you can have a bigger budget, 50 times bigger, what part of the movie do you think you will allocate this amount to redo it? What I mean is what part is important to you and through that part, you believe that you can send a complete message to the viewers, the message that is related to the US foreign policy.

    Richard: This is a great question. If we had had an unlimited budget then we would have had more prisoners for the reeducation camp scenes. We also would have had several combat scenes to include blowing up the Dong Ha Bridge.

    Lan Chi: Your intent is to give the truth back to history. How do think the “negative” media in the 70′s will react with this movie? How do you handle these if any?

    Richard: People on the Left, those who are pro-communist or who hate America will not like this film. We have seen that already in some reviews. Many Americans who were of military age back during the Vietnam War made themselves believe that Ho Chi Minh was a good man, that the communist invasion of South Vietnam was just a civil war, that the South Vietnamese were corrupt and cowardly, and that communism was not so bad. By allowing themselves to believe this, these people who would not serve did not have to feel guilty about their cowardice and looking out only for their own self interest. The truth we display in the film disturbs their beliefs that protesting the war and failing to serve was somehow honorable, when in fact is was completely shameful and dishonorable.

    Lan Chi: I have said that the purpose of writing this book as well as making this movie is toTell The Truth. I would like to ask what is the motive to get you to do this? Have you ever mentioned this to anyone or raising your voice in any way before just for the sake of the truth?

    Richard: I believe that God had a direct hand in guiding me to write the book and then produce the film. I began work on the book in 2003. It took me five years to write it in my spare time. Before it was edited it was 800 pages long. Now it is ‘only’ 600 pages. I went to Vietnam four times to walk the battlefields and the streets of Saigon to gain the best perspective that I could. One of my trips was with my main character Le Ba Binh. He showed me where he grew up, the places he played as a boy, and many of the places he fought the communists. I also criss-crossed the US many, many times interviewing and re-interviewing many of the American Marines and their wives and children who are in the book.

    I learned many things I did not know before I began my research. The most important thing I learned is that the war did not need to end the way it did. I learned that the South Vietnamese, who were keeping the communists in check up through 1973, were doomed mostly because the American congress cut their funding in 1973, 1974 and 1975. That guaranteed their loss, especially since the Russians and Chinese, while the US was cutting funds, the communists got much greater support. In addition, the passage of something called the Fulbright-Aiken Amendment in the summer of 1973 basically outlawed President Nixon from honoring the personal commitments he had made to President Thieu to get him to agree to go along with the Paris Peace Accords. The freedom-loving people of South Vietnam were the biggest victims of the American Watergate crisis.

    After the book came out, I began to realize that very few people read serious books. Most Americans can talk about sports or what is on reality TV, but they know very little about history or things that really matter. I met my film partner Fred Koster, and we realized that the way to influence people’s attitudes is with film. Unfortunately, the film record for the Vietnam War is horrible. Movies like “Apocalypse Now,” “Deer Hunter,” “Platoon,” “Full Metal Jacket,” “Rambo,” and on and on all portray the American fighting man poorly and our Vietnamese allies even worse. If we do nothing, it will be these pro-communist or at least anti-American films that will become ‘history’ to those generations who come after us.

    Lan Chi: In my own view, I think there must be something else that urge you, a US veteran to devote 12 years to learn about VN war, especially the Dong Ha mission in 1972 which was cooperated by Lieutenant Le Ba Binh and Counselor John Ripley. So, is this simply to pay back to history or is there any other reason deeply kept in your heart? When doing this, what percentage of success do you think will be?

    Richard: My time as a Marine was in the 1980s. The men who were my leaders though were all Vietnam veterans and I have tremendous regard for them. I also love our country deeply. Since becoming involved in this project in 2003, I have gained greater respect for the Americans who served without getting the recognition they deserved. More importantly than greater appreciation for the American effort in Vietnam, is that I am learning—still learning after 12 years—of the tremendous prices paid by the Vietnamese to fight for their freedom. I am really am in awe of what the Viet Kieu have done. I do know that it is not possible to overstate how evil the communists are. It is also not possible to overstate what a blessing to the US the Vietnamese diaspora have become.

    Aside from taking care of my family, I believe to my soul that God’s mission to me for the remainder of my life is to fight for the truth about the Vietnam War. President Nixon said : “The Vietnam War is the most misunderstood event in American history. It was misreported then. It is misremembered now.” There is nothing we can do about the misreporting. That is history. But we can change the way the war is remembered. That is our mission with “Ride the Thunder.” We intend to change the way the world remembers the Vietnam War. We want to bring the truth to light, and give some recognition to those Vietnamese and Americans who sacrificed so much in a very worthy effort.

    Lan Chi: When writing about the Communist prison, how many people did you interview? Why was the cruelty of the way the communist treated the prisoner “softened” in the movie? Is this because the director did not want to include too much violence in the movie?

    Richard: This is a great question. I interviewed several men who went to prison after the war, but I interviewed Le Ba Binh the most because this is his story. His experiences are meant to represent what happened to many people, but not to everyone. I am well aware, for example, that many wives were raped by prison guards when they came to visit their husbands, and that many prisoners suffered much more than we showed in the film. At the same time we did not want to change Binh’s story because we know that the communists will come after us and I need to stick with what Binh and his wife shared with me. In my interviews with her, she never indicated that she was raped by prison guards.

    Similarly we kept the figures we used for the numbers of those who died in prison, those who were executed and those who died as Boat People low. We did this so that the communists could not accuse us of inflating the numbers. As I mentioned above, I do not believe it is possible to overstate how evil the communists are, nor is it possible to overstate the suffering of the Viet Kieu, so many of whom are still suffering from depression today. I am more and more aware of that.

    Lan Chi: With Jane Fonda and John Kerry, you said that there is blood in their hands. If I say that they are just followers, the secret behind all of these is the Jewish tycoon, how do think?

    Richard: I am not aware of any Jewish tycoon. I still believe people like Jane Fonda, John Kerry, the millions who protested the war and the dozens and dozens of US senators and congressmen from the 1960s and 1970s are responsible for encouraging our enemies. Their actions make them responsible for the deaths and suffering of the uncounted millions of freedom-loving Vietnamese, and the American fighting men who honorably served

    Lan Chi :To me, you have completed your responsibility as a soldier to serve in the Marine, as a family man of your company, as a person to serve our human race to create the Ride The Thunder movie. What do think about my views? Do I miss anything? Beside that, what do think if each and every Vietnamese comes to see you and says that “Our duty is to be with and your work” (just like I wrote to you in my first email)

    Richard: Thank you for saying that I completed my duty. Actually, it is my belief and that of my partner Fred Koster, that we are only just beginning. We have a great deal of work left to do. The history of the Vietnam War is extremely complex and a movie of 105 minutes is not enough to get it all correct. One of our Vietnamese friends has suggested that if we could take the entire book “Ride the Thunder” and turn it into a 40-week television series (the book has 40 chapters), sort of like “Band of Brothers,” then we could really tell more details of the history and educate many more people. To do that we need far more resources than I am able to provide. I really do have all my life savings in the film, along with the help of a few friends.

    How can the Viet Kieu help us? Please make sure that every single Vietnamese citizen here sees the film and invites their non-Vietnamese, American friends to come. If we are able to do further projects, it will only be because citizens who love our country come alongside us to partner with us.

    Lan Chi: Before saying goodbye, I would like to ask a personal question, what roles have your family, especially your wife and kids played in your adventure to find the truth to honor the US and Vietnamese soldiers in the fights against the communists through your book?

    Richard: I have been especially blessed to have a wife who has supported me in all my efforts with the book and film. We have been married nearly 33 years. She has never once complained about the time or the funding I have taken to do these projects. My children have likewise been very supportive. I think they also understand that there is a battle for our nation’s soul. America was correct to fight the communists in Vietnam. The combined effort of the Vietnamese and Americans, while not the outcome we wanted, did at least buy time for the rest of Asia to grow free of communist domination. If it weren’t for our effort there, the rest of Asia would look very different today. And I always feel it important to point out that the biggest upside to the war’s outcome was that America has been greatly blessed to have two million new citizens from Vietnam who love freedom and value their citizenship here more than most. The Vietnamese have blessed America beyond measure.

    And the last words I want to say that Our film effort has been aided greatly by a number of extremely important friends in both the American and Vietnamese communities. Without their selfless and continuing assistance, we could not have done what we are attempting to do. And these are people who are not doing this for the money. They have helped because they are likewise committed to ‘getting history right’ and have a great love for America, the American veterans, and for all the people of the Republic of Vietnam who suffered so much for so long to gain their freedom. We–Fred Koster and I–would not have been able to get this far without their love and support. We call these friends our “Ride the Thunder Family.” There are about 35-40 people in this group. I could write lengthy stories about each one of these folks. Without them, we would have accomplished very little.

    Hoàng Lan Chi

    6/2015
  4. Trích LanChiYesterday, những vụn vặt đời sống quanh tôi


    Chỉ trích và góp ý


    Bà chị TTKN đăng ở facebook một bài mà ngay mục (1), tôi đã đùa như vầy:

    “Không đồng ý lắm mục số 1. Nếu không chỉ trích thì họ cứ làm sai hoài. (cười) . Hay mình góp ý kiểu vầy hả chị: “Chị ơi, chị làm vậy đúng lắm nhứng giá chị đừng làm thế, thì còn đúng hơn? (cười to). HLC là chúa góp ý với thiên hạ vì chướng tai gai mắt quá, chịu không nổi chị à.””


    Chỉ trích


    Lang thang net.


    Có một điều tôi cảm thấy hơi khó chịu chút xíu cho hai chương trình: một là chương trình âm nhạc trên SBTN mà tôi quên tên, do Y Phương và Nguyên Khang phụ trách. Họ không soạn bài trước nên hay dẫm chân lên nhau làm khán giả khó chịu. Y Phương có vẻ hiền và hay bị Nguyên Khang “cướp” lời. Ngoài ra, còn có thêm Trúc Hồ “lè nhè” không có vẻ lịch sự gì cả. Vì lý do đó tôi chỉ xem hai lần là bỏ, không bao giờ quay lại.


    Chương trình thứ hai cũng có khuyết điểm tương tự là hai người dẫn chương trình không soạn dàn bài trước nên người được mời ít “focus” vào điểm quan trọng mà lan man. Hai người “host” này cũng dẫm chân nhau hay tranh nhau nói, cướp lời nhau. Đó là chương trình Tiếng Hát Hậu Phương với Trang Thanh Lan, Phương Hồng Quế của Hồn Việt TV. Giá hai ca sĩ bàn với nhau trước một chút thì hay hơn. Sau nữa, cũng nên đưa vài câu hỏi trước cho người được mời để họ chuẩn bị và nói cho suông sẻ, rõ ràng, không làm khán giả nhàm chán. Ngay tổng thống cũng phải chuẩn bị trước khi lên màn ảnh nhỏ, nói gì đến người bình thường lâu lâu mới “bị/được” lên TV! Điểm đáng khen của chương trình này là mời các cựu quân nhân và có nhận khán thính giả gọi vào cho câu hỏi.


    Cái trên là Hoàng Lan Chi …chỉ trích đó nghen. ( cười cười).


    Góp ý xỏ


    Cái này là góp ý xỏ này: Một nhà thơ nhớn viết cho Hoàng Lan Chi vầy “Thỏ hát hay lắm nhưng nếu thỏ đừng hát thì còn hay hơn!” ( cười mím chi).


    Chỉ trích/Góp ý trong mục nghe Nhạc


    Tôi hay “nhảy cóc” từ cái này sang cái khác. Ví dụ đang bàn luận chuyện thời sự với bạn nhưng tôi có thể chạy sang mục nhạc và nghe rồi “bàn loạn”.

    Cách đây vài hôm, cũng là vô tình, nghĩa là mình đang xem cái này, nó hiện ra cái kia, tôi thấy youtube “Đêm Hiền”.


    Click. Nghe. Thích. Tôi bèn chia sẻ.


    Mục đích chia sẻ chỉ là ám chỉ tại sao người hát hay, có trình độ nghệ thuật cao như vậy mà không nổi tiếng rực rỡ nhỉ? Phải chăng go^ut của khán giả bây giờ thường rơi vào tình trạng “nghe và nhìn”?


    Một người bạn “chỉ trích/góp ý” là tôi giới thiệu chương trình nhạc của một người đã về VN. Tôi bật cười. Sau đó là tranh luận. Tôi nói rằng Thái Hiền không nổi tiếng như KL, TH đi theo cha vì PD nuôi ước mơ một ban hợp ca Thăng Long thứ hai ở trong nước nên đưa các con về (chửi PD là đủ rồi! ), chương trình từ 2006 (quảng cáo cho ai đi coi?). Thật ra, có vài ca sĩ mới trong nước mà tôi cũng thích nhưng không bao giờ giới thiệu. Thái Hiền là ca sĩ ngoại một thời trước khi theo cha về nước. Hiện giờ TH cũng có vẻ đã giã từ nghiệp. Tôi thích giọng hát Thái Hiền. Cả Duy Quang lẫn Thái Hiền đều hát hay hơn thời trước 75 rất nhiều.


    Mở dấu ngoặc, một ông bạn “reply” bài “Đêm Hiền” như vầy “Bao giờ có Đêm Lan Chi thì mới “ đã ” ! Vì là thân nên ông này hay chọc ghẹo tôi như vậy. Thế là “bà tổng” dọa “Tôi đang bận chứ không tôi tốc váy lên chửi ông một trận đó nhé”! Lão này cười hì hì vì với lão, “tiếng chửi” của mợ Lan Chi cứ như tiếng hát, lão sợ gì đâu cơ chứ! Đóng ngoặc nhé.


    Thất vọng


    Tôi mail cho một nhóm nhỏ, than thở rằng khi nhìn thấy một ông thi sĩ mà tôi ái mộ trên màn ảnh nhỏ, tôi thất vọng quá. Một ông thì đồng ý và nói thêm rằng cựu quân nhân mình hay lạm dụng việc bận binh phục. Một ông khác thì cự “Mợ xem thơ hay xem dung nhan?” Tôi lại vênh mặt cãi “Mợ thích thơ của ổng chứ nhưng ai cấm mợ thất vọng khi nhìn dung nhan ổng? Chả hiểu lão có làm mợ thất vọng nếu gặp bên ngoài không hỉ? Chứ nhìn hình lão thì mợ thấy cũng Ok!”.


    Chỉ trích/góp ý .., gì gì cũng có ích cả. (nháy mắt).


    Bình lặng quá cũng chán chết. Cãi nhau chút chút cho vui. Phải thế không?


    Em chứ chỉ (trích) và xin em đừng góp (ý)

    Dù lòng buồn anh cũng ráng “tiếp thu” (cười cười)

    ( Mình trước kia nói tiếp nhận phải không?)


    Hoàng Lan Chi

    8/2015


    Đang nghe lại giòng nhạc thời chinh chiến. Cũng hay ra phết dù có một số bài không được “shang”:


  5. Gánh Nặng Cộng Đồng

    Posted on July 15, 2015 by hoanglanchi

    Tuần qua, tôi ghé trụ sở BPSOS vì tôi nhờ cô Trang Khanh đem dùm albums từ VA về CA. Trước đó, Khanh cho biết thùng album rất nặng. Thật tình, tôi không nhớ nó nhiều và nặng đến thế. Kể từ khi ôm albums từ Việt Nam qua, tôi có ngó ngàng gì đâu. Cuộc sống cứ là “lu xà bu”. Tôi nói Khanh nhờ volunteer của BPSOS, lột hình ra khỏi albums cho đỡ nặng.

    Khi giao thùng albums, Trang Khanh nói “BPSOS làm gì có người rảnh lột hình dùm cô. Thôi con đóng tiền đem về cho cô cho rồi. Vả lại, hình của cô chia ra từng loại. Người lột đâu phải chỉ lột không, còn phải xem rồi cho ý kiến nữa chớ!”. Tôi bật cười.

    Năm 2006, khi Ts Nguyễn Đình Thắng mời tôi làm việc, Trang Khanh là Giám Đốc CT Phát Triển Cộng Đồng. Ngày đó có khoảng bốn chương trình lớn với bốn vị giám đốc. Hiện giờ, BPSOS “reorganize” và Trang Khanh là giám đốc , chỉ sau Ts Nguyễn Đình Thắng.

    BPSOS có hai người mà tôi “vừa ghét vừa thương” là Ts Nguyễn Đình ThắngTrang Khanh. “Ghét” vì lý do cá nhân, “Thương” vì đó là hai mẫu người cho tinh thần “thiện nguyện”. Hai người nầy làm việc bất kể giờ giấc. Hai người nầy giỏi cả Anh lẫn Việt. Hai người nầy ngày xưa, viết bài tiếng Việt rất “chuẩn” theo kiểu Mỹ. Mở dấu ngoặc, tôi đoán là Trang Khanh được Nguyễn Đình Thắng đào tạo về khoa “viết”. Lúc làm chủ bút Mạch Sống của BPSOS, hai người nầy ít bị tôi sửa bài nhất. Nói rõ là bài của nhân viên BPSOS, tôi “edit” chi chít còn bài của hai người nầy, tôi “edit” rất ít. Hai người nầy đều giỏi về khoa ăn nói trước đám đông, trước ống kính truyền hình vì họ nắm rất vững lãnh vực họ đang phụ trách. Chỉ có một khác biệt nhỏ giữa hai người nầy: Nguyễn Đình Thắng nói năng chậm rãi, khoan thai còn Trang Khanh thì …giống “đàn ông”! Ngày đó, Trang Khanh chọc tôi “Con thấy cô với anh Thắng điệu như nhau. Nói gì chậm rì!”. Trời đất ơi, tôi thầm nghĩ “Phát thanh cho cao niên thì phải nói vừa phải cho người ta hiểu. Ai như chị, cứ như trong trại quân đội!”.

    [​IMG]

    [​IMG]
    Chương trình HO đợt 2- do Nguyễn Đình Thắng tự nguyện làm để giúp các cựu quân nhân. ( sao hồi đó không thấy ông cựu quân nhân nào "mắng" Thắng chuyện này nhỉ?!!)



    Hai cô cháu rủ nhau ăn bánh cuốn Tây Hồ. Vừa ăn vừa lai rai chuyện BPSOS. Lại quanh quẩn những chuyện Nguyễn Đình Thắng bị vu cáo, chụp mũ. Khanh hỏi “Con không liên lạc với cộng đồng nhiều. Con thắc mắc tại sao cộng đồng có nhiều cô chú lớn tuổi mà thích nói là nói, nói không bằng cớ gì hết, kỳ vậy cô?”.

    Thiệt cái tình. “Bà cố nội cô cũng không hiểu đừng nói gì đến cô!” . Tôi cười cười “Chắc họ hơi bị chập mạch. Chụp mũ Thắng tổ chức Ngày Quân Lực tỉnh bơ. Điên quá là điên. Ai thèm chú tâm ngày đó của các cụ. VC cũng chỉ hầm hừ cái tên Ngày Quốc Hận thôi vì nhiều người biết ngày đó, đã có trong cả lịch sử Mỹ, ngày đó các cụ treo cờ rũ còn chúng vui mừng. Chớ ngày 19/6, các cụ cứ múa theo ý mình, ai thèm chú ý. Thắng muốn tổ chức Ngày Vinh Danh và Tri Ân vào ngày đó để hy vọng có đông người dự, ai dè tổ chức cộng đồng Đoàn Hữu Định có vẻ mê Vịt Tê hơn. Bọn Vịt này chắc muốn kéo Nguyễn Đình Thắng về với mình không được nên ra sức phá. Năm 2014, cũng tháng vận động nhân quyền, chúng chơi cái trò cho Trúc Hồ kéo lên DC, ra vườn bông gần Quốc Hội hát hò. Chúng muốn chia số người sẽ về DC. Hồi đó, cô đã mỉa mai, chả hiểu cái màn hát hò của Trúc Hồ có tác động gì đối với VC và Mẽo? Ruồi bu. Năm nay, chúng cũng phá bằng cách cũng cho bầu đoàn thê tử Trúc Hồ kéo lên DC hát hò vào 30/4 nhưng vì kinh nghiệm năm ngoái, vì cách xa, nên chúng đã không phá nổi Nguyễn Đình Thắng. Ngày 18/6, mấy trăm người từ khắp nơi về DC, vào gặp dân cử của họ, trình bày về nhân quyền. Cô nghĩ đây là thắng lợi lớn của Thắng. Phái đoàn Michigan đi rất đông, trông rất đẹp. Đa số là người thế hệ “bản lề”, có địa vị trong xã hội Mỹ, thông thạo Anh-Việt và họ hướng dẫn người già.”

    Mấy hôm trước tôi nhờ người tìm lại hộ một bài viết cũ từ 2007 của Nguyễn Đình Thắng. Chính vào năm đó, tôi hết sức xúc động khi đọc bài này. Tôi copy một đoạn trong đó và đưa vào “Thư gửi con gái”. Trong đó, tôi bày tỏ rằng tôi mong ước, sau này con gái tôi cũngdành những năm cuối đời cho lãnh vực “thiện nguyện”.

    Ông Peter F. Drucker đã có một nhân cách đáng quý khi ông dành hai mươi năm cuối đờiđể cống hiến cho những việc thiện. Tôi nghĩ trên đời có nhiều người sống đẹp như vậy. Đây là đoạn trong bài viết “Từ thành công đến ý nghĩa” của Nguyễn Đình Thắng viết năm 2007:

    http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=988

    Trích: Lùi trở lại năm 2001. Thời điểm quyết định thứ hai: tôi gặp Ông Peter F. Drucker. Tôi được chọn tham gia chương trình huấn luyện kéo dài một năm với Viện Lãnh Đạo Nói Với Lãnh Đạo (Leader to Leader Institute) mà Ông sáng lập ra. Ông là vị thầy của môn quản trị kinh doanh tân thời nhưng lại dành 20 năm cuối đời để phát triển khu vực phi lợi nhuận. Ông tâm tình về quyết định này: tiến từ thành công đến điều có ý nghĩa. Tạo tài sản trong khu vực kinh doanh là sự thành công. Tham chính để ảnh hưởng chính sách là sự thành công. Tuy nhiên điều thực sự có ý nghĩa là tạo nên những thay đổi xã hội tích cực từ “rễ cỏ”; đó là xây dựng nền dân chủ từ dưới lên và trực tiếp tác động đến cuộc đời của đồng loại. Theo gương Ông Drucker, năm 2001 tôi rời bỏ công việc kỹ sư và từ đó dầm mình vào công việc phục vụ cộng đồng. ( ngưng trích)

    Trời tháng Bẩy của CA không nóng không lạnh, thật dễ chịu. Internet đang luân lưu bức thư của Việt Nam Quốc Dân Đảng bày tỏ rằng họ không đối thoại với vc. Lý do, họ được tin vc muốn nói chuyện với vài người của cộng đồng thông qua Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Tôi hơi ngạc nhiên. Thật tình mà nói, năm 2007 tôi viết bài “Những người trẻ muốn vào hang cọp”, trong đó tôi mỉa mai thế hệ một rưỡi là đòi vào hang cọp bắt cọp con nhưng chưa bắt được cọp con thì đã bị cọp nhỡ chiêu hồi. Đó là 2007.

    Còn bây giờ, với tiến bộ khoa học, với facebook, với smartphone có thể làm nhiều việc tức khắc như quay phim tại chỗ khi gặp một sự việc, upload ngay lên facebook, với việc Nguyễn Phú Trọng qua “chầu” Hoa Kỳ, với việc con cọp Trung Cộng đang bị Mỹ đánh vào kinh tế, thì cá nhân lại có suy nghĩ hơi khác. Nếu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ làm trung gian, tôi sẽ hỏi “ Vc muốn nói gì? Nếu điều ‘chúng mày’ muốn nói hạp ý ‘bà’ thì ‘bà’ chấp nhận, còn không hạp thì miễn!” Hạp ý “bà” là chúng mày phải thả các tù nhân lương tâm, phải nới rộng“human right” và cả “worker right”. Cái nới rộng đó của “chúng mày”, phải được bảo đảm sẽ thi hành đến nơi đến chốn chớ không được nói cho qua phà. Sau đó, lợi dụng cái “nới rộng” đó của vc lập tức người hải ngoại phải xây dựng đóm lửa ngay ở nhiều mặt trận, để vào thời điểm thuận tiện, các đốm lửa sẽ gom lại và bùng lên. Nói rõ là cổ võ cho người tranh đấu nổi lên nhiều hơn ở torng nước. Cá nhân tôi cho rằng chỉ có thế mới rút ngắn được tiến trình dân chủ cho quê hương. Lý do, chúng ta không có quân đội, không có gì cả để về giải phóng VN bằng quân sự. Với tư thế người Mỹ gốc Việt, chúng ta chỉ dùng những quyền đang có để “vận động”. Nhìn quốc gia Mỹ, dù ghét hay thương, dù mối hận năm 1975 còn đó, thì chúng ta vẫn phải công nhận đó là “đế quốc Mỹ, quốc gia number one đứng đầu thế giới”. Họ là quốc gia vạch chiến lược cho toàn thế giới và cả khối tư bản phải tuân theo. Và đương nhiên, họ vì quyền lợi của Mỹ mà có chiến thuật riêng cho từng giai đoạn. Vận dụng, lợi dụng, áp dụng thế nào để cái lợi cho quốc gia VN nhỏ bé phù hợp với cái lợi của con cọp Mỹ: là một việc làm khó. Tuy chúng ta không tin được cộng sản nhưng đành nuôi hy vọng với thời buổi net, với những kỹ thuật khoa học tối tân, thì sẽ kềm chế được phần nào cái lưu manh của bọn quỷ đỏ. Ngày xưa, người lính cộng hòa phải chiến đấu trong một trận chiếnkhông được quyền thắng. Ngày nay, chúng ta chiến đấu trong một trận chiến không lính, không quốc gia, chỉ còn tiếng nói của người dân Mỹ gốc Việt.

    Cộng đồng hải ngoại hiện nay, tương tự xã hội thời chúng ta còn quốc gia, bao giờ cũng nhiều phức tạp. Thời kỳ “thanh bình” nhất có lẽ chỉ được vài năm từ 1955 đến 1960. Sau đó là bất ổn triền miên mà phức tạp nhất là thời kỳ của nền đệ nhị cộng hòa với Nguyễn Khánh chỉnh lý, rồi đám sinh viên “nhâng nhâng” lộng hành ở đô thị, đám thầy tu của cả hai tôn giáo cũng “nhắng nhít” lôi kéo con chiên, đám nhà báo cũng “nhố nhăng” tố chính quyền, đám dân biểu thiên tả cũng “nhảm nhí” khuynh đảo hành pháp…Chính quyền lúc đó vừa đối phó với vc vừa đối phó với đủ thứ “giặc” trên trong nước.

    Những kẻ lợi dụng hai chữ “tranh đấu” để phá hoại: thời nào cũng có. Những kẻ lợi dụng ba chữ “chống bất công” để phá hoại: thời nào cũng có.

    Gánh nặng cộng đồng bao giờ cũng nặng nhưng tôi tin rằng thế hệ bản lề sẽ không trùm chăn vì “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại chụp (chụp mũ) e vu ( vu cáo)”. Tôi cũng tin rằng thế hệ Một sẽ sáng suốt trong nhận định, thông minh trong suy nghĩ, thận trọng trong quyết định, để chọn đúng người mà hỗ trợ, chọn đúng đối tượng để chỉ trích hầu không hối hận sau này vì đã vô tình phá hoại việc chung.

    Hoàng Lan Chi

    7/2015
  6. Bâng Khuâng Đầu Tháng Bẩy

    Posted on July 2, 2015 by hoanglanchi

    Hôm nay hơi không bận nên lang thang net. Gặp một số điều và thấy bâng khuâng.

    Bâng khuâng đầu tiên là dành cho hình ảnh cặp vợ chồng Phương Thảo-Ngọc Lễ.

    Năm 2005 thì phải, PT định cư Hoa Kỳ do tìm được người cha Mỹ. Một gia đình hạnh phúc với hai cô gái nhỏ, với sáng tác cho gia đình thật dễ thương, “ Bốn Ngọn Nến”. Họ cũng đã xuất hiện trên sân khấu Asia. Tôi không nhớ một hay hai lần. Thế rồi tắt ngúm. Tôi hỏi người bạn. Anh ta bảo không vừa ý TH điều gì đó. Tôi thở dài. Hải ngoại ít sân khấu nên chủ trung tâm dễ bắt nạt, bắt chẹt ca sĩ. Tội nghiệp. Lẽ ra hải ngoại được xem nhiều bản nhạc gia đình, có ích cho thiếu nhi hơn do PT-NL trình diễn nếu như họ chịu lép TH.

    Đã ghét TH một, tôi lại càng ghét hơn. Kể từ đó!

    Đừng ai nói rằng quyền chọn ca sĩ là của họ… Đúng, họ là chủ trung tâm và quyền chọn ca sĩ là của họ. Nhưng đằng sau hậu trường, với ca sĩ ngoan ngoãn, dễ bảo (người nào có óc tưởng tượng phong phú thì cứ tha hồ tưởng tượng thế nào là ngoan ngoãn dễ bảo nhé) thì cho hát, với ca sĩ không đồng ý việc làm sai trái của mình thì “dìm”.

    Cá nhân tôi không cho rằng gia đình Phương Thảo-Ngọc Lễ, khi mới chân ướt chân ráo qua Hoa Kỳ lại dám đòi hỏi nhiều điều vô lý.

    Năm nay 2015, gia đình PT-NL kéo nhau về VN. Nhìn hình ảnh này, Ngọc Lễ không già lắm, hai cô gái nhỏ đã lớn, và Phương Thảo thì “xuống” sắc. “Xuống” là không trẻ đẹp so với tuổi như những phụ nữ khác. Có lẽ người phụ nữ ấy không được hát như ý mình mong muốn và bươn chải sống ở một môi trường không mấy thuận lợi.

    [​IMG]

    Bâng khuâng thứ hai dành cho Bảo Yến-Quốc Dũng.

    Họ là vợ chồng đẹp đôi nhưng cuộc sống ấy cũng đã “lỏng lẻo” từ lâu. Thuở sinh viên, tôi dành nhiều cảm tình cho Quốc Dũng-Thanh Mai. Một phần vì sự trẻ trung của họ, một phần vì nét đẹp “búp bê” của Thanh Mai. Tôi cũng thích giọng hát Bảo Yến ở một khoảng thời gian nào đó.

    Có lẽ đời sống tình cảm của đa số giới văn nghệ sĩ thường hay “trắc trở”. Đó là nói “lịch sự”. Nói không lịch sự là “bê bối”. (cười). Họ, cứ “nhâng nhâng” nói những điều hoa mỹ về “nửa kia” và trên thực tế thì ngược lại. Chỉ khi về già hay bị cái gì đó, mới thấy họ ở bên “nửa kia”.

    Quốc Dũng bị tai nạn xe hơi. Hiện giờ nghỉ ngơi, không làm việc gì vì dường như đã bị chấn thương não.

    Và hình ảnh mới nhất: Quốc Dũng “tháp tùng” Bảo Yến khi BY đi hát:

    [​IMG]
    [​IMG]
    Phương Dung hỏi thăm Quốc Dũng

    Bâng khuâng thứ ba là dành cho trường cũ. Nhạc sĩ Nguyễn Đức, người thầy nhạc của trường Gia Long vừa mất. Ông là Trưởng Ban Việt Nhi. Ông đã đào tạo một ca sĩ từ Gia Long: Hoàng Oanh.

    Gia Long cũng có một ca sĩ nổi tiếng khác, từ lò Hoàng Thi Thơ: Họa Mi.

    Có bao giờ bạn thấy hai nữ ca sĩ này xuất hiện trong các Đại Hội Gia Long thế giới để hát đóng góp cho trường xưa chưa? Câu hỏi ấy dành cho Ban Tổ Chức, cho chính hai người ca sĩ trong cuộc.

    Khép lại những bâng khuâng để nghe một người Gia Long không là ca sỹ nổi tiếng nhưng hát “Duyên Tình” rất hay: Vân Phương.

    Tôi nhận xét giọng hát ấy không khàn gợi dục mà chỉ phảng phất chút khàn để không chói tai người nghe. Giọng hát ấy có chút nũng nịu của cô gái con nhà lành. Giọng hát ấy luyến láy rất mềm. Giọng hát ấy ngân rung rất “kỹ thuật”. Không là một giọng trong trẻo hay ngọt ngào thường thấy ở các giọng hát “dân ca” mà là một giọng hát thuộc loại “sang” nhưng luyến láy rất “pro”.

    Nghe Gia Long Vân Phương với “Duyên tình” và Hoàng Lan Chi khép những bâng khuâng trong ngày tại đây.

    [​IMG]

    Vân Phương thứ hai từ trái, hàng cuối. (Họp mặt nhóm nhỏ Gia Long tháng 10/2014) ( Hoàng Lan Chi thứ nhất hàng đầu. )

    Gia Long Vân Phương hát Duyên Tình

    Hoàng Lan Chi

    7/2015
  7. Người Đàn Ông Hoa Kỳ Mà Tôi Ngưỡng Mộ
    Posted on June 17, 2015 by hoanglanchi
    [​IMG]

    Tôi thích bất ngờ quen biết ai đó chứ không thích bất ngờ ai đó đến thăm tôi!

    Nói rõ là thế này, tuần qua, một cô em họ định gây bất ngờ cho tôi nhưng sau đó cô đổi ý và gọi điện thọai báo trước. Tôi bảo cô “Chị ghét ai bất ngờ lù lù đến trước nhà chị lắm nhen. Lý do, tớ là cô ký điệu. Tớ không thích người ở xa đến gặp lúc tớ chưa sửa soạn”.

    Còn cái sau là tình cờ có thêm những “quen biết” mà tôi thú vị với mối quen biết mới đó.

    2014, tôi bất ngờ gặp sư huynh Lê Anh Kiệt và từ sư huynh là Bạch Diện Thư Sinh. Hai người này là trong ban A17 của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.

    Tháng 3/2015, không hẳn bất ngờ lắm nhưng cứ coi vô tình gặp trong nhóm nhỏ rồi thì thành thân thiết: Ts Phan Quang Trọng, Chủ tịch tổ chức cộng đồng San Antonio. TS Trọng là một trong bốn vị chủ tịch cộng đồng mà tôi “thương mến”. “Thương mến” vì …đồng tư tưởng khá nhiều, không phải tranh luận ỏm tỏi như tôi với vài cụ cao niên.

    Thế rồi, từ Trọng, tôi bất ngờ quen Cựu Thiếu Tá TQLC Richard Botkin. Đây là người đàn ông Hoa Kỳ mà tôi rất “ngưỡng mộ”.

    Rất dễ cho bạn bè đoán được lý do tôi “ngưỡng mộ” ai đó. Đa phần lý do sẽ là người hùng, hay người đóng góp nhiều cho lý tưởng quốc gia.

    Richard Botkin là chiến binh Hoa Kỳ phục vụ từ 1980 đến 1995. Ông chưa từng chiến đấu ở Việt Nam. Một tình cờ, ông có mặt trong buổi tặng huân chương Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao Bạc, do Tổng Thống Bush ký tặng để vinh danh Trung tá Lê Bá Bình, trong một họp mặt trang trọng tại Thủ Đô Hoa Kỳ nhân dịp Lễ Độc Lập July 4, 2005 (tin Việt Báo). Đây là định mệnh mà Richard gọi đó là một ơn kêu gọi. Ông bắt đầu tìm hiểu về cuộc chiến Việt Nam, một cuộc chiến hiện nay đã được ghi vào lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ như một cuộc chiến tiêu biểu mà cường quốc này đã tham gia trong thế kỷ 1900s. Càng tìm hiểu thì ông càng yêu mến. Cuối cùng ông đã dành hơn năm năm nghiên cứu và bốn lần đến Việt Nam cùng cựu Trung Tá Lê Bá Bình. Kết quả sau đó là sự chào đời của cuốn sách hơn 600 trang vào năm 2006, Ride The Thunder. Chín năm sau là phim Ride The Thunder xuất hiện tại thủ đô của người Việt tị nạn tháng 3, 2015.

    Điều làm cho tôi xúc động hơn là vào cột mốc 40 năm, khi vài người hớn hở với việc thành công cá nhân khi đến được xứ tự do, hay vui mừng vì được chương trình gọi là H.O của Hoa Kỳ đón bằng máy bay; hay cảm động vì sự thành công trên xứ người và bày tỏ “Thank You USA” thì một người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã trình làng một bộ phim nhằm mục đích đòi danh dự cho người lính VNCH.

    Sự trùng hợp là bộ phim ấy lại nói về mùa hè đỏ lửa 1972, dính liền với một địa danh mà tôi hằng yêu mến. Ba chục ngàn quân chính quy vc tấn công địa đầu Quảng Trị và tiến vào Huế. Tiểu đoàn 3 Sói Biển TQLC của Lê Bá Bình, với cố vấn John Ripley, được tăng cường thêm một trợ thủ là Jim Smock sau bốn giờ đồng hồ đã phá được cầu Đông Hà, chận vc. Sau đó, quân đội VNCH tái chiếm cổ thành Quảng Trị. Thật ra, cho đến giờ phút này, nhạc phẩm luôn làm tôi xúc động là “Cờ bay trên thành phố Quảng Trị”. Có lẽ ít ai ngờ rằng, nhiều khi tôi hay hát bài này một mình trong phòng.



    Để thực hiện bộ phim, Richard đã “I really do have all my life savings in the film, along with the help of a few friends.” *(Chỉ với cuốn phim này, tôi đã thật sự dùng hết tiền dành dụm cả đời cùng với sự tài trợ của vài người bạn).

    Tại sao người đàn ông Hoa Kỳ ấy lại muốn làm điều đó? Hãy nghe ông bày tỏ “I believe to my soul that God’s mission to me for the remainder of my life is to fight for the truth about the Vietnam War”* (Tôi tin rằng Trời đã trao cho tôi nghĩa vụ tranh đấu cho sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam cho tới cuối đời.)

    Người đàn ông ấy hẳn có một tư cách như thế nào, một lý tưởng tuyệt vời ra sao, một niềm tin mãnh liệt chừng nào, để “We have been married nearly 33 years. She has never once complained about the time or the funding I have taken to do these projects. My children have likewise been very supportive. I think they also understand that there is a battle for our nation’s soul. America was correct to fight the communists in Vietnam .* (Chúng tôi đã lấy nhau được gần 33 năm. Chưa bao giờ bà ấy than phiền về thời gian và tài chánh tôi đã dùng để làm những công trình như thế này. Các con tôi cũng đồng lòng giúp đỡ tôi như vậy. Tôi nghĩ chúng cũng hiểu rằng đây là một cuộc tranh đấu cho tâm hồn của đất nước. Nước Mỹ đã làm một việc đúng đắn khi đương đầu với Cộng Sản tại Việt Nam.)

    [​IMG]

    Vâng, bằng ấy cái tạo nên người đàn ông Hoa Kỳ mà tôi ngưỡng mộ. Ông đã dành mọi sinh lực, tâm huyết để gióng lên tiếng chuông, đòi lại danh dự cho quân đội VNCH của tôi. Ông đã can đảm xé toang màn mây mù bao phủ, thay đổi ký ức của thế giới về chiến tranh VN.

    Ông quý trọng về “cái giá vô cùng to lớn mà người Việt phải trả cho sự tự do”, ông ngẩn ngơ về “những điều mà người Việt tại hải ngoại đã làm được”. * Còn tôi, tôi ngưỡng mộ và biết ơn ông vì qua công việc của ông, hình ảnh đích thực của người lính Việt Nam Cộng Hòa đã được tái lập cho thế hệ trẻ biết rằng các em là giòng dõi của những con người can trường ấy. Niềm tự hào dân tộc sẽ được bùng thổi để các em vươn mình làm người Quang Trung.

    Cuối cùng, tôi chỉ biết nói với người đàn ông mà tôi ngưỡng mộ đó rằng “Our duty is to be with you and your work”. *

    Hoàng Lan Chi

    6/2015

    * Tất cả là những câu trích từ bài “Trò Chuyện với Richard Botkin về phim Rider The Thunder”. Đón xem bài phỏng vấn của Hoàng Lan Chi – báo Bút Tre tháng 6/2015

    * Phim: http://ridethethundermovie.com
  8. SBTN-DC/Bản Tin HTĐ

    Phỏng Vấn Đặc Biệt 30-4

    Hãy làm người Quang Trung, hỡi tuổi trẻ Việt Nam

    [​IMG]

    Hoàng Lan Chi giới thiệu: Nữ KHG Dương Nguyệt Ánh, người phụ nữ VN đến Hoa Kỳ năm 16t (1975). Với lòng tự hào dân tộc, cô quyết chí vươn lên. Cũng trong sự tự hào dân tộc, cô luôn chứng tỏ với thế giới, với Hoa Kỳ, “tôi là người Mỹ gốc Việt”. 30/4 năm 2015, mốc 40 năm, cô chia sẻ tâm tình và kêu gọi tuổi trẻ VN hãy đứng dậy làm lịch sử, hãy làm NGƯỜI QUANG TRUNG.



    1. 40 năm trước, tâm trạng & ký ức của chị, lúc đó là một thiếu nữ mới 15 tuổi, vào những ngày hấp hối của một miền Nam Tự Do như thế nào ?

    Dù ngày đó tôi chưa đủ lớn để hiểu thấu hết cái thảm họa to lớn đang sắp sửa đổ lên đầu người dân miền Nam nói riêng và cho cả tổ quốc VN nói chung, nhưng tôi cũng đã đủ lớn để biết rằng chúng tôi không có chọn lựa nào khác hơn là phải bỏ nước ra đi tìm tự do, cho dù có yêu quê hương bao nhiêu đi nữa. Nhất là vì cha mẹ tôi đã từng có kinh nghiệm bản thân về CS rồi và đã từng phải đứt ruột bỏ miền Bắc để di cư vào Nam năm 1954.

    Tôi còn nhớ cái tình trạng hoảng loạn của Sài Gòn khi ấy. Như một ai đó đã diễn tả rất đúng rằng ngay cả những cái cột đèn nếu chúng biết đi thì chúng cũng đã tìm cách ra đi. Trong khi ngồi trên phi cơ chở chúng tôi bay ra tàu HQ VNCH ngoài biển Đông, tôi đã ứa nước mắt nghĩ đến những người còn ở lại, những người đang cố thoát mà không thoát được, và thương nhất là những thương binh VNCH đang nằm trong các quân y viện. Tôi đã tự hỏi số phận của họ rồi ra sao, ai lo cho họ, và cho vợ con họ. Nhưng có lẽ cái cảm giác đau đớn nhất lần đầu tiên trong đời là khi phải chứng kiến cảnh tầu HQ của mình hạ là cờ của VNCH xuống và thay thế bằng cờ Hoa Kỳ để được phép cập bến Phi Luật Tân. Chưa bao giờ tôi có cái cảm giác mất mát toàn diện đến như thế.

    2. Hành trình tị nạn cũng như những gì chị và gia đình đã trải qua để tái lập đời sống mới trên vùng đất Tự Do đã có những tác động gì đối với con đường xây dựng sự nghiệp và thành công vượt bực của chị?

    Cám ơn anh quá khen nhưng tôi không dám nhận những thành quả của mình là vượt bực gì cả. Ngoài vòm trời này còn có vòm trời khác, tôi không bao giờ dám tự phụ đâu thưa anh. Có rất nhiều người Việt thành đạt vượt bực ở hải ngoại nhưng không được nhắc đến đấy thôi.

    Còn nếu hỏi rằng cái căn cước tị nạn của tôi đã có những tác động gì trên nỗ lực học hỏi và làm việc của tôi thì xin thưa là rất nhiều. Ngày đó tôi mang trong lòng một cái tự ái dân tộc rất to. Tôi không muốn người dân Hoa Kỳ nhìn người tị nạn VN là những kẻ ăn bám, tôi không muốn ai khinh thường chúng ta. Nên tôi đã cố gắng học ngày học đêm, cố gắng làm việc chăm chỉ để vươn lên. Khi còn đi học thì tôi muốn mình ít ra cũng phải ngang nếu không hơn được những bạn đồng lớp. Khi ra đời thì tôi quyết chí sẽ phải thành công trong nghề nghiệp và phải lên được hàng lãnh đạo. Cho đến hôm nay, dù đã là công dân Hoa Kỳ và đã sống ở đây quá nửa đời, mà tôi vẫn còn nguyên cái tự ái đó thưa anh. Nhất là những dịp tôi lãnh giải thưởng, huy chương hay được vinh danh, hay mỗi khi tôi đại điện Hoa Kỳ ở những phiên họp quốc tế và được các nước bạn chào đón trọng vọng, thì tôi hay tìm cách khéo léo cho người ta biết cái gốc VN của tôi. Vì tôi không muốn người ta tưởng tôi là người Mỹ gốc Nhật, gốc Đại Hàn hay Tàu. Tôi muốn người ta phải biết tôi là VN kia.

    3. Năm 1975, khi làn sóng tị nạn đầu tiên đặt chân đến Hoa-Kỳ, người bản xứ và cả giới truyền thông Hoa-Kỳ, trong đó có tuần báo Newsweek đã có những hoài nghi trình độ của người Việt trong việc thích ứng với cách sống văn minh của người Mỹ, và e ngại người Việt Tị Nạn sẽ là một gánh nặng cho Xã Hội Mỹ. Cũng trên tuần báo Newsweek, 32 năm sau (2007), nhà bỉnh bút nổi tiếng George Will đã viết một bài báo về những cống hiến vượt bực về tài năng khoa-học & Kỹ Thuật của chị trong lãnh vực quốc phòng, chống khủng bố. Ông đã kết luận bài viết của ông với lời cám ơn chị và nhấn mạnh là chị đã trả hết món nợ của chính phủ và dân tộc Mỹ, cả vốn lẫn lời, bằng sự đóng góp rất lớn của chị cho tự do và an ninh của nước Mỹ. Lời cám ơn và khen tặng này mang ý nghĩa gì đối với chị ?

    Thưa anh, được một bình luận gia lỗi lạc như ông George Will khen tặng là một điều rất hân hạnh cho tôi. Thật ra có rất nhiều người Việt đã và đang chứng minh là bà Shana Alexander và tuần báo Newsweek sai 40 năm trước. Riêng phần tôi, được cơ hội góp một phần rất khiêm tốn, và tôi xin nhấn mạnh chữ khiêm tốn, vào việc thay đổi dư luận HK về người tị nạn là một điều may mắn và rất vui cho tôi. Nhất là lại được góp phần trong việc mà tôi xem là nghĩa vụ của bất cứ người dân nào đối với chiến sĩ đang bảo vệ tự do và an ninh cho mình. Bên cạnh niềm vui đó tôi vẫn mang một nỗi ngậm ngùi. Ông George Will cho rằng tôi đã trả xong nợ, cả vốn lẫn lời cho đất nước HK, nhưng còn chiến sĩ VNCH thì sao. Tôi sẽ không bao giờ có cơ hội để đền ơn xương máu của họ và món nợ đó tôi sẽ mang mãi suốt đời.

    4. Nếu chị vẫn còn ở lại Việt Nam, không thoát ra khỏi chế độ CS, chị có cơ hội để thành đạt và đóng góp quê mẹ VN như chị đã & đang phục vụ cho đất nước Tự Do Hoa-Kỳ không ?

    Câu trả lời chắc chắn là không rồi thưa anh. Đảng CSVN chỉ lo bán nước, đàn áp nhân dân, vơ vét đầy túi và bảo vệ quyền lợi cho họ và gia đình thì làm gì có chỗ cho những người dân thường như tôi. Hon nua, ho luôn luôn chủ trương Hồng Hơn Chuyên nen một người đầu óc đầy những tư tưởng chống cộng như tôi, nghĩa là một người không "Hồng" chút nào thì làm sao có cơ hội để học hỏi, trau dồi nghề nghiệp, và chắc chắn sẽ không được đào tạo thành khoa học gia hay chuyện gia gì cả, thì làm gì có cơ hội mà đóng góp hay phục vụ như tôi đang được làm ở đây. Mà ngay cả khi có người nào đó may mắn được đào tạo, nhưng sống trong một đất nước lạc hậu duoi su quan ly cua cai dang CS bat tai va doc doan nhu VN thì tài năng của họ cũng chỉ uổng phí thôi, thưa anh.

    5. Chị mang lý tưởng và hoài bảo gì trong nỗ lực cống hiến kiến thức & tài năng của chị trong lãnh vực Quốc Phòng cũng như vai trò bảo vệ Nội An cho đất nươ’c Hoa-Kỳ của chị ?

    Biển cố 30/4 nói riêng và tất cả những gì xảy ra cho Việt Nam nói chung đã có một ảnh hưởng vô cùng sâu xa với tôi. Tôi đã cay đắng nhận ra rằng một dân tộc chỉ có thể giữ được quyền tự quyết và một quốc gia chỉ có thể giữ được chủ quyền khi dân tộc ấy, khi quốc gia ấy mạnh mà thôi. Một VNCH nhỏ bé đã không thể trông mong suông vào công lý và lương tâm thế giới để đứng vững. Tôi không bao giờ quên hoàn cảnh nghiệt ngã của người lính VNCH ở vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, thừa lòng dũng cảm và ý chí bảo vệ miền Nam nhưng hết súng hết đạn, hết tất cả mọi phương tiện để chiến đấu. Tôi không bao giờ muốn rơi vào cái hoàn cảnh cay đắng của một dân tộc mất quyền tự quyết, phải bỏ quê hương ra đi một lần nữa, và tôi không bao giờ muốn chiến sĩ HK ngày nay của tôi rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã của chiến sĩ VNCH ngày trước. Nên tôi chọn làm việc cho quốc phòng HK để đóng góp tích cực vào việc bảo vệ nên dân chủ tự do ở quốc gia thứ hai này cho chúng ta. Và tôi chọn làm việc khoa học kỹ thuật hầu mong giúp chiến sĩ của chúng ta có những phương tiện tối tân nhất, hữu hiệu nhất để thắng trận và trở về nguyên vẹn với gia đình họ.

    Từ 7 năm nay, tôi sang làm việc cho bộ Nội An HK vì nhận định rằng chiến tranh ngày nay không chỉ xảy ra ngoài chiến địa xa xôi mà cuộc chiến chống khủng bố đang diễn ra hàng ngày trong lòng hậu phương HK. Nói tóm lại là tôi luôn luôn muốn làm hết cái sức nhỏ nhoi của mình để giúp chiến sĩ và những người đang bảo vệ cho sự tự do và bình an của chúng ta nơi đây.

    6. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào sự sụp đổ của Miền Nam Tự Do để toàn cõi đất nước rơi vào tay CS là thành phần phản chiến, trong đó còn có giới văn nghệ sĩ , báo chí, truyền thông của Hoa-Kỳ như tài tử Jane Fonda, nhà viết sử Stanley Karnow, cựu chiến binh, giờ là chính khách, Tổng Trưởng Ngoại Giao John Kerry. Trong khi đó, chị là một người tị nạn CS, đã cống hiến sự nghiệp của chị trong việc chế tạo vũ khí để bảo vệ lý tưởng tư do và an ninh cho chính người dân Hoa-Kỳ. Nếu chị có cơ hội trao đổi với những người phản chiến về con đường bảo vệ Tự Do & Hoa-Bình trên thế giới, chị sẽ nói với họ những gì ?

    Nếu những ai phản chiến vì tin rằng mục đích tối hậu của con người là hòa bình thì tôi xin phép không đồng ý. Tôi cho rằng mục đích tối hậu của con người là tự do và nhân quyền, kể cả quyền mưu tìm hạnh phúc cho bản thân và gia đình. Hòa bình là môi trường, là điều kiện tốt nhất để giúp con người đạt được mục đích tối hậu này, nhưng hòa bình tự nó không phải là mục đích tối hậu. Nói cách khác, không cần phải có hòa bình thì mới có tự do và nhân quyền. Thí dụ điển hình là VNCH ngày trước, hay Do Thái ngày nay. Ngược lại, có rất nhiều trường hợp mà hòa bình không đem lại tự do và nhân quyền cho đại đa số người dân, mà chỉ cho một thiểu số cầm quyền. Thí dụ hiển nhiên là Bắc Hàn, là Việt Nam, Trung Cộng, Nga, Cuba ngày nay.

    Nhiều khi chiến tranh là con đường duy nhất để đạt được hòa bình lâu dài, như trong trường hợp một quốc gia bị xâm lăng và phải chiến đấu để bảo vệ chủ quyền. Đó chính là trường hợp của VNCH, chiến đấu vì muốn được yên để theo đuổi tự do dân chủ. Nếu ngày trước, các vị tiền bối HK cũng khư khư phản chiến, thà làm thuộc địa Anh và chịu mất tự do, thì làm gì có quốc gia HK ngày nay với một nền hòa bình và một thể chế tự do dân chủ vào bậc nhất trên thế giới cho tất cả chúng ta được cùng thụ hưởng.

    Riêng trong trường hợp của cuộc chiến tranh VN, nếu quý vị phản chiến muốn nó chấm dứt càng sớm càng tốt thì đáng lẽ quý vị phải đứng về phía VNCH mới đúng. Vì phía gây chiến là CSBV kia mà. VNCH là một quốc gia độc lập và có chủ quyền. Chúng tôi không hề muốn xâm lăng miền Bắc mà chỉ muốn được yên để theo đuổi tự do dân chủ. Ngược lại, CSBV đã tiến hành chiến tranh vì muốn nhuộm đỏ miền Nam. Những ai yêu chuộng hòa bình thiết tưởng phải lớn tiếng chống đối kẻ gây chiến chứ sao lại đâm sau lưng người đang cố gắng tự vệ.

    Tệ nhất là hành động đâm sau lưng chính những người lính HK của mình trong cuộc chiến đó, nhất là những tù binh HK bị CSBV giam cầm, như Jane Fonda đã làm. Muốn phản đối chính phủ HK gửi quân sang VN tham chiến thì cứ phản đối, nhưng tại sao lại chĩa mũi dùi vào những người lính HK. Chọn lựa tham chiến hay không là quyết định của TT, của Quốc Hội HK, chứ người lính HK thì chỉ biết thi hành nhiệm vụ được giao phó thôi.

    7. Theo quan điểm riêng của chị, yếu tố tiên quyết nào để có thể bảo vệ sự độc lập, quyền tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự do, hạnh phúc đích thực cho đồng bào và đất Mẹ VN?"

    Theo thiển ý, 3 yếu tố tiên quyết để thắng trong bất cứ cuộc chiến nào là: 1) ý chí chiến đấu, 2) chiến lược, chiến thuật và 3) phương tiện chiến đấu. Nếu hèn nhát hay không muốn chiến đấu vì không có chính nghĩa thì dẫu có thừa phương tiện cũng vô ích. Ngược lại, với lòng ái quốc cao độ và sách lược khôn ngoan, một quân đội thua người và kém phương tiện cũng vẫn có thể thắng. Bao nhiêu lần một VN nhỏ bé mà vẫn oanh liệt đánh bại đoàn quân xâm lăng bách chiến bách thắng Mông Cổ và quân Tàu là chính vì lòng dân Việt cương quyết, vua Việt anh minh và tướng Việt thao lược hơn người, giỏi cả chiến lược lẫn chiến thuật.

    Nếu muốn áp dụng bài học lịch sử này để một lần nữa đập tan mưu đồ xâm lăng của Trung Cộng thì chính quyền và toàn dân VN phải cương quyết, lòng ái quốc và tinh thần dân tộc cần phải khuếch trương lên cực độ. Hiện nay, đảng CS và giới lãnh đạo VN vì tham vì hèn nên sẵn sàng phản quốc mà cam tâm bán nước. Như thế là giặc đang ở ngay bên trong ta. Và chừng nào giặc ở bên trong còn thì khó chống được giặc ở bên ngoài.

    Còn về khía cạnh tự do và hạnh phúc đích thực cho toàn dân, thì con đường duy nhất là dân chủ hóa, tạo điều kiện để toàn thể nhân dân có cơ hội tham gia phát triển đất nước và được hưởng những thành quả đó.

    8. Bên cạnh sự thành đạt của chị mang lại niềm tự hào cho dân tộc Việt, chị còn là một gương sáng cho thế hệ trẻ gốc Việt gieo rắc ý thức về giá trị của 2 chử tự do và là niềm phấn khởi cho các thế hệ theo sau cống hiến tài năng của mình cho cuộc sống an bình của nhân loai. Nhìn lại chặng đường 40 năm tị nạn, xin chị có điều gì nhắn nhủ đến thệ hệ trẻ gốc Việt trong cũng như ngoài nước?

    Tương lai của một dân tộc luôn luôn nằm trong tay những người trẻ. Lịch sử luôn cho thấy những cuộc cách mạng phần nhiều được chủ động bởi những người trẻ. Vì người trẻ nhiều lý tưởng, nhiều sáng kiến và nhiều năng lực. VN ngày nay đang mất dần vào tay Trung Cộng. Đất VN, biển VN, tài nguyên VN đang được chính quyền CS cho không hay thuê nhượng với giá rẻ mạt. Tôi tha thiết mong mỏi những người trẻ trong nước hãy đoàn kết và can đảm đứng lên huy dộng toàn dân bảo vệ quê hương bằng mọi cách. Xin các bạn hiểu rằng trung thành với Bác, với Đảng không đồng nghĩa với trung thành với tổ quốc VN. Khi Dảng đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, cam tâm bán nước để củng cố quyền lợi cá nhân và duy trì quyền lực cho đảng, thì chính cái đảng đó đang phản quốc. Như vậy, không có lý do nào để trung thành hay hợp tác với họ cả. Quan trọng nhất là chúng ta phải phát huy tinh thần dân tộc và lòng ái quốc để giữ lấy cái quê hương bên trong mỗi chúng ta thì mới mong bảo vệ được quê hương bên ngoài. Nếu quê hương ở bên trong chúng ta còn nguyên vẹn thì không sợ mất quê hương bên ngoài. Mà có chẳng may bị mất thì phải tâm niệm là chuyện nhất thời, mình nhất định nuôi chí quật cường và chờ thời cơ để dành lại, như cha ông ta đã từng làm bao nhiêu lần trong lịch sử.

    Đối với những người trẻ may mắn sinh ra và lớn lên trong những xã hội tự do dân chủ bên ngoài VN, bước đầu tiên là các bạn cố gắng tìm hiểu cái căn cước thứ hai của mình, cái gốc VN của mình. Một khi các bạn khám phá ra lịch sử vô cùng kiêu hùng của người VN, từ một nền văn minh cổmấy ngàn năm với văn hóa rất đặc thù, đến ý chí bất khuất quật cường, luôn luôn dành lại được độc lập dù từng bị Tàu đô hộ cả ngàn năm, tôi chắc chắn là các bạn sẽ vô cùng hãnh diện về nguồn gốc của mình. Một khi các bạn hãnh diện thì tôi chắc các bạn sẽ mong muốn góp phần bảo vệ nó, và các bạn sẽ góp tay với người trẻ trong nước để giúp VN tự do và trường tồn. Chúng ta hãy noi gương người Do Thái, dù sinh sống ở đâu nhưng vẫn giữ cái gốc Do Thái của họ và tìm mọi cách giúp đỡ người dân Do Thái đang sống trong nước được tự do hạnh phúc.

    Sau cùng, tôi xin mượn tựa để một quyển tiểu thuyết rất nổi tiếng của cố văn sĩ Duyên Anh để nói với các bạn trẻ, nhất là các bạn trẻ trong nước. Quyển tiểu thuyết này có tên là “Mơ Thành Người Quảng Trung”, một trong những anh hùng chống Bắc xâm vĩ đại nhất của lịch sử VN. Vâng, tất cả chúng ta xin hãy mơ thành người Quang Trung, và xin hãy là người Quang Trung.

    (bản ghi lại từ youtube của T.Đ)
  9. Tuần qua là một tuần “nhiều chuyện”.

    Tiếng Việt, tương tự như nhiều ngôn ngữ khác, rất phong phú và đôi khi có nhiều nghĩa mà nếu không chú ý có thể vô tình làm sai lạc điều muốn nói. Tỷ như “Một tuần nhiều chuyện” có thể hai nghĩa: có nhiều chuyện xảy ra; tác gỉa nhiều chuyện, ngồi lê đôi mách hay nói theo ngôn ngữ giới trẻ là “tám”.

    LanChiYesterday này chỉ là nghĩa thứ nhất.

    Chuyện thứ nhất là chuyện vui. Đó là tôi gặp Đại Tá Hải Quân Hoa Kỳ, Phan Phan. Khuôn mặt sáng, ánh mắt thông minh, lông mày rậm làm cho Đại Tá Phan Phan có cái nét nghiêm khắc nếu như không có cái lúm đồng tiền kéo lại. Qua Mỹ từ ngoài mười tuổi, con của cựu quân nhân VNCH, Đại Tá Phan Phan đang tùng sự tại Hải Quân Hoa Kỳ. Đề tài chúng tôi trò chuyện sơ và sẽ trò chuyện kỹ trong mục “Trò Chuyện với Lan Chi” là “Cội nguồn cuộc chiến Việt Nam”.


    Thú thật, khi được nói chuyện về Việt Nam với những người trẻ, thế hệ một rưỡi, như Đại Tá Phan Phan, tôi luôn có vài cảm giác: vừa thích thú, vừa cảm động, vừa lo âu. Thích thú khi thấy thế hệ ấy còn chú trọng đến tổ quốc; cảm động nếu như thế hệ ấy có những suy tư cho VN; lo âu nếu mang máng cảm thấy người của thế hệ ấy, có vẻ đang bị một đảng phái xấu nào đó lợi dụng.

    Tôi trao cho Đại Tá Phan Phan, cuốn “Cội nguồn cuộc chiến VN” của Cựu Đại Tá Thiết Giáp Hà Mai Việt. Sách này, ô Hà Mai Việt gửi đã lâu nhưng tôi chưa tìm được người. Nay có Đại Tá Phan Phan, tôi vô cùng thích thú. Một già, một trẻ; một cựu Đại tá Thiết Giáp Quân Lực VNCH, một đương kim Đại Tá Hải Quân Hoa Kỳ; Đề tài Cội nguồn cuộc chiến;há không phải là một đề tài thú vị hay sao?

    [​IMG]

    Phan Phan, Đại tá Hải Quân Hoa Kỳ cầm cuốn “Cội nguồn Cuộc Chiến” của cựu Đại Tá Thiết Giáp Hà Mai Việt

    Chuyện thứ hai cũng là một chuyện vui. Tôi trò chuyện cũng với một người của thế hệ một rưỡi, đương kim Chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng San Antonio, Ô Phan Quang Trọng. Chúng tôi sôi nổi nói chuyện điện thọai hơn một giờ. Điều làm tôi vui là ngoài hai vị cựu chủ tịch cộng đồng (mà tôi xếp vào loại “trẻ”) là ông Nguyễn Kinh Luân (Tarrant) vàDương Đức Vĩnh (Michigan), đương kim chủ tịch Central Virgina, ô Châu Chương Thànhmà tôi vẫn quý mến thì đây là vị chủ tịch cộng đồng “trẻ”, thứ tư, mà tôi cho rằng, tư tưởng của tôi ( coi như người già) và các vị “trẻ” này, có nhiều điểm tương đồng. Các vị trên, đôi khi không hạp với “các ông già” nhưng với chị Hoàng Lan Chi thì lại hạp hơn dù tôi chỉ thua các “ông già” khoảng vài tuổi. Tôi hay nói đùa rằng, “Tư tưởng chị Hoàng Lan Chi trẻ hơn tuổi thật chị Lan Chi nên chị Lan Chi hạp với các em nhiều” !

    Chuyện thứ ba cũng là chuyện vui: Đại Hội Gia Long Thế Giới Kỳ 7 tại DC kết thúc khá thành công. Vì phải làm sớm do rơi vào tháng Quốc Hận và cũng vì đợt gió lạnh kéo dài nên hoa đào mới chớm nụ. Hơi đáng tiếc cho những người chưa thấy mùa hoa đào ở Hoa Thịnh Đốn. Phải nói rất đẹp! Hàng cây anh đào rực rỡ nghiêng mình bên giòng Potomac là một sự kiện quyến rũ du khách hàng năm. Gs Phạm Thị Nhung từ Paris, sau khi tham dự Đại Hội đã đến Nam CA. Đám học trò chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng dường như Cô Nhung là vị GS Gia Long được đông đảo học trò yêu mến nhất. Thì có gì đâu, ngày xưa cô dậy hay, tận tâm thì phải được học trò quý. Ngày nay, cô vẫn gắn bó với trường xưa, học trò cũ thì đương nhiên “bánh ít đi banh quy lại”, cô vẫn được học trò yêu. Một điểm khác là cô luôn cố gắng công bình. Cô không như vài vị giáo sư khác, bênh nhóm này, bỏ nhóm kia. Cách cư xử đó không đúng với cương vị người thầy, nhất là người thầy của Gia Long, của nền giáo dục từ hai thời cộng hòa.

    Câu chuyện ngày xưa nữ sinh đệ nhị A Gia Long, Hoàng Lan Chi, rất yêu cô Nhung thì bà Giám Học Nguyễn Thị Kỳ cũng biết. Đã nhiều năm trôi qua với bao thăng trầm và giờ này thầy trò chúng tôi vẫn có nhau. Tuy cô Nhung cố gắng đối xử đồng đều nhưng trong sâu thẳm thì có lẽ Hoàng Lan Chi vẫn là “một đóa Ngọc Lan trong tâm tưởng” của cô. Trong bài TÂM TÌNH VỀ HOA NGỌC-LAN, GS Phạm Thị Nhung viết về Hoàng Lan Chi như sau: “Ngọc-lan trở thành một loài hoa tâm tưởng; từng hiện ra nuôi dưỡng hồn thơ và ru êm những nỗi nhớ nhung thương tiếc cuả con người nặng tình yêu dấu.

    Hoàng-Lan-Chi ơi, em cũng là một cành hoa ngọc-lan tâm tưởng của cô, em đã chứng kiến và chia sẻ những hạnh phúc tuyệt vời mà cô đã từng được hưởng dưới mái trường Gia-Long, và trong ngôi nhà thơ mộng ngát hương hoa ngọc-lan ở 38 đường Ðinh Tiên-Hoàng, Dakao, Sài Gòn.”.

    Gia Long Hồng Phương ghé đón tôi trước, đón cô Nhung sau. Thầy trò chúng tôi đến trụ sở Thư Viện Toàn Cầu gặp Tâm Vô Lệ vì cuốn biên khảo về Kiều của cô giao cho TVTC đánh máy lại và lưu trữ tại đây. Tâm Vô Lệ nói rằng không ngờ cô bên ngoài trẻ và đẹp vậy. Tôi cười “Thì vì đẹp và dậy hay nên ngày xưa chị Hoàng Lan Chi mới mê chứ!”. Rời TVTC, chúng tôi ra Huntington Beach chơi. Cô kể chuyện Đại Hội cho tôi nghe chứ Hồng Phương thì luôn đi dự. Nghe cô ríu rít tưởng chừng như là nữ sinh Gia Long nói về trường chứ không phải giáo sư nữa.

    [​IMG]

    Một điều khác làm tôi vui là Hội Ái Hữu Gia Long Montreal đã nhận cờ luân lưu nghĩa là Đại Hội Gia Long Thế Giới Kỳ 8 sẽ tổ chức ở Montreal. Tôi thưa với cô Nhung “Em có mail cho Hội Trưởng Bích Ngọc và cả Phương Dung là Montreal ít nhân sự nhưng đừng lo, Gia Long thế giới có nghĩa vụ giúp”. Đại Hội sẽ lần lượt tổ chức ở khắp nơi trên thế giới nếu được, tất nhiên trừ Việt Nam bây giờ. Vài năm sau thì coi như đóng cửa các Hội và cả Đại Hội Thế Giới. Lý do là lúc đó những cựu nữ sinh Gia Long thuần túy đã quá lớn tuổi và không kham nổi việc tổ chức nữa. Chúng tôi, tuy thông cảm và cũng thương các em đầu Gia Long đuôi MK lắm nhưng không thể để các em tiếp nối. Hai nền giáo dục khác nhau và cái tên Hội Ái Hữu Gia Long thì chỉ nữ sinh Gia Long là chính yếu.

    Cấn Thị Bích Ngọc, đương kim Hội Trưởng Gia Long Montreal là sư muội và cũng là chiến hữu của tôi. Bích Ngọc rất chống cộng, có tinh thần quốc gia vững mạnh. Tôi có nhiều sư muội Gia Long nhưng vừa là muội vừa là chiến hữu thì chỉ vài người. Năm 2014, chúng tôi đã gặp nhau và kỷ niệm lưu dấu trong lòng Bích Ngọc hôm ấy là: Gia Long Kim Dung mua mít, Gia Long Hoàng Lan Chi nguây nguẩy từ chối không đem về nhà vì lười không muốn bóc mít; thế nhưng sau đó đích thân Hoàng Lan Chi lại bóc mít cho Bích Ngọc ăn. Đấy, thế mới là tình nghĩa chị em, phải không? Tôi bảo Bích Ngọc “Muội đừng lo, có Gia Long Toronto cũng khá đông phu mà. Tỷ cũng sẽ nói nhóm Gia Long Quế Hương phụ. Tỷ sẽ đi dự. Đặc biệt đại hội do Bích Ngọc tổ chức, thì tỷ Hoàng Lan Chi phải dự chứ.”.

    [​IMG]



    Sau đó tôi còn “order” ông Văn Khoa, nhóm Kỹ Sư Bách Khoa Phú Thọ là “ông rủ vài ông Phú Thọ ở Montreal phụ Gia Long Montreal nghen”.

    Chuyện cuối cùng là chuyện không vui nhưng thôi chả nói hay để dành kỳ tới nói. Đó là chuyện một người không phải Chu Văn An nhưng mạo danh Chu Văn An và cứ quấy phá hội Bưởi-CVA nhất là khi thấy Đại Hội Bầu Cử của hội này sẽ diễn ra vài tháng tới. Kẻ này dùng mọi trò vặt để bắt tôi phải đọc chuỗi mails nội bộ của họ và đã bị tôi mắng cho. Tôi không bao giờ chấp nhận những kẻ như vậy. Tôi đang tự hỏi kẻ này cứ làm nhiều trò để bị chửi mắng như vậy là họ bị tâm thần hay là họ vâng lịnh một đảng phái nào đó, dùng thủ đoạn y như vc, “cứu cánh biện minh cho phương tiện” và đã hạ mình thật thấp, chịu nhục đủ kiểu để bằng mọi giá cướp cho được Hội Bưởi-CVA trong tay như họ đã tạm thành công đối với Tổ Chức Cộng Đồng ở VA, DC và MD?

    Hoàng Lan Chi 4/2015
  10. Cuối năm, gửi Lan Chi ngày tháng cũ với những hình ảnh nhu mì của Đồi Cù, Thung Lũng Tình Yêu, Đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, thì hôm qua, đầu năm đi lễ chùa nhưng ghẹo …tượng. (cười). May mà là đầu năm tây. Đầu năm ta thì “hỏng dám đâu”.

    CA có chùa Đài Loan là lớn nhất. Có lẽ đây là lần thứ tư tôi ghé thì phải. Buổi trưa chủ nhật có buffet chay khá ngon.


    Năm 2010, khi qua Canada, đi chùa Đại Tùng Lâm, Hoàng Lan Chi cũng đã ghẹo tượng rồi. Ngó mấy tượng với những tư thế như thế, cái máu nghịch nổi lên và Hoàng Lan Chi đã ghẹo. Năm nay, 2014 cũng vậy. Rải rác trong và ngoài chùa có mấy tượng nhỏ và cứ thế là HLC nhái theo tư thế của các ngài. Coi photoshow, HLC ghẹo tượng ở chùa Canada năm 2010 ở link sau: Thăm Đại Tùng Lâm ở Canada


    Xem mấy hình tử tế trước và coi mấy hình nghịch ngợm của Hoàng Lan Chi ở dưới cùng nhen.


    [​IMG]


    [​IMG]
    [​IMG]
    [​IMG]

    Hẹn đầu xuân mình, mình lại đi lễ chùa nhé, mình nhé.


    Hoàng Lan Chi 1/2015
  11. Cách đây không lâu, sư huynh Lê Anh Kiệt nhờ bạn đem cuốn sách “Mặt Trận Đại Học” của Bạch Diện Thư Sinh (Trần Vinh) tặng tôi. Nhìn thấy cái tựa là tôi bị hấp dẫn rồi. Thế là chưa đầy tuần, tôi đọc ngay. Khi viết điểm sách xong, Bạch Diện Thư Sinh cười khì “In 400 cuốn mà bạn bè bán gần hết rồi, còn đâu mà cho độc giả địa chỉ liên lạc?”. Ngon dữ vậy đó. Tôi ngẫm nghĩ, điệu này thì chắc mình phải viết một cuốn, ví dụ, Mặt Trận …mẹ chồng thời @, chắc cũng hút khách lắm đó. (cười).

    Sáng nay cô bạn ghé đón đi ăn (chả hiểu sao lúc này …Hoàng Lan Chi làm biếng ghê. Hay nhõng nhẽo bắt người khác chở. Hư thiệt đó). Tôi nhờ cô bạn bấm vài kiểu ngoài sân. Tựa đề sẽ là “Hoàng Lan Chi xông vào Mặt Trận Đại Học”, Nghe được không nhỉ?
    Cuối tháng này, Hoàng Lan Chi sẽ gửi bài Điểm sách Mặt Trận Đại Học sau khi Bút Tre đăng.


    Hôm qua, gửi cho tác giả -sư huynh ( tôi coi là sư huynh vì cùng …Viện Đại Học Sài Gòn), tác giả trả lời vầy “Dáng cô nàng thì bẽn lẽn mà ngòi bút thì xung phong!”. Tôi bật cười. Mạc Phương Đình, cũng có lần nêu nhận xét tương tự. Rằng, Hoàng Lan Chi khi viết, đôi khi nghịch ngợm, ngổ ngáo; nhưng chụp hình thì luôn khép nép như con gái nhà lành… (cười). Ơ, thì ngày xưa, một ông anh rể đã phong cho HLC là người ngoan nhất nước, con nhà lành nhất nước cơ mà. ( vì bị ba tầng áp bức: gia đình, học đường và xã hội nên …con nhà lành và ngu đấy thôi!)


    [​IMG]


    [​IMG]

    [​IMG]
    Hoàng Lan Chi 1/2015
  12. Cuối năm sao có nhiều dịp để hồi tưởng ghê nhỉ. Hôm qua nhân viết mail cho một người bạn Đà Lạt, tôi tìm hình cũ trong computer gửi cho bạn xem. Rồi tôi fw cho một cô bạn nhỏ. Cô ta thích ..hình cũ của tôi quá đến độ phải viết mail ngay (điều hơi hiếm với cô này) rồi sau đó gọi điện thọai. Cô bảo trông hình cứ như một người mới qua tuổi teenager để bước vào “young lady”. Cô khen dáng đứng, nét mặt trong sáng thánh thiện, mầu áo “light turquoise” và cả đôi chân mà cô cho là đẹp vì đa số phụ nữ Việt Nam thời trước hay bị chân cong. Tôi bật cười “Young lady cái con khỉ. Hình đó chị chụp năm 1990 nghĩa là ngoài 40 tuổi, đã là mẹ hai con.” Nhưng tôi đồng ý về mầu áo đẹp. Bên ngoài, mầu xanh bích ngọc của cái áo len mà tôi mua ở chợ Đà Lạt rất xinh. Mầu rất ngọt. Cái mũ choàng làm khuôn mặt dễ được xinh hơn. Tôi còn nhớ tôi thích mầu này quá đến độ khi trở về, dù trời Sài Gòn mùa đông không lạnh lắm nhưng tôi cũng diện áo len này chơi. Để rồi vô tình gặp lại một người cũ của mười lăm năm trước. “Chàng” bị mầu áo len bích ngọc, mầu mắt của năm xưa hớp hồn. “Chàng” nói mười lăm năm mà chàng “hổng’ thấy tôi thay đổi nhiều. Xạo quá, thôi kệ cứ nghe cho vui tai.


    [​IMG]
    Đà Lạt-Thung Lũng Tình Yêu 1990
    [​IMG]
    [​IMG]
    Đà Lạt-Hồ Xuân Hương-1990


    Rồi một “em bạn” bàn loạn về Hà Nội-Sài Gòn và Virginia-California sau khi tôi gửi bài viết của một người trong nước viết “Gái Hà Nội về quê ăn tết”. “Em bạn” không phải là em của bạn mà là bạn nhưng nhỏ hơn khoảng ba tuổi gì đó, bị “chị Lan Chi” bắt làm em. “Em bạn” viết vầy:

    Chị Hai, đọc xong vài hàng chị Hai “so sánh CA và VA”, trong đầu bỗng nẩy ra một suy dẫn biểu tượng (symbolic analogy) như khi so sánh Saigon và Hà Nội.
    - VA/DC và Hà Nội có bốn mùa xuân hạ thu đông, trong khi Cali và Saigon chỉ có hai mưa nắng.
    - VA/DC và Hà Nội có nhiều thắng cảnh đẹp như ở DC, Bờ biển Virginia, nhiều rừng xanh, nhiều hồ, phố cổ, nhiều di tích lịch sử… Trong khi CA và Saigon có rất ít (Hollywood, Beverly Hills, vài khu bờ biển, vài di tích do Pháp xây dựng ở Saigon)
    - VA/DC giống như Hà Nội vì có nhiều cơ quan chính phủ, ngàn năm văn hiến/văn vật, Victorian colony, dân chúng phần đông thanh lịch và trí thức (cho dù Hà Nội sau này bị “xâm chiếm” bởi dân Hà Lội Thịt Nợn hơi nhiều!. Có lẽ những người Hà-Nội-thật đã chạy hết vào Nam năm 1954, tiếp theo là những người Hà-Nội-phe-ta-có-chức-tước đã ồ át vào Nam sau 1975 để “xài đỡ nhà cửa đất đai của cải” của bên thua cuộc !). Còn CA và Saigon thì tạp nhạp hỗn độn đủ thành phần, chạy đua nhau kiếm tiềm bằng mọi cách để thỏa mãn nhu cầu vật chất giả tạo không tâm linh. Đó là chưa kể đến chuyện kỳ thị qua bất động sản (racism via real estate) goosing heist nhan giữa Cali và Saigon. Ở Cali, thường thì là khu Mỹ trắng, khu Mỹ đen, khu Mễ, khu Việt, khu Mễ-Việt… mỗi khu có một giá tiền cách biệt. Ở Saigon, thì nhà quận 1, quận 3 hay Phú Mỹ Hưng sẽ gấp cả chục cả trăm lần tiền các nhà vùng ven đô (chi dù cơn sốt bất động sản lên cao độ vài năm trước đây). Sự chênh lệch giá cả đó, và sự kỳ thị khu phố, lẽ dĩ nhiên cũng có ở VA và Hà Nội nhưng ít hơn và ít lộ liễu hơn (không cần phải nổ, phải tự khoe hay tự tâng bốc mình qua hào quang bọt biển). Như vậy, khi chị Hai nhớ về VA thì hãy nhớ về Hà Nội, và tìm nghe Nỗi Lòng Người Đi, Hà Nội Mùa Này Vắng Những Cơn Mưa….cho đỡ buồn. Chúc chị Hai một năm 2015 tràn đầy niềm vui, toại nguyện, thành công và sức khỏe !


    Tôi trả lời “em bạn” như sau:
    Cưng à

    Hà Nội có hồ, có nhiều cảnh đẹp. Người HN xưa di cư vào Nam. Người HN còn lại bị đuổi đi kinh tế mới. Và sau đó hình thành lớp người Hà Nội mới. Chị Hai sợ lớp người HN mới này lắm. Còn dân Hải Phòng thì khỏi nói. Du đãng Hải phòng là ghê lắm. Sài Gòn là nơi chị Hai lớn lên và tuy Sài Gòn mưa nắng hai mùa nhưng thời đệ nhất cộng hòa, khi vc chưa lập cái gọi là “Mặt trận giải phóng miền Nam”, rồi xua quân vào khuấy rối thì cũng an bình. Chị Hai không yêu được Hà Nội vì không lớn lên ở đó. Chị Hai là người Sài Gòn, chị hai chỉ yêu Sài Gòn thôi. Những gì gắn bó với mình ở thời thơ ấu thì luôn làm mình trĩu nặng suốt đời cưng à. Chị Hai ra Hà Nội hai lần. Một lần có đi chùa Hương. Thực tế, chị hai thấy Hồ Hoàn Kiếm cũng không phải đặc biệt gì lắm, chùa Hương cũng thế. Nhưng ngày xưa, qua ống kính, qua thơ văn thì mọi cái diễm lệ hơn. Cũng như nhiều người nói rằng sau khi đọc thơ Cung Trầm Tưởng, rồi nghe nhạc Phạm Duy thì mơ tưởng đến ga Lyon đèn vàng, cầm tay em muốn nói, nói chi cũng muộn màng, hay vườn Luxembourg với lá vàng rơi trên những pho tượng trắng, hay giòng sông Seine lờ lững…Thực tế, những cái trên không đẹp, không thơ, không lộng lẫy như thi nhạc sĩ viết…
    Nhưng chị hai của cưng là điều trái ngược nhưng trái ngược Good à nhen. Ví dụ, cưng thấy chị hai viết bài uýnh việt gian thì sắc bén, đanh thép, nhưng nếu cưng gặp chị hai bên ngoài và nghe chị hai nói chuyện thì hỏng phải zậy, cưng hiểu chưa? Nhiều mợ nói vậy đó. Họ nói, chời ơi, nói chuyện với chị Lan Chi, có thấy chỉ dữ như mấy bài uýnh việt gian đâu. Cho cưng coi, chị hai ở Hà Nội nè. Năm 1992-1993 gì đó, Hà Nội còn nghèo và quê lắm. Nên cưng biết không, chị hai của cưng tung tăng phố phường Hà Nội với đầm cánh sen, đầm vàng, đầm bích ngọc…, thì dân đi đường Hà Nội cứ thế ngoái nhìn. Chị hai vô đền Ngọc Sơn mà nghịch ngợm trèo lên cây đa của đền vậy đó. Còn hình ở chùa Hương thì cũng đẹp, nhất là trên Bến Đục (đò đi qua Bến Đục, mọi người ngắm nhìn em.Thẹn thùng em không nói. Nam mô a di đà! Bài Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp đó) coi cảnh cũng đẹp. Nhưng album đó thì chị hai còn để ở …VA. Năm 1993, là chị Hai ngoài 40 rồi nhe cưng. Chị hai.


    Tôi cũng fw mail thứ hai cho cô bạn nhỏ coi. Cô cũng chỉ thích cái áo mầu light turqouise. Cô nói tôi có vẻ hạp với mầu này. Thật đáng tiếc, ngày xưa tôi có môt áo dài bích ngọc, mầu rất đẹp và ngọt như mầu áo này, mà không chụp hình để lại.


    [​IMG]


    [​IMG]



    [​IMG]

    [​IMG]


    Đoàn Chuẩn ngày xưa “thấy hối tiếc nhiều, thuyền đã sang bờ” và bầy đặt “Đập gương xưa tìm bóng” của một Tà Áo Xanh, còn bây giờ Hoàng Lan Chi chỉ cần “bò” vào hard disk cũ là có:


    Đà Lạt ơi nhớ chiều nào mây phủ
    Trên đồi cao ta ôm gốc thông già
    Mầu áo xanh không chen với ngàn hoa
    Và mắt biếc vẫn sáng ngời trong gió
    *******
    Chiều Cali chợt nhớ ngày tháng cũ
    Tìm hình xưa trong ký ức nhạt nhòa
    Thời gian trôi kỷ niệm dẫu phôi pha
    Mầu len cũ vẫn còn nguyên dấu vết
    Và:
    Hà Nội ơi ngày tôi vừa trở lại
    Phố xá nghèo, người Hà Nội xác xơ
    Bên cạnh hồ, nhành liễu vẫn thướt tha
    Nhưng Hà Nội đâu còn ngày xưa ấy


    Rừng Gió CA những ngày cuối năm 2014
    Hoàng Lan Chi
  13. [h=1]Quỳnh, Một đời[/h]Posted on December 27, 2014 by hoanglanchi


    [​IMG]

    Người đi rồi, nắng về trên phố lạ
    Con bướm vàng hàng dậu ngẩn ngơ bay
    Đoá Quỳnh nở đêm qua vừa rũ cánh
    Hương vẫn còn ấp kín cả bàn tay
    *****

    Để nỗi nhớ bốc dần theo khói thuốc
    Đuổi theo người có kịp tối hôm nay
    Nghe ngập ngừng trĩu nặng có đâu hay
    Chữ ân ái hay là tình ân ái
    *****

    Người sẽ đi không bao giờ trở lại
    Hay sẽ về trong chuyến sớm ngày mai
    Tình không ủ để đêm dài con gái
    Mênh mông buồn tưởng đá nát vàng phai
    *****

    Một đời đi và một đời ở lại
    Một đời buồn phủ kín một đời xa
    Một đời yêu trên từng cõi sát na
    Một đời chết –ngàn thu hồ vĩnh biệt

    Hoàng Lan Chi 12/2014
  14. Ngày xưa, không biết sao tôi mê đủ thứ. Mê nhưng không có điều kiện, hoàn cảnh. Khoảng 1984, sau khi nghỉ việc ở ĐH Khoa Học vì nộp đơn đi nước ngoài, tôi ghi danh học nhiều thứ ở Hội Phụ Nữ và cả Hội Trí Thức Yêu Nước. Đa số giảng viên hai hội này là người VNCH tức người cũ. Lý do, vào thời điểm đó, Bắc Kỳ 75 với quá khứ nghèo nàn, đói khổ thì làm gì có nghệ thuật cắm hoa, nấu ăn, uốn tóc, hay cả ..IBM. Tôi ghi danh nhiều lớp.


    Kỷ niệm còn đọng lại nhiều nhất là lớp ngôn ngữ Cobol vì ông thầy dậy học rất cưng cô học viên. Ông họp với nhóm nhỏ chúng tôi gồm ba học viên chơi vui với nhau, sinh nhật cho nhau và cả uống cà phê với nhau. Tiếc là không kéo dài vì sau đó mỗi học viên một ngả. Chỉ có tôi là còn duy trì hơi lâu với thầy. Tôi hay ghẹo, gọi ông là “Ông thầy” và xưng tên Couteau. Ông cũng hay gọi tôi là Couteau. Mở ngoặc, tên tôi là Quỳnh Giao. Giao hay Dao phát âm như nhau, nên tôi đã lấy bút hiệu Quỳnh Couuteau để viết Phiếm Luận cho báo Chính Luận. Tôi thích học nên bịa ra đề, tự làm bài giải rồi bắt ông thầy chấm. Tội nghiệp ông thầy của tôi. Chấm mấy bài tập cho ngôn ngữ Cobol đâu có dễ như bài tập toán. Lý do, nó có cách giải quyết vấn đề riêng. Phải suy nghĩ coi có hợp lý không. Dù bận bịu, ông thầy vẫn chịu khó giúp cô học viên. Thậm chí có hôm tôi nũng nịu đòi ông đưa đi thăm mộ bà nội tôi, ông cũng chiều.

    Kỷ niệm thứ hai là lớp uốn tóc. Tôi thích chải đầu, bới tóc cô dâu chứ không thích uốn. Phải cuộn tóc từng ống nhỏ: là điều tra tấn với tôi. Cuối khóa, tôi thuê áo dài cưới, soiree cưới và mời giáo viên đến nhà bới tóc đủ kiểu cho tôi và tôi chụp hình để lại làm kỷ niệm.


    Lớp học thứ ba là lớp may. Tôi cũng còn giữ những cái áo, quần bé tí tẹo tì teo, rất xinh mà tôi phải may cho lớp học. Ngày đó, tôi rất kỳ công khi ngồi đạp máy may cho những cái áo tí hon đó. Nào là áo cổ lá sen, tay phồng. Nào là áo bà ba. Rồi quần gài nút mặc với áo dài. Cô giáo không những cho điểm mười mà còn giơ tác phẩm của tôi lên cho cả lớp chiêm ngưỡng. Nói ra thật xấu hổ: để may một cái áo tí teo đó, có khi tôi mất cả ba giờ. Mở tiệm may kiểu thợ may Quỳnh Giao thì có mà lỗ vốn to!


    Lớp thứ tư là lớp gia chánh. Nấu ăn là một thú vui của tôi ngày đó. Tôi lại hay “vẽ duyên” nên tác phẩm của tôi ngon như cô giáo nhưng trình bày đẹp hơn. “Vẽ duyên” là ngôn ngữ mà năm 1975, mấy bà đầu bếp ở Cơ Sở Khoa Học ở Thủ Đức nói về tôi. Chả là sau 1975, chúng tôi phải xuống Thủ đức thay phiên nhau. Khoa Lý xuống ở năm ngày thì các ông phân cho tôi và Nhã ở mục làm bếp. Khi dọn cơm, mấy món ăn của tôi được trình bầy đẹp. Mấy chị nhà bếp nói “ Cô QG hay zẽ zuyên lắm”. Tôi phải hỏi Nhã, cô bạn người Nam của tôi, zẽ zuyên là gì! Học gia chánh xong thì vào ngày giỗ, tôi trổ tài làm món Phụng Hoàng ấp trứng. Món này mệt thấy mồ vì phải rút xương gà, rồi nhồi thịt, luộc trứng. Khi cắt, mỗi khoanh có gà bên ngoài, trong là lớp trứng tráng, rồi thịt băm, một khoanh trứng vịt ở giữa rất đẹp mắt. Ngoài ra còn phải luộc trứng gà, trứng cút để làm gà con. Ổ gà là mì xào dòn. Món tủ thứ hai là bánh cuốn. Giời ạ, món này thì đắt hàng. Mẹ tôi la “Sao cô cứ bày vẽ hoài vậy”. Ơ hay, “bà giáo” này kỳ ghê. “Bà giáo” này vốn dĩ không thích gia chánh (nhưng bà nội tôi thương vì cái nếp ở, cái thông minh). Lúc đó “bà giáo” lại phải lê la vỉa hè bán cà phê. Bà có phải làm đâu nhưng thấy tôi bầy nồi, bầy khuôn, lại nấu củi, bà thấy mệt quá. Tráng bánh cuốn nóng, ăn tại chỗ rất ngon. Tôi còn nhớ, đang vác bụng bầu bé Ly, củi nóng quá trời mà mình tráng không kịp. Cu Bi ăn xong hai đĩa còn “Bà bán hàng Mẹ bán cho thêm một đĩa”. Mấy cô em gái cũng vậy. Món tủ thứ ba là bánh quế. Người Bắc hay có hộp bánh quế cho đám hỏi. Phải đổ bột vào khuôn, nướng, rồi cuộn tròn. Sao mà ngày đó tôi cũng có gan ngồi đổ hết hộp này sang hộp khác mà không ngán. Thậm chí một bà nữ hộ sinh mà tôi ngoại giao để bà giúp khi sanh bé Ly, cũng khăn gói đến nhà tôi để học làm bánh quế. Món tủ thứ tư là bánh đậu xanh kiểu Bảo Hiên Rồng Vàng. Tôi phải lấy bột đậu xanh tự làm, cho vừa khéo lượng dầu ăn, nhồi, bỏ vào khuôn. Họ hàng là cứ tha hồ ăn bánh quế, đậu xanh của tôi. Tôi cũng làm bánh dẻo Trung Thu nhưng không làm bánh nướng.


    Lớp học thứ năm là lớp nghệ thuật chưng trái cây. Tôi thích lớp này lắm vì thích zẽ zuyên mà. Trái cây được tỉa hay sắp xếp kết hợp với hoa, rất đẹp. Đặc biệt tôi còn nhớ, khi tôi muốn tặng quà cho một bà bác sĩ thì bà ấy không nhận nhưng khi tôi tặng giỏ trái cây làm từ bánh đậu xanh thì ối thôi, “nàng” thích quá, đem đi khoe um sùm khắp khoa nội. Tôi phải nấu đậu xanh, cho đường, bóp nhuyễn rồi nặn thành trái chuối, mận, sơ ri, ớt. Sau đó nhúng rau câu. Đợi khô, phết mầu xanh đỏ. Lại nhúng rau câu lần hai. Với ớt thì cho cuống ớt thật vào. Trời ơi, ba loại trái trông y như thật là ớt, roi, sơ ri. Thật đến nỗi bố tôi bảo “Ơ hay, cái cô này, sao lại biếu bố ớt?!” Với trái vải thì làm từ bột ovaltine, cho vào cái lưới và vo. Khi ra, trông y như trái vải vậy. Bằng ấy trái cây làm từ đậu xanh, tôi cho vào giỏ be bé và cắm lác đác hoa cúc trắng. Trời ơi, xinh lắm đó. Tiếc là ngày xưa không như bây giờ, hễ xong một tác phẩm là chụp hình để lại làm kỷ niệm.


    Lớp học thứ sáu là lớp chụp hình. Nhờ lớp này tôi còn nhớ khái niệm đâu là điểm mạnh của tấm hình. Trước kikhi chụp thì toàn cho người mẫu ở giữa. Một kỷ niệm vui là cả lớp đi du xuân theo thầy và thực tập chụp cho ông chấm điểm. Ông thầy bắt tôi ra làm người mẫu cho cả lớp chụp. Lúc đó tôi ngoài ba mươi rồi, có trẻ đâu cơ chứ. Còn tôi thì lang thang, gặp cô bé nào xinh là sà vào xin chụp ngay. Mấy chục năm sau, ở VA, tôi chụp cho Chân Như, một xướng ngôn viên của Đài Việt Nam Hải Ngọai. Thấy cô chụp mình đẹp, Chân Như bèn bắt cô đi chụp cho cậu cả. Khổ thân tôi, “bà già” mắt kém rồi mà phải lẽo đẽo theo “thằng nhỏ’ vào rừng VA chụp cho nó. Nó cứ hoạnh họe, tôi thì gắt “Cô không thấy đường. Mắt tao kém rồi, biết chưa”.
    Hình tôi chụp cho Chân Như năm 2008 ở VA nè:



    • [​IMG]
    • [​IMG]


    Ngày đó học xong, tôi cũng ít thực tập. Lý do, máy hình đắt, phim đắt, rửa hình cũng đắt. Chả như bọn trẻ bây giờ. Tha hồ học, rồi cắt, cúp, load lên face book khoe loạn xạ.


    Lớp học thứ bẩy là lớp cắm hoa. Tôi mê hoa vô cùng tận. Ngắm một bông hồng đẹp là đủ cho tôi vui cả một ngày. Với nghệ thuật cắm hoa tôi học đến ba lớp. Tuy vậy, học xong cũng không có điều kiện thực hành nhiều. Lý do, ngày ấy còn nghèo chết. Tiền đâu mua hoa hoài cơ chứ.


    Lớp học thứ tám là lớp Mạng Novel Net Ware. Tôi học vào năm 1999khi đang làm quản lý cho một Phòng Máy computer của một đại học tư thục. Tôi học vì cáu! Cáu vì bị cậu cả, chuyên viên coi phòng máy “gạt”. Nó gạt tôi phải thay cái này cái kia vì thấy tôi dốt. Bực mình, tôi bèn học tháo ráp máy. Khi học rồi mới thấy “phần cứng” trong computer …chả có gì!” Ngày đó, tôi lấy một máy về nhà và cứ thế thực tập. Tháo máy ra, thay card âm thanh, card màn hình, ram nhanh như chớp. Sau đó, tôi thừa thắng xông lên, học mạng Novel. Đây là lớp học computer cấp cao. Toàn người trẻ và kỹ sư, cử nhân computer. Tôi là “bà già” duy nhất của lớp. Ấy vậy mà “bà già” học giỏi. Có gì đâu, “bà già” vác một máy ở trường về, hợp với computer riêng của “bà già” ở nhà, thế là có máy chủ và máy con. Tha hồ cho bà già cứ thế mà “practice”. Ra thi, bọn trẻ còn phải hỏi “bà già” nữa đấy.

    [​IMG]


    Lớp cuối cùng trước khi tôi đi Mỹ là lớp Photoshop, năm 2003. Tôi học lớp này vì lúc đó muốn làm web. Thấy web site, tôi rất mê. Kỷ niệm là ông thầy, sao tôi hay có duyên với các “ông thầy” quá nhỉ (!), tình nguyện cho cô học viên đi ké lúc về vì ông đi ngang nhà tôi. Lúc đó, tôi bán xe gắn máy vì ít đi, lại ở chung cư lầu cao. Nếu có xe gắn máy sẽ tốn tiền thuê chỗ. Đi đâu, tôi gọi xe ôm. Vì thế khi học Photoshop lượt đi thì xe ôm, lúc về cũng xe ôm nhưng một bên tôi phải trả tiền, một bên tôi được free, một bên là người bình dân và một bên là giảng viên của Khoa Học. Tôi cũng quý ông thầy này lắm. Ông rất khó tính trong lớp. Tuy vậy, dường như với học trò hay học viên Quỳnh Giao thì chả có ông thầy nào khó tính được cả. Khó tính sao được khi cô học viên luôn chăm chỉ và học có vẻ thông minh cơ mà ! Sau nữa, cô học viên cũng hay “ngoại giao” thầy bằng màn …cắm hoa của cô! Với tôi, tặng hoa có vẽ tao nhã, lịch sự, không trần tục.


    Mới đây nhất, tôi tặng hoa cho teacher dạy lớp keyboard online của tôi, Maria, người Phi và có chồng Việt. Maria thích quá khi được quà xinh xắn và Maria viết cho tôi khi được xem vài kiểu cắm hoa của tôi như sau:


    Hello Giao,
    Good morning! How are you doing? Yes, I am much better. Thank you for asking.You are very talented! I love your work! It is more of minimalist, but your style of work has more impact. I bet you can work really well with the High-Style and the Japanese arrangements (Ikebana, Moribana, etc.) If you have time on Monday, would you like to come arrange flowers with us? Just for fun and it is not a competition. J I have Kristy Tang and Arvine Ganzon coming. If you let me know what flowers you would like to use, I will get all of those. You should still be able to go to keyboardingonline.com to practice more. J Enjoy! If I do not see you, then Merry Christmas and a Happy New Year!
    Maria

    Tôi nhận lời gấp. Ngày 22 tháng 12, 2014 vừa qua, tôi đến nhà Maria. Có hai người bạn làm cùng phòng với Maria cũng tới. Chúng tôi cắm hoa ở garage. Cắm xong thì ăn tối với nhau. Tôi về sớm không đi xem đèn Noel với Maria vì tôi ngại lái xe đêm khuya. Maria đã lấy bằng cắm hoa ở Golden West College từ 1994 nhưng cũng không cắm thường xuyên. Hai người kia không biết nghệ thuật cắm hoa và google tìm kiểu để cắm theo. Maria hỏi và tôi cho biết, tôi cũng không cắm thường xuyên như Maria. Một năm giỏi lắm, tôi cắm khoảng bốn lần và toàn là cắm …cho teacher. Teachers nhưng là teachers mà tôi quý cơ.

    Đây là chiến lợi phẩm sau vài giờ lao động của “ bốn người Coastline Community College” :


    [​IMG]
    Bốn kiểu cắm của tôi với vợ chồng Maria:

    [​IMG]
    Tôi không biết tương lai tôi còn “đắm đuối” học cái gì nữa không?
    Dường như Học là một hobby của tôi hay sao vậy. Nên cảm ơn Thượng Đế hay là không nhỉ?

    Noel 2014
    Hoàng Lan Chi
  15. <h1>Buồn Ca Tháng Chạp<br></h1><div>Posted on <a href="http://hoanglanchi.com/?p=8261" title="10:12 am" rel="bookmark">December 18, 2014</a> by <a href="http://hoanglanchi.com/?author=1" title="View all posts by hoanglanchi">hoanglanchi<br><br></a><br></div>Tháng Chạp bao giờ cũng ăm ắp mọi thứ. Nhớ năm ngoái, ơ hay, sao CA hay mưa vào cuối năm thế nhỉ, cũng mưa và tôi đã viết <em>“Mưa Sài Gòn mưa CA</em>”. Đoạn kết của tạp ghi là mấy câu thơ:<br><em>Mưa nơi ấy đong đầy kỷ niệm cũ</em><br><em>Mưa nơi này gạt nỗi nhớ vừa đơm</em><br><em>Ngàn trùng xa chỉ còn là sợi tóc</em><br><em>Ngàn kiếp sau vừa đủ một nụ hôn.</em><br><em>(Hoàng Lan Chi )</em><br><br>Bạn tôi, Trần Quang Thiệu thắc mắc và tôi giải thích “<em>Dù có hứa hẹn ngàn kiếp sau thì tôi cũng chỉ đồng ý cho hôn bên má thôi”. </em><br><br>Noel này, mình sẽ làm gì? Chưa biết. Năm 2012, tôi theo tài tử <em>Kim Vui</em> đi phát quà cho “homeless”. Dường như đó là Noel đầu tiên trên đất Mỹ, tôi đi làm từ thiện. Kể từ khi đến Hoa Kỳ, Noel tôi thường ở nhà một mình. Còn Noell cuối cùng trước khi rời VN, cũng là từ thiện với trẻ nhỏ mồ côi.<br><a href="http://hoanglanchi.com/wp-content/uploads/2014/12/image005.jpg" rel="attachment wp-att-8262"></a><br><br>Thanksgiving vừa qua thì nhóm <em>Gia Long Bạn Hữu Tình Thâm</em> tổ chức thăm một Nursing Home.Quế Hương tổ chức, tôi chỉ tham gia thôi. Cả nhóm mặc áo đỏ hay xanh Noel. Nếu đi tour Đà Lạt năm 2003, tôi cũng là người đặc biệt khi ông Trưởng Buôn Làng đẹp như tài tử cinee’ ưu ái thì hôm ở Nursing Home 2014, cũng có một niềm vui nhỏ: một ông muốn xin bản nhạc để cùng hát. Tôi đem đến ghế ông. Ông khoe tôi xấp giấy ông vẽ nhiều người. Tôi hỏi ông vẽ tôi được không. Ông gật và chỉ bằng nét nguệch ngoạc, ông vẽ Hoàng Lan Chi trong năm phút. Tôi nghĩ là tại tôi đứng sau lưng ghế, ông cứ phải ngoái lại nhìn, vẽ và vội chứ nếu có thời gian, ông vẽ giống và đẹp hơn. Bằng cớ là xấp giấy vẽ mà ông khoe với tôi có nhiều bức rất sống động.<br><a href="http://hoanglanchi.com/wp-content/uploads/2014/12/image0061.jpg" rel="attachment wp-att-8263"></a><br>Kha Nguyễn và bức vẽ Hoàng Lan Chi<br><img src="http://www.tvvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=2699&amp;stc=1" attachmentid="2699" alt="" id="vbattach_2699" class="previewthumb"><br><br>Nhóm Gia Long <em>Bạn Hữu Tình Thâm</em> hát cho các cô bác ở Nursing Home 2014<br><br><img src="http://www.tvvn.org/forum/attachment.php?attachmentid=2700&amp;stc=1" attachmentid="2700" alt="" id="vbattach_2700" class="previewthumb"><br><br>Hôm nay làm chuyện ngược đời. Kết luận là chép lại một phần bài viết cũ của mùa Noel đầu tiên trên đất Mỹ.Thú thật không nhớ bài thơ này là của ai gửi cho tôi ấy nhỉ. Không ghi tác giả nên cũng quên. Có phải <em>Thành Tài</em> không? Hay <em>Minh Đăng</em>?<br><br><em>Bài viết cũ năm 2004</em><br><br><strong>Noel đầu tiên trên đất Mỹ</strong><br><br><em>Mùa Nô En đầu tiên nơi đất lạ</em><br><em>Có gì vui hay buồn bã hở em ?</em><br><em>Trên bờ vai hoa tuyết rụng êm đềm</em><br><em>Chắc đêm qua ai mời em đi dạ hội</em><br><em>Ly rượu nồng hồn nương khúc nhạc trỗi</em><br><em>Bỗng dưng đời ấm lại tuổi đôi mươi ?</em><br><em>Hay em ngồi hong nỗi nhớ xa xôi</em><br><em>Bên lò sưởi, nhớ con, lòng cô quạnh ?</em><br><em>Mỗi giọt buồn chia phôi trời đôi mảnh,</em><br><em>Người mẹ hiền rưng lệ xót đêm thâu ?</em><br><em>Hay em thương về quê cũ ngọt tình đầu</em><br><em>Thành phố ấy, bóng hình xưa còn đó</em><br><em>Trót nửa đời hư, duyên tàn mộng vỡ</em><br><em>Nơi xứ người, tình có cũng bằng không .?</em><br><em>Trong tình thân, tâm sự một đôi dòng,</em><br><em>Chúc bạn quý mãi vui tràn ý nguyện .</em><br><em>Thân mến,</em><br><em>Dec 25, 2004</em><br><br>Anh hỏi tôi về Giáng sinh đầu tiên trên đất lạ. Lòng ngậm ngùi. Đã từ lâu, tôi tập cho mình quen với mọi hòan cảnh. Không cay đắng, không giận dữ. Nhưng ngậm ngùi thì vẫn.<br>Virginia, xứ anh đào, thành phố tình nhân mà tôi vẫn cô độc. Long đong tìm việc. Lúc tuởng tạm yên thì không .Tai nạn. Tay đau. Lại buồn phiền, lo lắng. Việc làm mới tuy nhàn nhưng cũng có lúc căng thẳng tinh thần. Lại phải làm quen với những cái mới.Từ nhà cửa, con người . Bên cạnh đó dõi trông mẹ già nơi xứ tuyết, hai con bên kia bờ đại dương …<br><br>Đầu tháng 12, một số nhà đã trưng đèn sớm. Trời lạnh và có những hôm gió hú ghê hồn. Tôi một mình trong căn phòng lớn. Sẽ vô cùng ảm đạm nếu không có net và cell phone. Để trò chuyện với người ảo và thực.<br>Thấy mọi người lăng xăng nhộn nhịp, tôi thấy rưng rưng. Ngày còn ở Saigon cũng thế . Cũng mọi nhà nhộn nhịp còn tôi thì lặng lẽ.<br><br>Tôi đã uớc ao có anh. Đêm Noel đầu tiên trên xứ người. Tôi sẽ rủ anh đi bụi dù trời mưa hay tuyết. Nét mặt thánh thiện và đôi mắt hiền hòa của anh đã cho tôi cảm giác an tâm. Nhưng anh không thể. Anh còn gia đình riêng…<br>(Ngưng trích)<br><br>Anh nào mà ngày đó tôi ao ước đi trong mưa bụi ấy nhỉ? Nghĩ mãi mới ra. À ra người bạn đã đưa tôi đi xem hoa đào Potomac đầu tiên, đã gửi bao đỏ lì xì cho tôi năm đầu tiên…<br>Thế đấy. Vậy mà, tôi quên hết…<br><br><em>Đúng là mười năm ta đã chẳng là ta!</em><br><br><em>Rừng Gió CA 12/2014</em><br><strong>Hoàng Lan Chi </strong>