Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Ðầu năm 2010, bàn chuyện Thời Gian

    MƯỜNG GIANG





    Ngay từ thời thượng cổ con người đã biết xếp đặt thời khóa biểu, để cuộc sống hằng ngày sao cho phù hợp với chuyển động của mặt trời, mặt trăng và mùa màng. Hiện phần lớn các cổ thư trên thế giới đã bị thất lạc và tiêu hũy nhưng nhờ sự khai quật qua khảo cổ, ta vẫn có thể biết được cách tính ‘Ngày mùng một tháng Giêng‘ theo lịch Trung Hoa cổ.

    Ðây là cách mô phỏng theo sự chuyển động của năm hành tinh trong nhóm sao Pegasus, được sắp xếp như một chuổi ngọc. Rồi khi bình minh của một ngày đầu xuân ló dạng, mặt trời và mặt trăng cũng xen vào xếp hàng trong chùm sao đó.

    Quan niệm trên được mọi người xem như một điềm lành đầu năm, vì đây là trường hợp họa hoằn hiếm thấy chỉ xãy ra một lần trong 10.000 năm. Do đó nó được chọn làm ngày đầu năm cũng là mốc khởi đầu của âm lịch ngày nay. Năm 1985 một chuyên gia về Trung Hoa là David Pankernier tại đại học Lehigh, đã xác định được thời gian ngẫu hợp hiếm thấy của các hành tinh, diễn ra vào ngày 26/2/1953 trước tây lịch, nhằm vào thời vua Vũ nhà Hạ bên Tàu. Sau đó Kevin D Pay, một nhà thiên văn học, cũng tính được khoảnh khắc huyền thoại mà người Tàu cổ, đã chọn làm mốc tính âm lịch, đó là ngày 5/3/1953 (trước TL).

    Ngày nay dù phương tiện và kỹ thuật tân tiến dồi dào nhưng sự nghiên cứu về thời gian càng lúc càng thêm phức tạp, vì các ý kiến gần như chống đối lẫn nhau. Ðại để ý kiến thứ nhất thì cho rằng thời gian là một đường thẳng, đối với các đơn vị tính ngày giờ năm tháng và các chuyển động không bao giờ ngừng. Còn nhóm thứ hai quan niệm thời gian là một vòng tròn, cũng có sự tuần hoàn và không bao giờ chấm dứt.

    Ðể định nghĩa chính xác về thời gian, người cổ Hy Lạp có câu chuyện ngụ ngôn về con nhân sư, hàm ý diễn đạt về sự chuyển động của thời gian có liên quan tới hành trình của đời người. Chính thánh Augustine cũng có sự nhận định rất chính xác về thời gian, khi phân biệt giữa hiện tượng chủ quan và khái niệm trừu tượng. Theo ông thì thời hiện tại có ba giai đoạn là hiện tại của quá khứ, hiện tại của hiện thực và hiện tại của tương lai.

    Với những người chấp nhận thời gian là đường thẳng, có cuộc sống luôn luôn tuân thủ trật tự, mọi thứ đều căn cứ vào xếp hàng gần như câu tục ngữ của ta “trâu chậm uống nước đục“. Quan niệm này được hầu hết các nước Âu Mỹ chấp nhận, vì gần với thực tế và tự do bình đẳng, không có ai ưu tiên hơn ai khi đã xếp vào hàng.

    Riêng những người chấp nhận thời gian là vòng tròn, thì luôn hành động theo tính cách vòng tròn, chỉ nhắm vào mục tiêu cuối cùng, bất chấp đạo lý và dư luận chung quanh. Hạng người này không bao giờ chấp nhận thất bại nên lời hứa, uy tín là những thứ xa xí phẩm, đặc biệt họ luôn tới bàn tiệc trễ, mặc kệ sự phiền nhiễu và khó chịu của mọi người.

    Tóm lại quan niệm về thời gian chẳng những ảnh hưởng tới cá nhân, mà còn liên quan tới vận mệnh của quốc gia dân tộc, nhất là khi họ nắm quyền lãnh đạo đất nước. Hiện nay hầu hết các nước theo chủ nghĩa xã hội, các quốc gia chậm tiến Á Phi, các nước thứ ba... đều thuộc nhóm chấp nhận thời gian là một vòng tròn, nên mọi hành động và cách ứng xử đều tùy tiện theo mục đích.

    Chí lý thay lời nhận xét của Emile Durkheim, một nhà xã hội học người Pháp “ Thời gian chính là một cấu trúc của hạ tầng xã hội, giúp cho sự hưng phế của một nền văn minh và một dân tộc trong tất cả mọi vấn đề “.Cũng từ sự đối chọi quan niệm về thời gian, đã ảnh hưởng tới các nhà thiên văn học và chiêm tinh học. Ðó là lý do nảy sinh việc chọn lựa 12 con giáp làm biểu tượng cho hai thứ lịch Âm và Dương đang thịnh hành.

    Nay thì hầu như ai cũng biết, bao quanh bầu trời có một vòng đai gọi là “vòng động vật Zodiac“ Tuy mặt trời là một định tinh và địa cầu luôn chuyển động vòng quanh nó nhưng trong cái ấn tượng và quan niệm của con người, thì mặt trời dường như cũng có chuyển động quanh một vòng cung biểu kiến, được các nhà thiên văn và chiêm tinh học, gọi là “vòng Hoàng Ðạo“ .Mười hai con giáp cũng xuất phát từ đấy và để phân biệt tính chất Âm-Dương, người ta lại phân biệt số ngón của con vật theo định luật ‘chẳn dương, lẽ âm‘.

    + Năm mới không đến một lần trên trái đất:

    Không phải mọi người đều đón mừng năm mới cùng một lúc, vào sáng ngày mùng một tháng Giêng dương lịch, dù rằng hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều dùng Tây lịch. Sỡ dĩ có sự khác biệt trên vì địa cầu trải dài nhiều kinh tuyến, vốn là đơn vị dùng để tính thời gian. Ngoài ra việc làm và sử dụng lịch luôn lệ thuộc vào quyền lực chính trị, nên mới có sự khác biệt trên.

    Theo nhận xét của các nhà khoa học, thì nay dù Dương Lịch (lịch Grégoire) đang được dùng khắp nơi nhưng vẫn chưa đủ tác dụng và hiệu quã để có thể thay thế cac loại lịch khác đang song hành. Lý do vì lịch này mang tính chất tùy tiện và dù đã được cải tổ và tu chỉnh nhiều lần suốt mấy chục thế kỷ qua. Thế nhưng ới nay vẫn chưa được hoàn chỉnh.

    Theo tài liệu cho biết, thì Dương Lịch hay lịch Gregorian, xuất xứ từ lịch Roma được ban hành từ năm 750 trước Tây lịch (tr TL). Thuở đó lịch rất thô sơ, một năm chỉ có 10 tháng, 6 tháng đầu có 30 ngày, 4 tháng cuối có 31 ngày. Thời hoàng đế Numa trị vì, lịch được cải cách lần thứ nhất bằng cách thêm vào tháng 11 và 12. Theo đó, các tháng 2,4,6,7, 8,9,11 chỉ có 29 ngày. Riêng tháng 12 có 28 ngày, còn các tháng 1,3,5 và 10 có tới 31 ngày. Ngaòi ra cứ 2 năm lại có một tháng nhuần vào ngày 22. Tóm lại lịch này mỗi năm có chẳn 366 ngày.

    Năm 46 trước Tây Lịch (tr TL), hoàng đế La Mã Cesare Julius lại cải tổ lịch lần thứ 2, dựa theo cách tính của người cổ Ai Cập.Theo đó lịch này gần giống như lịch cũ nhưng mỗi năm chỉ có 365,25 ngày.

    Tới khi đạo Thiên Chúa trở thành quốc giáo tại Âu Châu, thì việc phát hành lịch do tòa thánh La Mã quyết định, nên trong lịch đã xuất hiện nhiều ý niệm về tôn giáo. Năm 532 sau Tây lịch (STL), giáo hội chấp thuận đề nghị của giáo sĩ Denys le Petit, chọn năm 1 là năm sinh của chúa Jésus, mặc dù kinh Tân ước có nói Chúa ra đời vào năm 6 trướcTây lịch. Vấn đề nhầm lẫn trên sau bao chục thế kỷ, đã trở thành tập quan, nên nay không còn ai muốn thay đổi.

    Thật ra chính người La Mã, là dân tộc đầu tiên chọn ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm hay còn gọi là Tết Dương Lịch. Riêng cái tên tháng Giêng (Jannuary) cũng được mượn từ tên vị thần Janus có 2 mặt: Một nhìn về năm cũ, một hướng tới năm mới. Ông ta còn là vị thần giữ cửa địa ngục và thiên đàng.


    Năm 1582 lại phát hiện lịch tính chậm so với thời gian hiện hữu là 10 ngày, nên Giáo hoàng Grégorian đã cải cách lịch cũ, bỏ bớt 10 ngày trong năm và áp dụng luật năm nhuận 47/400 vào lịch mới. Theo tinh thần đó, thì bất cứ năm nào chia chẳn cho 4 đều là năm nhuận. Với các năm có số tận cùng là 00, nếu muốn nhuận phải chia chẳn cho 400. Từ đó lịch được phổ biến khắp thế giới, được xem như một phương tiện để giao dịch quốc tế. Nhưng với các nhà khoa họchiện nay vẫn chưa đồng ý, vì cho rằng sự xếp đặt các ngày trong tháng chỉ tùy tiện và vô lý như 28,29,30 và 31. Với chu kỳ tuần lễ cũng chạy lộm xộn trong lịch và cuối cùng là luật 97/400 tính năm nhuận cũng chưa được hoàn chỉnh, vì cứ 3000 năm lại bị sai lệch 1 ngày.

    Ta gọi là lịch, người Pháp là Calendrier còn Anh là Calender hay bất cứ một danh từ nào khác cũng đều có xuất xứ từ tiếng gốc Latin là Calendarium, có nghĩa là “số tiền lời đầu tiên phải trả khi vay nợ“. Ngay từ xa xưa nhiều nước đã có lịch, đa số đều khác biệt vì đặc điểm lịch sử và các quy luật riêng của từng nước.

    Lấy năm 1997 làm ví dụ, ta thấy ngày đầu năm của các quốc gia Hồi Giáo như Algérie, Iraq, Kuweit, Somalie, Lybie, Nigérie. nhằm 15/4 dương lịch, nhằm ngày 19 của tháng Ragab năm 1417, là năm mà Giáo Chủ Mahomed lánh nạn tại Medina. Vì người Hồi dùng âm lịch nên sai lệch so với dương lịch khoảng 11 ngày đêm. Do đó ngày đầu của năm mới có thể đến bất kỳ tháng nào của Dương Lịch.

    Người Do Thái có lịch kể từ ngày sáng lập ra thế giới và căn cứ vào năm 1997 dương lịch, thì họ đã có 5758 năm và ngày đầu năm mới nhằm vào tháng 9 dương lịch. Người Copte theo đạo Thiên Chúa sống tại Ethiopie và Ai Cập, vì tính thời gian theo lịch cổ Ai Cập nên năm 1997 lại là năm 1713 của họ. Dân đảo Pali thuộc Nam Dương có thể đón năm mới bất kỳ tháng nào của Dương Lịch, vì một năm của họ chỉ có 210 ngày.

    Người Nga lúc đầu ăn tết vào ngày 1 tháng 3 dương lịch nhưng từ thế kỷ XV mới ăn tết vào ngày 1/1 dương lịch. Anh cũng như Nga chỉ mới chấp nhận ngày đầu năm mới là 1 tháng 1 được vài thế kỷ nhưng đã bị phụ nử phản đối kịch liệt vì cho rằng nếu theo cách tính đó, đã làm cho họ già trước tuổi.Các tín đồ Chính thống giáo ở Cận đông sử dụng lịch Julieu nên ngày đầu năm là 16 tháng 1 so với lịch mới. Riêng Ấn Ðộ thì độc đáo hơn, mỗi tiểu bang ăn tết riêng biệt: Miền bắc tháng 4, miền nam tháng 3, miền tây tháng 10, còn Népal tháng 7 hay 8.

    Các nước theo Phật Giáo Tiểu Thừa như Lào, Kampuchia, Thái Lan, Miến Ðiện, Tích Lan.. đón tết theo Phật lịch và năm của họ là 2540 (1997 dương lịch), căn cứ theo ngày viên tịch của Phật tổ Như Lai vào năm 544 trước Tây lịch (tr TL). Các nước Nhật, Ðài Loan, Triều Tiên dù ăn tết theo âm lịch nhưng đều có lịch riêng. Với Ðài Loan, lịch của họ bắt đầu từ năm 1911 là năm cách mạng Tân Hợi thành công lật đổ Mản Thanh, nên tính đến năm 1997 là năm dân quốc 86. Người Nhật tính lịch theo triều đại đang trị vì là hoàng đế Akihitonăm thứ 8. Nam Hàn có lịch riêng yính theo kỷ nguyên Tanqua tạo ra nước Chosoul (Cao Ly) nên đã bước vào năm 4330.

    Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, Tây Tạng và Việt Nam theo âm lịch tính theo chuyển động của mặt trăng. Do đó ngày đầu năm của âm lịch, được tính theo chu kỳ nhất định trong 60 năm và căn cứ vào 10 Can, 12 Chi, thường rời vào tháng 1 hay 2 của dương lịch. Với lịch Islam dù cũng theo âm lịch nhưng năm mốc là 622. Theo lịch này mỗi năm cũng có 12 tháng, được tính đủ 30 ngày trong các tháng lẽ, 29 ngày tháng chẳn và có năm nhuận. Do trên lịch Hồi Giáo mỗi năm chỉ có 354 hay 355 ngày.

    Ba Tư áp dụng lịch Islam từ thế kỷ thứ VII tới triều đại Pahlévi thì dùng dương lịch của họ. Năm 1976 lại thay đổi lịch, lấy năm 558 trước TL là năm Ba Tư lập quốc làm kỷ nguyên. Năm 1978 Ba Tư trở lại dùng lịch Islam như cũ.

    Do các trở ngại trên nên việc cải cách lịch Gregorian luôn là mối bận tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc) đã thành lập tiểu ban cải cách lịch quốc tế và hàng trăm phương án được nêu ra. Rốt cục vẫn không có một ý kiến nào toàn hảo. Hiện có hai phương án đượcdư luận theo dõi và chú ý. Ðó là lịch thế giới (World Calendar) do môt người Pháp tên G.Armetine đề nghị từ năm 1956. Phương pháp thứ hai là lịch quốc tế cố định (International Fixed Calendar) của Auguste Comte đề nghị từ năm 1849. Năm 1993 một người Mỹ tên Chris Carrier lại đưa ra dự án lịch Bonavian. Tại VN, giáo sư Phạm Viết Trình cũng đưa ra dự án cải cách lịch, dựa theo luật nhuận tuyệt đối 2422/10.000. Tóm lại dự án nào cũng độc đáo nhưng theo các nhà khoa học hiện đại, vẫn còn có nhiều khuyết điểm. Do đó cuộc cải cách chắc còn lâu mới thực hiện được.

    + 2000 hay 2001, năm nào mới là năm đầu của thiên niên kỷ ?

    Ðây là một cuộc tranh luận sôi nổi từ lâu trên thế giới, đã được Phillipe Ciboil, giáo sư môn xã hội học người Pháp làm bảng tổng kết các cuộc tranh luận vào ngày 12-4-1997, về việc năm 2000 hay 2001, năm nào mới thật sự là năm đầu của thiên niên kỷ ?

    Tại Pháp từ sau cuộc cách mạng 1789, người ta đã làm một loại lịch mới gọi là lịch Cộng Hòa nhưng chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn ngũi từ 1793-1805. Chính trong thời gian này, văn hào Victor Hugo khi nói về ngày sinh nhật của mình đã viết rằng “Thế kỷ mới đã được 2 tuổi, nghĩa là ông công nhận thế kỷ XIX bắt đầu từ năm 1800”. Một biến cố khác cũng cực kỳ quan trọng đã xảy ra tại Pháp khi bắt đầu thế kỷ XVIII. Việc này đã làm cho nhà vua tới người dân, ai cũng xôn xao vì thế kỷ mới sẽ bắt đầu bằng năm 1700 hay 1701?

    Theo sự nghiên cứu của các nhà xã hội và khoa học, thì nguyên nhân của các vụ tranh cải trên, bắt nguồn từ hai quan điểm tập quán và thực nghiệm. Phe tập quán được đông đảo dân chúng ủng hộ vì đây là phong trào tự phát, chấp nhận con số tròn (0), là thời điểm mà niên kế (compteur d’années) trở lại theo chu kỳ. Chính các nhà khoa học giả tưởng là động lực tạo thành con số (0) trong tâm khảm quần chúng.

    Trong khi đó phái thực nghiệm bao gồm các nhà toán học, khoa học, thì lấy số 1 là năm đầu của thế kỷ hay thiên niên kỷ, dù họ có sử dụng loại lịch nào chăng nữa (dương, âm, Hồi giáo, Phật giáo) kể cả lịch Cộng hòa Pháp. Theo lối lý luận này, thì mỗi thế kỷ phải kết thúc bằng con số 0 và khởi đầu bằng con số 1. Ðây chính là cái vòng lẩn quẩn của con người, như câu nói thông thường của ta “đường nào cũng về La Mã“ là vậy.

    Theo lối tính của nhóm trên thì thế kỷ thứ I bắt đầu bằng năm 1 và kết thúc năm 99. Thế kỷ thứ II cũng bắt đầu bằng năm 100 và kết thúc vào năm 199 để sang thế kỷ mới. Sau đó lại tiếp tục giống trên cho tới thế kỷ XX bắt đầu bằng năm 1900 và kết thúc vào năm 1999. Rốt cục phe thực nghiệm đã vô tình chấp nhận quan điểm của phe tập quán một cách tự nhiên.

    Ðặc biệt Giáo Hoàng Phao Lồ đệ 2, khi đọc thông điệp ‘Tetio Millenio Advennience‘ Ngài chỉ loan báo lấy năm 2000 làm thời gian mừng lễ Jubilé . Tuyêt nhiên trong bức thông điệp không hề nhắc tới năm nào là năm khởi đầu của thế kỷ XXI , dù có nói rằng năm 2000 là ngưỡng cửa để nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới.

    Tóm lại mọi sự trên cõi đời này đều do đám đông quyết định và cái chân lý bất biến tự ngàn xưa, dù cho trời có xập, nó vẫn là “Vox Papouli (tiếng nói của quần chúng)“ cũng là “Vox Dei (quyết định của Thượng Ðế)“ .

    Rồi thì năm 2000 tận thế cũng trôi qua từ lâu và sự trắc trở của máy điện toán (Y2K) cũng không hề có. Thế nhưng các nhà tiên tri vẫn tiếp tục đưa ra những dự báo xấu về Ngày Tận Thế của trái đất, Hiện nhân loại đã bước vào ngưởng cửa của năm 2010 vời đầy ắp lo sợ, từ khủng hoảng kinh tế tới thảm trạng của một cuộc thế chiến đang ló dạng khắp nơi. Thêm vào đó là tai họa do thiên nhiên mang tới như bảo tố, động đất, núi lửa.. chotới các vụ rớt máy bay, đắm tàu thuyền, chết đói, dịch bệnh..

    Ðây không phải là các lời đồn nhãm nhí hay các loại tiên tri dõm thường thấy xãy ra trước đây, mà tất cả đều là sự thật được báo chí thông tin từng giờ. Buổi trước mọi người đều tin khi thay đổi thế kỷ hay thiên niên kỷ, đều là những giây phút cuối cùng của cuộc sống. Nhưng vào thời điểm này, trước sự lộng hành của Trung Cộng, Nga Sô, Bắc Hàn, Ba Tư và bọn khủng bố... lúc nào cũng mang chết chóc gieo rắc khắp nơi trên trái đất, trước sự bất lực của Hoa Kỳ. Ðiều này cho thấy ngày tận thế của nhân loại bởi bom nguyên tử, vẫn là nổi ám ảnh lớn nhất của con người hiện nay, tuy ai cũng mong sẽ chẳng bao giờ tới.


    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Ðầu năm 2010
    MƯỜNG GIANG
  2. NHỮNG TRUYỀN THỐNG VÀ HUYỀN THOẠI DIỄM TÌNH TRONG NGÀY LỄ GIÁNG SINH


    MƯỜNG GIANG



    Mùa giáng sinh năm 1818 tại một ngôi nhà thờ nhỏ thuộc làng Oberndorf, nằm giữa những rặng thông quanh năm tuyết phủ ở miền Tyrol nước Áo. Ðây là một thôn xóm trầm lặng, trong đó có Linh Mục Mohn ngoài việc giảng đạo, ông còn là một thi sĩ thường sáng tác những bài thơ về tôn giáo và được người bạn thân làm giáo viên trong làng tên Franz Gruber phổ thành nhạc.. Năm đó cũng như bao năm qua, ngày Giáng Sinh lại về, trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nhưng thật buồn vì đã vắng tiếng phong cầm bởi cây đàn quá cũ nên phải đem sữa chữa. Ðể làm bớt nổi cô tịch trong đêm thánh vô cùng, linh mục và những con chiên trong làng đã hợp ca bài hát: "Silent night, holy night, all is calm, all is bright" do chính ngài vừa sáng tác và thầy giáo Franz phổ nhạc.

    Từ đó, bài hát lan truyền khắp nước Áo và những miền lân cận, rồi khắp hoàn cầu trong đêm giáng sinh, với đủ ngôn ngữ của con nhân loại Tại Châu Âu, khi chờ đón lễ nửa đêm, ngồi bên bếp lửa bập bùng, quanh quanh bông tuyết rơi trắng lạnh, các cụ thường kể cho con cháu nghe câu chuyện cãm động về bài hát giáng sinh trên cũng như tác giả đã sáng tác, cho mãi tới năm 1830, mới được nhà vua nước Saxe cũng là một nhạc sĩ tài danh, đưa ra ánh sáng.

    Mùa Giáng Sinh năm nay lại tới trên hải đảo, đêm NOEL đang về trong khung trời giá lạnh căm căm và nổi lo lắng của thế nhân về một cuộc chiến vô hình vây bủa bốn bề. Nhưng mặc kệ, như xưa nay tại khắp hết các thành phố, đô thị.. kể cả làng quê biển xóm, từ Nữu Ước, Luân Ðôn, La Mã, Ba Lê, Bá Linh, Ba Lan, Ðông Kinh, Tân Gia Ba, Hồng Kông.. cho tới Sài Gòn, Hà Nội trong xã nghĩa thiên đường, nơi nào cũng mỗi ngày mỗi thêm nhộn nhịp, từ đầu tháng 12 Dương Lịch, cho tới nữa đêm 24 thì hâu như mọi người, từ tín đồ cho tới kẻ ngoại đạo, đều đổ xô ra đường, trong muôn sắc lập lòe của đủ loại pháo và ánh sáng rạng ngời của những ngôi sao trên trời , để cùng đón mừng đêm giáng sinh huyền diệu, đêm thánh vô cùng.

    + TÌM HIỂU NGÀY GIÁNG SINH

    Từ cái đêm huyền thoại đó vào năm 1 sau Tây Lịch, giữa cánh đồng mông quạnh của thành phố nhỏ bé Bethlehem, thuộc đất Vua David, theo thánh kinh là nơi Ðức Chúa Jésus Christ ra đời. Thành phố này hiện thuộc lãnh thổ của Palestine, điểm hành hương và đất thiêng của tín đồ Thiên Chúa giáo trên khắp thế giới. Vùng này trước đây gọi là Ephrath, nằm cách kinh thành Jerusalem về phía nam chừng 9 km. Xa hơn nơi Chúa ra đời về phía lục địa Âu Châu là Via Francigena, tên gọi của một con đường thời trung cổ, nơi các quốc gia phương bắc kể cả Anh Cát Lợi dùng để tới vương quốc Y Pha Nho cũng là nước Chúa thời đó, để hành hương từ năm 944 sau tây lịch (STL). Việc này có ghi trong những trang nhật ký du hành ( travel diary) của Tổng giám mục Sigerico thành Canterbury thuộc Anh quốc, kéo dài từ thế kỷ thứ XI đến XIV (STL). Ðây là con đường quan trọng vì đã ghi đầy dấu ấn cũng như nhiều huyền thoại có liên quan tới sự phát triển của Ky Tô Giáo. Do trên, Tòa Thánh La Mã đã quyết định dựng lại con đường hành hương thời trung cổ trên, để cho bốn nước Anh, Pháp, Thụy Sĩ và Ý, chuyển bốn hòm thánh tích của nước mình về Vatican trong ngày kỷ niệm năm toàn xá 2000. Lịch sử vốn là một tái diễn vô thường, ngày Giáng Sinh của Ðức Chúa Jésus cũng theo dòng đời biến chuyển càng lúc càng phong phú và sôi động, dù tựu trung nhân loại cũng chỉ nhắm vào mục đích tôn vinh đấng toàn năng,toàn thiên, đã đem tình thương và bác ái tới cho nhân loại.

    Dù cho có dùng bất cứ một thứ ngôn ngữ nào trên thế giới như DIES NATALIS DOMINI (La Tinh), Il Natale (Ý Đại Lợi),Noel (Pháp), La Navidad (Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ), Weihnacht (Ðức), Rozh Destro Krista (Nga), Christmas (Anh,Úc,Hoa Ký..). tất cả đều mang chung ý nghĩa sinh nhật Chúa.



    Về niên lịch Chúa ra đời, các thánh kinh không nhắc tới, mãi tới khi hoàn thành kinh đô Rome của đế quốc La Mã, Linh mục Dionysius Exignus mới xét lại lịch sử, tính năm Chúa ra đời, nhằm năm 754 trước tây linh (TTL),và lấy đó làm mốc thời gian đầu tiên của kỷ nguyên mới. Sau này những nhà làm lịch tính lại, thấy sai xuất 4 năm nhưng vì sự việc đã thuộc vào quá khứ hơn 14 thế kỷ qua, nên đành chấp nhận.

    Thật ra nguồn gốc lễ giáng sinh đầu tiên bắt nguồn từ các lễ hội dân gian của người La Mã, qua chu kỳ hằng năm vía thần Mặt Trời và Thổ Tinh. Tại vùng Trung Ðông trước Thiên Chúa giáng sinh, cũng đã có nhiều lễ hội mừng mùa đông chấm dứt. Tập tục này truyền vào Âu Châu và rất được các nước phương bắc ưa chuộng vì không mấy ai thích cảnh mùa đông băng giá, ngày ngắn đêm dài.

    Việc đón mừng Chúa Giáng Sinh cũng có nhiều khác biệt, trước khi nhân loại thống nhất như bây giờ. Căn cứ vào giáo sử, trong ba thế kỷ đầu (STL), giáo dân mừng sinh nhật vào ngày lễ Ba Vua ( 6/1). Riêng giáo hội Ðông phương (Chính thống giáo), vẫn còn giữ tới ngày nay., còn giáo hội tây phương (Tòa thánh La Mã), từ năm 353 (STL),thời vua La Mã Constantino, chọn ngày 25-12 cho tới hôm nay. Ðây cũng là sự phù hợp với ngày 25-3 hằng năm, lễ mừng Ðức Mẹ thụ thai Chúa rất hợp lý, theo thời gian biến tuần lễ cuối cùng của tháng 12 dương lịch thành một lễ hội thu hút,vui nhộn và đầy ý nghĩa nhất của Ky Tô Giáo.

    + GIÁNG SINH TRONG VĂN NGHỆ:

    Từ thời trung cổ, khắp Âu Châu hằng năm vào mùa Giáng Sinh, lập ra các sân khấu lộ thiên để các đoàn văn nghệ lưu động biểu diễn các vỡ kịch soạn theo những tình tiết trong thánh kinh, nhờ vậy nền kịch nghệ của tây phương đã phát triển mạnh trong giai đoạn này, cho tới đầu thế kỷ XVIII mới chấm dứt phong trào kịch diễn thánh kinh. Riêng trong lãnh vực văn chương, qua bao nhiêu thế kỷ đã có nhiều tác phẩm viết về ngày giáng sinh nhưng theo nhận xét của văn học sử tây phương thì tác phẩm ON THE MORNING OF CHRIST’S NATIVITY của thi sĩ Anh quốc Milton ( 1608-1674) hay nhất nên đã được phổ quát rộng rãi khắp thế giới, chẳng những về giá trị nghệ thuật mà còn mang tính chất trung thực vì tác giả là tín đồ tân giáo.

    Về âm nhạc, ngoài bài hát Silent Night của một linh mục người Áo năm 1818 nổi tiếng dù từ thế kỷ XVI đã có nhiều bài hát về giáng sinh như Lucas Le Moigne , Barthélémy Aneau, Nicolas Sabely.. song song với những thánh ca Giáng Sinh của Michel Corrette (1709-1795), Louis Claude D’aquin (1694-1772), Claude Balbastre (1729-1799). Theo tài liệu thì bài thánh ca ‘Jesus, Ánh Sáng Muôn Dân’ của thánh Hilerio là bài hát đầu tiên về Ky tô giáo vào thế kỷ thứ 4 STL. Thế kỷ thứ 13 STL mới có nhiều bài thánh ca vui nhộn bằng tiếng Latin, trong đó nổi tiếng là bài Adeste Fideles. Tại VN trước kia, cũng có bài hát ‘ Ðêm đông lạnh lẽo’ của nhạc sĩ Hải Linh, rất được ưa thích và phổ quát.. Cũng đã có nhiều phim ảnh kể lại cuộc đời của Chúa Jesus như Ben Hur do đạo diễn Fred Nibro thực hiện , có trình chiếu tại VN năm 1932-1934. Truyện phim phỏng theo quyển lịch sử tiểu thuyết của nhà văn danh tiếng Lewis Wallace, thực hiện tại các thành phố cổ tích liên quan tới cuộc đời Chúa Jesus như Jesusalem, Bethlehem, Nazareth.. trong lãnh thổ của Do Thái và Palestine.

    + NHỮNG BỨC TRANH THIÊN CHÚA NỔI TIẾNG:

    Từ khi Ky Tô Giáo phương đông du nhập và phát triển tại Âu Châu, bàng bạc qua mấy trăm năm thời trung cổ cho đến cuối thế kỷ thứ XV, Tòa Thánh La Mã hầu như quyết định hoàn toàn việc phát hành mọi tranh ảnh vẽ các vị thiên thần, thánh, mẹ Maria và chúa hài đồng. Do sự hạn hẹp trên, nên nhà kiến trúc và hội họa đã phải sáng tạo những tác phẩm vô cùng ước lệ, công thức và kiểu mẫu, từ hình thức đến nội dung đầy tính chất thần thánh, siêu phàm và bất động.

    Chính họa sư người Ý là GIOTTO sống trong thế kỷ XIV là một trong những người đã có công sáng tạo nên những bức tranh nổi tiếng về Mẹ MARIA và CHÚA KY TÔ, trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thời trung cổ và phục hưng tại Âu Châu. Sự khác biệt lớn lao nhất là nền hội họa mới hướng theo tinh thần hội họa Hy Lạp, lấy NGƯỜI THẬT làm đối tượng, để sáng tạo nên hình ảnh những vị thần thánh trong tín ngưỡng. Hai họa sư người Ý là LEONARD DE VINCY và RAPHAEL trong thời phục hưng đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. LEONARD DE VINCY thành công tuyệt đỉnh trong bức tranh “Ðức Mẹ BENOIS” .

    Ðây là họa phẩm đầu tay và ông đã mượn hình ảnh của một thiếu phụ trẻ đẹp, khả ái mĩm cười nhìn hai nụ hoa tím đang hé nở trên tay một hài nhi. Người mẹ tương trưng cho Mẹ MARIA hiền từ và hài nhi là biểu tượng của chúa Ky Tô.Toàn bộ bức tranh thật sống đọng qua đôi mắt của chú bé lúc hướng nhìn vào cánh hoa , đồng thời đưa một ngón tay chạm vào hoa như sợ mất. Bức tranh này có nội dung và hình thức khác biệt với những tranh vẽ thời trước rất rườm rà và mầu sắc loè loẹt khó coi. Ngoài tuyệt tác phẩm trên, họa sư còn có nhiều tranh khác như Ðức Mẹ Lita, Ðức Mẹ và Thánh Ana.. cũng là những thành công tuyệt đỉnh đối với nền hội họa thời phục hưng tại Âu Châu.

    RAPHEL SANTY sống đồng thời với Leonard và cũng nổi danh về những tuyệt tác phẩm vẽ về Chúa và Mẹ Maria. Tuy nhiên giữa hai ông có sự khác biệt trong cách dựng nền của bức tranh. Ðiều này dễ hiểu vì Raphel sinh trưởng và sống trọn quảng đời niên thiếu của mình tại URBINO, một vùng quê thơ mộng và xinh đẹp của miền bắc Ý. Phong cảnh hữu tình đã ảnh hưởng lớn đến tâm hồn lãng mạn của người nghệ sĩ. Sau này, ông đến sống tại Florence và Rome. Những bức tranh cũng được vẽ ở đó nhưng trong các danh họa như Ðức Mẹ Cadatempi, Ðức Mẹ với hài nhi, Cậu bé Jean Baptist, Người mẹ Elizabeth.. đều được ông chọn đồng quê qua cảnh vườn cây thơ mộng, bãi cỏ xanh mượt chen lẫn với muôn hoa, tháp chuông nhà thờ cao vòi vọi, im lìm soi bóng trên mặt sông, hồ xanh ngắt tĩnh lặng. Ông qua đời sớm vào năm 37 tuổi, trước khi ra đi đã để lại cho thế nhân và Tòa Thánh bức danh họa được xem như là một tiêu biểu của nền nghệ thuật Ý xưa nay “ÐỨC MẸ SIXTINE” vì đã viên mãn trong sự kết hợp giựa niềm tin của thiên chúa và nghệ thuật , lấy tình mẫu tử của thế nhân để đạt tới chủ đề lòng vị tha cũng như đức hy sinh cao cả của thiên chúa và mẹ Maria.

    + HUYỀN THOẠI VÀ TẬP TỤC VỀ MÁNG CỎ:

    Theo truyền thuyết, chính Thánh Francois là người đầu tiên sáng tạo MÁNG CỎ vào năm1223 STL, khi ông từ quê hương tại Assie thuộc tỉnh Pérouse Y pha Nho, tới dẫn dắt con chiên trong ngôi làng Greccio miền sơn cước. Ðêm giáng sinh năm đó, ngài cử hành lễ Misa trong khu rừng, trước một hang động nơi đặt bàn thờ Chúa là cảnh thật với máng cỏ và đàn bò cừu đang vô tư gặm nhắm thức ăn. Theo thời gian, miền Greccio trở thành một Bethlem thứ hai trong tâm trí những người thiên chúa giáo và cũng từ đó khắp Âu Châu lan tràn toàn thế giới, ước vọng sáng tạo khung cảnh đêm thánh vô cùng thân thương và quen thuộc mau chóng thành công và tiếp tục tới ngày nay.

    Bao nhiêu thế kỷ qua, cứ tới mùa giáng sinh, các tín dồ Ky Tô lại làm máng cỏ trong cảnh Chúa sinh ra đời. Nhưng tuỳ theo tập quán của mỗi dân tộc, nên không cái nào giống nhau. Tại thành phố Naples của Ý vào thế kỷ XVIII, nghệ thuật làm máng cỏ tại đây nhờ có Vua Charles 3 và triều thần chú trọng nên đã đạt tới đỉnh cao của thời hoàng kim và trở thành một cái mốt thời thượng trong mọi giới. Nghề làm máng cỏ từ đó cũng phát triển khắp Âu Châu và hội chợ máng cỏ mỗi năm lại được khai mạc vào tháng chạp tại Khu Canebière ở Marseille Pháp, tại đây bày bán đủ thứ các pho tượng các Thánh, nhỏ nhắn xinh đẹp, bò cừu lừa thời xưa luôn cả tưọng cư dân của miền Provence là nơi nổi tiếng làm máng cỏ.

    Ngày nay các viện bảo tàng tại Naples, Trapani, Munich.. đều có bày các máng cỏ lịch sử của mọi thời. Tại miền nam nước Ý, các ngư phủ ở Amalfi đặt máng cỏ trong động Bích Ngọc dưới làn nước xanh, trong khi đó vùng Lombadie cạnh hồ Majeur, giữa biên giới Ý-Thụy Sĩ, hằng năm vào đêm 24-12, các thợ lặn đặt tượng Chúa trong một máng cỏ làm bằng chiếc vỏ sò lớn ở độ sâu 23m.

    + BÍ ẨN VỀ NGÔI SAO BETHLEHEM:

    Trong tất cả các tranh ảnh Chúa giáng sinh, trên bầu trời bao giờ cũng có một ngôi sao sáng rực rở, thánh kinh gọi đó là ngôi sao Bethlehem, đã dẩn đường cho Ba Vua tới hang đá. Ngôi sao này còn có tên là ngôi sao giáng sinh, một supernova từ lâu đã là mối tranh cải của các nhà thiên văn học. Mới đây Nibel Henbest, một khoa học người Anh đã dựa vào sự chuyển động của quỹ đạo trong thái dương he, để giải tỏa câu hỏi tại sao chỉ có Ba Vua nhìn thấy ngội sao đó, trong khi lịch sử thiên văn không ghi nhận được.

    Theo Nibel thì vào năm 1604, nhà toán học Johannes Kepler đã tính được vị trí các hành tinh vào thời Chúa giáng sinh, đồng thời cũng tìm được sự giao hội đặc biệt của các chòm sao trong nhóm Song Ngư vào năm thứ 7 trước tây lịch, có nghĩa là sao Mộc và sao Hỏa, biểu tượng của người Do Thái gặp nhau trên bầu trời nhưng vẫn cách nhau một khoảng gần bằng đường kính của mặt trăng. Vài năm sau đó một sự hội ngộ khác lại diễn ra vào tháng 8 năm 3 trước tây linh, Mộc tinh tiến gần sao Vệ Nữ là một ngôi sao sáng.

    Ngày 17/6/2 trước Tây Lịch, hai sao trên lại gặp nhau nhưng không va chạm, giống như đã tạo thành một ngôi sao lạ, sáng chói khắp miền Trung Ðông mà thánh kinh đã gọi là ngôi sao Bethlehem. Ngoài ra với người Ky tô giáo xưa thì ngôi sao Vệ Nữ, tức là sao Hôm mọc trước bình minh, đưọc coi là biểu tưọng của Ðấng Cứu Thế, còn sao Hải Sư lại được người Do Thái coi là Ðấng bổn mạng. Ðây là hai ngôi sao sáng nhất trong thái dương hệ và cái hiện tượng hội ngộ giao thoa, chỉ xãy ra một lần trong hai ba thế kỷ, như giải thích ở trên, được xem là giã thuyết hợp lý về ngôi sao Bethlehem trong truyền thuyết.

    + CÂY THÔNG:

    Theo huyền thoại thì vào một đêm đông giá lạnh nơi khu rừng cô tịch, có một chú bé vào xin trọ trong một túp lều nghèo nàn của vợ chồng bác tiều phu và được tiếp đãi tử tế. Chú bé đó là Chúa Jesus hài đồng, đã đền ơn cho bác tiều phu bằng cách hóa phép biến cành thông có đầy các trái vàng bạc.Ðây cũng là cây thông đầu tiên trong mùa giáng sinh.. Cây Noel còn được gọi là cây Sapin, xuất xứ từ Bắc Âu, được quân Thụy Ðiển mang vào Ðưc , trong cuộc chiến Guerre de Trentes Ans (30 năm). Ðến thế kỷ thứ XIX, thông vượt biển Manche vào Anh Quốc rồi theo công chúa nước này là Mercklembourg tới Pháp khi theo chồng là Công Tước Orléans. Từ đó về sau, cây được mọi người trang hoàng với đèn hoa và các đồ vật đủ màu sắc trong mùa giáng sinh. Theo thống kê của Nha Kiểm Lâm Hoa Kỳ, thì hằng năm dân Mỹ tiêu thụ trên hai triệu cây thông đưọc trồng trong các trang trại tư nhân. Tại Bạch Cung ở Hoa Thịnh Ðốn, mỗi năm đều có lễ dựng cây thông lớn nhất trên đất Mỹ, do chính tay tổng thống và phu nhân trang hoàng.

    + ÔNG GIÀ NOEL:

    Cách đây hơn 100 năm, tờ nhật báo The New York Sun, đã đăng bài trả lời câu hỏi của cô bé Virginia “Ông già Noel có thật hay không?“ trong đó có đoạn: ’.. tất nhiên là ông già Noel có thật. Ðó là một sự thật hiển nhiên như tình thương, lòng bác ái, sự thành kính không thể thiếu trên hành tinh chúng ta.. ’ ’ ’

    Cũng kể từ đó bài viết này đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng và đưa vào chương trình bậc đại học Mỹ ngành báo chí. Theo truyền thuyết, giám mục thành Myra, sinh tại Thổ nhĩ Kỳ năm 279 sau tây lịch (STL), nổi tiếng vì những hoạt động bác ái, vì vậy đã đưọc phong thánh bổn mạng cho trẻ em, vào thế kỷ IX (STL). Từ đó tại các quốc gia Anh,Mỹ gọi là Santa Clauss, xuất phát từ St. Nicholas Sinterklass. Lúc sinh thời, ngài hay bố thí tiền bạc cho trẻ con nghèo, có một lần đã bỏ những đồng tiền vàng từ ống khói xuống các đôi bít tất của ba cô gái nghèo, treo bên lò sưởi.. khởi đầu tập tục trẻ con treo vớ trên đầu giường, để nhận quà của ông già Noel trong đêm Giáng Sinh.

    Tại Hoa Kỳ, huyền thoại về ông già Noel sống ở vùng Bắc cực, với công việc duy nhất là theo dõi mọi trẻ em trên thế giới để coi ai tốt,xấu. Ông bà Noel có một xưởng với nhân công toàn là những chú lùn, chuyên chế tạo đồ chơi cho trẻ con, vì vậy đến mùa giáng sinh, trẻ con khắp nơi viết thư về xin quà. Vào đêm 24 tháng 12, ông già Noel ngồi trên xe chở đầy quà, do đàn tuần lộc kéo, bay trên trời tới từng nhà phát quà cho trẻ con. Từng nhà,ông mang theo một gói quà lớn, theo đường ống khói vào nhà. Do trên, các em đều đi ngủ sớm trong đêm lễ, với hy vọng thức dậy sẽ có đầy quà trong đôi bít tất treo trước giường.. Theo bưu điện Hoa Kỳ, hằng năm đã nhận hằng chục triệu bức thơ của trẻ em nghèo gởi ông già Noel tại bắc cực xin quà và dĩ nhiên các em sẽ được các ông già Noel giã của các hội từ thiện tới nhà cho quà.

    + GÀ TÂY:

    Còn dược gọi là gà lôi, turkey hay Dinde, được các nhà thám hiểm từ tân thế giới ( Châu Mỹ) mang vào Âu Châu từ thế kỷ XVI. Năm 1521 Hernan Cortes chiếm Mễ Tây Cơ và lấy giống gà này mang về Tây ban Nha. Người Pháp gọi gà mái tây là Poule d’Inde hay là Dinde, còn gà trống là Dindon vì lúc đó Âu Châu lầm tưởng Tân Thế Giới là Ấn Ðộ. Tại Pháp, gà mái tây lần đầu được đưa vào bàn tiệc cưới của vua Charles XIX vào năm 1570. Từ đó, gà tây được coi như món ăn của hoàng gia và giới thượng lưu, trong các ngày lễ,tiệc và đặc biệt là bửa ăn tối đêm Noel.

    Ngày nay gà tây là món ăn thông dụng, nhất là tại Hoa Kỳ. Gà tây còn được dùng trong Lễ Tạ Ơn theo truyền thuyết vào năm 1621 khi Linh Mục Pilgrim, đi tàu Mayflower tới vùng Tân Anh Cát Lợi. Trong đêm tổ chức Lễ tạ ơn, thổ dân tại đây đã tặng ông một con gà tây. Tập tục này được giữ tói ngày nay và trở thành món truyền thống, không thể thiếu được trong bữa tiệc đêm Noel.

    Ngoài ra còn phải kể tới chiếc bánh Buche de Noel có hình khúc củi, xuất xứ tại các gia đình Âu Châu thời trung cổ, đã dùng củi đốt suốt đêm trong lò sười, để chống lại băng giá mùa đông và cầu phước lành. Bánh trở thành món ngọt trong tiệc Giáng Sinh từ sau Thế Chiến II, làm bắng bột, đường, bơ, kem và chocolat. Cùng hiện diện trong mùa giáng sinh với cây thông, hang đá, còn có Hoa giáng sinh (Christmas Flower) mà VN gọi là Hoa trạng nguyên và hoa rất đặc biệt vì hoa là lá, có màu đỏ hay vàng bao quanh cụm hoa.

    Ðêm nay Giáng Sinh lại về trên quê người, gió đông hiu hắt lành lạnh, khiến kẻ ngoại đạo càng thêm cô đơn và thèm bữa Réveillon như năm nào còn sống tại Phan Thiết. Trên bầu trời đen đặc, dường như đã thấy xuất hiện một ngôi sao sáng rực rỡ. Bắt chước thế nhân, ta đón chào niềm vui bất tận để mừng đêm Chúa ra đời và chúc một mùa giáng sinh an lành đến với tất cả mọi người. Chợt đâu có tiếng ai đang hát bản Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, khiến đang vui bổng ngậm ngùi thương nhớ quê hương.



    Viết từ Xóm Cồn Ha Uy Di
    Chạp 2009
    MƯỜNG GIANG
  3. NHỮNG BIẾN CHUYỂN TRÊN THẾ GIỚI QUA CÁC NĂM DẦN

    HỒ ÐINH


    Từ sau cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối tự do và cộng sản, rồi tiếp theo là vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, thì cuộc chiến toàn cầu cũng chuyển hướng sang một cuộc chiến tranh mới, giữa Hoa Kỳ và các đồng minh với Nhóm Hồi Giáo cực đoan, mà giáo sư Samuel P.Huntington đã viết trong bài ‘ The clash of civilizations ‘ và gọi đó là sự va chạm của các nền văn minh ? nhưng thực chất chỉ là sự tranh chấp năng lượng.

    Hiện không ai biết được tương lai của nhân loại sẽ thế nào dù đã có nhiều tương tri sấm ký xuất hiện. Bởi vì ranh giới chiến tuyến trong các cuộc giao tranh sắp tới nếu có, sẽ chẳng còn là sự đối đầu ý thức hệ như trước , mà là sự giành giựt năng lượng, tài nguyên, thị trường kinh tế giữa các nước để mà sinh tồn. Vấn đề còn lại là chiến tranh thế giới thứ ba liệu có xảy ra hay không ? khi nào và dưới hình thức gì. Nhưng rõ ràng cuộc chiến tranh lạnh đã xảy ra rồi, giữa Mỹ và Nga-Tàu về nhiều vấn đề, từ nguyên tử cho tới buôn bán đồng lúc với cuộc chiến giữa thiện ác, độc tài khủng bố và tự do dân chủ.

    Sự kiện nào cũng bức xúc và đều có thể là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến nguyên tử tiêu diệt nhân loại. Nhiều điểm nóng trên thế giới không phải chỉ có tai Do Thái, Palestine, Iraq, Iran, Pakistan, A Phú Hản.. mà ngay cả Châu Phi và nguy hiểm nhất vẫn là mặt trận Thái Bình Dương, có nguy cơ bùng nổ bất cứ lúc nào khi Tây Tạng, Tân Cương, Ðài Loan và ngay cả Hồng Kông tuyên bố ly khai độc lập. Câu chuyện Bắc Hàn hứa hủy bỏ nguyên tử để cùng Nam Hàn thống nhất Triều Tiên, chỉ là màn hỏa mù tạm bợ, mà ai cũng đầu thấy rõ

    Mắc kẹt trong buổi giao thời bại hoại này, trước sự lộng hành của các tập đoàn lái súng và chính trị con buôn da trắng da vàng, tự đẻ ra những qui luật luân lý trên đầu súng giả dối để cướp đoạt dần mòn sinh mệnh của mọi cá nhân và những quốc gia dân tộc nhược tiểu trong đó có VN. Hy vọng đây không phải là sự trùng hợp ngẩu hứng khi các biến chuyển của thế giới lại dồn dập xảy ra trong những tháng cuối cùng của năm 2009 và Năm Dần sắp tới, mà cầm tinh của nó là Cọp, một con vật tàn ác hung tàn, một thời gây kinh hoàng cho nhân loại..

    Lịch sử là vậy đó nên không ai kể cả người Mỹ dám bẻ cong ngòi bút để xuyên tạc sự thật vì mặt trời sẽ đốt cháy tất cả những vỏ bọc che đậy bên ngoài sự giả đối kể cả vàng ròng cứng rắn, mà chúng ta ai cũng đã thấy nghe và ngậm ngùi về những câu chuyện của lịch sử. Bao nhiêu biến cố xãy ra trong tháng 12 cuối năm, chỉ là khúc dạo đầu của máu lửa chiến tranh kinh hoàng đổ vở đang đợi chờ trên ngưởng cửa của năm Dần, trước sự hung hăng háo chiến của Tàu đỏ, Bắc Hàn, Ba Tư và bọn khủng bố, cướp biển..

    - Giáp Dần (54 sau TL) Hoàng đế Claudius I trục xuất dân Do Thái ra khỏi đế quốc La Mã.

    - Canh Dần (330) Hoàng đế Constantine I lấy thành phố Constantinophe (nay là Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ) làm kinh đô cho đé quốc La Mã.

    - Nhâm Dần (522) Phật giáo Ðại thừa từ Trung Hoa truyền sang Nhật Bản, được dân chúng và chánh quyền tiếp nhận nồng nhiệt. Nử hoàng Sviko (592-621) tôn Phật giáo là quốc giáo, xây dựng nhiều chùa chiền và che chở tăng ni.

    - Canh Dần (570) Ðức giáo chủ Hồi giáo Mahammed theo truyền thuyết sinh năm 570 tại Mecca Arab Saudi, thuộc giai cấp Qurayds của bộ tộc Bedovin. Hồi giáo hiện tại có số tín đồ gần 1 tỷ chỉ thua đạo Thiên chúa.

    - Mậu Dần (618) Lý Uyên diệt được nhà Tuỳ lập nhà Ðường (618-906), một triều đại phồn thịnh nhất Trung Hoa, qua những cải cách về chế độ quân điền, hành chánh, quân sự, văn chương, nghệ thuật. Ðường Thái Tôn (Lý Thế Dân) là một hoàng đế vĩ đại nhất nước Tàu.

    - Thần y nổi tiếng đời Ðường là Tôn Tử Mạc còn lưu lại bộ ‘ bí cấp thiên kim yếu phương ‘ ghi các loại thuốc rữa và giữ da phụ nữ Tàu thuở xưa, cùng nhiều dược thảo pha chế từ bạch chỉ, tế tán, hoặc hương, trầm hương.. Ngoài ra còn có loại thuốc nhuộm và giữ tóc đen, chứng tỏ ngưòi Tàu đã biết giữ sắc đẹp từ thời Trung cổ.

    - Canh Dần (630) Người Á Rập chiếm được Mecca và trở thành thánh địa của Hồi giáo tới ngày nay.

    - Ðời Ðường Thái Tôn, Thánh tăng Tam Tạng (Trần Huyền Trang) sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) nghiên cứu Phật học và thỉnh kinh (650 bộ kinh đủ loại bằng Phạn ngữ. Bốn chục năm sau, nhà sư Nghĩa Tĩnh đời Ðường Cao Tôn, thỉnh thêm 400 bộ kinh Phật.

    - Nhâm Dần (642) Vua Narashimvarman (630-668) thuộc miền Nam Ấn, đánh thắng quân Pulakesin miền bắc Ấn, chiếm lại miền Badami.

    - Mậu Dần (738) Quân Hồi chiếm được miền Bắc Ấn nhưng khi xuống miền Nam đã bị sa lầy tại Navasari trên cao nguyên Dekka, vở mộng chinh phục Ấn Ðộ.

    - Canh Dần (750) Theo chân đoàn quân viễn chinh và các thương buôn Ả Rập, Hồi giáo bành trướng mạnh khắp vùng từ Ấn Ðộ tới tận Tây Ban Nha.

    - Triều đại Asside thay thế Omeyyade thống trị đế quốc Hồi giáo Ả Rập, lấy Bagdad (Iraq) làm kinh đô (762) , khiến Bá Ðạt trở thành chốn nghìn lẽ một đêm, lừng danh một thời.

    - Mậu Dần (858) Photius trở thành tổng giám mục tại Constantinople, mở màn sự phân đôi đạo Thiên Chúa thành TC Ðông phương và TC La Mã.

    - Nhâm Dần (882) thành phố Kiev được chọn làm kinh đô nước Nga thời Trung cổ.

    - Nhâm Dần (1182) Pháp trục xuất dân Do Thái nhưng lại cho trở về năm 1189.

    - Bính Dần (1206) Thiết Mộc Chân thống nhất các bộ lạc Oirat, đánh tan người Tartate và Rerait, trở thành chúa tể vùng sa mạc Mông Cổ (Thành Cát Tư Hản). Sau đó tiêu diệt nước Kim, Tống, Tây Hạ và xâm lăng trọn vùng Á-Âu.

    - Nhâm Dần (1242) Quân Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Batu Khan chiếm gần hết nước Nga, hạ thành Mạc Tư Khoa, Ba Lan, Hy Lạp và tiến tới nước Phổ.

    - Mậu Dần (1278) Văn Thiên Tường (1236-1282) nhà thơ cũng là tể tướng thời vua Tống Ðoan Tông chống Mông Cổ bị bắt giải về Yên Kinh, không đầu hàng nên bị xử tử , lưu lại nhiều thơ văn yêu nước rất giá trị.

    - Canh Dần (1290) Nhà thám hiểm Marco Polo khi đến thăm vương quốc Bengale đã viết về những người bị thiến vì tội hình hay tự thiến để làm hoạn quan. Giới nay hiện vẫn còn trong xã hội Ấn Ðộ tới ngày nay.

    - Người Do Thái bị đuổi khỏi nước Anh nhưng lại cho trở về năm 1650.

    -Nhâm Dần (1422) Vua Charles VI chết, nước Pháp lâm vào cảnh nội chiến giữa hai vua Henry VI chiếm miền bắc và vua Charles VII chiếm từ phía nam sông Loire.

    - Bính Dần (1506) Christopher Colombus qua đời. Lúc sanh tiền ông luôn phủ nhận việc tìm ra tân thế giới. Theo sử liệu thì Colombus chỉ mới khám phá ra Nam Mỹ, một vài đảo nhỏ trong vịnh Carribean và San Salvador mà thôi. Kẻ khám phá ra Bắc Mỹ đầu tiên là người Norwegian Vikings (tổ tiên của người Na Uy) vào năm 1000 sau tây lịch.

    - Mậu Dần (1518) Bồ Ðào Nha chiếm Tích Lan, kiểm soát trục hàng hải từ Ạu Châu sang Viễn Ðông, nắm quyền thương mại tại Ấn Ðộ và Trung Hoa.

    - Luther King lên tiếng chống lại giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã.

    - Canh Dần (1530) Tây Ban Nha khai thác được mỏ bạc tại Dérou và chuyển hết về nước.

    - Nhâm Dần (1542) Bồ Ðào Nha là người ngoại quốc đầu tiên được vào làm ăn buôn bán và truyền đạo Thiên Chúa nhưng thất bại vì sự thờ ơ của dân chúng do tín ngưỡng bất đồng.

    - Canh Dần (1590) Nhà quang học Hà Lan là Z.Jansen sáng chế ra kính hiển vi đầu tiên.

    - Nhâm Dần (1602) Hà Lan thành lập công ty Ðông Ấn (VDC) để mua bán và xâm lược Nam Dương

    - Nhà vật lý Ý G.Gallile (1564-1642) đã tìm ra được đinh luật ‘ chuyển động của sự rơi tự do các vật thể, sự dao động của con lắc ‘, phát minh ra kính thiên văn và chứng minh sự chuyển động của mặt trăng.

    - Giáp Dần (1614) John Napier nhà toán học Scotland phát minh ra bảng Logarit là một phương pháp tính toán số học hiệu nghiệm nhất từ xưa tới nay.

    - Mậu Dần (1638) Tháng 4, nhà hàng hải Thụy Ðiển gốc Hà Lan là P.Miniut vượt Ðại Tây Dương đã đến được cửa sông Delaware (Hoa Kỳ), thiết lập vùng New Swede, xây dựng pháo đài Christine nhưng bị người Hà Lan chiếm đoạt trong cuộc chiến 1655 khiến Thụy Ðiển bỏ đi.

    - Người Cosaque lập một tram thiên văn tại Tây Bá Lợi Á là vùng có nhiệt độ lạnh nhất hoàn cầu (-50C).

    - Ðức Xuyên Gia Khang (Ieyasu) sợ ngoại quốc xâm chiếm Nhật Bản nên trục xuất hết các giáo sĩ truyền giáo và thương nhân phương Tây, đồng thời cấm người Nhât xuất ngoại, ban hành chính sách bế quan tỏa cảng từ đó cho tới thế kỷ XIX mới dứt.

    - Canh Dần (1650) Hoàng đế Anh Cromwell tiến hành chính sách xâm lăng Scottland. Chiến cuộc kéo dài hai năm (1650-1652) mới kết thúc.

    - Nhâm Dần (1662) Ngô Tam Quế đem quân Thanh vào tận Miến Ðiện để bắt vua Vĩnh Lịch nhà Minh (lên ngôi năm 1646 tại Triều Khánh, Quảng Ðông).

    - Bính Dần (1686) Vì tham vọng quá lớn của vua Pháp Louis XVI muốn chiếm trọn Âu Châu nên vua Ðức triệu tập một liên minh quân sự gồm Phổ, Y Pha Nho, Thụy Ðiển để chống lại. Sau đó có thêm Anh, Hà Lan gia nhập, chiến tranh bùng nổ dữ dội. Cuối cùng Pháp phải ký hòa ước Ryswick trả lại hết đất đai cho các nước, chỉ giữ lại miền Straboung.

    - Nhâm Dần (1722) Nhà thám hiểm Hà Lan Jacob Joggeveen đã tìm được đảo Pasques (Phục Sinh) có diện tích chừng 117 km2 và dân số hiện tại khoảng 2000 người. Ðảo nằm cách bờ biển Nam Mỹ về phía Thái bình Dương chừng 2700 km, trên đảo có chừng 1000 pho tượng bằng đá, mỗi tượng nặng trên 10 tấn, bề cao từ 1-56m trung bình 5m. Người địa phương thuộc bộ tộc Moai. Lý do có các pho tượng trên đảo tới nay vẫn còn bí mật chưa ai giải thích được.

    - Canh Dần (1770) Thuyền trưởng Cook người Anh tìm được New Zéland, New Caledonie và Úc Ðại Lợi nhưng cuối cùng ông bị thổ dân giết tại quần đảo Hạ Uy Di (Hawaii).

    - Nhâm Dần (1782) Anh và Hoa Kỳ hòa ước Versailer . Theo đó Anh cho Hoa Kỳ hưởng nhiều quyền lợi kinh tế và chính trị nhưng múc đích của hòa ước này là Anh muốn loại Pháp ra khỏi Bắc Mỹ.

    - Phaye Chakri giết vua chiếm ngai vàng Xiêm La nhưng vẫn thần phục nhà Minh. Dòng họ này vẫn còn tồn tại đến ngày nay tại Thái Lan.

    - Tiểu quốc Bahrain được thành lập bởi một nhóm đảo nhỏ ngoài khơi Saudi Arabia. Vì có nhiều dầu lửa nên bị Anh chiếm, tới năm 1971 mới được độc lập.

    - Giáp Dần (1794) Chiến thắng Fleurus tại Pháp đối với liên quân Anh, Áo, Phổ có ý nghĩa quyết định dẫn tới cuộc cách mạng Pháp 1789. Ngày 27/7 cuộc chính biến Themidor lật đổ chính quyền Jacobins của Pháp, đồng thời thủ tướng Robespierre (1758-1794) cũng bị phe đảo chánh hạ sát.

    - Canh Dần (1830) Nước Bỉ bị Hà Lan sáp nhập từ lâu mặc dù họ nói tiếng Pháp . Năm 1830 Bỉ nổi dậy đánh đuổi Hà Lan ra khỏi nước và dành lại được độc lập. Theo gương trên, dân Ba Lan cũng nổi dậy chống Nga nhưng bị tàn sát và đàn áp dã man, đất nước vẫn bị lệ thuộc Nga.

    - Hy Lạp đánh đuổi Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi nước dành lại độc lập.

    - Chính biến tại Pháp lập lại nền quân chủ. Ðó là vua Louis Philippe (1773-1850) thuộc dòng họ Orléans.

    - Nhâm Dần (1842) Ðại diện công nhận tại Luân Ðôn đệ trình Nghị viên Anh, bản kiến nghị với hơn 3 triệu chữ ký , mở đầu hiến chương 2 tại Anh (1842-1848).

    - Tháng 8, Anh và Mãn Thanh ký hiệp ước Nam Kinh, theo đó Trung Hoa phải mở 5 hải cảng cho Anh vào buôn bán, nhượng Hương Cảng và bồi thường chiến phí .

    - Hoa Kỳ thành lập đảng Cộng Hòa.

    - Giáp Dần (1854) Ðề đốc Perry dẫn hạm đội Furobune của Mỹ gồm 8 chiếc tới Nhật uy hiếp thị oai. Sứ quân Bakufu nhượng bộ ký hiệp ước Kanagawa mở các hải cảng cho Hoa Kỳ vào buôn bán, các nước phương Tây cũng theo bước Mỹ đòi quyền lợi trên. Chế độ sứ quân và chính sách bế quan tỏa cảng tại Nhật cũng cáo chung từ đó.

    - Cuộc chiến Crimée giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ

    - Nhà thiên văn học Anh là Georreairy cùng với cha con nhà toán học Edmund Becket Denison hoàn thành chiếc đồng hồ vĩ đại Big-Ben treo trước tòa lâu đài nghị viên Anh Westminster ở Luân Ðôn (Anh). Ðồng hồ cao 100m. Ðây là niềm tự hãnh của Anh Quốc và dù tòa nhà bị Ðức dội bom cả ngàn lần nhưng Big-Ben vẫn sừng sửng tồn tại tới ngày nay.

    - Bính Dần (1866) Nội chiến Nhật Bản bột phát giữa sứ quân Bakufu và Choshu. Vì không được sự hưởng ứng của giới võ sĩ đạo nên Bakufu bị Omura Yasuzi đánh bại, kéo theo sự sụp đổ của chế độ. Quyền hành từ đó được trả lại cho Thiên Hoàng.

    - Ðảng 3 K (Ku, Klux, Klan) xuất hiện tại Hoa Kỳ, chủ trương kỳ thị chủng tộc , gây kinh hoàng cho các nhóm dân thiểu số.

    - Chiến tranh giữa Áo và Phổ để dành quyền lảnh đạo liên bang. Cuối cùng Phổ thắng đuổi Áo ra khỏi liên bang Ðức.

    - Tháng 12, Mutsuhito (1852-1912) lên ngôi thiên hoàng Nhật, lấy hiệu là Meijitenno (Minh Trị) , mở ra thời đại canh tân nước Nhật , đưa một quốc gia phong kiến lạc hậu lên hàng cường quốc số 1 Á Châu tới ngày nay.

    - Mậu Dần (1878) Nhiều người Cuba dùng thuyền đến tị nạn tại đảo Key West thuộc tiểu bang Florida của Mỹ, để tránh cuộc ‘ thập tãi chiến ‘ tại đây.

    - Tôn Văn (Tôn Dật Tiên) theo anh là Tôn Mỹ tới Hạ Uy Di, để theo học trường Cao đẳng Y khoa tại thành phố Honolulu. Tại đây ông đã tận mắt chứng kiến đời sống nô lệ của người Trung Hoa đang làm phu đồn điền mía cho thực dân Anh. Từ đó ý tưởng giải phóng dân tộc Tau thoát khỏi sự đô hộ của nhà Mãn Thanh, thúc giục ông dấn thân vào con đường cách mạng.

    - Nhà điêu khắc Pháp nổi danh thế kỷ XIX là Auguste Bertholdi đã thực hiện pho tượng Nữ Thần tự Do tặng Hoa Kỳ. Tiền bạc do chánh phủ Pháp giúp và hoàn thành tháng 5/1884, được dựng trên đảo Bedloe (New York) cao 92,97m, nặng 325 tấn. Mỗi năm có hằng triệu du khách tới thăm.

    - Canh Dần (1890) Nhật mời trên 3000 chuyên viên ngoại quốc đến làm cố vấn cho chánh phủ trong đủ các bộ môn. Tháng 7, Nhật tổ chức cuộc bầu cử hạ nghị viên lần đầu dành cho nam giới từ 25 tuổi trở lên và cử tri phải trả 15 yen lệ phí. Có khoảng 1,24% dân số toàn quốc đi bầu, hai đảng Jiyu và Kaisui chiếm đa số.

    - Bismark mất chức thủ tướng Ðức , các luật lệ do ông ta ban hành bị bãi bỏ.

    - Nhâm Dần (1902) Anh và Nhật ký hiệp ước hổ tương quân sự chống Nga. Chiến tranh giữa Nga và Nhật sắp bùng nổ vì tranh dành quyền lợi tại bán đảo Triều Tiên.

    - Hiệp ước Verrengiging kết thúc cuộc chiến giữa người Anh và người Boers (dân lai). Từ đó Nam Phi trở thành thuộc địa của Anh Cát Lợi.

    - Sau khi thành lập hội thi phát minh, một hiệp hội được thành hình tại Pháp viết tắt là AIFF đã bành trướng khắp thế giới thu hút các phát minh của giới khoa học. Kết quả Pháp là nước tiền phong nhưng bị xếp hạng cuối bảng với 12.000 phát minh, Nhật đứng đầu với 340.000 lần.

    - Hỏa sơn Martinique thuộc dạng volcano extrusifo không miệng, đã nổ tung và phun ra ngoài một lượng dung nham khổng lồ, với vận tốc khủng khiếp 150m/1giây, hủy diệt thành phố Saint Pierre thành bình địa, giết 29.000 người.

    - Giáp Dần (1914) Ngày 29/6 vụ ám sát thái tử Áo Franz Fenidand tại Sarajevo (Serbie) mở đầu cho thế chiến I (1914-1918). Ngày 28/7 Áo-Hung tuyên chiến với Serbie, kéo theo đồng minh của hai phe : Ðức, Áo, Hung, Thổ và phe kia : Anh, Pháp, Nga, Mỹ, Nhật. Ngày 31/7 lãnh tụ đảng xã hội Pháp Jean Jaurès bị ám sát. Ngày 1/8 Ðức tuyên chiến với Nga và Pháp. Ngày 4/8 Anh tuyênb chiến với Ðức.

    - Ngày 15/8 khánh thành kênh đào Panama dài 79,6 km. nhờ kênh này hải trình từ Thái Bình Dương sang Ðại Tây Dương được rút ngắn. Theo hiệp ước 1903, kênh Panama đặt dưới quyền điều hành và kiểm soát của Hoa Kỳ.

    - Ngày 23/8 Thổ tham chiến trong khối Ðức,Áo, Hung. Tháng 9, Ðức chiếm một phần nước Pháp nhưng bị chận đứng tại Paris.

    - Bính dần (1926) Cộng sản Nam Dương tại hai đảo Java và Sumatra nổi dậy chống thực dân Hà Lan nên bị đàn áp dã man, số người bị giết hơn 3 triệu.

    - Những thí nghiệm đầu tiên về vô tuyến truyền hình.

    - Tưởng Giới Thạch đảo chánh Uông Tinh Vệ để nắm quyền lảnh đạo Quốc Dân Ðảng. Các lãnh tụ QDÐ mở hội nghị tại Vũ Hán để kềm chế Tưởng nhưng ông ta khôn ngoan đi dây giữa Nga và Tây Phương để hạ hết các đối thủ cộng sản nằm vùng trong đảng.

    - Mậu Dần (1938) Ðức xé bỏ hòa ước Versailles, tấn côn chiếm Áo, Tiệp, mở màn cho Thế chiến 2 giữa hai phe : Ðức, Ý, Nhật với phe Ðồng minh Tây Phương.

    - Mặc dù con bị chềt một cách bí mật trong lúc chỉ giải phẩu ruột nhưng Trotsky vẫn tiến hành đại dội đệ tứ đảng cộng sản tại Ba Lê , qui tụ 212 đại biểu của 11 nước, chống lại chủ truơng sắt máu của Stalin. Cuối cùng Trotsky đã bị Stalin ra lệnh ám sát bằng búa tại Mễ năm 1940.

    - Ngày 29/9 Ðức, Anh, Pháp ký hiệp ước Munich để Hitler sáp nhập Áo vào Ðức.

    - Chính phủ bình dân tại Pháp tan vở, thủ tướng Edward Daladier chọn Georges Mandel làm bộ trưởng thuộc địa.

    - Nhật dùng báo chí đã kích chính sách thực dân của Pháp tại Ðông Á và Ðông Dương-

    - Vợ cả của Tưởng Giói Thạch là Mao Phúc Mai (thân mẫu Tưởng Kinh Quốc) bị Nhật dội bom chết thảm tại quê nhà là Chi Khẩu tỉnh Chiết Giang. Tưởng vô cùng thương tiéc nhưng sau đó cũng lấy Tống Mỹ Linh làm vợ kế.

    - Ðào hát hạng nhì Lam Bình bị tẩy chay tại Thượng Hải nên bỏ tới Diên An (Thiểm Tây) tìm thời vận và được Mao Trạch Ðông cưới làm vợ . Cuộc hôn nhân đầy gân cấn vì sự chống đối dữ dội của vợ Mao là Hồ Tú Trân và đảng cộng sản Tàu nhưng cuối cùng Mao cũng lấy Lam Bình (tức Giang Thanh).

    - Rykov Alexis (1881-1938) thủ tướng Liên Xô , lảnh tụ cánh hữu đối lập, bị Stalin xử bắn trong vụ án Mạc ư Khoa (1936-1938).

    - Mustapha Kemal tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ chết, Inong lên thay thế.

    - Quân Nhật đồng loạt tấn công Trung Hoa, đẩy quốc quân của Tưởng Giới Thạch tận Trùng Khánh (Tứ Xuyên), chiếm hầu hết các thành phố lớn từ Thượng Hải tới Quảng Châu. Tại Nam Kinh, Nhật tàn sát dã man nam phu lão ấu gây căm phẩn khắp thế giới.

    - Tưởng Giới Thạch tuyên bố giải phóng Ðài Loan khỏi quân phiệt Nhật, khích lệ thanh niên trên đảo tòng quân giết giặc, giúp Tưởng lập được 6 cơ sở Quốc Dân Ðảng tại Ðài Nam. Ngoài ra còn có lực lượng Hồng quân hoạt động tại đây.

    - Canh Dần (1950) Chánh phủ Hy Lạp cho lấp con sông huyền thoại Ilissssos tại thủ đô Athène để xây dựng cao ốc và xa lộ.

    - Joseph Me Carthy đảng cộng hòa Mỹ, phát động chiến dịch chống cộng sản , chụp mũ nhiều người gây xáo trộn khắp Hoa Kỳ.

    - Vụ tai tiếng Revers Mast nổ lớn tại Pháp.

    - Tổng thống Truman ủng hộ chánh phủ Bảo Ðài trong khi Stalin nhìn nhận chế độ Hồ Chí Minh. Mỹ nâng tòa lảnh sự thành sứ quán tại VN và viện trợ cho Ðông Dương 13 triệu đô la. Anh và Thái Lan cũng theo Mỹ ủng hộ Bảo Ðại. Mỹ và Ðông Dương ký hiệp ước hổ tương quân sự.

    - Ngày 26/1 hiến pháp Ấn Ðộ có hiệu lực, theo chế độ cộng hòa.

    - Tổng thống Mỹ Truman chấp thuận chế tạo bom khinh khí (H), hỏa tiển tầm xa và các loại vũ khí chiến lược.

    - Liên Xô, Trung Cộng ký hiệp ước hữu nghị 30 năm nhưng tới 1980 hai bên xé bỏ.

    - Ngày 25/6 Bắc Hàn xua hải lục không quân vượt vĩ tuyến tấn công Nam Hàn. Thủ đô Hán Thành thất thủ, quân Nam Hàn bị đẩy lui tới Phú Sơn tận cực Nam. Quân LHQ gồm Mỹ, Anh, Canada, Thổ đổ bộ lên bán đảo Triều Tiên dưới quyền chỉ huy của đại tướng Mỹ M.Arthur (ngày 12/9) chiếm lại Hán Thành, đánh đuổi quân Bắc Hàn trở về bên kia vĩ tuyến 38, đồng thời vây hãm Bình Nhưởng. Tháng 10 tới 12, 380.000 chí nguyện quân Trung Cộng do Bành Ðức Hoài chỉ huy tăng viện giải vây cho Bắc Hàn.

    - Ngày 11/4 tổng thống Truman cắt chức tổng tư lệnh của Mc.Arthur và cử tướng Ridgway thay thế vì sợ Arthur tấn công thẳng vào lục địa Trung Cộng gây đại chiến thứ ba. Con trai lớn của Mao trạch Ðông là Mao Ngạn Ðịch tử trận tại triều Tiên.

    - Sự giao hảo giữa Mỹ và Ba tư tốt đẹp qua viện trợ nhưng vua Shah bất tài tham nhũng, bị cả nước chống đối phải sống lưu vong sau này.

    - Trung Cộng chiếm toàn thể đảo Hải Nam đe dọa Ðài Loan khiến Mỹ phải đưa Hạm đội 7 đến thị oai nên Trung Cộng mới bỏ ý định chiếm đảo quốc này.

    - Nhâm Dần (1962) Abdullah Al Salal giết quốc vương rồi thành lập nước cộng sản Nam Yemen nên nội chiến 9ã xãy ra giữa hai miền nam bắc. Cuộc chiến lại tái diễn vào năm 1986 tại vùng Shabwa giựa biên giới hai nước vì tranh dành mõ dầu lửa.

    - Nga xúc tiến chế tạo vũ khí Laser do Alexandre, Nudel Man phụ trách.

    - Ngày 2/3 đảo chánh tại Miến Ðiện , Newin chiếm quyền lập chế độ quân phiệt độc tài thân CS Tàu.

    - Ngày 16/3 Mỹ thành công chế tạo hỏa tiển tầm xa 8000 km mang đầu đạn nguyên tử.

    - Ngày 18/3 Pháp và Algeria ký hiệp ước Evian trao trả độc lập cho nước này. Algeria thuộc Bắc Phi ngày 1/7 tuyên bố độc lập theo chính thể cộng hòa.

    - Ngày 23/7 các nước ký hiệp ước công nhận sự trung lập của Lào.

    - Canada lần đầu tiên phóng vệ tinh Alouett nặng 130 kg.

    - Tháng 1o, bùng nổ cuộc chiến giữa Ấn Ðộ và Trung Cộng về tranh chấp biên giới.

    - Sau khi thất bại về chính sách đại nhảy vọt, bị sự chống đối khắp nơi. Ðể giữ thể diện, Mao Trạch Ðông dùng bọn tứ nhân bang do Giang Thanh cầm đầu, phát động phong trào văn hóa đỏ, triệt hạ tất cả các đồng chí cũ, chỉ có Chu Ân Lai và Ðặng Tiểu Bình sống sót.

    - Tháng 7, Tousamouta bí thư Khmer đỏ bị thủ tiêu, Polpot lên nắm quyền kéo theo Ieng Sary, Son Sen nhập đảng.

    - Các tổ chúc Trung Mỹ (OAS) nhóm họp khai trừ Cuba, đồng thời Hoa Kỳ cũng ra lệnh cấm vận vì Fidel Castro theo cộng sản.

    - Tháng 10, Mỹ phát giác Liên Xô đang bí mật thiết trí dàn hỏa tiển với 20 đầu đạn nguyên tử nhắm vào Hoa Kỳ. Do đó một mặt Mỹ đưa nội vụ ra Hội Đồng Bảo An LHQ, đồng thời Tổng Thống Kenedy ngày 22/10 đã gửi tối hậu thư cho Khruschev trong vòng 100 giờ phải triệt hạ hết giàn hỏa tiển trên, nếu không Mỹ sẽ oanh tạc Cuba thành vình địa. Cuối cùng LX nhương bộ và cũng từ đó, Mỹ phong tỏa Cuba bằng hải không quân.

    - Maneli được bổ nhiệm làm trưởng phái đoàn Ba Lan trong ủy ban kiểm soát đình chiến theo Hiệp Định Geneve 1954 tại VN nhưng chỉ lo theo dõi hoạt động của Tàu đối với LX mà thôi.

    - Giáp Dần (1974), bố già Galante sau 12 năm tù tại hải đảo thuộc Virginia (Mỹ) được ân xá, lại tiếp tục làm bố già cầm đầu băng đảng Mafia Hoa Kỳ và thế giới.

    - Do Thái trả lại cho Syria và Ai Cập một phần lảnh thổ đã chiếm. Tháng 10, vua Jordan là Hussein triệu tập các quốc gia Ả Rập yêu cầu lập quốc gia Palestine và tổ chức PLO. Tổng Thống Nixon thăm Ai Cập, tình hữu nghị giữa hai nước thêm tốt đẹp

    - Lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ (VN) báo cáo về sự tương tàn giữa Khmer đỏ và Khmer Rundo thân Hà Nội. Polpot ra lệnh giết hết bọn này, ngoại trừ Hem Samin và Yospor trốn tới Bắc Việt.

    - Quân đội Ethiopie đảo chánh lật đổ vua Haile Selane (1930-1974), dựng lên chế độ Cộng Sản làm cho bao nhiêu triệu người chết đói phải nhờ LHQ cứu trợ. Năm 1990 CS Etiopie sụp đổ theo Cộng Sản Ðông Âu, Ðông Ðức, Liên Xô.

    - Lào lại lập chánh phủ mới, do Phouma làm thủ tướng.

    - Ngày 25/4 chánh biến tại Bồ Ðào Nha lật đổ chế độ quân phiệt, lập chế độ cộng hòa.

    - Ngày 8/8 Richard Nixon từ chức tổng thống Mỹ về vụ Watergate, chủ tịch hạ viện Ford thế.

    - Ðại học nổi tiếng của Anh là Oxford thành lập từ năm 1379, bãi bỏ lệnh bắt nam nữ học riêng. Trước đó trường đã thiết lập một hàng rào an ninh thật kiên cô giữa hai khu nam nữ, Oxforf cũng trường đại học đã đao tạo nhiều nhân vật lãnh đạo nước Anh và nhận giải Nobel.

    - Ngày 29/3 Yang Peiyan, trưởng toán thủy lợi của công xã Yanzan (Sơn Tây, Tàu) trong khi đào giếng, đã phát hiện ra vùng lăng mộ của Tần Thỉ Hoàng . Do đó ngày 15/7 Trung Cộng cử Giáo Sư Đại Học Thượng Hải Yuan Zhougyl làm trưởng phái đoàn khai quật khu lăng mộ trên. Ðây là khu lăng mộ vĩ đại nhất của Tàu, quy tụ hầu hết lăng mộ của các vua chúa mọi thời.

    - Tháng 3, Thiếu Úy Onoda thuộc một đơn vị Thiên Hoàng, tham chiến tại Phi Luật Tân thời đệ nhị thế chiến (1945), sau 30 năm sống trong rừng sâu tiếp tục chiến đấu vì chưa nhận được lệnh đầu hàng của thượng cấp. Sau khi có lệnh của cựu Thiếu Tá Tanigucu cấp chi huy cũ của mình, Onoda mới chịu buông súng và ra ngoài đầu hàng.

    - Cựu Tổng Thống Juan Peron lại được chọn làm tổng thống Á Căn Đình kỳ 2 nhưng đã qua đời năm 1974. Bà vợ thứ ba là Isabel thế chức tổng thống tới năm 1976 bị truất phế. Trong thời gian làm tổng thống, bà Isabel đã đòi lại được xác ướp Hoàng Hậu EvaPéron còn được gọi là Évita từ La Mã. Sau năm 1976, chính quyền mới cho chôn xác ướp Évita để tránh bị cướp xác lần nữa vì bà là một phụ nữ lừng lẫy nhất từ trước tới nay của Á Căn Ðình.

    - Lái buôn vũ khí quốc tế Georges Starce Mann đã giúp Pháp lấy được 50 đầu đạn đại bác phòng không tự động Z123 của Ðông Âu, bằng cách dùng 1000 máy điện toán của Mỹ đổi chác với công ty Kintex của Bảo Gia Lợi.

    - Bính Dần (1986) Ngày 25/4 lúc 1giờ 23’ một trong 4 lò phản ứng của nhà máy điện nguyên tử Tchernobyl thuộc Liên Xô cũ, vì sơ xuất kỷ thuật đã nổ tung, làm thoát chất phóng xạ ra ngoài, gây hỏa hoạn và cảnh thương vong cho nhiều người. Ðây là một tai nạn nghiêm trọng nhất trong lịch sử nguyên tử.

    - Nữ sinh viên luật khoa Masako cùng Hoàng Thái Tử Nhật Naruhito gặp nhau trong buổi tiệc tiếp tân Hoàng Hậu Tây Ban Nha Elena. Tình yêu bộc phát giữa hai người và cuối cùng Masako trở thành hoàng hậu của Nhật hoàng Naruhito sau này.

    - Mỹ trả lại quần đảo Marshaull cho thổ dân sau khi chiếm từ tay người Nhật vào năm 1976 và dùng làm địa điểm thử nghiệm bom nguyên tử.

    - Các nhà khảo cổ Mỹ phát hiện một con khủng long hóa thạch khổng lồ được đặt tên là Super Sawtus Vivianal, dài 42 m nặng 40 tấn gần Colorado.

    - Vệ tinh Chaullenger chở 7 nhà thám hiểm không gian trong đó có 2 phụ nữ, đã nổ tung sau khi được phóng lên không gian sau 75 giây. Ðây là chuyến thám hiểm thứ 25 của Mỹ.

    - Tại Phi Luật Tân, dù Tổng Thống F.Marcos tuyên bố tái đắc cử tổng thống với số phiếu tối đa, vẫn bị dân chúng khắp nơi nổi lên biểu tình chống đối. Cuối cùng Marcos và gia đình được Mỹ chở tới Honolulu lánh nạn. Bà Aquino được bầu làm nữ tổng thống Phi Luật Tân.

    - Ðể cảnh cáo do có dính líu tới các tổ chức khủng bố quốc tế nên tháng 4, Mỹ oanh tạc Lybia. Tuy Moammar Qaddafi thoát chết nhưng cũng đã vở mật từ ấy đến nay.

    - Liên Hiệp Âu Châu ký hiệp ước Schewgen, ấn định ngay 1/1/1990 sẽ bải bỏ quan thuế và sự kiểm soát biên giới tại 5 nước Pháp, Ðức, Bỉ, Hòa Lan và Lục Xâm Bảo nhưng tới năm 1995 mới thực hiện được.

    - Từ ngày 11- 12/10 họp thượng đỉnh giữa Tổng Thống Mỹ Reagan và Tổng Bí Thư LX Gorbachev tại thủ đô Reykjavikcủa Iceland .

    - Ngày 27/11 Ấn Độ và LX ký hiệp ước Delhi, cam kết không sử dụng vũ khí nguyên tử để tấn công lẫn nhau.

    - Trung Cộng và LX vẫn công kích lẫn nhau, đồng thời gia tăng lực lượng bộ binh tại biên giới Trung-Xô. Về phía Nam, Trung Cộng cũng thường xuyên dùng bộ binh và hỏa pháo tấn công biên giới Hoa-Việt.

    - Vợ chồng tài tử điện ảnh Nam Hàn là Thân Tượng Ngọc (Shiu Sang) và Thôi Ngân Hi (Choi Unhi) bị Kim Chính Nhật bắt cóc năm 1981, đã trốn thoát được nah vút Bắc Hàn khi sang trình diễn tại Vienne (Áo).

    - Nhờ Kuwait và các nước Ả Rập giàu sụ giúp đỡ và cho vay với lãi suất nhẹ, nên Saddam Hussein mua sắm vũ khí tối tân cố thủ được Iraq, đuổi Iran về phía bên kia biên giới. Năm 1991 Sadam Hussein xua quân chiếm Kuwait bị Hoa Kỳ và LHQ đánh đuổi ra khỏi nước này.

    - Honduras và Costa Rica cổ võ và giúp đở kháng chiến quân Nicaragua, chống lại chính quyền cộng sản Sandinista.

    - Vì bị quốc hội bải bỏ viện trợ quân sự cho kháng chiến quân Nicaragua, nên tổng thống Reagan phải bí mật bán vũ khí cho Iran để có tiền viện trợ cho tổ chức trên. Công tác trên bị lộ, cựu nhân vật đầu nảo là cựu trung tá TQLC North, Poindexter, Secard và Hakin bị ra tòa vì vi phạm điều luật của quốc hội Mỹ.

    - Thủ Tướng Nhật Nakasone cách chức Bộ Trưởng Giáo Dục MasayukiFuji vì ông này chỉ trích những nhượng bộ trước việc Trung Cộng lập đài kỷ niệm Yasukuni và xuyên tạc Nhật trong các sách giáo khoa

    - Ðại sứ Phi Luật Tân tại Tokyo là Jesusdei Rosario đã liên kết chặt chẽ với đại công ty Nhật Matsushito trong việc làm ăn buôn bán, mở đường cho Nhật vào khống chế thị trường kinh tế Phi qua bọn thương gia bản xứ gốc Hoa.

    - Nam Dương mời Nhật giúp đở vì giá xăng dầu xuống thấp. Nhật đã cho Nam Dương vay với lãi xuất nhẹ, khiến cho sự giao hảo giữa hai nước thêm tốt đẹp kể từ năm 1974 Nam Dương tẩy chay hàng hóa Nhật.

    - Bất chấp lệnh phong tỏa của Mỹ, người Nhật vẫn viện trợ cho Miến Ðiện 244 triệu USD.

    - Tháng 9, tên sát thủ của Sadam Hussein tổ chức vũ không tặc trên chuyến bay PANAM 73 tại Karachi (Hồi) làm 77 người chết, 107 người bị thương. Sau đó lại đặt bom tại thương xá quốc tế Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) làm 22 người chết và 102 bị thương.

    -Mậu Dần (1998)

    - Tháng 1,

    - Tổng thống Mỹ Bill Clinton bị rắc rối vì bị Paula Jone và Monica Lewinsky thưa gửi về tối quấy rối tình dục với phụ nữ. Nội vụ lên tới đại bồi thẩm đoàn và cả quốc hội. Cuối cùng Clinton cũng thoát tội và còn đắc cử nhiệm kỳ 2 tổng thống Mỹ.

    - Giáo hoàng John Phaolo II thăm viếng Cu Ba trong 5 ngày.

    - Tháng 2,

    - Vì tham nhũng nên thống đốc ngân hàng và một bộ trưởng trong chính phủ Nhật phải từ chức, một bộ trưởng khác tự tử. Sự kiện trên làm Thủ Tướng Hashimoto mất uy tín và sụp đổ.

    - Nam Dương lâm vào tình trạng kinh tế khủng hoảng, thất nghiệp khiến cho dân chúng tại thủ đô Jakarta và nhiều nơi khác đứng dậy biểu tình chống chính phủ.

    - Kim Ðại Trọng được bầu làm tổng thống Nam Hàn.

    - Tháng 3,

    - Chu Dung Cơ trở thành thủ tướng trung Cộng tuyên bố tiếp tục theo con đường đổi mới của Ðặng Tiểu Bình, chống tham nhũng, dẹp bỏ hằng ngàn công ty quốc doanh thua lỗ.

    - Xung đột và nội chiến tại Nam Tư cũ vì Serbia xua quân tàn sát người Albanie tại Kosovo.

    - Tháng 4,

    - Polpot chết trong rừng sâu vì bệnh, trong lúc cả thế giới đang tìm bắt tên sát nhân diệt chủng Kampuchia để đưa ra tòa án quốc tế xét xử trị tội.

    - Thế giới xôn xao trước tin cơ quan FDA thương mại hóa Viagra là thần dược trị các chứng bệnh rối loạn cường dương nơi nam giới, dù đã có nhiều tử vong do thuốc này gây ra.

    - Tháng 5,

    - Ấn Ðộ và Pakistan thử nghiệm thành công việc chế tạo bom nguyên tử.

    - Suharto từ cức tổng thống Nam Dương sau 32 năm cầm quyền, B.J.Habibie trở thành tổng thống trong lúc đất nước đang trải qua thời kỳ suy thoái nhất trong lịch sử Indonesia.

    - Tháng 6,

    - Joseph Erap Estrada đắc cử tổng thống thứ 4 của Phi Luật Tân, giữa lúc hảng hàng không quốc gia Philippine Airline đóng cửa vì thua lỗ.

    - Tháng 7,

    - Lần đầu tiên đội tuyển Pháp dành được chức vô địch Mondial tại sân nhà, sau khi hạ đội Brazil. Giải túc cầu Mondial France 98 có 32 đội thi tài với hằng tỷ khán giả theo dõi qua truyền hình.

    - Ryutaro Hashimoto từ chức thủ tướng Nhật vì sự khủng hoảng tài chánh ngân hàng. Keizo Obuchi 61 tuổi bộ trưởng ngoại giao từ năm 1997 được bầu làm tân thủ tướng.

    - Tháng 8,

    - Hai vụ đánh bom vào tòa đại sứ Mỹ tại Kenya và Tanzania làm nhiều người thương vong, trong đó có Hoa Kỳ và dân bản xứ. Cơ quan tình báo Mỹ đã mở chiến dịch truy lùng tên đầu đảng khủng bố Osama Bin Laden đang lẫn trốn tại A Phú Hản.

    - Tháng 9,

    - Boris Yeltsin tổng thống liên bang Nga vì sức khoẻ suy yếu nên chỉ định cựu giám đốc cơ quan tình báo KGB kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao Yevgueni Primakov làm thủ tướng.

    - Tháng 10,

    - Khủng hoảng kinh tế tài chánh tại Malaysia, Thủ Tướng Mahathir Mohamad ra lệnh bắt giam Phó Thủ Tướng Anwar Ibrahim đồng thời ngưng giao dịch ngoại tệ với thế giới để giữ giá cho đồng Ringgit.

    - John Hume 61 tuổi, lảnh đạo đảng Dân Chủ xã hội và lao động Bắc Ireland và David Trimble 54 tuổi, lảnh đạo đảng Ulster, đã chấm dứt được nội chiến giữa người theo đạo tin lành và Thiên Chúa tại Bắc Ái Nhĩ Lan, nên được trao giải Nobel hòa bình trị giá 963.000 USD.

    - Thủ Tướng Do Thái Benjamin Netanyahu và Tổng Tống Palestine Yasser Arafat chịu ký kết hòa bình tại Wye River (Maryland) sau 10 ngày đêm họp với Tổng Thống Mỹ Bill Clinton.

    - Tháng 11,

    - Thượng nghị sĩ John Glenn đã 77 tuổi lại bay vào quỹ đạo để thử nghiệm sức khỏe con người trong không gian. Phi hành gia Glenn bat lần đầu vào không gian năm 1962 trên phi thuyền Mercury.

    - Tháng 12,

    - Anh trục xuất sang Tây Ban Nha tên độc tài Augurto Pinochet nguyên tham mưu trưởng quân đội Chili, can tội tàn sát hằng ngàn người phản đối chế độ.

    - Vì Sadam Hussein không chịu cho phái đoàn thanh tra của LHQ vào khám xét các kho vũ khí hóa học, nên Mỹ-Anh đã oanh tạc khắp lảnh thổ Iraq bằng hỏa tiển Tomahawk, trước khi mở chiến dịch Cáo Sa Mạc tiêu diệt Sadam Hussein.


    Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di
    Chạp 2009
    MƯỜNG GIANG.
  4. CỌP: CON VẬT SẮP BỊ TUYỆT CHŨNG

    MƯỜNG GIANG



    Thời xưa tại các nước Á Ðông trong đó có Trung Hoa và VN, các vị vua chúa thường chọn Rồng làm con vật biểu tượng để tỏ xuống thần dân quyền uy và sức mạnh của đấng con trời. Trong khi đó thì hàng tướng lãnh kể cả các anh hùng trong chốn giang hồ, lại coi Cọp như vị thần bổn mạng, vì hình ảnh oai vệ hùng dũng của nó cũng chính là cái bóng của họ trong cuộc đời.

    Do đó rất nhiều hình ảnh của cọp đưọc thần thánh hóa và đã đi sâu vào đời sống dân gian mọi nơi qua bia miệng và ngôn ngữ được nhắc nhớ hằng ngày như hổ trướng, hổ bôn, hổ bảng, hổ bộ, hổ phù, hổ tướng.. Tại miền tây nam nước Tàu hiện còn một bộ tộc gọi là Di (6.570.000 người) sống ở Tứ Xuyên, nhận mình là hậu duệ của Khương Tuất có thủy tổ là cọp. Ngoài ra khắp nơi trên thế giới có nhiều dân tộc coi cọp là đấng thần linh của họ như Udeges tại thung lũng Bikin (Tây Bá Lợi Á) gọi quê hương mình là AMBA có nghĩa là chúa cọp huy hoàng, để chỉ loài cọp Siberia được coi như thần hộ mệnh Primonsky Krai hay Kharbara VSK. Cũng tai vùng này bên hai bờ sông Amur (Nga), các nhà khảo cổ đã tìm ra hình ảnh cọp từ 6000 năm về trước do người Gordis vẽ.

    Trong thần thoại Ấn Ðộ có nữ thần Durga cười cọp giống như Lảo Tử (Chang Tao Ling) giáo chủ của Ðạo giáo, cũng cưởi cọp để ác chiến với các tà thần khi đi tìm sự vô vi ý nghĩa của cuộc sống. Các đế quốc thực dân Anh, Hòa Lan khi đô hộ Ấn Ðộ, Mã Lai, Nam Dương cũng giết cọp để tỏ thần uy của mình với dân nô lệ bản xứ. Trong cuộc chiến ngăn chống cộng sản Bắc Việt xâm lăng (1955-1975) hầu hết các binh chủng thuộc QLVNCH như Nhảy Dù, TQLC, LLDB, BDQ.. đều chọn cọp làm phù hiệu cho đơn vị. Trong số này kiệt hiệt nhất là Tiểu Ðoàn 42 BÐQ thuộc Khu 44/Vùng IV chiến thuật với hổn danh ‘Cọp Ba Ðầu Rằn‘. Quân đội Ðại Hàn khi tham chiến tại miền Nam VN cũng có một sư đoàn mang tên Mãnh Hổ trấn đóng tại Phú Yên, Bình Ðịnh thuộc Quân Ðoàn 2. Trong cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất (1991), Mỹ cũng có một đơn vị thiện chiến là Lữ Đoàn Tiger thuộc Sư Đoàn 2 Thiết Giáp Nhảy Dù.

    Ðiều mai mĩa nhất là chính con người đã dựng ra rất nhiều huyền thoại, trong đó có nói tới cọp là tủ thuốc quý của nhân loại, đã đưa nó lên mây xanh do óc tưởng tượng. Nhưng cũng chính điều này đã mang tới tai họa diệt chũng cho cọp. Kể từ đó con người đã dùng mọi phương tiện bắt cọp đem bán cho con buôn. Cọp bị săn lùng từ Phi sang Á, trong đất liền ra tận hải đảo Nam Dương, đến độ LHQ phải can thiệp để duy trì mạng sống và nòi giống của cọp. Nhưng vấn đề càng trở nên phức tạp vì dân số thế giới càng lúc càng tăng mạnh, phải phá rừng khai hoang để lấy đất canh tác, tấn công trực tiếp vào giang sơn của chúa sơn lâm.

    Rồi đây nếu tình trạng trên không sớm giải quyết, thế giới không hoạt động hửu hiệu thì trong tương lai gần, cọp sẽ chỉ còn hiện diện trong sở thú, gánh xiệc, sách vở và nơi các đình chùa mà thôi. Thật là ‘... thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ)‘.

    + Cọp: Chúa Tể Của Sơn Lâm

    Cọp là loài dã thú có sức mạnh và sự tinh khôn gần bằng con người. Theo kinh nghiệm của giới thợ săn và làng võ, những nhân vật từng chạm trán với ác vật trên cho biết tính nết cọp rất kỳ lạ. Ðó là khi vồ mồi (bất kể là người hay thú vật) nếu bắt trúng ‘tai‘ thì cọp bỏ đi. Khi đã bắt được mồi, bao giờ cọp cũng dựng xác người hay vật ở tư thế ngồi hay nằm rồi mới ăn thịt và luôn luôn moi lục phủ, ngủ tạng ăn trước. Cọp nào làm ngược những qui tắc trên, được giới thợ săn gọi là ‘ cọp trở mồi ‘ , một báo hiệu cho biết nó sắp bị giết bởi thợ săn hay sập bẫy. Ngoài ra khi thấy cọp quì chân sau chống chân trước là lúc cọp sắp tấn công. Khi vồ mồi, cọp chạy theo thế bò sát và phóng tới, cái đuôi phe phẩy theo hướng nào là cọp tấn công theo hướng đó. Sau cùng lúc cọp nằm ngữa bụng lên trời là để dưỡng sức đợi dịp tấn công tiếp đối thủ. Nhưng cọp cũng rất yếu bóng vía khi bị tấn công bất thần. Những lúc đó thường cong đuôi bỏ chạy và khi hườn hồn, lại quay về nẽo cũ để bắt mồi.

    Với người VN, cọp được gọi bằng nhiều danh xưng như Hổ (miền Bắc), cop miền Nam) hay ông ba muơi, ông Kễnh, ông Hùm.. Cọp thuộc họ Mèo với 240 loài là thú ăn thịt sống lớn nhất hiện nay gồm chó, mèo, chồn, gấu.. Chúng có bộ răng và móng chân đặc biệt để thích nghi trong việc xé mồi sống ăn thịt. Bộ răng gồm răng cửa nhỏ nhưng sắc bén dùng để róc xương, còn răng nanh vừa nhọn lại dài, lớn dùng để xé mồi. Riêng răng hàm được cấu tạo như lưởi kéo có nhiều mấu sắc nên có thể nhai nát thịi lẫn xương. Còn các móng chân của bộ ăn thịt đều có vuốt cong được đệm bằng lớp thịt dầy nên bước đi của chúng rất nhẹ nhàng uyển chuyển, thích hợp cho sự rình mồi. Loài nay có bán cầu não lớn mang nhiều nếp nhăn, con thú mới sinh rất yếu nên thường bị chết yểu.

    Họ Mèo (Falidae) là loài thú tiêu biểu nhất trong bộ thú ăn thịt gồm có cọp, beo, sư tử và mèo. Chúng săn mồi bằng cách tình rập và tấn công bất thần vào đối thủ (người hay vật) qua hành động nhảy cao và xa vì hai chân sau của chúng dài hơn chân trước. Chuyên săn mồi vào ban đêm nhờ có thị và thính giác cực mạnh, còn râu chỉ là cơ quan xúc giác phụ mà thôi. Trừ thời gian động động dục và nuôi con, hầu hết các thú thuộc họ Mèo sống đơn độc.

    CỌP (Panthera Tigris) hay Hổ là loài thú có kích thước lớn nhất trong họ Mèo. Một con cọp xứ Bengale (Ấn Ðộ) vào tuổi trưởng thành có trọng lượng hơn 250 kg, dài gần 2m và để nuôi thân, mỗi tuần phải ăn một con nai hay heo rừng. Trong 11 loài cọp còn tồn tại, nhỏ nhất là loài cọp sống trên đảo Sumatra (Nam Dương) nặng chừng 120 kg, còn loài lớn nhất hiện nay là cọp Tây Bá Lợi Á (Amua Panthera Tigris Longipilis) dài 3 m và nặng trên 320 kg. Trong rừng xanh cọp là chúa tể muôn loài trừ voi, sư tử, tê giác và trâu rừng.

    Cọp Tây Bắc Á sinh sống tại Nga, Tàu và Bắc Cao Ly, trước đây được mệnh danh là lãnh chúa của rừng Taiga, nay cũng sắp bị diệt vong trước mũi súng của phường săn. Tại Trung Hoa, chúng sống ở hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm (Mãn Châu) có bộ lông phát triển rất mạnh kể cả phần đuôi, biến đổi theo thời tiết từng mùa từ vàng nhạt sang đậm. Tại Tây Bá Lợi Á, cọp Siberia rất hung dữ và là kẻ thù không đội trời chung với chó sói, nên nếu có sự hiện diện của cọp trong vùng thì sói bỏ đi nơi khác để kiếm ăn.

    Hơn một thế kỷ trước tại Ấn Ðộ có chừng 40.000 cọp, nay chỉ còn lại 3000 trong số 6000 khắp thế giới vì hầu hết cọp sống tại Bali, biển Caspienne và Java sắp bị tuyệt chũng. May mắn nhất có lẽ là loài cọp Felis Paleosinensis cũng thuộc giống Siberia sống ở miền nam nước Tàu, Ấn Ðộ và vùng Ðông Nam Á hiện phân bố thành 8 loài khác nhau qua màu lông, kích thước. Một số cọp Siberia được nuôi dưỡng trong khu vực có rào sắt tại tỉnh Vladisvostok (Nga) và vườn thú Minnesota (Mỹ) nhưng đặc biệt nhất là tại Vân Nam (Trung Hoa), cọp rất được người thiểu số Lolo thuộc bộ tộc Di trọng vọng vì coi nó như vị thần hộ mạng.

    Là loài thú sinh sản rất hạn chế, cop nhỏ lên tới 4 tuổi mới trưởng thành. Cọp cái mỗi lần sinh đẽ với khoảng cách 2,3 năm và trong đời chỉ sinh tối đa là 7 lần và tới năm 20 tuổi là chấm dứt. Cọp cái mang thai khoảng 4 tháng thì sinh nở mỗi lứa từ 1-5 con nhưng tới đa chỉ vài con sống sót.Tuy là loài thú dữ nhưng cọp cái rất thương con nên chăm sóc kỹ càng tới năm 3-4 tuổi, cọp con mới rời mẹ để sống một mình.

    Về nguồn gốc, theo các nhà động vật học thì cách đây hơn 300.000 năm, tại vùng rừng núi Siberia còn ôn hòa ấm áp nên đã thấy cọp xuất hiện. Chúng là hậu duệ của loài Creodon sống cách đây hơn 60 triệu năm nay đã tuyệt chũng. Sau đó khí hậu vùng này càng lúc càng lạnh lẽo băng giá nên loài cọp mới di cư tới nơi khác ngoại trừ giống cọp to khoẻ Siberia chịu đưng được thời tiết nên ở lại tới ngày nay. Chúng chia thành hai nhóm đi về hướng tây nước Nga tới vùng biển Caspienne, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Afghanistan.. Nhóm khác đi về hướng đông vào Tân Cương, Trung Hoa, Mãn Châu và xuống tận miền Nam vào Ấn Ðộ hơp với nhóm một, thiên di tới các nước Ðông Nam Á ra tận các hải đảo Nam Dương, Phi Luật Tân.. Ðó cũng là cuộc di cư cuối cùng của dòng họ cọp. Hiện các nhà khoa học chọn giống cọp Bengale làm con vật trung gian giữa giống cọp lớn nhất (Siberia) và nhỏ nhất (Bali) để đại diện cho dòng họ cọp, vì nó mang đủ các sắc tố điển hình của hai loài cọp trên về sức nặng, kích thước, màu lông và các yếu rố tâm sinh lý. Ðặc biệt là loài cọp trắng mắt xanh, chỉ có tại Ấn Ðộ. Ngoài ra còn có Liger là loài cọp được lai giống từ sư tử đực và cọp cái. Nó có cơ thể giống sư tử với những sọc vằn và thích bơi lội như cọp. Một con thú lai thứ hai giữa cọp đực và sư tử cái được gọi là Tigon, mang đặc tính loài cọp.

    Tương cận với cọp có loài Báo bờm (Acinon Jubatus) có bốn chân rất dài với móng vuốt co giản được. Chúng sống tại Châu Phi, Ấn Ðộ, Afghanistan, Arab Saudi. Người ta thuần dưỡng báo bờm để săn linh dương nhưng rất khó khăn vì chúng thường chết yểu khi xa rừng. Báo Sư Tử hay Puma (Panthera Concolor) hiện có hơn 30 loài sống tại Nam Mỹ săn tất cả các loài thú to bằng con cừu. Báo Tuyết (Unica Ucin) màu lông vàng nhạt với các đốm đen, sống tại vùng núi cao Altai và rặng Hy Mã Lạp Sơn. Ngoài ra còn có loài Báo Gấm (Leo Pardus Pardalis) màu lông có đóm đồng tiền rất đẹp và Báo Panther Padus sống nhiều tại Á Phi, quần đảo Sonde ăn chó, linh dương, chim và thằn lằn. Tất cả các loài Báo đều sợ người.

    Sư Tử là chúa tể tại vùng thảo nguyên Phi Châu, có hình dáng rất oai vệ nhất là con đực. Sư tử sống khắp hai châu Âu và Phi, Ấn Ðộ. Hiện chỉ còn một số ít tại Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, vùng đồng cỏ quốc gia Bom Bay (Ấn Ðộ). Trừ Voi, Cọp, Tê Giác, Trâu Rừng và Khỉ đột Gorlilla.. sư tử ăn thịt tất cả các loại thú khác. Các loại Mèo Nhà (Mèo Xiêm ố Felix Catus Domestica), Linh Miêu (Lynx Lynx), Mèo Vàng Châu Phi (Profelix Aurata) và Mèo Rừng (Felis Chaus).. đều là loài thú nhỏ nhất trong bộ ăn thịt sống.

    VN trước đây có nhiều cọp nhưng nổi tiếng có cọp Hòa Bình, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Quảng Trị, Khánh Hòa, Mỹ Tho, Bến Tre, Cà Mau.. Cọp VN thuộc loại trung bình với chiều cao 1m, dài 2m, đuôi 1m. Trước thập niên 50 của thế kỷ XX VN có nhiều cọp, chúng loạn xuống đồng bằng đột nhập vào các làng xóm ven rừng để bắt gia súc và người. Nhờ có chiến tranh từ 1945-1975 bom đạn tàn phá đồng thời với sự gia tăng dân số kỷ lục, khiến cho con người phải phá rừng xẻ núi để khẩn hoang canh tác. Sau cùng chính huyền thoại ‘tủ thuốc quý‘ đã đứ cọp vao tử lộ diệt vong, khiến cho loài thú này gần như sắp vắng bóng tại VN.

    Thuở xa xưa, cọp sống khắp miền đất nước làm loạn và tàn sát con người để ăn thịt, mà một số ca dao tục ngữ nay còn truyền tụng ‘ cọp Bảo Hà, ma Trái Hút (Bắc Việt). Cọp Thủy Ba ma Trại Rớ (Quảng Trị). Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận ‘.Nhưng cọp miền Bắc hay Trung thật nhiều và dữ tợn nhưng tại Nam phần vào thế kỷ 17-18 cũng nhiều và độc dữ không kém đồng loại ở những nơi khác

    + Cọp sắp bị diệt chũng:

    Tất cả cũng đều do con người tạo ra mà khởi đầu là vẽ vời những huyền thoại đưa cọp lên tận mây xanh với các mỹ danh như chúa sơn lâm, sơn vương, sơn thần, ông ba mươi.. để sùng bái, thờ phụng. Rồi cũng chính con người mang tai họa tới cho cọp, khi quả quyết rằng tất cả cơ thể của nó đều là thuốc quý giúp người bồi dưởng sức khỏe trở nên ‘trường sinh bất lảo‘ , làm cả thế giới đều ham muốn, đổ xô đi bắt giết cọp để thỏa mãn dục vọng.

    Do đó chẳng có bộ phận nào của cọp phải vứt bỏ kể cả râu mép. Với người Tàu thì xương cọp (cao hổ cốt) giúp sống thọ lại trị được các chúng bệnh cãm cúm, tê thấp. Râu cọp ngoài bào chế thuốc độc còn giúp cường dương tráng thận tăng sức mạnh phòng the. Mắt cọp chế thành thuốc viên trị chứng thần kinh co giật. Da cọp hiện là món hàng thời thượng có giá bán từ 20.000 tới 50.000 USD. Nhưng đặc biệt nhất vẫn là món ‘dịch hoàn cọp‘ và ‘canh hầm dương vật cọp‘ giúp cho người lấy lại tuổi thanh xuân hiện có bán khắp các tửu lầu sang trọng của người Tàu khắp thế giới.

    Cách đây hơn 11.500 năm, con người đã đóng vai trò quan trọng về việc tiêu diệt các loài thú lớn ăn thịt trong đó có loài cọp răng kiếm, như báo cáo của nhà cổ sinh vật học người Pháp Paul Martin, qua nhiều địa điểm khai quật khắp Châu Mỹ chứng tỏ người Homosapiens tiền sử đã dùng dao silex, một loại vũ khí sắc bén làm từ đá để săn các loài thú trên. Nhưng nguy cơ tuyệt chủng của loài cọp chính thức từ thập niên 70 của thế kỷ XX. Ðó cũng là niên lịch mà bà Thủ Tướng Ấn Ðộ Indira Gandhi ra lệnh lập các công viên quốc gia khắp nước để bảo tồn loài cọp. Nhờ vậy loài này mới tăng gia số lượng đáng kể vào năm 1980.

    Nhưng đó cũng chỉ là lý thuyết vì thực tế đã không có một kế hoạch nào của thế giới có thể ngăn cản được sự tuyệt chũng của loài cọp, trước tình trạng gia tăng dân số và thị trường tiêu thụ cọp càng lúc thêm phát triển khắp mọi nơi. Tại Trung Hoa việc săn giết cọp là hợp pháp với lý do ‘trừ hại cho dân‘ dù thực tế là cung cấp cho thị trường. Ðến khi Trung Công ban hành lệnh cấm thì bọn con buôi lại chuyển tới Ấn Ðộ để khai thác.

    Mãi tới đầu thập niên 90 người ta mới phát giác được sự lớn mạnh của thị trường tiêu thu cọp khắp nơi. Traffic, một tổ chức theo dõi việc mua bán thú hoang vào tháng 8 năm 1993 đã thông báo cho chính phủ Ấn Ðộ tịch thu 385 kg xương cọp (tương đương với 42 con) và 8 bộ da của bọn buôn lậu quốc tế nhưng đây chỉ là số lượng nhỏ nhoi vì cọp vẫn bị săn giết hằng ngày. Cọp có giá tùy theo lớn nhỏ (100-300 USD), từ rừng được chuyển bằng xe tải tới các cửa hiệu đặc biệt gọi là Sadad Bazaar tại New Delhi. Bộ tộc Mogiva ở quanh công viên quốc gia Rathambhore (Ấn Ðộ) chuyên cung cấp cọp cho bọn thương buôn.

    Cọp được lột da, xe thịt xấy khô đóng thùng gởi đi khắp nơi. Da cọp chuyển tới Âu-Mỹ, Xương, thịt và tất cả các bộ phận khác được đưa về Trung Cộng, Ðài Loan, Hồng Kông và các nước Ðông Nam Á có Hoa kiều để chế biến thành dược phẩm và món ăn nhậu phục vụ cho các xì thẩu lắm bạc nhiều tiền. Tình trạng cọp tại Ấn Ðộ hiện nay càng thê thảm hơn vì bộ lạc Boro ở miền bắc đang nổi loạn chống chính phủ, nên giết cọp để đổi lấy súng đạn. Vùng Taiga (Nga) cọp bị tàn sát tập thể bởi các viên chức chính phủ qua các cuộc săn bắn được tổ chức quy mô.

    Sau này nhờ có lệnh cấm nên số cọp tăng lên được 400 con nhưng tới năm 1990 Liên Bang Sô Viết tan rã thì tình trạng săn giết cọp lại tái diễn một cách quy mô hơn trước vì dân Nga quá đói nên cần tiền phải săn cọp bán để sống. Theo kết quả nghiên cứu của John Kenney, một nhà sinh vật học người Mỹ tại đại học Minnesota, thì dù mức săn bắn rất thấp cọp cũng vẫn bị tuyệt chủng trong thế kỷ XXI nếu không có biện pháp ngăn chận hữu hiệu.

    Ngày 12-11-1996 tòa án Vladivostock (Nga) đã phạt 5 năm tù ở cho tên săn lậu một con báo. Peter Jackson, một nhân viên thiện nguyện của LHQ đã bao cáo cho WWF tình trạng thối nát và hối lộ lan rộng khắp nước Nga, chính là nguyên nhân mở đường cho bọn buôn lậu và săn cọp tung hoàng khắp miền Tây Bá Lợi Á . Bản án 5 năm trên chỉ là sự nực cười của luật pháp, nhằm xoa dịu lòng căm phẩn của lương tâm nhân loại.

    Qua báo cáo trên cho biết cọp lớn ở Siberia (Penthera Tigris Altrica) là một trong 5 ;oài cọp trên thế giới hiện nay bị đe dọa mạng sống nhiều nhất. Tên của nó đã được ghi vào sách đen báo động cùng với các loài cọp khác đã bị tuyệt chũng tại Bali (Java. Nam Dương), Caspienne (Nga).. Cọp Tây Bá Lợi Á càng lúc càng bị săn giết đến độ địa phương phải thành lập một đội quân cãm tử tại Vladivostok và Usserick để chống lại bọn săn lậu. ‘ Amba ‘ là danh hiệu của đội quân trên do Vladimir Shetinin 60 tuổi cầm đầu, qua sự bảo trợ của LHQ (WWF) và viện nghiên cứu Hornocker (Mỹ) cũng như cộng tác với cơ quan Investigative Network (Hình cảnh đặc biệt Mỹ) trong nhiệm vụ trấn áp bọn săn và buôn lậu quốc tế.

    Tai sở thú Nandakada (Ấn Ðộ) 12 con cọp thuộc loai khan hiếm lần lượt lăn đùng ra chết vì bị đầu độc, một con đã bị xẽ thịt. Biến cố đã xảy ra vào tháng 9-2000. Theo thống kê hiện Ðông Dương chỉ còn 1500 cọp, Mãn Châu và toàn vùng đồng bắc Tàu chừng 400 con, Sumatra (Nam Dương còn 450 con. Riêng giống cọp Bengale Ấn Ðộ từ 40.000 nay chỉ còn 3000 con. Tất cả đều do nạn phá rừng và săn lậu khiến loài này hết đất sống.

    Hiện miền tây bắc Thái Lan có một ngôi chùa Phật được gọi là Chùa Hổ (Wat Pha Luang Ta Bua) đang bảo dưỡng một đàn cọp. Chùa thuộc giáo hội Phật Giáo Ðại Thừa ở quận Saiyok thuộc tỉnh Kanchanaburi gần biên giới Thái-Miến Ðiện, lập năm 1994 là nơi tu hành của các vị đại sư và thuần dưỡng các loài thú dữ trong đó có cọp. Tính tới năm 2007 chùa đã có tới 21 con cọp thuộc giống Bengal xuất xứ từ Nam Dương. Cọp được nuôi trong các lòng riêng bằng thịt gà hay bò nấu chín và thịt mèo khô để cọp quên đi bản chất hung hăng khát máu. Muốn vào thăm đàn cọp phải mua vé giá 500 bath, các nhân viên thiện nguyện quốc tế và dân địa phương thường xuyên tới chùa chăm sóc và tắm rữa cho đàn cọp.

    Tóm lại cọp đã đi vào đời sống con người như một huyền thoại, được tôn sùng là chúa tể sơn lâm cũng như cúng bái như một vị thần linh dù cọp và con người luôn đối mặt như hai kẻ tử thù. Gì chăng nữa nó cũng chỉ là một con vật không hơn không kém dù tinh khôn và có sức mạnh phi thường nhưng với bản chất tàn ác gian ngoa thì sớm muộn phải bị tiêu diệt, đó cũng là luật trời. Câu chuyện ‘Hà Chánh Ư Mãnh Hổ‘ của Khổng Phu Tử đã nói lên sự so sánh trên.

    ‘Cọp chết để da, người ta chết để tiếng‘ ý nói cọp và người khi sống làm gì thì lúc chết chưa phải là hết (cọp để lại bộ da..) còn người lưu lại những thị phi mãi mãi. Tóm lại muôn loài trong vũ trụ từ người tới vật không ai có thể cải lại luật trời. Cọp là loài ác thú phá phách giết hại người và vật yếu hơn mình, nay theo luật tuần hoàn bị người tiêu diệt. CSVN rồi cũng sẽ như loài cọp dữ, sau bao chục năm tác quái tham tàn buôn dân bán nước, nên theo luật tuần hoàn chắc chắn không sớm thì muộn cũng sẽ bị diệt vong. Ðó là nhân quả chạy đâu cho khỏi luật trời.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Tháng 11-2009
    Mường Giang
  5. ÐÊM THÁNH VÔ CÙNG QUA NHỮNG NẼO ÐƯỜNG THẾ GIỚI

    MƯỜNG GIANG


    Mặc cho thiên hạ tới nay vẫn còn bàn cải sôi nổi về ngày sinh của Chúa Jesus, mà họ đã ước đoán khi dựa vào kinh thánh hay tính toán theo chu kỳ xuất hiện của ngôi sao sáng trên bầu trời Bethlehem lúc chúa ra đời hoặc căn cứ theo lời ghi chép của Thánh Lục nơi chương 2 trong thánh kinh. Theo đó thì Chúa sinh vào khoảng năm 6 hay 7 trước Tây Lịch (TrTL). Và dù cho đó là sự thật thì cũng chẳng thấy ai lên tiếng đòi thay đổi ngày sinh của Chúa, bởi vì suốt 20 thế kỷ qua, quan niệm về Chúa ra đời vào năm 1 đã trở thành một huyền thoại vĩnh cửu trong tâm trí của nhân loại.

    Tuy nhiên có một điều mà mọi người đều châp nhận là cách đây hơn 2000 năm, giữa lúc mùa đông đến với tuyết phủ trắng xóa khắp cánh đồng mông mênh. Vì phải gấp rút trở về Bethlehem theo lệnh kiểm tra dân số của Hoàng đế La Mã là Augusto, nên vợ chồng ông Giuse và bà Maria phải chịu cảnh lạnh lẽo ngoài trời bởi không tiền mướn nhà trọ. Theo thánh kinh ghi chép, thì chính trong đêm 24 rạng ngày 25, năm 1 sau Tây Lịch, bà Maria đã hạ sinh Chúa Jesus nơi máng cỏ, trong một túp lều của người chăn chiên bỏ trống.

    Suốt ba thế kỷ đầu Tây Lịch, các tín đồ Thiên Chúa Giáo vẫn chưa thống nhất ngày lễ giáng sinh do sự bất đồng ý kiến của các cấp lãnh đạo. Bởi vậy tới năm 98 sau Tây Lịch, người dân La Mã mới bắt đầu mừng lễ Giáng Sinh. Năm 137 giám mục thành La Mã là Telesphoros chọn ngày Giáng Sinh là quốc lễ. Năm 350 Giám Mục Juluis I lấy ngày 25 tháng 12 làm sinh nhật Chúa. Năm 521 hoàng đế Arhthr cho tổ chức lễ Giáng Sinh đầu tiên tại Anh.

    Nếu không bị phân chia thành nhiều tông phái, đạo Thiên Chúa ngày nay có hơn 1 tỷ tín đồ khắp thế giới. Vì vậy tùy theo ngôn ngữ địa phương như VN thì gọi là lễ Giáng Sinh hay sinh nhật Chúa. La Mã gọi Dies Natalis Domini, Pháp kêu là Noel, Ðức qua danh xưng Weihnacht, Ý kêu Il Natale, Mỹ Anh Úc Canada gọi chung là Christmas, Tây Ban Nha, Mễ Tay Cơ và các nước Nam Mỹ gọi chung là La Navidad, còn Nga kêu Rozh Destrokrista..

    Nhưng dù có gọi bằng ngôn ngữ gì chăng nữa thì những lời nhạc thánh thoát cũng vang lừng khắp thế giới trong ngày sinh nhật Chúa, giữa đêm đông băng giá rét lạnh từ những ngôi giáo đường thơm lừng mùi nến lẫn hương hoa huệ trắng cho tới tận những thôn làng hẻo lánh cô đơn, tín đồ Thiên Chúa Giáo cũng như kẻ ngoại đạo.. gần như hân hoan chào đón một đêm thánh vô cùng:

    ‘Tille nacht, heilige nacht
    Silent night, holy night
    Douce nuit, Sainte nuit...’


    + Ðêm Giáng Sinh tại Tòa Thánh La Mã, Irael và Palestine:

    Từ trước tới nay, thánh địa của Thiên Chúa Giáo vẫn là vương quốc Vatican tuy có lảnh thổ nằm trong thủ đô Rome nước Ý nhưng vào năm 1929 đã được Mussolini công nhận là một quốc gia độc lập, bất khả xâm phạm. Người La Mã xưa là dân tộc đầu tiên tổ chức lễ Giáng Sinh. Lúc đó vì có sự trùng hợp với ngày lễ kỷ niệm vị thần nông nghiệp của họ là thánh Saturnalia nên hai cuộc lễ trên được nhập chung rất vui vẽ náo nhiệt, nhất là vào những năm được trúng mùa. Tuy nhiên cuộc vui thường kéo dài cả tháng 12 gây trở ngại cho sinh hoạt của người dân Vì vậy vào năm 389 sau tây lịch, Giám Mục Gregory thuộc địa phận Naianzus đã chấn chỉnh lại cách tổ chức ngày sinh nhật Chúa và đã loại bỏ nhiều hủ tục của địa phương trong đêm Giáng Sinh, chẳng hạn như mang mặt na với thân thể lỏa lồ ngông nghênh diễn qua khắp phố hay tổ chức các cuộc hành dâm tập thể nơi công cộng hoặc dùng các bộ y phục may bằng loại da thú ghê tởm.

    Qua đến đầu thế kỷ thứ IV, tòa thánh La Mã đã cho xây dựng đại giáo đường St Peter tại Rome bằng tường gạch mái lợp gổ. Từ năm 1453-1609, giáo đường đã qua nhiều đợt đại tu bổ và tái thiết theo kiểu Baroque do các kiến trúc sư lừng danh thuở đó như Bramande, Raphael, Michelangelo.. đãm trách.

    Ngày nay thánh đường St.Peter là một trong những đại giáo đuờng vĩ đại và lừng danh nhất thế giới với sự nguy nga tráng lệ, đứng sừng sững uy nghi giữa quảng trường thánh Phêrô có thể chứa trên 100.000 người. Vào những ngày lễ hội đặc biệt là đêm Giáng Sinh, bên trong thánh đường đèn hoa rực rở muôn màu, từ 800 hàng cột, 44 bệ thờ .. tỏa ánh sáng và mùi hương thánh thoát tràn lan khắp kinh đô nước Ý.

    Từ hai mươi năm trở lại, tòa thánh đã có nhiều thay đổi nhằm tiết kiệm ngân quỷ. Vì vậy dù cây giáng sinh vẫn được tồn tại theo cổ tục nhưng phần lớn chỉ được trang trí tại các nhà giữ trẻ với các món quà tặng của ông già Noel mang đến vào giữa đêm 25 tháng 12 . Cũng trong đêm này, người Ý cũng như khách hành hương ngoại quốc đều tập trung tại thánh đường St Peter giữa quảng trường thánh Pherô. Lễ hội kéo dài suốt đêm, mọi người vừa hành lễ cũng như nhảy nhót ca hát chúc tụng. Nhiều chương trình ca nhạc được diễn ra cùng lúc tại Via, đồi Aventine, nhà nguyện Sixtine, quảng trường Campitell với các bản thánh ca trứ danh của Villa Laboa, Beethoven, Brahma, Ravel, Janacek và Stravinsky..

    Dịp này các chủ khách sạn tha hồ hốt bạc nhất là các hotel ở Roma như Ambasciaten, Place, Bernin Bristol, Cavelieri, Hilton, Edan.. Tiền mướn phòng tăng vọt kỷ lục từ 400.000 Lire đến 1 triệu (tương đương khoảng 350 - 700 Mỹ kim) nhưng tất cả đều chật ních. Còn các đường phố quanh quảng trường Popolo, Spagna, Corse... trở thành các khu chợ trời bày bán đủ các món hàng dành cho Giáng Sinh và Tết Dương Lịch.

    Trong khi đó bên trời đông, từ năm 2000 đã bắt đầu một thiên niên kỷ mới của thế kỷ XXI, nhà cầm quyền Nazareth của Do Thái đã bỏ ra cả 100 triệu đô la để trùng tu và sửa sang lại thánh địa Jérusalem vùng đất được mệnh danh là cái nôi văn minh của thế giới vì sự ra đời và giao thoa của ba đại tôn giáo hoàn cầu: Dạo Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo. Tất cả được tái thiết đẹp đẽ từ những con đường cũ in dấu bước chân của Chúa qua lại, đều được lột bỏ hết lớp nhựa đường và lớp ciment tráng để thay vào đó là những tảng đá vôi nguyên thủy. Nhiều khách sạn mới được xây cát tại khu Núi Vực là nơi mà dân Do Thái đã xô Chúa xuống vực thẳm như kinh Tân Ước đã ghi.

    Tại thành phố Bethlehem nay thuộc Palestine cũng được chuẩn bị ráo riết để đón trên 5 triệu du khách tới hành hương trong mùa Giáng Sinh. Một công viên được xây dựng nơi Chúa ra đời để các tín đồ hành lễ. Cùng lúc các thành phố Nazareth (60.000 dân) tuy phần lớn là người Ả Rập nhưng thuộc Do Thái cũng được chỉnh trang vì có sự hiện hữu của hai ngôi thanh đường nổi tiếng rất lâu đời : Giáo đường Truyền tin của Tòa Thánh La Mã và Nhà Thờ Hy Lạp thuộc Giáo Hội Chính Thống Ðông Phương. Theo truyền thuyết chính nơi này Thiên thần Gabriel đã hiện ra báo mộng bà Maria sẽ sinh đức Emmanuel, chính là con Thiên Chúa làm người trần gian để cứu khổ cứu nạn cho nhân loại. Riêng các công trình xây dựng tại Bethlehem được các nước Thụy Ðiển, Ý, Ðức.. tài trợ. Tuy nhiên xây dựng rồi tàn phá, tất cả cũng đều do bàn tay của con người quyết định nhất là tại miền đất này, chiến tranh hầu như không bao giớ vắng bóng suốt hai ngàn năm qua tới nay vẫn không thay đổi.

    + Ðêm Thánh Vô Cùng Khắp Nơi trên Thế Giới:

    HOA KỲ: Chính những di dân người Anh đã mang các tập tục về lễ Giáng Sinh vào Hoa Kỳ và người Mỹ đã tổ chức đêm sinh nhật Chúa đầu tiên vào năm 1686 tại thành phố Boston nhưng phải đợi thêm hai thế kỷ sau, Quốc Hội nước này mới chịu công nhận Giáng Sinh là quốc lễ (1856). Có điều trái ngược là dù được tổ chức rất muộn màng so với các nước theo đáo Thiên Chúa trên thế giới nhưng hầu hết các huyền thoại liên quan đến đêm Thánh đều có xuất xứ từ nước cờ hoa. Ðó là phát minh của ký giả Washington Ivring vào năm 1809, lngười đã tưởng tượng về hình dáng ông già Noel là một cụ già béo mập, ngự trên chiếc xe do bầy tuần lộc kéo. Còn Bác Sĩ Clement C. Moore vào năm 1822 đã sáng tác bài thơ ‘Thánh Nicholas Viếng Thăm‘. Ðặc biệt họa sĩ Nast vào năm 1863 đã vẽ hình ông già Noel phúc hậu béo tròn, có chiếc mũi đỏ như trái cà chua, được đăng trên tờ Harper’s Illustrated Weekly tới nay vẫn còn tồn tại.

    Nước Mỹ chiếm kỷ lục về việc dùng thông trang hoàng trong mùa giáng sinh với số lượng trên 21 triệu cây mỗi năm. Sự kiện trên khiến cho Tổng Thống Theodore Roosevelt phải lên tiếng để bảo vệ cho sự sinh tồn của giống cây này. Theo thông lệ vào dịp lễ Giáng Sinh hằng năm, một cây thông to cao và đẹp nhất được chuyển tới vườn hoa của Tòa Bạch Ốc để trang trí. Theo báo chí ghi nhận thì ngày 6-12-1996 chính tay TT. Bill Clinton mở hệ thống của 9500 bóng đèn giăng mắc trên cây thông năm đó cao 40 ft. Tuy đẹp nhưng vẫn thua cây thông lễ Giáng Sinh năm 1950 cao tới 212 ft nặng 25 tấn.

    Thành phố New York là trung tâm tài chính số 1 của Hoa Kỳ và cả thế giới nên vào những tuần lễ trước Giáng Sinh, nơi này đã biến thành những kho hàng bách hóa khổng lồ. Từ hè phố vào tới trong tiệm mở cửa buôn ban suốt ngày đêm các sản phẩm mặt hàng mới, đồ thời trang và đồ chơi dành cho trẻ em tràn ngập thị trường.

    Trong khi đó những chương trình hòa tấu văn nghệ dành cho mùa Noel được trình diễn liên tục khắp các trung tâm buôn bán từ Rockefeller cho tới Radio Music Hall, Carnegie Hall.. với sự trình diễn của các ban nhạc và nam nữ ca sĩ tài danh thượng thặng. Rồi thì đêm giáng sinh cũng như đêm đón giao thừa tết dương lịch, mọi người đều đổ xô về các nơi công cộng trên đại lộ Madison, đường số 5, các khách sạn tại trung tâm thành phố như Plaza và Rockefeller, các đại vũ trường ở Waldorf, Astoria, Time Square.. để ăn uống, nhậu nhet, ca hát và khiêu vũ suốt đêm.

    ANH: Nước này tổ chức lễ Giáng Sinh lần đầu vào năm 521 sau tây lịch nhân dịp Hoàng Đế Arthur chiếm lại được miền York từ tay người Ái Nhĩ Lan. Thế kỷ thứ IX, Hoàng Đế Alfred trị vì vương quốc Anh đã ký sắc lệnh cho phép dân chúng được vui chơi 12 ngày trong mùa lể giáng sinh. Tập tục này kéo dài tới triều đại Norman vào năm 1066, các nước Âu Châu khác cũng bắt chước người Anh tổ chức ăn mừng mùa Giáng Sinh bằng tiệc tùng, lễ lạc, ca nhạc và các hội chợ vui nhộn kéo dài suốt tháng 12.

    Sau năm 1066, Anh thuộc quyền cai trị của dòng họ Oliver Cromwell theo Tân Giáo Puritan đã ra lệnh cho quốc hội ban hành nhiều đạo luật ngăn cấm việc tổ chức các thánh lễ trong đó Ngày Sinh Nhật Chúa. Cũng từ đó người Anh chỉ còn được phép tổ chức lễ Giáng Sinh tại tư gia vào đêm 25 tháng 12 hằng năm mà thôi. Do đó những nguời Anh theo giáo phái Puritan di cư sang vùng England vẫn không tổ chức đêm Giáng Sinh. Tình trạng này kéo dài tới hậu bán thế kỷ thứ XIX mới chịu hòa nhập vào dòng tín ngưỡng hiện hữu tại Hoa Kỳ.

    Năm 1660 Hoàng Đế Charles đệ II lật đổ dòng họ Cromwell và triệt hạ giáo phái Puritan, cho phép dân chúng Anh được tổ chức lễ giáng sinh hằng năm, tới nay vẫn không thay đổi. Tại Luân Ðôn, vào dịp lễ Giáng Sinh kéo dài tới tết Dương Lịch, nhà nhà đều trang hoàng cây Noel với đèn hoa rực rở. Sau khi dự thánh lễ nữa đêm tại các giáo đường, mọi người đều về nhà và tụ tập trước cây giáng sinh để ăn uống nhảy múa ca hát với món Gà Quay đặc biệt.

    Tại các địa điểm công cộng đều có trình diễn các chương trình hòa nhạc. Nhiều đoàn kịch cũng tới biểu diễn cho dân chúng thưởng thức tại các nhà hát lớn ở thủ đô như Salder, Edward.. với cac vở kịch về tôn giáo như Ðứa Con của Eden, Cindrella, Ðứa Con Của Chúa.. Giàn nhạc của Hoàng Gia Anh cũng góp phần trình diễn để giúp vui cho mọi người. Dịp này giá sinh hoạt tại Luân Ðôn tăng vọt tới mức kinh khũng, từ môt đêm mướn phòng tại khach sạn tới bửa ăn mừng Giáng Sinh, lên tới 2000 đô la Mỹ.

    PHÁP: Ngay từ thời trung cổ, Pháp đã nổi tiếng là chíếc nôi văn hóa của Châu Âu, bởi vậy đêm Giáng Sinh cũng được tổ chức rất trọng thể đặc biệt tại Ba Lê, đêm Noel còn được gọi là đêm ‘Hoa Ðăng‘. Thật vậy trong đêm đó tại kinh đô ánh sáng của Pháp rực rỡ muôn màu không khác gì một bà hoàng kiêu sa diễm lệ. Mọi người đều đổ xô về các khu vực công cộng đông nghẹt như đang trẩy hội. Khắp nơi chốn từ các khu ăn chơi sang trọng cho tới những ngỏ phố tăm tối đìu hiu, ở đâu cũng vang dậy những lời chúc tụng Giáng Sinh và mừng năm mới ‘Joyeux Noel‘.

    Các bar, tiệm nhảy, night club mở cửa suốt đêm để mọi người ăn uống, ca hát và nhảy nhót chúc tụng lẫn nhau bằng những ước mong tốt đẹp chân thành. Nơi tập trung đông nhất vẫn là khu trung tâm Saint Eustache và Nhà thờ Ðức Bà. Các đoàn ca kịch tôn giáo được trình diễn tại Sacré Coeur, Montmatre và đại hý viện Opera với các vở kịch trứ danh của Naui Hakim như vở ‘Ðám cưới Figaro và Otello‘.

    Dịp này các chủ khách sạn và nhà kinh doanh tha hồ hốt bạc qua các chương trình hấp dẫn như hotel George V với Tour giáng sinh bao gồm ăn ở, thăm bảo tàng Ba Lê và đi tàu thăm cảnh hai bên bờ sông Seine trong ba ngày với giá 1500 USD (7000 F). Nói chung tiền thuê phòng tại các khách sạn đều tăng vọt, còn khu buôn bán đều tập trung tại các địa điểm quanh quốc hội Pháp như Montmartre, Saint Germain, Opera.. và các khu chợ. Còn các trung tâm trưng bày nghệ thuật thì tập trung tại Beaubourg và Bastille.

    Tại thành phố Strabourg, năm nào tới Giáng Sinh cũng được tổ chức rất trọng thể và linh đình, nhất là sau khi Áo chịu kết nghĩa với Pháp. Công trường chính Christkin Delsmarik của thành phố là nơi đã cử hành lễ Giáng Sinh đầu tiên vào năm 426 sau tây lịch. Con đường dẫn tới thánh đường và đại lộ Hallbebardes được trang trí lộng lẫy ngoạn mục. Trên công trường Kleber dựng một cây thông lớn đốn từ vùng núi Vosges và một chiếc máng cỏ đặc biệt sản xuất từ tỉnh Provence. Không khí đêm Giáng Sinh rất vui vẽ nhộn nhịp nhờ có sự giúp vui của các ca đoàn trình diễn khắp các công trường và thánh đường. Ngoài ra đây cũng là nơi sản xuất loại bánh Hạnh Nhân Rang dùng trong đêm Noel làm bằng quế, bột vanila tẳm chanh.

    Vùng Alsace có thánh bổn đạo là Nicolas nên người địa phương tổ chức Giáng Sinh vào ngày 6 tháng 12 theo truyền thống của các dân tộc Ðức, Ý, Bourgogne trong đế quốc cổ Saint Empire Romain Germaniqua. Vào dịp lễ Giáng Sinh đều có tổ chức hội chợ Nicolas bày bán bánh kẹo và đồ chơi trẻ em. Tại đây còn có tập tục đặt đôi guốc gổ dưới chân cây thông trong nhà, còn phố xá thì rộn rịp tới cuối tháng 12 mới dứt.

    Hiện trong thành phố Strabourg còn tồn tại hơn 220 căn nhà gổ có nguồn gốc từ xa xưa. Về cây thông dựng ở công trường chính của miền Alsace cũng có sự liên hệ tới nước Áo về phương diện lịch sử vì đây là lảnh thổ của nước này bị vua Louis 14 của Pháp cưởng chiếm và sáp nhập vào lảnh thổ năm 1648. Vì vậy miền này còn có tên là Tiểu Áo với thủ phủ là thành phố Ensinhein. Hằng năm vào dịp lễ Giáng Sinh, chánh quyền thành phố phát không cho dân chúng 10.000 ngọn nến và một gói quà giá trị, đồng thời kêu gọi mọi người tham gia cuộc lễ đông đủ. Ðêm đó hơn 100.000 ngọn đèn đủ màu sắc được giăng mắc khắp nơi khiến cho đêm trong thành phố càng thêm diểm lệ trong đêm thánh vô cùng.

    ÐỨC: Tù năm 1991 Ðức thống nhất lảnh thổ và vươn lên thành một siêu cường kinh tế hạng ba sau Hoa Kỳ và Nhật Bản, dẫn đầu khối Liên Âu. Do trên hằng năm cứ đến giáng sinh và tết Dương Lịch, dân Ðức tiêu xài rất lớn.

    Bắt đầu từ tuần lễ cuối tháng 11 kéo dài tới đêm 25-12, các đường phố lớn tại thủ đô Bá Linh bày bán đủ các mặt hàng dành cho mùa giáng sinh. Riêng các khách sạn thì tăng giá vùn vụt gấp đôi lúc bình thường nhát là Grand Hotel ở đông Bắc Linh, chỉ riêng tiền mướn phòng lên tới 300 USD (500 Mark). Trong đêm Giáng Sinh, dân Ðức tụ tập về các nhà hát lớn như Opera để diễn vở kịch Mathis Der Malor của Paul Hindemita và dự các buổi hòa tấu do dàn nhạc của thành phổ trình diễn suốt đêm ngày. Song song là các cuộc triển lãm tranh ảnh, nghệ thuật và văn học.

    NGA: Khi lớp tuyết trắng mịn đã phủ đầy mặt đất và khắp mái nhà. Khi những đàn gấu trắng gấu nâu bắt đầu chun vào các hốc núi hang sâu để ngủ. Khi mặt trời chỉ còn đủ ánh sáng soi rõ đường lăn của những xe trượt tuyết, cũng là lúc mùa đông đã về trên đại lục Liên Bang Nga với mùa Giáng Sinh bắt đầu. Khác với những người theo đạo Thiên Chúa khắp nơi trên thế giới đón lễ Giáng Sinh vào đêm 25-12, người Nga từ năm 1918 đón mừng đêm Noel vào ngày 6 và 7 tháng Giêng theo chính thống giáo.

    Qua những tập tục truyền thống, kỳ ăn kiêng của người Nga trước lể Giáng Sinh bắt đầu từ 28/11 tới ngày 6/1 (theo lịch Gregorian) gồm thịt sữa và cấm uống rượu Vodka và đường. Ðêm trước lễ Giáng Sinh, tín đồ chỉ được uống nước và ăn một thứ bánh dẹp làm bằng đậu lăng chiên bằng dầu thực vật gọi là Sochniki. Cũng trong đêm đó khắp nước Nga, các tín đồ theo dõi những ngôi sao nhỏ đầu tiên xuất hiện trong đêm cũng là lúc họ bắt đầu hành lễ, đọc kinh cầu nguyện xin Chúa ban phước lành cho gia đình, sau đó mới vào nhà quây quần bên bữa tiệc Giáng Sinh.

    Về ý nghĩa của 40 ngày ăn kiêng là để nhớ tới 40 năm mà Mases đã dẫn dân Do Thái vượt qua được sa mạc mịt mù để về miền đất hứa. Thời gian này, mọi người đều tham dự các thanh lễ, bố thí của cải tặng phẩm cho người nghèo, trẻ mồ côi, bệnh nhân và tội phạm. Từ ngày 23/12 (5-1 theo lịch mới) dân Nga hầu như đình chỉ mọi sinh hoạt. Các trường học, công sở, công ty.. nghĩ 2 tuần, trong lúc đó nông thôn mọi người đã đình chỉ mọi công việc đồng áng từ đầu tháng 12. Các hội chợ Christmas Eve được mở khắp nơi để dân chúng mua sắm trong đó có cây thông dùng để trang hoàng nhà cửa, tập tục này đã có từ thời Peter đại đế. Ai cũng bận rộn suốt ngày giáng sinh với các nghi lễ Nguyên Sáng (Martins) và tháng Basil.

    Ðặc biệt người Nga rất coi trọng việc trang hoàng cây thông nên công việc này được cả gia đình thực hiện trong đêm trước lễ, trong đó các ngôi sao Bethlehem được giăng mắc khắp nơi. Nói chung là bữa ăn giáng sinh của người Nga rất trang trọng và cảm động. Thực đơn luôn có ngổng quay với táo nướng theo tập quán và chỉ được uống rượu Vodka sau khi mọi người đã hoàn tất thánh lễ nửa đêm tại nhà thờ, chấmdứt 40 ngày ăn kiêng. Nhưng náo nức nhất vẫn là lủ trẻ nôn nóng chờ ông già Noel xuất hiện để tặng quà. Mọi người cùng tham dự lễ hóa trang và đồng hát bài thánh ca của nước họ:

    ‘Con như đứa trẻ nhỏ nhoi
    kính dâng lên Chúa lời thơ hát mừng
    máng cỏ xanh, Chúa ra đời
    Giáng sinh hạnh phúc, tưng bừng sáng nay...’


    Trong lúc đó nơi bầu trời đen thẩm, qua sự náo nức của triệu triệu trái tim, ngôi sao Bethlehem đầu tiên trong năm vụt hiện ra sáng soi rực rỡ, mang niềm tin bất tận đến cho mọi người.

    BA LAN: Hơn 100 năm qua, Ba Lan là một quốc gia Ðông Âu chịu nhiều đau khổ nhất vì những cuộc xâm lăng liên tục của Nga Xô và Ðức Quốc Xã. Vì vậy nước này đã từng bị xóa tên trên bản đồ thế giới vào năm 1795, trở thành nô lệ cho các nước mạnh quanh vùng hơn một thế kỷ mới được hồi sinh nhờ công lao phục quốc của vị anh hùng Josep Pilsudski.

    Hầu hết người Ba Lan theo đạo Thiên Chúa và dù nước này sống dưới ách thống trị của cộng sản thân Nga nhưng Hồng Y Karol Wojtyla đã được bầu làm Ðức Giáo Hoàng ngày 16-10-1978 với danh xưng John Paul II. Thủ đô của Ba Lan là Warsaw là một thành phố của những người sùng đạo nhất là từ sau năm 1989 nước này đã chính thức trở thành một quốc gia tự do độc lập không còn theo chế độ Cộng Sản nữa.

    Cũng từ đó người Ba Lan đã tổ chức Giáng Sinh và tết Dương Lịch rất long trọng. Sau khi dự lễ nữa đêm xong, mọi người túa ra đường phố ăn uống, ca hát nhảy múa cho tới sáng vừa mừng Giáng Sinh và tết dương lịch sắp sang. Một số đông khác đến các nhà hát lớn để dự buổi hòa tấu thánh ca do ca đoàn Nutcracker của giáo hội Thiên Chúa Giáo Ba Lan phụ trách. Tại đây còn trình diễn vỡ Opéra ‘Die Fledermaus‘. Các hàng quán mở cửa suốt đêm bán các món ăn Ba Lan, Ðức và Trung Hoa. Ðặc biệt khách sạn tại thủ đô Ba Lan có giá cả rẽ hơn các nước Tây Âu với tiền mướn khoảng 100 USD/1 đêm tại các hotel quốc tế như Orbia Victoria, Intercontinental, Marriott..

    Bắt đầu từ cuối tháng 11 tới ngày 25/12 cửa hàng buôn bán tấp nập các sản phẩm dành cho Giáng Sinh và tết Dương Lịch, tập trung tại các khu Marskzakowaka, Jerozolinskie, Oldtown, Wieto Hizyska..

    CANADA: Hằng năm cứ đến cuối tháng 10 khi mà trên mặt tuyết chỉ còn trơ lại những cây xanh bất tử như Mistletoe, Ivy, Pine, Prolly, thông.. cũng là lúc mọi người bắt đầu chuẩn bị mừng giáng sinh và tết dương lịch. Tại Toronto, thủ phủ của tiểu bang Ontario rất rộn rịp với những gian hàng bán các sản phẩm giáng sinh như thông xanh, hình ông già Noel cho tới đồ chơi dành cho trẻ con (trung tâm Walt Disney, Toy’s US...) nhưng tấp nập nhất vẫn là khu bán sách báo, vì ai cũng cần mua thiệp chúc Noel và tết Dương Lịch ‘made in Canada‘ cùng với các đặc san nói về truyền thống lễ sinh nhật Chúa.

    Mùa này hầu như tất cả các trung tâm thương mại tại Canada đều đại hạ giá để câu khách hàng tại Yorkdale, North York, Scraborough Town, Woodbine, Hudon’s Bay.. Nhưng đồ sộ nhất vẫn là trung tâm Eaton Center với hơn 320 chi nhánh khắp thế giới, được thành lập từ năm 1970. Ngoài quang cảnh nhộn nhịp của thiên hạ đi mua sắm, còn có lễ rước ông già Noel hằng năm gọi là ‘Santa ‘s Parada‘ có từ năm 1905 được lưu truyền tới ngày nay.

    Có hằng trăm ngàn người Canada và du khách nước ngoài, trong đó có Hoa Kỳ từ các tiểu bang lân cận, kéo về tham dự ngày Santa’s Parada gồm người lớn lẫn trẻ nít.. Cuộc diễn hành luôn được thực hiện dù cho thời tiết có thay đổi đột ngột. Nói chung thiên hạ đội mưa tuyết giá lạnh để đi xem diễn hành tại các đường phố như Blosr West, Queen Park Crescent, University, Front East.. Xe cảnh sát dẫn đầu đoàn diễn hành rồi tới xe hoa bưu điện, đoàn quân nhạc với y phục cổ truyền đỏ đội mũ cao màu đen, sau đó là các xe hoa đủ màu đe kiểu với các bộ đồng phục biểu tượng của cơ quan, đoàn thể, trường học, công ty.. cuối cùng mới tới xe hoa của ông già Noel. Ðây là nhân vật chính của cuộc lễ đứng trên một xe trượt tuyết do tám con tuần lộc kéo, theo đúng truyền thuyết mà sách báo đã ghi lại. Mọi người từ lớn tới bé đều vổ tay và chúc mừng vang dội cả mõt góc trời.

    Cảnh nhộn nhịp kéo dài tới chiều 24 tháng 12 thì kết thúc vì ai cũng hối hả trở về nhà để xum họp với gia đình trong đêm Giáng Sinh mặc cho ngoài trời mông mênh tuyết lạnh.

    NHẬT BẢN: Theo sử liệu thì Hòa Lan là nước Tây phương đầu tiên tới Nhật vì tàu buôn bị bão phải táp vào đảo quốc này và được chính quyền thời đó là Tokugawa Bakufu cho phép mở thương hiệu tại Hirado vào năm 1600. Theo chân các thương gia là những phái bộ truyền giáo đạo Thiên Chúa, tới năm 1610 đã có hơn 70 vạn người theo đạo này. Do đó lãnh chúa Tokugawa Ieyaso đã ban lệnh cấm đạo và bế quan tỏa cảng như tại Tàu và VN.

    Có lẽ vì bị áp chế quá mức nên vào năm 1637 đã có cuộc bạo loạn của hơn 20.000 tín đồ đạo Thiên Chúa do các võ sĩ (Ronin) cầm đầu tại Shimabara và miền tây Kyushu. Ngoại trừ một ít người Hòa Lan và Tàu được ở lại buôn bán tại Trường Kỳ (Nagasaky), còn những người tây phương khac như Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Anh... đều bị trục xuất khỏi Nhật. Tình trạng này kéo dài tới 200 năm sau, khi chiến hạm của Hoa Kỳ do Đề Đốc Perry tới thị uy nên Nhật đã mở cửa cho người ngoại quốc vào buôn bán vào năm 1853.

    Tại Nhật vào tháng 12 có rất nhiều lễ hội và mặc dù tại đây hầu hết đều theo Phật giáo nhưng vẫn tổ chức đón mừng Giáng Sinh cùng lúc với các lễ hội khác như ngày 5/12 tại điện thờ Suitengu, ngày 21/12 đền Nishiarai, ngày 24/12 đền Kogaji, ngày 27-29/12 đền Yagenbori Fudose.. Do đó trong tháng này tiền thuê khách sạn tại Ðông Kinh (Tokyo) tăng cao nhất là ở các khách sạn lớn như Akasaka. Việc mua bán vào dịp Giáng Sinh và tết dương lịch bắt đầu từ tháng 11 cho tới cuối năm tại các trung tâm thương mại Aoyama. Shibuya, Hajuku và Shinjuku..

    Vào đêm Giáng Sinh, các tín đồ Thiên Chúa và Tin Lành tới làm lễ tại các nhà thờ, còn đám đông người Nhật ngoại đạo thì tụ tập tại các khu ăn chơi để nhảy nhót ca hát tới sáng.

    TÂN GIA BA: Tuy chỉ có hơn 3 triệu dân nhưng người Tân Gia Ba theo rất nhiều tín ngưỡng như Phật, Lảo, Khổng, Bà La Môn, Hồi Giáo, Thiên Chúa và Tin Lành. Quốc gia này đón tết Nguyên Đán theo Âm Lịch đồng lúc với lễ Giáng Sinh và tết Dương Lịch theo tây phương.

    Trong đêm Noel, khu vực nằm giữa các đại lộ Tudor, quảng trường Mariana, đường Scott.. được giăng mắc hoa đèn trăm màu rực rỡ sáng như ban ngày với dòng người qua lại tràn ngập như thác đổ, từ lề ra tới giữa đường chỉ toàn là người đi bộ. Luật Tân Gia Ba nghiêm cấm dân chúng làm ất thuần phong mỹ tục nơi công cộng nên đêm giáng sinh ở đây không có cảnh rượu chè, nhảy nhót loạn xạ ngoài phố. Nhưng mọi người vẫn tổ chức tiệc tùng khiêu vũ tại tư gia, quán ăn, vũ trường, khách sạn để đón mừng sinh nhật Chúa. Tại các khu vực công cộng có hòa nhạc giúp vui trong đêm lễ.

    HỒNG KÔNG: Cũng như Nhật Bản và Tân Gia Ba tuy người Hồng Kông hầu hết theo Phật giáo nhưng họ vẫn tổ chức đón mừng đêm lễ Giáng Sinh rất trọng thể. Ngoài các tiệc tùng tại tư gia, dân chúng còn kéo ra đường ăn uống nhảy nhót suốt đêm lễ. Dịp này các hảng phim đều tổ chức các buổi liên hoan nghệ thuật phim ảnh Hồng Kông với sự tham dự của hầu hết các nam nữ tài tử nổi tiếng đương thời.

    Tại các nhà hát lớn cũng như các trung tâm văn hóa tại đặc khu.. trình diễn kịch của Shakespeare và hòa tấu những đại tác phẩm của nhạc sư Mozart.. Các tiệm ăn lớn nhỏ mở của suốt đêm với các món ăn Trung Hoa.

    Trước ngày 30-4-1975 tại miền Nam VN, mặc dù đất nước lúc đó đang sống trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng đêm giáng sinh hằng năm đều được mọi người tổ chức trọng thể cho dù có hay ngoại đạo.

    Từ đầu tháng 11 dương lịch, thủ đô Sài Gòn đã có hơi hám giáng sinh nhất là tại khu vực quanh nhà thờ Ðức Bà, Tân Ðịnh, Thị Nghè.. các cửa hiệu đã bắt đầu bày bán hàng giáng sinh như thông giả, hang đá, lồng đèn ngôi sao, cờ và giấy hoa. Từ lâu người miền Nam gọi lễ giáng sinh là Noel chứ không gọi Christmas dù lính Mỹ và Ðồng Minh đang có mặt.

    Chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp, các gia đình trung lưu VN sau khi dự lễ ở nhà thờ về, nhà nào cũng mở tiệc Réveillon để cùng bạn bè thân thuộc vui vầy. Thật không có gì hạnh phúc cho bằng vào những đêm giáng sinh xa xưa, tuy là người ngoại đạo nhưng được bè bạn cho tham dự buổi tiệc vui trên, trong khung cảnh gia đình đầm ấm, bên cạnh cây thông lấp lánh đèn sao, bên tai văng vẵng những lời ca tiếng nhạc Giáng Sinh êm dịu như 'Il est né le divin enfant, Mon beau sapin, Noel, Noel Adeste Fideles, Venite Adoremus, Silent Night, Gingle Bell, Trời Cao, Cao Cung Lên, Hang Bélem..'

    Kể từ năm 1965 về sau, cuộc chiến đã bắt đầu leo thang nên tại các tỉnh và thành phố tổ chức các thánh lễ sớm hơn. Hình ảnh giáng sinh cũng được người miền Nam trào phúng hóa theo thời cuộc như ông già Noel quân đội đi giày trận đeo súng, còn các hang đá ở các doanh trại hay khu gia binh được làm bằng vỏ thùng đạn pháo binh. Tuy vậy tại Sài Gòn dân chúng vẫn bất chấp, đêm Giáng Sinh kéo ra đường vui chơi nhảy nhót nhất là giới thanh thiếu niên choai choai, mặc quần áo bó sát, từng cặp phóng xe Honda như điên trên các đường phố đông người. Riêng giới trung niên hay đứng tuổi thì ăn mặc rất lịch sự tao nhã khi dự lễ tại nhà thờ cũng như dạo phố. Vì vậy đêm Noel có phần vui hơn những ngày Tết Nguyên Ðán vì mọi người không lo nghĩ gì tới chuyện mua sắm nhức đầu.

    Từ năm 1966 tới 1974, năm nào chính phủ VNCH cũng đơn phương hưu chiến 24 giờ từ đêm 24 tới cả ngày 25/12 nhưng năm nào cũng bị CS Bắc Việt lợi dụng tấn công lén các đồn bót và pháo kích các tỉnh cũng như thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Ðịnh, gây thương vong nhiều người giữa lúc đồng bào đang hân hoan đón mừng sinh nhật Chúa.

    Sau khi miền Nam VN bị Bắc Việt cưởng chiếm vào cuối tháng 4-1975, nhiều câu chuyện tiếu lâm thời đại có liên quan tới Hồ triều xã nghĩa từ 1954-1975. Trong hàng ngàn câu chuyện kể, thãm thê và tàn nhẫn nhất vẫn là chuyện dài Hà Nội làm tiền nhà thờ, được nhắc đi nhắc lại tới ngày nay vẫn còn có người nhắc tới để nhớ đời.

    Lúc đó CS Bắc Việt vì muốn bịp đám da trắng Tây phương trong các phái bộ ngoại giao có Sứ Quán tại thủ đô Hà Nội rằng chế độ ta luôn tôn trọng tự do tín ngưởng. Vì vậy hằng năm cứ tới mùa Giáng Sinh thì chính quyền tự động cho công an cán bộ tới sửa sang sơn phết nhà thờ chính tòa. Sau đó vào đêm lễ Giáng Sinh cũng như Tết Dương Lịch, một số đông tín đồ cò mồi mà phần lớn là công an cán bộ và thân nhân, được phái tới nhà thờ trên dự lễ, cho bọn ký giả da trắng chụp hình viết bài phóng sự gủi về bản xứ đăng báo lên truyền hình tuyên truyền dùm cho chế độ.

    Thế rồi sau đó nhà thờ nhận được văn thư kèm hóa đơn của Cộng Sản Hà Nội đòi tiền chi phí sửa chửa, quét vôi, điện cho tới tiền mướn người đi dự lễ. Ðâu còn làm gì được nên Hồng Y lúc đó là Trịnh Như Khuê phải vơ vét tiền nong đểạ thanh toán và trò đời biển dâu dâu biển này cứ tái diễn suốt hai chục năm dài suốt mùa giáng sinh cho tới khi VC chiếm được miền Nam mới kết thúc.

    Mấy chục năm qua nơi xứ người, đêm giáng sinh nào cũng nghe được những bài thánh ca êm dịu nhân ái để rồi sau đó lặng lẽ rớt nước mắt trong đêm vắng khi nhớ về ‘những người năm xưa ấy, giờ lưu lạc phương nào?‘. Quá khứ tuổi thơ vụt sống lại với những mùa đông rất ngọt năm nào tại quê nhà, thuở cùng bạn bè trai gái làm báo tường báo lớp. Nay thì đã xa lắc xa lơ dù kỷ niệm vẫn chưa phai mờ trong tâm trí.

    Không biết đến bao giờ những người VN nghèo khổ đang sống lây lất ở quê nhà mới được thấm nhuần ơn Thiên Chúa như chân lý đã dạy ‘Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khổ, vì nước trời là của họ‘. Ðêm nay đêm thánh vô cùng đang trẩy hội, ta người ngoại đạo cũng đón mừng với giọt nước mắt ly hương lầm lũi trong gió mưa lạnh giá:

    ‘Ta lại khóc dù hồn như gổ đá
    nhìn dòng đời hờ hững giữa đêm đông‘




    Viết tại Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Chạp 2009
    Mường Giang
  6. Quang Trung Ðại Phá Quân Xiêm Tại Ðịnh Tường Vào Những Ngày Sắp Tết 1785

    - . MƯỜNG GIANG



    Trên bán đảo Ðông Dương, Ðại Việt và Xiêm La là hai con cọp lúc nào cũng muốn tranh giành ảnh hưởng chính trị với hai nước yếu nằm giữa là Chân Lạp và Ai Lao, nên trong quá khứ đã có nhiều đụng chạm giữa hai nước và lần nào người Xiêm cũng bị thảm bại trước sự dũng mãnh phi thường của nước Việt.

    Nhưng người Xiêm đã thật sự sợ dân Việt hơn cọp, sau khi bị vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) tiêu diệt hơn 2 vạn quân, đồng thời đốt rụi 300 tháp thuyền tại Vàm Rạch Gầm-Xoài Mút, tỉnh Ðịnh Tường, vào những ngày sắp Tết năm 1785. Từ đó tới nay, Xiêm La (Thái Lan) thâm thù người Việt đến tận xương tủy, nên hằng tìm đủ mọi cách để trả thù. Thảm kịch của đồng bào tị nạn Nam VN trên biển Ðông do hải tặc Thái Lan gây ra, được chính quyền nước này làm ngơ hay chỉ ngó tới một cách lơ là chiếu lệ, đã nói lên rõ ràng sự trả thù của vua chúa nước này đối với VN, qua những hận nhục bại trận quá khứ. Ðây cũng là một hệ lụy tất yếu của dân tộc hùng anh Ðại Việt, nhưng luôn bất hạnh vì thiếu vắng những bậc minh quân tài trí đảm lược, nhất là trong thời cận sử cho tới ngày nay, khiến cho nước ta hết bị Pháp Nhật đô hộ nay tới Nga Tàu, không biết tới bao giờ mới ngẩn mặt được để làm người.

    ‘tiếng ai than khóc sầu thương
    Nhị Hà nước xuống trùng dương xa mờ
    Chương Dương, Hàm Tử ngàn xưa
    Giờ sao sông núi, bụi Hồ vấn vương...’


    1- NƯỚC XIÊM LA:

    Xiêm La hay Thái Lan ngày nay có diện tích 198.455 sq.ml hay 512.998 km2, dân số tính tới năm 2004 là 55.448.000 người, thủ đô là Bangkok (Vọng Các) chưa kể ngoại ô có 1.867.297 người. 95% người Thái theo Phât giáo tiểu thừa.

    Thật ra Xiêm không phải là quốc hiệu của người Thái. Ðó là cái tên mà người Cao Mên và Chiêm Thành dùng để gọi họ. Ngay từ thế kỷ thứ XI, danh từ SYAM đã thấy xuất hiện trên các văn bía của người Chàm tại Trung phần VN, còn hình ảnh của người Syam, thì đầy rẩy nơi các di tích của người Khmer, tại đền Angkor được dựng lên từ thế kỷ thứ XII sau TL.

    Người VN theo cách gọi của Miên và Chàm, cũng gọi là Xiêm. Riêng người Tàu qua lối phát âm Bắc Kinh đọc là Tiêm, rồi ghép với tên của nước La Hộc tức là vùng Lyo ngày nay, thuộc Lopburi ở hạ lưu sông Mê Nam, thành nước Tiêm-La. Còn người Pháp cũng dựa vào lối phiên âm Tàu mà đọc là Siam, trong lúc người Anh thì nói trại là Saiam. Trong bộ Bách Khoa Từ Ðiển của Ý Ðại Lợi (Enciclopedia Italiana), đã giải thích rằng Anh và Pháp khi dùng tiếng Siam để chỉ người Thái, là căn cứ vào tiếng Saiam Sayang của người Miến Ðiện dùng để chỉ người Xiêm, rồi đọc trại ra là Siam hay Saiam.

    Nhưng căn cứ vào sử liệu ta thấy từ ngày lập quốc đến nay, người Thái gọi mình là Thay, còn người Shan là Nghiện. Riêng danh từ Siam chỉ mới xuất hiện gần đây. Do trên thời xưa, nước Thái Lan được gọi là Mường Thay hay Prathet Thay. Ðời vua Rama IV (1851-1868), quốc hiệu mới được đổi là Sayam (Xiêm), để đánh dấu nước này canh tân theo văn minh tây phương. Năm 1939, tướng Phibul Songgram lên làm thủ tướng, mới đổi quốc hiệu từ Xiêm sang Thái. Từ 1945-1948, tên nước trở lại là Xiêm và sau đó tới ngày nay, chính thức là Thái. Với người Anh, họ phiên âm Thay thành Thai, còn Prathet là Land, nên sau này gọi nước Xiêm là Thailand. Theo cách đó, người Pháp viết là Thailande, còn VN thì đọc là Thái Lan.

    2 - NHỮNG GÂY CẤN GIỮA ÐẠI VIỆT VÀ THÁI LAN:

    Từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Việt đã tới khai hoang tại vùng Ðồng-Nai và Mỏi-Xùy (nay là Biên-Hoà và Bà Rịa) của Chân Lạp. Vì muốn thoát khỏi ảnh hưởng và sự kềm kẹp của Xiêm La đã có từ trước đến nay, nên quốc vương nước này là Chey Chetia II sang cầu thân với Chúa Nguyễn Nam Hà, để nhờ che chở. Nhân dịp đó, Chúa Hy Tôn-Nguyễn Phúc Nguyên đã vì dân nước, nên đành đem con gái cưng của mình là Ngọc Vạn, gã cho vua này làm Hoàng Hậu vào năm 1620, để lấy chỗ dựa cho dân Ðại Việt tới làm ăn tại Chân Lạp. Chúa còn đem người con gái kế là Ngọc Khoa, gã cho vua Chàm để mượn đường bộ từ Phú Yên vào Ðồng Nai, vì lúc đó nước Chiêm Thành vẫn còn. Do trên Xiêm La đả kết thù với Ðại Việt, vì cả hai đều muốn giành giựt ảnh hưởng tại Lào và Miên, vốn là hai nước nằm giữa rất yếu kém do nội loạn thường trực.

    Năm 1672, Chey Croetha III làm loạn, giết cha vợ là vua Batom Reachea và dắt quân Xiêm từ Nam Vang xuống Sài Côn chiếm lại tất cả thành trì, đồng thời đuổi giết người Việt đang khẩn đất làm ăn tại Ðồng-Nai, Mõ Xùy. Năm 1674 Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai binh tướng sang Thủy Chân Lạp, đánh đuổi quân Xiêm chạy về biên giới Miên-Thái, giết vua Nặc Ông Ðài. Sau đó lập Năc Thu làm vua Lục Chân Lạp đóng tại Nam Vang và Năc Nộn là phó vương miền Thủy Chân Lạp tại Sài Côn. Từ đó người Miên thần phục Chúa Nguyễn.

    Năm 1687 quân Xiêm lại vào cướp phá đất Hà Tiên, bắt Mạc Cửu đem về giam lỏng tại Muang Garaburi nhưng sau đó, ông đã trốn được về nước vào năm 1700. Từ đó Mạc Cửu đem đất đai Hà Tiên và binh sĩ dưới quyền xin thần phục Nam Hà, nên được Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu phong chức tổng binh.

    Năm 1717 quân Xiêm tấn công Hà Tiên, Mạc Cửu binh ít chống cự không nổi, nên phải bỏ thành lui về giữ Long Kỳ. Quân Xiêm vào tàn phá Hà Tiên thành bình địa nhưng sau đó chiến thuyền bị bão đánh đắm trong vịnh Phú Quốc, nên phải rút về nước. Mạc Cửu trở về kiến tạo lại Hà Tiên và đắp thành ngăn giặc vào năm 1718.

    Năm 1769, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh đem quân thủy bộ tấn công Hà Tiên, lại đặt đại bác trên núi Tô Châu bắn vào thành sát hại nhiều dân chúng vô tội. Tổng binh Mạc Thiên Tứ vì binh ít và không có tiếp viện, nên phải bỏ thành, cùng các con Mạc Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên.. lui về Trấn Giang (Cần Thơ). Nhưng quân Xiêm đã bị các tướng lãnh trấn thủ Long-Hồ và Ðông Khấu là Tống Phước Hợp và Nguyễn Hữu Nhân, đánh đuổi phải bỏ Hà Tiên chạy về cố thủ thành Nam Vang.

    Năm 1772, Duệ Vương Nguyễn Phúc Thuần sai chưởng cơ Nguyễn Cửu Ðàm, thống suất hai đạo Bình Khánh và Bình Thuận, gồm 10.000 quân thủy bộ và 30 chiến thuyền chiếm lại Hà Tiên và Chân Lạp, rồi đưa Nặc Tôn về Nam Vang làm vua trở lại. Từ đó quân Nguyễn đóng luôn ở Nam Vang, bảo hộ và làm cố vấn cho quốc vương Chân Lạp.

    Năm 1780 vì tàu buôn bị cướp ở Hà Tiên, vua Xiêm nghe theo lời xúi của quan Chân Lạp tên Bồ Công Giao, bắt cha con Mạc Thiên Tứ, Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên cùng sứ thần của chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Xuân.. đem xử trảm. Mạc Thiên Tứ lúc đó trên 70 tuổi, uất ức tự tử chết. Riêng gia quyến của họ đều bị đầy lên tận biên giới Miến-Thái.

    Năm 1782, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh bị hai tướng Chất Trí và Sô Sĩ giết chết. Chất Trí lên làm vua Xiêm, xưng Phật Vương (Rama 1), tha những người Việt bị đầy , đồng thời giao hảo với chúa Nguyễn Ánh lúc đó đang bị quân Tây Sơn đuổi giết tận tuyệt.

    Năm 1784, mượn cớ sang giúp Nguyễn Ánh, vua Rama 1 sai 2 vạn thủy quân và 300 tháp thuyèn, do hai người cháu là Chiêu Sương, Chiêu Tăng sang xâm lăng Nam Phần. Quân Xiêm chiếm các đạo Kiên Giang, Trấn Giang, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Ðéc.. đồng thời cướp của giết người, không ai có thể ngăn cản nổi. Sự kiện trên làm cho Nguyễn Ánh cũng phẫn uất nhưng phải bó tay ví không còn binh lực để kềm chế giặc.

    Cuối tháng chạp cùng năm, được tin quân Xiêm đã tới Ðịnh Tường, nên Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ từ Qui Nhơn đem quân thủy bộ vào chận đánh, phá tan 2 vạn quân Xiêm tại vàm Rạch Gầm-Xoài Mút. Từ đó người Xiêm sợ Ðại Việt như sợ cọp.

    Năm 1817, sau khi chiếm được Stung Treng và Vạn Tượng của Lào. Quân Xiêm tràn sang chiếm một phần cao nguyên Trung Phần, lúc đó gần như chưa có chính quyền VN hiện diện. Bọn quan lại Xiêm cai trị đồng bào thiểu số tại đấy rất tàn ác dã man. Tình trạng kéo dài tới thời Pháp thuộc mới chấm dứt.

    3-NGUYỄN HUỆ TIÊU DIỆT QUÂN XIÊM TẠI ÐỊNH TƯỜNG:

    + Ðịa Danh Rạch Gầm, Xoài Mút (Mỹ Tho):

    Ðất Ðịnh Tường thuộc dinh Phiên Trấn, được Túc Tông Nguyễn Phúc Trú thành lập vào năm 1731. Vào năm 1772 Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần đổi là Ðạo Trường Ðồn, rồi thành Huyện Kiến An vào năm Gia Long nguyên niên 1801.

    Năm 1802 lại cải thành Dinh Trấn Ðịnh, phiên trấn Ðịnh Tường. Ðời vua Minh Mang (1820-1840), chính thức chia đất Nam Kỳ thành sáu tỉnh trong đó có tỉnh Ðịnh Tường. Danh xưng này tồn tại tới ngày 30-4-1975 thì mất.

    Riêng hai địa danh ‘RẠCH GẦM-XOÀI MÚT’ nằm trong tỉnh Ðịnh Tường. Theo các tài liệu cổ có từ thời nhà Nguyễn, thì Rạch Gầm ngày xưa được gọi là Sầm Giang. Ðó là một con rạch dài chừng 15km, phát nguồn từ xã Long Tiên (Cai Lậy), chảy qua các thôn xóm trù phú thuộc các xã Kim Sơn, Vĩnh Kim, Mỹ Luông, Thuộc Phiên.rồi đổ vào sông Mỹ Tho (Tiền Giang) tại Kim Sơn. Khi người Việt từ miệt ngoài, theo chân các Chúa Nguyễn vào đây khẩn hoang lập ấp, thì vùng này toàn là rừng rậm cây cao, đầy các loại dã thú như voi, cọp, trăn-rắn, heo rừng, cá sấu. Nói chung chỗ nào đêm ngày cũng có tiếng cọp gầm voi rống, làm cho ai cũng kinh hồn, sởn óc, nhiều người vô phước bị cọp vồ, cá sấu táp khi phá rừng làm ruộng. Do trên, tổ tiên ta mới đặt tên vùng này là ‘ Rạch Cọp Gầm’. Về sau để dễ nhớ, nên kêu là Rạch Gầm tới ngày nay không đổi. Ở đây cây cối sầm uất, hai bên bờ rạch đầy dừa nước và nhiều cây bần mọc gie ra khỏi con rạch. Ðúng là một vị trí chiến lược lý tưởng, để các nhà quân sự tài danh, áp dụng lối đánh du kích, phản kích và nhất là hỏa công trận.

    Vàm Rạch Gầm có bề ngang chừng 100m, thuộc xã Kim Sơn. Trên bờ có chợ nhỏ, bán đầy các loại thổ sản miệt vườn như cam, quít, ổi, chuối .. Nhưng chợ Rạch Gầm nổi tiếng xưa nay vẫn là Vú Sửa, món đặc sản bản địa, ngon-ngọt hơn bất cứ nơi nào khác. Ðặc biệt, vú sữa lại đơm bông kết trái đúng vào cuối đông sắp Tết Nguyên Ðán. Cũng theo tài liệu, thì xã Kim Sơn được thành lập rất sớm trong trấn Ðịnh Tường vào đầu thế kỷ thứ XVIII, do tiên hiền Lê Công Báu, nhưng dân chúng kiêng cữ đã đọc là Bích. Về sau ông được nhà Nguyễn phong làm Thành Hoàng và vẫn được dân chúng điạ phượng thờ kính cho tới ngày nay.

    Xoài Mút chảy từ Giòng Dứa thuộc Ấp Thạch Long tới Ấp Thạnh Hưng, xã Phước Thạnh, rồi đổ vào rạch Xoài Hột và ra sông Mỹ Tho (Tiền Giang). Khúc rạch này cũng giống như Rạch Gầm rất um tùm. Hai bên bờ đầy dừa nước và cây bần mọc gie ra ngoài, tạo nên địa thế quanh co hiểm trở. Ở đây ngày xưa mọc đầy một loại xoài trái nhỏ, hột to, cơm ít, muốn ăn phải mút, nên mới xuất hiện danh xưng Xoài Mút. Ngày nay dân địa phương đã chặt bỏ hết để lấy đất làm vườn, nên họa hoằn lắm mới thấy một vài cây còn sót lại. Về hành chánh, thì Xoài Mút là tên con rạch, còn Xoài Hột là tên của một ngôi chợ thuộc xã Thạnh Phú, kế xã Bình Ðức. Rạch Gầm cách Xoài Mút 7km và thành phố Mỹ Tho chừng 14 km.

    + Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ):

    Trong dòng Việt sử, dù triều đại Tây Sơn hiện hữu thật ngắn ngủi (1778-1802) nhưng qua hai chiến thắng bất hủ: Trận Thủy Chiến Rạch Gầm tiêu diệt quân Xiêm và Xuân kỷ Dậu đại thắng quân Thanh, đã đưa tên tuổi Quang Trung-Nguyễn Huệ, lên hàng Ðại Ðế. Dù không đồng chính kiến nhưng tất cả các sử gia triều Nguyễn cũng như đọc qua các thiên du ký của các nhà truyền giáo phương tây, ai cũng xưng tụng ông là một trong những thiên tài quân sự lừng lẫy của VN, có thể so sánh với các tên tuổi như Ðại Ðế Alexander Le Grand của Hy Lạp và vua Hung Nô Attila, là những thiên tài quân sự bách chiến bách thắng.

    Giống như các bậc danh tài trên, trong khi dùng binh vua Quang Trung luôn luôn theo đúng binh pháp Tôn Tử-Trần Hưng Ðạo-Nguyễn Trải, đạt yếu tố bất ngờ, hành binh thần tốc và trên hết là biết tiên liệu tình hình địch, trước khi quyết định bày binh bố trận và tấn công. Ngoài ra để nêu gương với sĩ tốt cùng thuộc tướng dưới quyền, ông luơn luôn xông xáo nơi trận mạc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lâm trận đi đầu hàng quân, hiệu lệnh rất nghiêm minh. Bởi vậy, tướng sĩ ai cũng muốn hăm hở, lăn xả vào cái chết, để được đền ơn nhà trả nợ nước, xứng đáng bổn phận làm trai nước Việt. Ngoài thiên tài quân sự, vua Quang Trung còn được các sử gia đề cao là một nhà chính trí có thao lược, điển hình qua cách chiêu hiền đãi sĩ, kính trọng tài năng không phân biệt bất cứ một ai. Riêng tư cách thì hòa nhã độ lượng, trong khi đối xử với vua Lê và cái chết của chúa Trịnh Khải

    Nói chung từ trước tới nay, qua dòng lịch sử, VN có ba thiên tài quân sự là Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn, Bình Ðịnh Ðại Vương Lê Lợi và Ðại Ðế Quang Trung-Nguyễn Huê. Nhưng mỗi người đều có phép hành binh riêng biệt. Với Hưng Ðạo Vương, sở trường về lối đánh ‘Dùng ít chọi đông‘ mà binh pháp gọi là ‘Dàn Binh, Tướng Trận’. Còn Bình Ðịnh Vương Lê Lợi thì ứng dụng phép ‘Dĩ Dật Ðãi Lao‘, tức là lối đánh du kích, làm tiêu hao lực lượng địch. Trái lại Quang Trung Nguyễn Huệ thì luôn luôn sử dụng vận động chiến, tấn công địch trước trong tư thế mạnh với quân số, hỏa lực, mưu kế và phương tiện.

    + Thủy Quân VN dười thời Tây Sơn:

    Từ năm 1627-1672 Trịnh Nguyễn đã đánh nhau bảy lần, trên chiến trường Nam và Bắc Bố Chánh (tỉnh Quảng Bình ngày nay) nhưng bất phân thắng bại. Trong lúc giao tranh, cả hai phía gần như chỉ sử dụng bộ chiến, dù cả hai đều có một đạo thủy quân rất quan trọng. Theo tài liệu của Giáo Sĩ Alexandre de Rhodes, thì chúa Nguyễn ở Nam Hà có 200 chiến thuyền loại Galéré, họ Trịnh ở miền Bắc có tới 600 chiếc. Còn Quang Trung Nguyễn Huệ trái lại, đã đề cao vai trò thủy quân trên hết. Nhà vua đã cách mạng hoá hải quân bằng lối đóng thuyền cho phù hợp với bờ biển VN, trong đó đặt nặng việc trang bị vũ lực trên tàu thuyền.

    Theo sử liệu, thủy quân Tây Sơn có nhiều tàu vận tải cũng như tàu chiến, số lượng trên 1000 chiếc. Một du khách người Anh tên John Barraw tới thăm Ðàng Trong vào thế kỷ XVIII, đã viết: ’Người Việt ở đây có một nghề rất tự hào, đó là kỹ thuật đóng tàu đi biển‘. Theo tác giả, thuyền của người Việt rất đẹp, chiều dài từ 50-80 pieds (1 pied bằng 0,30m), được ghép bằng 5 tấm ván, ăn khít nhờ có mộng bên trong. Thuyền lại được chia thành nhiều khoang kín, nên rất khó chìm.

    Theo Jean Baptiste Chaigeau, một võ quan người Pháp từng theo giúp chúa Nguyễn Ánh, cho biết thủy quân Tây Sơn gồm có nhiều hải đội, tổ chức khác nhau tùy theo trang bị. Do đó có thủy đội gồm 9 tàu, mỗi chiếc được trang bị tới 66 khẩu đại bác loại đường kính 24. Có thủy đội chỉ có 5 tàu, mỗi chiếc mang 50 khẩu đại bác cũng loại 24. Có thủy đội gồm tới 40 tàu, mỗi chiếc trang bị 16 khẩu đại bác cỡ 12 ly và một thủy đội đặc biệt gồm 93 tàu, mỗi chiếc chỉ có một khẩu đại bác lớn, nòng cỡ 36. Ngoài ra còn có 300 pháo hạm và 100 tàu buôn cỡ lớn. Tất cả tàu thuyền của Tây Sơn đều dùng cánh buồm hình chữ nhật.

    Về thủy quân trên tàu, thì mỗi thủy đội loại trang bị 66 khẩu đại bác, có quân số trên 700 người. Quân Tây Sơn được trang bị rất mạnh, vũ khí cá nhân gồm giáo mác, còn có súng điểm thương nhưng lợi hại nhất vẫn là loại súng phun lửa, gọi là ‘Hoả Hổ’ khi hai bên cận chiến. Nhờ những ưu thế về trang bị cũng như kỹ thuật tác chiến, nên thủy quân Tây Sơn đã thắng quân Xiêm một cách dễ dàng. Mặc dù lúc đó hạm đội Xiêm La cũng rất tân tiến, vì được đóng theo kỹ thuật Tây Phương, mà người Việt gọi là Tháp Thuyền. Ðây là loại ghe tam bản rất cao lớn, trên có pháo tháp trí súng đại bác. Các thủy thủ ngồi ngoảnh mặt về phía bánh lái mà chèo.

    + Thủy Chiến tại Rạch Gầm, Xoài Mút:

    Các sử gia hiện nay, khi viết về chiến thắng của Vua Quang Trung tại Rạch Gầm-Xoài Mút, đều thắc mắc về việc hành quân của Tây Sơn. Ngay khi nghe hung tin, đại quân Xiêm La gồm thủy bộ hơn 50 vạn và 300 tháp thuyền, đã chiếm gần hết các trấn tại Nam phần. Hiện thủy quân Xiêm đã tới trấn Ðịnh Tường. Trong lúc đó Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ còn ở tận Qui Nhơn. Vậy ngài đã cho thủy quân từ biển vào cửa Tiểu để tới Mỹ Tho hay là vào cửa Cần Giờ, rồi men theo dòng Vàm Cỏ Tây để tới Rạch Gầm Xoài Mút, tạo yếu tố bất ngờ, đối với quân Xiêm? Chuyện này đã không thấy các nhà sử học xưa đề cập tới, kể cả các tài liệu của quốc sử quán triều Nguyễn.

    Nhưng về chiến tích của trận thủy chiến lịch sử, thì hiện nay vẫn còn đầy rẩy trên đất Ðịnh Tường cũng như trong kho tàng văn chương bình dân bản địa, qua các bài hát ru em, ca dao, tục ngữ...

    Ầu ơ, Rạch Gầm-Xoài Mút tăm tăm
    xế xuống chút nữa, là vàm Mỹ Tho
    bần gie đóm đậu sáng ngời
    Rạch Gầm-Xoài Mút muôn đời oai linh
    Chẻ tre bện sáo cho dầy
    Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau


    Hay:

    ‘Gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng
    Giặc đến nhà, chẳng vụng hươi đao...’


    Ngày nay người dân sống ở rạch Bà Hào kế rạch Gầm, vẫn thường hay kể những chuyện ma quỷ xuất hiện vào những đêm mưa to gió lớn, mà họ quả quyết đó là ma Xiêm, chưa được siêu thoát, dù cuộc chiến đã tàn hơn vài thế kỷ. Cũng ở vùng này, còn có một địa danh mang tên là ‘Nghĩa Địa Xiêm’ vì có nhiều thuyền tháp bị chìm, hiện vẫn còn trơ các hàng cột ở Ðìa Ðôi (Ấp Hội), đầu cồn Phú Túc (Bến Tre). Ngoài ra còn nhiều quân dụng của lính Xiêm bỏ lại trận địa, được tìm thấy như súng thần công, gươm giáo, ấm, chén, nồi đồng... tại vàm Rạch Gầm.

    Mùa Thu năm 1785, vin vào cớ giúp Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn truy sát. Vua Xiêm Rama 1, cho 50 ngàn quân thủy bộ tấn công VN bằng hai cánh quân. Lộ quân bộ chiến gồm 3 vạn, từ Nam Vang vào Nam Phần. Cánh thứ hai gồm 20 ngàn thủy quân, với 300 tháp thuyền. Cánh quân thủy này do hai người cháu của vua tên Chiêu Sương và Chiêu Tăng thống lãnh theo đường biển, vào cửa Rạch Giá ngày 25-7-1785. Hai đạo quân Xiêm thế mạnh như chẻ tre, lần hồi chiếm hết các dinh trấn tại Nam phần như Kiên Giang, Trấn Giang,Ba Thắt, Trà Ôn, Măng Thít.. và tới Ðịnh Tường. Bấy giờ đạo quân tinh nhuệ nhất của chúa Nguyễn Ánh ở Nam Phần đã bị tan vỡ vì chúa tướng là Châu Văn Tiếp tử thương, nên không còn ai có thể cản nổi quân Xiêm. Do đó, trên bộ cũng như dưới sông, quân Xiêm tới đâu đều cướp của giết người, hãm hiếp phụ nữ Việt, tiếng than oán vọng tận trời cao, thật là thảm tuyệt.

    Tin dữ tới Phú Xuân, nên Long Nhưỡng tướng quân được lệnh tức tốc đem quân thủy bộ từ Quy Nhơn vào Nam cứu viện. Lúc đó trời đang cuối đông, chỉ còn vài ngày nửa là đón Tết Giáp Thìn 1785. Ðể có thể tiêu diệt quân Xiêm đang trong thế mạnh và đông hơn quân ta, ông cho bày diệu kế, bằng lối mai phục rồi bất thần đánh úp tàu giặc đang neo đầy trên sông Mỹ Tho, giữa đoạn Rạch Gầm-Xoài Mút. Ðồng thời dùng hỏa công trận, để thiêu rụi toàn bộ thủy quân Xiêm.

    Mở đầu cuộc tấn công, quân Tây Sơn dùng cùi, lá và dầu dừa trộn chung với dầu mù u để làm bè lửa. Lại bày nghi binh kế, bằng cách lấy vỏ dừa khô rồi vẽ mặt người, đoạn kết thành bè, thả trôi lềnh bềnh gần chỗ thuyền giặc đậu. Chính diệu kế này, khiến cho quân Xiêm hoảng hốt, cứ ngỡ là quân Tây Sơn lặn đục thuyền, nên các tàu liên tiếp nhả đạn cho tới hết. Ðể nắm vững tình hình trận chiến, ông cho dựng hai chòi chỉ huy ở hai đầu sông, một tại Chùi Mong (đầu rạch Xoài Mút), còn chòi kia ở vàm Rạch Gầm. Hai chòi chỉ huy có nhiệm vu ban lệnh tấn công, khi thấy thuyền quân Xiêm lọt hết vào trận địa. Ngoài ra không muốn để cho một thuyền giặc nào còn sống sót, Nguyễn Huệ cho chẻ tre bện thành sáo dầy có cột đá hòn, để ngăn dòng Tiền Giang tại Ấp Tây, thuộc xã Kim Sơn, ngược vàm Rạch Gầm khoảng 1 cây số.

    Khi toàn bộ chiến thuyền của Quân Xiêm đã lọt vào khúc sông trận địa, do tín hiệu từ hai chòi chỉ huy cấp báo, lập tức ông ban lệnh tấn công. Lúc đó giữa sông thì lửa đốt, còn trên bờ dùng đại bác, tên và súng phóng lửa nhắm vào 300 tàu giặc mà bắn. Vì quá bất ngờ, nên hai đại tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng 300 tháp thuyền với 20.000 quân, trở tay không kịp, lớp thì chết cháy, phần khác bị quân Tây Sơn giết. Chiêu Sương cùng Chiêu Tăng và vài ngàn tàn quân may mắn lội được vào bờ, cùng với quân bộ chiến dùng đường bộ chạy về Nam Vang, rồi rút hết về Vọng Các, vì sợ quân Tây Sơn truy sát. Từ đó người Xiêm La bỏ mộng tranh bá đồ vương với Ðại Việt trên bán đảo Ðông Dương, đồng thời sợ người Việt hơn cọp.

    Ngày nay nhờ đọc lại những trang sử cũ, ta mới thấy tiền nhân đã mở dựng và giữ nước thật là gian lao cực khổ, có thể nói là người Việt đã đem máu và nước mắt của mình, để tô bồi làm xanh thêm đất, khiên hoa cỏ mới nở rộ được khắp thôn làng, đê cho chúng ta thênh thang tọa hưởng.

    Bổng thấy thấm thía tận cùng về lời nói của vị thánh quân Lê Thánh Tôn cách ta hằng bao thế kỷ: ‘Phải giữ gìn cẩn thận, đừng để ai lấy mất một phần sông núi của tổ tiền để lại’. Xem như thế đủ chứng tỏ rằng tiền nhân từ thời xa xưa, đã thấy trước dã tâm xâm lăng đồng hoá nước Việt của giặc Tàu, nên lúc nào cũng đoàn kết để ngăn chống ngaọi xâm.

    Vậy mà ngày nay Cộng Sản VN lại liên tiếp, hết bán đất biên giới, hải đảo, tới sang nhượng biển vùng đánh cá ngàn đời của dân tộc trên biển đông, làm cho cơn hồng thủy sóng thần nỗi dậy, trước sự bất lực ù lỳ của một tập đoàn cầm quyền, đang làm nô lệ cho Trung Cộng và tất cả ngoại bang, bất chấp quốc nhục.

    Ðúng như sử gia Hoàng Xuân Hãn đã viết: ’Trong dòng lịch sử Việt, khi thế nước bị suy vi hèn yếu vì chia rẻ, thì giặc Tàu mới dám lấn đất dành biển‘. Không biết ngày nào cả nước mới có dịp theo sau gót ai, để đánh đuổi giặc Tàu, quang phục đất nước, như ngày xưa dân Việt đã theo sau bóng voi của Quang Trung Ðại Ðế vào Rạch Gầm-Xoài Mút đốt tàu giặc Xiêm hay ra Bắc Hà đánh đuổi quân Mãn Thanh chạy về Tàu vào những ngày Tết Kỷ Dậu 1789.

    Nhà tan sống cũng lạc loài
    thánh hiền sách nát đọc hoài hay sao ?
    biển Ðông sóng vổ aò aò
    ta nương cánh gió đi vào cõi xa
    ngày mai cũng có một ngày
    theo chân voi trận để vào Thăng Long...




    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Những ngày cuối Chạp 2009
    MƯỜNG GIANG



    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    - Ðại Nam Nhất Thống Chí của Sử Quán nhà Nguyễn
    - Việt Sử Xứ Ðàng Trong của Phan Khoang
    - Lịch Sử Nội Chiến của Tạ Chí Ðại Trường
    - Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ của nhiều tác giả
    - Sách báo..
  7. Xuân về lại nhớ những Tết năm xưa của Lính


    Hồ Ðinh



    Chợt nhớ Xuân nào trên chiến địa,
    Tao mày hiu hắt đón Xuân chơi
    Một thằng bộ binh đời như bỏ
    Một đứa nhảy dù cũng tả tơi..


    Bốn câu thơ cũ mới đó mà đã mấy mươi mùa thương nhớ, càng khiến cho người lính già thêm trơ trọi lạc lõng, giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chón quê người.. Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi, sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nỡ.

    Tan tác, chia xa giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương. Lính là thế đó, buồn nhiều vui ít với một chút nhun nhén tình cờ bắt gặp trên các nẽo đường hành quân vô định, qua dăm ba ngày Tết dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền đồn lẽ loi ngoài quan tái.

    Ai đã từng là lính mới cãm thông cho lính, sống thật cô đơn lếch thếch và chết cũng rất hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và không gian đời lính cũng chẳng qua chỉ là một cái mốc vô tình để biết ta hiện hửu. Nhưng thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra làm trai hùng đất Việt ? nên phải chấp nhận kiếp lính “ôm yên gối trống đã chồn, nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh“ để rồi thui thủi “đêm từng đêm ngó mông lung, ôm cây súng lạnh hát rừng mà nghe“..

    Gần mười hai năm lính Tết nào cũng tết tha hương, xuân nào cũng xuân lữ thứ. Ðêm trừ tịch giữa tối ba mươi cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt then kín cửa, để sửa soạn đón giao thừa trong niềm hạnh phúc của gia đình, thì lính cũng đón chào năm mới trong chiếc hầm trốn đạn hay mái chòi canh giặc đen tối lạnh băng. Nhớ từ đâu bổng kéo tới, vây kín cái không gian nhỏ hẹp này. Ngoài trời mưa xuân đến sớm nhưng sao buốt lạnh quá chừng, khiến cho ta thêm buồn rầu trong bóng tối một tết tha hương. Dường như có ai đang hát ru một khúc tình ca của lính, nhắp một chút men nồng để thấy lại ngày xưa, để ta dìu ta trở về những mùa xuân cũ, những tết không bao giờ quên được trong cuộc đời .

    1-TẾT LÍNH ÐẦU TIÊN TRÊN RỪNG NÚI MIỀN TÂY BẮC BÌNH THUẬN:

    Ma Lâm xưa nay vẫn là cửa ngỏ để vào vùng tây bắc Bình Thuận hùng vĩ và đầy huyền thoại. Ma Lâm là thủ phủ của quận Thiện Giáo, nằm giữa châu thổ phì nhiêu của con sông Cả (Quao), phát nguyên tại Di Linh và ra biển Ðông tại cửa Phú Hài, có Quốc Lộ 12 hay còn gọi là Liên Tỉnh Lộ 8 hoàn thành ngày 1-10-1914, từ Phan Thiết đi Di Linh chạy ngang qua.

    Ðây là biên địa cuói cùng của Vương quốc Chiêm Thành trước khi mất nước vào năm 1693, nên có nhiều người Chàm và Thượng Ba Phủ, sống tại các xã Ma Lâm Chàm, Phú Nhiêu, Sông Trao, Trịnh Hòa, Tịnh Mỹ. Nhiều địa danh như Rừng Ðú, Mang Tố, Làng Chão, Vũng Dao.. và các câu chuyện xưa về người Chàm, trên mãnh đất Bình Thuận, theo thời gian tan biến vào cát bụi nhưng vẫn còn là huyền thoại của một thời vang bóng. Cũng vì địa thế hiểm trở, chinh chiến triền miền nên quốc lộ gần như bị bỏ hoang, cũng như hầu hết miền Tây Bắc bị quên lãng, để mặc cho người Thượng tha hồ đốt rừng bừa bải làm rẫy, dù vùng này nếu ruộng đất được khai thác, cũng đủ cung ứng nhu cầu lúa gạo cho nhiều người trong tỉnh.

    Gần Tết Âm Lịch 1964, chúng tôi gồm mười lăm đứa mãn khóa, từ Sài Gòn bổ sung cho Trung Ðoàn 43 biệt lập, lúc đó do Thiếu Tá Võ Văn Cảnh (sau lên chuẩn tướng, là tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh năm 1972), làm trung đoàn trưởng kiêm biệt khu trưởng biệt khu Bình Lâm, trách nhiệm ba tỉnh Bình Tuy-Bình Thuận-Lâm Ðồng. Bộ chỉ huy biệt khu đóng tại quân Di Linh với đại đội trọng pháo của Ðại Úy Ngô Tất Tống và Tiểu Đoàn 3/43 của Ðại Úy Công. Riêng Tiểu Đoàn 1/43 của Ðại Úy Ngô Văn Diệp (tử trận năm 1965 tại Trảng Bàng) và Tiểu Đoàn 2/43 của Ðại Úy Hai, thì hành quân thường trực tại Bình Tuy-Phan Thiết.

    Ngày đầu tiên về đơn vị cũng là ngày cuối năm, nên khi xe lửa tới Ðà Lạt nhằm lúc thiên hạ đang rộn rịp đón Giao Thừa. Cao nguyên Lâm Viên mùa Tết, nên trời rét căm căm. Chúng tôi tất cả là dân miền biển và miền Nam, nên chịu không thấu với cái lạnh miền núi cát da tím thịt trong bộ đồ trận mõng manh, qua đêm đầu tiên tại nhà vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Ðức.

    Viết sao cho hết nổi buồn rầu của bọn lính xa nhà trong đêm Tết? Dù đêm Xuân Ðà Lạt thật tuyệt vời, khiến ta cứ ngở như mình đang lạc lối đào nguyên, giữa hoa và người đẹp, cả hai sắc hương đường như cùng với mây trời ngạt ngào trong sương giá. Ðà Lạt đêm xuân thú vui không kể xiết, khắp phường phố thiên hạ quần áo là lượt hạnh phúc, gắn bó từng cặp, từng đôi trong muôn màu đam mê rực rỡ nhưng với bọn lính mới đầu đời, Ðà Lạt lại vô tình hờ hửng. Bởi vậy cả bọn đều mong mau sáng, để sớm trả lại cái thiên đường hạnh phúc mà trời trót dành cho những giai nhân tài tử.

    Rồi thì chia tay, dăm đứa gọi là kém may mắn khi về Tiểu Đoàn 3/43 gần mặt trời. Số còn lại bổ sung cho Tiểu Đoàn 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở ra vào ngày mùng ba tết Nguyên Đán, mục đich khai thông Quốc Lộ 12 đưa lính mới và quân trang quân dụng bổ sung cho hai đơn vị tại Bình Thuận. Nhờ vậy mới có dịp hưởng được một cái tết núi rừng vui nhộn với người Koho, quanh bếp lửa hồng.

    Bộ tộc Koho sống đông đảo tại cao nguyên nam Trung Phần, có nguồn gốc pha trộn từ nhiều sắc dân Chàm, Mã Lai, Chà Và, Chân Lạp.. gồm các bộ lạc Churu, Noang, Sre, Maa, Sil, Toa, Queyong, Lat, Nop, Kodiong, Nam.. chủ yếu sống tại các tỉnh Quảng Ðức, Tuyên Ðức, Lâm Ðồng, Bình Thuận, Bình Tuy và Long Khánh. Ðược vui Tết với người Koho là một thích thú tột cùng, vì ngoài việc được ăn uống tự do, còn hưởng được tình người qua cử chỉ, một hành động đối với người Việt trong thời chinh chiến, hầu như đã mất mát hay nếu còn cũng chẳng qua sự giả tạo, lớp phấn hào nhoáng bên ngoài.

    Vì lộ trình bị bỏ hoang lâu ngày không được sửa chữa và xử dụng nên khắp nơi đầy ổ voi ổ gà. Thêm vào đó là nhiều đèo cao với vô số khúc quanh co lên trời, xuóng lủng, do đó đoàn xe di chuyển rất chậm vì phải mở đường và tu bổ quan lộ, nên đêm đó phải đóng quân và cũng là dịp ngàn năm một thuở được chủ làng trong buôn Koho, tai thung lũng Klonodium sát quốc lộ mời ăn Tết.

    Lễ hội theo truyền thống được tổ chức giữa sân nhà Hội Ðồng. Tất cả đều là sự quyên góp chung từ củi đốt, trâu bò tới rượu cần. Quang cảnh đêm Tết thật hấp dẫn với đống củi cao như núi đủ rực sáng suốt đêm, mấy trăm hủ rượu cần và ba con trâu cột sẳn quanh các hàng cộc được chạm trổ. Khắp nơi còn có những cây phướng, nêu và cờ xí càng tăng thêm nét đẹp và trang nghiêm trong ngày Tết.

    Rồi lúc ráng chiều vừa khuất sau rặng Núi Bà cao đen thăm thẳm đầy huyền bí, cũng là lúc chiêng trống nơi nhà Hội Ðồng trổi dậy, thúc dục dồn dập như tiếng trống trận xua quân, kêu gọi mọi người trong Buôn tề tựu nơi bếp lửa hồng vừa cất cao ngọn. Tiếng lửa lách tách nổ vui tai, cộng với tiếng người chuyện trò huyên náo. Nam nử, già trẻ vui Tết ăn mặc quần áo đẹp và mới nhất của họ, dù chỉ là thứ vải bâu thô thiển. Ở đây hoa nhiều không đếm hết nhưng cũng không có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm đêm thêm ngát, làm cho lính đã ngây ngất bên ché rượu cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên của các cô gái vùng cao,khiến cho mấy chục năm qua rồi, mà trong hồn mỗi lần chợt nhớ, như muốn khựng vì mùi chua của rượu cần và muì hương của núi rừng tây bắc. Sáng tới lính lại lên đường, không được như người Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui Tết quanh các gia đình, cho đến hết tháng giêng mới chấm dứt khi cả Buôn không còn rượu và thịt:

    “Ớ chàng trai lính ơi,
    đùng quên đêm nay bên vũ điệu Lam Tơi,
    đôi ta tình cờ quen nhau ngắn ngũi
    nhưng em nguyện chờ chàng trở về...”


    2- VUI TẾT VỚI NGƯỜI THÁI Ở TÙNG NGHĨA:

    Sau Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước, một số người Thái sinh sống tại tỉnh Lai Châu đã di cư vào Nam để tìm tự do và lập nghiệp tại xã Tùng Nghĩa, quận Ðức Trọng, tỉnh Tuyên Ðức, gần phi trường Liên Khương, ngả ba Di Linh-Ðà Lạt-Ðơn Dương.

    Thời tiền chiến, Hoàng Ly đã viết bộ tiểu thuyết trường thiên dã sử nổi tiếng “Lửa Hận Rừng Xanh”, hư cấu cuộc đời của Tù Trưởng Ðèo Văn Lang, vua của người Thái đen Thái trắng, miền Tây Bắc Lai Châu rộng lớn, từ Phong Thồ, Nậm Nà tới Mường Lay, Mường Tè,Bản Pháp.. xứ sở của hoa ban, loài hoa trắng mọc chênh vênh ven vách núi, mùa xuân nở trắng núi đồi xứ Thái.

    “Ðón giao thừa một phiên gác đêm
    chào xuân đến súng xa vang rền
    Xác hoa tàn rơi trên bán súng..
    ngở pháo tung bay, ngở tóc em vương..”


    Bài hát cũ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, mấy chục năm về trước, nay sao vẫn nhớ như niềm nhớ về một cái tết xa xưa rất tình cờ với đồng bào Thái Trắng, khi tiểu đoàn nằm tiền đồn, giữ an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa. Theo phong tục cổ truyền, hầu như tất cả các dân tộc thiểu số vùng thượng, trung Bắc Việt cũng như cao nguyên Trung Phần, hằng năm đều có nhiều lễ hội. Người Thái cũng vậy nhưng quan trọng hơn hết đối với họ vẫn là Tết Nguyên Ðán NEN BƯƠNG TIÊN, thường được tổ chức tiếp theo Lệ ăn cơm mới và uống rượu Kim Lao Mao, mừng trúng mùa, cũng như ngày Tết Thần Táo vào tối đêm 23 tháng chạp, cũng giống như người Việt, rất trọng thể khắp mọi nhà, mọi đình làng với lễ vật gồm gà, xôi, rượu, vàng giấy và hoa quả.

    Người Thái sống lâu năm trên đất Việt nên Tết Nguyên Ðán gần giống người Kinh, nhất là từ khi họ di cư vào miền Nam. Ðêm giao thừa, mọi người đều ăn mặc quần áo mới. Sặc sở và diêm dúa nhất vẫn là các cô gái chưa chồng, trong lễ hội “Tung Cầu“ với thanh niên chưa vợ, để rồi sau đó từng cắp sóng sánh cười vui, qua cuộc tình đầu xuân vừa chớm nở.

    “Chốn biên thùy này xuân tới chi, tình lính chiến khác chi bao người“,nên đêm tiền đồn được vui ké với bản làng một cái tết vui nhộn từ đầu thôn tới cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng pháo, khiến người lính trẻ xa nhà chạnh lòng để rơi nước mắt, khi nhớ về những ngày xuân cũ, nhớ màu hoa cúc hoa mai, tết đến nở tròn như mắt môi em một thời tuổi học “tay anh ghì nhẹ trên bán súng, cứ ngở cùng em sóng bước xuân “.

    3 - ÐÊM CHỜ TẾT NGOÀI VÒNG ÐAI ẤP CÂY BÀI (CỦ CHI).

    Cuối năm 1964, toàn bộ Trung Ðoàn 43 biệt lập từ Di Linh tăng phái hành quân cho khu 32 chiến thuật, trách nhiệm tỉnh Hậu Nghĩa nhưng chủ yếu là tại quận Củ Chi, khắp các xã Bình Mỹ, Tân Thạnh, Trung An, Phú Hòa Ðông, Phước Vĩnh An,Tân Phú Trung, Tân Thông, Nhuận Ðức, Trung Lập, Phước Hiệp, Thái Mỹ, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng và huyện lỵ Tân An Hội. Lúc đó, BCH Trung đoàn đóng tại Tân Thông, các Tiểu Đoàn 2 và 3/43 nằm tiền đồn khắp các xã xôi đậu, chỉ riêng Tiểu đoàn 1/43 được dưởng quân ba ngày Tết tại quận, vì đã lội suốt một năm khắp các chiến trường Bình Thuận, Bình Tuy, Long Khánh, Bình Dương, Bình Long và Hậu Nghĩa.

    Ban 5 /TÐ đã soạn thảo nhiều chương trình để lính và gia đình vui một cái Tết đặc biệt tại hậu phương. Ngày ba mươi tháng chạp, TÐ xuất tiền hành quân công thêm tiền thưởng của Tỉnh và Trung Ðoàn, giao cho Ban 4 ra chợ Củ Chi mua sắm gà, vịt, heo, bò, bánh trái và rượu đế Bà Ðiểm làm tiệc tất niên. Lúc đó, đa số lính của tiểu đoàn là người Trung, nên trong dịp Tết chỉ có một số nhỏ có gia đình tại Sài Gòn và vùng lân cận được phép miệng về thăm gia đình, còn hầu như là ở lại với đơn vị.

    Vì khỏi trực gác, nên lính tha hồ rong chơi khắp hàng quán, dù phố lỵ Củ Chi nhỏ xíu và buồn hiu, lưa thưa vài hàng quán và cái lồng chợ cũng bé bỏng khiêm nhượng. Cũng may, quận nằm trên quốc lộ 1, nên có rất nhiều xe đò xuôi ngược Sài Gòn-Trảng Bàng-Tây Ninh.. cũng như ngả rẽ tới Bầu Trai, Hiệp Hòa, Ðức Huệ.. Ðứng bên đường, nhìn trộm những người đẹp ngồi trên xe đang hối hả mua quà vật khi xe ngừng, hồn lính cũng cảm thấy phần nào vơi đi nổi nhớ nhà. Ở đây mùa đông không lạnh lắm so với Phan Thiết nhưng gíó nhiều nên cũng tái tê, se sắt. Bao nhiêu năm lính, lần đầu được vui một cái tết thị thành cũng thấy an ủi phần nào.

    Nhưng Tết chưa tới, tiệc cũng còn đang sửa soạn, thì lệnh hành quân khẩn cấp từ Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn ban xuống. Quân Báo và An Ninh tiểu đoàn lái xe ruồng bố khắp nơi để gom lính, làm cho người Củ Chi ngạc nhiên tuá ra đường dòm ngó, như thể họ đang xem hát tuồng. Và rồi nửa giờ sau Tiểu đoàn 1/43 lại lên đường, lính chỉ mang theo súng đan và nước uóng với nhiệm vụ giải toả Ấp Cây Bài vừa bị giặc lợi dụng lệnh hưu chiến, từ mật khu Hố Bò tràn vào chiếm Ấp và bắt đồng bào làm con tin đỡ đạn. Quân ra đi như bóng ma đói, ai cũng phờ phạc buồn rầu thấy rõ, đầu gục xuống, súng vác vai, bất kể đội hình kỹ luật, im lặng như hến. Thế là thêm năm nửa, tàn mộng Tết-Xuân.

    Bốn giờ rưởi chiều ba mươi Tết, Tiểu Đoàn 1/43 đã có mặt ngoài vòng đai Ấp, trong khi đó toàn bộ trung đoàn đều tham dự cuộc hành quân này và các đơn vị đang dần xiết vòng vây. Súng nổ khắp bốn hướng giữa ta và địch, từ trong Ấp cho tới Làng Paris Tân Qui, Bến Cỏ, Phú Hòa, Ấp Nhà Việt.. chổ nào cũng có đụng lớn. Riêng TÐ 1/43 án ngử ngay con đường tỉnh lộ dẫn vào Ấp, đường đã bị cày xới tan nát.

    Ấp nằm trong tầm ngó nhưng mù mịt vì bom đạn lửa khói và rừng cao su ngút ngàn che phủ. Cánh đồng lúa ven làng đang bắt đầu ươm hạt, mùi thơm sữa lúa theo gió thoang thoảng khắp nơi, mũi mòng từng đàn đáp đậu trên da thịt, tha hồ xơi tái lính. Trong cảnh buồn rầu thê thiết, ai cũng thẩn thờ quên đau vì muỗi chích, khi nghĩ tới đồng bào vô tôi đang nằm giữa dao thớt chiến tranh, trong lúc khắp nơi mọi nhà đang rộn ríp náo nức đón xuân về. Thời gian qua thật chậm, chiến trường vẫn sôi sục bom đạn. Còi thúc quân vang dậy dồn dập nhưng lính vẫn không tiến nổi vì các khẩu súng cộng đồng của giặc từ các cao điểm trong Ấp bắn chận dữ dội, khiến cho lính TD lần hồi rụng tã tơi như mấy cánh mai vàng trước gió xuân tơi tả, khi tiệc tất niên chưa kịp hưởng, đã vội về với đất lạnh, đời lính như vậy sao mà không buồn?

    Không thể làm gì hơn, nên Bộ Chỉ Huy hành quân đã xin khu chiến thuật nhờ không quân can thiệp. Màn đêm hững hờ buông rèm gói trọn vạn vật, chỉ còn nghe tiếng L19 và khu trục cơ Skyraider vần vũ dội bom bắn phá mục tiêu. Xa xa về hường Sài Gòn, trời sáng hồng trong đêm tối, giờ này thiên hạ đang vui say chè chén nhảy nhót và hạnh phúc, chắc không ai ngờ tới, tại một thôn xóm hẻo lánh nghèo nàn, có không biết bao nhiêu người, dân cũng như lính, địch lẫn ta đang lặn lội trong bom đan, chỉ mong được phép lạ để sống còn. Suốt đêm trừ tịch, máy bay liên tục dội bom, Ấp Cây Bài đắm chìm trong biển lửa, bên ngoài Tiểu đoàn nằm chờ trời sáng. ai cũng đói lạnh nên nhiều người mặc kệ lăn kềnh trên đất ngáy khò, bất kể cái chết kề cận.

    Tờ mờ mồng một Tét quân vào Ấp trong nổi thê lương tận tuyệt, khắp nơi chỉ là cảnh chết từ người tới trâu bò heo chó. Giặc đã chém vè bằng các đường giao thông hào, bỏ lại nhiều tử thi lõa lồ bất động. Chiến tranh tàn nhẩn, oan nghiệt khiến suốt đời lính không quên được hình ảnh chết chóc của những người dân lành vô tội, giữa nhang đèn bánh mứt.. chờ đón xuân về.

    4 - CHUYẾN TÀU BA MƯƠI TẾT.

    Chiều hăm chín tết năm 1979, trại cải tạo Huy Khiêm của tỉnh Thuận Hải rộn hẳn lên vì ngày mai cho tới mồng hai Tết, đoàn tù khổ sai của VNCH tạm nghĩ lao tác, được đổi khẩu phần Tết với đường, thịt heo, cơm trắng không độn và một bao thuốc có cán. Nhưng quan trọng nhất vẫn là cái danh sách phóng thích tù nhân vào mỗi dịp Tết về, sẽ được cán bộ gọi trong buổi sinh hoạt hôm nay.

    Ðúng 1 giờ trưa chiều ba mươi tết năm đó, trại có mười người được nhận giấy phóng thích về nguyên quán trình diện. Quỹ trại không có tiền cho tù nhân mua giấy xe đò xe lửa, nên ai lo mạng nấy bằng cách lội bộ, từ Huy Khiêm tới Ga Suối Kiết xa chừng 30 cây số. Tám giờ tối cả bọn tới nhà ga thì đã lở chuyến tàu chợ, nên đành phải chờ chuyến tàu suốt Bắc-Nam, Nam Bắc vào lúc 11 giờ khuya cuối năm. Trong bọn chỉ có tôi về Phan Thiết, còn lại đều ở rất xa tận Sài Gòn, Nha Trang.. Chia ly rồi sắp chia ly nữa, anh em chỉ đành ngậm ngùi trao gởi, hưa hẹn. Trong khoảnh khắc năm củ sắp tàn, mọi nhà cài then đóng cửa đón mừng năm mới, thì chúng tôi cũng đang chờ phút giây thay đổi của đất trời.

    Ga Suối Kiết nằm cheo leo trong rừng lá, cạnh vách núi Ông cao ngất hùng vỹ, bao quanh vài chụp nếp nhà lá lụp xụp của các công nhân hỏa xa và dân làm gổ. Có lẽ hôm nay mọi người đã về quê ăn tết nên xóm nhỏ thật đìu hiu không có một chút sinh khí, chứng tỏ nàng xuân chưa ghé chốn này. Cũng may Suối Kiết là một ga lớn trên tuyén đường xe lửa Nam-Bắc, nên tất cả các chuyến tàu chợ và suốt đều phải ngừng lại, dù khách có hay không.

    Về đêm, núi rừng càng buốt cóng lạnh căm. Bộ quần áo trận năm nào dù đã được đắp thêm chục mãnh vá, vẫn không ngăn nổi cái sắt se xa xót, như từ một cõi mộ địa, theo cái lạnh xâm chiếm tâm hồn những bóng ma đang lạc lõng trong đêm xuân, không biết rồi sẽ về đâu, để kiếm chút hơi ấm của tình quê. Trong cái hiu hắt của đêm buồn, cũng đủ để mọi người nhìn rõ hình ảnh của sự cô đơn nơi ga lẽ, từ những thanh sắt han rĩ tróc sơn trước quầy bán vé, cho tới hàng ghế gổ mọt đầy vết bẩn. Tất cả bổng dưng được trùng phùng một cách ngẩu nhiên với những người tù không bản án, những quân, công, cán cảnh của VNCH bại trận, vùa được phóng thích trong đêm tết quạnh quẽ, buồn rầu. Phải vui lên một chút để mừng năm mới, thay vì mượn rượu phá thành sầu, cả bọn lại chụm đầu vào nhau, rít chung vài bi thuốc lào ăn tết, trong khi bên ngoài gió núi lồng lộng thổi, tạt sương muối vào mặt mũi da thịt, khiến cho cơn lạnh đói càng thêm hành hạ mọi người.

    Hình như Giao Thừa sắp đến trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho người vợ trẻ, bạn bè, đồng đội, đồng bào.. được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể. Hởi ơi giờ này không biết mẹ già em thơ, có còn như những ngày xuân dấu ái trước năm 1975, Giao Thừa đi lễ chùa, xin xăm hái lộc, nhà có vui xuân đón tết hay gia đình cũng lại như tôi, tại sân ga nơi rừng núi thẳm tăm tối lạnh lẽo này, cô đơn, đói lạnh và nhục nhã trùng trùng.

    Kỹ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẩn dắt đưa tôi về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán.

    Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa tôi về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đoạn nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suói Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc, đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán? Ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược. Giờ đây cảnh xưa vẫn nguyên vẹn, riêng tôi thì ôm một tầng trời sầu thảm không đáy, lạc lõng trên quê hương hận thù với kiếp sống nào hơn loài cỏ cây.Rồi thì tàu cũng đến, chúng tôi chia tay trong nước mắt, cuối cùng ai nấy hấp tấp lên tàu như kẻ trốn nợ trong đêm trừ tịch, giữa tiếng còi tàu lanh lãnh thét vang, phá tan cảnh tịch mịch của rừng núi âm u, nghe sao quá ảo nảo lạnh lùng.

    Chuyến tàu suốt Sài Gòn-Phan Thiết đêm nay ế ẩm, nhiều toa hành khách vắng ngắt lạnh tanh, không như ngày thường chen chân không lọt. Có lẽ mai là mồng một Tết Nguyên Đán, nên ai cũng muốn ở nhà để xum họp với gia đình. Ðất trời buồn mênh mông quá, thêm gió thổi vi vút từ hai bìa rừng thả hơi lạnh khắp nơi, nhưng tôi vẫn muốn ngồi ngoài hành lang để được nhìn lại quang cảnh cũ. Trong các toa tàu, đèn đóm tối om, dăm ba hành khách nằm dài trên ghế như đã ngũ tụ lâu rồi. Mặc kệ, tàu vẫn chạy xiết trên đường sắt như con thú điên, với hai ánh đèn pha phá tan màn đêm tăm tối. Hởi ơi cuộc đời sao oan nghiệt quá, trong lúc nhà nhà đang đầm ấm chờ đón chúa xuân, thì tôi trong một tối ba mươi tết, buồn rầu nơi toa xe lửa lạnh lẽo này, yên lặng nép mình trong cô quạnh, để đón một mùa xuân vàng úa nữa, sắp rơi xuống bờ vai của cuộc đời.

    Trong giờ phút năm cũ sắp tàn, con tàu cũng hối hả lướt qua từng ga vắng Sông Dinh, Sông Phan, Suối Vận, Mường Man rồi Phú Hội vừa đúng 12 giờ rưởi sáng. Thế là năm mới đã qua và tôi cũng đã lở dịp nghiêng mình chào đón nàng xuân mới trên quê hương mình. Trên tàu ai nấy đều thức dậy, đang chuẩn bị xuống ga Phan Thiết. Tất cả đều xa lạ, hờ hững, buồn rầu, im lặng như bóng tối, không ai chúc nhau một lời ngắn ngủi dù là ngày tết. Bổng đâu đấy nơi một thôn xóm nào đó, dọc theo con đường sắt vang lên mấy tràng pháo chuột, bóng sáng lập lòe như muốn đưổi theo con tàu, khiến cho hồn thêm buồn rầu thương tiếc. Nổi náo nức thầm kín vừa lóe lên, chợt tắt hẳn khi nghĩ đến thực tại não nùng.

    Hởi ôi mấy chục năm về trước, tôi, người lính trẻ xa nhà vẫn đam mê chạy đuổi theo những giọt mưa xuân giữa trời lửa loạn. Nay trong buổi xuân về, người lính già lội ngược thời gian tìm vết ngày thơ như còn giấu đâu đó, nơi vòm trời đồng đội, và em, và những tết cuối cùng trong quân ngũ, để ngẩn ngơ bàng hoàng xúc động, như thể vừa bước chân lên con tàu về quê hương, của những tết ấm yên hạnh phúc đầu đời.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Chạp 2009 - HỒ ÐINH
  8. thơ gởi chị

    Mường Giang

    Riêng tặng Uyên Nguyên, Tâm Vô Lệ, Thiếu Khanh, Anh Vũ, Trầm Kha, Cát Biển, Tiếp Sĩ Trường, Ngô Trúc Khánh, Cao Hoài Sơn, Dung Nguyễn, Ðức Nguyễn, Xuân Ngô, Trạch Gầm, Ngọc Nhung, Tuyết Mai, Thùy Hương, Da Hương, Quốc Thi, Lê văn Kỳ, Minh Nguyệt, Pháo Thủ Chu Pao, Võ Ðức Minh, Lê Trị, Từ Ðức Tài, Lê Kim Dân...



    1 - BIẾT VỀ ÐÂU HỞI, BƯỚC CÔ MIÊN

    Sáu mươi mấy vẫn đời phiêu bạt
    như thuở rong chơi buổi thiếu thời
    gác trọ buồn hiu mình với bóng
    nổi sầu thiên cổ cháy tim côi

    Ngao ngán hoàng hôn trong ngực đá
    võ gầy mộng hẻo bước lang thang
    ai đem thương nhớ vào trong lệ
    khiến tuổi xanh mơ đã ố vàng

    Một sáng tàn thu rời xóm học
    một chiều cô lạnh giã từ nhau
    một ngày về phép buồn ly cách
    nhìn chiếc xe hoa rẻ lối nào

    Từ đó trăng xưa mờ tuổi mộng
    đạn bom ru điệu máu quân hành
    rừng khuya bản thượng dài cô tịch
    chờ giấc chiêm bao cũng lạnh tanh

    Bước chân lận đận đời chinh chiến
    vẫn chẳng nguôi ngoai nổi đoạn trường
    rượu có làm hờn sôi thệ nguyện
    nhưng không xóa hết lệ thương vương

    Rồi nuốt thêm đau ngày rã ngủ
    súng gươm gảy rĩ khóc bên đường
    tuổi tàn đời quẩn theo tiền kiếp
    nghiên bút chôn vào cõi gió sương

    Quê người chạy giặc mờ nhân ảnh
    thăm thẳm chia xa những bến đời
    em một bờ sông, ta ngỏ lạ
    tha phương quán gió đếm mưa rơi

    Quanh quẩn tìm nhau trong cổ mộ
    bạn bè dâu bể biết còn ai
    những thằng tri kỷ về lòng đất
    muốn nhớ nhìn mây để thở dài

    Phan Thiết quê xa trời bảng lảng
    Mường Giang, biển mặn nước long đong
    đứng nghe bầy sếu kêu ra rã
    bừng dậy niềm đau nát cõi lòng

    Thơ viết nghìn trang chưa thấy đủ
    mẹ ơi, trăm nẻo cứ mong tìm
    chiều chiều mẹ đứng bên cầu nhỏ
    đáy mắt già nua dõi bóng chim

    Mấy chục năm rong trên xứ lạ
    tóc xanh rồi bạc vẫn chưa về
    chinh y, vó ngựa thời say tỉnh
    dò dẳm tàn theo khúc nhạc mê

    Soi gương ngơ ngẩn buồn thê thảm
    sáu mấy trời ơi vẫn muộn phiền
    tủi thẹn nhìn ngày qua tháng lại
    biết về đâu hởi bước cô miên ?



    2- ANH VỀ PHAN THIẾT


    Anh về Phan Thiết ngang Xuân Lộc
    còn nhớ tháng Tư hận ngút trời
    có ghé Chứa Chan đồi Phượng Vỹ
    khóc đời tù ngục máu xương rơi

    có đi cúng Phật trên Tà Cú
    đến Gió Ngàn Phương vọng hải đài
    tìm lại một thời làm lính trẻ
    đêm ôm súng lạnh nhớ thương ai

    có xuống bến tàu khu nghĩa địa
    đừng quên mặc niệm những hồn oan
    bỏ mình trên biển hồi di tản
    u uất bao năm nỗi hận hờn

    đừng quên thăm lại Quân Y Viện
    thắp một nén hương mộ bạn mình
    lính trận dân lành chung buổi giổ
    tháng Tư Phan Thiết loạn đao binh

    có vào vườn hoa thắm lầu nước
    nhớ nhặt giùm nhau kỷ niệm xưa
    trên những hàng vông băng ghế lạnh
    hắt hiu rét mướt gió mưa đùa

    có đến truờng yêu thời tuổi học
    thảm thê nay đã đổi tên đường
    làm cho thăm thẳm bờ ly cách
    ngơ ngác đi tìm nẻo nhớ thương

    có ghé chợ Cồn Chà Ðức Thắng
    nhà thương, xóm mới, động Làng Thiền
    kiếp nghèo, ngõ hẹp, người Phan Thiết
    chia sớt giùm nhau nổi oan khiên

    có viếng Hòn Rơm, chơi Mũi Né
    đừng quên những ngụm nước Bầu Sen
    Thái An cát động sầu muôn thuở
    quán lẽ mưa bay tiếng lục huyền

    có về thắm bốn quận miền bắc
    chắc thấy bâng khuâng nhớ những ngày
    nằm võng đu đưa trên quốc lộ
    thương em đợi giặc gíó ngàn bay

    có qua phố chợ ba ngày tết
    nhớ một vòng hoa tặng mẹ hiền
    mang chút hồn quê khi trở lại
    cho người lữ khách đón tân niên


    3 - THƯ GỦI CHỊ

    Tết năm nay nếu chị về Phan Thiết
    xin vui lòng thăm mộ mẹ giùm em
    tội cho người đã mòn mỏi ngày đêm
    rồi gục chết khi con chưa trở lại

    bổng thương quá những ngày xưa thân ái
    thuở thanh bình hạnh phúc khắp nơi nơi
    xuân ấm no niềm vĩnh cửu tuyệt vời
    tết đoàn tụ nguồn thương yêu bất tận

    đã lâu rồi xuân là xuân thống hận
    quê hương nghèo mẹ lây lất, héo hon
    còn đứa chết, đứa biệt xứ phong trần
    đứa vất vưởng trên rừng kinh tế mới

    bao năm qua cùng xuân đi xuân tới
    con muốn về như những tết xa xưa
    sửa lại nhà dột nát bởi nắng mưa
    chùi sạch lớp rong rêu nơi sân gạch

    ngõ trước vườn sau cỏ lau đốn sạch
    rồi trồng hoa vạn thọ đón tân niên
    kiếp lính quèn chẳng có bao nhiêu tiền
    nhưng phụ mẹ để sắm mua làm cổ

    nên cũng có mai vàng cùng pháo đỏ
    thêm dưa hành măng thịt với đế ngon
    đêm giao thừa trong tiếng pháo nổ ròn
    con với mẹ cùng nàng xuân hớn hở

    nay xứ người giữa đôi bờ cách trở
    đón xuân về con tủi hận cô đơn
    tỉnh rồi mơ thêm vàng võ tâm hồn
    mượn men đắng chan hòa niềm thương nhớ

    bao mộng thắm theo biển đời vụn vỡ
    bao xuân sầu cũng hờ hững trôi qua
    chỉ còn đây hình bóng mẹ nhạt nhòa
    qua lệ mắt, cùng con đêm trừ tịch



    4 - XUÂN VIỄN XỨ

    Xuân về trên đất khách
    ta ngồi đón mông lung
    hắt hiu đêm trừ tịch
    một mình uống rượu suông

    trong nhà không hoa nở
    ngoài ngõ chẳng pháo ran
    ngẩn ngơ mình với bóng
    chợt ngun ngút bẻ bàng

    bao xuân sầu viễn xứ
    nào thấy được người thân
    rượu hình như có lệ
    cay đắng lẫn bâng khuâng

    bao xuân sầu tan tác
    ta lạc lõng bơ vơ
    thương về nơi đất mẹ
    càng lúc càng mịt mờ

    quê hương giờ xuân đến
    mẹ già hết đợi trông
    bên này con lầm lũi
    trôi nổi kiếp long đong

    xuân về trên đất khách
    ta một mình ngẩn ngơ
    soi gương chợt thấy lạ
    qua một đêm đợi chờ



    5 - XUÂN ÐẾN THÊM BẼ BÀNG

    Quê người đêm trừ tịch
    cùng đèn uống rượu suông
    quẩn quanh không thân thích
    bạn bè lạc ngàn phương

    sầu theo men vào tim
    đốt hồng thêm nổi nhớ
    thương đau ngự trong hồn
    làm xuân về vụn vỡ

    xuân ơi đến mà chi ?
    cho đau người ly xứ
    đời còn có nghĩa gì ?
    qua thời gian thác lũ

    nghìn trùng chốn quê hương
    xuân còn hay đã chết
    xót mẹ già chết mòn
    đợi đàn con lưu lạc

    quê hương hận ngun ngút
    quê người buồn nghĩa trang
    bạn bè tìm đâu thấy
    xuân đến thêm bẻ bàng

    xuân chìm trong đáy cốc
    ta tượng đá hắt hiu
    nhặt từng sợi tóc bạc
    để cạn hết niềm đau



    6- BAO GIỜ DẲM LẠI LÁ XUÂN QUÊ

    Nửa đêm đứng ngóng xuân ngoài ngỏ
    hồn chợt bâng khuâng tiếng thở dài
    nghe gió trở mình trên lá rụng
    buồn lên cửa mắt, bước chân ai

    Trở giấc vàng đông gầy tiển biệt
    nhớ nào gói trọn mãnh tình riêng
    lạnh lùa sõi đá tê hồn đợi
    xa vọng mùa xưa khúc nhạc phiền

    Chừng như mùa đông làm trăng chết
    biển cũng trở buồn vọng ngẩn ngơ
    bỏ bến chơ vơ mùa tàn lịm
    thuyền neo chất nặng tháng năm chờ

    Ta biến thành ga sầu hải đảo
    ngàn phương mòn đợi gió đôi bờ
    em còn bên song ngồi đan áo ?
    khiến kẻ tình si phải ngẩn ngơ

    Ta giờ cũng vẫn sầu thơ rượu
    giữa cảnh vào đông tiếc muộn màng
    tâm sự ngút ngàn ai biết tới
    nên đành héo hắt kiếp lang thang

    Thơ theo vàng võ màu đông nhớ
    năm đó một đi chẳng hẹn về
    tóc nhuộm thời gian trăng cổ độ
    bao giờ dẵm lại lá xuân quê ?



    7 - BỔNG DƯNG VÔ HẠN NHỚ MIÊN MAN

    Sáu câu vọng cổ thời thơ dại
    học mót từ trong ngõ ngách đời
    âm hưởng cuộc tình anh bán chiếu
    đâu ngờ số phận chính thân tôi

    Buổi đó cơ hàn manh áo bạc
    nên hoa niên như chuyện hoang đường
    người ta xe ngựa vui đèn sách
    tôi ‘Nặng Tình Xưa, Liễu Thuận Nương (1)‘

    Ừ, Liếu (2) dẫn hồn vào tịch mịch
    Xàng Xê (3) thêm nản cuộc phong trần
    quẩn quanh dò dẳm trong hư ảo
    đời thế làm sao chẳng nát thân ?

    Nên đã an vui cùng định mệnh
    bước đi không biết tới phương nào
    về đâu trời đất mênh mông quá
    ‘Lưu Thủy, Nam Ai (4)' khóc hận đau

    Giờ bổng thấy thèm câu vọng cổ
    tình tang đêm ngủ hát trong mơ
    như ngày lưu lạc đời chinh chiến
    rượu đế mồi khô hứng bất ngờ

    Câu chuyện thần tiên đâu hẹn trước
    bổng dưng vô hạn nhớ miên man
    ngủ cung nắn lại dây ù liếu
    dạ cổ mời em dạo khúc đàn

    (1) (2) (3) (4) tên các bản cổ nhạc



    8-THÊM MỘT LẦN XUÂN VIỄN XỨ

    mỗi năm cứ đến ngày xuân tết
    ta lại bâng khuâng chuyện trở về
    ngoài biển vật vờ đôi cánh nhạn
    trong tim lầm lũi bước đam mê

    ba mươi bốn năm đời lưu xứ
    đập vỡ gương soi vẫn hắt hiu
    tầm tã vực hồn mưa cỗ độ
    tay ôm ảo ảnh bóng mây chiều

    đã biết ngày về đâu có hẹn
    nhưng sao thương quá cảnh quê nhà
    tết này Phan Thiết hoa còn thắm
    trong hóc vông già, ve vẫn ca ?

    biển lưới cá đầy như buổi trước ?
    tiếng hò giả gạo có còn không ?
    nhớ ôi là nhớ ngôi trường nhỏ
    lưu bút ngày xanh, tuổi chớm hồng

    còn nữa, mộ phần đồng đội cũ
    năm nao chết thảm giữa binh đao
    chắc nay cũng đã tan thành bụi
    trước nỗi tang dâu huyết lệ trào

    mẹ đợi con về mòn mõi gục
    vợ chờ cũng hóa đá thiên thu
    bao lần hẹn hứa rồi quên hẹn
    mấy chục năm qua vẫn tháng tư



    9- TẾT NAY TA VỀ PHAN THIẾT

    Tết nay mình rũ về Phan Thiết
    sống lại mùa xuân tuổi học đường
    tháng chạp hăm ba cùng với mẹ
    nữa đêm tiển Táo rất thân thương

    Hăm nhăm lểnh khểnh mang quà tết
    kính biếu thầy cô khắp phố phường
    lấp ló sau lưng me nhìn trộm
    cành mai đang hé cánh xuân hương

    Chiều hăm chín tết theo chân chị
    mệt lã chen nhau giữa bước người
    phiên chợ cuối năm vui đáo để
    tiếng cười làm gió cũng chơi vơi

    Quẩn quanh đã bắt đầu đì đẹt
    pháo nổ xen trong điệu trống lân
    khắp bếp bề bề măng, cốm, mứt
    nhà trên cha vịnh bức tranh xuân

    Giao thừa ngồi đợi chuông chùa vọng
    giữa bước nàng xuân lộng nỏn nường
    hương rợp xiêm y rền nhạc ngựa
    trần gian mở hội đón tiên nương

    Hừng sáng cả nhà đi hái lộc
    mông mênh đất tỏa ngát hương trầm
    pháo hồng mừng tết bay trăm lối
    bổng tiếng gà vang báo đổi năm

    Trời hởi xuân về thương với nhớ
    ngồi đây mà ngóng tết xa mờ
    quán khuya vắng bóng người muôn dặm
    tiếng sếu càng thêm mộng ngẩn ngơ

    Giờ đâu còn đủ giòng dư lệ
    để khóc mùa xuân lạc bến chiều
    nhớ mẹ nên buồn rầu mộng mị
    những ngày tết nhỏ vẹn thương yêu



    10 - XIN NHỚ CHO TÔI CHÚT VỊ LÀNG

    Tết nay em có về Phan Thiết
    có ghé trường xưa, viếng mộ thầy
    đây nén hương lòng người lính cũ
    cũng là lệ nhớ xót thương cay

    Có vào tửu quán vui cùng bạn
    chuốc một bầu riêng cúng tưởng người
    những lính cùng dân chung bấ1hạnh
    vì đời mà đổ máu thây phơi

    Có xuống Cồn Chà ăn cá mực
    thăm giùm người bạn biển quê tôi
    thảm ơi một kiếp đời mưa gió
    vẫn áo mê tơi suốt một đời

    Có qua phố chợ khoe quần áo
    bớt một vài xu giúp kẻ nghèo
    người phế binh bò trên gạch lạnh
    tủi buồn cô quạnh nắng mưa treo

    Có đi ngắm cảnh tìm thơ vị
    đừng bỏ quên Cây Táo, Phú Long
    Dốc Căn, Kim Hải, Ðoàn Mạnh Hoạch
    những địa danh xưa đẳm máu hồng

    Có vào lễ Phật trên chùa Cú
    hay ghé thăm Cha tại giáo đường
    tìm lại giùm tôi hương phấn cũ
    của thời tuổi học lắm thương vương

    Có gặp bạn bè còn sống tủi
    xin em chia bớt một phần vui
    xin em lau lệ đời phân cách
    để nguyện cho nhau bớt ngậm ngùi

    Có mua quà tặng khi về Mỹ
    xin nhớ cho tôi chút vị làng
    hơi đất, mùi rơm, tình biển mặn
    thương hoài mà vẫn cứ miên man



    11- XUÂN MÙA CHINH CHIẾN

    Rồi cũng tết cũng mùa xuân viễn xứ
    đời chinh nhân sao lắm nổi đoạn trường
    xưa những mùa tết ngập lệ đau thương
    nơi đồn vắng, hố cá nhân chờ giặc

    Ðêm giao thừa một mình buồn hiu hắt
    ngậm ngùi cùng chiếc bóng chúc tân niên
    loay hoay tìm đâu thấy một ai quen
    chỉ tiếng nhạn kêu sương ngoài quan tái

    Sáng mùng một chờ thư em mòn mõi
    đứng lại ngồi trông mây nổi mù bay
    cuối quê xa thương mẹ ngóng đêm ngày
    chờ thằng con lính, trăm lần lổi hẹn

    Nhưng mẹ ơi nơi này xuân nào đến
    với những hồn ma lạnh quẩn quanh đây
    bên suối ngàn róc rách gió lã lay
    tết muôn dặm năm qua buồn muốn khóc

    Tàn chinh chiến tưởng không còn chết chóc
    đâu ai ngờ thảm tuyệt vẫn muôn phương
    xưa banh xác vì bom đạn chiến trường
  9. CỌP: THỰC CHẤT VÀ HUYỀN THOẠI







    Ngay từ thời thượng cổ, con người đã nể sợ và sùng bái loài ‘Cọp‘ nên coi đó như là vật tổ (totem), thậm chí có nhiều bộ tộc ở miền tây bắc Trung Hoa như Tây Khương, Tây Nhung, Lộc Lộc, Quả Quả.. đã thờ phụng và coi cọp như vị thần hộ mệnh của dân tộc mình. Ðó cũng là lý do phát sinh ra nhiều huyền thoại thần kỳ về cọp, không những được truyền khẩu khắp dân gian mà còn có mặt trong lãnh vực văn chương nghệ thuật.

    Ðiều này thật ra cũng chẳng có gì lạ, vì nếu ở Phi Châu sư tử được tôn sùng là chúa tể sơn lâm, thì cọp lại là mãnh thú hạng nhất ngự trị khắp rừng già nhiệt đới Châu Á, từ Tây Bá Lợi Á (cọp Siberia) tới tận bờ đông bán đảo Triều Tiên, xuống tận miền Nam Á (cọp Bengale) và hải đảo Nam Dương (cọp Bali..), Phi Luật Tân..

    Thần thánh hóa Cọp chưa đủ, người ta còn dùng tên nó để gọi các loại quân dụng và những nhân vật nổi tiếng trên thế giới như: Xe tăng Tiger của Ðức Quốc Xã thời Thế Chiến II, trang bị đại bác 88 ly là vũ khí lợi hại nhất thời đó. Trực thăng Tiger là loại máy bay chiến đấu tối tân nhất hiện nay của Pháp. Chiến đấu oanh tạc cơ phản lực F5F Tiger II do hảng Northrop của Mỹ chế tạo từ năm 1972. Phi hành đoàn Flying Tigers (Cọp Bay) của Mỹ lái chiến đấu cơ Curtiss P40 Warhawk tham chiến bên cạnh quân đội Trung Hoa Quốc Gia chống quân phiệt Nhật thời Ðệ II Thế Chiến. Hổ Tamil là tên tổ chức phiến quân chống lại chính quyền Sri Lanka vừa bị dẹp tan...

    Ngoài ra còn có Eldrick Tiger Woods là danh thủ số 1 người da đen trong thế kỷ XXI về môn Golf, Pat Boone nổi tiếng cuối thập niên 50 qua bài hát bất hũ ‘Like a tiger‘. Công ty Asia Pacific Breweries của Singapore đã sản xuất loại bia nổi tiếng Tiger. Bạch Hổ là tên mõ dầu lớn nhất hiện nay của VN được chính quyền Miền Nam Tự Do tìm thấy vào năm 1974 ngoài khơi Vũng Tàu và ‘ Cọp Ba Ðầu Rằng ‘ là danh hiệu của Tiểu Ðoàn 42 Biệt Ðộng Quân thuộc Liên Ðoàn 4 BÐQ nổi tiếng tại đồng bằng sông Cửu Long. Cọp 37 BÐQ là tiểu đoàn VN duy nhất được tăng phái cho Lực Lượng Ðệ III Thủy Bộ Hoa Kỳ (3 MAF) trấn giữ mặt trận Khe Sanh vào ngày 27-1-1968. Sư Đoàn Mãnh Hổ Ðại Hàn khi tham chiến tại Nam VN đã trấn giữ các tỉnh thuộc Vùng II chiến thuật (Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hoà). Hoa kỳ cũng có một đơn vị nổi tiếng, đó là Lữ Đoàn Tiger thuộc Sư Đoàn 2 Thiết Giáp Nhảy Dù, đã tham dự cuộc chiến Iraq lần thứ I vào năm 1991.

    + CỌP: MÃNH THÚ CỦA RỪNG XANH

    Cọp là loài dã thú có sức mạnh và sự tinh khôn gần bằng con người. Theo kinh nghiệm của giới thợ săn và làng võ, những nhân vật từng chạm trán với ác vật trên cho biết tính nết cọp rất kỳ lạ. Ðó là khi vồ mồi (bất kể là người hay thú vật) nếu bắt trúng ‘tai‘ thì cọp bỏ đi. Khi đã bắt được mồi, bao giờ cọp cũng dựng xác người hay vật ở tư thế ngồi hay nằm rồi mới ăn thịt và luôn luôn moi lục phủ, ngũ tạng ăn trước. Cọp nào làm ngược những quy tắc trên, được giới thợ săn gọi là ‘cọp trở mồi‘, một báo hiệu cho biết nó sắp bị giết bởi thợ săn hay sập bẫy. Ngoài ra khi thấy cọp quỳ chân sau chống chân trước là lúc cọp sắp tấn công. Khi vồ mồi, cọp chạy theo thế bò sát và phóng tới, cái đuôi phe phẩy theo hướng nào là cọp tấn công theo hướng đó. Sau cùng lúc cọp nằm ngữa bụng lên trời là để dưỡng sức đợi dịp tấn công tiếp đối thủ. Nhưng cọp cũng rất yếu bóng vía khi bị tấn công bất thần. Những lúc đó thường cong đuôi bỏ chạy và khi hườn hồn, lại quay về nẽo cũ để bắt mồi.

    Với người VN, cọp được gọi bằng nhiều danh xưng như Hổ (miền Bắc), cop miền Nam) hay ông Ba Mươi, ông Kễnh, ông Hùm.. Cọp thuộc họ Mèo với 240 loài là thú ăn thịt sống lớn nhất hiện nay gồm chó, mèo, chồn, gấu.. Chúng có bộ răng và móng chân đặc biệt để thích nghi trong việc xé mồi sống ăn thịt. Bộ răng gồm răng cửa nhỏ nhưng sắc bén dùng để róc xương, còn răng nanh vừa nhọn lại dài, lớn dùng để xé mồi. Riêng răng hàm được cấu tạo như lưởi kéo có nhiều mấu sắc nên có thể nhai nát thịi lẫn xương. Còn các móng chân của bộ ăn thịt đều có vuốt cong được đệm bằng lớp thịt dầy nên bước đi của chúng rất nhẹ nhàng uyển chuyển, thích hợp cho sự rình mồi. Loài nay có bán cầu não lớn mang nhiều nếp nhăn, con thú mới sinh rất yếu nên thường bị chết yểu.

    Họ Mèo (Falidae) là loài thú tiêu biểu nhất trong bộ thú ăn thịt gồm có cọp, beo, sư tử và mèo. Chúng săn mồi bằng cách tình rập và tấn công bất thần vào đối thủ (người hay vật) qua hành động nhảy cao và xa vì hai chân sau của chúng dài hơn chân trước. Chuyên săn mồi vào ban đêm nhờ có thị và thính giác cực mạnh, còn râu chỉ là cơ quan xúc giác phụ mà thôi. Trừ thời gian động động dục và nuôi con, hầu hết các thú thuộc họ Mèo sống đơn độc.

    CỌP (Panthera Tigris) hay Hổ là loài thú có kích thước lớn nhất trong họ Mèo. Một con cọp xứ Bengale (Ấn Ðộ) vào tuổi trưởng thành có trọng lượng hơn 250 kg, dài gần 2m và để nuôi thân, mỗi tuần phải ăn một con nai hay heo rừng. Trong 11 loài cọp còn tồn tại, nhỏ nhất là loài cọp sống trên đảo Sumatra (Nam Dương) nặng chừng 120 kg, còn loài lớn nhất hiện nay là cọp Tây Bá Lợi Á (Amua Panthera Tigris Longipilis) dài 3 m và nặng trên 320 kg. Trong rừng xanh cọp là chúa tể muôn loài trừ voi, sư tử, tê giác và trâu rừng.

    Cọp Tây Bắc Á sinh sống tại Nga, Tàu và Bắc Cao Ly, trước đây được mệnh danh là lãnh chúa của rừng Taiga, nay cũng sắp bị diệt vong trước mũi súng của phường săn. Tại Trung Hoa, chúng sống ở hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm (Mãn Châu) có bộ lông phát triển rất mạnh kể cả phần đuôi, biến đổi theo thời tiết từng mùa từ vàng nhạt sang đậm. Tại Tây Bá Lợi Á, cọp Siberia rất hung dữ và là kẻ thù không đội trời chung với chó sói, nên nếu có sự hiện diện của cọp trong vùng thì sói bỏ đi nơi khác để kiếm ăn.

    Hơn một thế kỷ trước tại Ấn Ðộ có chừng 40.000 cọp, nay chỉ còn lại 3000 trong số 6000 khắp thế giới vì hầu hết cọp sống tại Bali, biển Caspienne và Java sắp bị tuyệt chũng. May mắn nhất có lẽ là loài cọp Felis Paleosinensis cũng thuộc giống Siberia sống ở miền nam nước Tàu, Ấn Ðộ và vùng Ðông Nam Á hiện phân bố thành 8 loài khác nhau qua màu lông, kích thước. Một số cọp Siberia được nuôi dưỡng trong khu vực có rào sắt tại tỉnh Vladisvostok (Nga) và vườn thú Minnesota (Mỹ) nhưng đặc biệt nhất là tại Vân Nam (Trung Hoa), cọp rất được người thiểu số Lolo thuộc bộ tộc Di trọng vọng vì coi nó như vị thần hộ mạng.

    Là loài thú sinh sản rất hạn chế, cop nhỏ lên tới 4 tuổi mới trưởng thành. Cọp cái mỗi lần sinh đẽ với khoảng cách 2,3 năm và trong đời chỉ sinh tối đa là 7 lần và tới năm 20 tuổi là chấm dứt. Cọp cái mang thai khoảng 4 tháng thì sinh nở mỗi lứa từ 1-5 con nhưng tới đa chỉ vài con sống sót. Tuy là loài thú dữ nhưng cọp cái rất thương con nên chăm sóc kỹ càng tới năm 3-4 tuổi, cọp con mới rời mẹ để sống một mình.

    Về nguồn gốc, theo các nhà động vật học thì cách đây hơn 300.000 năm, tại vùng rừng núi Siberia còn ôn hòa ấm áp nên đã thấy cọp xuất hiện. Chúng là hậu duệ của loài Creodon sống cách đây hơn 60 triệu năm nay đã tuyệt chũng. Sau đó khí hậu vùng này càng lúc càng lạnh lẽo băng giá nên loài cọp mới di cư tới nơi khác ngoại trừ giống cọp to khoẻ Siberia chịu đưng được thời tiết nên ở lại tới ngày nay. Chúng chia thành hai nhóm đi về hướng tây nước Nga tới vùng biển Caspienne, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Afghanistan.. Nhóm khác đi về hướng đông vào Tân Cương, Trung Hoa, Mãn Châu và xuống tận miền Nam vào Ấn Ðộ hơp với nhóm một, thiên di tới các nước Ðông Nam Á ra tận các hải đảo Nam Dương, Phi Luật Tân... Ðó cũng là cuộc di cư cuối cùng của dòng họ cọp. Hiện các nhà khoa học chọn giống cọp Bengale làm con vật trung gian giữa giống cọp lớn nhất (Siberia) và nhỏ nhất (Bali) để đại diện cho dòng họ cọp, vì nó mang đủ các sắc tố điển hình của hai loài cọp trên về sức nặng, kích thước, màu lông và các yếu rố tâm sinh lý. Ðặc biệt là loài cọp trắng mắt xanh, chỉ có tại Ấn Ðộ. Ngoài ra còn có Liger là loài cọp được lai giống từ sư tử đực và cọp cái. Nó có cơ thể giống sư tử với những sọc vằn và thích bơi lội như cọp. Một con thú lai thứ hai giữa cọp đực và sư tử cái Tigon, mang đặc tính loài cọp.

    Tương cận với cọp có loài Báo bờm (Acinon Jubatus) có bốn chân rất dài với móng vuốt co giản được. Chúng sống tại Châu Phi, Ấn Ðộ, Afghanistan, Arab Saudi. Người ta thuần dưỡng báo bờm để săn linh dương nhưng rất khó khăn vì chúng thường chết yểu khi xa rừng. Báo Sư Tử hay Puma (Panthera Concolor) hiện có hơn 30 loài sống tại Nam Mỹ săn tất cả các loài thú to bằng con cừu. Báo Tuyết (Unica Ucin) màu lông vàng nhạt với các đốm đen, sống tại vùng núi cao Altai và rặng Hy Mã Lạp Sơn. Ngoài ra còn có loài Báo Gấm (Leo Pardus Pardalis) màu lông có đóm đồng tiền rất đẹp và Báo Panther Padus sống nhiều tại Á Phi, quần đảo Sonde ăn chó, linh dương, chim và thằn lằn. Tất cả các loài Báo đều sợ người.

    Sư Tử là chúa tể tại vùng thảo nguyên Phi Châu, có hình dáng rất oai vệ nhất là con đực. Sư tử sống khắp hai châu Âu và Phi, Ấn Ðộ. Hiện chỉ còn một số ít tại Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, vùng đồng cỏ quốc gia Bom Bay (Ấn Ðộ). Trừ Voi, Cọp, Tê Giác, Trâu Rừng và Khỉ đột Gorlilla.. sư tử ăn thịt tất cả các loại thú khác. Các loại Mèo Nhà (Mèo Xiêm ố Felix Catus Domestica), Linh Miêu (Lynx Lynx), Mèo Vàng Châu Phi (Profelix Aurata) và Mèo Rừng (Felis Chaus).. đều là loài thú nhỏ nhất trong bộ ăn thịt sống.

    + HUYỀN THOẠI VÀ NHỮNG TRUYỀN THUYẾT BÍ ẨN VỀ CỌP:

    Cọp và Sư tử là chúa tể của rừng xanh nên từ xa xưa con người nhất là ở Ðông phương đã thần thánh hóa con vật này. Ở nước Tàu trước đây thường có tục lấy vuốt cọp làm bùa cho trẻ con đeo để được mạnh khỏe. Riệng mặt cọp được dùng làm vật trang trí giáp trụ cho các võ quan. Theo các nhà nghiên cứu thì cọp và người đã chạm trán ngay từ thời tiền sử vì cả hai đều sống bằng việc săn mồi. Hoàng đềAugust của La Mã có một chuồng riêng nhốt tới 420 cọp dùng trong các cuộc đấu giữa người nô lệ và thú dữ. Nhiều vua chúa Ấn Ðộ lấy việc săn cọp làm dịp để khoe sự giàu sang và quyền lực. Trong chuyến đi vòng quanh thế giới từ Venise tới nước Tàu, Marco Polo (1260) cho biết Cubilai Khan, hoàng đế Mông Cổ đã nuôi hơn 1000 con Báo để săn Cọp. Người Anh khi đô hộ Ấn Ðộ cũng thường tổ chức nhiều cuộc săn cọp rất qui mô mà điển hình nhất là vào năm 1911, Hoàng Đế George V tới Nepal mở cuộc đi săn trong vòng 11 ngày đã giết được 39 con cọp.

    Nói chung thời xưa, cọp rất được nhiều dân tộc như Altai, Tungus, Kiecghidi, Buriat.. sùng bái, thờ cúng và lập miễu thờ . Riêng các thầy thuốc xưa của Trung Hoa và Ấn Ðộ đều xác nhận hầu hết các bộ phận trong cơ thể của cọp đều có khả năng kỳ diệu chứ không riêng gì cao hổ cốt nổi tiếng.

    Lại có học thuyết cho rằng thủy tổ của loài người là do sự tương quan giữa rồng và cọp. Niềm tin trên được phát xuất từ sự liên quan giữa loài cọp và thiên nhiên như cổ thư của người Tàu đã viết ‘vân tòng long, phong tòng hổ‘ ý nói ‘mây theo rồng, gió theo hổ hoặc ‘rồng ngâm mây xuất hiện, hổ gầm gíó phát sinh‘. Ðiều này cho thấy quan niệm của người xưa luôn cho rằng mọi cử động của cọp đều có ảnh hưởng tới thiên nhiên vì nó là loài thú thần. Bởi vậy trong kỳ môn bát quái, ta luôn thấy hai vi thần Thanh Long và Bạch Hổ đi liền nhau ở hai phương Đông và Tây. Các nhà nhân chũng học cũng cho rằng rồng là hóa thân của rắn nên người Vân Nam xưa thờ rắn tượng trưng cho đất mẹ. Trong khi đó người Lộc Tộc tại Tứ Xuyên lại coi cọp là thủy tổ của dân tộc mình.

    Về nguồn gốc của Hán tộc, căn cứ vào sử liệu đã xác nhận họ là hậu duệ của Phục Hy (cọp) và Nữ Oa (rắn), nên thời cổ xưa khi tạc tượng hai nhân vật trên có đầu người, mình rắn, chân cọp trong tư thế tương giao. Lão giáo cũng lấy hình ảnh của cọp trắng (bạch hổ) để tượng trưng cho khí dương (nam giới) và rồng xanh (thanh long) biểu hiện cho âm tính, nói lên sự hòa hợp giữa nam nữ sinh ra vạn vật, biểu tượng của sự sinh sôi nẩy nở không ngừng. Ðiều này chứng tỏ ảnh hưởng to lớn của con người đối với loài cọp vào thời thượng cổ.

    Vì lẽ đó người ta coi cọp như là hóa thân của khí hạo nhiên và chính nghĩa, nên cọp có thể là khắc tinh của tà ma quỷ quái vì người bị cọp ăn thịt sẽ hóa thành quỷ. Quan niệm này có ghi trong ‘Sơn Hải Kinh‘ nói về sự tích của hai vị Thần Trà và Uất Lũy, chuyên bắt ma quỷ đem về núi Ðộ Sóc để cọp ăn thịt. Vì vậy trong ba ngày Tết người ta thường dán hình hai vị thần này trước cửa để trừ tà, ém quỷ ngăn cản ma vào nhà quậy phá.

    Nhưng quan niệm cho rằng cọp tượng trưng cho chính nghĩa đã bị phản bác kịch liệt vì nếu cọp là kẻ tốt tại sao lại ăn thịt người ? Bào chữa cho sự mâu thuẩn này có Lang Anh (đời Minh) và Kỷ Hiệu (nhà Thanh) đưa ra nhiều biện giải như cọp chỉ ăn thịt người xấu. Tất cả đều bị coi là cường điệu vô lý. Tuy nhiên cũng có những nhận xét rất thú vị về con vật đặc biệt này, chẳng hạn như cọp khi ăn thịt đàn ông thì sơi ‘cái của quý‘ của nạn nhân trước nhất. Với phụ nữ thì ăn cặp nhũ hoa đầu tiên nhưng tuyệt đối không bao giờ đụng tới phần hạ bộ. Ngoài ra mỗi lần cọp ăn thịt một người thì vành tai của nó bị lũng một lỗ. Ðiều này được chứng minh từ những con cọp đã ăn thịt nhiều người trước khi bị thợ săn bắn hạ, đều có vành tai lồi lõm như lưỡi cưa.

    Tóm lại Cọp là loài vật hoang dã có nhiều liên quan mật thiết nhất với con người. Sự kiện trên được minh chứng khi các nhà khảo cổ vừa tìm thấy tại bờ sông Amur thuộc Tây Bá Lợi Á (Nga), nhiều vật dụng của người Gordis sống vào thời tiền sử cách đây hơn 6000 năm, với vô số minh họa về cọp. Cũng tại vùng này, thổ dân Udeges sống trong thung lũng Bikin đã sử dụng nhiều ngôn ngữ nhắc tới cọp Siberia, được coi như vị thần có đền thờ tại Primosky và Kharra Rovsk.

    Tại Ấn Ðộ, các loại sách thần thoại đều vẽ hình nữ thần Durga cưởi cọp. Riêng trong kho tàng văn chương lịch sử của người Tàu, thì thời nào cũng thấy nhắc tới cọp nay vẫn còn lưu lại như ‘phong tục thuyết‘ nói về nhân vật Lý Nhĩ ‘giáo chủ của Lão Giáo‘ cưỡi cọp đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, chống lại các tà thần, tà thuyết làm hại đời. Từ ý nghĩa trên nên giáo chủ Thái Thượng Lão Quân mới chọn Ngủ Hổ làm biểu tượng của ngũ hành ‘kim, mộc, thủy, hỏa, thổ‘.

    Sách ‘Hiếu Tử Truyện‘ có nói về chuyện cọp đền ơn ông Quách Văn đã cứu nó, giống như chuyện Ðổ Khu Báo đời Hán đã che chở cho cọp lúc bị thợ săn đuổi giết, được ghi trong truyện ‘Vương Phu An Thánh Truyện‘. Những huyền thoại này cũng được phổ biến rất nhiều tại VN qua chuyện Bà Mụ Tư Trần Thị Hoa, đã đở đẻ cho một con cái tại Rạch Bàn, Cái Nước (Cà Mâu) được cọp trả ơn rất hậu. Trong Ðại Nam Nhất Thống Chí, có ghi chuyện cọp được dân chúng xã Xuân An, Bình Sơn (Quảng Ngãi) có công giúp người trừ giặc Mọi Ðá Vách, nên được nhà Nguyễn phong chức Hương Cả, hiện đền thờ cọp vẫn còn được gọi là Kha Hổ.

    Nhà bác học Trương Vĩnh Ký (1837-1898) trong tác phẩm ‘Chuyện Đời Xưa‘ đã viết 6 câu chuyện về cọp. Trong Việt sử, nhiều giai thoại về cọp có liên quan tới Ðinh Tiên Hoàng Ðế (968-980) đã dùng chuồng cọp để duy trì phép nước sau khi dẹp yên loạn Thập Nhị Sứ Quân cuối đời Ngô. Sách Ðại Nam Tiền Liệt truyện, có nhắc tới chuyện Ðào Duy Từ nằm mộng thấy cọp nên thâu nhận Nguyễn Hữu Tiến lại còn gã con gái và tiến dẫn với Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên. Từ đó Tiến được gọi là Hổ tướng. Các nhân vật Bùi Tá Hân, Dương Công Trừng, Tăng Bạt Hổ.. đều là hổ tướng vì có công đánh cọp cứu giúp dân lành.

    Tuy nhiên khủng khiếp nhất vẫn là truyền thuyết ‘vi hổ tác xương‘ được truyền khẩu hơn ngàn năm qua ở nước Tàu, nói về chuyện người bị cọp hại biến thành quỷ đặc biệt gọi là ‘hổ xương‘ giúp ác thu ăn thịt người’. Qua những câu chuyện được đồn đãi khắp nhân gian, thì cọp rất kiêng kỵ ăn thịt người lúc họ còn đang mặc quần áo. Hồn quỷ ‘hổ xương‘ đã giúp cọp cởi bỏ hết y phuc của nạn nhân và xếp rất gọn gàn để tại hiện trường. Quỷ ‘hổ xương‘ rất linh biết trước nơi nào có người đi qua cũng như những cạm bẩy của thợ săn, nên báo trước cho cọp tránh né.

    Và hoang đường nhất trong các huyền thoại có liên quan tới cọp vẫn là chuyện người hóa hổ hay ngược lại, đã được ghi trong sách Luận Xung của Vương Sung thời Ðông Hán hay sách Thuật Dị Kỳ thời Nam Bắc Triều.. Còn Trương Hoa đời Tấn viết ‘Bác Vật Chí‘ cho biết cọp hóa thành người rất thích mặc quần áo màu tía đi chân không. Ðó là đặc trưng để nhận dạng người cọp.

    Thực tế ngoài đời có một bộ tộc mang tên người Hổ. Ðó là dân tộc Di sống rãi rác tại các tỉnh Quảng Tây, Quý Châu và Tứ Xuyên (Trung Hoa) hiện có hơn 6.570.000 người. Di tự nhận mình là hậu duệ của Khương Tuất mà tổ tiên là loài cọp. Vì vậy từ đời sống vật chất tới tinh thần của bộ tộc này đều có mùi cọp hiện diện, kể cả tên các địa danh mà họ đang định cư như La La, La Ba, La Vũ, La Ngoa..

    Các sử sách của Di đang phổ biến trong đó có sử thi Mai Cát đã ghi rõ câu chuyện đàn bà người Di giao hợp với cọp sinh con đẽ cháu lưu truyền tới ngày nay. Hằng năm người Di đều tổ chức Hội Cọp khắp các làng xã đang cư ngụ rất trang trọng và vui vẽ.

    Thời Pháp thuộc, người thiểu số sống tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận.. dùng râu cọp làm thuốc độc để giết hại lẫn nhau. Theo truyền thuyết khi giết được cọp, người ta cắt râu nó đem về bào chế thuốc độc. Một là đem râu cọp cắt ngắn trộn với đường dẽo làm thành kẹo, người nào ăn phải sẽ bị thổ tả vì râu cọp vào trong người, sẽ đâm thủng bao tử và gan ruột. Cách thứ hai ghê gớm hơn là đem râu cọp cắm vào mụn măng non sau thời gian ngắn sẽ sinh ra vô số sâu rọm. Muốn hại ai đó chỉ cần lấy phân và lông của sâu này bỏ vào thức ăn hay nước uống thì họ sẽ chết vì trúng độc.

    Việc hại nhau bằng râu cọp được học giả Thái Văn Kiểm từng làm Tỉnh trưởng Khánh Hòa và Ninh Thuận (1953-1954) ghi lại trong tác phẩm ‘VN Gấm Hoa‘ và giáo sư người Pháp từng sống lâu năm tại VN là G.Chochod xác nhận trong ‘La Faune Indochinoise‘. Còn việc râu cọp trở thành thuốc độc, cũng được hai Bác Sĩ Nguyễn Minh Tâm và Huỳnh Trọng Nhi giải thích rằng ‘cọp là loài thú ăn thịt sống nên râu mép luôn dính lại một số thức ăn, lâu ngày biến thành độc tố Ptomaine. Ngoài ra râu cọp rất cứng và nhọn, nên khi ai ăn phải sẽ bị bệnh chết ‘.

    + TỪ HỔ QUYỀN TẠI HUẾ TỚI CHUỒNG CỌP CÔN SƠN:

    Ngày xưa tại làng Nguyệt Biều tỉnh Thừa Thiên có hai địa danh nổi tiếng. Ðó là Ðiện Voi Ré (Long Châu) và Hổ Quyền (chuồng cọp) cách nhau chừng vài chục thước. Hổ Quyền là nơi mà các vị vua chúa nhà Nguyễn dùng làm đấu trường để voi và cọp tương tranh. Ðó là một cái giếng cạn lộ thiên được xây bằng vôi gạch, có đường kính 50 m cao 6m, gồm 2 tầng: Phía trên là khán đài dành cho vua quan ngự khán, phần dưới là đấu trường.có cửa thông với chuồng voi và cọp. Lý do có các cuộc đấu này là để tập cho voi bạo dạn hơn để khi đụng trận thật sự không khiếp sợ bỏ chạy. Theo sử liệu, Hổ Quyền được xây năm 1748 và lần giao đấu cuối cùng được tổ chức vào đời vua Thành Thái thứ 18 (1904). Sau đó nơi này trở thành hoang phế.

    Thời Ðông Dương thế chiến lần thứ II (1960-1975), một số trí thức miền Nam theo CS Bắc Việt đã tố cáo chính phủ VNCH dùng chuồng cọp Côn Sơn (Côn Ðảo) để giam giữ hành hạ các tù nhân chính trị đối lập. Thật ra danh từ ‘chuồng cọp‘ rất được phổ biến ở miền Nam suốt thời gian trên nhất là trong giới nhà binh, vì hầu hết các đơn vị lớn nhỏ đều có một chuồng cọp, để trừng trị cảnh cáo các quân nhân vô kỷ luật. Còn các quân trường, quân lao, nhà lao cũng đều có một chuồng cọp, để tạm giam phạm nhân nguy hiểm, phá rối trị an.

    Từ năm 1940, trước cao trào toàn dân VN nổi lên đánh Pháp cứu nước, nên thực dân đã cho xây tại Côn Sơn (Côn Ðảo) 120 căn hầm lộ thiên gọi là chuồng cọp tại Banh III để giam giữ các tù nhân chính trị đủ mọi đảng phái quốc gia lẫn cộng sản. Sau khi được Pháp trao trả chủ quyền cho VNCH vào năm 1954, nhà lao Côn Sơn vẫn được duy trì để giam nhốt các tù thường phạm nguy hiểm giết người cướp của và những tù nhân chính trị CS cũng như đối lập với chính quyền miền Nam.

    Câu chuyện chuồng cọp Côn Sơn bắt đầu năm 1970, từ đám Việt Cộng trá hình dưới lớp áo trí thức sinh viên miền Nam. Bọn này bị bắt qua các cuộc biến động tại miền Trung cũng như trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968) với nhiều tội ác giết người tại Huế, Ðà Nẳng, Sài Gòn.. Do chính sách nhân đạo nên chính quyền đã không tử hình bọn sát nhân trên mà chỉ đày ra Côn Ðảo và hầu hết được phóng thích về Sài Gòn vào năm 1970.

    Nhưng chứng nào tật đó nên vừa được tự do về Sài Gòn, chúng đã nhận ngay chỉ thị của Hà Nội, đưa tài liệu ngụy tạo cho bọn phản chiến quốc tế lúc đó như Jane Fonda và chồng là Tom Hayden, Robert Chenoweth, Jean Pierre Derris (Pháp).. cấu kết tuyên truyền khắp nước Mỹ và thế giới, qua những hình ảnh cũ từ thời Pháp thuộc trước 1954, để đầu độc dư luận và bêu xấu VNCH. Hậu quả tất yếu là miền Nam đã bị Hoa Kỳ cúp hết nguồn viện trợ vào tháng 3-1975, sau khi phái đoàn lưỡng viện Quốc Hội mà đa số thuộc đảng dân chủ phản chiến tới Sài Gòn để điều tra sự leo thang chiến tranh của Bắc Việt sau khi chúng đã cùng Mỹ ký hiệp định ngưng bắn tại VN vào ngày 27-1-1973 ở Ba Lê.

    Bọn lập pháp Mỹ thay vì làm công tác được quốc hội Hoa Kỳ giao phó, chúng lại đòi hỏi chính quyền phải đưa tới Côn Sơn để chụp hình chuồng cọp đem về Mỹ phổ biến. Kết cuộc VNCH bị bứt tử vào ngày 30-4-1975, khiến cho đất nước và đồng bào từ Nam ra Bắc đắm chìm trong địa ngục ngục nô lệ đói nghèo từ đó đến nay.

    Bổng dưng thấy thấm thía vô cùng khi đọc lại bài thơ ‘Nhớ Rừng‘ của Thế Lữ viết vào thời tiền chiến, trong đó có nhiều đoạn chẳng những phù hợp với hoàn cảnh của người Việt sống trong vòng nô lệ của thực dân Pháp lúc đó:

    ... gặm một mối căm hờn trong củi sắt
    ta nằm dài trong ngày tháng dần qua
    khinh lũ người kia, ngạo mạn ngẩn ngơ
    gương mắt bé riểu oai linh rừng thắm...

    và xã hội VN ngày nay dưới chế độ toàn trị độc tài của đảng Cộng Sản

    nay ta ôm niềm uất hận ngàn thu,
    ghét những cảnh không đời nào thay đổi..

    ‘Hùm chết để da, người ta chết để tiếng‘, CSVN đã làm đủ mọi chuyện buôn dân bán nước cho Tàu đỏ, nên dù có sửa đổi lịch sử để lừa bịp dư luận thì viên miễn cũng lứu xú ngàn năm khi muốn ‘họa hổ thành khuyển‘. Câu chuyện ‘Hà Chánh Mãnh Ư Hổ‘ của Khổng Tử ghi trong sách Luận Ngữ, nói về việc người dân không hề sợ cọp ăn thịt, mà chỉ lo chính trị thối nát, tham quan ô lại... đã đủ nói lên cái thực trạng ‘cây cột đèn ở VN ngày nay nếu có chân cũng tìm cách vượt biên tị nạn Cộng Sản‘ để tìm tự do mà bất cứ nguời VN nào cũng biết.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di
    Tháng 1 - 2010
    MƯỜNG GIANG
  10. LẬT LẠI NHỮNG TRANG HUYẾT SỬ SAU NGÀY MẤT NƯỚC ÐỂ VINH DANH KHÍ TIẾT CỦA NGƯỜI LÍNH VNCH

    MƯỜNG GIANG



    Quý Mùi 1283 giặc Mông lại xâm lăng Ðại Việt lần thứ hai. Lúc đầu thế giặc rất mạnh nên Thăng Long thành thất thủ, quân ta phải rút lui chỉ để lại tướng Trần Bình Trọng ngăn giặc tại Thiên Trường. Nhưng vì quân ít thế cô nên ông đã bị Thoát Hoan bắt tại bãi Ðà Mặc ở khúc sông Thiên Mặc, nay thuộc làng Mạc Trù Châu, Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. Nghe tiếng ông là bậc đại hiền của nước Nam, nên thái tử nhà Nguyên đem danh lợi ra khuyến dụ nhưng Trần Bình Trọng quyết “Thà làm quỷ nước Nam, chứ không làm vương đất Bắc”.

    Cuối đời Trần, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua để giặc Minh lợi dụng cơ hội trên sang cưỡng chiếm Ðại Việt. Cuộc chiến chống ngoại xâm lại xảy ra nhưng vì thế lực của vua Trùng Quang quá yếu nên phải rút về cố thủ tại Hóa Châu và tạm giải hoà với giặc vào năm 1413. Ðiện Tiền Thị Ngự Sử Nguyễn Biểu lãnh trách nhiệm gặp tướng Minh là Trương Phụ để thương thuyết. Trong trại giặc ông không quỳ lạy lại còn khẳng khái ăn đầu người, mắng chửi quân xâm lăng khi chúng sỉ nhục Ðại Việt, nên bị giết chết.

    Từ năm 1862 giặc Pháp xâm chiếm nước ta, Bernard đã đem hết toán nghĩa quân của Nguyễn Ðức Huỳnh chôn sống chung trong một nấm mồ tập thể tại Côn Ðảo. Cũng từ đó nơi muôn trùng gió cát, xương trắng hằng hằng, đã làm cho ý thơ hồn Việt được nung nấu trong người chiến sĩ nơi chốn lưu đày. Tất cả đã trở thành những ‘Thi Ngôn Chí‘ lưu danh thiên cổ cùng với các tên tuổi Nguyễn Thành, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh và hằng vạn nhà cách mạng đầu thế kỷ XX ôm mộng lấp biển vá trời, giải thoát quê hương khỏi vòng nô lệ. Năm 1930 VN Quốc Dân Ðảng khởi nghĩa chống Pháp nhưng thất bại. Ðảng Trưởng Nguyễn Thái Học cùng nhiều đồng chí sa cơ lên đoạn đầu đà tại Yên Bái. Riêng Nguyễn Khắc Nhu mở lựu đan tự sát, Ðổ Thị Chuyên nuốt giãi yếm đào chết trong ngục..

    Ðây cũng chỉ là những tiêu biểu của hằng triệu tấm gương liêm sỉ trong dòng sử Việt. 1975-2009 đã ba mươi bốn năm qua, ngoại trừ những kẻ mắn may thoát được trầm kha hệ lụy trong thiên đàng xã nghĩa. Hầu hết những người bị kẹt lại, đố có ai dám vỗ ngực nói là mình đã hết nỗi hãi hùng khi vô tình nhớ lại một thời sống nhục trong địa ngục trần gian đỏ ?. Tất cả chỉ là nói phét, nếu ai đó bảo rằng mình không hề sợ hoặc ta rất anh hùng, coi thường bạo lực, còng tay treo chân nằm lạnh trong cachot hay chẳng sợ chôn sống hoặc bỏ rọ ngâm tôm.. Hãy cùng đọc vài câu thơ trích trong Ngục Trung Nhật Ký mà Hồ nhận là do mình sáng tạo:

    “Ở đời muôn sự đều cay đắng,
    cay đắng đâu bằng mất tự do
    mỗi lời mỗi việc không tự chủ
    để chúng dắt đi tựa trâu bò“


    Hỡi ơi vĩ đại như ‘bác‘ khi mất tự do, cũng đã hèn như ai và cũng biến thành bò trâu mặc cho cai tù chúa ngục dẳn dắt hành hạ, thì nói chi đến những người bình thường bị dồn vào cuối nẻo đường tận tuyệt.

    CSVN quá khôn nên không hề tự vạch áo cho địch xem lưng dù trong nội bộ đã chia năm xẽ bảy chỉ chờ dịp ‘ăn tươi nuốt sống lẩn nhau‘ để giành quyền. Sau ngày 1-5-1975 vì chia của không đều, nên những kẻ bị vắt chanh bỏ võ mới lên tiếng viết sách tố lãnh tụ tối cao của mình, đã bán đứng đồng chí cho Pháp, VNCH để đổi lấy mạng khi bị cầm tù.

    Ba mươi bốn năm qua nơi tất cả các trại tù từ Sài Gòn tới miền Nam, đất Bắc, đã có ai trong quân công cán cảnh VNCH cũng như các vị lãnh đạo tôn giáo, đảng phái, văn nghệ sĩ bị nêu đích danh là phản bội đồng đội, ngoại trừ một người duy nhất là Bùi Ðình Thi? hay chỉ là nghe nói, nghe đồn, nghe ông đi qua bà đứng lại sầm xì hoặc có trên cái loại chữ nghĩa không bị lương tâm đánh thuế. Vậy thì những ai dù có bị ở tù nhưng chưa hề bị thẩm cung, viết tự khai tự bạch hằng giờ hằng tháng, bị khủng bố đến độ phải chết trân hay đại tiểu tiện đầy quần, thì cũng đừng quá miệng luận anh hùng, chê khen chụp mũ.

    Chế độ tù lao của Cộng Sản quốc tế ở đâu, thời nào dù do Stalin, Putin, Mao, Giang, Kim Nhật Thành, Polpot, Fidel Castro, Hồ Chí Minh, Nông Đức Mạnh.. cũng chỉ là một lò, một mục đích: “Lấy đói khiến người thành hèn, dùng hăm dọa trấn áp gây nỗi sợ hãi, tạo ác mộng kinh niên trong tâm khảm người tù, khiến họ phải cúi đầu tuân phục, làm tay sai bán đứng đồng đội“.

    Ở ngoài đời được tự do lại thừa mứa cơm gạo, rượu gái, mà còn không hiếm kẻ giết nhau để tranh ăn, đoạt vợ dành chồng, a vào chụp giựt chức tước, danh xưng, những thứ trên trời dưới biển, chỉ có trong chiêm bao và phường tuồng. Tệ hơn còn lường gạt tiền bạc và niềm tin của người, làm cho lý tưởng quốc gia lần nữa bị ngộ nhận và xuyên tạc. Lịch sử đã minh chứng, chỉ có kẻ anh hùng rơm mới dại tranh hơn thua cùng đám cai tù vô loại, thiếu học, để rồi chết thảm nơi lỗ chăn trâu. Lãnh tụ cọng sản trăm thằng như một, hèn hạ bán đứng đồng đội để tồn tại thành cha già, tổng bí thư, uỷ viền này nọ, ngồi trên ngai vàng ăn xương uống máu đồng bào, hết lớp này tới đợt khác, ngày qua tháng lại, mà có chết ai đâu?

    Trái lại những người chiến sĩ quốc gia trong cơn cùng khốn vấp phải lỗi nhẹ hay chỉ vì biết nhẫn nhục trước giặc thù để bảo trọng thân xác của me cha sinh thành, hầu còn cơ hội sống mà phục thù rữa hận, lại bị nghe nói, nghe đồn, biếm nhẽ, khinh khi. Rốt cục chúng ta chỉ biết khai thác chúng ta, để cho kẻ thù và bọn nằm vùng lọt sổ, chỉ vì đố kỵ hẹp hòi, thù vặt cá nhân, nghe đồn, nghe nói từ những suy diễn a dua có ác ý, từ những cái miệng quen lép nhép cầu danh, cầu lợi. Ðâu có ai thích vào tù để làm anh hùng hay được tiếng liêm sỉ vì nơi này rẫy đầy ti tiện bẩn thỉu, nó lại không dạy cho ai một bài học cao quý nào, ngoài người tù tự học cho mình những bài học làm người.

    Như vậy hơn ba mươi bốn năm qua, ngoại trừ một vài con chim lạc đàn, một số kẻ bạc phước vùi thây nơi muôn trùng cát bụi, tất cả tù nhân cọng sản còn sống sót, dù có bị đày đọa thể xác nhưng không ai bị tẩy não, nhồi sọ. Họ đều xứng đáng ngẩn mặt sánh vai với bất cứ ai trong cõi đời này vì đã làm xong trách nhiệm và bổn phận của người trai thời loạn.

    Bỗng dưng thấy đau lòng trong nổi mênh mông trống vọng biển dâu, bởi con người sinh ra ai cũng phải chết. Bể khổ vô thường đời nay của người Việt, đã không còn là sự khổ đau vật chất, nghèo đói, tử sinh mà là sự hèn nhục bị Tàu đỏ cướp nước, ách nô lệ cọng sản quốc tế trong mấy chục năm qua. Chim Thục Ðế khóc đau cho nước đền nổi phải khắc khoải sầu đau, năm canh máu chảy. Còn con người thì cứ mãi vô tình đi về trong cõi phù du, mặc cho hồn nước thét khóc trong nổi bể dâu não nùng:

    ‘bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
    người nằm xuống, kẻ đầy qua trại khác
    ai chống lại thì xác thân tan nát
    ai bệnh đau thân xác cũng không còn
    đem sức người đi phá núi dời non
    đem mạng sống để gỡ mìn tháo đạn
    thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
    thế trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang...’


    Hai mươi năm chiến cuộc thảm khốc tại miền Nam, nạn nhân lãnh đủ cũng chỉ là dân và lính, là những người tuổi trẻ VN, vì đời, vì người và vì liêm sỉ mà đem mạng cùi ra sa trường làm bao cát, hầm chông, lãnh đạn cối tăng, dao găm mã tấu của giặc bắc. Trong lúc đó tại hậu phương, người lính bị ghét bỏ khinh khi và tàn nhẫn hơn hết là bị đám Việt gian nằm vùng, đâm sau lưng trí mạng. Ðọc lịch sử thêm hận cuộc đời và càng thương biết bao cho quê hương lầm than tủi nhục bởi đám sâu bọ mang lớp người.

    Ngày xưa lính khổ chỉ biết cười khóc riêng mình nhưng khi dân khổ thì lính khóc cho dân trên những đoạn trường máu lệ trong tết Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa và những giây phút cuối cùng trong tháng Tư đen. Ba mươi bốn năm qua những ngày tao loạn, lính đi tù lính chết, vợ con lính lầm than đen đói, thương phế binh lê lết lầm than, vậy mà chẳng thấy một ai lên tiếng vì lương tâm để cứu giúp những hồn oan vất vưởng.

    Không biết nhà tù tại các nước Tây phương và Hoa Kỳ như thế nào nhưng với lương tâm mà viết, thì các nhà tù tại VNCH nhất là quân lao, từ chuyện ăn uống, sinh hoạt, quân phạm cũng như tù chính trị rất là thoải mái. Như vậy tại sao luôn có những cuộc gây rối trong các trại giam tù binh Cộng Sản? một điều không hề có tại VN sau ngày 30-4-1975.

    Qua các tài liệu lịch sử được công bố cùng với những bài viết, sách vở của những quân nhân Quân Cảnh, có trách nhiệm canh giữ tại năm trại tù binh CS ở Pleiku, Quy Nhơn, Biên Hòa, Ðà Nẳng, Cần Thơ thuộc bốn vùng chiến thuật và một tổng trại ở Phú Quốc. Tất cả đặt dưới sự quản trị của Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh.

    Phụ trách những trại trên là các Tiểu Đoàn 7,8,9 và 14 Quân Cảnh/QLVNCH. Ngoài ra còn thêm một liên đội Quân khuyển cũng như ngành Quân Y làm việc trong các bệnh viện mỗi trại. Số tù binh Cộng Sản lúc cao điểm đã lên tới 40.000 người. Riêng mỗi trại tại các vùng chiến thuật thường giam giữ trên 5000 tù binh nhưng đông và quy mô nhất vẫn là Trung Tâm Phú Quốc.

    Về những nguyên nhân khiến tù binh thường gây rối vì chúng có chỗ dựa lưng vững như núi của phong trào tranh đấu đòi cải thiện chế độ tù ngục của các Linh Mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trương Tá Cẩn, của tờ Tin Sáng do đám dân cử Cộng Sản Hồ ngọc Nhuận, Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung chủ trương và Hội Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành nhưng quan trọng hơn hết vẫn là các loa của đám phản chiến Tây phương và Mỹ.

    Do trên chuyện tranh đấu trong tù qua những đòi hỏi vô lý quá đáng, được kiếm chuyện và xảy ra như cơm bữa, giúp những thành phần trên lấy cớ viết bài đăng báo, tố cáo chính quyền miền Nam vi phạm hiệp ước, nhân quyền, đối xử vô nhân đạo với tù binh. Cũng vì vậy mà phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ theo thỉnh cầu của Tổng Thống Ford đến Sài Gòn vào ngày 24-2-1975 để duyệt xét chuẩn chi 300 triệu Mỹ kim quân viện cho VNCH.

    Nhưng trời ơi thay vì tới tận chỗ để nhìn tận mắt cảnh điêu tàn lầm than khổ tuyệt của đồng bào trong cuộc chiến do giặc bắc đang gây ra, thì những vị dân cử dân chủ thiên cộng quyền uy lúc đó như Paul Mc Closkey, Bella Abzug, John J Flynt, Donald Flynt.. chỉ ra lệnh cho TT Nguyễn Văn Thiệu phải để cho bọn chúng tiếp xúc công khai cho bằng được Chân Tín, Trần Hữu Thanh, Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh tấn Mẫm.. để lấy bằng chứng về chuồng cọp Côn Ðảo và Chí Hòa.

    Ngày 29-4-1975, Tướng Dương văn Minh làm tổng thống, Linh Mục Chân Tín vội vã tới yêu cầu trả tự do tức khắc cho các tù chính trị, nhưng bị sai khéo vào gặp Võ Đông Giang tại phi trường Tân Sơn Nhất. Tại đây y bị VC giữ cho tới khi Sài Gòn thất thủ mới được thả. Do những bi thảm não nùng trên, nên tù binh Cộng Sản được lệnh gây bất an thường xuyên, để đạt cho được mục đích VU KHỐNG phía VNCH trước dư luận quốc tế qua cái loa của Tin Sáng, Ðối Diện, Thách Ðố, đài BBC Luân Ðôn.. Thật ra tất cả tù binh Bắc Việt bó buộc phải làm như vậy, để khi được trao đổi thì còn cơ hội thấy lại được gia đình, phục tước và không mất chức mất đảng, mất quyền tem phiếu.

    Có là người Quân Cảnh canh giữ tù binh, mới biết được mặt thật và chân dung của bộ đội ‘bác Hồ‘. Vì bị nhồi sọ, bưng bít và được trồng người từ khi mới chào đời, nên hầu hết đều hung dữ, bạo tàn, táng tận lương tâm ngay với chính đồng đội của mình, qua những pha thanh toán nội bộ khủng khiếp ngay trong trại giam.

    Chỉ cần một lý do nào đó, những hận thù chồng chất trong đầu óc hiếu sát bị chèn nén, lập tức nổ tung. Những thanh toán đẫm máu tập thể đồng bọn như móc mắt, đóng đinh vào đầu, bịt mắt bỏ bao hoặc tập thể bề cho tới chết. Riêng cán gái tại trại tù binh miền Trung, được mô tả cũng dũng liệt không kém bộ đội trai, nhất là màn nội bộ thanh toán, cũng không thua gì các trận đòn ghen bằng acid hay dùng lưỡi lam phá tan nhan sắc của kẻ đối đầu.

    Cho nên đâu có lạ gì cái chanh chua ghê khiếp của Dương Thu Hương, Phan Thúy Thanh hay những cuộc bộ đội miền Bắc chém giết tập thể đồng bào vô tội trong Tết Mậu Thân tại Huế, trên các đại lộ kinh hoàng tại Quảng Trị, Kon Tum, Bình Ðịnh, An Lộc trong mùa hè đỏ lửa 1972 và những ngày tháng Tư đen 1975 trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

    Trưa 30-4-1975 xe tăng cọng sản tràn ngập các nẻo đường Sài Gòn, chỉ có lá cờ xanh xanh đỏ đỏ của mặt trận lung lẳng sau xe, còn tất cả như Lê Ðức Thọ tuyên bố là ‘cờ đảng ta đó‘. Rồi thì ngụy quân, ngụy quyền và cả nguỵ dân khắp nước được lệnh học tập chứ không đi tù, vì tất cả là anh em nên không có kẻ thắng người bại (sic).

    Ngày xưa Việt Cộng phản loạn, tù binh Bắc việt sát nhân, nhờ có luật pháp quốc tế bảo vệ, nhóm của Linh Mục Chân Tín che chở.. nên sống trong tù thung dung no đủ. VNCH mất, Mỹ cút, quốc tế ngoảnh mặt làm ngơ, nên tù binh và dân chúng miền Nam bị tù sướng ngột thở. Ngày xưa những trại tù Cộng Sản, xa tận Côn Ðảo, Pleiku.. vẫn không thiếu khách quý ngoại quốc và các phái đoàn liên tôn nhà văn nhà báo, viếng thăm viết báo cáo.

    Khi Cộng Sản làm trùm, những thiên đàng xã nghĩa tại Sở Công An, Chí Hòa, nhà giam Phan Ðăng Lựu Gia Ðịnh, ba bước đã tới nhưng không thấy một bóng ma hiện hình, khiến cho tù nhân trong đoạn trường máu lệ, ăn cơm sát hầm xí, ngủ ngay trên nước tiểu đống phân, khổ cực, đọa đày, chen chúc nằm nghiêng như cá mòi xép trong hộp, chỉ biết lấy nước mắt làm canh nuốt cơm độn, cơm bo bo vì kêu trời trời ngoảnh mặt, kếu đất đất làm ngơ, kêu sư, thầy, trí thức thì ai nấy cũng xụi lơ, lớp chạy theo Mỹ, phần kẹt lại thì chết đứng trước AK mã tấu. Rốt cục thượng vàng hạ cám, làm lính diệt cộng hay nằm vùng phục kích, tỷ phú cùng đinh, văn nhân nghệ sỹ, kéo xe đổ rác, mấy cha mấy thầy, me Mỹ gái điếm... tất cả sau ngày 1-5-1975 đảng vào Sài Gòn, lần lượt sau trước, rủ nhau vào tù.

    Ðừng tưởng Cộng Sản chiếm được miền Nam rồi không tắm máu cả nước là nhân đạo. Thật ra chúng không dám làm như Khmer đỏ và Polpot vì VN khác Kampuchia. Ðộng mã tấu và súng đạn lúc đó là loạn ngay, không chừng miền bắc cũng nhập cuộc. Bởi thế chúng dùng trò dụ khị từ tướng tới lính, trên quan dưới dân, qua chiêu bài học rồi về. Do đó ai cũng tưởng thiệt, tự mình tự nguyện bó tay vào tù lúc nào không biết. Thế là chúng thẳng tay trả thù tận tuyệt

    Sau này anh em còn sống sót gặp nhau, ai nấy đều cho rằng trong muôn ngàn cái tân khổ chịu đựng, sự bị VC lừa tự nguyện vào tù, mới là nỗi đau lớn nhất, phải khiến người ta chảy nước mắt ròng ròng. Ai thoát cảnh tù Cộng Sản cũng đều có quyền hãnh diện hay kể lại nỗi khổ trong tù cho mọi người biết nhưng tuyệt đối đừng có lấy đó để nghe nói nghe đồn mà hại người. Chắc chắn trong lao tù Cộng Sản xưa nay, từ đông sang tây, từ người xuống cỏ, không có một ai thích làm anh hùng nhưng hầu hết những tù nhân VNCH đã tồn tại rực rỡ khi bước ra khỏi cổng thiên đàng. Nhà tan mất nước, muôn dân đồ thán, sắt đá cây cỏ còn biết khóc giùm cho đời tù, vậy thì đừng lấy tù làm thành tích khi thoát ra khỏi nó, mà chỉ cám ơn nó vì nhờ nó ta thuơng nhau hơn, ta hận cọng sản hơn, làm được như vậy mới xóa sạch nhục nhã đã nén gánh trong chốn lao tù.

    Từ đó người miền Nam chịu cảnh đổi đời. Tất cả được Hà Nội gọi là nguỵ. Cha sư không theo quốc doanh bị gọi là cha sư ngụy, lính là ngụy quân, công cán cảnh là nguỵ quyền kể luôn dân đen trong suốt cuộc chiến, chẳng hề nhớ tới nước là cái gì, cũng bị gán là ngụy dân. Cũng nhờ cách mạng từ bắc vào nam, từ bưng ra tỉnh giải phóng, nên cả nước được sánh vai tiên nhanh tiến mạnh, vững chắc phấn khởi từ người xuống chó, chết chung một mồ.

    Cho đến bây giờ dù giấy không còn gói được lửa, thúng không úp đủ voi, người ta cũng không biết được thật sự đã có bao nhiêu người miền Nam chết khi đã có hòa bình ngưng bắn trong các trại tù khổ sai lao tác khắp nước, tại các khu kinh tế mới rừng thiêng nước độc, nơi công trường tập thể đội đá vá trời cũng như trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do.

    Cũng không ai biết được có bao nhiêu người nhà giàu tự tử chết khi tài sản của mình bị cướp giựt và số vàng bạc châu báu, nhà cửa ruộng vườn, ghe thuyền thùng lều nước mắm, chùa chiền nhà thờ, trường học tu viện.. bị cưỡng chiếm lên tới mức nào, trong đó có biên nhận là 16 tấn vàng tài sản quốc gia, bị tên Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo cướp đem dâng cho Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ năm 1975 chở về dấu trong hang núi tại Côn Sơn Hải Dương rồi chia nhau hưởng đủ.

    “Phố xưa em buộc đôi hàng bím
    nay tóc về đâu, hồn ở đâu“

    Thơ Du Tử Lê bổng khiến ngậm ngùi cho đời lính trong cõi đi về. Kiếp lính ngày xưa trên quê hương cũng vẫn là những con chim hồng tung bay lạc nẻo, thì ngày nay trong cõi lưu đày lại càng mù mịt lang thang. Xa quá rồi phải không quê hương, bè bạn? Vậy sao không ngồi xuống đây để cùng nhìn lại cuộc đời rồi khóc cho thân phận nhược tiểu Việt Nam, nay đã tan nát vì tập đoàn ngụy quyền Hà Nội tàn phá và đem bán cho Tàu Ðỏ.

    Hai mươi năm chinh chiến đoạn trường, chúng ta những người lính tính được bao nhiêu ngày sống bên mẹ già em dại hay đã tự dốc ngược đời mình trong lòng men đắng, trên giàn lửa thiêu, lang thang như mây chiều bên trời lẽ bóng. Rồi những ngày dưỡng quân phố thị lạc lõng sang nghèo, mới cảm nhận được cái chát chua tuổi trẻ, thương cho kiếp lính rẻ rúng phận bèo, đời thật là oan khiên định mệnh.

    Chịu đựng rồi gục ngã, câm nín tới hy sinh, người lính cuối cùng vẫn sống và đang ưỡn ngực đối diện với địch thù. Lịch sử dù bị khuất lấp bởi cát bụi thời gian nhưng vẫn không át nổi lao xao tiếng đời tiếng miệng. Ðừng tưởng người ta chưa nói tới là xong chuyện.. Không phải vậy đâu, hưng thịnh và tồn vong chỉ cũng là một khúc quanh lịch sử nhưng những kẻ gian manh, những tên đại nghịch thì muôn đời vẫn bị trời tru đất diệt. Cho nên Hồ tặc và đồng bọn dù có lấy sách che trời, dùng súng bít miệng thì Hồ Chí Minh cũng vẫn là Côn là Thành, là Lã Bất Vi buôn vua bán nước.

    Cho nên ngày nay chỉ nghe tới cột đồng Mã Viện, điện Diên Hồng, Ashaut, A Lưới, Bình Giả, Kon Tum, Côn Ðảo hay miền thượng du Bắc Việt. Vậy đã có bao nhiêu người biết tới ? Tuy nhiên cái nổi bì bỏm trong vũng sình lầy ngang tới ngực, trên đầu có muỗi dưới hông đĩa mòng mà lính trải qua năm nao, chắc sau này nhiều người phố thị được hưởng khi bị làm sâu thủy lợi.

    Lịch sử luôn tái diễn không ngừng và bất cứ dấu chân ai cũng đều bước vào lịch sử. Ba mươi bốn năm trước có ai ngờ được ngay trên đất nước Hoa Kỳ, một đồng minh bán đứng VNCH năm 1975, lại cho phép người Việt tị nạn cọng sản xây dựng một Ðài Chiến Sĩ Trận Vong QLVNCH đầu tiên tại hải ngoại, nơi thành phố New Orleans. Lể khánh thành vô cùng trang trọng vào ngày 30-4-1988 với sự tham dự của 300 quan khách Việt-Mỹ, trong đó có hai ông Thị Trưởng Sidney Barthelemy, Gerald Blessey. Ðây là bước khởi đầu của một hành trình dai dẳng, mà người Việt cưu mang và cuối cùng đã đạt thành công, dựng đài vinh danh và nhớ ơn chiến sĩ VNCH tại thành phố Sài Gòn nhỏ vào năm 2003. Rồi thì cờ vàng ba sọc đỏ tiếp tục ngạo nghễ tung bay khắp các nẻo đường hải ngoại, từ vùng giá lạnh cực bắc Michigan, Hoa Thạnh Ðốn, Minnesota, New Orleans, Houston cho tới nhiều thành phố có đông người Việt tị nạn ở hai miền nam bắc tiểu bang Califonia.

    Thời trung cổ, trong khi nhiều nơi trên trái đất, con người còn sống thuở hồng hoang. Trung Hoa,, Aãn Ðộ,Ai Cập, Hy Lạp, La Mã.. là những cái rốn văn minh của nhân loại nhưng đâu có ngờ được tại một miền đất nhỏ Ðại Việt, nơi điện Diên Hồng, vua Trần đã cho mời những bô lão khắp nước về dự đại hội toàn quân, toàn dân chống giặc.

    Ðây không phải là những khoa bảng trí thức, cũng không hề là thượng lưu đại quan, mà là những hạng thứ dân đầu trần chân đất. Họ tới từ đồng rưộng, thắt lưng đeo bầu rượu, tay chống gậy trúc, tóc râu bạc như sương. Chính họ chứ không phải quan quyền đang hiện diện, đã đồng thanh quyết đánh giặc Mông, cứu nước. Lịch sử lại tái diễn nơi quê người, những người lính già sống sót và các thế hệ con em, thề quyết chiến chống xâm lăng.

    Trong cái tận cùng thê thiết của cuộc bể dâu, công hầu khanh tướng, phú quý vinh hoa, bộ còn hay sao trong cơn lốc đời ? và nếu có, thì đó chính là những gì ta có hôm nay đối với non nước. Ðây mới đích thực là liêm sỉ của con người. Hai mươi năm chinh chiến, mười mấy năm tù đầy và giờ nghẹn ngào bỏ quê hương mà trốn giặc. Nghiệt ngã oan khiên như núi chưa thấy đủ hay sao ? Dư luận có thể không đếm xỉa tới những bịa đặt cá nhân nhưng chắc chắn bia đời bia miệng sẽ không tha thứ cho những người có trách nhiệm trước quốc dân trong cơn bão lửa, nay chỉ vì một vài bụi bông cỏ mây làm vướng bấu quần, mà bỏ cuộc.

    Anh hết thấy không phải là hết nhớ
    những căm hờn trong khẩu hiệu vang lên
    những biểu ngữ kêu gào nhau chém giết
    giải khăn sô oan nghiệt quấn đầu thơ
    xương chất thành non, biển hận không bờ
    ngàn xác gục trong thước vuông chủ nghĩa..


    (thơ Xuân Hiến)





    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

    Cuối Chạp 2009

    Muong Giang
  11. CUỐI NĂM 2009, LẬT LẠI HỒ SƠ VỤ HỒ CHÍ MINH BÁN ÐỨNG PHAN BỘI CHÂU CHO PHÁP NĂM 1925




    Lịch sử là sinh mệnh của dân tộc, nhờ nó mà người miền Bắc mới biết được sự tàn khốc của chế độ Cộng Sản, khi Hồ và Ðảng chiếm được nữa nước VN từ bên kia cầu Hiền Lương chạy lên tới biên giới Hoa-Việt qua Hiệp Ðinh Ngưng Bắn Genève năm 1954. Rồi ngày 30-4-1975 quân Bắc Việt vào Sài Gòn và từ ấy đến nay (2009) nhờ lịch sử, người Miền Nam mới biết rõ bộ mặt thật của Hồ và Ðảng là gì ?. Cho nên dù người Việt trong nước hôm nay vì bị bóp họng bịt miệng khóa tay nên đã không thể ghi được những câu chuyện thật của cận sử nhưng họ đã dồn hết gia thù quốc hận suốt bao chục năm qua, thành những vết hằn lịch sử vong quốc trên từng khuôn mặt, khóe môi, vừng trán, ánh mắt kể cả nụ cười của người dân đang sống dưới cùm gông nô lệ. Ðó mới chính là sự bảo lưu quá khứ để biến thành cái Thần‘ của Việt Sử , một sự trái ngược hoàn toàn với những câu chuyện ‘Sử Ngụy Tạo‘ của bồi bút Ðảng dành tâng bốc và phong thánh cho lãnh tụ Hồ Chí Minh.

    Trong tác phẩm tự phán (PBCNB), cụ Phan cho rằng mình đã bị Nguyễn Thượng Huyền bán đứng cho Pháp vào ngày 1-7-1925, vì chỉ có y mới biết rõ lộ trình của cụ mà thôi. Nhưng sự thật thì không phải vậy, năm 1928 lần đầu tiên Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, trong tài liệu ‘Ai Bán Đứng Cụ Phan Bội Châu?’ đã chỉ đích danh Lý Thụy (Hồ Chí Minh) đã bán Cu Phan cho Pháp để lấy tiền thưởng. Năm 1948 Ðào Trinh Nhất, trong loạt bài đăng trên báo Cải Tạo, đã chỉ đích danh “chính Lý Thụy là thủ phạm bán đứng cu Phan“. Ngoài ra Bùi Ðình trong vụ án PBC và Bùi Văn Hội (ba nhà chí sĩ ho Phan) đã chứng minh chính Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ đã bán Cụ Phan cho Pháp.

    Trên diễn đàn X-CafeVN ngày 29/12/2009, giới thiệu quyển Thành Ngữ, Điển Tích, Danh Nhân của tác giả Trịnh văn Thanh (Trịnh Chuyết), do Văn Học xuất bản tại thành Hồ năm 2008, nơi trang 742 nói về vụ Lý Thụy bán Phan Bội Châu cho thực dân Pháp... với các chi tiết như sau :

    Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Ðức Thu, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức “Toàn Thế Giới Bị Áp Bức Nhược Tiểu Dân Tộc“, nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập mưu bắt PBC nộp cho thực dân Pháp để 1- tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động. 2- Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.

    1- PHAN BỘI CHÂU XUẤT DƯƠNG CỨU NƯỚC:

    Là một nhà nho tiêu biểu cho giới sĩ phu yêu nước, Phan Bội Châu đã ném danh lợi phù phiếm vào trời đất mông mênh, để chọn cho mình một cuộc sống phi thường, dấn thân đấu tranh cho dân, cho nước, theo đúng truyền thống ngàn đời của thanh niên kẽ sĩ thời đại:

    ‘Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
    Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh’.


    Những sử gia chân chính xưa nay khi luận anh hùng, thường không chú trọng đến sự thành công vật chất, mà chỉ quan tâm đến các giá trị tinh thần. Bởi vậy trong dòng sông sử Việt , từ buổi bình minh dựng nước thời tổ Hùng Vương cho tới hôm nay, ta thấy ngoài những minh quân, hiền tướng như Lý thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Quang Trung đã tạo nên những chiến công hiển hách, lưu danh thiên cổ. Bên cạnh đó, còn có không biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ, cũng đã hy sinh cho tổ quốc dân tộc. Họ là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Cô Giang, là Nguyễn Biểu, Ðặng Dung, Trương Ðịnh, Thủ Khoa Huân, Phạm Hồng Thái Nguyễn Thái Học... là Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và mới nhất có hàng triệu chiến sĩ VNCH trước này 30-4-1975 được nối tiếp bởi Trần Văn Bá, Võ Ðại Tôn, Hoàng Cơ Minh, Lý Tống, Nguyễn Thị Hạnh...

    Tất cả không thành công nhưng thành nhân, danh thơm muôn thuở, khí phách hiên ngang, đáng được đời ngưỡng mộ. Trong hàng ngũ anh hùng liệt nữ trên, Phan Bội Châu qua tâm khảm của nhiều người Việt Nam, là một chiến sĩ yêu nước tha thiết nồng nàn, một nhân vật lịch sử kiệt xuất, gạch nối giữa hai phong trào Văn Thân và Duy Tân, cùng có chung một mục đích trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc vào đầu thế kỷ XX.

    Từ sau những cái chết oanh liệt của các lãnh tụ chống Pháp như Cao Thắng, Phan Ðình Phùng, Ðinh Công Tráng, Mai Xuân Thưởng và nhất là việc Vua Hàm Nghi bị tên Trương quang Ngọc bắt giao cho Pháp và bị đày ải tận Phi Châu, thì phong trào Cần vương coi như đã thất bại dù trên rừng núi Yên Thế, Hoàng Hoa Thám và nghĩa quân vẫn tiếp tục chống giặc thù trong tình thế tuyệt vọng. Nhưng dân tộc Việt Nam muôn đời luôn có truyền thống bất khuất trước kẻ thù xâm lăng, nên lớp này vữa ngã xuống, lập tức đã có ngay thế hệ khác đứng dậy thay thế, để tiếp tục con đường tranh đấu dành độc lập cho quê hương.

    Vì vậy từ đầu thế kỷ XX khắp nước nở rộ lên một phong trào đấu tranh mới, cầm đầu bởi một tầng lớp sĩ phu nho giáo đầy nhiệt huyết và thức tỉnh trước chiến công hiển hách của Nhật Bổn đã đánh bại Thanh triều và Nga Sô. Trong bối cảnh đó, dù cùng chung lý tưởng là đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi Ðại Việt, nhưng về phương cách hành động vẫn có nhiều khác biệt, như có người thì chuẩn bị võ trang tiếp tục đánh Pháp, trái lại có kẽ chủ trương tranh đấu công khai với kẻ thù bằng cách mở mang dân trí, chấn hưng công thương nghiệp, lập hội đòi dân chủ. Tóm lại, đó là chủ trương của hai nhóm kháng Pháp: Cải cách và bạo động.

    Trên thực tế, Phan Bội Châu là lãnh tụ cũa phong trào chống Pháp bằng phương cách bạo động nhưng đồng thời cũng ý thức được tác dụng hữu ích của phong trào cải cách, vì vậy ông đã sử dụng cả hai phương thức đấu tranh trên và được cả hai phái cũng như toàn dân quí trọng, tin tưởng. Ngoài ra Phan Bội Châu cũng là tác giả viết nhiều nhất và tác phẩm của ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quốc dân lúc bấy giờ.

    Tóm lại trong suốt một phần tư thế kỷ 20, Phan Bội Châu được xem như là một nhà ái quốc lớn nhất, một ngôi sao bắc đẩu dẫn lối cho dân tộc trên đường tháo gỡ ách nô lệ của ngoại bang. Trên văn đàn, thơ văn Phan Bội Châu tiêu biểu cho khuynh hướng yêu nước, phản ảnh trung thực cảnh quốc phá gia vong của một dân tộc, ý tưởng chẳng những mới mẻ mà văn phong càng hàm xúc, làm lôi cuốn mọi người, nhất là giới học sinh, thanh niên nam nữ.

    Theo các nguồn sử liệu, Phan Bội Châu thuở nhỏ có tên là Phan Văn San, hiệu là Hải Thụ. Khi đi thi mới đổi tên là Phan Bội Châu. Trong thời gian hoạt động chống Pháp, thường ký tên Sào Nam Tử hay Thị Hán. Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại Ðan Nhiễm, Ðông Liệt, Nam Ðàn, Nghệ An, trong một gia đình hàn nho. Thuở nhỏ nhờ phụ mẫu vốn là nhà nho, nên ông được dạy dỗ chu đáo và đã thông thuộc một số bài trong kinh thi từ khi mới lên sáu nổi tiếng thần đồng, 13 tuổi trở thành đầu huyện, 16 tuổi là đầu xứ.

    Ngày ngày chứng kiến quân Pháp lần lượt chiếm hết đất đai của VN từ Nam ra Bắc, đã nẩy nở trong ông tinh thần và tư tưởng yêu nước rất sớm, mà điển hình là bài hịch ‘bình tây thu bắc’ khi Pháp chiếm thành Hà Nội và các tỉnh khác ở Bắc Kỳ. Năm 1897, ông vào Huế và nhờ bài phú ‘bái thạch vi huynh’ nên Phan bội Châu đã kết giao được với các vị khoa bảng yêu nước nơi đất thần kinh như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Ngô đức Kế, Ðặng Nguyên Cẩn và sau đó trở thành đồng chí trong suốt đoạn đường đấu tranh chống Pháp đầy hiểm nguy, gian khổ. Tại đây, ngoài việc được tế tửu Quốc Tử Giám là Khiếu năng Tĩnh can thiệp để ông được phép trở lại trường thi và đậu giải nguyên tại trường thi xứ Nghệ, ông còn được đọc nhiều tân thư của các nhà cách mạng Trung Hoa, Nhật Bản, làm nẩy nở con đường cứu nước mới.

    Sau khi thân phụ qua đời, Phan Bội Châu quyết lòng vứt bỏ lợi danh phù phiếm, dấn thân vào con đường cứu nước mà khởi đầu là sự liên kết với Ngư Hải Ðặng Thái Thân, sắp đặt ba kế hoạch lớn như liên kết với những sĩ phu trong phong trào Văn thân, Cần vương để tiếp tục mưu chuyện khởi nghĩa, tìm kiếm một minh chủ trong Hoàng tộc để liên kết các giới và chương trình đưa người xuất dương để học hỏi và xin ngoại viện. Tiến hành chủ đích trên, đầu tháng tư năm Giáp Thìn (1904), Phan bội Châu, Tiểu la Nguyễn Thành và một số lãnh tụ trong Duy Tân Hội tại Quãng Nam, đã đồng tâm, tôn xưng Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể làm minh chủ. Phan Bội Châu được giao phó trọng trách sang Nhật cầu viện, xin giúp đỡ phương tiện để chống Pháp.

    Ðầu năm Ất Tỵ (1905), lần đầu tiên Phan Bội Châu đã cùng với Tăng Bạt Hổ, bí mật đáp tàu từ Hải Phòng đi Thượng Hải, sau đó tới Thần Hộ (Kobé) và Yokohama (Hoành Tân). Tại đây nhờ gặp được nhà cách mạng Trung Hoa Lương Khải Siêu đang lưu vong vì chống lại triều đình Mãn Thanh, mà Phan Bội Châu được quen biết với các lãnh tụ chính trị nổi tiếng thời đó của Nhật như Tử Tước Khuyển Dưỡng Nghị (Inukaiki) và Bá Tước Ðại Ôi Trọng Tín.Tất cả đều khuyên Phan Bội Châu nên đưa Kỳ Ngoại Hầu và các thanh niên có nhiệt huyết ra ngoại quốc du học, để mưu tìm con đường cứu nước hữu hiệu. Từ đây, Phan Bội Châu bắt đầu sử dụng ngòi bút để làm phương tiện đấu tranh với kẻ thù.

    Những tác phẩm như Việt Nam Vong Quốc Sử (1905), VN Quốc Sử Khảo (1908), Hải Ngoại Huyết Thư, Kính Cáo Toàn Quốc Phụ Lão Căn, thư gởi Phan Chu Trinh vừa giới thiệu cách mạng VN với các chính khách Trung Hoa, Nhật Bản, vừa có tác dụng kêu gọi đồng bào trong nước nhất tề hưởng ứng công cuộc cứu nước và quan trọng hơn hết là cổ võ thanh niên xuất dương du học. Tất cả những công việc trên được mọi người hưởng ứng nồng nhiệt, phong trào Ðông Du nở rộ, nhiều thanh niên VN được theo học tại Châu Võ Học Hiệu. Ðể giúp đỡ số du học sinh đông đảo trên, Phan Bội Châu, Cường Ðể và các đồng chí lập Cống Hiến Hội, đặc trách việc du học của 200 thanh niên VN tại Nhật.

    Trước sự lớn mạnh của phong trào Ðông Du, thực dân Pháp lo sợ nên dùng thủ đoạn nhượng một số quyền lợi kinh tế tại Ðông Dương cho Nhật, đổi lại nước này ra lệnh trục xuất hết người VN đang sống trên nước Nhật bắt đầu có hiệu lực ngày 10-7-1907. Trong nước tình hình chính trị biến động không ngừng, đầu năm 1908 nổi lên cuộc Trung Kỳ dân biến, với các cuộc biểu tình của dân chúng Miền Trung, chống sưu cao thuế nặng, đồng thời là vụ các lính khố đỏ qua tiếp tay của Hoàng Hoa Thám, đầu độc các trại binh Pháp tại Hà Nội.

    Cũng trong giai đoạn này qua áp lực của Pháp, đầu tháng 8/1908 Nhật ra lệnh trục xuất hết du học sinh VN, làm một số trở về cố quốc nhưng phần lớn trốn sang Trung Hoa, cả Cường Ðể và Phan Bội Châu cũng bị rời khỏi Nhật vào tháng 3/1909. Song song với bất hạnh trên, phong trào Duy Tân ở trong nước cũng bị đàn áp khốc liệt từ năm 1908-1910 nên gần như bị tan rã. Năm 1911, cách mạng Trung Hoa thành công lật đổ được nhà Mãn Thanh, nhân cơ hội đó Phan Bội Châu và các nhà cách mạng VN được Quốc Dân Ðảng Trung Hoa giúp đỡ nên đầu năm 1912, Việt Nam Quang Phục được thành hình. Trong nước, Pháp giải tán các hội kín ở Quảng Nam, trường Ðông Kinh nghĩa thục Hà Nội, bắt giam các lãnh tụ như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Ngô đức Kế, Lê văn Huân rồi đày ra Côn Ðảo. Riêng Ðặng Thái Thân tự tử ngày 11-3-1910 trước khi bắn hạ một tên mật thám Pháp.

    Ðể tạo tiếng vang trong và ngoài nước, năm 1913 VN Quang Phục Hội quyết định lên án tử hình toàn quyền Ðông Dương Albert Sarraut cùng với hai tên Việt gian là Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu (con Hoàng Cao Khải) và Tổng đốc Thái Bình Nguyễn Duy Hàn. Kết quả, chỉ có Nguyễn duy Hàn và hai sĩ quan Pháp bị chết. Ðể trả thù, Pháp xử bắn và tù đầy hàng trăm người, đồng thời lên án tử hình khiếm diện Cường Ðể, Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần. Riêng toàn quyền Sarraut dùng tiền bạc và yêu cầu tổng đốc Lưỡng Quãng là Long Tế Quang bắt giam Phan Bội Châu ngày 19-1-1914 tới tháng 2-1917 mới được thả khi Quang bị bãi quyền.

    Cũng kể từ đó ông bôn ba khắp nơi để mưu tìm con đường cứu nước kể cả việc liên lạc với đại sứ Liên Bang Sô Viết tại Bắc Kinh năm 1920. Trưa ngày 1-7-1925 nhằm ngày 11-5 năm Ất Sửu Phan Bội Châu vừa từ Hàng Châu đến Thượng Hải, thì bị mật thám Pháp bắt cóc và giải về Hà Nội. Trong Tự Phán, Phan Bội Châu cho rằng chính thư ký riêng của ông là Nguyễn Thượng Huyền (cháu Nguyễn Thượng Hiền) bán tin cho Pháp, nhưng sau này có nhiều tài liệu lịch sử chứng nhận, kẽ bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu để lấy tiền thưởng là Lâm đức Thụ và Lý Thụy (bí danh của Hồ Chí Minh lúc đó). Trong nước, Pháp muốn thủ tiêu ông nhưng mưu toan bị bại lộ nên đành phải đưa Phan bội Châu ra hội đồng đề hình Hà Nội xét xử với bản án khổ sai chung thân, lưu đày biệt xứ. Tuy nhiên vì sự phản đối quá quyết liệt của quốc dân VN cũng như áp lực từ nước Pháp, nên toàn quyền Ðông Dương dành giảm án nhưng vẫn bắt ông giam lỏng tại bến Ngự, Huế từ năm 1926 cho tới lúc mãn phần năm 1940.

    2 - NGHI ÁN VỀ VIỆC PHAN BỘI CHÂU BỊ AI BÁN ÐỨNG CHO PHÁP ?

    Trong tác phẩm tự phán (PBCNB), cụ Phan cho rằng mình đã bị Nguyễn Thượng Huyền bán đứng cho Pháp vào ngày 1-7-1925, vì chỉ có y mới biết rõ lộ trình của ông mà thôi. Nhưng năm 1928 lần đầu tiên Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, trong tài liệu ‘Ai Bán Đứng Cụ Phan Bội Châu?’ đã chỉ đích danh Lý Thụy (Hồ Chí Minh) đã bán Cu Phan cho Pháp. Năm 1948 Ðào trinh Nhất, trong loạt bài đăng trên báo Cải Tạo, cũng viết rằng, chính Lý Thụy là thủ phạm bán đứng cu Phan. Ngoài ra Bùi Ðình trong vụ án PBC và Bùi Văn Hội (ba nhà chí sĩ ho Phan) đã chứng minh chính Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ đã bán Cụ Phan cho Pháp.

    Mới đây vào năm 1972, Sử gia kiêm học giả Ðài Loan là Tưởng Vĩnh Kính, qua tác phẩm ‘Hồ Chí Minh tại Trung Quốc’ cũng xác nhận chính Lâm đức Thụ (đại diện của Phan bội Châu tại Hương Cảng) và Nguyễn Ái Quốc (Lý Thụy-Hồ chí Minh), đã bán cụ Phan cho Pháp, rồi cả hai chia đôi số tiền thưởng là 100.000 quan bây giờ. Sau đó, Thụ và Quốc còn hợp tác nhiều năm nữa để bán những đồng chí của cụ Phan trong Tâm Tâm Xã và VN Quang Phục Hội cho thực dân Pháp.

    Theo các học giả trong cũng như ngoài nước, thì việc Phan Bội Châu bị bán đứng, một phần do số tiền thưởng cao, nhưng trọng điểm chính là chính trị, nên Lý Thụy một cán bộ đệ tam cọng sản quốc tế từ Liên Xô mới tới Trung Hoa, đã ra tay nhanh chóng loại trừ Cụ Phan, một lãnh tụ Quốc Gia uy tín nhất lúc bấy giờ trong cuộc chống Pháp tại hải ngoại, hầu đoạt vị trí lãnh đạo cũng như tổ chức, bổ sung cho lực lượng Cộng Sản mới phôi thai tại VN.

    Còn một sự kiện quan trọng khác do chính Cụ Phan viết trong tự phán, đó là việc ông đã tiếp xúc với hai nhân viên cao cấp của Liên Xô tại Tòa đại sứ nước này ở Bắc Kinh là Grigorij và Voitinsky, nhờ giúp đỡ đưa du học sinh VN sang du học tại LX. Cuối cùng mọi sự không thành vì Phan Bội Châu không chấp nhận điều kiện theo cọng sản. Và cũng do việc này mà ông đã phải gánh lấy hậu quả với Liên Xô, là xài không được thì phải gạt bỏ không để cho kẻ khác xài, và Lý Thụy được giao trọng trách thi hành bản án trên. Ở đây, thực dân Pháp và Cộng Sản quốc tế đã gặp nhau trong cùng mục đích triệt hạ Phan Bội Châu.

    Sau năm 1954, Nguyễn Thượng Huyền trở lại VN và di cư vào Nam, đã viết bài minh oan cho mình trên tờ Bách Khoa số 73, xuất bản tại Sài Gòn năm 1960.

    Ngày 23/11/1925, Hôi Đồng Đề Hình của Pháp tại Hà Nội xử Phan Bội Châu khổ sai chung thân tại Côn Ðảo, nhưng vì phản ứng quyết liệt của quốc dân, nên ngày 25/12/1925 toàn quyền Varenne phải ký lệnh ân xá và giam lỏng ông tại Bến Ngự, Huế. Nhờ số tiền 2000 đồng của đồng bào cả nước quyên góp, Huỳnh thúc Kháng và Võ liêm Sơn, đã mua hai khoảnh đất tại dốc Bến Ngự (cách Huế 3 km về phía nam) gần đàn Nam Giao để cất nhà và làm nghĩa trang sau này cho Phan Bội Châu.

    Ngày 29-10-1940 Cụ Phan qua đời. Nhờ số tiền 900 đồng do quốc dân quyên góp thêm sau này, Huỳnh Thúc Kháng đã làm nhà thờ và xây mộ cho cụ Phan tại địa điểm mà sinh thời, Sào Nam đã chọn cho mình vào năm 1934. Ngoài ra còn có mộ của vợ chồng thứ nam ông là Phan Nghi Ðệ và mộ nhà cách mạng Tăng Bạt Hổ trong phong trào Ðông Du, mất năm 1907, được chính quyền VNCH cải táng từ Hương Trà về đây năm 1969.

    Cũng vì việc cụ Phan nhân đạo đã cho chôn thêm nhiều cán bộ CS khác như Trần Hoành, Bùi thị Nữ, Lê tự Nhiên, Thanh Hải, Ðạm Phương, Hải Triều.. trong nghĩa trang riêng của mình, đã tạo cớ cho các sử gia Cộng Sản như Trần huy Liệu, Chương Thâu.. vin vào đó mà biện bạch về vụ án Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ bán đứng Phan Bội Châu và mới đây (2008) cho phép tái bản cuốn ‘Thành Ngữ, Điển Tích, Danh Nhân .. ’ ’ của Trịnh Chuyết nói ‘ Phan Bội Châu năm 1925 nghe theo lời Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ gia nhập tổ chức Cộng Sản đệ tam quốc tế..

    Tóm lại, những ngày đầu của thế kỷ 20, Việt Nam coi như đã mất hẳn chủ quyền về tay thực dân Pháp. Triều đình nhà Nguyễn tại Huế chỉ còn là hư vị, trong khi đó phong trào Cần vương cũng sắp tàn lụn, báo hiệu sự bế tắc trên con đường cứu quốc. Phan Bội Châu hiện ra như một ngôi sao bắc đẩu, qua ảnh hình tiêu biểu một lãnh tụ của phong trào cách mạng mới, ngoảnh mặt phá bỏ tất cả những ràng buộc của thời phong kiến lỗi thời. Ông hiên ngang đi trên chông gai, tắm trong bảo tố, bôn ba khắp chốn để mưu tìm con đường giải phóng dân tộc.

    ‘non sông đã chết, sống thêm nhục
    hiền thánh còn đâu, học cũng hoài‘


    Cộng Sản VN hiện nay đang điên cuồng đàn áp Phật Giáo, Tin Lành, Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài, bắt bớ giam cầm những người trí thức yêu nước dám tố cáo hành động bán nước, bán dân cho Trung Cộng của đảng CSVN.

    Ðể vừa ăn cướp lại la làng, Hà Nội tổ chức rùm beng lể kỷ niêm 100 năm (1905-2005), đánh dấu ngày cụ Phan Bội Châu, phát động phong trào Ðông Du cứu nước. Hành đông này tuy mới nhìn vào, làm ai cũng tưởng là Bắc Bộ Phủ đã ăn năn hối hận về sự lừa dối, phản bội các Ðảng phái Quốc Gia, khi chúng Hòa Hợp, Hòa Giải.

    Nhưng việc tổ chức ngày kỷ niệm trên cũng chỉ để VC có lý do chính đáng làm sống lại huyền thoại Nguyễn Tất Thành xuất dương cứu nước, mà đồng bào VN, kể cả các đảng viên, gần như đã quên lãng, khi tất cả sự thật về Hồ Chí Minh và Ðãng VC Ðệ Tam Quốc Tế, đã bị lột trần muôn mặt trước bia miệng và lịch sử, khi công khai bán nước cho Trung Cộng, tham nhũng tàn bạo, đưa quốc dân vào vũng bùn ô nhục, nghèo đói hiện nay..

    Tám mươi bốn năm rồi (1925-2009) cứ tưởng CSVN đã biết ăn năn hối lỗi và tạ tội với quốc dân về những hành vi ‘buôn dân bán nước‘ nhưng thật là thất vọng vì cuối cùng, cũng chỉ là ‘bình mới rượu cũ‘ mà ai cũng đã biết, nhất là vụ Hồ Chí Minh bán đứng Phan Bội Châu cho Pháp để lấy tiền thưởng.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Chạp 2009
    Mường Giang
  12. NAM QUỐC SƠN HÀ NAY CÒN HAY ÐÃ MẤT?

    HỒ ÐINH





    Mùa xuân năm Quý Mão 43 sau Tây Lịch, Hai Bà Trưng bị Mã Viện đánh bại, đất Giao Châu lại trở thành một huyện thuộc nhà Hán. Ðể hạ nhục Lạc Việt trong cơn quốc phá gia vong, người Tàu tịch thu hết các trống đồng, đồ sắt, những biểu tượng của nền văn hóa Âu Lạc, đúc thành cột đồng Mã Viện, làm vật trấn phương nam với lời hăm dọa: ’Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt’.

    Năm Giáp Thân 1884, thực dân Pháp sau khi cưởng chiếm toàn bộ lãnh thổ VN, tạo ra các vua quan bù nhìn triều đình Huế, đem tiêu hủy quốc án của nước Nam, để vừa hạ nhục kẻ bại trận, cũng như ra oai thái thượng hoàng, xoá bỏ hết mối quan hệ Việt-Trung đã tồn tại hàng ngàn năm qua nơi xứ này.

    Những năm cuối cùng của nhà Mãn Thanh, đất nước Trung Hoa đắm chìm trong khổ nhục vì sự xâu xé của liệt cường Tây Phương và Nhật Bản. Ðể hạ nhục người Tàu trong cảnh nhà tan nước mất, thực dân Anh cát Lợi tại các vùng tô giới, đã ban lệnh “cấm chó và người Tàu “ không được bước vào các nơi công cộng và công viên của bọn da trắng. Cảm khái trước nổi nhục hằng hằng này của người Hán, một học giả Nhật khi đến thăm viếng Thượng Hải đã làm bài tứ tuyệt đọc chảy nước mắt:

    “..Á lục tiên hiền, ưng nhất tiếu
    Anh nhân diệt hữu, sở cầm tù
    Tùng kim hoán cải, công viên bảng
    Bất cấm, anh lai cập cẩu lai..”


    Sao có thể trách dược người Việt hay người Hán lúc đó, đang sống dưới bạo lực, gông tù nô lệ, nên đành cắn răng chịu để cho kẻ thù làm nhục. Nhưng với CSVN thì từ trước cho tới nay, luôn tự hào, tự mãn, tự khoe, tự phong là đã đánh bại ba đế quốc Nhật, Pháp và Mỹ. Vậy tại sao lại liên tục lén lút cắt biên giới, dâng đảo biển, cao nguyên, dành hết đặc quyền đặc lợi cũng như luôn quỳ lụy trước kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng, làm nhục lây vong linh tiên tổ và người cả nước từ Nam tới Bắc, đã đổ máu chống giặc Tàu tại Hoàng Sa, Trường Sa.. tới tận biên giới Việt-Hoa từ tháng 1/1974 tới 1990?

    Chẳng lẽ đây là cái giá mà dân tộc Việt Nam phải còng lưng gánh chịu, không những bây giờ mà còn kéo dài tới nhiều thế hệ sau này, qua những hành động trời tru đất diệt của tập đoàn lảnh đạo nguỵ quyền Hà Nội bấy lâu nay, chỉ vì muốn giữ đảng và yêu nước XHCN mà manh tâm bán nước bán dân Việt, chẳng những cho Tàu mà còn khắp thế giới ?

    Năm 1077, Ðại Tướng Lý Thường Kiệt trong khi ngăn chống quân Tống trên sông Như Nguyệt, đã thay mặt quốc dân Ðại Việt khẳng định nền tự chủ của dân tộc ta “Nam Quốc Sơn Hà Nam Ðế Cư“. Nay ngụy quyền Cộng Sản tiếm quyền dân-nước, đã đi ngược lại lòng dân, ý nước khi công khai phủ nhận quyền làm chủ đất nước mình, qua nhiều hành động nhục hèn, quỳ lụy Trung Cộng, khiến cả nước bị giặc Tàu bốc lột, khinh thường, chèn ép, bức hại.. không những ngoài biển Ðông xa xăm, mà ngay khắp lảnh thổ VN cũng hung hăng bá đạo, coi như quận huyện của mình.

    Hận giặc Tàu xâm lược nước ta làm sao quên được? Nếu không rửa bằng máu Tàu để đòi lại đất đai đã mất, thì kiếp này thà làm trâu chó để khỏi thẹn với tiền nhân buổi trước và những người lính VNCH đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa vào tháng 1/1974.

    + CÒN ÐÂU SĨ KHÍ NGÀY XƯA CŨ ?

    Trong suốt dòng sông lịch sử, ngay từ thời các Vị Vua Hùng dựng nước tới nay, dân tộc Việt luôn chứng tỏ sự bất khuất phi thường trước giặc thù. Nhờ vậy ta mới được sinh tồn qua tám lần bị ngoại xâm phương Bắc và thực dân Pháp. Sinh mệnh của dân tộc Việt luôn được gắn liền với sĩ khí của những anh hùng, liệt nữ ngay từ buổi đầu lập quốc Văn Lang, trên đồng bằng Lạc Việt của mấy ngàn năm về trước cho tới nước Việt Nam hiện tại. Ở Ðức Quốc có một con đường mang tên Romantic Road chạy suốt từ rặng Alps đến bờ sông Main, được coi như những trang sử lãng mạn của nước này, giống như Freedom Trail ở Boston Mỹ hay la Kansai Road trên đất Nhật.. tất cả đều mang chung ý nghĩa chuyên chở những biểu tượng của từng quốc gia dân tộc.

    Tại Việt Nam, câu nói đầu tiên mà cha mẹ nào cũng mớm cho con cái mình, bất luận là trai hay gái khi bước vào đời. Ðó là trách nhiệm gìn giữ bảo tồn giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại, tư Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mâu. Nay thì Nam Quan đã mất, Bản Giốc cũng không còn, chẳng lẽ lời trù ếm đôc địa của Mã Viện ngày xưa, nay đã trở thành hiện thực ?

    Ngay khi nhận đưọc tin CS Hà Nội công khai bán nước cầu vinh và rước giặc Tàu vào Việt Nam dày mã tổ, thì người Việt khắp nước tới hải ngoại bừng bừng căm phẩn, bao nhiêu hờn căm ẩn ức bấy lâu nay dâng cao như sóng thần vì sự đau lòng, nhục nhã. Trong nước, ngoài tiếng thét của những người tuổi trẻ yêu nước như Lê Chí Quang, Bùi Minh Quốc, Phạm Hồng Sơn, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Nguyễn Tiến Trung, Ðiếu Cày, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ.... bất chấp tù tội cũng như sự đe dọa mạng sống mình, đã hiên ngang đứng dậy tố cáo VC bán nước cho Tàu.

    + CÁI GIÁ MÀ DÂN TỘC VIỆT NAM PHẢI CÒNG LƯNG GÁNH NỢ CHO VC:

    Nhiều sử gia cận đại khi viết về Cộng Sản quốc tế Hà Nội đã lấy năm 1925 làm mốc thời gian khởi đầu. Ðây là niên lịch mà Chi Bộ VN của Hội Á-Tế-Á-Nhược Tiểu Dân tộc, dưới quyền chỉ huy tối cao của cố vấn Nga Borodine, ủy nhiệm cho Nguyễn Ái Quốc, Lâm Đức Thụ, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong.. thành lập tại Quảng Châu. Sau đó hội trên được cải danh là VN Thanh Niên Cách Mạng Ðồng Chí Hội (VNTNCMÐCH), phát hành tờ Thanh Niên để tuyên truyền, hoạt động trong bí mật.

    Nhiều đảng viên đưọc phái về nước trà trộn vào các đảng phái quốc gia mà nhiều nhất là Tân Việt đảng, để lũng đoạn và dụ dổ đảng viên theo CS. Năm 1930, Nguyễn ái Quốc thống nhất các đảng bộ CS địa phương qua danh xưng Ðông Dương Cộng Sản đảng và chính thức thuộc Cộng Sản quốc tế năm 1931. Tại VN, một nghị quyết của CSÐD ngày 20-1-1931 thành lập các đội tự vệ nhưng cũng chỉ là hình thức và phải đợi tới năm 1940 khi du kích quân của Trần Đăng Ninh bị Pháp tiêu diệt gần hết tại Bắc Sơn, Lạng Sơn, dù vậy Cộng Sản vẫn đem sự kiện này làm điểm mốc thời gian khởi đầu cuộc đấu tranh bạo lực vũ trang. Cũng kể từ đó, Mẹ VN được mang ra thế chấp, cắt xén hay sang nhượng vô điều kiện, không cần biết cho Cộng đảng Nga-Tàu, miễn sao có nhiều súng đạn, phương tiện và kỹ thuật lừa bịp, khủng bố về cưởng chiếm quê hương là đủ.

    + VAY NỢ VÀ ÐEM LÃNH THỔ KÝ KẾT CHO TRUNG CỘNG:

    Trong tác phẩm ‘Lạc Đường Vào Lịch Sử‘ của Nguyễn Mạnh Côn, đã vạch ra toàn bộ sự lừa đảo có một không hai của Cộng Sản Ðông Dương, từ vụ việc nhanh tay cướp chính quyền năm 1945, cho tới màn kịch dài Anh cho Pháp theo chân trong đoàn quân giải giới Nhật, xâm nhập Nam Kỳ. Rồi Trung Hoa thỏa thuận để Pháp thay thế mình trên đất Bắc, sau đó là chiến tranh 9 năm.. Tất cả đều nhắm tới mục đích hợp thức hóa chính quyền đảng Cộng Sản Ðông Dương trước công luận thế giới, để từ đó chiếm lĩnh toàn bộ giang sơn Hồng Lạc.

    Ðầu tiên trong canh bài phản quốc là chuyện Hồ sang cầu viện Trung Cộng. Nên đâu lạ gì ngày 10-1-1950, Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Bắc Việt, lúc đó đang lưu động trên rừng núi Việt Bắc. Cũng kể từ đó, để đem về VN tiền bạc, súng ống, đoàn cố vấn Trung Cộng đông đảo do Vi Quốc Thanh, Trần Canh, Lã Quý Ba.. cầm đầu.. đâu ai biết được Hồ đã ký hứa với Mao những gì.. mãi sau này hai nước anh em trở mặt, đem ra tố nhau hết mình trên báo chí, sách vở, dư luận trong và ngoài nước, khiến cho thế giới và dân Việt há miệng vì không biết phải tin ai dù ai cũng đâu đáng tin.

    Theo tài liệu của Trung Cộng thì Việt Cộng có thắng lợi ngày 30-4-1975, là nhờ viện trợ ồ ạt của Hồng Quân từ năm 1950, nên VC mới thắng Pháp tại Ðiện Biên Phủ năm 1954. Sau đó trong cuộc chiến 1955-1975, 85% chiến cụ của bộ đội miền Bắc và VC miền Nam, từ vũ khí, đạn dược, phi đạn, chiến đấu cơ, chiến xa.. tới lương khô đều của Tàu đỏ. Cố vấn Trung Cộng ngập các đơn vị, còn Hồng Quân thì đóng dầy đặc mọi nơi để bảo vệ đất Bắc. Nhiều cán bộ người Việt gốc Hoa đưọc hồi kết về Nam, dưới quyền Trương Gia Triều hay Trần Bạch Ðằng, hoạt động Hoa vận ở Hậu Giang, Sài Gòn, Chợ Lớn.

    Ðể trả ơn, trả nợ trên, Cọng sản miền Bắc đã dành hết ưu tiên cho Tàu cộng, kể cả người Hoa sinh sống trên đất Việt. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), tại các vùng tạm chiếm ở Liên khu 5 (Nam, Ngãi, Bình, Phú), Hồ ra lệnh tiêu khổ kháng chiến tất cả, nhưng không được mó tới nhà cửa, của cải người Hoa. Thương mại được miễn tô tại các hải cảng nên hàng hóa Trung Cộng ngập xứ Bắc. Văn hóa Hán tộc được Ðảng mang về hay qua các đoàn văn công, văn nghệ, công khai đồng hoá người Việt thành người Hoa lúc nào không biết, từ tư tưởng ra tới sinh hoạt vật chất bên ngoài.. Nhưng đây cũng chỉ là phần nổi, còn mật thật bên trong mãi tới sau này mới bị bật mí từ năm 1977 khi CSVN chính thức theo Liên Xô chống lại Trung Cộng.

    + NAM QUỐC SƠN HÀ NAY CÒN HAY MẤT ?

    Mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn quật cường chống trả lại mọi cuộc xâm lăng của ngoại bang. Ðất nước được vẹn toàn trên hai mươi thế kỷ và tồn tại tới hôm nay là do công đức dựng và giữ nước của tiền nhân bao đời. Cho nên đừng thấy lạ khi tìm hiểu về tôn giáo đích thực của người Việt cả nước, mà dân tộc gọi là đạo Việt, thờ kính Ðức Phật, Các Anh hùng liệt nử VN như Hai bà Trưng, Ðức Thánh Trần, Lê Lợi, Quang Trung.. và Thần Nông.

    Tổ tiên ta bao đời ngoài võ công hiển hách để bảo vệ lãnh thổ, bản sắc tự chủ cũng như nền độc của mình, còn biết cách mềm mỏng kết thân với kẻ thù để hoà giải hiềm khích và hấp thụ những tinh hoa của Hán tộc. Nhờ biết người, biết ta, vừa can đảm anh hùng lại có óc thực tiển, tóm lại đây là chủ nghĩa anh hùng và chiến lược khôn ngoan của người Việt, mà các vi minh quân mọi thời đem áp dụng, để vừa đánh bại ngoại xâm, vừa giữ vững độc lập cho nước nhà trong danh dự.

    Khác với tiền nhân trong suốt dòng lịch sử, rất khôn khéo và uyển chuyển mỗi lần chiến thắng, làm cho giặc thù khiếp vía bạt hồn đến nổi phải chun vào ống đồng trốn chạy hay quăng cả ấn tín để đào sanh. Vua chuá VN lại sang triều cống thiên triều để hòa giải và nhờ thế mới tránh được Trung Hoa kiếm chuyện gây hấn tiếp, chỉ làm khổ cho dân chúng mà thôi.

    Trái lại CSVN từ trên xuống dưới, hèn hạ xảo quyệt, sớm đầu tối đánh, lúc nào cũng lừa bịp thiên hạ để tiên hạ thủ vi cường, vì luôn nghĩ rằng mìng là đỉnh cao trí tuệ loài vượn. Vì vậy đừng làm lạ, khi biết năm 1958, Hồ ra lệnh cho Phạm Văn Ðồng, quyền thủ tướng nước, công nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng để đổi lấy mọi thứ cần thiết cho cuộc xâm lăng miền Nam.

    Trên đất Bắc, từ năm 1954 tới nay, vì quyền lợi riêng tư mà đảng Cộng Sản hoặc nhắm mắt làm ngơ hay đã đồng thuận dâng hiến hoặc bất tài để cho Trung Cộng công khai chiếm đoạt nhiều đất đai của Việt Nam dọc theo biên thùy Hoa Việt. Trong sự mất mát này, quan trọng bậc nhất vẫn là ẢI NAM QUAN, với địa thế hiểm trở có một không hai, nằm trên con đường độc đạo Quảng Tây-Hà Nội.

    ‘Quỷ môn quan,quỷ môn quan
    thập nhân khứ, nhất nhân hoàn.’

    Nơi mà bao đời tiền nhân ta đã tạo nên những chiến công hiển hách vào năm 981 (STL), Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn bêu đầu Hầu Nhân Bảo. Năm 1076 Thân Xảnh Phúc chận đứng 30 vạn quân Tống của Quách Quy,ợ để Lý thường Kiệt giết trọn trên sông Như Nguyệt, tạo hứng cho Ðại tướng quân viết bài thơ thần ‘NAM QUỐC SƠN HÀ’ khẳng định với giặc về cương thổ, độc lập của Nam phương. Nhưng lừng lẫy nhất vẫn là trận Liễu Thăng, danh tướng số một của nhà Minh, bị các tướng Lam Sơn của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, chém rụng đầu năm 1427, nay vết tích vẫn còn nơi ‘Liểu Thăng Thạch’ và ‘Lê Tổ kiếm’ như một bài học lịch sử, thách thức người Hán trước ác mộng xâm lăng Ðại Việt.

    Riêng trên biển Ðông, cũng do VC hèn nhục ký nhượng phần lớn lãnh hải của VN, khiến cho Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 200 hải ly tính từ Hoàng Sa, cộng thêm một hiệp ước khác vừa lén ký, cho phép Trung Cộng ra vào tự do trong vịnh Bắc Việt.. làm cho vùng biển của VN, bây giờ thành cái ao của Trung Cộng nên mới dám hung tàn cướp biển, ngày ngày bức hại mạng sống và tài sản của ngư dân ta, trước phản ứng bọt mép có lệ của Hà Nội.

    Theo nhận xét chung của các chính trị gia quốc tế, VN ngày nay dưới chế độ xã nghĩa đã hoàn toàn trở thành chư hầu của Trung Cộng, từ quân sự cho tới lệ thuộc kinh tế, hàng hóa Tàu nhờ VC bỏ ngõ biên giới, cùng với bạch phiến, tiền giả ... tràn ngập Bắc -Nam. Thêm vào đó là sách vở, văn hoá, văn minh Hán Tộc cũng tràn ngập công khai và như tằm ăn dâu, ngày qua tháng lại tự nhiên đồng hóa người Việt, như Trung Cộng đã và đang thi hành tại Mãn Châu, Mông Cổ, Tân Cương và Tây Tạng suốt hai thế kỷ qua.

    Lãnh thổ đem cắt, kinh tế giao phó, văn hiến thì mời nhập và mạng sống của cả nước nhờ vào hai vựa lúa Sông Hồng, Sông Cửu, nay cũng bị giặc Tàu kiểm soát lưu lượng trên đầu nguồn, bằng một hệ thống đập chằng chịt, khiến cho đồng bào Hậu Giang năm nào cũng bị lũ lút tàn phá, một hiện tưọng không bao giờ xãy ra trước năm 1975.

    Hởi ơi đất nước lầm than, thế mà đảng chỉ lo làm giàu trên núi xương sông máu dân tộc, chỉ biết tìm đủ mọi cách để tiêu diệt cho bằng được những người Việt tị nạn khắp quê người, còn dân có chết vì thiên tai bảo lụt, có bị hành hạ thể xác khi đi lao động hay bán thân nơi xứ người ... cũng mặc kệ.



    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Cuối Chạp 2009
    HỒ ÐINH
  13. LỜI TỰ TÌNH CUỐI NĂM 2009 CỦA NGƯỜI LÍNH GIÀ NƠI XÓM BIỂN

    MƯỜNG GIANG





    Sau khi Hà Nội cưỡng chiếm VNCH ngày 30-4-1975, nhiều nhà sử học trên thế giới đã miệt mài nghiên cứu để tìm hiểu về biến cố quan trọng này, rốt cục đã cùng chung kết luận rằng “Sự thất bại là do các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, hầu hết đều thiếu hẳn một ý thức lịch sử đứng đắn khi giao tiếp với Việt Nam".

    Theo tài liệu được giải mật, ngay từ thời Tổng Thống Roosevelt có liên hệ tới cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 giữa Pháp và Việt Minh, nhưng ông hoàn toàn không biết một chút gì về đất nước mà mình sắp can dự, ngoài việc mơ hồ nghĩ rằng, đây chỉ một quận huyện của Trung Hoa.

    Bởi vậy có lúc Mỹ muốn giao VNCH cho Ðài Loan. Tệ hơn, có nhiều kẻ, với thói quen con buôn của người Mỹ chỉ đặt quyền lợi của mình trên hết, nên đã coi tất cả các quốc gia khác là một "hiện tượng chung", cuối cùng bị lầm lạc khi can thiệp vào nội bộ của họ.

    Ðó là trường hợp của Tổng Thống Nixon vì muốn chia rẽ khối Cộng Sản, giao kết với Trung Cộng để chống Liên Xô, nên đã bán đứng VNCH cho Bắc Việt. Ðó là Tổng Thống Bill Clinton sau đó G.W. Bush.. vì quyền lợi của Mỹ, đã không thèm đếm xỉa đến nhân đạo, nhân quyền, khi quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận và nối lại ban giao từ năm 1995 với nguỵ quyền Cộng Sản Hà Nội, một chế độ tham tàn bạo ác, độc tài đảng tri đang bị nhân loại và toàn dân VN hận thù nguyền rủa.

    Hình như Hoa Kỳ vẫn chưa thức tỉnh sau thất bại trong cuộc chiến vô duyên ở Ðông Dương khi tự trói tay mình và QLVNCH. Trái lại người Pháp sau thất bại ở Ðông Dương năm 1954 đã viết: ”VN là một quốc gia hoàn chỉnh và hoàn toàn ý thức được lịch sử của mình. Với lòng tin truyền thống sắt đá, gắn chặt với tình yêu nước tha thiết nồng nàn. Bởi vậy chỉ có người Việt mới là kẻ quyết định cuối cùng về vận mệnh đất nước và dân tộc mình.”

    A. Pazzi (Vũ Hanh) trong tác phẩm “ Người Việt cao quý “ cũng viết: Dân Việt tự cường bất khuất. Qua cái tinh thần ấy, đã khiến một quốc gia bé nhỏ, hằng chục thế kỷ bị ngoại bang xâm lăng nhiều nhất nhưng lại quật khởi oai hùng bậc nhất trên thế giới. Trung Hoa, Chiêm Thành, Mông Cổ, Nhật Bản, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Pháp và cả Hoa Kỳ... vì không đi vào bề sâu của lịch sử Việt, nên không hiểu hết sức mạnh và sự to lớn của tinh thần ấy, nên họ đã thất bai. Ðế quốc Cộng Sản đang cai trị tại VN cũng sắp tàn lụn, khi nhận được sức mạnh ấy nhưng giờ đây thật quá muộn màng.

    Quá khứ của lịch sử là sinh mệnh của đất nước nên chẳng bao giờ gián đoạn. Vì vậy những gì mà tổ tiên ta đã làm để dựng và giữ nước hôm qua, thì hôm nay cũng được con cháu nối tiếp. Thời Bắc thuộc 1000 năm, Mã Viện dựng cột đồng khắc chữ “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, đã khiến cho dân chúng khi qua chỗ ấy, ai cũng bỏ đá vào chân cột đồng, đến nỗi về sau vùng này thành núi đá. Trong hoàn cảnh châu chấu đá xe, nền văn minh cổ đại của Việt tộc là chống giặc ngoại xâm, mà trống đồng là biểu tượng vật tổ thần bí.

    Những anh hùng liệt nữ có công diệt giặc cứu nước, bất kể là quan, quân sĩ thứ đều được thờ phụng kính trọng, tạo thành một tôn giáo đặc biệt tại VN. Cũng do lòng ái quóc mà người Việt có sức mạnh bám chặt lấy đất, giữ làng , nên dù bị Tàu, Pháp đô hộ, người Việt vẫn không bị đồng hóa, trái lại nhờ biết lợi dụng được cái hay của người, để sống mạnh hơn lên.

    Từ 1955-1975, Cộng Sản Hà Nội chiếm nửa quốc gia từ Bắc vỹ tuyến 17 trở ra. Rồi tháng 5/1975 tới nay VN hoàn toàn bị nhuộm đỏ bởi chủ thuyết vô thần Mác-Lê. Ðất nước thống nhất nhưng không tự chủ vì vẫn nô lệ Trung Cộng, hòa bình nhưng toàn dân sống đói khổ lạc hậu vì đảng độc tài tham nhũng từ trên xuống dưới, dâng đất bán biển cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

    Tóm lại, chỉ mới một phần tư thế kỷ bị rợ Hồ đô hộ, hầu như nền văn minh văn hóa, truyền thống xã hội gia đình của người Việt bị tan rã vì sự vô lương, vô tâm, vô tình, vô trách nhiệm của những kẻ cầm quyền trị nước, phần lớn dốt nát, tham lam và tàn bạo, nếu đem so sánh thì đâu có thua gì Tần Thủy Hoàng, Mao Trạch Ðông, Stalin.. thời trước.

    1418-1427, mười năm kháng chiến chống giặc Minh vô cùng gian nan tân khổ. Hình ảnh của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, vẫn như đang hiện ra trước mặt mọi người với những lời thơ hào khí ngất trời của Nguyễn Trãi trong bài Bình Ngô Ðại Cáo:

    ”Gươm mài đá, đá núi cũng mòn.
    Voi uống nước, nước sông cũng cạn.
    Thôi Tụ phải quỳ mà xin lỗi.
    Hoàng Phúc tự trói để ra hàng
    Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường
    Xương Giang Bình Than, máu trôi đỏ nước..”


    Tinh thần lịch sử ngàn đời và truyền thống này được người Việt trong ngoài nước tiếp nối bằng máu lệ trên con đường quang phục chính nghĩa dân tộc, đất nước khỏi ách nô lệ chủ nghĩa Cộng Sản. Cuối Chạp năm nay sắp bước vào ngưởng cửa năm 2010, sau ba mươi bốn năm đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, trong nước ngụy quyền đang ngoi ngóp chờ giờ đền tội, chúng điên cuồng đàn áp, bắt bớ và bách hại toàn dân cả nước khi họ dám công khai đứng lên quyết tâm chống giặc Tàu đang được Việt Cộng rước về tàn phá và thôn tính non sông Việt.

    Khắp nơi tại hải ngoại, người tị nạn đã bừng tỉnh sau giấc ngủ trầm kha, trước sự bao hành trên đội dưới đạp của ngụy quyền Hà Nội, qua những hành động thẳng tay cướp của giết người. Lại đem Hoàng Sa, Trường Sa, biên giới, vịnh Bắc Việt, cao nguyên Trung Phần.. giang sơn gấm vóc của tiền nhân, dâng hiến cho kẻ thu Tàu đỏ.

    Với bọn tư bản da trắng da vàng, ngụy quyền Hà Nội quỳ luỵ xin tiền, làm mất hết hùng khí của một dân tộc hào hùng, để chúng lộng hành bốc lột, hà hiếp đồng bào. Từ đó coi rẽ sự cao quý của người phụ nữ VN, sự trang đài và diễm tuyệt nổi tiếng khắp thế giới của phụ nữ Việt nay đã bị bôi nhọ vì một thiểu số đĩ điếm do đảng trộn trấu với mục đích kéo hết mọi người xuống vũng bùn tanh hôi xã nghĩa. Cả một tập đoàn thối nát, lập đảng với Năm Cam, vơ vét bạc vàng, chuyển ngân hợp pháp ra hải ngoại, mở chợ, đài phát thanh, ra báo, tiệm vàng, tiệm phở... hả hê ăn sung mặc sướng trên máu và nước mắt của dân lành.

    Trước nợ nước thù nhà, bao đời sự hưng vong của Quốc Gia là trách nhiệm của người cả nước, chứ không phải chỉ do ‘thất phu hữu trách‘ theo quan niệm lỗi thời, mục đích cũng chỉ để làm tăng cái hư danh của bọn ‘trí thức khoa bảng‘ mà ai cũng nghe tiếng biết mặt qua cái gọi là ‘hội ngộ Việt kiều tháng 11/2009' tại Hà Nội.

    Một hãnh diện cao quý khác mà ngày nay khiến hầu như ai cũng phải xúc động: Ðó là QLVNCH vẫn không hề rã ngủ sau ba mươi bốn năm phải buông súng đầu hàng theo lệnh thượng cấp. Trái lại càng lúc càng lớn mạnh dù họ không có vũ khí và đơn vị. Cũng không hề bị câu thúc bởi một cấp chỉ huy hay kỷ luật nào. Tất cả những người còn sống sót sau cuộc đổi đời, ngục tù, hành hạ, đang sống trong nước hay vất vưởng nơi góc bể chân trời. Họ là những người lính Dù, TQLC, Biệt Ðộng Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Thiết Giáp.. một thời anh hùng kiêu dũng khắp bốn vùng chiến thuật.

    Họ là những phi công, pháo thủ, nhựng chiến sĩ hải quân, hải thuyền.. tung hoành trên trời dưới biển, từng làm khiếp vía giặc thù. Họ là các chiến sĩ Bộ Binh, ÐPQ-NQ, những cảnh sát dã chiến, cán bộ xây dựng nông thôn, nhân dân tự vệ, kể luôn những công chức các ngành, một thời góp phần xương máu xây dựng và gìn giữ quê hương miền Nam. Tất cả không một ai chịu rã ngũ và đang như còn trong đơn vị ngày nào bởi vì tổ quốc, danh dự trách nhiệm đang mong đợi sự góp sức của toàn dân.

    Những người ngoại quốc đến VN trước khi đất nước chưa bị Cộng Sản đô hộ, đi khắp từ ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau, không thấy đền đài cung điện nguy nga tráng lệ như ở bên Tàu, Thái Lan, Ấn Ðộ hay cả Kampuchia. Ðiều này chứng tỏ tại VN không có ai thống trị ai, qua cái hình ảnh ta đã tìm thấy trong tác phẩm cổ Việt “Việt Ðiểu Sào Nam Chi” nói lên cái lối sống tự do, tự tại và hào phóng của dân tộc Việt.

    Câu chuyện làm nhớ lai năm 1995 trong một cuộc họp mặt thân hữu tại Colorado, cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu trả lời một câu hỏi của một bạn trẻ về dự định chính trị tương lai. TT Thiệu lúc đó đã trả lời là ông không hề cũng như không bao giờ có ý định trở lại chính trường, vì mang trách nhiệm làm sụp đổ đất nước khiến bao chiến hữu phải chết, chịu ngục tù, làm dân lành khốn khổ lầm than. Ông chỉ muốn góp phần nói lại cái kinh nghiệm đau thương của một dân tộc nhược tiểu, cái hèn nhục của một nhà lãnh đạo vì thời thế mà phải thế thời, khiến muôn đới mang tiếng nhục. Tiếc thay đến chết, ông vẫn không viết được một lời tạ tội với quốc dân đồng bào.

    Mấy năm trước, trong Tiền Đại Hội Cựu Chiến Sĩ Hải Ngoại tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, qua cuốn video ghi lại cuộc bầu cử Ủy Ban Phối Hợp Ðại Hội Toàn Quân. Trong phòng lúc đó có sự hiện diện của nhiều cựu tướng lãnh QLVNCH là các Tướng Phạm Văn Ðổng, Phó Ðề Ðốc Ðinh Mạnh Hùng, Phó Ðề Ðốc Lâm Minh Tánh, Tướng Lê Minh Ðảo, Nguyễn Duy Hinh và Trần Quang Khôi cùng nhiều sĩ quan cấp tá.. Nhưng hầu như tất cả đều từ chối chức vụ.

    Cảm động thay qua lời phát biểu của Tướng Lê Minh Ðảo, tư lệnh SD18BB cũng là tư lệnh chiến trường Xuân Lộc, Long Khánh vào tháng 4/1975, một người bị tù Cộng Sản lâu nhất đã nói “Quân nhân các cấp của QLVNCH, dù di tản hay ở lại, bị bắt hay đi trình diện, tất cả đều có bổn phận trách nhiệm về sự làm sụp đổ VNCH, cho nên không ai còn ham muốn chức vị, mà chỉ mong như mọi người, được tại ngũ để cùng góp phần quang phục đất nước, đánh đuổi giặc Tàu, dành lại quê hương đã mất“.

    Ôi cao quý thay cho những người lính già, có lẽ vì đại nghĩa mà Quân Lực VNCH sau một thời gian dài bị phân hoá, bị lợi dụng, nay đã thực sự vào hàng. Ngoài ra bên cạnh còn có nhiều con em chúng ta góp phần xây dựng nên một lực lượng vững mạnh, đoàn kết. Tinh thần anh hùng của dân tộc đã sống lại. Tất cả cùng hẹn trong những ngày sắp tới của năm 2010, quyết lấy máu thay mực, viết thêm vào bản Bình Ngô Ðại Cáo, thề lật đổ bạo Hồ để dành quyền tự chủ đứng dậy ngăn chống giặc Tàu đỏ, đang thôn tính VN từng giờ.

    “Ðoạt sáo Chương Dương Ðộ
    Cầm Hồ Hàm Tử Quan..”


    Tiếng trống đồng đang hồi giục giã, giọng ngâm thơ sang sảng kiêu hùng, đang đợi chờ mọi người. Và chỉ có người Việt mới quyết định được tương lai cho đất nước và dân tộc mình. Chúng ta những người lính già hôm nào, sẽ không lo sợ vì câu hỏi quá khứ nhân sinh trên lịch sử, làm sao diễn lại một lần nửa, trong công cuộc tiêu diệt giặc Tàu, khi Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Quang Trung.. đã đi vào thiên cổ.

    Bởi vì hồn nước, hồn Việt của thế hệ chúng ta đã được thế hệ thứ hai nối tiếp. Họ chính là hình ảnh hào hùng của ông cha và ta năm nào. Với quyết tâm của muôn người hôm nay, chúng ta nhất định thắng bạo Hồ và giặc Tàu xâm lược.

    Ngày xưa, Cộng Sản lấy chiêu bài no cơm ấm áo, độc lập tự do để dụ dỗ mọi người. Hôm nay chúng ta lấy tình thương, tình người và tình nước làm lá cờ đaị nghĩa để diệt giặc, sợ chi không công thành. Con người sống cao lắm là 100 tuổi, nhưng nếu không làm gì cho đất nước thì có ích gì? Thắm thiết thay lời thơ của Nguyễn Bá Trạc:

    “Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
    Hà tất cùng sầu đối với vỏ cây?”




    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Cuối Chạp 2009
    MƯỜNG GIANG
  14. CUỐI NĂM BÀN CHUYỆN TẾT TA TẾT NGƯỜI

    MƯỜNG GIANG



    Không riêng gì dân tộc VN mà hầu như khắp mọi nơi trên thế giới, đâu đâu người ta cũng đều coi trọng đêm Giao Thừa. Ðây là khoảng thời gian thiêng liêng nhất trong năm, mà cũng thật là ngắn ngủi, để con người tịnh tâm ôn lại đời quá khứ vì mỗi năm thêm tuổi, càng đuổi xuân đi, buồn vui lẩn lộn. Xưa nay lẽ trời đất không đổi dời, có bắt đầu thì cũng phải có kết thúc, thời gian cứ chạy long bong để rồi hội ngộ tại cái mốc cuối cùng của năm là phút giây trừ tịch. Tính ra, thế giới sắp bước vào thế kỷ XXI được mười năm với nhiễu nhương loạn lạc vì thiên tai, chiến tranh và khủng bố. Nhưng dù gì chăng nửa, nói chung hầu hết đều mừng năm mới rất vui nhộn. Tóm lại, Xuân-Tết vẫn là nguồn hạnh phúc chung của nhân

    ‘...Quẩn quanh đã bắt đầu đì đẹt
    pháo nổ xen trong điệu trống lân
    khắp bếp bề bề măng, cốm, mứt
    nhà trên cha vịnh bức tranh xuân

    Giao thừa ngồi đợi chuông chùa vọng
    giữa bước nàng Xuân lộng nỏn nường
    hương rợp xiêm y rền nhạc ngựa
    trần gian mở hội đón tiên nương

    Hừng sáng cả nhà đi hái lộc
    mông mênh đất tỏa ngát hương trầm
    pháo hồng mừng tết bay trăm lối
    bổng tiếng gà vang báo đổi năm.. ’


    (thơ MG)

    + Những khác biệt của nhân loại trong việc tính thời gian:

    Xưa nay ta vẩn tưởng thiên hạ sống trên trái đất, nếu không xài Âm Lịch thì sử dụng Dương Lịch mà người VN quen gọi là Tết Tây hay Tết Ta. Thật sự không phải vậy vì mỗi dân tộc đều có riêng cách nghĩ và khoảng thời gian riêng của họ, dù là một quốc gia độc lập hay đang sống dưới ách nô lệ.

    Với Tây Tạng một quốc gia theo Phật Giáo Mật Tông, có nền độc lập lâu đời đã bị Trung Cộng cưỡng chiếm vào năm 1949, thì năm 2010 mà nhân loại sắp bước tới đã đến vơi họ từ 138 năm về trước, nếu căn cứ vào Phật lịch của vương quốc Tây Tạng. Như cách tính của Tàu, năm của người Tây Tạng dựa theo cách xếp đặt của Can, Chi và sự vận hành trong kinh dịch, nhưng có khác biệt về quan niệm tính ngày vào lúc mặt trời mọc, chứ không phải căn cứ vào múi giờ 0 như phương Tây. Hiện lịch này vẩn được sử dụng tại Tây Tạng, do chính Ðức Ðạt La Lạt Ma vị lãnh đạo tinh thần của vương quốc trên, đang sống lưu vong tại Dharamsala (Ấn Ðộ), tu chỉnh và phát hành.

    Ðối với Trung Cộng, năm 2009 vừa qua tương ứng với năm 4708 của Tàu, dù từ năm 1912 chính phủ dân quốc đã chấp nhận lịch Grégoire. Căn cứ vào cuốn lịch đời Quang Tự nhà Thanh (1874-1908) làm theo lịch cổ, thì người Hoa cách đây hơn 2000 năm trước Tây Lịch, nhờ vào sự đo đạc khá chính xác, đã tính được một năm có 365 ngày và năm nhuận. Ngày nay, lịch cổ Trung Hoa vẫn còn được sử dụng trong lể, hội, xuân, tết và trong lãnh vực chiêm tinh, bói toán.

    Với người Do Thái, theo những văn bia cổ nhất từ thế kỷ thứ 10 trước TL, thì lịch Gezer dựa vào âm và dương mỗi năm chỉ có 295 ngày, nên vào năm 2010 lịch cổ Do Thái đã bước vào năm 5771. Ngày nay như hầu hết các nước trên thế giới, Do Thái dùng lịch Grégoire, còn lịch cổ Gezer chỉ dùng trong lể hội mà thôi.

    Tại Trung Mỹ người da đỏ sống ở nước Guatemala, theo truyền thống của tổ tiên họ là người Maya, có từ 5116 năm về trước theo huyền sử. Theo đó, người Maya dùng hai thứ lịch: Haab theo mặt trời có 365 ngày và lịch Tzolkin của tôn giáo, chỉ có 260 ngày.

    Cuối cùng là người Ả Rập theo Hồi Giáo làm lịch theo sự vận hành của mặt trăng với niềm tin dựa vào kỳ trăng mới trong mỗi tháng. Tuy nhiên ngày nay vì người Ả Rập sống rải rác khắp nơi trên thế giới nên sự trở ngại lớn nhất là mặt trăng mới không xuất hiện cùng lúc như trên bán đảo Ả Rập. Khó khăn kế tiếp là sự xen kẽ giữa những ngày 29 và 30 theo mặt trăng, không ăn khớp với mặt trời. Ðể phù hợp với thực tế, người Hồi Giáo tha phương phải cộng thêm 11 ngày trong chu kỳ 30 năm. Ðặc biệt, nếu theo lịch Hồi thì người Ả Rập luôn luôn trẻ hơn các dân tộc khác vì lịch của họ rất ngắn và hộ tịch lại căn cứ theo Âm Lịch. Khác với Tây phương, người Ả Rập khi bắt đầu làm lịch, họ lấy điểm gốc là Hégire (kỷ nguyên Hồi Giáo), tính từ giai đoạn nhà tiên tri Mahomet sang lưu vong ở Médine vào khoảng thế kỷ thứ 7 sau TL. Vì thế khi Tây phương bước vào thiên niên kỷ 2000, thì Ả Rập lại là năm 1422.

    Tóm lại năm được gọi là đầu tiên của đệ nhị thiên niên kỷ vẩn không đến cùng một lúc trong lòng mọi người như ta nghĩ vì chỉ có phương Tây hay các quốc gia dùng dương lịch chấp nhận, còn một số lớn thì đón xuân theo lịch riêng của họ. Trên nguyên tắc, thì hiện nay tây phương gần như thống trị thế giới về phương diện đo đạc thời gian và dương lịch Grégoire đã được cải biến thêm hoàn chĩnh, thế nhưng theo lịch trên chỉ để hòa hợp dòng sinh hoạt của nhân loại, còn quan niệm về chủng tộc tôn giáo lại thuộc trong lãnh vực tâm linh, nên sự khác biệt trong lúc đón năm mới là điều rất bình thường.

    + Nhân loại đón giao thừa đầu tiên của thế kỷ XXI:

    Dựa vào thiên văn, một nhóm địa phương nằm trên đường kinh tuyến 180 độ đông đều cho rằng mình là vùng đất đầu tiên được đón chào bình minh trên thế giới khi nhân loại bước vào thế kỳ XXI. Ðó là các đảo quốc Atka của Nga, Vanua Levu thuộc Fidji và Nukufetau trong quần đảo Micronese. Tuy nhiên, theo sự tính toán của các nhà địa lý quốc tế, thì chính đảo Pitt của Tân tây Lan, mới là điểm đầu tiên đón ánh bình minh của thiên niên kỷ mới. Tuy vậy tại quần đảo Fidji, mặt trời đầu tiên sẻ lần lượt thay đổi qua các múi giờ của kinh tuyến 180 độ, tại các đảo Vanua levu, Rambi và Taveuni. Tất cả các điểm trên đã được thắp sáng bằng điện, dễ cho mọi người từ xa cũng nhìn thấy rỏ.

    Riêng dân chúng tại hai đảo Tonga và Samoa có thể đón hai lần ánh bình minh của năm mới theo múi giờ. Nhưng quan trọng nhất vẫn là đảo Pitt có diện tích 98 km vuông, nằm trong nhóm đảo Chatham, coi như ngoài rìa thế giới, trong Nam Băng Dương, cách Tân tây Lan 800 km, ở độ cao 230m so với mặt biển. Ngay khi nhận được tin mừng trên, dân chúng tại đây đã chuẩn bị mọi thứ để các hãng truyền thông quốc tế và du khách đến đây đón giao thừa cũng như chào ánh binh đâu tiên của năm 2000 vào lúc 5 giờ 00 phút 24 giây, sớm hơn mọi nơi khác.

    Ðể chuẩn bị mọi thứ, từ tháng 10-1998 chánh phủ Tân Tây Lan đã lập một bộ mới mang tên là Thiên Niên Kỷ và chi hơn 3 triệu đô la để tổ chức các lể hội vui tết khắp nước. Tại nước cộng hòa bé nhỏ Kiribati (82.000 dân), chánh quyền đã đổi tên hòn đảo không có người ở từ Caroline thành Milendium với nghĩa là ‘Thiên Niên Kỷ’.

    Tại La Mã, Hồng Y Etchegaray được Giáo Hoàng Phao Lồ Ðệ Nhị ủy nhiệm tổ chức đón giao thừa 2000, dù thời khắc quan trọng nhất của tín đồ Thiên Chúa Giáo đã qua từ lúc nửa đêm Giáng Sinh, do chính Ngài cử hành đêm thánh vô cùng năm 2000. Ðể chuẩn bị mọi thứ, chính phủ Ý cũng đã bỏ ra hơn 35 triệu đô la để trùng tu và sửa sang lại thành phố Rome. Trong giờ giao thừa, tòa Thánh sẽ mở cửa các ngôi đền Ðức Bà Maria, đền thánh Yoan Látrano và Thánh Phao Lồ để mọi người và du khách tới xin lể.

    Người Ðức thì bận rộn hơn vì năm 2000 vừa di chuyên thủ đô về lại Bá Linh, vừa tổ chức triển lãm kỹ thuật quốc tế ở Hanovre, vừa đón giao thừa tại cổng Brandebourg tại Ba Linh, là nơi từng chứng kiến sự chia đôi thủ đô và nước Ðức từ năm 1945.

    Chánh phủ Anh từ năm 1994 đã chấp thuận trích 20% tiền thu được trong các cuộc xổ số quốc gia giao cho ủy ban Miienium trách nhiệm tổ chứa lể hội ăn mừng nhân dịp kỷ niệm năm 2000.

    Tại Trung Cộng càng vui vẻ hơn vì đây là thời gian ăn mừng 50 năm nước Tàu sống trong thiên đường xã nghĩa và lấy lại được nhượng địa Macau trong tay người Bồ Ðào Nhà từ mấy trăm năm về trước. Ðể kỷ niệm 5000 năm lập quốc, một khu phúc họp và tượng đài thiên niên kỷ được thiết lập tại Bắc Kinh, do 200 kỹ sư cùng các chuyên viên xây dựng. Khu phúc họp chiếm một diện tích 35.000 mét vuông, toàn khu được sơn màu vàng với ý nghĩa tượng trưng cho màu da và màu đất hoàng thổ của Trung nguyên do sự bồi đắp lâu đời của con sông Hoàng Hà.

    Giữa khu, một cái hồ nhân tạo có đường kính 3m được rắp láp bằng 5000 bảng đồng, ghi lại những biến chuyển lịch sử của Hoa Hạ trong suốt thời gian qua. Một ngọn lửa tượng trưng cho sự bất diệt sẽ được duy trì, bên cạnh đó là những đám cưới tập thể của 2000 cặp người Hoa trên 37 quốc gia, diễn ra tại các điểm du lịch và chiếu lại trên truyền hình, đặt tại quảng trường Thiên An Môn.

    Tại Nhật đêm giao thừa được đón nơi quảng trường Ebisu (Ðông Kinh), còn Triều Tiên thì cả hai chánh quyền Nam-Bắc đều đồng ý chọn tổ chức tại thị trấn Punmunjom là vùng phi quân sự chia đôi hai nước với hoài vọng chờ ngày thống nhất. Ở Ai Cập, đêm giao thừa sẽ được tổ chức đặc biệt hơn bao giờ hết như truyền thống đã có sẵn từ thời xưa. Một chiếc máy bay trực thăng loại lớn sẽ mang một chóp tháp cao 9m, đặt trên đỉnh kim tự tháp Kheops tại khu di tích Gizeh. Ngay giờ phút đón giao thừa, bản nhạc cổ Ai Cập nổi tiếng trong thần thoại “Mười Hai Ước Mơ Của Mặt Trời” sẽ được trình bày để cả nước đón tết.

    Tóm lại phải nhiều đêm qua mới có một giao thừa ba mươi tết và nhiều lần như vậy, nhân loại mới có một tối giao thừa xúc động lòng người. Buồn nhất là hầu hết người Việt trong và ngoài nước, đêm trừ tịch, giữa lúc giờ khắc năm cũ sắp tàn, khi mà thiên hạ hoặc cài chặt then cửa chực đón năm mới trong hạnh phúc gia đình, hay túa ra chốn công cộng vui chơi thỏa thích, thì vẫn có không ít, nhất là người Việt ly hương, tạm ngưng cái hồn vong quốc từ lâu, cũng để đón giao thừa, chào năm mới trong thềm năm cũ, nhận thêm một chiếc lá úa vàng của mùa xuân vỡ vụn trên bờ vai của cuộc đời. Từ đó càng thấy càng buồn rầu trơ trọi giữa một cái tết rực rỡ nhất của lịch sử nhân loại.

    ‘...Trời hởi xuân về thương với nhớ
    ngồi đây mà ngóng tết xa mờ
    quán khuya vắng bóng người muôn dặm
    tiếng sếu càng thêm mộng ngẩn ngơ.. ’


    Ngay trong phút giao thừa tại Âu Châu, bốn chiếc phản lực cơ siêu thanh Concorde của hãng hàng không liên danh Anh-Pháp, với vận tốc 2000km/giờ, chở 100 hành khách đặc biệt sau khi đón giao thừa tại phi trường Charles de Galle ở Paris, và lần thứ hai tại Manhattan, New York (Hoa Kỳ).

    Tại Luân Ðôn, 10.000 vé mời dành cho các nhân vật tên tuổi cũng như giới thượng lưu trí thức của Anh Quốc, vào dự tiệc cùng với Nữ Hoàng Elizabeth 2 tại vòm thiên niên kỷ, được xây dựng ở Greewich ngoại ô Luân Ðôn, trên bờ sông Thames thơ mộng.

    Ðây là một công trình xây dựng nổi tiếng của thế kỷ, do Kỹ wư Richard Roger thực hiện với kinh phí 300 triệu bảng Anh. Vòm thiên niên kỷ cao 50m, nóc lợp bằng kính pha trộn Teflon rất nhẹ nhưng bền chắc hơn sắt thép, chiếm một diện tích rộng hơn 22 mẫu tây, được phân thành 12 khu vực, tượng trưng cho 12 múi giờ trên thế giới. Ngoài ra, một cây cầu thiên niên kỷ, nối liền trung tâm thương mại Luân Ðôn với thánh đường nổi tiếng St. Paul ở tả ngạn sông Thames, tòa nhà Greater London Authority bốn phía toàn bằng kính, hải cảng Canary Whart Station. Ðặc biệt là một bánh xe khổng lồ bằng sắt có thể chuyển động, giúp mọi người có thể nhìn rõ bốn hướng của thủ đô, cũng như mục kích những cánh hoa muôn màu, muôn sắc phát ra từ pháo bông, làm rực sáng cả kinh đô trong giờ phút giao thừa.

    Liên Bang Nga rộng lớn, đất đai chạy dài từ Ðông Âu sang tận bờ tây Thái Bình Dương nên có tới 12 múi giờ, vì vậy muốn đón giao thừa trọn vẹn, chỉ có cách đến tham dự lễ giao thừa được tổ chức quy mô tại quảng trường đỏ ở kinh đô Mạc Tư Khoa. Tại đây 12 màn hình to lớn được thiết kế để cứ mỗi lần giao thừa đến tại một múi giờ nào đó, sẽ có một em bé gái mặc y phục của địa phương mình, ra chào và chúc tết mọi người.

    Tại Do Thái vì có thánh địa nổi tiếng Jerusalem, nên dù sự tranh chấp giữa người Israel và Palestin vẩn diễn ra ầm ỷ, nhưng số người đến hành hương và đón giao thừa vẩn đông đảo. Ngoài ra, các lể hội khác cũng được tổ chức trọng thể tại các thành phố Haifa, Nazareth, đặc biệt là chương trình tranh tài thể thao và nghệ thuật trên bờ hồ Galilée.

    Riêng chánh phủ nước Liban qua hợp tác của công ty quảng cáo Publigraphics, đã thực hiện dự án Beyrouth 2000, là một làng toàn cầu để du khách khắp nơi tới vui chơi và đón tết từ giáng sinh cho tới ngày 7/1/2000. Làng được xây dựng trong một khuôn viên rộng cả km2, ngoài các lể hội tết còn có chương trình thăm viếng tết khắp nơi trên thế giới, qua màn ảnh truyền hình vỉ đại.

    Cũng có trường hợp thật đặc biệt như của cựu Tổng Thống Nelson Mandela và đương kim Tổng Thống Thabo Mbeki Nam Phi, đả đón giao thừa tại nhà ngục trên đảo Robben đã giam giữ hai ông suốt một phần đời.

    Ở Paris lể hội đón giao thừa qua thiên niên kỷ mới, diễn ra trên đại lộ Champs Elysées, đúng 12 giờ khuya, khi tiếng chuông tại tất cả các thánh đường đồng loạt đổ với tiếng nổ rượu sâm banh. Pháo bông được bắn lên khắp tám hướng, mang hoa xuân nở rộ khắp bầu trời đen của đêm trừ tịch. Mọi người kể cả du khách như trút hết phiền muộn, để hòa đồng với nàng xuân hả hê giữa cơn hoan lạc.

    Tại Hoa Kỳ đã có gần 600.000 người, kể cả gia đình và cựu Tổng Thống Bill Clinton đến tham dự lễ hội mừng giao thừa thiên niên kỷ mới. Hội mừng xuân được tổ chức tại công trường chính ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, nơi có hai tượng đài của cố tổng thống Washington và Lincol. Chương trình diễn ra thật vỉ đại, đầu tiên mọi người theo dõi giây phút giao niên từ khắp các vùng đất trên thế giới qua màn hình TV. Kế tiếp là một cuốn phim ngắn chùng 20 phút của đạo diễn nổi tiếng là Steven Spielberg về tết. Cuối cùng là buổi trình diễn nhạc do nhạc sư khét tiếng của Mỹ là Quincy Jones điều khiển, qua sự góp mặt của các nam nữ ca sĩ đang được mến mộ như Charlotte Church, Aretha Franklin, Will Smith.. Mặc dù đêm đó, trời thật lạnh, nhiệt độ xuống quá 0 độ C, khắp nơi tuyết trắng bay lả tả như mưa phùn nơi đất Bắc của VN, nhưng mọi người vẫn như không hề biết tới băng giá, ai cũng say sưa trong hạnh phúc, reo hò ầm ỹ theo từng cánh hoa xuân của pháo bông, nở rộ khắp bầu trời.

    Cũng trong cái tối ba mươi của thập niên cuối, nơi đất nước Úc Ðại Lợi xa xôi giáp miền Nam cực, lể hội mừng giao thừa và thiên niên kỷ đã được tổ chức hết sức tưng bừng và trang trọng tại thành phố biển Sydney và nhiều nơi khác trong nước. Ðịa điểm hành lễ là Sydney harbour Bridge. Rồi khi mặt trời vừa chen lặn, lập tức 60 chiếc tàu sẽ mở đèn, để ánh sáng tỏa khắp vịnh Sydney. Kế tiếp là một trận pháo bông vô tiền khoáng hậu mà tiền mua lên tới 3 triệu Mỹ kim sẽ được bắn lên,khiến cho hoa xuân như nở đầy trời, mở màn cho dạ hội hóa trang, diễn ra suốt đêm mừng tết tại nhà hát lớn.

    + Tết Việt Nam:

    Chỉ trừ những thời kỳ giặc giả, xưa nay người Việt ăn tết rất lớn và kỷ. Vì vậy tuy nói là ba ngày tết nhưng chuẩn bị thì gần như cả năm nhất là tại miền quê. Từ trung tuần tháng chạp, phố xá chợ búa nơi nào cũng thấy có vẽ tết. Rồi mỗi ngày thêm nhộn nhịp, tấp nập người buôn kẻ bán cho tới chiều ba mươi tết mới tan chợ, vì ai cũng phải về nhà để lo tiệc tùng, cúng giỗ tổ tiên ông bà. Bận rộn nhất có lẽ là những ngày 28, 29, 30 tháng Chạp dù ở thôn quê hay thành thị, nào lau chùi đồ đồng, quét dọn bàn thờ, sơn phết nhà cửa.. Rồi đóng cốm, làm mứt, gói bánh chưng, mổ heo, làm gà vịt. Nhà nào cũng như nhà nấy gần như đầu tắt, mặt tối vì chuyện tết.

    Chợ tết thì không nơi nào giống nơi nào về giá cả. Cùng một món hàng, tại một khu chợ, có người bán rẻ, có kẻ bán mất. Tóm lại mắc rẻ do kinh nghiệm của mấy bà nội trợ. Ðàn ông, con trai đa số đi chợ tết để ngó và có dịp chen lấn cho vui, chứ mua bán thì coi như thua, vì biết đâu mà mò.

    Tại Sài Gòn mấy năm gần đây, cứ mỗi lần nghe trời trở lạnh hay ra đường nhìn thấy các bà, các cô bắt đầu mặc áo lạnh vàng, xanh, đỏ, tím .. thì biết chắc là tết sắp về, dù cuốn lịch trên tường chỉ mới tới lễ giáng sinh. Thật ra đây cũng là tập quán lâu đời cựa người Việt, thường gộp chung các phiên chợ cuối cùng trong năm để tiện lợi mua sắm cho dịp tết sắp tới.

    Bắt đầu tháng 12 Dương Lịch, hàng Giáng Sinh đã được bày bán khắp nơi, từ hang đá, cây thông, máng cỏ cho tới quần áo lạnh. Có điều buồn là số hàng trên phần lớn do Trung Cộng sản xuất mà giá bán lại thấp hơn hàng nội địa. Vì vậy những cắp mắt cứ hau háu nhìn chúng vì ai cũng tin đồ nhập cảng dù bệ rạc thế nào chăng nữa, vẩn hơn hàng VN. Chỉ có các gian hàng trái cây, mứt bánh do các hiệu nổi tiếng xưa nay như Kinh Đô, Ðồng Khánh, Ðức Phát.. thì không ai cạnh tranh, nên bán vẩn chạy dù giá phải hạ hơn năm ngoái.

    Về Thiệp chúc Giáng Sinh hay tết, món hàng được ưa chuộng vẫn là hàng của Tàu vì giá rẻ, in đẹp hơn nữa bên trong có nhạc giáng sinh hay nhạc tết. Mấy năm nay, tại VN có một món hàng đã trở nên thời thượng, đó là lịch nhiều tờ treo tường, trong có in phong cảnh hay hình các hoa hậu, người mẫu hoặc các nam nữ ca sỉ nổi tiếng cũng như những cầu thủ bóng tròn được ưa chuộng. Phong trào in lịch tết gần như trăm hoa đua nỡ, kỹ thuật càng ngày càng tinh xảo, đẹp đẻ. Thế nhưng khách vào chỉ để nhìn chứ ít mua, vì phần lớn ai cũng có lịch tặng của cơ quan, xí nghiệp, đại lý, trường học.. treo đầy nhà, nên mua làm gì dù giá lịch rất rẽ.

    Về quần áo tết kể cả đồ mặc lạnh, các sạp tiệm bán đồ mới cũng điêu đứng vì các điểm bán đồ cũ mọc ra như nấm, gần như nơi nào cũng có tại Sài Gòn. Thời buổi gạo châu củi quế này, đâu phải ai cũng là cán bộ nhà nước hay thân nhân của Việt kiều có tiền rừng bạc bể để hiên ngang vào các hiệu buôn sang trọng mua sắm các loại mẫu mả thời trang có giá cả hơn tiền lương vài tháng của giới công nhân lao động. Do trên thiên hạ ào ào đi sắm tết ở những điểm bán đồ củ, được các tay buôn lậu tải về từ biên giới Việt-Miên. Ðồ tuy mang tiếng xài rồi, nhưng phần lớn còn rất tốt, thậm chí nhiều thứ đẹp và hợp thời trang hơn đồ mới tại các cửa hàng.

    Có một điều bất nhẫn nhất là trong các phiên chợ tết vừa qua, người buôn cũng như kẻ bán ê chề thấy rõ, vì đất nước VN không biết sao liên tiếp bao nhiêu năm cứ bị thiên tai, bão lụt hằng hằng. Khi tai nạn qua thì tết lại đến, mùa nông, mùa biển mới bắt đầu, thì thử hỏi tiền bạc đâu mà mua sắm như mọi năm trước, cho nên chợ tết vẩn đông người đi coi, hơn là kẽ đi sắm.

    Trong cái khốn cùng của dân nghèo, nhà nước ta lại bày ra cái phiên chợ bất động sản tại Sài Gòn, để môi giới bán nhà ăn bách phân. Câu chuyện trào phúng tréo cẳng ngỏng, khiến nhớ lại cái sự nợ đòi, réo nợ vào lúc cuối năm, nên: ’Khôn ngoan đến cửa quan mới biết, giàu có ngày ba mươi mới hay“. Tục đòi nợ tết xưa nay đã làm khốn đốn bao nhiêu kẽ bất hạnh, trong đó có không ít người giả sang, giàu dỏm.

    Ngày nay dưới thiên đường xả nghĩa, con người cũng văn minh hơn, nên vào lúc cuối năm, những ông bà khoe giàu nếu lở thiếu nợ thì gần đến tết, cả nhà lại đi du lịch để đón giao thừa và chơi xuân tại Vũng Tàu, Nha Trang, Ðà Lạt.. ra tết lại về, thế là hòa cà làng, vì theo tập quán của ta nợ ra năm thành nợ cũ, nên từ từ sẽ trả. Ở làng quê xưa, thường thấy một hình ảnh đặc biệt, không biết nay có còn hay không, là hoạt cảnh đêm trừ tịch trước lúc giao thừa, nhiều chủ nợ cầm đèn, vác gậy xông xáo khắp xóm làng để nòi nợ. Theo sau là bầy con nít và đàn chó sủa vang dội đất trời. Nhưng chuyện này, chắc chắn là có, đó là cảnh của những kẽ bất hạnh, không cửa nhà, phải yên lặng nép mình bên hè phố, trong bóng tối đêm ba mươi, khi nhà nhà đã cài chặt then cửa, sửa soạn đón năm mới trong hạnh phúc gia đình.

    Xuân tới rồi lại qua và cứ thế mà quanh quẩn trong ngõ đời, khiến cho nhân thế mỏi mòn mong đợi từ lúc tuổi thơ cho tới khi bạc tóc vẩn chờ. Cũng nhờ có xuân tết, con người mới yêu đời và chịu đựng được tất cả các cảnh ngộ éo le, chỉ vì hy vọng thế nào mùa xuân cũng mang lại hạnh phúc cho họ. Trong dịp tết, bất cứ ở đâu, có lẽ đêm giao thừa là giờ phút thiêng liêng nhất trong năm, nhất là đối với trẻ con trong mọi gia đình, được dịp ăn ngon, mặc quần áo mới, có tiền lì xì.

    Ðối với người lớn, đây là thời gian được sum họp dưới mái gia đnh, được tịnh tâm tính sổ lại cụôc đời trong quảng thời gian qua. Cũng từ đó riêng mình bâng khuâng chạnh nhớ những vui buồn mất được, ôn lại những gương mặt thân quen đây đó, còn hiện hữu hay theo năm tháng đi vào ngỏ khuất của đời. Tất cả rồi ra cũng là nỗi buồn vui chôn kín trong đáy huyệt, có mấy ai dám thố lộ. Bởi vậy, trong dịp Tết phần lớn nhân loại thích làm to chuyện, thật ra đó cũng là hình thức mượn đám đông để cho ta theo đời mà vui.


    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Cuối Đông 2009
    MƯỜNG GIANG
  15. ÐỌC LẠI TỪ ÐỐNG RÁC LỊCH SỬ: CHUYỆN DÀI GIỮA CSVN VÀ MỸ VỀ CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM

    MƯỜNG GIANG





    Từ năm 1960-1975, Bắc Việt ồ ạt chuyển người và vũ khí các loại vào cưỡng đoạt miền Nam VN bằng con đường mòn Trường Sơn (HCM), băng ngang qua vĩ tuyến 17 trong tỉnh Quảng Trị. Hoa Kỳ và Ðồng Minh lúc đó đang tham chiến giúp QLVNCH chống cuộc xâm lăng của Ðệ Tam Cộng Sản Quốc Tế. Quân đội Mỹ đã sử dụng một loại thuốc diệt cỏ, phá rừng với mục đích phát quang, để các lực lượng bộ binh dễ tìm ra dấu vết của giặc hâu việc ngăn chận có hiệu quả tối đa. Một chiến dịch mang tên ‘Ranch Hand‘ bắt đầu từ năm 1961 thời Tổng Thống J.F. Kenedy khai quang các vùng rừng núi hầu như không có người ở thuộc Vùng 1 và 2 chiến thuật, cùng một vài tỉnh tại Vùng 3 như Phước Long, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Phước Thành..

    Theo tài liệu của Bộ Quốc Phòng Mỹ thì thời gian từ năm 1961-1971, chừng 44.338 triệu lít thuốc khai quang diệt cỏ đã được rải xuống các khu rừng và những mật khu VC. Thuốc có màu da cam, gần 20 triệu lít chất trắng và 8 triệu lít loại màu xanh.

    Do tính cách tuyên truyền để đòi bồi thường, nên Hà Nội la lối cũng như kết tội Mỹ "sử dụng chiến tranh hóa học". Thật sự trong cuộc chiến vừa qua, không phải chỉ có bộ đội, cán bộ Bắc Việt và người dân bị VC cưởng áp theo chúng tại các mật khu, rừng núi Trường Sơn cũng là nạn nhân của thuốc diệt cỏ. Chính QLVNCH và Ðồng Minh, cũng đã có mặt thường xuyên trong vùng bị khai quang. Nhưng lạ thay, họ không hề hấn gì mà chỉ có VC và thế hệ sinh sau, đẻ muộn, phần lớn thuộc tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Bình Ðịnh.. lại mang hội chứng chất độc màu da cam?

    Theo sử liệu tính đến đầu năm 1973 khi có hiệp định Ba Lê ngưng bắn, thì gần như VNCH kiểm soát được hầu hết lãnh thổ và dân số. Bắc Việt chỉ chiếm được rừng núi hoang vu và một số người Thượng. Tại Quảng Trị sau trân 1972, Cộng Sản chiếm được quận Ðông Hà, Gio Linh, Cam Lộ và Hương Hoá cùng với 58.646 dân bị kẹt không chạy được. Tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, VC chỉ chiếm được phần rừng núi phía tây rặng Trường Sơn, còn tất cả 918.360 dân và 10 quận cùng Huế đều do chính phủ kiểm soát. Tỉnh Quảng Nam cho tới đầu năm 1975, mới bị mất quận Thường Ðức và mỏ than Nông Sơn. Tại Vùng 2 chiến thuật, tỉnh Bình Ðịnh có nhiều VC nhất, nhưng chúng cũng chỉ chiếm được rừng núi và người Thượng. Nói chung, người Mỹ có rải thuốc diệt cỏ khai quang , thì cũng nơi rừng núi không có người ở. Cho nên trong suốt cuộc chiến 1955-1975 ở miền Nam , nạn nhân chiến cuộc phần lớn do bom đạn của 2 phía, không thấy ai bị sinh non, quái thai, dị tật.. dù ở nông thôn, hay trong tỉnh Quảng Trị đầy đạn bom chết chóc.

    Ngược dòng Việt sử, ta biết CSVN núp dưới chiều bài Việt Minh, đã lợi dụng thời cơ mà cướp được chính quyền vào ngày 19-8-1945. Từ đó, đất nước đắm chìm trong khói lửa đạn bom do chính Hồ Chí Minh và bè đảng mang về, gây nên cuộc chiến Ðông Dương long trời lỡ đất, kéo dài từ 1945 cho tới dầu thập niên 1990 mới tạm chấm dứt vì sự sụp đổ của đế quốc Liên Xô.

    Rồi cũng vì quyền lợi của đảng và cá nhân, Hồ ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, mở cảng Hải Phòng và nhiều cửa khẩu khác ở phía bắc vĩ tuyến 16 rước quân Pháp nhập quan, để được thực dân công nhận cái gọi là VNDCCH vừa mới thành hình. Hành động bán nước trên khiến cho quốc gia VN đánh mất cơ hội vàng ròng, dành lại độc lập tự chủ trong tay ngoại bang, như các nước Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương, Ấn Ðộ khi thế chiến 2 chấm dứt.

    Sau thảm bại Ðiện Biên Phủ, thực dân Pháp không còn con đường nào lựa chọn, nên phải ký hiệp định ngưng chiến tại Genève ngày 20-7-1954, trả lại nước Việt cho người Việt nhưng vẫn không quên thù hận khi giao nửa mãnh cơ đồ Hồng Lạc, từ bắc vĩ tuyến 17 trở ra cho Hồ Chí Minh và CS, dù rằng chiến thắng đánh đuổi ngoại xâm là máu xương và công lao của toàn dân cả nước.

    Tháng 2-1955 quân Pháp rút về nước. Miền nam VN từ vĩ tuyến 17 vào tới mũi Cà Mâu, tạm thời là một quốc gia độc lập VNCH có Hiến Pháp. Năm 1956, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm, qua cuộc trưng cầu dân ý trở thành tổng thống của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa.

    Do không thể lừa bịp toàn dân bằng trò hề hiệp thương và bầu cử thống nhất đất nước, để chiếm Miền Nam. Bởi vậy đầu năm 1956, Hồ Chí Minh và cộng đảng mở màn cuộc chiến xâm lăng VNCH. Từ đó, cán binh được gài cùng bọn thân nhân nằm vùng hoạt động trở lại. Ðồng thời qua con đường rừng Trường Sơn và đường biển, Bắc Việt ồ ạt chuyển người, quân trạng dụng của Nga-Tàu-Ðông Âu.. tấn công cưỡng chiếm Miền Nam.

    Sáng ngày 30-4-1975, khi chiếc trực thăng cuối cùng của người Mỹ rời nóc nhà Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, thì vài giờ sau đó TT Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH, buông súng đầu hàng CS Bắc Việt. Từ đó cho tới đầu thập niên 1990, các nước Ðông Dương, gần như đám chìm trong bóng tối của ngục tù và sự quên lãng của thế giới tự do, mặc cho một cuộc chiến long trời lở đất vào năm 1979, giữa Trung Cộng-Việt Công và Miên Cộng.

    Nói chung, cuộc chiến Ðông Dương lần 2 trên danh nghĩa đã chấm dứt vào tháng 5-1975 tại VN nhưng ‘Hậu Chứng‘ của nó vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Ngoài sự tan nát của một đất nước bị bom đạn ngoại nhân tàn phá trong chiến tranh. VN đã bị chính bàn tay hủy hoại của những đỉnh cao trí tuệ trong Băc Bộ Phủ, vì say men chiến thắng nên đã bắt Miền Nam ba bước nhảy vọt, để theo kịp thiên đàng xã nghĩa của Miền Bắc, qua 20 năm nô lệ chủ nghĩa Le-Mac, khiến người biến thành vượn khỉ, nghèo đói, lạc hậu và gian ngoa, hung ác vì miếng ăn, cuộc sống.

    Rốt cục mang tiếng độc lập, thống nhất nhưng cả nước cùng chịu chung số phận súc vật, cùng ngụp lặn trong vũng bùn hôi tanh ô uế của cái gọi là chủ thuyết kinh tế Mác-Lê, quốc doanh Mao-Hồ. Trừ bọn cán bộ đỏ của đảng VC cầm quyền no say nghiêng ngả nơi chốn cung đình. Cả nước còn lại, từ kẻ thắng trận tới người mất nước, ai cũng đói nheo vì tài sản đã bị đảng cướp giật. Nên cả nước lúc đó nếu không ăn bậy,kể cả xác súc vật sình thối, cây cỏ nhiễm độc, gạo ngô hư mọt, thì lấy gì no bụng để mà sống ? để mà tiếp tục làm trâu ngựa kéo cầy, kéo xe trả nợ làm người cho Việt gian, Việt cộng lẫn Việt kiều yêu nước XHCN?

    Hơn bảy mươi lăm năm qua ai cũng biết Cọng Sản VN, mang một thứ bệnh mộng du rất vĩ đại. Nên sẽ không lạ gì sự kiện Tổng thống Jimmy Carter, năm 1977 đã cử thứ trưởng ngoại giao Richard Holbrooke làm trưởng phái đoàn Hoa Kỳ, đến Hà Nội để nối lại bang giao giữa hai nước. Và mặc dù Mỹ chịu làm lành, khi hứa bỏ lệnh cấm vận lại cho trước 5 triệu đô la viện trợ nhân đạo. Nhưng chứng nào tật đó cũng như lòng tham không đáy, nên trong phiên họp tháng 5-1977 tại Ba Lê, CSVN đã trưng lá thơ của Nixon gửi Phạm Văn Ðồng, đòi nợ Mỹ 3,25 tỷ tiền tái thiết + 1,5 tỷ tiền viện trợ. Dĩ nhiên, vở tuồng bị chấm dứt ngay lúc đó, khi Mỹ trả lời thẳng "Hiệp Định 1973 đã bị quăng vào thùng rác khi chính Bắc Việt bội ước, thì còn giá trị gì để mà đòi tiền bồi thường chiến tranh?".

    Câu chuyện khôi hài cũ rích năm nào tưởng đã theo xác Hồ xuống địa ngục, bỗng dưng mới đây được vực dậy từ sự việc ‘có một nhóm cựu chiến binh Mỹ tham dự cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990‘ bị hội chứng do ảnh hưởng chất độc, từ những kho vũ khí hóa học của Saddam Husein. Nhân đó, một nhóm luật sư Hoa Kỳ đã xúi CSVN kiện chính phủ mình ra Tòa Án Quốc Tế, về tội sử dụng chất độc màu da cam bị cấm tại chiến trường VN, khiến cho nhiều người cả nước, bị dị tật,dị dạng và mang nhiều chứng bệnh trầm kha đau khổ.

    Có điều lạ, là các nạn nhân đều là phe ta (bộ đội-cán bộ) và gần như thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn. Tuyệt nhiên trong danh sách từ đầu tới cuối, không thấy ai nhắc tới một chữ về số phận của người miền Nam trong thời chiến, cũng như hằng triệu quân nhân, công chức, cán bộ, cảnh sát VNCH, từng trực diện với chất độc màu da cam, trên mọi chiến trường, khắp bốn vùng chiến thuật và sau đó trở thành tù nhân chiến tranh trong các địa ngục có thật khắp rừng núi VN từ nam ra bắc.

    Cho nên ví dù hôi chứng chất độc hóa học là có thực, vậy trong biển khổ này ai mới đủ tư cách để được nhận ân huệ cũng như mọi bồi thường? ‘Lá lành đùm lá rách, nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng‘ nhưng VC xưa nay vốn tham nhũng, gian ác, điêu ngoa, lật lộng, kinh nghiệm những lần Việt Kiều đóng góp cứu trợ các nạn nhân bị bão lụt trong nước, chắc sẽ khiến cho cộng đồng người Việt hải ngoại thức tỉnh. Phải giúp các nạn nhân khốn khổ trong nước ngày nay, là điều ai cũng phải làm. Nhưng nhớ là đừng bao giờ, để tiền bồi thường (nếu có), lọt vào đảng và bọn Việt gian cò mồi. Có như vậy chúng ta mới không hoài công và xấu hổ với đồng bào cật ruột, thấp cổ, bé họng, đang đêm ngày hoài đợi bóng voi của Quang Trung Ðại Ðế trở về để giải phóng đất nước đang chìm đắm trong xích xiềng nô lệ của CSVN tư mấy chục năm qua và sắp tới làm nô lệ Tàu đỏ.

    + AI GÂY RA CHIẾN TRANH, ÐỂ MỸ RẢI CHẤT ÐỘC MÀU DA CAM?

    Sau khi được Lào và Kampuchia đồng thuận, ngày 19-5-1959 Hồ Chí Minh nhân danh Trung Ương Ðảng ra lệnh mở đường rừng Trường Sơn và đường biển, để chuyển quân và vũ khí của Nga-Tàu và khối Cộng Sản vào miền nam xâm lăng VNCH. Con đường mang bí danh 559 do Võ Bẩm khai phá đầu tiên. Ðường gồm ba giai đoạn: Ðầu tiên là đường bô, gùi thồ. Từ năm 1964-1971 giai đoạn cơ giới hóa. Từ 1971-1975, thành xa lộ đất với đủ cầu cống và ống dẫn dầu. Song song còn có đường biển 759 nhưng chỉ hoạt động thời gian ngắn thì dẹp, vì bị Hải Quân Hoa Kỳ và VNCH ngăn chận. Ðể hoàn thành giấc mộng xâm lăng, từ năm 1964 Ðồng Sĩ Nguyên thay thế Ðinh Ðức Thiện và Phan Trọng Tuệ, chỉ huy đường 559. Tại đây, Bắc Việt luôn duy trì 120.000 bộ đội chiến đấu, gồm 8 Sư đoàn bộ binh, 10.000 nam nữ Thanh Niên Xung Phong và 1 sư đoàn phòng không của Bộ TTM biệt phái.

    Năm 1973 sau hiệp ước ngưng bắn, Bắc Việt công khai di chuyển quân và vũ khí đêm ngày trên đường. Bỏ cung trạm, hằng sư đoàn lính và xe cộ di chuyển thẳng từ Bắc vào Nam. Trước kia muốn hoàn thành một chuyến đi, phải mất 4 tháng. Từ năm 1973-1975, chỉ cần 12 ngày. Phụ trách chuyên chở, Hà Nội thành lập 2 sư đoàn vận tải dành cho Ðoàn 559 với hơn 10.000 xe cộ đủ loại. Nói chung tới đầu năm 1975, Bắc Việt đã xây dựng được con đường rừng dã chiến Trường Sơn xuyên qua Lào, Nam VN và Kapuchia dài 16.700 cây số, cộng thêm 1500 km rải đá, 200 km tráng nhựa.

    Song song có 1500 km ống dẫn dầu, 1350 km đường dây truyền tin, 3800 km đường giao liên và 500 km đường sông. Theo Ðồng Sĩ Nguyên, đã có hơn 19.000 người chết và hơn 30.000 khác bị thương tại đây nhưng bi thảm nhất là thân phận những người con gái trong lực lượng Thanh Niên Xung Phong, cũng như Ðại Ðội Pháo Nữ Ngư Thủy của tỉnh Quảng Bình. Họ vì sợ chế độ hộ khẩu, công an và tem phiếu thực phẩm, nên hy sinh cho đảng, tiêu phí cả một đời con gái tuổi trăng tròn, dưới mưa bom trời đạn. Rốt cục ngày CSVN đại công cáo thành, chiếm trọn được của cải vật chất miền Nam. Theo văn công Huỳnh Văn Mỹ của đảng viết trên báo, thì những kẻ may mắn còn sống sót, sau khi nhận được bằng khen là "chiến sĩ gái" xuất sắc, những cô gái quê miền Bắc, đa số vào chùa làm sư nữ, riêng những người làng quê xóm biển Quảng Bình, thì sống góa bụa trọn đời, vì sau cuộc chiến, ai cũng già nua đen đũi, thì có ma nào dám ngó ?

    Chưa hết đâu, chẳng những thanh niên nam nữ phải ra tiền tuyến hy sinh cho đảng, mà các bà mẹ cũng phải hy sinh. ‘Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm từ lúc tuổi còn xanh, nay mẹ đã phơi phới tóc bạc mà vẫn cũng phải đào hầm dưới bom đạn’. Ðó là một đoạn trong bài vè tuyên truyền của đảng. Từ năm 1956 ngay khi mở lại cuộc chiến xâm lăng tại miền Nam, Hồ Chí Minh thay vì di tản dân chúng tại làng Vĩnh Mốc, thuộc quận Vĩnh Linh, bên kia cầu Hiền Lương tỉnh Quảng Trị thuộc khu phi quân sự, để đồng bào có thể tránh được bom đạn vô tình của cả hai phía.

    Nhưng không Hồ đã bắt dân chúng phải bám trụ tại đây, biến cả làng Vĩnh Mộc thành địa đạo, ăn, ngủ, sinh sống và chết ngay trong lòng đất. Có vậy mới dòm ngó được biển Ðông, Cửa Tùng và tiếp tế cho du kích bộ đội hoạt động tại Cồn Cỏ sát nách. Theo một số du khách xuống thăm địa đạo Vĩnh Mốc, thì chỉ mới sống ở địa ngục trần gian có 15 phút, mà ai cũng đã ôm ngực khó thở. Vậy mà Hồ và đảng, bắt ép dân làng phải sống dưới nhiều năm, đến độ sinh được 17 trẻ trai gái. Cuộc sống hiện thực như vậy, không sinh quái thai, dị tật hay mang hận bẩm sinh, thì đó mới là chuyện lạ trên đời.

    Theo tài liệu, thì làng Vĩnh Mốc có diện tích hơn 3km2 mà 1/3 là địa đạo. Nơi này truớc 1975, là chỗ sinh sống của 237 gia đình với hơn 1196 nạn nhân. Ðã hứng chịu 9680 tấn bom đạn vì đảng không cho di tản, phải sống chui trong lòng đất suốt 600 ngày đêm. Cũng tại đây qua những tấm bia thịt, Bắc Việt đã chuyển đươc vào nam 3350 tấn hàng hóa và 11.500 tấn hàng cho bộ đội trên đảo Cồn Cỏ.

    Khác với Vĩnh Mốc nằm ngay bờ biển, địa đạo Củ Chi nằm dưới lòng đất thuộc các khu rừng già Hó Bò, Bời Lời, Bến Súc, Thanh Ðiền.. nhưng không liên tục mà riêng rẽ đứt đoạn và gần như có đủ trong 15 xã của quận Củ Chi như Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Ðức, Trung Lập, Phú Hòa Ðông, Tân Thạnh Ðông, Trung An, Phước Vĩnh Ninh, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung và Tân An Hội. Nói chung điạ đạo Củ Chi đã có thời kỳ chống Pháp.

    Bắt đầu năm 1960, cục R quanh quẩn đóng tại Tây Ninh sát biên giới Việt Miên, nên các hầm hố trong địa đạo tại Củ Chi được bới mốc sửa sang trở lại, để tiện cho cán bộ đảng trốn và tẩu thoát, khi có pháo kích, giội bom hay hành quân càn quét. Vì hầu hết dân chúng vùng này đều về an cư lập nghiệp trong vùng quốc gia, nên không được đảng nhắc tới trong danh sách nạn nhân chất độc màu da cam. Ngoài ra tại An Thới thuộc quận Trảng Bàng (Hậu Nghĩa) cũng có một địa đạo nhưng không quan trọng. Trên đảo Phú Quốc, cộng sản cũng đào một con đường hầm dài từ trại Tù Quân Cây Dừa ra biển để vượt ngục. Tất cả đều thấm máu người, lót đường cho đảng được giàu có, tỷ phú như ngày nay.

    Nhưng éo le và bi thảm nhất vẫn là đồng bào Quảng Trị, khi bị lịch sử chọn làm nơi đối đầu bom đạn, khiến cho người dân của cả hai phe, phải gánh chịu biển lệ, núi xương, sông máu và trời sầu hận khổ. Những địa danh một thời long trời đất lở như Hiên Lương, Bến Hải, Vĩnh Mốc, Cồn Cỏ, Cổ Thành, Quốc Lộ 9, Khe Sanh, Caroll, Tà Cơn, Dốc Miếu, Cồn Tiên và nhất là con đường sông máu mang tên Ðại Lộ Kinh Hoàng, ngàn năm muôn thuở sống mãi trong Việt Sử, nói lên một tai kiếp của dân tộc, do Hồ và Cộng đảng cõng rắn về cắn gà nhà.

    Cả con sông Thach Hãn hiền hòa khả ái cũng đầy vết bom dạn, ngay từ đầu nguồn qua các nhánh khe Tà Lụ, Ba Lòng, Ái Tử, Vĩnh Phước, Vĩnh Ðịnh, Bích La, Bến Hải và Triệu Hải, trước khi chảy vào biển Ðông. Cổ thành Ðinh Công Tráng một di tích lịch sử, có từ năm 1823 thời vua Minh Mạng, cũng là nơi chứng kiến bom đạn và mạng người lá rụng của hai phía, trong 82 ngày đêm giựt dành trong năm 1972. Rốt cục những người lính Dù,TQLC, BDQ, Thiết Giáp, SD1,2,3 và ngay cả DPQ, NQ Quảng Trị đã chiến đấu liên tục, để cắm lại ngọn cờ quốc dân ‘màu vàng 3 sọc đỏ‘ trên nóc cổ thành thân yêu, cho tới tháng 4-1975 mới lọt vào tay giặc Cộng. Dân chúng sống lầm than khổ ải như thế, thì đâu cần phải bị hội chứng chất độc màu da cam, da vàng... mới bị quái thai, bạo bệnh như CSVN tuyên truyền, để đòi tiền bồi thường.

    Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ vì điều quan trọng nhất mà Hà Nội cố tình bưng bít. Ðó là chính Trung Cộng mới là nguyên chân chính gây nên thảm trạng tật bệnh và quái thai khắp nước ngày nay, qua thực phẩm độc hại, các vật dụng đồ chơi quần áo sản xuất tại Hoa Lục có chứa hóa chất gây bệnh ung thư và trên hết trong cuộc chiến biên giới giữa Việt-Khmer đỏ và Trung Cộng từ 1977-1990, giặc đã trút vào lảnh thổ VN bao nhiêu tấn bom đạn có chứa hóa chất độc hại, gây bệnh tật cho đồng bào cả nước. Ðiều này đâu thấy ai nhắc tơi?

    3- CHẤT ÐỘC MÀU DA CAM:

    Chất độc màu da cam hay ‘Agent Orange‘ thực chất chỉ là một loại thuốc diệt cỏ thông thường, được sử dụng tự do trên thị trường trong lãnh vực nông nghiệp. Suốt thời gian tham chiến tại VN chính thức từ năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã đem rải xuống rừng rậm, núi cao và những mật khu, tình nghi có Việt cộng trú ẩn, để giết cỏ, diệt cây, khai quang địa thế cho trống trải, an ninh.

    Ðây là một hỗn hợp hai thành phần có trọng lương ngang nhau (50%), gồm chất 2,4 D là dạng viết tắt của Dichloro Phenoxy Acetic Acid. Và chất 2,4,5 T cũng là dạng viết tắt của Tetracloro Phenoxy Acetic Acid. Qua quá trình chế tạo trong thuốc diệt cỏ màu da cam, từ phản ứng tự nhiên khi sinh chất 2,4,5 T, đã có một chất hóa học khác đi kèm. Ðó là chất 2,3,7,8 dạng viết tắt của Tetrachloro Dibenroốp-Dioxin. Chất này thường được gọi tắt là Dioxin.

    Còn chất trắng là một hỗn hợp gồm chất 2,4D và Picloram. Theo các nhà nghiên cứu, thì chất màu da cam cũng như màu trắng, có tác dụng làm cây rụng lá, để phát quang rừng cây kể cả rừng đước, bần bị ngập mặn tại Năm Căn, U Minh tỉnh An Xuyên. Cây cỏ sẽ bắt đầu khô héo, chết mòn sau vài ba ngày. Riêng chất xanh Cacodylic Acid rải trong các mật khu, mục đích cũng chỉ khai quang và diệt trừ Cộng Sản Bắc Việt tại chiến trường miền Nam mà thôi.

    Ngoài ta theo các nhà khoa học hiện nay, thì các chất hóa học được dùng làm thuốc diệt cỏ và khai quang, chỉ tồn tại một thời gian không lâu và mất tác dụng vì bị phân hủy, từ một tháng tới một năm, sau khi được rải. Riêng sự tồn tại của Dioxin thì đến nay vẫn còn bàn cải, không có ý kiến thống nhất giữa các nhà khoa học, cho nên cũng không biết đâu mà mò, khi kèn thổi ngược, trống đánh xuôi.

    Có điều Hà Nội không bao giờ dám xác nhận là ở VN từ sau năm 1975, tình trạng vệ sinh ăn ở đã xuống rất thấp. Thêm vào đó, đảng và cán bộ tham nhũng, ham tiền, nhắm mắt mở khẩu, khai quan cho thực phẩm, hàng hóa của Trung Cộng tràn ngập thị trường, từ thành tới miền quê hẻo lánh. Ðiển hình nhất, là trong khi cả nước VN bị điêu đứng vì nạn cúm gà, chết người, chết gia súc.. thì đảng tha hồ cho Gà cúm Trung Cộng ào ào vào VN vô tội va. Vì vậy, lời phán quyết của giới hữu trách cũng như dư luận trong và ngoài nước, xác quyết rằng: Người VN bị ung thư, bạo bệnh, sinh non, quái thai, dị tật bẩm sinh, không phải là do ảnh hường của chất Da Cam, mà là bị Hội Chứng Nhiễm Ðộc Thực Phẩm, Trái Cây, Hải Sản và ngay tới Bánh Trung Thu, được nhập cảng công khai như buôn lậu của Trung Cộng.

    Ðể rõ ràng nhất về cái gọi là hội chứng màu da cam không ai hơn Việt Kiều, qua những hậu quả bệnh hoạn không tránh được, từ những thức ăn đường phố Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ, Phan Thiết, cho tới trong bệnh viện, phòng sửa sắc đẹp và kinh khiếp nhất là tại các nghĩa trang cũng như phòng chụp quang tuyến X khắp các đô thị. Mấy điều này, không thấy CSVN nhắc tới bao giờ, cũng như không nghe rằng là Lính ‘Ngụy’ ở hải ngoại, cũng bị chất độc màu da cam, mà chỉ nói tới lính Mỹ, dù rằng họ không dính tới vụ này.


    Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
    Chạp 2009
    MƯỜNG GIANG