Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Shop sửa xe hôm nay ít việc, để mặc mấy anh thợ làm lai rai bên ngoài, anh Bông ngồi trong gian phòng nhỏ chật, trên bàn bừa bộn giấy má, sổ sách, hóa đơn…Mọi thứ còn lấm lem dấu vết dầu nhớt hay vương vấn mùi dầu nhớt. Nhưng dù thế nào nó cũng là office của chủ nhân tiệm sửa xe.

    Anh ngả người ra, gác chân lên bàn, ngửa mặt sờ râu, vừa nghỉ xả hơi vừa lo lo nghĩ đến vợ. Suốt từ chiều hôm qua đến giờ vợ giận hờn anh, mặt lạnh và không thèm đếm xỉa đến chồng, mà lỗi cũng tại anh “nhẹ dạ” với người khách sửa xe sồn sồn xinh đẹp, chị ta bước vào văn phòng này để thanh toán hóa đơn sau khi xe chị đã được sửa xong với định gía là 500 đồng, chị ta không móc bóp trả tiền ngay cho anh nhờ, mà ngồi tán hưu tán vượn, khen shop của anh lớn và tối tân, giàn thợ của anh toàn những người giỏi tay nghề và …khen anh tử tế, tính gía hợp lý, phải chăng, rất đáng tin cậy theo như lời đồn đãi của nhiều người, để cuối cùng chị ta xin anh chủ bớt tiền vì chị là khách quen, sửa xe ở đây nhiều lần.

    Giá 500 đồng là giá đã cân nhắc gồm tiền phụ tùng và tiền công thợ, nhưng nghe một người phụ nữ xinh đẹp hết lời khen ngợi, đề cao mình, anh Bông đã cao hứng bất ngờ bớt ngay cho bà khách hàng trẻ tuổi xinh đẹp 100 đồng cho …hào hoa và đẹp mặt, vì không lẽ bớt vài chục lẻ tẻ..?

    Khách hài lòng hớn hở vừa bước ra khỏi văn phòng thì chị Bông xầm xập bước ngay vào, không hài lòng chút nào, mặt đỏ lên vì giận:

    - Nãy giờ tôi đứng ngoài cửa nghe hết rồi, anh dễ bị đàn bà dụ ngọt qúa vậy? chị ta mới nịnh nọt 5 phút được bớt ngay 100 đồng, nếu nịnh thêm chút nữa không biết sẽ tới đâu ?

    Anh Bông lúng ta lúng túng:

    - Sao em… rình mò nghe mà không… thẳng thắn bước vào trong thì …đỡ cho anh…

    Chị Bông càng sôi giận lên:

    - Tôi mà thèm rình mò anh hả? Chẳng qua là tôi đi shopping về, sẵn đi ngang qua đây ghé vào định khoe anh cái áo mới mua. Thấy anh có khách nên tôi phải đứng ngoài chờ nhờ thế mới thấy cảnh “dại gái” của anh.

    Rồi chị đay nghiến:

    - Chắc bà khách này quen thuộc và ưu tiên lắm chứ gì? Vào trả tiền mà nói chuyện đẩy đưa với ông chủ không muốn dứt.

    Anh Bông khổ sở phân bua:

    - Mặt mày tay chân luôn dính dầu mỡ chứng tỏ anh luôn bận rộn thế này thì giờ đâu mà để ý đến mặt mũi khách hàng, nào biết ai lạ hay quen…??

    - Đúng thế, nhưng với một người đàn bà đẹp thì người ta sẽ nhớ hoài, khó quên, kể cả đàn bà và đàn ông. Đàn bà nhớ đến vì ganh tị, còn đàn ông vì xao xuyến. Sách báo tâm lý nói thế đấy.

    Anh Bông vụng về chống đỡ:

    - Ừ, thì bà ấy là khách quen nên anh bớt, chứ không vì đẹp hay xấu…

    - Trời ơi, thử nhan sắc Thị Nở anh có bớt không? anh đã “cho không” người ta 100 đồng dễ dàng, trong khi tôi đi chợ thiếu 1 đồng cũng không bước ra khỏi chợ được, anh biết chưa?

    - Biết rồi mà !

    Chị Bông vẫn đay nghiến:

    - 100 đồng đó tôi đi shopping hàng on sale cũng ôm về nhà một đống đồ, anh biết chưa?

    - Biết rồi mà !

    Thế là về nhà anh Bông bị vợ giận, bây giờ nghĩ lại anh thấy mình “dại gái” thật, vợ giận cũng đáng đời vì bớt 100 đồng là mất trắng tiền công thợ, coi như sửa xe…miễn phí cho người đẹp, tiết kiệm giùm chồng con nàng, chứ anh có sơ múi được gì ngoài nụ cười và lời cám ơn rối rít của nàng trong vài phút giây phù du ngắn ngủi?

    Công nhận phụ nữ đẹp “lợi hại” thật, anh từng tự hào mình là người đàn ông đứng đắn, chung tình với vợ mà đôi khi cũng bị những cơn gío phất phơ làm lung lay cành lá cây đại thụ.
    Giờ đây anh đang moi tim, moi óc mà chưa tìm ra cách làm hòa với vợ cho vui nhà vui cửa, mặc dù anh đã thề thốt, hứa hẹn với vợ là không bao giờ bớt tiền sửa xe cho phụ nữ nữa, nhất là “con mẹ” kia, nhưng vợ anh vẫn chưa tha.

    Đang mải suy nghĩ thì tiếng phone reo, thì ra là Hiếu thằng bạn thân từ hồi trung học và tiếp tục chơi thân với nhau khi gặp nhau bên Mỹ :

    - Ê Bông, tuần sau tao về Việt Nam nè, mày về với tao một chuyến đi? Tháng này vé máy bay đang on sale rẻ bèo.

    Anh Bông quên chuyện mình, ngạc nhiên hỏi:

    - Gì mà về liên tục vậy, mới cách đây vài tháng mày đã về Việt Nam rồi mà?

    - Ừa, bữa đó ba tao đau. Kỳ này má tao…đau.

    - Trời, mày luôn có lý do để về thăm Việt Nam. Hết ba đau tới má đau…

    Hiếu bổ sung thêm:

    - Còn bà nội, bà ngoại tao nữa, cứ ai đau ốm là tao về thăm ngay, cho nên tao về Việt Nam thường xuyên như người ta đi buôn. Đến nỗi có lần tao về Việt Nam đợt một trở lại Mỹ và quay về Việt Nam đợt hai, tình cờ gặp một người quen, nó ngạc nhiên hỏi: “Ủa, tao đã gặp mày cách đây 2 tháng mà sao tới giờ này mày vẫn còn ở đây? chuyến này mày về Việt Nam ở lâu dữ vậy?”

    Hiếu thích chí khoe:

    - Nhà tao làm business thành công, đắt hàng, vợ luôn tham công tiếc việc đâu dám đóng cửa nghỉ đi chơi, nên bên Việt Nam có chuyện lớn nhỏ gì cũng cho tao về “đại diện”. Xong việc gia đình là tới việc của tao, về Việt Nam có các em trẻ măng tha hồ cho mình lựa chọn, có tiền, có đô la Mỹ trong tay mình là Thượng Đế mà. Các em hầu hạ, chiều chuộng dạ thưa ngọt ngào để… bù lỗ cho mụ vợ già, dịu dàng thì hiếm, cáu gắt mắng mỏ thì luôn hậu hĩnh đổ vào đầu mình suốt nhiều năm nay. Tội gì không về?

    Anh Bông phản đối:

    - Vợ mày khỏang 40 như vợ tao mà mày đã liệt kê vào tuổi già sớm thế?

    Hiếu cãi:

    - Tao hỏi mày 40 tuổi so với 18, đôi mươi thì không gìa chát gìa chúa à? Chưa kể là “hàng” cũ xài rồi…Mà tao rủ mày về Việt Nam là chọc mày cho vui thôi, chứ tao thừa biết.mày là thằng đàn ông yêu kính vợ. Tính nết mày từ thời học chung trung học, quen ai, yêu ai thì chỉ biết có người ấy. Không hiểu sao tao vẫn thân với mày dù chúng ta là hai con đường ngược chiều.

    Anh Bông kể cho bạn:

    - Không ai hiểu tao bằng mày. Tao đang bị vợ giận hờn đây, vẫn cái tính đỏng đảnh như hồi mới quen nhau, yêu nhau. Hôm qua tao chỉ bớt cho bà khách sửa xe chút tiền mà bị vợ giận cho tới hôm nay luôn.

    - Nhưng vấn đề là bà khách này già hay trẻ? xấu hay đẹp?

    - Vừa trẻ vừa đẹp thì tao mới cảm động và bớt ngay cho bà ta 100 đồng chứ. Thử một ông già hay bà già, có ngồi nịnh nọt và trả gía cả giờ đồng hồ chưa chắc tao bớt cho đồng nào.

    - Tao biết ngay mà, vợ mày tiếc tiền thì ít nhưng nổi cơn ghen thì nhiều đấy, vì khách hàng là một thiếu phụ trẻ đẹp. Thôi chào nhé, chiều nay đóng cửa tiệm sớm về nhà với vợ ngay để làm huề đi.

    Anh Bông buông phone, thì vài phút sau tiếng phone lại reo, anh cầm phone lên và chán nản nói ngay:

    - Tao vừa nói rồi mà, không bao giờ tao về Việt Nam một mình như mày đâu, đừng có nhiều lời rủ rê nữa cho mất công cả đôi bên..

    Giọng lạnh lùng xoáy vào trong máy nghe:

    - Tôi đây…

    Anh Bông giật mình khi nhận ra tiếng nói của chị Bông:

    - Ủa, em đó hả?

    - Phải, tôi đây…

    Anh Bông mừng vui nói một hơi dài:

    - Em gọi là tha lỗi cho anh và hết giận anh rồi hả? Lòng anh luôn ngay thẳng em ơi, nãy có thằng bạn gọi phone rủ anh về Việt Nam chơi, anh từ chối ngay, khi phone em gọi lại anh tưởng nó nên khẳng định thêm một lần nữa, em nghe thấy chưa?

    Giọng chị Bông vẫn lạnh lùng:

    - Nghe rồi, nhưng mặc kệ anh, tôi không thèm để ý đến chuyện đó…

    - Trời ơi, em giận dai nhách như mấy cái rẻ rách lau dầu nhớt của shop anh vậy đó, chốc nữa về nhà thấy em giận anh buồn lắm. Vậy chứ em gọi anh có chuyện gì?

    - Nghe đây nè, anh hãy nghe cho kỹ đây nè…

    Anh Bông hồi hộp:

    - Ừ, anh đang nghe đây, có chuyện gì xảy ra nữa mà em căng thẳng thế?

    - Tôi muốn nhấn mạnh với anh rằng hôm nay là ngày lễ Valentine, ngày lễ Tình Yêu, anh đừng mua hoa tặng tôi nhé. Tôi không thèm nhận đâu. Nhất định tôi không thèm nhận đâu. Tôi cúp phone đây.

    Nghe giọng nói anh tưởng tượng ra ngay cả điệu bộ của vợ đang ngoe nguẩy cúp phone. Anh Bông mừng húm vội hét lên như ngày xưa Archimede đang ngồi trong bồn tắm bỗng tìm ra sức đẩy của nước, của chất lỏng:

    - Ôi, em ơi, anh hiểu ra rồi !

    Nhưng chị Bông đã cúp phone nhanh hơn anh tưởng.

    Thì ra hôm nay là ngày lễ Tình Yêu.

    Anh Bông nhìn đồng hồ, đã hơn 2 giờ trưa, sự bận rộn cộng thêm sự giận hờn của vợ làm đầu óc anh rối ren và u mê đi, anh quên mất hôm nay là ngày Valentine, hàng năm cứ ngày này anh đã order hoa gởi về nhà cho vợ từ buổi sáng để chị đón hoa tươi của chồng và chưng bày trong nhà, rồi buổi chiều anh về sớm để cùng vợ con đi ăn tối.

    Thì ra chị Bông đã “sốt ruột” nhắc nhở anh Bông khi qúa nửa trưa mà không nhận được hoa của anh gởi tặng, cái vẻ “lạnh lùng” nói chuyện lúc nãy mới đáng yêu làm sao. Chị đã tha “tội” cho chồng và “gợi ý”cho anh cơ hội làm hòa, đơn giản thế mà anh chẳng nghĩ ra.
    Ngày xưa anh Bông yêu chị Bông cũng ở nét nũng nịu đáng yêu ấy, sống với nhau mười mấy năm mà cái duyên của chị vẫn còn, vẫn hấp dẫn anh.

    Anh Bông nhẹ tênh cả lòng, bước ra khỏi văn phòng, xuống shop, nói với mấy anh thợ:

    - Chiều nay chúng ta về sớm nhé…về mà mua hoa tặng vợ hay người yêu rồi còn hẹn hò nhau.

    Một anh thợ trêu chọc:

    - Và anh chủ cũng về nhà đưa chị chủ đi chơi ngày lễ tình yêu nữa đấy.

    Anh Bông vui vẻ xác nhận:

    - Đúng thế. Hoan hô tình yêu dù mới hay cũ. Hoan hô ngày lễ Tình Yêu.

    Thay vì order bình hoa gởi về nhà vẫn kịp, anh Bông sẽ ra tiệm mua và tận tay mang về một bó hoa với những loại hoa mà chị yêu thích để “tạ lỗi” với vợ.

    Anh Bông về nhà, vào tận phòng ngủ khi chị đang ngồi soi gương chải tóc, chắc là đang làm dáng, làm điệu để đón anh về, nhưng chị không ngờ anh về sớm đến thế. “Chính sách mỹ nhân kế” của vợ mỗi khi vợ chồng giận nhau anh đã quen thuộc và vẫn là kẻ bị ngất ngư, choáng váng….

    Anh ngắm vợ, khen:

    - Ngày lễ Tình Yêu có khác, trông em càng đẹp ra, càng tình thêm ra…

    Anh đứng sát vào chị, lịch sự nhưng âu yếm chìa bó hoa ra:

    - Cho anh lời xin lỗi và được tặng em bó hoa ngày lễ Tình Yêu này nhé em?

    Tức thì chị vênh mặt về hướng khác, lạnh lùng:

    - Đừng tặng hoa cho tôi, anh mang ra bếp mà cắm hoa cho nồi niêu, soong chảo nó ngắm.

    - Em nỡ lòng nào để bó hoa yêu này vào bếp?

    - Vậy thì anh mang hoa của anh vào phòng tắm cho xà bông, khăn mặt và khăn bông nó ngắm.

    Anh Bông năn nỉ:

    - Thôi, em đừng hành hạ bó hoa tình yêu của anh nữa, nhưng chính em đã ra “tín hiệu” cho anh, nhắc nhở anh mà…

    Mặt chị vẫn vênh lên như miếng bánh tráng vừa nướng trên than hồng:

    - Tôi gọi phone để nói cho anh biết là đừng tặng hoa cho tôi trong ngày lễ Tình Yêu này, tôi sẽ không thèm nhận đấy... Trăm ngàn lần không và triệu triệu lần cũng không. Thế thôi.

    Anh Bông cương quyết:

    - Trăm ngàn lần “có” và triệu triệu lần “có”. Anh tin thế, vì khi phụ nữ nói “không” là “có”, là em muốn nhắc anh mua hoa về tặng em, khi em chưa thấy hoa anh gởi đến như mọi năm. Em sợ trễ, em sợ anh quên luôn, em đã hết giận anh và em vẫn yêu anh…

    Chị xích người ra xa khỏi anh và ngắt ngang:

    - Này, anh ngừng đi nhé, anh đừng tưởng tượng quá lời nhé. Tôi lập lại thêm một triệu lần nữa là “Đừng tặng hoa cho tôi”

    Anh lại áp sát người vào vợ, đây cũng là một “chiến dịch lì lợm tấn công” làm lành của anh để đáp lại “chiến dịch mỹ nhân kế” của vợ.:

    - Em vẫn như ngày xưa, bắt anh chơi trò đuổi bắt và đong đưa tình làm anh “mệt mỏi” và “tan nát” cả trái tim. Anh biết lỗi rồi, anh xin thề thêm một triệu lần nữa là không bao giờ để lòng “nghiêng ngả” vì lời tán dương của bất cứ bà khách hàng sửa xe nào mà bớt tiền cho chúng nó cả, dù chúng có đẹp đến nỗi làm chim sa cá lặn.

    Chị Bông vùng vằng:

    - Nói thì nhớ lời đấy. Thà bớt tiền sửa xe cho bà gìa hay các ông, các chú bác lớn tuổi thấy phước đức hơn…còn mấy mụ đàn bà trẻ đẹp anh cứ “chém” gía đắt vào, tội lỗi gì em chịu.

    Anh biết là vợ giận nói thế thôi, chứ chém giá đắt qúa thì tiệm sẽ ế ẩm, lấy gì nuôi vợ nuôi con? Đúng là vợ anh đang ghen, thằng bạn chỉ nghe sơ câu chuyện mà đoán đúng tâm lý phụ nữ qúa trời, Anh Bông sung sướng hãnh diện cười thầm, nhưng vẫn ra vẻ “nhún nhường” cho vừa lòng “kênh kiệu” của vợ:

    - Vậy em nhận hoa giùm anh, rồi chiều nay anh mời em và hai con một buổi ăn tối tưng bừng. Hai con đâu rồi hở em?

    - Anh về sớm hơn mọi ngày nên chúng nó đi học chưa về…

    - Chỉ có hai đứa mình ở nhà thôi, vậy em cho anh tặng em một nụ hôn thắm thiết nhất, tình tứ nhất ngay bây giờ nhé, như lần đầu tiên anh hôn em đó.

    Chị Bông vừa đặt bó hoa xuống giường thì anh Bông đã ôm lấy chị bằng vòng tay rất chặt và anh hét to lên trong căn nhà vắng:

    - Anh hạnh phúc quá vợ yêu ơi…Cám ơn ngày lễ Tình Yêu, cám ơn em.

    Chị nũng nịu dụi đầu vào ngực chồng:

    - Người gì đâu mà lì ghê vậy đó, người ta đã nói “ Đừng tặng hoa cho tôi” mà sao anh cứ tặng chứ ?

    Anh nheo nheo mắt trêu vợ:

    - “Đừng tặng hoa cho tôi” nghe sao mà nũng nịu, êm ái, mời chào thế? Chẳng khác nào em đã nói “Hãy tặng hoa cho em” đi.

    Chị mỉm cười, đôi má hơi ửng hồng không biết vì mắc cở hay vì đã có chút phấn hồng?

    Chị vén lại mái tóc vừa rối lên trong tay chồng và ôm bó hoa ra ngoài để trang trí nơi chiếc bàn phòng khách như mỗi mùa Valentine chị đã từng làm.

    Bó hoa của ngày lễ tình yêu, của người chồng sống với chị bằng tình yêu từ ngày cưới nhau đến giờ, mỗi năm mỗi thêm đậm đà, thêm gắn bó cả tình lẫn nghĩa.

    Bó hoa như nhắc nhở cho gia đình chị là tình yêu đẹp khi ta biết tôn trọng và yêu thương lẫn nhau, nên bao giờ chị cũng thấy bó hoa của anh mua tặng chị là bó hoa xinh đẹp nhất trong ngày lễ Tình Yêu, và chị không thể nào thiếu nó được.

    Nguyễn Thị Thanh Dương.
    (Valentine Day. Feb. 14- 2012)
  2. Hãy thử một lần vào những cửa hàng bán hoa, hay vào những địa điểm “triển lãm hoa”, ta sẽ thấy hằng hà sa số loài hoa trên quả đất nầy! Có thể nói, con người đã hầu như thâu tóm tài nguyên đẹp đẽ nhất của đất trời để trang điểm, để làm duyên cuộc sống. Hoa là một trong những nét đẹp điểm tô cho quả địa cầu dáng kiêu sa, vừa huyền bí cũng vừa vương giả! Hoa tô điểm tình yêu, hoa làm cho con người trở nên thánh thiện.

    Nếu nói về huyền thoại ông Adam và bà Eva trong vườn cấm Địa Đàng, ta sẽ thấy những đoá hoa đời đầu tiên mọc xen với cây trái vườn tiên. Trong vườn hoa trái và cảnh đẹp thiên nhiên ấy, “Chúa Trời” đã “thiết kế” sẵn cho hai ông bà một tương lai đầy hương sắc “tình yêu” và cuộc sống sẽ là một chuỗi dài hạnh phúc thần thánh…! Ngay trong thời mông muội đó, con người đã có những ngày cho tình yêu diễm tuyệt. Adam và Eva đã sống với nhau không hề biết có những bất trắc, những lo âu, run sợ trước các thảm hoạ…vì họ “được” Chúa Trời bảo vệ!

    Thế nhưng con người tự dưng phá bỏ hàng rào bảo vệ của “sự thánh thiện”, nghe theo tiếng gọi xúi giục của thèm khát, của đam mê, của những rung cảm trần tục. Con rắn mang lời xúi bẩy đó cũng do bàn tay “Chúa” tạo ra, sống trong vườn địa đàng chung với hai người thánh thiện. Đây mới là mấu chốt của “tội lỗi” để con người có cơ may sanh sôi nẩy nở thành một tập thể nhân loại đông đúc. Cũng nhờ Adam và Ava nghe lời xúi bẩy của con rắn, cho nên tội lỗi lan ra từ khi loài người biết sống, nhưng cũng biết giết hại nhau, tàn sát nhau vì quyền lợi. Tội tổ tiên đã hình thành những trận chiến tàn sát vộ đạo đức quên cả tình yêu thương…

    “Tội tổ tông”, nếu có cũng là phát sinh từ con tim và từ những rung cảm thần thoại về tình yêu thương giữa trai gái, giữa gia đình, dòng họ, tập thể, quốc gia…nhân loại! Nếu hồi ấy, Adam không nghe lời xúi của Eva, không hái trái cấm… thì nhân loại sẽ ra sao? Nếu là như thế thì cho đến hàng muôn vạn đời sau, hai con người nguyên thủy do Chúa dựng nên vẫn còn trong vườn nguyên sinh. Thế giới nầy cũng sẽ chẳng có gì hết…

    Trong chuyện thần thoại Hy Lạp, người ta tôn thờ thần tình yêu Aphrodite. Nàng là biểu tượng của sắc đẹp, của sự đau khổ trong suốt cuộc tình, là những dằn vặt chọn lựa giữa lý trí và con tim mù quáng … Ta lại về với dòng sông phát sinh nhiều tôn giáo khác là hệ thống chằng chịt của sông Hằng. Người Ấn đã thờ thần Shiva, một nữ thần trên tất cả các thần. Trong tình yêu, con người đã không thể cưỡng lại những cám dỗ để chiếm đoạt người mình yêu, từ đó có chiến tranh, có chết chóc. Nên Nữ Thần Shiva tiêu biểu cho tất cả quyền lực đó! Cũng nơi đây phát sinh ra một tôn giáo khác ngay trong lòng những tôn giáo đa thần. Đạo Phật do Thích Ca Mâu Ni sáng lập là một tôn giáo lấy nhân bản làm gốc, cho nên tình yêu muôn loài được đặc biệt tôn trọng.

    Trải qua nhiêu ngàn năm, kể từ khi con người còn ăn lông ở lổ, tình yêu đã là sức sống, là nối kết và là mầm móng của sinh tồn! Câu chuyện về tình yêu, những huyền thoại chung quanh sự rung động của con tim có thể không thể nào kể xiết. Nhưng gần gũi nhất vẫn là tình yêu lứa đôi, biểu tượng cho sức sống vươn lên, phá tan xích xiềng của lý trí. Tình yêu là sợi chỉ nhỏ trong suốt quấn quanh cổ của lý trí. Khi nào lý trí thắng thế thì tình yêu phải chịu nằm yên tiệm tiến. Nhưng tình yêu không bao giờ chịu khuất phục lý trí. Từ cổ chí kim, không biết bao nhiêu triều đại, không biết bao nhiêu vua chúa, không biết bao nhiêu là con người khôn ngoan… cuối cùng cũng phải gục chết cho tình yêu hay vì tình yêu mà thất thủ!

    Ngày Valentine chỉ là một điểm nhỏ trong muôn ngàn vì sao tình yêu. Nhưng nó sáng lên từ những rào cản không đâu về một câu chuyện do lý trí sắp đặt. Câu chuyện chung quanh những ngăn cản vô lý. Vì thế tình yêu bổng có chân, nó vùng dậy bẻ khoá xích! Có lẽ ngày nay từ ngữ Valentine làm cho những người yêu nhau đồng hoá với “con tim”. Nhưng vị thánh tên Valentine đâu có ngờ rằng tên mình được người đời ca tụng thành một biểu tượng cho những con tim từng rung cảm vì khát khao đến với nhau, ôm lấy nhau, hôn quyện vào nhau…Cho dù lúc đó súng đạn nổ bên tai, mưa giăng đầy lối, hay động đất sóng thần! Thế mới biết những người đang YÊU thì không có sức mạnh nào cản nổi!

    Ngày Valentine 2012
    letamanh


  3. Lê Tam Anh

    Ông Duy vừa thắp nhang vừa nhìn vào hình trên bàn thờ. Trong lòng thoáng buồn – Mới ngày nào - ông nghĩ, bây giờ những bậc sinh thành đã lần lượt ra đi. Vợ ông bưng hai đĩa trái cây, mấy hộp mức, bánh tét, bình trà pha sẳn … Bà trân trọng sắp từng món lên bàn thờ. Từ ngày về căn nhà nầy, ngoài trang thờ Phật Thích Ca, ông Duy còn thiết lập thêm hai bàn thờ, ngăn thờ cha vợ, ngăn tiếp theo thờ cha mẹ. Bà mẹ vợ của ông năm nay đã chín mươi chín tuổi, trí nhớ đã kém, nhưng sức khỏe vẫn tốt. Bà đang được con gái út chăm sóc ở quê nhà…

    Những năm đầu định cư ở Mỹ, vợ chồng ông liên tiếp phải dời hết chung cư nầy đến chung cư khác vì rất nhiều lý do. Một gia đình qua Hoa Kỳ theo diện HO, tị nạn Cộng Sản, những năm đầu tiên phải chật vật lắm mới có thể lo được cho ba đứa con theo học tại các Đại Học. Vợ ông, vừa học ESL ở một trường Cộng Đồng, vừa nhận làm trong xưởng may áo quần do một người Việt làm chủ. Phần ông thì theo học hết một năm computer về ngành Autocad . ra trường năm 1992, nhằm lúc kinh tế Mỹ khủng hoảng, xin việc hảng nào cũng làm mấy tháng là bị cho nghĩ việc.

    Nhưng có lẽ trời còn thương gia đình ông, nên xui khiến ông đến Disneyland xin việc. Hôm phỏng vấn, người Mỹ già hỏi ông ở Việt Nam làm gì. Ông trả lời là Sĩ Quan VNCH, sau năm 1975 bị đi tù ngoài Bắc Việt. Ông Mỹ già chăm chú nghe và hỏi, trong tù ông ăn những gì hàng ngày. Vốn liếng Anh ngữ của ông Duy không đủ diễn tả, vì bất ngờ ông không biết dịch từ ngữ củ mì là gì! Ông nói vòng vo là hàng ngày ông và đồng đội ăn rễ cây. Ông ta hỏi có phải là “under ground potato”. Ông Duy trả lời không phải. Thế là ông ta diện thoại cho một người Việt ở đâu đó, bảo ông Duy trực tiếp cầm phôn, Bên đầu giây dịch lại cho ông Mỹ phỏng vấn, nhưng anh ta cũng dịch là under ground potato! Ông Mỹ mĩm cười nhìn Duy, cất resumer vào cặp, bắt tay Duy và nói, ông ta là cựu quân nhân Hoa Kỳ, có thời gian phục vụ tại Cam Ranh, ông ta rất có cảm tình với người lính Việt Nam. Buổi phỏng vấn tìm việc của ông Duy chỉ có thế. Ba ngày sau ông được gọi vào làm việc.…Thế mà thấm thoát đã mười tám năm phục vụ cho khu vui chơi nhất thế giới, ông về hưu ở tuổi sáu mươi sáu, con cái đứa nào cũng có gia đình, công ăn việc làm ổn định. Vợ chồng ông Duy, giờ đây an hưởng tuổi già.

    Đã hai mươi mấy mùa xuân trên quê hương thứ hai, gia đình ông Duy theo tục lệ ông cha, đêm Giao Thừa, các con đều tề tựu, sau khi lạy bàn thờ đón Tết, tất cả con cháu chúc thọ vợ chồng ông và nhận bao lì xì. Trong lúc ăn bánh uống trà, ông Duy thường kể cho con cháu nghe những kỷ niệm khó quên, một thời khổ đau của gia đình phải gánh chịu theo vận nước. Năm nay, ông kể cho cả nhà nghe kỷ niệm những ngày Tết sau khi Hiệp Định Paris, ngày 27 tháng 1 năm 1973.

    oOo

    Ngoài phố Westminster, những tràng pháo nổ lách tách đã rời rạc sau Giao Thừa. Năm nay Cộng Đồng Người Việt tại Mỹ ăn Tết linh đình. Bây giờ có lẽ rất đông Phật Tử về các chùa trong khu vực lễ Phật. Gia Đình ông Duy thì quây quần trước bàn thờ Phật và Gia Tiên. Trên bàn thờ khói hương ấm cúng, con cháu vui vầy đông đủ, lòng ông Duy hạnh phúc. Ông nhìn bà vợ đang lăn xăn vui vẽ sửa lại mấy cành đào. Lòng ông cũng rộn ràng. Thằng Út vừa bồng con gái lên bốn, vừa dắt tay đứa con trai lên sáu, vợ nó ăn mặc chỉnh tề theo sau, từ trên lầu tung tăng đi xuống. Hai đứa nhỏ vòng tay chúc Tết ông Bà Nội. Năm nay vợ chồng thằng Cả và gia đình đứa con gái ở San Jose không về được.

    - Mời Ba Má dùng trà, Chúng con chúc thọ Ba Má!

    - Ngồi xuống đi, năm nay không biết con gì ra đời

    Bà Duy ngồi xuống bên hai cháu, nhìn ông Duy đang cầm ly trà nhâm nhi, bà trả lời:

    - Ở xứ Mỹ nầy ồn ào quá, biết con gì kêu hay gáy trước mà đoán biết được. – Rồi quay sang nhìn ông Duy - Năm nay đón Tết vui như thế này, hạnh phúc như vầy, ông có còn gì mong ước không?

    - Tôi chẳng có gì để thắc mắc khiếu nại! Bà có nhớ lời tôi nói lúc mình được lên máy bay qua vùng đất hứa không?

    - Ông nhắc lại đi! Lâu quá tôi quên.

    Ông Duy ứ một cái, làm ra vẻ trách vợ, rồi cầm ly trà mời bà:

    - Mừng sức khỏe của bà! Hồi đó, sau khi phỏng vấn, được định cư Mỹ là gia đình mình trúng số độc đắc cho một cuộc đổi đời. Nếu không có ngày đó thì bây giờ mấy đứa con mình giỏi lắm cũng làm công nhân quét đường là ngon lắm! Bây giờ, nếu ai hỏi tôi còn muốn gì nữa, tôi sẽ trả lời là: Nếu cho tôi có điều ước, tôi sẽ nhường cho người khác. Gia đình mình như thế là quá đủ rồi! Không ước điều gì thêm nữa.

    - Còn chứ! Ước được luôn khỏe mạnh.

    - Gần bảy chục rồi là ông trời cho mình bonus, còn đòi hỏi quá làm chi! Sức khỏe là do mình tự phải lo. Không ai có thể lo cho mình được. Không tập thể dục, không kiêng cử thì trời cũng thua…!

    Nhâm nhi miếng mức gừng, uống hớp trà, ông Duy vỗ vai vợ cười:

    - Bà còn nhớ Pleiku không?

    - Vợ chồng con cái mình đã ở đó từ 1970 đến 1975 mà sao không nhớ! Cái xứ gió núi mưa mùa, đất đỏ, bùn đỏ đầy trơn trợt… Làm sao tôi quên.

    Ông Duy trìu mến nhìn bà, quay qua thằng Út:

    - Ba còn nhớ cái Tết đầy kỷ niệm năm 1973, lúc đó chị Vy của con sanh được mấy tháng. Thằng Cả mới lên ba. Tết ta nhằm vào ngày thứ Bảy, 3 tháng 2. Nhưng ngày 27 tháng 1 năm 1973 là ngày Hiệp Định Paris ký kết, rơi vào ngày 24 tháng Chạp; trước Tết Nguyên Đán Quý Sữu chỉ có chín ngày. Trước đó, Bộ Tổng Tham Mưu và Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã hối hã lập kế hoạch cho một trận chiến về chính trị chống lại kế hoạch “giành dân lấn đất” của Cộng Sản…

    Bà Duy cướp lời ông:

    - À! Ông muốn nhắ'c đến những ngày Tết “giành dân lấn đất” chứ gì! Ăn miếng bánh tét đi rồi kể cho thằng Út nó nghe. Nó sanh năm 1974 thì không thể nào hình dung được những gì xãy ra trước đó.

    Ông Duy phì cười nhìn cả nhà:

    - Dầu cho thằng Cả hay con Vy, cũng chẳng hình dung được thời gian vào những ngày chúng nó sống ở Pleiku chứ nói gì đến câu chuyện tôi sắp kể về trận chiến sau Hiệp Định Paris.

    Thằng cháu nội cầm bao lì xì chạy đến ôm chân ông nội nũng nịu:

    - Ông nội không hát cho con nghe mà nói cái gì lung tung không hiểu gì hết.

    Nói rồi nó nhãy vào lòng, ôm chặc lấy ông. Ông Duy hạnh phúc ôm hôn thằng bé, âu yếm nhìn đứa cháu gái đang đứng giương tròn đôi mắt cười với bà nội, ông tiếp:

    - Trước ngày ký hiệp định khoảng tuần lễ, quân đội được đặt trong tình trạng thiết quân luật, họp hành liên miên và theo dỏi diễn tiến từ các công điện, công văn liên quan đến các hoạt động phía Cộng Quân và phía “Đồng Minh” Hoa Kỳ. Riêng ngành CTCT thì chuẫn bị nhân sự, các Sĩ quan thống thuộc sẽ dẫn đầu những toán Sinh Viên Sĩ Quan từ các quân trường đến tận thôn xóm xa xôi công tác. Toàn thể SVSQ đang học tại Quân Trường Đồng Đế ở Nha Trang đều ba lô nón sắt về các Tiểu Khu thuộc Quân Đòan II thi hành nhiệm vụ. Thế là những anh “lính sữa”, chưa kịp mang lon chuẫn úy, vì nhu cầu chiến thuật, đã phải lên đường…

    Bà Duy nhìn ông âu yếm xen vào, mắt bà hướng về vợ chồng thằng Út:

    - Vì thế mà ba của con, sau khi các bên ký kết Hiệp Định Paris, đã dẫn hai chục anh Sinh Viên Sĩ Quan công tác ở một số buôn làng tận quận Thanh An…và nhà mình năm ấy không ăn Tết!

    Thằng Út thắc mắc:

    - Ba giải thích, trong thời gian đó, bản Hiệp Định đã ký, có nghĩa là không còn đánh nhau nữa; sao phải làm cái việc điều động quân?

    Ông Duy nhìn thằng con, 1975, nó mới tròn một tuổi. Lúc ông ở tù từ miền Bắc về thì nó cũng vừa lên bảy, đang học lớp hai trường làng. Khi qua Mỹ, nó được mười sáu. Câu hỏi của nó làm ông nhớ lại một kỷ niệm khó quên. Có lần ông nghe nó học bài thuộc lòng: “Ông Lenin ở nước Nga – mà em những tưởng như là Việt Nam…” Ông gọi nó vào và viết lại một bài thơ theo vận Tố Hữu: “ Ông Lê Nin ở nước Nga – mà sao em tưởng ông cha của mình…”. Ông bảo nó đưa bài thơ đó cho cô giáo. Ngày hôm sau nó nói với ông là nó không dám đưa bài thơ. Lý do nó sợ ông lại vô tù, mẹ con nó phải thăm nuôi như những lần bồng bế nhau ra bắc thăm ông… Ông Duy nhìn nó thong thả trả lời:

    - Như con biết, trong hiệp định Paris, quân đội miền Bắc được quyền ở tại chỗ, còn gọi là Hiệp Định Da Beo. Nếu sơn màu vàng và màu đỏ trên bản đồ, những nơi Cộng quân có mặt và những nơi quân ta trú đóng, nhìn giống như tấm da beo trải dài từ Vỹ Tuyến 17 vào tận miền Nam. Cho nên sau khi các bên ký kết thì một trận chiến khác tàn độc hơn, đó là cuộc chiến “giành dân lấn đất”, ban ngày dân và đất thuộc về ta, ban đêm lại thuộc về địch. Trên nguyên tắc hai bên không được đánh nhau, thi hành những điều khoản được ký… Nhưng trên thực tế thì Cộng Quân luôn xảo trá, dùng đủ phương sách để lấn từng tất đất giành từng làng dân cư… Ba dẫn hai mươi Sinh Viên Sĩ Quan khóa 3/72 Quân Trường Đồng Đế, nhận sự vụ lệnh, trực chỉ quận Thanh An, thuộc tỉnh Pleiku. Trước kia, thời Đệ Nhất Cộng Hòa là những khu trù mật Dinh Điền mang tên quận Lệ Thanh. Đức Cơ trở thành địa danh lịch sử, thuộc quận Thanh An, biên giới với Cam Bốt, nơi từng xãy ra cuộc chiến khốc liệt thương vong hai bên khá nặng. Ba và hai mươi “chuẫn sĩ quan” vát súng đóng chốt gọi là đi chiến dịch. Một bài hát của Phạm Duy : “ …Hay Đức Cơ Đồng Xoài Bình Giả… anh trở về hàng cây nghiêng ngã…” nói lên cái nguy hiểm nơi Ba và đồng đội ngày đệm cô đơn với những người dân kinh cũng như thượng ở đó. Con đường 19Bis nối dài từ Hàm Rồng đến Đức Cơ gập gềnh đá và đất đỏ. Những ngày đầu tiên toán của Ba trình diện ông quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng Thanh An. Họat động và đóng quân ban đêm tại một ấp Chiến Lược cũ, cách quận đường khoảng ba cây số. Toán của Ba chịu trách nhiệm công tác “Dân Sự Vụ” suốt từ ấp chiến lược đó lên đến khu nhà thờ Thanh An do Cha Thành, quản nhiệm.

    Phải nói đến cái Ấp Diên Thùy, nơi Ba và hai mươi lính tò te “tạm trú” ban đêm, ban ngày đi “công tác” dọc con đường 19Bis. Sau năm 1963, khi Chính Phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị đảo chánh, toàn bộ Ấp Chiến Lược bị phá hủy. Nhưng riêng Ấp Diên Thùy được bà con tự nguyện giữ lại. Người dân sống trong ấp nầy, từ Bình Định, Quảng Ngải, Quãng Nam… Đến trong những năm có kế hoạch Dinh Điền. Họ quần tụ và bảo vệ nhau trước mọi hiểm họa. Ban ngày họ đi làm từng tóan trong rừng,trên các cánh đồng trồng ngủ cốc. Ban đêm các cánh cổng vào ấp được đóng kín, chia nhau canh gác, hổ trợ cho một trung đội Nghĩa Quân. Dân số trong ấp chừng hai trăm nóc nhà, xây dựng bằng những vật liệu tại chổ như tranh, tre, đất sét, nhưng ấm cúng và đẹp mắt. trong ấp có một trường tiểu học do một cô giáo tốt nghiệp trường Sư Phạm Qui Nhơn làm Hiệu Trưởng. Ngoài ra cũng có một bệnh xá, một nữ y tá từ tỉnh bổ nhiệm khá đẹp.

    Tóan công tác gồm có hai chục SVSQ tò te xử dụng súng còn lạng quạng. Tóan chỉ huy là một Trung Sĩ già, một binh nhì hộ tống cho Ba. Tất cả là hai mươi ba người.

    Đêm đầu tiên, Ba ra lệnh toàn thể không được vào nhà dân, dùng lều nhà binh, cứ hai người một lều, chia nhau canh gác. Để làm gương, Ba xung phong gác ca đầu, kế đến, chia đều! Đó là ngày 29 tháng 1 năm 1973, Hiệp Định ký được hai ngày. Trên tòan dất nước không biết bao nhiêu tin tức vi phạm đình chiến của dịch. Dân làng còn lạ lẫm với tóan công tác, có mấy bô lảo cầm rựa đi rẫy về ghé qua khu lều đóng quân tìm Ba hỏi lý do. Sau cuộc gặp gở thăm dò, họ rất vui khi trong ấp có “các cháu” về công tác!

    Trời vừa rạng sáng ngày 30 – 1, tức là ngày 27 tháng Chạp, chỉ còn ba ngày nữa là Tết Quý Sữu. Ông Trưởng Ấp Nguyễn Thi Long cầm máy liên lạc C6 – còn gọi là lá lúa – chạy vào lều Ba. Ông ta thông báo là có cờ Mặt Trận Giải Phóng xanh đỏ, sao vàng treo phía ngoài cổng Ấp. Ba bảo ông bình tỉnh và cầm máy gọi về quận Thanh An. Hồi đó máy móc liên lạc trong quân đội không giống như bây giờ. Máy PRC25 là lọai tòan thể QĐ xữ dụng mà cũng chỉ liên lạc được khoảng hai mươi lăm cây số chứ đâu giống như ngày nay mỗi người bọc túi một máy di động liên lạc khắp hòan vũ!

    Khoảng tám giờ sáng, một trung đội Địa Phương Quân mở đường, theo sau là xe của Đại Úy Chi Khu Trưởng. Lá cờ VC treo trên một cành cây ở bìa rừng, lính đi trên đừơng 19Bis, bắn xối xả vào lá cờ. Ai cũng nghĩ phía dưới gốc cây có là cờ là mìn hay lựu đạn gài bẫy. Nhưng riêng Ba thì nghĩ khác. Ba đến bên Đ/Úy Chi Khu Trưởng nói to: “ Trình Đại Bàng, có lẽ mình không nên bắn nhiều tốn đạn vô ích!” Vị chỉ huy quay qua nhìn Ba: “Trung Úy nghĩ sao, có kế hoạch gì hạ cờ địch, để lâu dân chúng bàn tán kỳ lắm!”. . “Theo Em, mục tiêu của ta là bảo vệ dân trong thời gian nầy, mà dân thì họ biết rất rỏ Cộng Sản. Xin Đại Bàng tập trung các vị bô lảo trong ấp nầy hỏi ý kiến và biện pháp…Làm như vậy dân họ nghĩ là mình tin họ, họ sẽ có kế giúp ta!”. Thế là một cuộc gặp chóp nhoáng giữa ông Quận với dân làng. Cụ Lê Văn An, người già nhất trong Ấp nói: “ Thưa ông Quận, chổ treo cờ bên lối mòn vào rừng, có hai cục đá lớn. Chúng tôi thường ngồi ăn trưa nên biết rỏ địa hình. Thôi để dân Ấp xung phong hạ cờ, đừng dùng súng cối hay M79 bắn tốn đạn mà cờ vẫn không hạ được…” Thế là công việc hạ cờ thành công do lòng dân vẫn luôn hướng về ta.

    Ông Quận mừng quá, bắt tay từng người dân trong làng tụ tập xem hạ cờ địch. Chiều hôm đó dân làng được ông Quận thưởng tiền mua một con bê ăn mừng. Sân trường Tiểu Học trong ấp được trang trí sơ sài với mấy cái bàn khiêng từ trong các lớp học. Vì an ninh, ông Quận cáo lổi không có mặt, cử Ba thừa ủy nhiệm. Thế là đêm hôm đó, Ba nói với các bô lảo đải tiệc cho tóan Nhân Dân Tự Vệ ăn trước, sau sáu giờ chiều là họ phải có mặt tại các diểm kích chung quanh rào ấp chiến lược. Ba chỉ thị Trưởng Toán SVSQ Trương Tấn Bình làm Họat Náo Viên cho đêm văn nghệ. Cô Giáo Hà Thu Linh, cô y tá Bùi thị Hà cũng có mặt.

    Sau khi ăn tiêc, lai rai rượu cần là đến văn nghệ. Ba vốn là HT Hướng Đạo, nên xung phong hát những bài yêu nước thời đó qua tiếng vổ tay của tất cả mọi người. Kế là những bài hát về tình yêu, tình lính…Mấy bô lảo đang ngồi gần Ba, bổng đứng lên, nói nhỏ với nhau điều gì đó rồi cùng ra về. Ba hoảng hốt kéo anh Trung Sĩ Quá hỏi lý do, anh ta cười trả lời là bô lảo về nhà lấy nhạc cụ. Ba vui quá, công tác dân sự vụ thành công như thế nầy ngoài dự tính! KéoTrung Sĩ Quá ngồi bên, hỏi anh ta có biết hát Bộ không, anh ta mừng vui như cá gặp nước, nhãy ra giương cằm, vuốt râu xướng: “ Ái! Ái! Như ta đây….” Vừa hát, Trung Sĩ Quá còn nhãy múa đúng theo tuồng tích Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê. Bổng tiếng trống chầu, tiếng đàn cò, tiếng kèn tò te thổi lên. Toàn thể mọi người có mặt củng vỗ tay reo khi bốn bô lảo, mỗi người một nhạc khí hòa theo tiếng hát của Trung Sĩ Quá! Chẳng ai ngờ được bổng nhiên một vở hát bộ tuồng tích, không ai tập dợt trước, lại nổi lên trong không khí đầy “khói súng” như hôm đó. Tiết Đinh San đang hát, thiếu vai Phàn Lê Huê. Từ trong hàng khán giả ngồi quanh dưới đất, một bà lảo khoảng bảy mươi, óm nhom, da mặt nhăm nheo, đứng lên, tiến ra sân cất tiếng hát trong trẻo, đúng vào tuồng tích. Tiếng trống, tiếng kèn, tiếng đờn nhị hòa theo… cả làng từ nam phụ lảo ấu đều tròn mắt ngạc nhiên thích thú. Thế là mấy SVSQ nhà ta thất nghiệp, chỉ ngồi vỗ tay thích quá, vì từ trước đến giờ họ chưa biết Hát Bộ là gì! Bà lảo đóng vai Lê Huê, sau nầy Ba mới biết, trước kia bà là đào hát chính trong một đoàn hát bội của tình Bình Định đi lập nghiệp Dinh điền. Bà ngồi xem anh Trung Sĩ đóng vai Đinh San hay quá nên nhãy ra nhập vai cho trọn vỡ tuồng. Anh Trung Sĩ Quá trước khi vào lính, cũng là một kép hát…

    Buổi văn nghệ đang hồi hấp dẫn và không ai muốn chấm dứt thì nghe tiếng nổ hàng loạt vào Quận Đường, với những ánh chớp lóe sáng ! Ra lệnh tắt đèn măng sông, toàn thể im lặng chạy vào hệ thống giao thông hào, Ba và ông Trưởng Ấp cùng toán nhân dân tự vệ phân phối nhau chạy ra các lô cốt xung quanh hàng rào ấp. Hai chục SVSQ ngơ ngác một lúc cũng giữ tinh thần và những bài học quân trường bắt đầu vào thực tế! Cộng Quân chỉ pháo kích vào BCH Quận nhưng không có dấu hiệu tấn công, Ba lên máy liên lạc, những hỏa tiển chỉ làm sập một góc hầm phía Nam quận, không có thương vong…

    Bà Duy chăm chú nghe chồng kể đến khúc nầy là bà hết kiên nhẫn. Bà đứng dậy, tay bưng ly trà đến bên ông Duy, nhìn các con cháu đang chăm chú nghe chuyện dài chiến tranh; bà ôn tồn:

    - Tại sao câu chuyện nầy đến nay Ba mầy mới nói. Hồi đó, mỗi lần về phép từ Thanh An, chưa bao giờ Ba mầy cho vợ biết những chuyện kinh hòang nầy!

    - Cho Má mầy biết để khóc, để làm cho rối lên hay sao! Chuyện nhà binh, lính tráng thường ngày quen rồi, có gì quan trọng. Hồi tôi còn chỉ huy Đại Đội ở Tam Quan Bồng Sơn, cái chết kề bên, tôi cũng đâu dám nói với Má mầy cho má mầy bỏ tôi trốn về quê sao! Tết năm đó, má mầy và các con nằm queo ở nhà, năm ấy cũng lạnh khiếp.

    - Cái ông nầy. Nếu hồi đó tôi sợ, tôi đâu có theo ông từ trại gia binh nầy đến cư xá SQ nọ khắp vùng chiến thuật… Vợ lính, ăn Tết “mình ênh” cũng nhiều lần, nên năm đó tôi cũng không sợ gì và đâu biết đứt đường, đến bây giờ …

    Ông Duy nhìn vợ âu yếm, ông biết, vì yêu ông, bà đã không còn biết sợ súng đạn; theo ông ở bất cứ nơi đóng quân nào, dù nguy hiểm. Có thể vì thế mà giờ nầy, sau bốn mươi ba năm cưới nhau, qua bao gian nan tù tội, quê hương tan tác, vẫn một lòng với nhau… Ông Duy tằng hắng lấy giọng tiếp:

    - Chuyện địch quân pháo kích vào Quận Đường Thanh An là chuyện nhỏ, chuyện lớn là chúng đắp mô cắt đứt đường 19Bis, con đường huyết mạch từ thị xã Pleiku lên Thanh An. Nếu đi trên Quốc Lộ 14, qua khỏi núi Hàm Rồng, quẹo phải trên QL 19Bis là ta sẽ ngang qua đồn điền trà Bàu Cạn (Cateka). Đi khúc nữa, đường quanh co rất nguy hiểm. Chổ đó Cộng quân bắt dân đắp đất ngang quốc lộ, cắm bảng có mìn. Thế là toán công tác của Ba mất liên lạc với thành phố, cũng tiêu luôn lương thực tiếp tế!

    Hai mươi ba miệng ăn ngồi ngó nhau. Cầu cứu ông Quận thì được trả lời: Chờ mở đường. Điện về Tiểu khu thì khuyên nên kiên nhẫn… Nhưng cái bao tử đâu có chờ hay kiên nhẫn được. Dân chúng trong ấp thì nghèo, nhìn cách họ sống cần kiệm, chỉ nhờ vào nương rẫy, lấy gì dư giả mà xin họ cứu giúp trong lúc chỉ còn ngày một ngày hai là Tết! Má tụi mầy ở nhà trông ngóng, những tưởng Tết nhất thì ít ra Ba cũng về cúng ông bà hay tạt qua một lúc hôn các con…Nhưng, oan nghiệt là con đường chưa giải tỏa, Tiểu Khu và Quân Đoàn II đang phối trí hành quân mở lại lưu thông cho QL 19Bis.

    Trong tóan SVSQ, có người bệnh, nóng sốt. Ba có đem theo một túi cứu thương, trong cũng có nhiều thứ thuốc trị sốt rét, cảm, thuốc đỏ, băng cứu thương v.v… Nhưng việc xin tải thương, là vô phương trừ trường hợp hai bên đánh nhau… Không biết có ai “tiết lộ quân tình” với các bô lảo trong ấp; bất ngờ các cụ kéo nhau đến thăm. Nhìn cảnh “lính đói, lính bệnh” trong lúc giao thông bị cắt, các cụ im lặng ra về. Không biết họ bàn tán thế nào, chiều ba mươi Tết, hai mươi ba mạng được mời vào hai mươi ba nhà dân. Họ tiếp đón bằng cả lòng thành, vui vẻ và hiếu khách. Không những được ăn chung với gia đình mà còn được “Đón Giao Thừa” như người thân trong dòng họ! Sáng ngày mồng một Tết, tuy đường QL vẫn chưa được giải tỏa, khắp nơi đang thiết quân luật; nhưng sân trường tiểu học trong ấp chiến luợc Diên Thùy lại xãy ra một khung cảnh không ai tưởng tượng nổi. Toàn thể mọi người trong làng tụ họp lại, cổng ấp khóa kín, tiếng trống chầu nổi lên, tiếng kèn, tiếng đờn cò réo rắc. Vở tuồng Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê nỗi đình nổi đám như không việc gì xãy ra! Anh trung sĩ già vẫn giữ vai Tiết Đinh San, Bà già bảy mươi tuổi vai nàng Phàn Lê Huê và tiếng hô ba quân là tòan thể khán giả vừa cười vui vừa dạ rân…

    oOo


    Mùa xuân năm 1973 – xuân Quý Sữu – Hiệp Định Ba Lê đã là tiền đề cho những năm kế tiếp, đưa toàn thể dân tộc du vào khúc quanh lịch sử đầy đau thương, kinh thiên động địa. Chiến dịch “giành dân lấn đất” kéo dài rất lâu sau đó. Ông Duy và hai mươi ba người vẫn bám vào dân mà sống, người dân nghèo ở đó tuy mộc mạc nhưng đa số có học tinh thần chống Cộng Sản rất cao. Ông Duy quên mình là sĩ quan chỉ huy, thành một Huynh Trưởng Hướng Đạo, hai mươi SVSQ trở thành Tráng Sinh trong một Tráng Đoàn không tên. Thời gian sinh hoạt với nhau, đã kết thân, cùng hát, cùng vui, cùng ngủ lều trại cùng lo lắng nhau như anh em ruột thịt. Kết thúc thời gian công tác với nhau bằng một Đặc San mang tên “Bụi Hồng” quay ronio. Trong đó là cả một trời thơ văn, tâm tình một giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Rất tiếc tập Đặc San Bụi Hồng dày 240 trang, có hình chụp chung hai mươi ba người anh em kết nghĩa ấy, bây giờ không thể kiếm đâu ra.


    Lê Tam Anh
  4. Suốt tuần nay tôi theo dỏi người đàn bà lạ xuất hiện nơi công viên trước nhà. Dáng người thon nhỏ nhẹ nhàng, bước chân bà đi, tôi tưởng như lướt trên lá khô. Mùa thu đã về, lá vàng rơi rụng phủ đầy sân cỏ. Tôi nhớ lời Ba mình năm xưa, khi chợt thấy người con gái gánh nước đi qua trước nhà “ Cô gái nầy có vỏ nghệ cao!” “Sao ba biết, chỉ là cô gái gánh nước thuê, học võ nghệ làm gì!” “Con nhìn kỹ đi, đôi thùng nước trên vai cô ta chẳng ảnh hưởng đến bước chân, cô bước nhẹ như kẻ nhàn du, người không võ nghệ, với sức nặng của đôi thùng nước đầy thì vai sẽ gồng lên, lúc đi đầu cúi về phía trước”…

    Tôi muốn biết bà nầy làm gì ngoài công viên nên mở cửa bước ra.

    - Chào chị. Tôi là Khánh.

    Người lạ lên tiếng.

    - Chào chị mạnh khỏe, tôi tên Diệp.

    - Nhà chị gần đây không?

    Tôi đưa tay chỉ thẳng:

    - Đó là nhà tôi,

    - Nhà gần vậy mà suốt tháng nay không thấy chị ra tập thể dục,

    - Chị ơi, ông xã tôi phán, tôi là người nắng không ưa mưa không chịu. Ra nắng là sổ mũi ho hen, từ nhỏ đến giớ là vậy. Bác Sĩ dặn phải tập thề dục, nên gần đây tôi có tập trên máy.

    - Buổi sáng nắng tốt nên ra ngoài để hưởng khí trong lành, tập hít thở khí tốt, thải khí độc trong người.

    - Tập hít thở như tập thiền hả chị?

    - Không! Thiền là tập cao cấp, mình tập lọai thường. Tập hít thở không bao giờ mập.

    - Tôi ốm, lúc nào cũng mong được mập, nếu tập như kiểu chị nói thì mình giống như ma đói. Chị biết cách nào tập cho khỏe, mập mạp thì tôi theo chị học.

    - Tôi Việt Nam mới qua khoảng một năm nay. Bên ấy, mỗi sáng tôi ra vườn Tao Đàn hướng dẫn cho các ông bà già tập thể dục cho khỏe mạnh. Thương con thì phải biết cách sống sao cho khỏe, đừng làm con bận lòng lo lắng.

    - Con chị bảo lãnh chị hã? Chị còn nhiều con bên Việt Nam không?

    - Tôi không có con, đây là con nuôi.

    - Chị xin ở nhà thương lúc mới sanh à! Bây giờ nó có biết cha mẹ nó ở đâu không?

    - Sát cạnh nhà. Chuyện như vầy… Ba mươi mấy năm về trước….

    oOo

    Bà Hai nghe tiếng con chó mực đánh hơi người “ hực..hực…”. Ngày như mọi ngày, đêm nào cũng thế, khi cửa nhà đóng kín, chú chó gối dầu lên ngạch cửa mắt lim dim, mũi tai nghe ngóng động tịnh. Ban ngày nó đã ngủ no giấc. Bà Hai khơi lại ngọn đèn dầu, đem khay trầu ra têm. Xé lá trầu làm đôi, quệt thêm một tí vôi đỏ, tay lò mò vào chén cau ngâm, chọn miếng mềm nhất bỏ vào ống ngoáy đồng nhỏ xíu bằng ngón chân cái. Tay trái giữ ống, tay phải dùng chìa ngoáy liên hồi, mỏi tay bà lại ngừng. “Ôi! Cái đời sao khổ quá, trẻ nhỏ không đủ ăn…” Bà lầm bầm nho nhỏ. Bên cạnh chiếc phảng gỏ bà ngồi là chiếc giường nhỏ, hai mẹ con đứa con dâu. Đứa bé chỉ một tuổi chưa biết đi. Nó có vẻ èo uột, đêm nào cũng khóc. Từ hôm mẹ con nó bồng bế về đây, bà đặt trước cửa ra vào chiếc bàn nhỏ cúng lạy trời đất cầu xin phò hộ cho cháu được khỏe mạnh. Bà căn dặn con dâu, thằng bé tuổi dần thì con vái như vầy: “ lạy ông tuổi dần, con tôi dầu quăn môi trớt, miệng dợt răng hô, trán vồ mũi tẹt, xin ông đừng ngó nó làm gì.” Bà còn nhờ ông Bốn trong xóm biết chữ Nho viết giùm vài chữ trên thanh tre: “Đại Nhân bất cần kẻ Tiểu Nhân” và đem cắm ngoài ngã ba đường lộ.

    - Má ơi! Thằng nhỏ nóng quá làm sao đây?

    Nghe con dâu gọi, Bà Hai cắt miếng chanh vắt nước đổ vào miệng cháu. Bà xách ngọn đèn bảo ra vườn, hái một nắm lá rau tần dày lá, lá chùm ruột, lá sống đời. Tất cả bà rữa sạch, cho vào cối đồng bằng cái tô nhỏ giã nhuyễn. Nước cốt bà cho cháu uống một muỗng cà phê, xác lá thì bà thoa từ đầu đến tận chân, loay hoay cả giờ sau đứa bé dịu cơn nóng, chịu ôm mẹ bú không còn khóc nữa.

    Bà đến trước bàn thờ chồng thắp ba cây nhang khấn vái xin phù hộ cho mẹ con được bình an. Bà suy nghĩ, giá ông Hai chưa mất thì nhà không tẻ lạnh thế nầy. Chỉ chưa đến một năm mà cuộc đời bà thay đổi nhiều quá. Cửa tiệm bán thực phẩm của bà, nhờ trời cứ sáng ra mở cửa là có người vào mua, hàng hóa chất đầy nhà. Bổng dưng thiên hạ xôn xao, kẻ đóng cửa bỏ nhà, người từ đâu xa lạ kéo vào dập phá vơ vét bất kể nhà bỏ trống hay có chủ.Bà kịp thời rời khỏi nhà, nhìn kẻ lạ vào khuân vát, ngay cả chén bát nồi niêu, họ không chừa món nào… Lòng bà thật dững dưng không tiếc nuối mà chỉ nghĩ đến gia đình đứa con trai đi lính biết có an toàn tính mạng không!

    Của mất thay người, bà Hai thường an ủi như thế. Giờ đây bên cạnh bà còn có đứa con dâu và cháu nội. thằng con đã phải vào tù cải tạo tận miền Bắc, nên con dâu mới bồng con về sống với bà. Bà cứ luôn an ủi: “Con ráng nuôi thằng nhỏ, khi ba nó về thấy con mình mạnh giỏi nó mừng lắm!” Nhưng lắm lúc nhìn dâu mình quá trẻ, chồng tù tội mịt mù tăm hơi, bà cũng chảy nước mắt. Sanh ly não lòng còn hơn tử biệt mà!

    Con mực bổng chạy xổ ra sân sủa inh ỏi.

    - Bà Hai, coi chừng chó nghen!

    - Mực mực…!

    Bà Hai tay cầm chiếc roi đon đả ra sân mắng chó::

    - Chào Thầy!

    - Dạ! con cháu mà bà Hai, Cháu vào thăm bà, có khỏe không? Tối nay nhớ đi họp nghen! Có cán bộ trên tỉnh về thăm xóm mình.

    - Dạ! Dạ!

    Bà Hai đi vội ra ngỏ, tỏ ý không mời khách, nhưng anh cán bộ trẻ cứ liếc mắt vào nhà, chân bước vô không cần chủ mời. Hắn chăm chăm nhìn cô gái trẻ đang nằm trên võng cho con bú phơi bộ ngực căng tròn. Cô gái thấy người lạ thình lình xuất hiện, nàng cuống quít, nhưng đành giả vờ nhắm mắt như tuồng hai mẹ con đang ngủ để khỏi phải chào khách và cũng giấu ngượng ngùng. Từ ngày về đây sống với mẹ chồng, Quỳnh Như không thấy người khách nầy bao giờ, nay bổng dưng xuất hiện. Nàng cũng loáng thoáng hiểu người nầy là cán bộ mới đổi về và kêu gọi đồng bào nhóm họp tối nay.

    - Họp hành gì tối nào cũng họp, người già, ban ngày bán lưng cho trời, bán mặt cho đất, tối còn bị hành hạ. Chẳng ai hiểu họ nói gì, tiếng Tây không phải Tây, tiếng Tàu không phải Tàu… Còn Mụ Mỳ, nay là cán bộ phụ nữ, đọc không thông, muốn ngừng chỗ nào tùy hứng, chã ra thế nào hết, trời cũng không hiểu nổi huống hồ nông dân ít chữ như bà con xóm mình đây.

    - Má! Thằng cán bộ đi xa chưa? Má nói lớn quá nó nghe thì khổ cho mẹ con mình.

    - Nó đi xa rồi!

    - Mụ Mỳ đó nhãy núi về hay ở đâu ra hả má?

    - Không, bà ta thuộc gia đình không ruộng. Thời trẻ, lúc nào cũng say sưa, trong xóm, nếu có con heo con gà dịch chết là gọi bà ta.

    - Bà làm gì với loại súc vật đó?

    - Làm đồ nhậu, vài lít rượu, con gì nuốt cũng trôi tuồn tuột.

    - Đàn bà sao biết nhậu hả má!

    - Nghe bà kể, thuở còn con gái mới lớn thường bị nhức đầu, bà thử uống vài đồng rượu trắng, sau đó thấy tưới tỉnh nên hàng ngày làm mướn được ít đồng là mua rượu uống. Rượu vào bà thấy hăng hái tươi tỉnh ra. Sau nầy thành nghiện, rồi ngủ bụi ngủ bờ không biết đường bò về nhà nữa! Tuổi con gái mới lớn đẹp lồ lộ bị bọn du thủ du thực hảm hiếp rồi sinh con. Mà cũng nhờ có vài đứa con đó lớn lên chí thú làm ăn nên nay bà cũng có chổ nương thân lúc tuổi già.

    - Kể như bà ấy có hậu vận tốt!

    - Ừ! Hết ngày rồi đến đêm, hết đêm rồi tới ngày; theo Đức Khổng Tử thì vạn vật trong vũ trụ cứ biến hóa theo lẽ điều hòa và lẽ tương đối mà lưu hành mãi mãi không lúc nào nghĩ. Thiên đạo đã không nhứt định thì ở đời có việc gì là nhất định được. Thôi má đi họp đây. Nhớ đóng cửa kỷ, để cửa tụi nó vô nói chuyện, sinh ra việc không tốt!

    Bà Hai tay xách chiếc đèn bảo. Bà phải đi qua ba thửa ruộng mới tới trụ sở đình để họp. Mặc dầu nơi đây là nơi chôn nhau cắt rốn, bà chào đời trong làng xóm này nhưng khi vừa mười bảy tuổi bà đã lên phố cách nhà khoãng hai mươi cây số lập nghiệp. Việc mua bán thích hợp với khả năng và đam mê của bà.Thời gian buôn bán thịnh vượng bà mua thêm vài mẫu ruộng rồi cho bà con làm, đến mùa thu hoạch họ trả bằng lúa như công mướn ruộng…

    Mấy ngày nay cán bộ cho học tập, ruộng phải vào làm ăn tập thể, ai không trực tiếp xuống ruộng không có công điểm nghĩa là không có lúa. Những người làm ruộng cho bà nay trả ruộng. Bà bấm bụng ký tên hiến ruộng chứ lúc trẻ chưa làm nổi, giờ này già làm gì đươc…Lúc nào chợ còn nhóm, còn người mua kẻ bán là mình còn có cách sinh nhai mà, trời tính chứ mình tính đươc gì, tai họa giáng xuống cả bầu trời chứ riêng gì mình…

    Người thiếu phụ trẻ nhìn con ngủ say rồi quay ra nhìn căn nhà vắng lạnh, chiếc bàn thờ lờ mờ chiếc ảnh người quá cố bên cạnh chiếc đèn dầu leo lét. “Bao giờ chồng mình trở về, hay là vùi thây nơi thâm sơn cùng cốc.”

    Con Mực bỗng như giật mình nhảy bổ lên sủa vang, nàng sợ hải áp tai vào cửa nghe ngóng.Tiếng chân đi gần vào sân nhà, con Mực không sủa nữa chỉ hực nho nhỏ, nàng đoán chừng có lẽ là người đã lui tới nhà mình đôi lần rồi nên vừa nghe tiếng gõ cửa nàng đã lên tiếng:

    -Má tôi đã đi họp rồi.

    - Cô mở cửa đi, tôi có chuyện quan trọng muốn nói với cô.

    - Sáng mai ông trở lại, đêm tối mẹ tôi vắng nhà tôi không thể mở cửa được.

    - Mở cửa, khám xét nhà có người trốn học tập cải tạo.

    Quỳnh Như sợ hải mở cửa nhìn ra chỉ thấy gã đàn ông lúc chiều đến gọi đi họp. Vừa sợ vừa tức giận, nàng gay gắt:

    - Ông muốn tìm ai? Ai trốn cải tạo?

    - Quỳnh Như, em không nhận ra anh sao?

    Nàng giật mình khi nghe gọi đúng tên. Nàng cũng vừa nhận ra Tính cùng học chung lớp với nàng hồi Trung Học ở Ban mê thuột; anh ta bị “người bên kia” chận xe bắt đi cùng với vài người bạn khác trường trên đường họ đi cắm trại. Lúc ấy có người đồn, Ba Tính đã về Nam sau nhiều năm tập kết tổ chức việc nầy. Ông muốn đưa con vào bưng hoạt động. Thời gian lâu, tất cả như xóa nhòa. Quỳnh Như giả vờ:

    - Xin lổi tôi không biết ông là ai

    - Tính đây nè, ngày ấy anh và Quỳnh Như cùng về chung đường mỗi buổi tan học.

    - Tại sao hôm nay anh có mặt ở đây?

    - Chuyện dài dòng lắm, có dịp anh sẽ thuật lại cho em nghe. Anh nhận ra em ngay khi vừa bước chân vào căn nhà nầy. Anh hỏi thăm những người chung quanh, biết chồng em đã đi cải tạo. Có bao giờ em soi gương ngắm mình không? Em còn quá trẻ, em không thể chờ đợi một người mà chính bản thân họ chưa rỏ họ bị tội gì và ngày về là bao nhiêu năm, mười năm, hai mươi năm hay năm chục năm…Em hãy tự lo cho thân em.

    - Anh đi ra ngay! Tôi chưa hề là bạn của anh, anh lầm người rồi!

    Người đàn ông đứng dậy ra cửa không trả lời, không tỏ vẻ nóng giận. Quỳnh Như vội vàng đóng chặt cửa. Nàng hiểu rỏ Tính không dể dàng buông tha nàng vì ngày xưa Tính yêu nàng và nàng cũng yêu Tính, nhưng thình lình anh ta mất tích, nàng buồn khá lâu. Mọi chuyện tưởng như đã xóa nhòa trong dĩ vãng. Hôm nay bổng dưng gặp lại, hai người bây giờ là hai ranh giới khác biệt.

    Hôm sau bà Hai xách đèn đi họp như mọi ngày. Gã đàn ông lãng vãng gần đó. Nữa giờ sau lại gỏ cửa. Nàng biết chắc chắn là Tính, muốn lờ đi không nghe nhưng lại sợ nhà hàng xóm nhìn thấy có đàn ông đợi trước cửa nên vội vàng ra mở. Tính khôn ngoan nhắc nhỡ những kỷ niệm, chuyện của những ngày xưa thân ái. Quỳnh Như thấy Tính không có gì đáng sợ như mình vẫn tưởng. Rồi dần dần tình củ không rũ cũng đến, họ đã vượt qua tình bạn đơn thuần. Người đàn bà yếu đưối như nàng cả về thể chất lẫn tinh thần, làm sao thóat được sự cám dỗ của dục vọng khi nàng vẫn còn quá trẻ! Tính càng ngày càng mê mệt Quỳnh Như, gái một con trông mòn con mắt. Nàng bây giờ là con thú đói lòng…

    Rồi một đêm Tính đề nghị hai người cùng vượt biên. Ba Tính đã chuẫn bị chuyến đi nầy. Nàng do dự:

    - Anh cho bé Bòn Bon theo chứ?

    - Em nghĩ kỹ đi, nó có đủ sức chống chọi với gió ngoài biển khơi không? Bao nhiêu ngày chưa biết được, đi như vậy là đem mạng sống mình đánh đổi hai chữ tự do. Chồng em, biết có ngày về không? Để lại đứa bé cho bà nội nó nuôi; sau nầy bà có chổ nương cậy lúc về già. Đó là thượng sách!

    - Chỉ nghĩ đến câu ca: “trời mưa bong bóng bập bồng – mẹ đi lấy chồng con ở với ai” Em xót xa như cắt từng đọan ruột.

    - Chẳng phải trong bụng em còn có đứa bé con chúng mình vừa tượng hình sao? Em ăn nói thế nào với mẹ chồng khi anh đã ra đi.

    Quỳnh Như cúi đầu lặng thinh, chân bước đi lòng như cuộn chỉ rối, bên tai tiếng khóc trẻ thơ luôn ám ảnh.

    oOo

    - Má ơi! Cháu nội Dì Hai sao khóc nhiều quá vậy, mẹ nó đâu không dỗ?

    - Ừ, lạ thật, từ trước đến giờ có nghe nó khóc nhiều như thế đâu, để má qua bên ấy xem thử.

    - Má đợi một lát cho con cùng đi với.

    Bước vào nhà Dì Hai Khánh thật ngỡ ngàng khi thấy cảnh hai bà cháu ôm nhau khóc. Bà Tư mẹ Khánh ôn tồn hỏi:

    - Mẹ cháu đâu không dỗ nó hả Dì Hai?

    - Nó bỏ con đi rồi.

    - Tôi nói ra sợ chị buồn nên im lặng, chứ tháng nay đêm nào cũng thấy chú cán bộ vào nhà chị mỗi buổi tối chị đi họp. Vào khoãng một giờ thì đi ra.

    - Trời ơi! Tôi nào hay biết. Mà tôi không trách nó đâu, nó trẻ quá làm sao ở vậy chờ chồng được, biết đợi đến bao giờ, nó đi mà để lại thằng nhỏ này là nó biết đạo nghĩa lắm rồi.

    Khánh xà ngay vào ôm đứa bé trong tay bà Hai, nàng xoa lưng cháu hát nho nhỏ:

    - Ầu ơ! Ví dầu cá lóc nấu canh
    Nêm nắm cho ngọt, nêm hành cho thơm.
    Ầu ơ! Cháu ơi cháu ngủ cho lâu,
    Mẹ cháu đi cấy dồng sâu chưa về
    Bắt được con cá rô trê,
    Trồng cổ mang về dì cháu mình ăn.
    Ầu ơ! Ví dầu cá bóng đánh đu,
    Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu.


    Thằng bé khóc lâu dường như đã mệt nó lim dim mắt rồi lăn ra ngủ say. Khánh nhìn thằng bé suy nghĩ “ước gì mình cũng có một đứa bé làm con nuôi . Thằng bé giống cha quá”. Bỗng mẹ nàng lên tiếng cắt đứt dòng suy nghĩ:

    - Chị Hai ngày xưa hai chị em mình thân nhau thường hứa hẹn, nếu sau này người có con trai, người có con gái thì sẽ gả cho tụi nó thành vợ chồng, nhưng rồi chúng mình không thực hiện dược. Nay cha mẹ thằng bé này vắng mặt, chị cho con Khánh làm mẹ đỡ dầu nuôi cháu, cháu nội của chị là cháu ngoại của tôi nghen. Này chị thấy không họ có duyên lành với nhau nên nằm trong tay Khánh nó ngủ ngon lành, không khóc nữa.

    - Khánh còn trẻ, nó còn phải đi lấy chồng và sanh con…

    Khánh vội lên tiếng:

    - Dì Hai nghĩ coi , người tương xứng thì vô tù và đi vượt biên hết rồi. Cháu cũng vừa có ý nghĩ ước ao mình có một cháu bé để nâng niu … Nếu Dì Hai cho phép, cháu thay mặt mẹ nó nuôi thằng nhỏ. Nghề dạy học của cháu cũng có nhiều thời gian rãnh rỗi, cháu săn sóc được.

    Khánh chờ đợi phản ứng của Dì Hai. Thấy Dì im lặng nàng bồi thêm “Khi nào ba nó về, cháu sẽ trả nó về với cha nó“. Khánh nhẹ nhàng đặt đứa bé xuống giừơng, rồi hai mẹ con ra về. Bắt đầu bé Bòn Bon được nuôi bằng sửa hộp và ăn bột. Từ nay nó có bà nội, ông bà ngoại và má Khánh nữa. Nó ngoan, khỏe, chóng lớn. Bốn tuổi Bé vào mẫu giáo, nó hát ca suốt ngày làm ai cũng vui, những ngày buồn biến mất trong lòng những người già. Xuân đến rồi xuân đi, thời gian trôi … thỉnh thoảng gia đình mới nhận được một lá thư của con trai gởi về từ những địa danh xa lạ, mọi người chỉ biết cầu mong ơn trên ban phứơc cho anh, chứ không thể nào đi thăm.

    Hôm nay cả nhà mừng vui đón mừng bé Bòn Bon đã chuyển cấp vào lớp sáu. Trong lớp cháu được xếp hạng ưu. Một buổi tiệc nhỏ do má Khánh tổ chức mời tất cả trẻ con trong xóm đến dự. Moi người đang bận rộn bày bàn tiệc, nghe tiếng chó sủa rang ngoài cổng, Khánh gọi lớn “Bòn Bon ra coi chừng chó, bạn con dến mừng con đó.

    Thằng bé chạy nhanh ra cổng la thật lớn:

    - Mẹ ơi! Không phải bạn con”

    - Chứ ai, ai cũng mời vô nhà…

    Thằng bé cúi đầu chào người khách lạ.Người đàn ông nhìn chằm chằm đứa bé làm nó sợ chạy nhanh vào nhà gọi bà nội. Mọi tiếng cười dường như ngưng hẳn, họ đang như từ cung trăng rớt xuống. Một gã đàn ông ốm đói trong bộ quần áo cũ nhàu xuất hiện nơi ngưỡng cừa:

    - Mẹ!

    - Con tôi đây mà…Con về sao không báo trước

    - Nhà mình có việc gì huyên náo quá vậy.

    - Đây là buổi tiệc cô Khánh tổ chức mừng gia đình mình đoàn tụ… Đây là…

    - Là Khánh, con còn nhớ ngày xưa má thường nhắc nhở với con về lời hứa của hai người bạn

    Hai bà già nghe con nói tủm tỉm cười. Cô giáo Khánh mặt thẹn thùng, nàng chợt nhớ tới lời hứa “trả Bòn Bon khi ba nó trở về” nàng thoáng nghĩ ngợi rồi tự nhủ, cái gì của mình là của mình chẳng mất mát được, mà cái gì không phải của mình có muốn cũng không được. Thằng bé chẳng hiểu việc gì chạy lại nắm tay mẹ lay lay, hỏi:

    - Là ai đây mà nhà mình mừng quá vậy?

    - Đố con…

    - Con chưa gặp lần nào, nhưng cũng thấy vui quá!


    Mỹ Hiệp
  5. (Để tưởng niệm những người đã chết trong biến cố 911)

    Chiếc phi cơ từ từ rời bãi đậu và chầm chậm chạy ra đường băng chính để chuẫn bị cất cánh. Tiếng động cơ nhè nhẹ, tiếng người nữ tiếp viên thông báo những điều cần thiết về trường hợp cấp cứu, người nam tiếp viên làm mẫu những động tác để hành khách có thể thực hành lúc cấp bách, tiếng lách tách của những khóa nịt lưng... Lương cúi người ngắm chiếc máy điện thoại trước mặt ẫn sau lưng hàng ghế trước, mĩm cười bâng quơ. Chàng vói tay lấy tập san quảng cáo trong chiếc ngăn phía dưới điện thoại. Anh lật nhanh và đang dán mắt vào trang báo với hình ảnh quần đảo Hạ Uy Di... chưa kịp đọc thì Trâm thỏ thẻ bên tai:

    - Kìa mình! Máy bay vừa rời khỏi phi trường. Sao em thấy có cái gì làm em hồi hộp quá! Có điềm chẳng lành chăng?

    Lương quay qua nhìn Trâm ngạc nhiên:

    - Em thấy thế nào? Có lẽ vì máy bay qua mây lắc lư một tí làm cho em sợ! Em thì hay đoán già đoán non... Chưa bỏ được những gì khủng khiếp, kinh hoàng ở quê nhà và trên tàu vượt biên hay sao? Bao nhiêu năm rồi mà em vẫn còn bị ám ảnh...

    Trâm nghiêng đầu trên vai chồng, nhắm mắt:

    - Không phải thế đâu anh! Em cảm nhận hình như có cái gì đó không ổn. Giác quan thứ sáu của em rất nhạy! Anh còn nhớ năm 1992, lúc chúng mình đang còn học ở Berkeley; hôm đó anh lái xe về rủ em đi ăn sáng, em từ chối. Anh giận hỏi tại sao. Em giải thích là hồi tối em nằm mơ thấy anh bị tai nạn... Anh không nghe, lái xe đi cùng mấy người bạn. Quả thật một giờ sau anh tông vào xe người ta.

    Lương chưa kịp nói gì với vợ thì anh thấy mấy hành khách ngồi ghế trước đồng loạt đứng dậy. Họ toàn là những người trẻ, vẻ mặt khác thường. Lúc ấy máy bay vừa rời phi đạo chừng năm phút. Con tàu vừa vòng qua thành phố Boston đầy ánh sáng ban mai... Có tiếng hô lớn bằng tiếng Anh, giọng Trung Đông phía sau:

    - Tất cả ngồi yên tại chỗ, các bạn sẽ được an toàn trở về phi trường, bằng không chúng tôi sẽ cho bom nổ...!

    - Anh ơi! Đúng là phi cơ bị cướp rồi! Trời ơi, em biết trước mà! Trời ơi!

    Trâm hét lên bên tai Lương, chàng không biết làm gì hơn, há hốc miệng nhìn quang cảnh rùng rợn đang xảy ra trước mắt. Thân hình anh hình như không còn cử động được nữa. Một luồng cảm giác lạnh ngắt chạy rần dọc theo sống lưng, thần trí và phản ứng trong người đều ngưng hết mọi hoạt động. Lương ngồi chết trân nhìn. Tất cả hành khách đều la to và thất thanh trong tiếng khóc, tiếng cầu kinh... Năm tên không tặc cầm con dao nhỏ khống chế hết nhân viên phi hành và mọi người . Chiếc phi cơ lảo đảo, nghiêng qua một chút khi một tên không tặc cắt cổ được một nhân viên phi hành để vào phòng lái. Lương nghe tiếng thét thất thanh từ trong phòng lái. Chiếc máy bay như bị rơi xuống, nghiêng qua một bên. Có tiếng khóc của cô tiếp viên phi hành. Mấy tên không tặc ra ngoài phòng lái hét lên bằng tiếng Trung Đông với nhau...

    Âm thanh hỗn loạn và những tiếng thét thất thanh kêu cứu vô vọng, tiếng động cơ như to hơn. Chiếc phi cơ nghiêng hẳn qua bên trái. Trong phòng lái có tiếng hét và sau đó chiếc phi cơ đâm nhào xuống giống như rơi vào khoảng không gian vô cùng sâu thẳm. Tất cả mọi người như bị rời khỏi mặt ghế, chiếc nịt bụng thắt chặc lại níu kéo thân hình từng hành khách chới với, hổn loạn. Xách tay, đồ dạt bay tứ tung trong lúc chiếc máy bay cứ thế chao đảo và lao thẳng... Người ta không còn biết mình đang ở đâu, chỉ còn nghe tiếng la và tiếng hét... Trong lúc đó bọn cướp phi cơ một tay bám vào thành ghế, tay kia cầm dao hét lên những tiếng Á Rập nghe vô cùng man rợ! Phi cơ cứ lao đi... và cuối cùng người ta bị tung lên về phía trước cùng với tiếng nổ kinh khủng. Phi cơ hình như đang chui vào địa ngục của lửa và tiếng xào xạc man man trong thế giới hư vô...

    Lương cảm thấy mình bị nóng lên, bị tung lên, bị ngất đi trong cảm giác lâng lâng sinh tử. Anh cố mở mắt tìm vợ, không thấy Trâm đâu nữa, anh quờ quạng tìm kiếm. Hai mắt như bị nhắm nghiền không sao mở ra và tay chân như nhẹ tưng trong không gian mịt mù khói và tiếng nổ. Mọi vật đếu mơ hồ không thể nào định được anh đang ngồi hay đứng, đang nằm hay quỳ gối. Lương cố mở mắt nhìn, anh đưa tay dụi mắt và cuối cùng thấy vợ anh đang bay trong không gian, những hành khách cùng đều đang bay. Anh lạ lùng nhìn lại mình đang bay trong khói mù, trong tiếng nổ và trong tiếng la thất thanh kinh hoàng của những người đang chạy dưới mặt đất. Anh ngạc nhiên vì dễ dàng bay đến cạnh vợ mình, trong lúc Trâm cũng vừa nhìn anh hãi hùng bay vòng theo cột khói và lửa. Trâm bay đến nắm lấy tay anh, hai người ôm nhau và cùng la lên:

    - Anh ơi! Hình như mình đã chết rồi!

    - Em ơi! Mình bay được có nghĩa là mình đã chết phải không? Phải không?

    Rồi họ ôm lấy nhau khóc trong không gian hổn độn, trong bầu trời đầy khói mịt mù cùng tiếng nổ. Họ nhìn hai tòa nhà chọc trời đang bốc cháy đầy khói và đang từ từ sụm xuống giống như hai thân xác người bị đốn ngã chìm xuống đại dương, từ từ và thong thả với khói và lửa... Phía bên kia bờ vịnh, Tượng Nữ Thần Tự Do vẫn bình thản giơ cao ngọn đuốc thắp sáng lòng người...

    - Anh ơi! Đây là hai tòa nhà chọc trời trong thành phố New York bị cháy và bị sập. Nhưng tại sao chúng ta mới lên phi cơ, rời Boston chưa đầy mấy mươi phút mà lại bay trên không gian như thế nầy? Anh sờ em thử xem... Ôi! Em có cảm giác là em không còn ôm anh được trong vòng tay, sao anh mềm như không khí, sao anh không thể ôm em được như trước phải không? Trời ơi! Có thể chúng mình đã chết thật rồi... trời ơi!

    Lương cố bình tỉnh và đang tìm lời trấn an vợ. Chàng khiếp đảm không dám nói ra những ý nghĩ của mình. Hình như Trâm nói đúng, có thể chiếc phi cơ đã đâm vào tòa nhà chọc trời và thân xác của mọi người, của chàng và Trâm đã cháy thành tro. Giờ đây chàng và Trâm chỉ còn là hai linh hồn không thân xác đang bay... đang bay... Ôi! Như thế là thật ư! Như thế là vợ chồng chàng không còn trên cỏi đời nầy nữa ư? Làm thế nào đây! Lương nhìn xuống phía dưới đất, người ta đang, kẻ chạy ra, người chạy vào la lên những tiếng thất thanh, tìm nhau và gọi nhau! Hàng đoàn xe chữa lửa, hàng đoàn người mặc đồ cứu hỏa đang tất bậc gọi nhau cứu cấp... Chàng nắm lấy tay Trâm:

    - Chúng ta chưa biết như thế nào, Em hãy bình tỉnh! Mình thử xuống đó xem sao!

    Trâm vừa khóc vừa làm theo lời chồng, nhưng hình như có cái gì đó không ổn, Lương và Trâm nhìn nhau cùng khóc. Họ đã ý thức được rằng họ đã chết, thân xác họ đã tiêu thành tro bụi với chiếc phi cơ chui vào tòa cao ốc. Bàn tay hai người cầm lấy nhau mà vẫn thấy được không gian phía sau bàn tay, họ nhìn nhau mà có thể nhìn xuyên suốt phía sau lưng họ những gì đang xảy ra. Thế có nghĩa là họ không còn có thân xác bình thường. Thế có nghĩa là họ chỉ còn là những linh hồn đang chơi vơi trong không khí... Bằng chứng có thể để họ tin chắc mình đã rời xa sự sống là họ có thể bay được. Họ có thể dể dàng di chuyễn từ chổ này đến chổ khác một cách thoải mái bằng một cử chỉ nhẹ. Nhún vai và khẽ nhảy một phát là thân hình họ có thể bay cao, bay ngang, bay sà sà mặt đất. Có một điều làm cho đôi vợ chồng Lương càng tủi thân là những người dân bình thường đang tất bật trên đường phố New York đều chẳng có ai thấy họ, mặc dù họ đứng chặn đường, cố hét vào tai, cố ra dấu cho người ta là họ đang đứng trước mặt...

    Trâm đi bên chồng mà lòng trăm nổi nhớ con, nhớ nhà. Phải chi không có vụ cướp máy bay của những thằng khốn nạn thì giờ nầy nàng đang ôm thằng Lân vào lòng, tặng cho nó món quà vừa mua ở Boston hôm chúa nhật. Ôi! con ơi! mẹ sẽ chẳng bao giờ sờ được con nữa, nâng niu con được nữa! ... Căn nhà của vợ chồng nàng mới vừa chắc chiu mua được cũng sẽ chẳng bao giờ đón nàng cùng Lương ấp ủ nhau từ phòng khách đến phòng ngủ đầy giấc mơ hạnh phúc...! Nghỉ tới đó nàng khóc bên cạnh chồng. Lương cũng đang nhìn nàng với hai dòng lệ!

    Lương và Trâm đi trên con đường đầy những gạch đá, kim khí, tường vôi đổ và bụi khói ngất trời. Đàng xa là một nhóm người đang tụ tập vừa xĩa xói vừa la hét vào mười tên Trung Đông cướp phi cơ. Vợ chồng Lương chen vào giữa để nhìn rỏ bọn sát nhân đang bị hàng ngàn người cầm đủ thứ cây gỗ hay xà beng trên tay, vừa đánh vừa chữi mắng... Mười tên không tặc vừa hét, đánh trả bằng những con dao từng cầm theo trên phi cơ. Một tên nói bằn tiếng Anh:

    - Chúng tao đưa các người đến gặp Thánh Alad. Tiêu diệt được Đế Quốc Mỹ là chúng tao lên thiên đường ngồi chung với các Thánh! Tụi tao đã làm tròn nhiệm vụ do Thủ Lãnh Osama Bin Laden huấn luyện và kêu gọi. Những người chết trong hai chiếc phi cơ và hàng ngàn người tử vong trong hai tòa nhà cao ốc sẽ được Thánh Alad của chúng tao làm phép cho lên Thiên Đàng...! Chúng tao đang chờ Thánh Alad đến rước đây!

    Đáp lại những lời đầy cuồng tín và độc ác là những trận tấn công của nhóm người đủ mọi sắc tộc vào mười tên ác ôn. Hàng ngàn người đã hét to và cùng lúc đè mười tên không tặc ra xẻo từng miếng thịt, lóc từng gân máu để thỏa mãn nỗi đớn đau. Họ đã chết dưới bàn tay ác quỉ, họ đã vô cùng phẩn uất vì giờ nầy họ bổng nhiên trở thành người không thân xác, làm ma oan. Mười tên cướp phi cơ sẽ chẳng bao giờ thấy được Thánh Alad đến đón vì chúng đã bị xé thành nhiều mảnh, tuy chúng cũng là những linh hồn đã thành cát bụi phú du, vì cuồng tín nên đã nghe theo bọn đầu cơ chính trị đội lớp tôn giáo!

    Trâm và Lương cũng tìm cho mình mỗi người một cục đá, đến gần mấy tên không tặc, nhắm thẳng vào mặt chúng mà đấm, mà đá, mà khóc, mà than...Nhưng hởi ơi! Chúng cũng đã thành ma như mình, thân xác của chúng cũng đã cháy thành tro bụi! Chúng đang đền tội ngay khi những người chết oan trong hai chiếc phi cơ và những nạn nhân trong hai tòa cao ốc lôi chúng ra xử án. Trâm vừa khóc vừa nói với chồng:

    - Mình ơi! Anh ơi! Chúng mình đã phải trốn khỏi quê hương để lánh bọn người khủng bố ở quê nhà; tưởng rằng đã thoát gông cùm xiềng xích, tìm được bên bờ hạnh phúc tự do. Nào ngờ cơ sự thế nầy... Anh ơi! Con của em, thằng Lân đang ở nhà với ngoại. Trời ơi, con tôi! Anh ơi! Hãy đưa em về bằng bất cứ giá nào...

    Lương nhìn vợ đầy uất ức đau thương và phẫn hận, thương nàng và cũng thương mình. Với tuổi ba mươi, hai vợ chồng đang đà thành công trên đường nghề nghiệp. Hai người cùng là Bác Sĩ, làm việc cho cho một nhà thương lớn ở Thung Lũng Hoa Vàng. Giấc mơ của hai người tưởng chừng như đang đơm hoa kết trái... Thế mà giờ đây họ trở thành người thiên cổ, linh hồn họ vất vưởng nương bóng cây, lướt nhẹ trên mây trên gió! Nghĩ đến đó Lương cũng khóc òa theo vợ. Chàng lặng lẽ cầm tay nàng rời khỏi đám oan hồn. Hàng ngàn oan hồn đang la hét, khóc lóc, van xin, cầu kinh ... sau khi xé xác mười tên không tặc!

    Vừa thoát khỏi đám dông oan hồn, Lương và Trâm gặp phải một đám nhân viên chữa lửa và cảnh sát. Họ cũng đã trỡ thành ma, thân xác họ đã vùi chôn trong đống gạch và kim loại vụn vỡ của hai tòa cao ốc World Trade Center . Họ đang đứng vây quanh vị chỉ huy, vị chỉ huy cũng đã chết theo họ trong lúc đang làm nhiệm vụ cứu người... Họ đứng bất động như để cầu nguyện , như đang lắng nghe tiếng cầu kinh của những người còn sống dành cho họ! Họ cũng cố gắng gạt nước mắt khi nhìn bên kia đường phố, vợ con và thân nhân đang réo gọi tên của họ trong thất thanh đau thương vô vọng! Ôi! Có bút giấy nào tả được quang cảnh tiêu điều đầy máu, đầy thảm cảnh và nước mắt giữa những linh hồn người đã chết và những thân nhân, bạn bè, vợ con đang tìm gọi tên nhau!

    Trên đường trở về nhà, Lương và Trâm đã chứng kiến không biết bao nhiêu là linh hồn bị chôn sống trong bốn chiếc phi cơ bị cướp và những bóng ma chết ngạt, chết vì bị hỏa thiêu trong hai tòa cao ốc cũng như ở Ngũ Giác Đài. Chào nhau, hỏi thăm nhau, khóc với nhau, cầu nguyện cho linh hồn nhau... Khuyên nhau an phận, chờ đợi và hy vọng Thượng Đế sẽ cho họ được đầu thai kiếp khác hay lên Thiên Đàng! Họ cũng hẹn cùng nhau phò trợ cho đất nước Hoa Kỳ sớm trả thù cho họ và cho thế giới thấy được hiểm họa của nạn khủng bố quốc tế là kinh khủng như thế nào! Họ lắng tai nghe những lời cầu kinh của người còn sống, đủ mọi thứ tiếng. Nhưng Lương và Trâm nghe rõ nhất là những tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông chùa từ các cộng đồng người Việt Nam tị nạn Cộng Sản đang hướng về họ. Họ cũng chứng kiến cảnh người Việt Nam sắp hàng hiến máu, hiến tiền của cho Hội Hồng Thập Tự Hòa Kỳ... Cả nước Mỹ đã bừng tỉnh, để phẩn uất, để nắm tay nhau, để hát bài quốc ca và hướng về phía trước! Những người còn sống đã hứa sẽ tìm ra thủ phạm và sẽ trả thù!

    Lương và Trâm đến Tòa Bạch Ốc, gặp Tổng Thống George W. Bush và những người trong nội các để cho họ biết tin tức ai là thủ phạm. Chính bọn khủng bố, khi bị những linh hồn chết oan lôi ra tùng xẽo hành hình đã khai rằng Bin Laden là thủ phạm. Thế mà khi Lương cùng Trâm vào Tòa Bạch Ốc, qua các cổng gác vô cùng cẩn mật mà chẳng một người nào hay. Khi ngồi sát bên cạnh tổng thống và các bộ trưởng đang họp mật, cũng chẳng ai thấy vợ chồng chàng. Lương và Trâm cố hết sức hét vào tai từng người, nhất là Tổng Thống Bush, thế mà Ngài vẫn chẳng nghe được tiếng của hai người. Lương và Trâm biết mình đã là ma nên không còn ai có thể thấy, không còn ai có thể nghe, không còn ai có thể phát giác ra sự có mặt của họ trong tòa nhà Hành Pháp giữ một cuộc họp mật như thế nầy! Ôi! Đớn đau thay sự cách biệt giữa người sống và kẻ chết, ngồi bên nhau mà chẳng thể nào thấy nhau...

    Trong lúc đang phẫn uất và đau khổ trước sự thật không thể chối cải được bởi lằn ranh ngăn cách giữa sự sống và sự chết thì Trâm và Lương nghe như có tiếng nhạc bên tai. Có một mùi thơm kỳ diệu lan tỏa khi một người mặt mày đầy râu xuất hiện đến bên hai người. Trâm la lên ngạc nhiên:

    - Tổng Thống Lincoln ! Trời ơi! tôi mơ hay tỉnh! Xin kính chào tổng thống!

    Lương cũng vừa ngạc nhiên vừa sợ:

    - Chào tổng thống...

    Người đó không ai khác hơn là Tổng Thống Lincoln. Người hiền từ đứng đó nhìn hai vợ chồng trẻ, vuốt mái tóc Trâm, quay qua Lương với giọng ôn tồn:

    - Ta rất lấy làm đau xót khi thấy các con bị oan ức. Ta cũng biết hàng ngàn người vô tôi đã không còn nữa vì những thù hận khôn nguôi, vì những định kiến ngông cuồng và chủ nghĩa cực đoan... Nước Mỹ sẽ đứng thẳng dậy và sẽ trả thù cho các con, cho những linh hồn mạng vong tức tưởi trong ngày 11 tháng 9! Ta cũng đã bị chết oan, linh hồn ta thường xuyên bay khắp nơi để phù trợ loài người. Nhưng giữa người và linh hồn không thể nào thấy được nhau, chỉ cảm nhận và cầu nguyện...! Chúc các con tìm được cho mình sự bình an ngay cả trong kiếp oan hồn!

    Nói xong, Người quay lưng ra cửa chính của văn phòng hình bầu dục trong lúc Tổng Thống Bush và nội các đang bàn cải về những biện pháp cấp thời đối phó với tình hình. Chẳng ai hay biết gì cuộc đối thoại giữa vợ chồng Lương và vị tổng thống đã bị ám sát cách đây bao nhiêu năm mà linh hồn vẫn theo dỏi sự tồn vong của đất nước... Khi vị tổng thống quá cố vừa bước ra, cửa chính tự nhiên mở rộng. Lương và Trâm thấy bên ngoài đám đông linh hồn đủ mọi thời trong mấy trăm năm từ khi nước Mỹ lập quốc đều có mặt. Họ trang phục theo mỗi thời đại của họ, có người mang gươm, có người còn đội chiếc nón thời chiến tranh Nam Bắc, những con ngựa chiến được dắt theo phía sau... Vị tổng thống quá cố quay lại nhìn hai người mĩm cười.

    - Các con hãy cố gắng để vượt lên sự hèn nhát và sợ hãi! Hãy nhìn kìa, bao nhiêu thế hệ linh hồn chết oan trong trận mạc đủ mọi thời đại đều có mặt ở đây. Các con hãy nhìn phía trái ta, đó là nhũng chiến sĩ Việt Nam trong thời chiến tranh đang cùng 58,000 linh hồn chiến sĩ Hoa Kỳ cũng có mặt để phù trợ thế giới tiêu diệt khủng bố.Chúng ta sẽ phù trợ cho Việt Nam sớm thoát ách bạo ngược và sớm được tự do...

    Tiếng nhạc lại cất lên bài hùng ca quân đội và bài quốc ca Hoa Kỳ. Những linh hồn chiến binh và tướng tá nhãy lên lưng ngựa tung kiếm về phía trước. Tiếng ngựa hí vang, tiếng vó câu rần rật theo bóng cờ bay trong gió... Thế mà vệ binh quốc gia canh giữ trong ngoài tòa Bạch Ốc, Nội Các và Tổng Thống Bush đều chẳng có ai phát giác điều gì khác lạ đang xãy ra. Lương kéo Trâm ra ngoài và cùng chạy theo một đoạn đường giữa tiếng quân ca hùng tráng. Bóng vó câu mất hút trong bụi mù...

    Lương vả Trâm bay về đến căn nhà của hai người đã quá nửa đêm. San Jose đèn sáng choang như một tấm thảm đầy sao trên vùng trời mơ ước. Hai vợ chồng bay theo đường phố chính mà lòng ngỗn ngang trăm nỗi đoạn trường. Đâu đây họ nghe có tiếng kinh cầu cho linh hồn những người đã bị chôn vùi trong hai tòa cao ốc WTC và bốn phi cơ dân sự bị bọn khủng bố cướp biến thành bom tấn công nước Mỹ. Đâu đây họ cũng nghe tiếng khóc than từ những căn nhà có thân nhân vừa bị chết... Lương và Trâm thấm thía cái cảnh người sống và kẻ đã lìa đời. Giờ đây họ là những bóng quế hồn oan lẫn quất trong cỏi vô thường.

    Căn nhà của hai người đầy ánh sáng và những người thân đang quần tụ tại phòng khách. Họ đang khóc than, họ đang kể lể, họ đang trách móc đủ mọi vấn đề vì được tin vợ chồng Lương đi trên chuyến bay định mệnh. Trâm và Lương xuyên qua cửa sổ bước vào nhà mà không một ai thấy, không ai hay là họ đã trở về! Mà làm sao trách được khi hai người giờ đây đã là người thiên cổ. Trâm vừa khóc vừa hét:

    - Má ơi! Con về đây rồi, con đây mà! Má có thấy con không? Má ơi, má ơi!

    Nàng chạy lại bên mẹ già đang vật vả kể lể trong nước mắt ràn rụa. Bà gọi tên nàng, bà van xin trời phật cho nàng được thoát nạn cùng chồng. Thảm thương thay tre già khóc măng non trong một khung cảnh xa xứ xa quê. Bà chẳng còn ai, chẳng còn ai trong cỏi đời nầy nếu nàng vĩnh viễn xa bà. Xứ lạ quê người làm thế nào bà có thể sống được trong cảnh cô đơn như thế nầy. Nàng quỳ xuống ôm mẹ, lấy hai tay chùi nước mắt cho mẹ. Nhưng tay nàng chạm vào người mẹ mà bà chẳng hế hay biết. Nàng nức nở la to bên tai mẹ:

    - Má ơi! Má ơi! Con đây mà má ơi!

    Lương đứng chết trân nhìn mọi người. Ngoài mẹ Trâm còn có các em chàng từ Nam Cali nghe tin dữ đã lái xe suốt ngày đến nhà chàng. Biết là mình có la to, có cào cấu, có chạy đến ôm từng người thì cũng vô ích vì chàng đã vĩnh viễn là ma! Trời ơi! Chỉ một thoáng là mình đã trở thành hư ảo, chỉ một giây là mình đã ra tro bụi phù du... Ôi cuộc đời sao như thế, số phận mình sao phải thế...? Chàng bổng nhớ đứa con độc nhất mới vừa lên ba. Ôi Thằng Lân đâu rồi, con của ba đâu rồi? Chàng chạy vào phòng ngủ, Lân đang trong giấc ngủ ngon lành trên chiếc giường bé nhỏ. Ôi giấc ngủ thiên thần vô tư. Chàng lấy tay sờ trên trán con, trên má con. Chàng cuối xuống ôm nó vào lòng, khóc vùi trên ngực nó. Thế mà nó vẫn nằm im ngủ say, nó vẫn mĩm cười giấc ngủ trẻ thơ.

    Trâm đến bên Lương nhìn con trong vòng tay chồng mà lòng quặn thắt đớn đau, nàng giành lấy con, nàng hôn xối xả vaò mặt vào người thằng Lân. Hai người ôm lấy nó, khóc than bên tai nó, nâng niu âu yếm nó, nhưng nó vẫn ngủ say. Trâm quay lại nhìn chồng phẩn uất:

    - Làm thế nào đây! làm thế nào đây hởi trời! Chúng tôi có tội tình gì mà phải gánh lấy thảm cảnh nầy... Trời ơi!

    Đêm vẫn đầy sao, đèn vẫn sáng, gió khuya lành lạnh... Tất cả như vô tình, tất cả như chẳng hề hay biết có hai linh hồn chết oan đang ôm con trong tay. Thằng Lân vẫn ngủ, nó cũng chẳng thể nào biết rằng ba má nó đang quỳ bên giường nó khóc ngất giữa biên giới dương thế âm cảnh...!

    Lê Anh Dũng
  6. Hồi nhỏ, ở những lớp tiểu học, có lần tôi được thầy dạy một bài học thuộc lòng như sau:

    Đêm khuya giấc điệp mơ màng
    Kìa ai săn sóc bên giường của tôi,
    Giấc sinh chợt tỉnh bồi hồi
    Kìa ai bế ẳm, kìa ai dỗ dành
    Ấy là công mẹ sinh thành
    làm con phải hiểu phận mình làm sao!


    Có lẽ lúc đó tôi còn ít tuổi nên học cho thuộc bài nầy cũng đã rất khó khăn. Tuy cố công học thuộc để lên trả bài lấy điểm, nhưng tôi cũng không hiểu gì về những ý ẩn chứa trong những câu thơ lục bát nầy. Tôi mơ hồ hiểu đây là một bài thơ ca ngợi người mẹ của mình, người mẹ sớm tối vì con, lo cho con từ miếng ăn giấc ngủ... Thế nhưng, khi tôi đã trưởng thành, có vơ,ï có con, tôi mới thấy hết được cái ý nghĩa của tình mẹ đối với con như thế nào. Hèn chi trong tục ngữ ca dao Việt Nam ta cũng đã có mấy câu:

    Lên non mới biết non cao,
    Nuôi con mới biết công lao mẩu từ!


    Người Việt Nam thường ít khi bày tỏ tình thương mẹ theo kiểu người Tây phương. Thậm chí cũng chẳng bao giờ ngó ngàng gì đến sức khỏe hay để ý mẹ mình muốn ăn gì, thèm thứ gì và cũng chẳng bao giờ cho mẹ quà cáp khi đi xa về. Thường thì chỉ mua quà cho vợ cho con mà quên bẳng rằng mẹ mình cũng cần an ủi... Ôi! càng về gìa ta mới càng thấm thía và mới thấy hết được những suy nghĩ của người có tuổi. Người ta ví von rằng: Đời người ta được biểu diễn bằng một đường parapol, giống như một ngọn đồi, mới sanh ra là bắt đầu leo lên đồi. Đến 50 tuổi là đến đỉnh đồi. Từ đó là ta bắt đầu xuống dốc phía bên kia ngọn đồi. Gần cuối con dốc đó là tuổi già. Những ý nghĩ và thèm muốn trong tuổi ấy cũng giống như con nít vừøa sanh ra đến 10 tuổi. Cho nên mới có câu: “Người già bằng con nít” là vậy.

    Khi người mẹ già thấy con mình đi đâu về mà có món quà nhỏ, tuy chỉ là cái bánh ngọt hay một ít trầu cau cho mẹ... Người mẹ già sẽ vui sướng như đứa trẻ được quà! Cái tâm lý đó khi chúng ta còn trẻ không ai tưởng đến cả! Bây giờ, khi xa mẹ bao nhiêu năm mà không thể nào về Việt Nam một lần thăm mẹ, mới thấy hết được, cảm hết được những nghẹn ngào ! Ai cũng có một người mẹ và chỉ biết có mẹ mình lo cho mình mà không, hay ít khi lo ngược lại. Ông cha ta cũng thường nói, “giọt nước chảy xuống thì tình thương cũng chỉ từ trên nhỏ xuống mà thôi”. Điều này cũng là qui luật cuộc đời. Khi có thai, mang nặng chín tháng mười ngày rồi sinh con, cho con bú, canh giấc ngủ cho con, lo lắng khi con ốm gió trở trời, ôm con vào lòng dỗ dành giấc ngủ... Thì chừng đó ta mới cảm nhận được mẹ của ta như thế nào. Tình thương tuy cứ ban phát dần xuống, nhưng nó vòng vòng trong một hành trình đầy lòng thương yêu, chỉ có người nào từng làm mẹ mới cảm nhận được một cách tuyệt đối!

    Ông Bùi Bảo Trúc thường viết những chuyện trên trời dưới đất, có khi viết những mẫu chẳng ra gì như đi máy bay ngồi bên người hôi nách hay bị ngồi bên cô gái đẹp mà đánh rắm chẳng hạn... Nghe nó chẳng ra chi! Nhưng lần nầy, khi tôi nghe ông đọc trên đài bài có đề tựa hình như là “Người đàn bà rẽ tiền nhất” thì thật tình tôi cảm động muốn khóc. Trong câu chuyện ông kể về người đàn bà không bao giờ muốn nhận quà của con mà chỉ muốn cho quà. Người đàn bà lo cho ông từng miếng ăn, thức uống, may áo cho ông dẫn ông đi học những ngày còn thơ, trông ngóng đàn con khi ra đi hay về trể... Đến cuối cuộc đời người đàn bà ấy, người mẹ ấy vẫn chỉ muốn lo cho con mình mặc dầu biết chúng đã lớn , đã có gia đình... Người đàn bà ấy chỉ làm công không, không đòi hỏi tiền bạc gì cả! Ông Bùi Bảo Trúc muốn chạy về ôm người đàn bà ấy mà riết cho thật chặc, hôn thật lâu, nhưng bà đã là người thiên cổ mấy năm trước. Bây giờ, dầu muốn ôm mẹ vào lòng hôn cho thật lâu cũng không được...!

    Đã mười sáu năm kể từ khi chúng tôi định cư ở Mỹ theo điện HO, chưa có lần về lại Việt Nam để hôn má, hôn ba. Ba tôi má tôi năm nay đã hơn 85, bà mẹ của vợ tôi trong tuổi 93! Thế mà chưa một lần những mong nhớ, chờ thương của họ được thỏa mãn. Tuổi già như chuối ba hương, Ba tôi năm ngoái bị xuất huyết nảo tưởng nằm liệt luôn, nhưng nhờ ơn phước, ông đang tập đi tập nói trở lại như hồi con nít... Má tôi cứ nói trong phône rằng “sao con không về cho má nhìn lần cuối...” Má đâu có biết con đang khổ như thế nào khi không được về thăm má một lần! Cách đây hơn 10 năm, nhân ngày mẹ của Hoa Kỳ, tôi có sáng tác một ca khúc tựa là “Suối Nguồn”, nhưng cũng chỉ để hát cho các con tôi và bạn bè tôi nghe chứ chưa phổ biến. Lời ca như sau:

    Mẹ bế con yêu, mẹ thức thâu canh,
    ước mong con ngày khôn lớn,
    Mẹ hướng con đi, vào biển bao la,
    Sóng vỗ như đời xót xa...!
    Từ lúc con đi, từ đó phân ly,
    Chiến tranh, căm thù, nước mắt!
    Mẹ vẫn ước mơ, lòng nhớ khôn nguôi,
    Mong sớm con về bên mẹ...!


    DK

    Mẹ! Là tiếng hát ngọt ngào,
    Là ánh sáng yêu thương, là sóng lúa nương dâu trong hồn,
    Mẹ là tiếng nói quê hương trong tim người suốt đời...
    Mẹ vẫn xót xa, trời vẫn bao la
    Trách ai chia lìa ngăn cách
    Hẹn với quê hương, từ bến sông Thương
    Con hứa có ngày quay về...


    Tôi có di dự buổi tưởng niệm Bà Tùng Long qua đời tại Sai Gòn với tuổi 93 là cùng tuổi với má vợ tôi. Tôi là bạn Hướng Đạo với con của Bà Tùng Long, Trưởng Nguyễn Đức Lập và anh Nguyễn Đức Trạch. Tôi hỏi riêng các anh ấy rằng sao không về chịu tang mẹ. Anh Trạch nhìn tôi tâm sự: “ Mẹ tôi sinh chín đứa con, chúng tôi đều được mẹ hãnh diện là những tác phẩm ưng ý nhất của Bà. Nhưng hiện giờ tôi có một đứa em đang làm việc cho báo Tuổi Trẻ. Mẹ chúng tôi qua đời, có lẽ sẽ có những người bên kia đến phúng điếu... Tụi tôi về chẳng lẽ bắt tay được với những bàn tay ấy hay sao?” Tôi nghe mà nghẹn ngào nghĩ đến hoàn cảnh của mình!

    Tôi muốn nói với những người đang còn mẹ và, hạnh phúc hơn nữa là đang được gần mẹ rằng: “Chẳng có gì quý giá hơn khi mình đang có một người đàn bà hy sinh cả cuộc đời cho mình, không đòi hỏi phải đền bù, phải trả công lao. Hãy trân trọng và giữ gìn một món quà trân quí ấy, vì nó cũng có thể vuột khỏi tay bạn bất cứ lúc nào.” Đối với những ai đang phải bôn ba lưu đày: “ Cứ nghĩ rằng mình đang là những đứa con bất hiếu dù bạn đang làm đầy đủ bổn phận về tài chánh cho những người thân ở quê nhà! Hãy nhìn lại mình và hy vọng một ngày ta sẽ vêà ôm hôn mẹ, riết thật chặc như ước mơ của nhiều người”

    Má! Hãy ráng sống lâu chờ chúng con!


    Lê Tam Anh
  7. Những mảnh vụn suy tư!

    Lê Tam Anh


    Sự trùng hợp kết duyên với nhau, nên năm 2009 mới xảy ra hàng loạt những chuyện vui. Nếu không phải vậy thì làm thế nào chúng ta có liên tiếp ba sự việc khác nhau xảy ra cùng một lúc cho cùng mục tiêu! Trong bốn năm qua, Văn Đàn Đồng Tâm đã làm được gì và ảnh hưởng ra sao đến kết quả mà, không ai có thể chối cải được rằng: “Đó là dấu chân Phù Đổng”. Nầy nhé! Chúng ta mừng Văn Đàn Đồng Tâm tròn bốn tuổi với chín sách Tuyển Tập Đồng Tâm, sách kỷ niệm nhạc sĩ Anh Bằng và tham dự chương trình Đại Nhạc Hội Anh Bằng do Trung Tâm Asia tổ chức tại Long Beach! Ba sự kiện nầy không hẹn mà góp chung vào một để nổi bật cho người Việt trên toàn thế giới ghi nhận thành quả của nhóm chủ trương Văn Đàn Đồng Tâm!

    Thời gian bốn năm là một thời gian rất ngắn so với hầu hết những công việc có tính lịch sử. Nếu nhiệm kỳ của một tổng thống Mỹ hay với một kế hoạch dự trù cho đất nước trong thời hạn như thế cũng chẳng là cái gì giữa những chuỗi đổi thay thời cuộc. Một nhóm người nhỏ, thành lập ra văn đàn lại mong đội đá vá trời với một ý tưởng không lấy gì là khiêm nhường: “Làm sống lại tinh thần văn học Việt trong tay tuổi trẻ hải ngoại!”. Với hai bàn tay trắng, với thiện chí đầy ắp trong con tim lạc loài muốn tìm về hơi thở quê hương đã đánh thức hàng bao nhiêu cây bút Việt Nam đang lưu vong trên toàn thế giới. Không những thế, một giai đoạn ngắn bốn năm đó đã lôi kéo được tuổi trẻ vào cuộc, làm sống lại tinh thần dân tộc, quật ngã những ý tưởng tha hóa trong từng bài viết, làm sống dậy lòng hăng say tìm hiểu.

    Tuổi trẻ Việt hải ngoại là một lực lượng không thể chối cải, có sức sống mảnh liệt, có khả năng vô bờ, hấp thụ nền giáo dục chính quy, có lòng yêu nước và hoài bảo góp phần xây dựng một Việt nam trong tương lai mạnh giàu! Họ đang đứng trước mặt những bậc tiền bối sanh thành và đang mở to mắt hỏi: “ Tổ quốc cần chúng tôi như thế nào và chúng tôi bằng cách nào để phục vụ?”. Thụ hưởng nền giáo dục ưu tú của đất nước tạm dung, gia nhập vào hàng ngũ trí thức có tính hoàn vũ là một lực lượng ưu việt mà tổ quốc đang cần đến! Họ tuy không nói rành ngôn ngữ mẹ đẻ, tuy sanh ra và lớn lên trên đất khách quê người, nhưng họ vẫn là người Việt Nam.

    Riêng lãnh vực học tiếng Việt, học văn hóa Việt, học viết văn làm thơ tiếng Việt dành cho tuổi trẻ Việt hải ngoại xưa nay vẫn là một vấn đề lớn cho bậc cha anh, vốn lo lắng về một tương lai con cháu gốc Việt không còn đọc hay viết được tiếng mẹ nữa! Chúng ta xa quê hương mới có gần bốn chục năm, mà nhìn xem con cháu cũng đã thấy được điều lo lắng ấy là đúng! Thế một trăm năm nữa thì những người gốc Việt trên thế giới có còn là người Việt nữa không? Chính vì nỗi sợ hãi đó mà Văn Đàn Đồng Tâm mới ra đời, mong thắp một ngọn đuốc trong đêm tối chập chùng sóng dữ và gió bão từ những nền văn minh khác nhau đang làm trốc gốc rừng cây văn hóa Việt hải ngoại. Có thể chúng ta sửa lại câu nói của tiền nhân rằng: “Tiếng Việt còn người Việt còn” khi xưa, để cập nhật hóa cho ngày nay: “Tiếng Việt ở hải ngoại còn thì người Việt hải ngoại còn” hay không?

    Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã làm được cuộc cách mạng, đưa nền văn học Việt chuyển từ chữ Nho qua Quốc Ngữ ngày nay bằng một phương pháp rất thực tế, đáng được đánh giá Vô Cùng Ngoạn Mục! Thời thủ cựu trong các thập niên đầu thế kỷ 20, nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã đánh đổ được thiên kiến cũ, những cây đại thụ trong văn học Việt quay mặt với văn minh. Họ đã thành công để ngày nay con cháu mới có được ngôn ngữ và chữ viết tốt đẹp. Như thế ai là những nhà cách mạng văn học, ai đã làm thay đổi cuộc sống của tư duy?

    Có thể người ta sẽ cho rằng nhóm Văn Đàn Đồng Tâm chỉ là tiếp nối sự nghiệp của nhóm Sáng Tạo trong nước, vì chính Giáo Sư Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ thoát thai từ đó! Chẳng ai phủ nhận điều nầy, nhưng sự khác nhau giữa nhóm Sáng Tạo và nhóm Văn Đàn Đồng Tâm là thực tế! Sự khác biệt thứ nhất là nhóm Sáng Tạo ở trong môi trường quốc nội, được tự do sáng tác, sáng tao ra những dòng văn học nối tiếp trong nền văn hóa Việt. Họ không bị những trở ngại về ngôn ngữ và đối tượng cũng như hoàn cảnh. Nhưng nhóm Văn Đàn Đồng Tâm thì hầu như ngoi lên từ những đổ nát sau cuộc chiến. Đã thế, môi trường sống và mội trường sáng tác cũng không còn nằm trong lòng mẹ mà đã bị quăng ra khỏi bầu sửa dân tộc. Hơn thế nữa, tuổi trẻ Việt sanh ra ở hải ngoại phải học tiếng nước mình đang sinh sống là chính, phải đồng hóa với văn minh và ảnh hưởng nếp sống xứ người. Họ phải đương đầu với bao biến thái môi trường và gánh nặng bằng cấp để thăng tiến. Thế mà trong lòng của họ - tuổi trẻ Việt - vẫn tiềm ẩn dòng máu của rồng tiên… thế nên họ lúc nào cũng hướng về mẹ Việt Nam bên kia bờ đại dương với hoài vọng làm một cái gì đó cho tổ quốc!

    Tiếng Việt và văn hóa Việt hải ngoại một trăm năm sau nầy nếu có thể còn đứng vững để người Việt Nam định cư toàn thế giới hãnh diện hay không, phải có điểm bắt đầu. Văn Đàn Đồng Tâm đúng là điểm bắt đầu cho một trận chiến không tên, không biên giới, không có bất cứ tư tưởng chủ nghĩa nào! Nó đúng là một khai phá vào khu rừng đầy gai và nhiều chất độc. Cứ tưởng tượng hoàn cảnh của từng cá nhân và gánh nặng họ đang mang thì người ta cũng hình dung ra được tương lai tiếng Việt và văn hóa Việt hải ngoại, nếu được trân trọng giữ gìn, thì nó khó khăn đến mức nào!

    Văn Đàn Đồng Tâm đã đề xướng ra một ý tưởng, một việc làm có ích cho văn học và giữ gìn được tiếng mẹ. Nhưng giữ được và thi hành liên tục trong tương lai hay không là một vấn đề khác. Hiện tại Văn Đàn Đồng Tâm gòm có ba người đầu tiên khai phá. Đó là Giáo Sư Doãn Quốc Sĩ, Bác Sĩ Tạ Xuân Thạc và nhà văn Việt Hải. Một danh sách dài những nhà văn, nhà thơ cộng tác trong bốn năm qua là niềm hãnh diện trước mắt. Nhưng chất lượng của những thành quả đó liệu chúng ta có thể phát huy được đến bao giờ thì chưa ai dám khẳng định. Tuổi trẻ hải ngoại càng ngày càng đông, càng có vốn trí thức học được từ các trung tâm đào tạo nhất thê giới. Những cây cổ thụ già trong văn học càng ngày càng ít đi và một ngày nào đó họ sẽ không còn gì trên tầm ảnh hưởng mà chỉ là những bức tranh trên tường để tuổi trẻ chiêm ngưỡng!

    Nan đề đặt ra là những cây cổ thụ già đang trên đường mất đi số lượng lần hồi…Có thể nào và làm cách nào trao tay, bàn giao được nền văn học Việt hải ngoại vào tay tuổi trẻ thật chắc chắn…Và họ có thể hãnh diện nắm giữ vai trò tiếp nối truyền thống cha anh? Văn đàn Đồng Tâm có hoài bảo to lớn và nhiệt thành về mục tiêu khuyến khích tuổi trẻ hải ngoại duy trì tiếng mẹ đẻ và cố gắng phát huy văn hóa Việt thông qua sáng tác văn thơ, nhạc, kịch bằng tiếng Việt. Đây là một tấm lòng vĩ đại, lòng yêu tổ quốc vô bờ của những người khởi xướng Văn Đàn Đồng Tâm. Chúng ta hãy ghi nhận như thế vả hãy hợp tác với họ. Còn tương lai thế nào có lẽ ta phải còn vun trồng thêm niềm tin và lòng dũng cảm!
  8. Cánh tay thần và chiếc đũa thần!


    Lê Tam Anh


    Buổi sáng thứ Bảy vô cùng đẹp tại Nam Cali. Sau khi tập thể dục và làm mấy việc vệ sinh cá nhân, ăn sáng… Tôi ngồi vào ghế bắt đầu xem điện thư và những tin tức thường ngày. Không may cho tôi là máy bị ngưng và có hiện tượng hình như bọ điện toán xâm nhập. Chương trình viết nhạc của anh bạn Hướng Đạo cho mượn tôi cũng vào insert không chạy… Ôi! Nếu ai có những trở ngại trong lúc ngồi trước máy điện toán một lần mới thấy bực dọc và nổi nóng vô căn cứ. Đã chơi với máy điện toán thì cũng phải biết rằng mình đang đánh đu với ma! Mà thực vậy, trước đây mấy năm, có ai ngờ rằng khoa học kỹ thuật tiến đến mức mà, chỉ cần ngồi nhà, chúng ta cũng có thể liên lạc trong vòng một giây đồng hồ với hầu hết những bạn bè quen biết trên khắp hành tinh! Đã ngồi vào chơi với máy điện toán, thì ta dường như lạc vào một thế giới mà mọi ước mơ đều có thể thực hiện được…Vì thế trong cuộc đời thường chúng ta đã có lúc như quên mất đi!

    Hệ thống máy điện toán của tôi cần một bàn tay thật chuyên nghiệp, nói một cách khác là cần một vị thầy thưốc, một Bác Sĩ giỏi đến xem mạch kê toa, chữa bênh… Ngồi loay hoay mãi với con chuột và tìm cách tự làm Bác Sĩ định bệnh và chữa bệnh theo kiến thức của mình, tôi đã phí thời gian gần mấy giờ đồng hồ mò mày không kết quả mà còn rối tung những chương trình được cài đặt trong đó; khiến cho máy chạy chậm lại và càng làm cho mình nhức đầu…

    Bổng nhiên nhớ đến anh bạn Tâm Vô Lệ đang là tổng giám đốc Thư Viện Toàn Cầu trên đường Bolsa. Anh ta dạy về ngành điện toán ở các Đại Học Nam Cali, tôi vội gọi anh ta. May là anh vừa từ Đại Học OCC về đến Thư Viện. Tôi mời anh ta đến nhà để định bệnh cho đứa con điện toán sắp tắt thở của tôi. Anh ta nóí không có thì giờ và bảo tôi đem máy đến Thư Viện Toàn Cầu để cho anh xem. Tôi không thể làm việc nầy đưọc vì máy của tôi to quá, kềnh càng, giây nhợ lủng ca lủng củng… Thế là anh ta chuyễn qua một phương pháp khác, anh nói với tôi:

    - Bây giờ em chuyễn cho anh một điện thư, anh chỉ cần trả lời “yes” rồi bấm vào nút Enter

    - OK, rồi đó!

    - Em đã thấy máy của anh rồi – Sẽ chữa và làm cho nó tốt trở lại

    - Ê! Thấy là thấy cái gì, và chú làm cách nào chữa máy?

    - Em ngồi ở văn phòng, nhưng có thể vào thẳng máy của anh và bây giờ tất cả những gì trong máy của anh đang ở trước mặt của em. Anh cứ yên chí ngồi xem em vừa làm vừa giải thich máy của anh hư ra sao và “Địch” xâm nhập vào máy anh, đánh phá bao nhiêu lần, thám thính anh liên lạc với ai…

    Tôi toát mồ hôi khi nghe Tâm Vô Lệ nói trên phôn, mà còn ngạc nhiên vì trên màn ảnh máy tại nhà tôi tự động làm việc theo một bàn tay vô hình nào đó, chứ không phải là tôi. Mũi tên trên màn ảnh tự động chạy qua chạy lại, bấm vào chổ nầy click vào chổ kia… Hết chương trình nầy hiện lên đến chương trình khác! Lạ lùng hơn nữa là có những chương trình “Thầy Tâm” đưa từ ngoài vô để scan máy, download những data cần thiết để chữa bệnh cho máy và triệt hạ những bọ điện toán, những dữ liệu không cần thiết làm chậm máy cũng như sữa chữa hoàn toàn những sai trái chứa trong máy từ nhiều năm tháng qua!

    Tôi chỉ ngồi theo dỏi và đối thoại với Tâm Vô Lệ mà thấy mình như là một người từ hành tinh cổ đại nào vưà đến, tai nghe, mắt thấy một hiện tượng lạ lùng chưa từng biết trước. Mà thực tế là tôi bị lóa mắt bởi tay “phù thủy” Tâm Vô Lệ. Trước đây, tôi phục anh ta trong các sinh hoạt Hướng Đạo, Cộng Đồng và tinh thần chống Cộng… Nhưng chưa bao giờ tôi biết được thực tài của một thanh niên trẻ, điềm đạm, ít khi “show up” mình trước đám đông. Bàn tay phù thủy nầy đã từng ngồi ở Nam Cali mà thò tay dài vào trong nước để sửa chữa máy, trang bị data, thiết lập bức tường lửa cho rất nhiều máy “...Em làm như thế để có thể bảo vệ được “người của ta”...”! Tâm Vô Lệ nói nhỏ với tôi khi tôi ngạc nhiên hỏi anh.

    Sau gần một giờ ngồi xem máy cuả mình “tự động” khám bệnh, tự động sửa chữa và chạy hoàn hảo theo “lệnh” từ xa… Tôi mới thấy rằng khoa học ngày nay đã tiến đến một bước cực kỳ kinh khiếp ngoài sức tưởng tượng!

    Hôm sau tôi đến Thư Viện Toàn Câu để học hỏi một vài điều. Lúc tôi bước vào là lúc có hai ba lớp học cùng một lúc diễn ra. Nào là học về điều khiển và làm việc với các chương trình mới, nào lớp luyện trí nhớ, lớp dạy các thảo trình với “Cây Đũa Thần”… Cây Đũa Thần là một tập trung của 451 thảo trình do Thư Viện Toàn Cầu lập ra chứa trong một bộ phận chứa tin 8GB. Trong đó người ta có thể sử dụng nó giống như một máy điện toán thâu nhỏ lại còn như ngón tay. Ta có thể đem nó đi bất cứ nơi đâu và muốn xử dụng thì chỉ cần cắm nó vào máy và dùng được 451 công dụng khác nhau như công dụng giúp diệt bọ, làm máy chạy nhanh trở lại, chuyển phim nhạc dễ dàng, học tiếng Anh kiểu Kim tự điển, đánh tiếng Việt “ngon” hơn VNI mà không giới hạn gắn bao nhiêu máy cũng được, học tiếng Việt, nghe đọc tiếng Việt cho người mắt kém, làm sách, làm báo, xem truyền hình trên toàn thế giới... Cây Đũa Thần có bán tại Thư Viện Toàn Cầu, người nào – giỏi hay dỡ về điện toán - cũng nên mua để dùng!

    Ngồi một lúc để quan sát và học hỏi chứ không thể nào trực tiếp nói chuyện với tổng giám đốc vì anh ta đang giải thích cho người nầy đến người kia, trả lời không biết bao nhiêu câu hỏi từ học viên của hai ba loại lớp học. Vậy mà còn phải trả lời liên tiếp điện thoại từ các nơi hỏi mua “Cây Đũa Thần”… Bảo Bình và các Tình Nguyện Viên cũng vất vả không kém, hết lo văn phòng đến thay mặt “Thầy Tâm” trả lời các học viên về những bài học, những thắc mắc, những điều nào chưa thấu triệt! Các Tình Nguyện Viên làm việc bảy ngày một tuần, không có ngày nghĩ. Ôi không biết họ sẽ có sức khỏe để chịu đựng đến bao giờ.

    Tôi ngồi suy nghĩ và thương cho những người trẻ đang bận rộn với bao nhiêu người cần đến họ! Thư Viện Toàn Cầu có trang nhà là www.tvvn.org. Những ai quan tâm đến thời cuộc, văn thơ và các lãnh vực khác nên vào để học hỏi và nghiên cứu! Ai có vấn đề về máy móc và cần tay bác sĩ chữa bệnh như trường hợp của người viết thì hãy liên lạc với thầy Tâm Vô Lệ ở số phôn 714-210-8444. Mua Cây Đũa Thần cũng gọi số này.

    Hè 2009
    letamanh