Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Gửi phạm hoài hương, uyên nguyên, tâm vô lệ, nguyên trần, hoàng ngô, mặc nhân thế, nhật tân, xuân an, khánh, dung, trai, lan, khai trinh, quý, xuân tâm, kỳ, bường, hoa phạm, bảng, thiện giao.....


    NGỒI TRÊN MỘ HOANG NHỚ BẠN


    ngồi trên mộ, khóc người nơi cõi chết

    lại khóc mình số kiếp quá bi thương

    giận sao xưa không gục giữa sa trường

    như đồng đội được người người tưởng tiếc



    giờ sống đây mà hồn lìa khỏi xác

    thành cây khô hiu hắt đứng bên đường

    xin xỏ đời chút cơm áo, tơ vương

    rồi vuốt mặt mừng sống lâu chịu nhục



    thương bè bạn vì người, vì non nước

    chết oan khiên giữa lứa tuổi mộng mơ

    đứa mất tích thì hồn phách vật vờ

    thằng tử trận cũng mồ xiêu, lạc nấm



    tháng tư đen máu xương càng thêm đẩm

    giặc tràn về, mở tù ngục, pháp trường

    gây kinh hoàng, gieo tang tóc thê lương

    khiến trời đất cũng bôn đào, lánh nạn



    lính ở lại, lãnh đòn thù, quốc hận

    cùng dân đen chết rục rã, xương khô

    xưa lót đường để ai dựng cơ đồ

    nay thân xác bón rừng xanh thêm lá



    nhưng quá khứ rồi cũng chìm tất cả

    nay ai còn nhắc nhở để làm chi

    bạn rồi sao? lính cũng chẳng là gì

    chỉ nắm đất bên đường đầy cỏ dại



    mai, nếu có cuộc đổi đời trở lại

    ta xin dành phần, đăng báo, phân ưu

    đồng đội xưa đã chết trận, chết tù

    thảm thiết quá, những hồn ma đói lạnh





    - ĐỌC THƯ BẠN TỪ VÙNG KINH TẾ MỚI



    thư bạn gởi từ vùng kinh tế mới

    đến tay ta hơn sáu chục ngày dài

    giọng đùa cợt như thuở chớm đôi mươi

    nhưng bút mực làm sao che nước mắt



    bạn có hỏi, khi nào về Phan Thiết?

    để sớt chia tủi cực với quê nhà

    cùng tìm kiếm đồng đội khắp gần xa

    mồ xiêu lạc, không ai còn nhắc tới



    bạn kể lại những ngày xưa thân ái

    dưới mái trường thơ đẹp suốt bao năm

    nay hoang sơ qua thế sự thăng trầm

    theo cơn lốc chìm trong sầu ly tán





    bạn cho biết giờ chỉ còn dỷ vãng

    càng hải kinh nhìn đợt sóng bể dâu

    thêm ngao ngán ngóng những phố, những lầu

    khi tất cả toàn người dưng, kẻ lạ



    thơ bạn viết đầy thảm thê, buồn bả

    thêm hắt hiu khi kể chuyện đổi dời

    xưa Phan Thiết luôn rộn rã tiếng cười

    nay người chỉ giết người bằng men rượu



    bạn bè cũ sống bên lề quá khứ

    vứt công danh vào vết bánh luân hồi

    đứa rẫy bái nơi rừng núi xa xôi

    thằng đen đủi theo nghề ghe, lưới cá



    nhưng cũng có số gặp may khá giả

    nhờ đô la từ hải ngoại gữi về

    lâu lâu mở tiệc, thịt rượu hả hê

    cười tiếu ngạo mà lệ pha đầy cốc



    đọc thơ bạn giữa đất trời cô độc

    đêm nay buồn chợt nhớ tới quê hương

    thảm thương ơi bao bè bạn đoạn trường

    giờ vẫn trả nợ trai, thời tao loạn..





    - SAY TỈNH LẠI MƠ CHUYỆN TRỞ VỀ



    anh hùng buổi trước hờn vong quốc

    mài kiếm dưới trăng để đợi thời

    ta kiếp lính quèn, đời loạn lạc

    co ro ngồi khóc cuộc chia phôi



    núi vẫn hờn căm, sông lặng lẽ

    ngẩn ngơ thương thuở sống hào hùng

    ta cũng một thời làm lính trận

    nên cùng sông núi chuốc đau thương



    đêm nay ngất ngưởng bên bàn rượu

    say tỉnh lại mơ chuyện vá trời

    tới lúc vầng trăng hoen ủ rũ

    mộng tàn theo rượu đắng khô môi





    tưởng tiếc bỗng dưng làm đứt ruột

    chao ơi đời đã hết rồi sao ?

    bạn bè trăm đứa nay còn một

    ta biết tìm đâu để nhớ nhau ?



    còn đây là những cung thương cũ

    của phím đàn xưa đã loạn dây

    âm hưởng cũng chìm trong quá khứ

    đời buồn thảm quá, làm sao vui



    xưa ta với bạn thường nâng chén,

    mỗi lúc dừng quân ở vệ đường

    nay sồng cô đơn nơi góc biển

    một mình với bóng uống trăng suông



    đêm nay đứng ngóng về bên đó

    ngơ ngẩn chờ ai thêm xót thương

    biển vẫn vô tình cơn sóng vổ

    bỏ ta ngồi đợi, suốt canh trường





    Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 8-2017
  2. Thơ xóm cồn hạ uy di



    Cám ơn Anh "Ông Già" Ngô Tấn Nghĩa

    Người trai hùng của Bình Thuận quê tôi

    Không nản lòng trước "lửa bỏng, dầu sôi"

    Uy vũ sáng hơn trăng soi vằng vặt


    Trang cận sử nay còn hay đã mất

    Nhưng làm sao xóa được bước Anh đi?

    Thành quách xưa "gạch đá" vẫn thầm thì

    Hồn tử sĩ đêm từng đêm uất nghẹn


    Mấy mươi năm "tiếng đời" còn nguyên vẹn

    Không tên đường, bia đá, vẫn lưu danh

    Từ thôn làng tới thành thị "nhờ Anh"

    đem hơi thở làm "hồi sinh" Bình Thuận


    Sao quên đưọc những năm dài lận đận

    Giặc kéo về cầy nát mảnh quê hương

    Người lính trận tiếp nối chết thảm thương

    Đâu cũng thấy toàn nghĩa trang, bia mộ


    "Anh" về tới, là xông vào tử lộ

    Cùng quân dân dựng lại thuở vàng son

    Đồn bót xa không còn sống cô đơn

    Thôn làng lại vang nhịp chày, tiếng hát



    Người Bình Thuận, vốn con Hồng, cháu Lạc

    Luôn khắc sâu, dấu "sát giặc, diệt thù"

    Những chiến công hiển hách rạng thiên thu

    Cũng đủ để làm vui người chiến sĩ


    Tội nghiệp "Anh", mang nổi sầu thế kỷ

    Núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn

    Ðoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn

    Theo vận nước, đành rã tan tận tuyệt


    Thương cho "Anh" vẫn không quên Phan Thiết

    Lo lính mình "què chột" chịu thảm thê

    Xưa cùng nhau, đã "sống chết" cận kề

    Nay dâu biển mấy ai còn nhớ họ ?


    Kính phục "Anh" với công danh rạng rở

    Chỉ vì đời, mà gánh nỗi lao đao

    Nay tuổi già, bệnh tật, cũng không nao

    Vẫn nghĩ tới những ngày xưa "Bình Thuận"


    "Anh" thăm hỏi vợ con người lính trận

    Tuổi trăng mơ làm góa phụ đơn côi

    Rượu tiển chồng bên án vẫn chưa vơi

    Giờ chỉ có bóng trăng treo ngoài ngõ


    Nước Văn Lang mấy ngàn năm còn đó

    Người anh hùng "Bình Thuận" vẫn còn đây

    Giờ quật khởi rồi sẽ có một ngày

    Ðuổi giặc đỏ dành non sông Nước Việt



    Tháng 7-2017.
  3. mai cha chết nơi quê người xứ lạ,

    xin các con "đừng" phủ lá Quốc Kỳ

    cũng chẳng cần phải chôn cất làm chi

    chỉ mong được, đem "tro tàn" hỏa táng



    về Bình Thuận, nơi cha từng năm tháng

    cùng "quân dân" giữ mãnh đất quê hương,

    xưa cha không gục ngã chốn sa trường

    nay nằm lại, bên "đồng bào, đồng đội"


    đây chẳng phải là những lời trân trối

    mà chỉ là "giấc mộng cuối" hoang sơ

    dù mai sau có "biền biệt" đôi bờ

    tình "chiến hữu" vẫn muôn thu diễm tuyệt .



    Xóm Cồn Ha Uy Di

    Tháng 7-2017

    Mường Giang

    (cảm hứng theo bài viết của Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa đăng trong Đặc San Ân Tình XI 25/6/2017)
  4. QUÁN BÊN ÐƯỜNG

    nơi quán khách, bên ngọn đèn hiu hắt
    ta với hình sóng sánh chuyện mười phương
    rồi bâng quơ nhớ tới chuyện sân trường
    nhớ màu áo em yêu trong lớp học

    tìm trên vách, tên bạn bè sống sót
    moi giữa tim, dư ảnh kẻ thân sơ
    loay hoay nhớ những bằng hửu vật vờ
    xác đã mất nhưng hồn còn lẩn quẩn

    kéo tất cả quây quần nơi quán vắng
    đem tình người hàn gắn nỗi hờn căm
    ta bao chục năm nhốt cuộc thăng trầm
    cũng thả hết để hồn thơ mở hội

    hỡi Phan Thiết, nơi đất người trôi nổi
    hỡi em yêu, trong cổ mộ quê nhà
    nhắc giùm ta kỷ niệm sắp phôi pha
    để tiếp nối xót xa ngoài muôn dặm

    ta sẽ giữ mối tình thơ nồng thắm
    của trường xưa trên phím nhạc trơ vơ
    ta sẽ cười vui trong lúc mỏi chờ
    khi quán vắng qua đêm, buồn cô tịch


    - CHỜ BẠN ÐÊM QUỐC HẬN

    Vào quán bên đường, đêm quốc hận
    Ta ngồi chờ bạn, uống rượu suông
    Chao ơi, trăng đã treo đầu núi
    Mà thấy ai đâu ở cuối đường?

    Ðã hẹn cớ sao còn tới trễ?
    Kiếp người, tính được mấy lần vui?
    Huống chi nhân thế như phù ảo
    Mới đó, rồi tin đất đã vùi

    Rượu nhắp đêm nay, nghe rất lạ
    Ơ hờ, có máu lẫn trong men
    Cho nên chỉ uống toàn cay đắng
    Làm mắt cũng buồn, đẫm lệ hoen

    Mê tĩnh, cuồng mơ, ta lại nhớ
    Năm nao, ngất ngưởng quán biên cương
    Bồ đào chưa cạn ly tương biệt
    Ngựa đã hý vang, khắp nẻo đường

    Ðêm nay quán vắng, người lai vãng
    Quanh quẩn mình ta ngất ngưởng say
    Bạn chết từ khi Phan Thiết mất
    Thì sao có thể đến nơi này?

    Quán vắng, đèn khuya ta lại uống
    Một ly khóc hận chuyện nước non
    Một ly thương bạn không còn nữa
    Một cốc tủi thân sống nhục hèn

    Văng vẳng trời cao chim đã hót
    Muộn phiền vây kín suốt trang thơ
    Soi gương chợt thấy mình thêm lạ
    Qua một đêm chờ đợi ngẩn ngơ..


    - TA SẼ LÀM GÌ NƠI XỨ LẠ ?

    ta sẽ làm gì nơi xứ lạ ?
    cho qua ngày tháng kiếp lang thang
    trời ơi, mấy chục năm rồi đó
    vẫn sống tha phương với bẽ bàng

    đời thế bảo sao không uất nghẹn
    sầu buồn đầy đọa suốt hồn thơ
    đầm đìa máu hận từng trang giấy
    nức nở nhòa phai nỗi ước mơ

    sót chút tơ lòng nơi đáy huyệt
    ta đem rao bán đổi hư danh
    bên đường quán vắng thêm thê thảm
    như xé tim đơn, khúc độc hành

    ai khóc bên cầu sanh tử biệt ?
    ta hờn nhân thế đã từ lâu
    gây chi một cuộc đời dâu bể
    nước mất nhà tan, vạn cổ sầu

    buồn quá, sao ngăn dòng cảm lụy
    bạn bè ly tán tận mười phương
    người còn, say tĩnh bên hèn nhục
    kẻ chết, mồ xiêu khắp vệ đường

    cố nén cùng đời vui hạnh phúc
    hay vùi tâm sự giữa cuồng say
    nhưng càng hờ hững, càng mê đắm
    định mệnh trời ơi, trọn kiếp này

    biết sống làm sao nơi xứ lạ
    với người muôn mặt, đất muôn phương
    cợt đùa cho bớt dòng dư lệ ?
    hay mặc cho thơ khóc đoạn trường.


    - THÌ THÔI HÃY KHÓC ÐỂ QUÊN ÐỜI

    tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí,
    sa trường dung ruổi đã phơi thây
    đoàn quân hùng liệt nay về đất
    hồn vẫn quanh co, giẫm lối gầy

    chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
    mà khóc quê hương khuất bến bờ
    đêm hát vang lừng nơi chiến địa
    mộng hoàng hôn khép giữa hư vô

    dấu cũ còn nguyên ai xóa được ?
    biên cương Lào Việt bóng quân đi
    khèn thay tiếng trống, bào làm quách
    những nấm mộ hoang, khóc biệt ly

    mai về nẻo ấy chiều sương khói
    ta biết tìm đâu bước bạn hiền
    vượt thác băng rừng qua cầu khỉ
    Chiến trường héo hắt bóng trăng đơn

    Mai về quê mẹ qua biên giới
    Thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
    Rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
    Chỉ ta hờn tủi, kiếp tha hương

    Phận lính đời trai chưa thỏa mộng
    Thì thôi hãy hát để quên đời
    Xưa nay tráng sĩ, hề cô độc
    Thế thái trời ơi, nước mắt rơi


    - THÁNG TƯ LẠI VỀ

    Mỗi năm cứ đến ngày thương hận
    ta lại bâng khuâng chuyện trở về
    ngoài biển vật vờ đôi cánh nhạn
    trong tim lầm lũi bước đam mê

    bốn mươi năm buồn đời lưu xứ
    đập vỡ gương soi vẫn hắt hiu
    tầm tả vực hồn mưa cổ độ
    tay ôm ảo ảnh bóng mây chiều

    đã biết ngày về đâu có hẹn
    nhưng sao thương quá cảnh quê nhà
    hè này Phan Thiết phượng còn thắm
    trong hóc vông già, ve vẫn ca?

    biển lưới cá đầy như buổi trước
    tiếng hò giả gạo có còn không?
    nhớ ôi là nhớ ngôi trường nhỏ
    lưu bút ngày xanh, tuổi chớm hồng

    còn nữa mộ phần đồng đội cũ
    tháng tư chết thảm giữa binh đao
    chắc nay cũng đã tan thành bụi
    trước nổi tang dâu huyết lệ trào

    mẹ đợi con về mòn mõi gục
    vợ chờ cũng hóa đá thiên thu
    bao lần hẹn hứa rồi quên hẹn
    mấy chục năm qua vẫn tháng tư


    - GIỜ ÐÂY SÔNG NÚI
    VẪN ÐAU THƯƠNG

    tháng tư năm đó ta còn nhớ
    Phan Thiết chìm trong lửa bạo tàn
    mười chín giặc về gieo khổ hận
    đạn tăng nghiền nát vạn con tim

    tháng tư hè tới ve rền hát
    hoa vẫn vô tư nhuộm đất trời
    xác phượng nằm bên thây lính trận
    máu đào hòa lẫn cánh hoa tươi

    tháng tư bỏ mẹ ta ra biển
    mười tám ngày nao chẳng xóa mờ
    trên khắp nẻo đường quê lửa đạn
    tay người biền mẫu vẫy con thơ

    tháng tư mất nước sầu ly xứ
    ta viết thơ say giữa cuộc say
    với bạn với tình pha máu lệ
    với đời thương hận úa sông mây

    tháng tư biển lộng màu xanh gió
    tiếng nhạn làm ta khóc nhớ nhà
    mùi muối thấm vào da chát mặn
    khiến càng héo hắt bước quê xa

    tháng tư trong quán bên đường vắng
    chờ bạn mình ta uống rượu suông
    soi mặt vào ly thêm thấy lạ
    sau bao nhieu năm hận miên trường

    tháng tư lại tới buồn hơn trước
    bạn bỏ ta đi tận cuối trời
    đứa chết nghèo buồn nơi xóm biển
    thằng phơi xác lạnh với đơn côi

    tháng tư mất nước sao quên được
    đồng đội năm nao xác ngập đường
    nơi bến, trên tàu, trong xóm nhỏ
    những ngày tù ngục sống thê lương

    bao chục năm sầu trăng cổ mộ
    mình hẹn nhau trong cõi tuyệt mù
    quê cũ em lên cầu ngóng gió
    bên này ta đợi chắc thiên thu

    tháng ba giặc chiếm Ban Mê Thuộc
    Phan Thiết tháng tư xác ngập đường
    cả nước tháng năm thành địa ngục
    giờ đây sông núi vận đau thương


    - LẠI LÀM THƠ NHỚ BẠN

    Trời lạnh tháng tư ra ngóng biển
    trút ly rượu đắng xuống giòng sông
    rượu tan vào sóng không từ biệt
    nhưng vị nồng phơi khắp đất trời

    nhờ nước chỡ lòng xuôi tám hướng
    xin mời bằng hữu cõi miên man
    những chàng khố rách đời Phan Thiết
    có thủa chia nhau điếu thuốc tàn

    những bạn một thời chinh chiến cũ
    nhớ hoài nơi chốn bước quân qua
    núi đồi, bờ rạ, sông cùng suối
    vọng gát đêm trăng khóc nhớ nhà

    những bạn chung tù đêm tịch mịch
    chia nghe tiếng quát bóng đèn chai
    sớt lon cháo cám heo từ bếp
    thèm chut hơi men giữa bến đời

    những bạn đầu trần kinh tế mới
    ruộng về trợt té xuống cầu ao
    đỉa chê hết máu không thèm tới
    vàng vọt thân trai mảnh chiến bào

    Phan Thiết nay xưa tình cũng cạn
    bạn nằm rừng núi khó thăm nhau
    bạn gần xe ngựa chia giai cấp
    bạn chết mồ xiêu biết chốn nào?

    chơi vơi niềm nhớ vàng trên giấy
    mưa lại bay bay nhuộm lối sầu
    thơ viết tình phơi trên nét chữ
    khác đầy kè đá gởi về đâu

    cố nhân giờ chỉ là đêm mộng
    vũ trụ nhân gian một lối về
    ngồi tiếc thủa còn manh áo bạc
    tình quê, tình bạn cõi đam mê

    ra biển ngữa tay mời bạn tới
    thênh thênh mắt sóng chỉ hồn mình
    cứ buồn chẳng biết vì sao nữa
    thiên hạ còn đây chốn nhục vinh

    thơ viết ngẩn ngơ càng tủi hận
    đất trời lặng ngắt bạn bè ơi
    vầng trăng ai nở chia hai mảnh
    nửa gói tình quê, nửa lịm đời


    1 - XIN MỜI HỒN BẠN
    CHỐN QUÊ XA

    thơ viết muôn trùng thương với nhớ
    càng thêm chất ngất hận miên man
    chiều chiều ngóng biển mơ ngàn lối
    chớm lạnh tình quê khóc ngỡ ngàn

    tan hàng tận tuyệt sầu quan tái
    thép bút ngồi khơi chuyện bể dâu
    thoáng bóng bạn bè trong cốc rượu
    vội mời nhưng có thấy ai đấu

    làm sao quên được mùa tang tóc
    bạn ở An Khê chết rục thây
    bạn vượt sông Ba chìm đáy nước
    bạn Phan Thiết cũng thịt xương bày

    thương quá ngày nào tình chiến hữu
    chiều quê quán gió tạm dừng quân
    lang thang đời lính giường là đất
    nhà vẫn trên yên gió ngựa dồn

    tháng tư còn gọi nhau hò hẹn
    sẽ cụng ly mừng bạn thăng quan
    tiền lính dăm thằng chung cũng đủ
    để mua thịt rượu phá cơn bưồn

    nhưng bạn không về như đã hứa
    tan hàng gục chết giữa đao binh
    ta còn, nay sống hèn hơn cỏ
    trơ mắt hắt hiu nuốt bất bình

    thơ viết thương hoài mây viễn khách
    quê xưa mù mịt gió ngày xưa
    đôi bờ nước mãi vô tình cuốn
    khiến kẻ hoài mơ luống rã rời

    gởi chút tơ lòng trong chén rượu
    xin mời hồn bạn chốn quê xa
    về đây thơ nhạc như ngày cũ
    để kẻ cô đơn bớt nhớ nhà

    hận viết ngàn trang không thấy đủ
    tình theo sương khói nhạt nhòa rơi
    bạn chờ ba chục năm mòn mõi
    vẫn biệt mù khơi cuối nẻo đời
    Hoa Hạ likes this.
  5. Thế là Giáng Sinh sắp đến, ngày mai ta lại trở về quê hương mở hội mừng Chúa ra đời. Ôi giấc mơ chiêm bao mộng mị bao mùa, chưa chi đã làm cho cõi hồn người viễn khách bồi hồi trong ngấn lệ khi chợt nghĩ tới những trang lưu bút ngày xanh, thơ ngây ngọt ngào, nay chỉ còn lại trong men nồng đắng lệ.

    Tỉnh nhỏ ngày xưa những trận mưa bay cuối Thu làm cho Phan Thiết đêm mù như cõi mộng. Bài thánh ca “Ðêm Ðông Lạnh Lẽo Chúa Sinh Ra Ðời“, thường được em hay hát nho nhỏ, khi hai đứa đứng núp đưới mái hiên mưa, lặng đếm những cánh hoa sao quay tít ở trên đầu, để rồi thở dài trước một mùa đông đã đến.

    Tất cả bây giờ chỉ còn trong kỷ niệm của những ngày thân ái bên nhau trong giáo đường. Tôi, một kẻ ngoại đạo nhưng yêu em, nên cũng hát thánh ca và thường quỳ giữa hai hàng nến trắng. Buổi đó, cuộc đời thật thơm ngát , theo những cánh hoa huệ trắng nở rộ ngọt ngào, trong lòng mọi người. Nhưng dòng đời ai biết được, là trong tiếng nhạc Organ cao vút, không phải chỉ có lời thánh thiện lướt bay như sóng cuộn, mà còn có tiếng pha lê rơi vỡ nát của một cuộc tình. Rồi những mùa Giáng Sinh bất chợt, kẻ viễn khách lại tìm tới các giáo đường xa lạ, lắng nghe tiếng chuông đổ xào xạc trên lầu cao, để tưởng như mình đang hứng những giọt nước mắt ngày xưa, của tôi của em, như hai hàng bạch lạp chảy trong đêm thánh vô cùng.

    Tàn mùa chinh chiến, người lính trận lỡ bước xa nhà, lang thang khắp thôn làng thị trấn nào đó, vào đêm Giáng Sinh mừng Chúa ra đời. Lúc đó chỉ còn có mình ta, bước lẽ loi trong giáo đường xa lạ, nhìn người để thương nhớ cho số phận buồn hiu của cuộc đời, mà phần lớn tuổi trẻ đã đi trên giàn lửa và sống kiếp lang thang mây chiều.

    Xóm Cồn-Hạ Uy Di, mấy hôm nay trời bổng trở lạnh theo mùa đông tới. Sau Lễ Tạ Ơn, cuốn lịch treo tường đã thấy mỏng dần, chỉ lật thêm mấy tờ là tới lễ Giang Sinh và Tết Dương Lịch. Các cửa hàng khắp thành phố đã bắt đầu trang hoàng đủ thứ,nào thông xanh, ông già Noel, đèn nến, hoa sao, cũng như mở nhạc Giáng Sinh,.làm cho hồn thêm xao xuyến,chạnh nhớ lại những mùa lễ hội tại quê nhà trước năm 1975. Ở đây, cảnh nhộn nhịp chỉ kéo dài tới chiều ngày 24-12 là chấm dứt. Tất cả hàng chợ đều đóng kín, mọi người ai cũng trở về nhà sum họp với gia đình, bè bạn, trong những căn nhà ấm cúng, giữa tiệc rượu vui vẽ, hạnh phúc.

    Giáng Sinh đang đến gần, tiết trời cũng bớt se lạnh khi trận mưa đông cuối mùa sắp dứt. Nhìn người người nô nức chuẩn bị, khiến lòng hằng mơ ước, mùa yêu thương vĩnh cửu sẽ luôn tới với mọi người, để xin Chúa Hài Ðồng ban bình an thật sự cho nhân loại . Hàng khối quà tặng giữa những tấm thiệp chúc tụng bay như bươm bướm và các tiệc yến linh đình, biến tuần lễ cuối tháng 12 Dương Lịch thành mùa lễ nhộn nhịp và quan trọng nhất trong năm.

    Có một sự lạ lùng mà ít người để ý tới, đó là khi những cơn gió mùa đông bắt đầu thổi về lành lạnh, chỉ đủ làm ửng hồng những đôi má đẹp hay làm rạng rỡ thêm mấy chiếc áo len hương ấm, cũng là lúc có một loài hoa đang âm thầm chuyển mấy cánh lá noãn từ xanh ra màu đỏ. Mọi người bảo đó là Hoa Giáng Sinh và ngoài kia Hoa cũng đang rực rỡ, báo hiệu một mùa Giáng Sinh sắp tới.

    1-Ði tìm tung tích của các danh từ, liên quan tới Giáng Sinh:

    Xưa nay nhiều người hay lẩn lộn về nguồn gốc của các danh từ ngoại quốc liên quan tới ngày lễ Giáng Sinh như Noel hay Christmas.

    Theo hầu hết các bộ từ điển thông dụng, nên ta biết “Noel” là Pháp ngữ, thoát thai từ tiếng La Tinh “Natalis“, chứ không phải là tiếng Do Thái cổ. Sự lầm lẫn trên phần lớn là do bản gốc của Kinh Thánh, trong phần Cựu Ước, hoàn toàn được viết bằng chữ Do Thái Cổ. Về sau mới được dịch ra tiếng Hy Lạp và La Tinh. Theo từ nguyên, chữ “Natalis dies“ của La Tinh, có nghĩa là Ngày Sinh Nhật hay Sự Ra Đời. Về sau, để tiện gọn, các nhà Ngôn ngữ học, đả bỏ bớt chữ “Dies“, mà nói tắt là “Natalis“, để chỉ ngày sinh. Hình thức nói tắt này, chính là nguồn gốc (Étymon) của danh từ “Noel” mà ta dùng tới ngày nay. Ðây là luật biến đổi ngữ âm của văn phạm La Tinh, dùng hoán chuyển các tiếng gốc sang Pháp ngữ ngày xưa, chẳng hạn như Natalis - Nael - Noel..

    Từ tiếng gốc có nghĩa chung là “Sinh Nhật“, dần dần người ta viết hoa chữ Noel, đồng thời bỏ thêm hai chấm trên đầu chữ E, một hình thức phủ nhận chữ e này không thể kết hợp với chữ O đứng trước, để trở thành một Nhị Trùng Âm (Diphtongne), như các chữ thông thường khác. Dụng ý của người xưa là vậy. Từ đó chữ Noel, trên đầu có hai chấm, viết hoa, chỉ dùng để chỉ ngày sinh của Chúa Jesus mà thôi.

    Riêng chữ Christmas cũng là một tiếng Anh cổ, được kết hợp bởi hai thành tố: Christ chỉ Chúa Jesus, còn “Mas“, qua biến thể của chữ Mass cổ, có nghĩa là Lễ của Nhà Thờ hay Lễ Hội. Hình thức của Mas (mass), một thứ tiếng Anh cổ, cũng có gốc từ chữ Latinh là Missa với nghĩa “Lễ nhà thờ “.Trong tiếng Pháp , cũng có chữ “ Messe”, được Việt hoá thành “ Misa”, cũng có nghĩa là Lễ Nhà Thờ. Cuối cùng là vấn đề biến dạng từ chữ “ Christmas “ sang “ Xmas “.Như ta biết, danh từ Christ tuy là tiếng Anh nhưng có từ nguyên là tiếng La Tinh “ Christus “ mà ra. Nhưng chữ La Tinh này lại được mượn từ tiếng Hy Lạp “ Khrislos “ , có nghĩa là Người được xức dầu thành, chỉ Chúa Jesus. Do các quy luật phức tạp chuyển ngữ các chữ cái, giữa hai ngôn ngữ trên, nên mới có biến thể từ Christmas sang Xmas, nhưng khi đọc, vẫn là Christmas, chứ không bao giờ là Xmas.

    Nói chung dù các chữ Noel, Christmas, Xmas xuất phát từ đâu chăng nữa thì tựu trung đều có nghĩa chỉ ngày Giáng Sinh của Chúa Jésus, mà theo truyền thuyết nhằm ngày 25-12 năm 1 tại Bethleem, cách thành phố Jerusalem của Do Thái, độ 9 km. Riêng chữ Advento của La Tinh, mà các tín đồ Thiên Chúa giáo quen gọi là mùa Ắt hay mùa Vọng, một nghi thức truyền thống, cũng được cử hành riêng biệt tuỳ theo tập quán của các nhà thờ. Theo đó qua thánh lễ lâu đời, trước một tháng lễ sinh nhật, có tục đặt bốn cây nến, tượng trưng cho sự trong lành của Thiên Chúa, soi sáng nhân loại. Cũng trong mùa Vọng, giáo đồ không hát kinh GLORIA, cũng như khi cử hành thánh lễ, các linh mục và bốn cây nến mùa vọng, đều mang màu tím , là một biểu tượng của sự sám hối đối với người theo đạo Ky Tô.

    2-Những Tập Tục Trong Ðêm Giáng Sinh:

    Trải qua 200 năm đầu của Tây Lịch, theo sử liệu cho biết các nhà thờ lúc đó đang kiểm soát gắt gao đạo Thiên Chúa, đã không tổ chức Lễ Giáng Sinh. Lý do là lúc đó, không có ai biết được một cách chính xác, ngày sinh của Chúa Jésus, ngay cả trong bốn “Sách Tin Mừng“ cũng không hề nhắc tới. Do trên các Giáo hôi lúc đó, chỉ để ý tới Cuộc Tử Nạn và Mùa Phục Sinh của Chúa mà thôi.

    Từ sau năm 201, mới bắt đầu có tổ chức mừng sinh nhật Chúa Hài Ðồng. Tuy vậy giữa hai Giáo Hội Ky Tô tại La Mã và Ðông Phương cũng không thống nhất. Nói chung, các nước lúc đó thường tổ chức Lễ Giáng Sinh vào các ngày 6-1, 25-3 và 25-12.. tùy theo tập quán lễ hội của quốc gia mình. Phải đợi tới giữa thế kỷ thứ 4, năm 335 sau Tây Lịch, cả hai Giáo Hội Thiên Chúa La Mã và Ðông Phương, mới nhất thống, cử hành Lễ Giáng Sinh vào đêm 25-12 hằng năm, cho tới bây giờ.

    + Lễ Giáng Sinh:

    Mùa Giáng Sinh được người Ðức gọi là “Weihnachten”, tức là những đêm Thánh vô cùng. Riêng những danh từ “Natale“ của Ý, “Noel“ của Pháp, “Natividad“ Tây Ban Nha hay "Christmas" của Anh, Mỹ, Canda.. đều có nghĩa là Sinh Nhật Chúa. Ðây là một lễ hội, được gắn liền với nhiều tục lệ cổ truyền, đã có từ ngàn năm trước nhưng tới nay vẫn được chấp nhận. Nhờ đó đã giúp cho lễ Giáng Sinh đầy ý nghĩa và thêm vui nhộn.

    Lễ này bắt đầu từ các lễ hội dân gian truyền thống hằng năm của các dân tộc Âu Châu. Năm 335, Hoàng Ðế La Mã Constantin khởi xướng, lấy ngày 25-12 làm sinh nhật Chúa Jésus và đã trở thành ngày sinh nhật hằng năm của Ðấng Cứu Thế. Thật ra lý do chọn ngày 25-12 rất hợp lý, nhất là đối với các dân tộc sống bên hai bờ Ðịa Trung Hải như Ai Cập, Syrie, Hy Lap, La Mã.. vì đây cũng là ngày kỷ niệm Vị Thánh Bổn Mạng của Họ, tức là Vị Thần Mặt Trời Chiến Thắng Sol Invictus. Còn đối với các xứ Bắc Âu, sau khi đã trải qua một mùa đông giá băng lạnh cóng, suốt những ngày thu phân cho tới 25-12. Ðây là thời điểm sắp giao mùa, giữa đông sang xuân, ngày dài đêm ngắn, mà ai cũng thích, nên họ mở hội ăn mừng. Ngay người Ba Tư tận Nam Á, cũng có phong tục mừng sinh nhật của Thần Ánh Sáng Mithras vào đúng vào ngày 25-12 hằng năm. Nhưng lý so chính, khiến cho Hoàng Ðế La Mã Constantin, cũng như nhân loại, đã hân hoan chọn ngày trên làm ngày sinh nhật Chúa, nguyên do vì năm đó, có ngôi sao Bethlehem đầu tiên, đã xuất hiện rực rỡ giữa bầu trời đông băng giá.

    + TỤC KÉO CỦI VÀ ĂN ÐẦU HEO:

    Trong đêm Giáng Sinh, người Bắc Âu sẽ cùng nhau kéo một khúc gỗ sồi được mang từ rừng về, gây nên cảnh tượng rất vui nhộn; khi mọi người gặp nhau đều ngả nón hay cười vui chào hỏi. Tại nhà, khúc củi được đốt lên bằng mồi lửa được giữ từ tro than năm ngoái. Khúc lửa này sẽ được chủ nhân giữ trọn năm vì mọi người đều tin rằng lửa sẽ giữ được cho ngôi nhà của họ quanh năm được ấm cúng hạnh phúc, tránh được tật bệnh thiên tai từ bên ngoài đem tới.

    Cũng ở Bắc Âu ngày xưa, người ta tin rằng Vị Thần Ðiều Khiển Ngũ Cốc cư ngụ ở trong đầu heo, nên cứ đến ngày lễ Giáng Sinh, lại có tục giết heo làm thịt ăn, với hy vọng mùa màng thêm trúng. Ngày nay vùng này, trong đêm lễ, chiếc đầu heo thật được thay bằng những ổ bánh hình con heo.

    + HOA Giáng Sinh:

    Tại Việt Nam, người ta gọi nó là Hoa Trạng Nguyên, theo truyền thuyết từ một câu chuyện cổ tích diễm tình. Ngày xưa có một sĩ tử trên đường vào kinh đô ứng thí, đã nhìn thấy một giống cây lá xanh, mọc tha thướt bên vệ đường. Khoa đó ông đỗ trạng nguyên và trên đường về vinh quy bái tổ, bất chợt gặp lại cây lá xanh bên đường hôm nào. Nhưng hôm đó nó đã biến đổi một cách kỳ diệu, vì những cánh lá xanh nõn nường trên ngọn, nay trở thành màu đỏ thắm, như đang đồng điệu với thế nhân, chúc người thi đổ. Cảm khái, ông đã không ngần ngại ban cho giống hoa tình nghĩa trên một mỹ danh “Hoa Trạng Nguyên“ và được lưu giữ tới ngày nay.

    Ðây chính là giống cây mà hằng năm trên thế giới người ta dùng trang trí trong ngày sinh nhật và họ gọi là Hoa Giáng Sinh (Christmas Flower). Ðây là một loại hoa rất đặc biệt, vì hoa cũng là lá và lá cũng là hoa với một cụm lá màu đỏ ở trên đỉnh, được bao quanh bởi đám lá xanh. Ở Ðông phương, giống hoa này cũng rất được yêu thích và được gọi bằng những cái tên khả ái như “Nhất Phẩm Hồng“ (Trung Hoa) hay “Tinh Tinh Mộc“ (Nhật Bản ). Nhưng dù mọc ở đâu hay được gọi bằng một cái tên nào chăng nửa, nó vẫn là biểu tượng của sự cao quý, dịu dàng và mộc mạc, rất phù hợp với tâm lý của người đàn bà VN. Có lẽ vậy, nên ở miền quê, hoa này thường được trồng trước ngõ hay trên rào giậu như dâm bụt, với ngụ ý chào mừng khách quý. Là giống cây thân mềm,lá xanh ẻo lã rất giống các thiên kim tiểu thư và chỉ chuyển đổi màu lá từ xanh sang đỏ, trong thời gian nhất định, giữa tuần lễ từ Giáng Sinh tới Tết Nguyên Ðán mà thôi. Ngoài ra, thời tiết càng lạnh lẻo, thì hoa càng có màu sắc rực rỡ.

    Theo truyền thuyết của phương Tây thì hoa này có liên hệ với Chúa Jésus,bởi chúng được tạo thành từ những giọt máu cuối cùng của Ngài, khi bị đóng đinh trên cây thập giá. Chính màu máu tươi đã nhuộm màu lá xanh thành đỏ thắm và chính giữa có những nhụy vàng. Cũng do tính chất thần thánh trên, mà hầu hết các thiệp chúc và bánh Giáng Sinh, gần như đều có in hình cánh hoa truyền thống này.

    + CÂY GIÁNG SINH:

    Trước khi đạo Thiên Chúa vào Âu Châu thì trong các cuộc lễ hội tại Ý, Tây Ban Nha và nhiều nước khác, người ta dùng hoa để trang hoàng. Nguyên do vì quan niêm của nhà thờ lúc đó, cho rằng thông có liên hệ tới nhiều tôn giáo khác. Còn Thụy Ðiển thì bảo cây thông là biểu tượng của chết chóc và tang tóc. Ngoài ra cũng được coi là cây Giáng Sinh, còn có cây ô rô cũng thường được dùng để trang trí trong mùa lễ. Sở dĩ nó được chọn như thông, vì những chiếc lá gai gốc của ô rô, rất giống chiếc vòng gai của Ðấng Cứu Thế, còn những quả màu đỏ mọng, lại được coi như những giọt máu tươi của Chúa khi bị đóng đinh trên cây thập tự giá.

    Bắt nguồn từ cây Sapin ở Bắc Âu, cây thông đã được người Thủy Ðiển mang vào nước Ðức trong cuôc chiến 30 năm (Gueere de Trente Ans). Theo sử liệu của Ðứ, thì cây thông chính thức được nhắc tới năm 1605. Tuy nhiên thực tế trước đó, người Ðú+c vùng Elsass và Hắc Lâm, theo đạo Thiên Chúa Cải Cách của Mục Sư Martin Luther (1483-1546), đã dùng cây thông để trang trí trong ngày lễ Giáng Sinh. Chính Luther là người đầu tiên đặt những ngọn nến lên cây Giáng Sinh và gọi đó là những biểu tượng của các vì sao trong đêm sinh nhật. Ngoài ra cây thông còn là biểu tượng của dân Ðức chống lại Nã Phá Luân.

    Ðến thế kỷ thứ XIX, thông theo đoàn quân viễn chinh của Phổ, vượt biển Manche vào quần đảo Anh Cát Lợi và Ái Nhĩ Lan. Thông sau đó lại được công chúa nước Anh là Mercklembourg, khi thành hôn với công tước Orléans, đã mang thông vào nước Pháp. Cũng từ đó, thông chính thức được thay thế các loại hoa, để trang trí vào dịp lễ Giáng Sinh. Cũng theo sử liệu, thì việc trang trí bánh kẹo trên cây Giáng Sinh tại nước Anh, bắt đầu từ thời Nữ Hoàng Victoria. Năm 1880, hãng Wooworld của Mỹ, lần đầu tiên khởi xướng đầu tiên việc bán các đồ vật treo trên cây giang sinh. Năm 1882 bóng điện được thay nến để trang trí. Tai Mỹ, Calvin Loolidge là vị tổng thống đầu tiên, thắp sáng cây thông trồng phía ngoài Tòa Bạch Ốc vào năm 1923.

    Thông hiện nay là một biểu tượng của mùa Giáng Sinh, được trưng bày hầu hết mọi nơi, từ công sở, chốn công cộng, các cửa hiệu cho tới trong gia đình. Tại Hoa Kỳ vào dịp lễ Giáng Sinh, dân chúng tiêu thụ khoảng 20 triệu cành hay nguyên cây thông. Với chiều cao 67,4m cây thông được coi là cao nhất thế giới, được dựng tại Northgate Shopping Center, thành phố Seatle, tiểu bang Washington. Ðài Loan và Nam Triều Tiên, hiện là hai quốc gia Á Châu sản xuất nhiều thông giả nhất thế giới, trong khi các tiểu bang North Carolina, California, Pennsylvania, Wiscosine, Michigan, Oregan.. trồng nhiều thông nhất liên bang để cung cấp cho dân Mỹ trong mùa lễ Giáng Sinh.

    + ÔNG GIÀ NOEL VÀ TỤC TẶNG QUÀ GIÁNG SINH:


    Ðó là một người có thật, sau trở thành Thánh Nicholas sống vào thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch. Ông tên thật là Santa, sinh tại Patara thuộc miền Lycya những sống tại Myra, nay thuộc Thổ Nhỉ Kỳ. Theo sử liệu, ông là người có tính tình vị tha nhân ái, thường lấy tài sản của mình để phân phối cho người nghèo, trẻ em. Vào mùa lễ Giáng Sinh, ông thả những túi đựng tiền vàng xuống ống khói lò sưởi hay ném qua cửa sổ những bít tất dài trong đó dựng đầy quà dành cho trẻ em nghèo. Năm 325 ông được phong chức giám mục tại Nicaca nhưng lúc qua đời thì chôn tại nhà thờ Myra, và được phong thánh. Cũng từ đó, trong mùa Lễ Phục Sinh, tòa Thánh La Mã đã phối họp mừng chung với thánh Nicholas. Năm 1087, người ta đánh cắp thi hài của ông, đem về chôn tại nhà thờ Bari của nước Ý. Sự kiện trên càng làm tăng thêm mức khả tín của người Âu Châu đối với nhân vật huyền thoại Santa. Do đó ông trở thành vị Thánh bổn mạng của Hy Lạp và Nga. Nhiều thành phố lớn như Fribourg (Thụy Sĩ), Mạc Tư Khoa (Nga).. đều tôn vinh Santa như vị cha già. Uy tín to lớn của ông đến nổi ngay từ tời Hoàng Ðế La Mã Jutinta I trị vì thế kỷ thứ VI cũng đã cho xây nhà thờ mang tên ông tại Constantinople. Từ đó về sau, khắp thế giới đã có hằng ngàn nhà thờ lớn nhỏ mang tên ông.

    Nhưng từ khi đạo Tin Lành ra đời tại Âu Châu, Thánh Nicholas bị xem là người của đạo Thiên Chúa nên không còn được tôn trọng, trừ Hòa Lan. Từ đó, lại có các ông già Noel khác ra đời như Weihnachtsmann (Ðức), Pere Noel (Pháp), Father Christmas (Anh), Santa Claust hay Saint Nick (Hoa Kỳ)... Tuy nhiên dù được mang một tên gì chăng nữa thì củng chỉ một hình thức biến dạng từ chữ gốc Saint Nicholas mà thành. Tại New York, những người Mỹ gốc Hòa Lan được coi là dân tộc đầu tiên mang ông già Noel từ Âu Châu vào Bắc Mỹ. Họ gọi Thánh Nicholas là San Nicholaas, sau đó là Sant Klaus và cuối cùng trở thành Santa Claus tời ngày nay.

    Ngoài đời ông xuất hiện như một người bình thường. Ðó là ông già béo tốt, râu tóc bạc phơ nhưng đôi má lại đỏ au, luôn mặc bộ quần áo đỏ, tượng trưng cho hạng người vui vẽ, độ lượng và chân thành. Vì xuất phát từ miền bắc cực, đúng vào mùa đông, nên thường ngự trên một chiếc xe tuyết do bốn hay sáu con hươu kéo đưa ông dạo chơi khắp nơi. Ðặc biệt trên vai ông lúc nào cũng vác một chiếc bị lớn đựng quà bánh và đồ chơi cho các trẻ em.

    Cũng liên quan tới ông già Noel, có tục tặng quà trong mùa lễ Giáng Sinh. Ðây cũng là một tập quán lâu đời của người La Mã cổ với thói quen hay tặng quà cho nhau trong các dịp lễ hội hay Tết Dương Lịch. Ngoài ra theo truyền thuyết ghi trong kinh thánh, sau khi Chúa sinh ra đời được 12 ngày thì ba Vua mới mang lễ vật tới chúc mừng. Vì vậy ngày nay, tại các nước Ý, Tây Ban Nha và nhiều nước theo Ky Tô Giáo, trẻ em nhận được quà sau khi Giáng Sinh , đã qua 12 ngày.

    Tại Hoa Kỳ, năm 1822 thi sĩ Clement Moore đã viết bài thơ “Ðêm Trước Giáng Sinh “ đưa thêm uy tín của Thánh Nicholas lên đỉnh yêu thương của mọi người, còn họa sĩ nổi tiếng Nast, qua các bức hí họa, làm cho hình ảnh của ông già Noel, càng đi sâu vào tâm hồn của người trần thế.

    + BÍ ẨN VỀ NGÔI SAO BETHLEHEM:


    Theo thánh kinh, Bethlehem là ngôi sao lớn và sáng nhất giữa bầu trời, trong đêm Chúa sinh ra đời. Vì vậy qua các tranh ảnh vẽ hình Chùa Jésus, bao giờ cũng có một ngôi sao chiếu sáng rực rỡ . Chính nó đã dẫn đường Ba Vua tìm tới được hang lừa, nơi Chúa ra đời trong một đêm đông lạnh lẽo.

    Ðể tìm hiểu vị trí của ngôi sao Bethlehem, các nhà thiên văn học trên thế giới đã dày công nghiên cứu, hiện tượng Supermova, tức ngôi sao mới sớm nở tối tàn. Ðối với bậc thông thái như Ba Vu, thì họ chẳng cần tới ngôi sao Bethlehem dẫn đường mới tới được Jérusalem, vì họ là những nhà tiên tri biết được chuyện vị lai quá khứ.

    Tháng 5 năm thứ 5 trước Tây Lịch, thiên văn học Trung Hoa lúc ấy đã ghi nhận được sự xuất hiện của một ngôi sao chổi đặc biệt đang quét trên bầu trời Nam Dương trong suốt 70 ngày. Ðây cũng có thể là thời gian Ba Vua đang trên đường tới hang đá ở Bethlehem? Tất cả đều là sự bí ẩn vì không ai biết được chính xác ngày sinh của Chúa Jésus. Nhưng năm 1604, nhà toán học Johannes Keeper đã tính được vị trí của các hành tinh thời Chúa ra đời. Ngoài ra đối với các tín đồ Thiên Chúa Giáo xưa thì sao Vệ Nữ, còn được gọi là Sao Hôm, mọc trước bình minh, được coi như là một biểu tượng của đấng cứu thế. Có lẽ ngôi sao Bethlehem chẳng qua chỉ là sự hội ngộ của hai ngôí sao sáng nhất trong thái dương hệ. Ðây là một giả thuyết hợp lý nhất, chứng minh sự hiện hữu của ngôi sao Bethlehem chỉ có trong huyền thoại.

    Nhưng dù có hay không, ngôi sao Bethlehem cũng vẫn là hình ảnh đặc biệt trong dịp lễ Giáng Sinh. Ðã có nhiều cuộc thi trên thế giới tìm hiểu về nguồn gốc của ngôi sao trên. Tại Palmerlake ở tiểu bang Colorado vào năm 1934, đã dựng một ngôi sao Hòa Bình trên một khu vực rộng tới 500 bộ trên sườn núi Sandance Deak. Tại thành phố Bethlehem thuộc tiểu bang Pennsylvania, cũng có dựng một ngôi sao lớn trên công viên Zinzendorf, từ ngày 4/12 tới 2/1 năm tới mới bị dẹp.

    + BÀI THÁNH CA BẤT HỦ:

    Tiếng Anh gọi các bài hát Giáng Sinh là Carol, tiếng Pháp là Noels, còn Ý là Pastorelles, người Ðức thì gọi Kristlieder.. Nhưng dù có gọi bằng thứ ngôn ngữ gì chăng nửa, thì nguồn gốc vẫn từ các nhà thờ xưa, nơi thường diễn các vở kịch để nhớ về ngày sinh và cuộc đời Chúa Jésus, có kèm theo những bài hát vui tươi. Ngày nay có rất nhiều Thánh Ca nổi tiếng như The First Nowell, God Red Ye Merry, Gentlemant.. và trong số này, bài “ Silent Night , Holy Night “ muôn đời vẫn được thế giới xưng tụng là bài thánh ca bất hủ.

    Tại Âu Châu ngày nay, đêm Giáng Sinh ngồi quanh ánh lửa bập bùng chờ lễ. Các cụ thường kể cho con cháu nghe xuất xứ của bài thánh ca nổi tiếng. Trong lúc đó, khắp mọi nơi trên thế giới, từ các miền băng giá tuyết phủ, cho tới những khu rừng nhiệt đới âm u. Từ các đô thành phố thị muôn sắc muôn màu, cho tới hải đảo cô thôn tịch mịch . Ðâu đâu nhân loại qua ngàn vạn ngôn ngữ khác nhau, cũng đều cất cao giọng hát , bài thánh ca bất hủ “Tille Nacht, Heilige Nacth, Silent Night, Holi Night, Douce Nuit, Sainte Nuit.." hay "Ðêm Đông Lạnh Lẽo Chúa Ra Đời..." Lời ca thánh thoát, lôi cuốn kỳ diệu, cuồn cuộn ra muôn vạn ý thơ, không khác gì hoa tuyết đang là bay lã chả trên những mái nhà củ kỷ của vùng quê miền Savoice nước Áo vào mỗi độ Giáng Sinh về.

    Năm 1818 tại ngôi làng nhỏ Oberndorf, thuộc Tyrol (Áo). Ở đây, quanh năm tuyết phủ trắng xóa. Tại ngôi nhà thờ nhỏ trong làng, đêm Giáng Sinh năm đó, vì cây đàn duy nhất của nhà thờ bi hư, nên cha Joseph Mohr đã viết bài ca thay thế, bằng sáu câu thơ giản dị. Bài hát được Franz Gruber, một thầy giáo già cùng làng phổ nhạc. Sau đó bài hát được phổ biến quanh vùng, rồi lan khắp nước Áo cùng các xứ lân cận. Tuy nhiên chẳng có ai truy nguyên xuất xứ, vì họ nghĩ rằng, đây chỉ là một bài dân ca xưa.

    Mãi tới năm 1830, bài hát tình cờ lọt vào mắt Vua Nước Saxe. Ngài cũng là một nhạc sĩ tài danh thuở đó, nên sau khi nghe được bản nhạc, đã quyết định lập một Ủy Ban Ðặc Biệt, đi khắp nơi để truy tìm xuất xứ . Vì vậy mới tìm được tác giả trong ngôi làng nhỏ nghèo là Oberndorf.

    + MÁNG CỎ VÀ HANG ÐÁ:

    Qua bao nhiêu thế kỷ ,mỗi năm cứ vào mùa Giáng Sinh, các tín đồ đạo Thiên Chúa đều dựng lại khung cảnh Chúa ra đời., trong máng cỏ. Nhưng tuy cùng một tín ngưỡng, người Nhật dựng máng cỏ qua một đám rước, do các Samourai thực hiện, gần giống như người Esquimo ở miền bắc Canada, tạc tượng Chúa Hài Ðồng bằng băng, rồi đặt nằm trên một chiếc xe trượt tuyết. Riêng Giáo Hội Ðông Phương vì ảnh hưởng nghệ thuật Byzantin, nên đặt Chúa nằm trong một hang đá chứ không trong chuồng bò tại Palestine. Ngoài ra tượng Mẹ Maria thì đặt nằm trên một cái nệm, qua trạng thái mệt mỏi yếu duối của một sản phụ, vừa mới sinh xong.

    Theo truyền thuết, Thánh Francois là người đầu tiên, đã sang tạo ra Máng cỏ vào năm 1223 tại làng Greccio, vào đêm Giáng Sinh. Nhưng phải đợi tới thời Vua Charles III của thành Naples, Máng cỏ mới đạt tới thời hoàng kim, suốt thế kỷ XVIII. Vì được triều đình chú trong và nâng đỡ, việc làm Máng cỏ trong mùa giang sinh, không những được phổ biến trong cung nội, dinh thự văn võ bá quan, mà còn bành trướng ra ngoài xã hội, từ giới sang giàu trí thực, xuống tận người nghèo bình dân, trở thành một mốt thời thượng cho hạng lắm của nhiều tiền.

    Phong trào Dựng Máng Cỏ trong đêm Giáng Sinh, từ đó lan tràn khắp các nước Âu Châu khiến cho dân thành Naples phải kéo nhau đi làm công, khắp các thành phố lớn như Aix En, Provence (Ý), Olot (Tây Ban Nha), Oberammergau (Ðức).. Hằng năm, tại khu vực Canabière trong thành phố Marseille của Pháp đều có tổ chức “Hội Chợ Máng Cỏ“, từ tháng Chạp tới Giáng Sinh. Hiện nay trong Viện Bảo Tàng Naples và trên đảo Sicile (Ý), Munich (Ðức), còn lưu trữ nhiều bộ sưu tập “Máng Cỏ“ được hình thành qua nhiều thời đại tuyệt đẹp. Thang 12/1996 tại phi trường Orly, danh họa Salvador người Tây Ban Nha, đã triển lãm một máng cỏ giống như tai người khổng lồ, trong đó chứa toàn bộ những nhân vật huyền thoại của gia đình Chúa Jésus. Tóm lại dù củ hay mới, hình ảnh máng cỏ cũng gợi cho chúng ta sự trong sáng của tâm hồn giữa cảnh nhiễu nhương và man trá.

    Năm 1975 có một nhóm thợ lặn ở làng Laveno thuộc miền Bắc Ý, đã đặt một tượng Chúa dưới đáy hồ Majeux, sâu 23m trong vùng Lombardie, sát biên giới Ý-Thụy Sĩ. Từ đó mỗi năm tới đêm Giáng Sinh, các thợ lặn lại đem thêm tượng Chúa xuống đặt dưới đáy hồ. Năm 1978 cũng nhóm thợ lặn trên đã đặt dưới đáy hồ sâu 3m gần bờ, một máng cỏ trong đó có ba tượng Joseph, Maria và Chúa Jésus. Tính tới nay, số tượng Chúa dưới đáy ho Majeux đã có 42 tượng và nhiều máng cỏ. Những tượng này được tạc bằng đá trắng Vicence ở Bắc Ý, nặng trên 15 tấn. Lễ hội hằng năm tại dây vào đêm 24 -12, thu hút hằng trăm ngàn du khách và tín đồ. Trong lúc trên bờ tiếng chuông nhà thờ đổ dồn dập, thì dưới làn nước sâu lạnh lẻo, máng cỏ Noel ân hiện chập chờn, lung linh huyền ảo theo từng cơn gió thoảng.

    + KINH THÁNH VÀ CHỮ THẬP:

    Theo từ nguyên của danh từ “Bibble” của Hy Lạp, thì kinh thánh có nghĩa là những cuốn sách nhỏ. Theo truyền thuyết, thì kinh thánh được liên tục viết trong 1600 năm, khởi đầu từ năm 1513 trước TL, cho tới năm 98 sau TL. Hiện nay còn truyền được 66 cuốn, mà quyển đầu tiên là kinh “Sáng Thế Kỷ”. Kinh này thuật lại câu chuyện mất vườn địa đàng, do sự phản nghịch của ông Adam và bà Eva. Còn cuốn cuối cùng là kinh “ Khải Huyền “, trình bày địa cầu sẽ trở lại cảnh địa đàng,qua sự chăm sóc của Chúa. Thật ra câu chuyện vườn địa đàng là ám ảnh và nổi bưc xúc của nhân loại hơn 2000 năm qua, và họ cứ mãi miết đi tìm, từ những ốc đảo, rừng rậm cho tới miền núi đồi băng giá. Cuối cùng khắp các nơi chốn đi qua, con người lại mang thêm niềm nhớ muôn thu, khi cảm nhận được sự lầm lẫn đã đánh mất cõi thiên đàng.

    Cho tới thế kỷ thứ 16 sau TL, , vẫn chưa có ai thắc mắc về sự việc liên quan tới vườn Eden trong kinh Sáng Thế Kỷ, trái lại người ta càng ra sức tô bồi thêm thắt câu chuyên cho phong phú diễm tình. Nhà tiên tri Ezechiep đã viết “trong vườn địa đàng, ở hai bên bờ dòng thác, mọc lên mọi thứ cây ăn quả, không bao giờ héo úa, cạn kiệt, năm tháng đều có thu hoạch mới..”. Chính những lời tiên tri đó, thúc đẩy con người thực hiện những giấc mộng đi tìm thiên đàng, trong nổi mơ hồ lãng mạng cho tới hôm nay, vẫn còn chưa hề nao núng, dù thực tại vẫn là ảo vọng.

    Trong 66 cuốn kinh thánh, 39 cuốn đầu tiên viết bằng tiếng Hebrew, một phần nhỏ khác dùng chữ Aram. Còn 27 cuốn cùng mới dùng chữ Hy Lạp. Năm 280 trước TL, kinh thánh được dịch toàn bộ ra chữ Hy Lạp, gọi là bản Septuagint. Sau cùng lại được dịch ra chữ LaTinh. Ngày nay kinh thánh được dịch ra 1700 thứ tiếng, với số ấn bản hằng tỷ cuốn, lưu hành khắp thế giới. Tóm lại kinh thánh co 31.102 câu, 1189 chương, chia thành 66 tập, chương ngắn nhất là chương thanh thi 117 và chương 119 dài nhất.

    Riêng chữ thập được coi như một biểu tượng phong phú nhất của con người. Chính truyền thống Thiên Chúa Giáo đả làm giàu ý nghĩa của chữ thập. Trong các tranh ảnh nói về đạo Ky Tô, chữ thập diễn tả nhục hình cũng như nổi thống khổ của đấng cứu thế. Hiện nay trên thế giới có 4 loại thánh giá và mỗi thứ mang riêng một ý nghĩa. Thánh giá có hình chữ T, tượng trưng cho con rắn bị đóng trên một cây cọc, nói về sự tử vong. Thánh giá có một thanh ngang, hiện được lưu dùng khắp thế giới, đó là thánh giá của phúc âm, tượng trưng cho 4 yếu tố căn bản của con người và sự bành trướng của đạo thiên chúa khắp 4 hướng. Chân thánh giá chôn dưới đất là nền tảng của đạo, nhánh trên là hy vọng hướng về thiên chúa, thanh ngang là tình yêu vươn lên với kẻ thù, còn bề dài nói về sự bền chí. Loại thánh giá có hai thanh ngang, thanh trên có ghi dòng chữ của Ponce Pilate “ Jésus thành Nazareth, vua Do Thái“, còn thanh dưới là chỗ tựa tay của Chúa trước khi chết. Thánh giá này còn được gọi là Anjou hay Lorraine, một biểu tượng của nước Pháp từ năm 1473. Trong thế chiến 2, lực lượng liên minh tự do kháng chiến của De Gaulle cũng dùng quân hiệu với màu đỏ, đối nghịch với quân Pháp đã đầu hàng Hitler, dùng phù hiệu chữ vạn ngược màu đen. Cuối cùng là thánh giá có ba thanh ngang, tượng trưng cho kỷ cương của đạo, tương xứng với ba vòng mủ của giáo hoàng, hồng y và giám mục. Từ thế kỷ thứ XV về sau, theo luật của Tòa Thánh La Mã, theo đó chỉ có Giáo Hoàng được đeo thánh giá ba thanh ngang, Hồng Y đeo thánh giá hai thanh ngang và giám mục trở xuống đeo thánh giá một thanh ngang. Tuy nhiên cũng tùy theo địa phương, với giáo hội La Mã thì thánh giá gồm một một dài một ngắn. Giáo hội Phương Ðông có hai thanh bằng nhau. Ðặc biệt tín đồ Thiên Chúa Giáo vùng Saint André mang thánh giá hình chữ X.

    + NHỮNG BỨC TRANH VÔ GIÁ VẼ MẸ MARIA VÀ CHÚA JÉSUS:

    Ngoài người Ai Cập, La Mã và Trung Hoa, dân tộc Hy Lạp cũng mang tính nghệ sĩ độc đáo qua mọi thời đại và đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật ngay từ thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch. Nhưnng từ khi Ky Tô Giáo từ vùng cận đông du nhập vào Âu Châu, đã làm có nhiều thay đổi quan trọng trong nghệ thuật, suốt thời trung cổ, kéo dài từ thế kỷ thứ V đến XV sau Tây Lịch. Ðây cũng là giai đoạn các nhà nghệ sĩ đã chuyển từ chủ nghĩa Duy Nhiên sang vẽ Bích và Minh Họa các vị Thánh, đạt tới mức hoàn mỹ.

    Tuy nhiên vì các đề tài đều do đơn đặt hàng của Tòa Thánh hay nhà thờ, cho nên hầu hết đều mang tính ước lệ, kiểu mẫu từ hình thức cho tới nội dung.

    Sau thời trung cổ, nhờ các họa sư người Ý như Giotto, Leonard de Vinci, Raphael Santi.. đã có công lớn trong việc làm sống đọng nghệ thuật Ky Tô Giáo, từ thời phục hưng cho tới ngày nay, qua các họa phẩm về Mẹ Maria, Chúa Jésus,bằng cách mượn ngay hình ảnh của người bình thường, để làm mẫu vẽ. Với Leonard de Vinci, ông đã thành công tuyệt mỹ qua bức tranh “Ðức Mẹ Thành Benoir“ khi mượn hình ảnh hiền dịu khả ái của một thiếu phụ trẻ, đang mỉm cười nhìn cánh hoa đang hé nở trong tay đứa bé. Toàn bộ bức tranh thật linh hoạt sống đọng, qua hình ảnh người thiếu phụ tượng trưng cho mẹ Maria. Nhưng ý nghĩa nhất vẫn là đôi mắt của Chúa Hài Ðồng, lúc chăm chú nhìn vào cánh hoa, đồng thời đưa một ngón tay khẻ chạm vào nó, như sợ vuôt mắt niềm tin quý báu. Bức tranh này về sau được gọi “ Tranh Ðức Mẹ Với Cành Hoa “, khác biệt với những tranh mẫu trước thời phục hưng. Ngoài ra Vinci còn sáng tạo nhiều tuyệt tác phẩm khác như “Ðức Mẹ Lita, Ðức Mẹ và Thánh Ana“ tới nay cũng vẫn còn là đỉnh cao của nghệ thuật.

    Ðồng thời với Vinci, còn có họa sư Raphael Sant, cũng là người Ý và cũng sáng tạo chung một đề tài về Ðức Mẹ và Chúa Jésus. Tuy nhiên phong thái của hai người hoàn toàn khac biệt, do tính chất nghệ sĩ cá nhân của mỗi người. Trong lúc Vinci sống nơi phố phường đô hội, trái lại Raphael thì sinh và trưởng thành tại Urbino, một miền quê thơ mộng và xinh đẹp của miền Bắc Ý. Vì vậy sau này dù ở tại các thành phố lớn như Florence hay Rome, ông vẫn lấy khung cảnh đồng quê để hoàn thành các tuyệt tác phẩm như Ðức Mẹ Cadatempi, Ðức Mẹ với Hài Nhi, Cậu Bé Jean Baptist và Người Mẹ Elizabeth. Bức họa nào cũng tuyệt đẹp và thơ mộng, qua cảnh vườn cây bãi cỏ xanh mượt, chen lẫn giữa muôn hoa. Nhưng nổi bật hơn hết, vẫn là hình ảnh của tháp chuông nhà thờ cao vòi vọi, đứng im lìm soi bóng trên mặt hồ phẳng lặng. Năm 37 tuổi sắp qua đời, ông lại hoàn thành một tác phẩm vĩ đại lưu danh thiên cổ, đó là “ Ðức Mẹ Ở Sixtine “ . Ðây là một nghệ thuật độc đáo, đã dung hòa được tinh thần nhân văn, thời phục hưng và truyền thống cổ.

    3-Ðêm Thánh Vô Cùng:

    Theo sử liệu, cách đây hơn 2000 năm, vào một đêm đông lạnh lẽo, Chúa Jésus đã được sinh trong một máng cỏ, nơi cánh đồng cô quạnh. Nguyên do là bà Maria tuy sắp tới ngày sinh đẻ nhưng vì có lệnh kiểm tra dân số của chính quyền La Mã nên phải rời thành phố đang ở là Nazareth về lại quê hương tận Bethlehem, vì vậy đã sinh Chúa giữa đồng. Tuy nhiên tới năm 350 sau TâY Lịch, nhân loại mới thống nhất được 25-12 là ngày lễ Giáng Sinh chung, tuy rằng mỗi nước mỗi địa phương đều có những tục lệ khác biệt, theo tập quán phong tục riêng của họ.

    Từ thời trung cổ về sau, nhất là tại Âu Châu, lễ Giáng Sinh được tổ chức rất long trọng và vĩ dại. Trong mùa lễ, khắp nơi đều có lập những sân khấu lộ thiên, để các đoàn văn nghệ của giáo hội, trình diễn các tiết mục của thánh kinh. Nhờ vậy, nghệ thuật diễn tuồng, kịch của Âu Châu được phát huy và quảng bá rộng rải. Tinh thần Noel trên kéo dài tới cuối thế kỷ XVIII mới bị bãi bỏ. Dù vậy tới nay vẫn còn nhiều phong tục xa xưa được chấp nhận như niềm tin rằng, trong đêm Giáng Sinh, ma quỷ và các phù thuỷ không thể nào hãm hại được ai vì đó là đêm bình an, hoan lạc của thế nhân. Ngoài ra nếu đêm Giáng Sinh trúng vào mùa trăng non, thì năm tới dân chúng làm ăn phát đạt trúng mùa. Ngày Giáng Sinh gặp nắng ráo thì cả năm tới mưa thuận gío hòa. Trong đêm Giáng Sinh, nam nữ rủ nhau đi hái lộc non của các cây nguyệt quế, trường xuân, đào kim chướng, chùm gởi.. qua niềm tin lộc sẽ mang tới hạnh phúc cho họ.

    Trong lúc đó thì mọi nhà, kể cả kẻ ngoại đạo, đều có tiệc tùng rất vui vẽ. Từ sau đệ nhị thế chiến, bánh Buche de Noel, đã trở thành một thực đơn quen thuộc, không thể thiếu trong bữa tiệc của đêm Giáng Sinh. Riêng lý do bánh có hình khúc củi, cũng từ tập tục có từ thời trung cổ truyền lại, để con cháu nhớ lại thuở xưa khắp Âu Châu mọi người đều phải dùng củi để đốt lò sưởi trong dịp sinh nhật Chúa. Ðây cũng là thời kỳ lạnh nhất trong năm, nên mọi ngưòi vừa đốt củi để sưởi, vừa ngồi quanh lửa hồng để cầu xin ơn trên ban phước lành. Ngoài ra còn phải kể tới món Gà Lôi hay Gà Tây được mang từ Tân Thế Giới về Tây Ban Nha, từ thế kỷ thứ XVI, và theo thời gian đã trở thành món ăn quen thuôc hằng ngày nhưng cũng là đặc sản trong đêm sinh nhật Chúa.

    Tuy cũng thuộc Âu Châu nhưng nước Nga với lãnh thổ rộng nhất hoàn cầu chạy dài từ Âu sang Á nên khí hậu có tính cách đại lục. Mùa đông ở đây cũng khác biệt với những lớp tuyết trắng phủ đầy từ mặt đất lên cả mái nhà, còn mặt trời thì giống như ngái ngủ làm cho cả cảnh vật khắp nơi buồn hiu quạnh quẻ. Trước đây người Nga theo Chính thống giáo và lịch riêng của mình, nên hằng năm đón Giáng Sinh vào ngày 6-7/1. Hiện Liên Bang Nga đã xài lịch Gregorian, nên đón Giáng Sinh cũng như các nước khác.. Theo truyền thống, người Nga có tục kiêng cữ ăn uống trước đêm Giáng Sinh, trong đó có rượu Vodka và đường bị cấm tuyệt. Thời gian này, mọi người chỉ ăn bánh Sochniki làm bằng đậu, được chiên bằng dầu thảo mộc và uống nước lạnh. Rồi vào lúc 7 giờ tối đêm Giáng Sinh, khi mà khắp nước Nga, mọi người nhìn thấy một ngôi sao nhỏ xuất hiện trên bầu trời xám đục, lập tức mọi người cầu nguyện. Sau đó quay quần bên bữa tiệc Giáng Sinh, sau kỳ ăn kiêng mà người Nga coi như một biểu tượng của 40 năm Moses đã dẫn dân Do Thái đi trong sa mạc mịt mù. Thời kỳ này, người Nga nào cũng đều làm việc từ thiện. Tại Gia Nã Đại thời tiết cũng lạnh lẽo như bên Nga nhưng tuyết có rơi cũng chỉ là lất phất vừa đủ rắc một vài lớp đá mỏng lên trên vạn vật, rồi dần tan ngay khi có ánh nắng mặt trời. Bởi vậy khách du phương khi tới đây gặp mùa Giáng Sinh, bổng thấy mình vô tình lạc vào cõi thần tiên, giữa rừng cây hằng xanh, của các pho truyện cổ tích, mà các nghệ sĩ Âu Mỹ thường ca tụng là Pine, holly, mitlatoe.

    Tại đây đâu đâu cũng tràn ngập hàng hóa dành cho ngày Giáng Sinh, tất cả đều rạng rỡ dưới màu sắc của mọi màu. Ðêm Giáng Sinh tại đây thật an bình, mọi người sau khi dự lễ nhà thờ về, đều quay quần bên bàn tiệc với gia đình, bè bạn, trong ánh lửa bập bùng của lò sưởi và các đèn màu mờ ảo từ các cánh thông nơi góc nhà. Ai cũng vui vẻ hạnh phúc, nâng ly chúc tụng lẫn nhau, mặc cho ngoài trời giá lạnh căm căm và tuyết rơi như mưa bụi, nhưng vẫn có những kẻ không nhà hay lỡ bước lang thang.

    Thánh địa của Thiên Chúa Giáo là vương quốc Vatican, tuy lãnh thổ nằm trong kinh đô Rome của Ý Ðại Lợi nhưng từ năm 1929 đã được Musolini ký lệnh công nhận là một quốc gia độc lập, bất khả xâm phạm. Tại đây, từ đầu thế kỷ thứ IV sau Tây Lịch, tòa thánh La Mã đã xây Ðại Giáo Đường Saint Peter giữa kinh thành Rome và Quảng Trường Thánh Phêrô có sức chứa hằng trăm ngàn người. Tất cả đều uy nghi, tráng lệ và vĩ đại, không nơi nào có thể sánh kịp từ trước tới nay. Trong đêm Giáng Sinh, người Ý cũng như các tín đồ hành hương ngoại quốc đều tụ tập về đây. Lễ hội kéo dài suốt đêm, mọi người vừa hành lễ vừa vui mừng chúc tụng, ăn uống, nhảy múa ca hát. Ðồng thời với nhiều chương trình ca nhạc được diễn ra khắp nơi tại Via, đồi Aventine, nhà nguyện Sixtine, quảng trường Campitelli.. với các ban nhạc trứ danh bất hủ của Villa Lobos, Beethoven, Brahms, Ravel, Janacer và Stravinsky.

    Tại Hoa Kỳ, những người di dân Anh đầu tiên đã mang lễ hôi Giáng Sinh vào đây và được tổ chức lần đầu vào năm 1686 tại Boston nhưng tới năm 1856 mới được quốc hội công nhận là quốc lễ. Tuy nhiên tất cả các kỷ lục liên quan tới lễ Giáng Sinh đều ở tại Mỹ, cũng như là nước đứng đầu sử dụng cành thông trong mùa lễ. Nữu Ước chẳng những là trung tâm kinh tế số 1 của Mỹ mà còn là kho hàng bách hóa khổng lồ, đường phố cửa tiệm buôn bán suót ngày đêm, với sản phẩm mới, hàng thời trang và đồ chơi trẻ con tràn ngập thị trường. Trong lúc đó các chương trình hòa tấu, văn nghệ dành cho mùa Noel được trình diễn liên tục khắp các trung tâm buôn bán Rockefeller, Radio Music Hall, Carnegie Hall.. Ở đây đêm Giáng Sinh cũng như giao thừa, mọi người tụ tập tại các nơi công cộng như đại lộ Madison, đường số 5, các đại vũ trường trong khách sạn Plaza, Rockerfeller, Waldorf, Astoria, Time Square.. để ăn uống, nhậu nhẹt, khiêu vũ ca hát suốt đêm.

    Ở Anh hầu hết các chuyến tàu điện, tàu điện ngầm, các loại xe chuyên chở công cộng đều luôn đầy nghẹt người suốt ngày đêm 24/12 vì ai cũng hối hả về đoàn tụ với gia đình trong đêm Giáng Sinh, lễ hội quan trọng nhất trong năm, hơn cả ngày tết Dương Lịch. Theo tập quán lâu đời tại Anh thì ngày Chủ Nhật trước lễ Giáng Sinh, mọi người tụ tập tại các nhà thờ để hát thánh ca. Trong lúc đó có nhiều người đi hát dạo trên đường phố cũng như ở nhà quê, để quyên tuyền giúp cho các cơ quan từ thiện. Trong nhà, ngoài phố nơi nào cũng trang hoàng cây Giáng Sinh với những gói quà tặng. Ở Á Châu, Nhật là quốc gia tuy 90% theo Phật giáo nhưng lại hưởng ứng nồng nhiệt lễ Giáng Sinh. Với các gia đình theo đạo Thiên Chúa, bữa tiệc nửa đêm được tổ chúc rất long trọng, ngoài món gà tây nhồi thịt còn có sò và ngổng uống với rượu Ské hâm nóng; gợi lại những hình ảnh cũ mới của mùa Giáng Sinh, đang nở rộ khắp vạn nẻo đường thế giới, bổng xót xa nghĩ nhớ những mùa Giáng Sinh năm xưa ở quê nhà, trước ngày 30-4-1975. Buổi đó, mọi người vì tin đạo, yêu đời và tâm hồn vị tha phóng khoáng theo truyền thống muôn đời của dân tộc, nên ai củng cố quên sự chết chóc đang rình rập để đón mừng đêm Chúa ra đời; phó mặc cho pháo kích, lựu đạn của Việt Cộng lúc nào cũng lợi dụng hưu chiến, gây nổi tang tóc đau khổ cho mọi người.

    Rồi những ngày mở cửa rước tư bản vào cứu đảng. Cứ mỗi lần Giáng Sinh tới, Viêt, Cộng lại đóng kịch tự do tôn giáo, vừa che mắt thánh, lại có dịp tổ chức ăn chơi thu tiên đô của Việt kiều và du khách. Nhưng dân chúng cả nước thì mặc kệ thiệt hay giả, đêm Giáng Sinh năm nào cũng đón mừng vui vẽ, theo tiêu chuẩn là vui được phút nào thì cứ vui, chứ sống trong thiên đường xã nghĩa, biết đâu mà mò chuyện ngày mai sắp tới.

    Xứ người mấy chục năm qua, đêm Giáng Sinh nào cũng nghe lại được những bài hát Ðêm Ðông, Ðêm Thánh Vô Cùng, Mừng Chúa Giáng Sinh.. khiến cho hồn thêm bâng khuâng cô quạnh, rồi tự hỏi :

    “những người năm xưa ấy
    giờ lưu lạc phương nào..?”


    Ðêm nay Giáng Sinh lại về, ta kẻ ngoại đạo một mình lang thang trên phố vắng người. Trên lầu cao, nhà ai tràn ngập ánh đèn màu và chập chùng tiếng nhạc Giáng Sinh thánh thoát, quyện theo gió xa đưa mùi hương huệ trắng thơm ngát ngào ngạt. Ôi đêm thánh vô cùng khắp trần gian, ta đón mừng với giọt nước mắt ly hương, lầm lũi trong đêm lạnh:

    “Ta đã khóc dù hồn đâu có muốn
    nhìn dòng đời hờ hững nhớ quê hương ..”




    Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Mùa Giáng Sinh 2012
    MƯỜNG GIANG
  6. Tháng 10-1996, Giáo Sư Timotly Thylar, một chuyên viên về khảo cổ và nhân chủng học tại Ðại Học Cambridge Anh Quốc, đã phát hành tác phẩm ‘Tình Dục Thời Tiền Sử’, từ khảo nghiệm của một xác ướp vừa tìm thấy tại vùng biên giới Áo-Ý, xác này sống cách đây khoảng 5000 năm. Qua tài liệu, tác giả đưa ra các chứng minh về sinh hoạt tình dục của người tiền sử. Theo đó, họ chẳng những biết được chuyện trai gái phòng the, mà còn nghĩ được nhiều phương cách làm thỏa mãn tình dục. Quyển sách trên còn chứng minh người tình sử, đã biết phân biệt thế nào là ái ân tình tự, sự truyền giống, sinh đẻ. Tất cả xảy ra trước, mở đường để cho các dân tộc Cổ Ai Cập, Hy Lạp, La Mã.. biết sử dụng thuốc ngừa thai. Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn tìm thấy nhiều tài liệu cũng như hiện vật, cách đây mấy ngàn năm, họ đã biết sử dụng cây cỏ để làm chất kích dục, như cây mồ hôi có tác dụng trị bệnh thông thường của phụ nữ trước ngày có kinh, đồng thời còn là loại thuốc kích dục rất hiệu nghiệm.

    Các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy nhiều tượng phụ nữ khỏa thân thời tiền sử, được nghệ nhân tạc rất linh động và khiêu gợi, nổi bậc ở phần bộ phận sinh dục. Tại Pháp, các nhà khoa học còn tìm được một cây gậy, hai đầu có tạc hình cơ quan sinh dục đàn ông, trong tư thế Dordongac, dài từ 10-18cm, mà Timothy cho rằng đây là dụng cụ để các phụ nữ tiền sử tự thỏa mãn tình dục. Ðây cũng là vật dụng mà các bộ lạc, dùng để phá trinh các thiếu nữ trong các cuộc tế lễ. Tại Varna-Bảo Gia Lợi, cũng tìm thấy một chiếc bao bằng vàng đã lũng đầu, nằm giữa hai đùi một bức tượng nam, mà các nhà khoa học cho rằng, đây chính là hình thức chiếc bao cao su ngừa thai thời nay, phù hợp với sinh hoạt của phụ nữ lúc đó, phải làm việc để sinh tồn, nên cần ngừa thai cai đẻ.

    Trong ngày lễ Valentine’s năm ngoái, lúc nam nữ trên thế giới đang tưng bừng ăn mừng vui chơi, để kỷ niệm cuộc tình của mình, thì các nhà khoa học Mỹ trong tổ chức American Association for the Advancement of Science lại tuyên bố rằng ‘Chuyện tình lãng mạn xưa nay của trai gái chẳng là cái quái gì cả, vì đó chỉ là phản ứng hóa học của cơ thể, không hơn không kém‘.

    Lời tuyên bố trên đã làm các vị thức giả bất bình, vì với họ thì tình yêu là một biểu tượng thiêng liêng nhất của con người, mà chưa ai định nghĩa nổi. Ðó là sự phát sinh nảy nở, do rung động của trái tim sâu thẳm, tạo nên các trạng thái yêu, ghen, hờn, hận và đam mê. Bởi vậy tình yêu làm sao có thể phát sinh từ ống nghiệm ?

    Rồi thì càng ngày càng có nhiều nhà khoa học nhập cuộc, đưa thêm các minh chứng làm nền tảng cho lời tuyên bố trên, như bác sĩ người Úc Tony Furmar khi cho rằng: ’Trong tiềm thức của con người luôn luôn bị chỉ huy bởi một mệnh lệnh sinh học’. Xúc cảm và tình yêu cũng vậy, cả hai lĩnh vực này đều do não bộ và con tim phụ trách chung, qua sự luân lưu của hóa chất. Riêng kích thích tố ‘ Hormone’cũng là một vấn đề được đem ra bàn cãi và được tạp chí US New and World Report, dựa vào cuộc thử nghiệm chuột, để chứng minh tác dụng hữu hiệu của Hormone, mà khoa học gọi là ‘Dược Chất Tình Yêu’, khiến chuột cái và đực khắng khít hơn lúc bình thường.

    Vì đây là sự phát hiện gây cấn nhất của thập niên cuối thế kỷ XX, nên càng ngày càng sôi nổi. Với tiến sĩ Helen Fisher của trường đại học New York, tác giả sách ‘Giải Phẫu Tình Yêu’, đã trưng ra các chất hóa học trong cơ thể con người, có tác dụng kích thích và gây mê nơi hai tâm hồn đang yêu thích. Ðó là các chất Adrénaline, Dopamine, Norepine, Phrine và đặc biệt là chất Phelylethylamine, thường được viết tắt là PEA. Riêng tiến sĩ Marta Frid của Úc, thì diễn tả trạng thái hóa học của con người, bị tiếng sét ái tình, sẽ có các phản ứng như hai bàn tay bịn rịn mồ hôi, mặt mày đỏ hồng nóng hổi, hơi thở dồn dập đứt đoạn. Tất cả đều là phản ứng của cơ thể, khi trung khu thần kinh, tiết ra các chất kích thích tố tới hệ thần kinh.

    Nhưng các hóa chất PEA cũng không tồn tại lâu dài trong cơ thể, giống như người bệnh quen thuốc. Ðó là trường hợp của các cuộc tình chết yểu, khi một trong hai kẻ yêu nhau đã lạnh nhạt qua tác dụng của chất PEA. Ngoài ra não bộ thường xuyên sản xuất chất giảm đau Endrophine, có khả năng làm phai nhạt bớt sự nồng cháy của đam mê. Thật ra từ năm 1906, các bác sĩ đã tìm được hóa chất Oxytocin tạo nên sữa mẹ của loài có vú (người cũng như vật) và các kích thích tố sinh dục Testosterone, Oestrogen... Tuy nhiên cuối cùng khoa học cũng khựng điếng, không trả lời được, vì sao các hoá chất trên, chỉ có tác dụng gây nên cảm xúc, yêu thương và đam mê giữa người vói người được chọn làm ý trung nhân hay bạn đời. Trái lại không có tác dụng gì hết đối với những người ngoại cuộc ?

    Nhưng dù có tuyên bố gì gì chăng nửa, thì tình yêu vĩnh cửu vẫn là nguồn hạnh phúc nhất trần gian, đối với con người. Từ đó qua thời gian nhân loại đã phát sinh ra nhiều tập tục mang đầy ý nghĩa của Ngày Tình Yêu, lưu truyền cho tới hôm nay:

    + TUYÊN BỐ KẾT HÔN:

    Tục này phát xuất từ thời Hoàng Đế Charlemagne của Pháp (742-814). Lúc đó nước Pháp thường xảy ra các cuộc hôn nhân có tính cách loạn luân, do các người cùng huyết thống lấy lẫn nhau, làm băng hoại xã hội, khiến con cháu mang nhiều chứng bệnh di truyền. Ðể chấn chỉnh thuần phong mỹ tục, triều đình ra lệnh tất cả thần dân trong nước, phải ‘ Thông Báo Kết Hôn ‘, thời hạn bảy ngày trước khi làm lễ cưới. Mỹ tục này tới nay vẫn được liên tục và chấp nhận.

    Phát sinh từ đầu thế kỷ thứ V sau Tây Lịch, trong xã hội của các dân tộc thuộc nhóm Anglo-Saxon. Thời đó, theo phong tục bó buộc chú rể tương lai, phải bẻ một vật gì để trao cho cô dâu một nửa và mình giữ phần còn lại. Năm 860 sau TL, Giáo Hoàng Nicolas đệ I, ban lệnh xuống các tín đồ Thiên Chúa Giáo, phải làm Nhẫn Ðính Hôn bằng vàng, để tỏ sự tín nhiệm của chú rể tương lai, đối với nhà gái.

    Về nguồn gốc của chiếc nhẫn cưới cũng rất phức tạp. Với người Goths, thì đó là biểu tượng để cô dâu bị bắt cóc, phải ràng buộc với người chồng. Riêng cổ Ai Cập vào khoảng năm 1800 trước Tây Lịch thì việc hai bên trao đổi nhẫn cưới, để biểu lộ sự vĩnh cửu của tình yêu, vì với họ, vòng tròn là hình ảnh bất phân ly không bao giờ chia cắt. Tại Ấn Ðộ, người ta đeo nhẫn cưới vào ngón tay cái trái, còn dân Hébreux lại thích đeo ở ngón trỏ. Tuy nhiên theo sử liệu, thì chính người Hy Lạp mới là tác giả của tục đeo nhẫn cưới vào ngón áp út được phổ biến cho tới ngày nay. Chính các bác sĩ cũng xác nhận rằn, ngón áp út có thể gọi là ngón tay ‘tình yêu’, vì tại đây có một tĩnh mạch thông tới tận trái tim. Riêng đạo Thiên Chúa thì giải thích việc đeo nhẫn cưới vào ngón tay áp út như sau: Khi đeo nhẫn vào ngón tay cô dâu, đầu tiên chú rể chạm chiếc nhẫn vào ngón tay trỏ rồi niệm nhân danh Cha, kế tới là ngón giữa nhân danh Con và cuối cùng đeo nhẫn vào ngón áp út, khi niệm Thánh Thần và Amen.

    + PHÙ RỄ:

    Vào thế kỷ thứ I trước TL, các dân tộc Goths (tổ tiên người Ðức) có tục lấy vợ cùng làng nên đã xảy ra nhiều trường hợp ngang trái vì không vừa bụng. Do trên nhiều ngươi đã phải bắt cóc các cô gái khác làng để đem về làm vợ. Phong tục này phải nhờ một người bạn giúp đỡ, gọi là phù rễ. Buổi đó, người phù rể vừa là đại diện của đàng trai cũng như người bảo vệ chú rể chống lại các hành động của bên vợ. Ngày nay, người rễ phụ có nhiệm vụ giữ nhẫn cưới của hai họ.

    + TỤC CÔ DÂU ÐỨNG BÊN TRÁI CHÚ RỂ:

    Tục này cũng phát xuất từ dân tộc Goths. Do sự bắt cóc gái về làm vợ, nên chú rể lúc nào cũng sợ bị trả thù. Do đó trong ngày cưới, đã có sự sắp xếp cô dâu đứng bên trái chàng rễ, để anh ta dùng tay trái ôm giữ nàng, còn tay mặt được tự do để ứng phó kịp thời với bất trắc do đàn gái gây ra.

    + ÁO CƯỚI MÀU TRẮNG:

    Phong tục này chỉ xuất hiện sau năm 1830. Trước kia cô dâu mặc áo cưới màu vàng theo cổ tục của toà thánh La Mã.

    + TUẦN TRĂNG MẬT:

    Phong tục này cũng phát xuất từ người Goths. Vì hành vi bắt cóc người đẹp về làm vợ, nên sau khi đám cưới xong, chàng phải dát nàng đi trốn, để tránh sự phiền phức từ bên vợ. Trong thời gian này, cô dâu chú rể phải uống mỗi người một cốc rượu vang làm bằng mật ong.

    + NHỮNG CHUYỆN LẠ TRÊN THẾ GIỚI VỀ HÔN NHÂN:

    Người Nhật ngày nay tổ chức hôn lễ theo phong tục tây phương, cô dâu mặc áo cưới màu trắng đeo nhẫn cưới. Song song với lễ cưới mới, người Nhật vẫn giữ phong tục tập quán cổ truyền của tổ tiên. Ðó là trong ngày cưới, vợ chồng cùng uống chung một ly rượu Sake. Cô dâu không mang khăn voan nhưng lại đội một cái mũ lớn để che cặp sừng của mình. Ðây cũng là quan niệm của người Nhật, vì chỉ có hạng đàn bà hung dữ ghen tương hiếp chồng, đầu mới có sừng.

    Với các dân tộc Âu Mỹ, trước một ngày tân hôn gọi là Wedding Shower, cô dâu và chú rể có quyền quậy phá, để rồi ngày mai vĩnh viễn giã từ cuộc sống độc thân tự do. Nhưng đề tài để cô dâu quậy phá cũng vẫn là chuyện bếp núc và chuẩn bị cuộc đời làm vợ làm mẹ. Trong dịp này, cô dâu được cha mẹ cũng như gia đình cho của hồi môn để theo chồng.

    Nhiều phong tục cổ xưa nay vẫn còn thịnh hành tại Mỹ, như trong ngày cưới cô dâu phải mang trong mình bốn món đồ bắt buộc gồm có: Món đồ cũ của gia đình mình (thông thường là khăn tay của mẹ ruột), món đồ mới của nhà chồng (chiếc áo cưới), một món có màu xanh lơ (sợi dây nịt) và một món mượn của bạn (nữ trang).

    Với người Ðức, họ tin rằng con số 8 là biểu tượng của sự may mắn trong tình yêu, nên vào ngày 8/8/1988 thanh niên nam nữ cả hai miền Ðông và Tây Ðức đổ xô nhau đi làm đám cưới. Ngoài ra người Ðức đeo nhẫn cưới bên tay phải.

    Tại Áo, phong tục cô dâu khi bước vào nhà chồng phải liệng vào lò sưởi hay bếp lò một sợi tóc mai, tục này nay vẫn còn tồn tại ở miền quê. Tại Anh, khi cô dâu chú rể ra khỏi nhà thờ được mọi người ném gạo vào mình, mục đích chúc phúc và có con cháu đầy nhà.

    Người Trung Hoa, khi cô dâu lên xe hoa về nhà chồng phải khóc sướt mướt. Ðây là quan niệm có từ ngàn xưa, vì với người Tàu, hôn nhân là cuộc phân ly tử biệt. Người con gái khi bước lên xe hoa về nhà chồng, coi như cũng kết thúc cuộc sống chung với gia đình mình (xuất giá tòng phu). Theo các tài liệu cổ xưa, người Tàu đã biết giáo dục con cái về chuyện phòng the rất sớm. Trong tác phẩm ‘ Bạch Hổ Thông ‘ cop ghi rằng, năm 79 sau TL, vua nhà Ðông Hán đã cho triệu tập, một cuộc họp toàn quốc, gồm các nhà học thuật, sử gia, thầy thuốc tên tuổi, để nghiên cứu về vấn đề giáo dục dân chúng trong lãnh vực tình dục. Cũng theo tác phẩm trên cho biết, con cháu nhà quí tộc, quan quyền từ 15-20 tuổi, phải nhập trường để học hỏi về tình dục, hôn nhân. Nói chung cha mẹ chỉ dạy dỗ con cái qua lối ám thị, một hình thức nhắc khéo mà thôi. Do đó, con gái trước khi về nhà chồng, người mẹ lén bỏ vào rương hồi môn của con gái, gọi là ‘Áp Rương Ðầy‘. Thật ra đây chỉ là một pho tượng làm bằng đất nung, tạc hình đôi nam nữ trong tư thế đang giao hoan. Ngoài ra còn thêm một vật khác gọi là ‘Giá Trang Họa‘. Ðây là một bức tranh vẽ đủ kiểu ân ái của nam nữ. Mục đích của người mẹ muốn truyền lại cho con gái mình kinh nghiệm, thực hành trong đêm tân hôn.

    Tóm lại tới nay chẳng ai hiểu nổi “Tình yêu là cái quái gì?“ mà nhân loại xưa nay, từ các bậc đế vương, phi tần, quan quyền cao sang quý phái, cho tới những anh hùng liệt nữ ngất ngưởng hiên ngang và ngay cả hàng thứ dân bình thường.. hầu như ai cũng bị tiếng sét con tim, làm cho lận đận lao đao, dở sống dở chết, thân bại danh liệt, khi đã lở vướng lụy vào lưới tình. Bao nhiêu bi kịch não lòng, buồn rầu tới độ phải chảy máu mắt đêm ngày, cũng chỉ vì yêu, ghen, thương, hận. Nói chung không ai có thể ngăn nổi "tình yêu trai gái", khi họ đã quyết lòng gắn bó keo sơn, mặc kệ ngày mai sẽ ra sao khi đã đam mê vướng lụy vào lưới tình. Do trên mới có câu "khi đã yêu rồi, trời gầm cũng không nhà" là vậy đó; nên đã có không biết bao nhiêu trang sử tình bi thiết cổ kim làm đau lòng hậu thế, như chuyện của Juliet-Roméo, Cléopatra-Antone, Dương Quý Phi-An Lộc Sơn, Trương Chi-Mỵ Nương, Mỹ Châu-Trọng Thủy, Trần Huyền Trân-Khắc Chung và ngàn muôn câu chuyện diễm tình khác, cũng không kém thuơng đau máu lệ.

    Như vậy tình yêu là gì? Đố ai trả lời được, dù ai cũng đã ít nhất một lần là người trong cuộc. Ðã có nhiều người bảo: Ðó là thứ thần dược, chữa trị được nhiều thứ bệnh. Là mầm bệnh yếu đuối do trái tim gây ra, là sự khôn ngoan của kẻ khờ, là mù quáng, là thuốc phiện cũng như vị ngọt của trái cấm trong vườn địa đàng. Nhiều người đã chịu khó góp nhặt những tình huống, kinh nghiệm trong tình sử, rồi phân hạng thành sáu loại tình yêu:

    1-Tình yêu của “chàng-nàng” hay “Eros“, một kiểu tình lãng mạn.

    2- “Leudus”, chỉ thứ tình đổi thay như ta thay quần áo hằng ngày.

    3- “Storge“ là thứ tình yêu chân thật, phát xuất từ mối tình thơ theo kiểu “nhà nàng ở cạnh nhà tôi“ hay đã nhen nhúm tình cảm lúc còn học chung dưới một mái trường.

    4- “Mania“ là loại tình yêu cuồng mê si dại, vì thế một trong hai khi quá đam mê, có thể giết người như Orhello đối với Deodemona.

    5- “Pragma” kiểu tình yêu môn đăng hộ đối.

    6- “Agape” kiểu tình yêu cao thượng của các bậc anh hùng-anh thư, vì kẻ khác mà quên tình mình.

    Buổi trước các khoa học gia đã lẩn trốn sự phân tích tình yêu, vì cho rằng nó thuộc phạm trù của những văn nghệ sỹ, vốn là thành phần rất ướt át, ủy mị, thích thương mây khóc gió, nên hay lo chuyện nhân thế tàng tàng, một trái ngược với bản chất khô cằn của các nhà khoa học. Nhưng giờ này, con người đã phải nương tựa vào nhau mà sinh tồn, nên không còn phải chia vùng, phân biện các bộ môn y tế, xã hội, nhân chủng học... Tất cả không nhiều thì ít, đều có liên hệ tới chuyện yêu đưong trai gái.. vì vậy thành kiến ngoại cuộc trên, đã bị đánh đổ. Do trên hiện có rất nhiều khoa học gia, trong số này có những nữ bác học, đã khai quật được từ trong sâu thẳm của nấm mộ thời gian nhiều bí mật lạ lùng về tình cảm con người về nụ hôn, tình dục, sửa sang sắc đẹp... mục đích cũng vẫn là để giữ gìn lứa đôi hạnh phúc.

    Năm 1997, nhân ngày VALENTIME’S DAY, các khoa học gia Hoa Kỳ trong tổ chức American Association for the Advancement of Science đã nhóm hợp tại thành phố Seatle, tiểu bang Washington, để tuyên bố: “Tình yêu lãng mạn của nhân sinh kim-cổ, Đông-Tây, chẳng qua chỉ là những chuỗi phản ứng hóa học mà thôi “.

    Ðúng hay sai chỉ có trời biết, trong khi nhân loại cứ vẫn đút đầu vào cái thòng lọng của thần tình ái, để chịu khổ, chịu chết vì tình yêu:

    ‘..gió hiu hắt mà hồn đơn cũng lạnh
    mưa phất phơ sao vẫn buốt thịt da
    môi chưa chạm, tình đã vội chia xa
    tay chực nắm, người cay chua từ chối.. ’




    Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 2-2012
    MƯỜNG GIANG
  7. Chiều hăm chín tết năm 1978, Trại Cải Tạo Huy Khiêm của tỉnh Thuận Hải rộn hẳn lên vì ngày mai cho tới mồng Hai Tết, đoàn tù khổ sai của Việt Nam Cộng Hòa tạm nghĩ lao tác, được đổi khẩu phần Tết với đường, thịt heo, cơm trắng không độn và một bao thuốc có cán. Nhưng quan trọng nhất vẫn là cái danh sách phóng thích tù nhân vào mỗi dịp Tết về, sẽ được cán bộ gọi trong buổi sinh hoạt hôm nay.

    Đúng 1 giờ trưa chiều Ba Mươi Tết năm đó, trại có mười người được nhận giấy phóng thích về nguyên quán trình diện. Quỹ trại không có tiền cho tù nhân mua giấy xe đò xe lửa, nên ai lo mạng nấy bằng cách lội bộ, từ Huy Khiêm tới Ga Suối Kiết xa chừng 30 cây số. Tám giờ tối cả bọn tới nhà ga thì đã lỡ chuyến tàu chợ, nên đành phải chờ chuyến tàu suốt Bắc-Nam, Nam Bắc vào lúc 11 giờ khuya cuối năm. Trong bọn chỉ có tôi về Phan Thiết, còn lại đều ở rất xa tận Sài Gòn, Nha Trang... Chia ly rồi sắp chia ly nữa, anh em chỉ đành ngậm ngùi trao gởi, hưa hẹn.

    Trong khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, mọi nhà cài then đóng cửa đón mừng năm mới, thì chúng tôi cũng đang chờ phút giây thay đổi của đất trời. Ga Suối Kiết nằm cheo leo trong rừng lá, cạnh vách núi Ông cao ngất hùng vỹ, bao quanh vài chụp nếp nhà lá lụp xụp của các công nhân hỏa xa và dân làm gổ. Có lẽ hôm nay mọi người đã về quê ăn tết nên xóm nhỏ thật đìu hiu không có một chút sinh khí, chứng tỏ nàng xuân chưa ghé chốn này.

    Cũng may Suối Kiết là một ga lớn trên tuyến đường xe lửa Nam-Bắc, nên tất cả các chuyến tàu chợ và suốt đều phải ngừng lại, dù khách có hay không. Về đêm, núi rừng càng buốt cóng lạnh căm. Bộ quần áo trận năm nào dù đã được đắp thêm chục mãnh vá, vẫn không ngăn nổi cái sắt se xa xót, như từ một cõi mộ địa, theo cái lạnh xâm chiếm tâm hồn những bóng ma đang lạc lõng trong đêm xuân, không biết rồi sẽ về đâu, để kiếm chút hơi ấm của tình quê.

    Trong cái hiu hắt của đêm buồn, cũng đủ để mọi người nhìn rõ hình ảnh của sự cô đơn nơi ga lẽ, từ những thanh sắt han rĩ tróc sơn trước quầy bán vé, cho tới hàng ghế gổ mọt đầy vết bẩn. Tất cả bổng dưng được trùng phùng một cách ngẩu nhiên với những người tù không bản án, những quân, công, cán cảnh của VNCH bại trận, vùa được phóng thích trong đêm tết quạnh quẽ, buồn rầu. Phải vui lên một chút để mừng năm mới, thay vì mượn rượu phá thành sầu, cả bọn lại chụm đầu vào nhau, rít chung vài bi thuốc lào ăn tết, trong khi bên ngoài gió núi lồng lộng thổi, tạt sương muối vào mặt mũi da thịt, khiến cho cơn lạnh đói càng thêm hành hạ mọi người.

    Hình như Giao Thừa sắp đến trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho vợ con, bạn bè, đồng đội, đồng bào... được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể. Hởi ơi giờ này không biết mẹ già em thơ, vợ con... có còn như những ngày Xuân dấu ái trước năm 1975, giao thừa đi lễ chùa, xin xăm hái lộc, nhà có vui xuân đón tết hay gia đình cũng lại như tôi, tại sân ga nơi rừng núi thẳm tăm tối lạnh lẽo này, cô đơn, đói lạnh và nhục nhã trùng trùng.

    Kỹ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẩn dắt đưa tôi về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấychán.

    Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa tôi về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đọan nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suối Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc, đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược. Giờ đây cảnh xưa vẫn nguyên vẹn, riêng tôi thì ôm một tầng trời sầu thảm không đáy, lạc lõng trên quê hương hận thù với kiếp sống nào hơn loài cỏ cây.

    Rồi thì tàu cũng đến, chúng tôi chia tay trong nước mắt, cuối cùng ai nấy hấp tấp lên tàu như kẻ trốn nợ trong đêm trừ tịch, giữa tiếng còi tàu lanh lãnh thét vang, phá tan cảnh tịch mịch của rừng núi âm u, nghe sao quá ảo nảo lạnh lùng.

    Chuyến tàu suốt Sài Gòn-Phan Thiết đêm nay ế ẩm, nhiều toa hành khách vắng ngắt lạnh tanh, không như ngày thường chen chân không lọt. Có lẽ mai là mồng Một Tết Nguyên Đán, nên ai cũng muốn ở nhà để xum họp với gia đình. Đất trời buồn mênh mông quá, thêm gió thổi vi vút từ hai bìa rừng thả hơi lạnh khắp nơi, nhưng tôi vẫn muốn ngồi ngoài hành lang để được nhìn lại quang cảnh cũ Trong các toa tàu, đèn đóm tối om, dăm ba hành khách nằm dài trên ghế như đã ngũ tụ lâu rồi.

    Mặc kệ, tàu vẫn chạy xiết trên đường sắt như con thú điên, với hai ánh đèn pha phá tan màn đêm tăm tối. Hởi ơi cuộc đời sao oan nghiệt quá, trong lúc nhà nhà đang đầm ấm chờ đón chúa xuân, thì tôi trong một tối ba mươi tết, buồn rầu nơi toa xe lửa lạnh lẽo này, yên lặng nép mình trong cô quạnh, để đón một mùa Xuân vàng úa nữa, sắp rơi xuống bờ vai của cuộc đời.

    Trong giờ phút năm củ sắp tàn, con tàu cũng hối hả lướt qua từng ga: Vắng Sông Dinh, Sông Phan, Suối Vận, Mường Man rồi Phú Hội vừa đúng 12 giờ rưởi sáng. Thế là năm mới đã qua và tôi cũng đã lở dịp nghiêng mình chào đón nàng xuân mới trên quê hương mình.

    Trên tàu, ai nấy đều thức dậy, đang chuẩn bị xuống ga Phan Thiết. Tất cả đều xa lạ, hờ hững, buồn rầu, im lặng như bóng tối, không ai chúc nhau một lời ngắn ngủi dù là ngày tết. Bổng đâu đấy nơi một thôn xóm nào đó, dọc theo con đường sắt vang lên mấy tràng pháo chuột, bóng sáng lập lòe như muốn đưổi theo con tàu, khiến cho hồn thêm buồn rầu thương tiếc. Nổi náo nức thầm kín vừa lóe lên, chợt tắt hẳn khi nghĩ đến thực tại não nùng.

    Hởi ôi mấy chục năm về trước, tôi, người lính trẻ xa nhà vẫn đam mê chạy đuổi theo những giọt mưa xuân giữa trời lửa loạn. Nay trong buổi xuân về, người lính già lội ngược thời gian tìm vết ngày thơ như còn giấu đâu đó, nơi vòm trời đồng đội, và em, và những tết cuối cùng trong quân ngũ, để ngẩn ngơ bàng hoàng xúc động, như thể vừa bước chân lên con tàu về quê hương, của những Tết ấm yên hạnh phúc đầu đời.

    Nên có bài thơ buồn tặng bạn bè trong đêm trừ tịch nơi quê người:

    “Sáu nhăm tuổi vẫn đời phiêu bạt
    như thuở rong chơi buổi thiếu thời
    gác trọ buồn hiu mình với bóng
    nổi sầu thiên cổ cháy tim côi

    Ngao ngán hoàng hôn trong ngực đá
    võ gầy mộng hẻo bước lang thang
    ai đem thương nhớ vào trong lệ
    khiến tuổi xanh mơ đã ố vàng

    Một sáng tàn thu rời xóm học
    một chiều cô lạnh giã từ nhau
    một ngày về phép buồn ly cách
    nhìn chiếc xe hoa rẻ lối nào

    Từ đó trăng xưa mờ tuổi mộng
    đạn bom ru điệu máu quân hành
    rừng khuya bản thượng dài cô tịch
    chờ giấc chiêm bao cũng lạnh tanh

    Bước chân lận đận đời chinh chiến
    vẫn chẳng nguôi ngoai nổi đoạn trường
    rươu có làm hờn sôi thệ nguyện
    nhưng không xóa hết lệ thương vương

    Rồi nuốt thêm đau ngày rã ngủ
    súng gươm gảy rĩ khóc bên đường
    tuổi tàn đời quẩn theo tiền kiếp
    nghiên bút chôn vào cõi gió sương

    Quê người chạy giặc mờ nhân ảnh
    thăm thẳm chia xa những bến đời
    em một bờ sông, ta ngỏ lạ
    tha phương quán gió đếm mưa rơi

    Quanh quẩn tìm nhau trong cổ mộ
    bạn bè dâu bể biết còn ai
    những thằng tri kỷ về lòng đất
    muốn nhớ nhìn mây để thở dài

    Phan Thiết quê xa trời bảng lảng
    Mường Giang, biển mặn nước chung dòng
    đứng nghe bầy sếu kêu ra rã
    bừng dậy niềm đau ngập nhớ mong

    Thơ viết nghìn trang chưa thấy đủ
    mẹ ơi, trăm nẻo cứ mong tìm
    chiều chiều mẹ đứng bên cầu nhỏ
    đáy mắt già nua dõi bóng chim

    Mấy chục năm rong trên xứ lạ
    tóc xanh rồi bạc vẫn chưa về
    chinh y, vó ngựa thời say tỉnh
    dò dẳm tàn theo khúc nhạc mê

    Soi gương ngơ ngẩn buồn thê thảm
    mấy chục năm xa, vẫn muộn phiền
    tủi thẹn nhìn ngày qua tháng lại
    biết về đâu hởi bước cô miên?



    Đêm Ba Mươi Tết
    Từ Xóm Côn Hạ Uy Di
    HỒ ĐINH
  8. Phan Thiết quê tôi, năm nào gần Tết thường không có mưa. Nhưng nếu trời trở chứng trút nhẹ một vài cơn mưa rào thì đã thấy Xuân như đang bắt đầu chúm chím trên từng giậu hoa, ngọn cỏ. Ðường phố bỗng dưng được nước mưa lau chùi sạch sẽ và hữu tình nhất vẫn là nụ cười của người Phan Thiết, không còn thấy héo hắt, muộn phiền. Những hàng Vông, gốc Phượng, những chiếc lá Me non cũng phe phẩy, mừng rỡ. Tất cả như cùng Xuân mở hội.

    Trong nhà rộn rịp, ngoài ngõ cũng lao xao, nhất là tại các lò bánh tráng ở Phú Hài, Xóm Lụa, Tân An, Duồng, Phan Rí Thành và ngay trong thị xã, hoạt động suốt ngày đêm vẫn không đủ để cung ứng cho mọi người, vì nhà nào cũng đều cần để cúng và cuộn với măng kho thịt heo và bánh tét trong ba ngày Xuân.

    Tết Phan Thiết vui từ những ngày cuối Chạp, mà chủ đích là rủ nhau đi chợ để mua sắm và... ngắm người. Bắt đầu từ ngày 25 tháng Chạp, chợ trái cây và hoa đã được hình thành trên hai con đường Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, cạnh vườn hoa nhỏ, bên hữu ngạn Mường Giang. Giáp Tết, hoa từ các nơi được đổ về thành phố vô số kể, làm như người Phan Thiết chỉ biết ăn Tết bằng hoa, mặc sức mà lựa chọn. Thôi thì đủ thứ, từ các loại hoa bình dân như Mồng Gà, Vạn Thọ, Trường Sanh, Cúc, Thược Dược.. cho tới các loài hoa vương giả nổi tiếng của Bình Thuận là hoa Mai với màu vàng phớt, có năm cánh mỏng mướt như lụa, lúc nào cũng nhè nhẹ muốn chực cười trước gió xuân. Ðây là người bạn lâu đời của Phan Thiết, vì vậy mỗi độ xuân về, hầu như nhà nào cũng có một cành mai, dù mua ở chợ hay lặn lội tới rừng xa, núi cao, để chặt. Hoa bán thật nhiều, có năm thiếu người thưởng thức nên vào chiều ba mươi Tết, nhiều loại hoa ế ẩm đã bị chủ vất bỏ, nằm phơi lạnh lùng bên vệ đường, mặc cho hoa ủ cánh rũ. Thật thảm thay cho kiếp hoa tàn.

    “...Tết này mình rũ về Phan Thiết
    sống lại mùa xuân tuổi học đường
    tháng Chạp hăm ba cùng với mẹ
    nữa đêm tiển Táo rất thân thương

    Hăm nhăm lểnh khểnh mang quà Tết
    kính biếu thầy cô khắp phố phường
    lấp ló sau lưng me nhìn trộm
    cành mai đang hé cánh xuân hương

    Chiều hăm chín Tết theo chân chị
    mệt lã chen nhau giữa bước người
    phiên chợ cuối năm vui đáo để
    tiếng cười làm gió cũng chơi vơi

    Quẩn quanh đã bắt đầu đì đẹt
    pháo nổ xen trong điệu trống lân
    khắp bếp bề bề măng, cốm, mứt
    nhà trên cha vịnh bức tranh xuân

    Giao thừa ngồi đợi chuông chùa vọng
    giữa bước nàng xuân lộng nỏn nường
    hương rợp xiêm y rền nhạc ngựa
    trần gian mở hội đón tiên nương

    Hừng sáng cả nhà đi hái lộc
    mông mênh đất tỏa ngát hương trầm
    pháo hồng mừng tết bay trăm lối
    bổng tiếng gà vang báo đổi năm

    Trời hởi xuân về thương với nhớ
    ngồi đây mà ngóng tết xa mờ
    quán khuya vắng bóng người muôn dặm
    tiếng sếu càng thêm mộng ngẩn ngơ

    Giờ đâu còn đủ giòng dư lệ
    để khóc mùa xuân lạc bến chiều
    nhớ mẹ nên buồn rầu mộng mị
    những ngày tết nhỏ vẹn thương yêu

    (Tết Này Ta Về Phan Thiết – thơ Mường Giang)

    Trước năm 1975, mỗi lần Tết về, tưởng như cái thị xã nhỏ xíu này sẽ không bao giờ ngủ được trong khoảng thời gian từ hai mươi tháng chạp cho tới phiên chợ chiều ba mươi tết, vì hầu như ai củng cố thức để mà đi chợ đêm mua bán hay nhìn người. Ðiều này cũng dễ hiểu vì dân Phan Thiết quanh năm suốt tháng làm lụng vất vã, từ nghề bờ cho tới bạn biển. Nhưng khổ nỗi vùng đất này từ xưa đã nổi tiếng là chốn ăn chơi, không thua gì Sài Gòn-Hà Nội, nên đã có câu phong dao truyền tụng ‘Bình Thuận là chốn ăn chơi, cái nồi cũng bán, cái tơi cũng cầm‘. Bán cầm rồi có tiền mua hay chuộc trở lại lo gì vì đây là chốn rừng tiền biển bạc. Bởi vậy đừng ngạc nhiên khi ở đây cái gì cũng khác thiên hạ, nhất là vào dịp lễ hội, cúng tế và vào dịp Tết về. Chính những nét đặc trưng này đã làm cho người Bình Thuận hãnh diện khi giang hồ khắp chốn. Đây là nếp sống của quê tôi, khó có thể thay đổi.

    Ði chợ trong ba ngày Tết để lo cho gạo nước đầy lu, làm các món ngon vật lạ để ăn nhiều, ăn ngon nên ai cũng phải đi chợ để mua sắm tùy theo túi tiền. Trong thời gian này, các lò bánh tráng quanh thị xã tại Phú Long, Lại An, Tân An.. làm suốt ngày đêm, vì khách hàng đã bắt đầu đặt bánh từ tháng 11 Âm Lịch. Ðây là món ăn của ngày Tết, dùng để cuốn thịt kho măng hay bánh tét, nên nhà nào cũng cần. Ở nhà quê, mọi người không mua bánh mà chỉ tới lò nhờ tráng một hay hai thùng gạo, rồi trả tiền công mà thôi.

    Từ trung tuần tháng Chạp, trong khi tại các phố Gia Long, Ðồng Khánh, Ðinh Tiên Hoàng, Lê Văn Duyệt... bao quanh khu chợ lớn, đã bắt đầu phân chia lô bán hàng tết, thì hầu như khắp xóm làng, nhà nhà đều bận rộn đóng cốm hộp, vì đối với phong tục cổ truyền của người Việt Nam, đây là món ăn đặc biệt, để thờ cúng ông bà trong ba ngày Tết. Theo sử liệu, thì cốm đã theo gót chân khai hoang mở đất của người dân Thuận-Quảng tới đây. Người dừng lại định cư ở Bình Thuận từ ba trăm năm trước thì cốm cũng nương theo và trở thành sản phẩm quen thuộc của bản địa

    Ăn tết xưa nay, người Bình Thuận dù túng thiếu thế nào chăng nửa , cũng không dám để thiếu món ‘bánh tét‘, trước dùng để cúng vong linh tiên tổ ông bà, sau cũng là món quà đặc biệt để tặng thân bằng quyến thuộc và ăn chơi trong mấy ngày đầu năm. Theo các nguồn sử liệu, thì bánh chưng có hình vuông và dẹp, gói bằng lá dong, rất được thông dụng tại miền Bắc Việt Nam. Còn bánh tét (bánh dầy) là những đòn tròn, gói bằng lá chuối, là món ăn ưa thích tại Trung-Nam phần. Tuy nhiên dù khác tên gọi nhưng cả hai đều làm bằng một thứ nguyên liệu giống nhau, gồm nếp và nhân đậu, thịt. Riêng bánh chưng gói ở Bắc phần có thêm thảo quả và dầu cà cuống nên ăn rất thơm ngon. Cả hai loại bánh trên đều có xuất xứ từ thời các tổ Hùng dựng nước, nên nó đã chuyên chở trọn vẹn mọi phong tục tập quán của dân tộc Hồng Lạc qua bao thế hệ.

    Thật vậy, bánh dầy (bánh tét) mang hình tròn, tượng trưng cho Trời, còn bánh chưng có hình vuông là biểu tượng của đất. Trong lúc đó các loại nếp, nhân đậu, thịt mỡ.. là nhân sinh vạn vật. Tuy nhiên ý nghĩa hơn hết , là các lớp lá bọc bên ngoài, như muốn nói lên tinh thần đoàn kết của dân tộc ‘lá lành đùm bọc lá rách. Nhiễu điểu phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng‘. Lại có truyền thuyết cho rằng bánh dầy và bánh chưng được xuất phát từ thời Bắc thuộc, lúc đó người Việt đang bị giặc Tàu đô hộ, sống cảnh lầm than tận tuyệt, lên rừng kiếm ngà voi sừng tê giác, xuống sâu mò ngọc trai để bọn tham quan ô lại vơ vét mang về nước sống giàu sang phú quý. Do đó mọi người luôn sống cảnh lầm than, nhiều khi phải bỏ làng xóm quê hương trốn lánh giặc Tàu đuổi giết cướp bóc. Vì không thể mang theo lúa gạo lúc chạy loạn nên mới có sáng kiến nấu thành bánh, đem giấu dưới mương ao, đợi lúc thanh bình, trở về quê nhà có cái ăn tránh được nạn đói.

    Năm Kỷ Dậu (1789), Ðại Đế Quang Trung (Nguyễn Huệ) trong cuộc hành quân thần tốc từ Trung ra Bắc Hà để tiêu diệt hai chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu và do Lê Chiêu Thống dẫn về tàn phá quê hương, chính ngài đã dùng bánh tét để làm lương thực cho quân sĩ trên đường hành quân Bắc tiến. Nhắc đến bánh tét, làm sao quên được những tối cuối năm thời tuổi nhỏ, cùng với gia đình quây quần trước nồi bánh đang sôi sùng sục trên bếp lửa hồng, vừa châm thêm củi và đảo lộn các đòn bánh trong nồi cho chín đều, vừa len lén nhìn cánh mai vàng cắm trong chiếc bình cổ trên phòng khách, để rình hoa đã mãn khai rồi hay chưa, vì ai cũng hy vong Mai nở cho kịp với nàng xuân nõn nường kiều diễm đang lồ lộ nơi ngưỡng cửa hạnh phúc vui vầy.

    Phan Thiết ngày xưa, tuy không phải là chốn phồn hoa đô hội nhưng vẫn là nơi thị tứ qui tụ người khắp mọi miền đất nước, nên chuyện ăn uống trong ba ngày tết rất đa dạng và cầu kỳ, không những là người Việt mà còn có nhiều khác biệt giữa người Việt gốc Hoa, trong năm bang hội sinh sống tại địa phương. Tuy nhiên dù là ai chăng nữa, với người Việt, nồi thịt heo kho măng khô, vẫn được coi là quan trọng hơn hết. Với người Phan Thiết gốc đồng bằng sông Cửu, thì có nồi thịt heo kho Tàu với nước dừa, ăn cùng dưa giá có trộn thêm cà rốt, lá hẹ, ớt xắt sợi và cuống củ cải. Thịt được dùng để kho, phải là thứ thịt heo ba rọi vừa nạc lẫn mỡ. Kho nồi thịt ngon, đòi hỏi phải có kỹ thuật làm bếp giỏi, để sao cho lúc chín, phần nạc thì đỏ au đẹp đẽ, còn lớp mỡ da căng nở ra mềm mại. Có như vậy mọi người ăn liên tiếp món này trong suốt mấy ngày Tết vẫn không thấy ngán, ngược lại mỗi lần nhìn tới đã thấy thèm.

    Rồi còn phải thêm vài hủ củ kiệu muối với tôm khô, loại lạt muối, thứ này giúp các chàng đưa cay khi đối tửu. Riêng củ cải thì dùng chung với bánh tét, được gói bằng thứ bánh tráng mỏng sản xuất từ các lò Phước Thiện Xuân, Xóm Lụa, Cây Chôm. Với các gia đình trung lưu, thì các bửa ăn ngày tết, không bao giờ thiếu món khổ qua dồn thịt bầm trộn với tôm quết nhuyễn. Tuy nhiên có nhiều người tin dị đoan nên không dám ăn món này trong ngày Tết vì sợ lại khổ quá cả năm mới. Vì người Bình Thuận là hậu duệ của người cả nước, nên món ăn nào cũng phong phú, kể cả các món ngọt thì không làm sao đếm hết được như món xôi vị gốc Quảng, có pha lá dứa hay lá cẩm. Còn mứt thì đủ loại, từ gừng cay, dừa bí, cà chua, hạt sen cho tới món mứt me thượng lưu, mứt nào của người Phan Thiết, cũng ngon tuyệt diệu.

    Từ thập niên 70 về sau, mổi lần tết về người trên phố không gói bánh ít ở nhà, mà mua ngoài chợ về để cúng, cùng với các loại bánh in Hải Dương, bánh bò bông, bông lan. Nhưng ăn uống cầu kỳ hơn hết, vẫn là người Phan Thiết gốc Huế hay Bắc. Bởi vậy nhà nào Tết đến, hầu như cũng có giò lụa hay chả Huế, giò thủ, thịt đông chân giò hay thịt gà nấu đông. Nhưng hấp dẫn hơn hết đối với dân chơi cầu ba cảng, ngày xuân cử món nai đồng quê, thì đó là món giả cầy, sản phẩm Bắc Hà, dùng giò heo cạo sạch lông đem thui, chặt khúc nấu với riềng mè, vì lạ miệng nên ai cũng thích, ăn hoài không ngán.

    Tết này em có về Phan Thiết
    có ghé trường xưa, viếng mộ thầy
    đây nén hương lòng người lính cũ
    cũng là lệ nhớ xót thương cay

    Có vào tửu quán vui cùng bạn
    chuốc một bầu riêng cúng tưởng người
    những lính cùng dân chung bất hạnh
    vì đời mà đổ máu thây phơi

    Có xuống Cồn Chà ăn cá mực
    thăm giùm người bạn biển quê tôi
    thảm ơi một kiếp đời mưa gió
    vẫn áo mê tơi suốt một đời

    Có qua phố chợ khoe quần áo
    bớt một vài xu giúp kẻ nghèo
    người phế binh bò trên gạch lạnh
    tủi buồn cô quạnh nắng mưa treo

    Có đi ngắm cảnh tìm thơ vị
    đừng bỏ quên Cây Táo, Phú Long
    Dốc Căn, Kim Hải, Ðoàn Mạnh Hoạch
    những địa danh xưa đẩm máu hồng

    Có vào lễ Phật trên chùa Cú
    hay ghé thăm Cha tại giáo đường
    tìm lại giùm tôi hương phấn cũ
    của thời tuổi học lắm thương vương

    Có gặp bạn bè còn sống tủi
    xin em chia bớt một phần vui
    xin em lau lệ đời phân cách
    để nguyện cho nhau bớt ngậm ngùi

    Có mua quà tặng khi về Mỹ
    xin nhớ cho tôi chút vị làng
    hơi đất, mùi rơm, tình biển mặn
    thương hoài mà vẫn cứ miên man

    (Xin Hãy Cho Tôi Chút Vị Làng – thơ Mường Giang)

    Ðối với người Phan Thiết gốc Hoa, ăn tết cũng có nhiều khác biệt. Bởi vậy đừng tưởng các ông bà Tứ Hải, Nhiêu Bá, Cẩm Xìn, Phúc Châu, Liền Hến, Thiên Sanh Ðường, Thọ Như Khương, Ðại An Hòa, Lâm Phùng Xuân.. tất cả là người Trung Hoa nên nhà nào ăn tết cũng giống nhau. Không đâu, họ ăn uống theo tập quán bản địa mà cha ông đã mang từ bên Tàu sang qua bao đời.

    Người Việt gốc Hoa Quảng Ðông, ba ngày tết thế nào cũng phải có các món lạp xưởng làm bằng thịt heo ướp ngũ vị hương hay loại hảo hạng tẩm rượu Mai Quế Lộ, rồi lạp xưởng gan heo hay thịt vịt khô loại lạp áp hay bắc thảo, lạp dục, tức là món thịt heo ba chỉ cắt sọc từng dãi phơi khô. Thịt vịt khô hay heo khô đem hấp với gừng lát, là món ăn chính trong ba ngày đầu năm mới. Ðặc biệt nhất là nhà nào dù giàu hay nghèo, cũng phải có con gà mái để cúng vào giờ đón giao thừa, còn ngày mồng hai tết phải làm con gà trống thiến để cúng mở cửa hàng hay xuất hành. Với những nhà giàu có, ngày tết còn có thêm món bát bửu gồm bong bóng cá, tóc tiên, hạt sen, nấm đông cô, táo đỏ, củ năn và bún Tàu. Ðể lai rai đưa cay, dĩ nhiên chẳng bao giờ thiếu các món nhắm như tôm khô, hột vịt bắc thảo, củ cải muối và thịt đùi heo hun khói. Còn trên mọi bàn thờ, thì thế nào cũng có ổ bánh tổ ngoài bọc giấy điều, có in các chữ phước hay đại cát, bằng mực Tàu mạ hoàng nhũ. Tóm lại nét đặc trưng của người Việt gốc Quảng Ðông, là là ngày tết không bao giờ giết vịt, vì sợ tiếng kêu ‘cạp cạp‘, gây xui xẽo năm mới.

    Còn người Việt gốc Triều Châu là nhóm người Trung Hoa đông thứ hai tại Phan Thiết. Tuy người Triều Châu cũng cư trú trong tỉnh Quảng Ðông nhưng địa bàn của họ nằm giữa ba tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây và sát với Phúc Kiến. Vì vậy tiếng nói của họ thuộc ngữ hệ Hạ Môn-Phúc Kiến. Ðó cũng là lý do giữa hai nhóm di dân, có rất nhiều khác biệt, chẳng những về sự cạnh tranh nghề nghiệp mà còn liên hệ tới tập quán và đời sống xã hội. Trước ngày 30/4/1975, giữa hai nhóm Tiều và Quảng Ðông sống tại VN không bao giờ kết thông gia. Bởi vậy chúng ta cũng không ngạc nhiên về sự khac biệt giữa hai nhóm trong việc cúng kiến và ăn uống vào những ngày Tết.

    Trong khi người Việt Quảng Ðông kiêng vịt, thì tết là dịp để người Tiều ăn vịt lấy hên đầu năm. Tại Bình Thuận, vịt được nuôi nhiều tại Tường Phong, Ðại Nẩm, Phú Hội, Phú Lâm.. trong những cánh đồng đã gặt xong nhưng chưa kịp cầy bừa vào dịp Đông-Xuân tới. Thế rồi sau hai tháng khổ cực, bôn ba khắp các cánh đồng dưới nắng mưa, để hết lòng vổ béo đàn vịt hơn ngàn con, sao cho kịp tới trung tuần tháng chạp là có vịt thịt để bán. Trong thời gian này, xe thồ, xe lam.. đêm ngày từ Phan Thiết tới các lò để mua vịt và trứng. Trong cái không khí tĩnh mịch của làng quê, tiếng vit kêu cạp cạp thay thế tiếng Sếu biển báo Tết sắp về.

    Với người Việt, nhà nào từ 20 tháng Chạp trở đi, hầu như đều có sẳn cặp vịt với vài chục trứng để cúng đưa ông Táo về trời vào chiều hăm ba. Với người Việt gốc Triều Châu, thì bất cứ nhà nào trong ba ngày Tết cũng phải có món vịt ram. Món này, vịt làm xong đem luộc vừa chín, vớt ra chặt thành từng miếng lớn, rồi bỏ vào trong chảo mỡ đang sôi sùng sục. Riêng nước luộc vịt được dùng để nấu xôi đậu phộng, dùng để ăn chung với thịt ram trên. Có một số người Tiều lớn tuổi, ngày Tết vẫn còn giữ tập quán của tổ tiên bên Tàu là ăn thịt ngổng chung với vịt, đầu heo muối hun khói các mía. Tóm lại món ăn ngày Tết của người Phan Thiết thật đậm đà, ngoài các món thổ nhưỡng đặc trưng như cốm, banh rế, bánh tráng mè dầy hay bánh căn ăn với cá kho... là những hương vị để đời mà ta không làm sao quên được, nhất là nhà lại có thêm bánh tổ chiên, bánh tét giòn ăn với cá thu kho dưa món. Và còn chả tôm, tré, nem, giò lụa, bao nhiêu món ngon vật lạ của một thời quê hương hạnh phúc, trước khi VC từ rừng vào cưỡng chiếm Phan Thành..

    Từ khi sống đời phiêu bạt, năm nào cũng vậy hễ gần tới những ngày cuối năm thì lòng ta lại bâng khuâng lo lắng nhưng không biết là mình đã lo lắng bâng khuâng điều gì, vì Tết Dương Lịch nơi xứ người cũng đã qua trong lặng lẽ buồn rầu, còn Xuân quê mình thì nghìn trùng xa cách. Vui buồn, mong đợi hay mơ ước, tất cả cũng chỉ còn là kỷ niệm của một thời xa xưa thân ái với những cái Tết thật êm đềm, dù đất nước lúc đó đang hồi lửa loạn. Nhưng mặc kệ, mọi người vẫn bận rộn lo sắm tết, khi mùa Đông sắp tàn, nhường chỗ cho nàng xuân kiều diễm nõn nường, đang lồ lộ bước vào ngưỡng cửa đời.

    Ôi giấc mơ xưa, chưa chi đã dẫn ta về thôn xóm cũ, những ngày xuân tết vẹn vầy, những niềm vui thơ dại, trên từng trang lưu bút của một thời tuổi trẻ đã phai tàn, nay biết có ai còn nhớ hay không? Bao chục năm qua rồi, những ngày sắp Tết lại buồn, nhất là lúc đứng nhìn mưa phùn, nhỏ những giọt trắng, trên từng cánh Cúc vàng nơi thềm gió

    Lại một tối ba mươi buồn sắp tới, một đêm giao thừa nơi xứ người. Trong giây phút thầm lặng trước ngưỡng cửa đời, bỗng dưng buồn rầu tự hỏi, cho tới khi nào ta mới chấm dứt được cái thân phận không nhà cửa, phải khóc thầm suốt một phần đời lưu lạc, mỏi ngóng về bên kia bờ Thái Bình Dương, mà rưng rưng thương nhớ Phan Thiết. Trong nổi cô đơn hằng hằng, người lữ khách chỉ còn biết yên lặng, nép mình dưới các hàng hiên ngoài phố, cùng với bóng tối của đêm ba mươi Tết để ngậm ngùi tưởng tượng về chốn quê xa, trong cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, gia đình mình chắc cũng đang cài chặt then cửa đón mừng năm mới. Không biết trong nổi hạnh phúc đó, có ai còn nhớ tới người lính già cô đơn ngoài quan tái.

    Rồi cũng Tết cũng mùa Xuân viễn xứ
    đời chinh nhân sao lắm nổi đoạn trường
    xưa những mùa tết ngập lệ đau thương
    nơi đồn vắng, hố cá nhân chờ giặc

    Ðêm giao thừa một mình buồn hiu hắt
    ngậm ngùi cùng chiếc bóng chúc tân niên
    loay hoay tìm đâu thấy một ai quen
    chỉ tiếng nhạn kêu sương ngoài quan tái

    Sáng mùng Một chờ thư em mòn mõi
    đứng lại ngồi trông mây nổi mù bay
    cuối quê xa thương mẹ ngóng đêm ngày
    chờ thằng con lính, trăm lần lổi hẹn

    Nhưng mẹ ơi nơi này xuân nào đến
    với những hồn ma lạnh quẩn quanh đây
    bên suối ngàn róc rách gió lã lay
    têt muôn dặm năm qua buồn muốn khóc

    Tàn chinh chiến tưởng không còn chết chóc
    đâu ai ngờ thảm tuyệt vẫn muôn phương
    xưa banh xác vì bom đạn chiến trường
    nay gục úa bên đòn roi đói bệnh

    Xưa đồn vắng chờ xuân xuân không đến
    nay trong tù không muốn tết vẫn sang
    đời gì đâu sao tàn nhẫn bẽ bàng
    kiếp lính trận cứ ngậm ngùi cô quạnh

    Mùng một tết góp cơm canh trà bánh
    nén hương lòng nhớ bạn chết thảm đơn
    tuổi hoa niên mà đã bỏ trần gian
    nằm với đất bên đường sầu cỏ úa

    Nay xứ lạ một lần xuân tới nữa
    tết không nhà hiu quạnh vắng người thương
    vẫn tỉnh say nơi quán lẽ bên đường
    chờ bạn tới cụng ly mừng xuân thắm

    Nhưng họ đã chết queo ngoài muôn dặm
    kể từ mùa chinh chiến bỏ trường xưa
    chỉ còn ta buồn bã kiếp sống thừa
    bao chục năm héo cùng xuân viễn xứ

    (Thêm Một Lần Xuân Qua – thơ MG)



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Đêm Hăm Chín Tết Tân Mão

    MƯỜNG GIANG
  9. Trên bán đảo Ðông Dương, Ðại Việt và Xiêm La là hai con cọp lúc nào cũng muốn tranh giành ảnh hưởng chính trị với hai nước yếu nằm giữa là Chân Lạp và Ai Lao, nên trong quá khứ đã có nhiều đụng chạm giữa hai nước và lần nào người Xiêm cũng bị thảm bại trước sự dũng mãnh phi thường của nước Việt.

    Nhưng người Xiêm đã thật sự sợ dân Việt hơn cọp, sau khi bị vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) tiêu diệt hơn 2 vạn quân, đồng thời đốt rụi 300 tháp thuyền tại Vàm Rạch Gầm-Xoài Mút, tỉnh Ðịnh Tường, vào những ngày sắp Tết năm 1785. Từ đó tới nay, Xiêm La (Thái Lan) thâm thù người Việt đến tận xương tủy, nên hằng tìm đủ mọi cách để trả thù. Thảm kịch của đồng bào tị nạn Nam Viêt Nam trên biển Ðông do hải tặc Thái Lan gây ra, được chính quyền nước này làm ngơ hay chỉ ngó tới một cách lơ là chiếu lệ, đã nói lên rõ ràng sự trả thù của nước này đối với Việt Nam, qua những hận nhục bại trận quá khứ. Ðây cũng là một hệ lụy tất yếu của dân tộc hùng anh Ðại Việt, nhưng luôn bất hạnh vì thiếu vắng những bậc minh quân tài trí đảm lược, nhất là trong thời cận sử cho tới ngày nay, khiến cho nước ta hết bị Pháp Nhật đô hộ nay tới Nga Tàu, không biết tới bao giờ mới ngẩn mặt được để làm người.

    ‘Tiếng ai than khóc sầu thương
    Nhị Hà nước xuống trùng dương xa mờ
    Chương Dương, Hàm Tử ngàn xưa
    Giờ sao sông núi, bụi Hồ vấn vương ...’

    1- NƯỚC XIÊM LA:

    Xiêm La hay Thái Lan ngày nay có diện tích 198.455 sq.ml hay 512.998 km2, dân số tính tới năm 2004 là 55.448.000 người, thủ đô là Bangkok (Vọng Các) chưa kể ngoại ô có 1.867.297 người. 95% người Thái theo Phât Giáo tiểu thừa.

    Thật ra Xiêm không phải là quốc hiệu của người Thái. Ðó là cái tên mà người Cao Mên và Chiêm Thành dùng để gọi họ. Ngay từ thế kỷ thứ XI, danh từ SIAM đã thấy xuất hiện trên các văn bia của người Chàm tại Trung Phần Việt Nam, còn hình ảnh của người Siam, thì đầy rẩy nơi các di tích của người Khmer, tại đền Angkor được dựng lên từ thế kỷ thứ XII sau Tây Lịch.

    Người Việt Nam theo cách gọi của Miên và Chàm, cũng gọi là Xiêm. Riêng người Tàu qua lối phát âm Bắc Kinh đọc là Tiêm, rồi ghép với tên của nước La Hộc tức là vùng Lyo ngày nay, thuộc Lopburi ở hạ lưu sông Mê Nam, thành nước Tiêm La. Còn người Pháp cũng dựa vào lối phiên âm Tàu mà đọc là Siam, trong lúc người Anh thì nói trại là Saiam. Trong bộ Bách Khoa Từ Ðiển của Ý Ðại Lợi (Enciclopedia Italiana), đã giải thích rằng Anh và Pháp khi dùng tiếng Siam để chỉ người Thái, là căn cứ vào tiếng Saiam Sayang của người Miến Ðiện dùng để chỉ người Xiêm, rồi đọc trại ra là Siam hay Saiam.

    Nhưng căn cứ vào sử liệu ta thấy từ ngày lập quốc đến nay, người Thái gọi mình là Thay, còn người Shan là Nghiện. Riêng danh từ Siam chỉ mới xuất hiện gần đây. Do trên thời xưa, nước Thái Lan được gọi là Mường Thay hay Prathet Thay. Ðời vua Rama IV (1851-1868), quốc hiệu mới được đổi là Sayam (Xiêm), để đánh dấu nước này canh tân theo văn minh tây phương. Năm 1939, tướng Phibul Songgram lên làm thủ tướng, mới đổi quốc hiệu từ Xiêm sang Thái. Từ 1945-1948, tên nước trở lại là Xiêm và sau đó tới ngày nay, chính thức là Thái. Với người Anh, họ phiên âm Thay thành Thai, còn Prathet là Land, nên sau này gọi nước Xiêm là Thailand. Theo cách đó, người Pháp viết là Thailande, còn VN thì đọc là Thái Lan.

    2 - NHỮNG GÂY CẤN GIỮA ÐẠI VIỆT VÀ THÁI LAN:

    Từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Việt đã tới khai hoang tại vùng Ðồng Nai và Mỏi Xùy (nay là Biên Hoà và Bà Rịa) của Chân Lạp. Vì muốn thoát khỏi ảnh hưởng và sự kềm kẹp của Xiêm La đã có từ trước đến nay, nên quốc vương nước này là Chey Chetia II sang cầu thân với Chúa Nguyễn Nam Hà, để nhờ che chở. Nhân dịp đó, Chúa Hy Tôn Nguyễn Phúc Nguyên đã vì dân nước, nên đành đem con gái cưng của mình là Ngọc Vạn, gã cho vua này làm Hoàng Hậu vào năm 1620, để lấy chỗ dựa cho dân Ðại Việt tới làm ăn tại Chân Lạp. Chúa còn đem người con gái kế là Ngọc Khoa, gã cho vua Chàm để mượn đường bộ từ Phú Yên vào Ðồng Nai, vì lúc đó nước Chiêm Thành vẫn còn. Do trên Xiêm La đã kết thù với Ðại Việt, vì cả hai đều muốn giành giựt ảnh hưởng tại Lào và Miên, vốn là hai nước nằm giữa rất yếu kém do nội loạn thường trực.

    Năm 1672, Chey Croetha III làm loạn, giết cha vợ là vua Batom Reachea và dắt quân Xiêm từ Nam Vang xuống Sài Côn chiếm lại tất cả thành trì, đồng thời đuổi giết người Việt đang khẩn đất làm ăn tại Ðồng-Nai, Mõ Xùy. Năm 1674 Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai binh tướng sang Thủy Chân Lạp, đánh đuổi quân Xiêm chạy về biên giới Miên-Thái, giết vua Nặc Ông Ðài. Sau đó lập Năc Thu làm vua Lục Chân Lạp đóng tại Nam Vang và Năc Nộn là phó vương miền Thủy Chân Lạp tại Sài Côn. Từ đó người Miên thần phục Chúa Nguyễn.

    Năm 1687 quân Xiêm lại vào cướp phá đất Hà Tiên, bắt Mạc Cửu đem về giam lỏng tại Muang Garaburi nhưng sau đó, ông đã trốn được về nước vào năm 1700. Từ đó Mạc Cửu đem đất đai Hà Tiên và binh sĩ dưới quyền xin thần phục Nam Hà, nên được Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu phong chức tổng binh.

    Năm 1717 quân Xiêm tấn công Hà Tiên, Mạc Cửu binh ít chống cự không nổi, nên phải bỏ thành lui về giữ Long Kỳ. Quân Xiêm vào tàn phá Hà Tiên thành bình địa nhưng sau đó chiến thuyền bị bão đánh đắm trong vịnh Phú Quốc, nên phải rút về nước. Mạc Cửu trở về kiến tạo lại Hà Tiên và đắp thành ngăn giặc vào năm 1718.

    Năm 1769, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh đem quân thủy bộ tấn công Hà Tiên, lại đặt đại bác trên núi Tô Châu bắn vào thành sát hại nhiều dân chúng vô tội. Tổng binh Mạc Thiên Tứ vì binh ít và không có tiếp viện, nên phải bỏ thành, cùng các con Mạc Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên.. lui về Trấn Giang (Cần Thơ). Nhưng quân Xiêm đã bị các tướng lãnh trấn thủ Long-Hồ và Ðông Khấu là Tống Phước Hợp và Nguyễn Hữu Nhân, đánh đuổi phải bỏ Hà Tiên chạy về cố thủ thành Nam Vang.

    Năm 1772, Duệ Vương Nguyễn Phúc Thuần sai Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Ðàm, thống suất hai đạo Bình Khánh và Bình Thuận, gồm 10.000 quân thủy bộ và 30 chiến thuyền chiếm lại Hà Tiên và Chân Lạp, rồi đưa Nặc Tôn về Nam Vang làm vua trở lại. Từ đó quân Nguyễn đóng luôn ở Nam Vang, bảo vệ và làm cố vấn cho quốc vương Chân Lạp.

    Năm 1780 vì tàu buôn bị cướp ở Hà Tiên, vua Xiêm nghe theo lời xúi của quan Chân Lạp tên Bồ Công Giao, bắt cha con Mạc Thiên Tứ, Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên cùng sứ thần của chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Xuân.. đem xử trảm. Mạc Thiên Tứ lúc đó trên 70 tuổi, uất ức tự tử chết. Riêng gia quyến của họ đều bị đầy lên tận biên giới Miến-Thái.

    Năm 1782, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh bị hai tướng Chất Trí và Sô Sĩ giết chết. Chất Trí lên làm vua Xiêm, xưng Phật Vương (Rama 1), tha những người Việt bị đầy , đồng thời giao hảo với chúa Nguyễn Ánh lúc đó đang bị quân Tây Sơn đuổi giết tận tuyệt

    Năm 1784, mượn cớ sang giúp Nguyễn Ánh, vua Rama 1 sai 2 vạn thủy quân và 300 tháp thuyèn, do hai người cháu là Chiêu Sương, Chiêu Tăng sang xâm lăng Nam Phần. Quân Xiêm chiếm các đạo Kiên Giang, Trấn Giang, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Ðéc.. đồng thời cướp của giết người, không ai có thể ngăn cản nổi. Sự kiện trên làm cho Nguyễn Ánh cũng phẫn uất nhưng phải bó tay vì không còn binh lực để kềm chế giặc.

    Cuối tháng Chạp cùng năm, được tin quân Xiêm đã tới Ðịnh Tường, nên Long Nhưỡng Tướng Quân Nguyễn Huệ từ Quy Nhơn đem quân thủy bộ vào chận đánh, phá tan 2 vạn quân Xiêm tại vàm Rạch Gầm-Xoài Mút. Từ đó người Xiêm sợ Ðại Việt như sợ cọp.

    Năm 1817, sau khi chiếm được Stung Treng và Vạn Tượng của Lào. Quân Xiêm tràn sang chiếm một phần cao nguyên Trung Phần, lúc đó gần như chưa có chính quyền VN hiện diện. Bọn quan lại Xiêm cai trị đồng bào thiểu số tại đấy rất tàn ác dã man. Tình trạng kéo dài tới thời Pháp thuộc mới chấm dứt.

    3-NGUYỄN HUỆ TIÊU DIỆT QUÂN XIÊM TẠI ÐỊNH TƯỜNG:

    + Ðịa Danh Rạch Gầm, Xoài Mút (Mỹ Tho):

    Ðất Ðịnh Tường thuộc dinh Phiên Trấn, được Túc Tông Nguyễn Phúc Trú thành lập vào năm 1731. Vào năm 1772 Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần đổi là Ðạo Trường Ðồn, rồi thành Huyện Kiến An vào năm Gia Long nguyên niên 1801.

    Năm 1802 lại cải thành Dinh Trấn Ðịnh, phiên trấn Ðịnh Tường. Ðời vua Minh Mang (1820-1840), chính thức chia đất Nam Kỳ thành sáu tỉnh trong đó có tỉnh Ðịnh Tường. Danh xưng này tồn tại tới ngày 30-4-1975 thì mất

    Riêng hai địa danh ‘ RẠCH GẦM-XOÀI MÚT’ nằm trong tỉnh Ðịnh Tường. Theo các tài liệu cổ có từ thời nhà Nguyễn, thì Rạch Gầm ngày xưa được gọi là Sầm Giang. Ðó là một con rạch dài chừng 15km, phát nguồn từ xã Long Tiên (Cai Lậy), chảy qua các thôn xóm trù phú thuộc các xã Kim Sơn, Vĩnh Kim, Mỹ Luông, Thuộc Phiên.rồi đổ vào sông Mỹ Tho (Tiền Giang) tại Kim Sơn. Khi người Việt từ miệt ngoài, theo chân các Chúa Nguyễn vào đây khẩn hoang lập ấp, thì vùng này toàn là rừng rậm cây cao, đầy các loại dã thú như voi, cọp, trăn-rắn, heo rừng, cá sấu. Nói chung chỗ nào đêm ngày cũng có tiếng cọp gầm voi rống, làm cho ai cũng kinh hồn, sởn óc, nhiều người vô phước bị cọp vồ, cá sấu táp khi phá rừng làm ruộng. Do trên, tổ tiên ta mới đặt tên vùng này là ‘Rạch Cọp Gầm’. Về sau để dễ nhớ, nên kêu là Rạch Gầm tới ngày nay không đổi. Ở đây cây cối sầm uất, hai bên bờ rạch đầy dừa nước và nhiều cây bần mọc gie ra khỏi con rạch. Ðúng là một vị trí chiến lược lý tưởng, để các nhà quân sự tài danh, áp dụng lối đánh du kích, phản kích và nhất là hỏa công trận.

    Vàm Rạch Gầm có bề ngang chừng 100m, thuộc xã Kim Sơn. Trên bờ có chợ nhỏ, bán đầy các loại thổ sản miệt vườn như cam, quít, ổi, chuối .. Nhưng chợ Rạch Gầm nổi tiếng xưa nay vẫn là Vú Sửa, món đặc sản bản địa, ngon-ngọt hơn bất cứ nơi nào khác. Ðặc biệt, vú sữa lại đơm bông kết trái đúng vào cuối đông sắp Tết Nguyên Ðán. Cũng theo tài liệu, thì xã Kim Sơn được thành lập rất sớm trong trấn Ðịnh Tường vào đầu thế kỷ thứ XVIII, do tiên hiền Lê Công Báu, nhưng dân chúng kiêng cữ đã đọc là Bích. Về sau ông được nhà Nguyễn phong làm Thành Hoàng và vẫn được dân chúng địa phương thờ kính cho tới ngày nay.

    Xoài Mút chảy từ Giòng Dứa thuộc Ấp Thạch Long tới Ấp Thạnh Hưng, xã Phước Thạnh, rồi đổ vào rạch Xoài Hột và ra sông Mỹ Tho (Tiền Giang). Khúc rạch này cũng giống như Rạch Gầm rất um tùm. Hai bên bờ đầy dừa nước và cây bần mọc gie ra ngoài, tạo nên địa thế quanh co hiểm trở. Ở đây ngày xưa mọc đầy một loại xoài trái nhỏ, hột to, cơm ít, muốn ăn phải mút, nên mới xuất hiện danh xưng Xoài Mút. Ngày nay dân địa phương đã chặt bỏ hết để lấy đất làm vườn, nên họa hoằn lắm mới thấy một vài cây còn sót lại. Về hành chánh, thì Xoài Mút là tên con rạch, còn Xoài Hột là tên của một ngôi chợ thuộc xã Thạnh Phú, kế xã Bình Ðức. Rạch Gầm cách Xoài Mút 7km và thành phố Mỹ Tho chừng 14 km.

    + Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ):

    Trong dòng Việt sử, dù triều đại Tây Sơn hiện hữu thật ngắn ngủi (1778-1802) nhưng qua hai chiến thắng bất hủ : Trận Thủy Chiến Rạch Gầm tiêu diệt quân Xiêm và Xuân kỷ Dậu đại thắng quân Thanh, đã đưa tên tuổi Quang Trung-Nguyễn Huệ, lên hàng Ðại Ðế. Dù không đồng chính kiến nhưng tất cả các sử gia triều Nguyễn cũng như đọc qua các thiên du ký của các nhà truyền giáo phương tây, ai cũng xưng tụng ông là một trong những thiên tài quân sự lừng lẫy của VN, có thể so sánh với các tên tuổi như Ðại Ðế Alexander Le Grand của Hy Lạp và vua Hung Nô Attila, là những thiên tài quân sự bách chiến bách thắng.

    Giống như các bậc danh tài trên, trong khi dùng binh vua Quang Trung luôn luôn theo đúng binh pháp Tôn Tử-Trần Hưng Ðạo-Nguyễn Trải, đạt yếu tố bất ngờ, hành binh thần tốc và trên hết là biết tiên liệu tình hình địch, trước khi quyết định bày binh bố trận và tấn công. Ngoài ra để nêu gương với sĩ tốt cùng thuộc tướng dưới quyền, ông luơn luôn xông xáo nơi trận mạc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lâm trận đi đầu hàng quân, hiệu lệnh rất nghiêm minh. Bởi vậy, tướng sĩ ai cũng muốn hăm hở, lăn xả vào cái chết, để được đền ơn nhà trả nợ nước, xứng đáng bổn phận làm trai nước Việt. Ngoài thiên tài quân sự, vua Quang Trung còn được các sử gia đề cao là một nhà chính trí có thao lược, điển hình qua cách chiêu hiền đãi sĩ, kính trọng tài năng không phân biệt bất cứ một ai. Riêng tư cách thì hòa nhã độ lượng, trong khi đối xử với vua Lê và cái chết của chúa Trịnh Khải.

    Nói chung từ trước tới nay, qua dòng lịch sử, VN có ba thiên tài quân sự là Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn, Bình Ðịnh Ðại Vương Lê Lợi và Ðại Ðế Quang Trung-Nguyễn Huê. Nhưng mỗi người đều có phép hành binh riêng biệt. Với Hưng Ðạo Vương, sở trường về lối đánh ‘Dùng ít chọi đông‘ mà binh pháp gọi là ‘Dàn Binh, Tướng Trận’. Còn Bình Ðịnh Vương Lê Lợi thì ứng dụng phép ‘Dĩ Dật Ðãi Lao‘, tức là lối đánh du kích, làm tiêu hao lực lượng địch. Trái lại Quang Trung Nguyễn Huệ thì luôn luôn sử dụng vận động chiến, tấn công địch trước trong tư thế mạnh với quân số, hỏa lực, mưu kế và phương tiện.

    + Thủy Quân VN dười thời Tây Sơn:

    Từ năm 1627-1672 Trịnh Nguyễn đã đánh nhau bảy lần, trên chiến trường Nam và Bắc Bố Chánh (tỉnh Quảng Bình ngày nay) nhưng bất phân thắng bại. Trong lúc giao tranh, cả hai phía gần như chỉ sử dụng bộ chiến, dù cả hai đều có một đạo thủy quân rất quan trọng. Theo tài liệu của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, thì chúa Nguyễn ở Nam Hà có 200 chiến thuyền loại Galéré, họ Trịnh ở miền Bắc có tới 600 chiếc. Còn Quang Trung Nguyễn Huệ trái lại, đã đề cao vai trò thủy quân trên hết. Nhà vua đã cách mạng hoá hải quân bằng lối đóng thuyền cho phù hợp với bờ biển VN, trong đó đặt nặng việc trang bị vũ lực trên tàu thuyền.

    Theo sử liệu, thủy quân Tây Sơn có nhiều tàu vận tải cũng như tàu chiến, số lượng trên 1000 chiếc. Một du khách người Anh tên John Barraw tới thăm Ðàng Trong vào thế kỷ XVIII, đã viết :’Người Việt ở đây có một nghề rất tự hào, đó là kỹ thuật đóng tàu đi biển ‘.Theo tác giả, thuyền của Người Việt rất đẹp, chiều dài từ 50-80 pieds (1 pied bằng 0,30m), được ghép bằng 5 tấm ván, ăn khít nhờ có mộng bên trong. Thuyền lại được chia thành nhiều khoang kín, nên rất khó chìm.

    Theo Jean Baptiste Chaigeau, một võ quan người Pháp từng theo giúp chúa Nguyễn Ánh, cho biết thủy quân Tây Sơn gồm có nhiều hải đội, tổ chức khác nhau tùy theo trang bị. Do đó có thủy đội gồm 9 tàu, mỗi chiếc được trang bị tới 66 khẩu đại bác loại đường kính 24. Có thủy đội chỉ có 5 tàu, mỗi chiếc mang 50 khẩu đại bác cũng loại 24. Có thủy đội gồm tới 40 tàu, mỗi chiếc trang bị 16 khẩu đại bác cỡ 12 ly và một thủy đội đặc biệt gồm 93 tàu, mỗi chiếc chỉ có một khẩu đại bác lớn, nòng cỡ 36. Ngoài ra còn có 300 pháo hạm và 100 tàu buôn cỡ lớn. Tất cả tàu thuyền của Tây Sơn đều dùng cánh buồm hình chữ nhật.

    Về thủy quân trên tàu, thì mỗi thủy đội loại trang bị 66 khẩu đại bác, có quân số trên 700 người. Quân Tây Sơn được trang bị rất mạnh, vũ khí cá nhân gồm giáo mác, còn có súng điểm thương nhưng lợi hại nhất vẫn là loại súng phun lửa, gọi là ‘Hoả Hổ’ khi hai bên cận chiến. Nhờ những ưu thế về trang bị cũng như kỹ thuật tác chiến, nên thủy quân Tây Sơn đã thắng quân Xiêm một cách dễ dàng. Mặc dù lúc đó hạm đội Xiêm La cũng rất tân tiến, vì được đóng theo kỹ thuật Tây Phương, mà người Việt gọi là Tháp Thuyền. Ðây là loại ghe tam bản rất cao lớn, trên có pháo tháp bố trí súng đại bác. Các thủy thủ ngồi ngoảnh mặt về phía bánh lái mà chèo.

    + Thủy Chiến tại Rạch Gầm, Xoài Mút:

    Các sử gia hiện nay, khi viết về chiến thắng của Vua Quang Trung tại Rạch Gầm-Xoài Mút, đều thắc mắc về việc hành quân của Tây Sơn. Ngay khi nghe hung tin, đại quân Xiêm La gồm thủy bộ hơn 50 vạn và 300 tháp thuyền, đã chiếm gần hết các trấn tại Nam phần. Hiện thủy quân Xiêm đã tới trấn Ðịnh Tường. Trong lúc đó Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ còn ở tận Qui Nhơn. Vậy ngài đã cho thủy quân từ biển vào cửa Tiểu để tới Mỹ Tho hay là vào cửa Cần Giờ, rồi men theo dòng Vàm Cỏ Tây để tới Rạch Gầm Xoài Mút, tạo yếu tố bất ngờ, đối với quân Xiêm ? Chuyện này đã không thấy các nhà sử học xưa đề cập tới, kể cả các tài liệu của quốc sử quán triều Nguyễn.

    Nhưng về chiến tích của trận thủy chiến lịch sử, thì hiện nay vẫn còn đầy rẩy trên đất Ðịnh Tường cũng như trong kho tàng văn chương bình dân bản địa, qua các bài hát ru em, ca dao, tục ngữ.. ’ ’ ’

    ‘Ầu ơ, Rạch Gầm-Xoài Mút tăm tăm
    Xế xuống chút nữa, là vàm Mỹ Tho
    Bần gie đóm đậu sáng ngời
    Rạch Gầm-Xoài Mút muôn đời oai linh
    Chẻ tre bện sáo cho dầy
    Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau

    Hay:

    ‘Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng
    Giặc đến nhà, chẳng vụng hươi đao...’

    Ngày nay người dân sống ở rạch Bà Hào kế rạch Gầm, vẫn thường hay kể những chuyện ma quỷ xuất hiện vào những đêm mưa to gió lớn, mà họ quả quyết đó là ma Xiêm, chưa được siêu thoát, dù cuộc chiến đã tàn hơn vài thế kỷ. Cũng ở vùng này, còn có một địa danh mang tên là ‘ Nghĩa địa Xiêm’ vì có nhiều thuyền tháp bị chìm, hiện vẫn còn trơ các hàng cột ở Ðìa Ðôi (Ấp Hội), đầu cồn Phú Túc (Bến Tre). Ngoài ra còn nhiều quân dụng của lính Xiêm bỏ lại trận địa, được tìm thấy như súng thần công, gươm giáo, ấm, chén, nồi đồng.. tại vàm Rạch Gầm.

    Mùa thu năm 1785, vin vào cớ giúp Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn truy sát. Vua Xiêm Rama 1, cho 50 ngàn quân thủy bộ tấn công VN bằng hai cánh quân. Lộ quân bộ chiến gồm 3 vạn, từ Nam Vang vào Nam Phần. Cánh thứ hai gồm 20 ngàn thủy quân, với 300 tháp thuyền. Cánh quân thủy này do hai người cháu của vua tên Chiêu Sương và Chiêu Tăng thống lãnh theo đường biển, vào cửa Rạch Giá ngày 25-7-1785. Hai đạo quân Xiêm thế mạnh như chẻ tre, lần hồi chiếm hết các dinh trấn tại Nam phần như Kiên Giang, Trấn Giang,Ba Thắt, Trà Ôn, Măng Thít.. và tới Ðịnh Tường. Bấy giờ đạo quân tinh nhuệ nhất của chúa Nguyễn Ánh ở Nam Phần đã bị tan vỡ vì chúa tướng là Châu Văn Tiếp tử thương, nên không còn ai có thể cản nổi quân Xiêm. Do đó, trên bộ cũng như dưới sông, quân Xiêm tới đâu đều cướp của giết người, hãm hiếp phụ nữ Việt, tiếng than oán vọng tận trời cao, thật là thảm tuyệt.

    Tin dữ tới Phú Xuân, nên Long Nhưỡng tướng quân được lệnh tức tốc đem quân thủy bộ từ Qui Nhơn vào Nam cứu viện. Lúc đó trời đang cuối đông, chỉ còn vài ngày nửa là đón Tết Giáp Thìn 1785. Ðể có thể tiêu diệt quân Xiêm đang trong thế mạnh và đông hơn quân ta, ông cho bày diệu kế, bằng lối mai phục rồi bất thần đánh úp tàu giặc đang neo đầy trên sông Mỹ Tho, giữa đọan Rạch Gầm-Xoài Mút. Ðồng thời dùng hỏa công trận, để thiêu rụi toàn bộ thủy quân Xiêm.

    Mở đầu cuộc tấn công, quân Tây Sơn dùng cùi, lá và dầu dừa trộn chung với dầu mù u để làm bè lửa. Lại bày nghi binh kế, bằng cách lấy vỏ dừa khô rồi vẽ mặt người, đoạn kết thành bè, thả trôi lềnh bềnh gần chỗ thuyền giặc đậu. Chính diệu kế này, khiến cho quân Xiêm hoảng hốt, cứ ngỡ là quân Tây Sơn lặn đục thuyền, nên các tàu liên tiếp nhả đạn cho tới hết. Ðể nắm vững tình hình trận chiến, ông cho dựng hai chòi chỉ huy ở hai đầu sông, một tại Chùi Mong (đầu rạch Xoài Mút), còn chòi kia ở vàm Rạch Gầm. Hai chòi chỉ huy có nhiệm vu ban lệnh tấn công, khi thấy thuyền quân Xiêm lọt hết vào trận địa. Ngoài ra không muốn để cho một thuyền giặc nào còn sống sót, Nguyễn Huệ cho chẻ tre bện thành sáo dầy có cột đá hòn, để ngăn dòng Tiền Giang tại Ấp Tây, thuộc xã Kim Sơn, ngược vàm Rạch Gầm khoảng 1 cây số.

    Khi toàn bộ chiến thuyền của Quân Xiêm đã lọt vào khúc sông trận địa, do tín hiệu từ hai chòi chỉ huy cấp báo, lập tức ông ban lệnh tấn công. Lúc đó giữa sông thì lửa đốt, còn trên bờ dùng đại bác, tên và súng phóng lửa nhắm vào 300 tàu giặc mà bắn. Vì quá bất ngờ, nên hai đại tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng 300 tháp thuyền với 20.000 quân, trở tay không kịp, lớp thì chết cháy, phần khác bị quân Tây Sơn giết. Chiêu Sương cùng Chiêu Tăng và vài ngàn tàn quân may mắn lội được vào bờ, cùng với quân bộ chiến dùng đường bộ chạy về Nam Vang, rồi rút hết về Vọng Các, vì sợ quân Tây Sơn truy sát. Từ đó người Xiêm La bỏ mộng tranh bá đồ vương với Ðại Việt trên bán đảo Ðông Dương, đồng thời sợ người Việt hơn cọp.

    Ngày nay nhờ đọc lại những trang sử cũ, ta mới thấy tiền nhân đã mở dựng và giữ nước thật là gian lao cực khổ, có thể nói là người Việt đã đem máu và nước mắt của mình, để tô bồi làm xanh thêm đất, khiên hoa cỏ mới nở rộ được khắp thôn làng, đê cho chúng ta thênh thang tọa hưởng.

    Bổng thấy thấm thía tận cùng về lời nói của vị thánh quân Lê Thánh Tôn cách ta hằng bao thế kỷ: ‘Phải giữ gìn cẩn thận, đừng để ai lấy mất một phần sông núi của tổ tiền để lại’. Xem như thế đủ chứng tỏ rằng tiền nhân từ thời xa xưa, đã thấy trước dã tâm xâm lăng đồng hoá nước Việt của giặc Tàu, nên lúc nào cũng đoàn kết để ngăn chống ngaọi xâm.

    Vậy mà ngày nay cọng sản VN lại liên tiếp, hết bán đất biên giới, hải đảo, tới sang nhượng biển vùng đánh cá ngàn đời của dân tộc trên biển đông, làm cho cơn hồng thủy sóng thần nỗi dậy, trước sự bất lực ù lì của một tập đoàn cầm quyền, đang làm nô lệ cho Trung Cộng và tất cả ngoại bang, bất chấp quốc nhục.

    Ðúng như sử gia Hoàng Xuân Hãn đã viết: ’Trong dòng lịch sử Việt, khi thế nước bị suy vi hèn yếu vì chia rẻ, thì giặc Tàu mới dám lấn đất dành biển‘. Không biết ngày nào cả nước mới có dịp theo sau gót ai, để đánh đuổi giặc Tàu, quang phục đất nước, như ngày xưa dân Việt đã theo sau bóng voi của Quang Trung Ðại Ðế vào Rạch Gầm-Xoài Mút đốt tàu giặc Xiêm hay ra Bắc Hà đánh đuổi quân Mãn Thanh chạy về Tàu vào những ngày Tết Kỷ Dậu 1789.

    ‘Nhà tan sống cũng lạc loài
    thánh hiền sách nát đọc hoài hay sao ?
    biển Ðông sóng vổ ào ào
    ta nương cánh gió đi vào cõi xa
    ngày mai cũng có một ngày
    theo chân voi trận để vào Thăng Long..'



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Những ngày cuối Chạp Con Mèo
    MƯỜNG GIANG



    TÀI LIỆU THAM KHẢO :

    - Ðại Nam Nhất Thống Chí của Sử Quán nhà Nguyễn
    - Việt Sử Xứ Ðàng Trong của Phan Khoang
    - Lịch Sử Nội Chiến của Tạ Chí Ðại Trường
    - Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ của nhiều tác giả
    - Sách báo..
  10. TÌM LẠI THỜI ÁO TRẮNG HỌC TRÒ QUA LẦN HỘI NGỘ LIÊN TRƯỜNG SẮP ĐẾN


    Tháng Bảy ở xứ biển Hạ Uy Di vẫn còn là mùa hè nắng gắt, khắp đường phố hoa phương đang đỏ ối một màu son môi mời gọi, làm cho hồn người xa xứ rộn lên những giấc mơ tuổi nhỏ, đã mang theo trong ký ức gần suốt cuộc đời. Ðó là những ngày Phan Thiết buồn rầu vì chiến tranh lửa loạn, đã khiến cho bọn học trò tuổi lớn phải rời bỏ mái trường yêu dấu, thầy cô, bè bạn và một cuộc tình dang dỡ, để dấn thân vào con đường vô định.

    Chia ly nào mà không có nước mắt, nhất là lần đầu tiên trong đời phải lìa bỏ chốn thân thương một thời tuổi mộng. Lai cảng buồn thêm, khi con tảu hỏa lướt qua miền quê hương yêu dấu thuộc bốn quận miền Bắc Bình Thuận. Những lũng đồi cát trắng bạt ngàn mọc đầy xương rồng gai góc hoang dại. Xa xa là những triền sim tím héo đưới nắng gắt và ngọn gió tây tháng bảy, đã nói lên chính thân phận của một miền đất mà trước kia ai cũng nói là biển bạc rừng vàng. Ngồi trong toa xe đếm nhịp bánh đang nghiến trên hai đường sắt, để nhớ lại những ngày tháng chờ đợi em nơi hàng ghế đá lạnh băng trong vườn hoa lớn, dưới những hàng vông đồng già khô cằn cổi, lâu lâu ngẩu hứng lại thả một vài chiếc lá vàng và mấy quả khô, nằm lăn lóc với đá sõi cô đơn tháng ngày.

    Vậy mà cũng hơn bốn mươi năm ly cách, khiến cho đời người như chỉ còn có ký ức, hoài niệm, nhớ nhung và những cơn vui bất chợt khi chỉ có ta và bóng sóng sánh trong cơn mê trở về. Hay tại tuổi già cô đơn thê thảm, nên ta mãi còn nấng nuôi trong con tim băng lạnh, kỹ niệm của một thời áo trắng những góc nhỏ hiền thương, ly cà phê đen nghèo nhạt nhẽo, mà sao cứ quấn quít theo nhau một đời:

    tháng hai ngồi quán Ðào Viên,
    trông hoa vông nở nắng xuyên nhuộm hồng
    cà phê nhỏ giọt thong giong
    đệm theo ai khẽ gót hồng thướt tha..

    tháng Tư theo nhỏ trường Phan
    cà phê Ba Lý nhỏ sang mỗi ngày
    góc bàn tôi vẫn ngồi đây
    ngụm cà phê sáng ngất ngây cõi lòng...

    Những tên quán cùng với các cô nàng hàng cà phê trong thơ Ngò Gai, càng khiến con tim thêm điếng khựng một niềm nhớ dạt dào về những buổi chiều lẽ loi tan học, vào Ðào Viên bên này bờ sông Mường Mán, để mà ngong ngóng bóng ai đang tha thuớt trên mấy nhịp cầu Quan, nay xa rồi mà vẫn thương biết bao dấu chân kỹ niệm. Rồi mười mấy năm lang bạt với kiếp lính phong trần rày đây mai đó, những buổi dừng quân ta lại một mình ngồi đếm giọt cà phê đen nghèo đặc quánh, trong một góc quán Tùng hay một vài quán cóc nằm lưng chừng trên con dốc khu chợ Hòa Bình, kế Hồ Xuân Hương Ðà Lạt, một mình mông lung nhung nhớ,tới phương trời xa thẳm, như đang thiêm thiếp trong sương khói miên trường.

    Và bởi thế, nên dù năm tháng có đổi dời, nhưng nếu ai vẫn còn cất giữ riêng mình, những trang lưu bút ngày xanh về mái trường thân yêu Phan Bội Châu-Phan Thiết , chắc cũng vẫn là buồn và đẹp thế thôi:

    ‘Nghe em nói trở về thăm phố cũ
    cho ta thăm chốn ấy trải nắng mưa
    cổng trường xưa còn có quán nước dừa
    bến xe cũ cà phê Linh còn đắng ?

    Sân trường cũ nở đầy hoa phượng đỏ
    vắng tanh rồi nào thấy bóng giai nhân
    gió rét về ta buồn nhớ bâng khuâng
    nhớ phố cũ chở đầy bao kỹ niệm ‘
    (Lê Tiếng - Phú Hài).

    Buồn buồn lại theo Bàng Bá Lân lạc lõng về một miền quê xa nào đó, để sung sướng rộn ràng qua những hồi trống vào trường giục giã ‘như mơ đuờng khói lên trời nắng, trường học làng kia tiếng trống vào‘. Rồi những ngày nghĩ hè đợi tàu về quê, khiến ‘ăn chẳng được lòng nôn nao khó ngủ‘. Tất cả đã mê hoặc hồn ta, một tên học trò dang dỡ, vì nghiệp lính phận trai, nên đã bỏ mặc cho mẹ đơi em trông chốn quê nhà dấu ái, nơi huyết phượng đỏ rợp đường làng và mối tình ngây thơ lãng đãng.

    Nay ta lại trở về, ngồi trên những căn phòng học ngày xưa ở tầng hai của trường, để nhớ lại những ngày gió mưa tháng mười mù mịt, trên những cánh đồng lúa-muối về hướng Lại An, Phú Hài, trên không thường có những đàn sếu trắng bay ngang, cất tiếng kêu ra rã. Giờ thì đồng sâu đã lắp cạn, lô nhô khắp chốn lầu cao phố rộng, nên mắt cứ mở lớn mà chẳng thấy dáng em ở chốn nào.

    ‘Chợt nhớ thương về thăm
    Thềm xưa viên gạch vỡ
    vách tường hoen mốc rêu
    ngậm ngùi con dế nhỏ
    Bìm bịp thiêm thiếp ngủ
    Quên mịt mù tháng năm
    quấn chút tình rất cũ
    Níu đời nhau xa xăm ‘
    (Ngọc Dung)

    Xin được cám ơn mọi người, cám ơn Phan Thiết và trường lớp cũ, đã giúp làm bớt đi niềm nhớ vì thời gian phôi pha và biển đời cuồng ngạo. Sự gặp gở qua các cuộc hội ngộ, như đang làm sống lại một cuộc tình dang dỡ của thời áo trắng học trò, qua hình bóng của một người con gái nào đó, cũng đã từng đi và về với ta trên đường Nguyễn Hoàng thơ mộng đầy hoa phương, từ phố vào lớp học. Phan Thiết là thế đó, cho nên đã khiến cho học trò trai gái ai cũng lãng mạn,nhớ thương hờ hững, từ mái hiên nhà ai đã giúp cho nhau đụt tránh những cơn mưa mây bất chợt, cho tới mấy chiếc lá me vô tình rơi trên tóc em, khiến cho ta đã lặn lội di tìm, đem về ép trong trang sách tìm vui, dù đó chỉ là một chiếc lá me gầy guộc.

    Hơn nữa thế kỹ thăng trầm, nay nhìn lại khiến lòng ngẩn ngơ rưng rưng muốn khóc, khi hồi tưởng lại không biết bao nhiêu thế hệ học sinh đã đến và đi khỏi ngôi trường thân yêu. Rồi đây sẽ thêm rất nhiều rất nhiều thế hệ khác lại đến và sẽ ra đi, như ta như em, như bạn bè một thời tuổi học. Nhưng dù gì chăng nữa, bọn ta lúc xa trường, chắc chắn là ai cũng đã mang theo một khung trời áo trắng. Và ví dụ kiếp người là một thiên ký sự, thì đời học sinh Phan Bội Châu hay một ngôi trường nào khác có ngắn hay dài, cũng vẫn là những trang tuyệt đẹp và càng thấm đượm hơn khi chúng ta cất giữ thêm những ngày vui hội ngộ.

    Như Nhật Nguyễn tâm sự:

    ‘Như tiếng mưa đêm nữa khuya gõ cửa
    lay lắc trong anh trăm nổi muộn phiền
    dù tình em nhiều cũng không lấp đủ
    con nước đổ về gợn sóng tịnh yên

    Thì thôi dẫu rằng chút tình đã muộn
    hãy đứng cùng em đứng tận cuối trời
    đầu ngọn cuối ngành cành gai khổ nạn
    gói vội tình bầm khép một tai ương ‘

    Ðó cũng bởi vì mỗi người đều có một kỹ niệm riêng mang tận kín đáy mồ, cho nên làm sao mà kể hết những thu vén suốt tháng ngày rong chơi học hành nơi chốn trường yêu. Nhưng chắc chắn ai cũng giống nhau về ngăn nhật ký, ở đó có đầy bóng dáng quý ân sư, đã dạy cho chúng ta những bài học về cuộc đời và làm người khi rời trường dấn thân vào xã hội.

    Không có gì buồn hơn khi mỗi năm mùa thu tới để tôi đi học, là lúc mà ta cứ đứng nhìn màu hoa phượng, để thấy lòng lại rưng rưng vì thoáng chốc tóc đã bao lần đổi màu thời gian, theo với hạ tàn thu sang, nơi nơi lại rộn rã tiếng trống vào trường.

    ‘Bồ đào mỹ tửu da quang bôi
    dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
    tuý ngọa sa trường quân mạc vấn
    cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi ‘

    Bạn bè và quý ân sư yêu dấu hảy ngồi xuống bên nhau dù bất cứ ở nơi nào, để chúng ta cùng sống lại một chút tình quê, có phải thế không? hởi những tâm hồn cô miên viễn xứ. Tất cả đều ra đời trong khói súng, lặn lội giữa đạn bom cầy xéo quê hương, cuối cùng thành những con chim xa bầy lạc nẽo. Thôi hãy uống đi vì ngoài kia ngựa đã hí vang những hồi giục giã. Hãy uống cho vơi hồ trường huyết lệ, bởi trong men đắng cay đó là cả một thành sầu tuổi trẻ, của ta, của bạn bè và của triệu triệu dân lành. trong cơn lửa loạn.

    Tôi chợt nhớ chúng ta không nhà cửa
    em tản cư, tôi là lính tiền phương
    Tôi khách qua đường trưa nắng gắt
    nghĩ nhờ đây quán lệch tường xiêu ...
    (Quang Dũng)

    Bổng nghe như từ cõi xa xăm nào đó vọng lại những tiếng thở dài, làm cho men rượu càng thêm chất ngât. Hãy ngồi xuống đây đi hởi những người lính hào hùng ngày xưa, nay đang có mặt trong đêm hội ngộ. Uống đi để mà nhớ lại một thời da ngựa bọc thay của những trai hùng nước Việt. Phải rồi bạn bè yêu dấu, kẻ góc biển người chân mây, gặp đêm nay rồi mai lại chia xa tan tác, như hôm nào nghe tin bạn vừa ngả gục ở chốn sa trường:

    ‘Cởi mãnh phi bào anh để lại
    trao về quê mẹ một trời xuân
    mai đây nếu có ai thương tiếc
    xin đốt cho người một nén hương

    Ngày xưa anh đứng bên song cửa
    nhìn áng mây trời ngó cánh bay
    giờ đây mây trắng anh xây mộng
    lại biến vành tang buổi sum vầy .. ’ ’ ’

    Mấy câu thơ cũ của Tiếp Sĩ Trường khóc bạn Nguyễn Văn Phú, cựu học sinh PBC-PT, thuộc Phi Đoàn 118 Trực Thăng ở Pleiku. Ðời là vậy đó nên cái còn lại hôm nay, chẳng qua cũng chỉ là bèo bọt phù ảo, dư vị của cốc rượu ngày xưa, hảy cạn để tưởng như chúng ta cùng đang đứng giữa sân trường.

    ‘Chào em áo trắng đang vào lớp
    chân sáo tung tăng rộn khắp trường
    thêm tiếng con chim nào rất lạ
    đậu trên cành trúc hát vang vang

    Chào em áo trắng ngồi trong lớp
    tay ấp từng trang giấy học trò
    nhưng mắt ô môi như muốn nói
    long lanh hờn dỗi rất ngây thơ

    Chào em áo trắng giờ tan học
    gót ngọc làm mây vỡ cuối trời
    phố nhỏ buồn hiu chợt thức giấc
    những hàng phượng cũng vổ tay vui

    Chào em áo trắng ngày tao ngộ
    sách vở mộng mơ đã xác xơ
    chỉ chút hương xưa còn sót lại
    trong hồn thơ chết khóc bơ vơ‘

    Xin hẹn nhau vào tháng Bảy năm 2012 tại Quận Cam, trong đêm Hội Ngộ Liên trường.Trung Học Bình Thuận.


    Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Giêng 2012
    MƯỜNG GIANG
  11. Theo các nguồn sử liệu lưu truyền thì họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang vào năm Nhâm Tuất 2879 trước Tây Lịch, nhưng nền độc lập đã bị gián đoạn gần mười thế kỷ vì sự đô hộ của người Tầu. Trong giai đoạn tối tăm, ô nhục này, Bắc quân đã dùng ngàn muôn thủ đoạn để đồng hóa dân ta nhưng đã hoài công và người Việt tuy không bị mất gốc nhưng vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề về văn hóa, tín ngưỡng của Trung Hoa khi sống chung với họ.

    Năm 939 Ngô Vương Quyền đánh tan quân Nam Hán trên Bạch Ðằng Giang, thu hồi lại nền độc lập cho quốc gia, mở đầu nền tự chủ, tự cường cho dân tộc thì cũng kể từ đó, qua bao đời, tổ tiên ta đã cố gắng lựa lọc lại những ảnh hưởng ngoại bang, tiêu hủy các hủ tục, chấp nhận những thuần phong mỹ tục của người, đồng thời pha trộn vào đó tất cả tinh hoa của người Việt, tạo thành nếp sống đặc trưng, đặc thù của dân tộc Việt Nam nhưng vẫn giữ bản sắc Ðông phương. Trong các cổ tục còn lưu truyền đến ngày nay, Tết Nguyên Ðán là một biểu tượng phong phú, toàn vẹn và ý nghĩa nhất, đã thu hút mọi người, mọi giới phải quên hết mọi điều để chỉ có tết, lo cho tết sao cho mấy ngày đầu năm được đầy đủ, vui vẻ như hàng xóm, bõ công đầu tắt, mặt tối, làm ăn vất vả trong 365 ngày, đúng là:

    “Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu lại lo“


    1 - NGÀY TẾT NGUYÊN ÐÁN

    Ngay từ thời Hồng Bàng, dù còn sống lạc hậu, tổ tiên ta đã biết ăn Tết. Nếu căn cứ vào các công trình khai quật tại Ðông Sơn mà biểu tượng là trống đồng có chạm trổ trên mặt hình vẽ ngày hội Tết với bông lau thì ngày đầu năm lúc đó chắc là mùa thu vì bông lau chỉ trổ đặc biệt mùa này vì mùa xuân không có bông lau. Ngoài ra các sự tích về bánh chưng, bánh dầy, trầu cau, dưa hấu đỏ, theo sách Việt Sử đại Toàn, đã có từ thời vua Hùng thứ 6.

    Riêng Tết Nguyên Ðán hiện nay, đã được du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc. Ăn Tết Nguyên Ðán là ăn mừng ngày đầu năm vào ngày mồng một tháng giêng và Tết bắt đầu vào giờ Tý (giữa khoảng từ 23 giờ năm cũ đến 1 giờ sáng năm mới). Thời khắc này là Giao Thừa, đêm 30 tháng chạp là đêm trừ tịch.

    Nhà Hạ (2205-1766 trước Tây Lịch) vì thích màu đen nên chọn tháng Dần là tháng Giêng để ăn Tết. Ðời Thương (1766-1122 trước TL) thích màu trắng, đổi lại Tết vào tháng chạp. Nhà Châu (1122-256 trước TL) ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý là tháng 11 làm Nguyên Đán. Ðời Ðông Châu Liệt Quốc, các nước ăn Tết theo quan niệm của Khổng Tử, chọn tháng giêng như nhà Hạ nhưng khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa (256-206 trước TL) lại lựa tháng Hợi tức là tháng mười để ăn Tết mãi cho tới khi ngà Hán làm chủ Trung Nguyên (206 trước TL – 221 sau TL ), theo Khổng Tử, chọn tháng giêng làm ngày đầu năm và phong tục này được giữ cho tới ngày nay.

    Tết Nguyên Ðán theo Tầu hay Việt đều giống nhau ở các nghi thức tống cựu, nghênh tân tống cựu gồm có lễ tiễn Táo quân về trời đêm 23 tháng chạp, lễ cúng rước tổ tiên, ông bà quá cố ngày 30 tháng chạp, sau đó là lễ phong tỉnh (đóng giếng nước), tảo địa (quét don nhà cửa trước giờ Giao Thừa) mừng tuổi, phong môn v. V.. Còn nghi thức nghênh tân quan trọng nhất là cúng giao thừa, mở rộng cửa nhà để bái thiên địa, cúng gia đường, táo quân, tục lì xì, chúc mừng tuổi v. v..

    Bên cạnh những phong tục, tập quán vay mượn của người Tầu, người Việt còn có nhiều tập tục nổi tiếng đặc thù dân tộc lưu truyền đến ngày nay như tục cướp đầu pháo của đồng bào thiểu số tại miền Thượng du Bắc phần và mot6. Vài bộ lạc trên cao nguyên Trung phần, lễ viếng mộ đầu xuân cũng như dãy mả vào những ngày sắp tết, tục cướp cầu ở làng Yên Xá ((Bắc Ninh), thi thơ đầu xuân, tổ chức các phiên chợ đặc biệt ngày tết tại vùng mạn ngược, vùng xuôi cũng như ở thành thị, tục ném cầu và phóng sinh ở Thanh Hóa, tục dành nhan ngày tết, hát quan họ, hát trống quân ở đất Bắc, hát bài chòi vùng Bình Ðịnh – Phú Yên, đánh đu ngày Tết ở Nam phần v. v.. Tóm lại những trò chơi, tập tục của người Việt Nam trong những ngày Tết đều có tính cách bình dân, phổ quát, mang nội dung lành mạnh, đem đến niềm vui thỏa mãn cho con người sau một năm làm lụng vất vả, phiền lụy. Do đó, các nhà phong tục học trên thế giới khi chứng kiến hay nghiên cứu về phong tục tập quán của ta đã kết luận: ”Tết của người Việt Nam phong phú, thực tế và vui vẻ hơn tết của người Trung Hoa và Âu Mỹ“.

    2 - TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM TỪ THƯỢNG CỔ TỚI TRƯỚC 1945

    Thời Thượng Cổ: Ngay từ thời Hồng Bàng của buổi bình minh lập quốc, dù người Việt còn sống lạc hậu nhưng tổ tiên ta đã biết tới Tết. Thật vậy, qua một mùa đông rét mướt, lạnh lẽo, mùa xuân bỗng trở về rực rỡ với cảnh hoa đồng cỏ nội sặc sỡ trong ánh nắng hồng ấm lung linh. Tinh thần của con người dù là on người thượng cổ còn hồn nhiên, chất phác nhưng họ vẫn thấy sinh tình trước sự kích thích của vũ trụ bao la, mang đến cho con người nguồn sinh lực dồi dào.

    Trai gái trước cảnh xuân nồng mới, đã biết tìm đến nhau trên khắp các nẻo đường quê hương đất nước, phát sinh ra những trò chơi mộc mạc, hoặc đánh vòng, tung cầu hay họp nhau hát hò đối đáp dẫn đến câu chuyện trầu cau đầu mối của chuyện hôn nhân giữa nam nữ cũng như sự tích bánh chưng, bánh dầy, quả dưa đỏ đời Hùng Vương thứ 6, không theo truyền thống Nho giáo truyền ngôi cho con trưởng mà lại truyền ngôi ho con thứ 18, nói lên tính chất đặc biệt của truyền thống Việt Nam lúc nào cũng thực tế không trừu tượng, lễ giáo quá đáng như người Tầu.

    + Tết Cổ truyền dưới thời Lý Trần:

    Sau khi đánh tan quân Nam Hán trên Bạch Ðằng Giang, Ngô Vương Quyền đã cởi ách nô lệ ho dân tộc sau mười thế kỷ bị Bắc thuộc. Ðó là năm 939, mở đầu cho thời đại tự chủ, tự cường của dân tộc.

    Tới đời Lý Trần, người Việt đã tiến bộ nhờ ảnh hưởng của Nho, Lão, Phật. Nhiều phong tục tập quán thuần khiết được tạo dựng. Ngoài những năm chinh chiến chống ngoại xâm như Tống Nguyên và nội loạn, dân chúng an cư lạc nghiệp, đất nước thanh bình.

    Ngày tết bắt đầu từ 30 tháng chạp, dân được phép đốt pháo. Pháo thời đó là những ống lệnh chứa thuốc nổ, có ngòi, chứ không phải loại pháo có ngòi làm bằng giấy bọc thuốc nư ngày nay. Pháo được đốt khắp nơi, từ ngoài cổng làng, cổng nhà hay đình chùa. Dân chúng giết lợn, gà, vật trâu bò, dê để cúng tạ trời phật, ông bà, cha mẹ quá ố liên tiếp trong ba ngày Tết.

    Ngày mồng 5 Tết, nhà vua cho làm tiệc khai hạ rồi cùng với văn võ bá quan yến tiệc vui vẻ. Mọi người trong nước đều đi lễ chùa và du ngoạn. Ngoài ra khắp nơi đều có các sân khấu lộ thiên để cá phường chèo đến giúp vui cho dân chúng trong mấy ngày Tết. Tại các nơi công cộng còn có các trò chơi lý thú như đánh vật, chọi gà, đá cầu...

    Trong mục đích khuyến nông, tập tục vua đánh vào trâu đất trong ngày lập xuân được lưu truyền cho đến cuối đời Nguyễn (thời Bảo Ðại), theo An Nam Tạp Chí của Lê Tắc đời Trần cho biết, mỗi năm vào mồng ba tết, cá vua Trần ngự ra gác Ðại Hùng để xem các thái tử thi đá cầu. Riêng các quan thi đánh cầu bằng tay, có khi cỡi ngựa. Ðá cầu là môn thể thao thịnh hành trong những ngày Tết vào dịp đó, phổ biến từ giai cấp quý tộc cho tới giới bình dân ở kinh đô, thành thị cũng như tại thôn quê.

    Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, một bộ sử cũ nhất của nước ta còn lưu lại đến ngày nay thì nam nữ Ðại Việt trong ba ngày Tết đã bắt đầu chơi đánh đu từ năm 1365 là niên lịch ghi rõ ranh giới Việt Nam đã chạy tới Hóa Châu (Thừa Thiên) và nam nữ Hóa Châu lại là những người sành sỏi về trò chơi này. Sách Hồng Ðức Quốc Âm Thi Tập xuất bản vào thế kỷ thứ XV có in một bài thơ chữ Hán, vịnh lại cảnh trai gái đánh đu có từ thời Trần.

    Bốn cột lang nha ngắm để trồng
    Ả thì đánh cái, ả lòn ngông
    Tế thiên, hậu thổ khom khom cật
    Van vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng
    Tám bức hồng quần bay phất phới
    Hai hàng chân ngọc đứng song song
    Chơi xuân hết tất xuân dường ấy
    Nhổ cọc đem về, để lỗ không


    + Tết Việt Nam dưới thời vua Lê chúa Trịnh:

    Từ thế kỷ thứ XVI, nhà Hậu Lê đã suy tàn, dọn đường cho Mạc Ðăng Dung cướp ngôi, đất nước chia năm xẻ bảy, chính sự đổ nát, dân chúng lầm than. Ðại Việt lâm vào cảnh nội chiến triền miên kéo dài gần 300 trăm năm, lấy sông Gianh trong tỉnh Quảng Bình làm ranh giới, phía Bắc thuộc quyền chúa Trịnh, vua Lê chỉ ngồi làm vì. Trong Nam thì chúa Nguyễn xưng hùng một cõi. do đó những lễ Tết dưới thời vua Lê chúa Trịnh có phần nào khác biệt so với các đời Lý Trần là thời cực thịnh của Phật giáo.

    - Lễ Tết trong cung vua phủ chúa.

    Trước Tết, tình hình trong cung vua và phủ chúa rộn rịp hẳn lên, nào là lo tổ chức lễ Tiến Xuân Ngưu (tiến trâu đất vào Tiết Lập Xuân), một tập tục có từ lâu đời với mục đích khuyến nông Các nghi thức về Tết Nguyên Ðán được sửa soạn vào cuối tháng Chạp. Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí thì ngày 25 tháng Chạp, triều đình đã làm lễ phong kín các ấn tín đem cất vào kho và sẽ sử dụng lại sau Tết. Tất cả các quan quân đều được nghỉ Tết mười ngày để vui chơi.

    Ngày đầu năm, bá quan văn võ vào điện để chào mừng vua Lê tại điện Kính Thiên. Dẫn đầu bách quan là thế tử của chúa Trịnh gọi là quan Tiết Chế, sau đó cùng kéo qua lạy mừng chúa Trịnh tại phủ chúa và được chúa ban tiền thưởng cho tất cả các quan từ hàng nhất phẩm cho tới cửu phẩm, rồi cùng chúa dự tiệc đầu năm vui vẻ. Sau đó lại kéo về dinh quan Tiết Chế để chúc tụng lần nữa mới giải tán.

    Trong ba ngày xuân còn có lễ Tế Giao (lễ này bắt nguồn từ thời Hậu Lý), với mục đích cúng tế Trời Ðất, cầu cho mưa thuận gió hòa, trăm họ vui vẻ yên ổn làm ăn. Thời vua Lê chúa Trịnh, đàn Nam Giao được thiết lập tại Thăng Long, Hà Nội). Trong ngày tế lễ chính thức, Vua Lê là chánh tế, hai cha con Chúa Trịnh là bồi tế, ngoại trừ các năm vua Lê bị tang chế thì Chúa Trịnh được cử làm chánh tế.

    - Tết nơi dân gian.

    Căn cứ vào tập du ký của nhà du hành người Hòa Lan Tavernier có tên là “Recueil de Plusieurs Relations et Traites Singuliers et Curieux“ diễn tả dân đàng ngoài ăn Tết như sau.

    Trước Tết ba ngày dân chúng đàng ngoài tại kinh đô Thăng Long cũng như các thành thị khác lo trang hoàng nhà cửa, sửa soạn bàn thờ tổ tiên, ông bà có bày nhiều bài vị viết tên người quá cố. Tại kinh đô, hơn 40.000 binh lính và quan lai tấp nặp vui tết. Trong cung, vua Lê cũng bày nhiều bàn thờ, bài vị để cúng tế tổ tông tiên triều. Trong khi vua làm lễ trước bàn thì súng lớn, súng nhỏ được lệnh khai hỏa thay pháo mừng xuân. Cúng tế xong, vua đốt tiền giấy luôn cả bàn thờ để tế lễ.

    Nơi nhà của dân chúng, mọi người dùng vôi vẽ những hình bát quái trên cửa, tường, mục đích làm ma quỷ sợ hãi không dám vào nhà phá phách. Tục xem chân gà đoán họa phúc bắt nguồn từ đó cũng như sự kiêng cử khi xuất hành đầu năm, đến nay vẫn còn được dân chúng tin theo.

    Theo sách Gia Ðịnh Thành Thống Chí của Trịnh Hoài Ðức thì tập tục đánh đu có từ thời Trần đã theo chân chúa Nguyễn vào tận Nam từ đầu thế kỷ XIV, lúc đó người Việt vùng đất mới vừa khai phá ở miền Thủy Chân Lạp đã chơi đánh đu bằng bốn loại đầu tiên, đu thang, đu giằng xoay và đu rút. Cũng trong thời kỳ này, người Việt đã sáng chế thêm một môn chơi ngày Tết hết sức trang nhã đó là hát trống quân, rất được phổ quát trong tất cả nơi chốn công công, tế lễ, đình đám này xuân. Sự tích trống quân cũng như chiếc trống cơm theo tác giả từ Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Bưu Văn Phan Kế Bính, Vũ Ngọc Phan, Maspero v. v.. đều có ý chung về nguồn gốc lịch sử dân tộc, nói lên sự phấn đấu hào hùng và tinh thần thượng võ của người Việt cũng như tình cảm thiêng liêng ẩn ức trong những lúc chia lìa:

    “Tống quân Nam phố, thương như chi hạ“...có nghĩa là tiễn người lên đường về Nam chinh chiến, lòng thiếp đau đến độ nào, có ai hiểu thấu ?

    + Tết Nguyên Ðán và cuộc du xuân thường niên dưới triều Nguyễn:

    Trước Tết một tháng, trong cung nội đã tổ chức lễ Ban Sóc (phân phát lịch mới cho các quan) và lễ Phát Thức (do các quan đại thần lau chùi các ấn vua, kim sách, ngân sách). Ngày 30 tháng chạp, Bộ Lễ cử người mang phẩm vật đến cúng tại các lăng, miếu còn các hoàng thân, tôn tước khi tới các chùa, đình làm lễ. Từ giờ đó, cá công thự, chùa, đình bắt đầu dựng nêu.

    Ðại triều được thiết tại Ðiện Thái Hòa rất nghiêm chỉnh với cờ quạt, nghi trượng, lính nhạc và voi ngựa dàn hầu từ ngoài cầu Kim Thủy vào tới tận Ðiện.

    Vua ngự trước tiên tại Ðiện Cần Chánh, đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, cầm hốt, được xa giá rước sang Ðiện Thái Hòa giữa tiếng chuông, trống và 9 phát súng lệnh chào mừng.

    Sau đó các hoàng tử, bá quan vào Ðiện lạy vua 5 lạy với lời chúc Tết được vua ban yến và tiền thưởng xuân.

    Ngày mồng một tết, vua thiết đại yến đãi các quan văn võ từ tứ phẩm trở lên, cùng các hoàng thân, hoàng tử tại Ðiện Cần Giờ và hai dinh Tả, Hữu Vụ.

    Mồng 2 Tết, vua, hoàng hậu và các quan đại thần đến cúng bái tại Ðiện Phụng Thiên, sau đó ban yến cho các quan từ ngũ phẩm trở xuống tại dinh Phủ Doãn Thừa Thiên.

    Lễ Tết Nguyên Ðán kéo dài trong 7 ngày. Các hoàng thân, hoàng tử được thưởng Tết 20 lạng bạc, còn các quan văn võ tùy theo phẩm trật được lãnh từ 1 lạng đến 12 lạng.

    Tục du xuân của các đấng quân vương đã có từ thời nhà Lê nhưng gián đoạn ở các vua đầu triều Nguyễn, Mãi tới đời Ðồng Khánh mới tổ chức lại. Trong dịp du xuân, ngoài nhà vua với cung tần mỹ nữ trong cung, các hoàng thân, hoàng tử, công chúa và các quan đại thần đều được tham dự trên các thuyền rồng rực rỡ, du hành trên sông Hương thơ mộng, từ cửa Thượng Tứ cho tới các lăng tẩm đền đài của tiền nhân nằm trên núi Ngự Bình chạy song song với dòng sông, Lễ du xuân được tổ chức trong 3 ngày Tết, ngoài du thuyền, vua còn du hành trên bộ bằng kiệu khắp kinh thành Huế, vừa thưởng ngoạn và xem dân chúng ăn Tết.

    3 - Tết Việt Nam Hiện Tại:

    + Tại các thành thị:

    -Hà Nội:

    Hà Nội hay Thăng Long là thủ đô của Việt Nam qua nhiều triều đại. Là đất ngàn năm văn hiến, có 36 phố phường và dân số đông nhất đất Bắc, nên những ngày Tết ở đây thật độc đáo, vui nhộn. Khu vực buôn bán thường tập trung ở phía bắc Hồ Gươm và phố Tầu.

    Người Hà Nội lo Tết từ tháng 11 Âm Lịch, chuẩn bị các loại gạo nếp, các thứ đậu để gói bánh, nấu chè, các loại đồ khô nhất là măng, miến, nấm và nhiều nhà còn nuôi gà, vịt để dùng hay cúng trong dịp tết.

    Ðến tháng Chạp bắt đầu làm các món đặc biệt như dưa hành, trứng muối, cải bắc thảo là món rất được ưa thích vì chất bùi béo của quả trứng được muối sau 20 chục ngày, biến thành màu nâu đen sẫm có mùi thơm ngon lạ lùng. Sau đó làm mứt hạt sen, lạc, gừng, phật thủ, quất dừa, dứa, bí v. v.. các loại bánh chè lam, bánh vẽ, bánh huê cầu và những đặc sản trên đất Bắc xuất phát từ hai làng Vẽ và Xuân Cần. Ðặc biệt của Hà Nội là 36 phố phường, mỗi phố bán một loại hàng chẳng hạn như phố Hàng Ðào bán tơ lụa, vải vóc, áo quần và nơi này thật nhộn nhịp vì ai cũng phải ghé đến để mua vải về may quần áo mới cho kịp tết. Hàng Ngang bán các loại trà, Hàng Bồ bán tranh Tết và là nơi các cụ đồ nho bán chữ thánh hiền như viết câu đối hoặc các bức liễn bằng chữ Hán như Vũ Ðình Liên đã diễn tả trong thi phẩm bất hủ “Ông Ðồ“ vào thập niên 30 trước tiền chiến, Hàng Bồ còn là nơi bán pháo nhưng pháo đã bị Việt Cộng theo Trung Cộng cho dẹp bỏ từ năm 1994.

    Những ngày cuối tháng Chạp, phố Hàng Mã cũng tấp nập vì nhà nào cũng lo cho tổ tiên, ông bà hoặc cha mẹ, anh em đã quá cố. Bàn thờ được quét dọn sạch sẽ, mọi người mua sắm vàng, tiền giấy và đồ thợ mã về để cúng thần linh, tổ tiên sau đó đốt theo các ngài để dùng dưới cõi âm. Riêng chợ Ðồng Xuân, ngoài bán các loại hương trầm còn là chợ hoa nổi tiếng của Hà Thành. Trong các phiên chợ Tết, chợ hoa lan rộng qua tới Hàng Khoai, Hàng Lược, đầy trăm hoa nghìn tía của các vườn hoa Ngọc Hà, Nhật Tân, Nghi Tàm, Yên Phu... Chợ hoa khai trương từ 25 tết cho tới chiều 30 mới tan, dập dìu nam thanh nữ tú, người pha lẫn với hoa và cả hai đều đẹp. Hà Nội có đủ các loại hoa như trong Nam nhưng họ thích nhất vẫn là hoa đào, cúc, quất và thủy tiên.

    Thế rồi 23 tháng Chạp, nhà nhà lo tiễn táo quân về trời. Ngoài vàng mã, người Hà Nội còn cúng cho ông một con cá chép thật to bằng ba bàn tay để ngài cưỡi về thượng giới, cá này được phóng thích khi qua lễ.

    Bây giờ mới thật là Tết, nhà nào cũng lo gói bánh chưng, gói giò làm mứt, dọn dẹp bàn thờ, trang hoàng nhà cửa và tính sổ nợ để sang năm mới không bị xúi quẩy, phiền hà bởi bọn nặc nô huyên đi đòi nợ thuê. Rồi thì quà cáp để biếu xén trong họ, ngoài làng cho trọn tình.

    Nhưng thiêng liêng và ý nghĩa nhất vẫn là ngày 30 mươi tết. Mọi nhà dù theo bất cứ đạo nào, nghèo hay giàu cũng đều có mâm cơm cúng tất niên rất đặc biệt Hà Nội gồm 4 bát, 6 dĩa và nếu giàu có hơn thì đủ 8 bát 8 dĩa như tập tục cổ truyền.

    Ngày 30 mươi Tết còn là ngày đoàn tụ gia đình, anh em, cha mẹ, con cái quây quần quanh mâm cơm cúng gia tiên vừa dọn xuống, trong làn hương trầm tỏa thơm ngát từ các bàn thờ trang trọng, ấm cúng. Mọi người vừa ăn uống kể chuyện, ôn cũ, bàn mới trong không khí hòa thuận của gia đình.

    -Tại Huế:

    Thành Phố Huế là cố đô của Việt Nam đã được chọn làm kinh đô từ thời chúa Nguyễn Phúc Trai (1687) vua Quang Trung (1788) và suốt triều Nguyễn từ 1802-1945.

    Cũng giống như những phần đất khác trong nước, dân Huế chuẩn bị tết trước cả tháng, ngoài ra còn lo việc chạy mả để các cụ chuẩn bị về ăn tết chung với con cháu.

    Gần tết nhà cửa vườn tược được sang sửa tươm tất, sạch sẽ. Hoa được trồng trong vườn riêng quanh nhà hoặc mua sắm tại chợ Ðông Ba với các loại mai, đào, cuc, quất, thược dược, thủy tiên, vạn thọ...

    Từ ngày 23 tháng chạp, không khí tết đã có mặt tại Huế. Khắp đình, chùa và nhà, đâu dâu cũng bắt đầu dựng nêu tết và cúng tiễn táo quân về trời với hoa quả và đồ mã.

    Người Huế ngoài đặc tính nhân hậu, hiền lành, nam giỏi văn chương thi phú, ca nhạc và nữ thì công dung ngôn hạnh nên các món ăn ngày tết cũng thật đặc biệt. Những ngày tết cũng là dịp đặc biệt để các bà mẹ truyền nghề cho con gái trước khi xuất giá tòng phu để khỏi bị mang tiếng mai sau, ngoài các loại mức người Huế còn lo gói bánh chưng, bánh tét, bánh phu thê (xu xê) làm bằng bột sắn nhưng đậu xanh ngào đường dừa hoặc nhân tôm cháy, bánh hỏi, bánh sen cháy, bánh dừa mận, bánh măng...

    Mâm cỗ tết cúng chiều 30 Tết của người Huế khác với người Hà Nội, nhìn bề ngoài trông đạm bạc hơn nhưng thật ra rất cầu kỳ vì người Huế thích ăn các món rau cải hơn thịt cá. Bởi vậy chỉ riêng món gỏi Huế đã có mười thứ như đu đủ xanh, giá sống, vừng, lạc, thịt ba chỉ, tôm, da gà rán trộn với dấm, đường, tỏi, ớt, ngò và rau ngổ. Ngoài ra trong mâm cỗ, không bao giờ thiếu dưa món được làm trước độ tuần lễ, món hành ngâm dấm, xà lách gân bò,tré, chả tôm, nem bò lụi, giò thủ, giò bì, giò lụa.

    Tóm lại, các món ăn của Huế trong ba ngày Tết gồm loại chay, bình dân và ngự thiện. Món chay được dùng trong các đình chùa hay nhà của những tín đồ Phật Giáo, có tên gọi giống như các món mặn như vịt tìm, vi cá, nem nướng, hạnh nhân xào v. v.. nhưng thật ra toàn được chế biến bởi thảo mộc tươi, khô hay đã lên men. Riêng các món ăn ngự thiện và bình dân sau này không còn ranh giới vì chế độ vua chúa đã cáo chung, ai có tiền cũng có quyền hưởng giò, tré, gỏi. Riêng rượu dùng trong ba ngày tết rất phổ biến là loại rượu nếp và rượu thuốc được chôn dưới đất nhiều ngày để tăng thêm nồng độ và hương vị. Người Huế nhất là giói trung niên và cao niên cũng thích uống trà trong ba ngày tết nhưng cầu kỳ hơn người Hà Nội vì ngoài các loại trà đắt tiền của Tầu như Tam Hỷ, Ô Long.. trà còn được đem về ướp, xấy với các loại hoa thơm như lài, sen, sói, mộc.

    Phụ nữ Huế đi chợ tết Ðông Ba ngoài mua sắm còn đi gội đầu trong các cửa hiệu bằng nước Hương Bôi, hoa bưởi, hoa chanh. Phong tục này chỉ có ở Huế mà thôi.

    -Tết tại Sài Gòn – Chợ Lớn:

    Tuy không phải là đất ngàn năm văn hiến của Việt Nam như Hà Nội, Huế nhưng từ thế kỷ XVIII nhờ hoàn cảnh địa lý thuận lợi, Sài Gòn – Gia Ðịnh đã trở thành thương cảng lớn nhất ủa nước ta và là trung tâm buôn bán từ buổi đầu đã tập trung tại chợ Bến Thành, Chợ Sỏi (Chợ Cầu Ông Lãnh ) và chợ Sài Gòn Mới (Chợ Lớn). Tính đến nay Sài Gòn – Chợ Lớn được thành lập hơn ba trăm năm.

    Tại Sài Gòn – Chợ Lớn, không khí lễ tết đã nhộn nhịp từ lễ Giáng Sinh kéo dài cho tới tết. Khác với người Tầu Tảo mộ và dãy mả vào tiết tháng ba, người Việt ở Trung và Nam phần dãy mả vào cuối tháng chạp.

    Dân Sài Gòn là dân tứ chiêng nhưng vì chung sống lâu năm nên đã hòa hợp vào tạo cho mình một phong cách đặc biệt. Tóm lai người Sài Gòn ăn tết không xa hoa như người Hà Nội, cầu kỳ như như người Huế, rất bình dân nhưng lại tốn nhiều tiền hơn, vì ngày tết người Sài Gòn thích ăn nhậu theo phong cách Tây phương với nhiều món nhấm nên ngày tết nhà nào cũng chuẩn bị sẵn nhiều loại đồ khô cá, khô tôm, khô thịt.

    Không khí tết đã bắt đầu từ tháng Chạp đến tận tối Giao Thừa. Người Sài Gòn thích chơi hoa mai và vạn thọ được bán khắp nơi chứ không tập trung một chỗ như Hà Nội, Huế. Hoa được đưa về Sài Gòn từ Ðà Lạt, Bà Ðiểm, Hốc Môn.

    Người Sài Gòn có tục bói dưa ngày tết và dưa hấu được đưa tới Sài Gòn từ Trảng Bàng, Cao Lãnh, Trà Vinh, tập trung nhiều nhất tại chợ Bến Thành và chợ Cầu Ông Lãnh. Nhà nào cũng mua dưa hấu để cúng, ăn và đãi khách trong ba ngày tết.

    23 tháng Chạp tiễn đưa Táo Quân về trời, lễ vật cũng khác biệt với các nơi Hà Nội, Huế gồm ó món lễ là một đĩa xôi, một miếng thịt lợn luộc, một lọ hoa, đôi hia cùng áo giấy. Nhiều nhà trước khi Việt Cộng cấm đốt pháo, luôn kèm theo một tràng pháo để tiễn táo quân về trời.

    Tết Sài Gòn cũng có mứt, bánh nhưng mứt và bánh Sài Gòn cũng khác biệt với các loại thổ sản ở miền Nam như mứt sầu riêng, dâu, chùm ruột và nhất là mứt gừng, dừa. Bánh thì ăn bánh tét, nhiều nhà cầu kỳ trộn thêm tôm khô, lạp xưởng và nếp gạo để nấu bánh. Mâm cỗ cúng tất niên luôn luôn có bánh tét, thịt kho, dưa giá, củ kiệu, củ cải muối và nem bì.

    Cái đặc điểm Tết ở Sài Gòn là nhà nào cũng có mâm ngũ quả ơ trên bàn thờ và trên bàn trong phòng khách với đu đủ, xung, cam quýt, sầu riêng, măng cụt... với ngụ ý cầu mong năm mới đủ ăn, xung túc hơn năm cũ.

    Ðêm Giao Thừa dân Sài Gòn còn có tục đi lễ chùa, hái lộc đầu năm. Người Hoa có lệ rước tượng ông Quan Công, bà Thiên Hậu di hành trong ba ngày tết với sự tham dự của các bang hội Tầu và các đội múa lân, múa rồng, múa sư tử cùng các đoàn hát Quảng, Tiều.

    Riêng tại Chợ Lớn, tết là dịp để người Việt tìm đến ăn uống với các món đặc biệt như trăn, rắn (xem như rồng), rùa để hy vọng được thêm sức mạnh, sống lâu. Riêng người Hoa trong ba ngày tết, thi nhau làm đèn lồng, các chùa, hội quán sơn phết sặc sỡ, lòe loẹt, nam thanh nữ tú Việt lẫn Hoa đến cúng bái không dứt suốt ngày đêm.

    -Tết tại miền Ðồng Tháp Mười:

    Ðồng Tháp Mười là vùng đất trũng thấp ở phía tây Nam phần, bao gồm hai tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh) và Kiến Tường (Mộc Hóa) ngày nay, kinh rạch chằng chịt, hoang địa mông mênh, dân chúng trong vùng trước kia đi lại bằng xuồng, thuyền. Nhà cửa dân cư thưa thớt, chỉ cất trên những gò đất cao để tránh lụt lội nên mật độ dân số năm 1960 chỉ có 15 người / 1km2 và năm 1978 là 50 người / km2, dân chúng nghèo nàn vì thiếu mọi phương tiện cho nên ngày Tết Nguyên Ðán hầu như chỉ quanh quẩn ở thôn xóm quạnh hiu và trong gia đình.

    Dân chúng Ðồng Tháp Mười là dân giang hồ tứ chiếng, hoặc vì chiến nạn, vì sinh kế nên bỏ quê hương xứ sở đến vùng đất bùn lầy, hoang địa, muỗi, đỉa, rắn rít và chướng khí, nước độc để an thân, lập nghiệp. Do đó, ngày Tết rất đơn sơ, giản dị và cư dân vùng nào giữ tết theo phong tục miền đó, chẳng hạn như người Bắc, Tết đến có tục làm bánh chưng, chè lam, bánh ít, bánh bột lọc, bánh trôi, bánh lá, bánh tro v. v.. Dân miền Trung - nhất là Huế - thì gói bánh chuối, kẹo mần quân, kẹo kéo, chè lam pha mè đen, mè xửng Huế, bánh rán phòng da lươn, bánh đa Còn dân miệt vườn từ các tỉnh Nam phần thì ăn tết với bánh tét, bánh giò, nem lá ổi, kẹo trái cây, bánh ướt, xôi ướp cốt dừa, bánh chuối.

    Nhưng trong ba ngày Tết, nhà nào dù Bắc, Trung, Nam cũng đều có thêm các món đặc sản ở vùng Ðồng Tháp Mười, trong mâm cơm cúng tất niên hay món đãi khách lạ vào những ngày đầu năm. Ðó là món “ngũ xà thất vị”, tức là thịt năm con rắn chế thành bảy món, “thập cẩm trang viên” tức là các loại rau trồng quanh vườn như sắn, rau súng, ngó sen, rau mác, rau tì láng trộn lẫn với cơm và nước cốt dừa ăn với bánh tráng nướng, các món chiên xào các loại cá đồng, cá sông nhưng tuyệt nhất vẫn là món “ngự long tụ lầu“ chế bằng thịt rắn và chuột đồng, bằm nát vò viên đem nướng trên lửa than đỏ, lai rai với đế Gò Ðen, chờ đón giao thừa, giữa cảnh trời nước mênh mông thì tuyệt diệu.

    -Tết nơi miền biên địa Hà Tiên:

    Hà Tiên là vùng đất xưa nhất của Nam phần, cõi biên đình giữa Việt Nam và Cao Miên, giang sơn của giòng họ Mạc trong thế kỷ XVIII trước khi trở thành một tỉnh của nước ta, nơi pha trộn 4 giòng máu Việt, Hoa, Miên, Chàm nhưng phong tục tập quán dân tộc vẫn được thể hiện rõ ràng qua cổ tục Tết Nguyên Ðán.

    Như các nơi khác trong nước, ngày Tết Nguyên Ðán quan trọng nhất là lễ tiễn đưa táo quân về trời, cúng đêm giao thừa, những ngày tết đầu năm và tảo mộ. Riêng lễ tiễn Táo Quân về trời có sự khác biệt với các nơi khác trong nước dù thời gian tiễn táo quân vẫn là đêm 23 tháng Chạp.

    Khắp Việt Nam, nhà nhà thờ Táo Quân tại nhà bếp nhưng đặc biệt tại Hà Tiên, Táo Quân được phụng thờ rất trang trọng, ngay phía sau bức bình phong ngăn nhà trước và nhà giữa, ngó ra bếp. Bàn thờ Táo Quân được treo trên cao, có đủ lư hương, bình hoa và hai câu chữ Hán để thờ Táo Quân, viết trên giấy hờn đơn có kim óng ánh:

    Công binh hữu đức năng tư hóa,
    Chính trực vô tư khả đạt thiên


    Trong nghi lễ cúng tiễn táo quân, ở Hà Tiên cũng khác biệt, Ngoài hương, hoa, đèn, quả còn cúng thêm món cổ truyền “ mì sợi nấu đường “ có nêm thêm nước gừng dã. Ngoài ra người Hà Tiên còn có tục bán con nít cho táo quân và trả lễ vào những năm đứa trẻ lên 3, 7 tuổi cho tới năm 10 tuổi mới xin chuộc con về. Tục này chỉ dành cho con trai và chỉ có người Việt gốc Hoa mới theo, đây cũng là quan niệm trọng nam khinh nữ có tự lâu đời của người Tầu

    Tết của người Việt ở Hải Ngoại:

    Trên thế giới, người Việt là dân tộc duy nhất cam phận sống nghèo cực trên mảnh đất quê hương, ngoại trừ các trường hợp quá sức chịu đựng vì kẻ cai trị độc tài, độc ác vô nhân đạo nên họ phải gạt lệ bỏ nơi chôn nhau cắt rún để tìm sinh lộ, đó là trường hợp của những Việt kiều sống trên đất Cao Mên trước 1975 do nạn chém giết vì cấm đạo, bị thực dân Pháp dụ dỗ vào làm tại các đồn điền và những người trốn tránh vì liên can tới chính trị. Ngoài ra hiện nay có khoảng 2 triệu người Việt tị nạn Cộng Sản khắp nơi trên thế giới, nhưng tiêu biểu nhất vẫn là cộng đồng Việt tị nạn tại Pháp và Mỹ. Hàng năm, cứ đến Tết Nguyên Ðán, người Việt xa quê hương lại tạo dịp gặp nhau để cùng ôn cố tri tân và hứa hẹn một ngày về khi đất nước đã được quang phục, ngày đó sẽ là một Tết vĩ đại nhất của đời người Việt Nam hiện tại. Tóm lại, dù sống ở đâu, người Việt vẫn cố gắng tổ chức Tết cổ truyền của dân tộc mình để hồi tưởng lại những ngày còn sống thanh bình vui vẻ nơi quê hương khi Cộng Sản Hà Nội chưa cưỡng chiếm miền Nam vào ngày 30-4-75.

    4 -Tết Việt trên đất Miên:

    Người Việt bắt đầu đến lập nghiệp trên đất Miên từ thời Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên và tính đến tháng 4/75 có khoảng 200.000 người, đa số tập trung tại Nam Vang, Battam Bang, Kompong Cham, Kampot, Svey Rieng, Biển Hồ và các đồn điền cao su của thực dân Pháp.

    Tại Miên, người Việt hưởng hai cái tết: Dương Lịch và Âm Lịch dù theo bất cứ tôn giáo nào nhưng vui vẻ hơn vẫn là Tết Nguyên Ðán cổ truyền của Việt Nam. Trong dịp này, các trường học có đông đảo học sinh Việt Nam đều được nghỉ phép tết từ 23 tháng chạp, tức là ngày đưa táo quân về trời cho tới ngày mùng 5 Tết. Trước 1975, tại Nam Vang ching’ phủ Miên dành cho Việt và Hoa Kiều hai ngôi Chợ Lớn và Chợ Boong để nhóm các phiên chợ tết. Chợ buôn bán kiểu Việt Nam, được mở cửa suốt ngày đêm từ 28 tháng chạp tới cuối năm, bán đủ các món hàng dành cho ngày tết như các loại mứt, bánh chưng, bánh dầy, dưa hấu v. v.. cùng các loại hoa quen thuộc dùng trong ngày tết Việt Nam như vạn thọ, trường sanh, huệ, mồng gà, cúc v.v

    Riêng về mai, món hoa quốc hồn của dân Việt miền Trung- Nam thì không có bán tại hai chợ trên nên đồng bào Việt, trong những ngày sắp Tết rủ nhau về Kampong Spen để chặt mai, nơi đây cách Nam Vang chừng 40 Km.

    Người Việt tại Miên thường chung nhau làm Heo, nấu bánh tét vào những ngày sắp tết. Tất cả mọi thứ đều chuẩn bị trước lúc đón Giao Thừa.

    Ðêm trừ tịch trên đất khách thôi là buồn vì chỉ có người Việt tha hương mới ăn tết Việt. Họ cũng đốt pháo vào giờ giao thừa để làm lễ tống cựu nghinh tân và tiếng pháo tết của những kẻ xa xứ thường được nối tiếp từ khu này đến làng nọ, nơi có người Việt cư ngụ, kéo dài đến vài tiếng đồng hồ.

    5 - Tết Việt trên đất Pháp:

    Tết Việt thường đến sau lễ Giáng Sinh và tết Dương Lịch, cộng thêm cuộc sống máy móc và chạy gạo nơi xứ người, hơn nữa người Việt sống lẻ loi, riêng rẽ không tập trung như người Hoa nên tết Việt trên khắp đất Pháp thật lạt lẽo dù người Việt tha hương đã cố gắng vào hàng năm có tổ chức Tết cổ truyền của dân tộc mình.

    Ðể mua sắm Tết, những ngày cuối tháng chạp, người Việt rủ nhau xuống chợ Tầu, nằm quanh quẩn theo các đại lộ Ivry, Choisy hoặc khu Belle Ville để mua sắm tết. Không khí tại đây từa tựa vùng Chợ Lớn, với các trò múa lân của các bang hội người Tầu và sự trang hoàng lòe loẹt trong cá cửa hiệu chạp phô Hoa Kiều, làm cho người Việt ly hương phần nào đỡ nhớ nhà và náo nức trước thềm năm mới. Họ lo mua sắm mọi thứ kể cả bánh chưng, bánh dầy , giò, chả, mức, cốm, dưa hành, củ kiệu v. v.. để chuẩn bị làm cỗ cúng kiến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và nhân tiện thết đãi bạn bè.

    Cũng trong khu vực này, hầu như thứ gì cũng có, từ lịch Việt loại treo tường cho đến trà, hoa từ thủy tiên (Tầu) hoa đào (Việt Nam) cho tới các loại hoa cúc, mai tại địa phương. Riêng trà thì đủ các loại ngon nổi tiếng của Trung Hoa, Nhật, Ấn Ðộ và Tích Lan nhưng người Việt vẫn quen dùng trà Việt, nhất là các loại trà danh tiếng của Miền Nam Việt Nam tại Bảo Lộc, Ban Mê Thuột...

    6 - Tết Việt trên đất Mỹ:

    Không giống như những nơi khác trên thế giới, người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ sống tề tựu đông đúc tại các thành phố lớn trong các tiểu bang, Hoa Thịnh Ðốn, Texas, Hạ Uy Di và nhất là California.

    Từ bao năm qua khi có phong trào rầm rộ cua người Việt vượt biên, vượt biển, đoàn tụ, con lai, H.O... thì đa số người Việt rủ nhau về miền đất ấm California để tạm dung, lập nghiệp và năm nào cũng như năm nào thủ đô Việt tị nạn San Jose và Tiểu Sài Gòn đều thi nhau tổ chức chợ tết Việt Nam để đồng bào khắp nơi có dịp về ăn Tết, vui Tết và buồn Tết:

    Vừa đến đây, xuân đã vỡ tan,
    Riêng ta buồn nhìn tiệc tàn liên hoan
    Giữa rừng xuân vắng nghe dìu dặt
    Tiếng vọng mùa xuân nét võ vàng....


    Có sống tha hương mới thấm thía được cuộc đời ăn nhờ ở đậu của kẻ mất quê hương. Có làm thân lữ thứ mới thấy não lòng trong những giờ phút đoàn tụ, trong buổi xuân về, nhất là những lúc tình cờ nhìn những cánh hoa cúc đủ màu đang rực rỡ bên thềm gió, chen lẫn những nụ hoa đào, hoa mai đang ngạo nghễ trước gió đông hoặc vang vọng từ đâu đó trên bầu trời mênh mông, từng tiếng chim hải âu gọi đàn trở về lối xưa sau những ngày trốn rét khiến lòng ta cũng bồn chồn náo nức trong buổi xuân về.

    Ngày xưa, thời tuổi nhỏ, sống nghèo cực nơi xóm nhỏ nhưng mỗi lần nhìn hoa vông vang đỏ rực trời, và đàn chim sếu từ hải đảo bay khắp trời Phan Thiết lại nôn nóng chờ chực mẹ hiền dẫn đi sắm tết. Rồi những ngày chinh chiến, những năm tháng dài sống lưu vong, năm nào cũng như năm nào đều hy vọng là năm cuối cùng trong cuộc đời xa xứ, sẽ được trở lại quê nhà để cùng mẹ già ăn một cái Tết rực rỡ, vĩ đại nhất trong đời nhưng than ôi xuân nào cũng là xuân ly hương, tết nào cũng là Tết biệt xứ và quê hương Việt Nam gần trong gang tấc nhưng vẫn mãi xa tít muôn trùng:

    Xuân về trên đất khách,
    Ta ngồi đón mông lung
    Hắt hiu đêm trừ tịch
    Một mình uống rượu suông....


    Ðể rồi:

    Soi gương chợt thấy lạ
    Sau một đêm đợi chờ !




    Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Chạp 2011
    MƯỜNG GIANG
  12. Rồng là con vật không có thật nhưng từ ngày lập quốc cho tới nay, Rồng luôn được người Việt Nam tôn xưng là biểu tượng Vật Tổ của Dân Tộc. Nó là con vật huyền thoại cổ tích, khác với Khủng Long, một sinh vật được các Khoa học gia xếp vào loại thú tương cận của Rồng, tuy đã tuyệt tích gần cả trăm triệu năm nay nhưng hiện vẫn còn lưu lại thế gian những thi hài hóa thạch. Còn Rồng chỉ có trong huyễn hoặc, huyền sử và các câu chuyện cổ tích.

    Nhưng có điều kỳ lạ, là Rồng dù không có thật, vậy mà ai cũng có thể nhận ra nó một cách rất tự nhiên và dễ dàng. Theo các hình tượng vẽ về Rồng trên y phục của vua chúa ngày xưa, trong các đình chùa, cung điện… từ đó người ta mới nhận diện loài Rồng có nguồn gốc từ loài bò sát, cá sấu, thằn lằn và Chim. Tóm lại, Rồng dù được hư cấu theo cách nào chăng nữa thì hình dạng của nó cũng chỉ là một con Rắn khổng lồ, có đầu dài và nhọn như đầu sấu, mỏ giống mỏ chim, thân có vảy, trên lưng có kỳ và đặc biệt có nhiều chân với móng nhọn hoắt. Vì tính chất đặc biệt trên, nên Rồng được con người nhất là Á Ðông (Trung Hoa, Việt Nam, Ðại Hàn, Nhật ..) rất ngưỡng mộ, sùng kính và tôn thờ Rồng.

    Do quan niệm truyền thống trên, Rồng được nhắc nhở nhiều qua văn chương, điển tích và cuộc sống con người như đua thuyền Rồng, múa Rồng qua các lễ hội, trong các loại kiến trúc và các dạng hoa văn đánh dấu các giai đoạn lịch sử, các tri thức phong thủy qua hệ thống long mạch. Sau rốt là các địa danh dính dáng tới Rồng và sự truyền tụng về huyền thoại “Con Rồng-Cháu Tiên“, gắn liền với huyền sử Âu Cơ-Lạc Long Quân, mang tính chất của dân tộc Việt Nam cũng như niềm tự hào chung của các dân tộc chuyên trồng lúa nước tại miền Ðông và Ðông Nam Á.

    Điều này cũng dễ hiểu vì Rồng là sản phẩm của tưởng tượng, đã xuất hiện đầu tiên tại vùng Đông Nam Á và khu vực phía Nam sông Trường Giang vốn là lãnh thổ của người Bách Việt, trước khi Hán tộc tới xâm chiếm. Khu vực này là giang sơn của hai loài Rắn và Cá Sấu, vốn là yếu tố tạo thành con vật trừu tượng và huyền thoại Rồng.

    I – Rồng Qua Văn Chương-Nghệ Thuật:

    Các nhà khoa học và động vật học sau thời gian dài dầy công khảo cứu tìm tòi khắp mọi nơi, trên đất liền cũng như ngoài biển cả, hiện nay dều xác nhận không có sự hiện hữu của bất cứ một sinh vật nào mang tên “Rồng“. Thế nhưng tin hay không tin cũng mặc kệ, vì xưa nay vẫn có nhiều người tuyên bố đã tận mắt thấy Rồng, như thủy thủ người Tây Ban Nha tên Roberto Garcie khẳng định vào năm 1843 đã nhìn thấy một con Rồng đen dài khoảng 10m trên Ðại Tây Dương trong cơn sóng gió dữ dội. Năm 1901, một thủy thủ người Anh tên Charle Huse cũng cho biết đã thấy một con Rồng biển. Riêng người Hoa sống dọc theo sông Dương Tử, một con sông lớn nhất nước Tàu, bao đời đều để lại những truyền thuyết về Rồng tại đây, thường gây tai họa, giông bão, lụt lội cho con người.

    Nhưng dù là con vật huyền thoại, cổ tích, thực chất tại phương Tây hay phương Đông, Rồng qua hư cấu từ các loài bò sát, chim nước… Ðã trở thành biểu tượng của sự Thiện Ác tùy theo quan niệm địa phương. Tại Châu Á, Rồng là con vât cao quý tột đỉnh, đứng đầu tứ linh và là biểu tượng uy quyền của Vua chúa cũng như các bậc anh hùng đương thời. Do trên, Rồng đã đi vào văn học, tục ngữ, ca dao và nghệ thuật.

    1-Rồng Trong Văn Học:

    Tuy chỉ là con vật tượng trưng, nhưng hình ảnh Rồng lại xuất hiện rất nhiều qua các tác phẩm văn học từ Ðông sang Tây vì Rồng có dính dáng tới vua chúa, quan quyền và thần linh. Có thể nói được là trong tất cả các bộ truyện Tàu cổ đều có Rồng. Trong kho tàng văn học Việt Nam, có 2 tác phẩm cổ là Việt Ðiện U Linh và Lĩnh Nam Chích Quái được coi như hai quyển huyền sử của VN, mô tả tính chất siêu việt của dòng giống Hồng Lạc, con Rồng Cháu Tiên mà đại diện là Vua Rồng Việt Nam (Lạc Long Quân) với phép thần thông quãng đại, đã giúp cho dân chúng Lạc Việt an cư, lạc nghiệp. Bồ Tùng Linh, một tiểu thuyết gia nổi tiếng của Trung Hoa sinh cuối đời Minh và sống vào đời Thuận Trị, Khang Hy (1640-1715), tác giả của pho truyện ma quỷ vĩ đại Liêu Trai Chí Dị gồm 445 truyện, trong đó có nhiều truyện viết về Rồng với sự huyền bí, hiển linh cũng đồng thời biểu lộ cái tâm của tác giả.

    “Hữu tâm vi thiện, Tuy thiện bất thưởng.
    Vô tâm vi ác, Tuy ác bất phạt”


    *Rồng Qua Ca Dao, Tục Ngữ:

    - Long Cổn: Áo bào của Vua có thêu Rồng, chỉ dùng khi vua thiết dại triều hay tham dự đại lễ (Hoàng bào, Long Cổn uy nghi rõ ràng).

    -Long đình: Bàn sơn son thiếp vàng, làm giống như cái nhà, dùng để rước sắc chỉ nhà vua (Nha môn chực dưới, long đình đặt trên - Nhị Ðộ Mai).

    -Long Hạm: Thuyền Rồng của nhà Vua (trên Long Hạm cờ bay phất phới)

    -Long Hưng: Chỉ sự hưng vượng, quật khởi của nhà vua.

    Kinh dịch có câu: Phi long tại thiên,

    Bàn cố thì viết: Chân dĩ Long hưng, Tần dĩ hổ thị,

    đều chung ý tả sự hưng thịnh của vương triều.

    Trong Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca cũng có câu:

    “Long hưng còn đợi số trời có khi”

    -Long Nhan: Mặt của nhà vua được ví như mặt Rồng. Sách sử ký có viết: Cao tổ vi nhân long chuẩn nhi long nhan. Theo đó về sau gọi mặt vua là Long nhan

    -Long Phi: Chỉ ông vua đang trị vì.

    -Long Sàng: Giường chạm Rồng nơi Vua ngủ, theo ý nghĩa của câu: Ngự lê hưng khí phốc long sàng.

    -Long Xa: Xe của Vua đi, trích theo câu nói từ sách Hoa Ðiển Tranh Năng: Bách thanh đâu đã đến gần long nhan.

    -Long Thể: Mình Rồng để chỉ thân vua (Vóc Rồng thì để hầu vua, vải thô lụa xấu thì chừa cho dân).

    -Long Bàn Hổ Cư: Chỉ chỗ đất hiểm yếu.

    -Long, Ly, Quy, Phượng: Rồng, Lân, Rùa, chim Phụng: Bốn con vật cao quý, linh thiêng thuộc về thần thoại.

    -Rồng Bay Phượng Múa: Chỉ hạng người phóng khoáng không gò bó trong cách viết chữ

    -Rồng đen lấy nước thì nắng, Rồng trắng lấy nước thì mưa: Chỉ kinh nghiệm của con người khi quan sát trời, biết được chuyện mưa nắng.

    -Rồng Ðến Nhà Tôm: Chỉ sự thăm viếng lâu ngày của một người bạn.

    -Rồng Mây Gặp Hội: Chỉ sự thành công, đổ đạt.

    -Rồng Rồng Theo Nọc, Quạ Theo Gà Con: Ám chỉ kẻ tiểu nhân, rình rập hại người.

    -Rồng Vàng Tắm Nước Ao Tù, người khôn ở với người ngu bực mình: Lời than phiền của người khôn phải sống chung đụng với kẻ ngu si đần độn.

    * Rồng Trong Thành Ngữ & Điển Tích:

    -Long Câu: Ðể chỉ con ngựa mạnh khỏe như Rồng, có sức chạy xa muôn dặm. Tương truyền trong núi có một cái vực thẳm là nơi ẩn trú của loài Giao Long. Ðến mùa xuân, dân chúng bắt một con ngựa cái còn trinh, cột tại đó. Một lúc sau trời bỗng nổi cơn gió mưa mù mịt, Giao Long từ dưới vực bay lên phủ con ngựa cái. Ngựa mang thai và đẻ ra Long Câu.

    -Long Tuyền: Một thanh gươm quý có sức chém sắt như chém bùn, sắc sảo và mạnh mẽ như vuốt rồng, tìm thấy tại huyện Phong Thành, cùng lúc với thanh kiếm Thái A.

    -Thừa Long Giai Tế: Thời Xuân Thu, Vua Tần Mục Công có cô gái út tên là Lộng Ngọc nhan sắc xinh đẹp, lại có tài thổi tiêu nên vua rất cưng quý. Một đêm Lộng Ngọc chiêm bao gặp được một chàng trai phong lưu tuấn tú, cỡi chim Phượng từ núi Thiên Sơn ở phía tây nước Tần tới, cho biết vâng ý chỉ của Ngọc Đế, Trung Thu năm nay sẽ đến kết duyên cùng nàng. Nói xong lại rút một chiếc tiêu bằng ngọc thổi lên âm điệu kỳ lạ, khiến cho Lộng Ngọc càng thêm mê đắm. Sáng hôm sau, công chúa đem giấc mộng kể cho vua cha và được Tần Mục Công sai quan tới đó tìm được một người thổi tiêu tên Tiêu Sử. Hôn lễ được cử hành vào ngày rằm tháng tám, Tết Trung Thu. Giữa lúc vợ chồng đang ngắm trăng tròn, hòa điệu Tiêu-Sáo, thì từ trên trời có một con Rồng đỏ và một con chim Phượng màu tía, đáp xuống lâu đài. Lúc đó Tiên Sử mới bảo chàng là Tiên nên không thể ở lại trần gian, rồi bước lên cỡi Rồng còn Lộng Ngọc cỡi Phương, vợ chồng về trời. Từ điển tích trên, người sau rút được các thành ngữ Thừa long Giai tế, cũng như VN cũng có câu tương tự: Phỉ quyền sánh Phượng, đẹp duyên cỡi Rồng, để nói lên việc chọn được người rể xứng đáng.

    -Giao Long Ðắc Thủy: Vũ Đế nhà Hậu Ngụy thời Nam Bắc Triều muốn tấn công nhà Lương ở Nam Triều. Ðể tấn binh, vua giao quan thượng thư binh bộ tuyển chọn nhân tài. Có viên quan nhỏ tên là Dương Ðại Nhãn tình nguyện nhưng bị từ chối, nhưng sau đó nhờ Dương Ðại Nhãn phô trương tài nghệ nên được thăng chức và dự việc xuất chinh. Quả nhiên nhờ tài năng lại can đảm thiện chiến nên Dương Ðại Nhãn chẳng những khiến cho nhà Lương phải khuất phục mà trẻ con tại miền Bắc khi nghe nhắc tới tên ông cũng phải run sợ. Từ điển tích trên, người sau mới rút được câu thành ngữ “Giao Long đắc thủy”, để chỉ một người do cơ hội may mắn mà có công danh, địa vị thay đổi cả cuộc đời .

    -Ma Rồng Gặp Trâu Bồ Tát: Năm Trinh Quan số thứ 13, đời vua Lý Thái Tông nhà Ðường (618-907), gần thành Trường An có con sông Kinh nước trong vắt. Bên bờ sông, có 2 ẩn sĩ tên Trương Lão và Lý Ðịnh chán công danh và sự lừa dối hào nhoáng của lớp quan quyền nên chọn nghề đánh cá và đốn củi để sinh nhai. Một bữa nọ, Trương và Lý rủ nhau vào quán đối ẩm, rượu vào lời ra trên đường về nhà, Trương Lão tiết lộ là sở dĩ mình thường đánh được nhiều cá qua sự chỉ dẫn của ông thầy bói tại Trường An. Lời tiết lộ trên bị quỷ dạ xoa trên sông Kinh nghe được, vội về thủy cung báo cho Long Vương. Vua Rồng tức giận muốn giết tên tú tài thầy bói nhưng nhờ quần thần can gián và khuyên vua nên đến Trường An gặp mặt trước rồi mới quyết định. Long Vương nghe theo, bèn giả làm một tú tài áo trắng tới gặp thầy bói tên Viên Thủ Thành. Tại đây, vua Rồng hỏi chừng nào mưa và mưa bao nhiêu, được thầy bói cho biết rành mạch là giờ Thìn kéo mây, giờ Tị nổi sấm, giờ Ngọ mưa và tạnh vào cuối giờ Mùi. Mưa 3 thước, 3 tấc, 4 phân, 8 ly. Sau đó vua Rồng về thủy cung và được chiếu trời truyền lệnh làm mưa tại thành Trường An vào ngày mai y như lời thầy bói.

    Nhưng lỡ đánh cá với Viên Thủ Thành và thêm lời xúi bậy của đám quần thần, Long vương làm mưa gió trái với lệnh của thiên đình. Ðồng thời lại tới Trường An đánh chưởi thầy bói nhưng Viên Thủ Thành đã chỉ thẳng vào mặt vua Rồng cho biết ông ta là Long Vương trên sông Kinh đã làm trái lệnh trời, ngày mai sẽ bị chém chết. Người thi hành chém Rồng là thừa tướng nhà Ðường tên Ngụy Trưng. Nhưng dù vua Ðường đã hứa giúp, cuối cùng vua Rồng cũng bị chém chết .

    Trên đường trần vật vờ, ma Rồng bỗng gặp được Trâu Bồ tát đang bị tên mục đồng hành hạ nên bất bình thì được Trâu cho biết vì phạm phải tội lỗi nên Trời phạt và chấp nhận sư trừng phạt trên để đền tội. Lý lẽ trên đã làm thức tĩnh ma Rồng.

    2- Rồng Trong Nghệ Thuật:

    Tuy là một con vật tưởng tượng nhưng nhìn vào nó qua các hư cấu, ai cũng nhận ra Rồng dù ở bất cứ một quốc gia nào, qua mỗi thời kỳ Rồng đều có những nét kết cấu đặc biệt.

    Với người Trung Hoa, từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 2 trước TâY Lịch, qua nghệ thuật tạo hình, Rồng có dạng lớn nhất trong mọi thời, giống hình Rắn, ít khúc thân dài và cong như hình chiếc thuyền Rồng. Hình tượng này xuất hiện nhiều và lần đầu tiên tại lưu vực sông Trường Giang, là nơi có nhiều sông, nước,ao, hồ. Tại Ấn Ðộ, Rồng được tạc theo ba con vật thiêng được kính thờ và gắn liền với sự phồn thực trong đời sống con người do nguồn nước đem lại, đó là Rắn Naga, Thủy Quái Maraca, và con Voi Jalelha. Tại VN, Ngã tư của hai nền văn minh Trung- Ấn, cũng là nơi phát triển tột bực về việc trồng lúa nước, cho nên con Rồng VN vừa chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh trên, vừa bắt nguồn từ nền văn minh bản địa với hai yếu tố đồng ruộng và biển cả. Ngoài ra còn có Rồng Chàm, được hư cấu từ một nhân vật trong thần thoại Bà La Môn Makara, được các nghệ nhân Chiêm Thành tạc trên đá. Rồng Chàm nhìn nghiêng có cái đầu giống đầu chó đứng nhe nanh, ngực sủa. Lại có tai, bờm và mắt cũng giống như Chó và Ngựa. Rồng Chàm dữ dằn, được dân chúng tôn thờ vì khiếp sợ.

    Xác nhận Rồng là biểu tượng văn hóa nghệ thuật của Ðông Nam Á là điều hợp lý, và chính các Khoa Học gia cũng đồng tình vì Rồng hiển hiện khắp nơi qua các tác phẩm nghệ thuật trong dân gian, nhất là tại Tử Cấm Thành, cung điện của vua chúa, mọi thứ hầu như đều có hình ảnh Rồng hiện hữu một cách rực rỡ và sắc sảo.

    Rồng đã xuất hiện 6-7 ngàn năm về trước trên các đồ gốm và ba ngàn năm trong thời kỳ Ðồng, Sắt Nhà Thương. Sau đó Rồng được vẽ qua các họa tiết trong các công trình kiến trúc, giao thông vận tải, gia cụ, tiền và các văn phòng tứ bửu.

    II – Rồng Trong Ðời Sống Tâm Linh Của Con Người:

    *Thần Thoại Rồng:

    Tại vùng Ðông Nam Á, khu vực trồng lúa nước phổ quát trên thế giới, trong có nhiều dân tộc sinh sống với nền văn minh khác biệt do ảnh hưởng của Tôn giáo nhưng họ lại gặp nhau tại một tụ điểm đó là phong tục, hội hè, xuân tết và các nghi lễ thờ cúng về nông nghiệp …Trong đó huyền thoại về Rồng khá phổ biến và chiếm phần quan trọng .

    Ðối với người VN từ thuở bình minh dựng nước cho tới ngày nay, lúc nào chúng ta cũng tự hào là con Hồng cháu Lạc hay con Rồng cháu Tiên, nói lên cái nguồn gốc cao quý, sang trọng của một giống dân thuần nhất, có một nền văn minh rực rỡ trên cõi trời Nam. ”Con Rồng cháu Tiên“ bắt nguồn từ Tổ Lạc Long Quân và Âu Cơ . Một người là Rồng ngự trị trên vùng sông nước, một kẻ là Tiên ngất ngưỡng nơi chốn núi rừng . Hai tổ gặp nhau và sinh được một bọc trứng, nở thành trăm con. Năm mươi theo Tổ Âu Cơ về núi, năm chục ở lại với Tổ Lạc Long nơi đồng bằng và hình thành nước Văn Lang (quốc hiệu đầu tiên của VN ) cho tới ngày nay . Nhìn sang các nước lân cận, ta thấy Lào cũng có huyền thoại Rồng (Nak), Chàm (Naga), Thái Lan (Nak).

    * Huyền Thoại Về Cá Hóa Rồng hay Cá Vượt Vũ Môn:

    Huyền thoại này xưa nay thường được gán cho loài “Cá Chép“ ở thác Long Môn thuộc tỉnh Quảng Ðông (Trung Hoa). Nhưng Học giả Lê Quý Ðôn lại căn cứ theo sách Uyên Quản Loại Hàm của Tàu thì sông Long Môn ngày xưa thuộc châu Gia Lăng, nước từ trên cao đổ xuống thành thác ầm ầm, phía dưới có cái hang là nơi sinh sống của loài cá Anh Vũ, mồm cong má đỏ, tương truyền cá ấy tới thời kỳ con nào vượt lên khỏi thác thì hóa thành Rồng . Ðể làm sáng tỏ hơn, sách Ðường Sơn Từ Khảo cũng của Tàu cho biết thêm: “Sông Long Môn ở huyện Mông thuộc châu Gia Hưng nước An Nam . Sông này phát nguyên từ tỉnh Vân Nam, đến Long Môn thì bị núi chận nên phân làm ba nhánh, nước chảy từ cao xuống thấp ầm ầm như núi đổ, bên dưới có cái hang, là nơi trú ẩn của loài cá Anh Vũ xanh biếc, miệng cong như mỏ chim Anh Vũ. Theo các Nhà Nghiên cứu Sử Ðịa, thì đây là ngã ba Việt Trì ở Bắc Việt, và cá Anh Vũ là loài cá nổi tiếng xưa nay của vùng Sông Thao. Cũng do trên, vùng này từ xưa vẫn còn lưu truyền câu ca dao:

    “Mồng bốn cá đi ăn thề
    Mồng tám cá về, cá vượt Vũ Môn“


    * Những Ðịa Danh Mang Tên Rồng Tại Việt Nam:

    Với người VN, niềm tin về nguồn gốc cao quý của giồng giống Tiên Rồng đã hun đúc tinh thần quật khởi và ý chí cang cường của người Việt. Ðã là “Con Rồng Cháu Tiên“ thì đất đai của người Việt cũng phải có hơi hướng Rồng. Do đó, trên khắp các miền đất nước từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mau có nhiều địa danh nhỏ lớn mang tên Rồng (Long).

    Một trong những vùng đất cổ và linh thiêng nhất của dân Lạc Việt là vùng châu thổ Sông Hồng, phía tả là đất Long đỗ, phía hữu là thành Long Biên và buổi đó hầu như dân Việt tụ tập quanh quẩn sống trong những mảnh đất mang tên Rồng. Năm 1010, Lý Thái Tổ lên ngôi và dời đô từ Hoa Lư về La Thành. Trên đường thiên đô, vua nằm mộng thấy Rồng bay, nên đã đổi tên là Thăng Long, bao hàm cái ý nghĩa tự lực tự cường, vươn lên của dân tộc VN sau khi thoát được ách đô hộ của giặc Tàu gần mười thế kỷ.

    Thăng Long đã gắn liền với dòng sông sinh mệnh của dân tộc VN qua các thời đại, bao lần đánh đuổi ngoại xâm Tống, Nguyên, Chiêm Thành, Minh, Thanh và chắc chắn trong tương lai sẽ quét sạch bọn CS tham tàn, khát máu đã ngự trị trên mảnh đất thiêng của dân tộc từ 1955 tới nay, cũng như lũ Tàu phù được Việt Cộng rước về dầy mã Tổ Hồng Lạc, hiện đang có mặt khắp hang cùng ngõ hẹp VN.

    Từ trong cái truyền thống hào hùng trên, tổ tiên ta tới đâu cũng không quên dùng biểu tượng Rồng đặt tên cho các vùng đất mới, để cho con cháu đừng quên cội nguồn của dân tộc mình. Do đó, Huế có chợ Kim Long, Long Hồ, Quảng Ngãi có chợ Long Từ, Bình Ðịnh đi chợ Long Hương. Chẳng những chốn thị tứ có tên Rồng, ngay cả vùng núi non, hải đảo cũng có nhiều nơi mang tên Rồng “Núi Long Tứ (Tiên Yên-Quảng Ninh), núi Cữu Long (Ðồ Sơn-Kiến An), núi Long Ðôi (Hà Nam): nơi tương truyền vua Lê Ðại Hành hằng năm vào mùa xuân, từ Hoa Lư tới để làm lễ tịch điền. Tại Thanh Hóa, núi Hàm Rồng nổi tiếng hùng vĩ bên bờ sông Mã. Tại Hà Tỉnh có 2 núi Long Tướng và Long Mã. Quảng Bình có núi Thanh Long, Phục Long. Quảng Ngãi có núi Lạc Long, Long Phượng và Long Cốt và xa nhất tận biên giới Miên Việt là Hà Tiên với núi Dương Long.

    Về sông ngòi, VN cũng có nhiều con sông mang tên Rồng như Hoàng Long Giang tại Hoa Lư (Ninh Bình), Sông Long Môn nằm ở ngã ba Việt Trì nhưng quan trọng nhất là các sông ngòi tại miền Nam với hai hệ thống chính là sông Ðồng Nai (sông Phước Long) và Cửu Long Giang với các địa danh nổi tiếng Long Sơn, Long Ấn, Long Phượng, Long Hồ và các hải đảo xa xôi, ta có Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Phú Long, Bạch Long Vỹ …

    * Nhà Rồng:

    Sau năm 1975 VC vào miền Nam, ngoài cướp của giết người còn bừa bải chiếm đoạt những nơi chốn nguyên là tài sản của dân chúng nhưng có hơi hám của Cáo Hồ, để lập cái gọi là Nhà Bảo Tàng. Tại Phan Thiết, cơ nghiệp của nhà ái quốc Nguyễn Thông và một phần lớn của nhà đồng bào ở đường Trưng Nhị cũng vì có dính dấp tới cái gọi là Trường Dục Thanh, nơi Nguyễn Tất Thành trên đường tìm sinh kế, tới đây dạy học chừng vài tháng, trước khi vào Sài Gòn. Một địa danh khác cũng bị dính dấp tới là Nhà Rồng ở Sài Gòn được Pháp xây dựng ngày 4-4-1863 do công ty vận tải đường biển của Pháp Messageries Maritimes dựng lên làm văn phòng và nơi bán vé. Vì tòa nhà xây cất có gắn hình con Rồng trên nóc và chính giữa là phù hiệu của hãng mang hình đầu Ngựa và mỏ neo, nên giới bình dân Sài Gòn thuở đó gọi là Nhà Rồng. Tháng 10/1865 tại Bến Nhà Rồng lại xây thêm cột cờ Thủ Ngữ là cơ quan kiểm soát sự xuất nhập của Tàu Thuyền.

    Nhà Rồng là nơi được xây dựng lâu đời nhất của Pháp còn giữ được tại Sài Gòn ngày nay qua bao cuộc bể dâu. Năm 1911, cũng nơi này (theo tài liệu của Chánh Ðạo), Nguyễn Tất Thành tức là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Ái quốc, Hồ Chí Minh, Trần Dân Tiên …Sau khi rời trường Dục Thanh tại Phan Thiết, xuống làm bồi tàu sang Pháp để xin thi vào trường thuộc địa Pháp, nhưng bị thực dân từ chối vì không đủ tiêu chuẩn học lực . Từ ngày 3-9-1979 Nhà Rồng được Ðảng Cộng Sản chiếm để làm Bảo Tàng Viện, kỷ niệm ngày “ Bác “ rời VN tìm sinh kế nuôi miệng.

    * Rồng Trong giấc Mộng:

    Trong 12 con giáp, Rồng gắn liền thực tiễn với cuộc sống của con người. Rồng đi vào hệ thống lịch qua sự phân chia tiết khí của lịch biểu và chiêm mộng.

    -Thần long nhập thủy hữu quý vi (cỡi Rồng xuống nước) là điều tốt quý.

    -Long niên thủy trung cầu sự thành (Rồng ngủ trong nước) mọi sự tốt đẹp.

    -Long đương đầu đại cát xung (Rồng đánh nhau) điềm đại cát

    -Long tử vong, Thất gia vị (Rồng chết, điềm xấu, nhà tan, mất nước

    -Thừa long thượng sơn, sở cấm toại (cỡi Rồng lên núi) điềm đắc lợi

    ...

    Tóm lại, do quan niệm coi Rồng là con vật cao quý, nên người Á Đông cũng có quan niệm ai sinh năm Rồng cũng là người đại quý, đại cát. Ðiều trên cũng có một phần đúng vì trên thế giới - cả Việt nam - có nhiều nhân vật lừng lẫy đều sinh trong năm Rồng chẳng hạn như Mạc Ðỉnh Chi (1280-1350), Lê Văn Linh (1376-1447), Hương Hải (1628-1715), Phan Thanh Giản (1796-1867), Phạm Quý Thích (1760-1825), Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925), Nguyễn Quang Bích (1832-1890), Phạm Quỳnh (1892-1945), Trương Công Ðịnh (1820-1864), Ðào duy Anh (1904-1988) .. Với các danh nhân thế giới có J. J Rousseau (Pháp-1712), G . D . Nervac (Pháp-1808), F. Nietzche (Ðức -1844), P. Neroda (Chí Lợi-1904), F. Mitterrand (Pháp-1916) ….

    * Rồng Trong Y Dược:

    Cũng như các on vật khác, Rồng qua bản chất cao quý mạnh mẽ nên được giới Ðông y lấy tên để đặt cho nhiều vị thuốc quý như:

    -Long Nhãn: (Mắt Rồng) là vị thuốc bổ dùng để trị bệnh tim, mất ngủ, thần kinh suy nhược. Long Nhãn chính là cùi nhãn phơi hay sấy khô.

    -Ban Long: (Rồng Đốm, Rồng Khoang) là thứ cao bổ quý chữa các bệnh suy nhược, ho lao, chảy máu bao tử, chân tay đau nhức. Cao Long Ban được bào chế từ sừng con hươu cao cổ. Hải Thượng Lãn Ông đã kết hợp Long Nhãn và Ban Long thành một vị thuốc gọi là Nhị Long Ẩn trị bá bệnh.

    -Ðịa Long: (Rồng Đất) Trị chứng cao huyết áp, sốt rét, hoa mắt, cứng mạch máu. Thuốc được chế từ con Giun đất, mổ bụng đem phơi khô hay sấy khô tán thành bột đem sắc uống.

    -Long Y: (Áo Rồng) Chữa bệnh trẻ con bị động kinh, đau cổ họng, đó là xác con Rắn lột.

    -Ô Long Vỹ: (Đuôi Con Rồng Đen) Là lớp bồ hóng đóng trên mạng nhện trong cá nhà bếp nấu than củi, rơm rạ. Ô Long Vỹ làm thuốc cầm máu sát trùng.

    -Long Não: (Óc Rồng) Lấy từ cây Long Não hay Dương Não có nhiều ở miền Bắc VN dùng chế thuốc trợ tim, thuốc xoa bóp, trị phong thấp.

    -Phục Long Can: (Gan Rồng) Ðược sao chế từ lớp đất giữa lòng đất, chuyên trị chứng băng huyết, thổ huyết, nôn ọe.

    * Máu Rồng:

    Mấy ngàn năm qua, các chiêm tinh gia và giới Y học đều có chung quan niệm là máu rồng là vị thần dược, trường sinh bất lão của con người khi được hòa tan trong nước, các hạt máu Rồng sẽ biến nước thành màu máu đỏ và bốc lên một làn hơi đậm đặc kỳ lạ, có vị chua. Uống vào cơ thể sẽ tăng thêm sức mạnh siêu hình.

    Về nguồn gốc của máu Rồng, trước đây ít ai biết rõ dù trên thương trường, máu Rồng đã được bày bán với dạng tảng, cục. Thật ra máu Rồng được xuất phát từ một hòn đảo kỳ lạ trong Ấn Ðộ Dương, kề Hồng Hải có tên là Sacotra. Thời cổ Hy Lạp, triết gia Aristotle đã khuyên Ðại Đế Alexandre chiếm đảo này và trong các tài liệu cổ xưa viết bằng tiếng Sankrit cũng có nói tên Socotra là nơi trú ẩn của các con Rồng. Sự bí ẩn của đảo này mãi tới năm 1800 mới được một khoa học gia người Anh tên là Balfuor khám phá, đồng thời với sự phát hiện một loại cây lạ lùng, chỉ có trên đảo này. Ðây là nguồn gốc kỳ bí thật sự của máu Rồng.

    Trong thời kỳ nội chiến vào thập niên cuối của thế kỷ XX, Socotra hiện thuộc chủ quyền của Nam Yemen, nên bọn Cộng Sản cầm quyền tại đây dự tính đốn hết cây Rồng trên đảo để sản xuất dầu. Ý định này làm náo động toàn thể thế giới Á Rập vì chọc tới hang ổ của Rồng. Do trên một Ủy Ban Khoa Học Quốc Tế Về Bảo Vệ Cây Rồng ra đời và đã chính thức hoạt động từ năm 1989 tới khi Yemen thống nhất được đất nước mới bỏ kế hoạch điên rồ trên.

    Socotra là một hòn đảo có diện tích 3600 km2, nằm cách bờ biển Phi Châu 250 km, trên đảo có 50.000 cư dân thuộc chủng tộc lai giống giữa Châu Phi và A Rập, theo Hồi Giáo. Thời kỳ cổ, Socotra mang tên là đảo Tamrida do vua Al-Mahri cai trị. Vào thế kỷ 16, Bồ Ðào Nha chiếm đảo này nhưng rồi bỏ đi vì quá khô cằn thiếu nước uống. Cuối thế kỷ 19, nguời Anh chiếm đảo và bãi bỏ chế độ vua chúa, sau đó cho nước Yemen tới ngày nay. Hiện trên đảo có tới 800 mẫu thực vật quý hiếm không thể tìm thấy nơi khác trên thế giới. Ðặc biệt nhất là cây Máu Rồng, hình dáng giống như cây nấm khổng lồ cao hàng chục mét, thường mọc trên đỉnh đồi hay vùng núi đá trơ trọi. Hiện các khoa học gia đã tìm ra được nhiều công dụng của cây máu Rồng, giúp con người tăng cường sức khỏe, chống lại bệnh tật, làm lành da, chữa các vết thương bị ung thối. Ngoài việc trị bệnh, cây máu Rồng còn được dùng để chế tạo mỹ phẩm.

    Trên thực tế, tuy đảo Sacotra thuộc chủ quyền nước Yemen, nhưng chủ nhân ông loại cây quý hiếm trên vẫn là các bộ lạc trên đảo và theo truyền thống từ mấy ngàn năm nay, người trên đảo không muốn bất cứ ai đem cây máu Rồng ra khỏi Socotra và đặc biệt không hề thố lộ những bí quyết để bào chế Máu Rồng. Ðây cũng là sự thiệt thòi của nhân loại.

    Tóm lại, Rồng là một con vật hữu danh vô thực nhưng nó lại có sức quyến rũ và làm mê hoặc mọi người, chẳng thế mà nhà Động Vật Học Chris Moise, đã phải bỏ phí gần một phần tư của tuổi đời, để sống tại Gambia, một quốc gia trong Sa Mạc Sahara, chỉ với một mục đích tìm hiểu về những Con Rồng Kỳ Lạ tại đây, theo truyền thuyết gọi là “Quái Vật Ninki-Nanka“ sống sưới sông Dalrymple. Nhưng tất cả cũng chỉ là những chuyện hoang đường cho dù người ta có giết được một vài con cá sấu có chiều dài kinh khiếp trên thượng nguồng sông Gambia. Nhưng điếu đó cũng không thể xác định được chúng là những con Rồng như nghĩa thông thường mà nhân loại đã sử dụng từ mấy ngàn năm qua, để nhắc tới con vật huyền thoại gần như chỉ có tên mà không hề có mặt trong chốn nhân gian này.

    Tuy nhiên với sự khám phá mới đây của các khoa học gia vào tháng 11-2004, về một loài Khỉ không đuôi, cao 1m có tên Homos-Floresienses đang sống chung với con người tại Nam Dương, đã cho nhân loại một cái nhìn mới về thế giới bí ẩn của “người Lùn“. Điều này khiến cho các nhà động vật học đã đế lúc phải xét lại “Những Con Vật Hoang Tưởng Nổi Tiếng Như Rồng“ để xem chúng thật sự có tồn tại hay đã hiện diện trong quá khứ như loài Khủng Long chẳng hạn.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Trước Thềm Năm Con Rồng
    MƯỜNG GIANG
  13. Lễ Giáng Sinh là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Jesus.Thượng Đế đã gửi đứa con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân…

    Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia xẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu hận thù.
    Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.

    Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, Tổng Thống Calvin Coolidge nhắn nhủ:

    “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.

    Tiểu thuyết gia Charles Dickens cũng đồng ý “Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.

    Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin; ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng; chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.

    Kế cận những người bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc…

    Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi sự việc làm vào ngày Christmas”.

    Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.

    Đó là thánh ý Thiên Chúa.

    BS Nguyễn Ý Đức
  14. NGUYỄN PHÚ TRỌNG ĐẠI DIỆN CHO AI ?

    Từ trước tới nay, đảng CSVN vẫn luôn là một gánh nặng "bòn rút túi tiền" của bất cứ một nước nào có liên quan tới. Chính cái chủ trương "bị gậy" trên của ngụy quyền Hà Nội, đã đẩy đất nước và dân tộc VN vào thảm trạng nô lệ đế quốc Tàu đỏ, bắt đầu từ ngày 1 tháng 10-2011 và được hợp thức hóa gần như công khai trên cơ quan truyền thông của đảng khi Nguyễn Phú Trọng qua chầu Hồ Cầm Đào, với lá cờ Trung Cộng “6 sao: 1 lớn + 5 sao nhỏ“.

    Điều nghịch lý của VN là hiện nay gần như hầu hết nhân loại, từ những cường quốc kinh tế (Hoa Kỳ, Liên Âu, Nhật..) tới các nước đang phát triển và các nước nghèo tại Phi Châu. Tất cả đều có chung khuynh hướng “ khai trừ và tẩy chay “ tên đầu sõ của tội ác thế kỷ là Trung Cộng, ra khỏi đất nước mình, để tránh hiểm họa chết chóc và bị diệt vọng không sớm thì muộn, vì hành động tàn độc, gian ác, lưu manh và côn đồ có một không hai trên thế giới từ trước tới nay. Hoa Kỳ là một đại cường quốc, đại siêu cường, đại phú gia..nhưng đã rước giặc Tàu vào nhà mình mới mấy chục năm, nay cũng sắp tán gia bại sãn và nguy cơ bị diệt chũng “vì người dân Mỹ tiếp tục bị trúng độc“ do sử dụng đồ đạc, máy móc các thức ăn hằng ngày “made in China“ bày bán công khai khắp Hoa Kỳ.

    Trong lúc hầu hết các nước "đồng chí" của Tàu đỏ, gần như Lào, Bắc Hàn, Miến Điện, Pakistan..hay xa hơn tận Châu Phi như Lybia, Zambia, Nam Sudan... là các quốc gia trước đó đã bị lãnh tụ “bán trọn gói“ cho Tàu, thì nay Họ đã trở mặt mời Trung Cộng ra khỏi nước, vì sớm nhận diện được cái bộ mặt tham ác, lừa bịp và đế quốc thực dân của quỹ đỏ, thì CSVN vẫn đi bằng đầu gối, hằng hằng lớp lớp, bò sang Tàu chầu quỳ các cấp lãnh đạo Trung Cộng để xin được “Tình hữu nghị đời đời Việt-Trung, làm tài sản quý báu chung của hai đảng, hai nước, nhân dân hai nước. Nó phải được cũng cố và lưu truyền mãi mãi cho các thế hệ mai sau“. Bản tuyên bố "riêng" này của Nguyễn Phú Trọng với Hồ Cẩm Đào, không biết có đại diện cho đảng CSVN hay không nhưng chắc chắn nó không bao giờ, vĩnh viễn và miên trường sẽ không đại diện cho bất cứ một người VN nào trong và ngoài nước. CSVN và Nguyễn Phú Trong không tin, cứ cho phép người dân VN được biểu tình chống giặc Tàu xâm lăng VN, chống bè lũ nguỵ quyền Hà Nội công khai bán nước và làm nhục quốc thể..Chắc chắn chỉ trong vài giờ, toàn quốc sẽ có hằng triệu người đứng lên chống Tàu lẫn cái chính quyền VC “Hèn với giặc Tàu, ác với dân Việt và vô nhân đạo bỏ mặc cho ngư dân Việt ngoài biển Đông, mặc cho hải tặc Tàu đỏ sinh sát hằng ngày“.

    Tôi chỉ là một trong muôn ngàn người lính già của QLVNCH may mắn còn sống sót sau cuộc chiến và cuộc đổi đời. Và còn là một con người VN đứng trước thãm trạng đất nước đã bị giặc Tàu đô hộ, nên buồn rầu bức xúc vì sự bất lực của tuyệt đại tầng lớp đồng bào VN thấp cổ bé họng hôm nay “ thấy nước mất về tay giặc Tàu mà mình không được quyền đánh đuổi giặc Tàu ra khỏi nước. Thấy bè lũ cầm quyền VC hèn hạ tham ô bán nước cho giặc mà vẫn phải cúi đầu trước bạo lực, khủng bố..”

    Chúng tôi là những người lính miền Nam bị rã ngũ ngày 30-4-1975 nên dù muốn hay không, cũng phải chấp nhận số phận của kẽ thua cuộc. Nhưng vô lý biết bao khi chính miệng của một tên Tổng bí thư đảng CSVN là Nguyễn Phú Trọng lại “ kiên quyết “ với Hồ Cẩm Đào rằng là Tình Hữu Nghị Việt-Trung đời đời là tài sản chung để lưu truyền hậu thế. Trong khi đó suốt vùng biên giới Việt Hoa qua mấy ngàn năm lập quốc tới ngày nay, đã có triệu triệu hồn linh của tử sĩ VN bao đời nằm xuống, để chống lại giặc Tàu xâm lăng Đại Việt.

    Nguyễn Phú Trọng hay đảng CSVN có vô liêm sĩ đến mức nào chăng nữa cũng không thể bán đứng đồng đội của mình là những “bộ đội đã hy sinh máu xương trong cuộc chiến chống Tàu đỏ xâm lăng VN từ 1979-1988 tại các tỉnh biên giới và quần đảo Trường Sa“. Không có bộ đội "sinh Bắc tử Nam" từ 1960-1975 thì làm sao đảng cướp được toàn cõi VN ngày nay, để TBT Nguyễn Phú Trong bò sang Tàu, quỳ gối trước Hồ Cẩm Đào để kiên quyết "Làm Nô Lệ" Hán tộc ?

    Là một quốc gia bé nhỏ có chung biên giới dài với Trung Cộng, nên từ ngày lập quốc tới nay trãi qua bao đời dân tộc ta đã không ngững nghĩ ngăn chống giặc xâm lăng phương Bắc. Ngoại trừ những tên mãi quốc cầu vinh rước voi Tàu về dầy mã tổ Việt ít õi như Trần Thiễm Bình, Lê Chiêu Thống..Tất cả các triều đại còn lại đều đứng dậy chống Tàu. Cái luận điệu của CSVN từ 1988 tới nay qua Nguyễn Phú Trọng, chỉ là hình thức che dấu tội bán nước cho giặc. Nhưng không sao, vì qua các trang sử Việt từ trước tới nay cho thấy “ tất cả những tên mãi quốc cầu vinh" đều bị toàn dân hạ bệ và tiêu diệt như Cù Thị, Triệu Ai Vương (Nhà Triệu), Kiều Công Tiện (nhà Ngô), Trần Thiễm Bình (Trần), Lê Chiêu Thống (Hậu Lê)... CSVN ngày nay đã mất tất cả kể luôn tài sản quý báu nhất là "lòng dân, ý trời" để chạy theo giặc Tàu, rước giặc Hán vào dầy xéo quê hương từ Bắc vào Nam, dâng hiến cho giặc tất cả những tài nguyên, lãnh thổ từ trong đất liền ra đến biển Đông. Hành động tán tận lương tâm trên, thì trước sau gì cũng bị toàn dân cả nước đứng lên lật đổ, dù họ đã biết trước CSVN sẽ theo lệnh Trung Cộng tàn sát mọi người chống đối như tại Thiên An Môn (Bắc kinh 1976, 1989), Miến Điện (1988, 2007) và mới nhất tại Yemen, Syria..

    Các thế hệ VN bao đời đã đọc và học Việt Sử nên mới biết được sự hy sinh vô bờ bến của tiền nhân, đã phơi xác đổ máu để ngăn chống đế quốc Hán bao đời luôn muốn thôn tính và đồng hóa dân tộc Việt. Từ khi cướp được quyền cai trị VN, CSVN đã đảo trắng thay đen bày vẽ huyền thoại để làm sai lạc ý nghĩ thiêng liêng môn Việt Sữ, khiến cho các thế hệ VN ngày nay chỉ biết yêu nước là yêu nước XHCN. Nhưng ngoài sử viết, người Việt còn sử miệng. Đó mới chính là nguồn sử Việt chính thống bao đời của dân tộc.

    Ai có thể quên được kẻ thù không đội trời chung là giặc Tàu, họa chăng chỉ có Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN mới kiên quyết đời đời tình hữu nghị Việt-Trung. Theo sử liệu, Đại Việt chính thức bị Bắc Thuộc lần thứ Nhất vào năm 111 trước Tây Lịch, khi Mã Việt sang đánh Triệu Dương Vương (Nhà Triệu). Từ đó nhà Hán đối Nam Việt (quốc hiệu VN thời đó) thành Giao Chỉ Bộ, nội thuộc nước Tàu. Năm 40 Tây Lịch, Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị vì "nợ nước thù nhà" đã cầm đầu nghĩa binh, đứng lên làm cuộc cách mạng giải phóng non sông thoát khỏi ách đô hộ Tàu, sau hơn 150 nô lệ.

    Sau ba năm độc lập dưới thời Trưng Nữ Vương (40-43), Đại Việt lại đắm chìm trong ách nô lệ của giặc Tàu hơn 900 năm nữa, mới được Ngô Vương Quyền giải phóng hoàn toàn vào năm 939, sau hơn 1000 bị giặc Tàu đô hộ làm nhục cướp đất. Trong khoảng thời gian trên, dù bị khủng bố kềm kẹp áp bức và đe dọa đến sinh mạng nhưng người Việt vẫn luôn nổi lên chống Tàu, qua các lãnh tụ cầm đầu Triệu Trinh Nương, Mai Hắc Đế, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Khúc Thừa Dụ..

    Ngô Quyền là người đã cởi ách nô lệ Hán tộc cho Đại Việt khi ông chém Hoàng Tháo trên sông Bạch Đằng và đánh đuổi giặc Nam Hán chạy về Tàu từ năm 939, mở đầu cho thời độc lập, tự chủ cho Đại Việt qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn cho tới ngày nay (2011) thì bị cá nhân Nguyễn Phú Trọng, nhân tổng bí thư đảng CSVN, sáp nhập và nội thuộc nước Tàu qua biểu tượng lá cờ Trung Cộng mới xuất hiện trên đài VTV của đảng khi Nguyễn Phú Trọng sang chầu thiên Triều vào tháng 10-2011 (cờ đỏ có sáu ngôi sao: Một lớn chỉ nước Tàu, năm ngôi sao nhỏ chỉ năm dân tộc Hán, Mãn, Mông, Tạng, Hồi và Người cốt khỉ (Nguyễn Phú Trọng + đảng CSVN).

    Những ai hiện nay còn tự nhận mình là người VN, hãnh diện được làm người VN dù đang sống trong nước hay ngoài nước, xin đừng bao giờ quên được những sự nhục nhã do Nguyễn Phú Trọng và bè nhóm đảng CSVN đã mang tới cho đất nước và dân tộc Việt. Có như vậy chúng ta mới không uổng là hậu duệ của Cháu Lạc Con Hồng, là con cháu của Triệu Quang Phục (111 TrTL), Hai Bà Trưng (40-43), Triệu Trinh Nương (248), Ngô Quyền (939), Lê Hoàn (981), Lý Thường Kiệt (1077), Hưng Đạo Đại Vương (1288), Lê Lợi (1407-1418), Quang Trung (1789)..

    Lịch sử lại tái diễn vào tháng 1 năm 1974, giặc Tàu lợi dụng tình trạng nguy ngập của Miền Nam lúc đó với "thù trong giặc ngoài", nên xâm lăng và cưởng đoạt quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VN lúc đó do QLVNCH trấn giữ. Người lính miền Nam đã làm hết sức mình kể cả hy sinh mạng sống để bảo vệ lãnh thổ của ông cha nhưng vì giặc quá mạnh và đông nên phải đành mất đảo vào ngày 20-1-1974. Đây là một biến cố đau thương và hận nhục nhất của dân tộc Việt. Nó mới chính là một kiên quyết đời đời nhắc nhớ cho các thế hệ VN, hôm nay, ngày mai và mãi mãi, đừng bao giờ quên "Giặc Tàu là kẻ thù muôn đời và mãn kiếp của dân tộc Việt".

    Trong bài viết “ Đúng Ba Trăm Năm Trước “ đăng trong tập san Sử Địa xuất bản tại Sài Gòn năm 1974, sử gia Hoàng Xuân Hãn có viết “Một gương sáng lịch sử là mỗi khi thế nước suy hèn vì chia rẽ và nội loạn, thì lân bang mới lẫn cõi chiếm đất như Hồ chịu mất đất Cổ Lâu (Lạng Sơn -1945), Mạc dâng La Phù (Quảng Ninh-1540), Trịnh mất nhiều động ở biên giới tây bắc..”.

    CSVN ngày nay đã làm mất lòng dân, trái ý trời, tàn bạo vô lương và trên hết đã đánh mất liêm sĩ nên con đường duy nhất để chúng kéo dài thời gian bóp cổ xiết họng đồng bào cả nước, đã vơ vét những gì còn lại, để dâng hiến cho Tàu đỏ làm chỗ dựa. Nên việc Nguyễn Phú Trọng đi Tàu, Trương Tấn Sang tới Ấn hay Nguyễn tấn Dũng ở lại đón thủ tướng Đức. Tất cả kết cuộc cũng chỉ là “ bán nước “ cho ngoại bang mà thôi.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

    Tháng 10-2011

    MƯỜNG GIANG
  15. Năm 1279 nhà Nam Tống bị Hốt Tất Liệt tiêu diệt. Cũng từ đó, Hán tộc sống dưới ách nô lệ của ngoại bang ròng rã suốt 80 năm với bao đoạn trường máu lệ. Kinh khiếp nhất là trong thời gian này, giới trí thức Trung Hoa đã bị người Mông khinh miệt qua câu nói đến nay vẫn còn truyền tụng: ‘Thứ 8 là đĩ, thứ 9 Nho gia, thứ 10 hành khuất’, y chang dưới chế độ xã nghĩa Trung Cộng, Mao Trạch Ðông lúc còn sống cũng đã từng phỉ nhổ trí thức và bảo Họ còn "thua phân xanh...". Do chính sách cai trị tàn bạo và bất công, thiếu nhân tính đó, nên từ năm 1338, giặc giã nổi lên khắp nơi, chống lại nhà Nguyên. Vào ngày rằm tháng tám, năm Mậu Thân 1368, tướng của Chu Nguyên Chương là Từ Ðạt và Thường Ngộ Xuân, theo kế của quân sư Lưu Bá Ôn, đem mật linh bỏ vào trong nhưn bánh Trung Thu. Và giữa lúc Vua Nguyên Thuân Tông, cũng như triều thần và tướng sỉ, thi đua đón trăng giỡn nguyệt, vui say chè rượu và gái dẹp, thì cũng là lúc người dân trong thành Yên Kinh, theo mật lịnh ghi trong giấy: ‘Đêm rằm Phật Di Lặc giáng thế, cầm đèn lồng đi rước’. Nhờ vậy, quân Chu đã trà trộn và bất thần tấn công chiếm kinh đô. Vua Nguyên vì ham hưởng Tết Trung Thu, cũng giống như Ðường Huyền Tông, mê đắm Dương Quý Phi và Vũ Khúc Nghê Thường mà mất nước. Cũng kể từ đó, mỗi lần tới tiết Trung Thu, dù Trăng ở Hô Hào Hạo Ðặc và Ngạc Nhĩ Ða Tư, vùng nội Mông rất to, sáng và có màu xanh như bạch ngọc. Nhưng người Mông sống tại đó cũng như nơi khác, tuyệt đối không ăn bánh Trung Thu và đón trăng, giỡn nguyệt. Thái độ hành xử, không quên nổi nhục mất nước, khiến cho người ngoại cuộc phải khen thầm và cúi đầu kính phục.

    Thật ra tập quán đón trăng vào dịp rằm tháng tám đã có từ thời Trung Hoa huyền sử, mà Thục Kinh đã nhắc tới , cho thấy vào ngày trăng tròn tháng tám buổi đó, dân chúng làm cổ, cúng bái đất trời, biểu hiện lòng sùng kính và sự đam mê trăng. Tuy nhiên phải đợi tới thời nhà Chu, những ý tưởng trừu tượng trên, mới được rõ nét qua hành động, được ghi lại trong Xuân Quan-Chu Lể như:

    Trung Thu Dạ Nghinh Hàn
    Trung Thu Hiến Lương Cầu


    Và cuối cùng là Thu Phân Bái Nguyệt.

    Ngày nay, hơn một thế kỷ qua, sau chuyến bay đầu tiên của anh em Wrighr, nhân loại đã nối tiếp theo gót vua Ðường, dấn thân vào Cung Hằng tận cõi mù sương quan tái. Cuối cùng mộng đã biến thành thực vào một ngày trăng tháng tám năm Ðinh Dậu 1957, khi Vệ Tinh Spoutnik đầu tiên, tuy chỉ có kích thước to bằng quả bóng tròn, nhưng đã thành công vượt mứt, khi chụp được những hình ảnh thật, từ Nguyệt Cung, Sao Chổi và các Thiên Thể trong Thái Dương Hệ, mở đường cho cuộc chinh phục vũ trụ hiện tại.

    Bổng nhớ một mùa trăng nào đó, trở về thăm nhà vào dịp Trung Thu. Ðêm đó, hình như điện đường Phan Thiết và cả đèn đuốc trong nhà đều tắt hết. Không gian chỉ còn lại những chiếc đèn lồng đủ màu sắc, làm dáng được treo trước cửa, càng làm tăng thêm hư ảo của đất trời, như chẳng bao giờ có trong thực tế, mà chỉ lờ mờ nghiêng ngả trong mơ hay qua điệu ru nước mắt. Rồi tiếp theo là những mùa trăng trôi nổi của kiếp lính không bao giờ có được một mái ấm tình thương, quen lang thang giữa sương khói trăng thu và cái trầm lắng bất chợt của nổi biệt ly trùng hằng máu lệ. Xa lắm rồi, sao bổng lại muốn được trở về, cùng em đốt đèn lồng, đón một mùa trung thu quê cũ, để được như thuở nào:

    ‘Cất chén mời trăng về dạ hội
    trăng vào trong chén nhảy lung linh
    cầm lên toan uống thì trắng biến
    đành, bóng cùng ta, uống một mình‘


    Than ôi, hồn xưa nào đây gửi vào trong chén, để níu được trăng thu sáng trọn canh dài. Hỡi những bạn bè xa cũ, đêm sáng trăng thu có về, xin hãy gởi lại một chút tình xưa trong chén, dù mùa thu sắp chín nhưng đừng bảo mùa thu không còn, khi ngoài trời trăng thu đã treo sáng vằng vặc và gió đang lên ngoài kia, làm ngất ngây thêm hương vị của chén bồ đào, một thời lính trận .

    1-TẾT TRÔNG TRĂNG:

    + NGUỒN GỐC:

    Năm 6 sau Tây Lịch, Vương Mãng cướp ngôi Hán Tuyên Ðế mới 2 tuổi, rồi tự xưng làm vua, đổi tên nước là Tân, vơ vét tất cả tài sản của dân chúng thành của riêng mình và tạo cơ hội cho bọn tham quan ô lại, tham nhũng, bốc lột, gây cảnh sinh linh đồ thán, làm cho quốc khố trống rỗng và cả nước thêm khổ đói, hờn hận. Do lòng người ta thán, đã nhất tề hưởng ứng cuộc khởi nghỉa của Lưu Tú, là hậu duệ của Vua Hán Cảnh Ðế, để chống lại Vương Mãng và nhà Tân và rốt cục lật đổ được chế độ bạo tàn, khôi phục lại được nhà Hán vào năm 23 sau Tây Lịch. Theo sử liệu, trong trận Côn Dương thuộc tỉnh Hà Nam, quân Lưu Tú bị giặc vây khổn trong thành nhiều ngày, tình cảnh rất là nguy khốn. Trong lúc lương thảo đã cạn kiệt, ngoài lại không binh cứu viện, khiến cho lòng quân xao động , hoang mang, có thể tan vỡ bất cứ lúc nào. Trước cảnh nguy ngập trùng trùng, đêm đó lại nhằm ngày rằm tháng Tám, trăng sáng vằng vặc như ban ngày, Lưu Tú đặt bàn hương án, cầu khẩn Phật Trời giúp đỡ.. thỉ bỗng dưng binh sĩ trong thành, tìm thấy khắp nơi nhiều bưởi và khoai môn.. Nhờ đó mà trong thành qua khỏi cơn đói, để chờ binh cứu viện.

    Năm 25 sau TL, Lưu Tú trùng hưng được xã tắt, dời đô từ Hàm Dương (Cam Túc) về Lạc Dương ( Hà Nam), nên nhà Hán từ đó được gọi là Ðông Hán. Cũng năm đó, vào rằm tháng tám, trước cảnh trăng thu soi sáng vằng vặc như bạch ngọc, Lưu Tú tức Vua Hán Quang Vũ, làm lễ tạ ơn Trời Phật nhưng vì muốn nhớ lại những vật đã cứu sống mình và quân sĩ,trong lúc nguy khốn hoạn nạn. Vua đã ban lệnh khắp nước, dùng hai món ‘ Bưởi ‘ và ‘ Khoai Môn’, làm vật cúng thần và thưởng trăng Thu. Do trên, có thể nói Tết Trung Thu đã manh nha từ đó. Ngoài ra đời Hán còn có tục lệ ‘Dưỡng lão ố kính lão‘ vào hai dịp lập thu và trung thu, bằng nghi thức dâng lên bề trên Bánh Bột Gạo Nếp Hấp Hơi. Ðến đời Tấn, người trong nước đã có tục hưởng trăng sáng vào đêm trung thu nhưng chưa được phổ biến rộng rải. Ngày nay căn cứ vào sử liệu, thì mãi tới đời Vua Ðường Huyền Tông tức Duệ Tông hiêu Văn Minh, phong tục vui Tết Trung Thu, mới chính thức được cả nước công nhận và trở thành một mỹ tục, chẳng những tại Trung Hoa mà còn được phổ biến khắp vùng Ðông Nam Á, tại những nước theo tam giáo Nho-Lão-Thích và có Cộng Ðồng Người Hoa cư ngụ. Cũng vào đời Ðường, đêm Trung Thu đã trở nên lãng mạn và huyễn hoặc, với những câu chuyện thần thoại rất đáng yêu, thắm đượm nét trữ tình như chuyện Hằng Nga Bôn Nguyệt, Ngọc Thỏ Ðảo Dược nhưng được mến chuộng nhiều nhất, vẫn là điển tích ‘Dương Quý Phi Biến Nguyệt Thần‘ và ‘Ðường Minh Hoàng Yêu Thỉnh Nguyệt Cung‘.

    Tiếp theo tới đời Bắc Tống mới chính thức công nhận Tết Trung Thu nhằm đêm Rằm Tháng Tám Âm Lịch. Ngoài ra các phẩm vật cúng lể, trong đó cả bánh hay quả phải tròn, còn hoa dâng lên cúng Trời Phật, phải có cánh lệch như Hoa Sen. Tất cả không ngoài, lòng mong ước cảnh đoàn tụ, sẽ do trăng mang tới cho nhân sinh.

    + TRĂNG VỚI TẾT TRUNG THU:

    Tết Trung Thu khởi nguồn chỉ là Tết Trông Trăng và là biểu tượng được in-vẽ trên mặt bánh hay chung quanh các loại đèn lồng.

    Xưa nay, trong các nền văn hóa của nhân loại, trăng đã là một huyền thoại với vô vàn chuyện kể không bao giờ dứt. Nhưng dù thế nào chăng nửa, ngày nay Trăng đã là một cõi thực giống như địa cầu mà con người đang sinh sống hằng triệu năm qua. Thực tế, trăng ngoài việc sáng soi trần thế, giúp cho đêm trường bớt cô đơn lạnh lẻo, gây hứng khởi để các văn nhân mặc khách, phun ngọc nhả châu, tạo thành những áng văn chương muôn đời bất diệt.. còn giúp ích rất nhiều cho con người. Theo tạp chí Earth, Moon and Planets số 34 năm 1986, nhà thiên văn học Jean Paul Parisot, làm việc tại Ðài Thiên Văn Bordeaux (Pháp), cho biết, chính tác dụng của Trăng làm tan mây, nhờ vậy gây sự hạ nhiệt độ thấp, giúp việc hòa tan các chất ôxy hóa. Theo ông, không phải trăng làm phai màu quần áo, mà chính quần áo bị phai màu dưới ánh trăng, nhất là vào những buổi trăng đầy. Lúc đó, độ sáng biểu kiến tối đa của ánh trăng, chỉ thua ánh nắng mặt trời có 400.000 lần. Trong giới hạn của bầu khí quyển, bức xạ mặt trời lá 1370 watt/1m2 trong khi đó bức cạ của Trăng không quá 3,5mili-watt/1m2. Sự đối lưu thấp gần địa cầu, chính là nơi quang hóa học, gây hiện tượng oxy hoá và peroxide hydrogen H2O2... Tóm lại không phải là vô cớ, khi có những dược sĩ, đi bán những lọ thuốc, chế bằng ‘giọt sương‘ làm trắng đẹp gương mặt phụ nữ. Loại thuốc thần diệu kia, chính là các giọt nước lơ lửng trên không. Vào những đêm trăng, chính là lúc xảy ra hiện tượng hòa tan hữu hiệu nhất, tạo thành các giọt sương đọng trên cành lá cỏ cây và quần áo phơi ban đêm.

    Trong ngành chiêm tinh học và tín ngưỡng thời xưa, mặt trời và mặt trăng ở gần và tiếp xúc với con người nhiều nhất. Ðối với trăng, màu sắc dù là lúc trăng sáng vằng vặt, cũng luôn đượm vẻ thần bí, khi ẩn, lúc hiện không bao giờ báo trước. Hình ảnh trên đã gây nên ấn tượng tự chủ, không bị gò bó ràng buộc, cho nên rất dễ cám dỗ hồn người, nhất là đối với giới văn nhân nghệ sĩ, quen cách sống độc lập. Trăng là Thần của đêm, của thế giới mộng du và hãi hùng, của yêu đương và ly biệt. Bởi vậy các nhà khoa học coi Trăng như nữ giới.

    Tuy nhiên trong thời cổ đại, chưa bao giờ thấy có sự đồng thuận về giới tính của Trăng. Ðối với người Syria, Trăng được coi như một Nam Thần, qua danh hiệu Aglibol cũng như người Mễ, gọi Trăng là Nam Thần Xochiquetzal. Riêng với người Cổ Hy Lạp và La Mã, thì Trăng trái lại là vị nữ thần duyên dáng khả ái Selene và Diane. Tóm lại qua bao thế kỷ, Trăng đã có trên 50 danh hiệu khác nhau, lúc nam lúc nữ. Riêng người Trung Hoa thì xưng tụng Trăng là Hằng Nga. Nói chung dù được gọi bằng cách nào chăng nửa, quan niệm chung của nhân loại, vẫn xép Trăng vào các vị thần, tượng trưng cho hư vô, cô đơn và lạnh lẻo. Theo Hésiode nhà thơ Hy Lạp thế kỷ XVIII trước Tây Lịch, thì nữ thần Trăng có tên là Hécate, ngự trị khắp trời đất, biển cả, mang hình tượng 3 đầu với phép thuật thần thông quảng đại, chuyên mang điềutốt lành hạnh phúc cho nhân thế.

    Trong nhiều huyền thoại, Trăng được các dân tôc ở Tiểu Á Tế Á, đảo Crète, Phi Châu.. coi như vị thần sinh đẻ, kéo dài cho tới thế kỷ thứ IV sau tây lịch. Qua niềm tin trở thành tín ngưỡng, đã trở thành nền móng cho nhiều phong tục tại Ai Cập, Lưỡng Hà. Kể từ thế kỷ thứ 3 sau TL, Trăng được nhân cách hóa với bò và sự mang thai sinh đẻ của người phụ nữ. Do ảnh hưởng trên, trai gái thời đó, yêu thương, tình tự thường chọn buổi trăng tròn, thời gian mà trên cung hằng thần tiên mở hội bàn đào đãi yến. Từ đó, danh từ ‘ Tuần Trăng Mật ( lune de mile) ‘ đã được quốc tế hóa, tới ngày nay vẫn được thông dụng.

    Tóm lại qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm, Trăng có lúc được tôn sùng tuyệt đỉnh, ngự trị tận chốn mê cung , ẩn ức tất cả mọi liên quan tới đời sống của con người qua mọi lĩnh vực sinh đẻ, di truyền, tài sản, mồ mã.. cho tới thân phận quốc gia dân tộc. Trăng còn ảnh hưởng tới sự cấu tạo của vật chất , mà bạc là kim khí biểu tượng. Nhiều huyền thoại về Trăng kéo dài, cho tới thế kỷ XIX mới chấm dứt. Ở nông thôn, nhiều người không dám ra khỏi nhà vào những đêm trăng sáng vằng vặt, vì sợ quỷ ám, ma hai, hút máu, gây bệnh tật. Ngay đến Hoa Kỳ, có thời gian đã tin là muốn không sinh đẻ, thì nam nữ nên yêu nhau vào lúc trăng tàn.

    Cuối cùng những điều huyễn hoặc về Trăng đã chấm dứt, cùng lúc với cái chết của nhà thiên văn học Galillé, khi trái đất được chứng minh hình tròn và lúc con người thật sự bước chân vào cung Hằng. Tuy vậy, dù biển dâu đã trải qua hằng hằng lớp lóp, tết trung thu vẩn tồn tại.. chẳng những bây giờ, mà còn viễn miên bất diệt.

    + TRUNG THU THEO ÐƯỜNG MINH HOÀNG DU NGUYỆT ÐIỆN:

    Ngày 23-10-2001, con tàu không gian Odyssey của Hoa Kỳ, được phóng từ mũi Canaveral, sau 6 tháng du hành, đã tới được điểm hẹn Hỏa Tinh. Ðây là cuộc phiêu lưu lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21, cách xa địa cầu hơn 400 triệu cây số. Thành tựu vĩ đại của khoa học hôm nay, đã khiên cho chúng ta phải cúi đầu khâm phục, về những tiên đoán của người xưa, cách nay hơn mấy ngàn năm, qua những điển tích diễm tình về Hằng Nga-Hậu Nghệ và nhất là chuyện kể sự tích Vua Ðường Minh Hoàng, trong đêm trăng thu, đã du Nguyệt điện.

    Trung thu theo luật tuần hoàn của trời đất trong một năm, được phân định thành bốn thời kỳ Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân và Đông Chí. Tháng tám theo truyền thuyết, là thời gian đẹp nhất của mùa Thu, vì ngày rằm trăng thật to tròn sáng và trong xanh như màu bạch ngọc. Người Trung Hoa xưa, nhân đó có bày ra Tết trông Trăng, vừa để dự đoán vận nước và theo thời tiết mà tiên liệu mùa màng của năm tới. Trong dịp này, các văn nhân tài tử, mặc khách tao nhân, đã mượn trăng làm đề tài, để mà thi thố phun châu nhả ngọc.

    Theo Ðông phương cổ học, thì Trăng thuộc về thủy, là một trong những yếu tố quyết định việc nông tang. Bởi vậy đêm trung thu ngóng trăng qua sắc diện, để quan sát mà đinh đoạt sự canh tác làm ăn sắp tới. Theo kinh nghiệm, trăng vàng thì trúng mùa tầm tơ, trăng có màu canh lục, thì đất nước sẽ bị thiên tai, mất mùa. Còn trăng sáng trong, với màu sa cam, báo hiệu cảnh nước non hạnh phúc.

    Tron g sách ‘Di Văn Lục‘ có ghi chuyện vua Ðường Minh Hoàng (713-741), chính là tác giả của Khúc Nghê Thường Vũ Y. Vào đời Khai Nguyên, trong một đêm Trung Thu, trước cảnh trăng rằm sáng treo vằng vặt, vua bổng mơ ước được lên chốn cung Hằng để thưởng ngoạn. Nhân lúc đó bên cạnh có đạo sĩ La Công Viễn biết phép tiên, ben dùng một giải lụa trắng biến thành cầu vòng, đưa nhà vua tới tận Nguyệt Ðiện. Cũng theo Ðường Thư, trong đêm Trung Thu, vua nằm mơ thấy mình lên tận Thiên Cung và thưởng thức được ‘Tây Thiên Ðiệu Khúc’ của đoàn cung nữ chốn Nguyệt Ðiện. Lại nhân có Tiết Ðộ Sứ Tây Lương là Trương Kính Thuật, dâng thêm khúc hát của Bà La Môn. Vốn là vi vua rất sành điệu cầm, kỳ, âm nhạc, nên nhập chung hai vũ khúc trên, làm thành một điệu vũ mới, mà đến nay vẫn còn lưu truyền. Ðó là Nghê Thường Vũ Ðiệu, tập cho cung nữ, để ngày ngày múa may, giup1 vui cho vua và ái thiếp là Dương Quý Phi. Cũng tứ đó, nhà vua đam mê tửu sắc, bỏ bê việc nước, gây nên loạn An Lạc Sơn, trời rung đất chuyển, kéo theo sự suy vi của Ðại Ðường sau đó.

    Liên quan tới Tết Trung Thu, còn có câu chuyện thần thoại về sự tích hai con vật Thiềm Thừ và Ngọc Thố trên cung Trăng hay là câu chuyện vợ chồng vua Hậu Nghệ và Hằng Nga với thuốc trường sinh bất lão. Ngoài ra còn có cây đa vạn niên với chú cuội, được các mục đồng ưa thích qua ca dao, tục ngữ:

    ‘thằng Cuội ngồi gốc cây đa,
    bỏ trâu ăn lúa, gọi cha ời ời
    cha còn ăn lúa trên trời
    mẹ còn cỡi ngựa đo mời quan viên...’


    + CHUYỆN TÌNH DƯƠNG QUÝ PHI-ÐƯỜNG MINH HOÀNG:

    Năm 589 sau TL, nhà Tùy thống nhất Trung Nguyên, kết thúc cuộc nội chiến trên đất Tàu, kéo dài trên 270 năm, khởi từ nhà Ðông Tấn. Nhưng tới năm 618 sau TL, Tuỳ lại mất vào tay nhà đường. Từ đó, kinh đô Lạc Dương (Hà Nam), được dời về đất Trường An, tỉnh Thiểm Tây, nằm về cực bắc nước Tàu. Nay dù sử sách có nói gì chăng nửa, thì các vị đế vương Tần Thỉ Hoàng, Vũ Hậu, Khan g Hy, Càng Long... và nhất là vua Ðường Thái Tông (Lý Thế Dân), vẫn được tôn xưng là một Ðại Ðế, tài giỏi và kiệt hiệt nhất trong dòng lịch sử Trung Quốc. Ngài trị nước qua chủ trương ‘Dân Quý, nước mạnh từ dân, còn nhà cầm quyền chỉ là đồ bỏ‘. Ngài cũng lưu lại nhân thế, một câu danh ngôn, được ngàn đời truyền tụng: ’Vua ví như thuyền, còn dân là nước. Thuyền đi nhờ nước nhưng nước cũng có thể làm cho thuyền chìm’. Nhờ vậy nước Tàu thời đó rất cực thịnh và hùng mạnh. Song song với sự phát triển kinh tế, quân sự... thời Ðường văn chương, thi phú đã đạt tới mức thượng thừa, mà thơ Ðường là đỉnh cao , trong nền thi ca cổ điển Trung Quốc. Giữa rừng lau lách thi phú, có bốn thi hào liên quan tới vua Ðường Huyền Tông-Dương Quý Phi, nhân vật của Tết Trung Thu và Vũ Ðiệu Nghê Thường, mà ai cũng kính phục và mến mộ. Ðó là Thi Tiên Lý Bạch (701-762), Thi Thánh Ðổ Phủ (712-770), Giang Châu Tư Mã (Bạch Cư Dị) và Trương Kế bất tử với bài ‘Phong Kiều Dạ Bạc’ qua tiếng chuông Hàn Sơn Tự, tại Cô Tô thành.

    DƯƠNG QUÝ PHI là một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc, được lịch sử ghi nhận , ca tụng sắc đẹp như sau: ’Thân thế phong mãn, sắc da mịn màng diễm lệ’. Ngoài ra còn là một người thông minh, giỏi âm luật, đờn ca xướng hát, nên đã khiến cho vua Ðường Minh Hoàng, vốn là một vị minh quân, cuối cùng cũng phải thân bại danh liệt vì sóng mắt khuynh thành, nghiêng trời lệch nước của người đẹp. Vẫn theo sử liệu, thì Dương Quý Phi ngoài vẽ đẹp trời cho, còn biết sử dụng nhiều bí quyết , giữ gín nhan sắc, luôn tuyệt thế vô song, để vua lúc nào cũng ‘tam thiên sủng ái tại nhất thân‘ như Bạch Cư Di đã viết trong bài ca trường hận.

    Mới đây sử sách đã hé lộ bí quyết trên, thì ra nàng rất thích tắm, nhất là tại suối nước nóng ở Hoa Thạnh Trì. Vẫn theo Gang Châu Tư Mã, thì nàng mê tắm đến nổi, khi cung nữ vực dậy, thì thân thể đã mềm yếu đến nỗi không thể đứng dậy được. Thật ra trong suối nước nóng trên, có chứa rất nhiều nguyên tố thiên nhiên, rất bổ ích đối với nhan sắc của phụ nữ, nhờ đó mà người đẹp giảm mập , khiến cho da thịt mịn màng tăng phần quyến rũ. Nhưng qua các tác phẩm hội họa và điêu khắc còn lại, cho thấy quan niệm thời Ðường coi ‘Mập’ là đẹp, khác với thời Hán, qua Triệu Phi Yến sắc vóc mãnh mai. Do trên không ngạc nhiên, khi thấy Dương Quý Phi có sắc vóc phong mãn, tràn đầy nhưng không vượt quá giới hạn của sự thẩm mỹ.

    Ngoài việc thường xuyên tắm ở Hoa Thạnh Trì và ngâm mình ở ao Hưng Khánh, cùng với vua Huyền Tông. Dương Quý Phi còn xài ‘Hồng Ngọc Mỹ Dung’, nên về sau được đổi thành ‘Dương Thái Chân, Hồng Ngọc Cao‘, được chế bằng 3 loại dược liệu: Hạnh nhân bóc võ, hoạt thạch và khinh phấn. Tất cả được nghiền nát và chưng cất với một ít xạ hương, hòa với lòng trắng trứng. Tương truyền, nhờ thứ mỹ phẩm này, mà da mặt của nàng, lúc nào cũng tươi như hoa đào và thắm màu hồng ngọc.

    Tên thật là Dương Ngọc Hoàn, nguyên là một phi tầng của hoàng tử Lý Mạo. Vì có nhan sắc ‘Nhất Tiếu Khuynh Nhân Thành‘, nên Ðường Huyền Tông (Lý Long Cơ), đã giựt vợ của con, và phong làm quý phi. Trước đó nhà vua là một minh quân, chăm lo việc nước. Nhưng từ khi thu nạp người đẹp, vua chỉ mê đắm trong chốn hoan lạc, chẳng còn lo nghĩ gì tới quốc sự. Triều đình nhà Ðường vì thế ngày càng lụn bại, khắp nơi nhân dân đói khổ lầm than, trong triều thì gian thần lũng đoạn, không còn ra thể thống gì, vậy mà nhà vua vẫn u mê, không biết gì ngoài tửu sắc bên người đẹp. Năm 755, một thổ quan tên An Lộc Sơn dấy loạn, sau khi đánh chiếm Ðồng Quan Thiểm Tây), làm cho Tràng An nguy ngập, rối loạn., khiến cho triều thần phải di giá vua và hoàng tộc, phải bỏ kinh thành lánh nạn. Khi tới Mã Nguy Pha, thì xảy ra cuộc binh biến. Tướng sĩ trên dưới đỏi vua phải giết gian tướng Dương Quốc Trung là anh ruột của quý phi, cũng như người đẹp, thì mới chịu đồng tâm dẹp loạn An Lạc Sơn.

    Cuộc binh biến trên là chuyện có thật trong lịch sử Trung Quốc, cũng như đã ghi Dương Quý Phi, sau khi bị thắt cổ chết, được chôn tại Mã Nguy Pha, thuộc huyện Hưng Bình, ngoài thành phố Tây An (Trường An) ngày nay. Phần mộ trên hiện còn, được xây dựng theo kiểu lầu các, trên cửa lăng cao lớn, có khắc ghi 7 đại tự, của thư pháp gia nổi tiếng Thiệu Lục Tử: ’Ðường Dương Thị Quý Phi Chi Mộ’. Từ đó đến nay, đây là chỗ các danh nhân tài tử bao đời, lui tới ngâm thơ vịnh nguyệt và hiện giờ làợ một địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Thiểm Tây.

    Tuy Ðường sử có ghi, Huyền Tông đã cho hai lực sĩ thắt cổ Dương Quý Phi, dưới gốc cây lê, trong một ngôi chùa tại Mã Nguy Pha và sau này sử sách Trung Hoa, cũng đều ghi như thế. Nhưng mới đây lại có truyền thuyết, là Dương Quý Phi được cứu thoát, qua kế ‘ ve sầu thoát xác’. Sở dĩ có chuyện đó là vì, sau ngày binh biến một năm, vua Ðường cho dời mộ Dương Quý Phi, thì không thấy xác. Chính Bạch Cư Dị, trong ‘Trường Hận Ca’ cũng đã viết: ’Mã Nguy Pha hạ nê thổ trung, bất kiến ngọc nhung không tứ xứ...’. Việc đó tưởng như chìm vào dĩ vãng, thì mới đây, vào thập niên 20, có một số học giả, trong đó đáng lưu ý là Du Bình Bác, đã xác quyết là Dương Quý Phi lúc đó không chết trong cuộc binh biến. Chẳng thế mà bà còn tới được Nhật Bản và lưu lại hậu duệ, trên đất Phù Tang. Thêm vào đó, là Nam Cung Bắc, trong tác phẩm ‘Dương Quý Phi’, cũng viết rằng trong cuộc binh biến tại Mã Nguy Pha, người cầm binh lúc đó là Đại Tướng Trần Huyền Lễ, vì thương hương tiếc ngọc, nên không nở sát hại người đẹp. Chính ông đã cùng với Cao Lực Sĩ, bày mưu, cho một thị nữ chết thay. Vì Cao là người đẩy xe chôn xác, còn Trần là giám trảm quan, nên còn ai dám tọc mạch, kiểm soát? Thế là Dương Quý Phi được thủ hạ thân tín của Trần Nguyên Soái, hộ tống tới một địa điểm, nay là ngoại thành Thượng Hải và dùng thuyền trốn sang lánh nạn tại Nhật Bổn. Vẩn truyền thuyết trên, còn có học giả người Nhật là Ðộ Biên Long Sách, cũng viết trong ‘Dương Quý Phi Phục Hoạt Bi Sử‘, lại cho rằng, việc Dương Quý Phi trốn thoát khỏi Mã Nguy Pha, không có mắc mớ gì tới Trần Huyền Lể và Cao Lực Sĩ hay kế ve sầu thoát xác nào cả. Tất cả được an bài, do vũ nữ Tạ A Man và vũ sư Mã Tiến Kỳ. Sau khi thaót thân, Dương quý Phi gặp lại tì thiếp họ Từ, của cháu mình là Dương Tuyên, con Dương Quốc Trung. Nhờ vậy mới quen được một kiếm khách Nhật Bổn tên Fujiwra Satsuo. Người này mê say Dương Quý Phi nên đem bà về Nhật Bổn và câu chuyện hạ màn. Nhưng mới đây vào năm 1963, Dương Quý Phi bổng dựng mồ sống lại, khi có một thiếu nữ biểu diễn trên truyền hình Nhật, tự giới thiệu mình là hậu duệ của quý phi họ Dương. Kế đó, minh tinh màn bạc Nhật nổi tiếng là Yamaguchi Momoe, cũng tự nhận như thế. Ngoài ra tại Nhật Bổn, hiện nay vẫn còn , nhiều di tích liên quan tới Dương Quý Phi, như phần mộ của bà ở tháp Ngủ Luân, thuộc Cửu Tân, Huyện Sơn Khâu. Cũng ở đây, trong Nhị Tôn Viện, có thờ hai pho tượng Phật Thích Ca và Quan Thế Âm, được biết là của Huyền Tông đã tặng cho Dương Quý Phi. Ngoài ra ở ngoại ô Cai Sơn (Nhật Bổn), còn có một phần mộ khác, củng nói là của Dương Quý Phi. Tóm lại, qua cuộc bể dâu trầm thống, hương hồn và ngọc cốt của tuyệt thế giai nhân, hiện ở đâu. Ðiều này chắc chỉ có nàng mới hiểu, còn nhân thế biết đâu mà mò.

    2-TẾT TRUNG THU ÐỐT ÐÈN LỒNG, THEO EM VỀ TÌM TRĂNG QUÊ CŨ:

    Tới nay, lễ hội Tết Trung Thu, đã hiện hữu với nhân sinh hơn ngàn tuổi nhưng vì là một mỹ tục, nên đã không bị thời gian đào thải, trái lại càng lúc càng được nhiều ưa thích, nhất là giới trẻ. Sự phồn thực của lễ hội trên, làm phát triển nhiều nền công nghiệp liên hệ như làm đầu lân, sư tử, rồng, các đồ chơi của trẻ con mà quan trọng nhất là các kiểu đèn lồng, đèn kéo quân và loại đèn tạ treo trong nhà, cũng như các loại bánh trung thu, dùng trong việc tế lễ và thưởng trăng.

    Tại Việt Nam, sau Tết Trung Nguyên là Trung Thu, rất được trẻ con ưa thích. Trong dịp lễ này, ngoài chơi lồng đèn, ăn bánh và thưởng thức múa lân, múa rồng, bọn chúng còn có nhiều đồ chơi làm bằng thiếc như con bướm cánh xòe, con thỏ gõ trống leng keng, chiếc xe đạp bằng sắt nặng trịch nhưng hấp dẫn nhất vẫn là cái tàu thủy có gắn dây thiều, sau khi đốt đèn cầy, bỏ vào hồ nước, có thể chạy được một thời ngắn mới ngừng.

    Nhưng nói tới Trung Thu là phải nói tới Bánh, mà xưa nay tại Hà Nội, việc buôn bán vẫn chia phân rành rẽ: Phố Hàng Ngang bán bánh Trung Thu của người Việt làm, trái lại những loại bánh mang nhãn hiệu Ðông Phương Viên, Mỹ Kính của người Tàu, được bày bán tại phố Hàng Buồm.

    Theo tài liệu ghi trong ‘Ðế Kinh Cảnh Vật Lược‘, cho biết người xưa vui tết Trung Thu, ngoài bánh, còn có vịt tần, lợn quay, uống rượu hoa quế ướp lạnh và ăn bưởi. Riêng bánh trung thu thời xưa rất cầu kỳ, hình tròn, trên mặt luôn có in các hình Hằng Nga, Ngọc Thố. Ngoài ra bánh phải làm cho cứng, để bảo quản qua thời gian lâu dài cũng như thể hiện đầy đủ ý nghĩa bền vững hạnh phúc như sự bền cứng của chiếc bánh. Qua những thăng trầm lịch sử, theo thời gian, chiếc bánh hiện hữu ngày nay, cũng được mang nhiều danh hiệu khác nhau như bánh trăng, bánh Hồ, bánh nhỏ, bánh đoan viên. Phát xuất từ vùng Triết Giang, ngay từ thời Ân-Chu mà truyền thuyết nói là dân chúng địa phương đã làm, để kỷ niệm Thái Sư Văn Trọng, người nấm quyền thời vua Trụ Vương. Thời Tây Hán, nhân sứ thần Trương Thiên đi Tây Vực về, có mang theo các loại hạt mè, hồ đào, dưa hấu. Chính những thứ hạt này, từ đó được người Trung Hoa dùng làm nguyên liệu chính, để làm bánh trung thu, nên được gọi là bánh Hồ. Thời vua Huyền Tông nhà Ðường, trong một đêm rằm tháng tám, vua và Dương Quý Phi, ăn bánh thưởng trăng. Nhân đó nhà vua đã bỏ tên bánh Hồ, và gọi là bánh Trung Thu (bánh Nguyệt). Tên này thịnh hành cho tới ngày nay. Ðời nhà Tống, tuy việc ăn bánh trung thu khá thịnh hành nhưng cũng chỉ phổ biến trong hàng quan lại, thượng lưu giàu sang quý tộc và là đề tài để cho các văn thi gia sáng tác, nhất là vào dịp trăng thu. Ngày nay bánh chẳng những thịnh hành trong xã hội nước Tàu, mà còn tại các nước Ðông Nam Á và những nơi có Hoa kiều cư ngụ.

    Hiện có 5 loại bánh trung thu. Sự phân loại có thể hoặc căn cứ vào vỏ bánh và nhưn hay theo địa phương sản xuất. Tóm lại ngày nay Trung Cộng có nhiều nơi sản xuất bánh trung thu nhưng nổi tiếng nhất, vẫn là bánh Bắc Kinh, Thiên Tân, Tô Châu, Triều Châu và Quảng Ðông. Bánh chay có võ và nhưn làm bằng dầu thực vật, đậu và trái cây.rất nổi tiếng tại Bắc Kinh và Thiên Tân. Bánh mặn Quảng Ðông dầu ít nên ngọt hơn bánh Triều Châu cũng nhiều võ dầu nhiều lớp, kể cả nhưng cũng cũng có chất dầu. Riêng bánh Tô Châu thì đặc biệt chú trọng tới mùi vị, từ võ tới nhưn. Ngoài ra , còn có loại bánh làm tại Vân Nam, Ninh Ba, Thượng Hải, Hạ Môn, Phúc Châu.. tuy chế tạo tại địa phương nhưng hương vị cũng gần giống như 5 loại bánh trên, đặc biệt hơn là bánh ngủ nhân của Phúc Châu, bánh Trung Thu có võ trong của Tây An, bánh nhưn mè đen Dương Châu. Riêng các loại bánh Trung Thu bày bán tại VN hay các nước Ðông Nam Á, đều làm theo kiểu Quảng Ðông hay Triều Châu và có khuynh hướng dùng dầu thực vật hay mỡ bò thay mỡ heo và các loại nhưn trái cây đủ loại, cùng kỹ thuật nướng bánh.. khiến cho mọi người thêm ưa thích.

    Ðêm Trung Thu, trẻ con nhà nghèo không có tiền mua dèn lồng hay đồ chơi thì rủ nhau đi xem múa lân, rồng hay sư tử. Trong cuộc vui này nếu các con vật kia, qua quan niêm là mang sự may mắn tới cho mọi người, thì hình ảnh của Ông Ðịa, với nụ cười toe toét, làm cho lân thêm oai nghi hùng liệt, có tác dụng làm tiêu tan hết những phiền lụy cuộc đời. Cũng chính lý do này, mà người đời đã thờ ông Ðịa để cầu mong được hạnh phúc, may mắn.

    Riêng rồng là linh vật được nhiều nước trên thế giới sùng bái, nhất là người cổ Trung Hoa. Ðối với dân tộc VN, rồng là vật tổ. Người ta tôn rồng là vật linh thiêng, thần kỳ mà nghiêm trang, là chỗ dựa để người đời cầu khẩn, xin phước, bảo đảm mùa màng. Vì vậy trong đêm trung thu, múa rồng được xem như là một nghi thức tôn giáo, một điệu múa dân gian, lưu hành khắp xứ và tồn tại tới ngày nay. Vì mang tính chất truyền thống, nên các tiết mục về múa rồng cũng rất phong phú và đa dạng. Riêng tại Trung Quốc, chỉ tỉnh Triết Giang cũng đã có nhiều hội múa rồng. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì vùng này chính là cội nguồn của Bách Việt, quê hương của những dân tộc sống nơi sông rach, biển sóng, sông hồ. Do trên vật tổ của họ là thần rồng, cá sấu. Bởi vậy, dù nay con vật chỉ làm bằng giấy hay vải nhưng người múa, trong một tâm hồn phóng khoáng, đã làm cho con vật trừu tượng , trở nên uy vũ, toát lên cái hào khí sung mãn của một giống dân bách chiến, từng làm cho Hán tộc lao đao nể sợ. Tóm lại cho dù loại rồng làm bằng thứ gì, vải hay giấy, thì thân rồng cũng phải đan bằng tre, ở suốt phần mình rồng, rồi bọc giấy hay lụa mỏng, phía trên có gắn vảy lấp lánh. Phía trong có gắn đèn, khi múa thắp sáng. Ðặc biệt mình rồng có nhiều bộ phận có thể tháo rời, để rút ngắn hay thêm dài, tùy theo vị trí cần thiết khi biểu diễn nhưng không vì thế mà làm cho rồng mất đi cái uy vũ, linh hoạt dưới bóng đèn. Múa rồng dù ở đâu, cũng không ngoài 12 thế căn bản như Bàn Long, Ngưỡng Long, Trảo Dương, Thoát Thủ.. và thuyết diệu nhất, vẫn là Bách Khiếu Long. Trong thế này, con rồng có chiều dài tới 500m, chẳng khác gì một con giao long, nhe nanh múa vút, bay lượn trên tầng trời. Cuối cùng rồng thu gọn thành một tầng hoa sen chín cánh, hiền khô như bóng Phật.

    Bên cạnh giúp vui còn có Lân, mà nghề múa cũng thật công phu, chẳng những về kỹ thuật mà còn pha trộn công phu võ nghệ và nhất là điệu trống lân của Việt Nam, biểu hiên một sự kết hợp toàn hảo giữa truyền thống Trung Hoa, ngón chầu Việt Nam và tiếng trống Jazz Âu Mỹ.

    Trong đêm Trung Thu, khắp nơi mở hội hoa đăng, đèn thắp như sao sa, trên trời là trăng, dưới đất là đèn đủ loại, từ nhỏ như đèn sao, cá, bướm.. cho tới đèn kéo quân, quả tạ, cái nào cũng rực rỡ, xinh đẹp.

    Tại VN, xưa nay chỉ có hai thành phố Hội An và Sài Gòn là nổi tiếng khắp nước, về thủ công nghệ làm đèn lồng trang trí và các loại đèn giấy, dùng trong ngày tết Trung Thu. Hội An là một thành phố cổ kính còn sót lại ở miền Trung, nằm trên cửa sông Thu Bồn, từ lâu đời đã là một hải cảng quốc tế nổi tiếng của Ðàng Trong,vào thế kỷ 16-17. Ngày nay nhắc tới phố cổ, ôn lại những quá khứ huy hoàng, người ta lại đi quanh quẩn tìm đếm những chiếc lồng đèn quả tạ, treo trước hành lang hay cổng nhà cổ kính của các dòng họ lớn Châu, La, Thái... là những người Minh Hương gốc Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Ðông, Hải Nam... ngụ lâu đới tại đây. Theo Văn Công Lý, một người làm nghề thợ mã địa phương, cho biết tổ của ngành làm đèn lồng ở Hội An, chính là Xã Ðường, cũng là nhà nho, họa sĩ, chuyên vẽ cành lá, hoa hòe và các chữ viết trên mặt đèn. Lại này rất quý, nên thời xưa chỉ được treo tại các dinh thự quan lại hay là các nhà quyền quý mà thôi. Ngày nay đèn lồng, đã trở thành một vật trang trí bình dân khắp mọi nhà trong phố cổ. Tóm lại tại Hội An, việc sản xuất đèn lồng chẳng những là một công nghiêp, mà còn là một đặc sản của đia phương, mà không một nơi nào sánh kịp về kiểu dáng, vải bọc toàn là lụa Hà Ðông nổi tiếng, làm cho ánh sáng thêm huyền ảo mông lung. Ðêm Trung Thu tại phố cổ, văng vẳng khắp nơi là những tiếng khoan hò đối đáp, những hàng đèn lồng lợp lụa, của các em nhỏ, nhấp nhô trong các khu phố heo hút. Ðâu đó trước mái hiên, là hình ảnh các cụ già, mặc áo, chit khăn đóng, ngối uống trà, đánh cờ, ngâm thơ dưới bóng sáng đèn lồng. Trong nhà, qua các lớp ngói âm dương, bóng trăng thu vằng vặc trên trời cao, được rọi khắp các sân rêu cổ kính. Tóm lại đêm Trung Thu ở đây, đèn thay trăng khắp nơi khắp chốn, nên muốn tìm bóng trăng soi, thì thật là khó vô cùng.

    Tại Sài Gòn, từ trước năm 1975 tới nay, Phú Bình thuộc quận 11 của Ðô Thành, cũng vẫn là một trung tâm sản xuất đèn lồng lớn nhất Miền Nam VN, cung cấp đèn cho toàn vùng. Ðây là một làng di cư của người Bắc di cư vào Nam, có gốc gác từ làng Báo Ðáp, tỉnh Nam Ðịnh. Ðây là một làng nổi tiếng về nghề nhuộm , dệt vải và làm giầy dép. Phú Ðịnh sau năm 1975 thuộc phường 19, quận Tân Bình và phường 5, quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, cách khu du lịch Ðầm Sen chừng nửa cây số. Tại những năm di cư đầu tiên ở miền Nam. Làng Phú Bình chỉ chuyên làm những loại đèn lồng đơn giản như đèn ống sáo, con cá, ngôi sao, dành cho học sinh và các em thiếu nhi, vui chơi trong đêm Tết Trung Thu mà thôi. Nói chung, thời gian từ 1960-1975, Phú Bình mỗi năm sản xuất hơn nửa triệu đèn lồng trung thu, cung cấp hầu hết các tỉnh thi, thành phố, từ Cà Mâu tới Bến Hải. Buổi đó, cứ đến mùa trung thu, khách hàng khắp nơi đổ về Phú Bình, đặt hàng, chở hàng, khiến cho cả xóm từ sáng tinh mơ tới lúc nửa đêm, rộn rịp như chợ bán đèn lồng, với các loại xe cộ ra vào không dứt. Công việc phát đạt, khiến cho nhà nào cũng vui vẻ hạnh phúc.

    Từ sau năm 1975, Phú Bình vẫn tiếp tục nghề cũ nhưng việc làm ăn dưới xã nghĩa kiếm đủ cơm đã là điều hạnh phúc. Rồi thì sau năm 1990, Việt Cộng mở cửa đón tư bản vào cứu đảng và cho phép lồng đèn Trung Cộng, Ðài Loan, Tân Gia Ba, Ðại Hàn, Thái Lan... tràn ngập non nước, ồ ạt xâm nhập thị trường cả nước, chèn ép hàng làm tại Phú Bình, khiến cho cả xóm ế ẩm và thiếu gạo. Sở dĩ có sự cố trên, vì đèn ngoại quốc vừa rẽ, lại vừa đẹp và trên hết rất tiện lợi, vì dùng pin, nên khi ra gió , không bao giờ bị cháy.

    ‘Ai mua trăng, tôi bán trăng cho‘, tiếng thét đứt ruột thảm tuyệt của thi hào Hàn Mặc Tử, trong những buổi trăng tròn,đã làm sống dậy, trong tim của người thơ những nỗi buồn tình thiên cổ, cùng với niềm đau cắt thịt của một thân xác quằn quại vì chứng bệnh nan y. Bao chục năm qua sống lưu lạc giữa quê người, cứ mỗi lần trăng sáng, đứng trong mùa thu chín, giữa bóng trăng soi, mà sao hồn du tử cứ muốn đốt đèn lồng, cùng em về, tìm trăng quê củ. Hỡi ôi, trăng chỉ có một bóng lẽ loi, còn ta thì hồn chia muôn nẻo, cho nên biết mượn trăng nào, để ghé bến về?

    Biết bao giờ được thấy lại quê cũ được nhìn dòng sông xưa? Nghĩ tới mà hồn ngậm ngùi nhất là Trung Thu năm nay nhằm ngày 11 tháng 9 của mười năm trước, nước Mỹ đã hứng chịu một thảm họa tàn khốc với hơn 7000 sinh mạng, do bọn cuồng sát khủng bố của trùm Bin Laden và tổ chức Al-Qaeda gây ra. Cả nước Mỹ đang hướng về Hoa Thịnh Đốn và Nữu Ước để tưởng niệm những nạn nhân bất hạnh trong đau khổ và nghẹn ngào. Người Việt chúng ta dù gì chăng nữa cũng đã trở thành những công dân của Hiệp Chủng Quốc, thì không có lý gì trong ngày tang chung của nước Mỹ (Chủ Nhật 11 tháng 9 năm 2011), lại viện dẫn lý do “tổ chức Trung Thu làm vui cho các học sinh“ quyên tiền để tổ chức tiệc tùng vui nhộn trong cảnh đau thương của thiên hạ?!


    Xóm Cồn Ha Uy Di
    Mùa Trung Thu 2011
    HỒ ÐINH