Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Bà con cô bác đi tàu đi xe thủa ấy có thể chỉ thấy Ngâm Sĩ là nghệ sĩ cần giúp đỡ. Với tôi, ông là hiệp sĩ sẵn sàng cứu khốn phò nguy.

    Hôm đó, tôi không có một đồng trả tiền xe buýt. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tin rằng đã làm rơi đồng bạc quan trọng, quý giá ấy ở đâu đó, chứ không vì cẩu thả trong việc quản trị ngân sách, tiêu sạch túi mà không biết. Ngân sách đi xe ngựa có thể bị thâm thủng, vì đoạn Ngã ba ông Tạ đến Tô Hiến Thành ngắn, chỉ cần đi học sớm, lấy chân mình thay chân ngựa, là quỹ đen có thêm hai đồng, tha hồ tiêu hoang, tiêu bậy. Tôi thụt két đều đều. Nhưng ngân sách xe buýt thì bất khả xâm phạm. Tin như thế nên tôi cứ đứng trước mặt ông bán vé, moi móc túi trên túi dưới, rồi để cặp sách xuống sàn xe, lật từng cuốn sách.

    Ông thâu tiền vài người xong, quay lại, vẫn thấy thằng lỏi loay hoay lục lọi thì bực mình, phán một câu gì đó, chắc hơi nặng. Vừa tức vừa xấu hổ, tôi ôm cặp lẳng lặng đi xuống. Lúc ấy, Ngâm Sĩ đã lên xe, sửa soạn hành nghề. Khi tôi tới cửa, bước xuống, thình lình ông hỏi, giọng hơi xẵng:

    - Nhà mày ở đâu?

    Tôi hiểu ý ông, liền mở máy tả oán và phóng đại cấp kỳ. Nói rằng ở Ngã Ba Ông Tạ cũng đủ xa rồi, nhưng chưa xa… thê thảm. Lại thiệt thòi. Từ chợ ông Tạ về nhà còn một quãng dài, không khai ra được thì uổng quá. Phải tìm một địa danh ác liệt hơn, không xa sự thật mấy, mà không bị lỗ.

    - Nhà cháu ở… gần Ngã Tư Bảy Hiền.

    Tuyệt chiêu! Chữ “gần” xóa béng tội ăn gian. Lại chắc chắn lời ít nhất một cây số.

    Trả lời Ngâm Sĩ, nhưng tôi quay nhìn ông bán vé, chờ đợi. Nét mặt vẫn nhăn nhó, khó chịu, ông nhìn tôi, ánh mắt thoáng dịu xuống. Ông lầu bầu một câu gì đó, chắc là chửi thề, rồi tung ra một cái phẩy tay. Một cái phẩy tay tuyệt vời!

    Mạnh và nhanh, cái phẩy tay có nghĩa dứt khoát, cương quyết, “luật là luật”: “Mày ở xa thì mặc xác mày. Đi xe buýt phải mua vé! Không tiền thì xuống đi bộ!”. Nhưng nhẹ và chậm hơn, nó biến thành lời gắt gỏng đầy bao dung. Ông phẩy tay như người ta phủi bụi, gạt đi, dẹp đi một nỗi bực mình. Nó không có nghĩa ông đã tha thứ tội lỗi cho tôi. Ông chỉ không thèm bận tâm, chú ý đến cái tội ấy nữa.

    Tôi hiểu ngay. Nhưng vốn nhút nhát, chưa dám động thủ, vội liếc nhìn hiệp sĩ. Hiệp sĩ hất nhẹ đầu, ra dấu. Thế là thằng bé lại thót lên xe. Ông bán vé đi xuống, len lỏi qua sát người tôi, không thèm ngó. Và sau khi ra tay cứu nhân độ thế, hiệp sĩ lại cất giọng sang sảng: “Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm…” hết sức bi hùng.

    Lớn lên, chọn văn chương ngôn ngữ Việt làm bạn đời, nhớ chuyện cũ, tôi càng phục Ngâm Sĩ, càng thấy cái chiêu thức ông tung ra để cứu tôi tuyệt đẹp và cực kỳ tế nhị, tinh vi. Ở vị thế ông, chuyện cứu không giản dị.

    Bà tiên, ông bụt, sau khi thực hiện mấy thủ tục lỉnh kỉnh thử lòng cậu bé – biết chắc nó dám anh dũng nhịn một ly nước mía để tặng một đồng cho bà lão ăn mày dỏm (thực ra là Tiên Phật giả dạng để phục kích làm test), chẳng hạn – rồi thấy nó gặp cơn nguy khốn trong xe buýt, chỉ cần hiện ra, móc ví, phát cho một tì mua vé là xong. Chẳng cần tiên, phật, tất cả hành khách trên xe buýt đều có quyền móc ví, giúp nó tai qua nạn khỏi. Riêng Ngâm Sĩ thì không.

    Giúp thằng bé cách ấy, ông chạm tự ái và danh dự người bán vé. Ông vô tình ồn ào khoe rằng: “Thằng hát dạo này có lòng nhân đạo hơn cha nội bán vé.” Vừa xúc phạm vừa bất công. Nhiệm vụ, công việc của ông kia không cho phép thấy hành khách nghèo khó thì mủi lòng tha Tào, biểu diễn được lòng từ bi hỉ xả, nhưng trái đạo đức nghề nghiệp. Ông cũng xúc phạm luôn cả hành khách. Bà con cô bác đi tàu đi xe bỏ tiền vào cái mũ phớt của ông là để giúp nghệ sĩ có cơm ăn áo mặc, còn gân tiếp tục sống và trình diễn, chứ không để cho ông vung tay làm việc phước thiện. Nhiều người trên xe cảm thấy mình keo kiệt, không hào phóng như Ngâm sĩ, cũng áy náy, mất vui.

    Cách làm việc nghĩa an toàn, khiêm tốn nhất là hỏi một câu vu vơ, ném cái phao cho thằng nhỏ bám lấy, tự mưu sinh thoát hiểm, đồng thời kín đáo gửi đi những tín hiệu nhắc nhở lòng sót thương con trẻ nơi tha nhân.

    Giọng hơi xẵng khi hỏi, như vừa hỏi vừa mắng, cũng tế nhị và khéo léo. Muốn giàn xếp một cuộc tranh chấp, trước hết phải tỏ ra tuyệt đối công bằng. Ông mắng thằng bé ngay, để ngầm đồng ý hoàn toàn với người bán vé, công nhận tội lỗi nó rành rành, to lắm, không thể bào chữa được. Rồi chỉ gợi ý rằng nếu dưới nắng Sài Gòn mà nó phải cuốc bộ rạc cẳng, thất thểu tiến về một phương trời vô định, xa tít mù tắp (như Ngã Tư Bảy Hiền)… thì hình phạt quá nặng nề.

    Và lệnh ân xá đã được ban xuống. Hiệp sĩ hoàn toàn thành công.

    Cái phẩy tay của ông bán vé cũng lý thú. Không có trường nào dậy, luật nào ghi rõ rằng phẩy mạnh là tử hình, phẩy nhẹ là ân xá - minh bạch như ngón cái chỉ thiên hay chỉ địa trong giác đấu trường La Mã. Vậy mà người “nghe” tức khắc hiểu đúng, trọn vẹn ý người “nói”. Ba người Việt xa lạ, lớn bé khác nhau vẫn chung một ngôn ngữ không lời.

    Văn chương, ngôn ngữ Việt phong phú, tinh tế như thế, tấm lòng ông Ngâm sĩ như thế, hai chữ “nước nhà” của thi sĩ Á Nam ông trang trọng gói trong những âm thanh trầm bổng tuyệt vời tặng lại mình,tất nhiên phải ôm theo, gìn giữ suốt đời.

    Tôi đi quanh nhìn ngắm lại “nước nhà”.

    Đình làng đang được sửa chữa, đất cát ngổn ngang . Tôi vào đền. Sát cổng có bức tường chắn ngang, buộc khách thập phương chọn rẽ phải hoặc trái, không thể xồng xộc tiến thẳng vào chánh điện. Dưới chân tường vẫn đầy những mảnh gạch, vôi vụn tôi nhớ đã thấy từ ngày xưa. Cây si già ở góc đền vẫn còn, cành, lá, rễ si phủ kín một góc đền xưa kia đã bị cắt tỉa, gọn gàng lại như một cây si còn rất trẻ.

    Chú Nghĩa đốt nhang cho tôi cắm vào bình hương cao nhất trên bệ thờ. Chỗ đó xây kín mít, tối om, xưa kia là một vùng huyền bí, thiêng liêng, vừa nhìn đã sợ. Hai tượng đá, một nam một nữ, đặt đối diện nhau trên bệ thờ ngoài cùng thì vẫn vui vui, mặt mũi ngộ nghĩnh dễ thương, linh động như mặt hai đứa trẻ.

    Đứng sát bờ sông, không còn thấy “con đê dài ngây ngất”. Xóm Trại bị cây cối che khuất. Bãi cát vàng cho những buổi chiều “nắng chia nửa bãi” quanh ruộng thầu dầu cũng biến mất, chắc từ lâu. Dọc bờ sông bên Nga Mi bây giờ là một rặng tre dài, xanh tươi, mát mắt, đẹp hơn tất cả những bụi tre thời thơ ấu.

    Thủa bé, thấy tre xanh đậm, có lẽ vì nhìn quá gần, lại thường chỉ nhìn gốc. Cũng nhớ thân tre tuy gọn gàng, thẳng tắp, nhưng phần gốc rễ hơi rườm rà, nặng nề.

    Bây giờ, nhìn tre cách một con sông, thấy cây lá đều nhạt màu, do màu xanh trộn với nắng, nhẹ nhàng, thanh thoát như một rừng trúc. Cách đây mấy năm, một buổi trưa đi tàu dọc sông Lý ở Quế Lâm, đã thấy bạt ngàn những rặng tre xanh nhạt, hơi vàng như thế – dân địa phương gọi là tre Phượng Hoàng. Lúc đó, không nhớ là đã từng thấy tre nhiều và có màu sắc giống vậy ở quê ta, nên ngớ ngẩn, cứ tưởng đấy là “đặc sản” của Tàu!

    Ngọn tre lả lướt dịu dàng, nhưng không ẻo lả như liễu. Gió lớn làm cành, lá liễu cuống quýt bối rối, chỉ làm tre chuyển mình một cách bình tĩnh, vững vàng, như võ sĩ tránh đòn địch thủ. Rặng tre dọc bờ sông che kín làng Mai Chợ, Nga Mi, tạo cảm tưởng sau nó vẫn là những mái nhà xưa trong ngôi làng Việt Nam muôn thủa. Thế chỗ cho bãi cát, ruộng thầu dầu bờ sông năm cũ, bức tường quê xanh tươi ấy cũng rất xứng đáng thay mặt các cố tri đã khuất bóng, đứng chào đón người về.

    Nhưng dòng sông mênh mông có đủ bèo giạt, mây trôi, sóng gợn đã mất.

    Nước cạn gần tới đáy nên lòng sông hóa thành ruộng rau muống. Thấy ông anh hơi rầu rĩ, chú em trấn an: “Mùa mưa nước sông lại đầy, có khi ngập tới gốc cây đa”. Cũng muốn tự an ủi là mình may mắn hơn cụ Tú Xương nhiều. Con sông của cụ đã thành ra ruộng đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Biển dâu toàn diện! Mình thì vẫn còn có thể tìm được hình bóng muôn năm cũ vào những ngày mưa.

    Nhưng “nước nhà” nhỏ bé của tôi đang có nguy cơ không chỉ mất một dòng sông.Nó cách trung tâm Hà Nội không tới 20 dậm!

    Trung Cộng đang đổ quân ra biển Đông để chiếm đảo, chiếm biển, đổ tiền vào Việt Nam để chiếm đất, mua quyền. Hậu duệ của những người Tầu thủa xưa bắt cụ Nguyễn phi Khanh đi biệt xứ khôn ngoan, thâm độc hơn tổ tiên nhiều. Họ đang nỗ lực tăng cường lực lượng con nuôi, đầy tớ trong những cơ quan quyền lực nhất nước, để khống chế hoặc ngấm ngầm tiêu diệt những Nguyễn Trãi, Lê Lợi… thời nay, (Ôi! Quê hương ta thời nào cũng có hạng người trong thơ cụ Á Nam: Mang “thân cẩu trệ”, “sống đê sống nhục”, “sống… chật non sông”). Một ngày không xa, trận bão nhân danh tiến bộ, phồn vinh, “đô thị hóa”, “kỹ nghệ hóa”, “theo kiểu mẫu Trung Quốc” v.v… sẽ ập tới, ào ào tàn phá, tạo cảnh biển dâu, gieo rắc tang thương cho cả vùng này.

    Những cơ xưởng sản xuất, những nhà máy sẽ được xây cất sát bờ sông để tiện thanh toán nước thải, cặn bã. Chung cư, biệt thự của các đại gia sẽ mọc lên đầy hai bên bờ sông. Rặng tre xanh mướt nếu sống sót, sẽ bị cắt lung tung để chủ nhân các biệt thự không bị vướng mắt, có thể chiều chiều ngắm cảnh sông nước thoải mái từ hàng hiên sau nhà. Những ruộng rau đang có “giá trị kinh tế cao” sẽ một sớm một chiều thành “tấc đất tấc vàng”. Dân chúng vùng này không biết sẽ có bao nhiêu người phải gia nhập đoàn quân khiếu kiện, lang thang, vất vưởng như những bóng ma trong lòng thủ đô ngàn năm văn vật.

    Cây đa, đình đền, miếu mạo phảng phất linh hồn tổ quốc, thấp thoáng anh linh tiền nhân, may ra tránh được bàn chân giày xéo của cơn bão nhỏ. Nhưng rồi cũng khó được yên thân với trận cuồng phong đang lặng lẽ tàn phá trái đất, “nước nhà” chung của muôn loài.

    Hành tinh này đang nóng dần, sông biển và bầu trời bị ô nhiễm, khí hậu xáo trộn, thiên tai càng ngày càng dữ dội, xuất hiện đột ngột, bất thường. Khúc sông Nhuệ này có thể cạn khô, có thể thình lình nhận những cơn mưa lũ dai dẳng, dâng nước lên ngập cả xóm làng. Dòng sông trở thành cầu tiêu của các nhà máy, nước biến dần thành thuốc độc. Số phận nó sẽ như sông Hồng, sông Cửu, được định đoạt từ những đập nước lớn bé ở thượng nguồn phương Bắc. Khói bụi từ đô thị, theo bước chân xâm lăng của kỹ nghệ, công nghiệp, sẽ tràn ngập, trộn lẫn vào nguồn dưỡng khí khắp nơi. Những ngày bầu trời trong xanh hiếm dần, quanh năm sẽ đục ngầu mù mịt như bầu trời Bắc Kinh và nhiều thành phố lớn ở miền trung thổ Trung Hoa.

    “Nước nhà” nhỏ của tôi, chung số phận với những nước nhà lớn của muôn người, muôn loài khắp hành tinh này, đang bị một nhóm nhỏ trong nhân loại, những con người cực kỳ giầu có ở Mỹ, hợp tác chặt chẽ với Bắc Kinh, đua nhau hủy hoại để kiếm lợi.

    Để cứu “nước nhà” thủa ấy, ông Nguyễn Trãi cần một cuộc kháng chiến của toàn dân nước Việt. Để cứu “nước nhà” chung của thế giới bây giờ, cần một cuộc cách mạng của cả loài người.

    Lê Tất Điều
    10/2011
  2. Khoảng 2 giờ trưa ngày 13 tháng 12 năm 2009, tôi đặt tay lên thân cây đa đầu làng Bài Trượng, bồi hồi như đặt lên vai người bạn chí thân mất tích từ lâu, tưởng đã chết, giờ thình lình sừng sững hiện ra. Sờ vào gốc cây đa lần trước là bàn tay đứa bé bảy tuổi. Lần này là bàn tay nhăn nheo của ông lão thất tuần. Khoảng cách giữa hai bàn tay già, trẻ là hơn sáu mươi năm.

    Từ thị xã Hà Đông về làng Bài Trượng, nếu đi lối Cầu Lẩy, phải băng qua Nga Mi Thượng, rồi đi đò ngang sông Nhuệ Giang. Đến bến, lên một con dốc ngắn, gặp ngay cây đa đầu làng đứng đón. Lúc lên đò bên kia sông, nhìn thấy nó, là đã vui rồi, là thấy lòng rộn lên câu reo thầm “đã tới làng mình”. Đó là chuyện cũ, đã sống sót trong trí nhớ, len lỏi vào nhiều giấc mơ của tôi suốt hơn nửa thế kỷ.

    Sáng ngày 13 tháng 12, tôi ngồi uống cà phê ở một chỗ cách cây đa cỡ 15 dậm, ngắn hơn đoạn đường từ nhà đến sở mỗi ngày, và đang được một ngày để tùy nghi, nên tâm trí cũng nhắng nhít lên, vang vang những tiếng reo thầm “sắp thấy lại làng mình!”. “Thấy lại” sau khi đi xa, đi lâu đến thế, không reo ầm lên sao được!

    Kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý, chắc nhìn thấy những tiếng reo ồn ào trên mặt bạn, mỉm cười: “Bác phải coi chừng! Có nhiều cái bác không về thì còn, bác về là mất”. Lúc đó, tôi thấy lời ông sặc mùi triết lý, mơ hồ, không đáng quan tâm. Lại nghi ông thấy tôi vui quá, bị kích động quá, thì tặng cho một gáo nước lạnh hạ hỏa, cho đỡ ngứa mắt.

    Xe vừa tới vùng ngoại ô Hà Nội, lời tiên tri của triết gia Nguyễn Tường Quý đã ứng liền, trúng phóc, thiêng như lời nguyền của mụ phù thủy trong cổ tích. Hóa ra, ông Quý không ngứa mắt. Ông chỉ thương anh bạn khờ, lạc quan ngây ngô, nên báo động trước cho bạn khỏi té đau.

    Trước 1954, trên chuyến tàu điện Hà Nội-Hà Đông , tôi lần lượt nhìn thấy gò Đống Đa, đền Trung Liệt, bãi cỏ sân đá bóng, những bức tường bao quanh trại quân Hàm Long. Qua khu lăng Hoàng Cao Khải là tới những cánh đồng. Rồi đồng ruộng mênh mông trải dài đến gần đầu cầu Hà Đông. Dọc đường, tôi thường nghển cổ nhìn con đường nhỏ dẫn vào cổng làng Mễ Trì, quê của mợ Hùng, nơi đã cho tôi những hạt cốm gói lá sen, thơm ngon nhớ đời. Đi thêm chút nữa, bên trái, trong ngôi biệt thự sụp đổ vì trúng bom, có cái hồ xây, chắc để thả sen, nuôi cá, rộng mênh mông, đáy bằng, chỗ nào nước cũng chỉ ngập đến cổ đứa bé mười tuổi. Nước hồ đục ngầu, không cá không sen, lũ trẻ chúng tôi bơi lội, đùa nghịch xong là người ngợm đầy cát, hôi rình, phải ra sông tắm lại.

    Con đường trở lại hôm ấy thì ôi thôi! Chỉ thấy như mình đang đi giữa lòng phố phường, từ Hà nội về Hà Đông mà hệt như từ chợ Bến Thành đi Lăng Ông Bà Chiểu. Cái trí sáng suốt bảo mình đừng ngớ ngẩn chờ đợi thấy những dấu tích năm mươi lăm năm cũ. Nhưng cái tâm thì cứ bướng bỉnh ngu ngốc phóng chiếu ra những cánh đồng, những rặng tre làng, và trời đất mênh mông.

    Thế là “mất” đều đều. Xe chạy tới đâu mất tới đó.

    Tưởng như chính mình biến thành mụ phù thủy, có cái nhìn ác độc, phá hoại. Tầm mắt chiếu đến đâu cảnh trí thiên đường trong ký ức về chỗ ấy tức khắc tan biến, và đập ngược vào mắt là cõi trần tục lụy, với đủ những món không thể thiếu của vùng bị nạn nhân mãn: nhà nhà chi chít, người người tất tả ngược xuôi trong nắng gắt, bụi và mùi khói xe.

    Mụ phù thủy đang bối rối vì cái phép thuật phá hoại tai ác của mình thì xe đã đến cầu Hà Đông. Cầu ngắn ngủn, vừa thoáng thấy một chút gì quen thuộc, thì nó đã ở sau lưng. Lại đến khu tòa sứ, vườn hoa, khu cửa dinh, đường vào nhà thương cũ (trước 1954 đã trở thành trại lính) tan biến, không để lại dấu tích…

    Chưa nản chí, tôi giương mắt tiếp tục tìm. Thoáng thấy con đường nhỏ lát gạch dẫn vào làng Cầu Đơ, rồi một chỗ giống hệt rạp hát Thiêm Xuân (Rạp của ông Tư Thiêm, Xuân là tên bà) vụt qua, tôi như kẻ đuổi theo quá khứ, đang thất vọng, thì thình lình tóm được một tí cái đuôi của nó. Mừng húm, tôi xông tới, cố chộp thêm một chút quá khứ quý giá nữa: Đó là ngôi nhà thủa nhỏ của ông Công Tử Hà Đông.

    Hà Đông chắc có nhiều công tử, tôi chỉ quen biết, quý mến ông công tử nhà văn. Ông tài hoa và độc đáo. Có lẽ ông là nhà văn duy nhất có thể kể đi kể lại một chuyện vài triệu lần mà tôi vẫn thấy hấp dẫn, lôi cuốn. Khi cần, ông chế thêm từ ngữ để xài. Ông viết chính tả theo luật riêng, dựa vào cách phát âm, cách nói thực sự của nhiều người – “đói dài đói dẹt” thành “đói dzài đói dzẹt” “vui” thành “dzui”, “lại đây với anh” thành “lại đây mí anh” - khiến chữ nghĩa trở nên nghịch ngợm, sống động, câu văn thành ngộ nghĩnh, có duyên. Thỉnh thoảng tôi cũng lẻn vào kho ngữ vựng của Công Tử để chôm chĩa, thêm hoa lá cành cho văn mình khởi sắc, bớt nhạt nhẽo, nặng nề. Bây giờ năm “bó”, bẩy “bó” đã là đơn vị đo lường tuổi tác, thay thế cho những con số tầm thường, vô hồn.

    Hồi nhỏ ao ước trở thành nhà văn như ông Hoàng Hải Thủy. Về già, thỉnh thoảng, nhất là những lúc ngồi viết một bài quá dài, lại vẫn ước ao có được lối viết ung dung, tự nhiên, thoải mái như Công Tử Hà Đông để những độc giả chịu khó bơi lội trong biển lớn, sông dài chữ nghĩa của mình đỡ mệt.

    Công Tử là cư dân Hà Đông thời tiền chiến. Tôi từ làng đến tỉnh này sau khi nhà cửa phố phường đã tan hoang vì bom đạn, vì “tiêu thổ kháng chiến”. Đến cùng những đợt hồi cư sớm nhất. Tôi không biết ông đã ở căn nhà nào. Dựa vào lời mô tả rải rác trong những bài ông viết thì đoán nó là một trong những căn nhà đẹp, hai tầng, hồi đó gọi là “nhà Tây”, nằm rất gần ngõ vào làng Cầu Đơ và rạp hát Thiêm Xuân, ở phố Bóp Kèn.

    Tò mò tìm căn nhà cũ vì quý ông, mà cũng vì tôi đã ở trong một căn thuộc khu ấy vài ngày, đã bị một hình ảnh thấy lúc nửa đêm, trên hiên nhà, dưới ánh trăng, ám ảnh suốt đời.

    Hôm đó, hình như cả họ tụ lại ở đấy để giúp đỡ gia đình bác Hai Doe vừa gặp đại họa.

    Đêm trước bác đưa gia đình rời làng ra tỉnh. Việc đó phải lén lút, vì là bỏ “ta” (vùng Việt Minh kiểm soát) để theo “địch” (vùng Tây kiểm soát), hồi đó gọi là “dinh tê”. Trên đường dinh tê, tránh né các trạm gác không khéo, bác bị du kích phát giác, bắn theo. Bác cõng anh con lớn chạy, đạn nhắm vào bố lại trúng lưng con.

    Đêm ấy, tôi và mấy người anh họ ngủ trên sàn gạch hoa tầng hai, gần cái hiên trước nhà. Nửa đêm thức giấc, có lẽ vì ánh trăng chiếu vào mặt, hay tiếng con Chim Lợn thình lình eng éc lưng trời, tôi thấy bác ngồi gần một cây cột trên hiên, ngồi bó gối, gục đầu. Có thể bác đang ngủ ngồi. Nhưng bác không dựa vào cột, nên lúc ấy tôi nghĩ là bác đang tiếp tục khóc không thành tiếng.

    Buổi chiều, bác xuất hiện ở cửa nhà, cũng đang khóc lặng lẽ như thế. Giữa đường từ cửa vào chân cầu thang, bác khuỵu chân, ngã chúi xuống, rồi bò trên nền nhà cho đến lúc bác Ba Thùy chạy tới nâng dậy. Đi hay bò thì toàn thể con người bác, từ khuôn mặt nhếch nhác thất thần đến hai cánh tay run rẩy, đều khóc. Nhưng sự đau đớn kiệt sức không tạo nổi chút âm thanh nào.

    Nửa đêm, trăng sáng trên hiên, nhưng trong nhà đầy bóng tối, những chuyện về cái chết của anh Nga hôm trước, hình ảnh bác Hai ngồi lù lù cạnh cây cột bây giờ khiến tôi hoang mang, rờn rợn. Nhưng cảm giác sợ hãi chỉ thoáng qua. Tôi nhớ lại cảnh bác hai Doe vừa bò vừa khóc chiều qua, nhìn bác đang khóc lặng lẽ bây giờ. Chưa đủ trí khôn để tưởng tượng, thông cảm với sự đau đớn của người cha mất con, nhưng tôi bị cách thể hiện niềm đau của bác hai ám ảnh, truyền cho một cơn sầu muộn, tuyệt vọng, ai oán, bi thương đến tê tái cả người.

    Từ đêm đó, hình ảnh bác hai Doe ngồi bó gối gục đầu bên cây cột trên hiên nhà đầy ánh trăng dọn thẳng vào trí nhớ, cư ngụ vĩnh viễn trong một góc khiêm tốn nhưng không tối tăm, mờ nhạt. Đọc sách truyện, gặp một tòa lâu đài tráng lệ dành cho những Hoàng Tử Công chúa biểu diễn một mối tình đẹp đẽ, hạnh phúc, thần tiên thì không sao. Nếu lâu đài là hậu cảnh cho một chuyện tình buồn, tuyệt vọng, đổ vỡ, hay chuyện ma quái, phù thủy, chết chóc thì lập tức nó hiện ra trong tưởng tượng của tôi với một sự thêm thắt kỳ cục. Nó bị gắn thêm một chỗ có hai cây cột, cái hiên đầy ánh trăng và người cha ngồi bó gối gục đầu lặng lẽ khóc con.

    Sự thêm thắt, “đính kèm” thật lạc lõng, vô duyên và vô… lý. Nhưng xua đi không được. Tòa lâu đài trong trí tưởng tượng của tôi chưa xây xong nó đã vụt hiện ra rồi! Rút cục, ở cùng nhau lâu quá thành quen, nó hóa thành một phần của cái quá khứ tôi vẫn ước mơ thấy lại.

    Căn nhà thời thơ ấu của Công Tử Hà Đông chắc ở gần, có thể ở cạnh, và biết đâu, nhờ một tình cờ của lịch sử… văn học, chính là căn nhà có hai cây cột trên hiên tầng hai! Thấy rạp Thiêm Xuân, tôi tức khắc tìm căn nhà cũ. Biết trong trí nhớ cột to hơn thực, tôi càng giương mắt nhìn thật kỹ.

    Không thấy chúng nó đâu! Đôi mắt phù thủy của tôi lướt qua phố Bóp Kèn, làm tan biến luôn khu nhà xưa. Cái hiên trăng dính chặt vào những tòa lâu đài cổ âm u, buồn thảm, ma quái, đã mất. Căn nhà tuổi thơ của Công Tử Hà Đông bị vạ lây có lẽ cũng tiêu tan luôn.

    Từ lúc đó, tôi tuyệt vọng. Đoạn đường từ Ba La, Bông Đỏ, qua Thạch Bích, Ứng Hòa về làng không có dấu tích gì còn nhớ được. Cũng tan tành luôn ước mơ được đi trên con đường đất, giữa các ruộng mía, nghe tiếng cào cào, châu chấu bay xè xè, những lá mía khô cựa mình sột soạt, và không gian thơm lừng mùi ngọt ngào của những “lò kéo mật”nằm rải rác trên đồng! Chú em ở làng cho biết những vườn vải mênh mông gần làng Đại Từ cũng không còn. Tất cả biến thành ruộng rau có “giá trị kinh tế cao” từ lâu lắm rồi.

    Vậy mà cây đa không mất. Nó vẫn sừng sững đứng bên dòng Nhuệ Giang, nơi đầu con dốc nhỏ dẫn xuống bến đò năm xưa.

    Trẻ con miền quê thời đại tôi yêu quí cây đa, nhớ nó suốt đời. Thủa sơ sinh, trước khi ý thức được sự hiện hữu non nớt, yếu đuối của mình cùng những bất trắc, đe dọa vây quanh, đứa trẻ chỉ biết theo bản năng tìm sự an toàn trong vòng tay mẹ. Nhưng khi đã có thể phiêu lưu ra ngoài cổng nhà một mình, đã giang hồ vặt theo lũ trẻ chăn trâu trên đồng, khám phá ra cái nóng cháy da của nắng hè, cơn khát khô cổ họng sau những lần chạy nhảy reo hò quá sức, nó lập tức tìm tới bóng mát ở gốc đa, tự nhiên như tìm nấp vào một vòng tay che chở mới.

    Bà mẹ đa của Phạm Duy cũng dang rộng bóng để“ôm đàn em bé” trong câu ca gây xao xuyến, gợi buồn mênh mang cho nhiều thế hệ. Những bà mẹ đứng trăm năm, nghìn năm trên đê, trên đồng, bờ sông, đầu làng ấy, như cây đa làng tôi, ngoài đàn em bé còn ôm thêm những thợ cấy, thợ cầy, khách đợi đò, những lữ khách đi qua làng, và đôi khi một quán nước nho nhỏ.

    Đứa trẻ năm, sáu tuổi là tôi lúc đó thấy cây đa có cái bóng lớn quá, an lành quá, là nơi tụ tập của nhiều người sau cơn vất vả nhọc nhằn, đang mệt mỏi vì đường dài hay khốn đốn vì nắng trưa. Nó tin rằng gốc đa là chỗ trú ẩn của cả loài người!

    Không theo lối Cầu Lẩy, tôi về qua ngả Ứng Hòa, dẫn thẳng đến chợ Trượng. Từ đó đi dọc bức tường thấp quanh đền, rồi bức tường cao quanh đình làng, là gặp lại nó, là chui vào cái bóng mát thân quen từ muôn kiếp. Cái nhìn phá hoại của mụ phù thủy độc ác trong mắt tôi biến mất. Và, thật kỳ diệu, khả năng thu nhỏ cảnh vật của người đi xa lâu ngày trở về (thấy phố phường hẹp lại, cổng trường cũ nhỏ đi v.v...) cũng biến mất. Cây đa đã lớn theo trí nhớ, sự mường tượng của tôi, nên giữ nguyên kích thước hùng vĩ, không bị thấp xuống, nhỏ đi tí tẹo nào.

    Sừng sững trước mắt là một vùng quá khứ còn nguyên vẹn, uy nghi như một hiệp sĩ thắng trận, đang đứng chống gươm nhìn tôi mỉm cười, thầm khoe cái thành tích đã dẹp tan lũ giặc thời gian vây bủa trùng trùng, tấn công không ngừng nghỉ suốt hơn sáu mươi năm qua.

    Tôi tiến đến xòe tay đặt lên gốc cây đa, cảm nhận sự cứng chắc trên áo giáp của hiệp sĩ, để chắc chắn rằng giây phút này, cuộc gặp gỡ này đang có thật. Ngửa mặt nhìn tàn cây, vẫn che kín một vùng trời như những ngày xưa thật là xưa, tôi không cảm được, không bị “tràn ngập tâm hồn” bởi một sự sung sướng, một niềm hạnh phúc đặc biệt nào. Chỉ bỗng dưng thấy đời mình đầy đủ, đầy ắp như không còn chỗ chứa thêm một ước mơ. Và cũng nhận ra là mình cực kỳ may mắn.

    Rồi xảy ra một chuyện bất ngờ. Thình lình trong đầu bật ra câu thơ: “ Con ơi! Hai chữ NƯỚC NHÀ!”. Đó là câu cuối trong một bài thơ song thất lục bát của Á Nam Trần Tuấn Khải (Nguyễn Phi Khanh bị quân xâm lăng bắt, giải về Tầu. Nguyễn Trãi theo cha đến tận Ải Nam Quan, ranh giới hai nước. Nhà thơ tưởng tượng ra lời người cha khuyên con hãy trở về lo việc kháng chiến chống xâm lăng).

    Lúc đó, trong trí nhớ của tôi chỉ còn sót một đoạn ngắn 9 câu mở đầu:

    Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm
    Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
    Bốn bề hổ thét chim kêu
    Ðoái trông phong cảnh như khêu bất bình

    Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
    Chút thân tàn lần bước dậm khơi
    Trông con tầm tã châu rơi
    Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:

    Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định…


    Và vang vang nhất trong đầu là câu thơ chót, lời nhắn nhủ cuối cùng của người cha bị cầm tù, trên đường lưu đầy, biệt xứ, biết mình không có ngày trở về cố quốc: “Con ơi! hai chữ “nước nhà”.

    Thình lình “bị” nhớ câu thơ, tôi ngạc nhiên và hơi bất mãn.

    Ngạc nhiên vì không ngờ Cụ Đa nhiều quyền phép đến thế. Vừa chạm vào cụ là kẻ thất phu bỗng nhớ đến một bài thơ bi tráng. Lời thơ ngời ngời chính khí, bừng bừng khơi dậy lòng yêu nước thương nhà.

    Bất mãn vì cụ Đa lạc đề. Kẻ xa quê hương trở về gặp cố tri chỉ mong hàn huyên tâm sự chuyện xưa tích cũ. Xúc cảm lớn nhất không quá mức tủi tủi mừng mừng. Mừng cụ Đa đã thoát họa bom đạn, lại đứng vững sau những cơn lũ lụt, nước sông làm đất sạt lở, khiến gốc rễ cụ suýt bị bứng lên. Mừng vì mình đi vòng vo lang bang trên mặt địa cầu hơn sáu thập kỷ, đi xuyên qua hai cuộc di cư, một thời máu lửa, vẫn còn trở lại được chốn này.
    Giữa bầu không khí mênh mang những xúc cảm nhẹ nhàng như thế, thình lình cụ Đa mời cụ Á Nam nhào vô sang sảng hát một bản Anh hùng ca! Cụ phóng vào tâm trí mình một câu thơ bắt phải yêu nước đột xuất, ngang xương như thế này thì chèn ép nhau quá.

    Nhưng, chỉ sau vài chục giây, tôi biết cụ Đa bị trách oan, và nhớ ra thủ phạm vụ “hai chữ nước nhà” này là một chàng nghệ sĩ lang thang.

    *
    * *

    Năm 1954, di cư vào Sài Gòn, trường Trung Học Nguyễn Trãi biến thành “Nguyễn Trãi Bắc Việt di chuyển”. Thầy trò phải lang thang đi học nhờ, hết Trần Lục lại qua trường Tiểu Học Trương Minh Ký, cạnh rạp Đại Nam, ngay góc đường đi vào chợ Cầu Muối.

    Từ trại định cư Khuông Việt đi học, tôi qua chợ Ông Tạ, trả hai đồng ngồi xe ngựa xuống bến xe buýt ở đầu đường Tô Hiến Thành (gần con đường vào khám Chí Hòa.) Trả một đồng “vé trẻ con” xe buýt nữa là được đưa tới trạm chính ở chợ Bến Thành. Từ đấy cuốc bộ tiếp đến trường. Xế trưa về lại lên xe buýt ở trạm chính, chuyến Sài Gòn – Chí Hòa. Tôi gặp chàng nghệ sĩ hầu như mỗi ngày, trên chuyến xe này.

    Gọi chàng là “nghệ sĩ lang thang” cho nó văn hoa, quý phái. Nôm na, huỵch toẹt là chàng “hát dạo”. Chữ “hát” cũng còn sai. Chàng không hát, chỉ ngâm thơ, và chỉ ngâm một bài thơ của cụ Á Nam Trần Tuấn Khải.

    Nguyên văn bài thơ đăng trên trang mạng văn học GocNhin.net như sau:

    Hai chữ nước nhà

    Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi
    khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu

    Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm
    Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
    Bốn bề hổ thét chim kêu
    Ðoái nom phong cảnh như khêu bất bình

    Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước
    Chút thân tàn lần bước dậm khơi
    Trông con tầm tã châu rơi
    Con ơi con nhớ lấy lời cha khuyên:

    Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định
    Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay
    Trời Nam riêng một cõi này
    Anh hùng, hiệp nữ xưa nay kém gì!

    Than vận nước gặp khi biến đổi
    Ðể quân Minh thừa hội xâm lăng
    Bốn phương khói lửa bừng bừng
    Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông!

    Nơi đô thị thành tung quách vỡ
    Chốn dân gian bỏ vợ lìa con
    Làm cho xiêu tán hao mòn
    Lạ gì khác giống dễ còn thương đâu!

    Thảm vong quốc kể sao cho xiết
    Trông cơ đồ nhường xé tâm can
    Ngậm ngùi đất khóc giời than
    Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này!

    Khói Nùng Lĩnh như xây khối uất
    Sóng Long Giang nhường vật cơn sầu
    Con ơi! càng nói càng đau…
    Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?

    Cha xót phận tuổi già sức yếu
    Lỡ sa cơ đành chịu bó tay
    Thân lươn bao quản vũng lầy
    Giang sơn gánh vác sau này cậy con

    Con nên nhớ tổ tông khi trước
    Ðã từng phen vì nước gian lao
    Bắc Nam bờ cõi phân mao (1)
    Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây

    Kìa Trưng nữ ra tay buồm lái
    Phận liễu bồ xoay với cuồng phong
    Giết giặc nước, trả thù chồng
    Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi

    Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến
    Vì giống nòi quyết chiến bao phen
    Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên
    Gươm reo chính khí nước rền dư uy

    Giở lịch sử gươm kia còn tỏ
    Mở dư đồ đất nọ chưa tan
    Giang san này vẫn giang san
    Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?

    Con nay cũng một người trong nước
    Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường
    Làm trai hồ thỉ bốn phương
    Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng

    Thời thế có anh hùng là thế
    Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
    Mấy trang hào kiệt xưa kia
    Hy sinh thân thế cũng vì nước non

    Con đương độ đầu xanh tuổi trẻ
    Bước cạnh tranh há để nhường ai?
    Phải nên thương lấy giống nòi
    Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng

    Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục
    Thân tự do chiên chúc (2) mà vinh
    Con ơi nhớ đức sinh thành
    Sao cho khỏi để ô danh với đời

    Chớ lần lữa theo loài nô lệ
    Bán tổ tiên kiếm kế sinh nhai
    Đem thân đầy đọa tôi đòi
    Nhục nhằn bêu riếu muôn đời hay chi?

    Sống như thế, sống đê, sống mạt
    Sống làm chi thêm chật non sông!
    Thà rằng chết quách cho xong
    Cái thân cẩu trệ ai mong có mình!

    Huống con cũng học hành khôn biết
    Làm giống người phải xét nông sâu
    Tuồng chi gục mặt cúi đầu
    Cam tâm làm kiếp ngựa trâu cho đành!

    Nỗi tâm sự đinh ninh dường ấy
    Cha khuyên con có bấy nhiêu lời
    Con ơi, con phải là người
    Thì con theo lấy những lời cha khuyên

    Cha nay đã muôn nghìn bi thảm
    Nói bao nhiêu tâm khảm càng đau!
    Chân mây mặt cỏ rầu rầu
    Càng trông cố quốc mạch sầu càng thương!

    Lời cha dặn khắc xương để dạ
    Mấy gian lao con chớ sai nguyền
    Tuốt gươm thề với xương thiên
    Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu

    Gan tráng sĩ vững sau như trước
    Chí nam nhi lấy nước làm nhà
    Tấm thân sẻ với san hà
    Tượng đồng bia đá họa là cam công

    Nữa mai mốt giết xong thù nghịch
    Mũi long tuyền lau sạch máu tanh
    Làm cho đất động trời kinh
    Bấy giờ quốc hiển gia vinh có ngày!

    Nghĩa vụ đó, con hay chăng tá?
    Tính toán sao vẹn cả đôi đường
    Cha dù đất khách gửi xương
    Trông về cố quốc khỏi thương hồn già

    Con ơi! Hai chữ NƯỚC NHÀ...

    Á Nam Trần Tuấn Khải


    ______________________
    (1) Sách sử chép, những nơi giáp giới nước ta với nước Tàu thì ngọn cỏ chia lả ra hai bên. Nghĩa là nửa đường bên kia thì ngọn cỏ lả về Tàu, mà bên này thì ngọn cỏ lả về bên ta, cho nên gọi là phân mao; phân mao tức là chia ngọn cỏ vậy.
    (2) Chiên chúc: Rau cháo. )

    Ngâm sĩ cao lớn, một bên mặt đen xạm, không vì cháy nắng mà như có vết chàm. Ông ăn mặc tề chỉnh, áo bỏ trong quần, đầu đội mũ phớt. Những chuyến xe đông, tôi bị dồn xuống cuối xe, vẫn có thể thấy khuôn mặt ông diễn tả những cơn bi phẫn theo từng lời thơ, nhờ ông cao hơn thiên hạ. Ông đứng gần cửa xe, cạnh chỗ ngồi của tài xế, ngâm xong, ngả cái mũ phớt xuống: “Bà con cô bác đi tầu đi xe… ăn tiêu về nhiều, bớt đồng cơm bát cháo giúp nghệ sĩ…”. Ông hiên ngang xưng mình là nghệ sĩ nên bài thơ bị ông dùng làm cần câu cơm không bị giảm phẩm cách, hào khí.

    Cậu học trò trung học di cư đón nhận bài thơ với tất cả tâm hồn.

    Nhưng vốn sống nghèo nàn, ký ức, kiến thức về địa dư cộng lại chưa được một dúm, việc “đón nhận” của cậu rất vụng về, thiếu nghiêm chỉnh. Nghe thơ, tưởng tượng ra cảnh chia tay của hai cha con thì dễ. Những phim ảnh, tuồng tích đã coi, bài tập đọc có câu “Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy” dư sức cáng đáng vụ này. “Mây sầu ảm đạm” với “gió thảm đìu hiu” cũng không khó. Cậu đã biết những ngày mùa đông mưa dầm gió bấc miền Bắc, lại thấy bức tranh người nông dân đội nón mê, áo tơi đi dưới mưa phùn rất ảm đạm trong Quốc văn giáo khoa thư. “Bốn bề hổ thét chim kêu” thì đã có những khu rừng trong phim Tarzan tái tạo cho một cái “bốn bề” đủ cả vượn hú, chim kêu, voi cọp chạy rần rần. Cũng tạm ổn.

    Nhưng linh hồn hai chữ “nước nhà” thì bị gắn cho một thể xác bé tí teo.

    Thủa đó, phần đất nước tôi thấy chỉ là làng Bài Trượng, một phần nhỏ của các làng Đại Từ, Lương Xá, Ứng Hòa, Quảng Bị, rồi những ngõ ngách của thị xã Hà Đông, một góc làng Cầu Đơ, một phần nhỏ Hà Nội, một chuyến đi chơi chùa Trầm...Sài gòn còn mới quá, chưa có chỗ đứng. Thành ra trong khi chữ “nước” đòi hỏi núi non, rừng rú, biển rộng, sông dài… thì chỉ gợi ra trong trí cậu bé cái bản đồ Việt Nam hình cong như chữ S, và một phần nhỏ tí của đất nước, nằm gọn hai bên bờ khúc sông Nhuệ này.

    Khúc sông kéo dài từ Cống Vọng , qua ngôi đền “Phát Tích Từ”, qua hai cây đa, đình làng, rồi Xóm Trại, đến con đê uốn quanh khúc sông ở chân trời… là hết. Tầm mắt cậu chỉ có thế. Như hình ảnh bác Hai Doe hiện ra trong những lâu đài cổ, cảnh thổ khúc sông này tức khắc đến với cậu cùng hai chữ “nước nhà”.

    “Nước nhà” của cậu bé nhỏ nhoi, nghèo nàn tức cười như thế, nhưng vẫn ở với cậu đến đầu bạc răng long. Tất nhiên càng về sau nó càng bị những kiến thức mới về quê hương đất nước át giọng, chèn ép, đẩy vào một góc. Nhưng không bao giờ biến đi.

    Dù vẫn nhỏ bé như thủa nào, nó càng ngày càng trở nên giầu có. Nó có “cây đa cao ngất từng xanh…” của Chung Quân, có “con đê dài ngây ngất” của Phạm Duy, có “sóng gợn trường giang buồn điệp điệp” của Huy Cận. Thủa ấy, đối diện với xóm Trại, bờ sông bên kia là một bãi cát vàng nằm sát ruộng trồng thầu dầu. Buổi chiều ngồi trên bờ tường trước đền, nhìn bãi cát thấy còn mênh mông nắng, cậu bé cảm thấy tâm trí nôn nao, xao xuyến nhẹ nhàng. Sau này, khi gặp bài thơ “Ngậm ngùi” cậu cũng xao xuyến nhẹ nhàng như thế và thấy ngay cảnh “Nắng chia nửa bãi” đã diễn ra trên bãi cát bờ sông bao quanh một vùng xanh ngắt lá thầu dầu.

    Như thế cỏ cây sông nước chốn này, cái thể xác bé tí của hai chữ “nước nhà”, còn chứa trong lòng cả một thế giới đầy ắp ca nhạc văn thơ. Biến đi sao được!

    Thành ra hôm xưa hai chữ “nước nhà” đẩy cậu bé về dưới gốc đa bến sông này, hôm nay, đứng giữa “nước nhà”, chạm vào thân cây đa, ông lão bị xô ngược về quá khứ, gặp lại câu thơ ngày cũ. Kẻ qui cố hương nghe vang vang đầy trời dư âm bất tận những câu thơ bi tráng, hào hùng.

    Linh hồn hai chữ “nước nhà”, lần đầu được nhập vào thân xác, vừa cất tiếng reo.


    Lê Tất Điều
    (8/2011)
  3. Những Giọt Mực.


    Đêm hơi lạnh. Ánh trăng lọt qua cửa sổ, soi sáng một chút mặt ông Bàn. Bình mực thủy tinh đổ nghiêng, mang trên mình mảnh trăng nhỏ xíu, lấp lánh, xa vời.

    Dòng mực xanh chảy lan trên mặt ông Bàn đã khô. Đáy bình còn một gợn đen đậm nhỏ. Đó là ba giọt mực cuối cùng.

    Ông Bàn giận lắm. Chưa bao giờ ông giận đến thế. Chú Ngăn Kéo sợ ông sẽ quẳng tất cả các vật trên thân thể ông xuống, kể luôn chú. Chú gắng thu xếp các vật trong lòng mình, cho chúng nằm thứ tự gọn gàng. Ở đậu trong bụng ông Bàn, chú Ngăn Kéo luôn tế nhị, giữ gìn.
    Nhưng lần này, lỗi không ở chú Ngăn Kéo.
    Ông Bàn to tiếng:
    - Ông Cung, cụ Sách nghĩ coi: tôi làm sao chịu nổi. Trong phòng này tôi là món đồ xui xẻo, cực khổ nhất.. Vật gì cũng có thể nhảy lên mặt tôi được. Ban ngày tôi còn phải cõng cả ánh nắng, ban đêm cõng ánh trăng, toàn những món đồ do chị Cửa Sổ mang về.
    Cửa Sổ nhỏ nhẹ:
    - Ánh trăng và ánh nắng nhẹ tênh mà.
    - Đồng ý. Nhưng chị phải biết ánh nắng có thể làm tôi vỡ mặt ra. Tuy nhiên việc đó bỏ qua. Tôi xin hỏi mọi vật: Tôi là bàn tôi đâu có là anh hề nhựa, sao mặt tôi ngày một bẩn thỉu, kỳ cục, đầy những vết mực dọc ngang, lộn xộn?
    Anh Bút Chì nằm bên cạnh cô Vở Quăn Góc nói nhỏ:
    - Cháu chỉ lỡ vẽ trên mặt bác một cái xe hơi, một cái nhà…
    Anh Bút Bi cũng lên tiếng:
    - Cháu vẽ một con vịt.
    Ông Bàn giận dữ hơn:
    - Hình đó đâu phải là con vịt. Đó là một thứ quái vật, đầu to như đầu ngựa, hai cẳng như cây tăm. Tôi yêu cầu các cháu từ giờ đừng có trổ tài hoạt hoạ nữa.
    Cụ Sách lên tiếng nghĩa là mở cửa kho đạo đức:
    - Những vật trên mặt ông Bàn không biết điều chút nào. Hãy noi gương những vật ở nhờ trong lòng ông Tủ. Họ tới, họ đi, biết bao đợt rồi, lòng ông Tủ vẫn sạch sẽ.
    Ông Cung góp lời:
    - Vật cẩn thận không bao giờ để lại dấu tích nơi mình đã cư ngụ, nhất là những dấu tích mất vệ sinh. Ngày xưa, khi còn đi theo các chiến sĩ, ta đã từng cắm trại, các chiến sĩ không để lại một cái hố nhỏ.
    Sau câu nói của ông Cung, ông Bàn đã bớt càu nhàu, nhưng chưa nguôi giận.
    - Lỗi tại tôi xin ông Bàn tha thứ. Tôi đứng không vững nên mới ra cớ sự.
    Đó là câu nói của bình mực thủy tinh. Tất cả xôn xao của mọi vật, cùng cơn giận của ông Bàn hình như bây giờ mới làm hắn bừng tỉnh. Không phải hắn lì lợm, bướng bỉnh. Hắn là vật đãng trí mơ mộng nhất trong phòng.
    Dù chứa mực trong lòng, thân thể hắn vẫn có những phần trong veo. Cảnh vật in hình trên đó, nhỏ xíu, mơ hồ. Không giống mặt gương, phản chiếu hình một cách máy móc, chính xác. Bình mực bóp méo khuôn mặt mọi vật theo ý hắn.
    Những đêm trăng như đêm nay, đứng gần cửa sổ, hắn chứa cả trăng sao, bầu trời yên tĩnh. Vài cành cây bên cửa xao động làm cho mảnh thế giới in trên bình mực sinh động, đẹp tuyệt vời. Tất cả mang một màu xanh hơi tối. Nếu một chú kiến lạc vào thế giới nhỏ bé, xinh xắn ấy, chú sẽ biến thành thi sĩ.
    Vì vậy, bình mực của chúng ta hoá ra là một vật mơ mộng.
    Bình mực đổ, từ cái miệng tròn vo của hắn, mực trào ra, hào hứng như bọn tù vượt ngục. Mặt ông Bàn thêm một vết đen lớn khủng khiếp. Đó là lý do khiến ông giận dữ, nói những lời cay đắng, trách móc lung tung. Tai họa xảy tới từ hồi chiều.
    Bình mực đã công khai nhận lỗi, dù chậm, ông Bàn cũng hài lòng. Ông già rồi, không chú ý tới dung nhan mình. Vết mực loang lớn thật, nhưng so với những hình vẽ lăng nhăng, những vết dao chém, nó cũng chẳng làm ông xấu hơn được. Tuy nhiên ông Bàn vẫn doạ:
    - Bây giờ anh mới biết lỗi à? Tôi sẽ quẳng anh xuống đất, cho anh vỡ tan xác ra.
    Ông Bàn rung nhẹ, các khớp gỗ kêu cót két. Nhiều vật tưởng ông quyết liệt hạ bình mực, đều hoảng kinh. Cụ Sách cất tiếng:
    - Xin ông Bàn bớt nóng.
    Những cây Bút mực cũng cuống quít can ngăn:
    - Anh Bình mực thật dễ ghét, nhưng thiếu anh ấy, chúng cháu mất kho nhiên liệu, hoá vô dụng. Mong ông nghĩ lại.
    Chỉ có Bút chì im lặng. Đương sự rất đắc chí vì có thể tự lực, tự cường. Hắn viết ra những chữ mờ nhạt, nhưng khỏi cần nhờ vả , lệ thuộc anh nào. Bình mực sống chết chả ăn nhậu gì tới hắn. Bút chì bị mang tiếng ích kỷ và vụng về. Hắn phải đeo kè kè ở sau đuôi một cục tẩy tròn chuyện việc xoá những bước đi lỗi lầm của hắn.
    Những bông hoa thuộc loại tình cảm, nghe chuyện cãi vã xô xát đã thất kinh. Giọng hoa run rẩy:
    - Ông Bàn chớ làm vậy! Ông Bàn chớ làm vậy!
    Chỉ có ông Cung, vật từng trải, lão luyện là biết ông Bàn doạ chơi. Một vật dễ giận, dễ to tiếng, rồi dễ nguôi như ông Bàn, ít khi làm chuyện ác độc.
    Bình mực thủy tinh cũng sợ hãi. Rơi từ mặt bàn xuống, chắc tan xác thật? Nhưng vật đãng trí và mơ mộng này lại tự an ủi bằng trí tưởng tượng. Cần quái gì. Hắn nghĩ. Nếu tan thành trăm mảnh, ta sẽ là trăm mảnh lóng lánh sáng, trăm mảnh mang hình trăng tròn, trăm mảnh bầu trời ngoài khung cửa sổ….không còn một giọt mực nào dính trên thủy tinh, cả trăm mảnh sẽ trong veo.
    Tuy nhiên trăm mảnh rực rỡ đó không sống lâu, sẽ gặp nhau trong sự tăm tối của thùng rác. Kẻ mơ mộng, sau phút tưởng tượng tới sự tan tành đẹp đẽ, bỗng biết ớn:
    - Tôi đã nhận lỗi rồi mà. Tôi xin hứa sẽ cẩn thận hơn.
    Bình mực chưa dứt lời, mọi vật bỗng nghe tiếng khóc. Tiếng khóc vang lên từ trong lòng bình mực. Tiếng khóc tỉ tê tuyệt vọng.
    Mọi vật sững sờ, im lặng, lắng nghe. Ông Bàn bối rối trước tiên:
    - Này chú Bình mực, ta doạ chơi vậy thôi, sao mà nhút nhát quá vậy?
    Bình mực cãi:
    - Ông lầm rồi, tôi đâu có khóc.
    Quả vậy, đó là tiếng khóc nhỏ bé của ba giọt mực cuối cùng, còn đọng dưới đáy bình.
    Ba giọt mực tụ lại, như một giọt nước mắt đen lớn buồn thảm.
    Hàng ngàn giọt mực đến rồi giã từ bình mực. Bình mực biến thành nơi tạm trú của chúng. Mới đầu vật mơ mộng này cũng lưu luyến, tất cả những khách trọ. Sau đó quen đi, hắn trở về với nếp sống riêng tư.
    Tiếng khóc của ba giọt mực khiến hắn kinh ngạc.
    Bông hồng khẽ hỏi:
    - Làm sao các em lại khóc?
    Một giọt mực nghẹn ngào:
    - Bọn em đang khô dần.
    Giọt mực thứ hai:
    - Chúng em không bao giờ được làm bổn phận của loài mực.
    Giọt mực thứ ba tiếp lời:
    Tất cả những giọt mực cùng sinh ra đời với chúng em đều đã sống đầy đủ. Họ được những anh chị bút đón ra khỏi bình, họ biến thành chữ, thành hình vẽ. Họ khô trong danh dự vinh quang, chúng em không như vậy. Chúng em đang héo tàn trong đáy bình mực một cách vô duyên.
    Những câu than thở của ba giọt mực khiến cho muôn ngàn chữ trong tất cả những sách vở bừng tỉnh.
    Sau đó muôn ngàn chữ cùng hân hoan. Tiếng than của kẻ hậu sinh như lời khen tặng các vị tiền bối.
    Cả những giọt mực đã khô hàng trăm năm, đang mờ tới nét chữ cuối cùng cũng góp niềm kiêu hãnh.
    Những giọt mực khô trong lòng cụ Sách thì reo vui hơi quá lố. Chúng ất tiếng cười dù cố đè nén, vẫn làm cho những trang sách rung rung. Tất cả những giọt mực vào lòng cụ Sách đều biến thành lời đạo đức, khôn ngoan, dạy dỗ loài người, phác giác những chuyện huyền bí của vụ trụ. Những giọt mực ấy đã tìm được một địa vị hết sức cao trọng, như giọt mực xấu số thứ ba đã nói: “ Họ khô trong danh dự vinh quang ”.
    Cụ Sách phải nạt khẽ:
    - Này! Cười vui trước nỗi đau khổ của vật khác là vô ý thức.
    Căn phòng đỡ mất trật tự.
    Nhưng muôn ngàn chữ vẫn sung sướng, cười thầm, và ba giọt mực đang khô trong đáy bình, tiếp tục khóc tỉ tê.
    Chỉ có năm sáu giọt mực khô trong lòng chị Vở cất tiếng an ủi:
    - Không ra khỏi bình các em đừng buồn. Như bọn ta đây, đâu có gì là sung sướng. Chúng ta không hoá thành chữ, mà thành một cái hình quái gở.
    Quả thực, cậu bé đã dùng những giọt mực này để vẽ một hình người đầu tròn, tóc lởm chởm, không có mũi, chân tay cong queo, kì dị.
    Những giọt mực khác, biến thành hình vẽ xấu xí trong vở, trên bìa sách, trên mặt bàn, cũng đua nhau an ủi ba giọt mực. Họ cho rằng ở vĩnh viễn trong bình còn hơn là biến thành những quái thai.
    Hàng trăm giọt mực, vết loang lớn trên mặt ông Bàn, bây giờ mới đủng đỉnh lên tiếng:
    - Còn bọn chúng tôi thì sao? Cũng nhục nhã lắm chứ. Cả trăm mạng hoá thành vết đen dơ dáy trên mặt ông Bàn, chúng tôi đâu có khóc.
    Ba giọt mực vẫn khăng khăng:
    - Thà làm một vệt đen còn hơn khô héo trong đáy bình. Chúng tôi biết không phải giọt mực nào cũng gặp may mắn khi ra đời. Nhưng đã là mực, phải được ghi một vết ở đâu đó. Là chữ, là hình vẽ, là một cái chấm xấu xí cũng được, chúng tôi muốn ra khỏi bình. Chúng tôi không muốn chết non và chết vô ích.
    Các vật trong phòng lặng thinh. Ba giọt mực cảm thấy mình đang khô héo mau hơn, lại tỉ tê khóc. Bông hồng nghe thấy chuyện chết chóc, buồn rũ cánh. Chị Bóng bay thơ thẩn lăn tới một góc nhà, ngậm ngùi thương những vật nhỏ bé mong manh.
    Chú con Quay muốn cất lời an ủi. Nhưng chính chú cũng nghĩ rằng một vật sinh ra đời chẳng để làm gì, chẳng có ích gì thì vật đó buồn phát khóc là phải.
    Bỗng dưng ông Bàn hỏi to:
    -Sao? Cụ Sách, trong cái bụng đầy nhóc thông thái của cụ, không có ghi câu nào an ủi ba giọt mực hả?
    Hồi này, ông Bàn ưa trêu cụ Sách. Ông nghi cụ vẫn có ý coi thường ông. Bụng cụ đầy chữ, bụng ông chỉ có chú Ngăn kéo dốt nát. Thỉnh thoảng ông tìm cách đưa cụ Sách vào thế kẹt. Chẳng hạn ông hỏi cụ: tại sao giầy dép không có chân lại đi khắp nơi, bàn ghế có tới bốn chân thì nằm một chỗ.
    Bây giờ ông lại làm cụ Sách lúng túng.
    - Ờ….ờ…nghĩ rằng ba giọt mực không nên buồn quá thế. Trời sinh ra muôn vật: mỗi vật có một số phận….
    Chưa bao giờ cụ lại nói một câu thiếu dứt khoát như vậy.
    Ông bàn bỗng phá lên cười:
    - Ha! Ha! Ha! Xin lỗi cụ Sách! Nhà cháu không đồng ý với cụ. Theo quan niệm của vật dốt nát này thì ba giọt mực không có quyền khóc. Cả ba phải reo mừng vì đã sống những ngày đầy ý nghĩa.
    Cả phòng kinh ngạc, ba giọt mực nín khóc lắng nghe. Ông Bàn vẫn cười ha hả:
    - Hãy coi cái thân tôi này. Tôi là bàn, tôi có hoá ra gì đâu, nhưng tôi đã để cho biết bao nhiêu vị ngồi trên mặt. Các vị ấy đều có ích, thế là cuộc sống của tôi có ý nghĩa.
    - Ba giọt mực dưới đáy bình đâu có vô ích. Nếu họ không ở đó thì làm sao các anh chị bút có thể với tới hết tất cả những giọt mực khác?
    - Ba giọt mực cuối cùng đã làm một việc có ý nghĩa nhất: họ đội những đứa khác trên đầu, suốt ngày này sang ngày khác. Nhờ vậy, những giọt đứng trên đầu họ mới bám vào ngòi bút, ra ngoài, biến thành chữ.
    - Chú Bình mực phải biết điều đó chứ. Bao nhiêu thế hệ mực đã qua trong lòng chú? Mỗi thế hệ đều có ít nhất ba giọt mực nằm dưới đáy, nâng các giọt mực khác lên cao. Sau đó, những giọt hy sinh khô đi trong lặng lẽ.
    - Khi nãy, tôi nghe các chữ, những giọt mực khô trong lòng cụ Sách đã cười. Thật là một lũ vô ơn. Dù vinh quang hiển hách đáng lẽ lũ ấy phải biết tới những giọt mực đã đội chúng lên, những giọt mực chịu nằm dưới đáy bình, chịu nhục nhằn, tăm tối và thiệt thòi.
    - Vậy ba giọt mực bé tí teo, các cháu có quyền kiêu hãnh. Các cháu đóng góp vào rất nhiều sách vở. Và hàng tỉ chữ, hằng sa số hình vẽ trên cõi thế gian này đều mang ơn những giọt mực nằm dưới đáy bình.
    Ông Bàn không cười nữa, căn phòng im lặng hoàn toàn.

    Một lát sau, cụ Sách nói với ông Cung Tên:

    - Lần này, tôi chịu thua lão già lỗ mãng. Lão chỉ có một cái bụng rỗng tuếch mà khôn gớm!

    Trong bình thủy tinh lóng lánh, ba giọt mực cuối cùng kiêu hãnh hân hoan bốc thành hơi.
  4. Tờ Lịch Đầu Tháng.


    Trước khi bị bóc đi, tờ lịch ngày ba mươi mốt nói với tờ lịch ngày mồng một:
    - Ta sắp vĩnh viễn giã từ chú em. Ngày sắp tới là ngày riêng của chú, chú sẽ mở đầu một tháng. Chú có riêng mình một buổi bình minh, một buổi trưa, một hoàng hôn và có cả đêm tối. Nhưng chú phải nhớ, phải nhớ cho thật kỹ một điều: chú em chỉ được sống đúng một ngày thôi đấy nhé. Dòng họ chúng ta mang cái truyền thống ấy, đời sống chúng ta ngắn ngủi và rất chính xác. Vậy hãy sống cho ra sống, đừng bỏ phí một giây nào.
    Tờ lịch ngày ba mươi mốt rớt xuống, tờ lịch ngày mồng một trình diện cuộc đời. Nó mang trên mình đầy đủ di tích và đặc tính của những tờ lịch trước. Vẫn khuôn mặt hình chữ nhật, vẫn là năm 1974, chỉ có tháng mới, ngày mới.
    Đầu tiên tờ lịch ngất ngây vì trách nhiệm, vì đời sống đột ngột hiện ra trước mặt.

    Nó có riêng mình một buổi bình minh.

    Nắng đầy cửa sổ, nắng tràn trên sân nhà. Chị Rèm cửa nép mình một bên vẫn hồng lên rực rỡ. Hàng muôn ngàn hạt bụi đuổi nhau tung tăng, sưởi mình trong nắng. Chúng giống hệt những tinh cầu trong vũ trụ của một chú búp bê vô cùng bé nhỏ. Bác Gió, sau một đêm du hành trong không gian mênh mông đem về cho bình minh một chút quà lành lạnh của sương đêm và mùi thơm dịu dàng của cây trái cỏ hoa.
    Để chào tờ lịch ngày mồng một, mọi vật mặc áo mới, tươi mát và sạch sẽ.
    Tờ lịch cảm thấy mình quan trọng, nó tin rằng mọi vật đang chờ đợi nó ghê lắm. Tờ lịch nói:
    - Xin nhắc quý vị, hôm nay là ngày mồng một đầu tháng.
    Mọi vật lặng thinh, bình thản. Đã có biết bao nhiêu bình minh qua đi trong phòng này! Mọi vật không có lý do gì để vội vã. Nhưng vài vật cảm thông với tờ lịch, nó chỉ có độc nhất một buổi bình minh. Nó có quyền say sưa cuống quít. Tờ lịch lại nói:
    - Xin nhắc quý vị bình minh rồi. Đời sống đẹp quá, phải vui lên chứ.
    Ông Bàn bắt đầu hơi bực mình, ông càu nhàu:
    - Này chú bé con, đừng làm ồn. Đâu có phải bọn này đợi chú ra đời rồi mới được biết tới bình minh.
    Tờ lịch im, nhưng vẫn nôn nao, bồn chồn.
    Nó bắt đầu để ý tới từng vật xung quanh. Trong buổi bình minh hồng hào khỏe mạnh, tờ lịch quan sát và học hỏi về đời sống của những vật khác biệt, như chú học trò bắt đầu cắp sách tới trường.
    Buổi trưa tờ lịch biết rõ về ông Bàn, anh Ghế, chú con Quay. Nó cũng biết tại sao cụ Sách được mọi vật kính trọng. Nhất là tờ lịch biết rõ nhiệm vụ của nó: Nhắc nhở mọi người, mọi vật biết họ đã bước tới đâu trên con đường thời gian vô tận.
    Còn việc nhắc nhở thời gian đi mau đã có bác Đồng hồ.
    Nhưng khi chiều tới, tờ lịch lại nhớ tới lời nhắc nhủ của vị tiền nhiệm.
    - ….chú em chỉ được sống đúng có một ngày thôi đấy nhé….vậy hãy sống cho ra sống….
    Mặt trời lặn, bóng tối về. Tờ lịch biết rằng nó chỉ còn đúng có một đêm. Và bắt đầu từ giây phút này, nó cũng không còn là vật cần thiết nữa rồi.
    Buổi chiều chú bé chủ nhân căn phòng đã nhìn nó một lần để tính toán ngày tháng, thế là tờ lịch mãn nguyện.
    Nhưng tờ lịch biết rằng qua đêm nay khi bình minh khác bắt đầu, nó sẽ rơi xuống, nhường chỗ cho đàn em.
    Nửa đêm tờ lịch hỏi Đồng Hồ:
    - Xin bác coi giúp: Tôi còn mấy giờ nữa?
    Đồng Hồ đáp:
    - Khoảng sáu tiếng.
    Khi hỏi bác Đồng Hồ lần thứ hai, biết chỉ còn sống còn bốn giờ tờ lịch bỗng nói với mọi vật:
    - Thưa quí vị! Xin quý vị giúp cho tôi một điều. Tôi muốn được thấy mọi vật đều vui. Những thế hệ trước tôi hẳn đã từng nhiều lần được hưởng chuyện đó. Nhất là những tờ lịch có may mắn ra đời nhận công tác vào đúng một ngày lễ.
    - Có lẽ sự đòi hỏi của tôi làm phiền vài vị. Nhưng tôi chỉ sống đúng một ngày và ngày sắp hết. Mong quý vị nghĩ tình tương trợ muôn loài mà tha thứ cho.
    - Tôi hiểu rằng, ngoài khung cửa sổ kia, ngày rộng lớn mênh mông, rộng bằng cõi nhân gian muôn màu muôn vẻ mà tôi đã được nghe bác Ô đen, những chú Giầy Dép kể lại một phần. Ngày có những bình minh lạ, những hoàng hôn xa mà tôi chẳng hề biết tới.
    - Nhưng ngày của tôi thu nhỏ trong căn phòng này. Tôi thấy ông Bàn, cụ Sách, chú con Quay, tôi sống với chị Bóng Bay, anh Ghế….Chính các vị làm thành ngày của tôi….Sinh hoạt, nỗi buồn của quý vị là ngày của tôi….
    - Chỉ còn một đêm nay, tôi mong quý vị tặng cho phần cuối cùng của đời tôi những giây phút rực rỡ.
    Tất cả các vật trong phòng lặng thinh. Chúng xúc cảm.
    Chú con Quay chạy ra giữa phòng xoay tít. Cây Đàn ném ra một trận mưa nốt nhạc. Bông hoa trong bình mở tung tươi hồng như vừa tình dậy sau một giấc mộng đẹp. Bốn cây nến rực sáng ở các góc phòng. Cụ Sách phanh cái bụng đầy chữ ra, ngâm một bài thơ cổ. Chị Rèm cửa gọi bác Gió tới và thướt tha khiêu vũ trong ánh nến vàng tươi.

    Tờ lịch hân hoan vừa hát theo tiếng đàn vừa chờ bình minh tới.

    Có những ngày mà mọi vật quanh chúng ta bỗng dưng vui tươi, hớn hở. Hoa đẹp hơn, mặt bàn sạch sẽ hơn, chú con Quay tài tình dễ thương hơn. Tại vì tờ lịch đấy.

    Đó là tờ lịch biết quý trọng, mến yêu vô cùng một ngày riêng của nó.
  5. Cây Roi Kể Công.


    Cây Roi đứng cạnh anh Phất Trần trên nóc tủ sách. Thân thẻ hắn bóng loáng, hắn nói dõng dạc, oai nghiêm như một ông tướng:
    - Thưa quí vị đồ vật trong phòng. Tôi trả thù cho quí vị rồi đó.
    Cây Roi ngưng nói nhìn một lượt từ ông Cung tên quý phái, ông Bàn hay càu nhàu, con Quay hay xoay tít, đến chị Bóng bay bắt đầu ốm ở xó nhà. Mọi vật im lặng. Cây Roi hiểu rằng tất cả đang chờ đợi hắn nói. Hắn kể.
    Cây Roi không vào chuyện ngay, hắn hỏi:
    - Ông Bàn có phải ông bị chú bé hành hạ nhiều nhất không?
    Ông Bàn chậm rãi:
    - Cái đó thì chắc rồi. Anh xem cái mặt tôi đủ màu lem luốc thì biết. Mới hồi chiều nay cậu ấy còn cao hứng, cậu ấy cầm dao chém lên mặt tôi cồng cộc. Thật không thể tưởng tượng cái mặt tôi bây giờ nó nham nhở tới bậc nào.
    Cây Roi lại xoay sang anh Ghế:
    - Còn anh Ghế thì sao?
    - Ối giời! Suốt ngày nếu có dịp là cậu ấy nhảy lên mình tôi rầm rầm, mà chân cậu ấy thì bẩn quá sức. Tôi nghĩ cứ cái đà này chắc có lần tôi què cằng lăn kềnh trước ông Bàn mất thôi.
    - Còn cụ Sách?
    - Còn phải nói. Anh cứ xem cái gáy tôi thì biết. Tên chuột đã cắn tôi bị thương nặng, sứt hết bộ áo ngoài. Nếu không có bác Đèn xếp và ông Cung tên cứu thì cái thân tôi đã nát bấy ra rồi.
    Cây Roi có vẻ hoan hỉ:
    - Thôi, thế là đủ rồi. Bây giờ quý vị có thể ăn mừng. Kẻ thù của quý vị đã bị phạt nặng, chính tôi đích thân thi hành bản án trừng phạt ấy.

    Ông Cung Tên hỏi:

    - Chú bé đã bị phạt à?

    Cây Roi lắc lư đắc chí:

    - Vâng. Buổi chiều hôm nay, ông chủ nhà đã bắt chú bé nằm xấp trên giường, tôi được nằm bên cạnh chờ đợi.

    - Đầu tiên ông chủ hỏi tội chú bé về việc hành hạ ông Bàn anh Ghế. Chú làm đổ mực, chú nhảy nhót trên ghế, chú chém mặt bàn, ông đều biết hết. Rôi ông kể tới việc chú không chịu thăm nom hỏi han ông cụ Sách. Chú đã quên cho cụ Sách vào bụng ông Tủ để cụ Sách bị chuột ám hại.

    - Tôi lo nhất là chú bé làm mất mạng anh Diều Giấy, và làm hai sợi dây điện gặp nhau toé lửa, suýt gây hoả hoạn.

    - Sau đó, ông chủ cầm tôi lên và đét cho chú bé ba roi vào mông. Thú thực trước những tội lỗi tầy đình như thế, tôi cũng giận quá, tôi đã hạ xuống mông chú bé những roi đích đáng. Thù của quý vị đã được trả…

    Cây Roi ngưng lại chờ mọi vật hoan hô. Nhưng hắn vô cùng ngạc nhiên, tất cả đều im lặng. Cho là lời kể của mình chưa đủ yếu tố hấp dẫn, hắn thêm:

    - Chú bé đã bị lằn ba vệt đậm ở mông.

    - Chú bé đã khóc suốt buổi chiều và tỏ ra hối hận.

    Căn phòng vẫn im phăng phắc. Cây Roi ngẩn ngơ nhìn hết vật nọ đến vật kia.

    Thình lình, ông Cung Tên lên tiếng:

    - Chị Bóng Bay đâu?

    - Dạ.

    - Chị còn đi được không?

    - Tôi sẽ cố gắng.

    Chị Bóng Bay nhúc nhích ở cuối phòng rồi dựa theo gió lăn ra giữa nhà.

    Không chờ ông Cung Tên gọi, chú con Quay tự động xoay tít đứng cạnh chị Bóng Bay. Ông Bàn nói:

    - Chắc chú bé đang ngủ ở phòng bên.

    Thế là Bóng Bay và con Quay lần mò sang phòng bên. Một lát cả hai trở về báo cáo:

    - Chú bé đã ngủ.

    Ông Cung Tên hỏi:

    - Chú ấy ngủ ngon chứ?

    Con Quay đáp:

    - Dạ. Chú bé ngủ rất say sưa. Anh Đèn Ngủ đuổi chúng tôi, không cho lại gần, sợ làm chú bé thức. Anh ấy rải trên khắp người chú làn ánh sáng hồng rất đẹp.

    Anh Ghế hỏi:

    - Xem chú ấy có vẻ đau đớn gì không?

    Chị Bóng Bay đáp:

    - Không đâu. Tôi thấy chú ấy mơ ngủ và mỉm cười.

    Lúc ấy, mọi vật trong phòng mới thở phào nhẹ nhõm và vui tươi trở lại. Bình hoa trên bàn đã chịu nở thêm hai bông. Cây Roi ngẩn ra, ngạc nhiên:

    - Ủa? Sao? Sao quý vị lại….

    Không để Cây Roi nói hết. Ông Cung Tên chậm rãi đáp:

    - Cám ơn anh Roi đã có ý binh vực chúng tôi. Nhưng anh lầm rồi. Thực ra chúng tôi rất quý chú bé. Lỡ chú ấy làm lỗi bị phạt, chúng tôi thương xót lắm. Chúng tôi chỉ ước mơ chú ấy hiểu tâm sự chúng tôi mà cũng thương lại chúng tôi. Nghe anh kể chú bé bị đòn chúng tôi rất buồn.

    Cây Roi hỏi:

    - Ông Bàn cũng không oán chú bé sao?

    Ông Bàn khề khà:

    - Tức thì nói cho hả, chứ làm sao tôi không thương chú ấy được. Ngày nào chú ấy cũng tựa vào mặt tôi mà học bài. Tôi thương yêu chú ấy nhất.

    Cây Roi ỉu xìu, lăn quay ra nằm cạnh anh Phất Trần.
  6. Diều Giấy Mắc Nạn.



    Cuộc sinh hoạt của đồ vật đêm nay mở màn sớm hơn thường lệ. Quả thật đã có nhiều điều xui xẻo xảy ra trong thế giới của chúng. Nơi gầm tủ kể từ nay đã vĩnh viễn vắng mặt anh Diều Giấy. Anh ta là vật có cuộc đời sôi nổi, phiêu lưu nổi tiếng. Anh đã đem tính mạng mình treo đầu sợi chỉ. Chiều nào anh cũng bay lượn lửng lơ giữa bầu trời xanh, vẫy vùng trong gió. Đêm về, anh mệt, thường ngủ bù hoặc im lặng sống cuộc đời riêng. Anh có vẻ ích kỷ và hơi kiêu căng.

    Anh Diều Giấy đã gặp nạn! Nhưng mọi vật trong phòng không hiểu kẻ bay cao ấy thọ nạn thế nào?

    Cuộn Chỉ được coi là vật kể chuyện hấp dẫn, đáng tin nhất. Bởi vì, chỉ có mình nó chứng kiến tai nạn và ở bên anh Diều Giấy những giây phút chót.

    Cuộn Chỉ nằm trên bàn, thỉnh thoảng lăn qua lăn lại cho thêm phần quan trọng. Ông Bàn gợi chuyện trước:

    - Tao nghi chính mày có lỗi to nhất trong việc làm hại anh Diều Giấy.

    Cuộn chỉ cãi ngay:

    - Cháu không có lỗi gì hết.

    - Không có lỗi? Chắc chỉ của mày đứt rồi anh ấy bị gió lôi đi mất tích chứ gì. Cái lũ chỉ chúng mày bở bùng bục, mày giữ anh Diều nào là anh Diều ấy bị gió bắt cóc mất tiêu.

    - Ông Bàn kết tội hồ đồ quá. Ông phải biết cháu là một trong những cuộn chỉ dai nhất. Gió to tới bậc nào cháu cũng níu anh Diều lại được. Vả lại, chúng cháu lên cao xuống thấp có nhau, thân thiết như tình ruột thịt, đời nào cháu lại chịu cho gió bắt cóc anh ấy. Thú thực với ông chưa có anh Diều Giấy nào được cháu quý như anh này. Thân thể anh ấy cân đối, vững vàng, gặp một chút gió là bay bổng.

    - Thế sao anh ấy gặp nạn?

    - Thì ông để từ từ, cháu phải nhớ lại mọi chuyện rồi mới kể được.

    Ông Bàn đành im lặng nhưng vẫn hậm hực.
    Cuộn chỉ lăn qua lăn lại thêm vài vòng, rồi bắt đầu tường thuật nội vụ:

    - Chiều hôm nay gió to, cậu bé đem anh Diều Giấy đi thả sớm. Như mọi lần, cậu vào công viên, nơi đây có bãi cỏ rộng. Anh Diều Giấy no gió bốc thẳng lên trời. Tôi (lời cuộn chỉ) níu kéo anh ấy thật là mệt. Cái đuôi ba màu của anh ấy bay phất phơ rất đẹp. Những hôm Diều no gió chỉ có cái thân làm cuộn chỉ chúng tôi là khổ. Chịu không nổi để anh Diều bay đi mất thì thật mang tiếng xấu muôn đời. Nhưng bù lại, anh Diều bay cao, chúng tôi cùng chung niềm kiêu hãnh.

    - Tôi có bao nhiêu chỉ được mặc sức thả ra hết cho anh Diều tha hồ vùng vẫy. Anh lên cao hơn các anh Diều khác rất nhiều. Cậu bé hài lòng, vui cười suốt buổi.

    - Thình lình trời đổ mấy hột mưa cậu bé đành thâu chỉ lại, kéo Diều xuống ra về. Một chiều hoạt động như thế kể cũng là nhiều rồi.

    - Khi chúng tôi về gần tới nhà, mưa chợt tạnh, mây đen tan dần. Gió lại nổi lên, rất hấp dẫn, nhưng ngại trở lại công viên, sợ gặp mưa thình lình, cậu bé đưa chúng tôi lên sân thượng. Anh Diều lại được tung ra. Nhưng gió trong thành phố vướng nhà cửa thổi không đúng chiều nhất định. Anh Diều chưa kịp lên cao đã đảo hai vòng và đâm đầu ngay xuống, mắc tòn ten giữa những sợi dây điện….

    Các vật trong phòng ồ lên một tiếng, xôn xao vì cái tai họa bất ngờ. Cuộn chỉ bùi ngùi tiếp:

    - Quý vị nào có dịp ra khỏi nhà thì biết đấy. Đường phố đầy dây điện, chỗ nào cũng có, nhà cửa lại san sát, thật chả có chỗ nào đủ rộng cho một anh Diều cất cánh, hạ cánh an toàn. Phải bay nhảy trong thành phố là một điều vô cùng nguy hiểm, mất mạng như chơi.

    - Ngay khi anh Diều mắc trên dây điện cậu bé đã tìm cách cứu ngay. Nhưng cái đuôi của anh ấy dài quá. Cứ mỗi lần gió thổi cái đuôi lại quấn thêm một vòng vào dây điện. Diều giấy lại bị trói chặt vào đó.

    - Cậu bé liều lĩnh và dại dột kéo mạnh một cái. Ấy thế là hai sợi dây điện được dịp chạm nhau. Như mọi vật biết đấy, bọn dây điện đâu có ưa gì nhau. Vừa chạm mặt là chúng hét lên, lửa xanh, lửa đỏ tung toé. Chỉ đứt luôn! Cậu bé cầm tôi chạy thẳng, anh Diều bị giam cứng trên đó.

    - Tôi vẫn hy vọng một lúc nào đó anh được gió vô tình gỡ ra. Nhưng buổi tối mưa to. Tôi thực tình không biết số phận anh Diều ra sao, nhưng anh ấy khó lòng thoát nạn.

    Cuộn Chỉ không lăn qua lăn lại, đứng im lặng ngậm ngùi. Bỗng ở góc nhà, có tiếng nói:

    - Anh Diều giấy tan xác rồi.

    Đó là tiếng bác Ô đen. Chiều qua bác về nhà trễ nhất. Bây giờ bác Ô đen kể:

    - Tôi đi với ông chủ nên về trễ. Tôi thấy anh Diều giấy nằm chết cứng trên dây điện, đuôi anh ấy đứt hết. Một bên cánh chỉ còn trơ cái xương tre, trận mưa to đã tàn phá anh ấy hoàn toàn rồi.

    Mọi vật cùng hướng về phía gầm tủ nơi trước kia Diều Giấy vẫn nằm. Nơi đó trống không buồn bã. Nhiều vật trước kia có chuyện xích mích với Diều Giấy đều cảm thấy ân hận. Đáng lẽ phải cư xử tốt với anh ta. Một vật luôn luôn bay lơ lửng lưng trời đâu có hứa hẹn ở với ta lâu dài. Muôn vàn nỗi tiếc thương lúc này cũng là vô ích. Chỉ có niềm vui đem đến cho anh ta trước đây mới thật là quý giá đáng kể.

    Ông Bàn lại càu nhàu:

    - Lỗi hoàn toàn ở cậu bé.

    Cụ Sách thở dài trong tủ:

    - Hồi này cậu bé ít hỏi ý kiến tôi. Cậu ấy ham chơi quá rồi.

    Ông Bàn vặn cụ Sách:

    - Xin lỗi cụ, trong lòng cụ làm gì có ghi cái vụ cứu chiếc Diều giấy bị mắc trên dây điện?

    Cụ Sách điềm nhiên:

    - À, điều đó dĩ nhiên là không. Nhưng tôi dạy cậu ấy rằng không bao giờ được thả diều trong thành phố.
  7. Những Giọt Mực

    Thay lời tựa.


    Đứa trẻ nói với bàn chân nó.

    ….Bàn chân trẻ nhỏ không biết nó chỉ là bàn chân và nó muốn trở thành một cánh bướm hay một trái táo….
    Nhưng rồi sau, đá cứng khô đường phố, cầu thang….
    Những con đường trên trái đất tiếp tục xây, bàn chân biết rằng nó chẳng thể bay chẳng thể làm trái táo trên cây.
    Rồi bàn chân trẻ nhỏ chịu thua.
    Ngã trên chiến địa, thành tù binh.
    Bị giam giữ trong một chiếc giầy!


    Không rõ trong 7000 bài thơ sáng tác của Neveda có bao nhiêu bài thuộc loại ngộ nghĩnh đáng yêu tương tự? Có điều chắc chắn trong “Những Giọt Mực” của Kiều Phong Lê Tất Điều ngây thơ ngộ nghĩnh như vậy mà còn dài hơn nhiều, nhuộm màu sắc vừa bi hùng, vừa trữ tình đặc biệt phương Đông.

    Cạc Sĩ.



    Lê Tất Điều nhân cách hoá đồ vật, rồi thủ thỉ kể chuyện. Câu chuyện khởi đầu bằng câu chuyện nên thơ của ban đêm và cứ thế kéo dài với những ngày tháng của cuộc đời.

    Tuổi trẻ của chúng ta bị đoạ đày bị dằn vặt đủ thứ, tuổi trẻ của chúng ta được thưởng thức văn chương Lê Tất Điều chắc chắn thống khoái vô cùng.

    Lê Tất Điều viết cho các em bé nhưng cũng để cho người lớn đọc. Lê Tất Điều gửi gấm thật nhiều nỗi lòng, thật nhiều tâm sự trong những đoạn văn ngắn nhưng hàm xúc. Nhưng đoạn văn như bài thơ xuôi, những đoạn văn long lanh như hạt ngọc.

    Đọc “Những Giọt Mực” người đọc có cảm giác như được dẫn dắt phiêu bồng ra khỏi cái thế giới đê tiện của cuộc đời hôm nay, để đi vào thế giới tươi mát, thế giới trong đó tình yêu thương bao la.

    Kết luận “Những Giọt Mực” là những hạt ngọc cho tuổi thơ, một tác phẩm tuyệt vời của một tác giả có kích thước lớn.

    Hồ Nam.



    ….Nói “Những Giọt Mực” là truyện dành riêng cho trẻ thơ, e hơi phiến diện. Phải nói là dành cho con người, cho tất cả….

    Cao Bồi Già.



    ….Trẻ con trong nhà vây quanh nhau để nghe chiếc bàn cự nự, chiếc đèn xếp khua reo, chiếc ô kiêu hãnh, đôi guốc thì thầm, chiếc roi tâm sự, con diều giấy rên xiết…v..v…với lối nhân cách hoá tự nhiên, linh động vui tươi. Anh Lê Tất Điều đã điều khiển các đồ vật quen thuộc, đùa giỡn, lý sự, làm việc sinh hoạt một cách lý thú, dễ thương.

    Như vậy tôi cho rằng đổ tội cho trẻ ham đọc sách bậy là cách che lỗi trân tráo của người lớn vô trách nhiệm. Trẻ ngày nay vì tiếp xúc sớm với đời, nên chúng khôn lanh hơn. Cũng nhờ vậy mà chúng đã sớm biết phân tách cái hay cái dở. Những giọt mực của Lê Tất Điều được chúng công nhận là truyện hay.

    Riêng các bà Mẹ, quyển “Những Giọt Mực” là một thích thú thoải mái khi các bà chọn cho con mình đọc, và cho rằng quyển sách bổ ích lành mạnh cho lứa tuổi đang cần có loại sách để đọc.

    Linh Trang.



    Khung cảnh là cái phòng riêng của một cậu bé với tất cả những đồ vật lỉnh kỉnh lủng củng của một cái phòng dành cho trẻ con cỡ 7, 8 tuổi: Từ những cây nến, cái búa, cái đèn xếp cũ, con diều giấy, đôi guốc mộc, những giọt mực…v..v…đến những cái ghế, bàn, bức tranh, cuốn sách, thôi thì đủ cả. Thời gian là về đêm, khi sinh hoạt của loài người hiếu động tạm ngưng lại để nhường chỗ cho đồ vật lên tiếng.
    Đồ vật cũng sinh hoạt được ư? Sao lại không nhỉ? Và khởi đầu là sự hy sinh cao cả của bác đèn xếp để cứu cụ sách bị chuột gặm gáy; bác đèn xếp kẻ bị bỏ quên cả năm trời (trừ ngày Trung Thu) để soi đường cho ông cung tên bắn kẻ định mưu sát cụ sách, đã gồng mình cháy sáng để cuối cùng bị thiêu rụi.

    Bằng những tiêu đề như: Trung Thu Của Bác Đèn Xếp, Tình Bạn Của Đôi Guốc, Diều Giấy Mắc Nạn, Những Giọt Mực; tác giả lần lượt đưa người đọc vào sinh hoạt chung với các đồ vật có đầy đủ những tính tốt cũng như tật xấu của loài người: Có hy sinh, có ghen tị, có cao cả, có thấp hèn, có bao dung, phản bội, mơ mộng, trầm tĩnh.

    Gấp cuốn sách lại, người đọc không khỏi nhìn quanh mình mỉm cười thích thú, tưởng như các đồ vật quanh mình xì xào to nhỏ, tưởng như cuộc sống trở nên phong phú lạ thường, tưởng như mình hết còn cô độc. Và bây giờ người đọc hiểu tại sao bé gái này có thể nói chuyện suốt ngày với con búp bê bất động, bé trai kia có thể bầu bạn không chán với cả những cục gỗ viên gạch. Cả một thời thơ ấu lộ ra trong tâm trí quá mỏi mòn bởi những chen đua vật lộn thường ngày. Và hơn nữa người đọc hình dung đến viên sỏi của Fellini trong La Strada đến những bức tranh tĩnh vật đầy linh động của Salvador Dali. Dù vậy, những cái đó, viên sỏi của Fellini và đồ vật của Dali vẫn có vẻ quá nặng nề, kinh hoàng quá. Phải chăng đó là điều khác biệt giữa tâm hồn Á Đông và tâm hồn Tây Phương. Phải chăng đó là điều cho phép chúng ta, những tâm hồn quá mỏi mòn bởi chiến cuộc còn tin tưởng ở cuộc sống ở đời người.

    Ngàn Cánh Hạc.



    Xin đừng đọc vội vã, ngấu nghiến quyển này, hãy cứ nhẩn nha, đi đâu mà vội. Gọi là truyện trẻ con nhưng chính ra là chuyện của người lớn. Tôi có ba đứa con đi học, nên khi đọc xong có chuyển cho từng đứa. Đứa nào cũng lấy làm thích. Đứa con gái đầu lòng thì thích “Những Giọt Mực”. Một thằng học Đệ Lục lại ưa “Tình Bạn Của Đôi Guốc”. Một đứa tám tuổi mới đọc thông Quốc ngữ lại thương “Con Diều Giấy Mắc Nạn” trên cột đèn. Mỗi tuổi có một lối thưởng ngoạn khác nhau. Phải chăng đứa con gái đầu lòng của tôi đã yêu cái vẻ hy sinh lãng mạn của bình mực “mang trên mình trăm mảnh trăng tròn, trăm mảnh bầu trời ngoài khung cửa sổ”. Thằng nhỏ học đệ lục, đã tìm thấy một thế giới bằng hữu và mộng tưởng phiêu lưu trong tình bạn của đôi guốc gỗ. Còn đứa nhỏ tám tuổi đã nghiêng con mắt nai thương xót một thứ đồ chơi thân quý mắc nạn trên dây điện đầu đường. Riêng tôi, tôi thích tất cả cuốn truyện, nhưng nếu phải chọn lựa, có lẽ tôi bằng lòng nhất truyện “Trung Thu Của Bác Đèn Xếp” và “Những Mũi Tên Trưởng Thành”.

    Khi tôi nói ra sự tuyển lựa của tôi, mấy đứa nhỏ đều chê mà nói rằng: “Bố không biết đọc”. Có lẽ sự nhận xét của chúng đúng, vì tâm hồn mà càng triết lý càng dùi mài thì càng xa sự vật. Trẻ con nhìn sự vật đơn sơ, người lớn nhìn sự vật khúc mắc. Trẻ con xem truyện, người lớn xem những gì đằng sau câu truyện, hay ở giữa câu truyện nên tất nhiên khó có sự hòa đồng.

    Vì thế ở trên, tôi mới dám nói rằng truyện Những Giọt Mực không phải dành riêng cho trẻ con, mà nó còn là đầu đề suy nghĩ cho người lớn nữa.

    Tuy nhiên, tôi và gia đình đều phải cám ơn bạn Lê Tất Điều. Cốt truyện của bạn đã khiến bố con tôi bàn tán, cãi nhau hoài mà không ai chịu ai. Một cuốn truyện gây được một tác động như vậy, hẳn là một cuốn truyện đáng đọc…..

    Ký giả Lô Răng.