Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Chương 10 - Những Ðêm Trăn Trở



    Tôi là người rất khó ngủ. Không có đêm nào tôi không trằn trọc, lăn qua bên phải, lộn qua bên trái, gấp cái gối cho nó cao hơn để rồi năm phút sau lại thấy nó cao quá, phải hạ thấp xuống. Ðổi mặt gối cho mát hơn, đặt đầu xuống chưa bao lâu, nó nóng, lại phải lật lại bên kia. Tôi đọc A, B, C tôi đếm 1, 2, 3 cũng không ngủ được. Tôi nằm nghiêng, tôi nằm ngửa, tôi gác tay lên trán, tôi duỗi thẳng tay, tôi co chân, tôi kéo chân, vẫn không thể nào ngủ được. Tôi đắp chăn, nóng quá. Tôi cởi chăn, lạnh quá. Tôi nhét cái đồ bịt tai vào tai, vẫn nghe được những tiếng u u do lỗ tai bị bít. Tôi tắt hết đèn, nhắm mắt vẫn cảm thấy ánh sáng lờ mờ trong mắt. Tôi đeo đồ bịt mắt đen thui, nhưng sợi dây thun vòng qua đầu làm tôi khó chịu. Tôi cố gắng để đầu óc trống rỗng, không nghĩ tới bất cứ chuyện gì hết, ráng tập trung ngủ thì xa xăm đâu đó trong đầu lại có tiếng nói, “Mình đang ráng để đầu trống rỗng. Mình đang ráng tập trung ngủ.” Thế là lại ngủ không được. Tôi hết cách đành phải chịu thua. Từ lúc leo lên giường cho tới lúc ngủ được phải mất trung bình hai tiếng đồng hồ. Trên đời này người khó ngủ nhất là tôi.

    Tôi chịu thua sự mất ngủ lâu lắm rồi. Dần dần tôi khám phá ra rằng tôi không ngủ được vì trong đầu lúc nào cũng suy nghĩ đủ thứ chuyện. Lúc nào cũng có tiếng nói, tiếng bàn thảo lung tung. Tôi nghĩ tới mọi thứ linh tinh trên đời. Trong chương này tôi quyết định viết ra một số điều đã làm phiền tôi để các bạn cùng chia sẻ. Nhiều lắm, nhưng tôi chỉ viết ra đây một ít thôi. Nhờ các bạn chia sẻ phụ chứ không tôi thấy mệt quá.


    Ðêm ... tháng ... năm ...

    Mới đây đọc tin tức biết được một số học sinh Việt Nam đi thi Toán, Lý quốc tế được giải nhất, giải đặc biệt thấy cũng vui và cũng hãnh diện. Vậy mà hay, lâu nay người mình đạt được khá nhiều những giải thưởng quốc tế về những môn học đó. Cũng tốt. Ờ ... mà không biết có tốt không?

    Ở Việt Nam mình biết có những lớp chuyên luyện cho học sinh các môn học Toán, Lý, Hoá để đi thi trên thế giới. Các học sinh này suốt ngày ngồi giải những bài toán khó khăn nhất, lắc léo nhất. Họ đi thi và đậu là điều đáng khen và hợp lý. Công sức bỏ ra bao lâu để đi thi và đạt được kết quả là việc đáng mừng. Nhưng không biết dạy và học những điều như vậy trong một đất nước như Việt Nam hiện giờ có thực tế không? Ðoạt giải rồi để làm gì?

    Nghĩ cũng mắc cười. Hồi xưa đi học ở Việt Nam, những môn như Toán, Lý, Hoá rất được coi trọng, phải học giỏi những môn này mới được coi là ... học giỏi. Những bài toán, bài thi, bài kiểm tra cho những môn này lúc nào cũng nặng nề lý thuyết trừu tượng, chẳng có gì thực tế mà rất khó khăn lắc léo. Càng lắc léo càng hay. Cũng lạ, nhớ lại chuyện mấy đứa bạn mà mắc cười. Thời gian đó học sinh đứa nào cũng phải đi học thêm ở ngoài, ngoài giờ học trong trường. Mỗi lần có bài toán nào khó khăn, lắc léo, quanh co thì mấy đứa lại nói, “Bài toán này hay lắm.” Cứ lắc léo, quanh co là mọi người đều cho là bài toán “hay”. Thế mới lạ chứ.

    Thật đáng buồn. Có khá nhiều học sinh Việt Nam và sau này nhiều du học sinh qua Mỹ khá “giỏi” Toán vì được học trước tại Việt Nam và bị áp lực học Toán tại Việt Nam. Vì vậy họ thấy Toán ở một trình độ nào đó quá dễ. Một số người trở nên khinh thường người Mỹ và những giống dân khác khi họ không “giỏi” Toán. Có người còn nói ra rằng “Mấy thằng Mỹ này ngu quá. Tụi Mỹ học dở lắm.” Người Mỹ có “ngu” không? Có “học dở” không? Mong rằng những học sinh này suy nghĩ lại, suy nghĩ thật kỹ xem ai là người thông minh, có khả năng; ai là người “ngu”, ai là người chỉ biết “học” cho “giỏi”, hoặc chỉ có khả năng “học” cho “giỏi”.

    Ngay cả khái niệm của hai chữ “học” và “giỏi” cũng đã có sự khác biệt giữa hai dân tộc rồi. “Học” nghĩa là học và nghiên cứu để ứng dụng, phát triển, và phát minh chứ không phải chỉ có gạo bài, “memorize”, huấn luyện giải Toán, và giải Toán. “Giỏi” cần phải giỏi trong việc học và trong việc ứng dụng, phát triển, và phát minh thêm chứ không phải chỉ có giỏi giải Toán. Chúng ta cần suy nghĩ và tự hỏi xem chúng ta có nhà Toán học, Vật Lý học nào có khả năng thiết lập những chương trình Toán học phức tạp để khám phá và giải quyết những vấn đề bí mật của vũ trụ, của nguyên tử, v.v. không? Họ có nhiều lắm. Hơn nữa đối với rất nhiều ngành chuyên môn thì giỏi Toán chưa chắc đã là điều cần thiết nhất. Tại sao chúng ta ai cũng phải giỏi Toán như mức độ đòi hỏi của nền giáo dục và nền văn hoá Việt Nam?

    Nói chung lại thì để hiểu rõ vấn đề hơn, chúng ta nên tự đặt những câu hỏi đại khái như sau: Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta không “dạy” mà chúng ta lại phải “học” từ người khác trong mọi lãnh vực từ xưa đến nay? Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta không “cho” mà chúng ta lại “xin” (viện trợ tài chánh, chuyển giao kỹ thuật chẳng hạn)? Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta cần họ mà họ không cần chúng ta? Nếu chúng ta “giỏi” thì tại sao chúng ta không lãnh đạo thế giới mà lại bị họ lãnh đạo? Chúng ta có khả năng đầu óc; tuy nhiên, chúng ta cũng cần thường xuyên xét lại mình để không bị sống trong một “illusion” thông minh, giỏi giang quá … như chúng ta tưởng.

    Ðang nói về chuyện thực tế. Không biết cách dậy học ở Việt Nam có thực tế không? Những bài toán cao siêu, lắc léo chẳng liên quan gì tới cuộc sống hàng ngày được nhồi nhét, ép buộc học sinh phải học và phải tiêu hóa. Những bài toán có nhiều tính chất lý thuyết đó để làm gì bây giờ? Khi làm những bài toán như vậy, nó cũng giúp tăng cao khả năng phân tích, khả năng tìm giải pháp, nhưng trong cuộc sống hàng ngày có cần phải học những bài toán quá khó đó không? Ðể sau này lên đại học học cũng được vậy, nếu cần thiết và nếu muốn đi sâu hơn. Không hiểu tại sao người ta bắt mình học sớm quá. Áp lực học những môn đó quá nhiều, nhức cả đầu. Thời gian và sức lực để đầu tư cho những môn khác và cho những hoạt động khác không còn nữa. Thời gian và trí óc để suy nghĩ về những việc khác có lợi cho sự phát triển cá nhân con người, cho xã hội bị những công thức toán học lấy mất. Thời gian để đi làm thêm, để thu thập kiến thức, kinh nghiệm làm việc thực tế ngoài xã hội không còn nữa. Thời gian giải trí cũng mất tiêu. Nghĩ lại thấy thật bực mình. Hồi đó học như một cái máy, máy giải toán. Không biết nó cống hiến vào sự phát triển trí thông minh của mình bao nhiêu? Không biết nó cống hiến vào sự phát triển tính thụ động, đờ đẫn, máy móc, không sáng tạo của mình bao nhiêu?

    Thực ra đa số học sinh Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước chỉ học giỏi theo tính cách đọc sách, học bài, làm bài, làm bài thi rồi được điểm cao mà thôi. Điều này chưa chắc cho thấy nhiều về sự thông minh. Ra ngoài đời rồi mới biết. Nền giáo dục Việt Nam cũng được tổ chức theo cách đó, và gia đình Việt Nam cũng khuyến khích học sinh học theo cách đó. Các học sinh Việt Nam có được điểm cao là do học như vậy. Các giáo sư nước ngoài, báo chí nước ngoài có ca ngợi học sinh sinh viên Việt Nam cũng là ca ngợi “học” … như vậy mà thôi. Điều này có lẽ không nên tự hào nhiều và ca ngợi nhiều. Cách học như vậy và tổ chức giáo dục như vậy chỉ đào tạo ra những con người … giỏi làm việc cho người khác mà thôi.

    Quan trọng hơn và tốt hơn là nền giáo dục Việt Nam nên được tổ chức lại để học sinh không những … giỏi đọc sách, trả bài, và làm bài mà còn phải được giáo dục và giỏi về khả năng quản lý, khả năng lãnh đạo, khả năng sáng tạo, khả năng làm việc chung, khả năng lập chiến lược đường lối, v.v. Cả một xã hội Việt Nam cần thay đổi cách nhìn về thế nào là “giỏi”, “học giỏi”, và “thông minh”. Có như vậy thì người Việt Nam mới khai thác được và chứng minh được sự thông minh thực sự của mình. Có như vậy thì Việt Nam mới không suốt đời ở vị trí kém cỏi so với các quốc gia khác và người Việt Nam mới không phải suốt đời làm việc cho người khác.

    Không biết bao nhiêu công sức, tiền của, thời gian bỏ ra huấn luyện những học sinh thi đạt giải quốc tế rồi để làm gì? Có lẽ những giải thưởng đó có một giá trị tinh thần cho học sinh và giá trị “status” cho đất nước. Những học sinh đó về lại nước có sử dụng những kiến thức của mình một cách thực dụng hay không? Chắc có nhiều người sẽ vào lại những trường đại học để tiếp tục dạy những môn học đó. Không biết những lý thuyết Toán, Lý đó người ta có đem ra áp dụng trong thực tế được không hay lại chỉ là những công thức, định lý, giải pháp trên giấy trắng, trên bảng đen? Chắc cũng có những người kiếm được cơ hội có việc làm tốt để mà áp dụng kiến thức của mình. Không biết tình hình kinh tế Việt Nam hiện giờ có tạo cơ hội cho những người này áp dụng kiến thức của họ không? Mong là công lao học tập của họ sẽ đưa đến những kết quả thực tiễn cho họ. Ờ, mà bây giờ ngành điện toán và viết chương trình điện toán đang phát triển mạnh ở Việt Nam. Chắc những người này sẽ có cơ hội áp dụng kiến thức của họ. Nếu giỏi Toán thì lãnh vực công nghiệp phát triển phù hợp nhất là điện tử rồi. Nhưng để áp dụng thực tế những kiến thức trong trường, chắc chắn chương trình giảng dậy cần phải thực tế hơn.

    Nói tới kinh tế mới nhớ. Bây giờ ở Việt Nam, chính phủ và học sinh bắt đầu thấy được sự quan trọng của các ngành kinh tế, kinh doanh thương mại. Số lượng những người học các ngành này hình như rất nhiều, ai cũng muốn học những ngành này thì phải? Nhưng nhiều người học quá không biết ra trường có việc làm không? Không biết việc giảng dạy kinh tế, thương mại như thế nào? Chỉ mong công sức, tiền bạc đầu tư vào việc giảng dậy và học hỏi những ngành này sẽ không bị bỏ phí. Sau bao nhiêu năm học hỏi, mệt nhọc, hy vọng mà ra trường không có việc làm chắc sinh viên bị khủng hoảng tâm lý nhiều lắm, chắc bực tức lắm. Không biết họ có hối hận hay không? Không biết họ có thất vọng hay không? Hy vọng họ sẽ kiếm được việc. Nếu không kiếm được việc trong ngành thì những kiến thức kinh tế, kinh doanh lúc nào cũng cần thiết và cần dùng đến trong cuộc sống thực tế của họ. Vậy cũng tốt.

    Hy vọng việc học kinh tế thương mại không phải là một phong trào để rồi ai cũng đổ sô vào học. Tốn tiền, tốn sức, tốn thời gian để đào tạo ra quá dư thừa sinh viên để rồi bị thất nghiệp. Nhưng mà chắc người ta cũng biết tự chọn cho mình ngành nào cần và ngành nào đem tới việc làm và bảo đảm cuộc sống cho họ chứ.


    Ðêm ... tháng ... năm ...

    Cuốn sách mới đọc xong có nhắc tới bốn chữ “Ðịa linh - Nhân kiệt” làm nhớ lại lâu lâu vẫn thường nghe mọi người nói đến những chữ này hoặc thỉnh thoảng đọc sách đọc báo cũng thấy được đề cập tới. Nghĩ lại sao thấy Việt Nam nhiều “Ðịa linh” và nhiều “Nhân kiệt” quá. Vậy tại sao đất nước vẫn chậm tiến?

    “Ðịa linh - Nhân kiệt” trong văn hoá Việt Nam là điều được nói tới khá nhiều và được nhiều người quan tâm, để ý. “Ðịa linh - Nhân kiệt” mình nghĩ có nghĩa là những vùng đất “tốt” thì thường tạo nên những người tài giỏi hoặc người tài giỏi thì thường được sinh ra trong những vùng đất “tốt”. Chắc cũng đúng vì có những nơi số người thành công có lẽ nổi bật hơn những nơi khác. Môi trường sống có góp phần tạo nên tính cách con người rất nhiều, nhưng không biết khi nói như vậy mọi người có nghĩ nhiều về môi trường văn hoá, môi trường xã hội hay chỉ muốn nói tới môi trường tự nhiên? Không biết họ có nhấn mạnh đến vấn đề phong thuỷ địa lý không? Phong thuỷ địa lý thì thôi ... không biết để bàn tới.

    Tự nhiên cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của tâm tính, trí thông minh, phong cách làm việc. Di truyền cũng góp phần. Nhưng môi trường xã hội, văn hoá, giáo dục chắc chắn có tính chất quyết định tạo nên một con người. Một người được sinh ra ở một nơi, dọn tới nơi khác để sinh sống và được giáo dục trong môi trường mới thì sự phát triển về tư duy của người đó sẽ khác đi so với trường hợp họ ở lại nơi họ sinh ra. Nếu vậy những người thông minh, những “nhân kiệt” phải là những người có thể tạo nên một môi trường để cho mọi người cùng phát triển.

    Nhưng mà môi trường tự nhiên, xã hội, hay sinh học cũng chẳng quan trọng. Người ở đâu, tới đâu sống và thành công ở mức độ nào cũng không quan trọng. Ðiều cần phải lo lắng ở đây là nếu một xã hội chưa phát triển cao thì có nhiều "địa linh", nhiều "nhân kiệt" quá có thể không tốt.

    Nếu nhiều “Ðịa linh” và nhiều “Nhân kiệt” quá mà không “Nhân kiệt” nào phục hoặc đồng ý với “Nhân kiệt” nào và người nào cũng thấy “địa” của mình “linh” hơn “địa” của người khác thì sao? Ai cũng thấy mình “kiệt” hơn người khác thì sao? Nếu những người tự coi mình là “nhân kiệt” đó không coi trọng ý kiến của những người không thuộc vùng đất “địa linh” thì sao? Trong một xã hội mà con người bị ảnh hưởng quá nhiều bởi những điều nêu trên thì sự tranh giành, bất phục, bất hợp tác, bè phái, chèn ép, và trù dập có nhiều cơ hội nảy sinh. Cách làm việc mang nặng tâm lý “dictatorship” dễ hình thành. Tranh giành dễ xảy ra không những giữa những người tự nghĩ (hoặc tự hào) mình là “nhân kiệt” từ những vùng đất “địa linh” khác nhau mà còn giữa những người đó và những người không được coi là “nhân kiệt”, không từ một vùng đất “địa linh”. Trong quá trình tranh giành đó thì sự chèn ép, trù dập (những người khác mình), bè phái (với những người giống mình), và bất hợp tác, bất phục sẽ xảy ra. Niềm tin cá nhân vào khả năng của “nhân kiệt” từ vùng đất “địa linh” có thể là một lý do đưa tới tâm lý không biết lắng nghe và không chịu lắng nghe người khác. Kết quả là “dictatorship” (ở nhiều nức độ khác nhau).2

    Niềm tin quá nhiều vào “Ðịa linh - Nhân kiệt” này sẽ nguy hiểm trong một xã hội có sự tổ chức quyền lực tập trung trong tay một nhóm người, và những “nhân kiệt” này được giữ những vai trò quan trọng. Không có cơ cấu bảo đảm sự làm việc công bằng cùng với những sự chống đối, ganh ghét, hoặc bất hợp tác giữa những người nắm quyền với nhau, hoặc giữa những người nắm chính quyền và người dân thì nguy cơ đưa đến những hậu quả tệ hại lại càng cao. Trong điều kiện làm việc xã hội còn sơ khai, chưa phát triển được những cơ cấu bảo đảm sự làm việc hài hòa và công bằng giữa người với người thì tác hại của vấn đề này sẽ được tăng lên theo số lượng của “địa linh” và số lượng “nhân kiệt”.

    “Nhân kiệt” thực sự phải là người biết nghe ý kiến, biết làm việc với mọi người để đưa đất nước tiến lên chứ không phải là người có quyền cao chức trọng trong một xã hội nghèo nàn chậm tiến.

    Xã hội phát triển là xã hội có nhiều người tài giỏi nhưng quan trọng hơn là xã hội trong đó mọi người làm việc được với nhau và quyền lợi cũng như ý kiến của đám đông được tôn trọng. Ðất nước có quá nhiều “địa linh” và quá nhiều “nhân kiệt” nhưng những người này không làm việc được với nhau và không làm việc được với người khác là một sự thất bại. Nước Ấn Ðộ là một ví dụ rõ ràng cho sự kém phát triển một phần vì mọi người không làm việc được với nhau mặc dầu đất nước đó có nhiều người tài giỏi. Tổ chức xã hội và cách làm việc của những con côn trùng như ong, kiến đã cho thấy được sự thành công của khả năng làm việc chung và cách tổ chức xã hội hiệu quả. Khả năng đó là một trong nhiều lý do khiến những con côn trùng này còn tồn tại tới ngày nay từ trước thời khủng long trong khi hàng ngàn loại thú vật khác đã bị tuyệt chủng.

    (Khả năng làm việc chung với nhau rất quan trọng. Để Việt Nam trở thành một nước thành công thì chính quyền nên chú trọng vào việc giáo dục con người làm việc chung với nhau chứ không nên tập trung quá nhiều vào việc giáo dục học sinh “học giỏi” trong những môn học trong trường, lớp. Giáo dục ở đây là giáo dục một cách khoa học, sáng suốt chứ không phải tuyên truyền, hô hào một cách sáo rỗng, giả tạo, và không hữu hiệu. Học giỏi các môn học theo kiểu Việt Nam khó mà giúp toàn xã hội phát triển được. Hơn nữa, có thể nhiều học sinh học giỏi kiểu này sẽ muốn ra nước ngoài học, nghiên cứu, và làm việc, để rồi sẽ ở lại nước ngoài, và gây nên nạn chảy máu chất xám.)

    Nước Việt Nam thật có “quá nhiều” người “tài giỏi”. Những quyển sách về danh nhân Việt Nam, quyển nào cũng dày cộm. Nhưng nều nhìn kỹ lại thì rất nhiều (rất nhiều) trong số những người này không có khả năng đáng kể hoặc cống hiến to lớn, mặc dầu thực sự họ có một chút công lao nào đó cho đất nước. Rất nhiều người không có khả năng, thực tài nhưng được đưa vào danh sách vì những lý do chính trị, vì có dòng dõi vua quan nào đó, hoặc vì nhưng những câu chuyện về họ có nhiều tính chất “romanticism”, v.v. Từ ngàn xưa và cho tới cả ngày nay, có nhiều người chỉ có những đóng góp tương đối thôi, hoặc trong chiến tranh tổ chức được một vài cuộc nổi dậy nho nhỏ trong vòng vài ngày, vài tuần, hoặc vài tháng cũng đã được gọi là danh nhân nước Việt. Có những nhân vật có một vài ý tưởng (nhưng những ý tưởng này cũng chỉ học lại từ người khác, từ quốc gia khác chứ không phải ý tưởng mới của tự bản thân) và vừa phát động được một vài phong trào nhỏ bé trước khi bị dập tắt ngay sau đó cũng đã được gọi là những danh nhân, những nhà cách mạng rồi.

    Danh nhân phải là những người có cống hiến mang đúng ý nghĩa to lớn và cách mạng chứ không phải chỉ có ý tưởng (học lại), không phải chỉ có phát động phong trào, nhưng không đem lại kết quả. Những vị đó chỉ nên được xem là có công và có một khả năng nhất định (điều này tương đối và tùy khái niệm của mỗi cá nhân) mà thôi chứ không thể gọi là nhân tài hoặc nhà cách mạng được. Đồng ý rằng khả năng và công lao của họ cần được công nhận, ca ngợi, và biết ơn. Nhưng trong một xã hội có “thói quen” ca ngợi hơi “quá” thì sự khen ngợi đó dễ đưa tới sự tự hào quá đáng, không chính xác, và sự hiểu lầm khả năng của con người. Chúng ta có những nhân tài mang đúng ý nghĩa, nhưng cũng lại có quá nhiều nhân vật mà tài năng không xứng với sự ca ngợi. Trách nhiệm tìm hiểu rõ hơn về mức độ tài năng và cống hiến của những nhân vật này cũng tùy thuộc vào thế hệ trẻ rất nhiều.

    Ý tưởng “Ðịa linh, Nhân kiệt” tự nó không phải là một ý tưởng xấu, và sự liên hệ giữa “địa linh” và “nhân kiệt” có thể đúng ở một mức độ nào đó. Xấu hay tốt là do con người sử dụng. Có lẽ điều cần phải làm hoặc cần chú ý ở đây là đưa ra một định nghĩa mới về “Ðịa linh” và “Nhân kiệt” để nhấn mạnh đến vai trò tương quan của “nhân kiệt” đối với mọi người trong xã hội hiện đại ví dụ như vai trò phục vụ, vai trò một nhân tố nhỏ trong xã hội bao gồm rất nhiều nhân tố khác, trách nhiệm lắng nghe và tiến hành. Điều cần chú ý là phải nhấn mạnh đến tác động của môi trường văn hoá và giáo dục đến sự phát triển của con người, chứ không phải phong thủy địa lý; phải nói tới những “side effects” của vấn đề “Ðịa linh, nhân kiệt” và tác hại của những “side effects” này (ví dụ như quá nhiều “địa linh” và quá nhiều “nhân kiệt” nhưng không ai phục ai hoặc không làm việc được với nhau). Ðồng thời cần phải thấy rằng đây là một vấn đề có nhiều tính chủ quan, và niềm tin quá nhiều vào vấn đề này sẽ có tác hại. Hơn nữa với sự suy nghĩ của con người hiện đại và sự vận hành của xã hội hiện đại thì ý tưởng “Ðịa linh” và “Nhân kiệt” truyền thống đã lỗi thời rồi và không nên ca ngợi nhiều.

    Có hai cơ cấu (mechanism) có thể bảo đảm sự làm việc công bằng và hữu hiệu trong xã hội con người. Ðó là sự áp dụng của luật ý kiến đa số (majority vote) và “market forces” (áp lực thị trường(?)).

    Ý kiến của số đông là ý kiến tốt nhất và có thể dùng để con người làm việc với nhau hữu hiệu nhất. Nhiều ý kiến hay quá, và ai cũng tự tin ý kiến mình đúng và bảo vệ ý kiến của mình thì phải làm sao? Dĩ nhiên đám đông sẽ quyết định. Ý kiến của đa số là ý kiến hữu hiệu nhất và công bằng nhất vì nó là của nhiều người, được sự đồng ý của đa số, và đem lại nhiều quyền lợi cho nhiều người nhất trong một tổ chức, một nhóm người, hoặc một đất nước. Không có ý kiến nào tốt hơn ý kiến của đa số được. Ý kiến đa số là ý kiến “tốt” nhất mặc dầu có thể không phải là ý kiến “hay” nhất. Tốt nhất tại vì nó tốt nhất cho nhiều người. Hơn nữa một người hay một nhóm người quyết định phương hướng cho mọi người là điều không công bằng, không hữu hiệu, không khoa học, và không thực tế. Một số nước dân chủ đã giải quyết vấn đề này bằng cách dùng “representative” do mọi người bầu ra và áp dụng “majority vote”. Ðiều này đã được họ áp dụng ở khắp nơi từ thể chế chính trị đến trong các công ty, tổ chức, và cả gia đình với sự thành công rất lớn.

    “Mechanism” thứ hai là “market forces”. “Market forces” này áp dụng trong Kinh tế, Thương nghiệp và trong những lãnh vực khác như Chính trị, Văn hoá, Xã hội, và ngay cả tình yêu, v.v. “Market forces” ở đây được vận hành bởi sự tự do lựa chọn và tự do cạnh tranh. Ðó là hai yếu tố chính yếu của “market forces”. Tự do lựa chọn và tự do cạnh tranh trong khuôn khổ luật pháp. Theo luật tự nhiên con người sẽ lựa ra những gì tốt nhất và có lợi nhất cho mình và loại bỏ những thứ khác. Ðiều này áp dụng cho hàng hóa lẫn cho con người. Và hàng hóa cũng như con người phải cạnh tranh và cải tiến để được là thứ hàng hóa hoặc con người mà người khác sẽ chọn. Kết quả của sự tự do cạnh tranh và quá trình tự do lựa chọn là chỉ có những món hàng tốt nhất, những con người phù hợp nhất cho sự phát triển chung tồn tại mà thôi. Kết quả là xã hội, công ty, tổ chức, gia đình, … mọi thứ, sẽ được vận hành và chính sách sẽ được thiết lập bởi những con người tốt nhất, phù hợp nhất. Vì đây là sự chọn lựa của mọi người một cách tự do và công bằng nên kết quả của nó sẽ được mọi người chấp nhận và con người sẽ thoả mãn và hạnh phúc. Ðơn giản vậy thôi.

    Một điểm rất quan trọng (rất quan trọng) là sự thông minh, sáng suốt, và trình độ dân trí, cũng như thông tin chính xác đóng một vai trò đặc biệt trong quá trình chọn lựa. Sự thông minh và trình độ dân trí càng cao cộng với sự chính xác và đầy đủ của thông tin sẽ càng đưa đến những chọn lựa tốt nhất.

    Một ví dụ đơn giản nhưng rất rõ ràng nói lên tác dụng rất tốt của sự cạnh tranh này, đồng thời làm giảm thiểu tác hại của việc đánh giá con người dựa trên tính chất vùng miền/giọng nói, là lãnh vực nhân sự trong môi trường làm việc cạnh tranh công bằng với cơ cấu thị trường tự do. Ngoài việc chọn lọc những người tốt, có lợi cho sự phát triển chung của công ty; tự do lựa chọn, tự do cạnh tranh, “majority vote” chính là những cơ cấu giải quyết được vấn đề vùng miền. Quyết định tuyển chọn nhân viên trong một công ty sẽ được dựa trên khả năng, kiến thức, tiềm năng, mức độ đáng tin cậy, v.v. của nhân viên chứ không phải dựa trên giọng nói hoặc quê hương của người đó. Và trong quá trình làm việc, người chủ sáng suốt sẽ đánh giá năng lực của nhân viên dựa trên kết quả việc làm thực tế. Quyết định tăng lương cũng vậy. Quyết định bổ nhiệm vào vị trí cao cũng thế; người có năng lực, nhiều tiềm năng, và mức độ tin tưởng cao sẽ được giao cho vị trí cao và quan trọng; chứ giọng nói hoặc gốc gác quê hương sẽ không được quan tâm đến. Và dĩ nhiên trong môi trường làm việc cạnh tranh và kinh tế tự do như vậy mọi người sẽ phải cố gắng cạnh tranh hết sức để trở thành người có khả năng, để chứng minh lòng trung thực đáng được tin cậy, để trở thành người tốt, đàng hoàng, làm việc hiệu quả, v.v. để được chọn vào làm, được chọn tăng lương và được chọng thăng tiến. Đây là điều rất tốt và rất tự nhiên thôi.


    Ðêm ... tháng ... năm ...

    Hai chữ “Revolution” và “Evolution” bỗng dưng lại tới trong đầu. Xã hội phát triển bằng một trong hai cách, “Revolution” và “Evolution”.

    “Revolution” là những thay đổi phải lớn và xảy ra trong thời gian ngắn, giống như cách mạng Pháp hay cách mạng công nghiệp vậy. Rõ ràng những thay đổi này thường có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của xã hội. “Revolution” thường đánh đổ hoàn toàn những cái cũ đi để thay vào đó những cái mới. Con đường cũ bị dẹp bỏ và con đường mới được thiết lập. “Revolution” có thể về công nghiệp, hoặc chính trị, quân sự, v.v. Còn “Evolution”? Không biết chữ “Evolution” dịch sang tiếng Việt chính xác là gì? (Tiến hoá (?)) Nhưng đại khái “Evolution” nói lên sự cải tiến những gì đã có sẵn. “Evolution” nói tới sự đi lên tới một mức tốt hơn. “Evolution” cũng có nghĩa là sửa đổi một cách rộng lớn những cái gì có sẵn để tiến nhanh hơn. “Evolution” có tính cách nối tiếp liên tục từ cái cũ tới cái mới. “Evolution” diễn ra trên một con đường và liên tục qua thời gian. Trong khi “Evolution” tìm cách cải tiến và đi nhanh hơn trên con đường hiện tại thì “Revolution” lại tìm kiếm một con đường khác.

    Ðiều tai hại của “Evolution” là có thể con đường đang đi không hẳn là con đường tốt nhất, và tìm cách làm tăng vận tốc không hẳn là dễ. Ðiều chỉnh vận tốc và “adjust” con đường đi cho tốt hơn có thể làm được nếu mở rộng tầm nhìn và chịu học hỏi từ môi trường xung quanh và từ kinh nghiệm đi trước. “Evolution” một cách sâu rộng cũng có thể đưa tới một con đường mới. Nhưng sự chuyển qua con đường mới này không bị đánh dấu bởi một cái “nhảy” như “Revolution” mà là “change lane” hoặc “merge” qua con đường mới mà thôi.

    “Revolution” nghe thì to lớn nhưng cũng có tác hại. Tác hại của “Revolution” liên quan đến sự đào thải cái cũ. Sự đào thải này là sự tàn phá cái cũ để đưa cái mới lên. Ðiều đáng lo lắng là cái mới không ai biết được có tốt hơn cái cũ hay không. Nếu có tốt hơn thì tốt hơn nhiều không. Có đáng để làm một “Revolution” hay không? Một tác hại nữa là sau “Revolution” nhất là “Revolution” có sự tham gia của quân sự, vì bản tính của những cuộc “Revolution” này mà xã hội trước khi cất bước đi trên con đường mới thường phải thụt lui lại vài ba bước do tàn phá của chiến tranh. Ðiều này thấy rất rõ ở các nước có nhiều chiến tranh.

    “Revolution” để hy vọng tìm được cái mới tốt hơn, nhưng “Revolution” cũng có thể lập nên một con đường không như mong đợi. Bên cạnh đó “Revolution” có thể dẫn tới những “Revolution” khác. Ðiều này xảy ra vì những người bị đào thải không đồng ý với những cái mới và tiếp tục chống đối cái mới. Sự đào thải cái cũ bằng “Revolution” và chống đối cái mới sau “Revolution” có thể sẽ xảy ra liên tục và không bao giờ chấm dứt như một cái vòng. Ðây là một tác hại khác của “Revolution”.

    Một xã hội được đánh dấu bởi “Revolution” nhiều quá thì không thể phát triển được vì những tác hại nói trên của “Revolution”, sự thụt lùi của xã hội, sự đấu tranh không ngừng, và khả năng có thể có của một điều xấu hơn sau “Revolution”. Ðất nước có nhiều người thích làm “Revolution” quá thì ... nguy. Tuy nhiên “Revolution” thành công, đúng hướng có khả năng đem lại sự thay đổi cải tiến nhanh chóng và to lớn. Yếu tố “risk” trong “Revolution” rất lớn.


    Ðêm ... tháng ... năm ...

    Kinh tế Việt Nam lúc này có lẽ khá hơn trước. Hy vọng càng ngày sẽ càng tốt hơn. Kinh tế Á Ðông nói chung và Việt Nam nói riêng chậm phát triển hơn phương Tây một phần vì ảnh hưởng của đạo Khổng (Confucianism). Dĩ nhiên có nhiều lý do nhưng đạo Khổng chắc chắn đóng một vai trò quan trọng.

    Ðạo Khổng bắt nguồn từ Trung Quốc đã không coi trọng giới thương gia. Trong xã hội Trung Quốc đứng đầu là những người đi học, những người làm quan, những người làm ... thơ, v.v. Những người làm kinh doanh, kinh tế đứng ở cuối cùng của hệ thống giai cấp xã hội. Ðạo Khổng nhấn mạnh đến việc rèn luyện con người để trở thành người “quân tử”, và vì những thương gia thường không được đi học, bị nghi ngờ là gian dối, vật chất, không “tinh khiết” thành ra họ không bao giờ được coi là quân tử, “righteous”, và được xếp ngang hàng với những người được học về thơ văn hay “đạo đức thánh hiền” cả.

    Ðạo Khổng cũng nhấn mạnh đến việc tổ chức quyền lực xã hội tập trung từ trên xuống nên mọi người đều cố gắng đi học để đạt được vị trí trên cao, và dùng “tài”, “đức” của người quân tử để cai trị thiên hạ từ bên trên. Những người được gọi là có học này, không phải giới thương gia, mới là những người được tôn kính.

    Nhưng tại sao người Trung Quốc lại có vẻ có khiếu về giao thương và khá thành công về kinh tế vậy? Ðiều này cũng chính là hậu quả của ảnh hưởng đạo Khổng. Sự coi trọng những người quân tử có học (nhưng không phải học về kinh tế, mà thực sự ngày xưa Trung Quốc cũng không có Kinh Tế học) khuyến khích nhiều người theo đuổi việc học. Nhưng không phải ai cũng có khả năng và có điều kiện để học. Vì vậy một khối lượng lớn dân chúng phải tham gia vào những việc khác. Giao thương chính là một trong những công việc khác này. Họ không còn lựa chọn nào khác thành ra họ phải đi buôn bán. Và họ đã tạo nên một đội ngũ thương gia khá lớn và thông thạo việc thương mại từ lâu (mặc dầu sự thông thạo này có nhiều tính chất “instinct” và thành công chỉ ở mức nhỏ mà thôi). Ðiều lý thú là có những người thành công về thương mại nhưng rồi cũng lại muốn cho con cái mình học và làm những việc không thuộc về kinh doanh thương mại. Ðó một phần cũng do ảnh hưởng không tốt của đạo Khổng.

    Một điều tương tự như vậy đã xảy ra đối với người Do Thái. Ngày xưa những người có quyền hành, những người chủ, nắm giữ chức vụ là những người có quyền sở hữu đất đai. Người Do Thái suốt lịch sử của họ thường ở trong vị trí bị thống trị và bị làm nô lệ. Họ không phải là những người có quyền có đất để làm nông nghiệp. Vì vậy họ phải quay qua một nghề khác là buôn bán, và một trong những lãnh vực buôn bán tập trung nhất là nữ trang và đá quý. Chính vì vậy mà người Do Thái ngày nay đã trở nên tài giỏi trong việc buôn bán nói chung và buôn bán nữ trang và đá quý nói riêng.

    Một ảnh hưởng không hay khác có thể bắt nguồn từ việc trọng quân tử (và cũng là đề tài thú vị để nghiên cứu về đạo Khổng) là: niềm tin vào sự hoàn hảo của người quân tử lý tưởng sẽ tạo nên đòi hỏi con người phải “perfect”. Một ví dụ là việc chúng ta nhìn vào cuộc sống riêng của người khác, đặc biệt là những “public figures”, và đòi hỏi rằng ngoài những công việc tốt cho xã hội, họ phải là những cá nhân tốt đẹp nữa. Điều đáng buồn là theo sau sự để ý này sẽ là phê phán và bài bác, chê bai. Sự phê phán này có chính xác, chân thật, vô tư hay không lại là một vấn đề khác. Những cá nhân chê bai người khác có hoàn hảo, tốt đẹp hay không lại là một chuyện khác. Có những người đã cống hiến rất lớn cho xã hội, nhưng vì sự moi móc mà danh tiếng, cuộc sống của họ bị ảnh hưởng không ít. Dường như chúng ta không phân biệt được và không có khả năng tách rời “public life” và “private life”.

    Bất cứ xã hội nào cũng không có người hoàn hảo, mặc dầu ai ai cũng nên cố gắng làm một người tốt, nhưng xã hội Khổng Giáo hình như đã có những đòi hỏi không thể thực hiện được (và thường đòi hỏi người khác chứ không phải đòi hỏi chính bản thân mình). Những dân tộc khác cũng làm điều đó, nhưng mức độ và sự ảnh hưởng của vấn đề này trong xã hội Việt Nam lại quá lớn. Sự chen chân vào cuộc sống riêng tư của người khác như vậy và tác động của nó có ảnh hưởng rất lớn trong một xã hội có tính chất cộng đồng (communal), quan trọng “mặt mũi” (“face” culture), và xã hội Confucius như Việt Nam.

    Một tác hại khác và là kết quả của những vấn đề trên là có những người có khả năng nhưng lại lo lắng khi ra đời làm những công việc xã hội. Họ không muốn những sự phiền toái. Họ e ngại cuộc sống cá nhân và gia đình bị ảnh hưởng. Vì vậy họ sẽ không tham gia làm việc xã hội. Kết quả là xã hội sẽ bị mất đi những cống hiến quý báu từ những người này.

    Ảnh hưởng tốt xấu của đạo Khổng trong xã hội là một đề tài rộng. Tuy nhiên ảnh hưởng quá lớn của đạo Khổng trong xã hội Việt Nam chính là một lý do làm cản trở sự phát triển của đất nước. Không những đạo Khổng không thúc đẩy kinh tế thương mại phát triển mà còn có nhiều tác hại trong những lãnh vực xã hội, chính trị, giáo dục khác nữa ngoài những giá trị tích cực của triết lý này.

    (Một vài điểm tốt của đạo Khổng là sự trung thành; hy sinh; giá trị gia đình, cấu trúc gia đình (và ở một góc cạnh nào đó cấu trúc xã hội) vững chắc; tôn trọng người lớn tuổi và thế hệ đi trước; dễ dàng trong việc áp đặt kỷ luật; v.v. Tuy nhiên đạo Khổng lại tạo điều kiện cho những vấn đề có hại sau đây phát triển: sự trung thành, hy sinh, tôn kính một cách mù quáng; khuyến khích sự áp đặt và chèn ép; cơ cấu thưởng phạt không công bằng; dễ tạo nên tâm lý “dictatorship”; khuôn khổ và cứng nhắc; không khuyến khích sự sáng tạo và phát triển khả năng trí tuệ; không cho phép ý kiến và tranh luận; không khuyến khích sự đa dạng và sự khác biệt; không khuyến khích sự thay đổi; mất niềm tin vào thế hệ trẻ; v.v.)

    Ngày nay thì khác rồi. Kinh doanh thương mại là một trong những ngành quan trọng sống còn của một đất nước. Những nước đang phát triển như Việt Nam đã bắt đầu thấy được tầm quan trọng của kinh doanh thương mại. Kinh doanh thương mại còn có khả năng giúp con người trở nên giàu có, có quyền hành và địa vị. Kinh doanh thương mại đã được tôn trọng và đạt được vị trí đúng của chúng. Nhiều người đã học và làm kinh doanh. Ðây là một điều đáng mừng. Về Việt Nam thì thấy không khí làm ăn kinh doanh thương mại rất hăng say. Tinh thần “entrephreneurship” có ở nhiều người. Con người đã học hỏi được nhiều về phương cách làm ăn hữu hiệu của Tây phương và nhiều người đã thành công lớn. Mong là môi trường sẽ càng ngày càng thuận lợi hơn cho họ. Dân có giàu thì nước mới mạnh mà. Bao tử mà còn đói thì đố ai làm gì được.

    Người Trung Quốc trước kia chỉ kinh doanh buôn bán theo thói quen và theo cái khiếu mà thôi chứ không phải làm việc một cách khoa học. Những thành công lớn sau này ở Trung Quốc, Ðài Loan, Hong Kong, hay Singapore có tác động chuyển đổi xã hội của họ đều nhờ vào những kiến thức kinh tế và kinh doanh học được từ phương Tây. Những kiến thức này bao gồm lý thuyết kinh tế, chiến lược kinh tế, chiến lược tài chánh, ngân sách, chiến lược ngoại thương, cách tổ chức công ty, cách quản lý, các định hướng, cách nghiên cứu thị trường, kỹ thuật quảng cáo, kỹ thuật tiếp cận thị trường, kỹ thuật tài chánh, tiêu chuẩn kế toán, v.v. Không có những kiến thức kinh tế và kinh doanh khoa học này, các nhà doanh nghiệp Á Ðông chưa chắc đã đạt được những thành công như hiện nay. Một vài tính chất của văn hoá đạo Khổng ví dụ như sự trung thành cũng giúp ích cho sự vận hành một công ty, nhưng đây chỉ là những chi tiết nhỏ mà thôi nếu nhìn vào một bức tranh kinh tế lớn.

    Người Việt Nam muốn thành công trong kinh tế chắc chắn cần tập trung vào việc học hỏi và áp dụng những kiến thức kinh tế, kinh doanh khoa học và hữu hiệu của phương Tây. Sau đó hãy áp dụng những kiến thức đó cùng với cái khiếu làm ăn và tinh thần “entrphreneurship” để thành công. Nước Việt Nam muốn thành công thì người Việt Nam ngay từ bây giờ phải mau chóng từ bỏ những lối suy nghĩ cổ hũ, những “mentality” ngây thơ, những cái nhìn nhỏ hẹp, sai trật về giới thương gia; người Việt Nam hãy mau chóng không những chỉ ủng hộ, khuyến khích mà còn phải ca ngợi những người làm thương nghiệp, kinh doanh, và thấy được cống hiến, vị trí của giới doanh gia; và những người làm kinh doanh cũng phải tự chứng minh và khẳng định vai trò to lớn của mình trong xã hội, và đòi hỏi vị trí đúng của mình trong xã hội.

    Hy vọng rằng sau này khi xã hội phát triển hơn thì Việt Nam sẽ có, và mọi người biết ca ngợi, những anh hùng kinh tế, anh hùng thương mại nữa. Anh hùng chiến đấu nhiều quá rồi. Thời này kinh tế, khoa học, và khối óc mới là vũ khí lợi hại.


    Ðêm ... tháng ... năm ...

    Hồi tối này mới coi một phim về chiến tranh. Nhìn thấy súng đạn, khói lửa, chết chóc lại nhớ tới chiến tranh Việt Nam. Nghe nói tới nhiều về cuộc chiến tranh này nhưng may mắn mình không bị ở trong đó. Nghe nói nhiều người chết lắm, cả hai phía, đều là người Việt. Không biết ảnh hưởng của chiến tranh lên tâm lý con người thì sao?

    Chắc chiến tranh làm cho người ta can đảm lắm. Mà can đảm có lẽ người Việt có thừa. Từ xưa tới giờ cứ phải chiến tranh thành ra đặc tính tốt đó được tôi luyện trong người Việt Nam. Không những chỉ những người lính phải ra mặt trận mà ngay cả những người dân thường Việt Nam qua hàng ngàn năm lúc nào cũng phải đối diện với chết chóc, súng đạn, tang thương. Người lính lẫn người dân lúc nào cũng phải sống bên cạnh cái chết, chứng kiến cái chết, lúc nào cũng phải bảo vệ cái sống, bảo vệ mảnh đất hoặc lý tưởng. Rồi họ còn phải sống trong lo sợ hồi hộp. Họ phải đối diện với kẻ thù, với họng súng chĩa ngay trên trán họ. Họ phải chĩa súng vào người khác và bóp cò súng. Họ phải vật lộn với cuộc sống. Biết bao nhiêu là thứ. Chắc chắn người Việt phải có rất nhiều can đảm và phải cứng rắn lắm.

    Nhưng không biết ngoài sự can đảm tốt đẹp, họ có liều lĩnh không? Nếu liều lĩnh thì không tốt rồi. Nhiều khi chiến tranh cũng tôi luyện nên sự liều lĩnh. Cứ phải giết người, cứ phải sống bên cạnh cái chết thì người ta cũng trở nên liều lĩnh được. Khi tuyệt vọng cũng trở nên liều lĩnh. Khi bất cần cuộc sống, không sợ cái chết nữa cũng trở nên liều lĩnh. Khi gia đình con cái bị chết hết thì người ta cũng có thể liều lĩnh. Khi đất nước bị chiếm đóng, người dân bị giết chóc, người ta cũng trở nên liều lĩnh. Trong chiến tranh có lẽ cũng cần sự liều lĩnh. Nhưng trong hoà bình thì không biết sao?

    Trong thời gian hoà bình chắc không cần nhiều sự liều lĩnh. Nhưng nếu có máu liều lĩnh trong người thì sự liều lĩnh cũng xảy ra. Sự liều lĩnh có thể xảy ra qua việc lái xe ẩu tả, qua việc cướp giựt, giết người. Sự liều lĩnh cũng xảy ra trong việc dùng ma túy, trong quan hệ tình dục khi có AIDS. Sự liều lĩnh cũng xảy ra trong việc hút thuốc, uống rượu, đánh bài. Quá liều lĩnh để rồi không lo tới tính mạng của mình là một điều không sáng suốt. Quá liều lĩnh để rồi ảnh hưởng tới tính mạng và sự an toàn của người khác lại còn đáng trách hơn. Sự liều lĩnh cũng xảy ra trong việc thiết lập đường lối kinh doanh mặc dầu trong thương mại đôi khi cần phải liều lĩnh, nhưng sự liều lĩnh ở đây là sự liều lĩnh có tính toán, có suy nghĩ, nghiên cứu môi trường, thị trường, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, v.v. Sự liều lĩnh cũng có thể xảy ra trong việc buôn lậu, trong việc hối lộ, trong việc buôn bán ma tuý, trong việc biển thủ, v.v. Có lẽ sự liều lĩnh len lỏi vào nhiều lãnh vực lắm.

    Mong là mọi người đừng hiểu lầm giữa liều lĩnh và sự can đảm hay gan dạ (cũng như hiểu lầm giữa cương quyết và bướng bỉnh).

    Hối lộ, hối lộ… đây là một vấn đề lớn. Sức mạnh là yếu tố quan trọng trong việc nhận hối lộ. Ðạo đức suy đồi, kinh tế khó khăn, luật pháp yếu kém dễ đưa tới việc nhận và cho hối lộ. Người có cuộc sống không thoải mái lắm, lương tháng không nhiều nhận hối lộ là điều đáng chê trách. Nhưng đáng chê trách hơn nữa là những người đã giàu có rồi, đầy đủ rồi mà vẫn nhận hối lộ. Ðây là một điều lạ. Sự sống chết, đời sống kinh tế không bị đe doạ mà vẫn nhận hối lộ hoặc đòi hối lộ. Họ vẫn không chống cự nổi và vẫn đưa tay ra để nhận hoặc mở miệng ra để đòi. Ngoài những lý do như tham lam và đạo đức xuống thấp, sức mạnh có lẽ quan trọng trong trường hợp này. Họ biết nhận hối lộ là không tốt, họ biết họ không cần phải ăn hối lộ để cuộc sống được bảo đảm, nhưng họ vẫn không đủ sức mạnh để rút tay lại và nói “Không được.”

    Sự yếu đuối có mặt mọi nơi mọi lúc trong xã hội. Có nhiều lý do để đưa tới những vấn đề sau đây, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng vậy, có lẽ sức mạnh vẫn luôn luôn là một yếu tố quan trọng. Thiếu sức mạnh đã đã làm nhiều người không thể chống cự lại một việc làm rất nhỏ là xả rác. Thiếu sức mạnh đã làm cho nhiều cô gái trẻ không nói “Không” được khi những người bạn trai đòi hỏi sự quan hệ xác thịt. Thiếu sức mạnh đã làm cho những chàng trai trẻ nói “cởi mở, hiện đại” nhưng không chứng minh được chính mình. Thiếu sức mạnh đã làm cho người ta bỏ qua sự gian dối của chính họ. Thiếu sức mạnh có thể làm cho một số người “yêu” chỉ để lợi dụng. Thiếu sức mạnh đã làm con người nói dối một cách không cần thiết. Thiếu sức mạnh đã làm nhiều người không có khả năng chấp nhận sự thất bại của mình với người khác. Thiếu sức mạnh làm cho con người kiêu ngạo. Thiếu sức mạnh đưa tới sự ganh tỵ. Thiếu sức mạnh làm người ta hay chê bai. Thiếu sức mạnh làm nhiều người trở nên mê tín. Thiếu sức mạnh đã làm cho những ông chồng cất tay đánh vợ. Thiếu sức mạnh đã làm những người vợ đi đánh bài. Thiếu sức mạnh đã làm cho người bố nằm coi TV khi đứa con bốn tuổi đang muốn được nghe truyện cổ tích. Thiếu sức mạnh đã làm người mẹ la mắng đứa con trước mặt bạn bè của nó. Thiếu sức mạnh đã làm cho người ta không mở miệng ra được để nói “Tôi sai.” Thiếu sức mạnh đã làm con người không chấp nhận được cái hay và cái tốt của kẻ thù của mình. Thiếu sức mạnh đã làm người ta không chịu học hỏi từ kẻ thù. Thiếu sức mạnh đã làm người ta nói xấu người khác mặc dầu biết người khác là đúng, là tốt. Thiếu sức mạnh đã làm người ta hạ người khác xuống để đưa mình lên một cách không công bằng. Thiếu sức mạnh đã làm con người không trở thành “good winner” và không là “good loser”. Thiếu sức mạnh đã làm ....

    Chiến tranh không biết có làm cho con người ta trở nên bướng bỉnh hơn và phòng thủ hơn (defensive)? Chắc là có. Sự yếu đuối, cộng với bướng bỉnh, và phòng thủ chắc còn làm cho con người khó cải tiến và sửa đổi hơn nữa.

    Một nhân vật nào đó đã nói con người là những sinh vật rất yếu đuối. Có lẽ đúng thật. Con người yếu đuối lắm. Con người có thể dễ dàng “rơi” vào những hành động không tốt. Những xã hội bị ảnh hưởng nhiều bởi (hoặc nhấn mạnh nhiều đến) việc “đức trị” có lẽ đánh giá khả năng sức mạnh con người quá cao. Không một cá nhân nào hoàn hảo cả, từ những nhân vật cao cấp nhất cho đến những kẻ bần cùng nhất. Không ai có đủ sức mạnh, đủ đạo đức để mà kiểm soát tất cả mọi việc, mọi hành động được. Ðạo đức là những điều tốt và cần phải phổ biến, nhưng luật pháp cũng quan trọng và rất thực tế trong việc vận hành đất nước. Vì vậy xã hội pháp trị cần phải được xây dựng song song với việc xây dựng đạo đức con người. Ðịnh nghĩa của luật pháp đồng nhất, rõ ràng, và ai cũng hiểu, không như một số giá trị đạo đức chỉ tương đối mà thôi, chính xác với một số người nhưng không chính xác với những người khác. Ðồng thời pháp luật có cơ cấu trừng phạt rõ ràng, thực tế. Vì vậy luật pháp dễ thực thi và hữu hiệu nếu làm đúng. Xã hội cần phải có cả hai: đạo đức và luật pháp.

    Pháp luật Việt Nam cũng nhấn mạnh nhiều tới “tình” và “lý.” Điều này nguy hiểm quá. “Lý” thì được. Còn “tình” thì sao đây? Ai xác định “tình”? Định nghĩa của “tình” là gì? Thế nào là “tình” hợp lý? Hợp lý với người này nhưng không hợp lý với người khác thì sao? Trong trường hợp nào thì áp dụng mức độ “tình” nào? Bao nhiêu “tình” thì vừa đủ? Làm sao xác định tỷ lệ “tình” và “lý” trong phán quyết? Tỷ lệ bao nhiêu là công bằng? Giới tính và tuổi tác của bên có tội và người bị hại sẽ tác động thế nào đến “tình”? Tính cách, tình cảm, trạng thái tâm sinh lý của ông thẩm phán ngày xử án sẽ ảnh hưởng đến quyết định “tình” của ông ta ra sao? Sự thiên vị tự nhiên của con người trong ông thẩm phán ảnh hưởng tới “tình” thế nào? Không khí toà án, áp lực của người dự án, áp lực báo chí ảnh hưởng tới “tình” bao nhiêu? Những giọt nước mắt hối hận không biết thực hay giả và những lời van xin, hứa hẹn không biết thực hay giả của kẻ có tội sẽ ảnh hưởng tới mức độ “tình” ra sao? Sự hiện diện của người mẹ già đang bệnh nặng hoặc những đứa con thơ của kẻ có tội trong toà án sẽ ảnh hưởng tới phán quyết “tình” ra sao? Sự hiện diện của người mẹ già đau khổ, của người vợ ngất xỉu, hoặc những đứa con nheo nhóc của bên bị nạn trong toà án sẽ ảnh hưởng tới phán quyết “tình” ra sao? Làm sao cân bằng “tình” cho bên có tội và “tình” cho bên bị hại? Hai ông thẩm phán khác nhau, xử lý cùng một vụ việc, thì những yếu tố ảnh hưởng tới “tình” sẽ tác động hai ông thế nào, sẽ có hai phán quyết hoàn toàn khác nhau không? Khác nhau ở mức độ nào thì chấp nhận được? Khi “tình” bị lạm dụng hoặc lợi dụng khi ra phán quyết (đặc biệt là khi đã được “lót tay”) thì làm sao phản đối cái “tình” đó (vì nó là “tình” mà)? Khi xử phạt những người trong chính quyền, những người có gốc gác, phe nhóm, quan hệ, thì “tình” sẽ có tác dụng gì và được sử dụng ra sao? Khi xử phạt người “công nhiều hơn tội”(?!?) thì làm sao xác định “tình”? Xác định “công” và “tội” thôi là cũng đã dính dáng đến “tình” rồi. Làm sao để xác định “công” nhiều hay “tội” nhiều? Tham gia kháng chiến và điều hành chính quyền sau kháng chiến là “công” nhiều, nhưng tham ô rút ruột dự án xây dựng cầu làm cầu sụp, bao nhiêu người chết (hay chỉ cần một người chết thôi) thì “công” nhiều hay “tội” nhiều? “Tình” và “lý” lúc nào cũng hiện diện trong con người và trong luật pháp, nhưng mức độ áp dụng và nhấn mạnh đến “tình” ở Việt Nam là một điều rất đáng lo.

    Sao mà nãy giờ nghĩ tùm lum đủ thứ vậy? Chiến tranh, can đảm, liều lĩnh, bướng bỉnh, sức mạnh, yếu đuối, luật pháp. Con người có thể là những sinh vật yếu đuối nhưng con người lại có lý trí và cũng có khả năng phát triển sức mạnh rất lớn. Con người cũng có thể rất mạnh mẽ. Vậy cũng đỡ lo.


    Ðêm ... tháng ... năm ...

    Ðêm nay tôi cũng trằn trọc, nhưng không phải nghĩ tới một vấn đề nào mà là nghĩ ra một câu chuyện ngắn. Tôi đặt tên câu chuyện là “Bốn Người Bạn”. Bốn nhân vật trong truyện đại diện cho một số người tôi có gặp ngoài đời thật. Tôi viết lại, mời quý vị và các bạn đọc cho vui.

    Xung quanh bàn tiệc có bốn người bạn ngồi nói chuyện với nhau. Nếu để ý nghe câu chuyện của họ thì sẽ biết rằng họ là những người bạn ngày xưa, giờ gặp lại sau một thời gian rất dài. Hai trong số bốn người đó là từ nước ngoài trở về.

    Không biết ngày xưa họ như thế nào, nhưng bây giờ theo cách nói chuyện và ăn mặc của họ thì họ khác nhau nhiều lắm.

    Người bạn thứ nhất nhìn thật tiều tụy. Anh ngồi lưng cong vòng lại như muốn thu cho thật nhỏ cái cơ thể ốm o và đã nhỏ sẵn của mình để mọi người đừng nhìn thấy anh. Nhưng có cố gắng cách mấy thì anh cũng không thể nào che dấu được làn da đen xạm và khô của mình. Làn da của sự nhọc nhằn và nghèo khó. Cặp mắt u tối của anh chứa đựng tất cả sự khổ cực, bất lực, tự ti, và mặc cảm. Tuy nhiên để bắt gặp ánh mắt đó không phải dễ vì anh rất ít khi ngẩng mặt lên nhìn mọi người. Ðó là người bạn thứ nhất. Anh đang sống ở Việt Nam và nghèo ... như từ trước đến nay và như rất nhiều người khác trên đất nước này.

    Người thứ hai thì khác hẳn. Anh ta cười nói rộn ràng vui vẻ với mọi người. Anh quay bên phải, anh quay bên trái làm cho mái tóc chải ngược bóng láng vì dầu của anh cũng không thể nằm im được. Ðiều lý thú là toàn bộ cơ thể của anh chỉ có hai màu mà thôi: đen và vàng. Mái tóc đen bóng, áo sơ mi đen bằng tơ mềm, dây lưng đen, quần tây đen, và cả một đôi dầy cũng đen và bóng không thua gì mái tóc. Mỗi lần anh khua tay đùa giỡn với bạn bè thì sẽ thấy ánh lên màu vàng lấp lánh chiếu ra từ những cái nhẫn vàng rất to trên những ngón tay đầy đặn nhưng thô, trầy xước, và chai cứng vì làm việc nặng nhọc từ xưa và hiện nay. Ðặc biệt nhất là ở giữa cái nền đen của cơ thể anh hiện lên một khối vàng hình vuông to tướng, sáng chói anh đeo trước ngực.

    Anh kể nhiều chuyện lắm về đất nước nơi anh đang sống. Chuyện xã hội hiện đại, giàu có bên Mỹ. Anh chê sự nghèo nàn, lạc hậu và dơ bẩn của Việt Nam. Anh kể chuyện anh đã về Việt Nam ăn chơi như thế nào. Trong câu chuyện ăn chơi sành điệu của mình, anh thường hay nói chêm vào một số từ ngữ mà những người bạn của anh không thể nào hiểu được vì nó không phải tiếng Việt, hơi giống giống tiếng Anh mà cũng không phải tiếng Anh. Anh hãnh diện và tự mãn. Ðó là người bạn thứ hai, một Việt kiều lao động bên Mỹ, lâu lâu về Việt Nam ... chơi.

    Người thứ ba cũng có rất nhiều chuyện để kể. Nhưng những câu chuyện của anh đều xoay quanh anh và những gì của anh. Trong suốt câu chuyện, anh khéo léo nhét vào những điều anh muốn nói. Anh đã trở nên giàu có và thành công như thế nào. Anh đi xe gì, hay đi chơi ở đâu, ăn nhà hàng nào, và uống những loại rượu gì. Không ai hỏi nhưng anh cũng tuyên bố một cách rất “tự nhiên” và “cởi mở” là anh đã từng làm việc với công ty nước ngoài và đã đi du lich Thailand và Singapore. Giống như người bạn thứ hai, anh rất tự hào với kiến thức của mình về những nơi đi chơi có mấy “em” ... “hết xẩy”. Anh cũng khoe là với khả năng móc nối và “làm ăn” của anh thì chuyện gì cũng trót lọt. Nếu mọi người cần giúp đỡ thì chỉ việc “hú” anh một tiếng. Anh ngồi thẳng, mặt ngước cao tự tin. Nhưng có lẽ nhiều hơn lại là sự tự mãn và kiêu ngạo. Mỗi khi anh nhìn người bạn thứ tư thì ánh mắt anh như nói rằng, “Tao không thua bất cứ thằng Việt kiều nào.” Ðó là người thứ ba, một người khá thành công ở Việt Nam hiện nay.

    Người thứ tư, người cuối cùng trong nhóm, cũng là một Việt kiều từ Mỹ. Mỗi khi người thứ ba nhìn anh thì anh cũng nhìn lại với một ánh mắt như để nói, “Khờ khạo mà không biết. Chưa ra khỏi miệng giếng mà đã gáy. Ngu.” Anh nhìn người thứ nhất với ánh mắt không có nhiều cảm xúc. Anh nhìn người thứ hai với sự khinh thường thấy rõ. Người thứ ba ... anh chỉ cười khẩy. Anh tự tin và thoải mái. Anh cũng nói khá nhiều chuyện, nhưng những lời nói của anh lại được đánh dấu bởi sự chê bai và khi dễ: Việt Nam dở quá. Hệ thống giáo dục lạc hậu. Thanh niên bí lối. Lãnh đạo mù quáng. Kỹ sư Việt Nam mà làm cái gì. Bác sĩ không có khả năng. Nền chính trị kiềm kẹp. Kinh tế què quặt. Văn học nghệ thuật nghèo nàn ... Vì “quen” sống trong văn hoá Mỹ nên anh không nói lương một năm của anh bao nhiêu. Tuy nhiên, lâu lâu anh lại đề cập tới tên công ty anh làm việc cũng như vị trí chức vụ của anh. Dĩ nhiên căn nhà có hồ bơi và loại xe hơi anh đang chạy cũng được mô tả một cách kỹ lưỡng. Cuối cùng anh nói, “Với khả năng của tao, tao phải làm việc bên Mỹ. Tao không thể nào sống ở đất nước này được.” Ðó là người bạn thứ tư, một “professional” đã được học và thấy một số điều bên Mỹ.

    Xung quanh bàn tiệc có bốn người bạn ngồi nói chuyện với nhau sau một thời gian dài không gặp mặt. Có nhiều sự thay đổi. Cách ăn mặc, cử chỉ của họ đều khác. Cách nói chuyện cũng khác. Ngay cả màu sắc của da thịt họ cũng khác. Nhưng nếu ta dừng lại một chút và nhìn kỹ thì sẽ thấy rằng những người đó vẫn có một điểm chung. Ðiểm chung đó là trình độ suy nghĩ của họ - cùng với mức độ cao thấp và sâu cạn của sự suy nghĩ đó.

    Xung quanh bàn tiệc có bốn người bạn ngồi nói chuyện với nhau sau một thời gian dài không gặp ...

    Tôi kể một vài chuyện vậy thôi. Những vấn đề, đề tài trong xã hội hoặc trong mỗi con người không bao giờ nói cho hết được. Những điều này làm tôi khó ngủ. Kể cho các bạn nghe làm tôi thoải mái hơn được một chút. Có lẽ đêm nay sẽ ngủ yên được. Cám ơn các bạn đã lắng nghe. Các bạn có hay suy nghĩ về những vấn đề xã hội không?

    *****​

    Lời Kết


    Cuộc sống tiếp tục trôi, con người tiếp tục sống, và xã hội tiếp tục thay đổi. Những gì xảy ra ngày hôm nay là kết quả của những điều đã xảy ra ngày xưa. Những gì xảy ra hôm nay cũng là những điều tạo nên hình dáng ngày mai. Lịch sử là những điều đã qua, nhưng lịch sử cũng chính là hôm nay vì hôm nay sẽ tạo nên lịch sử. Mọi sự việc, mọi suy nghĩ, mọi hành động nhỏ nhặt nhất của từng cá nhân con người chúng ta là những yếu tố quan trọng để xây dựng ngày mai. Những chính sách, đường lối của chính quyền ngày hôm nay là những yếu tố quyết định để xây dựng ngày mai. Tất cả “hình dáng” cá nhân chúng ta cũng như “màu sắc” của xã hội là được hình thành qua lịch sử, văn hoá, và qua hoạt động của từng con người. Con người và xã hội ngày nay là kết quả của lịch sử, của văn minh, văn hoá ngày xưa. Con người và xã hội ngày mai là kết quả của xã hội, con người ngày nay. Ðể có một con đường đúng cho hôm nay và cho ngày mai, chúng ta phải nhìn cho thật kỹ chúng ta ngày xưa và chúng ta hiện nay.

    Việt Nam có một nền văn hoá lâu đời với cuộc sống tập trung nông nghiệp từ 10.000 năm trước. Ðây là điều đáng tự hào vì chúng ta thuộc vào một trong những nền văn minh lâu đời của nhân loại. Mặc dầu sự to lớn của nền văn minh này chưa được xác định rõ ràng, nhưng dầu gì đi nữa nó cũng tạo nên một căn bản phát triển cho người dân sống trên đất nước Việt Nam. Nền văn minh Ðông Sơn đã cho thấy được sự tiến bộ của con người sống trên đất nước này. Nó chứng tỏ nhiều về óc sáng tạo nghệ thuật, đời sống tinh thần phong phú của người dân. Những người dân sống trên mảnh đất Việt Nam nhiều ngàn năm này đã góp phần tạo nên con người Việt Nam ngày nay. Người dân này có nền văn hoá phong phú đẹp đẽ với truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên, một chuyện tình đẹp tuyệt vời, một truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc đầy sáng tạo. Truyền thuyết này đã cho dân tộc Việt Nam hai chữ “Ðồng Bào”. Người Việt cũng có truyền thuyết về những vị vua Hùng đầu tiên dựng nên xứ sở của mình. Mặc dầu sự chính xác một cách chi tiết về những vị vua này chưa được xác định, nhưng chắc chắn một điều là những con người trên vùng đất này đã sống và tạo dựng nên một lãnh thổ có chủ quyền riêng với văn hoá và bản sắc dân tộc riêng của họ.

    Mặc dầu sau đó dân tộc Việt Nam bị đô hộ bởi người Trung Hoa từ phương bắc nên văn hoá bản xứ bị pha loãng, nhưng gốc gác văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, cái hồn của dân tộc không bao giờ bị mất đi. Tính dân tộc, sức sống văn hoá của người Việt cao đến độ chúng ta đã kiên cường chiến đấu chống sự đô hộ này hàng ngàn năm để cuối cùng dành được độc lập từ một đế quốc mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần. Chúng ta đã thành công trong việc bảo vệ văn hoá và bảo vệ lãnh thổ. Bên cạnh đó ta cũng học được nhiều điều từ văn hoá Trung Quốc để rồi dựa trên đó mà xây dựng tổ chức xã hội riêng cho mình. Tuy nhiên theo thời gian, khi con người được nhìn ra thế giới rộng lớn hơn chúng ta mới biết rằng thế giới rộng lớn quá, nhiều nền văn minh to lớn vĩ đại quá. Thế giới không phải chỉ có Trung Quốc, và nền văn minh Trung Quốc không hẳn là đẹp đẽ nhất và đem đến những điều hiệu quả nhất.

    Nhờ nhìn ra thế giới mà chúng ta biết rằng nền văn minh của chúng ta không phải cao siêu lắm. Văn minh Trung Ðông, Ai Cập, văn minh châu Âu, châu Mỹ có rất nhiều điều đáng khâm phục và học hỏi. Nếu so sánh với những nền văn minh này thì mặc dầu chúng ta có một nền văn minh lâu đời nhưng thực tế chúng ta chưa đạt được những thành công gì to lớn để sánh ngang với họ. Chúng ta lạc hậu và chưa có cống hiến gì nhiều cho nhân loại.

    Chúng ta đã biết quá ít về thế giới nhưng lại quá tự hào về nền văn minh của mình. Cái nhìn nhỏ bé và sự hiểu lầm đó của chúng ta về chính mình và thế giới, theo tôi, là một lý do làm Việt Nam kém phát triển. Cái nhìn nhỏ bé và sai lầm trong việc định nghĩa sự thông minh và sự thành công cũng như cái nhìn hạn hẹp trong việc chọn lựa ngành học và chọn lựa việc làm của chúng ta lại là một nguyên nhân khác. Trong khi đó đạo Khổng là một lý do rất lớn và quan trọng từ lâu nay, và thể chế chính trị yếu kém là một lý do rất lớn trong nhiều giai đoạn lịch sử và giai đoạn hiện tại. Ngoài ra, chiến tranh và tác hại kinh khủng của chiến tranh trong nhiều năm tháng là một nguyên nhân chính yếu, rất lớn, rất quan trọng đã làm cho đất nước Việt Nam lạc hậu.

    Chúng ta đã chứng tỏ được một số thành công. Ngày xưa chúng ta sử dụng những giá trị tốt đẹp của dân tộc để thành công trong chiến đấu và bảo vệ đất nước. Bây giờ người Việt lại tiếp tục dùng những tính chất tốt đẹp đó để đạt được những thành công mới trong các lãnh vực khoa học, nghệ thuật, xã hội trên thế giới. Những tính chất tốt đẹp có thể kể đến là ý chí quyết tâm khá, tinh thần ham học hỏi khá, khá cầu tiến, sự xiêng năng cần mẫn khá, trí thông minh khá, tinh thần đoàn kết dân tộc, v.v. Bên cạnh đó chúng ta cũng có những giới hạn, và những giới hạn này đã làm chậm đi sự phát triển của đất nước. Những giới hạn có thể kể ra là lòng mau tự mãn, hài lòng; tính kiêu ngạo, khoác lác; nhiều tự ty, tự ái, tự tôn, tự kiêu nhưng thiếu tự tin; lỳ lợm; láu cá; không đủ mạnh mẽ và can đảm để chấp nhận cái sai, xấu của mình; không “hiểu” được hoặc không muốn hiểu và thực hành khái niệm “công bằng” và “dân chủ”; liều lĩnh nhưng lại e ngại phiêu lưu, mạo hiểm; không uyển chuyển; hiểu lầm hoặc lừa dối chính mình; không có óc sáng tạo; chưa có óc khoa học; thông minh chưa nhiều và chưa thông minh lớn; chưa có óc nhìn xa và rộng để có thể bỏ đi những điều nhỏ bé, lặt vặt, không quan trọng; chưa có khả năng làm việc chung công bằng và hữu hiệu; chưa có khả năng tổ chức lớn; tinh thần kỷ luật rất thấp, v.v. Chúng ta có những giá trị tốt đẹp, nhưng lại có nhiều nhược điểm rất lớn như những tảng đá lớn, lẫn với những vấn đề nhỏ bé lặt vặt như những viên sạn nhỏ, làm cản trở sự phát triển chung và làm cho guồng máy làm việc của xã hội chưa đạt được hiệu quả cao nhất. Có thể có nhiều lý do giải thích cho những nhược điểm của mình, nhưng dù gì đi nữa nhược điểm vẫn là nhược điểm, và nhược điểm vẫn tồn tại và hiện diện trong xã hội chúng ta. Ðiều chúng ta cần phải làm là loại bỏ chúng đi.

    Việt Nam đã bắt đầu mở cửa ra với thế giới, và người Việt bắt đầu liên lạc rộng rãi hơn với bên ngoài. Người Việt đã đạt được một số thành công, đặc biệt là ở hải ngoại, nhưng một điều chắc chắn là những thành công đó không lớn. Trong nước, chúng ta chưa có một nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội, hay tâm lý vững chắc và hữu hiệu để xây dựng đất nước. Ngoài nước, chúng ta cũng chưa có được khả năng tâm lý cần thiết đó. Ngoài nước, chúng ta chỉ mới đạt được những thành công nhỏ bé trên một nền tảng đã được dựng sẵn. Chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt được những thành quả cao hơn. Quan trọng nhất là chúng ta phải cố gắng học, làm việc, và thành công trong những lãnh vực có tính cách quyết định sự phát triển xã hội nhất. Những ngành này là: Luật, Khoa Học Chính Trị, Chính Sách Xã Hội, Kinh Tế, Thương Mại, Ngoại Giao, Ngoại Thương, Ngôn Ngữ, Communications, Âm Nhạc, Điện Ảnh, Giáo Dục và Chính Sách Giáo Dục, Triết Học, hoặc những ngành như Khảo Cổ, Nhân Chủng, Lịch Sử, v.v. Ðây chính là những ngành học để xây dựng, định hướng, phát triển, và cách mạng hoá xã hội. Ðây là những ngành tạo nên và quyết định nền tảng xã hội có đúng và có vững chắc hay không.

    Trong những bài viết trong cuốn sách này, tôi đã đề cập tới nhiều vấn đề. Mỗi một chương là một hoặc vài vấn đề khác nhau. Có những vấn đề tương đối rộng, nhưng cũng có những vấn đề nhỏ nhặt. Có những điều khá tập trung nhưng cũng có những điều rộng quá. Bên cạnh đó cũng có những điều tôi không có đủ khả năng và kiến thức để phân tích sâu hơn. Nhưng tôi tin rằng mỗi một điều nói tới đều có một giá trị nào đó để chúng ta cùng suy nghĩ. Sau khi phân tích hoặc phê bình một việc, tôi cũng cố gắng đưa ra những giải pháp hoặc đề nghị để giải quyết vấn đề. Nhưng tôi cũng biết rằng ngoài những đề nghị rõ ràng, tôi cũng có những đề nghị quá rộng, hoặc có những đề tài quá lớn mà tôi không đưa ra giải pháp cụ thể được tại vì có quá nhiều lãnh vực liên quan với nhau.

    Mặc dầu vậy, đề nghị chung nhất và có tính cách tổng quát của tôi cho mọi vấn đề, và tôi nghĩ là một đề nghị thực tế và có hiệu quả, là chúng ta phải nhìn lại mình. "Nhìn lại mình" ở đây là mỗi một cá nhân chúng ta tự nhìn lại chính mình. Nhìn để biết được mình suy nghĩ như thế nào và sự phát triển đầu óc của mình tới đâu. Nhìn để biết mức độ thông minh của mình. Nhìn để biết mình có nhiều sức mạnh hay rất yếu đuối. Nhìn để biết mình có thành công hay không và nhược điểm là gì. Nhìn để biết mình đang mong muốn điều gì, và đang làm gì để đạt được điều mong muốn. Nhìn để biết rằng chính “mình” cũng phải chịu trách nhiệm chứ không phải chỉ có “họ” hay “người khác”. Nhìn để biết vị trí của mình, khả năng của mình. Nhìn lại mình để điều chỉnh đòi hỏi của mình. Nhìn để biết ... tầm nhìn của mình. Nhìn để biết mình thực sự là ai. Nhìn để xét lại mình, để đánh giá chính mình.

    Cũng tương tự như vậy, "nhìn lại mình" ở đây cũng là nhìn lại toàn bộ xã hội của chúng ta. Xã hội này bao gồm lịch sử phát triển của nó, trình độ văn minh của dân tộc, văn hoá phong tục của dân tộc, cái nhìn và tầm nhìn của con người. Nhìn để biết xã hội mình đạt được gì, phát triển tới mức độ nào. Nhìn để biết văn minh của mình ưu việt hay yếu kém. Nhìn để biết những yếu điểm của mình. Nhìn để biết những điểm mạnh của mình. Nhìn để biết giới hạn, vấn đề của mình. Nhìn để biết rằng “tất cả chúng ta” phải chịu trách nhiệm cho sự yếu kém. Nhìn để nhạy cảm hơn về sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của những sự việc trong xã hội, để biết được xã hội tác động lên con người thế nào và con người tác động lên xã hội thế nào. Có nhìn rõ mình và xã hội mình thì chúng ta mới biết rằng một dân tộc sáng suốt và thực sự thông minh là dân tộc biết làm việc với nhau và làm việc một cách công bằng và hiệu quả chứ không phải một dân tộc có nhiều người có bằng cấp đại học, nhiều kỹ sư, bác sĩ, hoặc luật sư. Có nhìn rõ mình và xã hội mình thì chúng ta mới biết rằng để dân tộc chúng ta thành công thì chúng ta phải biết làm việc với nhau và làm việc một cách công bằng và hiệu quả chứ không phải chỉ là một dân tộc có nhiều người “thông minh,” “học giỏi,” hoặc nhiều “nhân tài,” “danh nhân.” Có biết rõ mình và xã hội mình thì chúng ta mới thiết lập được nền tảng xã hội đúng đắn, xây dựng được con đường đẹp, thực tế, và biết được vận tốc chúng ta nên đi trên con đường đó.

    Tôi cũng nhấn mạnh cái "nhìn lại mình" này phải là một cái nhìn trung thực và can đảm. Có trung thực và can đảm thì chúng ta mới biết mình một cách chính xác.

    Một đề nghị nữa là chúng ta phải nhìn ra thế giới. Cũng tương tự như trên, chúng ta nhìn ra thế giới để biết những đặc điểm của các đất nước, các dân tộc, và các nền văn minh khác nhau. Khi nhìn ra thế giới chúng ta phải mở mắt cho thật lớn, lắng nghe thật nhiều, và phân tích thật kỹ. Có nhìn ra thế giới chúng ta mới biết người. Có nhìn ra thế giới chúng ta mới biết chúng ta ưu việt, phát triển hay thực sự còn rất lạc hậu, chậm tiến. Nhờ biết mình và thế giới mà chúng ta mới nhận ra rằng chúng ta còn phải học hỏi nhiều.

    Có nhìn lại mình, xã hội mình, và nhìn ra thế giới chúng ta mới nhận ra được những suy nghĩ lạc hậu, sai trật, những “mentality” nhiều tác hại, những thói quen xấu, những niềm tin không chính xác, cách làm việc không hiệu quả, v.v. của chúng ta để rồi từ đó mà tự thay đổi, sửa chữa, và cải thiện chính mình. Có nhìn lại mình và nhìn ra thế giới chúng ta mới biết mình còn rất dở, yếu kém về nhiều mặt; không văn minh, văn hiến như mình nghĩ; không thông minh như mình nghĩ; và không sống trong những “illusion”, ảo giác tai hại. Chỉ khi nhìn thấy được khả năng yếu kém của đất nước và của từng cá nhân thì chúng ta mới cố gắng thật nhiều hơn nữa, và nhận ra được tầm quan trọng của việc "cooperation", "collaboration", và "teamwork"; nhận ra sự quan trọng của vấn đề hợp tác; nhờ vậy mà chúng ta mới biết rằng chúng ta phải biết hợp tác với nhau và làm việc hết sức với nhau (trong môi trường cạnh tranh công bằng) nếu chúng ta mong muốn đạt được những kết quả to lớn và tốt đẹp cho đất nước.

    Tôi tin tưởng rằng trong khi, và tốt nhất là trước khi, tiến hành những công việc cụ thể, chúng ta cần phải có những cái “nhìn lại” này. Có biết rõ mình và biết rõ người chúng ta sẽ có thêm tự tin, tự chủ, và bớt đi tự ái, tự ti, tự tôn, tự kiêu. Có biết rõ mình, biết rõ người, và chịu học hỏi thì khả năng làm việc thành công của chúng ta mới cao.

    Ðể phát triển chúng ta cần phải có khả năng học hỏi nhiều lắm. Phải có can đảm học hỏi, và học hỏi một cách thông minh sáng suốt, có chọn lọc, và tự tin để rồi áp dụng thực tế. Chúng ta có những cái hay, nhưng thế giới còn rất nhiều thứ để chúng ta học. Dĩ nhiên khoa học kỹ thuật là điều chúng ta còn quá lạc hậu và cần phải học hỏi. Chúng ta còn phải học rất nhiều về kinh tế, thương mại, về tổ chức và thực hành chính trị, luật pháp, hành chánh. Chúng ta phải học nhiều về triết học và tổ chức giáo dục. Trong lãnh vực nghệ thuật hiện đại thế giới cũng có nhiều điều để chúng ta khâm phục và học hỏi. Thế giới cũng có những điều hay trong lãnh vực tổ chức xã hội và sự đối xử giữa con người với nhau. Chúng ta cần phải học những cái hay đó, và học một cách có chọn lọc, rồi kết hợp chúng với những điều tốt đẹp của riêng chúng ta để tạo nên những bản sắc riêng, phù hợp, và có khả năng áp dụng thực tế cho mình. Ðiều quan trọng là xác định cái gì là cái tốt của người và học như thế nào, hòa hợp những điều đó vào xã hội chúng ta như thế nào. Tính phù hợp của những cái mới lạ với nền văn hoá chúng ta ra sao và hòa hợp ở mức độ nào là những điều cần thời gian, suy nghĩ, và kinh nghiệm qua áp dụng thực tế để xác định.

    Mọi thứ trong xã hội đều liên quan với nhau. Những hành động nhỏ nhặt nhất trong đời sống hàng ngày, những thói quen suy nghĩ đơn giản nhất của một con người đều tác động lên xã hội. Những gì xảy ra trong xã hội dù nhỏ nhặt cũng ảnh hưởng tới mỗi một con người và tất cả con người trong xã hội. Mọi thứ trong xã hội đều tác động lên nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Con người tác động lên xã hội và xã hội ảnh hưởng lại con người. Xã hội theo tôi là một tập hợp rất nhiều những cái vòng lớn nhỏ khác nhau, và những cái vòng này được nối liền với nhau, xen kẽ trong nhau rất tinh vi nhưng cũng rất dễ hiểu. Một cái chạm khẽ đâu đó trên một cái vòng sẽ đưa đến sự rung động cho tất cả mọi cái vòng. Vì sự liên hệ như vậy nên việc nhìn lại mình, xã hội mình để biết mình và biết xã hội của mình rõ hơn rất quan trọng. Khi biết rõ mình như vậy thì những việc làm, những hành động, những suy nghĩ, những cái chạm khẽ đó sẽ cẩn thận hơn. Cẩn thận hơn thì mức độ đúng đắn sẽ cao hơn.

    Tôi mong rằng tất cả mọi người chúng ta luôn luôn cẩn thận trong việc làm của mình, trong suy nghĩ của mình. Những việc làm, cách giao tiếp, và sự suy nghĩ của chúng ta phải được phân tích và suy xét kỹ càng, và được gói ghém trong sự thông minh, sáng suốt, công bằng, hợp lý, và có tính thực tế.

    Lịch sử và văn hoá tạo đã nên những gì chúng ta có ngày hôm nay. Những gì của ngày hôm nay sẽ định hình mọi việc của tương lai. Chúng ta là người thừa kế những gì đã được tạo nên ngày hôm qua, và làm chủ những gì của hôm nay. Chúng ta cũng là người làm chủ và nắm giữ số phận của ngày mai. Nếu muốn Việt Nam trở thành một nước thành công trong tương lai thì chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải là những người sáng suốt, tự tin, có trách nhiệm, mạnh mẽ, sáng tạo, kỷ luật, khiêm tốn, hợp tác, công bằng, biết nhìn xa trông rộng, và biết “think big” để có thể “win big”.

    Cuộc đời một con người rất ngắn ngủi,
    nhưng sự sống một dân tộc, một nền văn hoá là vô tận.
    Chúng ta hãy cố gắng hết sức mình để làm những điều tốt nhất
    cho dân tộc, cho đất nước trong cuộc đời ngắn ngủi đó của chúng ta.
  2. Chương 9 - Tình Yêu, Tình Yêu



    Cuối cùng rồi cũng tình yêu. Nói đi nói lại rồi cũng phải quay về vấn đề tình yêu. Ai cũng phải nói về đề tài này vì nó không bao giờ nhàm chán và không có tuổi già. Vậy thì tôi sẽ nói về tình yêu. Nhưng xin được xin lỗi trước với các bạn trẻ là đề tài tình yêu trong chương này không phải mơ mộng, bướm hoa, nhung nhớ, hay buồn giận lãng mạn mà là những vấn đề tình yêu tuổi trẻ chúng ta đang gặp phải và đối đầu trong thời gian hiện nay ở trong nước cũng như ở hải ngoại.

    Tôi viết quyển sách này năm 2002. Bây giờ là 2010 và tôi đang chỉnh sửa và thêm một số chi tiết vào quyển sách. Có những điều trong chương này không hoàn toàn chính xác nữa. Khoảng thời gian 8 năm qua cũng làm một số điều thảo luận trở nên không hợp thời nữa.

    Khi bàn về những vấn đề trong tình yêu và gia đình những người trẻ tuổi hiện nay đang gặp phải, tôi chỉ xin tập trung vào những người sinh ra khoảng từ năm 1968 cho tới khoảng 1985 mà thôi, tức là khoảng từ 15, 16 tuổi cho tới 33, 34 tuổi. Tôi chọn lựa các anh chị và các bạn trong lứa tuổi này tại vì đây là lứa tuổi tôi quen biết nhiều, và tôi để ý quan sát. Ðồng thời đây cũng là lứa tuổi trẻ và trong giai đoạn tìm kiếm tình yêu hoặc chuẩn bị lập gia đình. Hai vấn đề nhóm người này phải đối đầu và tôi muốn bàn tới là sự khó khăn trong việc tìm kiếm đối tượng và tác động của sự thay đổi xã hội quá nhanh đối với họ và đối với cái nhìn về tình yêu và gia đình của họ. Hai vấn đề này hoạt động riêng biệt nhưng cũng tác động lẫn nhau.


    I. Cây Kim Trong Ổ Rơm hay Tìm Kim Ðáy Biển

    Ngạn ngữ Tây phương có câu “Needle in a Haystack” và ngạn ngữ Việt Nam lại có câu “Tìm Kim Ðáy Biển”. Cả hai đều nói lên sự khó khăn của việc tìm kiếm một cái gì đó. Tôi thấy rằng câu này rất đúng cho việc tìm kiếm người yêu cho cả nam lẫn nữ hoặc tìm kiếm vợ hay chồng trong thời đại hiện nay. Qua quan sát và lắng nghe tôi thấy vấn đề tìm kiếm đối tượng này là đề tài rất lớn đối với người Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước. Ði đâu tôi cũng nghe nói tới, gặp ai tôi cũng nghe than thở về việc này. Tôi thấy đây là điều đáng buồn và là một vấn đề xã hội đáng quan tâm.

    Tôi tin rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những khó khăn trong việc tìm kiếm đối tượng là do chiến tranh. Tôi biết rằng những thế hệ trước và trong chiến tranh cũng đã bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến rất nhiều trong cuộc sống tình cảm và cuộc sống gia đình. Một ví dụ là trường hợp những người vợ có chồng bị chết trận. Việc lập lại gia đình đối với những người này không phải dễ. Những thế hệ sau đó lại bị ảnh hưởng của hậu quả cuộc chiến. Trong khoảng những năm 1975, 1976 rất nhiều người Việt Nam đã tìm cách đi ra nước ngoài. Sau đó số người vượt biên tiếp tục tăng lên và kéo dài trong nhiều năm. Những người này ra đi vì lý đó chính trị cũng có, vì lý do kinh tế cũng có, và vì không muốn phải đi bộ đội cũng có. Trong số những người ra đi, có rất nhiều thanh niên đàn ông. Việc ra đi này tạo nên hai tác động trong việc phân chia nam nữ. Thứ nhất là số lượng đàn ông ở trong nước giảm xuống quá thấp so với số lượng phụ nữ. Trường hợp thứ hai thì ngược lại. Ở nước ngoài số lượng đàn ông Việt Nam lại nhiều hơn so với số phụ nữ Việt Nam.

    Trong nước vì chiến tranh mà số lượng đàn ông đi lính và chết trận quá nhiều. Sau đó cuộc chiến ở Cambodia lại góp phần làm cho số lượng thanh niên đàn ông giảm nhiều hơn nữa. Chưa ngưng ở đó, số lượng đàn ông vượt biên tị nạn tăng cao làm cho tình trạng này tệ hại hơn. Kết quả là sự mất cân bằng nam nữ ở Việt Nam với số lượng nữ nhiều hơn nam. Vì lý do đó việc tìm kiếm người yêu đối với các cô gái gặp nhiều khó khăn. Cho tới khoảng năm 90 tới 95 khi mà những người cô gái sinh ra trong khoảng 1968 đến 1972, 1973 đến tuổi biết yêu và một số bắt đầu phải nghĩ tới chuyện lập gia đình thì bất thình lình họ nhận ra rằng đàn ông ít quá, và để kiếm được một người hợp, tương đối vừa ý không phải là chuyện dễ.

    Khoảng những năm đầu cho tới giữa 1990s, tình hình còn đỡ cho nhiều cô gái. Cho tới lúc này (2002) việc tìm kiếm đối tượng của họ còn ảm đạm hơn nữa. Nhiều cô gái vẫn chưa gặp được may mắn và trở nên lo lắng. Các cô gái này một số tiến gần đến tuổi 30; một số đã qua ngưỡng cửa đó. Cùng với sự khó khăn trong việc tìm kiếm người chồng, sự mất cân bằng nam nữ còn đưa đến những tác động khác ảnh hưởng tới đời sống và tâm lý các cô gái trong khoảng tuổi này. Những tác động đó tôi sẽ bàn đến sau trong mục nói về ảnh hưởng của thay đổi xã hội. Trong khi đó vì số lượng ít ỏi mà những người đàn ông lại trở nên tự tin hơn và có nhiều lựa chọn hơn. Tự tin và nhiều lựa chọn lại đưa đến những vấn đề khác nữa, nhưng tôi cũng sẽ bàn tới những vấn đề đó trong phần sau.

    Trong cùng thời gian đó ở hải ngoại số lượng đàn ông con trai quá nhiều và các cô thì vắng bóng. Kết quả là ngược lại. Các anh khó kiếm bạn gái hơn và nhiều người đã trở nên “ế”. Trong phần này tôi sẽ nói thêm về vấn đề môi trường mới bên nước ngoài và tác động của nó đối với suy nghĩ về quan hệ nam nữ của người Việt Nam.

    Thứ nhất là ngoài sự khó khăn trong việc tìm kiếm người yêu vì lý do số lượng nam nữ không công bằng, môi trường mới còn làm cho con người khó tìm được người hợp với mình hơn. Trong cùng một đất nước như Việt Nam, nơi mà văn hoá, phong tục, ngôn ngữ, thói quen suy nghĩ của mọi người tương đối giống nhau và thuần nhất thì việc tìm kiếm đối tượng hợp với mình và có thể chia sẻ cuộc đời với mình đã là chuyện không phải dễ.

    Ðiều này sẽ khó hơn nữa ở trong một môi trường mới. Khi qua tới Mỹ, mọi thứ đều khác hẳn Việt Nam. Những sự khác nhau này bao gồm văn hoá, phong tục, cách suy nghĩ, cái nhìn về mọi việc, mọi vật, quan niệm, v.v. Trong môi trường mới đó con người phải tự thay đổi tất cả những suy nghĩ, những cái nhìn từ xưa mà họ đã có được trong nền văn hoá cũ để cho phù hợp với cuộc sống mới và phù hợp với sự thuận tiện cho cá nhân con người. Sự thay đổi này diễn ra với mọi người, nam cũng như nữ. Họ tiếp nhận một số điều mới, họ bỏ đi một vài điều cũ, và họ cũng pha trộn một số điều mới với điều cũ tới một mức độ nào đó cho phù hợp với họ. Kết quả của sự “adjustment” này là con người càng trở nên khác nhau nhiều hơn nữa. Trong một đất nước mọi người đã khác nhau, trong một môi trường mới với những thay đổi như trên lại càng làm người ta khác nhau hơn nữa. Tìm kiếm những người hợp với mình, có cùng suy nghĩ với mình, có cùng một “kiểu adjustment” giống mình là cả một sự khó khăn to lớn. Sự khó khăn trong việc tìm kiếm đối tượng ở nước ngoài được nhân lên nhiều lần so với trường hợp ở Việt Nam. Tôi nghĩ đó là lý do tại sao mà tôi hay nghe mọi người nói, “Không kiếm được người hợp” hay “Chia tay rồi vì không hợp.”

    Ðó là ảnh hưởng thứ nhất của môi trường mới. Ảnh hưởng thứ hai là vai trò của đàn ông và phụ nữ trong xã hội phương Tây hoàn toàn khác hẳn Việt Nam. Trong khi ở Việt Nam đàn ông có nhiều quyền thế và ở vị trí trên cao còn người phụ nữ là phụ thuộc và tuân lệnh thì ở Mỹ đàn ông và phụ nữ bình đẳng với nhau, không ai hơn ai và mọi người đều độc lập. Trong nhiều trường hợp, phụ nữ còn có tiếng nói mạnh hơn đàn ông nữa. Trong tình trạng đó, nhiều người đàn ông Việt Nam đã bị “shocked” và họ không thể chấp nhận được thực tế xã hội. Một số thay đổi được. Một số không thể sửa đổi cách suy nghĩ đã có từ lâu trong họ. Một số khác lại từ chối thay đổi. Kết quả là họ khó kiếm người yêu hơn và các cô sẽ ít chọn những người đàn ông này hơn.

    Bên cạnh đó môi trường mới lại có tác động khác đối với phái nữ. Ở Việt Nam họ sống trong một môi trường đối với họ có thể là bị áp bức, bị “ăn hiếp” bởi đàn ông, và không công bằng. Khi qua tới Mỹ họ bất chợt khám phá ra một môi trường mới với những cơ hội mới. Họ hăng hái ôm chầm lấy những tư tưởng mới về sự bình đẳng nam nữ và họ sử dụng nó tới mức tối đa. Hơn nữa, sự độc lập về kinh tế mà trong đó người phụ nữ có thể đi làm kiếm tiền cũng góp phần nâng cao bình đẳng nam nữ. Vì những điều kiện thuận tiện như vậy các cô gái đã tự tin ở mình hơn và cố gắng khẳng định vai trò của mình hơn trong quan hệ nam và nữ.

    Tuy vậy, hình như có nhiều cô đã sử dụng những điều kiện thuận lợi đó một cách thái quá và không phân biệt, chọn lọc. Có thể nói là họ muốn lật ngược lại tình thế không? Tôi biết mọi người phụ nữ đều khác nhau nhưng những điều nói ra sau đây có một mức độ chính xác nào đó đối với một số người. Qua quan sát thì có vẻ nhiều cô gái đã cố gắng quá mức, đã sử dụng những điều kiện thuận lợi quá mức để rồi trở nên quá đòi hỏi, quá “dữ dằn”, quá tự tin, và đôi khi trở nên quá kiêu ngạo. Sự lựa chọn của các cô càng kỹ hơn. Sự đòi hỏi của các cô càng nhiều hơn. Tầm nhìn của các cô càng cao hơn (và đôi khi cao hơn mức độ các cô đáng được hưởng nữa).

    Khi gặp trường hợp như vậy một số đàn ông từ chối chấp nhận, nhưng cũng có một số người đàn ông chịu được. Ðiều tai hại là đôi khi những người đàn ông chịu được này lại tự làm cho tình thế xấu hơn đi. Vì mặc cảm số đông và vì mặc cảm vai trò vị trí bị đảo ngược trong xã hội mới, nhiều người đàn ông lại trở nên yếu đuối. Họ cung phụng, họ chìu chuộng nhiều cô gái quá mức và vô lý. Ðôi khi tôi thấy có những người tuân thủ theo người con gái một cách đáng mắc cở cho đám đàn ông thanh niên chúng tôi. Họ lo sợ cho hoàn cảnh của họ, họ không yên tâm, và mất tự tin. Nhiều người đàn ông tự cho mình vai trò yếu kém hơn phụ nữ, tiếng nói không có giá trị, và họ trở nên nhất nhất lắng nghe mọi thứ và đồng ý với mọi điều phụ nữ mong muốn hoặc đòi hỏi mặc dầu có những đòi hỏi sai trái và vô lý. Họ “sợ” phụ nữ. Ðể chìu chuộng phụ nữ, nhiều người trở nên đóng kịch, hay làm những hành động, nói những điều không thành thực, sáo rỗng. Họ mua những chiếc xe đắt tiền ngoài khả năng của họ chỉ để “chinh phục” phụ nữ. Thay vì phải tự tin và chứng minh mình, và chứng minh những gì đúng và sai thì một số lại trở nên yếu đuối, tự ti, mặc cảm, và làm mất đi chính họ. Trong khi họ làm như vậy các cô sẽ càng không nể phục họ hơn, càng đòi hỏi hơn, kiêu ngạo hơn, và càng kén chọn hơn.

    Số lượng đàn ông/thanh niên nhiều, sự lựa chọn đòi hỏi từ người phụ nữ cao hơn, và sự thay đổi trong cách suy nghĩ là những lý do dẫn đến khó khăn trong việc tìm kiếm người yêu cho phần lớn đàn ông/thanh niên Việt Nam bên Mỹ (và các nước khác). Mặc dầu vậy sự kén chọn này cũng khó hơn cho các cô nữa vì những người đàn ông không bị những đặc tính của những ông nói trên cũng khó kiếm. Những người đàn ông/thanh niên đó lại trở nên kén chọn vì họ phải kiếm những người phụ nữ/cô gái không đi quá đà. Kết quả là sự tìm kiếm đối tượng trở nên rất khó cho cả hai giới, nam cũng như nữ.

    Vì chiến tranh và hậu quả của cuộc chiến mà tình trạng mất cân bằng giữa nam và nữ đã xảy ra. Trong khi tại Việt Nam số lượng phụ nữ quá nhiều đã làm nhiều cô gái trở nên lo lắng, thì bên Mỹ vì các cô gái quá ít mà nhiều người đàn ông đã trở nên khó kiếm người yêu và vợ (Sau này khi thế hệ trẻ tại Việt Nam và bên Mỹ lớn lên và số lượng du học sinh Việt Nam đến Mỹ tăng dần thì tình hình sẽ thay đổi. Để xem mọi chuyện sẽ đi tới đâu). Ảnh hưởng của môi trường văn hoá và kinh tế ở Mỹ đối với sự quan hệ giữa hai giới đã được nói qua ở trên. Sau đây tôi xin nói về ảnh hưởng của sự thay đổi môi trường xã hội ở Việt Nam và tác động của nó lên suy nghĩ về chuyện tình yêu và hôn nhân như thế nào.


    II. Ðịa Ngục và Sự Lựa Chọn Láu Cá

    Số lượng thanh niên sụt giảm sau cuộc chiến và làn sóng di tản của người Việt ra nước ngoài đã tạo nên một sự mất cân đối lớn giữa nam và nữ trong nước cũng như ở những nước có người Việt định cư. Sự mất cân đối này ảnh hưởng đến đàn ông thanh niên lẫn phụ nữ và các cô gái. Tác hại của sự mất cân đối này ở trong nước theo tôi thấy ảnh hưởng tới phụ nữ và các cô gái nhiều nhất. Và sự thiệt hại đối với các cô gái lại còn tăng hơn lên do sự thay đổi xã hội quá lớn và quá nhanh ở Việt Nam hiện nay.

    Thứ nhất là sự bị “bỏ rơi” của các cô gái sinh ra trong khoảng thời gian 1968 tới 1973, 1974. Như đã nói ở trên, sự thiếu vắng thanh niên trong nước đã làm cho các cô gái gặp phải nhiều khó khăn trong việc chọn ý trung nhân. Những người thanh niên thuộc thế hệ của họ đã mất đi nhiều quá. Ðây là những người thanh niên được lớn lên và giáo dục trong cùng môi trường như họ, có cùng một tầm nhìn và lứa tuổi như họ. Ào một cái họ mất đi. Và cũng ào một cái như một làn sóng lớn, giới trẻ hơn (sinh năm 1975 và sau đó - sau chiến tranh) lớn lên với một số lượng quá đông đảo (do mức độ sinh để quá cao của Việt Nam sau cuộc chiến). Những người trẻ tuổi hơn này đã chiếm lấy vị trí đa số của xã hội và làm chủ xã hội trong khi đất nước Việt Nam cũng đang mở cửa ra bên ngoài (từ cuối 1980s). Một nền văn hoá mới với lối suy nghĩ mới được hình thành với nhiều đặc điểm ảnh hưởng của thế giới bên ngoài.

    Cùng với làn sóng văn hoá mới, nền kinh tế phát triển hơn của Việt Nam sau này cũng làm các cô gái trẻ năng động hơn, các cô gái trẻ lớn nhanh hơn, mạnh mẽ hơn, hiện đại hơn, và đẹp đẽ hơn. Bất thình lình các cô gái chỉ sanh ra trước đó vài năm bỗng thấy mình già đi quá nhiều và lạc hậu hơn những cô gái trẻ. Mọi thứ thay đổi quá nhanh và họ bỗng thấy mình không còn nghe những loại nhạc, mặc những loại quần áo, trang điểm, học những ngành, hoặc suy nghĩ giống như những cô gái trẻ mới lớn lên nữa. Sự thay đổi nhanh chóng này đã tạo nên hai “thế hệ” khác biệt nhau quá nhiều mặc dầu họ không thuộc hai thế hệ và tuổi tác của những người trong những “thế hệ” này chênh lệch nhau không bao nhiêu.

    Những chàng trai trẻ lớn lên sau họ chỉ vài năm thôi cũng bị ảnh hưởng của môi trường mới nên sẽ không để ý nhiều tới những cô gái chỉ lớn hơn họ vài tuổi nhưng khác họ nhiều quá về mọi thứ. Những chàng trai này sẽ chọn những cô gái trẻ hơn, năng động hơn, hiện đại hơn, và cùng lứa tuổi, tầm nhìn với họ. Trong khi đó một số ít những chàng trai cùng lứa với những cô gái lớn hơn còn lại ở Việt Nam thì cũng có nhiều chọn lựa hơn. Và sự chọn lựa đó lại xảy ra trong một môi trường mà các cô gái nhiều quá và đặc biệt là những cô gái này trẻ hơn, đẹp hơn, và hiện đại hơn. Dĩ nhiên các thanh niên này sẽ có khuynh hướng chọn các cô gái trẻ. Kết quả cuối cùng là những cô gái chỉ sanh ra trước một vài năm thôi tự nhiên thấy mình quá lạc lõng và có thể nói là bị bỏ rơi trong cái xã hội thay đổi nhanh chóng đó, và khó kiếm được ý trung nhân.

    Thứ hai là trường hợp những Việt kiều về nước ăn chơi và lấy vợ. Ngoài nước thì thiếu phụ nữ; trong nước thì dư phụ nữ; kinh tế Việt Nam nghèo nàn; Việt kiều có tiền (hoặc không nhưng làm ra vẻ có tiền) và có cái “mác” từ Mỹ về; các anh Việt kiều khó kiếm bạn gái bên Mỹ; các cô muốn được đi nước ngoài; Việt Nam mở cửa ra với bên ngoài. Ðiều chắc sẽ xảy ra là có những người đàn ông về Việt Nam ăn chơi và lấy vợ. Tình trạng này đưa tới những chuyện đáng thương và đáng buồn. Có những cô gái ở Việt Nam khó kiếm chồng và nhiều cô ham đi nước ngoài. Thế là được dịp, các “ông” Việt kiều về Việt Nam cố gắng làm ra vẻ ta đây, tài giỏi, hiện đại, hay có tiền, hay vì bất cứ lý do nào khác không cần biết có thật hay không nhưng có những cô ham thích và theo. Được dịp thế là các “ông” ra sức ăn chơi, bồ bịch (và cũng được dịp nhiều cô gái lợi dụng các “ông”). Chuyện này phổ biến đến độ nhiều người hễ thấy Việt kiều về là nghĩ ngay trong đầu, “Nó về Việt Nam ăn chơi.” Thật là một điều đáng buồn.

    Dĩ nhiên có rất nhiều người từ nước ngoài về là những người đàng hoàng, có ý thức, và có ý định lập gia đình nghiêm túc, nhưng thực sự cũng có nhiều người chẳng ra gì cả, “dổm”, nhân cách thấp thành ra mới làm những việc không hay. Ðiều này nhiều khi các cô không biết hoặc biết nhưng vẫn chấp nhận. Trong số những người Việt kiều đó, có người bỗng dưng thấy mình “ngon” quá và có nhiều lựa chọn quá, và họ cũng sẽ kén chọn những cô gái trẻ đẹp. Những cô gái lớn hơn một vài tuổi như đã nói ở trên lại càng phải cạnh tranh nhiều hơn nữa. Nhiều cô vì tuyệt vọng mà sẽ chấp nhận lấy những người rất lớn tuổi hoặc những người rất “dổm” (Tôi không biết dùng chữ gì để diễn tả nên cứ phải dùng chữ ... “dổm”). Trong khi đó các cô gái mới lớn, dễ thương, hiền lành cũng lại bị lọt vào tay những anh chàng Việt kiều ... “dổm” (lại “dổm”). Phong trào lấy vợ ở Việt Nam phát triển mạnh đến nỗi nhiều người ở Việt Nam cứ thấy người từ nước người về là có ngay một niềm tin định sẵn anh ta về lấy hoặc kiếm vợ.

    Cũng vì môi trường nhiều phụ nữ và kinh tế nghèo nên nhiều cô gái ở mọi lứa tuổi đôi khi mong muốn có chồng và được đi nước ngoài quá mà hạ thấp mình xuống sẵn sàng chấp nhận mọi thứ và để cho những Việt kiều lựa chọn. Ở nước ngoài có nhiều cô đưa mình lên quá cao, trong khi ở Việt Nam nhiều cô lại hạ mình xuống quá thấp (để rồi qua Mỹ sẽ đưa mình lên lại(?)).

    Ðau lòng hơn nữa là việc lấy chồng người nước ngoài. Ðây là vấn đề thứ ba. Các cô gái ở Việt Nam vì nhiều lý do (khó lấy chồng, kinh tế, chồng nhậu nhẹt, lười biếng, đánh vợ, v.v.) đã trở nên tuyệt vọng và họ nghĩ cách duy nhất để giải quyết vấn đề là lấy chồng nước ngoài. Họ nhắm mắt lấy những người họ chưa bao giờ biết mặt. Họ chịu lấy những người già đáng tuổi cha của họ. Họ lấy những người không cùng một văn hoá, không cùng một ngôn ngữ. Họ lấy những người họ không biết từ đâu tới. Họ lấy những người họ không biết quá khứ như thế nào. Họ lấy những người không biết đã có vợ hay chưa. Họ lấy những người mà khi đặt chân tới đất nước của người chồng họ mới hiểu ra đó chỉ là một trong những người chồng của họ, ngoài những người “chồng” khác là anh em của người chồng chính thức họ phải phục vụ. Họ lấy những người mà khi đặt chân tới đất nước của người đó họ mới biết rằng đó không phải là chồng của mình mà một người khác cụt tay, cụt chân, mù mắt nào đó mới thực sự là chồng của họ. Họ lấy chồng để rồi sau đó họ mới biết họ chỉ là một người tôi tớ làm việc trong nhà và là một nô lệ tình dục phục vụ sinh lý cho chủ. Họ lấy chồng để rồi sau đó họ mới biết rằng họ chỉ là một trong những người “vợ” mà thôi. Họ lấy chồng để rồi sau đó họ mới biết rằng họ mới bị bán cho một tổ chức buôn người và ổ điếm. Họ lấy chồng để rồi họ nhận ra rằng sự trinh trắng của họ chỉ để dùng trong việc cầu chúc may mắn trong việc làm ăn. Họ lấy chồng để rồi họ nhận ra rằng sự giàu sang của người chồng chỉ là giả tạo. Họ lấy chồng để mà nhận ra rằng họ chỉ là công cụ để sinh con cho người khác. Họ lấy chồng để rồi họ nhận ra rằng họ vừa mới bị bệnh AIDS truyền sang từ người chồng. Họ lấy chồng để rồi họ nhận ra rằng những người chồng đó là những kẻ khốn nạn, tàn nhẫn, ghê tởm nhất, những con quái vật vô tính người nhất trên đời. Những cô gái trẻ, trong trắng, thơ ngây đó của nước Việt Nam lấy chồng để rồi nhận ra rằng họ mất tất cả, để rồi nhận ra rằng quê hương, cha mẹ, bạn bè của họ chỉ là một giấc mơ mà thôi chứ không có hy vọng trốn thoát để một ngày nào đó trở về gặp lại.

    Tôi thành thật khuyên và tôi tha thiết xin các cô gái trẻ ở Việt Nam hãy suy nghĩ thật kỹ và sáng suốt trong việc làm và trong quyết định của mình. Nếu không cẩn thận thì những nơi các chị, các bạn đang tới có thể là địa ngục đen tối nhất.

    Tình trạng đối với nhiều cô gái có vẻ bị đát như vậy, nhưng một hiện tượng khác làm cho nó tệ hại hơn nữa. Hiện tượng này liên quan tới sự “tiến bộ” đầu óc rất “láo cá” của nhiều người con trai. Xã hội Việt Nam trong thời gian qua thay đổi rất nhanh về lãnh vực kinh tế và mở cửa đón nhận văn hoá, tư tưởng mới từ nước ngoài. Vì vậy quan niệm về “sex” của những người trẻ cũng thay đổi rất nhanh. Có những bạn trẻ không coi việc trinh trắng quan trọng như xưa nữa và họ sẵn sàng quan hệ “sex” trước đám cưới. Ðây có thể là một thiệt thòi nữa đối với các cô gái, đặc biệt là các cô gái mới lớn và còn thơ ngây. Các cô gái đôi khi do ảnh hưởng của văn hoá Tây phương và sự thay đổi của thời đại mà dễ dàng hơn về việc đó và sẵn sàng quan hệ với bạn trai. Có thể cô gái nghĩ mình yêu anh ta và anh ta cũng yêu mình nữa (niềm tin này biết đâu sẽ thay đổi khi cô gái lớn hơn một chút). Ðồng thời các cô cũng có thể làm việc đó vì muốn chứng tỏ ta đây hiện đại, theo kịp Tây phương (Muốn chứng tỏ theo kịp Tây phương thì có nhiều cái hay của họ để mình học hỏi lắm. “Sex” không chứng minh được sự “hiện đại” đâu).

    Tôi không phản đối vấn đề “sex” trước hôn nhân nhưng tôi mong các bạn gái, đặc biệt là những cô gái mới lớn, nên cẩn thận, tìm hiểu kỹ người bạn trai của mình, và đừng để bị ảnh hưởng một cách có hại bởi những trào lưu văn hoá mới. Ðôi khi có những người con trai thích quan hệ xác thịt và khuyến khích sự quan hệ xác thịt chỉ vì họ thích điều đó. Ðơn giản vậy thôi. Họ không có nhiều tình cảm gắn bó như người con gái. Kết quả nhiều khi là “heart break”, nhiều khi phải phá thai khi mới 15, 16 tuổi, hoặc cả hai. Hoặc tệ hại hơn nữa là chán nản và lấy chồng người nước ngoài để rồi sa vào địa ngục.

    Nhưng điều tôi muốn nói chính ở đây là có những anh chàng cứ làm như mình là người hiện đại lắm. Họ khuyến khích cái mới, kêu gọi sự cởi mở. Họ muốn chứng minh đầu óc rộng mở của mình. Họ muốn chứng minh họ là người “văn minh” như phương Tây, và họ khuyến khích sự quan hệ. Tuy nhiên thực tế là đầu óc của họ vẫn không rộng rãi, không cởi mở hay hiện đại, và không công bằng. Họ vẫn muốn lấy những người vợ còn trinh trắng. Tôi nhận thấy đây là một sự suy nghĩ, một thái độ, và một sự lựa chọn rất “láo cá”. Ngoài mặt thì vẽ cho mình một hình ảnh trẻ trung hiện đại, chứng minh với mọi người là cởi mở, gây ấn tượng với các cô gái, chấp nhận cái mới, nhưng đó chỉ để đạt được những gì họ mong muốn và lợi dụng. Thực sự bên trong khi cần phải có một lựa chọn chính thức trong việc lập gia đình thì họ lại lòi cái đuôi bảo thủ, chọn lựa, và quan trọng sự trinh trắng. Thế có láo không?

    Nếu muốn chứng tỏ mình thì tôi kêu gọi các bạn thanh niên trẻ ở trong trường hợp này hãy chứng tỏ mình cho tới cùng và hãy là một người công bằng. Các bạn có đủ sức mạnh để làm việc đó không? Nếu tự hào là người hiện đại, không quan trọng sự trinh trắng, chấp nhận quan hệ trước hôn nhân thì hãy chấp nhận lấy một người vợ không còn trinh trắng đi, và đừng dùng bất cứ lý do biện bạch nào khác để bào chữa cho việc muốn lấy vợ còn trinh trắng của mình (Một lý do tôi biết có nhiều anh chành sử dụng là, “Anh không quan trọng vấn đề này, nhưng mẹ anh không chấp nhận”). Còn nếu không làm được thì đừng bao giờ đòi hỏi và đừng bao giờ chứng tỏ. Tôi tin rằng các bạn đủ thông minh và đủ khả năng sức mạnh để kiểm soát mình và làm được những điều tốt. Các bạn hãy giúp mình, giúp bạn gái của mình, và giúp xã hội của mình. Tương lai tốt xấu của xã hội ngày mai là do tác động của những gì đang xảy ra trong hiện tại. Hãy chứng tỏ mình là một người mạnh mẽ, thông minh, có trách nhiệm, và có lòng dũng cảm. Hãy chứng tỏ mình không phải là một người láo cá. Hãy là một người đàn ông.

    Trong khi đó các bạn gái nên nhớ trong đầu là môi trường xã hội Việt Nam hiện nay và tâm lý của con người Việt Nam hiện nay chưa sẵn sằng và chưa có khả năng chấp nhận sự tự do quan hệ sinh lý trước hôn nhân đâu. Các bạn đang ở trong giai đoạn xã hội có nhiều thay đổi lớn với những thử nghiệm mới. Trong quá trình thử nghiệm những cái mới này các bạn có thể trở thành nạn nhân. Tôi mong là các bạn luôn sáng suốt và có khả năng kiểm soát bản thân để không trở thành một nạn nhân.

    Chiến tranh và sự thay đổi môi trường xã hội quá nhanh đã tác động lên việc tình yêu, hôn nhân. Cán cân nam nữ ở trong nước và ngoài nước bị chênh lệch nhiều. Sự thay đổi xã hội cũng tạo nên những thế hệ thanh niên mới với những suy nghĩ mới. Những điều đó làm cho việc tìm kiếm người yêu và vợ chồng khó khăn hơn đối với nhiều người. Bên cạnh đó nó cũng đem tới một số vấn đề đặc biệt là đối với các cô gái ở Việt Nam như việc lấy chồng nước ngoài hay việc trở thành nạn nhân của quan hệ tình dục trước hôn nhân.

    Xã hội cần phải phát triển và mở rộng. Chắc chắn sẽ còn những tác động khác ảnh hưởng tới nhiều mặt trong đời sống. Chúng ta sẽ phải đối đầu với nhiều thay đổi và vấn đề trong xã hội. Ðể đối đầu một cách hữu hiệu và vạch ra một hướng đi ổn định mỗi chúng ta cần phải có nhiều sáng suốt, sức mạnh, lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm cũng như khả năng đối diện với chính mình. Sự mất cân bằng nam nữ và những tác hại nó đem lại là một đề tài lớn mà để loại bỏ chúng ta cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề. Tôi chỉ muốn được nhắc lại một lần nữa là dân tộc Việt Nam đã chứng tỏ được khả năng vượt qua những khó khăn để tồn tại. Tôi tin rằng mỗi một người chúng ta sẽ có đủ khả năng góp phần phát triển xã hội trong tương lai. Một trong những mặt chúng ta có thể góp phần xây dựng và phát triển là tạo một nền tảng xã hội, một nền tảng tâm lý, tình cảm cho tình yêu một cách đẹp đẽ, cao quý, công bằng, và có sự tôn trọng.

    Tôi đã không có một đề tài nào thơ mộng hơn hay lãng mạn hơn khi nói về vấn đề tình yêu với các bạn. Nhưng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ tự tìm được không những sự lãng mạn, thơ mộng mà còn là sự đẹp đẽ, trong sáng, công bằng, tôn trọng, và tin cậy trong chính tình yêu của mình.
  3. Chương 8 - Nền Tảng Ðược Xây Bằng Gì?



    MENTALITY

    Có một lũ người chỉ thích Y
    Không thì cũng lại Pharmacy
    Dối lòng, loè gái, ham tiếng rỗng
    Cả đám nhào vô Dentistry

    Chúng ngồi nghe nhạc rồi chê dở
    Music Studies chúng ngó lơ
    Nhún vai than nước sao nghèo quá
    Business, Econ. chúng tảng lờ

    Chúng rủ nhau cùng lập hội đoàn
    Làm Xã hội và làm Chính trị
    Sociology ... lù lu lú
    Hỏi Politics ... bí bì bi

    Chẳng biết nên cười hay khóc đây
    Lũ người thiển cận quá nhiều thay
    Thông minh không phải, ngu không hẳn
    Mentality chưa chết ngay? ​



    I. Mentality và Vài Vấn Ðề Xung Quanh Việc Học

    Ðó là bài thơ do một người quen viết. Tôi thấy rằng bài thơ có một giá trị nào đó và phù hợp với nội dung những điều tôi muốn nói trong chương này. Cho nên tôi xin được viết ra đây để chúng ta cùng đọc, cùng suy gẫm và phân tích một góc cạnh của sự suy nghĩ của người Việt Nam. Hy vọng rằng bài thơ này sẽ đưa đến quý vị và các bạn một cái nhìn khá mới của một cá nhân mà tôi chưa được thấy nói tới nhiều trong xã hội chúng ta. Cũng hy vọng nhờ đó chúng ta sẽ nhạy cảm hơn đối với những sự việc xung quanh và những suy nghĩ của con người trong xã hội.

    Tôi nhận thấy rằng nhìn chung những điều tác giả muốn nói phản ánh khá chính xác cái “Mentality” của một số người. Tôi đồng ý với phần lớn những gì tác giả muốn nói. Tuy nhiên có những chỗ tôi không hoàn toàn đồng ý vì bài thơ có vẻ tổng quát hóa, và tôi nhận thấy bài thơ có lẽ hơi “nặng” ví dụ như cách dùng chữ “lũ”. Người đọc, nhất là những người học về các ngành như Dược, Nha, Y sẽ trở nên bực mình và tác dụng xây dựng mà tác giả muốn đưa đến mọi người sẽ trở nên vô dụng. Tuy nhiên kèm theo bài thơ tác giả có nói thêm một số suy nghĩ và giải thích để mọi người hiểu rõ hơn ý của mình. Trước khi lần lượt liệt kê những suy nghĩ và giải thích đó ra, tôi xin được giải thích ý nghĩa của chữ “Mentality”.

    “Mentality” theo định nghĩa từ điển là cái nhìn hay cách nhìn, cách suy nghĩ của con người. Nhưng theo tôi hiểu và cũng theo ý của tác giả thì chữ “Mentality” ở đây cũng gần với chữ “Mindset”. “Mindset” có nghĩa là một thái độ tâm lý đã được định sẵn để con người dựa vào đó mà đánh giá, quyết định, phản ứng, hoặc định hướng. Tôi và chắc quý vị và các bạn cũng nhận thấy rằng cách suy nghĩ hoặc thái độ tâm lý được định sẵn đó bị ảnh hưởng và được uốn nắn bởi môi trường sống, của sự giáo dục, của nền văn hoá, của phong tục tập quán, và cách suy nghĩ chung của một dân tộc. Những yếu tố văn hoá xã hội đó góp phần hình thành cách suy nghĩ và thái độ tâm lý của con người; đồng thời những thái độ tâm lý và cái nhìn lại góp phần giữ vững những yếu tố văn hoá xã hội đã tạo nên cách suy nghĩ đó.

    Do được hình thành trong suốt một quá trình sống và phát triển của con người trong xã hội và bị áp lực của văn hoá xã hội cũng như của mọi người xung quanh mà “mentality” được tạo thành rất vững chắc trong đầu óc con người. “Mentality” không dễ gì thay đổi được. Và muốn ảnh hưởng “mentality” cần phải có rất nhiều yếu tố và thời gian. Một vài yếu tố có thể kể đến là sự phát triển của xã hội, sự phát triển của kinh tế, chính trị. Những sự phát triển này sẽ đưa đến những nhu cầu đòi hỏi mới trong xã hội cũng như đem lại những suy nghĩ mới, tầm nhìn mới cho mọi người. Nhờ đó mà con người sẽ “adjust” cái “mentality” của họ cho phù hợp với môi trường và để tồn tại. Một đặc tính tôi nghĩ rất cần thiết để một người có thể “adjust” cái “mentality” hay “mindset” của mình là sức mạnh. Sức mạnh như đã nói ở chương trước rất quan trọng. Không có sức mạnh tinh thần thì không dễ gì thay đổi được những suy nghĩ cách nhìn đã in sâu vào tim óc của một người hay tim óc dân tộc qua nhiều thế hệ. Có thể nhờ sự sáng suốt mà con người sẽ nhận ra những tác hại của một “mentality” hoặc “mindset”, nhưng nếu không có sức mạnh thì không thể nào sửa đổi “mindset” đó được.

    Một ví dụ về “mentality” là sự suy nghĩ của các vị vua chúa ngày xưa và các người lãnh đạo đất nước ngày nay ở một số nước Á châu trong đó có Việt Nam là họ là “cha chú” của mọi người. Họ ở vị trí ra lệnh và ban ân huệ. Một ví dụ khác mà sự hiện diện của nó trong xã hội vẫn còn tồn tại tới ngày nay ở một vài gia đình là vai trò lãnh đạo của người bố. Quyền lực trong gia đình nằm trong tay người bố và mọi người phải lắng nghe và phục tùng. Một ví dụ nữa là tâm lý thích học những ngành học Nha, Y, Dược ở Việt Nam. Tất cả những “mentality” và “mindset” kể trên không dễ gì mà ngày một ngày hai bỏ đi được.

    Tôi chỉ nói sơ về “mentality” vậy thôi. Sau đây là một số suy nghĩ của tác giả bài thơ cùng với nhận xét của tôi về những suy nghĩ đó.

    1. Tác giả chỉ phê phán cái “Mentality” của con người. Tác giả đồng ý và khuyến khích những người có sự ham thích thực sự trong những lãnh vực nói ra trong bài thơ.

    Tôi đồng ý với tác giả là cái “mentality” trên không tốt hoặc không còn tốt nữa và nó cần phải được loại bỏ. Tôi cũng đồng ý với tác giả là không nên “generalize”. Không phải ai cũng học những ngành trên vì những lý do không đẹp lắm và không tự nhiên lắm. Cũng có những người học vì họ thực sự ham thích và đó là đam mê của họ. Những người như vậy thì cần được khuyến khích. Tuy nhiên điều cần để ý ở đây là chữ “ham thích thực sự”. Phải là “thực sự”. Ðể xác định “thực sự” thì hơi khó tại vì có những người ham thích “thực sự” nhưng sự ham thích đó đôi khi cũng đã bị ảnh hưởng bởi sự suy nghĩ, văn hoá, áp lực của môi trường họ sống và lớn lên rồi. Tôi đã hỏi rất nhiều người (dĩ nhiên đây chỉ là một “statistical sample” nhỏ thôi) về lý do tại sao họ thích học những ngành kể trên thì 100% trả lời là tại vì họ thích, vì có “interest”. Tôi nghi ngờ tính trung thực của những câu trả lời đó. Câu trả lời đó là điều mọi người nói và theo thống kê thì chúng ta phải chấp nhận. Tuy nhiên tôi không tin vì sự vô lý của nó. 100% số người mà đều có cùng một sở thích thì hơi lạ. 100% có sở thích giống nhau và lại là sở thích giới hạn trong cùng một vài lãnh vực thì vô lý quá. Nếu vậy thì đầu óc bao nhiêu con người đều đơn điệu và giống nhau như vậy hay sao? Ðây là điều khó có thể có được và tin được.

    2. Tác giả tỏ ý là khác với Việt Nam nơi mà số lượng ngành học và môi trường để áp dụng những ngành học có rất nhiều giới hạn, ở Mỹ những lãnh vực học hỏi và những ngành chuyên môn rất nhiều thì tại sao số người tập trung vào Pharmacy, Dentistry, hay Medicine lại nhiều quá.

    Tôi đồng ý với nhận xét này. Xã hội Việt Nam là một xã hội chưa phát triển nên số lượng những ngành học rất giới hạn. Kinh tế chưa phát triển thì chính phủ và người dân sẽ phải tập trung vào việc học và giáo dục những ngành có tính chất thực tế và dễ áp dụng để kinh tế đất nước được phát triển và sinh viên dễ kiếm việc làm sau khi ra trường để rồi có được cuộc sống vật chất cá nhân bảo đảm.

    Những ngành học ở Việt Nam bị giới hạn cũng vì chúng ta chưa có khả năng sáng tạo ra những ngành học. Hầu hết những ngành học trên thế giới hiện đại đều phát xuất từ phương Tây. Phương Tây là nơi tiên phong trong những việc nghiên cứu về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Qua thời gian họ đã tạo dựng nên được những ngành chuyên môn có tổ chức, có kỷ luật, phương pháp, và các chuyên gia trong những lãnh vực đó. Nhờ vậy môi trường học và giảng dậy của họ rất đa dạng.

    Xã hội phương Tây cũng phát triển hơn Việt Nam nên người ta có điều kiện, có sự lựa chọn, và có tự tin hơn trong việc chọn ngành học. Ở xã hội tiên tiến có rất nhiều ngành học bổ ích, nhiều lãnh vực nghiên cứu sâu xa mà học sinh có thể học để rồi ra làm việc trong những lãnh vực đó và bảo đảm được cuộc sống. Tôi cũng tự hỏi tại sao số lượng người Việt tập trung vào những ngành trên lại nhiều như vậy ngay cả khi chúng ta đã sống trong xã hội Tây phương? Tôi nghĩ tới một vài lý do rồi lại không thoả mãn với những lý do đó, cho nên tôi vẫn không có câu trả lời chắc chắn. Có lẽ phải nhìn vào văn hoá của chúng ta, nhìn vào cái “mentality”, “mindset” của con người, và mọi người chúng ta cũng như các anh chị học các ngành học trên phải tự nhìn vào chính bản thân mình để tìm ra câu trả lời.

    3. Những người học các ngành trên mà làm những việc về chính trị, văn hoá, xã hội thì không những không hợp lý, không có hiệu quả, mà còn có thể sai lạc và có hậu quả tai hại. Tai hại dễ xảy ra vì truyền thống người Việt Nam trọng vọng những ngành này một cách quá đáng. Vì vậy nhiều người lắng nghe và tin tưởng vào những người học các ngành này ngay cả khi họ đang làm hoặc nói về những lãnh vực không thuộc chuyên môn của họ.

    Nhận xét này tôi thấy rất đúng và rất quan trọng. Dĩ nhiên người học hoặc được rèn luyện trong lãnh vực nào thì nên làm việc trong lãnh vực đó. Ðiều này hợp lý vì những người học các ngành chuyên môn sẽ được đào tạo một cách chuyên môn và có cơ hội, điều kiện thu thập kiến thức trong lãnh vực đó. Ðặc biệt là hệ thống đào tạo và giáo dục bên Mỹ rất chuyên môn, rất có phương pháp, rất có tổ chức khoa học, và rất thực tế hữu hiệu. Trong môi trường đào tạo như vậy con người được đối diện và tìm hiểu nhiều lý thuyết khác nhau, nhiều sự suy nghĩ khác nhau và có cơ hội bày tỏ, phân tích, tranh cãi suy nghĩ của mình. Họ được học hỏi từ những chuyên gia, giáo sư giỏi với kinh nghiệm làm việc thực tế hoặc kinh nghiệm phân tích và nghiên cứu. Không những vậy phần lớn học sinh trong thời gian đi học cũng đã làm việc và học hỏi kinh nghiệm từ môi trường thực tế. Sau đó là thời gian làm việc một cách “professional” trong môi trường “professional” trong lãnh vực họ được đào tạo.

    Một điểm rất quan trọng ở đây là khi đã chọn ngành học và quyết định theo đuổi làm việc trong một lãnh vực nhất định thì nó cho thấy người đó đã tin tưởng có khả năng trong lãnh vực đó, yêu thích công việc đó, và sẽ đầu tư hết công sức thời gian trong việc học hỏi, nghiên cứu, đọc sách, và làm việc trong lãnh vực họ chọn (trừ trường hợp chọn ngành học vì những lý do khác chứ không phải do ham thích thực sự). Vì vậy mà họ trở nên tài giỏi trong công việc họ làm.

    Có một số người nghĩ rằng đôi khi không cần sự đào tạo chính thức, họ vẫn có thể thành công được. Những người này tin tưởng vào cái khiếu của họ. Họ cũng tin tưởng vào kinh nghiệm qua làm việc thực tế sẽ giúp họ trở nên hữu hiệu hơn trong việc làm. Tôi đồng ý với điều này và cũng đồng ý kinh nghiệm đôi khi còn quan trọng hơn cả sự giáo dục trong nhà trường. Nhưng nếu có kiến thức giáo dục căn bản lẫn với kinh nghiệm thực tế và cái khiếu thì dĩ nhiên con người sẽ càng hữu hiệu hơn nữa. Thực tế cũng đã chứng minh có rất nhiều chính trị gia, nhiều nhà thương gia đã thành công nhưng họ không trải qua một trường lớp nào cả. Tuy nhiên chúng ta cần phải nhận biết một điều là những người này đã bỏ hết thời gian, đầu tư công sức, trí óc của họ trong việc làm của họ, và họ tự học hỏi không ngừng trong quá trình làm việc để đạt được mức độ thành công như vậy. Nói một cách khác đó là cuộc sống, là tâm huyết, là việc làm “full time” của họ. Tuy nhiên có thành công đi nữa thì họ cũng chỉ thành công trong một số ngành nhất định mà thôi chứ không phải trong tất cả các ngành “professional” được, và sự thành công này cũng rất hiếm. Ðồng thời để đạt được thành công đó bên cạnh họ phải có rất nhiều những người tài giỏi được rèn luyện trong môi trường giáo dục chuyên nghiệp.

    Còn trường hợp của chúng ta ở hải ngoại thì sao? Qua quan sát tôi nhận thấy rằng có nhiều người làm việc về văn hoá, chính trị, xã hội chỉ là việc phụ mà thôi. Một số người làm vì có lòng muốn làm, trong khi một số lớn khác làm chỉ vì ... vui mà thôi (hoặc những lý do khác như ... muốn kiếm người yêu). Vì những lãnh vực này không thuộc chuyên môn của họ, nên họ không có nhiều hiểu biết về chúng. Những kiến thức có được là do kinh nghiệm làm việc một cách không “professional” và học hỏi qua lại giữa những người làm việc chung không “professional” trong một tổ chức, một môi trường cũng không “professional” của họ. Họ không được “expose” tới những kiến thức và sự “diversity” trong môi trường học và làm việc chính thức, chuyên nghiệp, và đa dạng. Tầm nhìn xa của họ bị giới hạn. Kiến thức và cách làm việc của họ bị giới hạn trong phạm vi nhỏ đó với những người có tầm nhìn và suy nghĩ tương tự như họ. Vì đây chỉ là công việc thứ yếu nên họ không đầu tư hết sức lực, thời gian, và tâm huyết vào việc làm. Tổ chức làm việc không “serious”, không “professional”, và không vững chắc. Thành viên tham gia để rồi vài tháng sau không còn thấy mặt (điều này đặc biệt đúng với những người muốn kiếm người yêu sau khi đạt được mục đích). “Turnover rate” có thể rất cao. Không có “commitment”. Họ gặp nhau không thường xuyên và hoạt động không liên tục. Những chương trình làm việc không to lớn và phức tạp. Dầu có cố gắng cách mấy đi nữa thì những người này cũng không thể thành công và làm việc hữu hiệu bằng những người thực sự được giáo dục, rèn luyện trong môi trường chuyên nghiệp, làm việc trong môi trường chuyên nghiệp và có quyết tâm, đam mê trong công việc của họ. Nếu có những trường hợp thành công đối với những người học một ngành và làm một ngành khác thì số lượng người thành công cũng rất nhỏ theo tôi nghĩ, và mức độ thành công, tầm ảnh hưởng cũng không lớn và sâu.

    Nhìn vào trong nước thì sao? Thử lấy lãnh vực chính trị làm một ví dụ, ta sẽ thấy rằng phần lớn các nhà lãnh đạo chính trị trong nước đều đạt được vị trí của họ qua kinh nghiệm làm việc chứ không qua giáo dục chính thức (bây giờ, 2010, đã đỡ hơn, nhưng trước đây hầu hết những người này là những người lính và nông dân). Mặc dầu vậy kinh nghiệm chính trị của họ cũng bị giới hạn trong sự gò bó, nhỏ hẹp, và cứng nhắc. Nếu có được giáo dục chính thức thì sự giáo dục cũng chỉ giới hạn trong lãnh vực rất chuyên môn và tập trung là chính trị mà thôi. Hơn nữa, ngoài sự tập trung vào chính trị và một vài ngành nhất định khác, sự giáo dục chính trị trong nước cũng bị gò bó trong một khuôn khổ không lớn lắm. Trong khi đó chúng ta biết rằng để làm việc trong một ngành, một người cần phải được giáo dục trong rất nhiều những lãnh vực khác nhau nhờ vậy mà trí óc và kiến thức của họ phát triển đa dạng và phong phú hơn. Nhờ vậy cái nhìn của họ rộng hơn, sâu hơn, và uyển chuyển hơn. Điều đó sẽ giúp họ làm việc hữu hiệu hơn.

    Sự giáo dục chính trị rất tập trung và chuyên môn ở trong nước cũng có giá trị của nó chứ không phải không. Nhờ cách giáo dục này cũng như kinh nghiệm làm việc ngoài đời mà các nhà chính trị trong nước cũng đạt được kết quả đáng kể là khả năng ổn định chính quyền của họ khá cao. Tuy nhiên, vì thiếu sự giáo dục chuyên nghiệp và “exposure” ra thế giới rộng lớn mà cách làm việc, tổ chức trong nước chưa đạt hiệu quả cao nhất và không khoa học, đồng thời tầm nhìn xa và rộng cũng như sự uyển chuyển và sáng tạo trong cách suy nghĩ và làm việc còn ở mức rất thấp. Ðó là một trong những lý do làm đất nước Việt Nam chưa phát triển.

    Xin trở lại điều tác giả bài thơ nói về hậu quả tai hại của việc làm và học tréo cẳng ngỗng ở trên. Như đã phân tích, kết quả của sự không chuyên nghiệp là sự không sâu sắc, không xa, không rộng, không sáng tạo, không vững chắc bền lâu, không hữu hiệu, v.v. Kết quả là đường hướng, mục tiêu, chiến lược, phương cách làm việc đưa ra sẽ không phải hữu hiệu nhất. Không những vậy đôi khi những chiến lược đưa ra còn sai hoàn toàn hoặc có hại mà ngay cả những người vạch chiến lược và những người thừa hành cũng không hay biết.

    Tác giả cũng nói tới tác hại có thể dễ xảy ra vì truyền thống người Việt trọng vọng những ngành Y, Dược, Nha một cách quá đáng và sẽ lắng nghe những người này. Tôi chỉ đồng ý một nửa với ý kiến này. Ðúng là người Việt trọng vọng những ngành này quá đáng và sẽ lắng nghe và dễ dàng tin tưởng một người bác sĩ đang phân tích về chiến lược kinh tế hoặc phê phán đường lối chính trị, chính sách tôn giáo. Tôi cũng để ý là có những người nghe và tin theo có thể nói là mù quáng chỉ vì người đang nói có bằng cấp Y hoặc Dược vì họ nghĩ rằng những người có được những bằng cấp này là có khả năng trong những lãnh vực khác. Tuy nhiên tôi cũng không đồng ý với tác giả vì tôi nghĩ rằng con người có đủ khả năng nhận ra được điều gì sai điều gì đúng, điều gì hợp lý và điều gì không hợp lý. Tôi tin rằng con người có đủ khả năng lắng nghe và tin tưởng vào những gì đúng mà thôi. Họ chỉ tin tưởng và lắng nghe những lý luận và bằng chứng chứ không phải họ lắng nghe người nói. Ðiều này sẽ đặc biệt đúng hơn nữa khi ngày nay chúng ta, nhất là thế hệ trẻ, nhận ra được giá trị của những ngành nghề khác nhau và hiểu được thế nào là “professionalization” và “specialization.” Tôi tin tưởng sự tôn trọng quá đáng như tác giả nói ở trên chỉ tồn tại trong thế hệ lớn tuổi và một số nhỏ người trẻ tuổi mà thôi. Theo thời gian sự thiên vị này sẽ giảm dần.

    Cũng có những trường hợp người không chuyên môn có thể phân tích, hay bàn thảo, “nói” về một vấn đề, nhưng nhìn chung trong đa số trường hợp thì chỉ những người chuyên môn mới có những phân tích chính xác và sâu sắc. Hơn thế nữa phân tích là một chuyện và tiến hành công việc hoặc đưa ra giải pháp đường hướng là một chuyện khác. Trong việc tiến hành công việc và đưa ra giải pháp đường hướng, chính sách thì chắc chắn chỉ những người chuyên môn mới là những người có khả năng.

    4. Xã hội phát triển là nhờ “professionalization” và “specialization.” Ai làm việc nấy và mọi người phải biết lắng nghe ý kiến của người chuyên môn. Mọi người phải biết giới hạn của mình.

    “Professionalization” và “specialization” hiện diện rất rõ trong xã hội phương Tây, và đây chính là điều làm cho xã hội của họ phát triển. Nhờ “professionalization” và “specialization” mà khả năng và kiến thức của những người “professional” tăng cao và kết quả của việc họ làm cũng tăng cao. Tôi nghĩ đây là một điều dễ hiểu.

    Tôi đồng ý với tác giả bài thơ là mọi người phải biết giới hạn của mình và phải biết lắng nghe ý kiến của người chuyên môn, và tôi nghĩ dĩ nhiên ai cũng biết điều đó. Mỗi người được giáo dục và có khả năng làm việc hoặc kinh nghiệm làm việc trong một lãnh vực nhất định. Mọi người phải biết lắng nghe ý kiến lẫn nhau và nhất là phải biết lắng nghe ý kiến của người chuyên môn, người mà người Mỹ hay nói là có “authority” trong lãnh vực của họ. Không ai nên tự coi mình quá cao và từ chối lắng nghe. Ðôi khi chúng ta còn phải biết chấp nhận ý kiến trái ngược hoặc có vẻ kỳ lạ nữa vì ý kiến đó là từ một người chuyên môn, có “authority.” Người chuyên môn biết, và vấn đề kỳ lạ chỉ vì chúng ta chưa biết tới mức mà thôi. Tôi nghĩ đây là một điểm quan trọng. Có những điều chúng ta cảm thấy kỳ lạ hoặc không “make sense” cũng chỉ vì chúng ta chưa biết tới nơi tới chốn mà thôi, tại vì những điều đó không thuộc lãnh vực học hành hoặc làm việc chuyên môn của chúng ta.

    5. Tác giả nghĩ xã hội cần phải được phát triển đồng đều. Nếu chỉ tập trung vào một số ngành nhất định thì xã hội sẽ bị mất cân đối.

    Tôi cũng cùng nhận xét với tác giả về điều này. Càng nhiều ngành phát triển trong xã hội thì xã hội sẽ được phát triển cân bằng. Mặc dầu có thể có một số ngành được coi là mũi nhọn và nên tập trung để phát triển hơn, nhưng chúng ta không nên có những ngành mà ai cũng ... lao đầu vào học trong khi đó có những ngành ai cũng ... trốn tránh. Chính vì sự lao đầu và trốn tránh này mà ở Việt Nam không nhiều người học kinh tế, kinh doanh (trước kia), không ai học xã hội học, tâm lý học, không ai học (và không có điều kiện học) chính trị, không ai học khảo cổ, không ai học nhân chủng học, ngôn ngữ học, không ai học về chính sách giáo dục, không ai học về môi trường, v.v. Vì vậy mà kinh tế Việt Nam nghèo nàn, chính trị lạc hậu, nền giáo dục rối tung, nguồn gốc dân tộc chưa được rõ ràng, chính sách xã hội chưa tối ưu, nghệ thuật, âm nhạc, phim ảnh yếu kém, triết học không hiện hữu, ngoại thương, ngoại giao, luật pháp còn sơ khai, ngôn ngữ không có hệ thống kỷ luật, v.v. Cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài cũng vậy. Cán cân thiên về Nha, Y, Dược và Computer Science, Ðiện Tử. Cũng may là nhờ sống trong xã hội Mỹ mà cán cân này của cộng đồng không tác hại nhiều đến toàn thể xã hội Mỹ nói chung vì những người tập trung vào những ngành xã hội và nghệ thuật bên Mỹ rất nhiều. Tuy nhiên có một điều cần phải nhận ra là đôi khi vì nhu cầu thực tế chính đáng của cuộc sống mà chúng ta cần phải chọn những ngành thực dụng.

    Một điều thú vị xảy ra ở Việt Nam là vì sự “lao đầu” này mà số lượng bác sĩ khá nhiều. Đây lại là điều tốt cho Việt Nam. Vì sự phát triển chưa cao ở Việt Nam nên số người mắc bệnh quá nhiều, và vì vậy chúng ta lại càng cần nhiều bác sĩ. Thực sự so với số lượng bệnh nhân thì số bác sĩ ở Việt Nam vẫn thiếu. Mặc dầu vậy do nhiều lý do khác nhau một số lớn bác sĩ được đào tạo ra lại không kiếm được việc, không muốn làm việc, và trở nên thất nghiệp trong khi đó hàng ngàn bệnh nhân đang chờ được giúp đỡ. Ðây là một điều trớ trêu và đáng buồn.

    6. Tác giả nhận xét rằng nhiều người hay than phiền về Kinh tế, Xã hội, Chính trị, Văn hoá nhưng lại không dám học hỏi, nghiên cứu và làm việc trong những lãnh vực này.

    Ðiều này là do quan sát của tác giả. Tôi cũng thấy như vậy qua kinh nghiệm cá nhân. Có rất nhiều người, nếu không muốn nói là hầu hết mọi người, trong chúng ta chỉ biết chê bai, than phiền, phê phán, … những vấn đề Kinh tế, Xã hội, Văn hoá, Chính trị, nhưng không ai chịu học và làm việc (xin nhấn mạnh học và làm việc một cách "professional", nghiêm túc, hiệu quả, có tác động rộng lớn, và văn minh) trong những lãnh vực đó. Phần lớn mọi người chỉ biết "ngồi đó" phê phán và trông đợi người khác sẽ học và làm việc trong những lãnh vực trên để … giúp nước … còn chính mình lại chọn những ngành nghề khác. Không biết quý vị và các bạn đọc giả có gặp những trường hợp như vậy hay không?

    7. Tác giả phê phán truyền thống tôn trọng một cách thiên vị và vô căn cứ một số ngành học trong xã hội Việt Nam. Tác giả tỏ ý khó chịu về việc không đánh giá đúng mức, và không có khả năng thấy được giá trị và tầm quan trọng của nhiều ngành học của một số người.

    Vấn đề này là di sản của một nền văn hoá nghèo nàn, chậm tiến, và khép kín (Mặc dầu văn hóa chúng ta cũng có những nét “rich” như đã nói ở Chương một, hai, và bốn). Ðiều này vẫn còn tồn tại hiện nay, nhưng như đã nói trước kia, tôi tin rằng cái “mentality” này sẽ thay đổi theo thời gian khi con người phát triển hơn và nhận ra được giá trị của nhiều lãnh vực kiến thức. Thế hệ trẻ sẽ từ từ loại bỏ “cái nhìn thiên vị và vô căn cứ” cũng như cái “không có khả năng thấy được giá trị” đó di.

    8. Có rất nhiều ngành cần thiết cho cuộc sống và phát triển xã hội như Kinh tế (Economics), Kinh doanh (Business), Luật (Law), Chính trị (Political Science), Public Policy, Xã hội (Sociology), Ngoại giao (Political Science/International Affairs), hoặc những ngành như Âm nhạc, Ðiện ảnh. Ðây là những ngành có tác dụng xây dựng, phát triển, và cách mạng hóa xã hội rất lớn. Những ngành học kể trên rất thú vị, nhiều thử thách, và đòi hỏi trí thông minh rất cao.

    Ðây cũng là một điểm tôi thấy rất quan trọng. Nếu chúng ta nhìn lại và suy nghĩ kỹ về những ngành học được liệt kê ở trên thì sẽ hiểu rằng chúng chính là những ngành thực sự có tính chất xây dựng, phát triển, và cách mạng hóa xã hội rất lớn. Ðây là những ngành có tầm với xa và sâu tới mọi tầng lớp con người và tới số lượng lớn con người. Những ngành này có mãnh lực ảnh hưởng thay đổi xã hội rất lớn. Những ngành này có thể đưa xã hội tới đỉnh cao và thành công. Ðây là những ngành tạo nên nền tảng của một xã hội và những ngành khác được phát triển dựa trên nền tảng này, và những con người sống trên nền tảng này. Những ngành này là căn bản của xã hội và của một đất nước. Chúng định ra phương hướng phát triển trong đất nước và sự liên hệ của đất nước với thế giới bên ngoài.

    Tôi cũng đồng ý đây là những ngành “thú vị, nhiều thử thách, và đòi hỏi trí thông minh rất cao”. Cứ nghĩ về chúng thì sẽ thấy. Là một doanh gia, một chính trị gia, luật sư đòi hỏi sự thông minh, óc chiến lược, khả năng ứng biến rất cao. Cũng tương tự như vậy, những nhà xã hội học, sử học, tâm lý học, nhân chủng học cần phải có tầm nhìn xa và rộng, óc nhạy cảm cao, khả năng quan sát, phân tích bén nhạy. Còn trong lãnh vực âm nhạc nghệ thuật, điện ảnh thì chúng ta sẽ thấy rằng trí tưởng tượng, óc sáng tạo, tầm nhìn, trí thông minh, nhạy cảm cao là những điều rất cần thiết. Tất cả những ngành này đòi hỏi kiến thức rộng lớn, khả năng ngôn ngữ và giao tiếp cao, và đây là những điều rất khó và nhiều thách đố chứ không phải dễ hoặc đơn điệu như nhiều người lầm tưởng.

    Ðây là những ngành có ảnh hưởng trực tiếp lên những lãnh vực khác và quyết định số phận của một đất nước, xã hội. Ðây là những lãnh vực có lẽ dành cho những người có những ước mơ lớn. Tôi nói về những giá trị của các ngành này chỉ để bàn về điểm được tác giả bài thơ nêu lên “thú vị, nhiều thử thách, và đòi hỏi trí thông minh rất cao”. Những ngành học khác dĩ nhiên cũng đòi hỏi những tính chất thông minh, sáng tạo, phân tích cao, v.v. ở những mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng ngành.

    9. Công việc trong những ngành học kể trên cũng bảo đảm một đời sống kinh tế vững chắc.

    Ðiều này chỉ đúng ở bên Mỹ mà thôi và chỉ đúng một phần ở Việt Nam. Ở Mỹ không những cuộc sống kinh tế được bảo đảm mà làm việc trong những lãnh vực được đề cập tới trong điểm 8 nói trên còn có thể đưa con người lên những thành công về vật chất rất cao. Việt Nam chỉ có cơ hội cho người dân thành công trong một số lãnh vực mà thôi, chứ Việt Nam chưa có điều kiện và không thực tế để phát triển và quảng bá tất cả những ngành nghề nói trên.

    10. Thanh niên trẻ hãy học những gì mình thích và không nên bị áp lực của gia đình, họ hàng, cộng đồng, hay bạn bè mà chỉ tập trung vào một số lãnh vực nhất định. Hãy chứng tỏ mình là người tự tin và có khả năng thành công. Cha mẹ không nên gò ép con cái học theo những gì cha mẹ thích.

    Tôi hăng hái khuyến khích các bạn trẻ hãy học những gì mình thích và nghĩ là có khiếu hoặc tin tưởng có khả năng thành công cao. Tôi tin rằng với niềm đam mê việc gì cũng dễ thành công. Tuy nhiên tôi cũng biết rằng đời sống thực tế đôi khi lại là điều quan trọng nhất, thành ra chúng ta cũng cần phải nghĩ tới những ngành học khi ra trường dễ kiếm việc và lương khá. Ðó là những điều cần nghĩ tới khi quyết định chọn ngành học. Dù chọn ngành gì đi nữa tôi cũng mong rằng các bạn đừng bị áp lực và ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, cộng đồng nhiều quá. Ðừng chọn Y khoa vì ba mẹ nói rằng con của bà hàng xóm hoặc con của chú, bác, cô X, Y, Z đang học Y. Ðừng chọn Dược vì những người bạn của mình ai cũng học Dược. Ðừng chọn Nha vì danh hiệu của nó nghe “đã đã” và có thể về lại Việt Nam “khoe” với bạn bè cũ. Khi bị ảnh hưởng như vậy thì mình không còn là chính mình nữa, và mình không còn gì đặc biệt duy nhất nữa. Hay nhất là mình là mình, mình là người tự tin và cố gắng hết sức để thành công dù là lãnh vực chuyên môn gì đi nữa.

    Tôi cũng nghĩ cha mẹ không nên ép buộc con cái học theo ý mình. Ðó là cha mẹ thích chứ không phải con cái thích. Cha mẹ không thể biết và hiểu con cái bằng chính bản thân những người con. Nếu cần, những người con sẽ xin sự khuyên bảo. Cha mẹ cũng nên khuyến khích con cái tìm kiếm sự khuyên bảo của cha mẹ hoặc của những chuyên gia tâm lý. Cha mẹ chỉ nên cho con cái những lời khuyên và hướng dẫn tốt nhất với khả năng của mình mà thôi, và sau đó hãy để người con tự chọn lựa. Sau đó cha mẹ hãy khuyến khích và ủng hộ con mình trong quá trình thực hiện ước mơ của họ. Tôi nghĩ rằng khi muốn con cái đi theo hướng cha mẹ muốn là cha mẹ đang thương chính mình chứ không phải đang thương con cái.

    Ðể thấy được tầm quan trọng và giá trị to lớn của nhiều ngành học, cũng như để thấy được việc tập trung vào học những ngành nhất định có tác hại như thế nào chúng ta chỉ cần suy nghĩ và phân tích tình huống sau đây xem sao. Việt Nam và một hoặc vài nước lân bang có tranh chấp và tranh cãi về lãnh thổ, đường biên giới quốc gia, hoặc tranh chấp lãnh hải và những vùng biển. Hãy thử nghĩ xem những quốc gia đó và Việt Nam sẽ làm gì.

    Tôi biết rằng những quốc gia đó sẽ có rất nhiều những nhà nghiên cứu, những chuyên gia, những giáo sư về Khảo Cổ Học, Nhân Chủng Học, Dân Tộc Học, Xã Hội Học, Ngôn Ngữ Học; những Luật Sư với kiến thức về Luật Quốc Tế (International Laws) trong những lãnh vực Lãnh Thổ và Lãnh Hải; những nhà nghiên cứu, giáo sư về Ðịa Lý Môi Trường, về Lịch Sử Ðịa Lý, và Ðịa Lý Chính Trị, v.v. sẽ đứng ra phân tích, tranh cãi, lý luận, và đưa ra những bằng chứng thuyết phục trước Việt Nam và quốc tế để chứng minh rằng họ đúng và những điều Việt Nam đòi hỏi là sai trái.

    Họ sẽ có những giáo sư và chuyên gia đi tới những trường đại học lớn trên thế giới (hoặc đang giảng dậy trong các trường đại học đó) để nói chuyện trước những giáo sư/nhà nghiên cứu (những người ảnh hưởng tới “policy making” và Giáo Dục) và trước sinh viên (những người sẽ làm “policy” trong tương lai). Họ sẽ có những buổi hội thảo với những tổ chức khoa học, tổ chức chính trị phi chính phủ (những người ảnh hưởng tới “policy” hiện tại). Họ sẽ có những buổi hội thảo với chính phủ các nước (những người làm “policy” hiện tại) để chứng minh và thuyết phục. Còn rất nhiều việc khác nữa họ có thể làm được. Chỉ có đi dự những buổi hội thảo như vậy quý vị và các bạn mới có thể thấy được mức độ ảnh hưởng của chúng to lớn như thế nào đối với giới giáo dục, nghiên cứu, và chính trị thế giới.

    Trong khi đó Việt Nam sẽ làm gì? Ðối với trong nước, có rất nhiều ngành nêu ra ở trên không tồn tại và không có chuyên gia. Một vài ngành nếu có thì cũng không được nghiên cứu sâu rộng. Các chuyên gia, nhà nghiên cứu không nhiều và không được công nhận hoặc nể phục trên trường quốc tế, không có tiếng nói, ảnh hưởng trên thế giới. Nếu có những nhà nghiên cứu giỏi đi nữa thì số lượng quá nhỏ bé. Cuối cùng là chúng ta chẳng làm được gì. Chúng ta sẽ không có những buổi hội thảo, không có những chuyên gia để tranh cãi, chứng minh, không có những buổi giảng dậy trong các trường đại học, v.v. Kết quả là chúng ta sẽ thất bại trong sự tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải đó mà thôi.

    Ngoài nước thì sao? Chúng ta chẳng có bao nhiêu chuyên gia, giáo sư trong những lãnh vực đó cả. Nhưng chúng ta lại có rất nhiều Bác Sĩ (và đôi khi một vài nhà nghiên cứu trong lãnh vực Xã Hội học) tổ chức những buổi "hội thảo", hay nói đúng hơn là những buổi họp bé nhỏ, lèo tèo trong những phòng họp nhỏ bé của cộng đồng Việt Nam. Trong những cuộc họp như vậy, chúng ta chỉ đưa ra một số lý luận thô thiển, không sâu sắc, không đầy đủ, và rất nhiều khi không khoa học và không có chứng cớ thuyết phục. Ðôi khi đây chỉ là những cuộc họp để "chửi" những nước đang tranh chấp với Việt Nam mà thôi. Số lượng thính giả nhỏ bé tham dự cũng chỉ toàn người Việt Nam trong những cộng đồng bé nhỏ và không có ảnh hưởng. Sau cuộc họp thì vấn đề tranh chấp lãnh thổ chỉ còn là một câu chuyện vặt để mọi người kể cho nhau nghe.

    Có rất nhiều lý do để đưa tới sự "thua cuộc" của Việt Nam trong việc tranh chấp lãnh thổ. Tôi muốn đưa ra một ví dụ để cho thấy ảnh hưởng của những ngành học đối với vấn đề này to lớn như thế nào. Tôi rất mong chúng ta hãy nhìn lại cách chọn lựa ngành học và việc làm của mình để thấy được tác hại rất to lớn của việc tập trung vào Y, Nha, Dược và tác lợi rất to lớn của những ngành chuyên môn khác.

    Tôi đồng ý với phần lớn những điều nêu ra trong bài thơ trên đây. Tôi cũng có một vài ý kiến bất đồng, nhưng những bất đồng đó cũng chỉ nhỏ mà thôi. Tôi và tác giả bài thơ bàn về những điều này chỉ với mục đích duy nhất nói lên một vấn đề trong xã hội Việt Nam và trong cộng đồng Việt Nam. Bài thơ không có ý chỉ trích một cá nhân nào, nhưng tôi thấy lời lẽ bài thơ có đôi chỗ “mạnh” quá. Tôi tha thiết mong quý vị và các bạn học các ngành Dược, Nha, Y đừng buồn bực hoặc “take it personal” mà hãy coi đây là một vấn đề chung của xã hội để chúng ta cùng suy nghĩ và nhận xét. Tôi mong quý vị và các bạn xem đây là những ý tốt vì sự lo lắng chung cho xã hội, cho đất nước. Tôi tin rằng không phải tất cả mọi người đều có cái “mentality” đó và theo thời gian cái “mentality” này sẽ mất dần đi mà thôi.



    II. Sự Thành Công và Nền Tảng Xã Hội

    1. Thành Công - Một Cái Nhìn Khái Quát

    Tôi được nghe và được đọc nhiều về những thành công của người Việt đạt được ở nước ngoài, và tôi muốn tìm hiểu thử xem sự thành công đó ở mức độ nào và trong một môi trường như thế nào.

    “Thành công” nói chung có ý nghĩa rộng quá. Nó không cho thấy được mức độ cũng như lãnh vực của sự thành công. Tôi chỉ đồng ý phần nào với vấn đề người Việt thành công ở nước ngoài mà thôi. Trải qua 25 năm tị nạn thực sự người Việt Nam đã đạt được một số thành công đáng kể và đáng hãnh diện. Thông thường chỉ một vài năm đầu là nhiều khó khăn trong môi trường xã hội mới mà thôi. Người Việt Nam ai ai cũng cố gắng hết sức mà vươn lên. Họ học hỏi siêng năng và làm việc cần cù để rồi không bao lâu sau cuộc sống của họ từ từ ổn định. Họ bắt đầu sắm xe cộ và nhà cửa. Người Việt coi trọng việc học nên trong gia đình và trong cộng đồng sự khuyến khích học rất cao, đồng thời trong gia đình cha mẹ hy sinh rất nhiều cho con cái để tạo điều kiện cho con cái được đi đại học, để rồi có cuộc sống tốt, ổn định. Nhìn chung trong cộng đồng người Việt hầu hết mọi người đều có cuộc sống kinh tế ổn định. Ðây là một điều đáng khen. Ðặc biệt hơn nữa là sự ổn định và “thành công” của một số người Việt chỉ diễn ra trong thế hệ đầu tiên định cư bên Mỹ mà thôi. Tôi thấy đây là một điều gây nhiều ấn tượng. Thế hệ thứ hai tôi nghĩ còn thành công nhiều hơn nữa.

    Mặc dầu vậy, tôi nghĩ rằng sự thành công của chúng ta còn khá nhiều giới hạn. Thứ nhất là giới hạn về mức độ. Nếu nhìn vào tỷ lệ người Việt có bằng đại học thì tôi nghĩ đây là một tỷ lệ cao. Tôi nhận thấy số lượng người Việt Nam có bằng đại học, cao học, tiến sĩ, có bằng Kỹ Sư, Y, Nha, Dược, Luật khá nhiều. Nhưng đạt được một bằng cấp tôi nghĩ vẫn chưa phải là một thành công mặc dầu có rất nhiều người, nhất là những thế hệ trước và có thể một số thuộc thế hệ trẻ, nghĩ rằng có một cái bằng cấp nào đó đã là thành công rồi. Mặc dầu đạt được bằng cấp cũng nói lên một mức độ thành công nào đó, nhưng đó không phải là mức độ thành công cao, đặc biệt, đáng hài lòng, và đáng hãnh diện nhiều.

    Có một việc làm ổn định với cuộc sống vật chất ổn định cũng chưa phải thành công. Nếu quan sát để ý thì phần lớn những người Việt chúng ta sau khi đạt được một bằng cấp nào đó rồi thì cũng đi làm việc cho người khác, lãnh lương, và giữ những vai trò không quan trọng lắm trong xã hội hoặc trong thế giới chuyên nghiệp. Một số mở những văn phòng chuyên môn chỉ để phục vụ cộng đồng người Việt hoặc những người thiểu số khác trong lãnh vực y tế, luật pháp, thuế má, địa ốc, v.v. trong những công việc không phức tạp và không nhiều đòi hỏi. Và họ sống một cuộc sống thoả mãn. Ðó cũng phần nào nói lên sự thành công nhưng là thành công rất nhỏ và khép kín trong phạm vi cộng đồng. Tôi nghĩ số lượng những người “thành công” như vậy trong cộng đồng Việt Nam khá nhiều. Những người Việt Nam đạt được vị trí cao, nắm giữ những chức vụ quan trọng có ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội thì rất ít. “Thành công to lớn” và “có ảnh hưởng” tôi muốn nói tới trong bài viết này là một định nghĩa chủ quan và có tính cách cá nhân. Mỗi người sẽ có một cái nhìn về sự “to lớn” hoặc “có ảnh hưởng” khác nhau.

    Một số người cũng thường hay ca ngợi sự thành công của người Việt và nói rằng chỉ thế hệ đầu tiên thôi nhưng chúng ta đã khá thành công rồi. Điều này cũng đúng nhưng chúng ta cần phải nhìn vào môi trường xã hội, kinh tế, và chính trị nước Mỹ để tìm hiểu tại sao chúng ta làm được điều đó trong khi những thế hệ đầu tiên của dân tộc khác trước đây không làm được ở mức độ tương tự. Tôi chỉ nói sơ sơ ở đây mà thôi. Một vài điều cần được phân tích là: chúng ta đến nước Mỹ không phải là những tù nhân chiến tranh hoặc như những người nô lệ; ngày nay có nhiều lãnh vực làm việc và học hành hơn trước kia; cơ hội thăng tiến nhiều hơn và dễ dàng thực hiện hơn; kinh tế phát triển hơn vì sự gia tăng của thương mại thế giới và “globalization”; phương tiện giao thông và thông tin ngày nay phát triển hơn; xã hội Mỹ ngày nay chấp nhận những giống dân, dân tộc khác dễ dàng hơn; luật pháp phát triển hơn và quyền lợi của con người, quyền lợi làm việc và học hành được bảo đảm cho mọi giống dân; xã hội ngày nay hoạt động hiệu quả hơn trong việc phân phối tài chánh; sự trợ giúp từ chính phủ và tư nhân trong vấn đề giáo dục, huấn nghệ, cũng như những lợi tức xã hội khác cho học sinh và mọi người nói chung tăng cao, v.v. Còn rất nhiều lý do khác và tất cả chúng hoạt động chung với nhau để tạo nên kết quả là xã hội Mỹ ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi cho những người thiểu số như Việt Nam dễ dàng thành công. Nếu chúng ta nhìn vào một số giống dân đến Mỹ từ các nước khác trong thời gian sau này thì cũng thấy được sự thành công của họ tương tự như hoặc hơn người Việt.

    Trên đây tôi có nói tới hai chữ “hài lòng”. Hài lòng có lẽ là tâm lý của một dân tộc bị nhiều chiến tranh. Họ chỉ mong muốn một cuộc sống ổn định, yên bình mà thôi. Một số người chúng ta mặc dầu ham học nhưng chúng ta cũng mau thoả mãn. Học chỉ để đạt được một cái bằng cấp nào đó, ra đi làm, hạnh phúc, và ... tự hào (đối với một số người). Thoả mãn, hạnh phúc cũng tốt, không sao, nhưng để bàn về sự thành công thì những yếu tố đó sẽ cho thấy một bức tranh rõ hơn về sự thành công của người Việt.

    Tâm lý hài lòng mà đưa tới sự tự mãn, tự kiêu thì lại còn nguy hiểm hơn. Tự mãn thì sự học cũng không đi sâu và chúng ta dễ hài lòng với cái bằng cấp đạt được và coi đó là một thành công rồi. Tự mãn cũng kiềm chế con người trong việc đi cao hơn trong việc làm và làm con người hài lòng với vị trí của mình. Ðối với một số người đạt được một bằng cấp và đạt được một công việc nào đó là đạt được mức cuối cùng rồi, "the end", và họ ngưng lại ... "mission accomplished".1

    Tôi nghĩ rằng chúng ta chỉ nên coi bằng cấp là bước đầu tiên mà thôi chứ không phải bước cuối cùng. Nếu nhìn vào xã hội Mỹ thì sẽ thấy đối với nhiều người, đạt được bằng cấp (dù cao đi nữa) thì cũng chỉ là sự bắt đầu mà thôi. Sau đó là một chuỗi những ngày tháng không ngừng nghỉ không những chỉ làm việc mà còn nghiên cứu, học hỏi liên tục. Nhờ vậy mà kiến thức chuyên môn và khả năng làm việc và khả năng sáng tạo của họ cao hơn rất nhiều và cũng nhờ vậy mà họ có thể nắm giữ những vai trò quan trọng hoặc có ảnh hưởng lớn đối với xã hội. Nhờ vậy cống hiến của họ cho xã hội nhiều hơn. Những trường hợp như vậy tôi mới thấy là thành công và là thành công lớn. Ðôi khi vị trí chức vụ hoặc lương bổng không cần cao nhưng ảnh hưởng lớn cũng là thành công. Ví dụ như Mother Teresa, không có chức vụ cao, cuộc sống khổ cực, nghèo, nhưng ảnh hưởng của bà rất sâu rộng. Đó là một thành công. Người Tây phương theo quan sát của tôi coi bằng cấp chỉ là một phương tiện, “the means”, chứ không phải “the end.” Họ khiêm tốn, không thoả mãn và tiếp tục học hỏi, tìm tòi, đóng góp.

    Nhân tiện nói về sự ham học, kiến thức, và bằng cấp, tôi xin được đề cập tới một điểm. Ðó là sự ham học của người Việt Nam. Chúng ta từ xưa tới nay hay tự hào là dân tộc “hiếu học”, và chúng ta cũng hiểu rõ sự quan trọng của việc học. Nhờ vậy chúng ta khá siêng năng học hỏi và cố gắng nhiều. Tuy nhiên, tôi lo lắng vì “ham học” và bị áp lực của việc học quá nhiều mà sự hiếu học, ham học nói trên bị trở thành hiếu bằng cấp và ham bằng cấp chứ không phải ham kiến thức. Hoặc cũng ham kiến thức nữa nhưng ham bằng cấp hơn, và mọi người học vì muốn kiếm một cái bằng trong khi kiến thức thì ... chẳng đi tới đâu. Một tác động khác của việc ham bằng cấp là mọi người để ý quan sát những người xung quanh mình, bạn bè mình coi họ có bằng cấp gì để rồi cạnh tranh hoặc ganh tỵ.

    Tôi nhận thấy rằng khác với người Việt Nam, phần lớn người Tây phương học vì họ coi trọng kiến thức chứ không phải học vì coi trọng bằng cấp. Họ học để thâu thập kiến thức, rồi áp dụng và cải tiến những kiến thức đó với mục đích làm cho xã hội và bản thân con người trở nên tốt hơn. Trong khi đó, đối với người Việt thì tâm lý ham bằng cấp là một động cơ rất lớn trong việc “chịu khó” đi học của chúng ta. Dĩ nhiên là điều này cũng “relative” vì cũng có người Tây phương coi trọng bằng cấp. Tuy nhiên nếu so sánh với Việt Nam thì tôi tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng tỷ lệ người Tây phương coi trọng kiến thức nhiều hơn tỷ lệ người Việt Nam, và tỷ lệ người Việt Nam coi trọng bằng cấp nhiều hơn tỷ lệ người Tây phương. Ðiều này tôi thấy được qua quan sát, lắng nghe, và nói chuyện với người Việt lẫn người Mỹ chứ tôi không có một cuộc nghiên cứu nào để hỗ trợ cho kết luận đó. Mặc dầu vậy, qua quan sát và lắng nghe, tôi tin rằng kết luận của tôi đúng, và tôi nghĩ quí vị và các bạn cũng tin vào kết luận đó. Ðây là một điều rất không tốt và đem lại những nguy hiểm sâu xa cho xã hội. Bằng cấp không nói lên được nhiều về người có bằng cấp. Kiến thức mới là yếu tố chính yếu. Hơn nữa bằng cấp có giới hạn trong khi đó kiến thức là vô hạn.

    Tôi đã gặp rất nhiều trường hợp chứng minh cho sự ham bằng cấp này. Tôi có dự những buổi đám cưới mà bằng cấp, việc làm của cả cha mẹ cô dâu, cha mẹ chú rể, và lẫn cô dâu chú rể đều được giới thiệu cho mọi người biết. Tôi đã dự những buổi tiệc, những buổi văn nghệ mà trong đó, không hiểu tại sao, không hiểu vì lý do gì, tên tuổi bằng cấp của nhiều người cứ được lôi ra nhắc nhở. Tôi đã gặp những trường hợp có những người mở miệng chính thức đòi hỏi trên bất cứ cái gì có tên của họ đều phải đi kèm theo những chữ nói lên bằng cấp, danh phận của họ. Có những người nói rằng trên thiếp mời đám cưới mà không có danh vị bằng cấp của họ thì họ sẽ không dự đám cưới. Thế mới "kinh" chứ. Tôi đã gặp những người để cả danh hiệu bằng cấp của mình trong địa chỉ email. Tôi đã gặp những người khi mới được giới thiệu với nhau, họ đã vội vã kể về tiểu sử của họ học ngành gì, có bằng cấp gì, và làm việc gì cho nhau nghe. Cứ y như một cái “resume” xin việc. Tôi đã gặp những trường hợp người con trai tự động giới thiệu một cách rất ... vô tư (như trong nước hay nói) với người con gái mới quen về ngành học và bằng cấp của mình. Tôi đã gặp những trường hợp khi có người ngỏ ý làm mai cô gái với một người con trai, câu đầu tiên cô gái hỏi về người con trai đó là, “Anh ta có bằng gì?” Tôi gặp nhiều trường hợp ... lý thú lắm; có người nói thẳng cho mọi người biết bằng cấp nghề nghiệp, nhưng cũng có người nói mấp mé, khéo léo làm như vô tình vậy. Ðáng “phục” lắm. Tôi đã gặp nhiều người có bằng cấp cao nhưng kiến thức thì rất thấp. Ngay cả kiến thức trong lãnh vực chuyên môn của họ cũng thấp, và kiến thức ... “làm một con người” cũng thấp. Và một ví dụ nữa rất đáng đau buồn là trên những trang cáo phó, chia buồn người chết, những người đăng tin chia buồn đã liệt kê cả một danh sách mọi người với tất cả tước hiệu, bằng cấp của họ cho công chúng biết. Tôi không nghĩ những người có đầu óc và ... biết làm người sẽ làm những việc vừa được kể trên. Chán quá. Chẳng lẽ bây giờ kêu gọi mọi người đừng ... “hiếu học” nữa?

    Mặt khác chúng ta ham học, và tự hào là học giỏi (?), nhưng chúng ta cũng biết rằng học giỏi hay có bằng cấp và sự thông minh sáng tạo là những điều khác nhau. Sự thông minh tôi nghĩ sẽ đưa đến học giỏi nhưng học giỏi không có nghĩa là thông minh hay sáng tạo. Có bằng cấp và sự thông minh lại còn khác xa nhau hơn nữa. Chúng ta học phần lớn là học thuộc lòng và bắt chước những gì có sẵn đã được sáng tạo ra trước. Cách học như vậy nhiều khi chỉ cần một trí nhớ tốt hoặc chịu khó siêng năng, hoặc chỉ cần chịu khó học tủ, học gạo là sẽ đạt được kết quả, một mảnh bằng mà thôi. Tôi cũng đồng ý là để học được theo cách như vậy và để có một bằng cấp thì cũng cần sự thông minh, nhưng sự thông minh ở đây chắc chắn không nhiều. Những người sáng tạo ra những điều chúng ta học và bắt chước và xây dựng nên môi trường cho chúng ta phát triển mới là những người thông minh, thành công, và nhiều sáng tạo.

    Nhìn vào thực tế tôi không thấy chúng ta có nhiều thành công trong những ngành học và lãnh vực làm việc đòi hỏi nhiều suy nghĩ, phân tích, sáng tạo, chiến lược, tầm nhìn xa, nhìn rộng, khả năng ngôn ngữ, khả năng tổ chức, khả năng quản lý, khả năng định hướng, khả năng suy luận, khả năng lãnh đạo, khả năng giải quyết vấn đề giữa con người, v.v. Những khả năng và đòi hỏi trên đây mới nói lên được nhiều về mức độ thông minh của con người.

    Vấn đề khác nhau giữa việc học, có bằng cấp, và sự thông minh rất rõ ràng, hiện diện mọi nơi mà không hiểu tại sao nhiều người không thấy, hay là thấy nhưng cố tình lảng tránh để rồi cuối cùng lại cứ cho rằng có được bằng này bằng nọ là đã tài giỏi, có khả năng và thành công rồi.

    Tôi vừa mới tưởng tượng ra một mẫu đối thoại ngắn giữa hai người, xin được viết ra đây.

    Hai người đang nói chuyện với nhau. Người thứ nhất nói, “Tôi có bằng cấp cao, tôi có khả năng, và tôi cũng thông minh nữa.” Người thứ hai nghe vậy thì nói, “Vậy hả? Tới làm việc cho tôi đi. Tôi thích những nhân viên giỏi như anh. Tôi sẽ chỉ cho anh biết tương lai đi về đâu. Tôi sẽ hướng dẫn con đường sự nghiệp, sẽ trả lương, và bảo đảm đời sống vật chất của anh.”

    Ở đây ai là người thông minh, ai là người có khả năng và thành công?

    Kết luận tôi muốn nói là chúng ta không nên nhìn vào số lượng bằng cấp để đánh giá sự thành công, sự thông minh, hoặc kiến thức của con người. Một kết luận nữa là thông minh và học giỏi hay có bằng cấp là hai điều hoàn toàn khác nhau, nhưng có lẽ chúng ta cứ “hiểu lầm” hoặc “lẫn lộn” chúng với nhau.

    Theo tôi thì sự hiểu lầm trên đây giữa thông minh, tài giỏi, và học giỏi, bằng cấp chính là một nguyên nhân làm đất nước chậm phát triển. Sự hiểu lầm này sẽ đưa tới sự tự hào sai lạc. Sự hiểu lầm này sẽ đưa tới tự kiêu, tự mãn. Sự hiểu lầm này sẽ làm chúng ta đánh giá sai hoặc đánh giá không chính xác về khả năng và sự thông minh thực sự của chính mình và của dân tộc. Sự hiểu lầm này sẽ đưa con người tới sự tự tin quá đáng hoặc tự tin sai lạc, làm việc không phù hợp, sai trái (như đã nói tới ở trên). Sự hiểu lầm này sẽ lại càng làm cho nhiều người tập trung vào việc học và làm những ngành nhất định. Và còn những tác hại khác nữa.

    Tôi cũng tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng cách chọn ngành học hạn hẹp và cái nhìn hạn hẹn về các ngành học của chúng ta lâu nay là một nguyên nhân khiến cho đất nước, xã hội Việt Nam không phát triển và còn nghèo nàn lạc hậu về nhiều mặt.

    Sự hiểu lầm và lẫn lộn giữa thông minh, sáng suốt với bằng cấp, học giỏi (và chỉ có khả năng học trong một số ngành nhất định, cũng như chỉ có khả năng làm việc trong một số lãnh vực nhất định) sẽ làm chúng ta ngạc nhiên khi nhận thấy xã hội chúng ta chưa được phát triển. Sự hiểu lầm và ngạc nhiên này sẽ làm cho chúng ta tự hỏi, “Ủa, tôi và dân tộc tôi có nhiều người học giỏi, thông minh, thành công lắm mà sao xã hội, đất nước của chúng tôi không phát triển?" Tôi nghĩ là chúng ta chỉ tưởng chúng ta thông minh và thành công mà thôi. Thực tế của sự "thành công", "thông minh", và "học giỏi" của chúng ta thì khác hẳn và sẽ không đem đến được sự phát triển xã hội như chúng ta mong muốn hoặc đúng hơn là đòi hỏi.

    Tệ hại hơn nữa là sự hiểu lầm "thông minh" đó cộng với việc chọn ngành học và việc làm một cách "chọn lọc" như vậy sẽ có thể đưa tới việc đổ lỗi. Chúng ta đổ lỗi sự kém phát triển của xã hội cho người khác. Sự kém phát triển là do người khác gây nên chứ không phải là chính mình ... vì mình là những người "thành công" và "thông minh" mà. Trong cái nhìn của tôi thì chính những người trong chúng ta với cái nhìn hạn hẹp, đầu óc nhỏ bé, “mentality” lạc hậu là phải chịu một phần lớn trách nhiệm cho sự kém phát triển của xã hội Việt Nam.

    Tôi nói về sự thành công như vậy không có nghĩa là người Việt không có những người đạt những thành công to lớn và có mức ảnh hưởng cao. Nếu nhìn vào cộng đồng Việt Nam ở Mỹ và một số nước khác như Pháp, Nhật, Ðức, chúng ta sẽ thấy có những nhân vật đã đạt được những thành công lớn trong nhiều lãnh vực khoa học như Y học, Ðiện tử, Không gian, và lãnh vực văn hoá nghệ thuật, xã hội, thương mại, chính trị, và có ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên số lượng những người thành công ở mức độ to lớn này không nhiều và càng không nhiều khi tính theo tỷ lệ số lượng người Việt có bằng cấp. Mặc dầu vậy đây là những thành công đáng hãnh diện, và những nhân vật này đáng được kính trọng và ca ngợi về tài năng và trí thông minh của họ để làm gương cho thế hệ trẻ. Cá nhân tôi rất khâm phục những người này và lại càng khâm phục họ hơn nữa khi biết rằng họ đã đạt được những thành công lớn đó chỉ ở thế hệ đầu tiên ở nước ngoài trong một môi trường có nhiều vật cản về văn hóa, ngôn ngữ, chính trị, và chủng tộc.

    Ðó là nói về mức độ thành công. Bây giờ tôi xin được nói về lãnh vực thành công. Ở đây bức tranh sẽ đơn điệu lắm. Phần lớn những bằng cấp do người Việt Nam đạt được đều nằm trong lãnh vực khoa học tự nhiên như Ðiện tử, Y, Dược, Nha. Trong khi những lãnh vực như thương mại, kinh tế thì không nhiều (có một số người Việt khá thành công trong lãnh vực thương mại nhưng cũng không phải ở mức độ to lớn và hầu hết đều giới hạn trong phạm vi cộng đồng mà thôi). Chúng ta có một số lượng Luật sư khá nhiều nhưng số người thành công một cách đáng kể trong thế giới chính trị, ngoại giao, thế giới luật pháp Mỹ thì hầu như không có. Trong những lãnh vực khác như tự nhiên học, môi trường, nghệ thuật, xã hội học, chính sách xã hội, nhân chủng, giáo dục, ngôn ngữ, v.v. thì vắng hẳn bóng dáng người Việt Nam. Như vậy thì làm sao chúng ta có được Bill Gates, Alan Greenspan, làm sao có được Jacques Cousteau, Steven Spielberg, làm sao có được John Maynard Keynes, làm sao có được những người trong gia đình Leakeys, làm sao có được Andrew Lloyd Webber...

    Nhìn chung số lượng người Việt hải ngoại có bằng cấp khá cao. Phần lớn mọi gia đình đều có những người học xong Cử nhân. Số lượng Luật sư, Tiến sĩ thì ít hơn, nhưng cũng khá nhiều. Theo thống kê của chính phủ Mỹ thì tính theo tỷ lệ người Việt Nam có bằng cấp đại học cao hơn phần đông những giống dân khác trong cộng đồng các dân tộc ở Mỹ. Mặc dầu vậy, những ngành học của người Việt Nam lại chỉ tập trung nghiêng hẳn về lãnh vực khoa học tự nhiên. Số lượng người có bằng cấp thì nhiều; có thể nói “thành công” ở mức độ nhỏ thì nhiều. Nhưng số người thành công lớn, giữ vai trò quan trọng trong xã hội, công ty, chính phủ, và có ảnh hưởng sâu rộng thì quá ít ỏi (Tôi nghĩ xu hướng tập trung vào khoa học tự nhiên sẽ giảm dần đi theo thời gian, khi thế hệ người Việt Nam thứ hai có cái nhìn rộng hơn và hăng hái tham gia vào xã hội nhiều hơn). Sự thành công của người Việt Nam ở hải ngoại theo tôi thấy thì không lớn trong vài lãnh vực và rất nhỏ bé trong nhiều lãnh vực.

    Viết tới đây tôi lại tự hỏi có lẽ tôi quá nôn nóng không? Chỉ mới thế hệ đầu tiên ở hải ngoại mà thành công ở mức độ và lãnh vực như vậy cũng là điều đáng khâm phục rồi. Mới thế hệ đầu tiên thì cũng khó có những đòi hỏi phải thành công và ảnh hưởng lớn. Tôi nghĩ có lẽ tôi không muốn là một người tự mãn hoặc tự hào quá đáng, và tôi chỉ muốn tìm kiếm một định nghĩa chính xác hơn về chữ “thành công”, và tôi muốn phân biệt “thành công” với “bằng cấp” và “học giỏi”. Ðồng thời tôi cũng muốn đưa vào, và nhấn mạnh, ý tưởng “ảnh hưởng lớn” trong khái niệm của “thành công”.

    Ca ngợi và khuyến khích giáo dục và tinh thần ham học là điều tốt. Nhưng sự ca ngợi và khuyến khích này cũng phải thực tế, rõ ràng, và cho thấy được nhiều khía cạnh của vấn đề học và khả năng con người. Nếu không có một cái nhìn rõ ràng và từ nhiều góc độ thì chúng ta sẽ tự kiêu, tự mãn, tự hào quá đáng, và tự tin sai lạc; và ngạc nhiên, lúng túng khi thực tế không như mong đợi. Hơn nữa, nếu chúng ta ca ngợi quá nhiều về sự “thông minh”, “học giỏi”, hoặc “thành công” mà không thấy rõ được thực tế về giới hạn của sự “thông minh”, “thành công”, và “khả năng” đó thì chúng ta lại mắc phải lỗi lầm tương tự như việc ca ngợi và tự hào “bốn ngàn năm văn hiến”. Chúng ta không nên lập lại lỗi lầm này.


    2. Nền Tảng Xây Bằng Gì?

    Chúng ta chỉ có số lượng lớn những người có bằng cấp trong một vài lãnh vực khoa học tự nhiên mà thôi, và số lượng người thành công tương đối cũng nằm trong những lãnh vực đó. Ðây là vấn đề liên quan tới “nền tảng” mà tôi muốn nói tới. Những ngành nghề cần thiết và căn bản nhất trong việc xây dựng một nền tảng xã hội thì chúng ta thiếu hẳn. Ðây là một sự thật ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Mặc dầu trong nước bây giờ một số ngành xã hội như kinh tế, thương mại, luật, nhệ thuật, và nhân văn đã bắt đầu được phát triển, nhưng nó vẫn còn trong giai đoạn rất phôi thai, và người Việt Nam trong nước cũng vẫn chưa xây dựng được một nền tảng hữu hiệu ở trong nước Việt Nam. Tôi nghĩ những người Việt ở hải ngoại cũng chưa có khả năng góp phần củng cố nền tảng đó ở xã hội nước ngoài nơi người Việt hải ngoại cư trú và ảnh hưởng tới nền tảng xã hội Việt Nam trong nước.

    Những ngành chúng ta học và thành công không phải là những ngành tạo nên và ảnh hưởng - một cách trực tiếp và to lớn - lên một nền tảng xã hội. Chúng ta chỉ có thể thành công trên một nền tảng xã hội đã được dựng sẵn lên rồi mà thôi. Chúng ta vẫn chưa có khả năng xây dựng nên một nền tảng hữu hiệu cho chính chúng ta (hoặc chúng ta chỉ đang chập chững bước trên con đường xây dựng đó trong nước mà thôi).

    Chúng ta sống trên nước Mỹ hay nước Pháp là những nơi đã có sẵn một nền tảng, hệ thống chính trị khá hoàn chỉnh, công bằng và hoạt động hiệu quả. Hệ thống chính trị này bảo đảm sự an toàn cho xã hội và bảo đảm sinh hoạt của xã hội đạt mức tối ưu. Những đất nước này đã xây dựng nên một nền tảng giáo dục qua hệ thống giáo dục hiện đại, khoa học, và rộng mở, nơi mà mọi người mọi tầng lớp có thể tham gia để phát triển kiến thức, nghiên cứu, và cống hiến một cách tự do. Ở đây chúng ta cũng thấy sự tồn tại của một hệ thống luật pháp công bằng, nhân bản, và bao gồm mọi lãnh vực trong cuộc sống. Hệ thống hạ tầng cơ sở vững chắc hiện đại. Hệ thống thuế má hữu hiệu. Hệ thống tài chánh, kinh tế, thương mại năng động, sáng suốt với cơ hội mở rộng cho mọi người. Hệ thống xã hội, chính trị bảo đảm sự tham gia của mọi người vào những sự vụ của đất nước vững chắc, phổ biến, và công bằng. Hệ thống an sinh xã hội, y tế bảo đảm đối với mọi tầng lớp người dân từ người tàn tật, người già, cựu chiến binh, những bà mẹ, những người nghèo, v.v. Ở những đất nước này mọi thứ đều đã được lập sẵn cho chúng ta. Chúng ta chỉ đạt được một vài thành công nhỏ bé là nhờ chúng ta sống trên một nền tảng đã được xây dựng sẵn đó mà thôi. Trên nền tảng này người Việt Nam chúng ta sống, phát triển, và học những ngành khoa học tự nhiên, Ðiện tử, Nha, Dược, Y. Chúng ta cũng đóng góp vào sự tồn tại của nền tảng đó (ví dụ như qua việc đóng thuế hoặc bầu cử), nhưng đáng buồn là chúng ta chỉ tham gia một cách thụ động mà thôi chứ có quá ít người trong chúng ta học, nghiên cứu, và làm việc trong việc xây dựng và phát triển cái nền tảng đó một cách trực tiếp.

    Ðể chứng minh cho sự yếu kém trong việc xây dựng một nền tảng, ta chỉ cần nhìn vào thực tế. Thực tế cho thấy chúng ta chưa có khả năng xây dựng một nền tảng vững chắc trong nước ở một mức độ hữu hiệu tương đối để rồi có thể dựa trên nền tảng đó mà phát triển và ngược lại đóng góp vào sự cải tiến nền tảng đó. Người Việt ở nước ngoài cũng chưa có khả năng tác động trực tiếp vào việc xây dựng một nền tảng ở trong nước. Hãy nhìn vào sự nghèo đói và lạc hậu của đất nước thì sẽ hiểu. Hãy nhìn vào cách sinh hoạt, cách tổ chức xã hội của chúng ta, và nhìn vào sự thiếu vắng của cơ sở hạ tầng vật lý chuyên nghiệp cũng như sự yếu kém của căn bản tâm lý, đầu óc làm việc giao tiếp giữa người với người một cách chuyên nghiệp của người Việt chúng ta ở mọi nơi, trong nước cũng như ngoài nước, thì sẽ thấy (xin nhấn mạnh sự thiếu vắng và yếu kém của căn bản tâm lý, đầu óc làm việc, giao tiếp giữa người với người là ở mọi nơi, trong nước cũng như ngoài nước). Một lý do quan trọng giải thích cho sự yếu kém này là chiến tranh. Một lý do là thể chế chính trị. Nhưng một lý do rất quan trọng khác giải thích việc thiếu khả năng xây dựng nền tảng này là có quá ít người học và làm việc trong những lãnh vực cần thiết cho việc xây dựng nền tảng vật lý và tâm lý đó.

    Nói về tâm lý đầu óc trong lãnh vực làm việc chung với nhau thì tôi thấy rằng ở hải ngoại, nhờ môi trường thuận tiện nên thế hệ trẻ đã bắt đầu biết làm việc một cách “professional” hơn, hữu hiệu hơn và dân chủ hơn. Thế hệ lớn hơn tôi không dám chắc. Tuy nhiên trong phạm vi cộng đồng thì số lượng những người trẻ này và số lượng những tổ chức hữu hiệu vẫn còn quá nhỏ. Một vài lý do giải thích cho số lượng nhỏ những người này (dù là thế hệ trẻ) là môi trường không phải Việt Nam, số lượng người trẻ Việt Nam ít, và nhiều người còn bị ảnh hưởng của cái “Mentality” như đã nói ở trên, v.v. Thực sự chúng ta cũng không cần có (và không thể có) một nền tảng to lớn phức tạp trong cộng đồng vì chúng ta đang sống ở Mỹ. Mọi hệ thống giáo dục, luật pháp, chính trị đã có sẵn. Mặc dầu vậy chúng ta vẫn có thể tạo lập nên một cộng đồng hoặc hệ thống cộng đồng khoa học ở mức độ nhỏ, hoặc không khoa học dựa trên tình cảm đồng bào, sự gần gũi văn hoá, và những “informal rules” để tiến hành những công việc có tính cách cộng đồng và có tính cách cầu nối giữa cộng đồng Việt Nam và xã hội, chính quyền Mỹ. Tuy nhiên vì tính chất cộng đồng như vậy, chúng ta sẽ có những giới hạn.

    Ở trên tôi có nói tới số lượng những tổ chức. Tôi xin nhấn mạnh tổ chức hữu hiệu thì rất ít, chứ tổ chức thì nhiều lắm. “Nhiều” nói lên được tính dân chủ, nhưng “quá nhiều” sẽ nói lên sự không hiệu quả và sự rối loạn. Tôi có một câu chuyện liên quan đến việc tổ chức xã hội của chúng ta bên nước ngoài xin kể cho quý vị và các bạn nghe.

    Một người bạn kể cho tôi nghe trong một cuộc họp với những người bạn trong tổ chức của anh ta, một người đã hỏi, “Tại sao chúng ta có nhiều tổ chức hội đoàn chính trị quá, và những tổ chức này không làm được việc gì mà lại hay tranh tiếng, ghét nhau.”

    Người bạn của tôi lúc đó mới trả lời rằng, “Tôi nghĩ chúng ta có nhiều hội đoàn cũng không sao vì tôi so sánh những hội đoàn đó như những bông hoa trong một vườn hoa vậy. Mỗi bông hoa có một vẻ đẹp riêng thành ra chúng ta càng có nhiều bông hoa càng tốt. Vườn hoa càng đẹp vì có nhiều màu sắc.”

    Anh bạn tôi kể rằng tất cả những người tham dự cuộc họp hôm đó đều vỗ tay ca ngợi sự so sánh này vì ai cũng thấy nó chí lý. Sau đó người bạn tôi mới hỏi ý kiến của tôi về sự so sánh đó.

    Ðây là những điều tôi nghĩ. Tôi nghĩ rằng đó là một sự so sánh ngây thơ. Một vườn hoa như vậy không phải là một vườn hoa đẹp. Nếu những hội đoàn đó chỉ chú tâm làm việc trong một lãnh vực (ví dụ như chính trị) và phương thức làm việc cũng tương tự như nhau thì những bông hoa này chỉ cùng một loại hoa và có cùng một màu sắc mà thôi, hoặc cùng một màu nhưng đậm lợt khác nhau một chút. Vậy thì đây không phải một vườn hoa đẹp với nhiều màu sắc. Không những không đẹp mà còn có thể rất đơn điệu nhàm chán nữa là đằng khác. Nếu muốn có một vườn hoa đẹp thì cần nhiều loại hoa với nhiều màu sắc khác nhau.

    Hơn nữa, nếu có quá nhiều hoa mà hoa nào cũng bé tí xíu, mong manh, và yếu đuối, thì không sống và hoạt động được, và chỉ cần một cơn gió thổi qua thôi thì những bông hoa đó rụng hết và gẫy trụi. Mặt khác nếu số lượng hoa mà quá nhiều trong khi đó số lượng chất bổ dinh dưỡng trong đất, số lượng nước, và không gian để hấp thụ ánh mặt trời trong khu vườn đó quá ít thì hoa sẽ yếu đuối, và sẽ có cạnh tranh và tranh giành xảy ra. Hình dáng màu sắc giống nhau cũng có thể đưa đến việc cạnh tranh sắc đẹp mãnh liệt hơn giữa những bông hoa. Cạnh tranh không sao. Tuy nhiên hoa khác người. Nếu đầu óc con người chưa phát triển đủ thì sự cạnh tranh có thể sẽ không được sạch sẽ, quang minh, và công bằng, và có thể có tác hại cho tất cả. Một điều quan trọng khác là khi nhìn những bông hoa trong một vườn hoa, hình dáng và màu sắc của những bông hoa chưa chắc đã quan trọng. Ðiều quan trọng là chúng ta phải nhìn xem ai là người đã gieo hạt những bông hoa đó. Đôi khi có rất nhiều bông hoa, khóm hoa trong vườn, nhưng thực sự người gieo hạt thì chỉ có một mà thôi.

    Ðó là suy nghĩ của tôi. Không biết các bạn thì sao?

    Xin được trở lại vấn đề nền tảng. Trong khi đó ở trong nước nơi cần có một nền tảng xã hội vững chắc thì nền tảng đó vẫn còn quá thô sơ và yếu đuối. Vì Việt Nam là một nước chậm tiến nên nền tảng xã hội vẫn còn dựa trên căn bản làng xã đơn giản. Mọi việc làm, tổ chức xã hội, liên hệ giữa người với người còn bị ảnh hưởng quá nhiều bởi những điều định sẵn, phong tục tập quán, tình cảm, trực giác, và kinh nghiệm làm việc một cách không khoa học. Mặc dầu những cách làm việc và đầu óc hoặc kinh nghiệm tổ chức xã hội này đã được kiểm chứng qua thời gian, nhưng chúng lại không được kiểm chứng bằng kiến thức khoa học và nghiên cứu khoa học. Vì dựa trên căn bản những niềm tin định sẵn, phong tục từ lâu, và tình cảm nên cách tổ chức xã hội lôi thôi, không hiệu quả, và rất khó sửa đổi. Trong khi xã hội ngày nay phát triển nhanh chóng liên tục thì những niềm tin, phong tục, và tình cảm đó thay đổi ở một tốc độ chậm hơn nhiều. Điều này không tốt khi những phong tục, niềm tin đó là những phong tục, niềm tin có hại hoặc không phù hợp cho sự phát triển xã hội hiện đại. Hơn nữa, thể chế chính trị hiện nay còn ngăn cản sự phát triển của nhiều lãnh vực. Ðồng thời con người cũng không được tiếp xúc với những “alternatives” và những lựa chọn mới lạ khác trong việc xây dựng và tổ chức xã hội. Vì quá quen thuộc với cách tổ chức cũ mà đôi khi con người không muốn tiếp nhận những cái mới và đôi khi lại sợ những cái mới. Con người thường “sợ” những điều họ “không biết”. Tuy nhiên để xã hội phát triển thì cần phải mở mình ra để tiếp xúc với những cái mới, và nên cho cơ hội để những cái mới được một dịp thử thách và để con người làm quen với cái mới. Có tiếp xúc thì mới “biết”, có “biết” thì mới hết “sợ”. Biết đâu cái mới sẽ “work” hoặc một sự pha trộn giữa cái cũ và cái mới sẽ “work”.

    Nền tảng xã hội có tổ chức và được nghiên cứu một cách khoa học ở Việt Nam chỉ ở trong giai đoạn bắt đầu. Ngày xưa chúng ta theo khuôn mẫu của Trung Quốc (cũng không được nghiên cứu khoa học), và khuôn mẫu này không phải là hay nhất (qua thực tế Trung Quốc chứng minh). Sau đó là sự tổ chức chính quyền, giáo dục, v.v. nằm trong tay người Pháp và được tổ chức theo ý người Pháp. Kế đó là Mỹ và Nga với hai thể chế chính trị, xã hội khác nhau ở phía bắc và nam vỹ tuyến 17. Ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc cũng như ảnh hưởng từ Tây phương sẽ luôn hiện diện trong xã hội Việt Nam, và chúng ta có thể học được nhiều từ những kinh nghiệm của cả hai nền văn minh này.

    Cũng liên hệ tới những khuôn mẫu để chúng ta học hỏi và liên hệ tới sự tiếp xúc những “alternatives” được nói tới ở trên, tôi muốn đề cập tới một điểm sau đây. Trong thời gian chống Pháp nền chính trị Việt Nam đã được dịp tiếp xúc với tư tưởng Cộng Sản Chủ Nghĩa. Các nhà lãnh đạo thời bấy giờ có lẽ thấy nó phù hợp với thời cuộc nên đã chọn lựa nó. Tuy nhiên có một điều tôi thấy không ổn. Lý thuyết của Karl Marx được hình thành trong một môi trường xã hội ở châu Âu, nơi văn hoá, tình cảm, tư tưởng, và liên hệ giữa người và người khác hẳn Á châu. Ông ta phát triển lý thuyết của ông dựa trên văn hoá, tình cảm, và lịch sử phát triển của châu Âu. Hơn nữa châu Âu lúc đó nền công nghiệp và Chủ Nghĩa Tư Bản đang phát triển, và ông ta đã tranh luận về quan hệ giữa giới chủ (những người sở hữu công cụ sản xuất) và thợ (những người làm việc và lãnh lương). Trong khi đó phần lớn Á châu và Việt Nam chỉ là những xã hội nông nghiệp mà thôi. Giai cấp tư sản và giai cấp thợ thuyền không hiện hữu. Hai môi trường xã hội, tình cảm, và kinh tế Á Âu hoàn toàn khác nhau. Vậy thì đem áp dụng một lý thuyết được phát triển trong một môi trường vào một môi trường khác hẳn có lẽ phải cần nhiều kiểm tra và e ngại.

    Hơn nữa tôi không biết khi chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản, các nhà lãnh đạo Việt Nam có biết rằng Karl Marx không bao giờ “ghét” Chủ Nghĩa Tư Bản hay không? Thực sự đối với Chủ Nghĩa Tư Bản, Karl Marx vừa yêu và vừa ghét. Ông ta nhận thấy một số điều không công bằng trong Chủ Nghĩa Tư Bản (mà cũng không có thể chế chính trị nào đem lại sự bình đẳng hoàn toàn cả), nhưng bên cạnh đó ông ta rất khâm phục và công nhận những ưu điểm và thành công của chủ nghĩa này. Trong sự đấu tranh xung đột yêu ghét đó, ông ta đã đưa ra một lý thuyết, một lựa chọn mới cho sự phát triển xã hội. Ðó là Chủ Nghĩa Cộng Sản. Ðây là một lý thuyết, một khả năng có thể xảy ra mà thôi. Và vì là một lý thuyết nên nó cần phải đối đầu với và được chứng minh qua áp dụng thực tế. Ðó là một lý thuyết chứ không phải một định lý.

    Thực tế đã chứng minh mặc dầu đây là một lý thuyết hay, một lý tưởng đẹp, nhưng không thể nào thực hiện được vì nó không thực tế và khả năng tự nhiên của con người không cho phép họ đưa lý thuyết này thành hiện thực. Ðây là điều dễ hiểu và ai cũng có thể suy luận ra được. Ðiều sai lầm sẽ xảy ra khi con người coi lý thuyết này là một chân lý bất di bất dịch, đúng đắn, và con người không chịu đón nhận những lựa chọn mới. Trên đời này không phải chỉ có một lý thuyết duy nhất đó mà thôi. Như đã nói ở trên biết đâu cái mới sẽ “work” hoặc một sự pha trộn giữa cái cũ và cái mới sẽ “work”, hoặc một sự pha trộn sáng tạo và thông minh nào đó sẽ đem lại thành công.

    Với một cái nhìn ngắn hạn thì tôi tin rằng thể chế chính trị tại Việt Nam hiện nay với hoạt động kinh tế bị tập trung trong tay của chính quyền và xã hội thiếu dân chủ cũng là một nguyên nhân đem đến sự nghèo đói và chậm phát triển của đất nước. Tôi dùng chữ ngắn hạn ở đây vì tôi tin rằng thể chế chính trị chỉ có tính cách ngắn hạn, tạm thời mà thôi nếu so sánh với sự phát triển của một nền văn hoá, một nền văn minh, hoặc quá trình phát triển và hình thành sự suy nghĩ, khả năng, và thói quen làm việc của con người. Tuy nhiên trong một giai đoạn thì chính trị rất quan trọng mà trường hợp Bắc Hàn nghèo đói, chậm phát triển trong khi Nam Hàn thịnh vượng là một chứng minh rõ ràng. Mặc dầu cả Bắc Hàn và Nam Hàn đều là một giống dân với cùng một nền văn hóa, nhưng do đường hướng chính trị khác biệt mà đã đem đến hai kết quả phát triển kinh tế, xã hội, dân trí trái ngược nhau. Một ví dụ khác là trường hợp Đông Đức và Tây Đức trước kia.

    Qua chứng minh và áp dụng thực tế thì lịch sử đã cho thấy rằng Karl Marx đã không phải là lựa chọn tốt nhất. Cũng giống như tổ chức xã hội phong kiến Trung Quốc ngày xưa mà Việt Nam đã bị ảnh hưởng nhiều cũng không phải tốt nhất. Có thể Chủ Nghĩa Tư bản hoàn toàn phương Tây cũng chưa chắc phù hợp với chúng ta. Nhưng thôi tôi sẽ không tập trung nhiều vào vấn đề chính trị nữa. Ðiều tôi muốn nói trong chương này là nền tảng rộng lớn của xã hội bao gồm chính trị và những lãnh vực khác. Trong bài viết này tôi không muốn tranh luận thể chế chính trị nào là đúng đắn hoặc phù hợp với Việt Nam. Tôi chỉ muốn bàn về sự suy nghĩ, học hành, và làm việc của mỗi cá nhân chúng ta và sự liên hệ của chúng đối với việc xây dựng một nền tảng xã hội mà thôi.

    Chúng ta chỉ đang dọ dẫm trên con đường tìm cho chính mình một hướng đi trong việc xây dựng nền tảng xã hội một cách khoa học và một hướng phát triển mà thôi. Tổ chức chính trị hiện tại của Việt Nam khá vững chắc và đem tới ổn định chính trị. Tuy nhiên nó lại quá gò bó, không hữu hiệu, không đưa đến phát triển, và không công bằng. Nền kinh tế còn nghèo nàn nên con người còn phải tập trung lo cho cái ... bao tử nên chưa thể phát triển những lãnh vực khác như nghệ thuật, triết học, khoa học, và chính trị được. Tuy nhiên khi lo cho cái bao tử thì lại đụng phải một nền kinh tế bị kiềm hãm bởi chính trị. Nền giáo dục đang trong sự bối rối. Hệ thống luật pháp không làm việc được. “Civil society” không hiện hữu, v.v. Nói chung lại là cái “foundation” của đất nước chúng ta vẫn còn chưa được phát triển và còn yếu lắm.

    Trong khi đó những người xây dựng cái “foundation” này lại bị giới hạn về nhiều mặt. Số lượng người có hứng thú tham gia không nhiều. Khi tham gia thì lại phải đối đầu với những điều kiện không thuận tiện và những tiêu chuẩn gò bó phải tuân theo. Những điều kiện không thuận tiện lại càng làm cho số lượng người hứng thú tham gia giảm đi. Càng về sau này chính quyền Việt Nam đã càng cố gắng nhiều để phát triển những ngành khoa học xã hội tức là những ngành căn bản, những viên gạch để xây dựng nền tảng xã hội được chắc chắn hơn, nhưng sự cố gắng phát triển này cũng vẫn còn dựa trên một khuôn mẫu không hiệu quả, và môi trường chính trị ở Việt Nam vẫn chưa ở một điều kiện tốt nhất cho các ngành này phát triển. Mọi thứ vẫn còn phải theo những khuôn khổ nhất định thành ra kết quả không đa dạng và không hữu hiệu. Một vài thành công nhỏ đã đạt được và đáng ca ngợi, nhưng nhìn chung còn nhiều việc vẫn cứ èo uột và ì ạch.

    Chúng ta phải thấy rằng mọi việc đều liên quan với nhau như những cái vòng. Trong phạm vi đất nước và chính sách thì đây là những cái vòng lớn. Chính trị liên quan đến kinh tế, kinh tế ảnh hưởng tới giáo dục, giáo dục ảnh hưởng tới đầu óc con người, đầu óc con người tác động vào chính trị. Rồi kinh tế lại tác động chính trị. Chính trị và văn hoá ảnh hưởng lẫn nhau. Văn hoá và môi trường chính trị lại định hướng cho giáo dục. Ðầu óc con người lại tạo nên văn hoá. Giáo dục tác động lên chính trị. Ðầu óc con người ảnh hưởng chính trị và chính trị ảnh hưởng đầu óc con người. Mọi thứ cứ ảnh hưởng qua lại với nhau liên tục và không ngừng như vậy.

    Có thể con người không muốn học hỏi những ngành nghề giúp ích cho sự xây dựng nền tảng nói tới ở trên, hoặc môi trường để con người học hỏi những ngành đó bị giới hạn, hoặc con người không được khuyến khích học hỏi những ngành đó, hoặc khi được khuyến khích thì lại phải học theo một đường hướng định sẵn nào đó. Kết quả lại là sự xoay vòng. Khả năng xây dựng nền tảng xã hội không thể phát triển một cách tối đa để đưa tới kết quả hữu hiệu nhất trong điều kiện như vậy. “Foundation” của chúng ta lại tiếp tục yếu đuối hoặc được cải thiện một cách chậm chạp. Rất khó nắm bắt được nguyên nhân của sự thất bại là từ đâu và tại sao chúng ta chưa có được một “foundation” vững vàng. Kết luận có thể nói là nguyên nhân chính là do tất cả những yếu tố đó gom lại. Mặc dầu vậy, trong cái vòng lớn đó chính trị giữ một vai trò quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn ngắn hạn.

    Người Việt chúng ta nói chung và những người được gọi là thành công nói riêng, trong nước cũng như ngoài nước, có khả năng xây dựng hoặc góp phần ảnh hưởng tới việc xây dựng một nền tảng xã hội, kinh tế, chính trị, giáo dục, tâm lý, v.v. hữu hiệu, công bằng, nhân bản, và văn minh cho chính chúng ta trong nước chưa? Nếu câu trả lời là “Có” thì tôi mới thấy dân tộc chúng ta thông minh và thành công.

    Ðể kết luận tôi xin đưa ra một ví dụ phần nào nối kết việc chúng ta chỉ thành công dựa trên nền tảng đã có sẵn, không chịu học những ngành giúp ích cho cái nền tảng đó, chưa có khả năng xây dựng một nền tảng vững chắc, và đất nước còn lạc hậu. Chúng ta nói chúng ta thành công trên đất Mỹ. Và thành công, có thu nhập thì chúng ta phải trả thuế. Chúng ta sẽ trả thuế và hy vọng mọi người đều trả thuế vì hệ thống thuế và luật pháp của Mỹ chặt chẽ. Nhưng nếu chúng ta thành công và sống trong một xã hội chưa có hệ thống thuế hữu hiệu và luật pháp chưa chặt chẽ, và chúng ta có thể trốn thuế được thì chúng ta sẽ trốn thuế không? Tôi nghĩ là sẽ và rất nhiều người sẽ trốn thuế là đằng khác. Và khi trốn thuế thì nền tảng căn bản của xã hội yếu đuối đó lại bị yếu thêm rồi.

    Bây giờ chúng ta than phiền tại xã hội đó không có hệ thống luật pháp và thuế má hữu hiệu nên con người mới trốn thuế. Tuy nhiên con người trong cái xã hội đó bao gồm cả chúng ta lâu nay đâu có biết gì về những cách tổ chức xã hội và luật pháp hiệu quả, và có ai chịu học những ngành để giúp ích cho hệ thống thuế má và hệ thống luật pháp yếu đuối đó đâu. Ðâu có ai chịu học hỏi làm việc trong những lãnh vực xây dựng nền tảng xã hội đó (Và biết đâu có quá nhiều người trong chúng ta quá “thông minh” và “khéo léo” tìm mọi cách xoay sở để trốn thuế cho dù hệ thống thuế má và luật pháp có hiện hữu đi chăng nữa).

    Vậy thì chúng ta nói hệ thống chính trị của xã hội đó không cho phép con người học hỏi và tác động lên hệ thống thuế má và luật pháp hoặc chính trị. Nhưng thực tế là đầu óc làm việc của hầu hết người dân còn quá lạc hậu, có quá nhiều người trong xã hội chưa có khả năng thoát khỏi những quan niệm chính trị cổ điển hoặc quan niệm chính trị và xã hội nhỏ hẹp, có quá nhiều người chưa có khả năng làm việc hữu hiệu, và chính chúng ta cũng không có ai học và làm việc trong những lãnh vực có thể tác động lên hệ thống xã hội đó, đầu óc làm việc đó, và ảnh hưởng những quan điểm đường lối chính trị lỗi thời đó. Người trong nước thì nói còn phải lo cho cái bao tử và còn bị giới hạn chèn ép nhiều mặt. Vậy người ngoài nước thì sao? Mặc dầu không phải lo cho cái bao tử, không bị chèn ép, người Việt ở nước ngoài cũng có ai (hoặc có bao nhiêu người?) học và làm việc hiệu quả trong những lãnh vực đó để góp phần ảnh hưởng tới sự phát triển dân trí, chính sách, v.v. trong nước?

    Mọi việc lại bắt đầu xoay vòng vòng và mọi thứ lại tác động lẫn nhau. Rất khó tìm được một lý do chính đáng duy nhất gây nên việc trốn thuế và gây nên nền tảng yếu đuối của xã hội. Mọi thứ đều liên quan với nhau… văn hoá, trình độ văn minh, chính trị, kinh tế, khoa học, niềm tin, giáo dục, phong tục tập quán, đầu óc con người, mentality, mindset, v.v. Mọi thứ. Như trên đã nói, rất khó mà nắm bắt được nguyên nhân của sự thất bại là từ đâu và tại sao mà chúng ta chưa có được một “foundation” vững vàng. Chính trị là quan trọng, nhưng những yếu tố khác có những tác động mạnh mẽ riêng của chúng và tác động lẫn nhau.

    Như đã nói ở chương một và hai, chúng ta chưa tiến bộ lắm đâu. Văn minh của chúng ta không phải ưu việt lắm. Chúng ta có “thành công” gì đi nữa thì thực tế vẫn cho thấy rằng với khả năng và lối suy nghĩ của phần đông chúng ta hiện nay thì để có được một nền tảng vững chắc, tương đối hoạt động được sẽ cần một thời gian nữa. Tôi tin rằng chúng ta vẫn tiếp tục cố gắng và mọi người vẫn tiếp tục làm việc để phát triển xã hội và con người. Ðiều quan trọng là chúng ta phải làm cho vận tốc của sự cải tiến cái “foundation” đó nhanh hơn. Tôi tin tưởng rằng phải thấy rõ sự chưa tiến bộ của mình thì sự suy nghĩ và làm việc của mình mới thực tế hơn. Tôi tin tưởng rằng có thấy rõ sự chưa tiến bộ của dân tộc thì chúng ta mới không sống trong một “illusion” thành công, tài giỏi.

    Vậy thì phải làm sao? Tôi chỉ đưa ra một giải pháp chung mà thôi. Chúng ta hãy mạnh dạn nhìn vào chính bản thân chúng ta để xem xem chúng ta muốn gì và đòi hỏi điều gì? Chúng ta muốn đi tới đâu? Muốn đất nước xã hội đi tới đâu? Và chúng ta đã làm gì để đạt được điều chúng ta mong muốn và đòi hỏi? Chúng ta đã làm gì để đất nước hoặc chúng ta đi trên con đường chúng ta muốn? Tôi muốn nói là chúng ta phải nhìn thật kỹ chính mình và nhìn với tất cả lòng trung thực và lòng can đảm để xem chúng ta là ai, chúng ta muốn gì, và đã làm gì? Ðòi hỏi thì ai cũng làm được, nhưng làm việc để đạt được điều đòi hỏi lại là một chuyện khác.

    Khi nhìn vào chính mình tôi cũng mong chúng ta nhìn vào cả văn hoá, xã hội, phong tục, niềm tin, “mindset”, “mentality”, của mình và của xã hội để từ đó đưa ra một con đường và vận tốc chúng ta nên đi trên con đường đó. Con đường xấu quá dĩ nhiên không tốt, nhưng con đường đẹp quá thì có khi lại quá khó khăn trong giai đoạn hiện tại, ngoài khả năng vật chất và ngoài khả năng tinh thần, không phù hợp với “mentality” và “mindset” của chúng ta. Vận tốc đi trên con đường để đạt được mục đích nếu chậm quá thì sẽ không bao giờ tới đích hoặc sẽ trở nên thụt lùi khi những quốc gia khác qua mặt. Nhưng đi nhanh quá thì có thể sẽ bị vấp ngã, và nhanh quá cũng không cho phép chúng ta quan sát kiểm tra con đường một cách kỹ lưỡng xem nó có thực sự đẹp và phù hợp với chúng ta hay không. Con đường như thế nào và vận tốc ra sao không ai có thể xác định được, mà xã hội với tất cả mọi phần tử trong xã hội sẽ tự xác định mà thôi. Con đường như thế nào và vận tốc như thế nào là do sự thông minh, kinh nghiệm sống, và văn hoá của mỗi một con người chúng ta và dân tộc chúng ta xác định.

    Tôi tin tưởng rằng dân tộc Việt Nam với một nền văn minh lâu đời, một nền văn hoá khá phát triển, trái tim rộng mở, tinh thần học hỏi không ngừng, cũng như sự siêng năng, kiên nhẫn, và ý chí quyết tâm vững chắc thì chúng ta sẽ thành công. Lịch sử đã chứng minh được khả năng của người Việt. Trong quá khứ phần lớn chúng ta đã dùng những khả năng của mình trong chiến tranh. Vậy bây giờ và trong tương lai chúng ta hãy dùng những tính chất đẹp đẽ đó một cách thông minh, sáng suốt trong hoà bình. Tôi tin rằng chúng ta cùng nhau sẽ tự tìm ra được con đường đẹp, phù hợp với dân tộc Việt Nam và vận tốc đúng để chúng ta đi trên con đường đó.
  4. Chương 7
    Năm Ðặc Tính và Một Sợi Dây



    Người bạn cũ tôi gặp lại sau nhiều năm bỗng dưng hỏi, “Sao tao thấy người Mỹ và một số người Việt sống ở Mỹ có vẻ có rất nhiều tự tin trong họ, trong cách nói chuyện cũng như làm việc?” Câu hỏi đã làm tôi khá ngạc nhiên vì đây cũng là điều tôi hay suy nghĩ và lâu nay chưa có ai hỏi tôi một câu như vậy. Sau sự ngạc nhiên là cảm giác hơi buồn vì tôi nhận thấy rằng trong câu hỏi của anh bạn có chất chứa một sự ao ước hoặc tiếc rẽ nào đó như thể nói rằng, “Có lẽ tụi tao (những người bạn của tôi sống ở Việt Nam) chưa có được một sự tự tin cao như vậy.” Tôi chỉ trả lời anh bạn một cách ngắn gọn mà thôi “Tại bên Mỹ họ khuyến khích điều đó.”

    Tôi biết rằng đó không phải là câu trả lời đem đến sự thoả mãn cho người bạn. Tuy nhiên trong không khí buổi gặp mặt bạn bè lúc đó và giới hạn của thời gian tôi không thể giải thích hết những lý do được. Tôi không thể nào nói cho anh ta biết rằng sự tự tin đã bắt nguồn từ khi đứa bé được sinh ra và ở tuổi thơ ngây. Chúng rất ít khi bị la hét, chửi bới, và đánh đập bởi cha mẹ chúng. Chúng không bị hù doạ. Lớn hơn một chút, khi đi học chúng không bị thầy cô la mắng, doạ nạt, hoặc trừng phạt một cách thô lỗ trước mặt bè bạn; không bị cha mẹ đánh đập hoặc chì chiết vì những lỗi lầm. Sự khuyên bảo, thảo luận, sự tôn trọng lẫn nhau, tinh thần chịu trách nhiệm, và nhiều yếu tố khác như trừng phạt không bằng vũ lực sẽ giúp giải quyết những lỗi lầm. Trong xã hội chúng sống không có nhiều sự chê bai, cười ngạo vì con người hiểu rằng mọi suy nghĩ mọi ý kiến đều có giá trị riêng của nó, và mọi người tôn trọng những suy nghĩ ý kiến trái ngược hoặc đôi khi kỳ lạ. Sự chê bai, khi dễ được thay thế bằng những lời khen ngợi, khuyến khích, ủng hộ. Trong xã hội chúng sống, lo sợ về an ninh cá nhân và về kinh tế căn bản ở một mức rất thấp. Trong xã hội của chúng, mọi người không sống trong lo sợ và hồi hộp. Trong xã hội chúng mọi người được bảo vệ bằng luật pháp công bằng. Trong xã hội chúng sống người dân có quyền tham gia quyết định tương lai của đất nước. Môi trường làm việc và học hỏi của họ dễ đưa họ đến thành công và sự thành công lại càng làm con người trở nên tự tin hơn. Và trong suốt quá trình phát triển của đứa bé cũng như quá trình học tập và làm việc của con người, tinh thần tự tin luôn luôn được khuyến khích. Tất cả những yếu tố đó góp phần cùng nhau tạo nên tinh thần tự tin trong con người. Câu trả lời của tôi cho người bạn chỉ nói lên được một phần của nguyên nhân tại sao đa số người Mỹ và một số người Việt sống ở Mỹ lại có lòng tự tin cao.

    Tôi cũng buồn như người bạn của tôi, nhưng tôi đã không nói cho người bạn tôi biết là để cho những người bạn của tôi và con cái của chúng sau này có được mức độ tự tin như những đứa bé Mỹ hoặc người Mỹ có lẽ còn nhiều khó khăn và còn lâu lắm vì môi trường xã hội và chính trị Việt Nam vẫn còn những vấn đề làm cản trở sự phát triển tính tự tin một cách sâu và rộng.

    Ai cũng nhận ra rằng tính tự tin là điều tốt, và chính vì vậy mà mọi người đều cố gắng xây dựng cho mình lòng tự tin. Anh bạn tôi, tôi, người Mỹ, người Việt ai cũng biết rằng tự tin có ích cho cá nhân một con người và cho xã hội. Trong khi tự tin có nhiều giá trị tốt thì những đặc tính khác như tự ti, tự ái, tự kiêu, tự tôn thì ngược lại vì chúng đem đến những điều không tốt. Tôi tin tưởng rằng sự tự tin và những đặc tính kia mặc dầu hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng chúng có liên hệ qua lại rất chặt chẽ với nhau, và ở một chừng mực nào đó còn ảnh hưởng lẫn nhau nữa.


    I. Hai Ðầu Của Một Sợi Dây

    Trước tiên tôi sẽ tìm cách giải thích ý nghĩa của những đặc tính nói trên theo sự hiểu biết và cái nhìn của cá nhân. Tôi nghĩ rằng người tự tin là người biết mình, biết khả năng của mình, biết mức độ và giới hạn của trí tuệ mình. Người tự tin hiểu rõ cá nhân mình và qua phân tích những đặc tính cá nhân đó cùng với tình hình môi trường xung quanh, anh hoặc chị ta sẽ đưa đến những kết luận và đường hướng trong sự làm việc, trong liên hệ giữa người với người, và trong định hướng cuộc sống của anh chị ta. Anh chị đó sẽ tin vào những suy nghĩ, việc làm, đường hướng của mình là đúng đắn và sẽ làm việc theo định hướng suy nghĩ đó. Khi làm việc theo định hướng, niềm tin đó anh chị ta tin tưởng rằng họ sẽ đạt được kết quả cuối cùng họ đặt ra.

    Người tự tin tin vào khả năng làm việc của mình cũng như tin vào tầm nhìn của mình. Tuy nhiên, tôi nghĩ quan trọng hơn hết là người thực sự có lòng tự tin cao là người biết giới hạn của mình và dám chấp nhận giới hạn đó. Người tự tin tin vào bản thân mình, biết mình là mình, thành ra người tự tin có khả năng chấp nhận những yếu kém của mình một cách công khai trước người khác và trước bản thân anh chị ta. Vì người tự tin dám chấp nhận giới hạn của mình, người tự tin không lo sợ người khác sẽ vượt lên trên mình, và người tự tin sẽ biết lắng nghe những ý kiến từ người khác. Người tự tin tin mình nhưng anh hoặc chị ta cũng biết rằng ý kiến của đám đông đa số cuối cùng sẽ là ý kiến đúng nhất và có lợi cho số đông nhất. Tôi nghĩ người thực sự tự tin là người biết khả năng và cái hay của mình nhưng cũng biết cái dở của mình. Dám nhìn vào cái dở của mình thì mới gọi là tự tin chứ.

    Tự tôn là điều tôi có nói đến ở chương trước. Tự tôn có ý nghĩa khá rõ ràng của nó. Tự tôn là tự đưa mình lên. Người tự tôn là người nói về mình mà lại nói với tính cách ca ngợi. Người tự tôn có thể vì đã làm được một việc gì đó hay có một ưu điểm nào đó nên muốn nói về những thành quả hoặc điểm tốt của mình cho người khác biết. Họ nói về những cái hay cái đẹp nhất của mình và của việc làm mình với hy vọng người nghe sẽ nể phục, sẽ ca ngợi họ. Người tự tôn làm việc đó vì họ muốn đạt được một vị trí nào đó cho dù đó là vị trí có giá trị thực tiễn vật chất hay chỉ là một vị trí cao họ hy vọng đạt được trong lòng người nghe mà thôi.

    Tuy nhiên vì lý do tương đối mà cống hiến hoặc tài năng của họ có thể chỉ có giá trị trong mắt họ mà thôi, còn đối với đám đông thì có giá trị thấp hoặc không có giá trị. Cũng vì lý do tương đối này mà người tự tôn lại càng phải chứng tỏ mình hơn nữa. Người tự tôn tự tôn mình với hy vọng vai trò hoặc việc làm của họ nếu không có giá trị thì sẽ được có giá trị hơn, và nếu vai trò hoặc việc làm của họ đã có giá trị rồi thì sẽ đạt được giá trị cao hơn nữa, cao hơn giá trị thực tế. Tự tôn là tìm cách ca ngợi chính mình để đưa vị trí của mình, vai trò của mình, cống hiến của mình, và tài năng của mình lên cao và cho mọi người biết tới.

    Tự kiêu cũng đã được nói tới trước và cũng có ý nghĩa khá rõ ràng. Người tự kiêu là người nghĩ mình hay và tài giỏi. Ðiều tai hại của tự kiêu là suy nghĩ hay và tài giỏi đó lại là hay và tài giỏi hơn người khác. Thành ra người tự kiêu cũng dễ coi thường người khác. Người tự kiêu thường không chịu nghe ý kiến xung quanh vì nghĩ rằng người xung quanh không thông minh hoặc có khả năng bằng mình. Một tác hại khác có thể xảy ra từ sự tự kiêu là không làm cho người ta cố gắng. Vì ý nghĩ mình đã tài giỏi rồi và ít người hơn được mình thành ra người tự kiêu không cần cố gắng nữa. Người tự kiêu có thể biểu lộ tính tự kiêu cho người khác thấy qua ngôn ngữ hoặc giữ trong lòng nhưng biểu lộ qua hành động như xem thường người khác và không hợp tác với người khác.

    Tự ái và tự ti thì khác. Người dễ tự ái có thể quá nhạy cảm thành ra họ dễ bị cảm thấy khó chịu hoặc xúc phạm bởi những người khác. Khi giao tiếp với người dễ tự ái thì phải cẩn thận trong “lời ăn tiếng nói” vì đôi khi một nhận xét, một lời nói mà chúng ta nghĩ là nhẹ nhàng vẫn có thể làm cho người dễ tự ái bị đau lòng. Người tự ái có thể để ý nhiều đến những giá trị của họ hoặc đặc tính của họ, và khi những giá trị đặc tính của họ phải đối diện với sự phê bình dầu nhẹ nhàng hay sự chỉ trích dữ dội thì họ đều cảm thấy bị xúc phạm và trở nên “defensive” hoặc tức giận. Cảm giác bị xúc phạm này cũng có thể xảy ra đối với người tự ái mặc dầu những ý kiến được người khác đưa ra là đúng sự thật và có giá trị xây dựng chứ không phải chỉ trích.

    Cần nói thêm sơ qua ở đây về một sự tự ái là “tự ái dân tộc”. Tôi nghĩ có lòng tự ái cho dân tộc và sẵn sàng đứng ra để bảo vệ cho dân tộc trước những nhận xét hoặc những lời chê bai có tính cách coi thường, nhục mạ là một điều rất cần thiết. Ðó là nhiệm vụ của mọi người. Tuy nhiên, nếu những ý kiến chỉ có tính cách xây dựng và đúng thì chúng ta cũng nên biết chấp nhận thực tế và lắng nghe. Trong những trường hợp đó chúng ta nên suy nghĩ kỹ và đừng tự ái hoặc nóng giận vội vã.

    Người tự ti thường thấy mình không bằng người khác. Ðây cũng là một tính không tốt. Người tự ti là người thấy mình dở, yếu, kém, thua sút, xấu hơn, ngu muội hơn người khác thành ra dễ mặc cảm, rút lui, và tránh né mọi người. Trái ngược với người tự kiêu, người tự ti thấy mình không có giá trị hoặc không có giá trị cao. Người tự ti sẽ không dám làm việc hoặc gánh lấy những trách nhiệm mà họ cho là quá nặng nề. Cũng vì tự ti mà những người này thường tránh né sự cạnh tranh và đối đầu với người khác cũng như ra mặt ngoài xã hội, và vì vậy người tự ti cũng không cố gắng nhiều. Họ dễ chấp nhận và dễ vừa lòng với những gì họ có. Cũng vì cảm giác yếu kém mà người tự ti cũng dễ mặc cảm và dễ tự ái hơn. Kết quả là họ dễ bị xúc động và dễ cảm thấy bị xúc phạm. Cho nên khi nói chuyện với người tự ti cũng cần phải để ý “lời ăn tiếng nói”. Tuy nhiên, cũng vì tự ti và mặc cảm quá mà đôi khi người tự ti đánh giá bản thân họ thấp hơn khả năng thực sự của họ.

    Bây giờ tôi xin tìm cách nối kết những đặc tính đã được kể trên với nhau. Tôi xin minh hoạ cho sự liên hệ của những đặc tính này bằng cách đặt chúng lên một sợi dây AB như hình sau đây.

    A • • B
    Tự tin Tự ái Tự tôn




    Tự kiêu Tự ti

    Ðoạn đường thẳng ở trên nối liền hai điểm tối đa A và B. A đại diện cho sự tự tin hoàn hảo và B đại diện cho tự ái, tự ti, tự kiêu, và tự tôn cao nhất. Tôi nghĩ rằng tự tin là một đức tính tốt và trái ngược hẳn với bốn đặc tính còn lại của con người thành ra tự tin nằm một bên và bốn đặc tính còn lại nằm một bên. Tôi cũng tin tưởng rằng trong xã hội không có người nào nằm hẳn tại A hoặc hẳn tại B, mà phần lớn mọi người là ở trong khoảng AB. Ðiều chúng ta muốn cho bản thân chúng ta là lấn dần về phía A tức có nhiều tự tin và ít bốn tính chất còn lại. Ðiều chúng ta muốn cho xã hội là số lượng người nằm gần A nhiều hơn số lượng người nằm gần B.

    Ðiều tôi muốn thảo luận ở đây là sự liên hệ và hỗ trợ giữa những đặc tính này với nhau. Tôi tin rằng người càng có nhiều tự tin thì càng có ít hoặc có khả năng làm giảm bớt tự ái, tự ti, tự kiêu, và tự tôn; trong khi đó những người có nhiều tự ái, tự ti, tự kiêu, và tự tôn là những người ít tự tin. Càng có nhiều bốn đặc tính kia thì càng ít tự tin. Ðồng thời, tôi tin rằng người có một trong bốn tính không tốt bên B thì cũng dễ (tôi muốn nói “dễ” thôi) có ba tính không tốt còn lại vì sự ảnh hưởng lẫn nhau của bốn đặc tính này.

    Tại sao người càng tự tin thì càng ít tự tôn? Tôi nghĩ rằng một người tự tin, khi đã biết mình, tin vào khả năng của mình, và tin vào giới hạn của mình thì cần gì phải tôn mình lên hoặc tự ca ngợi mình cho người khác biết. Người tự tin làm và biết việc mình làm, biết kết quả giá trị thực sự của công việc mình thành ra không cần phải ca ngợi hoặc khuyếch đại công việc của họ cho ai thấy cả. Nếu đã tự tin thì hãy chấp nhận kết quả đạt được của mình hoặc khả năng của mình ở mức độ thực sự của nó mà không cần phải tôn những điều đó lên rồi mới cảm thấy thoả mãn và an tâm được. Người tự tin biết và tin tưởng vào giá trị thực sự của bản thân sẽ không có những lo lắng, không hồi hộp hoặc không an tâm về khả năng thực sự của mình, hoặc lo người khác không biết hoặc đánh giá sai khả năng thực sự của mình. Vì vậy người tự tin không cần phải chứng minh điều gì với mọi người cả. Người tự tin biết mình là mình. Người tự tin biết người khác có khả năng đánh giá, tin vào khả năng đánh giá của họ, và dám để cho người khác đánh giá về khả năng và việc làm của anh hoặc chị ta. Người cứ cần phải chứng minh mình, ca ngợi mình và tôn mình lên cho thấy được sự không yên tâm và lo lắng về khả năng của chính họ, và điều đó chỉ chứng minh được rằng họ không có nhiều tự tin.

    Cũng tương tự như vậy, người tự tin sẽ ít tự kiêu. Người tự tin biết mình và biết giới hạn của mình, nhưng người tự tin cũng biết người và biết tài năng của người nữa. Người tự tin có khả năng chấp nhận nhược điểm của mình và chấp nhận ưu điểm của người khác. Người tự tin biết không ai hoàn hảo, ngay chính bản thân anh hoặc chị ta cũng vậy. Nếu vậy, đã biết mình không hoàn hảo, đã biết mình có những điều chưa tốt, đồng thời biết người khác có những cái hơn mình thì tự kiêu để làm gì và tự kiêu với ai đây? Hơn nữa, người tự kiêu “nặng” sẽ coi thường người khác và có thể từ chối học hỏi hoặc học hỏi một cách giới hạn. Người tự tin thì trái ngược lại. Người tự tin biết giới hạn của mình thành ra người tự tin sẽ cố gắng học hỏi mà không e dè mắc cở lo sợ người khác sẽ coi thường mình. Người tự tin tin vào khả năng người khác và tin vào sự tự tin của người khác thành ra họ sẽ tôn trọng và biết làm việc chung với người khác. Vì những lý do đó mà khi có nhiều tự tin thì tính tự kiêu sẽ giảm đi.
    Một trường hợp cần được nhắc tới là có những người có tính tự tin rất cao, nhưng vì họ quá giỏi và đạt được những thành công to lớn trong cuộc sống nên họ sẽ tự kiêu. Tôi nghĩ trường hợp này có, nhưng tôi nghĩ rằng sự tự kiêu này chỉ nhỏ mà thôi và người đó biết mình đang làm gì. Họ tự kiêu nhưng có tự chủ và kiểm soát. Và vì có tự chủ họ có khả năng điều khiển mức độ tự kiêu hoặc loại bỏ hẳn sự tự kiêu khi họ muốn. Vì có tự chủ, họ cũng biết rằng họ cần phải cố gắng và học hỏi thêm khi cần thiết. Trường hợp mà họ tự kiêu quá thì tôi sẽ trở lại với kết luận ban đầu là người này chưa đủ tự tin. Khi thực sự tự tin thì sẽ biết mình và biết người, và người thực sự tự tin vì vậy sẽ không tự kiêu. Tuy nhiên như đã nói trước, sẽ không có ai ở hẳn vị trí điểm A được.

    Càng nhiều tự tin có càng làm giảm bớt tự ti và tự ái không? Tôi tin là có. Cũng như những lý luận trên, người tự tin biết cái hay và cái không hay của mình, tin tài năng của mình nhưng cũng biết chấp nhận giới hạn của mình. Người tự tin tin vào sự đúng sai, hay dở của suy nghĩ và việc làm của mình; thành ra họ sẽ không quá tự ái. Nếu những ý kiến những phê bình nhận xét hoặc ngay cả chỉ trích đúng thì họ sẽ lắng nghe, còn nếu sai thì họ sẽ biết chống đối lại và chứng minh rằng họ đúng. Ðôi khi họ cũng không cần phải chứng minh hay phân bua gì cả vì họ đã biết và tin cái gì là đúng và cái gì là sai rồi. Ðơn giản vậy thôi chứ không việc gì mà phải cảm thấy bực bội hay xúc phạm để rồi cảm thấy đau lòng, tự ái.

    Bên cạnh đó người tự tin sẽ không tự ti. Ðiều này có lẽ khá rõ ràng và không cần phải giải thích nhiều. Tự tin là tin vào bản thân; trong khi tự ti là nghĩ mình có nhiều giới hạn, nhược điểm. Ðây là hai điều hoàn toàn trái ngược nhau. Có một đặc tính thì sẽ không có đặc tính kia. Cũng cần phải nói rằng người tự tin sẽ không tự ti, nhưng một người tự ti muốn xây dựng tính tự tin thì có lẽ sẽ khó khăn hơn.

    Vì những lý do giải thích trên tôi tin rằng tự tin và những đặc tính kia có quan hệ với nhau. Tính tự tin tự nhiên sẽ làm con người không cần phải tự tôn, tự kiêu để làm gì. Tự tin sẽ làm con người mất tự ái và tự ti. Trong khi đó những người không đủ tự tin thì dễ xúc động tự ái, hoặc mặc cảm. Những người không đủ tự tin thì hay phải nhờ vào tự tôn, tự kiêu để chứng tỏ mình hoặc “reassure” mình.

    Sự liên hệ giữa tự tin và bốn đặc tính kia theo tôi nghĩ là như vậy. Chúng trái ngược nhau hoàn toàn nhưng lại có liên hệ với nhau. Tự tin là tính tốt và đứng riêng một mình, trong khi đó tự tôn, tự ti, tự ái, và tự kiêu là những nhược điểm của con người và đứng chung với nhau trong một nhóm. Hơn nữa bốn đặc tính trong nhóm này lại còn hỗ trợ cho nhau.

    Hãy đặt một trường hợp để chứng minh cho sự liên hệ hỗ trợ này xem sao. Giả sử một người có nhiều tự ti, nghĩ rằng mình có nhiều nhược điểm thì dĩ nhiên hay mặc cảm và dễ cảm thấy bị xúc phạm khi bị “đụng chạm”. Ðó chính là tự ái. Trong trường hợp người tự ti (và tự ái) đó đạt được một thành quả nào đó thì dễ có khả năng người này sẽ tìm cách cho mọi người biết về thành quả của mình, và phải chứng minh mình với mọi người. Ðây là một nỗ lực của người tự ti, tự ái để làm cho người khác thấy được giá trị của họ và để họ cảm thấy an tâm hơn về chính bản thân của họ. Nhưng cái nỗ lực để chứng minh đó có thể đưa tới tự tôn. Tự tôn, thấy mình hay sẽ dễ dẫn đến sự tự kiêu. Ðồng thời có thể những người tự ti, vì ít đạt được nhiều thành công hoặc ít thành quả to lớn nên mỗi lần họ đạt được một điều gì có ý nghĩa thì đối với họ đó là đặc biệt lắm và họ trở nên kiêu ngạo. Vì tự ti, tự ái mà họ cũng cố gắng xây dựng cho mình một cái vỏ bọc bằng sự tự tôn và “reassurance” để bảo vệ cho mình và cho người khác có cảm giác mình là người có khả năng chứ không phải mặc cảm tự ti. Có thể họ sẽ cố gắng xếp đặt lại vị trí của họ cho cao hơn tại vì lâu nay họ đã ở vị trí thấp của người tự ái và tự ti. Nếu họ hãnh diện và tự hào về kết quả đạt được của họ thì tôi nghĩ là tốt. Hãnh diện và tự hào là hai điều tốt và khác với tự kiêu và tự tôn.

    Một trường hợp khác là người có nhiều tự tôn và kiêu ngạo cũng dễ trở nên tự ái, tự ti. Chính vì tự tôn và kiêu ngạo mà thành ra khi họ khám phá ra, hoặc người khác chứng minh cho họ thấy rằng, họ không có nhiều tài năng hoặc không tài giỏi (hoặc không tài giỏi như họ nghĩ) thì họ dễ bị tự ái và cảm thấy bị xúc phạm. Họ đang ở một vị trí trên cao mà bị lôi xuống thấp thì dĩ nhiên sẽ cảm thấy đau đớn, bực bội. Tương tự như vậy, có thể họ nhận ra rằng có nhiều người có khả năng như họ và hơn họ, và hiểu ra rằng họ không có thực tài trong khi nhiều người khác tài giỏi hơn, đang ở vị trí cao hơn thì họ cũng sẽ trở nên tự ti, mặc cảm. Họ tự kiêu và tự tôn để rồi một ngày nào đó họ ngưng lại, nhìn xung quanh và thấy rằng mình không tài giỏi lắm, và mọi người không đánh giá mình cao lắm, không phục mình thì tôi tin rằng họ sẽ rất thất vọng, mắc cở, bực dọc, và trở nên tự ti mặc cảm. Càng đặt mình trên cao thì càng trở nên tự ti, tự ái, và mặc cảm khi bị rớt xuống.

    Tự tôn và tự kiêu tôi nghĩ gần với nhau. Người tự kiêu nghĩ mình hay giỏi hơn mọi người thành ra sẽ biểu lộ sự cao siêu của mình qua lời nói việc làm để cho mọi người biết là mình hay, giỏi. Còn người tự tôn hay tìm cách đưa mình lên để có cảm giác ở trên cao và vì đó mà trở nên kiêu ngạo. Thực sự trong bản thân của việc tự tôn đã chứa đựng sự kiêu ngạo rồi. Vì nghĩ mình hay giỏi hoặc hay giỏi hơn người khác nên mới nói ra cho mọi người nghe. Ngược lại trong tự kiêu cũng chứa đựng tự tôn như đã nói ở trên.

    Ở Chương 2 tôi có nói về lòng tự hào và hiểu lầm nền văn minh đã làm dân tộc Việt Nam thấy mình cao siêu. Tôi tin tưởng rằng cái vòng liên hệ năm đặc tính trên có thể áp dụng cho dân tộc Việt và từng cá nhân người Việt trong trường hợp “thấy mình cao siêu” này. Tôi nhìn vào từng cá nhân con người và sự liên hệ giữa người Việt với nhau, và tôi cũng nhìn vào sự liên hệ giữa người Việt hoặc chính phủ Việt Nam với người nước ngoài và chính phủ nước ngoài thì tôi thấy sự hiện diện của cái vòng đó rất rõ ràng.

    Vài ví dụ rõ ràng hơn về mối liên hệ năm đặc tính này của một dân tộc không tự tin, không có nhiều điều tài giỏi, ưu việt, nhưng lại hiểu lầm (hay cố ý nghĩ, cố ý tôn mình lên) cao siêu và không dám chấp nhận cái dở và sự thất bại của mình sẽ được liệt kê sau đây. Có nhiều ví dụ liên hệ đến chính quyền, nhưng nhìn chung dân tộc chúng ta là vậy, và dù thể chế chính trị nào đi nữa thì cái vòng đáng buồn đó vẫn tồn tại theo những dạng khác nhau.

    Thứ nhất là chính sách và hoạt động kinh tế tại Việt Nam hiện nay đã đi theo hướng kinh tế thị trường, và chính quyền đã thấy được sự thành công của Tư Bản Chủ Nghĩa (thực sự họ rất khâm phục Mỹ và phương Tây) cũng như thất bại của Cộng Sản Chủ Nghĩa. Chính quyền đã “copy” cách vận hành kinh tế từ phương Tây, nhưng không bao giờ công nhận đó là cách thức vận hành kinh tế Tư Bản Chủ Nghĩa. Họ không bao giờ có đủ can đảm mở miệng nói, “Đây là kinh tế Tư Bản Chủ Nghĩa.” Họ cứ luôn cho là sự thành công về kinh tế của Việt Nam có được là do đường lối, chủ trương, lãnh đạo sáng suốt của Đảng và nhà nước. Họ làm như là những bộ óc thông minh của họ đã tạo nên được phương thức vận hành kinh tế thành công đó và rêu rao điều đó với người dân. Không những vậy, họ còn đặt ra một cái tên “kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”, và họ tự lừa dối nhau với cái tên đó (và dĩ nhiên họ biết họ đang tự lừa dối). Họ không có đủ tự tin, sức mạnh để nói, “Tôi đã thất bại. Anh đúng, tôi đang học hỏi từ anh và theo khuôn mẫu của anh.” Không những vậy, những con người thiếu tự tin và nhiều bốn cái “tự” kia còn đòi nhận công lao của sự thành công về phần mình.

    Ví dụ hứ hai liên hệ tới điều mà Việt Nam gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh.” Trong khi tại các nước khác, những nhà chính trị, kinh tế, xã hội học, triết học, v.v. coi “tư tưởng” này chẳng ra gì và đánh giá nó là “mediocre”, thì ở Việt Nam nó lại được tung hô trở thành một điều gì đó to lớn, ghê gớm, vĩ đại (Tôi cũng tìm hiểu “tư tưởng” này thì thực sự đúng là nó không có gì đặc biệt, đáng khâm phục). Đáng buồn là người Việt Nam, và giới trẻ Việt Nam, không được tìm hiểu nhiều về văn hoá thế giới nên không có dịp để so sánh và đánh giá sự “vĩ đại” của “tư tưởng” Hồ Chí Minh với những tư tưởng khác. Đây là ví dụ cho một dân tộc (chính quyền, trong trường hợp này) không có gì cả, và vì tự ty, tự ái, không tự tin mà cứ phải cố gắng tìm cách tôn những điều không to lớn lắm lên, để có cảm giác là mình cũng “có” một cái gì đó, để có cảm giác siêu việt, vĩ đại.

    Ví dụ thứ ba cũng liên hệ tới một vấn đề lớn và có tác hại lâu dài. Đó là chính sách giáo dục tại Việt Nam chỉ tập trung vào việc ca ngợi những cái hay, cái đẹp, cái tốt. Tệ hại hơn nữa là rất nhiều những điều ca ngợi đó không chính xác. Nhiều điều là sự phóng đại. Không những vậy nhiều điều là sai sự thật. Trong khi đó thì những điều xấu xa, tai hại nhưng là sự thật và tồn tại trong nền văn hoá, trong xã hội, trong chính quyền, trong con người, trong lịch sử phát triển đất nước thì bị che dấu, lảng tránh, không được đề cập tới, không được phép giảng dạy, học sinh không được bàn thảo và không có quyền tìm hiểu, phân tích. Càng nguy hại hơn là chính sách giáo dục đó được làm với tính cách ép buộc, tuyên truyền, và nhồi sọ. Tôi tin rằng chỉ dân tộc nào không có gì, thiếu tự tin và nhiều tự ái, tự ty, tự tôn, tự kiêu, lo lắng, không yên tâm về chính bản thân mình thì mới giáo dục theo cách và mức độ như Việt Nam mà thôi.

    Một ví dụ nữa là chính quyền Việt Nam ngoài miệng thì có thể chê trách, phê phán rất mạnh mẽ các quốc gia khác, đồng thời khẳng định sự mạnh mẽ, niềm tin, đường lối, sự thành công của mình; nhưng mặt khác thì lại xin tiền viện trợ, trợ giúp công nghệ từ những nước đó, hoặc mong muốn được làm việc với họ. Hành động phê phán, lên án người khác và cố gắng khẳng định mình theo cách của Việt Nam là hành động của những người yếu đuối, thiếu tự tin, nhiều mặc cảm, tự ty đang cố gắng chứng minh mình, đưa mình lên, cho người ta thấy hoặc cho người dân Việt Nam thấy mình cũng “ngon” lắm chứ “không đến nỗi.” Nhưng hành động xin trợ giúp thì lại cho thấy mình không có gì cả, yếu kém, và phụ thuộc. Tôi đã tham dự một vài cuộc họp với sự tham gia của nhân viên chính phủ Việt Nam bàn chuyện “hợp tác” (thực ra là trợ giúp Việt Nam), và tôi cũng như những người Mỹ tham dự đã thấy rất rõ sự hiện diện của bốn cái “tự” xấu và thiếu vắng cái “tự” tốt trong họ. Là một người gốc Việt, lúc đó tôi đã cảm thấy buồn và xấu hổ.

    Ví dụ cuối cùng, ở mức độ cá nhân từng con người, có thể thấy rõ ràng khi nhìn vào nhiều người Việt có dịp sống ở nước ngoài hoặc “thành công” ở nước ngoài, cũng như nhìn vào những người mới giàu lên nhờ kinh tế phát triển tại Việt Nam hiện nay. Chúng ta sẽ thấy “attitude” và “behavior” của họ được xây dựng dựa trên bốn đặc tính bên phải của sợi dây và sự thiếu vắng đặc tính thứ năm bên trái. Đơn giản nhất là cứ nhìn vào cách họ thích … “chơi hàng hiệu” (mà đôi khi họ không biết thật hay giả(?!?!)) là thấy ngay. Cuối Chương 10, tôi có viết một câu chuyện ngắn. Trong câu chuyện đó hình ảnh những con người bị vướng trong cái vòng này có thể được thấy rõ ràng hơn một chút.

    Bốn đặc tính xấu trên có liên hệ chặt chẽ với nhau, và thực sự mà nói thì bốn đặc tính này chỉ là một mà thôi vì chúng là hai mặt của một đồng tiền. Bốn đặc tính xấu đó ở cùng một bên của sợi dây, còn đầu bên kia là tính tự tin. Vì sự liên hệ của chúng như vậy, tốt nhất là càng tránh xa được một trong bốn xấu đó và càng gần tính tự tin thì càng tốt.


    II. Một Vài Ðặc Tính Ðể Thành Công

    Thành Công ở đây là thành công cho cá nhân và cho xã hội.

    Tôi tin tưởng rằng tự tin là đặc tính rất tốt cho sự phát triển của con người và xã hội. Trong khi tự tin bản thân nó đã là một đặc tính tốt, tự tin còn làm giảm thiểu tự ti, tự ái, tự tôn, và tự kiêu. Ðây là bốn tính rất xấu trong xã hội. Bốn tính này làm con người không gần nhau và không làm việc với nhau được, và bốn tính này cũng làm cho bản thân con người và xã hội nói chung không cố gắng, dễ thoả mãn và hài lòng với những thành công không lớn lắm.

    Vì tầm quan trọng của tính tự tin, tôi tin rằng nó sẽ góp phần giúp một cá nhân hoặc một xã hội thành công. Tuy nhiên tự tin không vẫn chưa đủ để tạo nên thành công. Ba đặc tính cần thiết khác để đưa tới thành công là sự sáng suốt, sức mạnh, và ý muốn. Có nhiều yếu tố hoặc sự tổng hợp của nhiều yếu tố để đưa tới thành công. Ðây chỉ là một vài đặc tính tôi đưa ra mà thôi.

    Sự sáng suốt tôi muốn nói ở đây là khả năng nhận biết cái tốt và cái xấu, và sự sáng suốt này cũng bao hàm ý nghĩa thông minh nữa. Tôi cũng xin nói rằng người thông minh thì cũng sáng suốt và ngược lại. Sự sáng suốt giúp con người nhận ra những gì nên làm và những gì không nên làm. Sự sáng suốt giúp con người nhận ra những cái gì tốt cho bản thân, cái gì tốt cho xã hội, và cái gì tốt cho cả hai. Sự sáng suốt giúp con người nhận ra cái gì tốt nhỏ và cái gì tốt lớn. Người sáng suốt cũng có nghĩa là người biết sự quan trọng của học hỏi và sự quan trọng của tôn trọng ý kiến. Trong khi người có học và học giỏi chưa hẳn đã sáng suốt, người sáng suốt có khả năng học giỏi và biết mình nên cố gắng học hỏi liên tục. Sự học sẽ giúp con người thêm (“thêm” mà thôi) sáng suốt. Người sáng suốt có khả năng nhận biết những gì phù hợp với mình và khả năng của mình cũng như những gì phù hợp với xã hội văn hoá của mình. Sự sáng suốt sẽ đưa tới những lựa chọn đúng đắn. Người sáng suốt, thông minh biết rằng mình không nên khôn nhỏ, khôn vặt, và người sáng suốt biết rằng mình nên có một tầm nhìn xa và rộng.

    Tôi xin đưa ra một ví dụ đơn giản cho sự sáng suốt sau đây. Một người có khả năng, có học và làm việc với mức lương cao. Nhưng tới khi phải đóng thuế hàng năm cho chính phủ thì anh ta tìm cách trốn thuế. Việc trốn thuế này có lợi cho anh ta nhưng có hại cho xã hội và thực sự là có hại cho chính bản thân anh ta và con cái anh ta vì anh ta và con cái anh ta chính là những phần tử trong xã hội. Nếu trong xã hội mà có nhiều người như vậy thì xã hội sẽ không thể vận hành được và “public goods” sẽ không hình thành. Chính phủ không làm việc được, hệ thống giáo dục cho con cái của anh ta bị thiệt hại, hệ thống hạ tầng xã hội, hệ thống bảo hiểm, an sinh xã hội không phát triển. Hệ thống an ninh quốc phòng yếu kém. Theo tôi nghĩ người như vậy là người không sáng suốt, không thông minh (mặc dầu có thể anh ta có học hoặc có bằng cấp cao). Nói tóm lại, trong định nghĩa của tôi sáng suốt là khả năng nhận biết và phân biệt để rồi con người có thể định ra hướng đi đúng nhất và tốt nhất cho mình và cho xã hội. Sáng suốt cũng bao gồm sự thông minh để giúp con người học hỏi và làm việc một cách hữu hiệu.

    Tự tin như đã nói ở trên là tin vào khả năng, vào trí tuệ và biết giới hạn của mình. Nhờ tự tin mà chúng ta mới tin tưởng vào sự sáng suốt của mình và tin tưởng rằng con đường mình chọn là con đường đúng. Nhờ tin tưởng vào bản thân nên chúng ta sẽ cố gắng và làm việc với sự tập trung cao và không dễ bị lung lạc bởi những yếu tố bên ngoài. Người tự tin biết con đường mình đi, tự tin khả năng của mình, và sẽ mạnh dạn bước đi trên con đường đó với niềm tin vào sự thành công sẽ tới ở cuối con đường. Tự tin đã được nói nhiều ở trên nên ở đây tôi sẽ không nhắc lại.

    Trong khi đó sức mạnh là một điều rất quan trọng. Ở đây tôi muốn nói tới sức mạnh của ý chí, của nghị lực, của tinh thần. Sức mạnh ở đây cũng là sức mạnh của sự cương quyết. Nhờ sức mạnh này mà con người mới cố gắng hết sức lực khả năng của mình và vượt qua những thử thách về vật lý lẫn về tinh thần cam go nhất để đạt được mục tiêu đề ra. Sức mạnh này được chứng tỏ bằng khả năng chống cự lại và chiến thắng những khó khăn và những cám dỗ không tốt. Nhờ có sức mạnh mà ta chiến thắng được những tác động xấu bên ngoài cũng như chiến thắng được bản thân mình. Nhờ có sức mạnh, sự cương quyết mà ta sẽ không nhụt chí. Nếu có sự sáng suốt và đã chọn lựa được một hướng đi đúng, có sự tự tin vào hướng đi đó và tự tin vào khả năng đạt được kết quả ở cuối con đường, nhưng nếu không có sức mạnh để rồi dễ bị gục ngã trên đường đi thì sẽ không đạt được kết quả.

    Xin trở lại ví dụ anh chàng trốn thuế. Có thể là anh ta đã không sáng suốt và quyết định trốn thuế. Nhưng giả sử anh ta là người sáng suốt và nhận ra rằng việc trốn thuế không tốt cho anh và cho con cái của anh. Anh ta cũng nhận ra là trong xã hội mà có nhiều người như anh thì xã hội sẽ không vận hành được. Tuy nhiên vì anh ta không đủ sức mạnh nên anh ta không chống cự lại nổi lòng ham muốn trốn thuế. Có thể anh ta đã suy nghĩ nhiều, đã dằn vặt nhiều đêm, và đấu tranh với chính bản thân mình trong việc có nên hay không nên trốn thuế, nhưng cuối cùng anh đã đầu hàng trước những cái lợi cho bản thân anh ta và quyết định trốn thuế. Mặc dầu anh ta biết phân biệt và nhận ra điều tốt xấu nhưng vì yếu đuối mà anh đã đầu hàng “evil”. Ví dụ trên đây cho thấy vì yếu đuối mà sự sáng suốt và tự tin trở thành vô dụng.

    Thực sự lòng tự tin và sức mạnh có liên quan với nhau. Người tự tin tôi nghĩ sẽ có sức mạnh để vượt qua những khó khăn. Người tự tin tin tưởng vào những điều mình làm nên sẽ cố gắng hết sức để đạt được mục tiêu và sẽ khỏi bị ngã gục. Nhưng tôi tin tưởng sức mạnh là một yếu tố rất quan trọng, và tôi muốn đặt nó ở một vị trí riêng biệt và nó xứng đáng ở một vị trí riêng biệt. Biết phân biệt tốt xấu, có lòng tự tin, nhưng không đủ sức mạnh tinh thần, ý chí, nghị lực, cương quyết thì sẽ không bao giờ đạt tới đích.

    Yếu tố cuối cùng là ý muốn. Ý muốn mới nghe có vẻ đơn giản và không quan trọng, nhưng nó có ý nghĩa quyết định cho sự thành công. Ý muốn đơn giản là muốn làm việc để đạt được một kết quả nào đó. Ý muốn giúp con người đặt ra được mục tiêu trong cuộc sống và cố gắng để đạt được mục tiêu đó. Ý muốn và sự sáng suốt sẽ giúp chúng ta chọn được mục tiêu đúng đắn. Mặc dầu một người có thể nhận ra điều tốt nên làm và con đường tốt có thể đi, có lòng tự tin vào khả năng và tin tưởng vào sức mạnh ý chí để thành công, nhưng nếu không muốn tiến bước trên con đường đó thì người đó sẽ không tiến bước. Ðơn giản vậy thôi. Không thích, không muốn, không hứng thú đi trên con đường đó thì dĩ nhiên sẽ không đi tới điểm cuối của con đường.

    Tôi nhận thấy ý muốn liên quan với sức mạnh. Nếu có nhiều sức mạnh người ta vẫn có thể ép buộc chính bản thân mình đi trên con đường đi đó vì người ta biết rằng con đường đó tốt. Tuy nhiên yếu tố sở thích/ý muốn lại bị ảnh hưởng rất nhiều bởi môi trường sống, văn hoá và xã hội, môi trường giáo dục trong nhà trường và gia đình. Ý muốn và sở thích có lẽ còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố “genes” nữa. Chính vì vậy tôi nhận ra rằng ý muốn rất khó sửa đổi và rất khó dùng sức mạnh tinh thần để sửa đổi. Vì vậy nên tôi thảo luận ý muốn một cách riêng biệt.

    Xin đưa ra một ví dụ. Một người nhận biết được rằng làm thương mại là điều tốt và có thể giúp ích cho đất nước. Ðồng thời anh ta cũng tự tin vào khả năng của mình và có sức mạnh ý chí cũng như những yếu tố tinh thần để đưa đến thành công, nhưng vì một lý do nào đó anh ta thích đi tu hơn. Anh ta quyết định đi tu và không tham gia vào việc thương mại. Anh đi tu mặc dầu trong thân tâm anh biết rằng anh có khiếu về thương mại và nếu làm thương mại anh sẽ giúp được nhiều cho xã hội. Anh có thể tạo nên công ăn việc làm cho nhiều người và nhờ vậy anh giúp ích được cho họ và con cái gia đình của họ. Anh sẽ trả thuế cho chính phủ nhờ vậy mà giáo dục, y tế, khoa học, kinh tế, quốc phòng sẽ phát triển. Anh sẽ đóng góp tiền bạc trong việc thiện nguyện để giúp đỡ bao nhiêu người nghèo khó. Anh sẽ góp phần vận hành guồng máy kinh tế, khoa học của xã hội và thúc đẩy xã hội tiến nhanh hơn. Mặc dầu trong trường hợp của anh, sự sáng suốt cho biết rằng đi tu không tốt cho xã hội bằng làm thương mại, nhưng anh đã từ chối cái nhìn đó và đi tu. Ví dụ rất đơn giản thôi, nhưng cho chúng ta thấy được ý muốn quan trọng như thế nào. Anh đi tu vì anh thích cuộc sống tu hành.

    * * *

    Trong khi tự tin là một đức tính tốt thì tự tôn, tự ái, tự ti, tự kiêu lại có nhiều tác hại. Tôi tin tưởng rằng muốn xã hội phát triển thì cần nhiều người ở về phía đầu bên A của sợi dây ở trên. Bên cạnh sự tự chọn lọc và loại bỏ của xã hội đối với những tính xấu, tôi cũng tin tưởng rằng cách hữu hiệu nhất để loại bỏ tự kiêu, tự ái, tự ti, tự tôn là khuyến khích sự phát triển lòng tự tin và xây dựng một môi trường cho tính tự tin được nẩy nở. Ðơn giản như vậy thôi nhưng tôi tin tưởng vào điều đó.

    Muốn sự có mặt của tự tôn, tự kiêu, tự ái, tự ti trong xã hội bị phai mờ thì cách hữu hiệu nhất, ngắn gọn nhất là phát triển lòng tự tin của từng con người. Thay vì kêu gọi mọi người đừng tự kiêu, đừng tự tôn, tự ái nữa thì chúng ta hãy giáo dục, giúp đỡ, khuyến khích sự tự tin lẫn nhau. Trong khi sự kêu gọi loại bỏ bốn đặc tính kia chưa biết có đem lại kết quả mong muốn hay không thì tính tự tin tự nó sẽ loại bỏ hoặc giảm thiểu bốn tính xấu đó.

    (Điều nói ở trên đây cũng có thể áp dụng trong những trường hợp khác. Ví dụ như thay vì kêu gọi hoặc cấm đoán mọi người đừng mê tín dị đoan nữa, chúng ta hãy cung cấp sự giáo dục và kiến thức. Sự giáo dục và kiến thức sẽ làm con người hiểu biết hơn, đầu óc rộng mở hơn, có khả năng phân tích hơn, và tự tin hơn. Kết quả tự nhiên con người sẽ bớt mê tín. Kiến thức tự nó sẽ làm giảm thiểu mê tín dị đoan.

    Mê tín dị đoan và đôi khi niềm tin quá lớn vào những thế lực siêu hình có thể đưa đến những tác hại rất lớn vì con người không còn tự chủ, mất tự tin, không kiểm soát được chính mình, và sợ hãi. Kết quả là con người có thể dễ dàng bị lợi dụng và điều khiển mà không hay biết. Đây là điều rất nguy hiểm cho từng cá nhân và cho cả một dân tộc vì có thể những người lợi dụng sự yếu đuối, sợ hãi, mất tự tin của con người làm việc đó với mục đích riêng của họ … ví dụ như những mục đích kiếm tiền, tài chánh, và danh vọng, hoặc mục đích chính trị, văn hoá, kinh tế. Sự lợi dụng và điều khiển này rất dễ thực hiện và cũng dễ thâu được kết quả, và đang diễn ra hàng ngày tại khắp nơi trên thế giới kể cả trong nước Việt Nam và các cộng đồng Việt Nam trên thế giới.)

    Tự tin là yếu tố cần thiết để đem lại thành công. Có nhiều yếu tố cần thiết cho sự thành công, nhưng tôi nghĩ bốn đặc tính cần thiết là sự sáng suốt, tính tự tin, sức mạnh tinh thần, và ý muốn. Sự sáng suốt sẽ giúp con người nhận ra điều gì tốt, nên làm, và đặt ra mục tiêu. Trong khi đó tính tự tin và sức mạnh ý chí sẽ giúp người đó cố gắng, tin tưởng vào việc mình làm trong suốt quá trình làm việc. Nhưng để cất bước chân đầu tiên trên con đường đã vạch ra thì lại cần phải có ý muốn và sự ham thích. Bốn yếu tố này cần thiết và nếu làm việc hài hòa với nhau sẽ đưa đến sự thành công cho mỗi cá nhân và cho xã hội. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố thì sự thành công sẽ không cao nhất, và những lợi ích chỉ đến với cá nhân mà thôi chứ không phải cho toàn xã hội. Nhìn rộng ra một chút thì sẽ thấy rằng nếu có đủ bốn yếu tố này xã hội sẽ đạt được thành công trong việc tổ chức và làm việc trong những lãnh vực khác nữa như chính trị, giáo dục, xã hội, v.v.

    Như đã nói, có nhiều công thức hoặc tính chất đem đến thành công. Trên đây tôi vừa đưa ra bốn đặc tính. Bây giờ tôi xin đưa ra ba đặc tính khác hoặc một công thức khác, theo cái nhìn chủ quan của tôi. Tôi nghĩ ba đặc tính này rất cần thiết và cần có cho người Việt Nam vì đây là những điều dân tộc chúng ta thiếu một cách trầm trọng. Công thức đó là chúng ta cần có tính sáng tạo như người Mỹ, tính kỷ luật như người Đức, và tính khiêm tốn như người Nhật. Quý vị và các bạn có thể bàn thảo với bạn bè xem công thức này có tốt không và chúng ta có nên cố gắng thực hiện một phần nào cái tham vọng này không.

    Trong khi đó tôi sẽ nói với người bạn cũ của tôi là nếu Việt Nam muốn phát triển tính tự tin và tạo điều kiện thành công cho mọi người và xã hội thì mọi người hãy nên bắt đầu ngay từ bây giờ trong việc khuyến khích tính tự tin. Tuy nhiên, khuyến khích và kêu gọi thôi không đủ; tính tự tin sẽ “hollow” (trống rỗng) và “shallow” (cạn). Sự khuyến khích có thể giúp con người tự tin hơn, nhưng quan trọng hơn hết là hãy xây dựng nên một môi trường mà trong đó tính tự tin với nhiều “substance” có điều kiện phát triển được. Chúng ta cũng cần phải ủng hộ, khuyến khích, và giúp đỡ những người tự tin; đồng thời phải ca ngợi, làm việc, và hợp tác với họ. Chúng ta không nên “sợ” những người tự tin, có ác cảm với họ, hoặc có cảm giác những người tự tin có vẻ “kiêu ngạo quá”. Chúng ta phải thấy vui cho họ và vui cho xã hội đã có những người như họ.
  5. Chương 6
    Những Cái Vòng Luẩn Quẩn



    Tôi có thói quen hay quan sát và lắng nghe những gì xảy ra xung quanh mình cũng như trong chính bản thân, rồi sau đó phân tích xem những sự việc tôi nghe và quan sát đó liên quan với nhau như thế nào và tác động trong xã hội của chúng ra sao. Trong khi làm công việc đó tôi khám phá ra nhiều điều lý thú về sự tương quan giữa những sự việc với nhau. Tôi sẽ đưa ra một số những nhận xét đó sau đây. Mỗi nhận xét liên quan tới một vài sự việc, và tôi gọi mỗi trường hợp nhận xét là một cái vòng lẩn quẩn vì mỗi trường hợp hình như đều bao hàm một sự rối rắm nào đó bên trong. Nói thế nhưng thực sự chúng cũng không rối rắm, luẩn quẩn lắm; nếu suy nghĩ kỹ lưỡng một chút chúng ta sẽ thấy rằng đây chỉ là sự liên hệ nguyên nhân-kết quả, là sự tương quan, tương tác tự nhiên của những sự việc mà thôi. Tôi tìm thấy rất nhiều những cái vòng luẩn quẩn này, nhưng tôi chỉ đưa ra ba ví dụ mà thôi vì tôi không muốn quý vị và các bạn cảm thấy nhàm chán.


    Cái Vòng Thứ Nhất: Khen và Chê

    Trong xã hội sự khen chê lúc nào cũng xảy ra và là điều bình thường. Dĩ nhiên trong cuộc sống có cái hay cái dở, cái tốt cái xấu tùy cái nhìn của từng người. Tùy theo cái nhìn đó mà mọi người sẽ nói lên những nhận xét của họ về vấn đề tốt xấu và sẽ lựa chọn những gì phù hợp với họ nhất. Có nhận xét phê bình thì sự chọn lọc và loại bỏ trong xã hội mới xảy ra. Ðó là điều cần thiết cho sự phát triển của xã hội. Trong phần này tôi xin được bàn tới một khía cạnh khác của sự khen chê. Tôi muốn tìm hiểu về sự liên hệ giữa khen chê với những đặc tính khác của con người mà điển hình là tính tự tôn, tự kiêu, và sẽ thiết lập “một cái vòng lẩn quẩn” giữa sự khen chê và những đặc tính đó. Nói chung chung là như vậy. Tôi sẽ cố gắng giải thích một cách chi tiết hơn sau đây.

    Theo tôi khen chê có hai đặc tính tốt sau đây. Thứ nhất là khả năng cho thấy tốt xấu và hay dở. Nhờ có khen chê mà ta biết được những gì được đa số mọi người chấp nhận (khen) sẽ là tốt hoặc hay và có cơ hội phát triển nhiều hơn. Chính nhờ khen chê mà chúng ta biết cái gì được người khác yêu chuộng, và cái gì không được mọi người ưa thích. Sự yêu chuộng và chấp nhận sẽ đưa đến sự phổ biến và tồn tại của những điều được khen. Những gì không được yêu thích và không được chấp nhận sẽ bị loại bỏ. Ví dụ như hành động giúp đỡ người khác và làm việc thiện nguyện mà không cần phải nói cho mọi người biết về việc làm của mình là điều được nhiều người khen ngợi vì đây là một việc tốt. Hoặc làm ơn nhưng không trông đợi được trả ơn cũng là việc đáng khen. Một ví dụ khác là một loại âm nhạc nào đó (như nhạc giao hưởng Tây phương hay nhạc dân ca Việt Nam) mà được nhiều người ưa thích thì loại âm nhạc đó sẽ có cơ hội phát triển. Những người nói dối hay đạo đức giả chắc chắn không được mọi người ưa thích và sẽ rất cô đơn. Nhờ sự khen chê mà xã hội sẽ biết chọn lọc để giữ lại những gì được chấp nhận và loại bỏ những gì bị coi là không tốt, không hay. Chính nhờ sự chọn lọc này mà xã hội sẽ hoạt động một cách trơn tru cho đa số mọi người. Nhờ biết rõ cái gì được khen và chấp nhận mà chúng ta tiếp tục suy nghĩ, hành xử theo hướng được khen đó.

    Khi nói về tốt xấu thì có hai điểm chúng ta cần lưu ý. Ðiểm lưu ý thứ nhất là những gì được thiểu số chấp nhận hoặc khen cũng vẫn có cơ hội phát triển và tồn tại mặc dầu ở vị trí ít phổ biến hơn. Ðiểm lưu ý thứ hai là không hẳn những gì được đa số chấp nhận đều có phẩm chất cao hơn những điều thiểu số thích (ví dụ như nhạc Pop và nhạc Giao Hưởng). Nhưng nhờ được nhiều người ưa chuộng mà có những điều không phải hay nhất vẫn có cơ hội phát triển hơn. Ðiều này không sao cả. Luật đa số là vậy. Con người sẽ từ từ phát triển sự thưởng thức và cái nhìn của họ cao hơn theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội, và phát triển dân trí.

    Ðặc tính tốt thứ hai là sự khen ngợi có giá trị khuyến khích rất lớn. Trong nỗ lực làm việc để đạt được một mục đích nào đó, ngoài sự cố gắng, quyết tâm, và sự sáng suốt của bản thân, tôi nghĩ rằng sự khuyến khích của những người xung quanh rất quan trọng để giúp đạt được mục đích. Sự khuyến khích qua lời khen ngợi cho thấy người khác nghĩ rằng người đang cố gắng làm việc có khả năng trong hiện tại hoặc tin tưởng vào khả năng trong tương lai của họ. Sự khuyến khích qua những lời khen ngợi cho thấy rằng mọi người quan tâm đến công việc của anh ta hoặc chị ta đang làm và mọi người quan tâm đến kết quả của công việc đó. Sự khuyến khích cũng cho thấy mọi người tin điều anh hoặc chị ta đang làm là điều tốt và mọi người chấp nhận nó. Tất cả những điều đó có tác dụng thúc đẩy rất lớn, và nó làm cho người ta cố gắng hơn để đạt được mục tiêu làm việc đặt ra hoặc cố gắng duy trì những việc làm, cách cư xử, hoặc suy nghĩ đã có sẵn. Ví dụ như sự khen ngợi những hành động anh hùng của những nhân viên cứu hoả sẽ khiến họ duy trì việc làm tốt và được coi là anh hùng đó của họ. Ví dụ như lời khen ngợi một đứa bé đánh Piano hay sẽ là một khích lệ rất lớn đối với đứa bé và có khả năng khuyến khích đứa bé cố gắng hơn vì nó nghĩ rằng mọi người ủng hộ và tin tưởng vào khả năng và sự cố gắng của nó. Ðây là trường hợp “positive motivation” rất thịnh hành ở phương Tây.

    Như đã nói ở trên chê có tác dụng làm cho chúng ta thấy được điều không tốt. Nhờ chê mà chúng ta biết được cái gì không nên làm, và kết quả là chúng ta sẽ làm điều ngược lại (hoặc hy vọng sẽ làm ngược lại). Tuy nhiên chê cũng có tác dụng “khuyến khích” nữa. Chê giúp chúng ta thấy rằng chúng ta còn chưa được tốt hoặc chưa đạt được mức độ yêu cầu, và nhờ vậy mà phải cố gắng hơn nữa. Ðây là trường hợp “negative motivation” mà tôi nghĩ khá phổ biến ở Á châu. Chúng ta chê với hy vọng rằng người bị chê sẽ cố gắng hơn nữa để không bị chê và sẽ đạt được mức độ đáng được khen. Ví dụ như cha mẹ nói với đứa con của mình đánh Piano dở quá và cha mẹ hy vọng rằng khi nghe được điều đó đứa bé sẽ thấy được giới hạn của mình và cố gắng hơn.

    Mặc dầu vậy chê có tác hại lớn là nó có khả năng làm người bị chê chán nản và mất ý chí. Kết quả là người bị chê sẽ không cố gắng nữa. Người bị chê dễ có cảm giác không được sự khích lệ và ủng hộ. Bị chê nhiều quá có thể sẽ đưa đến sự tự ti, tủi thân, và mất tự tin; và sự tự ti này có thể sẽ đeo đuổi con người cho đến suốt đời. Ðây là một điều rất không tốt cho sự phát triển của một người, dù người đó là một đứa bé hay người lớn đi nữa. Ða số các nhà tâm lý học và xã hội học tin tưởng rằng “positive motivation” có nhiều tác dụng tốt và hữu hiệu hơn, trong khi đó “negative motivation” không hữu hiệu và có nhiều tác hại, đặc biệt đối với trẻ em. Tôi đồng ý với nhận xét này. Tuy nhiên “positive/negative motivation” không phải là đề tài của bài viết này.

    Đó là “chê” với tính cách cho thấy giới hạn để cải tiến. Còn một loại chê khác là chê với tính cách “chê bai.” “Chê bai” bắt nguồn từ những nguyên nhân khác nhau có thể khách quan, có thể chủ quan không chính xác, nhưng “chê bai” hoàn toàn “negative” và không có tính “motivation.” Vài nguyên nhân dẫn đến chê bai có thể kể ra là: lòng ganh tỵ, tính hẹp hòi, thù ghét, bêu xấu, tranh chấp chính trị, cạnh tranh thương mại, lo sợ người khác giỏi hơn mình, chê để có cảm giác mình giỏi, chê để chứng tỏ ta đây tài giỏi hiểu biết, chê để hạ người khác xuống, chê để đưa mình lên, v.v. Chê bai là điều xấu xa đối với những người trong cuộc, độc hại cho tâm lý con người, độc hại cho xã hội, và cản trở sự phát triển xã hội.

    Vậy thì khen và chê đã tạo nên cái vòng như thế nào cùng với tính tự kiêu, tự tôn? Vì vấn đề là một cái vòng nên tôi không biết nên bắt đầu từ đâu trên cái vòng đó. Tôi xin tạm bắt đầu như sau: vì một lý do nào đó chúng ta lo sợ khi được khen ngợi, con người sẽ dễ trở nên tự kiêu hoặc quá tự hào thành ra chúng ta ít khen ngợi. Vì vậy trong xã hội mọi người ít khen ngợi lẫn nhau (Vài lý do đã nêu ở trên như sự ganh tỵ hay ghen ghét cũng làm con người không khen ngợi). Như đã nói con người đôi khi cần sự khen ngợi và khuyến khích vì tác dụng tốt của sự khẳng định tài năng và công nhận của khen ngợi, khuyến khích. Thành ra sự không khen ngợi sẽ trở thành vấn đề khi những người có thực tài và có khả năng lại không được khen ngợi. Khi đó họ sẽ cảm thấy rằng công sức và khả năng của họ không được nhận biết hoặc tệ hại hơn nữa không được biết ơn của những người xung quanh. Vì sự bất công này mà có những người sẽ tìm cách khẳng định khả năng và công sức của mình bằng cách tự khen ngợi và tự đánh giá cao chính mình. Sự tự khen ngợi này có thể diễn ra trong môi trường cá nhân bạn bè hay môi trường công cộng. Và chắc là các bạn cũng đồng ý với tôi sự tự khen (hay tự tôn, có thể dẫn đến tự tôn, hoặc bị hiểu lầm là tự tôn?) là một điều khó được mọi người chấp nhận. Khi một người tự khen mình thì dễ làm cho những người xung quanh khó chịu, và suy nghĩ tức thì đến với họ là người tự khen đó là người tự tôn, tự kiêu, và không khiêm tốn. Phản ứng của những người xung quanh sẽ là không khen ngợi người đó hoặc không khen ngợi nữa. Không những vậy, người đó có thể sẽ không được thích và bị tách rời bởi những người khác. Ðó là trường hợp người không được khen ngợi là người có thực tài.

    Một trường hợp khác là người tự khen không có thực tài. Tại vì sự tốt xấu, hay dở là “relative” nên có những người nghĩ mình có tài hoặc có khả năng mặc dầu phần đông người khác không nghĩ như vậy. Và khi người này tự khen mình thì phản ứng từ những người xung quanh lại càng mạnh mẽ hơn nữa vì phần lớn mọi người sẽ nghĩ rằng anh này hoặc cô này đã dở mà lại còn tự tôn, và kiêu ngạo. Trường hợp này anh hoặc chị ta sẽ còn bị không thích hơn trường hợp của người có thực tài nữa và sẽ bị khinh thường.

    Nói tóm lại là có những trường hợp những người có thực tài (hoặc những người không có thực tài) lại không được mọi người công nhận hoặc khen ngợi (hoặc không khen ngợi đủ) thì những người đó sẽ tìm cách đòi hỏi sự công nhận, sự công bằng, và chứng minh tài năng của mình bằng cách tự nói cho người khác biết về tài năng, cống hiến của mình. Tuy nhiên khi làm việc đó họ lại bị một vấn đề là những người khác sẽ nghĩ họ tự kiêu và tự tôn. Cái vòng đã bắt đầu được hình thành. Không khen ngợi vì lo sợ sự tự kiêu sẽ đưa đến việc người ta phải tự khen. Sự tự khen lại chứng minh cảm giác lo sợ về sự tự kiêu và tự tôn. Cái vòng sẽ được tiếp tục khi những người khác nhìn vào những con người tự khen mình và cho rằng hành động không khen ngợi của họ ban đầu là đúng. Vì vậy họ tiếp tục không khen ngợi hoặc khuyến khích, và có thể hơn nữa họ sẽ chê với hy vọng rằng người kia sẽ bớt tự tôn, tự kiêu đi. Họ sẽ nói rằng, “Rõ ràng người này là một người tự tôn hoặc tự kiêu. Vậy thì không nên ca ngợi họ.” Và người bị chê hoặc không được khen ngợi sẽ lại phản ứng bằng cách phải tự khen, phải tự chứng minh mình cho người khác biết. Ðó là một cái vòng.

    Không Khen (vì sợ tự kiêu) Tự khen


    Tự kiêu, Tự tôn


    Tuy nhiên điều chúng ta không biết được là cái gì là nguyên nhân và cái gì là hậu quả. Chúng ta không biết được cái vòng bắt đầu từ đâu. Sự không khen ngợi có thể dẫn đến sự tự khen ngợi, nhưng sự tự tôn hoặc tự kiêu cũng có thể là nguyên nhân làm những người khác không muốn ca ngợi.

    Tôi nghĩ rằng trong một xã hội mà con người trở nên tự kiêu hoặc tự tôn quá dễ dàng thì mọi người sẽ ít nhận được sự ủng hộ và sự khen ngợi từ những người xung quanh. Trong một xã hội mà mọi người ít khen ngợi nhau thì cũng dễ dẫn đến sự tự khen. Mặt khác trong một xã hội mà mọi người có nhiều lo sợ về vấn đề tự tôn, tự kiêu quá thì sự khen ngợi và khuyến khích cần thiết cũng không được phổ biến (Như đã nói, ngoài sự lo sợ về tính tự kiêu; sự bất đồng chính kiến, hoặc vì sự hẹp hòi, lòng ganh tỵ không muốn người khác thành công và nổi danh cũng làm mọi người ít khen người khác). Trong quá trình đó có thể có những điều đáng được khen và những công lao, đóng góp cần được ca ngợi sẽ bị bỏ sót và lãng quên hoặc trù dập, dìm mất. Trong một môi trường như vậy thì đôi khi cách duy nhất để một người có thực tài tự khẳng định mình và đòi hỏi công bằng lại là phải tự ca ngợi và nói lên những cái tốt và tài năng hoặc cống hiến của mình. Tuy nhiên, khi điều đó xảy ra thì cũng có nghĩa sự lo sợ về lòng tự tôn và tự kiêu lại tăng lên. Trong xã hội mà có sự phổ biến của những suy nghĩ như trên thì sự khen ngợi sẽ ít đi hoặc khen ngợi nếu có thì cũng rất dè dặt và giới hạn, và sự tự khen (dẫn đến tự tôn và tự kiêu) có cơ hội phát triển.

    Cũng cần đề cập tới một cái vòng khác liên quan tới cái vòng ở trên là khi một người không được khen ngợi thì khả năng có thể xảy ra là người này cũng không muốn hoặc không thích ca ngợi người khác. Đây chính là cái vòng thứ hai. Nó sẽ xảy ra khi mọi người không ai khen ai và không thích khen nhau. Tệ hại hơn nữa là điều này sẽ hình thành cái vòng thứ ba: cái vòng mọi người chê nhau hoặc chê bai lẫn nhau. Mà khi chê bai thì có khả năng những điều chê bai chỉ dựa trên căn cứ không khách quan và không công bằng. Kết quả của những cái vòng lẩn quẩn này (vòng khen chê và tự tôn tự kiêu cũng như cái vòng không khen và hay chê) sẽ rất tai hại vì sự khen ngợi và khuyến khích thì thiếu vắng trong xã hội, trong khi sự chê bai lại quá nhiều. Những cái hay không được công nhận hoặc không được công nhận đúng mức và không được phát triển trong khi đó con người sẽ trở nên e dè với nhau hoặc đấu đá, chèn ép lẫn nhau.

    Liên hệ tới khen chê có một khía cạnh khác khá phổ biến trong con người Việt Nam và cũng gây tác hại to lớn cho xã hội. Đó là có những trường hợp chúng ta có thể và nên khen nhưng vì lý do nào đó chúng ta không muốn khen; hoặc trường hợp khác chúng ta muốn chê nhưng lại thấy hơi kỳ, hoặc biết rằng chê sẽ không đúng lắm. Kết quả là chúng ta nói ra nhận xét với tính cách nửa đùa nửa thực, giỡn giỡn thật thật, khen không hẳn khen, chê không rõ chê. Người nghe muốn hiểu thế nào thì hiểu. Những lời nói không hẳn đùa giỡn mà cũng không phải nghiêm túc đó đôi khi còn mang nhiều tính chất mỉa mai hoặc bị hiểu như mỉa mai. Có vẻ khen ngợi nhưng thực sự không hẳn thế. Có vẻ đùa giỡn nhưng lại tiềm ẩn sự chê bai. Tác hại rất lớn của vấn đề này là nó làm con người cảm thấy khó chịu; không tin tưởng lẫn nhau; người nghe có cảm giác bị chơi xỏ, mỉa mai; người nói có hình ảnh dối trá, không thẳng thắn, trung thực, hoặc đểu; và mọi người e dè với nhau, ghét nhau. Tác hại của hiện tượng này lớn như vậy nhưng hình như nhiều người không nhận ra hoặc nhận ra nhưng thấy nó “vui vui” nên tiếp tục làm. Nhiều người thích điều này hoặc có thói quen tai hại này là điều đáng buồn cho xã hội.

    Vậy thì phải làm sao? Theo ý kiến riêng của tôi thì chúng ta hãy ca ngợi và khuyến khích, và làm việc này một cách thẳng thắn, rõ ràng. Có nhiều lý do để ủng hộ ý kiến đó. Thứ nhất, vì những tác dụng rất tốt của ca ngợi, đặc biệt là khả năng khuyến khích của nó như đã nói ở trên. Thứ hai, khi khen ngợi, chúng ta không mất gì mà người được khen lại có một cảm giác tốt đẹp. Hãy cho mọi người những cảm giác tốt đẹp. Thứ ba, chúng ta hãy bày tỏ tấm lòng rộng rãi của chúng ta. Tấm lòng rộng rãi này tôi tin hầu hết mọi người đều có. Thứ tư, chúng ta không nên lo lắng về khả năng trở nên tự tôn hay tự kiêu của con người. Con người có những lúc yếu đuối nhưng cũng đủ sáng suốt để biết giới hạn của mình. Thứ năm, khi được mọi người ca ngợi và công nhận thì tự nhiên người ta không cần phải tự ca ngợi chính mình nữa. Thứ sáu, xã hội sẽ tự biết chọn lọc và đào thải những gì không phù hợp với xã hội. Xã hội sẽ đào thải những con người tự kiêu quá mức hoặc tự tôn quá mức, và xã hội cũng sẽ đào thải những người yếu đuối, nhiều lo sợ, hoặc ganh tỵ nhỏ nhen, hoặc không bao giờ biết khen ngợi khuyến khích người khác.

    Theo ý kiến và kinh nghiệm của tôi cũng như những nghiên cứu xã hội ở phương Tây thì “positive motivation” rất tốt và sẽ “work” đặc biệt đối với những trẻ nhỏ. Chúng ta hãy khuyến khích và hãy ca ngợi. Theo thời gian, xã hội “mature” thì mọi người sẽ tự hiểu sự ca ngợi chỉ nên được dùng như một lực đẩy để cố gắng hơn thay vì xem đó như một giấy phép để trở nên kiêu ngạo.

    Trên đây là vài suy nghĩ của tôi về vấn đề khen chê và cái vòng luẩn quẩn có thể được tạo nên liên quan tới việc khen chê. Tôi nghĩ rằng sự thiếu vắng của khen ngợi và phổ biến của lo sợ, e dè sẽ không tốt cho xã hội. Sự phổ biến của tự tôn và tự kiêu cũng không tốt. Hơn nữa khi không có khen ngợi thì sự chê bai dễ phát triển. Tôi tin rằng chỉ trong những xã hội mà con người quá lo lắng, hẹp hòi, hay ganh tỵ hoặc yếu đuối, dễ trở nên tự tôn thì mới có những vấn đề này và cái vòng lẩn quẩn mới có điều kiện để phát triển. Những xã hội mà con người sáng suốt, mạnh mẽ, và “mature” thì ảnh hưởng của cái vòng này sẽ giảm đi nhiều. Tôi cũng tin rằng - và qua chứng minh của xã hội phương tây - sự ca ngợi và khuyến khích (positive motivation) rất tốt và sẽ đưa đến thành công. Chúng ta hãy khen ngợi và khuyến khích (Khi làm việc này chúng ta cần cẩn thận để sự khen ngợi đừng trở thành sáo rỗng, không trung thực). Hãy cho mọi người những cảm giác khích lệ và đẹp đẽ.


    Cái Vòng Thứ Hai: Bướng Bỉnh và Cương Quyết

    Tôi nhớ ngày xưa lúc còn ở Việt Nam, mùa hè là một mùa rất đặc biệt mà mỗi khi nó tới thì ai cũng nhận ra được. Trước tiên là những âm thanh của nó. Khắp nơi từ thành phố cho tới những vùng quê, và đặc biệt ở những vùng quê, ve kêu râm ran lê thê suốt ngày. Trong những buổi trưa hè nóng nực mà được nằm trên võng đong đưa, nghe tiếng ve kêu để rồi đưa mình vào giấc ngủ trưa êm đềm thì thật tuyệt vời. Mùa hè cũng đặc biệt vì những trận mưa của nó. Trời đang nóng bức oi ả, mà có một làn gió mát từ đâu đó mang lại chứa đựng nhiều hơi nước mà tôi nghĩ chúng ta có thể ... nếm được thì sung sướng lắm. Ngước mắt lên nhìn về một phía chân trời thì ta sẽ thấy bầu trời chuyển dần sang màu tím, những làn gió mát ngày càng nhiều hơn và từng giọt mưa bắt đầu rơi, nhanh dần để rồi mưa ào ạt. Không biết các bạn có để ý hay không nhưng thường thường trước và sau cơn mưa, ở những vùng có nhiều đất trống và cỏ cây, không gian sẽ dậy lên một mùi rất lạ mà tôi nghĩ là mùi nồng của đất và mùi thơm của cây cỏ. Tôi thích cái mùi này lắm và hồi còn nhỏ vẫn thường hỉnh mũi lên mà hít vào cho thật đầy lồng ngực. Cái mùi đã làm cho tôi cảm thấy thật gần với mảnh đất của mình.

    Mùa hè ở Việt Nam không phải chỉ có âm thanh với tiếng ve kêu và cảm giác nóng nực của nắng hoặc tươi mát của mưa và mùi thơm của đất trời không thôi. Mùa hè ở Việt Nam còn hấp dẫn thị giác của con người bởi khung cảnh tràn ngập hoa Phượng đỏ nữa. Những cây Phượng to lớn đầy những hoa là hoa đỏ rực. Có những con đường hai bên chỉ toàn cây hoa Phượng thôi mà mỗi khi có một làn gió thổi qua thì hoa Phượng rụng bay ngập trời như muôn ngàn con bướm đỏ phất phới trong gió hoặc trong nắng vàng buổi sớm lung linh để rồi cuối cùng rớt xuống đường tạo thành một tấm thảm hoa đỏ thắm. Khung cảnh như vậy mà có thêm một vài cô học sinh mặc áo dài trắng đi lẫn trong hoa thì tôi chắc chắn rằng những anh chàng dù mạnh mẽ nhất, khó tính nhất cũng phải ao ước mình được như một cánh hoa Phượng rụng xuống và đọng lại trên tà áo hoặc trên mái tóc của các cô.

    Một đặc điểm nữa của mùa hè là tâm trạng nao nao của các học sinh. Vì đây là khoảng thời gian mọi người chuẩn bị chia tay nhau sau một thời gian gần gũi, đùa giỡn, và học hành nên nhiều người sẽ cảm thấy buồn. Có những người sẽ về quê hoặc đi chơi xa, nhưng cũng có những người sẽ đi đâu đó xa thật xa để rồi không biết có còn gặp lại bạn bè cũ nữa hay không. Có những người nghỉ hè cũng có nghĩa là nghỉ học luôn để không bao giờ trở lại nhà trường nữa. Mùa hè là mùa của sự chia tay và của sự không biết trước. Tâm trạng nao nao buồn này có lẽ thấy rõ nhất ở các anh chàng và các cô gái mới bắt đầu để ý tới nhau và bắt đầu nghĩ là mình đã yêu. Họ chia tay để rồi không biết ... mùa sau có còn gặp lại... ... như lời của một bài hát. Mùa hè thật đẹp và cũng chất chứa thật nhiều tình cảm.

    Cũng vì lý do sẽ phải chia tay nên vào thời gian này học sinh nhất là những cô gái hay có một thói quen đẹp đẽ và đáng yêu là viết lưu bút. Những quyển lưu bút dễ thương được trang trí cẩn thận sẽ được những người bạn truyền tay nhau để ghi vào đó những cảm xúc, suy nghĩ, và kỷ niệm của mình trong suốt một năm trời học chung với nhau, để cuối cùng quyển lưu bút sẽ trở về tay người chủ của nó, và có thể người đó sẽ giữ cuốn lưu bút đến suốt đời.

    Tôi đã nói khá dài dòng về mùa hè ở Việt Nam một phần để đỡ nhớ Việt Nam, một phần để các bạn không sống trong khung cảnh đó có được một chút hình ảnh về nó, và cũng một phần để làm cho những bài viết về xã hội của tôi bớt khô khan. Tuy nhiên, lý đó chính cho bài viết này bắt nguồn từ một nhận xét về hiện tượng thường thấy trong những quyển lưu bút. Hiện tượng đó là có nhiều người khi viết lưu bút hay tự nhận mình là “bướng bỉnh”. Lý do nhiều học sinh thích nhận mình bướng bỉnh có lẽ vì nó nghe có vẻ lãng mạn. “Bướng bỉnh” trong những quyển lưu bút bắt nguồn cho tôi nghĩ nhiều về sự bướng bỉnh trong xã hội, và tôi muốn bàn về sự bướng bỉnh trong xã hội xem sao.

    Tôi tin rằng và chắc nhiều quý vị và các bạn đọc giả cũng nghĩ như tôi là bướng bỉnh quá thì không tốt. Ðó là vấn đề thứ nhất. Vấn đề thứ hai tôi nghĩ còn quan trọng hơn là chúng ta lẫn lộn giữa tính “bướng bỉnh” và tính “cương quyết”. Tôi tin tưởng rằng một xã hội mà có nhiều người bướng bỉnh quá hoặc có nhiều người bướng bỉnh mà tưởng rằng mình cương quyết thì sẽ tai hại lắm.

    Phân biệt giữa bướng bỉnh và kiên quyết không phải dễ. Cả hai đều nói lên một mức độ cố gắng quyết tâm và ... lỳ lợm của con người. Sự cố gắng quyết tâm này bao gồm sự kiên trì vượt qua những khó khăn để nhất quyết đạt tới được mục tiêu của mình mà không bị tác động của người khác và môi trường, hoặc nếu có bị tác động thì cũng chỉ rất ít mà thôi. Tuy nhiên tôi nghĩ trong khi cương quyết có ý nghĩa hoàn toàn tốt nói lên sự nhất quyết, kiên trì thì bướng bỉnh có một ý nghĩa tiêu cực kèm theo, và mọi người khi nói tới bướng bỉnh thì có hàm ý sự tiêu cực này.

    Ý nghĩa tiêu cực của bướng bỉnh là người bướng bỉnh vì nhất quyết theo ý kiến của mình mà không chấp nhận hoặc lắng nghe ý kiến của bất cứ một ai khác. Người bướng bỉnh luôn luôn nghĩ mình đúng và làm việc theo suy nghĩ của mình mặc dầu có thể trong thân tâm người đó biết rằng anh ta sai, chưa chắc đúng lắm, hoặc biết rằng suy nghĩ hoặc phương cách làm việc của người khác hay hơn và hữu hiệu hơn. Người bướng bỉnh có thể biết rằng mình sai nhưng vẫn không chấp nhận sự sai của mình, vẫn làm theo ý mình và không chịu học hỏi từ người khác. Có thể nói người bướng bỉnh là một người “cương quyết một cách mù quáng”.

    Vì những đặc tính trên người bướng bỉnh rất khó làm việc với những người khác. Vì sự bướng bỉnh mà anh ta hoặc chị ta không chịu nghe ý kiến của người xung quanh và khó có thể hợp tác với mọi người để làm việc. Làm việc giữa người với người dĩ nhiên đòi hỏi khả năng biết lắng nghe và thương lượng, biết chấp nhận những ý kiến trái ngược, và quan trọng nhất là biết chấp nhận những ý kiến trái ngược và biến nó thành hành động. Người bướng bỉnh sẽ không làm được những việc đó vì những việc đó đi ngược lại với bản tính hoặc thói quen của anh hoặc chị ta. Người bướng bỉnh vì không chịu lắng nghe ý kiến sẽ làm cho khả năng kết dính của một tổ chức bị yếu kém và phẩm chất làm việc của một tổ chức hoặc của chính cá nhân anh hoặc chị ta không đạt mức cao nhất. Nếu người bướng bỉnh mà nắm giữ một vị trí quan trọng thì sự bướng bỉnh còn có thể đưa tới những hậu quả tai hại cho tổ chức hoặc công ty nữa ví dụ như làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty hoặc đưa đến chiến lược, đường lối kinh doanh sai lạc.

    Tính cương quyết thì khác. Tính cương quyết cho thấy sự quyết tâm nhưng không nói lên vấn đề tiêu cực của sự bướng bỉnh. Tính cương quyết cho thấy sự quyết tâm để đạt được mục đích. Tính cương quyết làm cho con người dồn hết khả năng, sức lực, sự kiên nhẫn, và tâm trí vào công việc và vì vậy dễ đưa đến thành công. Người vừa có tính cương quyết, vừa sáng suốt, và vừa biết lắng nghe thì dễ đạt được những kết quả đúng nhất và hiệu quả cao nhất. Trong khi người cương quyết dễ chiếm được sự khâm phục và nể nang của những người xung quanh thì người bướng bỉnh dễ làm những người xung quanh khó chịu, bực dọc và đôi khi khinh thường.

    Mặc dầu vậy, vì sự gần nhau giữa tính cương quyết và tính bướng bỉnh mà tôi hay lo sợ tôi và nhiều người khác dễ lẫn lộn giữa hai cái với nhau. Tôi đang bướng bỉnh và đang chứng tỏ sự bướng bỉnh mà tôi lại lầm tưởng tôi đang cương quyết và đang chứng minh sự cương quyết. Tôi là người bướng bỉnh nhưng lại lầm tưởng là người cương quyết. Và vì những đặc tính tốt của tính cương quyết mà tôi lại càng cố gắng xây dựng và củng cố cái tính “cương quyết” (thực ra là bướng bỉnh) của mình. Sau đó tôi lại đem cái tính “cương quyết” đó ra áp dụng trong xã hội với mọi người. Càng ngày tôi càng phát triển cái tính “tốt” đó của tôi hơn và càng trở nên “cương quyết” hơn. Sau nhiều năm tháng tôi đã trở nên ngày càng bướng bỉnh mà không hề hay biết. Tệ hại hơn nữa là có thể tôi tự tin và tự hào mình là một người cương quyết. Như vậy thì tai hại quá.





    Bướng bỉnh Cương quyết




    Có thể những người xung quanh thấy tôi quá bướng bỉnh không làm việc chung được và bỏ mặc để tôi làm theo ý mình thì tôi lại hiểu lầm sự “cương quyết” của tôi đã chiến thắng. Hoặc trường hợp khác khi những người xung quanh từ chối hợp tác với tôi thì có thể tôi sẽ cho là những người này không thể làm việc chung được, hoặc tệ hại hơn nữa tôi có thể đổ lỗi cho xã hội là trong xã hội này mọi người không biết làm việc chung với nhau (hay chung với tôi (?)). Trong trường hợp nếu một xã hội có nhiều người bướng bỉnh quá và hiểu lầm là cương quyết thì chắc chắn không làm việc với nhau thường xuyên và dính chắc được, và kết quả của sự làm việc chung nếu có cũng không hữu hiệu nhất. Trong trường hợp đó những người này có thể đổ lỗi tại xã hội như thế này như thế nọ mà con người không làm việc với nhau được. Nếu mọi người hoặc phần lớn mọi người đều bướng bỉnh thì chắc chắn không ai đổ lỗi cho ai khác được mà mọi người phải đổ lỗi cho “xã hội” mà thôi.

    Tôi tin rằng giữa “bướng bỉnh” và “cương quyết” có một ranh giới rất nhỏ và vì cái ranh giới nhỏ đó mà có thể đưa tới sự hiểu lầm cho một số người. Bướng bỉnh nhưng lại tưởng là cương quyết. Niềm tin vào sự cương quyết sai lầm đó lại thúc đẩy việc củng cố và áp dụng tính cương quyết đó. Kết quả là trở nên bướng bỉnh hơn, và bướng bỉnh hơn sẽ đưa đến niềm tin thêm về tính cương quyết tưởng tượng, rồi lại cương quyết, rồi lại bướng bỉnh ... cứ như vậy xoay vòng.

    Cái vòng đó tôi gọi là cái vòng luẩn quẩn vì nó không có chỗ kết thúc, và vì người bị vướng vào cái vòng đó khó mà biết được mình là người cương quyết hay người bướng bỉnh, hoặc khó mà biết được mình là người cương quyết nhiều hay bướng bỉnh nhiều, hoặc khó mà biết được lúc này mình đang cương quyết hay thực ra mình chỉ đang bướng bỉnh mà thôi. Tôi nghĩ nếu bị vướng vô cái vòng như vậy thì không tốt cho tôi, và nếu nhiều người bị vướng vô cái vòng như vậy thì không tốt cho xã hội. Không tốt tại vì những tác hại sẵn có của tính bướng bỉnh, và càng nguy hiểm hơn nữa khi mình không biết mình đang ở trong cái vòng đó. Tôi đã bị như vậy trong vài trường hợp mà mỗi lần nghĩ lại tôi cứ thấy mắc cở. Tôi sẽ tiếp tục cố gắng quan sát chính mình trong mọi trường hợp để biết rõ mình đang bướng bỉnh hay đang cương quyết. Tôi tin rằng chỉ khi nào biết được mình đang ở trong cái vòng thì mình mới thoát ra khỏi nó được.


    Cái Vòng Thứ Ba: Nhạc Hay và Nhạc Dở

    Tôi đã nói về hai cái vòng rồi. Có rất nhiều những cái vòng lẩn quẩn và chọn những ví dụ để viết ra thật không phải dễ. Mỗi một ví dụ đều có cái hay, cái đặc trưng, và có giá trị riêng phản ánh rất nhiều lãnh vực trong cuộc sống và tâm tính con người. Nhưng vì tôi là người thích âm nhạc nên tôi sẽ chọn ví dụ thứ ba là một cái vòng có liên quan đến âm nhạc.

    Những suy nghĩ về âm nhạc Việt Nam đã đến với tôi từ lâu rồi, nhưng động cơ thúc đẩy tôi viết về những điều sau đây bắt nguồn từ một bài báo tôi đọc được nói về tình hình âm nhạc hiện đại trong nước. Bài báo đại khái kể lại rằng trong một cuộc họp bàn thảo về âm nhạc Việt Nam hiện nay nhiều nhạc sĩ, nhà văn, nhà báo, v.v. đã tỏ ý buồn bã và than phiền là nhạc Việt Nam bây giờ phẩm chất kém quá, kỹ thuật nhạc yếu đuối, lời ca trống rỗng, còn ca sĩ thì hát dở và sai quá nhiều. Một số người chỉ ra rằng có nhiều nhạc sĩ sáng tác và ca sĩ bắt chước nhạc nước ngoài thành ra những bài hát nghe không khác gì nhạc Trung Quốc, Hàn Quốc hoặc ca sĩ thì thích gào thét, và thích thêm vào những chữ u, o, a, e, hoặc luyến láy cho giống Tây phương nhưng nghe thật khó chịu cái ... lỗ tai và dở. Tôi chỉ đồng ý một phần với những ý kiến trên. Tôi sẽ đưa ra một vài nhận xét chủ quan về tình hình âm nhạc Việt Nam hiện nay và bàn về cái vòng lẩn quẩn để giải thích tại sao âm nhạc Việt Nam bây giờ không có phẩm chất cao.

    Khi nhìn vào nền âm nhạc Việt Nam hiện nay, tôi không có những cái nhìn hoàn toàn bi quan chỉ thấy những cái không hay. Mặc dầu tôi đồng ý ở một số mặt, âm nhạc Việt Nam hiện nay còn nhiều giới hạn, nhưng bên cạnh đó cũng có những điều tiến bộ và đáng khen ngợi.

    Trong lãnh vực sáng tác tôi thấy nhạc bây giờ tuy có những bài hát hay nhưng nhìn chung thì không có được những nhạc phẩm xuất sắc như trước đây. Số lượng bài hát sáng tác sau này khá nhiều và trong đó cũng có những bài có giá trị, kỹ thuật cao cũng như lời nhạc và hồn nhạc sâu sắc, ý nghĩa. Những bài hát có giá trị này bao gồm những bản nhạc phức tạp có tính cách cổ điển Tây phương, cho đến những bài hát có âm hưởng dân ca Việt Nam, cũng như những bài nhạc pop cho thanh niên và những bài hát dễ thương dành cho học sinh. Tuy nhiên số lượng nhạc phẩm tôi nghĩ hay như vậy còn quá ít so với tổng số nhạc phẩm được sáng tác. Số lượng các bài hát dở, đơn điệu, giống nhau, khô khan, nghèo nàn, không có nhạc tính thì lại quá nhiều.

    Ðồng thời nếu so với những nhạc phẩm thời tiền chiến mà tôi đã được nghe và nhiều tác phẩm được viết trước năm 1975 của một số nhạc sĩ sống ở Sài Gòn hay một số nhạc phẩm của các tác giả ở Hà Nội trong thời chiến tranh thì có lẽ những tác phẩm bây giờ tôi thấy là hay đó vẫn chưa thể nào sánh bằng. Những nhạc phẩm có tính kỹ thuật cao, hoặc những nhạc phẩm mang đậm tính dân ca hoặc quê hương, những nhạc phẩm phổ thơ hoặc mang nhiều ý thơ, hoặc những tác phẩm đơn giản hơn diễn tả thân phận, tâm trạng con người bình dân bây giờ tôi thấy không hay bằng, không nhiều bằng, và không thể sâu sắc bằng nhạc của các nhạc sĩ trước năm 1975. Ðó là chưa nói đến sự vắng bóng hẳn của loại nhạc trường ca trong thời gian sau này. Nhìn chung theo đa số là vậy. Dĩ nhiên khi nhìn vào từng bài và so sánh từng bài thì là trường hợp khác.

    Mặc dầu vậy âm nhạc sau này cũng có những điểm đáng khen của nó. Ðiểm đáng khen thứ nhất là nhạc bây giờ đã ngày càng có nhiều thể loại hơn, đa dạng hơn về kỹ thuật vì các nhạc sĩ được dịp tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhiều hơn và đã học và bắt chước những trào lưu âm nhạc mới của thế giới. Ðiểm thứ hai là âm nhạc bây giờ cũng nói nhiều về đề tài của xã hội và con người và tập trung vào nhiều loại thính giả đa dạng hơn. Những bài hát sau này không chỉ nói về tình yêu lãng mạn hoặc chiến tranh không thôi như phần lớn những bài hát trước đây. Tuy nhiên có một đề tài ít được nói tới là những đề tài có tính triết lý cao (như nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy chẳng hạn). Ðây là điều làm giảm đi sự phong phú của âm nhạc hiện tại.

    Ðiểm đáng khen thứ ba có liên quan tới điểm thứ nhất và thứ hai là bây giờ có khá nhiều nhạc pop, nhạc trẻ dành cho thanh niên học sinh và một số bài khá hay. Ðiểm đáng khen thứ tư là âm nhạc hiện nay nhìn chung lời lẽ cũng như tiết tấu mạnh mẽ hơn, tươi sáng hơn, và vui nhộn hơn. Trước đây ở Sài Gòn có quá nhiều nhạc uỷ mị còn Hà Nội lại nhiều nhạc “chiến tranh” và “chính trị” quá. Nhạc bây giờ không như một vài phong trào nhạc trước đây uỷ mị và đau buồn quá hoặc dữ dằn, chính trị quá. Tôi nghĩ đây là một điều rất tốt đối với một dân tộc đã trải qua nhiều năm chỉ biết tới chiến tranh, nghèo đói, chia ly, và lo lắng. Theo ý của tôi đặc điểm tươi vui, mạnh mẽ của âm nhạc hiện nay là điều rất quan trọng và đáng ca ngợi. Ðây là điều tốt đặc biệt đối với giới trẻ.

    Xin trở lại nhận xét của một số nhạc sĩ về âm nhạc Việt Nam sau này có quá nhiều bài không hay về kỹ thuật cũng như lời hát và nhiều nhạc sĩ bắt chước nhạc nước ngoài. Ðiều quan trọng ở đây là tìm hiểu tại sao lại có trường hợp như vậy. Tôi có một lý do để giải thích cho vấn đề đó; đó là môi trường sáng tác. Tôi nghĩ rằng trong một môi trường mà sự diễn tả suy nghĩ bị nhiều giới hạn trong một thời gian dài thì dĩ nhiên khả năng sáng tạo và khả năng sáng tác của con người bị mất đi hoặc bị giảm đi rất nhiều. Ðiều đó làm cho sản phẩm của sự suy nghĩ và đầu óc thông qua âm nhạc hay bất cứ hình thức nghệ thuật nào khác bị giảm phẩm chất. Mặt khác trong một môi trường mà những tác phẩm âm nhạc hay, những tác phẩm âm nhạc lớn về kỹ thuật cũng như tâm hồn và ý nghĩa không được phổ biến và truyền bá hoặc giảng dậy thì dĩ nhiên sự phát triển âm nhạc sẽ bị chậm lại hoặc thụt lui.

    Cũng xin lưu ý một điểm rất quan trọng là sự giới hạn của những tác phẩm hay này có hại trong hai lãnh vực. Lãnh vực thứ nhất là khả năng trau dồi học hỏi và cải tiến của các nhạc sĩ và ca sĩ bị mất đi. Lãnh vực thứ hai là khán giả không còn được nghe và thưởng thức những tác phẩm hay nữa thì khả năng thưởng thức, trình độ phân tích nhận xét về âm nhạc của họ sẽ kém đi. Kết quả là mọi người sẽ dễ dàng chấp nhận những tác phẩm không có phẩm chất. Ðây là điều rất nguy hại vì cả một tổng thể rất lớn nhiều người trong xã hội bị giảm sút khả năng thưởng thức và khả năng phân tích âm nhạc, một lãnh vực rất quan trọng trong một nền văn hoá.

    Phẩm chất sáng tác thấp


    Môi trường giới hạn


    Khả năng thưởng thức thấp

    Qua phân tích ở trên chắc có lẽ các bạn cũng đã thấy được một cái vòng lẩn quẩn bắt đầu hình thành rồi. Trong một môi trường mà sự diễn tả suy nghĩ bị gò bó, giới hạn, hoặc cơ hội học hỏi không được rộng mở thì sẽ sản sinh ra ít nhạc sĩ có tài. Ít nhạc sĩ có tài thì sẽ ít nhạc phẩm hay. Những nhạc phẩm không hay này đáng buồn thay lại được thưởng thức bởi rất đông mọi người vì những người này đã bị mất đi hoặc giảm đi khả năng thưởng thức và suy luận âm nhạc vì sống trong môi trường như trên. Và vì những nhạc phẩm đó được đám đông thưởng thức nên các nhạc sĩ lại tiếp tục sáng tác những nhạc phẩm ở mức độ phẩm chất như vậy (hoặc chưa sáng tác được những nhạc phẩm ở mức độ cao hơn) hòng nhằm thoả mãn đám đông. Ðám đông tiếp tục nghe và thưởng thức, tác giả tiếp tục sáng tác. Cứ như vậy xoay vòng.

    Trong khi môi trường sáng tác nhạc bị giới hạn thì nhạc sĩ, ca sĩ, và thính giả lại đối diện với một làn sóng âm nhạc nước ngoài tràn vào vì sự mở cửa Việt Nam ra với thế giới. Làn sóng này bao gồm nhạc phương Tây và nhạc Trung Quốc hay Hong Kong. Vì cái mới lạ, và vì phẩm chất nữa (đối với một số bài hát và loại nhạc của nước ngoài) nhiều người sẽ chuyển sang nghe nhạc nước ngoài. Cũng vì sự mới lạ này và vì khả năng sáng tạo ở trong nước không cao, một số nhạc sĩ sẽ bắt chước nhạc của nước ngoài trong việc sáng tác nhạc của mình. Tôi nghĩ bắt chước hoặc học hỏi từ những nước khác là điều hay và nên làm. Ðây là điều tôi đã nói ở những chương trước. Tuy nhiên chúng ta chỉ nên bắt chước những kỹ thuật căn bản và sự sáng tạo để mà học hỏi rồi áp dụng và cải tiến âm nhạc của chúng ta mà thôi. Chứ bắt chước y hệt để rồi sáng tác ra những nhạc phẩm nghe là thấy ngay nhạc của Trung Quốc thì ... chán quá. Như vậy là “copy” rồi. Ðiều này lại càng làm cho sự sáng tạo mất dần đi nữa.

    Mặt khác khi bắt chước và học hỏi chúng ta cũng nên có sự chọn lọc. Chúng ta nên chọn những cái hay mà học. Nhạc hiện đại của Hong Kong, Trung Quốc thực sự theo tôi là không hay, hay nói đúng hơn là rất dở, về vấn đề kỹ thuật âm nhạc (ít ra là những bài tôi được nghe). Thực tế thì họ cũng học lại từ Tây Âu mà thôi vì nhạc hiện đại 7 notes là theo tiêu chuẩn Tây phương mà trước đây Trung Quốc không có. Vì ảnh hưởng của Pháp và sau này của Mỹ và nhạc cổ điển của Nga mà chúng ta đã có một nền tảng khá vững chắc đối với âm nhạc cổ điển và nhạc hiện đại Tây phương; vậy thì tại sao ta không phát huy khả năng đó của chúng ta và học hỏi trực tiếp từ âm nhạc có phẩm chất của Tây phương (không phải nhạc nào của Tây phương cũng có phẩm chất) nếu thích? Sao lại chọn một nước thứ ba là Trung Quốc hoặc Hong Kong để bắt chước. Tôi muốn hỏi chúng ta có nên thêm một nhánh âm nhạc trong nền âm nhạc mà khi nghe thì mọi người sẽ nghĩ là nhạc Trung Quốc hay không? Tôi nghĩ không nên. Tôi hy vọng là nhạc Hong Kong (cũng như những phim truyện, phim bộ thật vớ vẩn, rẻ tiền, không có một chút giá trị, phẩm chất nào của Hong Kong, Ðài Loan) chỉ là một phong trào mà thôi. Khi xã hội và con người phát triển hơn thì nhạc (và phim) ở một cấp bậc cao hơn sẽ được lựa chọn. Chúng ta cần phải chứng minh sự phát triển về đầu óc đó của chúng ta.

    Tôi biết rằng có rất nhiều nhạc sĩ đã cố gắng và học hỏi từ nhạc phương Tây và đã sáng tác nên những tác phẩm rất hay. Nhưng có những bài hát giống nhạc phương Tây quá thì có tốt không? Dĩ nhiên là không, nhưng tôi nghĩ trường hợp này không đáng lo như trường hợp nhạc Trung Quốc lắm vì hai lý đó. Thứ nhất, kỹ thuật nhạc phương Tây hay hơn nhạc hiện đại Trung Quốc hoặc Hong Kong rất nhiều. Nếu giống mà giống cái hay thì cũng được. Thứ hai, nhạc phương Tây và đặc biệt là nhạc Mỹ có tính chất “universal” nên không mang nặng tính “ethnic” như nhạc Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi cũng không khuyến khích các nhạc sĩ viết nhạc giống Tây phương quá để rồi mất tính sáng tạo và tính đặc trưng của mình. Ðừng viết những bài hát Việt Nam mà khi nghe thì người nghe có cảm giác đã được nghe một bài tương tự như vậy của Mỹ đâu đó rồi. Như vậy là thất bại.

    Chính vì sự giới hạn về khả năng sáng tạo và học hỏi âm nhạc cùng với sự lan tràn của nhạc nước ngoài mà hình thành cái vòng lẩn quẩn thứ hai. Vì thiếu sáng tạo và vì sự phổ biến của nhạc nước ngoài mà các nhạc sĩ có thể có xu hướng bắt chước nhạc nước ngoài. Sự bắt chước này lại làm cho khả năng sáng tạo giảm đi hơn và kết quả là các nhạc sĩ khó có thể viết nên những nhạc phẩm xuất sắc. Ðó là một cái vòng nữa. Cái vòng này khác cái vòng thứ nhất ở chỗ cái vòng thứ này có tác động của nhạc Hongkong, Trung Quốc. Bắt chước nhạc Trung Quốc làm giảm khả năng sáng tạo, và bắt chước nhạc Trung Quốc cũng làm giảm khả năng cải tiến kỹ thuật sáng tác. Kết quả là các nhạc phẩm sẽ giống nhạc Trung Quốc và phẩm chất tác phẩm sẽ kém. Người nghe lại tiếp tục nghe những nhạc phẩm giống nhạc Trung Quốc và những nhạc phẩm phẩm chất kém đó. Người sáng tác tiếp tục sáng tác nhạc phẩm chất thấp, và người nghe lại tiếp tục nghe.

    Tuy nhiên, cái vòng thứ hai không phải chỉ là kết quả của ảnh hưởng từ bên ngoài không mà thôi. Ngoài sự ham thích những cái mới lạ đem vào từ bên ngoài, môi trường sáng tác giới hạn trong nước cũng phải chịu trách nhiệm. Vì sự giới hạn này (và kết quả của sự giới hạn đó trong nhiều năm qua) mà phẩm chất nhạc trong nước không phát triển như đã nói ở cái vòng thứ nhất. Vì vậy người ta phải nhìn ra bên ngoài với hy vọng sẽ kiếm được những cái mới lạ và hay. Và trong quá trình tìm kiếm này không phải cái gì tìm được cũng hay và nên bắt chước cả, nhưng thực tế đã chứng minh là có những điều không hay đã được một số người yêu chuộng. Tuy nhiên, mặt tốt, và đôi khi cũng là điều cần thiết, của vấn đề này là nhờ có nhạc dở mà chúng ta mới nhận ra được nhạc nào là nhạc hay. Nhờ đó mà chúng ta có cơ hội so sánh. Ðây là một quá trình học hỏi và chọn lọc/loại bỏ.

    Từ những phân tích ở trên tôi xin được đặt vài câu hỏi. Vậy thì nguyên nhân nào đã đưa đến sự yếu kém của âm nhạc Việt Nam sau này? Chúng ta có nên đổ lỗi cho sự mở cửa hay ảnh hưởng của nhạc Trung Quốc hay không? Hay chúng ta nên nhìn lại chính chúng ta, nhìn lại cách sinh hoạt, chính sách, sự suy nghĩ, tầm thưởng thức của chúng ta? Ðể âm nhạc Việt Nam phát triển thì môi trường sáng tác cần phải khuyến khích trí tưởng tượng và diễn tả của nhạc sĩ; và cơ hội và sự đa dạng trong việc học hỏi âm nhạc phải được thoải mái đối với nhạc sĩ, ca sĩ, và người nghe.

    Tôi đã bàn xong về hai cái vòng lẩn quẩn của âm nhạc Việt Nam. Nhân tiện đây tôi xin được bày tỏ một vài suy nghĩ cũng liên quan tới âm nhạc trẻ theo phong cách Tây phương ở Việt Nam hiện nay. Những suy nghĩ này xin gửi đến các bạn trẻ ở Việt Nam, và hy vọng các bạn sẽ đọc được những dòng chữ này.

    Tôi biết nhiều nhạc sĩ trẻ ở Việt Nam đang cố gắng học hỏi từ âm nhạc của các nước khác và đã sáng tác nhiều nhạc phẩm khá hay. Có nhiều nhạc phẩm của các bạn tôi rất thích. Bên cạnh đó dĩ nhiên có một số tác phẩm chưa hay lắm. Ðó là điều tự nhiên thôi. Tôi nghĩ điều này không sao cả vì chúng ta chỉ mới được thoải mái sáng tác sau này thôi. Chúng ta vẫn còn đang học hỏi và vẫn còn tiếp tục cải tiến thêm. Phải có nhiều bài hát thì mới kiếm được những bài hay. Ðiều quan trọng là chúng ta phải càng ngày càng tăng số lượng bài hay trong tổng số bài hát.

    Ðối với các ca sĩ cũng vậy. Tôi thấy một sự cố gắng rất lớn của các ca sĩ để làm cho bài hát của mình được đa dạng và phức tạp qua những cách luyến láy, thêm những chữ u, a, e, hoặc đổi giọng, và gào thét, v.v. Mặc dầu bây giờ những kỹ thuật đó vẫn còn “crude” và chưa hay lắm theo ý cá nhân tôi, nhưng đây là bước đầu, là giai đoạn thử nghiệm. Phải có thử nghiệm thì mới học hỏi được và cải tiến cho tốt hơn. Qua thời gian tôi tin tưởng các kỹ thuật trên của ca sĩ Việt Nam sẽ hay hơn nhiều. Tôi mong các bạn sẽ ngày càng cải thiện hơn kỹ thuật của mình. Các ca sĩ hiện nay có thể nói đang đi tiên phong cho việc thêm thắt những kỹ thuật đó vào âm nhạc Việt Nam. Tôi cũng mong các nhạc sĩ trẻ sẽ viết thêm trong nhạc của mình những chi tiết kỹ thuật trên, những lúc cần luyến láy, đổi giọng, nhấn giọng một cách “professional” hơn. Hoặc các ca sĩ cần có những người “vocal coach” chuyên nghiệp để hướng dẫn những chi tiết kỹ thuật trong việc ca hát của mình.

    Tôi cũng như các bạn rất thích nhạc hiện đại Tây phương nói chung và nhạc Mỹ nói riêng. Tuy nhiên có một điều có lẽ các bạn trong nước không biết (hoặc biết nhưng không thấy hết được tầm quan trọng) là nhạc Mỹ cũng có rất nhiều loại, ca sĩ cũng có nhiều giới (Tôi đang nói về nhạc trẻ, pop, và nhạc hiện đại chứ không phải nhạc Classical hay nhạc Jazz, v.v.). Không phải nhạc nào cũng hay và ca sĩ nào cũng đáng nghe. Có những ca sĩ và những bài hát chỉ một số loại người Mỹ nghe và thưởng thức mà thôi. Không phải cứ nhạc Mỹ, cứ nổi tiếng thế giới, màu sắc ánh sáng tưng bừng là hay hoặc có giá trị. Tôi mong rằng khi chọn lựa nhạc để hát hoặc để nghe các bạn hãy chọn lựa kỹ càng về kỹ thuật, giọng hát, lời hát và nên tự hỏi, “Ca sĩ này nổi tiếng, nhưng nổi tiếng trong giới nào?”

    Một đặc điểm nữa của nền âm nhạc Mỹ là họ có rất nhiều loại nhạc cho rất nhiều khoảng tuổi tác khác nhau. Có rất nhiều ca sĩ, ban nhạc bên này chỉ nổi tiếng và được ưa thích bởi những người rất trẻ mà thôi như dưới 12 tuổi. Ðiều đó nói lên khá nhiều về khả năng cũng như trình độ âm nhạc của những ca sĩ và ban nhạc đó. Có những ban nhạc, loại nhạc chỉ phổ biến trong giới thiếu niên 13 tới 15, 16 tuổi mà thôi. Thanh niên, sinh viên lại nghe những loại nhạc khác và ca sĩ khác. Những người “professional” thành công hơn có thể sẽ thích nhạc kịch, thính phòng, giao hưởng, v.v. Tôi đã có dịp về Việt Nam và nói chuyện với nhiều bạn trẻ ở Việt Nam, và tôi cảm thấy rất nhiều người thích những ban nhạc, ca sĩ “trẻ con”. Tuy nhiên những người bạn tôi gặp đó nhiều ngưòi đã là những sinh viên đại học, có những người trên 20 tuổi, và có những người là “professional” rồi.

    Khi con người phát triển “mature” hơn, và kiến thức âm nhạc cùng khả năng thưởng thức tăng cao thì sự đòi hỏi phẩm chất âm nhạc của họ cũng phát triển theo. Có thể những đứa bé sẽ thích N-Sync, The Backstreet Boys, hoặc Britney Spears. Có những người thích Madona, nhưng khi đã nghe Celine Dion hoặc Barbara Streisand rồi thì khó có khả năng sẽ thích Madona nữa. Lại có người chỉ thích The Beatles, The Eagles, hoặc Queen. Tuỳ sở thích và khả năng thưởng thức, có người lại thích những giọng hát ở Broadway thôi, hoặc Michael Balls hay Josh Groban, hay “operatic” hơn như Andrea Bocelli hoặc hoàn toàn “opera” như Pavarotti. Ở Việt Nam hoặc ở bất cứ nước nào khác tôi nghĩ cũng như vậy, nhưng tiến trình đó ở Việt Nam có lẽ quá chậm.

    Tóm lại tôi chỉ mong muốn được chia sẻ một số điều tôi nghĩ các bạn ở Việt Nam chưa để ý đến vậy thôi. Cuối cùng là chúng ta sẽ nghe những gì chúng ta thích nhất, phải không? (Và nghe dân ca Việt Nam nữa chứ. Hay lắm). Mong các ca sĩ, nhạc sĩ ở Việt Nam sẽ ngày càng viết nhạc và hát hay hơn nữa. Mong các bạn trẻ, các thính giả ở Việt Nam sẽ ngày càng khó tính hơn và kỹ lưỡng hơn trong sự thưởng thức của mình.

    Trong âm nhạc cần có sự đa dạng. Nhờ sự đa dạng mà âm nhạc phong phú hơn, nhiều màu sắc, và đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của nhiều người. Cũng nhờ sự đa dạng mà chúng ta mới có cơ hội học hỏi và so sánh nhiều loại âm nhạc với nhau và nhờ vậy mà nhận biết giá trị của những loại nhạc khác nhau, biết nhạc nào hay, nhạc nào dở. Điều quan trọng là chúng ta phải biết học hỏi để nhận ra được giá trị của từng loại nhạc. Điều quan trọng là chúng ta cần phải trau dồi kiến thức âm nhạc, phát triển khả năng thưởng thức theo thời gian và có những đòi hỏi ngày càng cao hơn, tăng dần theo sự “mature” và “sophistication” của mình. Điều quan trọng là chúng ta cần tạo nên một xã hội mà trong đó những giọng hát có phẩm chất thực sự, và số lượng nhạc sĩ sáng tác và người nghe những loại âm nhạc có giá trị cao trở thành đa số; và những gì không có phẩm chất, giá trị trở thành thiểu số.

    Tôi viết quyển sách này năm 2002. Bây giờ (2010) tôi đọc lại để hiệu đính một số chi tiết. Có một điều tôi cần nói ra trong phần viết về âm nhạc này. Đó là gần đây tôi có về thăm Việt Nam và đã nghe, tìm hiểu nhạc trẻ ở đây. Tôi thấy có một giòng nhạc được khá nhiều người ưa thích. Để diễn tả dòng nhạc này, tôi chỉ có thể dùng hai chữ mà thôi … khủng khiếp. Không biết có quá đáng và công bằng không khi dùng hai chữ đó, nhưng theo ý kiến cá nhân tôi thì thực sự khủng khiếp, từ âm nhạc, ca từ của những … “nhạc sĩ”, cho đến giọng ca, kỹ thuật, và cái gọi là “phong cách” của những “ca sĩ”. Tôi không biết mô tả loại nhạc/nhạc sĩ/ca sĩ này như thế nào nhưng những bài đó hát lên giống như đọc những bài văn xuôi hạng bét với lời lẽ thật vớ vẩn, tầm thường, ngây ngô, nhạt nhẽo, trẻ con, thô thiển, gượng gạo, rẻ tiền; nghe như bị chửi vào lỗ tai, mỗi lần nghe là tôi muốn nôn ói. Và “giọng hát” cùng “phong cách” của những “ca sĩ” thì dĩ nhiên hoàn toàn phù hợp với các “nhạc phẩm” đó: vớ vẩn, tầm thường, ngây ngô, nhạt nhẽo, trẻ con, thô thiển, gượng gạo, trơ tráo, rẻ tiền, máy móc, giả tạo, mỵ dân (đối với những màn “giao lưu”), đóng kịch, v.v. Thực ra máy móc, giả tạo, mỵ dân, đóng kịch vụng về, kiểu cách rởm được thấy khắp nơi, ở mọi tầng lớp ca sĩ, nghệ sĩ.

    Trên đây tôi đã nói âm nhạc là một lãnh vực rất quan trọng của xã hội. Thật đáng buồn và đáng lo lắng khi những loại “nhạc” đó, loại “nhạc sĩ” đó, loại “ca sĩ” đó lại đang rất phổ biến và đang được rất nhiều thanh thiếu niên, từ thành phố cho tới nông thôn tại Việt Nam, nghe và thưởng thức. Hy vọng rằng những cái gọi là “âm nhạc”, “nhạc sĩ”, và “ca sĩ” đó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn mà thôi. Những cái hay cũ sẽ trở lại vị trí đúng, và những cái hay mới sẽ được ra đời.

    * * *

    Trên đây tôi vừa đưa ra ba thí dụ về những cái vòng lẩn quẩn tôi nhìn thấy tồn tại trong xã hội và trong cá nhân con người. Cái vòng thứ nhất xảy ra vì tác động qua lại của sự khen chê (hoặc sự không khen và hay chê) và tính tự tôn, tự khen mình, tự kiêu của con người. Tác hại của cái vòng này là nó làm cho những lời khen, sự công nhận và những sự khuyến khích bị mất đi trong xã hội; trong khi đó sự lo ngại, dè dặt sẽ nhiều hơn. Cái vòng thứ hai là sự lẫn lộn giữa tính kiên quyết và tính bướng bỉnh lỳ lợm. Vì hai đặc tính này có những điều giống nhau nên tôi lo chúng ta đôi khi nhầm lẫn mình cương quyết trong khi thực sự chúng ta chỉ đang bướng bỉnh. Cái vòng thứ ba là sự hỗ trợ qua lại của sản phẩm âm nhạc không có phẩm chất cao và sự thưởng thức dễ dãi của khán thính giả. Ðồng thời tôi cũng nói lên nguyên nhân đưa tới tình trạng âm nhạc không phát triển được.

    Nếu chúng ta mong muốn xã hội được phát triển và con người đối xử với nhau thân thiện, hoà đồng, văn minh, và xây dựng thì chúng ta hãy rộng mở mình ra và khen ngợi. Sự khuyến khích và “positive motivation” rất tốt cho mọi người và cho xã hội. Chúng ta cũng nên thường xuyên quan sát và nhận xét chính mình để xác định xem mình có bướng bỉnh hay không để mà thay đổi. Về vấn đề âm nhạc thì có lẽ phức tạp hơn. Nó đòi hỏi sự sửa đổi những chính sách văn hoá giáo dục của chính quyền lẫn sự khó tính và cố gắng học hỏi để phát triển khả năng âm nhạc của từng cá nhân nhạc sĩ, ca sĩ và khán thính giả. Chính chúng ta phải chịu trách nhiệm cho nền âm nhạc của mình, một lãnh vực rất quan trọng trong một nền văn hoá.

    Tôi chỉ đưa ra ba ví dụ, nhưng tôi biết rằng trong xã hội và trong bản thân chúng ta còn nhiều những cái vòng lẩn quẩn tương tự lắm. Chỉ việc quan sát để ý thì chúng ta sẽ nhận ra chúng thôi. Các bạn thử tìm thêm ba cái vòng lẩn quẩn khác và chia sẻ nhận xét của mình với những người thân, bạn bè xem sao. Tôi tin rằng chúng sẽ rất thú vị và đem lại nhiều ngạc nhiên.
  6. Chương 5
    Ba Chị Em Là Một Miền



    “Ba chị em là ba miền nhưng tình thương đem nối liền, gặp nhau ven trời biển Ðông thắm tươi ...”

    Ðó là một câu trong trường ca “Hội Trùng Dương” của nhạc sĩ tài năng Phạm Ðình Chương. Ðây là một trong những bài hát tôi rất thích, và đây cũng là một câu rất hay trong bài hát đó theo ý của tôi. Bài hát mô tả cuộc sống người dân nước Việt, cảnh đẹp của quê hương với ba dòng sông tượng trưng cho ba miền nhưng vẫn cùng chung một mẹ Việt Nam. Hai bài hát tuyệt vời khác cũng có cùng nội dung ca ngợi vẻ đẹp của con người và quê hương, đồng thời nói lên sự mở mang bờ cõi của cha ông và sự thống nhất của ba miền Bắc, Trung, Nam là “Trường ca Con Ðường Cái Quan” của nhạc sĩ Phạm Duy và “Hòn Vọng Phu” (gồm ba bài) của nhạc sĩ Lê Thương. Hai tác phẩm âm nhạc này cũng là hai trong số những tác phẩm Việt Nam tôi thích nhất. Ðây là những bài hát sẽ không bao giờ chết trong văn hoá Việt Nam.

    Những bài hát kể trên có tính cách ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, hào hùng của cha ông, nhưng thực sự những bài hát đó cũng cho thấy một nỗ lực của các nhạc sĩ cố gắng kêu gọi sự đoàn kết của người Việt Nam ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Trong nỗ lực làm công việc đó tôi tự hỏi có lẽ các nhạc sĩ cũng lo lắng về những vấn đề không tốt tiềm ẩn trong sự phân chia đất nước. Tại sao đất nước chúng ta lại có sự phân chia như vậy, vấn đề chính xác của sự phân chia, những tác hại có thể có, cũng như sự chấp nhận dễ dãi của người Việt Nam đối với sự phân chia đó sẽ là đề tài của bài viết này.


    I. Sự Chấp Nhận Dễ Dãi Thứ Ba

    Nếu các bạn để ý thì trong bốn chương đầu của cuốn sách này tôi không bao giờ dùng những chữ như miền Bắc, miền Nam, hay miền Trung, mà tôi chỉ dùng những chữ như phía bắc Việt Nam hay phía nam Việt Nam với ý nghĩa phương hướng và vị trí đại khái mà thôi. Lý do vì tôi không đồng ý với sự phân chia đất nước như hiện nay, và tôi nhận thấy những vấn đề không tốt cho đất nước trong việc phân chia này. Ðể chứng minh cho sự vô nghĩa và vô lý của sự phân chia này, ta chỉ việc đặt một câu hỏi đơn giản thôi, “Tại sao chúng ta có ba miền Bắc, Trung, Nam như hiện nay?” Câu trả lời của cá nhân tôi là, “Không có một lý do chính đáng nào có thể giải thích được sự phân chia này cả.” Thực sự mà nói thì lý do duy nhất để có sự phân chia như hiện nay là, “Ðó là điều người Pháp đã đặt ra. Vậy thôi.” Tôi không tin còn lý do chính đáng nào khác. Người Pháp đã chia nước ta ra làm ba miền Bắc, Trung, Nam (Tongkin, An Nam, và Cochin).

    Vậy, nếu đó là điều người Pháp làm thì chúng ta phải tự hỏi điều đó có chính đáng, hợp lý hay không? Dĩ nhiên “không” rồi vì người Pháp làm công việc đó chỉ với mục đích duy nhất là phân chia đất nước Việt Nam để cai trị, một chiến lược thống trị cổ điển “divide and conquer”. Họ làm như vậy chỉ để chia rẽ người Việt và làm yếu đi sự đoàn kết của dân tộc với mục đích làm giảm đi khả năng chiến đấu của chúng ta chống lại họ, để họ dễ dàng kiểm soát đất nước và đô hộ người dân. Mục đích chỉ đơn giản như vậy thôi nhưng rất độc ác.

    Sự chia cắt Việt Nam như hiện nay là một âm mưu của Pháp với mục đích rất nhiều tác hại. Vậy tại sao chúng ta vẫn cứ chấp nhận sự chia cắt đó cho tới ngày nay, và coi đó như một tiêu chuẩn mẫu mực để cư xử với nhau? Tôi thấy đây lại là một sự chấp nhận dễ dãi nữa của chúng ta ngoài hai sự chấp nhận dễ dãi đã nêu ra ở Chương 1 và 2. Chúng ta nghe, chúng ta chấp nhận, và chúng ta lại tiếp tục truyền đạt cho thế hệ sau và không bao giờ đặt một câu hỏi hoặc thắc mắc. Tôi có nói chuyện với một số bạn trẻ ở ngoài nước và một số sinh viên ở Việt Nam, và nhận xét của tôi là phần lớn mọi người chỉ nghe nói tới ba miền Bắc, Trung, Nam, và họ chấp nhận rồi tiếp tục sử dụng cái “notion” đó mà họ cũng không biết tại sao Việt Nam có Bắc Trung Nam như vậy. Họ cũng chẳng bận tâm nghĩ coi sự phân chia đó có lý không. Những sự việc như vậy nói lên rất nhiều về tính “ignorance” của chúng ta.

    Kỳ lạ hơn nữa là chúng ta chấp nhận và sử dụng cái “notion” ba miền đó để rồi lại cố gắng kêu gọi đoàn kết khi chúng ta nghĩ rằng sự đoàn kết dân tộc đang bị yếu đi bởi sự phân chia. Nếu chúng ta không muốn phải lo lắng về sự suy yếu nếu có của tinh thần đoàn kết ba miền thì chúng ta hãy dẹp bỏ nó đi chứ tại sao lại cứ tiếp tục sử dụng cái “notion” đó. Tôi nghĩ rằng những việc chúng ta làm lâu nay - phân chia và chấp nhận sự phân chia để rồi lại cố gắng kêu gọi đoàn kết - là một điều hoàn toàn vô lý hết sức và làm tốn hao công sức của con người. Ðể loại bỏ sự phân chia này và tác hại có thể có của nó, cách làm đúng đắn nhất là chúng ta tập trung vào việc phân tích cái nguyên nhân gốc của sự phân chia và cho thấy được sự vô lý của nó để rồi chúng ta sẽ không sử dụng hoặc bị ảnh hưởng bởi sự phân chia đó nữa.



    II. Ba Chị Em Là Một Miền

    Có thể một số người sẽ lý luận có ba miền Bắc Trung Nam vì những lý đó chính trị, địa lý, và văn hoá, và cho rằng lập luận này hợp lý. Nếu dùng chính trị để giải thích thì tôi e ngại rằng sự giải thích này không thoả đáng. Nếu nói về chính trị thì đúng là người Pháp đã làm nên sự phân chia đó trong một giai đoạn khi đất nước bị Pháp thuộc mà thôi. Nhưng chính vì đây là việc người Pháp làm với những mục đích chính trị của họ như đã giải thích ở trên, thành ra sự phân chia này không đúng, không hợp lý, và không có giá trị. Nếu dùng lý do địa lý, văn hoá cũng sai. Tôi xin được thảo luận về sự vô lý của việc phân chia đất nước dựa trên văn hoá, chính trị, nhân chủng, xã hội, quân sự, địa lý, lịch sử một cách tổng quát sau đây.

    Như đã giải thích ở chương hai, phần đất do người Việt sinh sống, phát triển, và xây dựng một đất nước với tất cả những điều kiện cho một đất nước về cấu trúc chính trị, xã hội, giáo dục, về nền tảng văn hoá, phong tục, ngôn ngữ là từ đèo Ngang (Hoành Sơn) trở lên. Có sự hiện diện của người Việt sau đèo Ngang ngày xưa hay không và sự hiện diện này ở mức độ nào là điều chưa xác định được rõ ràng. Ðiều chắc chắn là phần đất này của nước Champa, của người dân với một nền văn minh, một hệ thống ngôn ngữ, phong tục khác hẳn người Việt.

    Sự liên hệ giữa Ðại Việt và Champa xưa kia chỉ được đánh dấu bằng quấy nhiễu và chiến tranh cướp bóc. Sự xung đột giữa hai quốc gia diễn ra mạnh nhất vào thời kỳ tiền Lê, tới thời Lý, qua thời Trần, và kéo dài về sau tới cả thời hậu Lê, Trịnh-Nguyễn, và Tây Sơn. Sau nhiều cuộc xung đột, người Việt đã chiếm được lãnh thổ của dân tộc Chăm và sát nhập vào Ðại Việt. Thời Lý sát nhập ba châu của người Chăm là Ðịa Lý, Ma Linh, và Bố Chính, tức là từ đèo Ngang vào tới khoảng giữa Quảng Trị. Vào thời Trần, thêm hai châu Ô và Lý (tức là châu Thuận và châu Hoá) thuộc tỉnh Thừa Thiên ngày nay nơi có thành phố Huế cho tới Quảng Nam.1 Sau đó vào thời Lê, trong giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh dân Việt tiến dần thêm về phía nam. Vào khoảng thế kỷ 17, 18 thời đại Tây Sơn Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh thì ta lấn xuống đồng bằng sông Cửu Long và chiếm lấy phần đất của những người Thuỷ Chân Lạp có nguồn gốc Khmer, tức Cambodia (Ðồng bằng sông Cửu Long và phần đất phía nam Việt Nam trước kia là đất của dân tộc Phù Nam. Dân tộc Phù Nam sau đó đã bị người Khmer tiêu diệt).

    Một sự kiện quan trọng khác trong lịch sử Việt Nam và cũng có ý nghĩa đối với việc phân tích tại sao chúng ta không có ba miền là cuộc nội chiến Trịnh, Nguyễn. Vì cuộc chiến này mà đất nước bị chia đôi, ngăn cách bằng giòng sông Gianh thuộc tỉnh Quảng Bình ngày nay, phía nam đèo Ngang. Phía bắc sông Gianh thường gọi là Bắc Hà hay Ðàng Ngoài nơi có triều đình vua Lê thuộc nhà Trịnh. Từ sông Gianh trở vào nam thường được gọi là Nam Hà hay Ðàng Trong thuộc lãnh thổ nhà Nguyễn.

    Kể từ thời đại các triều vua trước của Việt Nam như Lý, Trần, Lê sau khi chiếm được đất của người Chăm rồi nhân dân Ðại Việt đã di cư vào những vùng đất ở phía nam đèo Ngang, lập nên làng xã, và định cư. Ngoài những người dân đi cư hoặc được triều đình đưa vào để định cư, còn có một số rất lớn những quân lính và người dân bị các chúa Nguyễn bắt làm tù binh trong thời gian Trịnh Nguyễn phân tranh, và họ được đưa vào Ðàng Trong để khai phá và phát triển vùng đất mới.

    Tuy nhiên vì là vùng đất mới và do nhiều năm chiến tranh nên xã hội chưa được ổn định. Các chúa Nguyễn và nhân dân Việt Nam khi vào nam đã phải đối đầu với một vùng đất mới với thổ nhưỡng, khí hậu, và môi trường mới, và chắc chắn là với những người dân Chăm vẫn còn lại ở đây. Chúa Nguyễn và dân Việt đã phải bắt đầu xây dựng lại một xã hội có trật tự và tổ chức. Trong điều kiện tự nhiên và xã hội như vậy, một số thói quen phong tục mới được hình thành, một số từ ngữ mới được sản sinh. Có những điều do người Việt học được hoặc hòa hợp với người Chăm mà ra. Ðồng thời các chúa Nguyễn, vì sự đối đầu với chúa Trịnh, đã ban hành một số luật lệ nhằm xoá bỏ một vài phong tục của Ðại Việt để nói lên sự bất phục triều Lê Trịnh. Nhưng dù có những thay đổi gì đi nữa thì cái xương sống của nền văn hoá cũng vẫn là văn hoá Việt Nam. Dù có kình chống nhau vì lý đó chính trị cách mấy đi nữa thì cũng không thể thay đổi được nền văn hoá, huyết thống, phong tục, cách suy nghĩ, ngôn ngữ của dân tộc được. Người Bắc Hà và Nam Hà đều là một và có cùng nguồn gốc mà ra.

    Nhân tiện nói về sự phân tranh Trịnh Nguyễn, tôi có một giả thuyết đưa ra để bạn đọc xem sao. Giả thuyết này sẽ đưa tới một cái nhìn “negative” cho các chúa Nguyễn, nhưng đây chỉ là giả thuyết mà thôi chứ không có chứng cớ xác thực. Nhà Nguyễn ở trong nam, tuy ngoài mặt thuần phục triều đình nhà Lê nhưng đã đứng đầu một cõi, không có kinh thành nhưng họ lập phủ chúa chiếm cứ một phương. Theo tôi nghĩ sự kéo dài của cuộc chiến này ngoài những lý do chính trị hay tranh chấp quyền lực và lãnh thổ còn có một lý do tâm lý nữa. Lý do này giải thích tại sao các chúa Trịnh không thể để các chúa Nguyễn lập lãnh thổ ở Nam Hà. Lý do đó là: nhà Trịnh cũng như nhân dân Bắc Hà không thể nào để chúa Nguyễn chiếm cứ vùng đất và lập ra một lãnh thổ độc lập sau khi vùng đất đó đã được thâu phục với bao nhiêu công sức của nhân dân và các triều đình Việt Nam trước đây. Từ nhà tiền Lê, tới nhà Lý, Trần, hậu Lê, bao nhiêu công sức, xương máu đã phải bỏ ra để có được lãnh thổ phía nam đèo Ngang. Vậy thì đâu thể để một ngày nào đó một vị quan có thể dời vô mảnh đất đó rồi dựng nên một lãnh thổ hoặc một đất nước độc lập. Tâm lý của người dân Việt ở đây là không ai dọn mâm sẵn để chúa Nguyễn ngồi vào ăn. Ðó là điều không thể chấp nhận được. Vùng đất này do người Việt lập nên và sẽ là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Có lẽ vì vậy mà cuộc chiến kéo dài dai dẳng giữa hai phía.

    Trong thời loạn lạc của đất nước sau đó với phong trào khởi nghĩa Tây Sơn nổi lên, cuộc kháng chiến chống quân Mãn Thanh, và những cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, đất nước Việt Nam tiếp tục được kéo dài và mở rộng thêm về hướng nam. Một quá trình di cư và định cư của dân Việt tương tự như thời kỳ đầu của Trịnh Nguyễn phân tranh lại xảy ra. Người dân Việt lại tiếp tục di cư về nam. Họ tiếp tục lập nên làng xã và xây dựng xã hội của họ. Họ đã di cư, định cư và phát triển đồng thời ép dần những nhóm người Chăm vào những vùng hẻo lánh hơn, và lấn dần đất của người Cambodia. Một lần nữa trong quá trình hoà nhập vào và phát triển trong môi trường mới một số phong tục, thói quen, một số từ ngữ mới lại được phát minh, nhưng cái sườn văn hoá vẫn là văn hoá Việt. Con người, huyết thống vẫn là con người huyết thống Việt.2

    (Cũng cần nhắc lại công lao khai phá và phát triển miền Nam và đồng bằng sông Cửu Long là nhờ chúa Nguyễn Ánh. Chúa Nguyễn Ánh đã đem quân Xiêm vào nước và hợp tác với Pháp sau này, nhưng ông cũng đóng góp rất lớn vào sự mở mang bờ cõi.)

    Chiến tranh trên đất nước Việt Nam không ngừng ở đó. Sau khi thực dân Pháp chiếm toàn cõi Việt Nam, đất nước chúng ta lại bị chia thành Bắc, Trung, Nam. Sau đó sự hiện diện của Mỹ lại đưa đến việc chia đôi Bắc, Nam. Mặc dầu vậy, trong những thời kỳ này Việt Nam từ Bắc tới Nam đã là một đất nước thống nhất và liên tục về lãnh thổ, văn hoá, phong tục tập quán, và cơ cấu xã hội. Chỉ có cơ cấu chính trị là khác biệt mà thôi.

    Một điều ai cũng phải công nhận là có sự khác biệt về một số mặt trên nhiều vùng của Việt Nam. Những khác biệt này bao gồm sự sửa đổi một số phong tục đã có từ trước để đưa đến một tái bản hơi khác đi một chút. Những sự khác biệt này cũng bao gồm những phát minh hoàn toàn mới từ những vùng đất mới. Nhưng những khác biệt đó cũng không ủng hộ cho ý kiến ba miền.

    Theo tôi trong một nền văn hoá chung, những khác nhau nhỏ tùy theo từng vùng là điều tự nhiên và rất tốt vì nó cho thấy được sự phong phú và nhiều màu sắc của đất nước và con người. Nhờ sự khác nhau này mà chúng ta mới có bánh Dầy, bánh Chưng, bánh Bèo, bánh Xèo, bánh Tét, bánh Bột Lọc. Nhờ sự phát triển đất nước mà chúng ta mới có bún Riêu, bún Mắm, bún Bò, bún Mọc, bún Ốc, Canh Bún, bún Chả Giò, bún Thịt Nướng. Thử tưởng tượng nếu không có sự đa dạng như chúng ta có hiện nay thì chắc nền văn hoá Việt Nam sẽ tẻ nhạt lắm. Tuy nhiên sự khác biệt này chỉ là những khác biệt rất nhỏ trong một tổng thể văn hoá, xã hội, phong tục, tập quán phức tạp của người Việt Nam mà thôi. Chúng ta có thể dùng sự khác biệt để nói lên sự phong phú của văn hoá chúng ta, và sự phong phú này không chỉ giới hạn hoặc phân biệt được trong phạm vi ba miền mà thôi, mà là từng tỉnh, từng làng. Sự phong phú của văn hoá Việt Nam là điều có thực và chúng ta cũng đã rất thành công trong việc ca ngợi cái hay đẹp của nhiều vùng đất. Lịch sử cho thấy sự phân chia ba miền ở Việt Nam đã không làm mất đi sự đoàn kết của người dân trong công cuộc bảo vệ đất nước của mình.

    Mặc dầu vậy, sự khác biệt, định kiến, và sự phân biệt trong đối xử của chúng ta đối với những người từ những vùng khác nhau cũng là điều có thực, và điều này tôi nghĩ đã làm giảm đi rất nhiều khả năng làm việc một cách hữu hiệu của dân tộc. Sự phân biệt đối xử này được thấy trong môi trường chuyên nghiệp như trong chính trị và trong hoạt động kinh tế, xã hội. Nếu ta nhìn vào sự phân chia quyền lực chính trị, xã hội Việt Nam qua lịch sử và hiện tại thì cũng có thể thấy được sự phản ánh nào đó của sự thiên vị về cái nhìn này. Sự phân biệt đối xử cũng hiện diện trong môi trường cá nhân giữa người với người, và không ít thì nhiều nó tạo nên một cái “mindset” trong đầu óc con người, và sau đó những “mindset” này hoặc “perception”, định kiến này sẽ được đưa ra áp dụng trong môi trường chuyên nghiệp. Ðó là điều rất không tốt. Khi chúng ta có một định kiến không tốt về người khác thì người khác cũng lại không có định kiến tốt về chúng ta. Ðây là một vấn đề xoay vòng và sẽ không đi tới đâu hết. Kết quả là cả dân tộc bị thiệt hại.

    Một cách rất hữu hiệu để kiểm tra sự hiện hữu của những định kiến vùng miền này là chúng ta hãy nhìn vào và tự hỏi chính mình xem chúng ta có sự thiên vị đó không, và có để những cái nhìn đó ảnh hưởng đến cuộc sống và sự giao tiếp của chúng ta hay không. Tôi không dám chắc tất cả mọi người đều có sự bất công trong cái nhìn của mình về các miền khác nhau vì tôi chưa bao giờ làm một cuộc nghiên cứu khoa học nào về vấn đề này. Nhưng theo kinh nghiệm giao tiếp thì tôi nghĩ rằng phần lớn người Việt Nam không nhiều thì ít đều có những cái nhìn thiên vị về những người ở các miền khác nhau.

    Ngày xưa tôi cũng bị vấp phải lỗi lầm có định kiến về người khác và hay “generalize”, nhưng qua thời gian và cố gắng tôi có thể hãnh diện để nói tôi không còn những cái nhìn khác nhau đối với những người từ các vùng khác nhau ở Việt Nam nữa. Những đánh giá của tôi về một con người là đối với cá nhân người đó mà thôi chứ không phải với tất cả những người dân của vùng anh ta hoặc chị ta sinh ra và lớn lên. Tôi nghĩ đây là một điều công bằng, và tôi nghĩ đây là điều ai cũng có thể làm được.

    Một sự khác biệt nhiều người nói tới là khác biệt về giọng nói của người Việt ở những vùng khác nhau, và đây cũng là điều nhiều người Việt Nam dùng làm căn cứ để nói rằng Việt Nam có ba miền. Theo tôi suy nghĩ này hoàn toàn sai. Ðiều này sai tại vì khi so sánh giọng nói và từ ngữ thì sự khác biệt đã xảy ra từ giữa các tỉnh với nhau rồi, chứ không phải do các miền khác nhau. Không phải giọng nói của những người sinh trưởng ở những tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng đều giống nhau. Tiếng nói của người ở Quảng Trị đối với người không quen, mới thoạt nghe sẽ thấy tương tự tiếng Thừa Thiên, nhưng thực sự là khác nhau rất nhiều. Tiếng người dân Phan Rang, Bình Thuận cũng khác. Người dân đồng bằng sông Cửu Long có giọng nói đặc biệt của mình. Nghệ An, Hà Tĩnh lại có những nét đặc trưng riêng. Những tỉnh phía nam và lân cận đèo Hải Vân như Quảng Nam, Quảng Ngãi lại có cách phát âm và một số từ ngữ khác đi nữa so với những tiếng từ các vùng khác. Vậy thì nếu căn cứ theo giọng nói thì phải chia đất nước như thế nào? Chắc chắn không phải ba miền mà nhiều hơn. Nhưng bao nhiêu miền mới đủ? Chúng ta có những cách phát âm khác nhau nhưng chúng ta đều nói chung một thứ tiếng, mà thứ tiếng đó đã tồn tại qua hàng ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ và đồng hóa. Tôi tự nghĩ trong một nền văn hoá rộng lớn, những sự khác nhau nhỏ bé về cách phát âm đó có đáng để chúng ta dùng để phân chia từng vùng hay không? Tôi nghĩ là không đáng. Không những vậy, trong trường hợp Việt Nam, dùng giọng nói để làm căn bản phân chia ba miền như hiện nay lại là một điều hoàn toàn vô lý vì những sự khác nhau trong giọng nói và từ ngữ có quá nhiều ở mọi nơi tùy theo từng tỉnh và địa phương. Sự phân chia ba miền như hiện nay theo căn cứ giọng nói là không khoa học và không chính xác.

    Nếu nhìn vào những điều đã nói ở trên về văn hoá, chính trị, xã hội, quân sự, nhân chủng, huyết thống, thổ âm, và địa lý, thì nếu cần phải chia thì chúng ta nên chia đất nước ta ra mấy phần đây? Một số lựa chọn có thể có là: từ đèo Ngang trở ra và từ đèo Ngang trở vô, Bắc Hà và Nam Hà, ba miền Bắc Trung Nam như Pháp đã chia, hay là hai miền Nam Bắc như thời kỳ có sự hiện diện của Mỹ. Những sự phân chia nói trên đều do hoàn cảnh chính trị mà ra để phục vụ những mục đích chính trị, và hoàn cảnh chính trị thì chỉ có tính cách giai đoạn mà thôi. Vậy thì tại sao ta lại chấp nhận một sự phân chia nào đó và tại sao chúng ta lại có vẻ chấp nhận và “thích” sự phân chia thâm độc của người Pháp nhất? Tôi không có câu trả lời cho những câu hỏi trên. Hay là chia làm rất nhiều vùng miền tùy theo sự khác biệt giọng nói địa phương? Ðiều này chắc chắn không làm được và không ai có hơi đâu mà làm hoặc quan tâm đến chuyện đó cả.

    Nếu nhìn vào những phân tích ở trên dựa trên nhiều yếu tố trong suốt quá trình phát triển đất nước và dân tộc của Việt Nam thì tôi cho rằng dấu mốc rõ ràng, nổi bật và quan trọng nhất cho thấy sự tiến hoá của dân tộc là đèo Ngang. Đây là nơi chúng ta có thể dùng để đánh dấu một cái mốc quan trọng trong lịch sử phát triển dân tộc nếu cần. Vậy thì chúng ta sẽ có hai phần. Từ đèo Ngang trở ra chúng ta có thể tạm gọi là đất Truyền Thống; trong khi từ đèo Ngang trở vào chúng ta có thể gọi là vùng đất Mới. Xin được nhấn mạnh đề nghị này không phải là sự phân chia có tính cách vùng miền để phân biệt con người hay văn hoá, chính trị mà chỉ là đặt một cột mốc để đánh dấu một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Tôi tin là sự nhìn nhận này có một tác dụng rất tốt vì nó cho thấy được tính liên tục trong sự phát triển đất nước cũng như sự liên hệ khắng khít và gần gũi của con người Việt Nam cùng một tổ tiên, nguồn gốc đã từ vùng đất tổ mở mang đất nước kéo dài xuống phương Nam.

    Nếu có những cái nhìn thiên vị về sự khác nhau giữa các miền thì điều quan trọng là chúng ta phải làm giảm thiểu cái nhìn thiên vị đó đi. Có nhiều cách để làm điều đó, cũng như làm giảm bớt sự khác biệt vật lý của những vùng đất trên một đất nước, như hệ thống giao thông, thông tin, phát triển kinh tế, v.v. Tuy nhiên tôi chỉ muốn nói lên một cách để làm giảm thiểu tâm lý thiên vị này. Ðó là giáo dục. Giáo dục tôi muốn nói tới ở đây là giáo dục chính bản thân chúng ta cũng như giáo dục con cái ngay từ khi còn bé. Sự giáo dục này xảy ra trong môi trường chuyên nghiệp, trong nhà trường, cũng như trong sinh hoạt hàng ngày của chúng ta với nhau và giữa thế hệ lớn với thế hệ nhỏ hơn. Sự giáo dục này nhằm thay đổi những niềm tin về sự “superior” hoặc “inferior” có thể có dựa trên căn bản vùng miền chứ không dựa trên căn bản khoa học như khả năng làm việc, khả năng tổ chức xã hội, và khả năng hòa hợp và làm việc được với nhau.

    Khả năng hòa hợp và làm việc được với nhau tôi nghĩ rất quan trọng và nói lên rất nhiều về sự “mature” của con người và sự “mature” của một “civilization”. Nếu một dân tộc mà ai cũng nghĩ mình thông minh giỏi giang, nhưng không ai chịu người khác hơn mình hoặc lắng nghe ý kiến người khác, không chấp nhận, và không làm việc được với nhau thì kết quả sẽ là một sự đổ vỡ nguy hiểm. (Ðể giải quyết vấn đề này xã hội cần có những cơ cấu làm việc riêng mà tôi sẽ bàn tới ở Chương 10). Thực sự thì mọi sự đều “relative”. Không bao giờ có một sự hoàn hảo. Mỗi người chỉ có khả năng làm một số việc nhất định mà thôi. Người khác sẽ có khả năng khác.

    Nếu chúng ta chịu khó quan sát thì sẽ thấy rằng những thành phố trong một đất nước (hoặc những đất nước trong một thế giới) nào mà con người có khả năng chấp nhận, hòa hợp, và làm việc với nhau cao thì đó là những thành phố (hoặc đất nước) thành công, phồn vinh, và năng động. Có những nơi khả năng chấp nhận những cái “mới” và những cái “khác” của con người cao đến độ kinh ngạc (như nước Mỹ), và nhiều nhà xã hội học đã tin rằng đây là một trong những lý do chính yếu làm cho nền kinh tế những nơi này phát triển giàu có. Kết quả của khả năng chấp nhận và hòa hợp này là số đông mọi người trong môi trường đó được hưởng chung những thành quả của nền kinh tế phát triển và đời sống tinh thần đa dạng. Xã hội có khả năng là xã hội làm cho số đông mọi người được sung túc, hạnh phúc. Ở Việt Nam thì Sài Gòn là một ví dụ cho khả năng này. Theo tôi những con người có khả năng chấp nhận sự khác biệt và làm việc được với nhau là những người sáng suốt.

    Sự giáo dục này cần thiết để mọi người không nghĩ rằng tất cả những gì thuộc về vùng đất quê cha đất tổ đều là khuôn mẫu và đúng đắn. Đây là cái nhìn sai và dễ đưa tới sự tự tin quá mức. Sự giáo dục này cần thiết để giúp mọi người không nghĩ rằng những điều mới từ những vùng đất mới là khó chấp nhận được. Ðây là suy nghĩ sai và dễ đưa đến sự tự ti. Ở đâu cũng có những cái hay và những giá trị riêng mà mọi người có thể học hỏi. Vùng đất cũ có những giá trị ví dụ như văn hoá truyền thống vững chắc và những vùng đất mới có những giá trị như sự năng động, uyển chuyển, và tính sáng tạo. Tất cả những đặc tính khác nhau của những nơi khác nhau đều là điều mọi người có thể học hỏi được. Càng được tiếp xúc với những tư tưởng, ý kiến mới chúng ta càng có cơ hội thử thách khả năng trí óc của mình, và phát triển tầm nhìn của mình. Ðiều này tốt vì nó có lợi cho bản thân cá nhân từng con người và cũng có lợi cho xã hội nói chung. Những người từ chối sự học hỏi hoặc cứng nhắc trong suy nghĩ sẽ là những người thua cuộc. Ðiều quan trọng là chúng ta phải biết học hỏi qua lại. Chúng ta phải biết “compromise” và biết làm việc chung với nhau một cách bình đẳng.

    Tóm lại tôi thấy rằng sự khác biệt ở đất nước nào cũng có. Ðó là điều tự nhiên vì điều kiện địa lý, chính trị, v.v. Nhưng trong trường hợp Việt Nam thì sự phân chia ba miền như hiện nay chỉ là ý đồ xấu xa của Pháp nhằm làm suy yếu đất nước. Tôi vẫn không hiểu tại sao mọi người và ngay cả chính quyền vẫn chấp nhận và sử dụng cái “notion” ba miền này. Nếu nhìn từ khía cạnh lịch sử, địa lý, văn hoá, xã hội, nguồn gốc dân tộc, nguồn gốc ngôn ngữ, ... mọi thứ, thì đất nước con người Việt Nam chỉ là một. Những khác biệt chỉ rất nhỏ mà thôi và nó không đáng thấm sâu vào suy nghĩ của chúng ta quá, không đáng để làm cho khả năng làm việc và hợp tác của chúng ta bị ảnh hưởng.

    Một đề nghị là nếu cần đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của đất nước thì tôi nghĩ ý kiến đất Truyền Thống và đất Mới là hợp lý.3

    Tuy nhiên dù là đề nghị gì đi nữa thì hiện tại chính chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và phải giáo dục thế hệ tiếp theo để chúng ta và thế hệ sau không bị ảnh hưởng bởi sự phân chia như hiện nay. Tôi nghĩ đây là điều tuy khó nhưng sẽ làm được với quyết tâm của mỗi cá nhân trong sự suy nghĩ và hành sử mỗi ngày cũng như với quyết tâm của toàn xã hội. Nếu chúng ta có một cái nhìn xa và rộng về tương lai dân tộc, về đất nước; và thoát ra khỏi sự tự ái, tự hào nhỏ nhen, vô lý; thoát được sự thiển cận, chật hẹp của vùng, của miền, của tỉnh, của làng xã thì chúng ta sẽ thấy đây là một điều đáng và nên làm. Nếu chúng ta có đủ sức mạnh để thoát được cái nhìn thiển cận, chật hẹp của vùng, của miền thì chúng ta sẽ chấp nhận, loại bỏ, và làm việc dựa trên căn bản chất lượng thực sự của từng cá nhân và dựa trên sự đánh giá khách quan từng cá nhân. Nếu chúng ta có đủ sức mạnh để thoát được cái nhìn thiển cận, thì chúng ta sẽ biết học hỏi với nhau và làm việc với nhau một cách hòa hợp hơn trên căn bản của sự tôn trọng và sự công bằng. Qua thời gian và cố gắng chúng ta sẽ làm được.

    Ngay từ lúc này, trong tiến trình toàn cầu hoá, chúng ta hãy mau từ bỏ những cái nhìn thiển cận xưa kia đi mà hãy bắt đầu rèn luyện cho mình một tầm nhìn lớn với sự tập trung vào “world regions” và “international” trước khi quá trễ. Hãy nhìn Việt Nam là một tổng thể không ranh giới và là một phần rất nhỏ trong cái thế giới rộng lớn này. Có như vậy thì toàn thể đất nước Việt Nam mới phát triển được.

    Chúng ta hãnh diện và ca ngợi nền văn hóa của chúng ta và sự đa dạng của nền văn hoá đó, và chúng ta sẽ tiếp tục ca ngợi sự đa dạng đó. Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam tôi tin tưởng vững mạnh và không có gì phá vỡ được. Tôi không bao giờ nghĩ chúng ta mất đoàn kết. Tuy nhiên tôi nhận ra tác hại có thể có của sự phân chia từng miền vì nó làm cho chúng ta không phát huy được hết khả năng, nội lực của một dân tộc, làm cho sinh hoạt xã hội, chính trị, kinh tế của chúng ta không đạt được hiệu quả cao nhất. Tôi chỉ mong muốn chúng ta cố gắng làm việc với nhau hơn nữa để hiệu quả làm việc của dân tộc được nâng cao. Ðó là lý do tôi viết bài viết này.

    Ðể kết thúc tôi xin được trích vài câu trong nhạc phẩm “Việt Nam, Việt Nam” của người nhạc sĩ tài ba mà tôi rất khâm phục và biết ơn vì những cống hiến quá to lớn của ông cho âm nhạc và văn hoá Việt Nam, Phạm Duy.

    Việt Nam ngay từ vào đời
    Việt Nam hai tiếng nói bên vành nôi ...
    Việt Nam tên gọi là người
    Việt Nam hai tiếng nói sau cùng khi lìa đời ...
  7. Chương 4
    Mẹ Việt Nam



    Tôi đã nói rằng văn hoá Việt Nam có chứa đựng nhiều đặc tính quý báu, và một trong những điều tôi thấy đẹp đẽ nhất trong văn hoá Việt Nam có thể được tìm thấy trong những người phụ nữ và người mẹ. Ở đây tôi lại phải một lần nữa làm một người không khách quan khi nói rằng những người phụ nữ và người mẹ Việt Nam là tuyệt vời nhất trên trần đời. Những đặc tính đẹp đẽ cao cả của người phụ nữ Việt Nam có thể tìm thấy trong cuộc sống xã hội cũng như cuộc sống gia đình của họ. Trong xã hội, họ là những người thông minh, năng nổ, tài cáng bao nhiêu thì trong gia đình họ là những người sáng suốt, đảm đang, và rộng lượng bấy nhiêu.

    Trong một bài viết về vai trò người phụ nữ Việt Nam, Nhật Bản, và Mỹ trong xã hội cho một lớp học của tôi trước đây, tôi đã nói rằng phụ nữ Việt Nam mặc dầu bị ảnh hưởng của xã hội phong kiến (và những lý do khác nữa) nhưng sự tham gia hoạt động xã hội cũng như sự thành công trong xã hội của họ khá cao. Tôi cũng đưa ra một số lý do giải thích cho hiện tượng đó, và một trong những lý do là chiến tranh. Chính vì chiến tranh mà phụ nữ Việt Nam có nhiều cơ hội để khẳng định vai trò của mình hơn.

    Phụ nữ Việt Nam là những người anh hùng. Ðể thấy được điều này chúng ta cần phải trở ngược lại lịch sử một chút để thấy rằng sau khi An Dương Vương mất, Việt Nam bị kiểm soát bởi Triệu Ðà và phụ thuộc nhà Tây Hán bên Trung Quốc. Với ý chí dành độc lập và tinh thần yêu nước cao dĩ nhiên người Việt Nam đã đứng lên chống lại sự đô hộ của nhà Hán. Điều đáng ngạc nhiên và đáng khâm phục ở đây là cuộc kháng chiến đầu tiên to lớn nhất và có ý nghĩa nhất của dân tộc Việt Nam chống lại nhà Hán vào thời đó lại được lãnh đạo bởi hai người phụ nữ. Ðó là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng dưới sự lãnh đạo của chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu năm 39 AD kéo dài cho đến 43 AD khi Hai Bà Trưng không thể chống cự lại quân Trung Quốc và nhảy xuống sông Hát tự tử. Cuộc khởi nghĩa của hai Bà tuy ngắn nhưng đã để lại một tiếng vang lớn trong lòng dân tộc.

    Cuộc kháng chiến đó không những khẳng định tính độc lập của dân tộc Việt mà còn cho thấy được vai trò trọng yếu của người phụ nữ Việt trong xã hội. Vai trò này trong trường hợp của Hai Bà Trưng lại là vai trò cao nhất ở vị trí lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đó đã quy tụ được rất nhiều nam nhi cũng như rất nhiều phụ nữ khác, và trong số phụ nữ này lại có những nữ tướng tài giỏi. Cuộc chiến đó chứng minh rằng phụ nữ Việt Nam từ xưa đã là những người có khả năng làm việc trong xã hội. Cuộc chiến đó đã chứng minh rằng vai trò của người phụ nữ cũng như sự tham gia của họ trong hoạt động xã hội được công nhận, chấp nhận, và khâm phục bởi mọi giới.1 Cuộc chiến đó cũng đã làm nền tảng cho một truyền thống năng động trong xã hội tốt đẹp cho phụ nữ Việt Nam. Bằng chứng về ý nghĩa của vai trò của Hai Bà Trưng là họ đã được tôn làm hai vị nữ anh hùng dân tộc. Cho tới ngày hôm nay, công lao của hai bà vẫn còn được tưởng nhớ tới hàng năm, và gương sáng của hai người vẫn luôn luôn được nhắc nhở bởi phụ nữ cũng như đàn ông Việt Nam cho con cháu noi theo.

    Sau thời đại Hai Bà Trưng ta còn thấy xuất hiện nhiều nữ anh hùng khác. Một phụ nữ anh hùng khác là Triệu Thị Trinh, thường được gọi là bà Triệu. Với trái tim cho dân tộc cùng với ý chí mạnh mẽ của người phụ nữ Việt, bà Triệu đã đứng lên khởi nghĩa chống quân Ðông Ngô từ Trung Quốc vào năm 248 AD. Và lại một lần nữa dưới trướng của bà có vô số nam nhi và đàn ông.

    Truyền thống của hai bà Trưng và bà Triệu được nối tiếp và kéo dài qua nhiều thời đại cho tới ngày hôm nay. Có thể kể tới một vài nhân vật nữa như cô Giang, cô Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong thời gian chiến tranh mới đây, cả hai phe người Việt cũng có rất nhiều vị anh hùng là phụ nữ. Nếu không phân biệt quan niệm chính trị, thì chúng ta sẽ thấy rằng những người phụ nữ anh hùng của cả hai phe đó đều là sản phẩm của nền văn hoá Việt Nam và đều là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu.

    Chiến tranh đã đòi hỏi người phụ nữ phải tham gia chiến tranh và vì vậy vai trò trong xã hội của họ năng động. Họ có thể trực tiếp chiến đấu bên cạnh những người đàn ông. Họ tham gia vào những hoạt động tình báo, những hoạt động tuyên truyền, hoặc những hoạt động khác phục vụ chiến tranh. Nếu không tham gia cuộc chiến một cách trực tiếp thì cũng vì chiến tranh đã đưa đàn ông thanh niên ra mặt trận nên người phụ nữ lại phải gánh vác những vai trò khác trong gia đình và xã hội. Họ phải làm việc nhiều hơn trong lãnh vực nông nghiệp và những lãnh vực hoạt động của xã hội khác ví dụ như buôn bán. Trong suốt lịch sử Việt Nam lúc nào cũng có chiến tranh, và vì vậy vai trò hoạt động kinh tế của người phụ nữ lúc nào cũng to lớn. Có những giai đoạn chiến tranh, toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đã được vận hành bởi phụ nữ. Vì đàn ông đi chiến trận nên sự trông nom giáo dục con cái và quản lý gia đình của họ cũng tăng lên. Kết quả là phụ nữ Việt Nam trở nên năng động, tháo vát, thông minh, và có mặt nhiều nơi trong xã hội. Sự năng động đó của người phụ nữ một mặt giúp họ chứng minh được vai trò của họ và thúc đẩy họ tham gia thêm vào xã hội hơn. Mặt khác nó cũng giúp cho đàn ông nói riêng và xã hội nói chung chấp nhận sự tham gia cũng như sự thăng tiến của phụ nữ trong xã hội. Tôi tin rằng chiến tranh cùng với sự nhiễu nhương của chiến tranh đã là một yếu tố làm tăng sự hoạt động của phụ nữ trong xã hội.

    Chúng ta có những người phụ nữ anh hùng trong chiến tranh, nhưng chúng ta cũng có những phụ nữ tài giỏi trong những lãnh vực khác. Nếu nhìn vào lãnh vực văn chương thì sẽ thấy ngay rằng ba trong số những nhà thơ nổi tiếng nhất của Việt Nam từ trước tới nay là ba người phụ nữ. Ðó là Ðoàn Thị Ðiểm, Hồ Xuân Hương, và bà huyện Thanh Quan. Trường hợp của bà Hồ Xuân Hương là một hiện tượng khá thú vị. Trong một xã hội phong kiến khi mà vai trò của người phụ nữ không được coi trọng bằng đàn ông và phụ nữ cần phải kín đáo, tế nhị thì bà đã làm những bài thơ về đề tài tình dục hết sức tự do, buông thả, ra ngoài những luân lý lễ giáo truyền thống thời đó. Thú vị ở đây là bà đã dám làm công việc đó trong một môi trường xã hội khắt khe như vậy, và cũng thú vị ở đây là thơ của bà đã được yêu thích và chấp nhận bởi mọi giới. Trong khi thơ Hồ Xuân Hương cho thấy được sự lém lỉnh của bà thì thơ của Ðoàn Thị Ðiểm và bà huyện Thanh Quan nói lên được tính chất thanh cao và bác học của họ. Không có ba vị nữ nhi này thì nền văn học Việt Nam cũng mất đi nhiều màu sắc và hương vị. Thơ văn của ba người phụ nữ này đã được đưa vào chương trình giáo dục Việt Nam.

    Thời gian sau này khi cơ hội học hỏi và làm việc được mở rộng hơn cho phụ nữ thì phụ nữ Việt Nam lại một lần nữa chứng minh tài năng của họ. Họ cạnh tranh ngang vai sát cánh với đàn ông. Họ học những ngành đàn ông học, và họ làm hoặc nắm giữ những vị trí đàn ông làm hoặc nắm giữ. Ở trong nước cũng như ở hải ngoại, tôi được biết có nhiều phụ nữ đã thành công trong nhiều lãnh vực khác nhau.

    Khả năng làm việc và sự năng động của người phụ nữ Việt trong xã hội luôn là điều làm cho tôi khâm phục. Tuy nhiên điều đáng khâm phục hơn nữa là rất nhiều phụ nữ Việt Nam vừa có khả năng làm việc trong xã hội lại vừa có khả năng lo cho gia đình một cách rất hoàn hảo. Có thể một mặt làm việc xã hội, một mặt lo cho gia đình chu đáo là một tài năng đáng nể phục mà không phải phụ nữ nước nào cũng có được. Khi nói về vai trò của người phụ nữ trong gia đình, khả năng quản lý và tổ chức gia đình của phụ nữ Việt Nam chắc các bạn cũng đã biết rồi. Ở đây tôi muốn được đặc biệt nói tới sự hy sinh to lớn của những người mẹ, người vợ Việt Nam. Chỉ cần nhìn vào sự hy sinh này chúng ta có thể thấy được tình thương chồng con vô bờ bến, tính rộng lượng của người mẹ, người vợ đối với những người họ thương yêu.

    Vì chiến tranh mà tôi biết được có những người vợ đã phải chia tay với chồng khi còn rất trẻ, có người còn chưa có con và cũng có người đứa con đầu lòng duy nhất chỉ được vài tháng tuổi khi bố mẹ chia tay nhau. Những người vợ người mẹ đó vì thương chồng, con vì sự chung thuỷ mà đã đợi chờ qua nhiều năm tháng mặc dầu không hề biết chồng mình có còn sống hay không. Có những người vợ đầu tắt mặt tối còng lưng làm những công việc nặng nhọc nhất để kiếm được chút ít tiền đi thăm nuôi chồng trong tù. Tôi biết có những cụ già cực khổ làm lụng lo cho chồng, lo cho con, và lo cho cả cháu nữa mà không một lời than thở. Không những vậy họ còn tìm thấy được hạnh phúc trong sự khổ cực của họ vì họ biết rằng chồng, con, và cháu của họ sẽ được hạnh phúc. Mặc dầu có những ràng buộc về văn hoá truyền thống (nhiều khi rất khắt khe) đòi hỏi người vợ, người mẹ phải như vậy, nhưng bên cạnh đó yếu tố tình thương và hạnh phúc gia đình đã thúc đẩy những người phụ nữ hy sinh. Ở Việt Nam tôi được biết có rất nhiều người phụ nữ đã phải tháng tháng đi bán máu của chính mình để kiếm tiền lo cho con. Có những người vợ nhịn đói để nhường cơm cho chồng. Có những người bị chồng nhậu nhẹt, đánh đập, chửi rủa nhưng vẫn nín nhịn, không ly dị chồng tại vì họ không muốn những đứa con bị mất cha. Tôi biết có những người phụ nữ yếu đuối mà phải làm những công việc nặng nhọc và nguy hiểm nhất như đào huyệt mộ ngoài nghĩa địa để lo cho con được đi học. Ở Mỹ tôi được biết có những bà mẹ đã phải lau chùi nhà cầu vì mong muốn lo lắng cuộc sống cho các con.

    Vì thương con mà đôi khi những người mẹ phải chấp nhận không những những nhọc nhằn về thể xác mà ngay cả những nhục nhã của tinh thần. Tôi biết có những trường hợp vì thương con mà người mẹ đã cắn răng, nuốt hận chịu đựng sự xỉ nhục của đàng gái khi người con trai muốn lấy vợ. Vì thương con mà người mẹ đã không kể cho con trai nghe về chuyện người con dâu đã chửi mẹ mình như thế nào. Vì thương con mà đôi khi tình thương đó bị chính con của mình lợi dụng. Tôi biết có những người mẹ mặc dầu không biết chữ nhưng vẫn ráng dạy dỗ, cực khổ nuôi cho con ăn học để rồi người con dùng những kiến thức và những lý lẽ khôn lanh do được đi học để hạch sách người mẹ, dùng những lý lẽ để cãi lại mẹ mình, hoặc để bào chữa cho những cái xấu xa của chính mình. Chỉ tội người mẹ không đủ chữ nghĩa và không đủ sự sáng suốt của tâm trí để mà nói lại, nên đành ngồi im, lắng nghe, và bất lực. Vì thương con mà cho dù phải đối diện với đau khổ, người mẹ cũng không bỏ con của mình được. Tình thương chồng, thương con của người phụ nữ Việt Nam là như vậy, bao la hơn trời, sâu rộng hơn biển.

    Tôi tin rằng văn hoá Việt Nam có một nét đẹp sáng ngời là những đặc tính quý giá của người phụ nữ. Họ thực sự là những người anh hùng trong xã hội và là những anh hùng trong gia đình. Vì vậy tôi xin dùng một chương ngắn này để phần nào ca ngợi họ và nói lên lòng biết ơn và tự hào của tôi đối với họ.
  8. Chương 3 - Có Những Vấn Ðề


    Hai chương trước tôi nói khá nhiều về nền văn minh Việt Nam và lòng tự hào bốn ngàn năm văn hiến của người Việt. Niềm tự hào này của chúng ta rất lớn và cũng rất phổ biến. Bằng chứng cho sự phổ biến là chúng ta được nghe và nói rất nhiều về nó. Sự hiện diện của những câu như “Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến”, “Việt Nam có một truyền thống văn hoá lâu đời”, “Người Việt Nam thông minh học giỏi”, v.v. có ở nhiều nơi, trong thơ, trong nhạc, trong sách truyện, trong phim, trong kịch, trong lời nói, trong trường học, và trong gia đình hàng ngày. Một bằng chứng khác về niềm tự hào này là chúng ta thường hay chê bai hoặc xem thường những dân tộc khác. Nếu chúng ta đã chấp nhận mình là người có một nền văn hiến lâu đời và cao độ thì chúng ta cần phải chứng minh điều đó. Chúng ta nói chúng ta là người có văn hoá thì chúng ta phải giữ lời nói đó và sống đúng như ý nghĩa của chữ “có văn hoá”.

    Trình độ văn hoá của một dân tộc phần nào được phản ánh qua những việc làm và cách giao tiếp giữa con người hàng ngày. Những việc làm và cách giao tiếp này lại phản ánh sự suy nghĩ và trí tuệ của con người. Trong phần viết này tôi muốn được nói lên một vài nhận xét về những việc làm hàng ngày xung quanh ta. Ðây là những điều không được tốt lắm. Những việc này có thể chỉ nhỏ thôi, và không đáng quan tâm đối với nhiều người. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ mặc dầu là những việc làm, hành động nhỏ, chúng có thể nói lên rất nhiều về trình độ văn hoá của một số đông con người hoặc một dân tộc; và nếu nhìn từ góc cạnh trình độ văn hoá như vậy thì đây là những vấn đề rất lớn. Tôi tin tưởng rằng ngoài tôi ra còn rất nhiều người khác nữa cũng sẽ coi những việc này là quan trọng và nhiều ý nghĩa. Có những việc làm không hay và những giống dân khác hoặc người bản xứ cũng làm. Nhưng ta không thể dùng đó để làm “excuse” cho mình được vì làm như vậy nghĩa là nói rằng người ta làm điều xấu thành ra cũng không sao nếu chúng ta làm những điều tương tự. Dĩ nhiên không thể như vậy được.

    Trong cuộc sống chúng ta không thể dùng hành động cư xử của một hoặc một vài cá nhân để đánh giá trình độ văn hoá của cả một dân tộc. Làm như vậy sẽ mắc phải một lỗi lầm rất lớn là “generalization”. Nó không công bằng cho nhiều người. Tuy nhiên có những hành động mà phổ biến quá, nhiều người làm quá hoặc rõ ràng thường xuyên và chúng ta hay gặp quá thì, trong trường hợp như vậy, chúng ta có thể dựa vào những hành động đó để đưa tới kết luận cho rằng đó là đặc tính tiêu biểu của đại đa số giống dân đó. Ðặc tính của luật đa số là vậy, và kết luận đó sẽ có giá trị. Những điều tôi sắp nói ra sau đây không nhằm mục đích “generalize” nhưng là những điều tôi thấy quá thường xuyên và quá nhiều nên nó làm tôi lo lắng. Tôi mong rằng có nhiều bạn đọc sẽ chia sẻ nỗi lo này với tôi.


    Vấn Ðề Thứ Nhất

    Ðể bắt đầu tôi xin được trích lại một câu chuyện ngắn tôi viết cũng khá lâu rồi tên “Bài Học Nhỏ”.

    Người Mỹ thường hay nói “We learn something new every day” để nói lên sự giới hạn kiến thức của con người, sự mới lạ của mỗi ngày, cũng như để nhắc nhở sự quan trọng của việc học hỏi liên tục. Tôi vừa mới được học một bài học quý giá, và tôi cảm thấy rất hạnh phúc vì bài học này. Ðúng ra đây không phải một bài học mới mà là một sự nhắc nhở về bài học cũ tôi đã biết và đã học từ lâu rồi về lòng tự trọng và tính kỷ luật.

    Câu chuyện xảy ra hôm thứ Bảy vừa qua khi tôi ra khu chợ Việt Nam trong vùng với người cháu để mua một ít đồ. Những khu chợ Việt Nam hầu như lúc nào cũng tấp nập và đông đảo, đặc biệt vào những ngày cuối tuần. Thứ Bảy vừa rồi cũng vậy. Khi tôi tới nơi đã có rất nhiều người đi mua sắm, hoặc đi chơi với bè bạn ở đây. Chỗ đậu xe đã chật. Tôi chạy mấy vòng để tìm chỗ đậu xe mà không được. Ðứa cháu của tôi lúc đó liền nói:

    “Thôi chú cứ đậu đại dọc theo cái lề đường bên kia kìa.”

    Tôi nhìn theo tay nó chỉ thì thấy một dãy nhiều xe đủ kiểu, cỡ đậu dọc theo theo lề đường phía trước những tiệm và quán trong khu chợ này. Tôi biết chỗ này không được đậu xe. Tôi cũng thấy rõ ràng bảng cấm đậu xe và đường sơn vàng chạy dọc theo lề đường đó. Tuy nhiên không hiểu vì sao tôi lại chấp nhận một cách rất dễ dãi và không suy nghĩ gì hết về lời đề nghị đó của đứa cháu và tôi đã đậu vào một khoảng trống giữa hai chiếc xe. Tôi nghĩ, “Nó chạy vô mua một tí rồi ra liền. Chắc không sao.” Tôi để máy xe, bật đèn “hazard” và ngồi chờ.

    Tôi ngồi đợi được một lúc, ngắm trời mây, mọi người qua lại, và đang suy nghĩ mông lung thì một cô gái trẻ khoảng 16-17 tuổi (có lẽ cô là một trong những người đi chợ ngày hôm đó) bước tới và nói với tôi:

    “Xin lỗi anh, chỗ này không được đậu xe.”
    Tôi hơi bị bất ngờ và luống cuống. Ðầu óc chưa biết trả lời ra sao thì cái miệng đã thốt ra một câu mà khi đã nói ra rồi tôi mới tự hỏi sao tôi lại có thể nói một câu ... ngu ngốc như vậy. Tôi nói là, “Tôi chỉ tính đậu ở đây ... một tí thôi. Với lại ... tôi thấy cũng có nhiều người đậu.”

    Có lẽ cô gái cũng “lạ” với câu trả lời đó của tôi lắm, nhưng nhẹ nhàng tiếp:

    “Ðường đi ở đây đã nhỏ, lại có đông người và xe. Anh đậu như vậy là làm mất đi một "lane" rồi. Càng chật hơn cho người khác. Anh có thể đi kiếm chỗ đậu xe được không?”

    Không ngừng ở đó cô nói tiếp, chỉ tay vào những chiếc xe đậu trước và sau xe tôi:

    “Nếu anh đậu xe như những người đó thì anh cũng không tôn trọng luật pháp, không có lòng tự trọng, và vô văn hoá như họ.”

    Phản ứng tức thì của tôi là tức giận vì lời nói đó. Tôi cảm thấy mặt của tôi nóng hực. Nhưng một suy nghĩ thoáng qua đầu rất nhanh và tôi trấn tĩnh lại. Tôi vội nói với cô gái:

    “Xin lỗi. Cám ơn.”

    Và tôi lái xe đi kiếm chỗ đậu đàng hoàng. Trước khi đi tôi mỉm cười với cô gái một nụ cười thán phục, và cô gái trẻ cũng cười lại một nụ cười có cùng ý nghĩa. Nhìn qua kính chiếu hậu tôi thấy những người đậu xe gần đó nhìn tôi và nhìn cô gái. Có lẽ họ tự hỏi không biết chuyện gì đã xảy ra.

    Trên đường về, đứa cháu cứ thắc mắc không hiểu tại sao tôi lại như có điều gì suy nghĩ, im lặng và lâu lâu lại cười một mình như vừa có một tình yêu. Nó đâu biết rằng tôi vừa mới được nhắc nhở một bài học cho lòng tự trọng, tính kỷ luật, và văn hoá đơn giản mà rất hay như vậy. Bài học đó tôi đã từng học, đã biết nhưng đáng buồn thay đã không thực tập. Bài học với cô gái chỉ diễn ra trong vòng một phút thôi nhưng thật quý giá. Tôi hạnh phúc và hãnh diện vì đã kịp suy nghĩ và đã làm điều tôi đã làm. Tôi đã kể cho cháu của tôi nghe câu chuyện đó khi về tới nhà. Nó đã nghe một cách chăm chú.

    Ðây chỉ là một câu chuyện tôi đặt ra thôi, nhưng tôi đã ở trong một trường hợp tương tự. Có một người đã đậu xe như vậy trong một khu buôn bán bận rộn trong vùng tôi từng ở. Vì không thể de xe ra được do vướng xe của anh ta, tôi đã nói với anh ta là anh không được đậu ở đây. Câu trả lời của anh là anh ta đậu vì thấy cũng có nhiều người khác đậu. Một câu trả lời rất đơn giản.

    Trường hợp như vậy tôi gặp nhiều lắm. Không biết quý vị và các bạn đọc giả thì sao? Tôi đã đi nhiều khu chợ cộng đồng ở tiểu bang tôi ở. Tôi cũng đã đi nhiều khu chợ cộng đồng ở nhiều tiểu bang khác nơi tôi có dịp ghé thăm. Ở đâu tôi cũng gặp những cảnh tương tự. Ðôi khi vào những trung tâm này tôi không biết bảng “stop sign” có còn ý nghĩa của nó không. Lạ lùng hơn nữa là đôi khi tôi không biết tôi đang ở bên Mỹ hay bên Anh tại vì tôi thấy có nhiều người lái xe bên tay trái của con đường quá. Họ lấn lướt ẩu tả, không luật pháp.

    Ðó là trường hợp lái xe. Ðậu xe lại là một chuyện khác. Ðôi khi dọc theo lề đường chữa lửa có viền vàng hoặc viền đỏ cấm đậu xe chúng ta sẽ thấy một hàng dài những đốm đèn đỏ “hazard” chớp tắt của không biết bao nhiêu chiếc xe đậu ở đây. Nhiều người còn đậu xe ngay sau đuôi của những chiếc xe khác khiến họ không thể de xe ra được. Có rất nhiều xe đậu ở ngay giữa đường để cho người nhà chạy vô trong tiệm mua đồ hoặc chính người chủ xe chạy vô trong tiệm. Ðôi khi tôi thấy người chủ xe ngồi phì phèo điếu thuốc trong xe đậu giữa đường trong khi phía sau lưng và trước mặt anh ta có một chục chiếc xe khác không tiến tới hoặc đi lui được vì anh ta đã chiếm mất một nửa con đường rồi. Anh ta ngồi và không phản ứng gì cả. Có trường hợp khác tôi thấy những chiếc xe đậu giữa đường nhưng người chủ thì không biết đi đâu mất, cửa xe mở to và nhạc réo ầm ỹ. Và lại có những trường hợp khác nữa, chiếc xe đậu đó, nhưng nếu nhìn quanh quất thì ta sẽ thấy được người chủ đang đứng dựa tường hoặc ngồi chồm hổm gần đâu đó nói “cell phone” ra vẻ bận rộn lắm và trố mắt nhìn những người khác chật vật len lỏi trong đám xe bị kẹt.

    Ðáng buồn quá. Như vậy thì làm sao nói dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến.


    Vấn Ðề Thứ Hai

    Vấn đề thứ hai là tiếng ồn. Ôi, ồn không thể tả được ... ở những nơi công cộng.

    Có các anh chị, các bạn nào đã đi học ở những trường đại học có một số sinh viên Việt Nam chưa? Vào thư viện thì các anh chị, các bạn sẽ thấy. Trong không khí im lặng của một thư viện nơi sinh viên đang ngồi học, mà hễ nghe tiếng ồn đâu đó và lắng tai nghe thì có cơ hội nhận ra đó là tiếng Việt Nam. Mọi người thích nói chuyện nhưng không ra ngoài mà chọn thư viện mới kỳ lạ. Họ cười nói ríu rít như chim, vui vẻ bàn thảo về đủ mọi vấn đề từ đá banh, cho tới ông thầy này dễ, cho điểm rộng rãi, nên chọn lớp của ông ta. Họ bàn về con trai, về con gái. Sự ồn ào huyên náo trong thư viện làm tôi “lo sợ” đến nỗi mỗi lần nghe những tiếng ồn là tôi lại thấp thỏm lắng nghe coi ngôn ngữ của tiếng ồn là tiếng Việt hay tiếng nước khác.

    Có bao giờ bạn đi dự tiệc cưới của người Việt chưa? Tôi đã đi nhiều đám cưới và đám cưới nào cũng như đám cưới nào. Ồn. Người giới thiệu chương trình khai mạc buổi lễ cưới. Mọi người nói chuyện. Người giới thiệu chương trình giới thiệu đàng trai. Mọi người nói chuyện. Giới thiệu đàng gái. Mọi người đùa giỡn. Giới thiệu cô dâu chú rể. Mọi người tiếp tục nói chuyện vui đùa. Ðàng trai lên chào quan khách, đàng gái lên chào quan khách. Sự ồn ào, náo động bên dưới cứ tiếp tục diễn ra. Thật tội nghiệp cho những ông bố bà mẹ lớn tuổi của cô dâu chú rể cố gắng lớn tiếng chào đón mọi người trước một đám đông quan khách nhiều tiếng ồn nhưng ít sự tôn kính. Những quan khách này đeo nhiều trang sức quý giá và mặc quần áo rất lịch sự.

    Có bao giờ bạn đi dự một buổi họp, buổi gặp mặt, buổi văn nghệ, hoặc một buổi ra mắt sách chưa, hoặc những trường hợp tương tự? Ở phần lớn những buổi tôi tham dự hội trường rất ồn ào. Tệ hại nhất là phía sau hội trường, nơi cửa ra vào, hoặc nơi để bánh trái. Mọi người gặp nhau mừng rỡ cười nói rộn rã như những người tri kỷ đã nhiều năm không gặp. Một số người khác thì giới thiệu bạn bè với nhau như họ đang có một cuộc làm ăn lớn. Ðôi khi lại còn các chú chụp hình tới lui lăng xăng gọi người này người nọ ngồi sát lại gần nhau để có được một tấm hình cho tất cả trong khi chính chú ta thì đang che mắt vài người khách tham dự. Diễn giả bắt đầu rồi, nhưng nhiều người vẫn tiếp tục đi tới đi lui, hoặc đổi chỗ ngồi cho gần với bạn bè hơn, và vẫn tiếp tục nói chuyện. Trong khi đó những người khác lại lôi kéo những chiếc ghế trên sàn nhà kêu ken két. Với một số người khác thì sự ồn ào hỗn độn như vậy vẫn chưa đủ tại vì mặc kệ những đứa con đang kêu khóc, họ vẫn không chịu đem chúng ra ngoài. Tất cả những sự việc ở sân khấu phía dưới này xảy ra một cách rất tự nhiên và bình thản trong khi người diễn giả ở sân khấu trên kia nơi có cái microphone thì hình như đang cố gắng nói to hơn để át đi những tiếng ồn phía dưới. Vì bị tiếng microphone át những người bên dưới lại càng phải nói chuyện với bạn bè to hơn nữa. Thế mới “thú vị” chứ.

    Ðáng buồn quá. Như vậy thì làm sao nói dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến.


    Vấn Ðề Thứ Ba

    Dơ bẩn và xả rác là vấn đề thứ ba.

    Cũng ở những trung tâm sinh hoạt hoặc chợ búa của cộng đồng, các bạn có để ý là lúc nào nó cũng dơ hơn những trung tâm chợ búa của người bản xứ hoặc những giống dân khác không? Lý do chỉ đơn giản thôi. Xả rác. Mọi người đua nhau xả rác. Từ đàn ông cho tới đàn bà. Từ già cho tới trẻ. Tôi đã từng gặp những cụ già vừa ăn xong cái bánh tét và liệng ngay cái vỏ lá chuối xuống lề đường trong những khu chợ như chỗ không người. Tôi đã từng gặp những anh thanh niên hút thuốc xong liệng ngay phần còn lại của điếu thuốc xuống đất trong nhà hàng mặc dầu cái gạt tàn thuốc nằm ngay trên bàn trước mặt. Tôi đã từng chứng kiến những bà mẹ trẻ vất những bịch ny lông đựng hàng trong những bãi đậu xe để gió thổi những bịch này bay ... phất phới. Tôi đã chứng kiến những đứa bé chọi pháo ở trên mặt đường, vất giấy kẹo, v.v. khắp nơi mà bố mẹ đi chung cũng chẳng để ý hoặc dạy dỗ.

    Ðó là ở bên ngoài. Bây giờ chúng ta thử vào một chợ bán thực phẩm xem sao. Ấn tượng trước tiên sẽ là cảnh chật chội người và người vì những gian hàng đặt gần nhau quá và nhiều quá chiếm hết chỗ đi lại. Hàng hóa thì lung tung, vô trật tự, rối rắm. Có những món hàng rất dơ và cũ, quá hạn mà vẫn được bầy bán. Những người đi chợ thì lục lọi, bới móc các món hàng lộn cả lên để rồi cuối cùng bỏ đi còn lại là một đống bề bộn. Nhìn xuống đất thì rau cải, bịch ny lông, hộp các tông đủ thứ linh tinh như một trận đồ. Trong khi quý vị và các bạn nhìn lên để tìm lối đi giữa những thùng đựng hàng được đặt ra khắp nơi thì hãy cẩn thận vì đôi khi quý vị và các bạn sẽ đạp lên một vũng nước đọng không ai lau chùi.

    Rời chợ thực phẩm chúng ta hãy vào một nhà hàng ăn. Nhà hàng ăn cũng dơ không kém. Ðây là một điều tôi không thể nào hiểu được. Nhà hàng là nơi ăn uống thì cần nhất phải sạch sẽ chứ tại sao mà phần lớn những nhà hàng Việt Nam tôi đi đều thật dơ bẩn. Trước tiên hãy nhìn xuống sàn nhà. Những mẫu đồ ăn lụn vụn trên sàn nhà dơ bẩn ở các nhà hàng này tôi nghĩ có thể nuôi được một gia đình chuột. Chuột thì tôi chưa được thấy nhưng gián thì thấy vài lần; còn ruồi thì nhiều, ở mọi nơi, bay tới bay lui rất ... mát mẻ. Sau đó muốn biết rõ mức độ dơ bẩn thì các bạn chỉ việc quan sát cách chùi bàn của những nhân viên nhà hàng. Một cái khăn không sạch lắm, quét một lượt hoặc hai lượt trên mặt bàn là xong ngay để lại trên mặt bàn những lằn nước trộn lẫn với dầu mỡ. Nhiều mẫu đồ ăn lụn vụn từ trên bàn theo cái quét đó mà rơi xuống đất và xuống ... ghế. Các bạn hãy khoan ngồi xuống đã vì khả năng trên ghế ngồi của các bạn có một vài cọng giá, một mẩu hành là rất cao. Khi ngồi các bạn hãy cẩn thận không thì một mảnh xương heo hoặc xương cá sẽ đâm vào ... đít. Ngồi xuống xong nếu các bạn ghé mắt nhìn vào những hũ, bình đựng nước mắm, nước tương, tiêu muối thì chắc chắn các bạn sẽ thấy một đống chai lọ, muỗng, đũa dơ bẩn với mắm, muối, tương, dầu bám vào chúng như cáu ghét và dầu mỡ nhớp nháp với những dấu vân tay của không biết bao nhiêu người sử dụng. Cầm tờ thực đơn nhàu nát và cũng nhớp nháp không kém, các bạn có cảm nghĩ gì không? Các bạn có bao giờ vào nhà hàng của những dân tộc khác mà phải dùng khăn giấy để lau lại muỗng nĩa, hoặc phải tráng lại tách nước trà bằng chính nước trà dùng để uống chưa?

    Tôi rất ít khi đi vào nhà cầu của những nhà hàng. Nhà hàng là nơi ăn uống thì chắc chắn khách sẽ cần vào nhà cầu để rửa tay, rửa miệng, đi tiểu, v.v. Nhưng phần đông nhà cầu của những nhà hàng Việt Nam lại là nơi dơ bẩn nhất. Xin nói rõ tôi chỉ nói nhà cầu đàn ông thôi vì tôi là ... đàn ông mà. Tôi chưa bao giờ vô phía ... bên kia cả. Trong nhiều nhà hàng vượt qua con đường ngắn dẫn tới nhà cầu cũng đã là một chiến công rồi. Tới nơi, chỉ nhìn cánh cửa nhà cầu thôi với những màu sắc dấu vết dính trên đó là lại chùng bước một lần nữa không biết có nên mở ra không. Khi mở cửa bước vào thì có khả năng quý vị và các bạn sẽ được chào đón bằng một ánh đèn lờ mờ và mùi khai nồng nặc. Ðôi khi một cuộn giấy lăn lóc trên sàn lẫn trong những vũng nước nhỏ sẽ làm cho sự di chuyển của quý vị và các bạn khó khăn hơn. Các bạn bước vào nhà cầu thì ôi thôi cầu nghẹt với tất cả những thứ trong đó trôi nổi và chưa có ai thông cầu cả. Các bạn vội bước ra bồn tiểu vừa tiểu vừa nín hơi. Tiểu xong, vặn nước và cúi xuống nhìn lại thì nhận ra một đống đầu thuốc lá được vất trong cái cầu uế vàng đó đã làm nghẽn nước. Nước ọc ạch trôi, chực trào ra ngoài thành và không biết có trôi hết không. Bạn nản lắm rồi nhưng còn phải rửa tay cái đã. Bạn bước tới bồn rửa tay. Nếu may mắn thì cả nước nóng và lạnh đều hoạt động. Nhưng ngay ở trong bồn rửa tay bạn cũng sẽ thấy một vài mẫu thuốc lá lẫn trong những chất gì nhơn nhớt với màu sắc riêng biệt của nó. Bạn cũng cố gắng và vội vã rửa tay ... không (vì không có xà bông) cho xong. Tới khi bước ra lấy khăn giấy lau tay thì ôi thôi khăn giấy đã hết từ lúc nào. Bạn chỉ còn hai lựa chọn mà thôi, hoặc là để tay ướt, hoặc là chùi lên quần áo. Dù bạn chọn cách nào đi nữa thì trước khi rời nhà cầu bạn cũng lại phải đặt tay lên cái núm cửa trên cánh cửa với những vết dính có màu sắc kỳ lạ kia. Bạn ra khỏi nhà cầu thở phào nhẹ nhõm và tự hỏi tại sao nhà cầu của nhà hàng “fast food” McDonald’s lại sạch sẽ và thơm tho đến thế, khác hẳn với nơi này.

    Ðáng buồn quá. Như vậy thì làm sao nói dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến.

    Ðiều tôi nói trên đây thực sự có phóng đại, nhưng đúng là tôi đã gặp tất cả những cảnh như vậy trong nhiều nhà hàng Việt Nam. Tôi chỉ gom những kinh nghiệm đó vào chung trong một câu chuyện mà thôi. Tôi cũng tin chắc rằng quý vị và các bạn đọc giả cũng đã nhiều lần trải qua những kinh nghiệm tương tự tại nhiều nhà hàng. Dĩ nhiên cũng có những nhà hàng sạch sẽ, vệ sinh hơn nhưng số lượng hình như quá ít ỏi. Hay tại tôi đi những nhà hàng rẻ tiền? Tôi không nghĩ nhà hàng sang rẻ là lý do giải thích cho sự dơ hay không dơ. Hãy thử nhìn một tiệm ăn rẻ tiền McDonald’s nhưng sạch sẽ thì chúng ta sẽ hiểu. Cũng cần nhắc là sự dơ bẩn cũng phụ thuộc vào người sử dụng nữa. Cả người sử dụng và chủ nhà hàng đua nhau làm tăng sự dơ bẩn.

    Có rất nhiều vấn đề “nho nhỏ” như ba vấn đề trên đây mà tôi rất muốn kể, nhưng tôi nghĩ sẽ không thể nào nói ra hết được. Vả lại tôi cũng thấy quá “depressed” rồi. Tôi chỉ nói sơ sơ một vài ví dụ mà thôi: hút thuốc trong những nơi cấm hút thuốc; khạc nhổ ngoài đường, đi tiểu ngoài đường (điều này chỉ xảy ra trong nước và còn khá phổ biến, và đáng buồn là có những người ăn mặc lịch sự và không phải vô gia cư làm điều đó); nói tục (nhiều người nói tục nhiều quá đến nỗi những lời tục tĩu gần như trở thành một phần của câu nói và chẳng ai để ý tới nữa); v.v.

    Ðó là những vấn đề "nhỏ". Những vấn đề lớn hơn cũng vậy. Sau đây là một vài dẫn chứng.

    Ví dụ như việc thi cử gian lận trong trường học. Ðây là một vấn đề rất phổ biến, rất lớn, và rất đáng xấu hổ. Vậy mà có những người lại tự hào và khoe khoang khả năng gian lận đó với người khác. Không những vậy, có những người thi cử, bài vở gian lận; đến cuối năm được điểm cao thì tự hào học giỏi, và khi ra trường lại tự hào có bằng cấp.

    Ví dụ như cách thức thảo luận … mà nhiều khi những cuộc tranh luận đó trở thành, hoặc bị coi là, cãi nhau hoặc chửi nhau (Thực sự đó là những cuộc chửi nhau).

    Ví dụ như những cuộc cãi nhau, những cuộc chửi nhau, những sự vu khống, bêu xấu, hoặc tự ca ngợi, tự tâng bốc lẫn nhau trên những phương tiện truyền thông. Cho dù vì mục đích gì đi nữa (có thể là để tự lăng xê, có thể là ganh ghét hoặc quấy rối sinh hoạt chính trị, v.v.) và cho dù ai làm công việc đó đi nữa; tất cả đều cho thấy một trình độ văn hoá thấp kém và sự thông minh thảm hại của những nhân vật đó … những người làm và đại diện cho văn hoá, văn học, chính trị, xã hội, truyền thông của chúng ta.

    Ví dụ như việc in sang lậu băng Video, CD, DVD, và những sản phẩm trí tuệ khác (intellectual property); gian lận trong sử dụng “cable TV” và đĩa vệ tinh (satellite dish). Ví dụ như việc thâu và trình diễn âm nhạc không xin phép tác giả.

    Ví dụ như việc gian lận lợi tức xã hội, "welfare", nhà cửa, v.v.; gian lận trong "healthcare", sức khoẻ; gian lận trong bảo hiểm; v.v.

    Ví dụ như cách thức làm ăn của những cơ sở kinh doanh được nhìn thấy qua thái độ cư xử với khách hàng, với nhân viên làm việc, và với các đối tác thương mại.

    Ví dụ như cách thức cạnh tranh, cách thức làm việc trong một tổ chức hoặc giữa các tổ chức với nhau, v.v.

    Ví dụ như việc hối lộ, biển thủ trong chính quyền.

    Còn nhiều lắm. Tôi chứng kiến những việc đó ở mọi nơi, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, già trẻ, trai gái, trong nước hay ngoài nước, hoặc tư tưởng chính trị. Những điều đó là vấn đề của cả một dân tộc. Những điều đó không cho tôi thấy chúng ta là một dân tộc có văn hoá hoặc văn hiến. Các bạn chỉ việc quan sát đời sống xung quanh mình thì sẽ thấy thôi.

    Tôi biết rằng những vấn đề xã hội đất nước nào cũng gặp phải, nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta chấp nhận nó hoặc dùng nó để biện hộ những việc không hay của chính mình. Hơn nữa mức độ và sự phổ biến của những vấn đề sẽ nói lên được trình độ văn minh và kỷ luật xã hội của mỗi dân tộc. Đồng thời, đôi khi trong vấn đề gian lận thì những gian lận to lớn phần nào chứng tỏ được khả năng và sự “khôn ngoan to lớn” của những kẻ gian lận. Những gian lận nhỏ bé, vặt vãnh hình như dễ làm chúng ta khó chịu hơn và khinh thường hơn thì phải. Tuy vậy, cả hai đều không tốt và đều đáng bị trừng phạt.

    Tôi đồng ý không phải mọi người đều có những hành vi thiếu văn hoá; không phải nhà hàng nào cũng dơ bẩn; không phải học sinh nào cũng gian lận trong trường học; không phải ai cũng thích cãi nhau, chửi nhau, vu khống, nói xấu người khác. Nhưng những điều đó tôi thấy quá rõ ràng và thường xuyên, phổ biến. Vậy thì chúng ta phải tự hỏi những việc như vậy có phải xuất phát từ đa số mà ra hay không? Tôi chỉ mong đưa ra một vài ví dụ trong rất nhiều những ví dụ để chứng minh rằng chúng ta còn nhiều giới hạn cần phải vượt qua, còn nhiều suy nghĩ phải thay đổi. Chúng ta tự hào với bốn ngàn năm văn hiến vậy thì chúng ta hãy chứng minh điều đó đi.
  9. NHÌN LẠI MÌNH: ĐÔI LỜI TÂM SỰ VỀ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI, VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM

    3rd Edition
    Electronic Copy
    © Copyright by Lê Khôi 2002, 2003
    Print version first published in the United States of America in 2003

    Mục Lục
    Lời Nói Ðầu
    Chương 1: Là Ai và Từ Ðâu Tới
    I. Con Rồng Cháu Tiên
    II. Sự Chấp Nhận Dễ Dãi
    Chương 2: Bốn Nghìn Năm Văn Hiến
    I. Văn Minh, Văn Hoá, và Văn Hiến
    II. Một Cái Nhìn Không Thiên Vị
    1. Các Vua Hùng Dựng Nước và Lại Một Sự Chấp Nhận Dễ Dãi
    2. Các Chứng Tích Khảo Cổ Tại Việt Nam
    3. Nền Văn Minh Ưu Việt?
    III. Kết Luận - Đất Nước Bốn Nghìn Năm
    Chương 3: Có Những Vấn Đề
    Chương 4: Mẹ Việt Nam
    Chương 5: Ba Chị Em Là Một Miền
    I. Sự Chấp Nhận Dễ Dãi Thứ Ba
    II. Ba Chị Em Là Một Miền
    Chương 6: Những Cái Vòng Luẩn Quẩn
    Chương 7: Năm Đặc Tính và Một Sợi Dây
    I. Hai Đầu Của Một Sợi Dây
    II. Một Vài Đặc Tính Để Thành Công
    Chương 8: Nền Tảng Được Xây Bằng Gì?
    I. Mentality và Vài Vấn Đề Xung Quanh Việc Học
    II. Sự Thành Công và Nền Tảng Xã Hội
    1. Thành Công - Một Cái Nhình Khái Quát
    2. Nền Tảng Xây Bằng Gì?
    Chương 9: Tình Yêu, Tình Yêu
    I. Cây Kim Trong Ổ Rơm hay Tìm Kim Đáy Biển
    II. Địa Ngục và Sự Chọn Lựa Láo Cá
    Chương 10: Những Đêm Trăn Trở
    Lời Kết

    Lời Nói Ðầu
    Được sinh ra và lớn lên ở Việt Nam và nhờ đó có cơ hội sống trong văn hoá Việt Nam là điều tôi cảm thấy rất vui và may mắn. Tôi được nói tiếng Việt, làm những điều người Việt làm, nghĩ giống như người Việt nghĩ, ăn những món ăn Việt Nam. Một trong những điều tôi thích nhất là được nghe và đọc thật nhiều những câu ca dao tục ngữ,những bài hát dân ca cùng biết bao nhiêu truyện truyền thuyết, cổ tích, và lịch sử của dân tộc mình. Tôi không có nhiều hiểu biết về dân ca của các nước khác, nhưng tôi tin rằng kho tàng dân ca, ca dao, và tục ngữ của Việt Nam rất giàu có và nhiều màu sắc. Những bài dân ca, ca dao, tục ngữ đó mặc dầu chỉ được bắt nguồn từ những người dân dã bình thường, nhưng từng chữ, từng lời, và những ý tứ được chứa đựng trong đó thì thật đẹp đẽ,phong phú, và cao siêu mà ngay cả những nhà thơ, nhà văn tài giỏi nhất cũng không thể nào sáng tác được.
    Ðối với tôi, ngày còn bé và ngay cả bây giờ, những câu chuyện truyền thuyết, truyện cổ tích sao mà hay và đẹp đẽ quá. Chúng giúp ích cho tôi rất nhiều trong việc hiểu biết thêm về dân tộc mình, đất nước, lịch sử của mình, và cũng rất bổ ích cho sự phát triển trí tưởng tượng và sự suy nghĩ của tôi. Ngày xưa trong trí óc trẻ thơ của tôi hình ảnh Sơn Tinh đứng trên đỉnh núi kêu gọi đất trời, khai rừng mở núi thật hùng dũng oai nghi.

    Tôi tìm thấy sự mầu nhiệm và dịu hiền trong cô Tấm bước ra từ trái Thị, nhưng tôi lại cảm thấy được sự dũng mãnh và lãng mạn trong cảnh tượng Thạch Sanh chém xà tinh để cứu công chúa. Tôi tưởng tượng tới hình ảnh anh hùng Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đứng trên mũi thuyền điều binh khiển tướng trên sông Bạch Ðằng cọc nhọn lô nhô,sóng biển chập chùng chắc hùng tráng lắm. Chỉ việc nghĩ tới mình là con cháu của Rồng Tiên thôi cũng đủ làm cho tôi rạo rực và hãnh diện rồi. Tôi mê những câu chuyện đó lắm.
    Lớn thêm một chút tôi lại được học, được đọc, và được nghe thêm nhiều về dân tộc mình. Trong số những điều tôi để ý được nhắc tới nhiều là “Dân tộc Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến.” Một số đức tính tốt đẹp của người Việt Nam cũng thường được nhắc nhở. Ví dụ như những câu nói sau đây tôi bắt gặp rất thường xuyên: Người Việt Nam cần cù, chịu khó; Người Việt Nam thông minh; Người Việt Nam can đảm và kiên cường, v.v. Khi nghe những điều đó dĩ nhiên tôi vui và hãnh diện; tuy nhiên, tôi chấp nhận và biết vậy thôi chứ không bao giờ thắc mắc gì về những nhận xét đó.

    Cho tới khi lớn hơn nữa cũng vẫn vậy, không bao giờ tôi suy nghĩ sâu hơn hoặc phân tích kỹ càng tại sao dân tộc của tôi lại có những đức tính như vậy. Tôi không bao giờ thắc mắc về sự chính xác của những điều đó. Tôi chấp nhận và tôi tự hào. Những bạn bè xung quanh tôi cũng vậy, hồn nhiên và vô lo. Có lẽ lúc đó ham vui nên không suy nghĩ nhiều. Những việc làm cho tôi bận rộn lúc bấy giờ có lẽ là để ý và ba hoa với các cô bạn gái cùng lớp hoặc tìm kiếm, tìm hiểu những bài hát, những ban nhạc mới nhất của nước ngoài để còn khoe với bạn bè và chứng tỏ rằng mình là người hiện đại, biết nhiều về thế giới phương Tây. Tôi tiếp tục sống với niềm tự hào mình là đứa con của dân tộc Việt với bốn ngàn năm văn hiến và lịch sử chống ngoại xâm anh hùng.

    Tới khi qua tới Mỹ rồi thì lại khác. Cái nhìn của tôi có rất nhiều thay đổi, và sự thay đổi này xảy ra vì hai lý do. Thứ nhất là tôi trưởng thành hơn nên suy nghĩ nhiều hơn,đặt câu hỏi nhiều hơn, và phân tích sự việc nhiều hơn. Lý do thứ hai là môi trường. Sống bên Mỹ thực sự là một điều may mắn vì tôi có cơ hội được nhìn thấy một thế giới mới,với những cách sống, phong tục, và cách làm việc mới, suy nghĩ mới. Trong môi trường mới này tôi cũng được nhìn thấy một thế giới rộng hơn vì được tiếp xúc với nhiều giống người, và được tiếp thu nhiều thông tin về các dân tộc khác, các nền văn minh khác nhờ sự phát triển của kỹ thuật thông tin và giao thông, cùng sự khoáng đạt của vấn đề phổ biến tin tức. Bên cạnh đó, thế giới mới này cũng cung cấp cho tôi sự giáo dục và cơ hội để tìm kiếm kiến thức. Thực sự tôi đã thay đổi rất nhiều. Tôi khám phá ra rằng ở một góc độ nào đó tôi không còn nằm dưới đáy giếng nữa mà ở cao hơn một chút. Tôi biết rằng tôi chưa thấy và hiểu nhiều, nhưng có một điều chắc chắn là tôi biết bầu trời không nhỏ như cái vung mà nó lớn lắm, lớn khủng khiếp. Tôi vui ở vị trí hiện nay và cảm thấy may mắn hơn rất nhiều người Việt Nam khác còn đang ở quê nhà.

    Nhờ trưởng thành hơn và nhờ môi trường thuận tiện tôi đã ra sức tìm hiểu, học hỏi, lắng nghe, và quan sát nhiều hơn. Môi trường, thời gian, và kiến thức đã làm tôi thay đổi nhiều trong sự suy nghĩ và cái nhìn về dân tộc của tôi. Tôi bắt đầu tự hỏi rất nhiều lần tại sao dân tộc của tôi có một lịch sử văn hoá lâu đời như vậy, người dân chăm chỉ và thông minh như vậy mà đất nước tôi lại nghèo quá trong lãnh vực kinh tế và lạc hậu quá trong sự phát triển xã hội và khoa học? Tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi trên không phải dễ vì nó quá rộng. Ðể tìm câu giải đáp có lẽ chúng ta sẽ phải phân tích, mổ xẻ rất nhiều lãnh vực như văn hoá, truyền thống, tín ngưỡng niềm tin, vị trí địa lý, hoàn cảnh chính trị, hoàn cảnh chiến tranh, ngôn ngữ, lịch sử, khảo cổ, nhân chủng, phương cách giáo dục, tổ chức gia đình, và bao nhiêu lãnh vực khác nữa. Dĩ nhiên không ai làm được công việc trên trong một cuốn sách và dĩ nhiên tôi không thể làm được vì nó đi ra ngoài khả năng của tôi.

    Mặc dầu vậy tôi tin là tôi đã tìm được một vài câu trả lời cho một số câu hỏi tôi đặt ra, và vì sự mong muốn được đóng góp vào sự phát triển của đất nước, cùng với sự háo hức của tuổi trẻ, nên tôi muốn viết cuốn sách này để bàn thảo một số đề tài xem sao với hy vọng sẽ đóng góp được một chút gì đó vào sự tranh luận về một số vấn đề của Việt Nam. Trong cuốn sách này tôi xin được phép nói lên những suy nghĩ, nhận xét chủ quan của mình về nhiều khía cạnh khác nhau có liên quan đến niềm tin, tầm nhìn, và khả năng của người Việt Nam, trong nước cũng như ngoài nước, trong một nỗ lực để có thể phần nào đưa ra một cái nhìn mới hoặc nhìn lại một cách kỹ hơn về chính dân tộc mình.
    Những cái nhìn mới hoặc nhìn lại này hy vọng sẽ góp phần giải thích tại sao nước Việt Nam chậm tiến và dân tộc chúng ta lạc hậu. Ðồng thời tôi cũng sẽ phân tích và đưa ra ý kiến về một số vấn đề văn hoá, xã hội, chính trị, v.v. tôi nghĩ là quan trọng mà chúng ta đang phải đối đầu hiện nay để mọi người cùng tranh luận. Cuối cùng, tôi sẽ đưa ra một đề nghị có tính cách rất tổng quát để nhờ đó mà hy vọng chúng ta có thể thúc đẩy sự phát triển đất nước và xã hội hơn và phát triển một cách thực tế hơn.
    Chính vì đặc điểm nói lên nhiều khía cạnh nên sẽ có những phần thảo luận về những đề tài tương đối rộng xen kẽ với những đề tài hoặc câu chuyện có thể nói là nhỏ nhặt. Ðồng thời tôi cũng không có ý định viết một cuốn sách có tính chất khảo cứu khoa học về xã hội mà chỉ là một cuốn sách nói lên những quan sát chủ quan và những nhận xét hay đúng hơn là những tâm sự của một con người sống trong xã hội mà thôi. Những điều nói ra có thể đúng, có thể sai, hoặc có thể đúng một phần hoặc sai một phần tùy thuộc vào cái nhìn của người đọc.

    Ðồng thời tôi biết chắc rằng có nhiều điều trong cuốn sách này không có gì mới mẻ cả và đã được nhiều người bàn thảo hoặc viết về rồi. Tuy nhiên tôi hy vọng rằng nếu quí vị và các bạn bắt gặp những trường hợp như vậy thì quí vị và các bạn hãy đón nhận nó, và biết rằng có thêm một người nữa cũng có cùng suy nghĩ giống như quý vị và các bạn. Nếu có những điều đối chọi với quan điểm của quý vị và các bạn, tôi cũng mong là những cái nhìn mới và khác biệt về cách suy nghĩ sẽ được tôn trọng và tìm hiểu. Bên cạnh đó nếu quý vị và các bạn khám phá thấy vài điều mới lạ trong cuốn sách này thì hy vọng quý vị và các bạn sẽ cùng ngồi lại với tôi (thông qua cuốn sách) để cùng suy nghĩ và phân tích xem những điều đó đúng hay sai, hoặc quí vị và các bạn sẽ có thêm những kết luận khác.

    Tôi hy vọng nhiều người, nhiều giới sẽ đọc quyển sách này, nhưng đọc giả chính yếu tôi mong mỏi nhất là các bạn trẻ. Tôi không muốn đưa ra con số nhất định về khoảng tuổi mà chỉ nói chung là "trẻ" mà thôi. Ðây là những người cùng lứa với tôi và tôi cảm thấy gần gũi nhất. Ðây là những người có nhiều sáng tạo, năng động, và uyển chuyển nhất. Ðây cũng là những người có tác động mạnh tới đường hướng phát triển của đất nước trong tương lai. Trong số những người trẻ này có người được giáo dục hoàn toàn ở bên Mỹ, có người vừa được giáo dục ở Việt Nam vừa được giáo dục ở Mỹ, và dĩ nhiên có các bạn và các anh chị chỉ sống ở Việt Nam mà thôi. Trong số những người này có các bạn và các anh chị đang chuẩn bị lập gia đình hoặc mới lập gia đình, nhưng trong số này cũng có các bạn trẻ đang lớn lên và chuẩn bị yêu. Nhóm người này cũng đại diện cho một sự tổng hợp thú vị là trong số họ có những người còn bị ảnh hưởng bởi một số suy nghĩ cũ và phần nào bị ảnh hưởng của chiến tranh. Bên cạnh đó có những bạn sanh ra sau chiến tranh và tiếp xúc nhiều với văn hoá Tây phương sau thời gian Việt Nam mở cửa.

    Những người này cũng có một số lượng tập trung lớn ở Việt Nam, nhưng ở hải ngoại họ cũng là một số đông đáng kể. Không phân biệt trình độ học vấn, lãnh vực làm việc, tư tưởng chính trị, trong nước hay ngoài nước, cuốn sách này hy vọng sẽ tới tay tất cả các bạn quan tâm đến những vấn đề xã hội của Việt Nam.
    Cũng mong được xin lỗi quý vị và các bạn là trong cuốn sách này tôi sẽ dùng một số chữ tiếng Anh. Lý do vì tôi không tìm được chữ tiếng Việt tương ứng hoặc không vừa lòng với chữ tiếng Việt được dịch. Ðôi khi tôi cũng cố ý sử dụng tiếng Anh vì cảm thấy tiếng Anh diễn tả đúng “cảm giác” và “tâm trạng” của tôi trong khuôn khổ thảo luận đó.
    Tôi quý trọng sự học hỏi không ngừng và vì vậy tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của quý vị và các bạn. Tôi cũng hy vọng cuốn sách này sẽ góp phần vào việc làm tăng thêm sự phong phú trong lãnh vực thảo luận về xã hội một cách chuyên nghiệp mà tôi thấy còn rất ít trong xã hội Việt Nam. Tôi tin là nhờ sự giàu có của thông tin mà trong đó nhiều quan điểm khác nhau được trình bày, phân tích, bàn thảo mà cái nhìn của chúng ta sẽ phong phú hơn. Cũng chính nhờ sự phong phú của thông tin và sự thảo luận tích cực mà chúng ta mới tìm được những kết luận và hướng đi phù hợp cho từng tầng lớp cá nhân hoặc cho đại đa số quần chúng. Kết quả cuối cùng tôi mong muốn là nhờ sự phong phú của thông tin, sự tự do trình bày ý kiến, và sự tranh luận một cách văn minh mà chúng ta có thể cùng nhau làm việc, giáo dục, và thiết lập chính sách một cách hữu hiệu. Xã hội phát triển được một phần là nhờ vào thông tin và sự thảo luận này.