Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. từ khu bưu chính ngoài quan tái
    theo biển, thuyền tôi gởi bến lòng
    người lính già còn sau chiến cuộc
    cười nghiêng quán lẽ, nhớ mênh mông

    nên bảo làm sao nguôi thống hận ?
    miên trường, sông núi vẫn quan hà
    cũng may trên bước đường lưu lạc
    tình lính làm vơi bớt xót xa

    nay chỉ còn đây manh áo cỏ
    theo ta trôi dạt khắp sông hồ
    tàn cơn binh lửa thân làm khách
    khóc hận, sầu đau cuộc tỉnh, mơ

    tôi, lính bộ binh khu chiến cũ
    lang thang đi hái những vô thường
    bút nghiên dựng lại trang hùng sử
    đời, chắc ngày mai sẽ xót thương

    Anh, bốn quân khu về với nhé
    để nghe trống trận giục mười phương
    luân hồi dù chịu thêm ngàn kiếp
    lính phải làm vui, đẹp phố phường

    xưa lính tay đàn, tay kiếm thép
    nay moi tim óc hiến dâng đời
    từ khu bưu chính xa muôn dặm
    thư viết cho nhau, nước mắt rơi

    Cho bạn bè KBC 4424, 3435, 4524, 4508
  2. anh hùng buổi trước hờn vong quốc
    mài kiếm dưới trăng để đợi thời
    ta kiếp lính quèn, đời loạn lạc
    co ro ngồi khóc cuộc chia phôi

    Núi vẫn hờn căm, sông lặng lẽ
    ngẩn ngơ thương thuở sống hào hùng
    ta cũng một thời làm lính trận
    nên cùng sông núi chuốc đau thương

    đêm nay ngất ngưởng bên bàn rượu
    say tỉnh lại mơ chuyện vá trời
    tới lúc vầng trăng hoen ủ rũ
    mộng tàn theo rượu đắng khô môi

    tưởng tiếc bỗng dưng làm đứt ruột
    chao ơi đời đã hết rồi sao ?
    bạn bè trăm đứa nay còn một
    ta biết tìm đâu để nhớ nhau ?

    còn đây là những cung thương cũ
    của phím đàn xưa đã loạn dây
    âm hưởng cũng chìm trong quá khứ
    đời buồn thảm quá, làm sao vui

    xưa ta với bạn thường nâng chén,
    mỗi lúc dừng quân ở vệ đường
    nay sồng cô đơn nơi góc biển
    một mình với bóng uống trăng suông

    đêm nay đứng ngóng về bên đó
    ngơ ngẩn chờ ai thêm xót thương
    biển vẫn vô tình cơn sóng vổ
    bỏ ta ngồi đợi, suốt canh trường



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng Tư Ðen 2010
    MƯỜNG GIANG
  3. BA MƯƠI LĂM NĂM TRƯỚC (4/1975 - 4/2010) HOA KỲ CHẠY KHỎI VN TRÊN MÁI NHÀ SÀI GÒN



    Đã có ý định phủi tay bỏ Nam VN, nên cuối năm 1974 Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn đã bắt đầu lập bản dự thảo kế hoạch rút số viên chức còn lại, cũng như di tản những thành phần bản xứ có liên hệ với họ. Ðó là chiến dịch ‘Talon Vice‘, sau được đổi thành ‘Frequent Wind‘. Theo sử liệu bật mí mới đây, sở dĩ kế hoạch trên vào phút chót trở thành ‘mõ gà đít trâu‘, là do sự bất đồng ý kiến giữa Đại Sứ Mỹ Martin và Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ (DAO). Nhưng đây cũng chỉ là cái cớ để phần nào làm nhẹ bớt tội tắc trách của ông đại sứ. Cũng theo tài liệu, sự thất bại còn có rất nhiều lý do khác, chẳng hạn do Tướng Smith, trưởng cơ quan DAO, đã tiết lộ kế hoạch chạy của Mỹ trong bữa tiệc do Tổng Cục Tiếp Vận/VNCH tổ chức trong đêm Giáng Sinh 24-12-1974 tại Sài Gòn.

    Tin này lập tức được loan truyền rộng rải, nên thay vì Mỹ di tản các thành phần quan trọng có nguy hai tới tánh mạng khi VC vào, lại chỉ vớt toàn bọn nhà giàu, chệt Chợ-Lớn, me Mẽo, bọn cò mồi phá thối chính quyền VNCH và đặc biệt là bọn tướng-tá ăn không ngồi chơi xơi nước tại các cơ quan đầu não trung ương về quân sự cũng như hành chánh. Bọn này đa số đều giàu có về tiền bạc cũng như quyền thế và phe cánh Mỹ, nên ra đi ngoài gia đình nội ngoại ba đời, còn có cả con sen thằng ở. Sau rốt là do Đại Sứ Martin tới giờ phút chót vẫn còn ngu xuẩn, cả tin vào sự hẹn hứa của Bắc Việt, nuôi ảo vọng thương thuyết khi chấp nhận điều kiện ‘đổi ngựa‘ hết Nguyễn Văn Thiệu, tới Trần Văn Hương và cuối cùng là Dương Văn Minh. Nhưng kết cuộc, Mỹ đã bị VC bịp xã láng nên đã phải bỏ chạy nhục nhã trong đêm tối 29-4-1975 khắp các mái nhà Sài Gòn, đến nỗi quên cả việc vác cờ theo. Thật là một trò hề vô cùng sĩ nhục của siêu cường Hoa Kỳ, lãnh tụ của phe thế giới tự do.

    Theo bản dự thảo ban đầu, chiến dịch di tản gồm có bốn giải pháp tùy theo hoàn cảnh để thi hành như 1- Dùng hàng không dân sự để di tản người tại phi trường Tân Sơn Nhất. 2- Sử dụng các vận tải cơ C123,130 và C5 để bốc người tại Sài Gòn cũng như các tỉnh lân cận. 3- Sử dụng các loại thương thuyền có sẵn tại bến Bạch Ðằng. 4- Dùng trực thăng bốc người từ Sài Gòn, đưa ra các chiến hạm.

    Sau khi Quân Đoàn I và II tan rã, ngày 1-4-1975 , Dao đã cho thành lập một cơ quan điều hợp di tản, gọi tắt là DCC tại Tân Sơn Nhất và giải pháp (4) dùng trực thăng bốc người được chọn, nếu phi trường Tân Sơn Nhất bất khiển dụng.

    Ngày 3-4-1975 Dao lại thành lập thêm Toán Thiết Kế đặc biệt, có nhiệm vụ thanh lọc, để xác nhận tổng số người VN cần di tản và tới ngày 7-4-1975, có 70.000 người được lên danh sách. Ngay sau đó, Dao đã tổ chức một đoàn xe Bus, chuyên chở họ từ tư gia vào phi trường TSN. Vì hầu hết sân thượng tại Sài-Gòn, Chợ-Lớn và Gia-Ðịnh, không đủ tiêu chuẩn để cho các loại trực thăng H46 và H53 đáp, nên Dao phải trưng dụng tất cả các trực thăng nhỏ của hãng Air American do CIA thuê mướn, bốc người khắp nơi về Dao, sau đó trực thăng lớn mới chở ho ra chiến hạm.

    Ngày 9-4-1975, Bắc Việt xua đại quân tấn công Xuân Lộc. Cơn phẫn nộ của QLVNCH và dân chúng được bộc phát tại đây. Sư Ðoàn 18 BB, Lữ Ðoàn 1 Dù, Thiết đoàn 5 kỵ binh, TÐ82 Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân Long Khánh, chẳng những đã chận đứng cộng quân tại chiến trường mà còn tiệu diệt cả vạn quân xâm lăng phương bắc, khiến cho Hà Nội lại la làng là Mỹ bội tín đem bom nguyên tử vào thả tại VN.

    Do tình hình chiến trường biến động khắp nơi, báo hiệu nguy cơ miền Nam sắp mất, nên Dao đã mướn nhà thầu sửa chữa các sân thượng tại đây, đồng thời yêu cầu toà đại sứ cho đốn cây cổ thụ trước sân, để làm bãi đáp khi hữu sự nhưng đã bị Martin phản đối và bác bỏ.

    Ngày 16-4-1975, tướng Home Smith chỉ huy trưởng Dao, ra lệnh đóng cửa các PX, đồng thời bắt buộc các quân nhân không cần thiết và tất cả nhân viên dân chính cùng gia đình, đều phải hồi hương.

    Ngày 24-4-1975 thời tổng thống Trần văn Hương, do tình hình chiến sự bùng nổ dữ dội lhắp nơi, nên đại sứ Martin mới cho thi hành giải pháp (3) trong chiến dịch Frequeent Wind, sử dụng tất cả các thương thuyền trống, sau khi đã giở hàng để di tản. Trong lúc đó, vì tuân thủ theo lệnh của chính phủ VNCH, nên hầu hết các máy bay quân sự của Mỹ khi rời Sài Gòn đều trống không, dù có rất nhiều người đang sắp hàng ngày lại ngày, để chờ phương tiện xuất ngoại.

    Ngoài việc di tản quân nhân, viên chức tòa đại sứ rời VN, ngày 4-4-1975 Dao lại cho thực hiện chiến dịch ‘ Baby Lift ‘, di tản 250 em mồ côi VN tại các cô nhi viện sang Hoa Kỳ bằng vận tải cơ khổng lồ C5A-Galaxy. Tháp tùng trong chuyến đi này, còn có 37 nữ thơ ký và phân tách viên của Dao, với nhiệm vụ giúp đỡ và săn sóc các em trong suốt cuộc hành trình. Nhưng than ôi công tác đầy nhân đạo này, đã bị bàn tay bí mật nào đó phá vỡ ngay. Bởi vậy máy bay vừa mới cất cánh, thì đã rớt xuống ngay tại đầu phi đạo tan tành. Rốt cục chỉ còn sống sót 175 người. Tới nay sự việc trên vẫn chưa được soi sáng , nên đâu biết ai là thủ phạm đã gây nên tai nạn thương tâm cho các em bé mồ côi khốn khổ trên.

    Tại Subic Bay-Phi Luật Tân, ngày 17-4-1975, lực lượng đặc nhiệm 76 của Hải quân Hoa Kỳ vừa mới cặp bến để tu bổ và sửa chữa tàu bè, sau một thời gian dài đã tham dự cuộc hành quân Eagle tại Ấn Ðộ Dương, thì lại nhận được lệnh rời bến, tới chờ lệnh tại biển Ðông ngoài hải phận Nam VN.

    Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tình hình chiến sự tại miền Nam vô cùng sôi động. Khắp nơi, những đơn vị còn lại của QLVNCH gồm Sư đoàn Dù, Sư đoàn TQLC, các Liên Ðoàn BÐQ , Pháo Binh, Lực Lượng III Xung Kích, Sư đoàn 18, 5, 25, 22, các Sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị QG.Ðà Lạt, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Ðức, Học Viện Sĩ quan Cảnh sát, khóa sinh HSQ-Binh sĩ quân dịch các Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp, Quang Trung, Lực lượng Ðịa Phương Quâm-Nghĩa Quân, Cảnh sát Dã chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn cả Nhân Dân Tự vệ.. phối họp với Không quân, Hải quân và Quân đoàn IV, gần như tử chiến với mấy trăm ngàn cán binh-bộ đội cọng sản Bắc Việt, từng giây phút, suốt đêm ngày.. trong nổi đoạn trường máu lệ. Tất cả đã lấy xương thịt và thân xác, thay súng đạn ngăn chận xe tăng, đại pháo và biển giặc, vì người Mỹ đã cúp hết quân viện từ ngày 25-4-1975.

    Ðêm 28-4-1975, Nguyễn Thành Trung hay Ðinh Thành Trung, con rớt của một cán bộ tập kết ở Bến Tre, nằm vùng trong không quân VNCH. Thi hành theo lệnh của Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng quân đội VC, lái A37 giội bom phi trường Tân Sơn Nhất. Theo Lê văn Trí, tư lệnh KQ cọng sản miền bắc, thì VC đã dùng các máy bay của QLVNCH đã bỏ lại tại các phi trường Ðà Nẳng, Phù Cát để oanh tạc Sài Gòn. Sáng 28-4-1975, sáu chiếc A37 được chuyển vào sân bay Thanh Sơn (Phan Rang), do Trung làm phi đội trưởng, hợp với các phi công Băc Việt gồm Từ Ðể, Nguyễn văn Lục, Hoàng Mai Vượng, Hàn Văn Quảng và một tên phi công phản tặc khác của VNCH là Trần văn On. Vì các máy bay trên không mở đèn, hơn nửa lực lượng phòng vệ ở dưới đất tưởng là bạn, nên chúng mới toàn mạng. Vụ oanh tạc trên đả làm hư hại 3 chiếc Hỏa Long AC119, vài chiếc C47 nhưng quan trọng nhất là đã tạo tình trạng hỗn loạn tại phi trường, đang có nhiều người đợi máy bay di tản. Ngoài ra còn có nhiều đoạn phi đạo bị bom và đạn pháo kích làm hư hỏng, không còn sử dụng được. Trước tình trạng hỗn loạn này, tướng Smith ra lệnh giới nghiêm Dao 24/24, trong khi đó tại tòa đại sứ, Matin vẫn bất động.

    Sau này qua các tài liệu báo chí, đọc được nhiều chuyện vui cười ra nước mắt, liên quan tới sự người Mỹ tiếp tục quân viện cho VNCH, theo tinh thần hiệp định Ba Lê 1973 và những lời hứa của Nixon, từ các tho riêng viết tay. Thật sự để có lý do hạ cánh những vận tải cơ khổng lồ C5, người Mỹ giả bộ chở tới một vài khẩu súng đại bác 105 ly thời Thế chiến 1, ít trăm bộ nón sắt cháo lòng không giống ai. Tàn nhẫn nhất trong số những thứ rác phế thải này, có nhiều thùng băng cá nhân đã xử dụng. Biết Hoa Kỳ đã tận tuyệt rồi nhưng chính phủ VNCH vẫn giả đò tương kế tựu kế, họp báo đăng tin, để phần nào giữ lại chút niềm tin cho người lính đang xả thân nơi chiến trường, trong giờ thứ 25 đối mặt với thù trong giặc ngoài. Riêng Mỹ thì mục đích đến là để chuyển tải tất cả hồ sơ mật và những vật dụng máy móc điện tử quý giá về nước

    Lạ lùng nhất là lúc 3 giờ sáng ngày 29-4-1975, tại Dao có 3 chiếc vận tải cơ C130, thường trực chuyển người ra chiến hạm. Nhưng không biết vì lẽ gì, lại chở từ biển vào Sài Gòn, ba quả bom con heo tiểu nguyên tử (Blue 82 Daisy Cutter), loại bom 15.000 Lbs, mà QLVNCH đã sử dụng tại mặt trận Xuân Lộc-Long Khánh vừa qua. Khôi hài hơn là trong lúc các chuyên viên Mỹ-Việt đang hì hục tháo gỡ đem bom vào kho, thì một phi công Hoa Kỳ lại bạch thoại trên vô tuyến, khiến cho CS Bắc Việt bắt được tần số và nã ngay hỏa tiễn 122 ly vào phi trường, làm cháy một vận tải cơ C130 đang bốc người. Thế là Dao chấm dứt kế hoạch di tản bằng máy bay lớn ra hạm, vì phi trường đã bất khiển dụng.

    Trong lúc những lãnh đạo chính trị của Miền Nam đang trầm kha trong ảo vọng thương thuyết hòa hợp để kết thúc cuộc chiến, thì đúng nửa đêm 29-4-1975 cũng là giờ mà cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, chọn là giờ ‘ G’ ngày ‘ N’ tổng tấn công dứt điểm VNCH. Sài Gòn đã rối loạn vì hơn mấy chục sư đoàn cọng sản Bắc Việt đã áp sát thủ đô. Một số đại pháo được tập trung nã vào các khu vực đông dân cư trong nội thành. Phần khác là do đám quan quyền, ngày thường ngồi trên ăn đủ, cùng với bọn nhà giàu, me Mẽo.. tới tấp ra đi, khiến cho lòng người càng thêm tơi tả, không biết đâu mà mò. Tuy rằng trung ương không còn đại bàng nhưng khắp bốn hướng, quân lực VNCH vẫn chiến đấu dũng mãnh, gần như lấy máu xương của chính mình để ngăn cản bước tiến của giặc. Lữ đoàn 4 Nhảy Dù, Sư Ðoàn TQLC, Sư đoàn 18 BB, Lực lượng III Xung Kích, Liên đoàn 4 Biệt Ðộng Quân, Sư đoàn 22 BB, Giang Ðoàn 54 Tuần Thám, Lực Lượng Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân.. và đặc biệt là Chiến Ðoàn 3, thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, từ ngày 26-4-1975, đã được lệnh về bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.

    Nhưng giữa lúc người lính bộ đang lội trong biển máu thù, thì trên trời gần hết những phi công anh hùng của QLVNCH đã ngoảnh mặt phủi tay ra đi không trở lại, hoặc bay về đất Thái hay hướng thẳng biển đông. Khiến cho phi trường Tân Sơn Nhất thêm hiu quạnh thảm thê với xác người nằm bất động, lẫn lộn với quân trang quân dụng , cơ phận máy bay, vũ khí và những lính quèn hèn mọn, giờ phút cuối vẫn ở lại tử thủ với phi trường.

    Nhưng không phải ai cũng tham sống sợ chết, chỉ muốn hưởng vinh hoa phú quý mà người Mỹ hứa hẹn. Vẫn còn vài chiếc Hoả Long AC119 K, cùng với hai khu trục A1 Skyraider, đã không ngừng lên xuống, nã đạn pháo, thả hỏa châu, soi sáng giúp quân bạn đang chiến đấu dưới đất. Kiên cường nhất là Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành, xuất thân từ Thiếu Sinh Quân. Ông đã lái AC119 bắn phá những vị trí pháo của VC quanh phi trường, nhờ vậy nhiều người trong số này có tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu tư lệnh KQ, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH.. mới bay được trực thăng riêng từ tư gia ở Tân Sơn Nhất, ra chiến hạm đi Mỹ. Thương thay người hiền không bao giờ sống lâu, nên Trung Uý Thành đã gãy cánh vào lúc 6 giờ 46 phút, sáng ngày 29-4-1975, khi chíếc hỏa long của ông bị một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt cánh máy bay và bốc cháy trên bầu trời.

    9 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, Sài Gòn đã hỗn loạn khắp nơi. Do trên tướng Smith yêu cầu đại sứ Martin cho thi hành giải pháp ‘ 4’ trong chiến dịch di tản, nhưng đã bị từ chối. Nguyên do vì đại sứ Mỹ lúc đó vẫn còn ngây thơ tin rằng tổng thống VNCH Dương văn Minh, có khả năng hoà hợp, hòa giải với VC để vãn hồi hòa bình cho VN. Cùng ngày, từ thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Kissinger đã gọi điện khẩn cấp sang Sài Gòn, ra lệnh cho đại sứ Martin phải di tản gấp. Từ đó, Martin mới cho lệnh đốn cây đa cổ thụ trước sân toà đại sứ vào lúc 11 giờ 01 phút, để làm bãi đáp cho trực thăng. Ðây cũng là thời gian, Martin gơi ý nhờ TT. Dương văn Minh giả bộ đuổi Mỹ trên đài phát thanh Sài Gòn. Có như vậy siêu cường Hoa Kỳ mới chạy khỏi VN trong danh dự, đồng thời giúp TT Minh có chính nghĩa.

    Nhờ bài bản xuất sắc, diễn viên ăn khớp, Martin đã cứu nước Mỹ phần nào bớt mất mặt trước đồng minh thuộc phe thế giới tự do, cũng như đàn em kẻ thù Liên Xô-Trung Cộng. Nhưng đồng thời Martin chính là người đã phá hỏng kế hoạch di tản, vì lúc chịu thi hành thì trời đã tối, nên các tài xế xe bus đều nghĩ việc, khiến cho nhiều người có tên trong danh sách di tản không được đón. Ðể cứu vãn tình thế nguy cấp tồi tệ trên, tướng Smith đã cho các loại trực thăng nhỏ của hãng Air American đi bốc người thế xe bus.. nhưng đã quá trễ.

    Ba mươi lăm năm về trước, người Sài Gòn làm sao quên được cảnh tượng hai ngày 29 và 30-4-1975, nếu có dịp đi ngang qua tòa đại sứ Hoa kỳ, kế toà đại sứ Pháp và nhà thờ Tin Lành, nằm trong chu vi các đường Hồng Thập Tự, Hai Bà Trưng và đại lộ Thống Nhất. Có thể gọi được là một biển người, đã tụ tập trước hai cánh cổng sắt vô tri của tòa đại sứ. Lúc đó hầu như người nào cũng giơ hai tay lên cao, trong đó ngoài các giấy tờ còn có những nắm đô la dầy cộm, với những tiếng gào thét, van nài nghe thật là bi thiết não nuột, trước những cặp mắt gần như lạc thần lạnh lẽo của lính thủy quân lục chiến Mỹ. Ai cũng lăm lăm tay súng có gắn lưỡi lê, làm như đã sẵn sàng phanh thây bầm xác bất cứ ai, muốn xé rào vượt cổng.

    Cùng lúc quang cảnh phía bên trong khuông viên của tòa đại sứ cũng đâu có khác gì bên ngoài. Sóng người đang đùn ép, xô lấn, cấu xé với nhau để tới cho được chân tường, dẫn vào cầu thang lên sân thượng, nơi đoàn trực thăng dùng làm bãi đáp lên xuống, để bốc người ra chiến hạm. Màn đêm lúc đó như được Thượng Ðế ban thêm ân huệ, nên cứ kéo dài hơn, để cho những kẻ chờ đợi nuôi chút hy vọng mỏng manh trong cơn tuyệt vọng. Tóm lại đến giờ phút hỗn loạn đó, thì không ai còn cần chú ý làm gì tới danh sách nửa. Bốc người tại chỗ, có nghĩa là ai mạnh chen được tới trước thì đi, khiến cho hằng vạn người từng giúp Mỹ rất đắc lực như thơ ký, thông dịch viên, nhân viên tình báo, cảnh sát chìm.. cứ ngóng cổ chờ di tản, rốt cục sáng ra mới biết Mỹ đã đi hết rồi.

    Ðể thi hành chiến dịch di tản bằng trực thăng, tướng tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là Carey từ chiến hạm bay vào tòa đại sứ lúc 13 giờ 15 ‘ chiều 29-4-1975 và hạ cánh tại Dao. Cùng lúc có một Toán Không Lưu do thiếu tá KQ Dave Cox chỉ huy. Họ dọn dẹp sân thượng và chỉ dẫn đoàn trực thăng từ biển vào bốc người. Trong lúc đó súng cối và đại bác của VC quanh Sài Gòn nổ tới tắp.

    15 giờ 06 phút chiều 29-4-1975, một đoàn 12 chiếc trực thăng Mỹ, chở TQLC do trung tá J.L Bowltan chỉ huy, thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm 76 tới bố trí quanh Dao để giữ an ninh. Ðoàn trực thăng lên xuống bốc người không ngớt, mỗi chiếc chở một lần từ 50-60 người.

    Nhưng cuộc di tản đã gặp trở ngại vì bãi đáp trực thăng trúng đạn pháo kích của VC bốc cháy. Trong lúc sự liên lạc giữa toán không lưu và các phi công cũng bi trục trặc vì máy truyền tin bị hỏng, còn trung tâm tiếp vận đài tại Sài Gòn hoàn toàn tê liệt.

    Những giờ phút cuối, để giải quyết số người còn ứ đọng, Mỹ phải dùng các loại trực thăng lớn CH6 và H53 đáp ngay tại bãi đậu xe trước tòa đại sứ. Song song với trực thăng Mỹ, trực thăng của KQ.VNCH cũng bốc người ra đi từng đoàn. Thành phố đã bị cúp điện hoàn toàn từ 6 giờ 30 tốì 29-4-1975. Khắp nơi trời đất tối thui, dân đen thì run rẩy núp kín trong nhà để giữ mạng, phần lính tráng còn lại, từ quan tới thuộc cấp, ai củng cố chóng con mắt chờ sáng trong các giao thông hào, đợi phép lạ mà tổng thống Dương văn Minh đã hứa là sẽ tới vào sáng ngày 30-4-1975.

    Sài Gòn đã chết từ đó, chỉ còn có tiếng quạt của các loại trực thăng gầm thét đinh tai điếc óc, nơi khoảng không gian mà Mỹ còn làm chủ, nhờ sự bảo vệ của QLVNCH trong giờ thứ 25 dưới đất. Ðây cũng là những lời thóa mạ cuối cùng của người Mỹ trước khi về nước, để lại nghìn đời trên xác chết chưa chôn của miền nam VN trong thế kỷ XX.

    Cũng lúc đó, nơi các nẻo đường vắng ngắt dẫn về thương cảng, bến tàu Sài Gòn, từng chặp từng chặp lai xao động bởi tiếng máy nổ ròn của đủ loại xe dân, lính.. xen lẫn đâu đó là các tràng súng ngắn. Lúc này bọn sĩ quan đào ngủ, bọn nhà giàu bất lương, bọn văn nghệ sĩ cà chớn một thời phá nát miền Nam.. cũng ôm đầu chạy trối chết, tới các bến tàu, để tìm đường vượt thoát cọng sản, trên các chiến hạm Hải quân và Thương thuyền đang hối hả nhổ neo ra khơi. Súng nổ, đạn cối rơi, hỏa tiễn xuyên phá, tiếng trực thăng gào thét.. như những giọt nước mắt trước cơn mưa thống hận VN, ba mươi lăm năm qua cũng vẫn là những hình ảnh và âm thanh , mà người Sài Gòn đã cảm nhận trước vài giờ, khi toàn thể non sông Hồng Lạc bị đắm chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng, mà thực chất là chốn địa ngục có thật, do quỹ vương Hồ Chí Minh mang từ Nga Tàu về đày đọa đồng bào.

    Ðúng 9 giờ tối đêm 29-4-1975 cuộc di tản tại Dao kết thúc. Người Mỹ vội cho thiêu hủy toàn bộ những gì còn lại trong toà nhà này, mà một thời được coi như một tiểu bạch ốc ở phương đông. Chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh lúc 12 giờ đêm, bỏ lại đằng sau cảnh đời trong biển lửa.

    Riêng tại tòa đại sứ Mỹ, sự di tản đã gặp rất nhiều khó khăn vì đen không đủ soi sáng hiện trường, còn bãi đáp thì quá nhỏ không thích hợp cho các loại trực thăng lớn, Tuy nhiên việc bốc người vẫn được tiếp tục, từ 11 giờ đêm 29-4-1975 cho tới 3 giờ sáng ngày 30-4-1975. Sự liên lạc bằng vô tuyến giữa Sài Gòn và Hoa thịnh Ðốn cũng chấm dứt lúc 1 giờ 06 phút, khi trạm liên lạc vệ tinh tại Dao đã bị phá hủy. Ðể nối liên lạc giữa Mỹ và toà đại sứ, Không quân Hoa Kỳ phải thiết lập một trạm liên viễn thông vệ tinh trên chiếc C130, nhưng vẫn không mấy hiệu quả.

    3 giờ sáng ngày 30-4-1975, bộ ngoại giao Mỹ ra lệnh cho tòa đại sứ Sài Gòn chấm dứt di tản nhưng Martin không chịu thi hành, vì lúc đó tại chỗ vẫn còn hơn 12.000 người, chờ bốc ra chiến hạm. Tới 4 giờ 56’ sàng, chính Tổng Thống Ford ra lệnh bằng điện thoại, bắt buộc ông đại sứ phải rời VN. Do không còn cách nào lựa chọn, Martin đành phải bỏ lại 420 người đang đợi, trong số người này có cả nhân viên của Toà Đại Sứ Nam Hàn. Martin ra đi đơn độc với con chó nhỏ tên Nitnoy, trên chiếc trực thăng CH46, do Ðại Úy Thủy Quân Lục Chiến G. Berry lái.

    Tù phút đó, chỉ còn lại toán lính TQLC Mỹ giữ an ninh Tòa Đại Sứ. Họ rút hết vào bên trong tòa nhà, đóng cửa sắt và lên trên sân thượng đợi. Ðúng 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trực thăng ngoài biển bay vào đón họ, chấm dứt sự hiện hữu lần thứ ba của người Mỹ trên nước VN, tính tròn 21 năm, từ lúc Tướng Edward Landale của CIA đặt chân tới Sài Gòn. Tình đồng minh, đồng hướng và chiến hữu giữa VNCH cùng Hoa Kỳ cũng chấm dứt từ đó.

    Theo tài liệu được Mỹ công bố, thì Tòa Đại Sứ và DAO ngày 29 rạng 30-4-1975 chỉ di tản được 7014 người, phần lớn không có tên trong danh sách được lập lúc ban đầu. Ðể hoàn thành công tác trên, người Mỹ đã sử dung trực thăng của Sư Đoàn 7 Không Quân và Hạm Ðội 7 tại Thái Bình Dương. Suốt thời gian chiến dịch, chỉ có một A6 bị mất tích, một trực thăng AH1J. Cobra rớt xuống biển và 2 lính TQLC Mỹ bị tử thương khi VC pháo kích vào DAO tại phi trường Tân Sơn Nhất.

    Tuy người Mỹ đã chính thức rời Sài Gòn vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975 nhưng trọn ngày đó cho tới hôm sau 1-5-1975, nhiều trực thăng của Không Quân VNCH khắp nơi bay tới Hàng Không Mẫu Hạm Midway, đang bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu để xin đáp. Vì có quá nhiều người, nên Mỹ đã phải xô nhiều trực thăng xuống biển để làm bãi đáp cho các trực thăng tị nạn. Dù việc làm trên có thiệt hại hằng triệu Mỹ Kim nhưng cũng đã cứu vớt đươc nhiều chiến binh trong giờ phút cuối cùng, không còn một lựa chọn nào khác hơn, trong khi nước đã mất.

    Ba mươi lăm năm qua rồi, ngày nay chắc gì còn ai nhớ tới chuyện cũ, kể cả những đắng cay đoạn trường mà tất cả quân cán chính VNCH và đồng bào miền Nam hứng lãnh trong địa ngục Cộng Sản có thật trên quê hương mình.


    Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 4-2010
    Mường Giang
  4. XIN KHÓC GIÙM CHO QUÊ HƯƠNG



    xin khóc giùm cho quê hương yêu dấu
    bao chục năm vẫn tang tóc, nhục hèn
    dân đói lả vì cơm gạo bon chen
    đảng béo phệ trên ngai vàng ngập xác

    tháng Tư đen, nước non sầu tan nát
    tháng Tư buồn, máu lệ ngập trời cao
    ta ở đây mà hồn vướng nơi nào?
    khi đối diện với chia ly não nuột

    sông núi vẫn còn, quê hương đã mất
    sống lang thang lê lết khắp chợ người
    hồn nào khác, chiếc lá úa sắp rơi
    giữa cay đắng một đời không trọn vẹn

    kể sao hết, hận thù cùng đau đớn
    thương ngàn muôn, mẹ hiu hắt đợi chờ
    con cứ hẹn, rồi ngoảnh mặt làm ngơ
    mẹ mòn mỏi, nay thành người thiên cổ

    buồn đã khắc trên từng con phố nhỏ
    đường đổi tên, nhà cũng vắng người thương
    bạn bè xưa giờ lạc khắp mười phương
    trường lớp cũ, cũng dãi dầu hoang phế

    quên sao được tháng Tư đen máu lệ
    người hại người bằng độc lập hòa bình
    người giết người với súng đạn đồng minh
    mồ vô chủ, biển xác người trôi giạt

    tháng Tư đen, quê hương mình tan nát
    triệu mẹ già, khóc biệt đám con thơ
    tuổi hoa niên, căng nhựa sống đợi chờ
    đã héo úa vì thân trai thời loạn

    tháng Tư đen, triệu người sôi lửa hận
    kỷ niệm buồn như thác lũ réo mời
    ta đứng khóc nhìn biển rộng mù khơi
    tìm nhân ảnh trên tình người sắp cạn

    giờ đây đời đổi người thay giống
    quên hết trầm luân môt kiếp người
    bán hết linh hồn cho Việt Cộng
    nối vòng tay khỉ với đười ươi
  5. CHAO ƠI NHỤC HẬN CHẮC QUÊN RỒI



    giờ đủ quá rồi nên rửng mở
    chao ơi nhục hận chắc quên rồi
    những ngày chạy chết trên tàu Mỹ
    những lúc đói meo nát tả tơi

    bảy nhăm giặc Cộng lên ngôi chúa
    tất cả im re đợi chết mòn
    trong xóm trình thưa mụ gánh cá
    trong tù xanh mặt trước thoi, côn

    trong chùa thầy tịnh theo cây kiểng
    cha cũng hiền khô đứng lại ngồi
    chỉ chíp miệng than cùng thế sự
    đâu ngờ Việt Cộng bạc hơn vôi

    trong chợ bán văn buôn chữ nghĩa
    vắng hoe ruồi bọ thưở làm trùm
    đâu rồi ký giả ăn xin dõm
    chuyên bới quen đào để mánh mung

    trong trường nắng rọi trên bàn ghế
    trai gái học sinh bỏ học rồi
    kẻ đi nghĩa vụ, người thủy lợi
    xanh xao cơm áo lệ tuôn rơi

    trong phố Ba Tàu ôm mặt khóc
    chết trân đứng ngó giặc vơ, thâu
    cửa hàng, vàng đô tiền hút máu
    của đám dân đen, mới phát giàu

    trong lều nước mắm thùng trơ rổng
    Ðức Thắng, Bình Hưng vắng bóng thuyền
    Cồn Cỏ, Cồn Chà dân xóm biển
    gạo dầu, hợp tác đói như điên

    trong nhà buồn bã ngày tao ngộ
    độc lập chồng con vắng bóng người
    kẻ chết banh thây nơi chiến địa
    người tù buồn tủi chốn xa xôi

    trong bến tìm đường đi vượt biển
    bảo giông, hải tặc hận miên trường
    triệu người bỏ mạng làm mồi cá
    bao kẻ còn chờ tận viễn phương

    bức tranh mây chó đời dân Việt
    lẩn quẩn mênh mông trắng đất trời
    thương lính Miền Nam thành phản quốc
    rợ Hồ bán nước lại lên ngôi

    giờ đây sung sướng người quên hết
    kiếp chó hoang rong khắp nẻo đường
    hiệu trưởng, cô thầy thành mất dạy
    quan quyền gánh muối xót xa thương
  6. NHỮNG NGÀY ÐẦU NĂM TẠI CHÂU Á

    MƯỜNG GIANG



    Từ khi con người rời cuộc sống đơn độc nơi ven rừng góc núi để sống chung, lập nên thôn ấp làng mạc, khai sinh chế độ phong kiến, thì họ đã biết hưởng thụ những niềm vui do thiên nhiên mang đến. Từ đó, những hội hè đình đám được manh nha. Trai gái trước cảnh xuân về trăm hoa đua nở, nắng ấm trời trong, xua đuổi sự lạnh lẽo giá băng của buổi đông tàn. Cảnh đẹp gợi tình, người người với quần áo đẹp đẽ cùng nhau ca hát nhảy múa, vui hưởng tuổi trẻ đang độ căng tròn nhựa sống trong buổi xuân sang.

    Và chẳng biết từ lúc nào, do ai đã khai sinh ra lễ hội ngày xuân ? Ðiều kỳ lạ là dù ở chân trời góc bể, núi cao hay hải đảo, mọi người vẫn cùng có chung một ý niệm về tết: Tống cựu, nghênh tân, quên hết những gì của năm cũ, mở rộng lọng tim để chào đón năm mới với niềm hy vọng tràn trề của tương lai.

    Tết hay tiết là từ ngữ của người Việt và Tàu dùng để chỉ những ngày hội lớn và quan nhất trong năm, còn ngày đầu năm mới thì gọi là Nguyên Ðán. Theo các di tích tìm được ở Bắc Việt và bắc Trung phần, thì nước ta trước khi bị Tàu đô hộ hơn 10 thế kỷ, đã ăn tết vào mùa thu, vì những hình ảnh khắc trên trống đồng, chum vại.. đều vẽ bông lau, thứ hoa chỉ nở vào mùa thu mà thôi.

    Tại Châu Á hầu hết các dân tộc đều ăn tết theo Âm Lịch, dù có theo một tôn giáo nào, trừ đảo quốc Phi Luật Tân bị Tây Ban Nha đồng hóa, còn Thái Lan thì vọng ngoại. Miền Tiểu Á Tế Á gồm các quốc gia theo Hồi Giáo như Iraq, Kuwait, Jordan, Syrie, Arab Saudi.. dùng âm lịch và lịch của họ ngắn hơn lịch Tây phương mỗi năm 11 ngày. Do đó tết Nguyên Ðán của họ trong chu kỳ 33 năm, có thể đến bất kỳ mùa nào trong năm Dương Lịch. Các nước cận đông như Triều Tiên, Mông Cổ, Việt Nam, Trung Hoa.. có ngày Nguyên Ðán thông thường giữa 20/1 đến 25/2 Dương Lịch.

    Nga Sô là quốc gia có lãnh thổ chạy dài từ Âu sang Á, trước thế kỷ XV chọn ngày 1 tháng 3 làm tết Dương Lịch. Sau khi theo Chính Thống giáo lấy ngày 1 tháng 1 làm ngày Nguyên Ðán. Ấn Ðộ đất rộng người đông với nhiều sắc tộc cộng sinh, nên ngày Nguyên Ðán cũng phức tạp: Bắc Ấn chọn tháng 2 Dương Lịch còn Trung và Nam Ấn lấy tháng 3 làm ngày Nguyên Ðán.

    Các dân tộc Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan (cổ), Lào và Kampuchia theo Phật giáo tiểu thừa, nên chọn tháng 4 dương lịch làm tết Nguyên Ðán. Người thiểu số trên đảo Bali thuộc Nam Dương vì lịch chỉ có 210 ngày nên tết có thể đến bất kỳ trong năm. Các nước Ðông Nam Á theo tam giáo (Phật, Lão, Nho) ăn tết theo Tàu.

    + TẾT NHẬT:

    Tháng Chạp là thời gian bận rộn nhất trong năm của họ vì phải vất vã làm lụng suốt năm. Nhà nào cũng lo sắm sữa quần áo mới, thực phẩm và những gì có liên quan tới ngày tết. Ðây là dịp để các cửa hàng tại thủ đô Ðông Kinh cũng như các thành phố lớn trong nước, tha hồ hốt bạc vì ai cũng ùa nhau đi chợ.

    Hiện người Nhật ăn tết theo dương lịch nên ngày mùng một tháng Giêng là ngày Nguyên Ðán của họ. Cả nước đều ăn mặc theo lối cổ truyền, tụ tập về các đình chùa để cúng kiến và tham dự các lễ hội. Trong ngày đầu năm, mọi người có tập tục thăm viếng và chúc tụng lẫn nhau, đặc biệt người Nhật không đót pháo trong ngày tết.

    Trong khi đó tại nông thôn, người Nhật ăn tết theo Âm Lịch với các phong tục đã có tự ngàn xưa như chơi cờ, ăn bánh Zoni làm bằng bột nếp trộn đường. Tết chỉ diễn ra trong nữa ngày mùng một nhưng rất vui vẽ, nhà nào cũng treo trước cửa một cành thông.

    + TẾT TÀU:

    Như VN, người Trung Hoa vui xuân đón tết không ngoài hai mục đích ‘tống cựu và nghênh tân‘, trong đó có lễ đưa Táo Quân về trời ngày 23 tháng Chạp, rước tổ tiên ông bà về vui tết với con cháu trong ba ngày tết, phong tĩnh, tảo địa, phong môn, mừng tuổi, khai tài môn, cúng gia tiên.. Tết Nguyên Ðán là ngày quan trọng nhất trong năm, vì theo dịch học tháng Giêng là Ðịa Thiên Thái và ngày tết là Tam Dương Khai Thái. Chính trong thời gian này trời đất mở ra sự thịnh vượng, cây cỏ sinh sôi nẩy nở, vạn vât quân bình, biểu hiện sự hòa sinh giữa muôn loài. Do đó các tín đồ Phật Giáo đã cữ thịt trong ngày mùng một tết, để tỏ lòng tôn kính đối với Phật vì ngày này vía Phật Di Lạc, vị Phật cứu đời độ thế trong cõi ta bà.

    - Ðài Loan: Ngày Nguyên Ðán dân Ðài Loan rất sợ bể đồ đạc trong nhà vì đó là điềm xúi quẩy bất lợi, mang đến sự nghèo đói đến trong năm. Ngoài ra ngày tết không được dùng màu trắng, các loại dao nhọn, đường trắng dùng để biến chế các chất ngọt cũng phải nhuộm màu trước khi sử dụng.

    - Quảng Ðông: Từ giao thừa trẻ con thường rủ nhau thành đoàn đi chúc tết các gia đình để nhận tiền lì xì “cung hỷ phát tài lợi thị dậu lai“ cũng là lời chúc tết của mọi người trong 3 ngày tết. Buổi chiều cuối năm sau khi cúng tế và ăn uống xong, cả nhà kéo nhau đi lễ chùa, xem chợ hoa suốt đêm tới sáng mới về nhà. Sau đó tổ chức cờ bạc nhỏ trong gia đình như chơi mà chược, thiên cửu, bầu cua cá cọp. Trong 3 ngày tết rất kiêng cử quét dọn dù nhà cửa rác rến có đầy nghẹt vì sợ tài lộc sẽ theo rác đi mất.

    - Ninh Ba: Ngày mùng một tết dân chúng dùng thịt heo rượu để tế thần thánh, gọi là lễ tiếp xuân và đốt pháo tre. Tục đốt 3 cây pháo tre để khai môn vẫn được dân chúng duy trì tới nay. Trong 3 ngày tết kiêng cử không nói năng bậy bạ, tránh không làm bể đồ vì sợ xui cả năm.

    - Triều Châu: Từ 25 tới 29 tháng Chạp mọi người lo dọn dẹp nhà cửa để ăn tết. Ðàn ông phải cắt tóc ngắn, đàn bà thì se lông mặt. Ðêm 30 tết cả nhà ăn chung bữa cơm đoàn tụ cuối năm. Trước giao thừa, người lớn phát tiền lì xì cho trẻ con, dán xuân liễn (câu đối chúc tết) trước cửa nhà. Bếp núc được nhun nhén suốt đêm. Phong giếng sau khi lấy đầy đủ nước dùng. Ðêm giao thừa mọi nhà đều đốt pháo. Ngày mùng một tết người Triều Châu chỉ dành cho gia đình.

    - Phúc Kiến: Ðêm 30 tết người Phúc Kiến đóng cửa không tiếp khách. Nhà nào cũng đốt trước cửa một ngọn đèn lồng gọi là ‘điểm môn thủ đăng‘ để cám ơn khách không quấy rầy gia chủ đêm qua. Sáng mùng một khi nghe tiếng pháo nổ chào tết mới khai môn. Hàng ngày cả nhà dùng các món ăn dọn cúng, để ăn sáng gọi là ăn cơm qua năm với ước vọng năm nào cũng có cơm để ăn.

    + TẾT CAO LY (TRIỀU TIÊN):

    Căn cứ theo sử liệu cho biết dân Cao Ly đã ăn cái tết đầu tiên, vào ngày mùng một tết năm 651 sau tây Lịch (thế kỷ VII). Phong tục này vẫn được duy trì tới ngày nay. Ðến thế kỷ XIX Cao Ly chọn tết Nguyên Ðán làm quốc lễ để dân chúng cả nước vui chơi thỏa thích. Tết kéo dài từ 15 tới 20 ngày với nhiều cuộc vui được tổ chức trước và sau tết. Bắt đầu từ năm 1895, tết chỉ còn thu lại có 4 ngày từ ba mươi tháng Chạp tới mùng ba năm mới.

    Như Tàu và VN, người Cao Ly rất coi trọng các phong tục tập quán tới quốc gia, dân tộc và xóm làng. Cúng tế tổ tiên, để tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của ông b2a cha mẹ, thờ cúng Phật Trời, viếng thăm mồ mã người quá cố trong gia đình, để thắt chặt tình gia tộc họ hàng. Trong 3 ngày tết mọi người giải trí bằng những trò chơi tao nhã như chơi cờ nhảy, đọc binh thư, viết câu đối treo trong nhà và tại các công tư sở.

    Nhiều gia đình giàu có ăn tết tới rằm tháng Giêng. Ho rất coi trọng ngày đầu năm, tổ chức ăn tết linh đình, mở chay đàn trong nhà rước các vị sư sãi thầy cúng đến làm lễ. Ðây là quan niệm chung của nước này, họ cho rằng ngày tết càng vui vẻ thì năm mới càng được sung túc, buôn bán thịnh vượng, làm ruộng trúng mùa. Ở nông thôn dân chúng còn mở hội ‘đốt lửa lùa chuột‘ ngày rằm tháng Giêng mở hội đón trăng mới trong năm.

    + TẾT MIẾN ÐIỆN:

    Người Miến Ðiện gọi tháng Giêng theo Phật lịch là Tagu nhằm vào tháng Tư Âm Lịch để ăn tết từ ngày 13 tháng 17/4. Mọi người trong nước kể cả các công tư sở đều được nghỉ. Nhưng ngày sắp tết, ngoài việc trang trí nhà cửa, may sắm quần áo mới, chuẩn bị thức ăn để cúng kiếng ông bà tiên tổ và vui tết. Người Miến còn chưa trong nhà rất nhiều nước để tạt vào khách trong ba ngày tết thay lời chúc vui. Với dân tộc này, họ quan niêm ‘nước‘ là một biểu tượng thiêng liêng thanh khiết từ vật chất tới tinh thần. Nước sẽ gột rữa hết những dơ bẫn của con người trong năm cũ, để đón mừng năm mới toàn vẹn.

    Người Miến gọi tục tạt nước ngày tết là ‘Thing Yan‘ đã có từ ngàn xưa và bắt đầu phổ biến trong dân gian từ thời vua Narasipate 1254-1287 (sau TL). Người Miến cũng thích dùng hoa để trang trí nhà cửa, dùng các loại hoa Padauk (gần giống Mimosa), Myeza và hoa Li (hay hoa Zyzyphae gần giống hoa thủy tiên.

    Những ngày tết, người lớn đi lễ chùa cúng Phật và thăm viếng lẫn nhau. Tại thủ đô và các thành phố lớn, nam nữ thanh niên đón tết rất vui vẽ. Ai cũng ăn mặc quần áo mới đẹp đẽ lòe loẹt và hợp thời trang, tổ chức xe hoa điều hành và có xe chở nước đi kèm với các vòi rồng phun nước. Khắp các ngỏ đường phố họ phun nước vào nhau, la hét ca hát, khiến cho không khí 4 ngày tết thật vui nhộn.

    + TẾT LÀO:

    Người Lào ăn tết gần giống người Miến. Họ gọi 3 ngày tết từ 13 tới 15/4 dương lịch là ngày hội ‘ đón mưa ‘ mà cả nước cầu đảo cho mưa thuận gió hòa để trúng mùa. Ngày hội cầu nước hay là Bunpimay gần giống như tục tạt nước vào nhau ở Miến Ðiện. Sắp tết người Lào trữ nhiều nước trong nhà, sau khi rữa ráy giặt giũ và tắm gội. Nước thay pháo trong đêm giao thừa để tống cựu nghênh tân.

    Ðầu năm mới người Lào vào chùa làm lễ tế nước cho các tượng Phật, kể cả các vị tăng ni, bô lão có địa vị trong làng xã rồi mới khai hội vui chung cho mọi người bằng cách dội nước lẫn nhau, thay lời chúc tụng mang sự vui vẽ hạnh phúc đến cho mọi người trong năm mới.

    Tại Vạn Tượng và các thành phố lớn khác có tục phóng sinh các súc vật như chim, rù, cá. Ðây là dịp để mọi người quây quần đoàn tụ, ăn uống, ca hát và tạo cơ hội thân thiện lẫn nhau.

    + TẾT THÁI LAN:

    Trước kia Thái ăn tết vào trung tuần tháng 4 Dương Lịch, theo phong tục Phật Giáo Tiểu Thừa như các nước Miến, Lào, Cao Mên.. gọi là tết Song Cam. Phong tục này hiện chỉ còn duy trì tại tỉnh Chieng Mai ở vùng đông bắc Thái Lan. Hiện Thái theo Tây phương, ăn tết vào ngày 1/1 Dương Lịch nhưng từ ngày 24/12 đã làm lễ đón giao thừa, tống cựu nghênh tân. Cũng bắt đầu từ đó tổ chức tiệc tùng, ăn chơi cho đến cuối ngày mùng một Dương Lịch là hết tết.

    + TẾT PHI LUẬT TÂN:

    Cũng ăn tết theo tây phương nhưng ngày hội lớn nhât trong năm gọi là Ati-Atihan được tổ chức vào hạ tuần tháng Giêng. Trong những những hội, dân chúng Phi cũng như khách du lịch ngoại quốc, đều nô nức kéo về thành phố Calibo trên đảo Ganay, để tham dự ngày hội cổ truyền

    Ati-Atihan bắt nguồn từ phong tục của dân thiểu số da đen trên đảo. Trong những ngày hội họ đổ xô về thành phố ăn mặc theo kiểu người Trung cổ, quần áo trận tay cầm khiên giáo mác có vẽ hình đầu lâu. Khách từ bốn phương cũng như dân địa phương trên đảo, đều ăn mặc đẹp đẽ lòe loẹt, tổ chức thành đoàn diễn hành với xe hoa quanh thành phố có giám khảo chấm điểm và phát phần thưởng.

    + TẾT BA TƯ VÀ A PHÚ HẢN:

    Vì đa số người Ba Tư và A Phú Hản có chung một hệ phái Hồi Giáo, nên với họ tết là thời gian hồi sinh của vạn vật. Tại Iran dù ăn tết theo dương lịch hay lịch Hồi Giáo, mọi người vẫn không quên phong tục lâu đời khi bày cổ bàn cúng hay đãi khách với 7 món gồm táo, lê, hoa dạ lý, nước chấm làm bằng lúa mì.. Trên bàn thờ bày các đồng tiền bạc hay vàng, một bể nuôi cá, một ngọn nến và tấm gương soi mặt. Tất cả mang ý nghĩa mong muốn năm mới được hạnh phúc no ấm hơn năm cũ, đồng thời nhắc nhở mọi người phải tự sửa mình để tốt hơn. Ðây là phong tục cổ, trước khi đạo Hồi du nhập vào nước này.

    Với người theo Hồi Giáo thì đặt thêm quyển kinh Coran trên bàn tiệc. Riêng người ngoại đạo thì dùng kẹo trái cây và hoa thay rượu vì Ba Tư theo Hồi Giáo cấm rượu. Trước giao thừa, cả nhà quây quần bên bàn tiệc với quần áo đẹp đẽ để mừng đón giây phút thiêng liêng của trời đất. Tết Ba Tư và A Phú Hãn kéo dài 5 ngày, mọi người đều nghĩ việc đặc biệt ai cũng cử số 13.

    + TẾT MIÊN:

    Còn được gọi là Chôl Chnămthmây, bảy ngày sau lễ Thanh Minh ta. Tết Miên gần giống tết Thái Lan với các lễ hội tôn nghiêm tại đình chùa, trong các buổi lễ trình diễn văn nghệ công cộng tại thủ đô Nam Vang, các thành phố lớn cũng như ở nông thôn. Suốt thời gian tết, người Miên mở tiệc tùng để vui chơi thù tạc, để bù lại sự cực nhọc suốt năm.

    Tại Nam Vang trong những ngày tết, có dựng sân khấu lộ thiên cạnh hoàng cung để trình diễn văn nghệ. Nơi các buôn, làng xa xôi cũng tổ chức hát hò, nhiều nơi mước các đoàn hát từ tỉnh thành về giúp vui. Hấp dẫn nhất trong những ngày tết Miên là cờ bạc được cho phép công khai. Do đó từ Nam Vang tới hang cùng ngõ hẹp khắp nước, đâu đâu cũng thấy các sòng cờ bạc với đủ các món từ sóc dĩa, bầu cua, cá ngựa (khlakhlốt), bông vụ (À Pôn), lô tô, bài cào.. diễn ra suốt ngày đêm trong một tuần lễ tết.

    Người Việt đến lập nghiệp tại Kampuchia từ thời Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên tới tháng 5-1975 có khoảng 200.000 người, đa số sống tại Nam Vang và các tỉnh Battambang, Kampongcham, Kampot, Svayrieng, Biển Hồ.. và các đồn điền cao su.

    Người Việt tại Miên tuỳ theo tôn giáo, họ vui hai lần tết Dương Lịch và Âm Lịch.. thời gian tết, các trường học có đông học sinh VN đều được nghĩ từ 23 tháng Chạp đưa ông Táo về trời, tới ngày mùng 5 tết mới đi học lại. Tại thủ đô Nam Vang, chính phủ Miên dành cho Việt và Hoa kiều hai ngôi chợ Lớn và Boong để tổ chức tết, được mở cửa suốt ngày đêm từ 28 tháng Chạp tới chiều 30 cuối năm. Chợ VN bày bán đủ các món hàng dùng cho ngày tết như bánh chưng, bánh tét, dưa hấu, các loại mứt, cốm và hầu hết những loại hoa quen thuộc trong ngày tết VN như Vạn Thọ, Trường Sanh, Mồng Gà, Huệ, Cúc..

    Riêng Mai là món chơi quốc hồn quốc tuý của người Việt không có bán tại hai ngôi chợ trên, nên đồng bào sống tại miên cứ gần tết lại rũ nhau về Kompong Speu cách Nam Vang chừng 40 km để chặt Mai. Họ cũng chung tiền làm heo, nấu bánh tát, đóng cốm để cúng và vui tết nơi xứ người.

    Ðêm giao thừa của người Việt trên đật Miên thật buồn, vì chỉ có người Việt tha phương mới ăn tết Việt. Cũng có pháo vào giờ khắc giao thừa để tống cựu nghênh tân. Tiếng pháo ly hương của người Việt được nối tiếp từ khu này tới khu khác kéo dài mấy tiếng đồng hồ mới dứt.

    Có sống tha phương mới thấm thía cuộc đời của kẻ mất quê hương, phải ăn nhờ ở đậu nơi quê người. Có làm thân lữ thứ mới ray rứt tận cùng trong những lúc xuân về, nhất là trước thềm năm mới. tình cờ nhìn những cánh hoa cúc đang nở rộ trong gió, hay bất chợt đâu đó vang vang những tiếng chim gọi đàn của bầy Hải Âu trở về chốn cũ, sau một mùa trốn đông lạnh lẽo. Tất cả đã làm khựng điếng cõi hồn cằn cỗi của người lính già nới quan tái, cứ mơ tưởng ngẩn ngơ một ngày về.

    “ xuân về trên đất khách
    ta ngồi đón mông lung
    hắt hiu đêm trừ tịch
    một mình uống rượu suông..
    soi gương chợt thấy lạ
    sau một đêm đợi chờ ..”



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Mùng mười tháng Chạp Kỷ Sữu
    MƯỜNG GIANG
  7. NHỮNG TÌNH KHÚC CHIẾN TRƯỜNG MỘT THỜI TUỔI LÍNH




    Cuộc chiến Việt Nam kéo dài gần ba mươi năm (1945-1975) nay xem như đã kết thúc nhưng đâu đó dường như vẫn còn những tiếng rên nghẹn ấm ức của những người lính già miền Nam thua trận còn sống sót sau một cuộc đổi đời. Tất cả như một màn kịch có nhân vật, thời gian và địa điểm, được đạo diễn cho mở màn và kết thúc sân khấu một cách tài tình. Có điều màn kịch được các diễn viên hay nói đúng hơn đó là những người lính trận mà hầu hết đang ở cái tuổi ‘xuân thì đầy mộng mơ hoa bướm‘ ghi lại qua những ‘Tình Khúc‘ được viết từ mặt trận đang còn nghi ngút khói, bên xác của bạn lẫn thù, đã làm cho những người xem sửng sốt tới rơi lệ vì không mấy ai tin là sự thật.

    băng đạn cuối chìm rơi khi qua sông
    người lính mệt nhoài nằm ngủ
    đầu dựa góc đa
    hàng bình vôi trắng răng cười cợt
    thép súng khô dầu bụi nước hoen
    có phải hòa bình vừa nở một bông hoa
    nở giữa tình yêu và tiếng hát ..

    (Thi Vũ tháng 1/1973 - Thơ Tình Của Người Lính)

    Họ là lính nên ai cũng viết rất chân thật về tâm trạng của mình qua sự lo âu, thương xót, phẩn nộ, bi ai và chán đời trong lúc đang đối mặt với tử thần từng phút từng giây vì tình hình bất ổn tại hậu phương và cảnh chiến tranh loạn lạc hầu như khắp bốn vùng chiến thuật mà người lính trận nào cũng phải đăt chân tới. Tất cả đã trở thành những sự kiện có tính chất lịch sử qua những tiếng khóc thực dù không dám khóc to trước mặt bạn bè đồng đội. Mà dù có khóc to thì cũng chẳng để làm gì vì ai biểu chúng ta sinh ra làm trai hùng nước Việt?

    em mắt nghìn thu xanh cỏ biếc
    ta lên rừng thắm ngủ chiêm bao
    vòng tay thần thánh xa biền biệt
    ta gặp nhau mà vẫn nhớ nhau

    em nhớ ta hay ta nhớ em?
    từng đêm lặn lội giữa bưng biền
    ta qua Hậu Nghĩa ngày mưa xám
    róc vỏ thân chàm ta viết tên

    năm tuổi chiến trường xuôi vạn lý
    núi sông biết mặt đứa phong trần
    yêu em ta bổng thành thi sĩ
    thơ lính hào hoa vỗ súng ngâm..

    (Chiêm Bao, Thiếu Khanh)

    Ðó là cái đỉnh cao của thơ văn do lính viết qua suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Cho dù nay phần lớn những tác giả đã không còn nhưng kỷ niệm ngày xưa vẫn cứ ngổn ngang trong tâm trí mọi người, một phần bởi tiếng thơ đầy nước mắt tuy rất cởi mở và ấm áp tình người. Ðó cũng là lý do xuân tết xưa nay luôn được thi nhân ưu ái trong thi ca nhưng với lính thì ngày nào cũng như mọi ngày, vất vã cơ cực tới cái mức không còn ai khổ hơn. Cho nên với họ lấy gì vui để mà xuân hay Tết như người lính Vũ Hoàng qua bài thơ ‘Mưa Xuân Ngoài Biên Khu‘ viết tặng Lâm Hảo Dũng:

    hãy uống cạn cho lòng vơi nổi nhớ
    rượu chất đầy nón sắt bình đông
    người lấy rượu đốt men xuân càng nồng
    ta say khướt để quên đời dưới đó

    dẫu là xuân hay hạ đông gì cũng thế
    bởi quanh năm ta với rượu: Đôi bạn già
    (tiển thằng bạn vừa mất ta nốc đầy cốc rượu
    mừng kẻ nhập đàn ta lại cụng ly )...

    (Vũ Hoàng)

    bó gối trong căn hầm tránh đạn
    chia nhau một cốc cà phê đen
    hít dăm ba điếu quân tiếp vụ
    ấy tết cô đơn của lính quèn

    rừng vẫn viễn miên buồn ủ rũ
    gục đầu tắm đạn pháo thương đau
    chim rừng cũng bỏ đàn về núi
    để mặc chinh nhân vạn cổ sầu ..

    (Xuân Chiến Địa - Phong Nhân Hoài)

    Thân phận và hiện hữu là hai mộng ước mà người lính trận nào cũng canh cánh bên lòng. Vì vậy nó đã chắp cánh thành thơ đậu trên đầu súng, đầy ắp trong chiếc ba lô và chan chứa khắp mặt đất. Nhờ vậy mà người lính mới phần nào phôi pha cái ranh giới tử sinh trước mắt. Nổi nhớ của người lính khác hẳn với những tình cảm thừa mứa nơi chốn hậu phương vì ở đây con người có nhiều thời gian để mà yêu hờn ghét giận như Thanh Tâm Tuyền đã viết ‘ôm em trong tay mà nhớ em những ngày sắp tới‘ hay cùng lắm thì ‘vắt mẫu thuốc cuối cùng xuống dòng sông mà lòng phơi trên kè đá‘. Ngược lại người lính Trần Văn Sơn thì tự mình kể chuyện trong một đêm kích ở Dốc Ðồn Ðền làm cho những người một thời trong cuộc, đọc tới thấy thật là gần gũi thân thương và hối tiếc vì nó đã không còn:

    Ðêm nằm nghe vượn hú
    ba lô, súng gối đầu
    mắt mở trừng không ngủ
    rừng tiếp rừng âm u

    gió lòn qua kẽ lá
    cuốn tròn trong ba lô
    rét rừng cơn mệt lã
    đồi tiếp đồi bao la


    hay:

    dẫu nước mắt mọi người có vỗ về hy vọng
    ta vẫn cười khan nhìn bạn bè say
    có phải không em dù mây vẫn cứ bay
    và mai mốt ta có nằm yên trong lòng đất
    em hãy giữ trong lòng những điều thành thật
    ta đã cho em và chưa vội mang theo
    giữa đời ta không phân biệt bạn thù
    chuyện sinh tử là chuyện từng giây phút

    (Khi Xa Bình Tuy)

    Phần lớn những bài thơ của lính là loại thơ ‘Tự Sự‘ được viết như những ‘tình khúc chiến trường‘ vì tự nó có đủ tầm vóc của môn thi ca chứa đựng các phần ngôn ngữ, nhạc điệu, cảm xúc và sự gợi cãm. Sự đồng điệu ngẫu hứng giữa thơ lính và những nhạc khúc được Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Dũng Chinh Nguyễn Văn Chính.. sáng tạo trước tháng 4-1975, phải chăng đó là tâm cảnh của đời lính, nên ai cũng đều có sự suy nghĩ giống nhau cho dù xa cách muôn trùng. Nhưng yếu tố tạo nên sự đồng cảm đó, trước hết cũng là do tình yêu quê hương của mọi người. Có yêu nước thương dân mọi người mới hy sinh đời mình để chấp nhận tử sinh thua thiệt. Chân thành trong câu chuyện kể đã làm rung cảm một cách sâu sắc tới người đọc, nhất là những em gái hậu phương, vì yêu lính bằng lời, nên đã cất giữ những hình bóng cũ, nhờ vậy mà nó đã trở thành bất tử tới ngày nay, cho dù anh có hiên ngang hay đã trở thành tàn phế:

    Rừng thưa dạt gió Hạ Lào
    đêm nằm phục kích nhìn sao, nhớ nhà
    tháng tư thương nụ hoa cà
    hồn quê gởi ngọn mây xa cuối trời

    (viết ở căn cứ Tiên Sa)

    Phất phơ áo lụa trên cầu
    nắng nghiêng cổ tháp ngã màu thời gian
    gió xao sóng nước mênh mang
    thương em, nhớ mẹ ngập tràn nhánh sông

    (Chiều Qua Sông)

    Ba mươi tuổi bóng tôi về hối hả
    đàn em nhìn như người lạ quây quanh
    chân khập khểnh đứng trên bờ đất lở
    tuổi ngày xuân theo lá rụng tan tành...

    (Trần Vạn Giả, Tình Cảnh Người Về)

    Bạch Cư Dị là một trong những nhà thơ cổ Trung Hoa được nổi tiếng khi ông viết ‘Tỳ Bà Hành‘ kể lại số phận hẩm hiu của người ca kỷ về chiều trên bến Tầm Dương. Trong xã hội Miền Nam VN thời chinh chiến, số phận của người lính cũng thương đau chất chứa hằng hằng, cho dù là người đã chết hay bị thương tật tàn phế như Phế Binh Trần Quang Thiếu đã ghi lại trong bài thơ ‘Buổi Nhớ Núi‘:

    mới hôm nào dừng chân ven núi
    bè có bè có đứa còn vui
    anh có anh, chúng ta đời lính
    còn lúc này tay nắm môi cười
    đêm nằm ngủ cay hơi khói đạn
    chân co tìm dấu mất chân xưa
    ta bỏ quên bên ngoài biên trận
    tặng cho rừng ướt lá thêm mưa
    Buổi đến rừng cây cao nhớ núi
    gió nhớ đời ta nhớ anh em
    giờ một chân, tật nguyền đau dại
    mưa móc người, ơn núi nghĩa sông


    Ðời ai mà không có bạn nhưng đậm đà thắm thiết hơn vẫn là tình lính sống chết có nhau, chính cái thâm giao huynh đệ chi binh đó, đã làm bén lửa trong hồn những con người mà ai cũng tưởng là chai đá nhưng thật sự có ai sướt mướt trữ tình bằng họ ?

    Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,
    Tao mày hiu hắt đón xuân chơi
    Một thằng lính Bộ đời như bỏ
    Một đứa Nhảy Dù cũng tả tơi..


    Bốn câu thơ của người lính Phong Nhân Hoài viết cho bạn năm nào, đã làm cho người lính gia tha hương càng thêm trơ trọi, lạc lõng giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chốn quê người.. Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi , sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nỡ. Tan tác, chia xa,giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương.

    Tội nghiệp đời trai chưa thỏa chí
    sa trường dung ruổi đã phơi thây
    đoàn quân hùng liệt nay về đất
    hồn vẫn quanh co giẩm lối gầy

    Chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
    mà khóc quê hương khuất bến bờ
    đêm hát vang lừng nơi chiến địa
    mộng hoàng hôn khép giữa hư vô ..


    Thời gian trôi đi tưởng có thể làm vơi phần nào nổi đau của thân phận nhưng ai có thể làm ngơ khi được đọc qua những lời thơ viết của Trần Dzạ Lữ, của Tô Thùy Yên, của Trần Ðức Uyển.. những người lính được sống sót sau chiến trận, đã gởi vào gió đất những tiếng thầm thì, cố níu lại thời gian để mình được sóng với đồng đội vừa gục ngã:

    giặc đánh lớn, mùa mưa đã tới
    mùa mưa như một trận mưa liền
    châu thổ mang mang trời sát nước
    hồn chừng hiu hắt nổi không tên
    tiếp tế khó, đôi lần phải lục
    trên người bạn gục đạn mười viên
    di tản khó, sâu giòi lúc nhúc
    trong vết thương người bạn nín rên
    người chết mấy ngày chưa lấy xác
    thây sình, mặt nát lạch mương tanh ...

    (Qua Sông)

    bốn năm thằng lơ láo
    áo quần rách tả tơi
    ăn cơm bên xác người
    tay bốc tay cầm súng
    lòng nhớ mẹ phương tây
    ý thương em chạy giặc
    xóm làng sầu khôn khuây
    ăn xong múc nước ruộng
    uống đại cho qua ngày
    quê nhà em có biết
    chinh chiến thân lưu đày
    ăn được là điều may
    có khi hai ba ngày
    không ăn chẳng có uống
    ta nằm với cỏ cây...

    (Trần Dzạ Lữ - Bữa Cơm Ngoài Chiến Trường)

    Tự hỏi về đâu, đâu chả được ?
    hãy tìm bên suối ngủ đêm nay
    gối đầu lên đá nhìn trăng sáng
    rừng núi sương mù ướt chẳng hay...

    (Trần Ðức Uyển - Buổi Chiều Ngồi Trên Đá)

    Cuộc chiến đã khuất dần trong quá khứ hơn một phần tư thế kỷ nhưng dư âm của nó vẫn còn phảng phất khắp nơi nơi, in đậm trên từng khuông mặt héo gầy của những chàng trai Việt một thời ngang dọc, đã bỏ lại chiến trường một phần cơ thể của mẹ ban cho. Nhưng xương máu của chúng ta tới nay cũng vẫn là những đóng góp cao quý trong công cuộc ngăn chống giặc thù bảo vệ quê hương Miền Nam suốt hai mươi năm chinh chiến.

    Trên non năm bảy thằng tuổi trẻ
    buổi chiều thu uống rượu không cười
    ôi người tuổi trẻ sầu trong mắt
    đêm trong rừng mộng gởi quê xa

    quê xa ta có em và mẹ
    nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
    nhớ người con gái bên hàng xóm
    chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa.

    (Vũ Hữu Ðinh viết cho Trần Dạ Lữ).

    Trên đường mênh mang đi tìm đồng đội cũ khắp miền yêu thương trong ký ức, qua hàng ngàn bài thơ được viết từ chiến trường lửa đạn, nơi chòi canh đồn vắng, trong giao thông hào hay nơi quán lẽ bên đường những lúc người lính tạm dừng chân. Ðời lính gian lao cực khổ nên đâu sá gì chuyện đổi thay của trời đất. Nhưng thật tình mà nói mỗi khi tới mùa mưa làm nhớ không chịu được, dù là mưa bụi lất phất từng hạt nhẹ hay những cơn mưa đầm đìa nước mắt rơi lộp độp trên nón sắt hay những tấm poncho. Bởi vì mỗi mùa mưa là những mùa kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò. Thời tao loạn, mấy đứa con trai tới tuổi lớn đã không còn được cắp sách đến trường, đã xa rồi một cuộc tình thương nhớ. Năm 1966, từ chiến trường Bùi Khiết đã viết gửi về em những niềm thương nhớ:

    Vào đêm em ngủ chưa em?
    Trong mơ có gặp ưu phiền nhiều không?
    Ðèn xanh thành phố xa trông
    Hoang vu anh đứng mà lòng chiêm bao
    Mưa rừng tiếng lá xôn xao
    Tay ôm súng lạnh buồn sao là buồn...

    (Thơ Bùi Khiết viết trong Ðêm Mưa Hành Quân 1966)

    Buồn quá đời lính thú đã kéo chúng ta ra khỏi cuộc gối chăn, tất cả những con đường ngắn dài của tuổi thơ đã trở thành những nẻo đường trong trí nhớ nên chỉ còn biết vui với rừng sâu mưa núi qua cuộc rượu những lúc dừng chân bên quốc lộ đêm nhớ ngày mong:

    rượu pha xá xị đầy nón sắt
    dăm thằng chuyền nhau uống vòng vòng
    đuổi bắt nhau như ngày với tháng
    như khoanh tròn tựa một số không

    (Lính Thú - 1973)

    Ðà Lạt mù sương với những đồi thông và muôn ngàn cỏ hoa nỏn nưởng khoe hương sắc, Ban Mê Thuộc, PleiKu, Kon Tum cát bụi mịt mù, những địa danh đến và đi của người lính biên trấn Quân Khu II một thời oanh liệt, những chiến sĩ Lôi Hổ, Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Sư Ðoàn 22 và 23 Bộ Binh một thời vẩy vùng ngang dọc, đã được người lính Vũ Hữu Ðịnh ghi lại qua nhiều tình khúc rất nồng nàn. Tiếc thay Anh đã qua đời quá sớm vào năm 1980 khi mới có 34 tuổi (1980-1946):

    phố núi cao phố núi đầy sương
    phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
    anh khách lạ đi lên đi xuống
    may mà có em đời còn dễ thương

    em Pleiku má đỏ môi hồng
    ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
    nên mắt em ướt và tóc em ướt
    da em mềm như mây chiều trông

    xin cám ơn thành phố có em
    xin cám ơn một mái tóc mềm
    mai xa lắc trên đường biên giới
    còn một chút gì để nhớ để quên...

    (Còn Một Chút Gì Để Nhớ)

    cũng có khi nào anh trở lại
    phố xưa đường cũ mùa mưa bay
    mưa như gió ướt nên lòng lạnh
    gió thổi sầu sương đậu tóc bay

    phố không đèn điện con đường lặng
    những ánh đèn cây sáng chập chờn
    anh gặp em ngồi đang rẽ tóc
    mái tóc dài xanh những ngón tay

    và anh yêu lấy sầu chẳng nói
    mình anh ở lại quán mù mù
    tưởng bao năm trước ta là bạn
    chỉ nhìn nhau mà cảm được nhau.

    (Cũng Có Khi Nào)

    Thật là cảm động biết bao những người lính sau cuộc chiến may mắn được sống sót, ngồi hồi tưởng lại những đêm say cùng bạn trong ‘Quán Cô Hồn‘ với bửa tiệc nơi quán xếp bằng xị rượu nồng, miếng khô nai cứng ngắc nhai trong miệng mà ta cứ tưởng như đang nhai cả cuộc đời lận đận đắng cay của kiếp lính, cho nên uống vào như ta uống cả niềm đau sầu cháy long đong. Buồn quá đổi lại càng buồn thêm khi chạnh nhìn cô quán trẻ vừa mới làm quả phụ khi cuộc tình chưa quá một mùa đông. Sau đó bạn ra đi và đã gãy cánh tại Kon Tum năm 1974, được Tiếp Sĩ Trường một phi công ở Phi Ðoàn 218 ghi lại qua bài thơ ‘Nửa Mảnh Phi Bào‘ khóc bạn cố Trung Uý Nguyễn Văn Phú:

    ... cởi mảnh phi bào anh để lại
    trao về quê mẹ một trời xuân
    mai đây nếu có ai thương tiếc
    xin đốt cho người một nén hương

    ngày xưa anh đứng bên song cửa
    nhìn áng mây trời ngó cánh bay
    giờ đây mây trắng anh xây mộng
    lại biến vành tang buổi xum vầy...


    (Nửa Mãnh Phi Bào)

    Hình như mùa xuân đã đến bên thềm gió trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho gia đình, bạn bè, đồng đội, đồng bào.. được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể..

    mai về nẻo ấy chiều sương khói
    ta biết tìm đâu bước bạn hiền
    vượt thác Mé Kông qua cầu khỉ
    Paské héo hắt bóng trăng đơn

    mai về quê mẹ qua biên giới
    thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
    rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
    chỉ ta hờn tủi kiếp tha hương


    (Thì Thôi Hãy Khóc Để Quên Đời - MG).

    Có ai còn nhớ lối xưa để tìm về mà có tim chăng nữa thì cũng chỉ thấy những thành mộ chí hoang vu, cỏ lau xưa hiu quạnh, khiến cho những người lính già cứ ngẩn ngơ hóa bướm dù bàn tay vẫn ấp trên những trang báo ngày nào. Ngoài đêm bây giờ hình như tiếng ngựa vẫn còn lao xao hí hoài những hồi thúc giục, đời vẫn mỡ ra trước mắt như đang gọi hồn người lính đi vào cõi mộng lung muôn trùng.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Ðầu Giêng 2010
    MƯỜNG GIANG
  8. NGÀY CŨ, VIẾT ÐỂ THƯƠNG NHỚ THẦY TÔI GIÁO SƯ ÐẶNG VŨ TIỂN

    Dakto và Mường Giang





    Theo tư liệu gia đình cho biết: Thầy Ðặng Vũ Tiển sinh năm Canh Tuất (1910) tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh (Bắc Phần). Trước năm 1954, thầy là giáo sư trường Hồ Ngọc Cẩn (Hà Nội). Di cư vào nam, gia đình sinh sống tại Bình Thuận và là giáo sư trường TH Phan Bội Châu niên khóa 1955-1956, cũng là hiệu trưởng trường tư thục Tiến Ðức tại đường Ðồng Khánh vào cuối năm này.

    Từ đầu niên khóa 1957-1958, trường TH Phan Bội Châu tại đường Trần Hưng Ðạo, dời về địa điểm mới ở đường Nguyễn Hoàng, chỉ còn lại 2 lớp thất 3 và 4, vì không đủ phòng học. Dịp này, thầy Tiển đã mướn lại cơ sở trên, để chuyển trường Tiến Ðức từ đường Ðồng Khánh tới. Từ năm 1973, thầy nghĩ hưu về sống tại Sài Gòn và qua đời tại đây vào năm 1978.

    Trung Học Tư Thục Tiến Ðức là một trong những trường nổi tiếng của tỉnh Bình Thuận. Từ ngày khai giảng tới tháng 4-1975, dưới sự điều hành của thầy hiệu trưởng Ðặng Vũ Tiển và ban giám hiệu gồm các vị nam nữ giáo sư tận tâm và chuyên nghiệp quý Thầy Côn, Khôi Anh, Giao, Vi, Tường, Thạch, Chà, Ðồng, Ðinh Nho Xuyên, Cô Huỳnh Thị Yến.. đã đào tạo rất nhiều nhân tài cho miền Nam VN qua mọi lãnh vực.

    Trong số này nổi bậc nhất vẫn là ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh. Ngoài ra còn có Kiến Trúc Sư Ngô Ðình Kha, Dược Sĩ Hà Thị Cảnh Phước, họa sĩ Nguyễn Duy Huệ và nhiều học sinh đã trở thành nam nữ GS dạy tại trường TH Phan Bội Châu như các Cô Ðinh Thị Ngọc, Ngô Thị Tươi, Thầy Bùi Kim Trọng.. Trong quân đội có nhiều người mang cấp bậc thiếu tá như Lê Tiến Diện (Duyên Ðoàn Trưởng), Ðại Uý Lê Trị (P7BTTM), Ðại Úy Phạm Ðình Thừa, cố Ðại Uý Vũ Mạnh Hùng (TQLC). Nhưng đáng khâm phục vẫn là Thiếu Tá Pháo Binh Trần Văn Bường, xuất thân khóa 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, cấp bậc của ông đều được vinh thăng ngoài mặt trận, qua những chiến công từ Ðèo Chu Pao (1972) cho tới những ngày cuối cùng vào tháng 4-1975 tại Tiểu Khu Quảng Ðức, trong chức vụ ‘Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh kiêm Tham Mưu Phó Hành Quân‘.

    Cảm động nhất là việc những cựu học sinh Tiến Ðức hiện sống tại hải ngoại, tuy số lượng không đông, cũng không bao giờ có ý định tổ chức hội ngộ hội hè này này nọ nọ. Nhưng năm nào cũng giống như năm nào, anh chị em đã âm thầm đóng góp, để gửi về quê nhà giúp đở các thầy cô và đồng môn trong lúc khó khăn bệnh tật. Nghĩa cử này đã khiến cho ai biết tới cũng ngậm ngùi, thương thêm cho bạn bè đồng trường, đồng đội hiện còn ở Phan Thiết.. nhất là những TPB què đui tật bệnh, vì trước đó đã đem thân xác mình để ‘che chở bảo vệ‘ cho đời.

    Nhà văn Dakto, cũng là Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Chương hiện giảng dạy tại trường Trung Học M. Kinley và Đại Học Pacific tại thủ phủ Honolulu thuộc tiểu bang Hawaii, ngày cũ từng là học trò thầy Ðặng Vũ Tiển ở ngoài Bắc trước khi di cư vào Nam năm 1954. Sau đó Dakto có ra Phan Thiết và được thầy Tiển giới thiệu vào trường PBC dạy môn Anh Văn nhưng chỉ một thời ngắn ông phải trở về Sài Gòn để nhập ngủ.

    Nhân Ủy Ban Tương Trợ Cựu Chiến Binh BT Hải Ngoại trong kỳ Ðại Hội Ân Tình 3 tại Nam CA vào tháng 6-2009, thực hiện Ðặc San, vinh danh Quân Cán Chính Bình Thuận, trong số này có quý vị ân sư tại các trường trung học công tư tại Phan Thiết. Nhà văn Dakto (cựu trung úy QLVNCH) đã viết NGÀY CŨ với tấm lòng thương nhớ người thầy năm xưa đã dạy dỗ mình tại quê nhà. GS Ðặng Vũ Tiển, chẳng những là một danh sư mà ông còn là một nhà đạo đức, xứng đáng để cho các thế hệ học sinh tại Phan Thiết Bình Thuận, noi gương ngưỡng kính và trân quý mến thương. Xin được thắp một nén hương lòng, mượn gió ngàn phương kính gửi đến bậc thầy đã góp phần cùng với các vị nam nữ ân sư, đã làm rạng danh đất Phan Thành (Mường Giang)

    GS Nguyễn Chương, tức là nhà văn Dakto viết

    “... Bất cứ ai đã từng qua tuổi trưởng thành đều đã sống qua một thời niên thiếu, trong đó biết bao kỷ niệm buồn vui kết lại thành một vùng trời yêu dấu, mà nhiều người gọi là ‘miền thơ ấu‘ hay ‘tuổi hoa‘. Ðối với phái nam, miền thơ ấu có thể là những ngày vui phá làng phá xóm, quậy phá lung tung chỉ để tiêu khiển chứ không có ý niệm gì. Về phái nữ, tuổi hoa là thời kỳ mới lớn đầy mộng mơ, đan mây trời làm chiếc nệm tưởng tượng, đưa mình vào chuổi ngày êm đềm nhất của cuộc đời, để tự tạo sắc đẹp, thể xác và tâm hồn trên con đường đi vào một miền hạnh phúc.

    Ngày cũ của tôi, ôi xa xưa biết mấy. Ðó là những năm tháng cách đây hơn một nữa thế kỷ, khi tôi bước vào ranh giới giữa thời niên thiếu và tuổi trưởng thành, thời gian đã xa quá mà về không gian cũng mịt mù hoang vắng. Những năm đó tôi chỉ còn lại những kỷ niệm mờ ảo, vì tuổi đời đã làm cho những ngày tháng xa xưa phai nhạt trong ký ức. Trong khi vùng đất mà tôi sống vào lúc sắp trưởng thành ở trên đất Bắc, nay không còn lại hình ảnh rõ rệt của miền ‘thơ ấu’ xa vời. Nhưng ngược lại trong trí nhớ của tôi, những kỷ niệm cũ về một ngôi trường nhỏ, nghèo nàn trong thời kháng chiến, với một ông thầy rất đặc biệt mà tôi thương mến vô vàn, giờ đây vẫn còn đậm nét và có lẽ sẽ không bao giờ phai nhạt, vì đây là những kỷ niệm vàng.

    Ngày ấy khoảng năm 1946, gia đình tôi bỏ lại thành phố Hà Nội đang ngập khói lửa chiến tranh, để tản cư về quê nội tôi ở làng Hành Thiện, cách Hà Nội hơn 100 cây số. Ðây là một ‘vùng tề‘ do quân đội Pháp và Quốc Gia kiểm soát, mà người dân quen gọi l2 Secteur Hành Thiện, đầy những đồn binh, cơ sở chính quyền địa phương, xe jeep mang cờ Pháp chạy ngang chạy dọc, với những người lính ‘Lê Dương‘ cả trắng lẫn đen rãi rác khắp các hàng quán bên đường. Tình hình ở đây rất yên ổn, an lành do các đơn vị Hiến Binh Pháp, quản trị và canh chừng nghiêm ngặt, nên cuộc sống, tuy trong thời chiến vẫn không bị xáo trộn.

    Làng tôi có 12 ngõ hẽm, gọi là ‘giọng‘, gồm có 9 ‘giọng‘ toàn mang họ ‘Ðặng-Vũ’, còn lại 3 giọng là họ Nguyễn, tọa lạc ở phần cuối phía bắc của làng. Một điều đáng chú ý là hầu hết những người mang họ ‘ Ðặng-Vũ ‘ trong làng học rất giỏi, làm quan dưới triều Hoàng Ðế Bảo Ðại hay giữ các chức vụ quan trọng giới cách mạng kháng chiến chống Pháp. Những thành phần này hầu hết đã bỏ làng ra đi, chứ không chịu sống trong vùng tề do Pháp kiểm soát.

    Cạnh làng tôi là một xã có cái tên rất lạ ‘Ngọc Cục‘. Thêm vào đó trong làng lúc nào cũng tỏa ra một mùi hôi thúi chịu không nổi. Nguyên do là người trong đó sống bằng nghề ‘gánh phân người‘. Họ đi khắp nơi để thu lượm phân đem về làng bón ruộng vướn. Vì là nghề tổ truyền từ mấy trăm năm qua, nên người trong làng coi đó như một việc bình thường, chẳng có gì quan trọng hay phải xấu hổ, ngoại trừ những cô gái trẻ trong làng.. Các cô rất đẹp, cùng theo cha mẹ gánh phân nhưng có ai hỏi làm nghề gì, thì cac thiếu nữ Ngọc Cục đồng nhất trả lời ‘em trồng hoa‘. So với gái Hành Thiện, nhiều cô vượt trội hơn nhưng không bao giờ chịu nhận là em đi gánh phân. Còn trai Hành Thiện thì thông cảm điều này và nhiều người lấy vợ bên Ngọc Cục.

    Khung cảnh làng tôi không có gì sắc thái đáng chú ý, ngoài một điểm: Dân trong làng chia làm hai khối rõ rệt, một khối Quốc Gia trung thành với triều đại Bảo Ðại và một khối nhỏ đứng vào phe kháng chiến qua cái tên gọi Việt Minh. Chóp bu của nhóm này là một tên Cộng Sản gộc, sau này lộ diện. Ðó là Ðặng Xuân Khu qua đảng danh là Trường Chinh, lúc đó đang giữ chức vụ ‘ủy viên tuyên huấn liên khu‘. Cả nước biết đến tên này, từ ngày Việt Minh phát động phong trào đấu tố ‘trí, phú, địa, hào‘ vào năm 1956. Chính Trường Chinh đứng ra kể tội bố mẹ của hắn, để cho tòa án nhân dân huyện Xuân Trường kết án tử hình. Từ đó tới bây giờ, người dân xã Hành Thiện, đâu có quên được thằng con bất hiếu Trường Chinh.

    Khi gia đình tôi tản cư về làng cũ, tình hình chiến sự bắt đầu lan rộng tới chi khu Hành Thiện. Quân đội Pháp và Quốc Gia đã thực sự nhập cuộc bằng những cuộc hành quân tuần tiểu quanh vùng. Ðêm đêm tiếng súng đại bác của Pháp đánh thức dân làng trong hoảng hốt và lo âu. Việc đi lại bắt đầu khó khăn giữa Hành Thiện và các secteur khác. khiến chúng tôi không thể rời làng để đi học xa mà chỉ học tại địa phương. Tại đây một ngôi trường nhỏ đã được hình thành để đáp ứng nhu cầu số học sinh tại Hành Thiện và Ngọc Cúc, đã bắt đầu vào lớp đệ thất của bậc trung học đệ nhất cấp. Ngôi trường ấy nằm ở giong số 9, mà cơ sở gồm 3 gian nhà cổ lợp ngói với ba vị thầy bắc đắc dĩ đảm trách nhưng rất được mọi người thương mến và kính phục.

    Một trong ba vị thầy trên: Giáo Sư Ðặng Vũ Tiển là ân sư của tôi. Năm đó thầy khoảng 40 tuổi, tốt nghiệp cử nhân toán và rất thông thạo Việt cũng như Pháp ngữ. Một vị khác là thầy Hai, do đã sống nhiều năm tại Hồng Kông, nên viết và nói tiếng Anh lưu loát theo đúng giọng Ăng Lê. Cuối cùng là nữ GS trẻ đẹp, cũng là phu nhân của thầy Tiển phụ trách môn Việt và Pháp Văn.

    Ðó là ngôi trường trung học đầu tiên tại Hành Thiện mà tôi đã theo học từ năm 1948-1950 (học sinh gồm làng tôi và Ngọc Cúc). Tuy ngắn ngủi nhưng những ngày vui của tôi ở ngôi trường nhỏ này tràn đầy ký ức, về mấy phòng học sơ sài nhưng ấm cúng với ba vị ân sư đã giảng dạy. Quý thầy đã xem đám học trò như con cháu, trong buổi ly loạn mịt mù khói súng, cách đây hơn nửa thế kỷ.

    Ngày đó tôi cũng đang bước vào tuổi trưởng thành ở quê cũ, trí óc tôi đang khao khát một triết lý sống. Thì may mắn thay đúng lúc đó, Thầy Tiển đã khai sáng tâm trí tôi về những điều đang mong đợi và tìm tòi. Thầy dạy toán, lý hóa, Pháp văn.. ngoài ra mỗi ngày thầy còn dành vài phút sau giờ học, để giảng cho tôi học hỏi thêm về ‘nhân sinh quan và cách học làm người‘. Nhiều lúc cao hứng, thầy còn giảng cho tôi về những chủ trương cải cách của Hoàng Ðạo trong nhóm Tự Lực Văn Ðoàn, về Tam Giáo trong đó thầy rất ưa thích chủ trương ‘tu, tề, trị, bình‘ của Khổng Học. Cuối cùng là môn ‘Tổ Quốc Học‘ về lòng ái quốc và trách nhiệm của người trai đối với đất nước và dân tộc Việt.

    Tôi tuy tin theo đạo Thiên Chúa lâu đời nhưng tôi đã thu nhận những lời giảng dạy của Thầy Tiển, về ‘Tổ Quốc Giáo‘ không bao giờ thấy nhàm chán, tới độ quên mất về nhà dù nhiều hôm trời đã nhá nhem tối. Tóm lại dù bị tật nguyền từ thuở nhỏ sau một cơn bạo bệnh nhưng đối với xã hội lúc đó hay bây giờ và mãi mãi, thầy Ðặng Vũ Tiển luôn luôn là một mẫu người Quân Tử theo đúng triết lý Khổng Mạnh. Ông sống với mẫu mực đó hằng ngày, thực hành khuôn vàng thước ngọc ‘kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân‘. Một điểm đặc biệt khác của thầy đã làm cho tôi thêm kính trọng. Ðó là thầy đã phân biệt rõ ràng những thành phần yêu nước đang kháng chiến trong mặt trận liên hiệp ‘Việt Minh‘ và bọn cán bộ Cộng Sản đầu nảo đang núp bóng mặt trận. Bọn này chỉ biệt vọng ngoại, mù quáng theo đuổi chủ nghĩa Lê Mac hai dân hại nước.. mà chúng ta đã biết sau 34 năm sống dưới thiên đàng xã nghĩa.

    Do trên, thầy rất khinh ghét, ghê tởm tên Trường Chinh Ðặng Xuân Khu, tới độ thầy không bao giờ bước tới nhà hắn ở giong số 6, cũng như từ chối dạy con hắn với lý do trường đã hết chỗ. Thật sự thầy nghi ngờ vợ Chinh gửi con tới học, để có lý do theo dõi dò xét thầy.

    Thêm một lần thầy Tiển đã làm tôi ngạc nhiên và càng kính phục. Ðó là dịp đua ghe trên sông Thái Bình chảy ngang qua xã Hành Thiện, được coi như là ranh giới giữa huyện Xuân Trường (Nam Ðịnh) và Thái Bình. Ðây là nơi hàng năm diễn ra cuộc đua thuyền hào hứng nên rất được nhiều người khắp nơi đổ về thưởng thức vào dịp Tết. Thầy cô và thầy Hai, ba người đã đi bộ một khoảng đường hơn một cây số để tới địa điểm diễn ra cuộc đua. Quảng đường này đối với bọn học trò chúng tôi thì chẳng thấm tháp gì nhưng ngược lại đối với thầy, quả là rất cực nhọc.

    Thầy đi giữa lúc trời đang nắng gắt vào buổi trưa, làm mồ hôi tuôn ra ướt đẩm cả chiếc áo chùm màu đen. Tuy cực nhọc nhưng vẽ mặt thầy vẫn vui cười, tới hỏi thăm các phụ huynh học sinh và đám học trò, trừ những thành phần thuộc gia đình Trường Chinh. Chúng tôi đã hỏi thầy đi lối nào tới đây mà trên đường chẳng ai gặp. Thầy vui vẽ chỉ về phía sau và nói mình qua làng Ngọc Cục và vòng lại bờ sông. Chuyện này đã làm tôi chưng hửng không hiểu. Cô Tiển thấy vậy mới giải thích ‘con biết, thầy không muốn qua giong số 6‘.

    Bấy giờ tôi mới hiểu, hóa ra thầy Tiển thà chọn con đường xa hơn để tới chỗ đua thuyền, chứ nhất định không qua giong có nhà Trường Chinh. Người quân tử Ðặng Vũ Tiển đã coi cái nhà của Chinh như là hang ổ của ma quỷ, ông không thể ngang qua hay tới gần. Nên thầy chấp nhận đi xuyên qua làng Ngọc Cục, dù phải chịu ngữi mùi phân người hôi thúi, còn hơn là tới chỗ u ám. Thầy nói với tôi ‘dân Ngọc Cục làm nghề gánh phân nhưng tâm hồn họ trong sáng, hơn mấy giong tại Hành Thiện theo Cộng Sản quỷ ám’. Thầy Hai, giáo sư Anh Văn còn nói thêm với tôi ‘thầy Tiển đã ra điều kiện là cả nhà không ai được đi ngang qua giong số 6, nếu không chịu, thì không ai được đi coi đua thuyền‘. Qua câu chuyện, lòng tôi càng khâm phục một bậc thầy đầy nghĩa khí và đạo đức hiếm có trong đời.

    Ðầu thập niên 50, tôi rời Hành Thiện nhưng những lới giáo huấn dạy dổ của thầy Tiển, tôi luôn mang trong huyết quản. Chiến tranh Việt-Pháp càng lúc càng tàn khốc và lan rộng khắp Bắc phần cũng như cả nước. Như thành phần nam nữ thanh niên lúc đó, tôi dấn thân vào con đường kháng chiến chống Pháp, mãi mê với những chiến dịch xa xôi đầy thu hút của cách mạng tháng tám, ở mỗi khu chiến núi rừng với mộng ước trở thành ‘người hùng như Dũng trong Ðoạn Tuyệt, tiểu thuyết của Nhất Linh trong Tự Lực Văn Ðoàn‘. Ngờ đâu giấc mơ người hùng chưa thành sự thực, thì cộng sản sắp sữa đưa gia đình tôi ra đấu tố trả thù, vì những liên hệ với đạo Thiên Chúa ở Hành Thiện. Tôi bừng tỉnh cơn mê, tìm đường ra khỏi khu chiến để về ‘Tề‘. Mấy năm sau, tôi và gia đình trở lại Hà Nội, trãi qua những ngày khốn khổ trong lúc hồi cư , làm lại cuộc đời mới. Từ đó tôi không còn nghe được tin tức gì về người thầy cũ nhưng lúc nào hình ảnh của ông cũng luôn sống trong ký ức suốt những năm kế tiếp và không bao giờ dám quên những lời dạy dổ giáo huấn của thầy. Tất cả đã trở thành một cuốn thánh kinh, giúp tôi về nhân sinh quan và đạo làm người.

    Mãi tới năm 1959, vì hoàn cảnh tôi phải đi tìm sinh kế sau mấy năm vật lộn với sách vở ở Sài Gòn. Tôi lạc tới Phan Thiết và gặp lại thầy tôi: GS Ðặng Vũ Tiển. Sau 10 năm xa cách, thầy tôi già thêm, chỉ có cô Tiển vẫn trẻ và đẹp nhưng thầy Hai GS dạy Anh Văn thì vắng bóng. Thầy Tiển và gia đình đã xuôi Nam vào tháng 7-1954 và lập nghiệp tại Phan Thiết với ngôi trường trung học tư thục Tiến Ðức khang trang tại đuờng Trần Hưng Ðạo, khai giảng từ niên khóa 1957-1958.

    Thầy cô đã đón tôi về nhà như đón một đứa con thân yêu trong gia đình và cho tôi sống lại những ‘ngày cũ‘ ở quê nhà năm xưa trên đất Bắc. Rồi những bữa cơm gia đình tại nhà thầy, tôi hàn huyên với ông bà như thuở nào, được nghe lại những lời khuyên bảo vàng ngọc của thầy về việc tôi phải làm gì khi buớc vào đời.

    Nhưng số mạng đã không cho phép tôi dừng lại ở thành phố biển, dù lúc đó tôi sắp trở thành nguời rễ của Phan Thành. Tôi chỉ dừng gót giang hồ ở đây khoảng một năm rồi lại trở về Sài Gòn để tiếp tục con đường thi cử. Nhưng khi hoàn tất việc học hành thì cuộc chiến đã mở rộng, tôi lại lên đường thi hành bổn phận làm trai, bạn với giày trận, ba lô, nón sắt . Nhớ về thây cô, tôi chỉ còn biết liên lạc qua thư tín nhưng trên bước đường lưu lạc đời lính, tôi vẫn không quên những lời giáo huấn của của thầy Tiển. Hẳn đi một dạo, tôi không còn nhận được tin tức gì về thầy, nhất là sau cuộc đổi đời 30-4-1975. Sau này tôi mới biết là hai người con trai của thầy vốn là sĩ quan QLVNCH đã tới Mỹ qua diện HO.

    Tóm lại cuộc đời tôi, nhờ những ‘ngày cũ‘ với thầy Tiển, mà tôi trở thành một con người hữu dụng, biết làm gì khi dấn thân vào đời. Thầy tôi ‘GS Ðặng Vũ Tiển‘ cũng như hàng ngàn nam nữ giáo sư khác qua kiến thức nghề nghiệp hướng dẫn dạy dỗ học trò mình. Nhưng thầy tôi còn có một ưu điểm hơn người, ở chỗ là thầy đã giảng dạy cho mọn sinh biết thế nào để chọn ‘nhân sinh quan và đạo làm người‘ khi dấn thân vào nẽo đời, để biết làm gì cho xứng đáng với thân phận trí thức và con người. Do đó dù cho đời có đổi, nước chảy đá mòn nhưng quan niệm đạo lý về cách hành xử của người quân tử, sống sao cho đáng sống để làm người, miên viễn vẫn không thay đổi trong bất cứ hoàn cảnh hay thời đại nào.

    Giờ sống kiếp lưu vong cách xa quê hương Hành Thiện cả biển Thái Bình với khoảng thời gian hơn nữa thế kỷ. Ngồi viết những giòng tưởng nhớ ‘Ngày Cũ‘ qua hình bóng người thầy cũ mến yêu ‘tật nguyền‘ nhưng tâm hồn trong sáng và nhân hậu. Tôi vẫn luôn biết ơn và cảm mến thầy. Và tôi đã học gương người, nên suốt 34 năm qua từ ngày rời VN (1975) tới nay, tôi không hề trở về quê cũ, dù đó là Hành Thiện, Hà Nội, Phan Thiết hay Sài Gòn.. ngày nào trên quê hương còn bóng dáng của loài Cộng Sản quỷ ám, như thầy tôi vì ghét tên Trường Chinh mà không bao giờ thèm đặt chân tới giong số 6.





    Hạ Uy Di, tháng 5-2009
    DAKTO
  9. XUÂN TRÊN VẠN NẺO ÐƯỜNG ÐẤT NƯỚC
    QUA CÁC THỜI ÐẠI TRONG VIỆT SỬ


    MƯỜNG GIANG


    Theo sử liệu thì họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang vào năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch) nhưng nền độc lập đã bị gián đoạn gần 10 thế kỷ vì sự đô hộ của giặc Tàu. Trong giai đoạn tối tăm ô nhục này, Hán tặc dùng muôn ngàn thủ đoạn đê tiện tàn khốc để đồng hóa dân ta nhưng đã thất bại, tuy có gây được ít nhiều ảnh hưởng về văn hóa tín ngưỡng, vì sự chung đụng lâu dài của hai dân tộc.

    Năm 939 sau Tây Lịch (STL), Ngô Vương Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Ðằng thu hồi lại nền độc lập cho quốc gia, mở đầu nền tự chủ tự cường cho dân tộc. Cũng từ đó tổ tiên ta bao đời đã cố gắng sàng lọc lại những ảnh hưởng của ngoại bang, tiêu hủy các hủ tục, chấp nhận những thuần phong mỹ tục của người. Tất cả được pha trộn thành tinh hoa của ta, tạo thành nếp sống đặc trưng đặc thù của dân tộc Việt. Trong các cổ tục còn truyền lại tới ngày nay, Tết Nguyên Ðán là một biểu tượng phong phú toàn vẹn và ý nghĩa nhất, đã thu hút mọi người mọi giới quên hết để lo cho Tết mà thôi, nên “Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng con cháu lại lo“.

    1- NGÀY TẾT NGUYÊN ÐÁN:

    Ngay từ thời Hồng Bàng dù còn sống lạc hậu nhưng tổ tiên đã biết ăn Tết. Căn cứ vào các công trình khai quật tại Ðông Sơn, mà biểu tượng là trống đồng có chạm trổ trên mặt hình vẽ ngày hội tết với bông lau. Từ đó có thể suy ra, dân ta ăn tết thời đó vào mùa thu vì bông lau chỉ trổ vào mùa này mà thôi. Ngoài ra theo sách Việt Sử Đại Toàn, có ghi các sự tích về bánh chưng, bánh dầy, trầu cau, dưa hấu đỏ.. đã có từ thời Hùng Vương thứ 6.

    Còn Tết Nguyên Ðán ngày nay đã được du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc. Ăn Tết Nguyên Ðán là ăn mừng ngày đầu năm, vào ngày mùng một tháng Giêng và Tết bắt đầu vào giờ Tý (giữa khoảng 23 giờ năm cũ đến 1 giờ sáng năm mới). Thời khắc này gọi là Giao Thừa, đêm 30 tháng Chạp là đêm Trừ Tịch.

    Bên Tàu, nhà Hạ (2205-1766 tr TL) vì thích màu đen, nên chọn tháng Dần là tháng Giêng để ăn tết. Nhà Thương (1766-1122 tr TL) thích màu trắng, nên ăn tết vào tháng Chạp). Nhà Châu (1122-252 tr TL) ưa màu đỏ, nên chọn tháng Tý là tháng 11 ăn tết Nguyên Ðán. Ðời Ðông Châu Liệt Quốc, các nước ăn Tết theo quan niệm của Khổng Tử, chọn tháng Giêng như nhà Hạ. Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa (256-206 tr TL) lại lựa tháng Hợi tức là tháng Mười ăn tết. Cuối cùng nhà Hán (206 trước TL, 221 sau TL) chọn tháng Giêng làm ngày đầu năm và truyền thống này kéo dài tới ngày nay vẫn không thay đổi.

    Tóm lại Tết Nguyên Ðán dù theo ta hay Tàu, cũng đều giống nhau ở các nghi thức ‘tống cựu nghênh tân‘ gồm có lễ tiển Táo Quân vào ngày 23 tháng Chạp, lễ rước tổ tiên ông bà quá cố ngày 30 tháng Chạp, lễ phong tỉnh (đóng giếng), tảo địa (quét dọn nhà cửa trước giao thừa), mừng tuổi, phạm môn (Tống Cựu). Còn nghi thức Nghênh Tân quan trọng nhất là cúng Giao Thừa, mở rộng nhà cửa để bái thiên địa, cúng gia đường, Táo Quân, tục lì xì, mừng tuổi..

    Bên cạnh những phong tục tập quán du nhập từ Tàu, người Việt cũng có nhiều tập tục đặc thù dân tộc nổi tiếng được lưu truyền đến ngày nay như tục cướp đầu pháo của đồng bào thiểu số miền thượng du Bắc Việt và một vài bộ tộc tại cao nguyên Trung Phần. Dãy mã vào những ngày sắp tềt và viếng mộ đầu Xuân. Tục cướp cầu ở Yên Xá (Bắc Ninh), thi thơ đầu xuân, tổ chức các phiên chợ đặc biệt tại các vùng mạn ngược, miền xuôi cũng như thành thị. Tục ném cầu và phóng sinh ở Thanh Hóa, tục đánh nhau ngày tết, hát Quan Họ, Trống Quân khắp đất Bắc. Hát Bài Chòi tại Bình Ðịnh, Phú Yên. Ðánh du tại Nam Phần.

    Tất cả những trò chơi ngày tết của người Việt đều mang tính phổ quát, bình dân với nội dung lành mạnh, tạo niềm vui chung cho mọi người, sau một năm làm việc cục nhọc vất vã. Do đó có nhiều nhà phong tục học quốc tế, khi được chứng kiến hay nghiên cứu về phong tục tập quán của ta đã kết luận “Tết của người Việt Nam phong phú, thực tế và vui vẽ hơn Tết Tàu và Âu Mỹ “.

    2- TẾT VN TỪ HỌ HỒNG BÀNG TỚI NĂM 1945:

    + Thời Thượng Cổ: Ngay từ thời Hồng Bàng mới bắt đầu dựng nước, người Việt dù còn lạc hậu nhưng tổ tiên ta cũng đã biết ăn Tết. Thật vậy, qua một mùa đông rét mướt lạnh lẽo, mùa xuân bổng trở về rực rỡ với cảnh hoa đồng cỏ nội sặc sỡ, trong ánh nắng nồng ấm lung linh. Tinh thần của con người dù là người thượng cổ còn hồn nhiên chất phác nhưng họ vẫn thấy sinh tình, trước sự kích thích của vũ trụ bao la mang đến cho con người, nguồn sinh lực dồi dào đầy hy vọng.

    Trai gái trước cảnh xuân nồng thắm, cũng đã biết tìm đến nhau trên khắp các nẽo đường quê hương đất nước, phát sinh ra những trò chơi mộc mạc như đánh vòng, tung cầu hay họp nhau hát hò đối đáp, dẫn đến câu chuyện ‘Trầu Cau‘ là đầu mối của hôn nhân giữa nam nữ thanh niên. Ngoài ra còn có sự tích bánh chưng, bánh dầy, quả dưa đỏ .. phát xuất từ thời vua Hùng thứ 6.. đã không theo truyền thống Nho giáo ‘truyền ngôi cho con trưởng‘ mà lại truyền cho hoàng tử thứ 18, đã nói lên tính đặc thù của dân tộc Việt, chỉ coi trọng tài năng và đạo đức, mà không quá chú trọng tới những lễ giáo rườm rà như người Tàu.

    + Tết Thời Lý-Trần: Sau khi đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Ðằng, Ngô Vương Quyền, đã cởi bỏ ách nô lệ cho dân tộc sau 10 thế kỷ bị Bắc thuộc vào năm 939 sau TL, mở đầu cho thời đại tự chủ tự cường của Ðại Việt.

    Từ thời Lý-Trần, ngưởi Việt đã tiến bộ nhờ ảnh hưởng của tam giáo. Nhiều phong tục tập quán thuần khiết được tận dụng. Ngoài những năm chinh chiến chống giặc Tàu (Tống, Nguyên) và nội loạn, thời gian còn lại dân chúng an cư lạc nghiệp, đất nước thanh bình.

    Ngày tết bắt đầu từ 30 tháng Chạp, dân được phép đốt pháo thời đó là những ống lệnh chứa thuốc nổ có ngòi, chứ không phải loại pháo có ngòi làm bằng giấy bọc thuốc như ngày nay. Pháo được đốt khắp nơi, từ ngoài cổng làng cổng nhà hay đình chùa. Dân chúng giết gà vịt lợn, vật trâu dê cúng tạ Trời Phật, ông bà, cha mẹ quá cố liên tiếp trong ba ngày tết.

    Ngày mùng năm Tết, nhà vua cho làm tiệc khai hạ rồi cùng văn võ bá quan yến tiệc vui vẽ. Mọi người trong nhà đều đi lễ chùa và du ngoạn. Ngoài ra khắp nơi đều có sân khấu lộ thiên, để các phường chèo đến hát giúp vui cho dân chúng trong mấy ngày Rết. Tại các nơi công cộng còn có các trò chơi lý thú như đánh vật, chọi gà, đá cầu.

    Trong mục đích khuyến nông, tập tục nhà vua đánh vào trâu đất trong ngày lập xuân, được lưu truyền cho tới thời vua Bảo Ðại nhà Nguyễn mới dứt. Theo ‘An Nam Tạp Chí‘ của Lê Tắc thời Trần viết ‘mỗi năm vào mùng ba Tết, các vua Trần ngự ra gác Ðại Hùng, để xem các hoàng tử, hoàng thân thi đá cầu. Riêng các quan thì chơi đánh cầu bằng tay có khi cởi ngựa'. Ðá cầu là môn thể thao thịnh hành trong những ngày Tết vào dịp đó, phổ biến từ giai cấp quý tộc cho tới giới bình dân cả nước.

    Theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, một bộ sử cũ nhất của nước ta còn lưu lại tới ngày nay, thì trai gái Ðại Việt trong ba ngày Tết, bắt đầu chơi đánh đu từ năm 1365, là niên lịch ghi rõ ranh giới VN thời đó, đã tới Hóa Châu (Thừa Thiên) và nam nữ địa phương này lại là những người sành sõi môn chơi trên. Sách Hồng Ðức Quốc Âm Thi Tập, xuất bản vào thế kỷ XV có in một bài thơ chữ Hán, vịnh cảnh trai gái đánh đu thời Trần:

    Bốn cột lang nha ngắm để trông
    Ả thì đánh cái, ả còn ngong
    Tề Thiên hậu thổ khom khom lật
    Van vái hoàng thiên ngữa ngữa lòng

    Tám bức hồng quần bay phất phới
    Hai hàng chân ngọc duỗi song song
    Chơi xuân hết tết xuân đường ấy
    Nhổ cọc đem về để lỗ không!


    + Tết thời Vua Lê Chúa Trịnh: Nhà Hậu Lê đã suy tàn từ thế kỷ XVI, rốt cục bị Mạc Ðăng Dung cướp ngôi vua, gây nên cuộc chiến tương tàn khiến dân chúng lầm thán khổ sở kéo dài hơn 300 năm mới dứt. Quyền hành trong nước lúc đó do hai họ Trịnh (miền bắc) và Nguyễn (phương Nam) nắm giữ, lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới, vua Lê chỉ còn bù nhìn. Do đó những lễ tết thời này có phần khác biệt, so với đời Hậu Lý và Trần là hai thời kỳ toàn thịnh nhất của Ðại Việt, nhờ các vị vua anh minh biết chọn đạo Phật làm quốc giáo.

    - Lễ tết trong cung vua và phủ chúa: Trước tết tình hình trong cung vua và phủ chúa rộn rịp hẳn lên, nào là lo tổ chức lễ tiến xuân ngưu (tiến trâu đất vào tiết lập xuân), một tập tục có từ lâu đời với mục đích khuyến nông. Các nghi thức về tết Nguyên Ðán được sửa soạn từ cuối tháng Chạp. Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí vào ngày hai nhăm tháng Chạp, triều đình đã làm lễ phong kín các ấn tín đem cất vào kho và sẽ sử dụng lại sau Tết. Tất cả các quan viên lớn nhỏ đều được nghỉ phép 10 ngày để vui chơi.

    Ngày đầu năm bá quan văn võ vào điện để chào mừng vua tại điện Kinh Thiên. Dẫn đầu bách quan là thái tử của chúa Trịnh cũng là quan tiết chế, sau đó mới sang phủ chúa Trịnh chúc mừng và được ban tiền thưởng từ hàng nhất phẩm cho tới cửu phẩm. Sau rốt tất cả kéo sang phủ quan tiết chế (thái tử chúa Trịnh) chúc mừng lần nữa mới giải tán.

    Trong ba ngày Xuân còn có lễ tế Giao có nguồn gốc từ thời Hậu Lý để cúng tế đất trời, cầu cho mưa thuận gió hòa, trăm họ vui vẽ yên ổn làm ăn. Vào thời này, đàn Nam Giao đã được thiết lập tại Thăng Long (Hà Nội). Trong ngày lễ chính vua Lê là chánh tế, còn cha con chúa Trịnh là bồi tế. Nghi lễ này chỉ thay đổi vào những năm vua Lê có tang chế.

    - Tết ngoài dân gian : Theo tập bút ký ‘ Recueil de Plusieur Relations et Traité Singulier et Curieux ‘ của nhà du hành người Hòa Lan Tavernier , diễn tả việc người dân đàng ngoài ăn tết như sau “ Trước tết ba ngày người dân ở xa kinh đô Thăng Long và các thành thị khác lo trang hoàng nhà cửa, sửa soạn bàn thờ tỗ tiên ông bà, có bày nhiều bài vị viết tên người quá cố. Tại kinh đô có hơn 40.000 binh sĩ và quan lại tấp nập vui tết. Trong cung, vua Lê cũng bày nhiều bàn thờ bài vị để cúng tế tổ tiên tiền triều.

    Trong lúc nhà vua làm lễ trước bàn thờ thì súng lớn súng nhỏ được lệnh khai hỏa thay pháo để mừng xuân mới. Cúng tế xong vua cho đốt vàng mã tiền giấy luôn cả bàn thờ dùng để tế lễ. Riêng nhà của dân chúng đều dùng vôi vẽ những hình bát quái trên các cánh cửa và vách tường, với mục đích trừ ma diệt quỹ. Tục xem chân gà và đoán họa phúc cùng với sự kiêng cữ xuất hành đầu năm, được bắt nguồn từ đó “.

    Theo ‘ Gia Ðịnh Thành Thông Chí ‘ của Trịnh Hoài Ðức, thì tập tục đánh đu có từ thời nhà Trần. Sau đó theo chân Chúa Nguyễn vào tận Nam Hà từ đầu thế kỷ XIX. Thời gian này người Việt đã vào khai khẩn tại vùng đất mới Thủy Chân Lạp đã chơi đánh đu. Cách chơi này gồm 4 loại : đu tiên, đu thang, đu giăng xoay và đu rút. Cũng trong thời gian này, người Việt đã sáng tạo ra một thú vui ngày tết hết sức thanh nhã, đó là ‘ Hát Trống Quân ‘ rất được phổ quát nơi công cộng như tế lễ, đình đám ngày xuân.

    Xuất xứ về hát trống quân và chiếc trống cơm, theo Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Bưu Văn Phan Kế Bính, Vũ Ngọc Phan, Maspéra.. đều có chung quan điểm về nguồn gốc lịch sử của thú tiêu khiển trên, được xuất phát từ tinh thần chiến đấu hào hùng cũng như trọng võ của dân tộc Việt. “ .. Tống quân Nam Phố, thượng như chi hạ “ có nghĩa là tiển người lên đường về Nam chinh chiến, lòng thiếp đau đớn đến thế nào có ai hiểu thấu ?.

    + Tết Nguyên Ðán Và Cuộc Du Xuân Hằng Năm Dưới Triều Nguyễn : Trước tết một tháng, trong cung nội tổ chức lễ Ban Sóc (phân phối lịch mới cho các quan) và lễ Phát Thức (các quan đại thần lau chùi ấn tín và kinh sách của vua). Ngày 30 tháng Chạp , bộ Lễ cử người mang phẩm vật đến cúng tại lăng miếu, còn các hoàng thân tôn tước tới các đình chùa làm lễ. Sau đó nêu được dựng tại các công sở và đình chùa.

    Ðại triều được thiết lập tại điện Thái Hòa rất trang trọng với cờ lọng, nghi tượng, lính nhạc và voi ngựa dàn hầu, từ ngoài cầu Kim Thủy vào tận sân chầu. Trước hết vua ngự ra điện Cần Chánh, đội mũ cửu long mặc áo hoàng bào cầm hốt, được xe giá rước ra điện Thái Hòa, giữa tiếng chiêng trống và 9 phát đại bác chào mừng.

    Sau đó các hoàng tử và bá quan vào điện lạy vua với lời chúc tết, được vua ban yến và tiền thưởng năm mới. Ngày mùng một tết vua thiết đại yến đãi các quan văn vỏ từ hàng tứ phẩm trở lên cùng với hoàng tử, hoàng hậu hoàng thân quốc thích.. tại điện Cần Giờ và hai dinh Tả Hữu Vụ. Mùng 2 tết, vua và hoàng hậu cùng các quan đại thần đến cúng bái tại điện Phụng Thiên , sau đó ban yến cho các quan văn vỏ từ ngủ phẩm trở xuống tại dinh Thừa Thiên Phủ Doãn.

    Tết Nguyên Ðán kéo dài 7 ngày, các hoàng thân hoàng tử được thưởng 20 lạng bạc ăn tết, còn các quan văn vỏ tùy theo phẩm trật được lãnh từ 1 tới 12 lạng bạc. Thật ra tục du xuân của các vị vua Ðại Việt, dã có từ thời nhà Hậu Lê nhưng bị gián đoạn vào các vị vua đầu nhà Nguyễn, tới vua Ðồng Khánh mới tổ chức lại. Trong dịp du xuân, ngoài vua hoàng hậu công chúa, hoàng thân quốc thích cùng các quan đại thần đều được tham dự cuộc du xuân bằng thuyền rồng trên sông Hương. Thuyền được trang hoàng rực rỡ khởi hành từ cửa Thượng Tứ trên sông Hương, ngang qua các đền đài lăng tẩm của tiên vương triều Nguyễn, chạy song song với Hương giang. Cuộc du hành xuân kéo dài trong 3 ngày, ngoài ngự thuyền rồng trên sông Hương, còn du hành bằng kiệu khắp kinh thành Huế vừa thưởng ngoạn và thăm dân ăn tết.

    3 - TẾT VN HIỆN TẠI :

    + Tại Hà Nội (Thăng Long) : Là thủ đô của VN qua nhiều triều đại, là đất ngàn năm vạn hiến có 36 phố phường và dân số đông nhất đất Bắc, nên những ngày tết ở đây thật độc đáo và vui nhộn. Khu vực buôn bán thường tập trung ở phía bắc hồ Gươm và phố Tàu.

    Người Hà Nội lo tết từ tháng 11 âm lịch , chuẩn bị các loại gạo nếp cùng các thứ đậu, để gói bánh nấu chè, các loại đồ khô nhất là măng, miến, nấm và nhiều nhà còn nuôi gà vịt để cúng trong ba ngày tết. Ðến tháng Chạp bắt đầu làm các món đặc biệt như dưa hành, trứng muối cải bắp thảo là món rất được ưa thích vì chất bùi béo của quả trứng được muối sau 20 ngày, biến thành màu nâu đen sẩm có mùi thơm ngon lạ lùng.

    Kế đó là làm mứt hạt sen, lạc gừng, Phật thủ, quất, dừa, bí.. các loại bánh, chè lam, bánh vê và huê cầu.. là những đặc sản trên bắc, xuất phát từ hai làng Vê và Xuân Cầu. Ðặc biệt của Hà Nội là 36 phố phường, mỗi phố bán một loại hàng chẳng hạn như phố Hàng Ðào, bán tơ lụa vải vóc quần áo và nơi này thật nhộn nhịp vì hầu hết mọi người phải mua quần áo vải vóc dùng trong dịp tết.

    Còn Hàng Ngang bán các loại trà. Hàng Bồ tranh tết và là nơi các cụ đồ nho bán chữ Thánh Hiền như viết câu đối hoặc các bức liễn bằng chử Hán như Vũ Ðình Liên đã diễn tả trong bài thơ bất hủ ‘ Ông Ðồ ‘ làm vào thập niên 30 trước tiền chiến. Hàng Bồ cũng là nơi bán pháo nhưng đã bị VC cấm từ năm 1994.

    Những ngày cuối tháng Chạp, phố Hàng Mã cũng tấp nập vì ai cũng lo cho tổ tiên ông bà cha mẹ và những người thân quá cố. Mọi nhà bàn thờ được quét dọn sạch sẽ chưng hoa quả để cúng kiến. Tại chợ Ðồng Xuân ngoài bán các loại hương trầm, còn là chợ hoa nổi tiếng của Hà Thành. Tại đây vào những phiên chợ tết, khu vực bán hoa lan rộng tới phố Hàng Khoai, Hàng Lược, bày bán tất cả các loại hoa trồng tại Ngọc Hà, Nhật Tân, Nghi Tằm, Yên Phúc.. Hoa được bày bán từ hăm nhăm tới chiều ba mươi mới tan, dập dìu nam thanh nữ tú, người lẫn lộn với hoa cả hai đều xinh đẹp nõn nường. Ở đây có đủ các loại hoa như miền Nam nhưng người Bắc lại thích hoa Ðào, Cúc, Quất và Thủy Tiên.

    Ðến 23 tháng Chạp, mọi người lại lo cúng tiễn Táo quân về trời. Ngoài hương hoa xôi chè, người Hà Nội còn cúng thêm một cặp cá chép to bằng bàn tay để Táo cởi về thượng giới. Cá được phóng sanh sau khi cúng xong. Từ đây mới thật là tết, nhà nào cũng lo gói bánh chưng, giò, làm mứt, đóng cốm, dọn bàn thờ, sơn phết trang hoàng nhà cửa trong ngoài, tính toán nợ nần để tránh năm mới không bị xúi quẫy phiền hà, bởi bọn nặc nô chuyên đòi nợ thuê vào đêm trừ tịch. Lại còn phải lo quà cáp để biếu xén trong họ, ngoài làng cho trọn nghĩa tình.

    Nhưng thiêng liêng và ý nghĩa nhất vẫn là ngày 30 tết. Mọi người dù theo tôn giáo nào, nghèo hay giàu cũng đều có mâm cơm cúng tất niên rất đặc biệt Hà Nội gồm 4 bát, 6 dĩa. Riêng những người giàu có thì cúng đủ 8 bát, 8 dĩa theo tập tục cổ truyền. Ngày 30 tết còn là thời gian đoàn tụ gia đình quanh mâm cơm cúng gia tiên vừa dọn xuống, trong làn hương trầm tỏa thơm ngát, từ bàn thờ trang trọng ấm cúng. Mọi người vừa ăn uống kể chuyện trong không khí hòa thuận của gia đình.

    + Tết Huế : Là cố đô của VN ngay từ thời chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687) , vua Quang Trung (1788) và suốt nhà Nguyễn (1802-1945). Như các miền đất khác trong nước, Huế cũng chuẩn bị tết trước cả tháng, ngoài ra còn lo việc chuẩn bị chạp mã, để rước các cụ về cùng vui xuạn với con cháu. Gần tết nhà cửa vườn tược được sữa sang tươm tất, sạch sẽ. Hoa được trồng trong vườn riêng quanh nhà, hoặc mua tại chợ Ðông Ba với đủ loại mai, đào, cúc, quất, thược dược, thủy tiên, vạn thọ..

    Từ ngày 23 tháng Chạp, không khí tết đã có mặt tại Huế từ đình chùa nhà thờ tới mọi nhà, đâu đâu dựng nêu tết và cúng tiển Táo quân về trời với hoa quả và đồ vàng mã. Người Huế ngoài đặc tính nhân hậu hiền lành, nam giỏi văn chương thi phú còn nữ thì công dung ngôn hạnh, nên các món ăn ngày tết cũng đặc biệt hơn những nơi khác.

    Tết cũng là dịp để các bà mẹ truyền nghề cho con gái trước khi xuất giá tòng phu, để khỏi bị mang tiếng với nhà chồng. Ngoài các loại mứt còn lo gói các loại bánh chưng, bánh tét, bánh phu thê (su sê), bánh bột sắn nhân đậu xanh ngào đường dừa hoặc nhân tôm chấy, bánh hỏi, bánh sen chấy (bánh dừa mận), bánh nậm..

    Mâm cơm cúng chiều 30 tết của Huế cũng khác với người Hà Nội, bên ngoài nhìn có phần đạm bạc hơn nhưng sự thật rất cầu kỳ, vì người Huế rất thích các món rau cải hơn thịt cá. Bởi vậy chỉ riêng món gỏi Huế đã có tới 10 thứ như đu đủ xanh, giá sống, vừng, lạc, thịt ba chỉ, tôm, bò rán trộn với dấm, đường, tỏi, ớt, ngò và rau ngổ. Trong mâm cổ cũng không bao giờ thiếu dưa món làm trước tết độ tuần lễ. Ngoài ra còn món hành dầm dấm, xà lách xào gân bò, tré, chả tôm, nem bò lụi, giò thủ, giò bì, lụa..

    Tóm lại các món ăn Huế trong ba ngày tết, bao gồm món chay, bình dân và ngự thiện. Món chay được dùng trong các đình chùa, những tín đồ Phật giáo với tên gọi như các món mặn như vịt tiềm, vi cá, nem nướng, bánh nhân xào.. Tất cả được chế biến bằng thảo mộc tươi hay khô đã lên men. Riêng các món ăn ngự thiện hay bình dân sau này không còn ranh giới, vì chế độ vua chúa đã cáo chung nên ai có tiền cũng có quyền hưởng giò, tré, gỏi.. Còn loại rượu dùng trong ba ngày tết được ưa nhất là rượu nếp và rượu thuốc, được chôn dưới đất lâu ngày để tăng thêm nồng độ và hương vị.

    Người Huế thuộc giới trung và cao niên cũng thích uống trà trong ba ngày tết nhưng cầu kỳ hơn người Hà Nội. Các loại trà đắt tiền của Tàu như Tam Hỷ, Ô Long.. mua về được ướp, sấy với các loài hoa thơm như Lài, Sen, Sói, Mộc.. Phụ nữ Huế đi chợ Ðông Ba ngoài việc mua sắm tết, còn gội đầu tại các cửa hiệu bằng nước hương lài, hoa bưởi, hoa chanh. Phong túc này chỉ có ở Huế mà thôi.

    + Tết Sài Gòn ố Chợ Lớn : Tuy không phải là đất ngàn năm văn hiến của VN như Hà Nội, Huế nhưng từ thế kỷ XVIII nhờ hoàn cảnh địa lý thuận lợi, vùng này mau chóng trở thành thương cảng lớn nhất của nước ta. Việc buôn bán ngay từ lúc đầu đều tập trung ở các chợ Bến Thành, Cầu Ông Lãnh và Sài Gòn Mới (Chợ Lớn), tới nay đã hơn 300 năm.

    Không khí tết ở đây bắt đầu từ giáng sinh kéo dài tới Tết Nguyên Ðán. Khác với người Tàu dãy mã vào tiết Thanh Minh, người Việt Trung và Nam Phần tảo mộ vào tháng Chạp. Người Sài Gòn là dân tứ chiếng nhưng đã chung sống lâu năm nên tạo được một phong cách đặc biệt. Ở đây không ăn tết xa hoa như Hà Nội, cầu kỳ theo lối Huế. Họ rất bình dân nhưng lại tốn nhiều tiền hơn hai địa phương trên vì dân Sài Gòn ngày tết rất thích ăn nhậu theo lối tây phương với nhiều món nhắm đưa cay. Bởi vậy vào dịp tết, nhà nào cũng chuẩn bị sẳn nhiều loại đồ khô gồm cá, tôm, thịt .

    Họ rất thích hoa Mai và Vạn Thọ được bày bán khắp nơi, chứ không tập trung một chỗ như tại Hà Nội, Huế. Hoa được đưa về từ Ðà Lạt, Bà Ðiểm, Hóc Môn.. Người Sài Gòn có tục bói dưa ngày tết và dưa hấu được mang về Sài Gòn từ Trảng Bàng, Cao Lãnh, Trà Vinh.. tập trung nhiều nhát tại chợ Bến Thành và Cầu Ông Lãnh. Nhà nào cũng mua dưa hấu vào dịp tết để cúng, ăn và đãi khách.

    Ngày 23 tháng Chạp tiển Táo quân về trời. Lễ vật cúng cũng khác biệt với Hà Nội, Huế gồm một dỉa xôi, miếng thịt heo luộc, hoa, đôi hia cùng áo giấy kèm theo một phong pháo. Tết Sài Gòn cũng có mứt, bánh và các thổ sản đặc biệt miền Nam gồm mứt sầu riêng, dâu, chùm ruột, gừng, dừa.. Về bánh tét thì cầu kỳ hơn vì có trộn thêm tôm khô, lạc xưởng. Mâm cổ ngày tết có bánh tét, thịt kho, dưa giá, củ kiệu, cải muối và nem bì.

    Ðặc biết tết Sài Gòn là nhà nào cũng có mâm ngũ quả trên bàn thờ cũng như trên bàn trong phòng khách với đu đủ, sung, quít, sầu riêng, măng cụt với ao ước sang năm mới đủ ăn sung túc hơn năm cũ. Ðêm giao thừa, Sài Gòn có tục đi lễ chùa, hái lộc đầu năm. Hoa kiều có tục rước tượng Quan Công và Thiên Hậu du hành trong 3 ngày tết với sự tham dự của các bang hội Tàu, có múa lân, rồng, sư tử cùng các ban nhạc Tiều-Quảng. Tại Chợ Lớn, tết là dịp để người Việt tìm tới ăn uống với các đặc sản rắn, trăn (xem như rồng), rùa để hy vọng để thêm sức mạnh sống lâu.

    + Tết Ðồng Tháp Mười : Là vùng đất trũng thấp ở phía tây Nam phần, bao gồm hai tỉnh Kiến Phong (Cao Lãnh) và Kiến Tường (Mộc Hóa) trước tháng 5-1975. Miền đất này có đầy kênh rạch chằng chịt, hoang địa mênh mông, dân chúng trong vùng trước kia đi lại bằng xuồng, thuyền. Nhà cửa dân cư thưa thớt chỉ cất trên những gò đất cao để tránh lụt lội. Vào năm 1960, mật độ dân số tại đây chỉ có 15 người/1km2 và tăng lên 50 người vào năm 1978. Dân chúng nghèo nàn vì thiếu phương tiện. Do đó ngày Tết Nguyên Ðán hầu như chỉ quanh quẩn trong thôn xóm quạnh hiu và trong gia đình.

    Người Ðồng Tháp Mười hầu hết là dân tứ xứ, hoặc vì chiến nạn, sinh kế nên phải bỏ quê nhà tới vùng đất bùn lầy, hoang địa, muỗi đĩa rắn rết và chướng khí nước độc, để sinh sống lập nghiệp. Tết ở đây đơn sơ giản dị theo phong tục bản địa của cư dân.Nên người Bắc ăn tết có bánh chưng, chè lam, bánh ít, bánh bột lọc, bánh trôi, bánh lá, bánh tro.. Dân miền Trung nhất là người Huế thì gói bánh chuối, kẹo mần quân, kẹo kéo, chè lam pha mè đen, mè xửng Huế , bánh rán phồng da lương, bánh đa. Còn dân miệt vườn và các tỉnh Nam phần thì ăn tết với bánh tét, bánh giò, nem lá ổi, kẹo lá cây, bánh ướt, xôi ướp cốt dừa, bánh chuối.

    Nhưng trong ba ngày tết, nhà nào dù có gốc gác ở đâu chăng nữa, cũng đều phải có thêm các món Ðồng Tháp Mười trong mâm cơm cúng tất niên hay để đãi khách lạ vào những ngày đầu năm. Ðó là món “ ngũ xà thất vị “ tức là thịt 5 con rắn được chế biến thành 7 món ăn. Lại có thêm “ thập cẩm trang viên” là các loại rau trồng quanh vườn như sắn, rau súng, ngó sen, rau móc trộn lẫn với tôm và nước cốt dừa, ăn với bánh tráng nướng, các món chiên xú, các loại cá đồng cá sông. Tuy nhiên tuyệt nhất vẫn là món “ ngự long tụ lầu “ chế bằng thịt rắn và chuột đồng, bằm nát và viên đem nướng trên lửa than đỏ, lai rai với đế Gò Ðen chờ đón giao thừa giữa cảnh trời nước mênh mông, thì còn gì thú vị cho bằng.

    + Tết ở miền biên địa Hà Tiên : Là vùng đất xưa nhất của Nam phần, được coi là cõi biên đình giữa VN là Cao Mên, giang sơn dòng họ Mạc vào thế kỷ XVIII trước khi trở thành một tỉnh của Ðại Việt. Ðây là nơi pha trộn của 4 giòng máu Việt, Hoa, Miên và Chàm nhưng phong tục tập quán của dân tộc vẫn được thể hiện rõ ràng qua ba ngày Tết Nguyên Ðán.

    Như các nơi khác trong nước, tết Hà Tiên quan trọng nhất vẫn là lễ tiển đưa Táo quân, cúng đón giao thừa, ba ngày đầu xuân và lễ tảo mộ. Theo phong tục tập quán của người Việt thì bàn thờ Táo quân luôn đặt tại nhà bếp, chỉ riêng Hà Tiên thần Táo được thờ phụng rất trang trọng ngay phía sau bức bình phong, ngăn nhà trước và giữa hướng ra bếp.

    Ở đây bàn thờ Táo được treo cao, có đủ lư hương, bình hoa và thêm hai câu đối chữ Hán viết trên giấy hồng đơn pha kim óng ánh “ công bình hữu đức nâng sư hóa, chính trực vô tư khá đạt thiên “.Về nghi thức cúng kiến, Hà Tiên cũng khác biệt vì ngoài hương đèn, hoa quả còn có món cổ truyền “ mì sợi nấu đường thêm nước gừng già “ . Ngoài ra Hà Tiên còn có tục bán con nít cho thần Táo, trả lễ vào năm đứa bé lên năm 3, 7 và xin chuộc về khi đủ 10 tuổi. Tục này chỉ dành cho con trai và gia đình Việt gốc Hoa theo quan niệm trọng nam khinh nữ.

    Có sống tha phương mới thấm thía được nổi buồn mỗi lần tết đến. Ngày xưa thời tuổi học sống nghèo cực nơi xóm chài nhưng mỗi lần nhìn hoa vông đỏ rực trời và đàn chim sếu từ biển bay vào phố Phan Thiết, cũng là lúc nôn nao chờ mẹ dắt đi sắm tết. Rồi những ngày dài chinh chiến, những năm tháng sống quê người, năm nào cũng hy vọng là năm cuối cùng trong cuộc đời ly xứ. Nhưng than ơi Xuân đến rồi Xuân đi, Tết nào cũng là Tết biệt xứ, dù quê hương chỉ trong gang tất mà sao vẫn xa tít muôn trùng:

    “Xuân về trên đất khách
    ta ngồi đón mông lung
    hắt hiu đêm trừ tịch
    một mình uống rượu suông
    soi gương chợt thấy lạ
    qua một đêm đợi chờ ..”


    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Trước thềm tết Canh Dần 2010
    MƯỜNG GIANG
  10. TẾT VỀ LẠI NHỚ ÐẾN MAI

    MƯỜNG GIANG





    Tự ngàn xưa, Mai đã được xếp vào loại hoa quý nhất trong ngàn hoa. Nhiều bức tranh cổ còn lưu truyền như tranh Tứ Bình vẽ bốn loại hoa cực quý là Mai, Lan, Cúc, Trúc. Ngoài ra còn có tranh tứ thời, cũng vẽ bốn loại hoa cảnh nổi tiếng là Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay Lan, Sen, Cúc, Mai. Tóm lại dù con người qua các thời đại có thay đổi quan niệm thưởng ngoạn thế nào chăng nữa, thì ta vẫn thấy có sự hiện diện của hoa Mai:

    ‘Ðua chen thu cúc, xuân đào
    lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông‘

    (Bích Câu kỳ ngộ )

    Tại VNCH trước ngày 30-4-1975 có rất nhiều hoa Mai nhưng nhiều nhất là hai tỉnh Quảng Nam và Bình Thuận. Ở thủ đô Sài Gòn vào những ngày sắp tết, Mai từ các tỉnh miền Trung như Ðà Lạt, Phương Lâm (Lâm Ðồng) hay Nam Phần tại Sa Ðéc , đổ vào hàng trăm loại hoa. Giữa muôn hồng ngàn tía khoe hương sắc rực rỡ nhưng thiên hạ vẫn nườm nượp ùa tới những gian hàng bán hoa Mai, để tha hồ nhìn ngắm, lựa chọn những cành mai vàng năm cánh mỏng như lụa, đang rung rung nhè nhẹ trước cơn gió thoảng. Ðây là người bạn lâu đời nhất của Miền Nam, quanh năm sống heo hút trong rừng sâu, núi cao, chỉ những ngay sắp Tết mới hiện diện vui xuân với mọi nhà. Ngày nay theo thời thượng, nên nhân sinh đã tạo ra rất nhiều loại mai mới, có giống tới mười cánh, hai mươi cánh với các màu sắc loè loệt trắng, vàng hay ghép đũ màu sặc sỡ lố bịch. Ðây là sản phẩm tự chế của xã nghĩa thiên đàng, quen xét đời qua giá trị của sản phẩm vật chất mà không cần biết tới cỏi hồn tinh khiết bên trong, dù đó là hồn nước, hồn người hay hồn hoa thắm đượm.

    Mai có thân hình khẳng khiu nhưng cứng rắn mà vẫn ẻo lã duyên dáng , còn cánh hoa thì màu sắc thắm tươi, mỏng manh cho đến khi lìa cành mà màu sắc vẫn không thay đổi. Mai được xếp đầu trong muôn hoa, nở rộ trong những ngày đầu xuân ‘ tiên hưởng bạch hoa đầu thượng khai ‘.Mai cũng là đề tài muôn thuở, làm mê say đắm lụy tâm hồn văn thi sĩ, họa sĩ, nghệ nhân bao đời. Nhờ vậy đã lưu truyền cho hậu thế nhiều tác phẩm nghệ thuật, nói về Mai rất đặc sắc và trữ tình. Có điều tuy cùng ngâm vịnh hoa Mai nhưng âm hưởng đã hoàn toàn khác biệt giữa giống Mai mà các văn nghệ sĩ VN ngâm vinh và loài Mai Trúc trong nghệ thuật hội hoa, điêu khắc và ca tụng trong nền văn học Trung Hoa

    + HOA MAI TRONG VĂN CHƯƠNG CỔ ÐIỂN:

    Loài Mai này hoàn toàn khác biệt với giống Mai vàng đã có từ lâu đời tại Miền Nam VN. Giống Mai này có tên khoa học là Prunus Mume thuộc ho Hoa Hồng (Rosaleal). Mai Tàu tương cận với cây Mơ, có tên khoa học Prunus Armeniaca Lin, cũng như cây Ðào (Prunus Persica Stokes). Mai Tàu có hoa năm cánh, màu trắng, hồng hay đỏ thắm, mùi thơm. Quả Mai lúc sống màu xanh và biến thành màu vàng khi chín. Người Trung Hoa miền Quý Châu sấy khô thành quả Ô Mai hay Ô Môi và đem bán ở các thị thành VN mà chúng ta gọi trại là Xí Muội. Những chữ Mai trúc trong văn chương cổ điển Trung Hoa, chính là loại Mai này.

    + MAI VÀNG TẠI MIỀN NAM VN:

    Giống Mai này có tên khoa học là Dohna Harman, thuộc ho Hoàng Mai (Ochnaceae). Mai vàng không thơm, quả chỉ nhỏ bằng hạt đậu, khi còn tươi có màu xanh và biến thành màu đen lúc cây chết., không ăn được. Ngoài ra còn có một giống Mai thuộc họ Tre, thân dài thẳng đứng, vỏ cây rất dày có nhiều đốt, lá to. Loại Mai này được đốn với tre đem về làm nhà, ống đựng nước uống, nó hoàn toàn khác biệt với hai loài hoa Mai trên..

    ‘Miệng ăn măng trúc, măng mai
    những tre cùng nứa lấy ai bạn cùng‘


    (Phong dao VN)

    Nhưng cho dù thuộc giống Mai nào chăng nữa, thì Mai vẫn là một loài thực vật có thể chịu đựng được tuyết giá đông hàn, luôn ngạo nghễ nở hoa để chào đón chúa xuân, trong phút giây giao thời. Chính cái bản sắc cuồng ngạo đó, đã lôi cuốn nhân sinh vào cuộc chơi. Ðó cũng vì Mai chính là hiện thân của hàng Kẽ Sĩ, Trượng phu, anh hùng mã thượng, chịu đựng tất cả dâu biển của cuộc đời, kể cả phong ba bão táp, để đạt cho được mục đích cuối cùng ‘lợi dân, ích nước, làm đẹp cho người‘. Và cũng chỉ có Mai mới đủ thực chất để đại diện cho lớp người chọc trời khuấy nước, coi thường danh lợi phú quý như phù vân, xem vua quan thối nát thua loài cỏ rác, coi bọn khoa bảng trí thức xu thời, bợ thế, dua mị, nhắm mắt chạy theo lợi nhuận, chẳng khác nào sâu bọ.. cầm thú đội lớp người. Ðiển hình nhất trong lớp người cuồng ngạo trên có Chu Thần Cao Bá Quát, ông đã viết:

    ‘Thập tái luận giao cần cổ kiếm
    nhất sinh đề thủ bái mai hoa‘


    Như Ðào, hoa Mai cũng được các thi nhân vay mượn dùng làm đề tài, để diễn tả nét đài trang thanh nhã của những người đàn bà đẹp trong đời, qua các thời đại, như Nguyễn Du tiên sinh đã viết trong ‘Ðoạn Trường Tân Thanh‘

    Mai cốt cách, tuyết tinh thần
    mỗi người một vẽ, mười phân vẹn mười.


    Yêu quí mai, trân trọng mai tới độ bái phục mà các văn thi nhân còn chưa thấy là đủ, nên cuối cùng đã chọn mai làm người bạn tri kỷ để ra vào cùng đối ẩm, cận kề :

    ‘nghêu ngao vui thú yên hà,
    mai là bạn cũ, hạc là người quen‘


    + TAO NHÂN MẶC KHÁCH VỚI MAI:

    Chơi xuân mỗi người một cách nên hầu như không giống ai cả, nhất là với hàng tao nhân mặc khách. Người bình dân chất phác, khi lựa chọn một cành mai để vui ba ngày tết chỉ cần có nhiều hoa nở, đúng vào lúc giao thừa. Sau đó hoa vẫn tiếp tục nở rộ trong ba ngày xuân, thế là đủ rồi, vì đối với họ đó là niềm vui cũng như sự may mắn. Nhưng với lớp người trưởng giả, thì khi chọn mai để thưởng thức phải là giống to, cao, hoa lá xum xê, để chủ nhà biểu lộ với hàng xóm láng giềng, về sự giàu sang sung túc của mình.. Tuy nhiên đối với hàng tao nhân mặc khách nhất là giới nghệ sỷ, thì mai không phải là loài vô tri, mà là một sinh vật có linh hồn, chẳng thế mà thiên hạ đã cùng đồng tâm chấp nhận ‘Mai là hoàng hậu của muôn hoa‘ .

    Ái mộ, nưng niu, chiều chuộng nên thi nhân bao đời đã nhân cách hóa và đặt tên cho Mai nhiều mỹ danh vô cùng diễm lệ. Do đó với loài Mai có màu trắng như ngọc tuyết tinh khôi, thì gọi là Bạch Mai, Chi Mai hay Mai Ngự Sử. Với loài Mai có màu xanh, thì được đặt tên là Mai Thanh Ðài. Còn Mai có màu vàng thì gọi là Hoàng Mai hay Lạp Mai, vì loại mai này chỉ nở vào những ngày cuối đông mà thôi. Ngoài ra còn nhiều loại Mai khác như Hồng Mai (màu đỏ), Mai Thanh Ðài Lục Ngạc (Hoa mai có 6 cánh đan chéo vào nhau như sừng nai, màu xanh), Mai Chuỗi (màu tôm có hoa và trái kết thành chuỗi), Mai Chiếu Thủy (màu trắng, cánh nhỏ, thường rũ nghiêng xuống mặt nước), đầy là loại mai quý hiếm. Cuối cùng là Mai Tứ Thời có hoa suốt năm, bốn mùa.

    Hiện không có tài liệu nào xác nhận thời gian đầu tiên loài Mai xuất hiện trên trái đất. Nhưng cái tên Mai lại được giải thích rằng: Có một loài hoa rất gai góc chịu đựng cảnh băng giá mưa đông, để kịp nở hoa vào buổi giao thời, giữa năm cũ và năm mới. Hoa có năm cánh kết thành một vòng tròn, biểu tượng ánh thái dương đang tỏa nắng ấm tới nhân gian vào buổi sớm đầu xuân. Với các đặc tính đó, loài hoa này mới được gọi là hoa Mai. Ngoài ra liên quan tới giống hoa này, xưa nay đã có rất nhiều điển tích liên quan như:

    - TRÚC MAI: Vì bán mình để có tiền chuộc mạng cho cha mẹ, nên Thúy Kiều phải theo gã Mã Giám Sinh về Lâm Tri. Ðêm đó một mình nàng ôm mặt khóc với bóng đèn khuya, nhớ đến người tình đang ngoài muôn dặm là Kim Trong, mà đứt ruột nát hồn. Ðể diễn tả hoàn cảnh bi thiết đó, Nguyễn Du tiên sinh đã mượn điển tích ‘Trúc Mai‘ và viết :

    ‘Tái Sinh chưa dứt hương thề
    làm thân trâu ngựa đền bù Trúc Mai‘


    Trúc-Mai là hai loại cây vẫn xanh tốt trong mùa đông băng giá. Ðặc tính của hai loại cây này là ‘Trúc bất chỉ thiên, Mai bất chỉ địa‘, đó là một sự hòa hợp âm dương rất tuyệt diệu. Ngoài ra theo sách ‘Lưỡng Bạn Thư Vũ Tùy Bút‘ có viết câu chuyện Trúc Mai như sau: Vào mùa đông, các tao nhân mặc khách thường tới Ðầm Long Môn tại tỉnh Quảng Ðông để thưởng ngoạn, vì tại đây có rừng Trúc-Mai vẫn tươi tốt trong cảnh tuyết băng giá buốt lạnh lẻo. Tại đây, có hai giai nhân tài tử tên Hoàng Kỳ Mai và Lam Bá Trúc được dịp quen biết rồi yêu nhau tha thiết. Nhưng rồi cũng phải chia tay, trước giờ phân kỳ Lam Bá Trúc đã bẻ một cành Mai còn Hoàng Kỳ Mai thì dùng một nhánh trúc, để làm kỷ vật trao đổi, thệ nguyện nên cuối cùng đã toại nguyện. Từ đó để nói tới tình yêu trai gái, vợ chồng, người đời sau hay lấy điển tích ‘Trúc Mai‘ để diễn tả.

    - NHẤT CHI MAI: Ðiển tích này được trích từ tập ‘Kiến Văn Tiểu Lục‘ của Lê Quý Ðôn, nói về đời tư của Hồ Quý Ly. Theo sách cho biết tổ phụ ông là người Tàu, vì loạn lạc nên mới di cư sang Ðại Việt. Lớn lên đi tìm công danh, nên Quý Ly đã bỏ làng quê tới kinh đô Thăng Long. Trên đường vô tình ông lượm được một quyển sách tên ‘Quảng Hàn Cung Lý Nhất Chi Mai‘ nên mở mang được nhiều kiến thức chính trị quân sự. Về sau Ông được vua Trần Nghệ Tông trọng dụng, nên thăng quan tiến chức rất nhanh. Một hôm nhân các triều thần hội họp trong cung vua, Nghệ Tôn mới chỉ vào rừng quế, quanh điện Thiên Thủ, ra một câu đối:

    ‘Thanh thủ điện tiền thiên phụ quốc‘

    Trong lúc các quan chưa kịp ứng đối, thì Quý Ly chợt nhớ tới nhan đề của cuốn sách mà trước đây mình đã vô tình lưọm được, nên đối ngay: ‘Quảng Hàn cung lý Nhất Chi Mai‘

    Nhà vua cho đó là duyên kỳ ngộ, nên đã đem công chúa gả cho Quý Ly. Từ đó họ Hồ mới có cơ hội xây dựng thế lực và vây cánh, cướp ngôi nhà Trần sau khi Thượng Hoàng Nghệ Tông mất.

    - MAI TRƯỜNG AN: Còn có tên là Mai Tứ Quý là giống Mai nở hoa bốn mùa. Ðiển tích ‘Mai Trường An‘ được rút ra từ câu chuyện nàng TâyThi, cô gái nước Việt, đã giúp cho Vua Việt Câu Tiễn đánh bại Ngô Phù Sai, rửa nhục và thu hồi lại đất nước đã mất. Ðiển tích trên, đồng thời cũng nhắc tới câu chuyện nàng Dương Thái Chân, tức là Dương Quý Phi ái thiếp của vua Ðường Minh Hoàng. Thời đó có Lục Khải làm quan tại Giang Nam, nhân lính trạm mang thư tín về kinh đô Trường An, nên ông đã bẻ một cành Mai để gửi về tặng bạn là Phạm Việp, trong đó có kèm theo một bài thơ:

    ‘Chiết Mai phùng dịch sứ
    Ký dữ lũng đầu nhân
    Giang Nam vô sở hữu
    Liễu tặng Nhất Chi Mai‘


    Quá cảm động và càng thương quý bạn nên Phạm Việp đã đem cành mai đó trồng và Mai có hoa nở cả bốn mùa. Sau này các văn thi sĩ thường mượn loài Mai trên, tức Mai Trường An để nói về nhan sắc chim sa cá lặn của các giai nhân nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, nhất là Tây Thi và Thái Chân.

    + MAI VÀ THƠ VĂN:

    Xưa nay, những người thoát tục ngoại hạng, thường ưa thích hoa Mai, vì cho đó là một biểu tượng cao quý của hạng Sĩ phu, Quân tử... theo quan niệm của Nho giáo. Thật vậy, với thái độ sừng sững giữa trời mưa gió. Trong cõi trời đất gần như hư vô bát động này, Mai đã rụng hết lá, chỉ còn lại thân cây trơ trọi. Thế rồi những ngày cuối chạp sắp Tết, bỗng dưng khắp thân Mai, tràn đầy lá xanh và búp nở. Tất cả như đợi chờ một khoảnh khắc giao mùa của trời đất, mới chịu mãn khai.

    Ðứng trước nổi thế thái biển dâu của nhân tình và vạn vật, Mãn Giác Ðại Sư (1045-1096) một cao tăng thời Lý, đã viết bài kệ ‘Cáo Tật Thị Chúng‘, rất nổi tiếng nên được lưu truyền tới ngày nay:

    ‘Xuân qua trăm hoa rụng
    xuân tới trăm hoa tươi
    trước mắt việc đi mãi
    trên đầu già đến rồi
    chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
    đêm qua sân trước nở cành mai‘


    Ðây cũng chính là một thông điệp vô cùng trân quý mà thiền sư đã gởi lại cho hậu thế VN với lời nhắn nhủ thật chân thành, khuyên bảo mọi người ‘phải kiên trì để mà sống, không cần sợ hãi bất cứ một nghịch cảnh nào, giống như đêm qua sân trước nở cành mai, dù ai cũng nghĩ rằng xuân tàn hoa rụng hết‘.

    Còn nhà sư Tế Kỷ sống vào thời Nhà Ðường, đã mượn cớ ‘Tảo Ma‘, để làm một bài thơ, cũng có ý tưởng rất cao siêu như Thiền Sư Mãn Giác, khuyên mọi người phải sống kiên trì, giống như Hoa Mai, mới mong thành tựu:

    ‘Vạn mộc đông dục chiết
    cô căn noãn độc hồi
    tiền thân thâm tuyết lý
    tạc nhật nhất chi khai‘


    Bài thơ cho biết là trong lúc muôn cây sắp chết cóng, riêng có Mai thì rể đang trở mình, giữa cảnh tuyết băng giá lạnh, chợt đêm qua Mai nở hoa.

    Trong văn chương cổ điển Trung Hoa, Ðại Ðường và Bắc Tống là hai thời đại rất thịnh hành về lối thơ Thất Ngôn ngâm vịnh. Ðặc biệt thời Bắc Tống, có rất nhiều tao nhân mặc khách nổi tiếng, cũng không thua kém gì các thi thần, thi bá Lý Bạch, Ðổ Phủ, Bạch Cư Dị.. đời nhà Ðường. Cũng vì vậy, họ đã lưu lại cho hậu thế rất nhiều bài thơ ‘Vịnh Mai‘ vô cùng đặc sắc. Trong số này đáng kể nhất có Lam Pha suốt đời chỉ mê đắm Hoa Mai mà thôi, chứ không hề ngó tới đàn bà, dù đó là những người đẹp nổi tiếng tại kinh đô Biện Kinh (Khai Phong). Với Vương An Thạch (1021-1086) tể tướng thời Tống Thần Tông, chủ trương Tân Ðảng, lừng lẫy một thời trên trường chính trị cũng như trong văn đàn, đã lưu lại cho hậu thế nhiều trước tác giá trị, trong đó có bài thơ ‘Mai Hoa‘, rất được nhiều người ưa thích:

    ‘Tường dốc sổ Chi Mai
    Lăng Hàn độc tự khai
    dao tri bất thị khuyết
    dữ mai tinh tác thập phần xuân‘.


    Ý thơ muốn nói, nơi góc tường mấy nhánh mai, tự nở hoa trong rét, xa nhìn không phải tuyết vì có hương thầm bay.

    Riêng Lư Mai Pha thì chẳng những ca tụng Mai, mà ông còn đề cao cả tuyết và thơ. Theo quan niệm của ông, cho rằng người đời bất cứ là ai, nếu đã sẵn có trong tay ba thứ trên, coi như họ đã có một trời xuân hạnh phúc:

    ‘Nhật mộ thi thành, thiên hữu tuyết
    dữ Mai tinh tác, thập phần xuân‘


    Ý ông nói là vừa làm xong bài thơ thì đêm tới, trong lúc ngoài trời đầy tuyết, còn nơi góc nhà Mai cũng nở hoa, coi như ta đã hưởng trọn vẹn mời phần xuân rồi.

    Mao Ngọc Long là con gái quan Ngự sử Mao Phụng Thiều, có chồng đã hy sinh ngoài sa trường, nên ở vậy thủ tiết làm người sương phụ. Một mùa Đông nọ ngồi bên song cửa, nhìn tuyết đang rơi lã chã ngoài sân, chợt thấy cành mai lẻ loi đang khép nép dưới mái hiên lạnh, vừa nở rộ một cánh hoa trong cơn buốt giá. Nhìn cảnh sinh tình, thêm tủi phận cô đơn góa bụa của mình, nàng đã viết bài thơ ‘Ðông Dạ‘, để gửi gấm tâm sự u hoài của người sương phụ:

    ‘Thùy liêu tịch mịch, thư song hạ
    Ðấy ảnh Mai Hoa, loạn dạ đăng‘.


    Sau này các Họa sỹ cũng theo gót các văn nhân thi sĩ nhập cuộc. Trong số này có Trọng Nhân, đã dùng mực nước, vẽ môt cành Mai với hai màu đen trắng, ai cũng khen là Hoa có hồn. Ðời nhà Minh có Vương Ðiệu ở Hàng Châu tỉnh Chiết Giang, chuyên vẽ Hoa Mai Tây Hồ, với những nét u hoài lãng mạn nhưng cũng không kém phần mạnh mẻ, với nụ hàm tiếu đang mãn khai vô cùng duyên dáng, trữ tình. Hàng Châu từ lâu đời là kinh đô của Nhà Nam Tống, vùng đất nổi tiếng về Trà và sản xuất tơ lụa. Vì vậy các nghệ nhân đã đem Mai in trên tơ lụa, mà nổi tiếng nhất vẫn là những hình vẽ loài ‘Ẩn Mai‘, do Vương Ðiệu sáng tạo, với khung cảnh như không như có, hấp dẫn lạ lùng.

    Nhưng người nổi tiếng nhất khi vẽ Hoa Mai trong nền hội họa cổ điển Trung Hoa, từ xưa tới nay vẫn được công nhận, vẫn là Vua Tống Huy Tông (1100-1125) thời Bắc Tống vì ham vẽ, mê chơi, lại tin nghe bọn nịnh thần như Sài Kính, Trương Ban Xương.. làm cơ nghiệp nhà Tống đổ nát vào giặc Kim ở phương Bắc. Năm 1127, vua lúc đó là thượng hoàng, cùng với vua Khâm Tôn và nhiều triều thần đã bị nước Kim bắt đem về giam giữ tại Nội Mông và chết ở đó. Tuy Vua Huy Tông chỉ sống rất ngắn ngủi (1108-1135) nhưng ông đã lưu lại cho hậu thế rất nhiều tranh vẽ giá trị, trong số này có bức danh họa ‘Kết Năm Màu Trên Nhành Mai‘, hiện được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Boston (Hoa Kỳ).

    Bây giờ mọi người mới hiểu tại sao thời Nhà Tống, ai cũng thích Hoa Mai hơn các thời đại khác trong lịch sử Trung Hoa. Theo sử liệu cho thấy nhà Tống rất yếu về quân sự so với các nhà Hán, Ðường và Minh. Do trên đất nước Tàu từ thời Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) lập quốc năm 916, cho tới đời Vua cuối cùng là Ðế Bình, thị bị Mông Cổ tiêu diệt năm 1279, luôn luôn bị các nước Liêu, Kim, Tây Hạ, Thổ Phồn, Mông Cổ, Ðại Lý và Ðại Việt .. tấn công, xâm lấn. Do trên các bậc văn nhân, thi sĩ kể cả họa sĩ và nhất là giới sĩ phu trí thức, thường lấy Hoa Mai làm biểu tượng tinh thần của người anh hùng trong thời loạn ly lửa khói, để đề cao dũng khí, sự tinh khiết cùng lý tưởng cứu dân, giúp nước của mọi người. Do trên, thời nhà Tống mới có nhiều thơ văn và họa phẩm nổi tiếng về Hoa Mai.

    Tóm lại hiện có hai loài Mai, một của Trung Hoa đã xuất hiện từ thời thượng cổ mà kinh thi đã từng đề cập. Riêng về giống Mai Vàng nổi tiếng của VN, tới nay vẫn chưa truy tìm được xuất xứ, cũng như thời gian ban đầu Mai xuất hiện. Tuy nhiên Mai vàng chỉ mọc ở miền Nam VN, nhiều nhất trong hai tỉnh Quảng Nam và Bình Thuận. Theo Vương Hồng Sển viết trong ‘Sài Gòn Năm Xưa‘, thì miệt Sài Gòn chỉ có giống Mai Trắng, mọc rất nhiều tại Thứu Lãnh Tự (Chùa Cây Mai), Gò Mai và Phụng Sơn Tự (Chùa Gò). Cũng theo tác giả, thì giống Bạch Mai này được đem từ Cao Mên về trồng.

    Tương truyền khi còn cầm quyền, vua Chế Mân đã lập vườn Mai Uyển ở Cà Ná là ranh giới giũa hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận hiện nay. Tại đây Vua cùng với Hoàng hậu Paramervan (Công chúa Trần Huyền Trân của Ðại Việt), tới dạo chơi và thưởng ngoạn các loại hoa quý trong vườn, nhất là Mai. Tại đậy Hoa Mai có nhiều loại, từ Hồng Mai, Bạch Mai hai tầng có cánh rất lạ, cho tới loại Hoàng Mai có cánh vàng, mỏng mà ta thường thấy trong dịp Tế. Hiện chiến tranh đã tàn phá tất cả, dù cảnh vẫn còn đó.

    Những năm tháng sống tại quê nhà trước ngày 30-4-1975, năm nào Tết tới cũng đều ao ước có được một cành mai vàng nho nhỏ để vui Xuân nhưng đã trót làm dân xóm nhỏ, thì làm gì dư tiền để mua Mai như thiên hạ. Bởi vậy chỉ còn ngắm Mai vô hồn trong các bức tranh tết, treo trên vách lá, phên tre. Rồi thì tới tuổi lớn, thật sự mới có dịp thưởng thức Mai thật trong rừng hay trên các vách núi cheo leo, qua những bước hành quân xuôi Nam ngược Bắc. Nhưng buổi đó chiến tranh càng ngày càng mù mịt, tuổi đời như gắn liền với tuổi lính, thân phận còi cọc lăn lộn trong khói lửa quê hương, nên còn hồn đâu mà chiêm bái, Mai vàng, hoa Đào hay Cúc tía.. thậm chí có lúc cả bọn chưa cạn xong tiệc rượu nơi quán bên đường, thì bên ngoài trống trận, đã giục giã đoàn quân lên đường. Hỡi ơi đời lính là vậy đó.

    Giờ thì lặng yên trong những ngày tết sắp tới nơi xứ người, bổng thèm một cành Mai, để bắt chước người dân nước Tống thuở nào, mượn Mai dục hồn người vong quốc xa nhà, sống đời lưu vong buồn sầu đứt ruột. Nhưng hỡi ơi tất cả các loài hoa ở đây, như đã bỏ ta đi trốn. Càng não nùng hơn là những con đường thơ mộng của Hạ Uy Di ngày nào, nay chỉ còn đầy gió và lá rụng, làm thêm đau điếng khi nhớ tới những ngày xuân thơ ấu ở quê làng. Ở đây tết người đã tan đêm hội, nên chỉ còn lại có những cơn mưa năm mới, làm nhớ tới ngày nào cũng trong cơn mưa, ta đã vuốt tóc em ướt sũng nước mưa, mà cứ tưởng đó là ngàn vạn đoá mai vàng mừng mùa Xuân diễm tuyệt của hai đứa mình.

    Lại thêm một Tết quê người.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di
    Ðầu Xuân Dương Lịch 2010
    MƯỜNG GIANG
  11. CỌP TRONG NGÔN NGỮ VÀ ÐỜI SỐNG CON NGƯỜI

    MƯỜNG GIANG




    Cọp là loài thú to lớn và mạnh khỏe nhất trong họ mèo, gồm tám giống thường sống đơn độc trong các khu rừng thưa có nhiều cỏ tranh ngoại trừ thời gian động đực nuôi con. Ðịa bàn hoạt động của cọp chủ yếu là Châu Á trải rộng từ Siberia, Mông Cổ, Trung Hoa tới bờ đông Mãn Châu, xuống tận vùng Tiểu Á, Trung Ðông, Ba Tư, Ấn Ðộ, Ðông Nam Á, các quần đảo Nam Dương, Phi Luật Tân..

    Trước đây con người chưa có đủ phương tiện để trấn áp các loại dã thú rừng xanh như beo cọp nên một số nước đông phương trong đó có Trung Hoa, VN đã thần thánh và xem nó như một linh vật để cúng tế và đắp tượng thờ tại các đình chùa. Trong dân gian cũng như lĩnh vực văn học nghệ thuật, có ghi lại rất nhiều câu chuyện thần kỳ nói về sự liên quan mật thiết giữa người và cọp đầy bí mật và huyền thoại.

    Nhưng điều oái oăm hiện nay chính là những truyền thuyết huyền thoại, mà bao đời con người dành cho cọp không biết là thật hay sự tưởng tượng ngẩu hứng, giờ đã trở thành tai họa cho loài thú này. Thêm vào đó loài người càng lúc càng sinh sôi nẩy nở, phải phá rừng xẽ núi để sản xuất trồng trọt, nên lấn chiếm dần hết giang sơn của chúa sơn lâm, khiến ác thú càng lúc càng bị dồn vào thảm họa diệt chủng. Theo thống kê cho biết hiện nay khắp thế giới còn không quá 5000 cọp. Ðiều này đã khiến cho Liên Hiệp Quốc phải lên tiếng báo động và xếp nó vào loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ.

    + Cọp: Chúa Tể Của Sơn Lâm

    Cọp là loài dã thú có sức mạnh và sự tinh khôn gần bằng con người. Theo kinh nghiệm của giới thợ săn và làng võ, những nhân vật từng chạm trán với ác vật trên cho biết tính nết cọp rất kỳ lạ. Ðó là khi vồ mồi (bất kể là người hay thú vật) nếu bắt trúng ‘tai‘ thì cọp bỏ đi. Khi đã bắt được mồi, bao giờ cọp cũng dựng xác người hay vật ở tư thế ngồi hay nằm rồi mới ăn thịt và luôn luôn moi lục phủ, ngủ tạng ăn trước. Cọp nào làm ngược những qui tắc trên, được giới thợ săn gọi là ‘cọp trở mồi‘, một báo hiệu cho biết nó sắp bị giết bởi thợ săn hay sập bẫy. Ngoài ra khi thấy cọp quỳ chân sau chống chân trước là lúc cọp sắp tấn công. Khi vồ mồi, cọp chạy theo thế bò sát và phóng tới, cái đuôi phe phẩy theo hướng nào là cọp tấn công theo hướng đó. Sau cùng lúc cọp nằm ngữa bụng lên trời là để dưỡng sức đợi dịp tấn công tiếp đối thủ. Nhưng cọp cũng rất yếu bóng vía khi bị tấn công bất thần. Những lúc đó thường cong đuôi bỏ chạy và khi hườn hồn, lại quay về nẽo cũ để bắt mồi.

    Với người VN, cọp được gọi bằng nhiều danh xưng như Hổ (miền Bắc), cop miền Nam) hay ông ba muơi, ông Kễnh, ông Hùm.. Cọp thuộc họ Mèo với 240 loài là thú ăn thịt sống lớn nhất hiện nay gồm chó, mèo, chồn, gấu.. Chúng có bộ răng và móng chân đặc biệt để thích nghi trong việc xé mồi sống ăn thịt. Bộ răng gồm răng cửa nhỏ nhưng sắc bén dùng để róc xương, còn răng nanh vừa nhọn lại dài, lớn dùng để xé mồi. Riêng răng hàm được cấu tạo như lưởi kéo có nhiều mấu sắc nên có thể nhai nát thịi lẫn xương. Còn các móng chân của bộ ăn thịt đều có vuốt cong được đệm bằng lớp thịt dầy nên bước đi của chúng rất nhẹ nhàng uyển chuyển, thích hợp cho sự rình mồi. Loài nay có bán cầu não lớn mang nhiều nếp nhăn, con thú mới sinh rất yếu nên thường bị chết yểu.

    Họ Mèo (Falidae) là loài thú tiêu biểu nhất trong bộ thú ăn thịt gồm có cọp, beo, sư tử và mèo. Chúng săn mồi bằng cách tình rập và tấn công bất thần vào đối thủ (người hay vật) qua hành động nhảy cao và xa vì hai chân sau của chúng dài hơn chân trước. Chuyên săn mồi vào ban đêm nhờ có thị và thính giác cực mạnh, còn râu chỉ là cơ quan xúc giác phụ mà thôi. Trừ thời gian động động dục và nuôi con, hầu hết các thú thuộc họ Mèo sống đơn độc.

    CỌP (Panthera Tigris) hay Hổ là loài thú có kích thước lớn nhất trong họ Mèo. Một con cọp xứ Bengale (Ấn Ðộ) vào tuổi trưởng thành có trọng lượng hơn 250 kg, dài gần 2m và để nuôi thân, mỗi tuần phải ăn một con nai hay heo rừng. Trong 11 loài cọp còn tồn tại, nhỏ nhất là loài cọp sống trên đảo Sumatra (Nam Dương) nặng chừng 120 kg, còn loài lớn nhất hiện nay là cọp Tây Bá Lợi Á (Amua Panthera Tigris Longipilis) dài 3 m và nặng trên 320 kg. Trong rừng xanh cọp là chúa tể muôn loài trừ voi, sư tử, tê giác và trâu rừng.

    Cọp Tây Bắc Á sinh sống tại Nga, Tàu và Bắc Cao Ly, trước đây được mệnh danh là lãnh chúa của rừng Taiga, nay cũng sắp bị diệt vong trước mũi súng của phường săn. Tại Trung Hoa, chúng sống ở hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm (Mãn Châu) có bộ lông phát triển rất mạnh kể cả phần đuôi, biến đổi theo thời tiết từng mùa từ vàng nhạt sang đậm. Tại Tây Bá Lợi Á, cọp Siberia rất hung dữ và là kẻ thù không đội trời chung với chó sói, nên nếu có sự hiện diện của cọp trong vùng thì sói bỏ đi nơi khác để kiếm ăn.

    Hơn một thế kỷ trước tại Ấn Ðộ có chừng 40.000 cọp, nay chỉ còn lại 3000 trong số 6000 khắp thế giới vì hầu hết cọp sống tại Bali, biển Caspienne và Java sắp bị tuyệt chũng. May mắn nhất có lẽ là loài cọp Felis Paleosinensis cũng thuộc giống Siberia sống ở miền nam nước Tàu, Ấn Ðộ và vùng Ðông Nam Á hiện phân bố thành 8 loài khác nhau qua màu lông, kích thước. Một số cọp Siberia được nuôi dưỡng trong khu vực có rào sắt tại tỉnh Vladisvostok (Nga) và vườn thú Minnesota (Mỹ) nhưng đặc biệt nhất là tại Vân Nam (Trung Hoa), cọp rất được người thiểu số Lolo thuộc bộ tộc Di trọng vọng vì coi nó như vị thần hộ mạng.

    Là loài thú sinh sản rất hạn chế, cop nhỏ lên tới 4 tuổi mới trưởng thành. Cọp cái mỗi lần sinh đẽ với khoảng cách 2,3 năm và trong đời chỉ sinh tối đa là 7 lần và tới năm 20 tuổi là chấm dứt. Cọp cái mang thai khoảng 4 tháng thì sinh nở mỗi lứa từ 1-5 con nhưng tới đa chỉ vài con sống sót.Tuy là loài thú dữ nhưng cọp cái rất thương con nên chăm sóc kỹ càng tới năm 3-4 tuổi, cọp con mới rời mẹ để sống một mình.

    Về nguồn gốc, theo các nhà động vật học thì cách đây hơn 300.000 năm, tại vùng rừng núi Siberia còn ôn hòa ấm áp nên đã thấy cọp xuất hiện. Chúng là hậu duệ của loài Creodon sống cách đây hơn 60 triệu năm nay đã tuyệt chũng. Sau đó khí hậu vùng này càng lúc càng lạnh lẽo băng giá nên loài cọp mới di cư tới nơi khác ngoại trừ giống cọp to khoẻ Siberia chịu đưng được thời tiết nên ở lại tới ngày nay. Chúng chia thành hai nhóm đi về hướng tây nước Nga tới vùng biển Caspienne, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Afghanistan.. Nhóm khác đi về hướng đông vào Tân Cương, Trung Hoa, Mãn Châu và xuống tận miền Nam vào Ấn Ðộ hơp với nhóm một, thiên di tới các nước Ðông Nam Á ra tận các hải đảo Nam Dương, Phi Luật Tân.. Ðó cũng là cuộc di cư cuối cùng của dòng họ cọp. Hiện các nhà khoa học chọn giống cọp Bengale làm con vật trung gian giữa giống cọp lớn nhất (Siberia) và nhỏ nhất (Bali) để đại diện cho dòng họ cọp, vì nó mang đủ các sắc tố điển hình của hai loài cọp trên về sức nặng, kích thước, màu lông và các yếu rố tâm sinh lý. Ðặc biệt là loài cọp trắng mắt xanh, chỉ có tại Ấn Ðộ. Ngoài ra còn có Liger là loài cọp được lai giống từ sư tử đực và cọp cái. Nó có cơ thể giống sư tử với những sọc vằn và thích bơi lội như cọp. Một con thú lai thứ hai giữa cọp đực và sư tử cái được gọi là Tigon, mang đặc tính loài cọp.

    VN trước đây có nhiều cọp nhưng nổi tiếng có cọp Hòa Bình, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Quảng Trị, Khánh Hòa, Mỹ Tho, Bến Tre, Cà Mau..

    + Cọp Trong Ðời Sống Con Người:

    Trong ngành thiên văn học, nếu các nhà chiêm tinh phương Tây xác nhận thái dương hệ có một vành đai gọi là ‘Vòng Ðộng Vật (Zodiac)‘ là vành đại mở rộng của vòng Hoàng Ðạo mà người Trung Hoa cổ đã chia nó thành 12 cung hay 12 con giáp qua tên gọi Tý, Sữu, Dần.. Hợi. Sao Mộc (Jupiter) chuyển động quanh mặt trời với chu kỳ gần đúng 12 năm và hằng năm khi sao đó đi vào cung nào trên vòng Hoàng Ðạo, chẳng hạn như năm 2010 vào cung Dần nên được gọi là năm Dần.. Ngoài ra người Tàu còn lấy tên các con vật quen thuộc với người như chuột, trâu, cọp, mèo.. ghép vào các cung tương ứng theo thứ tự đã định sẳn, để cho phù hợp với nguyên lý từng cặp âm dương (căn cứ vào các ngón chẳng ‘âm‘ và lẻ ‘dương‘) của con vật.

    Nước ta từ khi lập quốc tới ngày nay luôn chứng tỏ là một dân tộc có tinh thần thượng vỏ, nên đời nào cũng đều có tổ chức những cuộc giao đấu thú dữ như voi cọp qua tên gọi ‘Hổ Quyền‘. Ðại Việt Sử Ký Bản Ký có ghi chuyện Thái Thương Hoàng Trần Thánh Tông và vợ là Khâm Từ Bảo Thái Hậu vì mê coi cọp voi đấu, suýt bị thú dữ làm hại/ Ðời Hậu Lê trường Hổ Quyền được thiết lập tại kinh đô Thăng Long trước sân diễn võ. Vì sợ cọp hung dữ làm hại mọi người, nên ba ngày trước thời hạn giao đấu, quan Phủ liêu ngầm ra lệnh dùng kìm cắt hết móng vuốt của cọp. Do đó cọp chỉ đấu được vài hiệp thì bị voi hạ chết.

    Ðời Nguyễn hằng năm đều có cuộc giao đấu giữa voi và cọp với mục đích huấn luyện cho voi thêm dạn dĩ kinh nghiệm khi đụng trận thật sự. Sân đấu có chu vi hình tròn đường kính gần 40 trượng, được dựng trên một gò đất rộng ở Long Thọ thuộc làng Nguyệt Biều, kế một cái chợ cùng tên. Các chuồng voi và cọp ở gần hai cổng phụ nằm kế bên cổng chính với cửa thông tới hổ quyền. Khán đài để vua quan ngự lãm được dựng trên bức tường cao phía sau hướng về giữa sân khấu có căng màn che mưa nắng.

    Ngày đấu dân chúng địa phương đã bày hương án cũng như có một đội quân mặc lễ phục, để chào đón vua quan từ bờ sông Hương tới cổng chính hổ quyền được trải chiếu hoa. Từ sáng sớm người dân Huế cũng như các vùng phụ cận nô nức kéo về xem cuộc đấu qua hai cổng phụ. Ðúng ngọ vua rời thuyền rồng dùng kiệu được tiền hô hậu ủng tới hổ quyền dùng cổng chính lên khán đài ra lệnh nổi trống mở màn cuộc đấu.

    Tức thì hai cánh cửa chuồng hai bên được mở rộng, một con cọp vằn to lớn nhanh nhẹn nhảy ra dương oai diệu võ gầm thét kinh hồn như muốn ăn tươi nuốt sống con voi đang đối diện. Cuộc ác đấu xãy ra giữa hai con vật hùng dũng nhất rừng xanh, cuối cùng voi cũng hạ chết cọp nhờ sức khỏe, trước sự vui mừng vừa ý của vua quan và dân chúng có mặt. Tuy nhiên không phải cuộc đấu nào cũng suông sẽ mà không gặp phải tai nạn như vào thời vua Gia Long, do một con cọp quá dữ dằn đã gây chết chóc viên quản tượng và nhiều binh lính tại đấu trường. Sau cùng quan chỉ huy phải ra lệnh giết cọp mới yên.

    Tả Quân Lê Văn Duyệt lúc làm tổng trấn Gia Ðịnh cũng cho xây hổ quyền để nuôi voi và cọp, với mục đích cho cọp đấu với các võ sĩ trước mặt các sứ thần ngoại quốc, làm tăng thêm quốc thể VN thời đó. Lê Văn Khôi là một trong những hảo hán đương thời, đã dùng tay không để bắt cọp, câu chuyện thần kỳ này tới nay vẫn còn truyền tụng qua tác phẩm của Lê Ðình Chân viết về ‘Tả Quân Lê Văn Duyệt‘. Ngày hổ quyền chính thức bị bãi bỏ vào cuối đời vua Tự Ðức.

    Tỉnh Khánh Hòa nổi tiếng về cọp không phải ở đây loài ác thú này dữ và nhiều hơn các nơi khác mà do hai câu chuyện thần kỳ tới nay vẫn còn được truyền tụng: Ðó là việc cọp náo loạn pháp trường cứu chủ và sự tích ‘ông ba mươi‘ được dân địa phương mời làm lý trưởng. Nghề bắt cọp tại Thủy Ba nổi tiếng khắp nước nên hằng năm theo lệnh vua, dân làng này vào Thừa Thiên để bắt cọp đem về kinh đô Huế đấu với voi tại Hổ Quyền. Theo huyền thoại còn lưu truyền trong dân gian, thì thuở đó người Thủy Ba bắt cọp bằng lưới bén được làm từ một loại cây mềm mọc tận rừng sâu. Loại cây này rất dẽo và bền nên cọp không thể nào cắn xé đứt được. Lệnh làng bắt buộc thanh niên nam nữ trong thôn xóm (trừ chức sắc, khoa cử, học trò) đều phải tham gia các đội bắt cọp để bảo vệ và canh giữ làng mạc.

    Thịt cọp ngon bổ, da thuộc để trang trí hay nhồi thành hổ giả. Theo các thầy thuốc Ấn Ðộ và Trung Hoa, thì hầu hết các bộ phận trong cơ thể đều có nhiều khả năng kỳ diệu, chứ không phảichỉ có cao hổ cốt còn xương cọp dùng để nấu cao hổ cốt với công dụng trị đau xương, tê thấp, đau nhức. Mỡ cọp chế thành thuốc trị suy nhược, gan cọp ăn sống tăng thêm can đảm, mắt cọp chế thành thuốc viên trị chứng co giật.. Với các thú ăn thịt khác thì chỉ săn mồi lúc đói nhưng cọp lại rất tham lam vì no vẫn giết con mồi để dự trữ ăn dần.

    Thế nhưng trong số 1001 món tráng dương bổ thận, ‘Dịch Hoàn Hổ‘ được nhân gian đánh giá là món ‘dược thiện‘ thượng hảo hạng mà người thường khó lòng nếm nổi vì chỉ dành cho vua chúa thời xưa trong thực đơn hàng ngày. Dịch hoàn của cọp đực vùng tây bắc to bằng cái bánh bao, được chế biến thành ‘thanh thang‘ bằng cách chưng cách thủy suốt mấy giờ liền. Khi ăn bỏ lớp da bọc ngoài rồi cắt thành từng lát mỏng bỏ vào nước muối rồi nhăm nhi với rượu thì dù tuổi già vẫn cai quản nổi ‘tam cung lục viện‘ hằng ngày. Ngoài ra còn món ‘canh hầm dương vật cọp‘ mỗi chén hơn 300 đô la Mỹ.

    Cọp Trong Ngôn Ngữ:

    Trong các loài dã thú và gia súc liên quan tới người thì cọp là con vật được nhắc nhớ nhiều nhất trong văn chương và huyền thoại. Từ ngàn xưa, cọp qua hình ảnh to lớn với sức khỏephi thường đã hằn sâu trong tâm trí của nhân loại. Ðiều trên đã được xác thực qua những khai quật của người tiền sử Gordis, sống cách đây hơn 6000 năm bên bờ sông Amua trong vùng Tây Bá Lợi Á (Nga). Từ đó mới phát hiện được nhiều minh họa và vật dụng về cọp. Cũng tại vùng Bikin là địa bàn sinh sống của người Udages có nhiều danh từ liên quan tới con vật này và loài cọp Siberia, được coi là hai vị thần hộ mệnh tại Primosky và Kharbarovsk.

    Trong thần thoại Ấn Ðộ có nữ thần Durga cưỡi cọp nhưng trên hết vẫn là các loại sách truyện của người Tàu viềt về sự tái sinh của cọp qua nhân vật Lý Nhĩ là tổ sư của Lão giáo với mục đích chống lại tà thần. Ngoài ra còn có các loại ‘Hiếu Tử Truyện‘ ca tụng sự ‘đền ơn đáp nghĩa‘ của cọp đối với người đã cứu giúp chúng‘ cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơ trả oán‘. VN cũng có nhiều câu chuyện truyền kỳ được ghi trong sách vở như ‘Ðại Nam Nhất Thống Chí hay Chuyện Ðời Xứ của Trương Vĩnh Ký...’ liên quan tới cọp giúp người được triều đình phong chức lập miễu thờ cúng. Ngoài ra Việt sử cũng đề cập tới nhiều danh nhân liên quan tới cọp như Ðinh Tiên Hoàng Ðế, Bùi Tá Hân, Nguyễn Hữu Tiến, Dương Cọng Trừng, Tăng Ân..

    - Cọp Trong Ca Dao, Tục Ngữ : cọp, hổ, hùm, ông ba mươi.. cũng chỉ là một danh từ dùng để chỉ chúa sơn lâm. Cáo mượn oai hùm: Mượn oai của kẻ mạnh để hù dọa thiên hạ. Chưa qua truông đã trật lọ cho khái: Câu này đuợc lưu hành trong vùng Nghệ Tĩnh với các danh từ truông đèo núi), lọ (bộ phận sinh dục đàn ông) và khái (cọp). Nghĩa đen ‘chưa qua khỏi núi đã ra mặt coi thường cọp‘ còn nghĩa bóng nói việc chưa hoàn thành đã vội tuyên bố kiêu căng mà không hề nghĩ tới những tai họa trước mắt đang chờ sẳn.

    Hổ trướng dựa theo điển tích trong ‘Nam Ðường Truyện‘ ghi Vương Từ đời Lương dùng da cọp làm lều trại họp thuộc hạ bàn cguyện quân cơ được đời sau gọi là trướng hổ. Hổ Trướng Xu Cơ là tên của một bộ sách quân sự do Ðào Duy Từ (1572-1634) sáng tác. Ông là người có công giúp Chúa Sãi vương xây dựng các lũy Thầy và Trường ục tại Quảng Bình để ngăn chống quân Trịnh. Hổ Bảng là nơi niêm yết danh sách các tân tiến sĩ đời Ðường còn được gọi là long hổ bảng hay hổ bảng.

    Hổ Vi tên gọi trường Quốc Tử Giám. Hổ Bôn chỉ đạo quân thiện chiến anh dũng.Ðời Hán có chức hổ bôn lang, hổ bô trung lang tướng chỉ huy quân hổ bôn túc vệ. Hổ khẩu là chỗ ngón tay cái giáp với ngón tay trỏ. Hổ bộ là bộ võ dựa theo dáng đi của cọp. Hổ phù chỉ binh phù của các võ tướng thời phong kiến. Hổ khê là khe nước trước chùa Ðông Lâm trên núi Cam Lộ thuộc Cửu Giang tỉnh Giang Tây (Tàu) nơi ghi chuyện Ðào Tiềm cùng hai nhà sư Lục Tu Tĩnh và Túc Viễn qua khe cọp. Hổ phách nhựa cây tùng. Hổ hà con tôm hùm. Hổ cứ là con cọp ngồi ý nói địa hình hiểm trở. Hổ cốt xương cọp dùng nấu cao. Hổ đầu là đầu cọp chỉ người có tướng mạo hùng vĩ. Hổ lang chỉ cọp và chó sói để gọi những kẻ giang ác tán tận lương tâm. Hổ lĩnh là chân cọp dùng để gọi các võ tướng xưa có sức mạnh khác người. Hổ môn cửa vào dinh soái tướng. Hổ quyền chỗ nuôi cọp.

    - Cọp Trong Thành Ngữ và Ðiển Tích: ‘Bất nhập hổ huyệt, yên đắc hổ tử‘ thành ngữ rút từ điển tích Ban Siêu thời Ðông Hán theo Ðậu Cố đánh giặc Hung Nô có công nên được vua cử đi sứ để chiêu dụ các nước khác ở Tây Vực. Vua nước Thiện Thiện vì theo Hung Nô nên đối xử không tốt với sứ giả. Ban Siêu biết được nên bàn kế với thuộc hạ lúc ấy chỉ có 16 người, đột nhập vào lều tạm trú của sứ bộ Hung Nô lúc đó cũng có mặt giết sạch. Vua quan Thiện Thiện thấy vậy rất sợ nên tuân phục nhà Hán. Ðời sau căn cứ vào câu chuyện trên, rút ra thành ngữ ‘không vào hang cọp sao bắt được cọp con‘.

    ‘Vị hổ tắc trành‘ là truyền thuyết đã có từ xa xưa nói về linh hồn của người bị cọp ăn thịt không siêu thoát được nên cứ phải quấn quit theo nó dẫn đường để giết hại người khác thế chỗ cho mình. Từ chuyện trên, sách ‘Thinh Vũ Ký Đàm‘ chép rằng ‘Nhân ngộ hổ, y đái tự giãi, giai trành sỡ vi‘ nghĩa là người bị cọp bắt, được ma trành cởi quần áo giây lưng ra cho cọp ăn thịt. Còn linh hồn theo dẫn đường cho cọp bắt người, được gọi là quỷ hay ma trành. Từ truyền thuyết trên, người sau rút ra thành ngữ ‘vị hổ tắc trành‘ ám chỉ những kẻ phù trợ bưng bợ đồng lỏa giúp phường ác làm điều bậy.

    ‘Dưỡng hổ di hoạn‘ Lưu Bang và Hạng Võ cùng khởi binh diệt bạo Tần. Sau đó hai người trở mắt coi như kẻ thù không đội trời chung. Cuối cùng lấy giải hòa, lấy Giả Cổ Hà thuộc huyện Huỳnh Dương tỉnh Hà Nam làm ranh giới. Nhưng dù đã cam kết, Lưu Bang vẫn không giữ lời hứa vì nghe theo lời Trương Lương và Trần Bình khuyên nên lợi dụng thời cơ đánh úp Sở. Nếu không sẽ nuôi hổ để tự mình rước họa vào thân. Qua điển tích này, người sau rút ra được thành ngữ ‘dưỡng hổ di hoạn‘ nói về sự dung dưỡng kẻ thù địch ác gian, để tự mình rước họa về sau.

    ‘Hổ giã hổ uy‘ Sở Hoàn Vương thời Chiến Quốc hỏi quần thần, về lý do tại sao các nước phương Bắc ai cũng sợ Ðại Chiêu Hề Tuất ? thì được Giang Ất đem câu chuyện ngụ ngôn ‘ con cáo sắp bị cọp ăn thịt, nên nói láo là mình được trời sai xuống thống trị muôn loài kể cả cọp, nên ai làm hại nó sẽ bị trời phạt. Ðể cọp tin, cáo cùng cọp đi khắp nơi quả nhiên các loài thú khác thấy cọp hoảng sợ bỏ trốn hết. Thây vậy cọp tưởng thiệt cũng cong đuôi chạy mất. Ý của Giang Ất noí với nhà vua là Ðại Chiêu Hề Tuất hiện được vua giao hết binh quyền nên dân chúng sợ Sở Hoàn Vương chứ đâu sợ hắn. Từ điển tích trên, đời sau rút được thành ngữ ‘hổ giã hổ uy'; đồng nghĩa với câu tục ngữ VN ‘cáo đội lớp hùm‘ để chỉ hạng người hèn kém xấu xa nhờ dựa vào thời cơ thế lực kẻ khác, để lên mặt hiếp đáp đồng bào.

    ‘Họa hổ thành khuyển‘ Mã Viện đời Ðông Hán viết thư khuyên con cháu noi gương hai người tốt đương thời Long Bá Cao và Ðổ Quý Lương để học hỏi. Sau khi phân tích lợi hại giữa hai người trên, Viện khuyên nên theo Bá Cao vì cho rằng dù không học hết nơi ông này thì ít ra cũng học được phẩm hạnh. Còn nếu theo Quý Lương khi thất bại coi như mất hết, giống như một họa sĩ muốn vẽ con cọp nhưng vô tài nên thành con chó. Từ đó người sau rút được thành ngữ ‘họa hổ thành khuyển‘ để chỉ người muốn làm chuyện lớn nhưng đã thất bại dù lúc nào cũng tin tưởng sẽ thành công.

    ‘Dữ hổ mưu bì‘ Thời Chu có người muốn mở đại tiệc toàn bằng thịt dê nên đến thương lượng với loài này làm chúng sợ hãi bỏ trốn hết vào rừng. Lần khác anh ta lại muốn có chiếc áo hồ cừu (cao nên tìm loài này để lột da, cáo biết được bỏ trốn hết. Hai câu chuyện ngụ ngôn trên trích ra từ sách Phu tử được người sau rút làm thành ngữ ‘dữ hổ mưu bì‘ ám chỉ một sự việc chẳng hạn như tới xin lột da cọp, là điều không bao giờ thực hiện được, giống như đi xin xõ lòng thương nơi kẻ ác độc nham hiểm, rốt cục chỉ chuốc nhục họa vào thân.

    ‘Bạo hổ bằng hà‘ chỉ hai hành động cực kỳ nguy hiểm là đánh cọp bằng tay không (bạo hổ) và vượt sông không có thuyền (bằng hà). Thành ngữ trên rút ra từ sách Luận ngữ lúc Khổng Tử và hai đệ từ là Nhan Hồi và Tử Lộ bàn thế sự. Ngài diễn giải cho hai đệ tử phải hành xử sao cho đúng đạo lý, phải biết suy nghĩ đắn đo trước khi làm chứ không ỷ vào sức mạnh dễ bị thất bại. Tóm lại người xưa dạy ta phải biết tuỳ thời để xử dụng võ lực hay tài trí để giải quyết câu chuyện cho hợp lý.

    ‘Hà Ðông sư tử‘ Trần Tạo đời Tống có vợ họ Liễu hay ghen tuông dữ dội nhưng tánh Tạo hào hoa nên nhà thường có tiệc tùng lại mời kỷ nữ tới xướng ca. Liễu thị ở trong phòng tức tối phá phách gầm thét như sư tử, khiến cho Tạo sợ quá làm rớt cây gậy đang cầm. Tô Ðông Pha thấy thế có làm bài thơ đùa bạn trong đó có câu ‘Hốt văn Hà Ðông sư tử hống, trụ trượng lạc thủ tấm mang nhiên (bổng nghe sư tử Hà Ðông hống, kinh hoàng bỏ gậy rớt rơi đâu?). Ðời sau dùng thành ngữ ‘Hà Ðông sư tử‘ để chỉ loại đàn bà dữ dằn như cọp cái, quen ghen tương dữ dội hiếp đáp chồng con.

    ‘Ðiệu hổ ly sơn‘ là một trong tam thập lục kế của người xưa, dụ cọp ra khỏi hang ổ để hạ sát dễ đàng hơn, hoặc đánh đuổi cọp đi khác để dễ dàng hạ các loài chồn cáo hồ ly tinh dựa hơi cọp hoành hành gây hại cho kẻ khác. Trong lịch sử nước Tàu có Trần Bình đã bày ra 6 kế ‘điệu hổ ly sơn‘ giúp Hán Cao Tổ diệt Hạng Võ thống nhất Trung Hoa, sau đó giêt luôn Hàn Tín để trừ hậu hoạn. Kế trên Trần Bình dựa theo câu chuyện Trịnh Trang Công đời Ðông Châu liệt quốc, dùng kế dụ mẹ con công tử Ðoan rời kinh thành phải tự tử.

    ‘Ban chư ngật hổ‘ giả làm heo để ăn thịt cọp, đây cũng là một trong 36 kế của người Tàu, dựa vào câu nói của Lảo Tử về người khôn khéo nhưng giả bộ ngu khờ, ấy là ‘đại trí nhược ngu’ như người thợ săn thường giả làm tiếng heo dụ cọp ra khỏi hang để giết. Kế trên được Vương Doãn đời Hậu Hán dùng Ðiêu Thuyền để nhữ giết Ðổng Trác và Lữ Bố. Ðời Chiến quốc, Việt Câu Tiển cũng dùng kế này qua Tây Thi giết Ngô Phù Sai. Sau cùng Tư Mã Ý đời tam quốc cũng dùng nó để dụ giết Tào Sảng và Tôn Tẩn giết Bàng Quyễn cũng nhờ vào kế ‘ban chư ngặt hổ‘.

    ‘Ðuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau‘ chống kẻ ác này nhưng lại theo kẻ ác khác, đó không phải là phương cách xử thế hay đường lối ngoại giao đứng đắn. Thành ngữ này đồng nghĩa với câu ‘họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm‘ ý nói không để tâm đến bề ngoài của người, mà phải quan sát kỹ càng tâm địa của kẻ đối diện mới không bị lầm lẫn. ‘Hổ phụ sinh hổ tử‘ đồng nghĩa với các câu ‘Hổ phụ lân nhi hay Hổ phụ bất sinh khuyển tử‘ ý nói cha nào thì con nấy.

    Ngoài ra còn có các thành ngữ như ‘Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn‘, ‘Long hành hổ bộ, khấu hổ bì, long bàn hổ cứ, mãnh hổ nan địch quần hồ, miện hùm gan sứa..’ tất cả đều có liên quan tới cọp.

    Trong nghệ thuật tạo hình, tượng cọp được thể hiện nhiều nhất trong bộ môn điêu khắc bằng đồng, đá và đất sét. Người ta còn vẽ hình cọp trên giấy. Tại VN hình cọp được đúc trên các đồ đồng Ðông Sơn là niên đại sớm nhất ở nước ta cách đây hơn 2500 năm. Ðề tài cọp còn được trang trí trên đồ gốm Ðại Việt từ thời Hậu Lý tới Lê Mạt kéo dài hơn 7 thế kỷ.

    Con người thời nào cũng đều giống nhau ở điểm rất sợ thú dữ, thần linh và ma quỷ. Sợ nhưng không trốn tránh vì những loài ác thú dữ dằn như cọp beo sư tử.. con người có thể tìm cách trừ khử và tiêu diệt. Riêng đối với thần linh ma quỷ trong thế giới vô hình biết đâu mà tránh nên con người phải thần phục để cầu an. Nhưng có một thứ khác mà con người rất hãi sợ, vì nó ác hơn thú dữ, lại nham hiểm độc địa không thua tà ma quỷ quái. Ðó là chính sách độc tài, hại dân hại nước, do chính con người đã hảm hại người.

    Câu chuyện ‘Hà chánh mãnh ư hổ‘ kể rằng Khổng Tử trên đường chu du, tới một làng dưới chân núi Thái Sơn thuộc tỉnh Sơn Ðông, thấy một người đàn bà đang ngồi than khóc. Ðức Khổng cho học trò là Tử Cống tới thăm hỏi mới biết cả chồng và con bà đều bị cọp ăn thịt, vì vùng này có rất nhiều chúa sơn lâm. Thấy lạ, thầy Tử Cống hỏi sao không kiếm nơi khác ở để tránh nạn cọp? Được trả lời là dân chúng không đi vì ở đây có vị quan địa phương rất liêm chánh, không hề hà khắc với dân chúng.

    Khổng Tử nghe được câu chuyện thì than rằng ‘thì ra chính sách hà khắc còn khốc hại hơn mãnh hổ‘.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 1 năm 2010
    Mường Giang.
  12. TỔNG THỐNG MỸ BARACK OBAMA VÀ GIẢI NOBEL HÒA BÌNH 2009

    MƯỜNG GIANG





    Mùa Thu năm 1980, sau năm năm cúi mặt người Mỹ đã bắt đầu tỉnh ngộ nên đồng thanh bầu Reagan làm tổng thống thay thế Jimmy Carter, trong mục đích khôi phục lại danh dự và niềm tin của Hoa Kỳ đã mất từ sau ngày 30-4-1975 khi phản bội đồng minh VNCH, bỏ chạy để cho đồng bào tại ba nước Ðông Dương bị quốc tế Cộng Sản (QTCS) tàn sát, đọa đày, tới hôm nay vẫn chưa tháo bỏ được cùm gông nô lệ đỏ.

    Nhìn lại quá khứ ngay từ đầu năm 1920, Nga đã xuất cảng ‘Cách Mạng Vô Sản‘ khắp thế giới, qua các tổ chức QTCS và hai trung tâm huấn luyện tình báo tại LiênXô, là Viện Thợ thuyền Ðông Phương và Trường Ðảng Lê Nin. Thế Chiến II (1939-1945) chính là cơ hội vàng vòng, giúp cho Nga được công khai xuất hiện tại Tây Âu và Bắc Á, khi Ðức Quốc Xã của Adolf Hitler và Phát xít Nhật, lần lượt làm cỏ các đế quốc Anh, Pháp, Hòa Lan và Trung Hoa,

    Thế Chiến II kết thúc, Ðức-Ý-Nhật đầu hàng đã làm đảo lộn trật tự thế giới, cũng như sự thay đổi bản đồ lớn lao khắp toàn cầu. Quốc tế Cộng Sản đã lợi dụng cơ hội trên chiếm Ðông Âu, Mãn Châu mở rộng lãnh thổ Liên Xô tận Ðông Á, bành trướng chủ nghĩa cộng sản khắp nơi nhưng mạnh mẽ nhất là tại Trung Hoa, Bắc Cao Ly và Ðông Dương.

    Do trên, bắt đầu năm 1947 Hoa Kỳ và Liên Bang Sô Viết đã trở thành hai trung tâm thế lực đối nghịch, trong một cuộc chiến đa diện không ra mặt, nên các sử gia đã gọi thời kỳ này là ‘Chiến Tranh Lạnh‘ hay ‘ChiếnTranh Ý Thức Hệ‘. Từ đó ranh giới Quốc-Cộng, không những chia phân trên lãnh thổ, mà còn gây thảm tuyệt trong nội bộ của mọi dân tộc của các nước nhược tiểu và các vùng mà Mỹ-Nga chấm làm ‘Tiền Ðồn‘ hay ranh giới giữa Thế Giới Tự Do và Xã Hội Chủ Nghĩa.

    Chiến cuộc tại Ðông Dương lần II, được coi như một Thế Chiến sau Chiến tranh Cao Ly, vì có nhiều nước của cả hai phía tham dự. Chiến trường chính là Việt Nam từ 1945-1975, làm cho vài triệu người của đôi bên bị thương vong, nhiều trăm tỷ Mỹ kim chiến phí và không biết bao nhiêu công trình xây dựng bao đời bị bom đạn hai phía phá hũy. Ðó là chưa nói tới hậu chứng của cuộc chiến sau tháng 4-1975 về tinh thần cũng như vật chất, trong đó dân tộc Việt hoàn toàn bị CSQT đô hộ và đang trên đường diệt vong vì Cộng đảng VN đem toàn bộ lảnh thổ và dân tộc Việt dâng hiến một cách công khai cho Tàu đỏ.

    Trong bối cảnh của cuộc chiến trạnh lạnh từ 1947-1973, người Mỹ gần như đã thất bại trong khi đối đầu, để ngăn chận ảnh hưởng của Nga Sô Viết, cho dù đã sử dụng rất nhiều chiến lược toàn cầu, từ chủ thuyết Containment sang Domino, hết phản du kích tới trực diện tham chiến. Rốt cục mọi hy sinh, nổ lực, bạc tiền và mạng lính của Mỹ, Ðồng Minh và VNCH thành vô ích, khi Hoa Kỳ tới Paris vào tháng 1-1973, cúi mặt để nhận tờ giấy lộn của cái được gọi là ‘Hiệp định hòa bình ngưng bắn VN‘, một cơ hội từ trên trời rớt xuống giúp Kissinger (Mỹ) và Lê Ðức Thọ (CS Bắc Việt) nhận giải ‘Nobel Hoà Bình‘ 1973.

    Tóm lại Mỹ đã tìm đủ mọi cách hất chân thực dân Pháp để vào Ðông Dương sau khi VN bị Liên Hiệp Quốc cưỡng bức chia thành hai miền thù nghịch, rồi dùng quyền lợi và tiền bạc mua chuộc một số tướng lãnh miền Nam hạ sát tổng thống VNCH là Ngô Ðình Diệm, qua một cuộc binh biến đội lốt màu mè, được gọi là Cách Mạng 1-11-1963. Năm 1965, Mỹ ào ạt đổ quân vào tham chiến tại VN nhưng giữa lúc chiến thắng gần kề tại đây, thì Mỹ đã vội vã tuyên bố triệt thoái khỏi ‘Tiền đồn Chống Cộng của Thế Giới Tự Do‘ vào năm 1971.

    Cũng từ đó, nước Mỹ mất dần uy tín và sự trông cậy ở các nước thứ ba. Riêng các đồng minh lâu đời như Nam Hàn, Philiipine, Mã Lai Á, Tân Gia Ba, Ðài Loan, Thái Lan, Nam Dương... nước nào cũng lo sợ bị Hoa Kỳ phản bội như Nam VN, nên khắp nơi nổi lên những cơn sóng ngầm khủng hoảng chính trị.

    Mỹ phản bội Nam VN là cơ hội tuyên truyền tốt nhất, để các phong trào cách mạng Hồi Giáo tại Trung Ðông và Lực lượng Giải phóng Palestine bùng dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tại Phi Châu, các nước mới thâu hội độc lập cũng nghiêng ngã qua ý thức hệ cuộc chiến tranh lạnh, cuối cùng ngã dân hay thân với CSQT vì biết rõ bộ mặt thật của Hoa Kỳ, qua lăng kính VN. Ngay tại Châu Mỹ, các phong trào chống Mỹ và giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, bành trướng mạnh mẽ, qua danh xưng chống ‘độc tài, quân phiệt‘, mà tiền đồn của Nga Sô Viết, vẫn là Cu Ba ở sát nách đối mặt với Hoa Kỳ.

    Trong lãnh vực kinh tế toàn cầu, giữa lúc đất nước Mỹ điêu đứng vì cuộc chiến VN, ngân sách quốc gia thâm thủng, lạm phát và nạn thất nghiệp lan tràn, sự lộng hành của các thành phần phản chiến trong nước, gây đố kỵ mọi người, làm cho nước Mỹ chia năm xẻ bảy thảm thê chưa tùng có. Do trên, Mỹ đã mất vai trò lãnh tụ Thế Giới Tự do, hai trung tâm tài chính toàn cầu tại New York và Los Angeles không còn được tin cậy, nhường chỗ cho Tư bản Nhật, Tây Âu và các nước Trung Ðông Dầu Lửa, bắt đầu khống chế toàn cầu, tự tách dần sự lãnh đạo của Hoa Thịnh Ðốn.

    Còn Liên Xô và phe QTCS mỗi ngày một mạnh, các quốc gia Ðông Dương, Miến Ðiện và A Phú Hản chính thức thành chư hầu, kể cả đảng CS Phi Luật Tân thêm bành trướng. Ấn Ðộ ngã hẳn về Nga tìm chổ dựa, để chống lại Trung Cộng đã hòa hoản với Mỹ, sau chuyến công du của Nixon-Kissinger năm 1972.

    Sự bội tín của người Mỹ tại VN, còn là dây chuyền giúp Nga chiếm ảnh hưởng tại Iraq, Libya, Angola, đưa các đảng xã hội lần lượt nắm quyền tại Tây Âu. Ở Trung Mỹ, dưới sự tiếp tay của Nga và Cu Ba, đảng CS Sandinista chiếm Nicaragua, cùng đe dọa các nước quanh vùng, nhất là El Salvador. Ðó là chưa nói tới Dịch Khủng Bố Quốc Tế lợi dụng sự thất thế uy tín của người Mỹ, gieo rắc máu lửa chết chóc khắp nơi cho nhân loại.

    Vì vậy đã không có đại chiến thứ ba, mà chỉ có cuộc chiến khu vực. Cũng vì Bắc Cao và Bắc Việt lúc đó là chư hầu của Ðệ tam Cộng Sản quốc tế, đã xung phong nhận lãnh trách nhiệm làm tên lính tiền phong của đế quốc đỏ trong khu vực. Nên Liên Xô-Trung Cộng, đã chọn Bán đảo Triều Tiên và Ðông Dương, làm hai CHIẾN TRƯỜNG thí điểm, để hai khối thanh toán, đồng thời cũng là nơi mà các cường quốc, dùng để tiêu thụ số bom đạn thặng dư sau thế chiến và thử nghiệm những loại vũ khí mới vừa chế tạo.

    Theo Kenneth E.Sharpe trong ‘The Post Vietnam Formula under Siege‘ và 'Political Science Quarterly', thì giai đoạn 1960 tới cuối năm 1971, được coi như là thời kỳ ‘Giải Kết ‘ của Mỹ. Chính Tiến Sĩ Henry Kissinger đã chủ trương đưa Trung Cộng về lại với Thế Giới Tự Do bằng sự đánh đổi ‘Bỏ Rơi Tiền Ðồn Chống Cộng tại Á Châu là VNCH‘. Hành động giải kết trên tuy có tạo được cho đương sự một tầm vóc quốc tế nhưng kết quả đã đưa đến sự ‘Bại Trận Nhục Nhã‘ cho nước Mỹ, bởi vì Kissinger đã lẫn lộn giữa chính trường và khuôn viên trường đại học. Tóm lại chỉ vì ngu muội, Kissinger đã tự mình đưa nước Mỹ vào một thời kỳ suy thoái nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (1973-1980), dưới sự lãnh đạo của đảng Dân Chủ toàn phần qua TT Jimmy Carter.

    Tổng thống Reagan của đảng Cộng Hòa bước vào Tòa Bạch Ốc với đống rác và gánh nặng của quá khứ, do chính sách ‘giải kết và tháo chạy‘ để lại. Không giống như các đời tổng thống trước ‘Dao to búa lớn‘, mà ông chỉ dùng một chiến lược giá rẽ. Ðó là chính sách ‘Gậy ông đập lưng ông‘, bắt người Nga phải trả giá về việc xuất cảng chủ nghĩa Cộng Sản khắp năm châu, bằng cách đặt Liên Xô vào vị trí của Hoa Kỳ, suốt thời gian từ sau thế chiến. Ngoài ra Mỹ cũng phong tỏa kinh tế các nước chư hầu của Mạc Tư Khoa, bắt Nga phải tăng cường viện trợ kinh tế cho họ. Mặc khác Mỹ cũng gây rối khắp nơi, làm cho Nga phải quân viện hay chính thức tham chiến, để lộ bộ mắt thực dân đỏ. Nhưng trên hết, nhờ ‘gậy ông đập lưng ông‘, mà dân chúng trong khối QTCS mới có cơ hội, so sánh giữa hai thể chế ‘dân chủ tư bản‘ và ‘dân chủ cộng sản hay xã hội‘. Ðây cũng là dịp để chứng minh giá trị của cái ‘chuyên chính cách mạng vô sản‘, qua màn lưới kềm kẹp của công an, chỉ biết làm sụp đổ đất nước, mà không xây dựng được gì cho một trật tứ mới.

    Ðầu năm 2009 tới nay, đất nước Hoa Kỳ dưới sự lảnh đạo của Tổng Thống Barack Obama và sự nắm quyền đa số của đảng Dân Chủ tại lưởng viện Quốc Hội cũng như các tiểu bang trên toàn quốc. Ông Obama chỉ nói nhiều nhu khi con tranh cu, mà không thực hiện được bất kỳ một kế hoạch nào thành công để hồi phục nền kinh tế Mỹ, kể cả chính sách ngoại giao với thế giói bên ngoài. Sự nhượng bộ và cúi mình quá đáng của vị tổng thống Mỹ, chẳng hạn như lúc gặp Nhật Hoàng, làm cho Hoa Kỳ mất dần vai trò lãnh đạo thế giới, tự mình đưa đất nước vào giai đoạn suy thoại nhất trong lịch sử của Hiệp Chủng Quốc. Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị và lửa máu triền miên vì sự ‘bỏ ngõ‘ của Mỹ, mặc cho Nga, Trung Cộng, Ba Tư, Bắc Hàn, Việt Cộng.. kể cả hải tặc Somali.. một mình một chợ, mà không dám can thiệp hay chỉ ‘can thiệp‘ chiếu lệ, làm cho các nước trên càng thêm hung hăng khát máu hơn bất kỳ tổng thống nào của Mỹ.

    Và chắc nhờ thành tích lẫy lừng trên, mà ngày 9-10-2009 Viện Hàn Lâm Na Uy mới tuyên bố trao giải ‘Nobel Hoà Bình‘ 2009 cho TT Hoa Kỳ Barack Obama (đã nộp đơn ứng tuyển ngay khi vừa bước chân vào tòa bạch ốc) với lý do ‘... ông ta đã tạo ra một không khí mới trong chính trị quốc tế qua đối thoại và thương thuyết, để giải quyết vấn đề nguyên tử, đồng thời dân chủ và nhân quyền cũng được cũng cố...’. Tất cả những tuyên bố trên đã được thực tế trả lời qua hành động của Ba Tư, Bắc Hàn, Nga, Trung Cộng và nhất là VN ngày nay về các vấn đề nguyên tử, bá quyền, ngoại giao, nhân quyền và tự do tôn giáo.

    Từ năm 1901 các giải Nobel được thành hình và được trao cho những người trúng tuyển hằng năm vào ngày 10 tháng 12 tại Thụy Ðiển và Na Uy, để tưởng nhớ ngày mất của Alfred Nobel vào năm 1896. Cũng từ đó hầu như hằng năm, hai giải thưởng Nobel văn chương và nhất là hòa bình, luôn luôn bị dư luận chỉ trích, phê phán vì giải này được trao trong một thế giới đầy chết chóc, nhiểu nhương do các cuộc chiến đẳm máu gây ra nên chẳng bao giờ có hoà bình. Năm nay cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình cũng được trao cho TT Obama trong lúc hoà bình khắp nơi trên thế giới không hề có, đến nổi trước khi qua Na Uy nhận giải, TT Obama đã ký lệnh tăng viện thêm cho chiến trường A Phú Hản hơn 30.000 quân.

    Xưa nay giải Nobel được đánh giá là một biểu tượng cao quý nhất trong các giải thưởng quốc tế, mà bất cứ khoa học gia, các văn nghệ sĩ, những nhà tranh đấu cho công lý, hòa bình... đều có khả năng nhận được. Các phần thưởng của giải Nobel còn được gọi là ‘tặng thưởng của nhân loại‘, biểu tượng của tim óc sáng tạo và năng khiếu tuyệt vời của con người. Ngoài giải Nobel Hòa Bình được phát tại Na Uy. Các giải Nobel khác được phát tại Toà Ðô Chánh (Stadshuset) ngay thủ đô Stockholm (Thụy Ðiển). Trong ngày phát giải vào tháng 12 hằng năm, đều có mặt hoàng đế, hoàng hậu và đại sứ các nước cùng với những quý khách mời từ muôn phương về, để cùng nhau tôn danh những tài năng xứng đáng của nhân loại.

    Nhưng không phải ngẩu nhiên mà thiên hạ luôn mai mĩa về giải Nobel Hoà Bình, vì cha đẻ của giài thưởng này là Alfred Nobel lại là người phát minh ra chất nổ, một lái buôn cái chết, kẻ phá hủy đời sống an bình của nhân loại. Ông sinh tại Thụy Ðiển (1833), lớn lên tại Nga, sống ở Pháp và qua đời tại Ý năm 1896 vì bệnh tim.

    Sinh thời ông là vua không ngai của đế quốc chất nổ, với những phát minh chất Dynamyte, ngòi nổ, thuốc súng không khói và nhiều loại vũ khí. Vì những thành tích kinh khủng trên, nên sinh thời không ai tin thiện chí hòa bình của Alfred kể cả người dân Thụy Ðiển. Tóm lại dù tốt hay xấu, sau này mọi người vẫn đánh giá ông là một thiên tài, một người cô độc bị thất bại trong lãnh vực tình yêu. Một năm trước khi qua đời, ông đã ký di chúc để lại toàn bộ gia sản, dành cho việc thành lập giải thưởng mang tên Nobel.

    Theo các tài liệu được công bố thì hằng năm tiền lời thu được từ tài sản của Alfred Nobel để lại, dành tặng cho bất cứ ai (nam hoặc nữ) có những phát minh cống hiến hữu ích cho nhân loại trong năm qua, thuộc các lãnh vực vật lý, hóa học, y khoa và văn chương. Riêng giải Nobel Hòa Bình dành tặng cho bất cứ ai đã tạo được thành tích mang tới sự an bình, đoàn kết giữa các dân tộc. Năm 1969 có thêm giải Nobel Kinh Tế.

    Phải mất 5 năm sau ngày Nobel qua đời, ý nguyện của ông mới được thực hiện vào ngày 10 tháng 12 năm 1901, đó là niên lịch đầu tiên giải Nobel được trao tặng. Tài sản đầu tiên của Nobel để lại là 8.960.000 Mỹ kim. Ban tổ chức chỉ dùng tiền lời để phân đều cho 6 giải thưởng từ 25.000 Mỹ Kim năm 1901 tới nay đã tăng hơn 1 triệu USD. Người đoại giải sẽ được thông báo vào ngày 15 tháng 11 trong năm. Riệng giải Nobel Hoà Bình được đặt dưới sự bảo trợ của Quốc Hội Na Uy. Sỡ dĩ có tình trạng này vì trước đó vào năm 1814, Na Uy bị lệ thuộc vào Thụy Ðiển, tới năm 1905 mới được độc lập.

    Giải Nobel Hòa Bình lúc đầu được diễn ra tại Viện Nobel ở Olso (Na Uy) trước năm 1947. Từ năm đó tới năm 1990 phát tại giảng đượng Ðại Học Olso. Sau năm 1990 giải này phát tại Tòa Thị Chính. Giải được chủ tịch Ủy Ban Hòa Bình Na Uy trao cho người nhận trước sự hiện diện của Vua, Hoàng Hậu và các đại biểu chính phủ nước này.

    Ðây là giải thưởng bị tranh cải và mĩa mai nhiều nhất trong các giải Nobel. Ngoài giải hoà bình đầu tiên năm 1901 được trao cho Jean Henri Dunant (người sáng lập Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế), còn lại đều bị các khuynh hướng khác nhau trên thế giới khen chê dè bĩu không thống nhất. Ðó là các giải thưởng đã trao cho Tổng Thống Mỹ Theodore Roosevelt (1904), Tổng Thống Liên Xô M.Gorbachov (1990), Thủ Tướng Do Thái Menacham Begin (1977), Tổng Thống Nam Hàn Kim Dae Jung (2000), Tổng Thống Mỹ Jimmy Carter và Phó Tổng Thống Mỹ Gore. Nhưng nhục nhã và xấu hổ nhất, chắc chắn không ai hơn cặp Henry Kissiger và Lê Ðức Thọ được thưởng giải Nobel Hòa Bình năm 1973, qua cái gọi là đem lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh VN. Cuối cùng Thọ từ chối, còn Kissinger cũng không trực tiếp tới Olso nhận giải vì bị biểu tình phản đối kẻ lừa đảo.

    Nhân loại đã trải qua hơn 100 lần phát giải Nobel Hòa Bình nhưng hình bóng của nó thì xa tít tận nơi đâu. Năm nay Tổng Thống Mỹ Obama được chọn nhận giải Nobel Hòa Bình trong lúc đất nước Hoa Kỳ lẫn thế giới đang sôi sục trong chiến tranh lửa đạn suy thoái kinh tế và bất ổn. Nhưng như Irwin Abrams một chuyên gia về giải Nobeo nhận thức ‘Hòa Bình không chỉ là mục tiêu, nó còn là một tiến trình, một nổ lực để các thế hệ nối tiếp thực hiện‘. Ðó cũng là nguyện vọng của vị tổng thống Hiệp Chủng Quốc hiện tại đang bước tới và theo đuổi.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 10-2009
    Mường Giang
  13. NĂM NAY ÐÀO LẠI NỞ, KHÔNG THẤY ÔNG ÐỒ XUA

    MƯỜNG GIANG




    Từ khi sống đời phiêu bạt, năm nào cũng vậy hễ gần tới những ngày cuối năm thì lòng ta lại bâng khuâng lo lắng nhưng không biết là mình đã lo lắng bâng khuâng điều gì, vì Tết Dương lịch nơi xứ người cũng đã qua trong lặng lẽ buồn rầu, còn xuân quê mình thì nghìn trùng xa cách. Vui buồn, mong đợi hay mơ ước, tất cả cũng chỉ còn là kỷ niệm của một thời xa xưa thân ái, với những cái tết thật êm đềm, dù đất nước lúc đó đang hồi lửa loạn. Nhưng mặc kệ, mọi người vẫn bận rộn lo sắm tết, khi mùa đông sắp tàn, nhường chỗ cho nàng xuân kiều diễm nõn nường, đang lồ lộ bước vào ngưỡng cửa đời.

    Ôi giấc mơ xưa chưa chi đã dẫn ta về thôn xóm cũ, những ngày xuân tết vẹn vầy, những niềm vui thơ dại, trên từng trang lưu bút của một thời tuổi trẻ đã phai tàn, nay không biết có ai còn nhớ hay không ? Bao chục năm qua rồi, những ngày sắp tết lại buồn, nhất là lúc đứng nhìn mưa phùn nhỏ những giọt trắng, trên từng cánh cúc vàng nơi thềm gió. Ở Phan Thiết quê tôi, năm nào gần tết thường không có mưa. Nhưng nếu trời trở chứng, trút nhẹ một vài cơn mưa rào, thì đã thấy xuân như đang bắt đầu chúm chím trên từng giậu hoa, ngọn cỏ. Ðường phố bỗng dưng được nước mưa lau chùi sạch sẽ và hữu tình nhất vẫn là nụ cười của người Phan Thiết không còn thấy héo hắt, muộn phiền. Những hàng vông, gốc phượng, những chiếc lá me non cũng phe phẩy mừng rỡ. Tất cả như cùng xuân mở hội.

    Trong nhà rộn rịp, ngoài ngõ cũng lao xao, nhất là tại các lò bánh tráng ở Phú Hài, Xóm Lụa, Tân An, Duồng, Phan Rí Thành và ngay trong thị xã, hoạt động suốt ngày đêm, vẫn không đủ để cung ứng cho mọi người, vì nhà nào cũng đều cần để cúng và cuộn với măng kho thịt heo và bánh tét trong ba ngày xuân.

    Tết Phan Thiết vui từ những ngày cuối chạp, mà chủ đích là rủ nhau đi chợ để mua sắm và ngắm người. Bắt đầu từ ngày 25 tháng chạp, chợ trái cây và hoa đã được hình thành trên hai con đường Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt cạnh vườn hoa nhỏ, bên hữu ngạn Mường Giang. Giáp tết, hoa từ các nơi được đổ về thành phố vô số kể, làm như người Phan Thiết chỉ biết ăn tết bằng hoa, mặc sức mà lựa chọn. Thôi thì đủ thứ, từ các loại hoa bình dân như mồng gà, vạn thọ, trường sanh, cúc, thược dược.. cho tới các loài hoa vương giả nổi tiếng của Bình Thuận là hoa Mai với màu vàng phớt, có năm cánh mỏng mướt như lụa , lúc nào cũng nhè nhẹ muốn chực cười trước gió xuân. Ðây là người bạn lâu đời của Phan Thiết, vì vậy mỗi độ xuân về, hầu như nhà nào cũng có một cành mai, dù mua ở chợ hay lặn lội tới rừng xa, núi cao, để chặt. Hoa bán thật nhiều, có năm thiếu người thưởng thức nên vào chiềuba mươi tết, nhiều loại hoa ế ẵm đã bị chủ vất bỏ, nằm phơi lạnh lùng bên vệ đường mặc cho hoa tàn cánh rũ. Thật thảm thay cho kiếp hoa tàn.

    Tại Hà Nội hằng năm sau ngày cúng đưa Táo Quân về trời, bắt đầu từ sáng 24 kéo dài tới chiều ba mươi, suốt một tuần lễ có phiên chợ Hoa đặc biệt ở Phố Hàng Lược, chỉ bán các loại hoa, cây cảnh, đặc biệt là Hoa Ðào và Quất rất được nhiều người ưa thích vì lâu tàn, có thể chơi suốt tháng giêng mới đem bỏ. Chợ Hoa ở Hàng Lược còn là trung tâm cung cấp hoa cho các chợ Ðồng Xuân, Cửa Nam, Mơ, Hôm, Hàng Da và nhiều hè phố khắp Hà Nội. Ðây là chốn ngàn năm văn vật của Ðại Việt, nên từ xưa kinh thành Thăng Long đã là xứ ngàn hoa đua nở, từ Hồ Tây, Nghi Tầm, Võng Thị, Trích Sài.. kéo dài tới Làng Yên Hoa trên đê Yên Phụ, Quảng Bá, Ngọc Hà, Nhật Tân.. Tất cả làm cho Hà Nội thành xứ ngàn hoa, từng được thi nhân bao đời gọi là rừng mơ với nhiều loại hoa mai, hoa đào trân quý.

    Sài Gòn những ngày gần tết, đi đâu cũng thấy toàn là hoa, làm cho mùa xuân thêm muôn màu nghìn dáng, với đủ loài hoa từ Ðà Lạt, Phương Lâm, Sa Ðéc, Gò Vấp, Thủ Ðức, Phú Thọ đưa vào. Những ngày này đi đâu cũng thấy Sài Thành thật là thơ mộng, qua hình ảnh của những chiếc thổ mộ lăn bánh cóc cách gõ nhịp khắp đường phố, xe nào cũng chất đầy hoa như đang chở cả mùa Xuân từ muôn phương đem về dâng hiến làm vui cho Sài Gòn.

    Theo tập quán của tổ tiên truyền lại, thì ngoài việc vui xuân đón Tết ngoài việc bầy cỗ bàn cúng kính tiền nhân, hầu như nhà nào dù giàu hay nghèo, cũng không thể thiếu các món trà, rượu, pháo và nhất là các loại hoa Đào (miền Bắc), Mai (miền Trung và Nam), đồng thời còn thưởng thức thêm các loại hoa Cúc, Hồng, Vạn Thọ, Trường Sanh, Mồng Gà.. Riêng các cụ xưa có phần kiểu cách hơn, nên luôn trong nhà lúc nào cũng có sẵn một chậu Lan, Cúc hay Mai tứ thời.

    Nhưng dù các loài hoa có khoe trăm hương, ngàn sắc, thì những ngày Tết Nguyên Ðán tại VN, Đào và Mai cũng vẫn là hai loài hoa trân quý, được mọi người ái mộ nhất.

    Ngày Tết chơi hoa Đào, hầu như chỉ thịnh hành trên đất Bắc. Riêng các tỉnh từ nam vĩ tuyến 17 vào tới mũi Cà Mâu, nhà nhà dùng Mai thay hoa Ðào trong ba ngày xuân, dù Ðà Lạt được mệnh danh là xứ hoa Đào. Mai và Ðào đều là hai loài hoa tinh khiết, quý hiếm trong muôn loài, tượng trưng cho sức sống kỳ diệu của hoa giữa trời xuân, lại có hương thơm nhẹ nhàng thanh thoát, hợp với không khí đầm ấm hạnh phúc của người đang rạo rực vui Xuân.

    Thú chơi Ðào ngày tết đã có từ lâu rồi. Tổ tiên ta thuở bình minh dựng nước trên đất Bắc, khi chọn hoa Đào để làm thú tiêu khiển trong ba ngày Tết, chắc hẳn đã nghĩ tới màu đỏ thắm rực rỡ của Đào, giống như viễn ảnh của một năm mới sắp tới, cũng trong sáng đẹp đẽ như màu hoa. Hơn nữa theo quan niệm của Á Ðông, màu đỏ luôn tượng trưng cho niềm hy vọng của con người.

    Theo truyền thuyết ngoài hương sắc nõn nường, hoa Đào còn được coi như là vật trấn yêu, trừ ma quỹ. Ðiễn tích trên được rút từ truyện hai vị thần Uất Lũy và Trần Trà ở núi Ðộ Sơn, cai quản một đám âm binh, quỷ sứ. Ðể trị bọn chúng, hai thần đã dùng cành Đào như một thứ vũ khí đặc biệt. Do trên, người VN nhất là ở miền Bắc, qua ảnh hưởng của Trung Hoa, đều tin rằng chơi hoa Đào trong ba ngày Tết, ma quỷ sẽ không dám vào nhà để lộng hành phá phách, làm hại mọi người.

    Tại Hà Nội, vào những ngày Tết có bán hai loại hoa đào, đó là Hồng Đào và Bích Đào. Ðây là loại hoa kiểng có màu đỏ thắm rất đẹp không có quả. Thứ hoa này có thể sống được vài ngày. Xưa nay với những người Việt di cư từ miền Bắc vào Nam năm 1954, thì mỗi lần Tết đến có trăm nhớ nghìn thương, chứ đâu phải chỉ có hoa đào, cây nêu và câu đối đỏ, như một nhà thơ nào đó đã viết:

    Em ở mình đây trời nắng lắm
    Sài Gòn không biết có xuân sang
    Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ
    đào có hây hây, cúc có vàng
    câu đối có còn ôm đỏ cột
    nêu dài tiếng khách có khua vang?


    Nói như người Hà Nội thì mùa Xuân là mùa hoa, tựa như con người trên đường đi tìm hạnh phúc cho chính mình, biết gìn giữ hay thưởng thức, phải có người biết chơi hoa, yêu hoa, trân quý nâng niu thì hoa mới có ý nghĩa với đời. Bởi vậy đã có không biết bao văn nhân tài tử đất Bắc, hàng năm không thèm ghé vào chợ Hoa Tết Hàng Lược trước mắt, mà phải lặn lội trong mưa phùn gió bấc lạnh lẽo khổ sở, tìm tới các rừng Mơ ở tận Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, Từ Liêm... với mục đích chỉ tìm cho bằng được một hồn hoa còn trinh bạch, đang thẹn thùng e lệ núp lén đâu đó trong cảnh mưa gió phủ phàng.

    Ðâu đâu cũng ngổn ngang những nhánh Chi Mai, một góc Trà Thâm, nhiều giỏ Ðại Ðóa đang chen vai khoe sắc bên cạnh các chậu Mộc Lan.. tuy nhiên tất cả đềukhông phải là những thứ người nghệ sĩ đang tìm kiếm, mà là Hoa Ðào. Ðây chính là loài hoa được Thôi Hộ, Ôn Như Hầu, Nguyễn Du .. từng nhắc nhớ, loài hoa Hồ Ly Tinh trải qua bao thế kỷ, đã ru hồn các nghệ sĩ, khiến cho họ phải từng canh bâng khuâng xao xuyến, mộng mị trong mong chờ. Vì vậy dù Tết đã qua, hoa đã thành ‘khứ niên‘ nhưng linh hồn của nó vẫn như đọng lại nơi tâm khảm của khách yêu hoa, khác nào nổi ngất ngư của mối tình đầu mà ta đã trải qua trong đời với người yêu dấu ái.

    Bao đời Hà Nội ngày xuân tươi thấm qua màu đỏ chói của Bích Ðào, Mộng Tự lẫn Ðào Thăng Long. Ngoài ra còn loại Bạch Ðào cực hiếm khó có được, nên trong phút giao thừa đêm cuối chạp, thường làm cho người yêu hoa phải ngẩn ngơ thao thức, đứng với hoa trong ánh bạch lạp chập chờn trên bàn thờ, mà tưởng như hồn đã hóa thành đá, giữa cõi mênh mang trống vọng biển đời, thực ảo, hơn thua, biết đâu mà mộng mị.

    Nhưng nhắc tới hoa Ðào, ta không thể không nhớ tới Vũ Ðình Liên với thi phẩm tuyệt tác ‘Ông Đồ Già‘:

    Mỗi năm hoa đào nở
    lại thấy ông đồ già
    bày mực Tàu giấy đỏ
    bên phố đông người qua
    năm nay đào lại nở
    không thấy ông đồ xưa


    Hỡi ơi mỗi năm mỗi tuổi như đuổi xuân đi, bạn bè người thân may mắn còn sống sót sau cuộc chiến nào Nhật Trường, Hồ Tài, Trần Tác, Phùng Thế Xương, Bùi Nhật Huy, Lưu Trọng Bút... kể cả Võ Thị Thanh Tâm tuổi đời mộng mơ đang chớm, cũng đã trở thành người trăm năm cũ, dù Tết nào hoa Ðào cũng vẫn nở, mà bóng người xưa đã khuất nẻo mây ngàn. Tóm lại, Hoa Ðào ngoài công dụng làm vật trang trí cho người tiêu khiển, cũng đã đi vào kho tàng văn chương, tục ngữ của nhiều dân tộc. Trong ‘Cung Oán Ngâm Khúc‘, Ôn Như Hầu đã viết:

    ‘Áng đào kiểm đâm hoa não chúng
    khóc thu ba dợn sóng khuynh thành‘


    Qua hai câu thơ trên, tác giả đã mượn màu sắc tươi thắm nõn nường của hoa đào, để diễn tả nhan sắc chim sa cá lặn của những người đàn bà đẹp. Nhưng tình là gì, nếu không phải là những uẩn khúc thương tâm và càng xa xót đối với người đẹp. Bởi vậy thi nhân đã hạ bút viết thêm ‘Mà xui phận bạc nằm trong má đào‘.

    Má đào cũng được dùng để chỉ người đẹp. Danh từ trên được rút từ điển tích Thôi Hộ đời nhà Ðường nhân tiết Thanh Minh ngoạn cảnh, đi lạc vào một vườn hoa đào. Sau đó đã gặp và yêu một người con gái đep tên Ðào Phụng Trinh. Cả hai đã gắn bó, thề hẹn và chàng hứa sẽ trở lại thăm nàng. Năm sau Thôi Hộ lại đến vườn đào nhân buổi đầu Xuân, nên khắp nơi hoa đào rực rỡ khoe hương sắc đầy trời. Nhưng cảnh cũ còn đây hoa đào còn đó, mà bóng người xưa đã biền biệt phương trời. Não lòng Thôi Hộ đặt bút viết một bài thơ tứ tuyệt, dán nơi cửa vườn hoa năm ngoái mà hai người đã gặp gỡ:

    ‘Khứ niên kim nhật thử môn trung
    nhân diện đào hoa tương ánh hồng
    nhân diện bất tri hà xứ khứ
    đào hoa y cựu tiếu đông phong‘


    Năm sau nữa cũng độ xuân về lòng thương nhớ không nguôi, Thôi Hộ lại lần mò đến vườn xưa chợt nghe tiếng khóc than thảm thiết, hỏi ra mới biết đó là tiếng khóc của cha Ðào Phụng Trinh. Nàng vì thất tình nên mang bệnh trầm kha trong cơn hấp hối, sau khi được đọc qua bài thơ tỏ tình của Thôi Hộ. Cảm xúc trước cảnh đau lòng, nên chàng mong được gặp Ðào Phụng Trinh lần cuối. Nhờ vậy nàng đã sống lại khi nghe tiếng chàng gọi mình, thế là hai người đẹp duyên cầm sắc, giữa vườn đào đang nở rộ đón xuân sang. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tiên sinh cũng đã viết:

    ‘Trước sân nào thấy bóng người,
    Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông‘


    Tóm lại danh từ ‘má đào‘ dùng để chỉ những người đàn bà đẹp. Ngoài ra ‘hoa đào‘ còn tượng trưng cho tuổi thanh xuân, của các cô gái sắp về nhà chồng, như Kinh Thi đã viết:

    'Ðào chi yên yên
    thước thước kỳ hoa
    chi tử vu quy
    nghi kỳ thất gia‘


    Ý nói ‘mơn mởn đào non, rực rỡ màu hoa, cô đi lấy chồng, hạnh phúc trăm năm‘.

    Trước tháng 5-1975 những ngày sắp tết, người lính già có dịp về phép thăm nhà, một mình thơ thẩn dạo chợ hoa quanh vườn hoa nhỏ. Bên kia sông những hàng vông cũng đã bắt đầu trụi lá, chỉ còn trơ lại những cành cây mốc thếch sần sùi như gục đầu buồn bã trước cuộc bể dâu. Trên đường tan học, những tà áo trắng từ hai trường Chính Tâm và Phan Bội Châu, từng nhóm ngang qua vườn hoa lớn.. đã vô tình dẵm lên lên xác hoa và lá vông nằm tơi tả đầy đường... giống như bầy chim sáo, cưởng .. cũng bỏ Vông mà đi khi các cành cây trụi lá.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Ðầu năm 2009
    Mường Giang
  14. NĂM DẦN NÓI CHUYỆN VÕ TÒNG GIẾT CỌP

    HỒ ÐINH





    Thủy Hử truyện của Thị Nại Am tiên sinh là một trong những tác phẩm nổi tiếng trong rừng tiểu thuyết cổ điển của Trung Hoa. Ông cũng là thầy của La Quán Trung, tác giả pho Tam Quốc Chí lừng danh kim cổ mà ai cũng thích đọc. Như Kim Dung, tác giả những pho truyện kiếm hiệp và chưởng nổi tiếng ngày nay, Thị Nại Am cũng đã hư cấu những nhân vật của mình trong tác phẩm bên cạnh những nhân vật lịch sử có thật sống vào thời đó. Ngày nay qua các công trình khảo cổ và nghiên cứu của các nhà khoa học, đã tìm được nhiều bằng chứng cụ thể quanh địa điểm mà nhân vật Võ Tòng trong Thủy Hử truyện đã giết cọp tại đồi Cảnh Dương, huyện Dương Cốc, tỉnh Sơn Ðông . Như vậy Võ Tòng là một nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa ? còn nếu là hư cấu thì tại sao lại có nhiều đia danh thật mang tên ông và truyền thuyết về cuộc quyết đấu giữa người và cọp ?

    + Thị Nại Am Và Thủy Hử Truyện:

    Thi Nai Am là hậu duệ của Thị Chi Thường, một trong 72 học trò của Khổng Tử . Ông tự là Ngạn Ðoan sinh năm 1296 đời vua Nguyên Thành Tôn tại Tô Châu. Năm lên 7 tuổi vì gia đình sa sút nên đã lở dỡ chuyện học hành. Nhưng vốn là người thông minh lại ham học nên ông đã tự học tới năm 13 tuổi thì lảo thông tất cả kinh điển thơ văn mọi thời

    Rồi một dịp may mắn xui khiến ông được quen biết và trở thành con rễ của tú tài họ Lý, nên mới có cơ hội tiếp tục việc học hành và thi đổ tiến sĩ vào năm 1331 đời vua Nguyên Văn Tông lúc đó đã 36 tuổi, làm huyện doãn Tiền Ðường nhưng chỉ hai năm thì từ chức về quê mở trường dạy học.

    Là một con người có tư tưởng khác đời nên rất xem nhe chuyệnỳ lợi danh phù phiếm, mà chỉ nghĩ tới việc đánh đuổi quân Mổng Cổ ra khỏi quê hương để cởi ách nô lệ cho dân tộc mình. Chính điều này đã kết chặt ông và người bạn chung khoá là Lưu Cơ (Bá Ôn) trở thành tri kỷ. Ngoài ra ông còn thu nhận được một đệ tử tài ba là La Quán Trung quê tận Thái Nguyên, lúc đó mới 15 tuổi.

    Thời gian này vô tình ông đọc được một tác phẩm của Trương Thúc Dạ viết về sự tích của Tống Giang và 108 vị anh hùng nơi Lương Sơn Bạc vào thời BắcTống. Cảm xúc dâng tràn, bao nhiêu tâm sự chôn kín tự đáy lòng nay có cơ hội bộc phát, giúp Thị Nại Am sáng tạo bộ ‘Giang Hồ Hào Khách Truyện‘. Sau khi người vợ thứ nhất họ Lý qua đời, ông tục huyền với Giáp Thị là con gái của một gia đình danh giá giàu có, giúp ông có phương tiện sáng tác nên nghĩ dạy học, chỉ giữ lại La Quán Trung.

    Vì muốn tránh loạn lạc cũng như né việc làm quan cho Chu Nguyên Chương qua sự tiến dẫn của Lưu Bá Ôn nên Thị Nai Am đã cùng với gia đình và La Quán Trung tới ẩn cư tại Hung Hóa (Thiệu Dương) sau đó là Lương Sơn Bạc, vùng đất lau lách đìu hiu chỉ có trời nước núi non mà không có bóng người, để tránh sự quấy nhiểu của họ Chu nhiều lần đến thôi thúc ông ra làm quan. Thể theo lời yêu cầu của môn đệ họ La, Thị Nại Am đổi tên Giang Hồ Hào Khách Truyện thành Thủy Hử và chẳng mấy chốc tác phẩm trên được lưu truyền rộng rãi khắp nước kể cả Chu Nguyên Chương lúc đó đã lên ngôi hoàng đế nhà Minh (1368).

    Thù cũ thù mới khiến nhà vua nổi giận nên ra lệnh ra lệnh mật bắt giam Thị Nại Am tại thiên lao Hình Bộ với tội danh ‘viết sách làm loạn, xúi dân tạo phản chống lại triều đình‘. Ðể giúp bạn thoát khỏi vòng lao lý, Lưu Bá Ôn khuyên Thị Nại Am viết sách giải độc. Cho nên mới có Hậu Thủy Hử gồm 50 hồi kể chuyện Tống Giang về quy phục triều đình đi dẹp giặc.. Nhờ vậy ông mới được Chu Nguyên Chương phóng thích.

    Năm 1370 Thị Nại Am qua đời tại Hoài An thọ 75 tuổi, sau đó phần mộ được cải táng về Thi Gia Kiều ở Bạch Cầu Trượng vào năm 1421. Thời gian này La Quán Trung ở Hoài An viết Tam Quốc Chí, đồng thời đem tác phẩm Thủy Hử đến Kiến Dương (Phúc Kiến) in nhưng bị từ chối. Mãi tới 150 sau, nhờ Tông Thần là người Hưng Hóa đang giữ chức Phó đề đốc tại Phúc Kiến, nên đã giúp con cháu Thị Nai Am in và phát hành bộ Thủy Hử.

    Qua tác phẩm trên cho thấy Võ Tòng là một trong những anh hùng được ái mộ và câu chuyện ông đánh cọp cứu người thật hấp dẫn sống đọng. Cũng từ truyền thuyết và huyền thoại thì Võ Tòng đã đánh cọp tới ba lần tại những địa điểm quanh Dương Cốc. Lần đầu tại một quán trọ phía nam huyện thành cọp đã vật chết ngựa của khách tro, bị Võ Tòng chận đầu đánh nên hoảng sợ bỏ chạy, địa điểm này được hậu thế gọi là ‘ Ðấu Hổ Ðiếm ‘.Riêng ác thú sau khi thoát được, chạy hơn 30 dặm về hướng tây bắc và nằm ngủ li bì hơn nữa ngày. Sau đó cọp tiếp tục đi về hướng đông và nơi nó ngủ, nay trở thành ‘Thủy Hổ Thôn‘.

    Lần thứ nhì cọp và người lại hội ngộ tại phía đông thành Dương Cốc 30 dặm, cọp bị thua và chạy trốn về phương nam. Người dân trong vùng này đã tạc tượng một con cọp bằng đá trắng và đặt tên là ‘Thạch Hổ Trang‘. Lần thứ ba cũng là lần cuối cùng mới xảy ra trận quyết đấu và Võ Tòng đã hạ được mãnh hổ tại Cảnh Dương Cương, được Thị Nại Am đưa vào Thủy Hử Truyện.

    Cảnh Dương Cương là một địa danh có thật trên bản đồ Trung Hoa. Vùng này thời Võ Tòng là một khu rừng núi rậm rạp hiểm trở, sào huyệt của bọn cướp và hang ổ của các loài ác thú cọp beo, nằm về phí nam huyện thành Dương Cốc chừng 20 dặm. Dù ngày nay đã trải qua bao cảnh đổi đời nhưng tấm bia đá to tướng đứng trên đồi với ba chữ ‘Cảnh Dương Cương‘ do chính tay Thư Ðồng viết, vẫn còn đứng sừng sững bên cạnh ngôi Sơn Thần miếu (như Thị Nại Am đã diễn tả trong Thủy Hử) nay được đổi thành miếu Võ Tòng. Bên trong có vẽ nhiều bích họa, tường thuật đủ các hồi từ lúc Võ Tòng rời tửu điếm ‘Tam Uyển bất quá Cương‘ lên Mã Dương Cương gặp cọp rồi ác chiến. Ngày nay nơi này là Cảnh Dương thôn với hơn 100 nóc nhà, đầu thôn có trương một bảng lớn với năm đại tự ‘Võ Tòng Ðã Hổ Xứ ‘

    Tóm lại qua các công trình nghiên cứu và khảo cổ hiện nay, thì việc Võ Tòng giết cọp vào đời vua Tống Huy Tôn (1112-) thời Bắc Tống là chuyện có thật trong lịch sử Trung Hoa. Ngoài ra còn một bằng chứng để xác quyết vấn đề trên, đó là thứ rượu Thấu Bình Hương đến nay vẫn còn tồn tại.

    Trong Thủy Hử truyện có viết ‘ Võ Tòng trước khi đã hổ đã uống rượu ‘và chi tiết đã ghi rõ ràng là ai đã uống ba chén ruộng nơi tửu quán ‘ Tam Uyển bất quá Cương ‘ thì không được qua đồi. Nhưng Võ Tòng là một hảo hán tửu đã uống một hơi 18 chén liền mà vẫn còn tỉnh táo. Ðiều này chứng tỏ rượu quá ngon nên mới đủ sức cám dỗ anh hùng, càng thêm hừng chí và tăng sức mạnh. Loại mỹ tửu này được Thị Nại Am gọi là ‘ Thấu Bình Hương ‘ qua sự giải thích của chủ quán là mùi rượu có thể xuyên qua bình chứa bốc hơi tới tận mây xanh. Rượu còn được mang một tên khác ‘ Xuất Môn Ðảo ‘ nghĩa là ai đã uống nó rồi thì không thể bước ra khỏi cửa tửu điếm, ngoại trừ Võ Tòng.



    Hiện nay tại thị trấn Dương Cốc gần như đã thay đổi toàn diện theo thời gian nhưng đâu đó vẫn cón lưu lại các vết tích xưa, nhất là ngôi tửu điếm lịch sử nằm trên đường lên Cảnh Dương Cương vẫn còn tồn tại. Căn cứ vào sử liệu cho thấy người Tàu đã tiến bộ trong việc cất và pha chế các loại rượu từ thời Bắc Tống (960-1276). Lúc đó chỉ riêng tại huyện thành Dương Cốc đã có tới 77 lò sản xuất rượu nhưng nổi nhất là tại trấn Trương Tam ở phía nam huyện thành sản xuất được mỹ tửu ‘ Thấu Bình Hương’ nổi tiếng. Loại rượu này được các vua quan tại kinh đô rất ưa thích. Chính Tống Thần Tôn đã ban lời khen là ‘Quý Nhân Giai Tửu‘. Ðời Khang Hy thứ 45 nhà Thanh, vua đi tuần du phương Nam tới huyện Dương Cốc tỉnh Sơn Ðông nếm loại danh tửu này cũng nức nở khen tặng.

    Ngày nay rượu Thấu Bình Hương đã trở thành quốc tửu qua nhiều đợt chế biến cải tiến, để được phù hợp khẩu vị của các cấp vua chúa đỏ. Cảnh Dương Cương Trần Nhưỡng ở đường Nam Từ trong phố huyện, là trung tâm chính cung cấp rượu cho cố cung ở Bắc Kinh . Năm1985 trong kỳ đại hội toàn quốc lần thứ III của Trung Cộng thảo luận về ‘ Thủy Hử truyện ‘.Lần này nhà cầm quyền đã dùng rượu Thấu Bình Hương Dương Cốc, để chiêu đãi mọi người. Theo nhận xét chung, ai cũng cảm thấy tâm hồn lâng lâng say khoái, chợt nhớ tới chuyện Võ Tòng đã hổ của mấy trăm năm về trước, trong lúc đang chếch choáng hơi men Thấu Bình Hương. Bởi vậy ông đã một mình xông xáo nơi rừng núi hoang vu giữa màn đêm và đã oai dũng hạ được mãnh hổ to lớn ác độc, từng giết hại không biết bao nhiêu sinh mạng dân lành tại địa phương này. Men say như bốc cao giữa sự hòa điệu của nhân vật anh hùng Võ Tòng, một câu chuyện thần kỳ và men rượu sang quý nức tiếng.

    + Cuộc tử chiến giữa Cọp và Người VN:

    Cọp là loài dã thú duy nhất ăn thịt người, vì vậy giữa nó và loài người đã có mối thù truyền kiếp tự ngàn xưa. Nhưng cọp là con vật có sức mạnh phi thường từng được xưng tụng là chúa tể sơn lâm, ngang sức với voi, sư tử, tê giác, khỉ đột, trâu rừng.. Ngoài ra nó còn ranh mãnh, tinh khôn và quỷ quyệt như chồn cáo, nên muốn bắt hay giết ác thú không phải là chuyện dễ dàng mà ai cũng có thể làm được. Trừ một số anh hùng kim cổ có võ nghệ và sức mạnh phi thường như Võ Tòng bên Tàu hay các võ tướng VN mà sử liệu có ghi như Nguyễn Hửu Tiến, Dương Công Trừng, Tăng Bạt Hổ (Lê Như Hổ), Tăng Ân..

    Người ta thường bắt giết cọp bằng lưới, bẩy, các loại vũ khí như chỉa ba, dáo nhọn, mã tấu, bắn tên tẩm thuốc độc và súng sau này. Do 3/4 lảnh thổ VN là rừng núi trùng điệp nên có rất nhiều thú dữ như beo cọp. Mãi tới thập niên 50 của thế kỷ XX, loài cọp vẫn còn hiện diện khắp nơi dù chúng đã bị tiêu diệt rất nhiều bởi chiến tranh, bom đạn. Cọp VN dữ tợn, phá phách rất loạn nên nhiều địa danh có cọp đã trở thành ca dao tục ngữ như ‘ cọp Bảo Hà, ma Trái Hút. Cọp Thủy Ba, ma Trại Rớ. Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận‘, cọp dữ rừng Cùa (Quảng Trị) và Nam Phần.. tới nay vẫn còn truyền tụng.

    Cọp VN thuộc loại trung bình, có chiều dài chừng 2m cao 1m nhưng rất độc ác dữ dằn thường về làng bắt người ăn thịt.. Trên đất Bắc trước thập niên 50, dọc theo con đường sắt Hà Nội - Lào Kai men theo phía tả ngạn sông Hồng với những địa danh Bảo Hà, Trái Hút, Phố Lu.. tới nay vẫn còn được nhắc nhớ trong nhiều sách vở và truyền miệng qua câu tục ngữ ‘cọp Bảo Hà, ma Trái Hút‘.

    Trại Rớ và Thủy Ba là hai miền đất nổi tiếng của hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị (Trung phần). Do đất hẹp nên nhiều làng mạc phải lập sát bìa rừng, chân núi. Trại Rớ nằm trên thượng nguồn sông Gianh nổi tiếng là vùng ma thiêng nước độc, muỗi mòng.. coi như là nấm mồ tập thể chôn không biết bao nhiêu sinh mạng thợ săn, tiều phu và những người tìm trầm hương. Thủy Ba là một thôn xóm ở phía tây quận Vĩnh Linh (Quảng Trị) có nhiều cọp dữ nhất VN vì đói. Ðể trừ hổ hoạn bảo vệ mạng sống dân chúng và gia súc, làng này đã phát sinh ra nghề ‘bắt cọp‘ nổi tiếng khắp Ðông Dương vang vọng tới tận kinh đô, nên triều đình nhà Nguyễn lúc đó đã ra lệnh cho làng Thủy Ba, mỗi năm phải bắt cọp đem về Huế đấu với voi tại Hổ Quyền.

    Cũng tại Quảng Trị còn có địa danh Cùa thuộc quận Cam Lộ, nằm trên quốc lộ 9 đi Lao Bảo sang Lào. Ðây là miền sơn cước đất đỏ rất trù phú nên thời Pháp thuộc, thực dân đã lập đồn điền trồng trà, cà phê, hồ tiêu. Trước năm 1945 rừng Cùa nổi tiếng có nhiều cọp dữ và bạo dạn hầu như không sợ người. Chúng tập trung nhiều nhất tại các thôn Bảy Sơn, Xoa, Sơn Nam, Rào Trù, Trảng Tre.. Ban đêm cọp kéo về làng xóm để bắt trâu bò heo, làm cho mọi người ai cũng hãi sợ không dám ra vườn. Tới năm 1995 cọp vẫn còn xuất hiện tại vùng Cùa để bắt trâu bò, dù chúng đã bị tiêu diệt gần hết.

    Bình Thuận xưa đất đai rộng lớn bao gồm lãnh thổ các tỉnh Quảng Ðức, Lâm Ðồng, Tuyên Ðức, Bình Tuy, Ninh Thuận và Bỉnh Thuận thời VNCH. Từ ngày được sáp nhập vào VN năm 1693 tới 1945, Bình Thuận luôn luôn là bãi chiến truờng thê thiết đẳm máu giữa nhiều phe phái tranh giành thay ngôi đổi chủ, nên có nhiều người bị thương vong vì chiến tranh. Bởi vậy nơi này không thiếu gì âm hồn uổng tử, mà truyền thuyết gọi là ‘ ma Bình Thuận ‘.Tỉnh Khánh Hòa nhiều núi ít bình nguyên vì dãy Trường Sớn lấn ra sát biển, làm cho đất đai bị phân thành nhiều khu vực nhỏ, ngăn cách bởi các đèo cao. Thêm vào đó rừng rậm trùng điệp làm hang ổ cho beo cọp nhiều nhất là Tu Bông, Vạn Giả vào tới vùng núi Ổ Gà (Phú Như) trên QL1, cách ’quận Ninh Hòa về phía bắc chừng 3 km.

    Thời Pháp thuộc, nạn hổ hoạn đã gây đau khổ cho đồng bào Khánh Hòa, đến độ các thôn xóm Ninh Tịnh, Ninh Yểm (Ninh Hòa) phải bỏ nhà cửa tới tị nạn trên đảo Găng cách đất liền một con lạch, nay là làng Mỹ Giang.

    Tại Nam phần, cọp cũng nhiều và dữ dằn không kém ở Trung và Bắc Việt. Ngoài ra nó còn tinh khôn hiểm ác đến độ theo truyền thuyết thời đó người dân muốn coi hát yên ổn không sợ cọp phá phách, phải làm rạp hát giữa sông và dùng ghe thuyền riêng của mình tới địa điểm trên để thưởng thức. Theo các tài liệu còn lưu hành như ‘Ðại Nam Nhất Thống Chí, Lục Tỉnh Nam Việt..’ vào khoảng thế kỷ XVII,XVIII, người Việt từ miệt ngoài vào khai hoang vùng Thủy Chân Lạp, tới nơi nào cũng gặp cọp trên bờ, sấu dưới sông, tình cảnh khốn khổ không sao kể hết được. Thời đó cọp tập trung nhiều nhất tại rừng U Minh (Cà Mau), nơi các cửa sông Tiền, sông Hậu, Vàm Cỏ, Ðồng Nai..

    Cọp còn kéo tới các vùng đất đã được người Việt khai phá lập làng xóm tại Bến Tre, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Biên Hòa, Bà Rịa, Gia Ðịnh và Sài Gòn. Do đó khắp Nam phần ngày nay có nhiều địa danh mang tên cọp như Ðìa Cứt Cọp (Giòng Trôm-Kiến Hòa), Ðồn Cọp (Chợ Lách-Kiến Hòa), Rạch Ông Hổ (Long Hưng ố Mỹ Tho), Rạch Gầm (Mỹ Tho)..

    Tăng Kiểng xưa kia là vùng phồn hoa đô hội nên không kém gì Chợ Lớn hay Bến Nghé. Mùng Một Tết Nguyên Ðán Canh Dần 1770, trong lúc mọi người đang nô nức vui xuân, thì có con cọp loạn từ rừng Sát (Bà Rịa) chạy vào chợ gây thương vong cho nhiều người. Ðồn bình của triều đình nhà Nguyễn tại Tân Thuận phái binh sĩ tới vây bắt cọp nhưng ác thú quá tinh khôn và dữ dằn nên quan binh không làm gì nổi nó. Lúc đó có nhà sư Tăng Ân đang đi qua địa điểm trên, nên ông xin cho mình vào bắt cọp. Kịch chiến đã xảy ra giữa ác thú và nhà sư thật dữ dội. Cuối cùng ông đã hạ được cọp nhưng cũng qua đời vì vết thương quá nặng nên tuổi già không chịu nổi. Dân chúng địa phương cảm đức nên đã xây tháp và thờ cúng ông tại đình Tân Kiểng tới nay hương khói vẫn không dứt.

    Vũng Tàu lúc mới thành lập chỉ là một xóm chài hẽo lánh thưa thớt người, nên beo cọp thường từ rừng núi Bà Rịa, Bình Tuy kéo về, phá phách làng xóm bắt gia súc và người ăn thịt. Hiện vẫn còn nhiều di tích lưu lại tại đây nhắc nhớ thời oanh liệt của chúa sơn lâm như Miếu Thần Hổ (sau này được trùng tu dể thờ thêm thần Ngũ Hành và ông Quan Thánh). Ðường mòn ông Hổ là khúc rừng quanh co lồi lõm cây cối rậm rạp, nối Ngọn Hải Ðăng trên Núi Lớn với bãi biển Thuỳ Vân, tới năm 1896 vẫn còn là hang ổ của cọp.

    Cách Vũng Tàu về hướng Bà Rịa trên QL15 chừng 14 km có một địa danh gọi là Eo Ông Từ. Vùng này thuở trước cọp loạn thường về bắt giết gia súc và dân làng rất nhiều. Tại đây có ông Lê Văn Từ võ nghệ cao cường, nên thường bắt cọp cứu người và đã xãy ra mối thù truyền kiếp từ đó. Cuối cùng ông Từ cũng bị cọp hạ nhưng xác được dân chúng đem về chôn. Nữa đêm cọp lại kéo về đào mã moi xác ông lên để trả thù nhưng bị dân làng phục sẳn đánh đuổi chạy vào rừng. Vì cảm đức người đã dấn thân cứu nạn cho đồng bào, nên địa phương đã gọi khúc rừng nơi ông Từ hạ cọp là ‘Eo Ông Từ‘ tới nay điạ danh vẫn không thay đổi.

    Nguyễn Văn Danh (Quảng Ngãi), Phạm Tam Tĩnh (Hà Tĩnh), Nguyễn Cư Sĩ (Hà Nam), Nguyễn Tế (Sơn Tây) và Nguyễn Phùng (Nghệ An) là những trang hiếu tử nổi tiếng trong Việt sử. Nguyễn Văn Danh sinh tại Trà Bình nay thuộc Sơn Trà quận Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) là một vùng đất lồi lõm nằm giữa núi rừng hiểm trở nên có rất nhiều cọp beo. Ngày nọ cha ông đi thăm ruộng bị cọp vồ tha xác vào rừng ăn thịt. Nguyễn Văn Danh lúc đó đã thi đổ tú tài nhưng khi nhận được tin cha bị hại nên đã ngưng việc học trở về quê quyết tâm tìm cọp để trả thù cho thân phụ. Cuối cùng ông đã bẩy được con cọp thọt có móng nhỏ ở chân sau, chính là ác thú đã ăn thịt cha mình. Nguyễn Văn Danh đã mổ gan cọp cúng cha và ăn sống lá gan đó. Về sau tú tài Danh bị chết trẻ vì bệnh tim, vua Tự Ðức được tin cãm thương trang hiếu tử, nên ban cho tâm bảng vàng với bốn chữ ‘Hiếu Nghĩa Khả Phong‘.

    Khánh Hòa xưa là vùng đất nổi tiếng có nhiều cọp dữ khiến nạn hổ hoạn hầu như thường xuyên đe dọa sinh mạng của mọi người. Ngày nay địa phương vẫn còn truyền tụng câu chuyện một phụ nữ yếu đuối vì cứu chồng nên đã đánh nhau với cọp. Ðó là bà Hoàng thị Nghĩa, sinh tại Quảng Phước (nay là Tu Bông, Vạn Ninh) sống vào thời vua Minh Mạng-Thiệu Trị, làm nghề đốn củi. Một hôm đang làm việc trong núi, chồng bà bị cọp vồ bắt. Nóng lòng cứu chồng, bà đã dùng rựa chặt củi nhảy xổ vào tử chiến với ác thú và nhờ vậy nên cứu được chồng, trở thành một anh thư được mọi người kính trọng. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) danh tiếng của bà vang vọng tới Huế, được vua gửi vàng bạc lụa là về Khánh Hòa thưởng công cho một hiền phụ nghĩa đãm này.

    Cọp Khánh Hòa và Nam Phần, cọp tuy nhiều và hung dữ nhưng hầu hết chỉ rình bắt trâu bò heo dê ngựa, chỉ khi nào đói lắm chúng mới mò về làng rình bắt người. Nhưng cọp Thủy Ba tại Quảng Trị trái lại rất khoái ăn thịt người, nguyên do vùng này đất đai canh tác chật hẹp cằn cổi cầy lên toàn là sõi đá lại tiếp giáp với rừng núi hoang vu, thú cầm thưa thớt nên cọp phải bắt người để nuôi thân. Làng Thủy Ba nằm về phía tây huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) bên kia vĩ tuyến 17, xưa có bốn thôn ‘ thượng, hạ, đông, tây ‘ thành lập được 6 phường săn cọp để phòng vệ xóm làng. Nhưng cọp ở đây đã thành tinh nên hầu như nhà nào cũng có người bị cọp ăn thịt.

    Nghề bắt cọp tại Thủy Ba nổi tiếng khắp nước nên hằng năm theo lệnh vua, dân làng này vào Thừa Thiên để bắt cọp đem về kinh đô Huế đấu với voi tại Hổ Quyền. Theo huyền thoại còn lưu truyền trong dân gian, thì thuở đó người Thủy Ba bắt cọp bằng lưới bén được làm từ một loại cây mềm mọc tận rừng sâu. Loại cây này rất dẽo và bền nên cọp không thể nào cắn xé đứt được. Lệnh làng bắt buộc thanh niên nam nữ trong thôn xóm (trừ chức sắc, khoa cử, học trò) đều phải tham gia các đội bắt cọp để bảo vệ và canh giữ làng mạc.

    Khi được tin cọp về làng hay phát hiện dấu chân cọp lai vãng gần địa phương, lập tức lệnh bũa lưới bắt cọp. Sự quyết đấu giữa người và ác thú rất cam go và gây cấn, nhất là lúc con vật bị dồn lần vào tử lộ, trở nên hung dữ tàn bạo khác thường, gây cho nhiểu kẻ bị thương dù cuối cùng nó cũng bị nhốt trong rọ kẹp. Nhiều bài vè nói về việc săn cọp tại Thủy Ba lúc dồn cọp vào lưới, nay vẫn còn truyền tụng ‘Thủy Ba đứng dậy cho đều, nghe tiếng ta reo hùa vọt dậy..’ hay lúc lên đường vào Huế bắt cọp ‘Tháng Sáu sắc Hạ vua ra, tư từ xuống huyện Thủy Ba đi liền, đội vô tận ải Thừa Thiên, dữ ma độc nước không yên chăng là.. ’. Làng xóm khô cằn khiến cho cọp trở nên đói khát làm bậy, tạo cho người dân Thủy Ba nghề bắt cọp, với tinh thần thượng vỏ độc đáo nổi tiếng khắp nước.

    Trong Nam thời trước, cũng có tổ chức các đội bắt giết cọp để bảo vệ làng xóm, do các võ sư đứng đầu. Người Việt ba miền qua hàng ngàn năm đối mặt với chúa sơn lâm khắp nơi chốn nên rất có kinh nghiệm về cọp. Họ biết rõ từng ưu khuyết điểm, thói quen của ác thú nên đem truyền lại cho các thế hệ để trừng trị loài thú dữ này. Nhiều tên tuổi còn được truyền tụng tới nay nhờ công đánh cọp cứu dân như Bảy Giao, Chín Quỳ (Cồn Tàu-Bình Ðại thuộc Bến Tre), vợ chồng Hai Yến (Ba Tri, Bến Tre), Sáu Móm (Truông Cóc, Gò Công) . Ngoài ra thời đó người ta còn lập ra nhiều Bộ Hổ do Ðinh Cầu và Bá Trợ ở Ba Châu, Châu Thới cầm đầu. Tại Chợ Lách (Bến Tre) có lập Hổ Tịch, chuyên theo dõi dấu vết của cọp rồi dùng lưới, bẩy hay dáo mác tên tẳm thuốc độc bắt giết cọp.

    Chúa sơn lâm nay đã hết thời quậy phá giết hại con người bằng bạo lực vì phương tiện bá đạo đó nay đã lổi thời khi con người đã không còn yếu thế trước ác thú hung tàn. Ðó là kết quả của loài thú độc dữ này đang có tên trong sổ đen của tổ chức LHQ báo động tình trạng sắp bị diệt chũng vì sự tấn công của loài người khắp thế giới.

    Từ bài học sắp tuyệt chũng của loài cọp, người VN ngày nay đã nghĩ tới ngày tàn của chế độ và đảng Cộng Sản VN đang gieo rắc nổi kinh hoàng chết chóc đói lạnh và nhục hận trên quê hương mình suốt 3/4 thế kỷ qua. Ðó là một sự thật của lịch sử không ai có thể chối cãi được, cho dù đảng CSVN có dựa vào ngoại bang như Trung Cộng, Hoa Kỳ qua trò ‘cáo mượn oai hùm‘ để tiếp tục lừa bịp dư luận, buôn dân bán nước thì cũng chỉ là trò hề ‘họa hổ thành khuyển‘ hay giả làm heo để ăn thịt cọp mà thôi.

    Xưa nay ‘cọp chết để da, người ta chết để tiếng‘ đã trở thành một chân lý không dời đổi. Vì vậy suy cho cùng về câu chuyện ‘Võ Tòng giết cọp trong Thủy Hử truyện‘ là có hay chỉ hư cấu thì sự thật người đời vẫn tôn sùng kính trọng hành động nghĩa hiệp của bậc hảo hán anh hùng đã xả thân giết cọp cứu người. Còn chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản VN thì lưu xú ngàn đời trong Việt sử mà không ai có thể rữa sạch hay bẽ cong ngòi bút để sữa lại lịch sử khi nó đã được bia truyền, bia miệng và sách vở ghi chép.

    Câu chuyện ‘Hà Chính Ư Mãnh Hổ‘ đã chứng thật tại VN từ sau ngày 30-4-1975 khi Hà Nội làm chủ cả nước không còn chiến tranh, bóng dáng beo cọp nhưng người dân cả nước đã ùn ùn bỏ chạy khỏi quê hương để tìm tự do khắp mọi nẽo đường thế giới, cũng chỉ vì một nguyên nhân. Ðó là không làm sao sống chung được với một chế độ tham tàn, bạo ngược, độc tài hà khắc tham nhũng mà từ trên xuống dưới chỉ biết có ‘buôn dân bán nước‘ để vinh thân phì gia mà thôi !

    Phụ nữ thà đi làm đĩ bốn phương để thoát khỏi địa ngục đói nghèo hà khắc dưới chế độ Cộng Sản tại VN, thì thử hỏi trên đời này còn có một bi thảm nào sánh bằng nổi hờn hận cháy gan đứt ruột như tại quê hương chúng ta ngày nay?



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 12-2009
    HỒ ÐINH.
  15. THÁNG GIÊNG VỀ PHAN THIẾT
    XEM HÒ BẢ TRẠO TRONG LỄ CÚNG ÔNG NAM HẢI

    MƯỜNG GIANG



    Tháng Giêng tháng Hai ở Bình Thuận trời hay hờn dỗi, nên thường bất chợt có những cơn dông biển hải hùng. Kinh nghiệm trên đã được người bản địa thu vén làm thành bài ca dao truyền khẩu cho tới ngày nay:

    ‘tháng Giêng động dài,
    tháng Hai động tố,
    tháng Ba nồm rộ,
    tháng Tư nam nôm,
    tháng Năm có gió hợp Hòn,
    thổi lòn nam Cú..’


    Thời gian này tuy còn trong mùa Tết nhưng cũng là giao điểm của những cơn gió bấc se lạnh và ngọn gió nồm bắt đầu phây phẩy. Ðây cũng là lúc mà những đàn cá mòi, cá nục, di chuyển trên mặt nước tìm nắng ấm và đàn sếu biển trốn đông, đã trở về nơi cư ngụ trên hòn Nhỏ nằm sát bờ biển Phan Thiết, cất lên những tiếng hát vang trời khi bay qua phố thị.

    Bình Thuận lại sửa soạn vào mùa cá theo truyền thống của ông bà đã có từ khi theo chân các Chúa Nguyễn vào lập nghiệp tại miền đất hoang dã nổi tiếng ‘cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận’. Sinh và lớn lên trên một vùng đất được mệnh danh là rừng tiền biển bạc, rồi nhìn lại những biến chuyển lịch sử qua dòng thời gian, ta mới thấy nặng nợ ân tình với tiền nhân buổi trước, suốt một thời gian dài đã phải gánh chịu tai ương của biển khơi, rừng núi, ác thú và sự thù hận chủng tộc trùng trùng mà tới nay hầu như vẫn không có gì thay đổi.

    Chết chóc triền miên khi hành nghề hạ bạc trên sóng nước, chung đụng thường xuyên với hoàn cảnh khắc nghiệt hiểm ác, khiến cho người dân ở đây lúc nào cũng cảm thấy bơ vơ sợ hãi. Ấn tượng trên đã nãy sinh niềm tin tuyệt đối vào các vị thần linh vô hình nhưng lại luôn luôn phù trợ họ. Ðây cũng là lý do, khiến cho ngư dân Trung phần, sống dọc theo miền duyên hải từ phía nam đèo Ngang vào tới tận Hà Tiên, thờ cúng ông Nam Hải và bao đời đã trở thành nếp sống cũng là tín ngưỡng huyền thoại của người Bình Thuận.

    Là một tỉnh ven biển có chiều dài hơn 192 km, với nhiều làng mạc, thị trấn, ngư cảng hành nghề đánh cá, nên các nơi này đâu đâu cũng có miếu, chùa, dinh, lăng, vạn... thờ cúng ông Nam Hải nhưng quy mô hơn hết vẫn là bốn vạn chài Thủy Tú (Ðức Thắng), Nam Nghĩa (Ðức Nghĩa), Hiệp Hưng (Bình Hưng) và Hưng Long tại Phan Thiết. Các vạn chài trên đã được thành lập từ lâu đời. Vạn Thủy Tú xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, đã có nhiều bằng sắc phong tặng của triều Nguyễn. Ngoài ra vạn còn lưu giữ hơn 100 bộ ngọc cốt của ông Nam Hải suốt bao năm qua, kề từ ngày thành lập. Riêng nghi lễ cúng kiến Ông tại các vạn chài trong tỉnh ở Phước Thể, Long Hương, Phú Quý, Phan Rí Cửa, Phú Hài, Mũi Né, Phan Thiết, La Gi.. không thống nhất ngày cúng, cho nên nhiều nơi vẫn noi theo quy luật cổ truyền ‘nhất niên tứ lệ‘.

    Nói chung các vạn chài đều tổ chức cúng Ông vào ngày đầu năm và mãn mùa cá. Nghi thức hành lễ rất trang trọng như rước linh, xô giàn, hát bội, hò bá trạo và đua thuyền trên sông Cà Ty, Phan Thiết. Tất cả hoà điệu vào nhau, làm thành một tín ngưỡng riêng của người Bình Thuận.

    1 - CÁ ÔNG: NAM HẢI CỰ TỘC, NGỌC LÂN THƯỢNG ÐẲNG THẦN

    Theo học giả người Pháp là Gamichon có bài viết trên tạp chí Indochine, thì sự phù trợ của Cá Ông đối với con người, nhất là giới ngư phủ và những ghe thuyền bị nạn trên biển Ðông là chuyện có thật. Sự kiện cá Ông cứu người, không riêng gì ở VN mà ngay tại phương Tây cũng đã xãy ra.

    Chính sử gia Herodote của cổ Hy Lạp đã bị quân cướp vứt xuống biển nhưng được cá Ông cứu sống đem vào bờ. Nhiều huyền thoại về Ông đã lưu truyền trong dân gian Bình Thuận, vì vậy ngư dân mỗi lần đi biển đều cầu nguyện cũng như khi Ông bị chết trôi giạt vào bờ đều được ngư dân tổ chức tang lễ rất trọng thể. Ðặc biệt một thành viên trong tổ chức VASC đã ghi lại một bài ký sự về việc Ông cứu một ngư dân tại làng Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, Bình Thuận vào ngày 12-9-1993 khi cơn bão số 9, làm chìm chiếc thuyền đánh cá của người này trong lúc đang hành nghề ngoài khơi.

    Trên thực tế, trải qua hàng ngàn năm, không có một động vật nào kể cả khủng long, đã đem lại sự tưởng tượng phong phú cho bằng cá voi. Với danh hiệu vua của đại dương, cá Ông đã tạo nên nhiều thành tích kỳ bí, hiện tuợng huyển hoặc được người đời sùng kính và thờ cúng như một vị thượng đẳng thần. Với kích thước khổng lồ, sức mạnh vô địch, cá Ông khi vô cớ bị tấn công, chỉ cần một cái vẫy đuôi cũng làm tan gan vỡ mật bon săn cá đang hiện diện chung quanh.

    Ðến nay, xuất xứ của loài này đối với các nhà khoa học vẫn còn mù mờ. Theo các nhà nghiên cứu thì cá voi thuộc loại lưỡng thể, mà tổ tiên có thể xuất xứ từ loài thú Mesonya, có móng vuốt ở chân như chó sói. Loài thú này cách đây hơn 50 triệu năm, sống trong những đầm lầy trên các bờ biển Á Phi. Thế rồi theo đà biển xâm thực đất liền, loài thú trên đã thay đổi tập quán để thích nghi cuộc sống, nên rời đất liền xuống biển sinh sống. Do trên cơ thể cũng phải biến dạng theo môi trường mới, thân hình dài hơn, trong lúc tứ chi thì teo lại biến thành vi, còn da thêm lớp mở dầy bao bọc, bảo vệ thân thể. Mắt mũi cũng thay đổi cho đời sống của thủy tộc, ngâm mình dưới nước. Sự tiến hóa trên đã kéo dài hằng triệu năm mới hoàn thành như ngày nay. Vì là loài lưỡng thể, cá voi có thể rời biển lên cạn để giao phối và sinh con.

    Bộ cá voi hiện nay có 38 chi với 7 họ, 83 loài nhưng vẫn nằm trong hai nhóm chính: Cá voi có răng và cá voi sừng hàm. Cá voi có răng mà đại diện là cá voi xanh, có chiều dài gần 30m, nặng trung bình trên 150 tấn, hiện là loài động vật lớn nhất địa cầu. Răng cá voi có kích thước đồng nhất, dùng để săn mồi. Cá voi sừng hàm không có răng nhưng lại được thay thế bằng các tầng sừng dính vào hàm trên, có tác dụng lọc lấy thức ăn trong nước. Nhờ vậy khi cá voi hớp một lượng nước biển vào miệng, sừng hàm sẽ giữ lại ruốc, cá mực, còn nước biển được tống ra ngoài.

    Vì thân thể to lớn nên cá voi bơi lội rất chậm, lặn sâu chừng 100m và trong nửa giờ lại phải ngoi lên lên mặt nước để thở hít chừng 4-5 phút. Ðây là một khuyết điểm và là sự bất hạnh thê thảm nhất của cá voi, vì càng có mặt trên sóng nước, càng dễ lộ mục tiêu cho bọn săn cá đến sát hại. Ðể cứu nguy cho loài cá biển hiền lành và linh thiêng này, tổ chức săn cá voi quốc tế IWC (Internatonal Whaling Commission), đã quyết định đưa cá voi vào danh sách động vật ưu tiên, cần được bảo vệ. Tuy nhiên dù đạo luật đã được biểu quyết thi hành vào năm 1976 nhưng các nước Tích Lan, Na Uy và cả Nhật Bổn là một quốc gia theo Phật Giáo 90%, vẫn lén lút ngoan cố, tiếp tục săn cá voi. Chuyên vô nhân đạo trên khiến cho cả nước Nhật phản đối dữ dội bọn săn cá voi bất hợp pháp.

    Nhưng dù có sưc mạnh kinh thiên bạt ngàn xẽ núi, kích thước khổng lồ nhưng tâm tư lại Bồ Tát, bản tính hiền lành nên cá voi đã được các hảng du lịch quốc tế, nhất là tại Hoa Kỳ (Hawaii) chọn làm đối tượng để giới thiệu với các du khách. Cá voi khi bơi, tạo được một lực đẩy chừng 50 mã lực và nhờ bộ vẫy đuôi dựng đứng như đuôi tôm, có diện tích chừng 10 m2, mà cá voi có thể thay đổi tư thế bơi lội cũng như chuyển hướng và vượt qua sóng dữ một cách dễ dàng.

    Ðặc biệt có loài cá voi Mũi Khoắm, hiện đang giữ chức vô địch thế giới về tài lặn sâu trên 200m. Cá voi có một lỗ đạo nằm trên đường xương sọ, cũng là vòi để phun nước. Lỗ đạo ăn thông với xương mũi và được đậy lại khi cá lặn. Luồng nước mà cá voi phun ra là một hỗn hợp gồm có nước, khí, chất nhầy từ phổi và chất dầu trong hốc mũi. Chính sự phun nước làm cá voi có khứu giác thấp kém nhưng ngược lại thính giác cá voi rất bén nhạy, có thể phóng ra những sóng âm thanh, để định hướng, rà đường. Nhờ vậy cá voi có thể quen thuộc đường đi lối về, trên những lộ trình có thể xa hơn mấy ngàn cây số, một cách rất dễ dàng.

    Ngoài các đặc điểm trên, loài cá voi xanh với tiếng kêu khi ở tần số thấp, chừng 188 dicibel (đơn vị đo độ ồn), kéo dài chừng nửa phút nhưng tương đương với giọng opéra mạnh nhất của con người. Lại có loài cá voi lưng gù với giọng kêu the thé, kéo dài chừng 10 phút, khi muốn tỏ tình với bạn gái trong mùa giao phối. Những âm thanh trên đối với người đi biển, vẫn là những tiếng hát tuyệt vời trên đại dương.

    Với người Việt Nam có sự phân biệt rõ ràng giữa cá voi hay cá ông, cũng như quan niệm ‘tại bắc vi ngư, tại nam vi thần’. Theo kinh nghiệm của các bậc lão thành vùng duyên hải, thì đuôi của cá voi chỉ có hai chia, còn cá ông tức Nam Hải đại tướng quân thì đuôi có ba chia, da láng bóng như lãnh, khi chết không có mùi dù để lâu ngày, ruồi, muỗi, kiến và các loài sâu bọ vẫn không dám bén mảng tới. Cá ông đã đi vào huyền sử tín ngưỡng lâu đời của người VN như một ân nhân độ mạng. Ðể tỏ lòng thành kính, mọi người không dám gọi cá voi là cá, mà trang trọng gọi là ông Khơi, ông Lộng, ông Kim, ông Thông, ông Mán, ông Bền.

    Tôn kính cá ông khi sống và lúc bị lụy (chết). Do trên ngư phủ nào gặp ông đầu tiên, phải thọ tang ba năm và được vạn chài địa phương hay vạn Thủy Tú tại Phan Thiết, lo lắng việc chôn cất. Mộ phần của ông cũng tuỳ theo hình dạng to nhỏ, để có thể tống táng trong khuông viên của các Dinh ông, vạn chài hoặc neo xác ông trong vùng đăng cạnh bờ như tại Khánh Hòa. Sau ba năm mãn tang, các vạn chài đưa ngọc cốt vào phụng thờ trong dinh, vạn.

    Theo Việt sử vào tháng 2 năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Vương trong khi đang vây hãm thành Bình Thuận, thì bị thủy quân Tây Sơn từ Bình Ðịnh vào đánh đuổi. Nguyễn Vương thua trận và bị Tây Sơn truy sát. Lúc thuyền hai bên gặp nhau tại giang khẩu Xoài Rạp, là một khúc sông Ðồng Nai giữa Gia Ðịnh và Gò Công, thì đột nhiên bảo tố nổi lên dữ dội, khiến cho tàu thuyền của hai phía bị đắm chìm rất nhiều. Ngay lúc thuyền chở Nguyễn Ánh lâm nguy, thì bỗng có một cặp cá ông nổi lên đỡ và dìu thuyền vào bờ làng Vàm Láng, tổng Kiến Phước, tỉnh Gò Công.

    Sau khi đất nước thống nhất, vua Gia Long lên ngôi năm 1802, nhớ ơn xưa đã truy phong cho cá voi, tước Nam Hải Đại Tướng Quân, Cự Lộc Ngọc Lân Thượng Ðẳng Thần, đồng thời hạ chiếu phong tặng cho các làng xã lân cận nơi bị đắm thuyền năm xưa, trong đó có Cần Giờ (Gia Ðịnh), Kiến Phước (Gò Công), Vũng Liêm (Vĩnh Long) và ra lệnh cất đền thờ Cá Ông. Kể từ đó, vùng phía nam Ðèo Ngang trở vô đều thờ Ông Nam Hải. Ở miền bắc VN, do ảnh hưởng của phong tục và tập quán Tàu, nên không tin Cá Ông nhưng ngư dân tại Ðồ Sơn (Kiến An), vẫn chôn cất Cá Ông rất trọng thể khi Ngài bị lụy, dù không lập miếu thờ như tại miền Nam.

    Với Phật Giáo, cá Ông là hiện thân của Phật Bà Quan Âm, vị Phật hiền từ, nhân ái, chuyên cứu khổ, cứu nạn mọi người. Ðức Phật Quan Âm một lần tuần du trên biển Nam Hải, cảm động trước sự chết chóc của nhân loại, vì thiên tai, bảo tố nên Phật Bà đã xé mãnh cà sa của mình thành trăm mảnh, ném xuống mặt biển hóa thành đàn Cá Voi, lại ban cho thân thể to lớn và phép thần thông, để Ông có sức khỏe vạn năng và bơi lội nhanh lẹ, hầu kịp thời hộ trì cứu giúp những người bị tai nạn trên biển.

    Cá Ông thích ăn cá mòi, mực và ruốc. Vùng biển Bình Thuận tại Phước Thể, Phan Rí, Mũi Né, Phan Thiết, La Gi có rất nhiều ruốc, mực và cá mòi, nên cũng có nhiều Cá Ông. Bình Thuận có bốn vạn lớn: Thủy Tú, Nam Nghĩa, Hưng Long và Hiệp Hưng. Các nơi khác trong tỉnh cũng đều có Dinh Vạn Ðình Miếu thờ cúng cá Ông.

    Song song với niềm tin Ông Nam Hải, ngư dân còn thờ hoặc kính nể một vài thủy tộc khác, có liên hệ đến đời sống hằng ngày của họ, khi hành nghề trên mặt biển như:

    - Cá Ðao Hay TẢ HỮU TUỚNG QUÂN: Là loại cá lớn, xương cứng, mõ dài gần 2m, răng bén nhọn ló ra ngoài, thường thấy kế cận hai bên Cá Ông.

    - Cá Ông Sứa: Cũng to lớn như cá Ông, đuôi dựng đứng như tôm nhưng không có lỗ đạo trên đầu, nên miệng luôn hả ra để thở, mình có bông. Cá Ông Sứa hiền lành, không hại ai lại hiểu tiếng người và cũng thường cứu người khi tàu thuyền bị đắm.

    - Bà Tím hay Ðệ Bát Thánh Phi Nương Nương hay Công Chúa Thủy Tề, là một loài rùa biển to lớn, có hình dạng và màu sắc ghê rợn. Bà Tím thuộc loại linh quy, có 15 vảy trên mu, bốn chân hình rẽ quạt, đầu phụng có mồng, mõ nhọn màu đỏ, cổ vàng có hầu, mắt như mắt người. Bà Tím đẻ trứng trên cát, sau 100 ngày, trứng nở thành những cô cậu, tự động mò về biển. Thờ cúng Bà Tím, cũng là một phong tục lâu đời của ngư dân và đến nay, không ai dám xúc phạm tới vị thần biển này.

    - Ông Nược: Cùng loại với Cá Ông nhưng nhỏ hơn, đuôi như tôm, lưng đen bụng trắng có vú. Ông Nược hiền lành, ăn mực, giúp đỡ người bị nạn, thường nhào lộn trên mặt biển để đua chơi với tàu thuyền của ngư phủ.

    - Các Loại Ðẻn: Vùng biển Bình Thuận từ Long Hương vào tới La Gi, có rất nhiều loại rắn biển mà người địa phương gọi là đẻn, nọc rất độc, cắn chết người, vì vậy ngư dân cũng rất nể sợ, tuy không thờ cúng. Hiện các nhà khoa học còn mù mờ về lý lịch của loài đẻn. Sự tàn độc của chúng khiến cho tới lúc chết, cũng không có một loài cá hay sinh vật nào kể cả loài diều hâu, kên kên háu ăn, để ý tới. Nhân loại hiện nay chưa có thuốc chủng hay trị liệu vết thương do đẻn cắn.

    Ðẻn thuộc họ rắn hổ mang trên cạn có tên khoa học là Hyphophidoe, gồm nhiều nhánh, đều mang nọc độc vô địch trên thế giới, trong ngành động vật có xương sống. Thường các nạn nhân bị đẻn cắn không bị đau đớn nhưng chỉ một vài giờ sau, nọc độc gây chứng tê liệt thần kinh, co giật, phổi bị ép và nghẹt thở chết.

    Theo thống kê hiện có tới 50 loài rắn biển, đa số sống ở miền nam Thái Bình Dương và quanh biển Úc Ðại Lợi. Một vài loại sống tại Nhật cũng như vịnh Ba Tư, kênh đào Panama. Vì sống trong nước nên đẻn có cấu tạo đặc biệt hơn rắn hổ mang, đuôi dẹp làm thành một bánh lái khi bơi lội. Mũi đẻn nằm ngay trên miệng, thay vì ở hai bên như loài rắn đất liền và có nắp đậy kín khi lặn. Bụng đẻn cũng nhỏ hơn và có thêm một tuyến đặc biệt, giúp đẻn thải chất muối khi uống nước biển. Giống rắn trên cạn, đẻn chỉ có một lá phổi nhưng rất lớn, một phần dùng để lọc khí ôxy và lại có một túi riêng trong lá phổi để chứa không khí.

    Với ngư dân tại Bình Thuận-Phan Thiết, đẻn được gọi qua các tên như Bà Mộc hay Mộc Trụ Thần Xà là loại đẻn dài cỡ thước mộc (0,40m), mình dẹp, lưng đen, miệng đỏ, đầu có chữ nhâm. Bà Lạch, loại đẻn đầu có mồng và chữ nhâm. Ông Hèo, dài từ 2-3m, mình tròn màu vàng nhạt có lằn đen trên lưng, đầu có chữ nhâm, là loài tàn độc nhất, ai bị mổ sẽ chết ngay tại chỗ chừng vài phút. Cô Hồng hay Bát Bửu Công Chúa là loại đẻn nhiều màu, đầu có mồng. Tóm lại, tất cả các loại đẻn đều hung ác, làm mọi người nể sợ nên nghĩ rằng chúng là binh tướng của thần linh, có nhiệm vụ hành xử những kẻ phạm tội đối với trời đất.

    Những năm trước tháng 5-1975, ngư dân Bình Thuận có cuộc sống sung túc dễ chịu vì biển luôn trúng mùa, nên các vạn chài trong tỉnh luôn tổ chức cúng Ông rất linh đình nhưng trang trọng hơn hết vẫn là tại bốn vạn lớn tại Phan Thiết. Cho dù thuộc lệ cúng gì như cầu ngư, vía ông, mãn mùa, tất cả đều có hát bội, đua ghe và hò bá trạo.

    Quang cảnh trong Dinh Thủy Tú những ngày đó, thật vui nhộn, đâu đâu cũng đầy ắp người, từ trẻ con cho tới người lớn tuổi nhưng phần lớn vẫn là những nam thanh nữ tú, đủ mọi thành phần. Không riêng gì người Phan Thiết, mà dân các vùng Long Hương, Phan Rí, Mũi Né, La Gi và các vùng quê lân cận cũng tuôn về trẩy hội. Lòng ai cũng hớn hở theo hồi trống ngủ liên vọng từ Dinh ra ngoài trời, quyện theo những lá cờ đuôi nheo đang phất phơ bay trước gió. Ðối với dân Bình Thuận, những ngày cúng kiến Ông Nam Hải, là những giờ phút thiêng liêng trọng đại, cũng là những dịp vui chơi hiếm có, mọi người đều được ăn uống cờ bạc tự do, lại được thưởng thức hò bá trạo, hát bội, đua thuyền. Tất cả đều là thú vui của người miền biển, chỉ được tổ chức một vài lần trong năm mà thôi.

    Trong Dinh đèn đuốc sáng choang, linh vị các ngài đã được an vị lại trên các bệ thờ. Rồi xô giàn cúng cô hồn, có đội chèo hát cầu siêu, cầu hồn những linh hồn uổng tử đã chết thảm thê nơi sóng nước. Cuối cùng xây chầu hát bội, trên sân khấu lộ thiên xây bằng gạch trước Dinh. Các viên chức chánh quyền, kỳ mục, ban hội tề đều được mời vào cầm chầu.

    2 - HÒ BẢ TRẠO:

    Chiêm Thành vong quốc từ năm 1693 nhưng cái uy vũ của Nữ Vương Thiên Y A Na Ngọc Diện Phi vẫn tiếp tục bao trùm khắp người dân vùng đồng bằng và duyên hải miền Trung, thuộc phần đất Ðàng Trong cũ của các chúa Nguyễn. Ảnh hưởng kéo dài từ ruộng rẩy, rừng núi, ra tới tận biển đảo.

    Ðối với người Việt, hầu như không có sự phân biệt như người Chiêm đã làm, khi tách bà Chúa Xứ cũ của vương quốc ở Tháp Bà Nha Trang, Hòn Chén Huế và Bế Ngải Bà Rịa, thành một bà chúa riêng biệt tại Hữu Ðức Phan Rang. Ðiều này cũng dễ hiểu vì người Chàm không muốn thờ phụng bà Chúa Xứ Chàm đã trở thành một bà thần Việt, qua thơ văn, mang dạng tiên nương trong Ðạo giáo.

    Tính chất hoang sơ trong dạng nữ thần Thiên Y hoá thân thành các vị thần thánh trên sông biển, qua tâm khảm của đoàn người phải rời bỏ đất liền bình yên, ra vùng sóng gió muôn trùng, chỉ có trời nước mông mênh. Cuộc sống ba chìm bảy nổi đã tạo nên tâm tính ‘ăn đàng sóng, nói đàng gió’ vì sinh mạng luôn luôn bị đe doạ. Chính vì thế mà nhiều tục lệ của người Chàm để lại đã biến mất trên đất liền, trái lại vẫn dai dẳng tồn tại trong sinh hoạt biển, qua hình thức tế lể, mang tính chất cầu cạnh thần linh, tạo nên một trạng thái vừa sợ hãi lẫn tôn kính thân tình.

    Khía cạnh này đã được thể hiện rõ ràng, trong việc thờ cúng Ông Nam Hải, cự tộc Ngọc Lân tôn thần, mà Ðại Nam Nhất Thống Chí có đề cập ‘Duy chỉ có nước Nam ta, từ sông Linh tới Hà Tiên, thường có linh ứng qua hiện tượng Cá Voi cứu người hoạn nạn ngoài biển‘. Tại các Dinh Vạn thờ cúng Ông nhưng bao trùm trên hết vẫn là quyền lực của Bà Chúa Xứ vì trong các văn tế Ông đều có nhắc tới Bà và miếu thờ Bà còn trên hòn Bà ngoài khơi La Gi, cũng như tại Vạn Thủy Tú, Ðức Thắng có sắc phong của vua cho Bà và rõ nét nhất là sự thờ kính Thầy Chúa trên đảo Phú Quý, ngoài khơi Bình Thuận.

    Ðàng Trong tức là Trung phần ngày nay, hát bội tuy xuất phát từ Ðào Duy Từ (1572-1634) nhưng được phát triển qua Ðào Tấn (1845-1907). Hát bội là một bộ môn nghệ thuật rất được phổ quát khắp miền Trung từ xưa tới nay, cho nên không lạ khi thấy sự diễn xướng của Hò Bá Trạo, được trình bày theo khuôn khổ của một tuồng hát bội giản lược và thu nhỏ.

    Các bản chèo từ Quảng Nam vào tới Bà Rịa, rất giống nhau trên đại thể cũng như hình thức trình bày mang tính chất hát bội rõ rệt. Người Việt Nam vốn có nguồn gốc từ hải đảo, cho nên trong các bản chèo Bá Trạo, cũng có thể thấy được, lớp văn hóa đáy của người miền biển xưa cùng hơi hướng vướng víu của lễ Tiwak từ thổ dân Dayak, sống trên đảo Bornéo, Nam Dương mà nhà biên khảo V. Goloubew cho là các hình đúc trên trống đồng Ðông Sơn của người Lạc Việt. Tuy nhiên dù hình thức là nền văn hóa đáy miền biển nhưng quan niệm chuyển kiếp, lại được nhìn qua lăng kính Phật Giáo và màu sắc Lão Trang, dưới ngòi bút của một nho sĩ.

    Theo từ nguyên và các tập quán của nhiều vùng đất thuộc tỉnh Bình Thuận kể cả Phú Quý, thì Bả Trạo chứ không phải Bá Trạo, vì ‘bả’ là nắm chắc, còn ‘trạo’ là mái chèo. Hát Bả Trạo là nắm chắc mái chèo khi đang trình diễn, hát xướng. Ðây cũng là một tên gọi rất quen thuộc, để chỉ một nghệ thuật múa hát nghi lễ của các ngư dân miền Trung từ Thừa Thiên vào tới Bà Rịa. Tuy mỗi địa phương có một sắc thái riêng biệt nhưng tựu trung hầu hết các buổi Hò Bả Trạo cũng chỉ là một buổi trình diện nghệ thuật, mô phỏng theo sinh hoạt của một con thuyền đang hành nghề, với đầy đủ các thành phần từ tổng lái, tổng mũi, tổng khậu và các trạo phu. Lối hát này rất sinh động và lôi cuốn mọi người, vì nhờ biết tổng hợp nhiều thể điệu dân ca từ nói lối, hò, vè, đến lý và hát tuồng.

    Sống suốt cuộc đời bằng nghề hạ bạc trên sóng nước, nên hầu như ai cũng chứng kiến những cái chết thương tâm của các nạn nhân vì thiên tai bảo táp. Nhiều cái xác vô thừa nhận trôi tắp vào bờ và được dân làng chôn làm phước tại các nghĩa trũng. Cũng từ đó, hát bã trạo ra đời mang ý nghĩa cứu độ chúng sinh đang chìm đắm trong biển đời u minh khổ tuyệt. Do trên ta thấy từ đầu tới cuối, nội dung hát bả trạo gần như một một tuồng hát có ngụ ý về một con thuyền bát nhã đang dung ruổi trên biển khơi để cưú độ chúng sinh, đưa họ về nơi tịnh độ. Vì vậy trong lời hát, ta thấy có nhiều từ ngữ Hán-Nôm xen kẻ, phần lớn thuộc loại cầu siêu, cầu hồn:

    ‘Mau chỉnh tu bát nhã từ thuyền,
    đưa âm linh chớ có nại phiền
    qua khổ hải đặng thoát vòng nghịch kiếp.. ’

    Nói chung, nội dung hát bả trạo cũng vẫn dựa theo những bài văn cúng âm linh của các làng xã VN nên đều mang tính chất nhân đạo, thể hiện lòng thương yêu vị tha của người đối với người, cho dù họ vì nghĩa lớn mà hy sinh hay chỉ là nạn nhân bất ngờ phải bỏ mình, nơi quê người đất khách:

    ‘những người nghĩa khí tài ba
    gặp cơn nước loạn phải ra liều mình
    những người tử trận đao binh
    gian truân cát lấp, gửi mình trường sa
    những người thuyền bá linh đinh
    gặp cơn sóng gió hãi kình rước thây..’

    Tại Trung phần, lễ cầu ngư của dân làm biển, là một phong tục tập quán mang tính chất tín ngưỡng truyền thống, không thể thiếu được. Gắn liền với lễ hội trên là hò bã trạo, một nghệ thuật trình diễn trên sân khấu bình dân từ lâu đời, cũng là một nhu cầu đặc trưng của tự tình dân tộc.

    Hiện nay có nhiều bổn chèo hò bả trạo được lưu hành. Theo nhận xét chung của các nhà nghiên cứu, thì đa số các bổn văn thường trùng lặp vì nạn sao chép vay mượn lẫn nhau, nên trở thành tam sao thất bổn, nhất là các từ ngữ Hán-Việt. Ngoài ra văn bản còn tuỳ theo khả năng sáng tác của người nghệ sỷ. Tuy nhiên tại Bình Thuận, hầu hết đều công nhận bản chèo của tác giả Lê Ngọc Yến ở Thạch Long, Mũi Né, rất có giá trị nghệ thuật. Bổn chèo trên dài tới 800 câu, viết theo thể văn hát tuồng, bằng đủ thể loại từ lối thơ song thất lục bát, tới thất ngôn tứ tuyệt, xen lẫn hát vè, nói lối.

    Ðội hò bả trạo là phản ảnh của cảnh sinh hoạt trên một chiếc thuyền, gồm tổng lái cầm chèo dọc, chỉ huy con thuyền khi sóng to gió lớn. Tổng mũi hay tổng tiền, tổng thương có nhiệm vụ quan sát, định hướng, trở buồm theo lệnh của tổng lái. Khi trình diễn, tổng mũi tay cầm sanh giữ nhịp. Tổng khậu lo chợ búa bếp núc. Tổng khoang lo canh buồm giữa và tát nước. Ngoài ra đội trạo phu có từ 6-8 cặp và một phách sĩ vừa chèo thuyền, vừa đánh bát, gõ nhịp điều khiển toàn đội.

    Trong khi trình diễn, hai vai quan trọng nhất là tổng khậu và tổng khoang phải thông thạo tất cả các lối ngâm, xướng, bạch, thán oán, vịnh, nam khách, tẩu mã cùng các điệu lý hò miền Trung. Âm nhạc vẫn giữ vai trò quan trọng trong hò bả trạo như giữ nhịp, đưa hơi, tạo không khí hào hứng cho người diễn cũng như thính khán giả, qua các loại nhạc cụ như trống, chiêng, thanh la, kèn bầu, sáo, đàn gáo..



    Viết từ Xóm Cồn Ha Uy Di
    Tháng Giêng 2010
    Mường Giang