Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Theo phong thủy, có nhiều loại cây được xem là “cây cát tường”, tức là cây có thể mang lại may mắn và sức khoẻ của gia đình.

    Cây Quất, Quýt:

    Phát âm Hán của chữ “quất” gần giống với âm của từ “cát”, cây quất thường được chọn để trang trí nhà vào ngày Tết. Mọi người chọn những cây lá xanh tốt, quả vàng chi chít thể hiện sự trù phú, hứa hẹn năm mới được mùa, ăn nên làm ra, dồi dào sức sống. Do đó mỗi khi tết đến xuân về, nhà nhà đều bày trí cây Quất với hy vọng mang lại niềm vui và may mắn cả năm cho gia đình.

    Trong kinh doanh, đặt cây Quất ở văn phòng hoặc cửa hàng sẽ đem lại cát khí lớn lao, sự đầu tư sáng suốt và thu được nhiều tài lộc. Cây Quất còn là biểu tượng của sức khoẻ, bình an trường thọ và sự may mắn trong tình duyên.

    Cây Xuân:

    Cây xuân có sức sống rất lâu, dân gian thường gọi là “vua của các loài cây”, có nơi rất thịnh hành phong tục trồng cây xuân. Theo truyền thuyết thì trong đêm Trừ Tịch (đêm Giao Thừa) thì trẻ con sẽ sờ vào cây xuân rồi đi vòng quanh cây xuân mấy vòng với hy vọng sẽ chóng lớn.

    Cây Hòe:

    Được gọi là cây “lộc”, là một trong ba loại cây được người xưa coi trọng nhất. Họ luôn coi đó là biểu tượng của sự giàu sang phú quý. Theo điển tích Trung Hoa, ở trước triều môn mà trồng 3 cây hòe là tượng trưng cho chức Tam Công trong triều đình, vì thế nhân gian thường hay trồng hòe trước cửa nhà với ước mong con cái thành danh sau này. Nếu trồng Hòe phía sau nhà thì lại bị coi như bế tắc công danh.

    Cây Cọ:

    Trong phong thủy thì cây Cọ có tác dụng sinh tài, giữ của. Vì thế, rất nhiều gia đình đã trồng những cây Cọ cảnh bên hiên nhà hoặc ở lối đi vào nhà vừa tạo bóng mát vừa mong muốn ăn nên làm ra.

    Cây Đào:

    Được xem là tinh hoa của Ngũ Hành, theo phong thủy cây này có thể trị bách quỷ, do đó khi đón năm mới mọi nhà hay trồng Đào trước cửa nhà. Hoa Đào còn là biểu tượng cho sự đổi mới và sức sinh sôi phát triển mạnh mẽ. Ở Trung Quốc, hoa đào còn là biểu tượng cho lễ cưới.

    Những ai độc thân nếu treo một bức tranh cây đào có quả trong phòng riêng thì người đó sẽ may mắn trong đường tình duyên. Cũng có thể đặt một bức tượng hình cây đào ở hướng Tây Nam để có vận may trong tình duyên.

    Cây Trúc:

    Cây Trúc ngụ ý trời đất trường xuân, trời đất dài rộng. “Trúc” gần âm với “chúc” có ý chỉ chúc phúc tốt đẹp. Theo phong thủy Trung Quốc thường cho rằng, trước và sau nhà có Trúc là đem lại tốt lành cho cả gia đình. Loại cây này tượng trưng cho sự mảnh mai, thanh nhã, rất thích hợp với nhiều không gian và phong cách thiết kế khác nhau.

    Cây Tre:

    Cây Tre cũng mang rất nhiều ý nghĩa biểu tượng. Cây Tre là biểu tượng của tuổi thọ bởi luôn xanh tươi quanh năm trong bất cứ thời tiết nào và vẫn có thể phát triển trong những điều kiện rất khó khăn. Treo một bức tranh vẽ theo lối truyền thống hình dáng cây Tre lá xanh tươi trong phòng học hay văn phòng có thể gặp may mắn về việc học hành và công việc kinh doanh.

    Cây Bách:

    Có ý chỉ đức độ. Trong quan niệm dân gian, đồng âm với “bách” là “bách” (100) là số cao nhất, nhiều và toàn vẹn, có ý chỉ đại cát.

    Theo phong thủy, cây Bách còn là loại cây mang lại sự trường tồn, cuộc sống dài lâu. Vì vậy, loại cây này rất thích hợp để làm quà biếu tặng cho những người lớn tuổi.

    Cây Quế:

    Còn gọi là cây Mộc, hoa Quế thường nở vào dịp Hè. Phong thuỷ quan niệm, hoa quế là cây tốt lành, nếu trồng cây quế trong nhà sẽ có đường làm quan phát tài, vinh hoa phú quý.

    Cây Ngô Đồng:

    Được coi là “cây linh”, có khả năng ứng nghiệm. Truyền thuyết cho rằng cây ngô đồng có thể hấp dẫn loài phượng hoàng đến ở, là con vật thần kỳ khác lạ. Vì vậy khi trồng cây ngô đồng trước sân nhà sẽ mang lại bình yên, may mắn tốt lành cho gia chủ.

    Thạch Lựu:

    Trong phong tục tập quán, cây Thạch Lựu được xem là “thạch lựu bách tử”, là tượng trưng của “đa tử đa phúc” (nhiều con nhiều phúc). Trên thực tế hoa và quả thạch lựu màu đỏ như lửa, quả lại có thể giải khát chống say, có giá trị thẩm mỹ và giá trị sử dụng, vì vậy trở thành cây được trồng trong vườn của nhiều nhà. Không chỉ trong phong thuỷ mà ở dân gian, các gia đình đều trồng những cây Lựu trước nhà bởi họ tin rằng, cây Lựu luôn đem đến điềm may và tin tốt lành cho gia chủ.

    Hồ Lô:

    Trong phong thủy quan niệm, cây Hồ Lô là loài thực vật có thể xua đuổi phiền muộn; cổ nhân thường dùng những đồ đựng hình dáng “bảo hồ lô” có thể ngăn chặn được sự nhiễm các loại sóng và bức xạ.

    Hồ Lô là vật khí không thể thiếu để hoá giải hung khí và tăng cường sức khoẻ. Dùng quả hồ lô treo bên cạnh giường ngủ hoặc trong phòng ngủ sẽ mang lại bình yên và sức khoẻ cho gia chủ, tránh được rất nhiều bệnh tật. Nó còn là công cụ giúp tình cảm vợ chồng thêm đằm thắm. Quả Hồ Lô đặc biệt thích hợp dùng cho nhà có trẻ nhỏ hay quấy khóc, hãy treo nó bên cạnh chiếc nôi của trẻ, sẽ tránh được đau bệnh và tật khóc dạ đề cho trẻ. Hồ Lô cũng là quà tặng đầy ý nghĩa cho những gia đình có người ốm đau hoặc có người già với hy vọng mang lại sức khoẻ và trường thọ.

    Trúc hạnh vận:

    Còn gọi là trúc phú quý, người ta thường trồng một bồn trúc hạnh vận và chăm sóc bằng nước sạch sẽ giúp cho ngày càng cao lớn, có tác dụng thúc đẩy vận mệnh rất tốt đối với những người thi đại học hoặc thi cao hơn nữa.

    Hoa Mai:

    Màu vàng của hoa Mai thuộc Thổ trong Ngũ Hành, theo quan điểm của người Việt, Thổ luôn nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng tượng trưng cho sự thịnh vượng và phát triển. Mai đã từng được Trung Quốc coi là quốc hoa, ngày nay là Mẫu Đơn.

    Mai nở hoa lúc đông xuân giao mùa, “độc thiên hạ nhi xuân” nên còn có tên là “hoa báo xuân”. Do mọi người cho rằng năm cánh hoa của nó là năm thần cát tường, tượng trưng ngũ phúc: vui vẻ, hạnh phúc, trường thọ, thuận lợi, hòa bình. Do đó, có bức tranh “mai khai ngũ phúc” cũng phù hợp với âm dương Ngũ hành: Kim. Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thể hiện mong muốn gia đình được may mắn, hạnh phúc trọn vẹn.

    Hoa Cát Tường:

    Hoa Cát Tường lại nhỏ bé xinh xắn, quanh năm xanh tốt, nó rất dễ sinh trưởng trong bùn lầy hay trong nước, tượng trưng cho “cát tường như ý”.

    Linh Chi:

    Cây Linh Chi là biểu tượng cho sự trường thọ. Trong những bức tranh tốt lành thường thấy miệng con hươu hay mỏ con hạc ngậm cành linh chi. Những bức tranh đó thường được dùng làm lễ vật chúc thọ và mang lại may mắn cho các thành viên trong gia đình.

    Hoa Sen:

    Sau khi nhà Đường tôn Phật Giáo thành quốc giáo, hoa Sen được mọi người rất tôn kính. Quê hương Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni trồng rất nhiều sen, vì vậy Phật môn thường tự ví mình với hoa Sen.

    Ở Trung Quốc, hoa Sen được tôn sùng tượng trưng cho quân tử. Khi trồng Sen trong vườn hoặc cắm hoa Sen trong nhà sẽ làm cho không khí gia đình thoải mái hơn, êm ấm hơn.

    Mẫu Đơn:

    Mẫu Đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng và phồn vinh. Nó còn gọi được là “vua hoa” hay “hoa phú quý”. Mẫu Đơn có màu đẹp và ngụ ý cát tường. Do đó, khi làm vườn thường được kết hợp với đá thọ tạo thành “trường mệnh phú quý”, cùng hoa trường xuân kết hợp thành “phú quý trường xuân”. Mọi người thường trồng hoa Mẫu Đơn trong nhà với mong muốn gia đình luôn thịnh vượng, hạnh phúc và có nhiều con cháu.

    Cây hoa Hồng:

    Hoa giữ được lâu, còn có tên là Nguyệt Nguyệt Hồng. Vì hoa nở bốn mùa nên dân gian coi là điều tốt, chỉ bốn mùa bình an. Hoa Hồng và Thiên Trúc kết hợp có ý chỉ “tứ quý trường xuân”.

    Cây Nho:

    Dây Nho quấn quýt đan xen vào nhau, tượng trưng cho sự hòa hợp.

    Nho thường trồng thành giàn. Vào mùa hè, giàn Nho cho cảm giác đặc biệt mát mẻ, thoải mái. Nho tượng trưng cho cuộc đời gắn bó, hạnh phúc.

    Hải Đường:

    Theo phong thủy dân gian quan niệm, khi hoa Hải Đường nở sẽ mang lại phú quý cho gia đình.

    Loài hoa còn tượng trưng cho anh em hòa hợp, cuộc sống vui vầy.

    (Theo: Lục Bảo)
  2. Sinh sống tại Hoa Kỳ hay những quốc gia tân tiến, xe hơi là phương tiện giao thông không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Điều này càng đúng hơn cho những người cư ngụ tại những thành phố như Los Angeles hay quận Cam, thủ đô tinh thần của người Việt tị nạn; những nơi mà hệ thống chuyên chở công cộng thiếu thốn hay không thuận lợi, không đáp ứng được nhu cầu di chuyển của đại chúng.

    Lái xe là một nhu cầu cần thiết, một việc chúng ta làm hằng ngày, quen thuộc đến nỗi trở nên một phản xạ tự nhiên. Dầu vậy, rất ít người trong chúng ta biết cách hành xử khi bất thình lình gặp những trường hợp khẩn cấp trong khi lái xe như xe bị bể bánh, xe thắng không ăn, xe bị trượt, xe bị hết nước, xe bị hết dầu, xe đâm xuống sông, …vân…vân…Nếu một trong những điều trình bày dưới đây không may xảy ra trong khi chúng ta đang lái xe với vận tốc cao, và nếu chúng ta không bình tĩnh, không phản ứng đúng cách, sinh mạng của chúng ta và những người thân trong xe có thể bị nguy hiểm.

    Tác giả không mong những điều xui xẻo này sẽ xảy đến cho quý bạn, nhưng lỡ trong tương lai, nếu một trong những trường hợp hoạ hiếm này thực sự xảy ra, hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp quý bạn thoát được cơn hiểm nguy, và được an toàn bình an vô sự.

    Sự BÌNH TĨNH là điều tối quan trọng trong bất cứ trường hợp khẩn cấp nào. Nếu bạn hoảng hốt, bạn sẽ làm cho tình thế trở nên tệ hại hơn vì trong nhiều trường hợp, bạn chỉ có một vài giây để phản ứng mà mạng sống của bạn và những người thân trong xe hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự quyết định của bạn trong thời gian ngắn ngủi đó. Nếu bạn giữ bình tĩnh, bạn đã có 50% cơ hội để sống sót, 50% phần còn lại sẽ tuỳ thuộc vào sự hiểu biết và phản ứng đúng hay sai, nhanh hay chậm của bạn. Phản ứng nhanh, đúng phương pháp sẽ tăng cơ hội sống còn của bạn và những người trong xe một cách đáng kể.

    Dưới đây là những trường hợp tiêu biểu trong rất nhiều trường hợp khẩn cấp có thể xảy ra trong khi chúng ta đang lái xe.

    1. Xe bị đứt thắng:

    Bạn đang lái xe, bỗng nhiên thắng xe của bạn không còn hữu hiệu để ngừng xe lại hay giảm tốc lực xe nữa. Bạn đạp mạnh trên bàn thắng, nhưng xe vẫn chạy vù vù. Hệ thống thắng xe của bạn đã bị hư hỏng. Thắng không ăn, hay còn gọi là đứt thắng, thường xảy ra không báo trước, do một trong những hư hỏng liên quan đến hệ thống thắng xe của bạn như hết dầu thắng, ống dẫn dầu bị bể, heo dầu bị hư, bố thắng mòn quá mức, vân…vân…Xe của bạn có thể hư thắng khi bạn đang ở trong thành phố, đang ở trên xa lộ hoặc tệ hơn nữa, đang đổ dốc trên đường đèo.

    Bất cứ trong trường hợp nào, luôn giữ bình tĩnh, nên nhớ mục đích tối hậu của bạn là tìm mọi cách để dừng xe lại một cách an toàn càng sớm càng tốt.

    A. Hư thắng trong thành phố:

    Nếu thắng bị hư khi bạn đang chạy trong thành phố, với một vận tốc trung bình khoảng trên dưới 40 miles/giờ, những điều bạn cần làm là:

    • Giữ bình tĩnh.

    • Không nên tắt máy xe vì nếu bạn không cẩn thận, tay lái có thể bị khoá. Hơn nữa, khi bạn tắt máy xe, tay lái sẽ trở nên rất nặng khó điều khiển.

    • Bật đèn chớp emergency

    • Bóp kèn, pha đèn, ra hiệu cho những xe chung quanh biết bạn đang gặp trở ngại nguy hiểm để họ tránh xa

    • Đạp thắng nhiều lần, hy vọng thắng sẽ hoạt động trở lại

    • Buông chân ga

    • Trả về số nhỏ. Nếu bạn lái xe số tay, trả số về số 4 hoặc 3, rồi 2, rồi 1. Nếu bạn lái xe số tự động, kéo cần số về hết phía sau

    • Từ từ kéo thắng tay và lách vào lề phải.

    Chú ý: Cẩn thận khi kéo thắng tay. Nếu bạn kéo thắng tay quá mạnh, quá nhanh, xe của bạn có thể bị trượt hoặc có thể bị quay vòng 360 độ.

    B. Hư thắng trên xa lộ:

    Nếu bạn đang chạy trên xa lộ, với một vận tốc cao 65-75 miles/giờ, trong trường hợp này, những điều bạn cần làm là:

    • Giữ bình tĩnh.

    • Không nên tắt máy xe vì nếu bạn không cẩn thận, tay lái có thể bị khoá. Hơn nữa, khi bạn tắt máy xe, tay lái sẽ trở nên rất nặng khó điều khiển.

    • Bật đèn chớp emergency

    • Bóp kèn, pha đèn, ra hiệu cho những xe chung quanh biết bạn đang gặp trở ngại nguy hiểm để họ tránh xa

    • Đạp thắng nhiều lần, hy vọng thắng sẽ hoạt động trở lại

    • Buông chân ga

    • Trả về số nhỏ. Nếu bạn lái xe số tay, trả số về 4 hoặc 3, rồi 2, rồi 1. Nếu bạn lái xe số tự động, kéo cần số về hết phía sau

    • Chờ cho xe giảm tốc độ xuống khoảng 40 miles/giờ, rồi mới từ từ, kéo thắng tay và lách vào lề phải.

    Chú ý: Cẩn thận, nếu bạn kéo thắng tay khi xe còn đang ở tốc độ cao, và nếu bạn kéo quá mạnh, hoặc quá nhanh, xe của bạn có thể sẽ bị trượt, quay vòng 360 độ hoặc lật úp.

    C. Hư thắng khi đang đổ dốc trên đường đèo:

    Nếu bạn đang đổ dốc với một vận tốc cao 65-75 miles/giờ mà thắng xe bị hư, bạn đang lâm vào tình trạng rất nguy hiểm. Sự an toàn của bạn và những người thân trong xe hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự hành xử mau lẹ và đúng phương pháp của bạn. Những điều cần bạn làm trong trường hợp này:

    • Giữ thật bình tĩnh.

    • Không nên tắt máy xe vì nếu bạn không cẩn thận, tay lái có thể bị khoá. Hơn nữa, khi bạn tắt máy xe, tay lái sẽ trở nên rất nặng khó điều khiển.

    • Bật đèn chớp emergency

    • Bóp kèn, pha đèn, ra hiệu cho những xe chung quanh biết bạn đang gặp trở ngại nguy hiểm để họ tránh xa

    • Đạp thắng nhiều lần, hy vọng thắng sẽ hoạt động trở lại

    • Buông chân ga

    • Trả về số nhỏ. Nếu bạn lái xe số tay, trả số về 4 hoặc 3, rồi 2, rồi 1. Nếu bạn lái xe số tự động, kéo cần số về hết phía sau. Xe của bạn sẽ giảm tốc lực chút đỉnh nhưng vẫn đổ dốc với tốc lực cao.

    • Từ từ, kéo thắng tay

    Chú ý: Cẩn thận, nếu bạn kéo thắng tay quá mạnh, hoặc quá nhanh, xe của bạn sẽ chắc chắn sẽ bị trượt hoặc sẽ quay vòng 360 độ hoặc lật úp.

    • Nếu sau một thời gian ngắn xe bạn vẫn không dừng lại, có lẽ hệ thống thắng tay của bạn đã bị cháy và trở nên hoàn toàn vô hiệu. Để ý và tức khắc lái xe vào những “run-away-ramp”. Đây là những đường hoặc exit đặc biệt dành cho những xe đang đổ dốc bị hư thắng. Đường thường được trang bị những đụn cát để dừng xe lại. Hầu hết trên các đoạn đường đổ dốc đều có bảng chỉ dẫn để vào những con đường đặc biệt này.

    • Nếu không có “run-away-ramp”, cố gắng làm giảm tốc lực xe bằng cách quẹt bên phải của xe vào những chướng ngại vật trên đường như bụi rậm, bờ rào cản… Đừng lo lắng về sự hư hại của chiếc xe. Mạng sống của bạn và những người trên xe quan trọng hơn.

    • Nếu bạn đã làm hết mọi cách mà xe vẫn không dừng, cách cuối cùng để làm cho xe ngừng lại là ủi xe vào bụi rậm. Bụi rậm bên đường là chỗ an toàn nhất cho trường hợp này.

    Chú ý: Tuyệt đối không bao giờ lao xe vào gốc cây, cột đèn hay mõm đá. Luôn luôn ghi nhớ là, trong những điều tệ hại, bạn sẽ có cơ hội sống còn nếu bạn khôn ngoan chọn điều ít tệ hại nhất.

    2. Xe bị bể bánh:

    Bạn đương lái xe trên xa lộ với tốc lực cao, bỗng nhiên một trong 4 bánh xe của bạn bị nổ vì những lý do như bánh xe mòn quá độ an toàn ( gai xe mỏng hơn 1/32 hay .030 của một inch), bánh xe cán qua những vật sắc nhọn, bơm bánh xe quá độ…. Xe của bạn lập tức sẽ bị mất thăng bằng, và sẽ chao đảo. Những điều bạn cần làm trong trường hợp này là:

    • Giữ bình tĩnh và không đạp thắng. Nếu bạn hốt hoảng đạp thắng, xe của bạn có thể quặt về một bên và sau đó sẽ lật và sẽ lăn nhiều vòng.

    • Buông chân ga và kềm chặt tay lái. Sau một vài giây chao đảo, xe của bạn sẽ lấy lại được thăng bằng và bạn có thể điều khiển xe.

    • Sau khi xe hết chao đảo, bật đèn chớp emergency, đạp thắng và từ từ lách vào lề phải.

    • Nếu bạn đang ở gần lối ra xa lộ, lái xe chậm ra khỏi xa lộ. Đừng bận tâm về việc hư vỏ xe và niền xe. Sự an toàn của bạn quan trọng hơn.

    • Nếu bạn ở quá xa lối ra xa lộ, tắp và đậu xe sát lề phải. Gọi 911 xin tiếp cứu nếu bạn có phôn cầm tay. Nếu đang ở gần hộp điện thoại khẩn cấp trên xa lộ, bạn có thể gọi xin tiếp cứu tại đó. Bạn chỉ cần nhắc điện thoại lên, điện thoại sẽ tự động nối với tổng đài và sẽ có nhân viên trực giúp đỡ bạn.

    • Trong khi chờ đợi để được tiếp cứu, vào trong xe, khoá chặt cửa xe cho đến khi thấy nhân viên công lực hoặc nhân viên của hãng kéo xe tới.

    Chú ý: Tuyệt đối không bao giờ băng ngang xa lộ hoặc thay bánh xe trên xa lộ. Không mở cửa xe cho bất cứ một người lạ mặt nào nếu không phải là nhân viên công lực hay nhân viên của hãng kéo xe

    3. Xe bị trượt (skid or hydroplaning):

    Xe bị trượt có nhiều lý do, thường là vì bạn thắng gấp, quẹo gắt hoặc vì đường trơn trợt trong mùa mưa, hay đường bị đóng băng. Nếu bạn không để ý và bảo trì vỏ xe của bạn đúng mức đến nỗi chúng bị mòn quá độ (gai bánh xe mỏng hơn 1/32 của một inch), bạn đang đánh bài với sinh mạng của bạn và những người thân trong xe mỗi khi bạn lái xe trên đường hoặc xa lộ, nhất là vào mùa mưa hoặc mùa tuyết.

    Lý do là khi những bánh xe của bạn quá mòn, những rãnh bánh xe sẽ không còn khả năng thoát nước hoặc gai xe không còn khả năng bám trên mặt đường, khi bạn lái xe qua khoảng đường mưa ướt đóng vũng, hoặc qua đoạn đường bị đóng băng, xe của bạn sẽ có cơ hội bị trượt ngang và bạn sẽ mất sự điều khiển chiếc xe. Đôi khi xe của bạn sẽ trượt trên làn băng mỏng (hydroplaning) như người trượt tuyết. Trường hợp này thường xảy ra khi xe đạt tốc độ 35miles/giờ, tệ nhất là khoảng 55miles/giờ. Những điều nên làm trong trường hợp này là:

    • Giữ bình tĩnh và không đạp thắng. Nếu bạn hốt hoảng đạp thắng, xe của bạn có thể sẽ quay vòng 360 độ, sẽ lật và lăn nhiều vòng, sẽ đâm vào gốc cây hoặc thành xi măng chắn trên xa lộ.

    • Buông chân ga

    • Nếu xe trượt vì đi ngang qua đoạn đường có nước đọng vũng, bạn chỉ cần kềm chặt tay lái, sau khi xe qua khỏi vũng nước, xe sẽ trở lại thăng bằng, bạn sẽ có thể lấy lại sự điều khiển xe.

    • Nếu xe đuôi bị trượt ngang vì đường đóng băng hay tuyết, bạn chỉ cần bẻ tay lái cùng chiều với đuôi xe đến khi bạn cảm thấy có thể điều khiển được xe. Sau đó, cẩn thận bẻ tay lái ngược lại đến khi xe trở lại thăng bằng

    4. Máy xe bị nóng quá độ (engine overheating):

    Máy xe bị nóng quá độ có thể do nhiều nguyên nhân như bình nước hoặc những ống cao su dẫn nước bị lủng làm mất hết nước, bơm nước bị hư, dụng cụ điều hoà nhiệt độ (thermostat) bị hư hoặc dây kéo cánh quạt bị đứt, vân…vân… Nhiều khi chỉ vì bạn xài máy lạnh quá độ trong mùa hè, hoặc bị kẹt xe nhiều tiếng đồng hồ trên đường hay xa lộ cũng làm cho máy xe bị nóng quá mức.

    Trong điều kiện bình thường, cây kim chỉ nhiệt độ trong xe của bạn sẽ nằm ở giữa mực nóng (H) và lạnh (C). Bạn nên luôn để ý đến cây kim này. Nếu một khi nó vượt khỏi mức chính giữa của H và C, bạn sẽ phải có hành động. Những điều nên làm trong trường hợp này là:

    • Nếu bạn đang ở một nơi xa lạ và điều kiện an toàn không cho phép bạn dừng lại, và nếu cây kim chỉ nhiệt độ chưa hoàn toàn lên đến vạch đỏ (H), bạn có thể tiếp tục lái về nhà, đến nơi an toàn, hoặc đến tiệm sửa xe nếu bạn làm những điều sau đây:

    1. Tắt máy lạnh

    2. Quay tất cả cửa kiếng xuống và mở máy sưởi đến mức tối đa bằng cách kéo cần nhiệt độ về hết tay phải và mở quạt đến mức mạnh nhất. Những điều này có thể giúp làm giảm nhiệt độ máy xe để bạn có thể chạy tiếp tục

    • Nếu điều kiện an toàn cho phép hoặc nếu cây kim chỉ nhiệt độ đã lên đến vạch đỏ, bạn nên dừng lại bên lề đường, tắt máy, mở nắp xe và chờ cho máy nguội hoặc gọi cho cảnh sát hoặc xe kéo

    Chú ý: Điều tối quan trọng trong trường hợp này là không bao giờ mở nắp bình nước khi máy xe còn nóng. Nếu bạn mở nắp bình nước xe trong khi máy xe còn nóng, nước trong bình sẽ xịt ra với một áp xuất rất cao, bạn sẽ bị phỏng hoặc bị mù.

    5. Bàn đạp ga bị kẹt:

    Hãy tưởng tượng bạn đang lái xe, bạn muốn xe chạy chậm lại, nhưng khi bạn nhấc chân ra khỏi bàn đạp ga, xe vẫn phon phon chạy. Hoặc bất thình lình bàn đạp ga tự nhiên bị kéo xuống, xe của bạn vọt tới trước và gia tăng tốc lực. Bạn phải làm gì trong trường hợp này?

    Những điều bạn cần làm là:

    • Giữ thật bình tĩnh.

    • Bật đèn chớp emergency

    • Tắt máy xe

    Chú ý: Cẩn thận, vặn chìa khoá ngược chiều kim đồng hồ chỉ một nấc. Tay lái xe sẽ khoá cứng nếu bạn vặn hết hai nấc.

    • Đạp thắng cho xe ngừng lại cành nhanh càng tốt

    • Bóp kèn, pha đèn, ra hiệu cho những xe chung quanh biết bạn đang gặp trở ngại và tắp vào lề phải. Tay lái xe bạn sẽ rất nặng nhưng bạn vẫn có thể bẻ lái được.

    6. Xe không thể bẻ lái được:

    Xe không thể bẻ lái được có thể xảy ra bất cứ lúc nào và không báo trước. Bạn không còn điều khiển được xe như ý muốn. Có thể hệ thống bẻ lái xe của bạn đã bị hư một bộ phận. Đôi khi, bạn vẫn điều khiển xe được nhưng tay lái rất nặng, như trường hợp dây kéo bị đứt hoặc phần trợ lực tay lái (power steering) bị hư. Những điều cần bạn làm trong trường hợp này:

    • Giữ thật bình tĩnh.

    • Bật đèn chớp emergency

    • Bóp kèn, pha đèn, ra hiệu cho những xe chung quanh biết bạn đang gặp trở ngại nguy hiểm để họ tránh xa

    • Đạp thắng để xe ngừng lại càng sớm càng tốt

    • Đậu xe sát lề và gọi cho cảnh sát hoặc xe kéo

    7. Xe bị mất áp xuất của nhớt máy:

    Khi đèn báo áp xuất nhớt máy bất thình lình hiện lên, không có nghĩa là xe bạn bị hết nhớt, mà đó là dấu hiệu của áp suất nhớt xuống thấp hơn mức bình thường. Điều này có thể do xe thiếu nhớt, bơm dầu xe bị hư, hoặc đôi khi chính hệ thống đèn báo bị hư. Trong bất cứ trường hợp nào, bạn nên dừng xe lại tức thời và kiểm soát lại hệ thống nhớt. Những điều nên làm trong trường hợp này:

    • Bật đèn chớp emergency và tắp xe vào lề phải

    • Mở nắp xe và kiểm soát mực nhớt bằng cây đo. Nếu mực nhớt quá thấp, đổ thêm nhớt ( luôn luôn đem theo trong xe ít nhất một hoặc hai lon nhớt dự trữ). Kiểm soát lại mực nhớt

    • Nếu mực nhớt ở mức bình thường mà đèn báo vẫn sáng, nếu bạn không nghe những tiếng kêu bất thường từ động cơ xe, và nếu điều kiện an toàn không cho phép để bạn chờ cảnh sát hoặc xe kéo đến, bạn có thể lái xe một vài dặm để đến tiệm sửa xe, nhưng đừng lái xa hơn.

    8. Xe bị đâm xuống sông, hồ….

    Trong một vài trường hợp hoạ hiếm xe của bạn bị lạc tay lái và đâm thẳng xuống sông hoặc xuống hồ. Thông thường, xe của bạn sẽ nổi vào khoảng vài phút trước khi chìm hoàn toàn xuống nước. Nếu bạn bình tĩnh và nếu bạn hành xử đúng cách trong thời gian này, bạn sẽ có nhiều cơ hội thoát ra ngoài và sống sót. Những điều bạn cần làm là:

    • Giữ thật bình tĩnh.

    • Đừng phí thì giờ vô ích để tìm cách mở cửa xe. Áp xuất bên ngoài của nước sẽ làm cửa xe bạn không thể nào mở được. Quay cửa kiếng xuống và thoát ra ngoài bằng cửa sổ.

    • Nếu cửa kiếng xe của bạn thuộc loại power, và bạn không thể hay chỉ có thể quay cửa kiếng xuống được một phần vì điện trong xe bị mất, nhanh chóng di chuyển về phía sau xe nơi vẫn còn dưỡng khí (vì đầu xe nặng sẽ chìm trước), chờ đến khi trong xe hoàn toàn ngập nước để áp xuất bên ngoài và bên trong bằng nhau, hít một hơi dài, mở cửa xe và thoát ra ngoài

    9. Buồn ngủ:

    Buồn ngủ hoặc mệt mỏi trong khi lái xe là một trong những nguyên nhân chính đưa đến tai nạn trên xa lộ đưa đến cái chết cho hằng trăm ngàn người tại Hoa Kỳ.

    Phương thuốc chữa bịnh buồn ngủ hay nhất là giấc ngủ. Vì vậy, nên cố gắng ngủ đầy đủ trước khi ngồi trước tay lái hoặc trước khi làm một cuộc hành trình đường dài. Không bao giờ lái xe quá sức của mình hoặc trên 12 tiếng một ngày.

    Nếu bạn đang lái xe và bỗng dưng cảm thấy buồn ngủ, hoặc có những triệu chứng như mệt mỏi, chảy nước mắt, đầu óc mơ màng, mở mắt không nổi, giật mình tỉnh giấc khi xe cán lên những lằn đinh ngăn đường, vân…vân…, và nếu bạn không dừng xe lại mà vẫn tiếp tục lái, bạn đang đánh bài với sinh mạng của chính bạn, của những người thân trong xe và của những người chung quanh. Những điều bạn cần phải làm ngay là:

    • Bật đèn chớp emergency

    • Tắp vào lề, dừng xe lại và đổi tay lái cho người khác.

    Nếu bạn chỉ có một mình:

    • Xuống exit nếu bạn đang ở trên xa lộ, tìm nơi an toàn và ngả ghế ngủ khoảng 15 hay 20 phút để lấy lại sức, ra khỏi xe và đi bách bộ chung quanh xe khoảng 10 phút để máu lưu thông tuần hoàn trong cơ thể, hoặc làm một vài động tác thể dục. Bạn sẽ cảm thấy tỉnh táo và có thể tiếp tục

    • Nếu bạn không thể xuống exit, quay cửa kiếng xuống nếu trời lạnh hoặc quay cửa kiếng lên và mở máy lạnh tối đa khi trời nóng. Điều nên nhớ là, nhiệt độ trong xe càng cao sẽ làm bạn càng thêm buồn ngủ

    • Nếu trong xe có đá lạnh, lấy một cục và bỏ lên sau gáy

    • Uống cà phê nóng hoặc trà nóng (trà sâm là tốt nhất)

    • Nghe nhạc giựt gân hoặc nói chuyện với người bên cạnh

    • Nếu đã làm tất cả các điều trên mà bạn vẫn lim dim, mơ màng, hoặc giật mình tỉnh giấc mỗi khi xe cán qua lằn đinh ngăn đôi đường, bạn phải tức khắc tìm chỗ an toàn ngừng xe lại và ngủ một giấc để lấy lại sức. Không bao giờ cố gắng tiếp tục lái xe khi bạn đang buồn ngủ

    10. Những xa lộ tử thần:

    Tại Hoa Kỳ, có những xa lộ được mệnh danh là những “xa lộ tử thần” vì số người tử thương trên những xa lộ này. Đó là những xa lộ xuyên bang, hoặc trong tiểu bang, thường được gọi là xa lộ đồng quê, chỉ có hai lối (lanes) cho xe chạy, chỉ có lằn đinh ngăn đôi đường nhưng không có tường chắn ở giữa. Bạn nên tránh dùng những xa lộ này nếu có thể. Thay vào đó, bạn nên dùng những xa lộ có tường chắn ở giữa và có nhiều lối cho xe chạy. Nếu bạn bắt buộc phải dùng những xa lộ này, xin nhớ kỹ những điều sau đây:

    • Chỉ qua mặt ở những chỗ mà lằn vẽ đứt đoạn ở bên phần đường của mình

    • Khi muốn qua mặt xe khác, bạn phải chắc chắn là phía trước không có xe ngược chiều đang đi tới, hoặc nếu có xe ngược chiều đang đi tới, bạn phải chắc chắn là bạn có đủ thời giờ để qua mặt

    • Không bao giờ qua mặt xe khác tại những khúc đường quanh, hoặc trên dốc

    • Không bao giờ qua mặt xe khác khi điều kiện thời tiết không an toàn như: nắng chói, sương mù, mưa, tuyết, đường đóng băng, vân…vân…

    Chú ý: Tuyệt đối không bao giờ qua mặt ban đêm khi bạn nhìn thấy hai ánh đèn xe phía trước dù rất nhỏ. Lý do là bạn sẽ không thể lượng định được khoảng cách của chiếc xe ngược chiều và sẽ không có đủ thì giờ để qua mặt

    Nếu bạn đang lái xe trên những xa lộ này và bỗng dưng bạn nhận thấy chiếc xe ngược chiều đang từ từ lấn sang phần đường của bạn. Điều này thường xảy ra vì người tài xế của chiếc xe đó lơ đãng, không tập trung trong việc lái xe, đang buồn ngủ, đang bị ảnh hưởng của rượu, ma tuý, thuốc uống… hoặc do những lý do khác.

    Bạn phải làm gì ? Nếu bạn không nhanh chóng hành động hoặc hành động không đúng cách, sinh mạng của bạn và của những người thân trong xe sẽ bị nguy hiểm. Những điều bạn nên làm trong trường hợp này là:

    •Bóp kèn, pha đèn báo động người tài xế của chiếc xe ngược chiều. Hầu hết trong mọi trường hợp, người tài xế chiếc xe ngược chiều sẽ sửa sai và trở về phần đường của anh ta.

    Nếu bóp kèn và pha đèn không đem lại kết quả, lái xe về sát phía bên phải để tránh tai nạn.

    Chú ý: Không bao giờ lách về phía trái vì người tài xế xe ngược chiều có thể giật mình, sửa sai và lách về bên phải của anh ta. Bạn và anh ta sẽ đụng nhau ở giữa đưỡng

    Du lịch xuyên bang bằng xe hơi là điều rất thú vị, đem lại cho chúng ta những kinh nghiệm khó quên, nhưng chúng ta cũng phải chấp nhận một thực tế rất phũ phàng: xe hơi là loại vũ khí giết người nếu chúng không được xử dụng đúng cách nhất là trong những trường hợp khẩn cấp. Tác giả chỉ ước mong bài viết này đã đem đến cho đọc giả những kiến thức căn bản hầu có thể bình an vô sự nếu những rủi ro, hoạ hiếm đề cập ở trên xảy ra cho các bạn.

    Chúc các bạn lái xe thật cẩn thận và an toàn!!

    NH
  3. Ào ạt như những cơn sóng thần và động đất, người Việt Nam cũng vừa tiếp nhận một khối lượng khổng lồ đến ngộp thở về sự sùng kính và ngợi ca nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhân ngày giỗ lần thứ 10 của ông, 1 tháng 4.

    Mọi thứ về người nhạc sĩ hiền lành và thơ mộng này đang trở thành một kho vàng cho những khai thác mang lại sự kiện và lợi nhuận, nhân danh lòng thương mến hay đức phục vụ công chúng, bất chấp bản tính khi còn sinh thời của ông là một người thích tế nhị và kín đáo. Và chắc chỉ không riêng năm nay, mà nhiều năm nữa, những chi tiết, những điều riêng tư của ông sẽ còn được phơi bày đến tận cùng.

    Người ta nhìn thấy nó như một điều không cưỡng lại được, dài hơi và thu hút, từ những con người tự xưng mình là rành rẽ cho đến nghiên cứu, từ những tờ báo có tiếng chuẩn mực cho đến những bản tin tầm phào. Dĩ nhiên, có thể không loại trừ với sự thoả hiệp của ai đó trong số những người thân của ông Trịnh Công Sơn.

    Cuộc đào bới đó, chưa thấy có chặng dừng, dù tiếng dao kéo và búa chày đã cùn mòn và hỗn mang.

    Nhưng ngay cả trong cái vẻ của sự diễn đạt lần hồi cạn kiệt đó, trải qua nhiều năm tháng, những người yêu và biết về một Trịnh Công Sơn có thật, vẫn không hiểu sao người ta đang cố bỏ quên những phần rất quan trọng về cuộc đời người nhạc sĩ này.

    Người ta không nói rõ đến giá trị lớn nhất của Trịnh Công Sơn, rực rỡ và xứng đáng nhất vẫn là tập Ca khúc Da Vàng, nói về cuộc chiến 30 năm như là một cuộc nội chiến anh em, không có kẻ chiến thắng mà chỉ có thân phận con người trĩu đau. Chính vì điều này, với chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ông gặp nhiều khó khăn, và sau năm 1975, ông cũng phải đi học tập cải tạo – không rõ trong bao lâu.

    Người ta cũng không nói về chuyện ước ao đến khi nhắm mắt của Trịnh Công Sơn về việc xin được tái bản bộ Ca Khúc Da Vàng nhưng thất bại, từ thời của ông Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa Trần Hoàn kéo dài đến Bộ Trưởng Nguyễn Khoa Điềm. Lời hứa sẽ xem xét và duyệt chính thức cho phép vẫn treo lơ lửng ở đó. Quan điểm hát về nỗi đau của một dân tộc mà không chọn lựa mình đứng về một phía nào đã là viên sỏi khó chịu trong chiếc giày tư tưởng của nhiều quan chức Việt Nam cho đến hôm nay.

    Người ta không nói về Trịnh Công Sơn với những sự mòn mỏi và thậm chí vô nghĩa qua nhiều bài hát để ca ngợi thủy điện Trị An, ca ngợi Sài Gòn 20 năm sau ngày thống nhất... v.v. Một giai đoạn mà nhiều bài bình luận đã tạm gọi đó phần đời “sáng tác để tồn tại” của người nhạc sĩ lừng danh này. Dường ai như mọi người cố tình né tránh việc nhìn thấy rõ rằng những năm tháng sáng tác thiếu sự tự do tuyệt đối và tính trung dung thế sự của ông, đã khiến hiện tại lúc ông còn sống thiếu sự rực sáng hơn những gì trong quá sứ son trẻ của đời ông, thậm chí vào lúc cuộc sống mong manh giữa lằn đạn.

    Những cuộc lắp ghép tên tuổi của Trịnh Công Sơn với Bob Dylan, rồi có thể đến Joan Baez... sẽ chẳng có giá trị gì nếu phần lịch sử Ca Khúc Da Vàng – vốn gắn liền với một giai đoạn lịch sử của dân tộc – không được nói rõ, làm rõ và nhìn nhận minh bạch với tư duy tử tế nhất.

    Phần quá khứ gắn liền với quê hương đầy bom đạn và thân phận của một kẻ sĩ chọn lựa cuộc đời là lẽ sống tự do, trung dung, nếu không được nói đến, ai sẽ hiểu cho ông rằng ông mãi mãi là kẻ cô đơn của bất kỳ hệ thống chính trị nào, dù là trong hay ngoài nước của người Việt. Chắc chắn, nỗi cô đơn đó đáng kính trọng và chia sẻ hơn là những câu chuyện tình được phanh phui mỗi ngày trên báo chí.

    Cuộc đời của Trịnh Công Sơn toả sáng khi hát về bi kịch của một dân tộc, và nếu trân trọng một giá trị, có lẽ cần nên trả lại và nói đủ về ông một cách hoàn chỉnh. Hơn là cứ mãi nhảy múa và ngợi ca giả dối chung quanh sự thật. Nếu Trịnh Công Sơn chỉ đơn giản là một người viết tình ca thâm thuý, những cơn sóng thần ngợi ca như hiện nay lại là một điều lố lăng.

    Không ai có thể phủ nhận Trịnh Công Sơn là một người tài năng. Nhưng chỉ có tài năng mà thôi, thì đặt tên một con đường cho riêng Trịnh Công Sơn sẽ bất thường, nếu như không có những con đường Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Trầm Tử Thiêng, Nguyễn Đức Quang hay Phạm Duy.

    Và đột nhiên, thiếu sự thật, người ta dễ nhìn thấy những ầm ĩ chung quanh đời Trịnh Công Sơn khiến ông được yêu mến, chỉ là son phấn. Và thậm chí kéo theo một lớp người luôn tung hô và nghe nhạc như là một phong trào muốn chứng tỏ mình là sành điệu và trí thức. Vào mỗi dịp tưởng nhớ về ông, người ta nhìn thấy đúng là có những tấm lòng, nhưng cũng có vô số những tiếng leng keng rao bán sự rỗng tuếch của mình như kiểu tung hô nhạc Trịnh là thiền ca, triết ca… khoả lấp đi những gì thật sự đẹp nhất của cuộc đời Trịnh Công Sơn.

    Nghệ sĩ Việt Nam, có vô số những cuộc đời như vậy, gắn liền với chìm nổi của dân tộc, và nếu chỉ nói được một phần, hoặc ồn ào khoả lấp, là giả dối và phi nhân.



    Tuấn Khanh
  4. Sống một kiếp, bình an là được.
    2 bánh 4 bánh, đi được là được.
    Tiền ít tiền nhiều, đủ ăn là được
    Người xấu người đẹp, dễ coi là được

    Người già người trẻ, miễn khỏe là được
    Nhà giàu nhà nghèo, hòa thuận là được
    Ông xã về trễ, miễn về là được.
    Bà xã càu nhàu, chăm lo là được.

    Khi con còn nhỏ, dạy dỗ thật nghiêm
    Tiến sĩ cũng được, bán rau cũng xong.
    Sau khi trưởng thành, ngoan ngoãn là được.
    Nhà to nhà nhỏ, có chỗ ở là được.

    Hàng hiệu hay không, mặc được là được.
    Tất cả phiền não, biết xả là được.
    Kiên trì cố chấp, biết bỏ buông là được
    Sống một kiếp người, bình an là được.

    Không phải có tiền, muốn gì cũng được.
    Tâm tốt việc tốt, có thể thay đổi số mệnh
    Ai đúng ai sai, Trời biết là được.
    Tu phúc tu thân, kiếp sau càng tốt.

    Thiên địa vạn vật, tùy duyên là tốt
    Có rất nhiều việc, nhìn xa trông rộng
    Mọi người đều tốt, ngày ngày đều tốt
    Anh tốt tôi tốt, thế giới sẽ tốt

    Nói tóm lại, tri thức là quan trọng nhất.
    Nói nhiều như vậy, hiểu được là tốt,
    Vẫn còn chưa hiểu, xem lại 2 lần

    Tác Giả: mpst
  5. Nhìn anh Đỗ Xuân Cang đi "biểu tình một mình" để chống lại cả một "bầy sâu" ở trước LSQ của Việt Nam ở Praha hôm 16/11/2011 vừa rồi khiến không ít người (trong đó có tôi) phải rơi lệ. (*)

    Không rơi lệ sao được bởi thấy anh buộc phải chọn hình thức đấu tranh đơn lẻ như vậy để chống lại cách làm ăn phi pháp của những người đại diện cho nước Việt Nam yêu dấu của anh nơi xứ người. Với 2 tấm biển và tấm băng rôn bằng giấy khoác lên người bằng cả hai thứ tiếng. Tiếng Việt và tiếng Tiệp: "Phản đối Lãnh Sự Quán Việt Nam lạm dụng chức quyền, thu tiền bất chính trong việc cấp đổi hộ chiếu và các thủ tục lãnh sự khác".

    Tất cả những ai mang còn quốc tịch Việt Nam, từng sống, học tập và làm việc ở Đông Âu nói riêng và nước ngoài nói chung thật chả còn lạ gì cái trò lạm thu của các đại sứ quán và lãnh sự quán của ta trong các thủ tục cấp đổi hộ chiếu và tất cả các thủ tục lãnh sự khác. Nhưng có lẽ tới trên 90% dù miễn cưỡng hay tự nguyện đều tặc lưỡi cho qua. Cho đó là "chuyện thường ngày ở huyện" nên cũng chả còn bận tâm nữa. Nay thấy anh Cang làm như vậy thì vừa cảm phục và vừa thương anh thật nhiều.

    Tôi chả quen anh, cũng chưa giáp mặt anh bao giờ. Nhưng nghe nói, anh là người đứng ra kiên quyết tranh đấu để chống lại những sách nhiễu và lạm thu của nhiều cán bộ LSQ ở Tiệp trong một thời gian dài nên bị các vị ấy ghét. Gần đây họ thù anh tới mức không cấp đổi Hộ chiếu Việt Nam cho anh. Cực chẳng đã anh phải một mình biểu tình để phản đối lại những người đại diện cho tổ quốc của mình mà lại nỡ ngược đãi hà hiếp công dân nước mình đang sống tha hương như vậy. Khiến không ít người Việt còn nặng lòng với quê hương đất nước không khỏi chạnh lòng.

    Ta hãy điểm qua vài ý kiến chia sẻ với sự kiện này!

    "Nhìn hình ảnh anh Cang đứng một mình biểu tình trước LSQ Việt Nam tại Tiệp Khắc trong cái lạnh, tôi không cầm được nước mắt. Trong đầu luôn luôn có câu hỏi cộng đồng người Việt ở hải ngoại mình đâu rồi ? Sau đó tự nghĩ… thì ra là vậy ; .... NGƯỜI DÂN VIỆT NAM KHÔNG ĐỔI MỚI CÁCH NGHĨ CÁCH NHÌN THÌ .... CÒN LÂU MỚI THOÁT RA ĐƯỢC." (Người Trong Nước - 20/11/2011 at 21:18)

    "Cháu rất cảm phục tinh thần của chú. Cháu nghĩ chú nên chú ý cho sự an toàn của bản thân trong những khi đi, về và đứng BT trước LSVN. Bởi vì CQSQ (tất nhiên là có AN) sẽ dùng những thủ đoạn xấu xa, đớn hèn, bẩn thỉu để ngăn cản và làm hại chú, dẫu rằng đây là châu Âu.

    Cháu chúc chú khỏe, vững tâm. Biết đâu có nhiều người sẽ đến BT cùng chú. Cháu mới sang bên này vài năm nhưng cháu cũng đã được biết nhiều điều khuất tất trong viêc phục vụ công dân VN của CQSQ, nhất là thu lệ phí. Ô nhục, là những người sang Đông âu làm việc trong các ĐSQ lấy việc thu lệ phí, sử dụng xe NG… làm nguồn thu nhập chính. Cháu vẫn thường xuyên liên hệ với bạn bè SVVN ở các nước Đông âu khác thì ở các nước ấy cũng đều như vậy. Nhục quá phải không chú.

    Chào chú – cháu là sinh viên (du học nhà nước)." (Cháu đồng hương VN. - 0/11/2011 at 11:56)

    "Hoan hô anh Cang, anh thật là dũng cảm! Nhiều người muốn xuống đường cùng anh, nhưng chưa vượt qua được nỗi sợ." (Bạn người Việt - 20/11/2011 at 10:24)

    "Hoan hô anh Cang một phát thật to. Đa số dân ta đều hèn hoặc ngại nhưng có người như ĐXC đứng đầu sóng ngọn gió biểu tình thì ai cũng thấy hả lòng hả dạ. Bọn DSQ đúng là lũ ngu, thân lừa ưa nặng." (công dân Brno - 20/11/2011 at 17:18)

    "LSQ hình như ở đâu cũng vậy! Khi xin cấp lại hộ chiếu tại LSQ VN tại Ottawa (Canada) tôi cũng bị đòi 200CAD thay vì 80CAD theo luật quy định. Khi tôi thắc mắc là bạn tôi vừa làm cách đó 1 tuần hết 80 CAD thì nhận được thái độ rất khó chịu của nhân viên LSQ. Đặc biệt là trên trang web của LSQ không ghi cụ thể số tiền là bao nhiêu như luật định! Thật không thể chịu nổi cơ quan công quyền!" (Ngọc Đoàn - 20/11/2011 at 23:38)

    "Hoan hô ông Cang.

    Các cơ quan đại diện của Việt Nam vẫn đem cách hành xử như trong nước ra đây thôi, vẫn đem luật rừng ra áp dụng tại Châu Âu dân chủ – bốc mùi quá.

    Hỡi con em đất Việt – mọi người nên có các hành động tỏ tháí độ kịp thời." (Hoang Thanh - 21/11/2011 at 03:44)

    "Hoan hô anh Cang! Các bạn ở Nga, Ukraina, Đức, Tiệp, Balan, Hungari, Bungari, v.v…hãy học tập anh Cang (tại Tiệp) để biểu thị sự đối xử bất bình đẳng của các lãnh sự quán VN tại những nơi này đối với quyền Công dân của mình?" (Trần Văn Thông - 21/11/2011 at 04:58)

    "Một khu rừng bùng cháy dữ dội, đâu cần hàng ngàn bó đuốc đốt cùng một lúc. Chỉ cần một que diêm thôi từ từ rồi cũng làm bùng cháy cả khu rừng. Anh Cang chính là que diêm ấy, rồi cứ chờ mà xem, bắt bớ hay ngăn cản hành động đó chính là cơn gió thổi bùng ngọn lửa từ que diêm sẻ đốt rụi cái xấu xa mà xã hội CS cai trị toàn dân VN." (vuvan - 21/11/2011 at 07:16)

    Tôi không biết anh Cang là ai, làm nghề gì, gia cảnh ra sao, có tham gia tổ chức chính trị hay hội đoàn nào đối lập với thể chế trong nước hay không? Nhưng coi những dòng giãi bày của anh, tôi thấy rất có thiện cảm với anh!

    "Đây là lần đầu tiên tôi biểu tình, có nhiều điều chưa biết, có sự bỡ ngỡ, nhưng tôi tin một điều đây là sự phản kháng văn minh, ôn hòa. Biểu tình là thói quen cần có của mỗi con người yêu dân chủ, yêu hòa bình.

    Tôi không đáp lại sự bất công của giới cầm quyền bằng một sự bất công khác. Tôi chỉ hiện diện một cách hòa bình để chúng ta nhìn thấy rõ hơn sự bất công, vô lý của giới cầm quyền, để nhìn nhận rõ hơn tư cách nạn nhân của mỗi chúng ta, để khẳng định quyền phẫn nộ một cách hòa bình của những con người bị xúc phạm bị chà đạp." (*)

    Nếu cuộc xuống đường một mình của anh Đỗ Xuân Cang với mục tiêu và thái độ ứng xử đúng như vậy thì lẽ phải đã hoàn toàn thuộc về anh. Những nhân viên làm sai làm bậy ở LSQ Tiệp không thể nhân danh "Chính quyền của dân, do dân và vì dân" mà kết tội "làm ô danh" đất nước (như lời của Nghị Phước) được. Và tôi tin "đốm lửa nhỏ" Đỗ Xuân Cang sẽ thắp lên ngọn lửa hồng sưởi ấm tới nhiều gia đình đồng cảnh khác trong những ngày đông giá nơi đất khách quê người!

    Dù hôm nay anh Cang "biểu tình một mình" chống lại cả "bầy sâu". Nhưng vẫn tin rằng "tôi không cô đơn"! Là hoàn toàn có cơ sở. Nhờ niềm tin ấy, mà cái lạnh cắt da đầu đông kia cũng không làm nhụt ý chí mạnh mẽ nơi anh!

    Chúc anh chân cứng đá mềm!

    Tất cả những người yêu tự do, công bằng và lẽ phải luôn ở bên anh!

    Gocomay

    ______

    (*) Tôi không cô đơn khi biểu tình một mình

    16/11 là 1 ngày lạnh đóng băng đầu tiên của mùa đông Praha. Nơi tôi biểu tình là bên cạnh bờ sông nên gió buốt lạnh hơn. Từ sáng sớm khi tôi đến đã có 8 người cảnh sát Tiệp đứng dàn hàng trước lãnh sự quán VN.

    Vì với mục đích cá nhân nên tôi không kêu gọi sự tham gia của mọi người. Quyết định biểu tình đối với cá nhân tôi đã là một quyết định khó khăn vậy đối với mọi người nhất là đối với người sống dưới chế độ cộng sản không coi biểu tình như một quyền hiến định hiển nhiên mà coi nó như tội chống đảng và nhà nước, thì ngay ý nghĩ biểu tình cũng ít có, huống chi là hành động.

    Nhưng tôi đã không cô đơn. Sau khi đăng tin, tôi đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ tinh thần của mọi người trên trang Đàn Chim Việt và nhiều trang khác, đặc biệt, trên blog bằng tiếng Tiệp http://xuancangdo.blog.idnes.cz và cao hơn nữa, đã có người xuống đường cùng tôi.

    Trong suốt cuộc biểu tình, có những người chay xe ngang qua chỉ để chào như muốn gửi đến 1 thông điệp ủng hộ. Tôi nhận được 2 lần quà thực phẩm yểm trợ bất ngờ 1 từ người Việt và 1 từ người Tiệp hoàn toàn không quen biết, chắc là độc giả trên blog tiếng Tiệp của tôi. Xin chân thành cám ơn tới tất cả mọi người.

    Có một nhóm người đón tôi có vẻ như không phải nhân viên LSQ, hăng hái ngăn cản việc phát tờ rơi của chúng tôi, họ cũng nói đến tổ quốc cũng nói đến sĩ diện quốc gia, đến lương tâm kèm theo những từ ngữ hết sức tục tĩu, mà tôi không thể viết ra.

    Những người đó thu lại tờ rơi ngay tại cửa từ những người cần làm thủ tục lãnh sự. Hầu như mọi người chấp nhận chuyện đó như 1 luật bất thành văn của cường quyền nếu như không muốn phiền toái khi làm thủ tục.

    Có 1 ông bà cụ đã cương quyết phản đối sự ngăn cẳn trên và tuyên bố rất dõng dạc tôi phải ủng hộ anh Cang. Xin gửi tới hai cụ lòng tri ân và chúc hai cụ sức khỏe.

    Thật buồn khi ở xứ sở văn minh này sứ quán Việt Nam phải sử dụng biện pháp bất minh dùng đến “nhân dân tự phát” mà đài báo đảng ngợi ca qua những vụ như Thái Hà, Bát Nhã.

    Từ lãnh sự quán đã có nhiều camera chờ sẵn tôi, họ quay từ cửa LSQ, từ trên tầng, từ góc đường. Trong thời gian biểu tình người duy nhất từ phía sứ quán VN tiếp xúc với tôi là ông Đinh Văn Hiển bí thư thứ nhất. Ông đã không trả lời, đáp ứng đòi hỏi của tôi, mà lại quan tâm tới việc tôi đã được chính quyền sở tại cấp phép biểu tình chưa?. Tôi đã trả lời ông đây không phải là Việt Nam, việc biểu tình ở đây không phải xin phép và cấp phép, ở đây chỉ cần thông báo, và đây cũng không phải là việc của ông.

    Tôi đã có cuộc tiếp xúc với ông Hiển trước đây mấy tháng, ông đã trực tiếp ghi nhận ý kiến đóng góp của tôi trên 2 trang A4 về những sai phạm trong việc thu lệ phí, cửa quyền v…v. nhưng ông đã không thực hiện điều gì theo ý kiến đó, trừ 1 việc là trả lại 1300kč cho 1 người mất hộ chiếu mà trước đó ông đã chót thu 4000 kč.

    Thái độ của ông Hiển cũng như sứ quán cho thấy quyết tâm của họ bất chấp luật pháp, bất chấp quyền con người, tước quyền công dân của tôi, đẩy tôi sang tình trạng pháp lý khác. Không lẽ họ nghĩ rằng với tình trạng pháp lý khác tôi không có quyền đòi hỏi, không có quyền chỉ chích trước hành động lạm dụng chức quyền bóc lột công dân VN qua thủ tục lãnh sự, như tôi đã từng âm thầm làm qua nhiều năm qua, qua nhiều đời ĐSQ và lãnh sự quán.

    Tôi sẽ tiếp tục xuống đường. Có thể tôi không đạt được đòi hỏi của tôi, nhưng sự hiện diện của tôi sẽ làm cho mọi người dần thấy rõ được bộ mặt thực của cơ quan đại diện ngoại giao VN ở nước ngoài, cho mọi người thấy được rõ hơn mỗi người vào LSQ bị móc túi mất bao nhiêu tiền, vượt quá quy định của BIỂU MỨC THU PHÍ VÀ LỆ PHÍ LÃNH SỰ (Ban hành kèm theo thông tư số 236/2009/TT-BTC ngày 15/12/2009 của Bộ Tài Chính).

    Trước đây tôi cũng như phần lớn công dân VN chưa một lần biểu tình thể hiện mong muốn của mình, nếu có, thì chỉ là thể hiện mong muốn của nhà cầm quyền. Hơn nửa thế kỷ chế độ Cộng Sản áp đặt nền độc tài chính trị tước đi quyền phán xét của mỗi chúng ta, tạo ra một nhận thức sai lầm về 2 chữ biểu tình. Biểu tình đã không phải là thói quen của mỗi người.

    Đây là lần đầu tiên tôi biểu tình, có nhiều điều chưa biết, có sự bỡ ngỡ, nhưng tôi tin một điều đây là sự phản kháng văn minh, ôn hòa. Biểu tình là thói quen cần có của mỗi con người yêu dân chủ, yêu hòa bình.

    Tôi không đáp lại sự bất công của giới cầm quyền bằng một sự bất công khác. Tôi chỉ hiện diện một cách hòa bình để chúng ta nhìn thấy rõ hơn sự bất công, vô lý của giới cầm quyền, để nhìn nhận rõ hơn tư cách nạn nhân của mỗi chúng ta, để khẳng định quyền phẫn nộ một cách hòa bình của những con người bị xúc phạm bị chà đạp.

    Praha, 19/11/2011

    © Đỗ Xuân Cang
  6. Trên một tờ báo điện tử, người ta đọc thấy một câu chuyện xúc cảm đầy nước mắt, tuy không hề nghe thấy một tiếng khóc. Một nhân viên người Việt còn trong giai đoạn tập sự tại một tỉnh trên miền Bắc xa khuất, nhận lời đến giúp một nhà hưu dưỡng hẻo lánh ít người thăm nom. Con đường đi vào căn nhà hưu dưỡng này quanh co và khúc khuỷu, chỉ có tiếng than van rền rĩ của rặng thông già âm u và cằn cỗi. Khi anh thanh niên này đến nơi và bắt tay vào việc, anh nhận ra có một ông già cứ ngồi trên xe lăn mà quay lưng vào trong, với một thái độ im lặng buồn bã. Anh đã đến gần và nhận ra đó là một người Việt Nam đã bước vào tuổi lão niên. Nhận ra anh là người Việt, ông già đó mừng rỡ lắm. Có lẽ không có sự mừng rỡ nào lớn hơn nữa, vì bao nhiêu năm, ông cụ không có dịp nói chuyện với ai. Cụ không rành tiếng Anh, mà chung quanh cả chục dặm cũng không có một người Việt nào lui tới. Sau khi hàn huyên và làm quen nhau, anh thanh niên hứa hẹn sẽ đến thăm cụ hoài. Anh đã giữ lời hứa trong một thời gian dài. Từ đó, anh mới biết tâm sự của cụ là một người cha đã hy sinh trọn cuộc đời cho một đứa con trai duy nhất.

    Khi bà vợ đã khuất núi, cụ ở với đứa con trai và bao nhiêu thương yêu, cụ đã dành cho con hết cả. May mắn, cụ đã dựng được một cơ nghiệp đàng hoàng trên xứ Mỹ, có nhà đẹp, có xe tốt và có cả một tương lai thênh thang, hạnh phúc, không thiếu thốn điều chi. Hai cha con êm ấm sống chung với nhau cho đến khi cậu con trai đòi di chuyển đến thành phố lớn để theo đuổi việc học ở một trường danh tiếng hơn. Suy đi nghĩ lại mãi, cụ ông quyết định chiều ý con, mà bán hết cơ ngơi sự nghiệp của mình để đi theo cậu đến một nơi xa lạ. Ở đấy, vì không quen chỗ, cụ cứ phải từ từ tiêu dần tài sản dành dụm của mình cho sự học của cậu con mà không có cơ hội làm lại cuộc đời chi nữa, những mong cho con học thành tài là cụ vui sướng rồi.

    Điều cụ mong muốn đã đến. Sau nhiều năm học hành, cậu con ra trường, có việc làm tốt. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, cậu đi theo tiếng gọi của con tim, bỏ cụ lại một mình, bỏ lại người cha hy sinh suốt đời cho con, bỏ lại bao kỷ niệm buồn vui giữa hai cha con, những ngày tháng xưa cũ đó. Cụ đau buốt tâm can. Nhất là tin tức của cậu dần dần biệt tăm. Quá đau khổ, cụ đã té ngã và bị liệt. Người ta đưa cụ vào nơi hẻo lánh này để chờ chết. Từ đó đến khi anh thanh niên tập sự kia gặp cụ, cũng đã mười năm…

    Mười năm cô đơn, mười năm không có dịp nói tiếng quê hương, mười năm không thân nhân, thăm hỏi, mười năm đợi chờ trong tuyệt vọng... Mười năm hay mười thế kỷ?

    Thời gian đằng đẵng trôi qua, mọi thứ hy vọng đã tàn lụi, cụ chỉ có một thèm khát duy nhất là một bát bún riêu nóng hổi. Chiều ý cụ, anh thanh niên kia đã lui cui tìm mọi cách để mang đến cho cụ một bát bún riêu theo như ý cụ mong muốn. Cụ đã vui mừng chầm chậm cho một tí mắm tôm vào tô bún, chầm chậm thưởng thức hương vị của bát bún riêu, như thưởng thức một phần đời người đang chết dở mà được sống lại.

    Anh thanh niên không quen biết kia đã trở lại vài lần rồi vì công việc mới phải đi xa, nhưng anh hứa sẽ đến thăm cụ bất cứ khi nào tiện dịp. Rồi một ngày, anh nhận được tin báo của nhà hưu dưỡng: ông cụ đã qua đời, đúng ra là đã may mắn chấm dứt được cuộc sống đau khổ, buồn bã, cô đơn mà cụ đã phải gánh chịu nhọc nhằn trong nhiều năm qua. Thằng con trai của cụ, không biết lúc ấy ở đâu, nếu có vợ con, thì đứa bé cũng trên mười tuổi, và mỗi khi đến ngày Từ Phụ, chắc thằng con bất hiếu bất mục, vô ơn, khốn nạn ấy, lại nâng ly rượu đầy ắp, cười đùa vui vẻ khi nghe đứa bé nào đó chúc mừng “Happy Father Day, Dad!”

    Hình ảnh người cha bất hạnh không phải là thiếu ở đâu đây. Hãy đến nhà hưu dưỡng ở Garden Grove, gần Trung Tâm Thủ Đô Tị Nạn này, sẽ thấy ngay một cụ ông trên 70 tuổi, còn nhanh miệng lắm, nhưng ngồi trên xe lăn mà nếu thấy ai có lòng, thì thế nào cũng nhờ “Ông ơi! Ông đẩy xe tôi ra bến xe Cần Thơ đi ông! Thằng con tôi nó đang đợi ở đó!” Rồi ông cụ giục “Nhanh lên! Nhanh lên! Kẻo nó không chờ nữa!” Và sau khi được đẩy ra tới cửa, thì ông cụ giơ tay, ngừng lại. “Đây rồi! Bến xe Cần Thơ đây rồi! Ông chờ tôi một tí nhé!” Người đẩy xe thế nào cũng nghẹn ngào, nghe nước mắt trong lòng đang chẩy xuống lặng lẽ. Con của cụ đâu cả rồi? Những đứa trẻ ngày xưa mà ông bồng bế, xi ỉa, tắm rửa, lau mặt, dậy cho nó đánh răng, dậy cho ngồi bô, ngồi cầu tiêu, dắt tay đi học… Những đứa trẻ hớn hở nhìn những quần áo mới mà bố chúng mới mua cho, ngày lễ, ngày Tết, bố con tung tăng trên đường phố Cần Thơ, hay ra bến Ninh Kiều hóng gió, mua cho con một quả bong bóng, một cây kem… Những đứa trẻ mà khi vượt biên còn đỏ hỏn, hay đã bắt đầu lớn, nhưng sợ hãi lo lắng thì nhiều, chỉ biết bám vào tay bố như một chỗ tựa nương duy nhất trong đời. Chúng nó bây giờ ở đâu? Bố chúng vẫn đợi chúng ở bến xe Cần Thơ ngay tại thủ đô tị nạn đấy…

    Hãy vào trong nhà già này, thấy một cụ già ngồi trên xe lăn, không còn nói được, chỉ còn ánh mắt và hai bàn tay xếp những chữ A, B,C thành câu: “Ông bà đến chơi, tôi vui lắm!”

    Cụ ông ngày xưa cũng đã một thời thanh niên bay nhẩy tung tăng, đi học, đi chơi với đào, rồi lấy vợ vui vẻ, hạnh phúc, nhìn những đứa con lớn lên với tất cả sự thoả mãn của một người cha trọn vẹn hy sinh. Giờ đây, những đứa con ấy ở đâu? Phương trời xa xôi nào? Có một lần nhớ đến người cha đã từng ẵm bồng chúng không?

    Hãy đi thêm một bước nữa, để gặp một cụ chưa tới 80, nhưng chiều nào cũng thế, nhờ người đẩy xe lăn ra cửa, ngồi đó nhìn ra ngoài đường cho đến khi mặt trời lặn sau những mái nhà trước mặt, bóng tối phủ xuống âm u rồi mới chịu cho người đẩy xe vào phòng, nơi những kỷ niệm không bóng không hình chìm chìm ngập ngập, lãng đãng xa gần, những bóng hình thân yêu, người vợ tận tuỵ, mấy đứa con tung tăng chạy nhẩy, đấm đá um nhà…

    Hãy đi khắp các nhà hưu dưỡng hay “nhà già” này để thấy đâu đâu cũng có những người cha cô đơn, những tâm hồn kiệt quệ, mà nỗi chết gần kề không đáng sợ bằng ngày tắt hơi không người thân vuốt mắt, không có tiếng khóc nức nở nỉ non, chỉ có âm thầm vài người áo trắng, lăng xăng thu dọn cho lẹ, cho nhanh, gói ghém phủ liệm chỉ trong giây phút, rồi tống ra dàn thiêu…
    Thế là hết những người cha, đã có một thời oanh liệt, hoặc thương gia, hoặc quân đội.

    Có thể họ đã từng xông pha mũi tên hòn đạn, đã từng gào lên hai tiếng “xung phong!” rồi băng mình về phía trước. Có thế họ đã là những thầy giáo, đứng trên bục giảng, hướng dẫn tương lai cho lớp trẻ lên đường. Có thể họ là những người thợ máy, công nhân, ngày ngày đi làm đổ mồ hôi, chỉ mong về đến nhà trông thấy thằng cu Tý, cu Tèo đùa đùa giỡn giỡn, tung con lên cao và nở những nụ cười hạnh phúc…

    Giờ đây, chúng đang ở nơi nào? Trong những căn phòng ấm cúng, có thể chúng cũng lặp lại y hệt những cử chỉ của cha chúng ngày xưa, cũng tung con lên, đùa đùa giỡn giỡn..

    Hỡi những người con còn có trái tim, hãy đi và hãy đến những nơi gọi là “nhà già”, nơi chỉ có cặp mắt là sáng còn mọi vật đều tối đen…

    Ngày Từ Phụ đang đến.

    ChuTất Tiến
  7. [Trích đoạn phóng bút "Cũng Cần Có Nhau" để tưởng niệm cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của Ban Trầm Ca, Phong Trào Du Ca Việt Nam, đã vĩnh viễn từ biệt chúng ta, ôm đàn sang hát phía Bên Kia Sông, nơi có ánh mặt trời của quê hương Việt Nam muôn đời ngạo nghễ... ]


    Trường Đại Học Văn Khoa (cũ) tọa lạc trên một vuông sân thơ mộng. Mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Trung Trực. Hông bên phải là đường Gia Long chạy dài tới Dinh Gia Long. Phía trái là đường Lê Thánh Tôn. Và sau lưng là Công Lý. Khu tứ giác này về sau có nhiều hội đoàn đến đóng đô tạo nên một sinh hoạt khá sôi động, một thời kỳ tiêu biểu cho các hoạt động thanh niên sinh viên, văn hóa, xã hội v. v.

    Ngô Vương Toại và tôi sau một thời gian bỡ ngỡ trước thềm cuộc sống mới, cũng đã bước chân vào ngưỡng cửa Đại Học Văn Khoa, nơi có truyền thống lâu đời về cái đẹp văn nhã, trang trọng. Chúng tôi đã có một quãng đường dài tập tành ăn chơi, đua đòi thời còn ở trung học nên không đến nổi lúng túng lắm (như mấy trự nhà quê ra tỉnh) khi trực diện với ngày mới, người mới, đời mới của văn minh Sài Gòn. Ở đây chúng tôi vui mừng gặp lại một vài bạn cũ và kết giao thêm rất nhiều bạn mới. Toại đã sớm nổi đình nổi đám nhờ sự hoạt bát, bạo dạn, ăn nói thu hút (nhờ đó về sau, chàng xông thẳng vào trường chính trị không chút ngần ngại). Còn tôi vẫn là một kẻ nhút nhát đứng bên lề ! Những ngày chập chững đi ghi cours cũng khá hấp dẫn với không khí là lạ của buổi đầu đại học. Thỉnh thoảng ngồi chăm chú nghe giảng, hí hoáy biên chép. Thỉnh thoảng đứng ngoài hành lang ngó ngang liếc dọc. Và các đấng nữ lưu ở đây chao ơi là đẹp, là duyên dáng. Con gái Văn Khoa đẹp có tiếng so với nữ sinh viên các ngành khác. Có rất nhiều tà áo văn khoa huyền ảo phất phới khắp mọi nẻo giảng đường. Nào là Diệm My hoa khôi từ Huế vào. Nào là Hồng Khắc Kim Mai rất hiện sinh, à la mode, với thi tập bạo dạn Mắt Màu Nâu gây được tiếng vang. Và rồi Thanh Lan, Hoàng Oanh tài tử, ca sĩ về sau. Làm sao không ngẩn ngơ được khi đứng trông vời bóng hồng Kim Dung với tà áo tím lilac thướt tha, sáng rực cả góc chiều …

    Thời kỳ này, Văn Khoa cũng có nhiều sinh viên cầm bút làm thơ, viết văn, biên khảo, đã trở thành những tác giả có tiếng, có người đã có tác phẩm xuất bản như Đặng Phùng Quân, Cao Huy Khanh, Nguyễn Nhật Duật, Trần Nhật Tân, Đào Trường Phúc, Đỳnh Bảng, Phạm Quốc Bảo, Cung Vĩnh Viễn v. v..

    Sau lưng trường Văn Khoa, ngay ở trung tâm điểm của khu tứ giác là một dãy nhà tiền chế được xây cất bằng vật liệu nhẹ (vách bằng rơm ép, mái tôn). Dãy nhà này hiện diện từ hồi còn mồ ma Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nguyên được sử dụng cho hội chợ, phòng triển lãm, nhà trưng bày sản phẩm đặc biệt chi đó. Nguyên khu đất trống này hồi còn Pháp là khám lớn, nơi giam giữ các tội phạm chính trị. Thậm chí ở đây còn nguyên bậc tam cấp lưu lại dấu tích nơi đặt máy chém xử tử các tội nhân (bởi thế, có nhiều huyền thoại về thế giới âm hồn ma quỷ quanh quất khu đất này sẽ nhắc về sau).

    Phần lớn dãy nhà chính được dùng làm trụ sở của một cơ quan mang tên CPS. Cái tên thoạt nghe như tên một cơ quan Mỹ. Nhưng thật ra CPS là chữ viết tắt của Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường. Cổng chính vào trụ sở CPS nằm ở đường Gia Long. CPS trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục, là một cơ quan được sự trợ giúp của các tổ chức thiện nguyện quốc tế, chuyên trách về điều hành và xây dựng các sinh hoạt thanh niên sinh viên học sinh hướng về phụng sự xã hội.

    CPS được coi sóc bởi một nhóm giáo chức trẻ, nhiều tâm huyết, là những người trí thức dấn thân mà tên tuổi trở nên rất quen thuộc về sau: Lê Đình Điểu (đã khuất), Trần Đại Lộc (đã khuất); Phạm Phú Minh (tức Phạm Xuân Đài), Đỗ Quý Toàn, Hà Tường Cát, Phan Văn Phùng... Thật ra, trước khi CPS chính thức sinh hoạt, cũng đã có những chương trình chuyên trách về công tác xã hội như Chương Trình Hè 64 (?), Chương Trình Công Tác Bạn Đường. Một trong những tay điều hành cốt cán của những chương trình này là ký giả lão thành Đỗ Ngọc Yến sau này của tờ Người Việt ở California. Tất cả những nhân vật trẻ nhắc trên đều là thành viên của Hội Đồng Sáng Lập tạp chí Thế Kỷ 21 và một vài cơ quan truyền thông khác hiện nay ở Quận Cam, Cali.

    Thử điểm qua một vài cứ điểm khác của khu đất trống kỳ lạ này:

    - Sau lưng trường Văn Khoa, cách một lối mòn, là căn phòng nhỏ của Nhóm Sử-Địa chuyên in ấn cours cung cấp cho sinh viên (bằng kỹ thuật Ronéo, dĩ nhiên, vào thời đó). Chúng tôi thường gọi đùa Nhóm Sử-Địa là “những tay lái cua” của Văn Khoa. Nhóm này quy tụ những đấng mày râu rất mồm mép, hễ gặp nhau là ồn ào náo nhiệt hẳn lên. Điểm mặt quần hùng thấy có: Phạm Quân Khanh, Nguyễn Minh Diễm, Vũ Hiệp, Lê Hoài Quỳnh, Nguyễn Tuyển, Bùi Hồng Sỹ, Trần Công Sung, Phạm Quốc Bảo, Đỗ Phan Hạnh v.v.

    - Sau lưng trụ sở CPS là dãy nhà hình chữ L, được chiếm hữu bởi Hội Nhu Đạo của GS Phạm Lợi và Hội Kiếm Thuật do thân phụ của nhạc sĩ Nam Lộc làm trưởng tràng.

    - Qua bậc tam cấp, xuống hết con dốc thoai thoải là sân bóng chuyền. Chiều chiều cư dân trong khu vực và anh em Văn Khoa sinh hoạt muộn chia phe đánh đấu ra gì! Chỉ cá độ một chầu cà phê hoặc trà đá chanh đường cũng đủ mát lòng mát dạ. Có những thân hình lực sĩ vạm vỡ thì cũng có những bộ xương cách trí xông pha chuyền bóng, đỡ bóng ngoạn mục không kém. Nhớ có lúc Trần Công Sung (tức ký giả Từ Thức) nhìn Đào Trường Phúc (nhà thơ, phong trào phó Hưng Ca sau này) cởi trần đánh bóng cứ tấm tắc gật gù ơ kìa! Xem con hạc nó vờn banh. Cũng chính ở sân bóng chuyền “lô can” này đã xuất phát được một tay kiệt hiệt về nghệ thuật chuyền bóng cá độ. Đó là hảo thủ Nguyễn Văn Hào (con của cụ Riêm, quản trường Văn Khoa mới). Hào chỉ cần sử dụng một cái ghế đẩu để chuyền bóng mà đối phương ba người được chấp phải chạy trối chết mới mong đở được những đường bóng hiểm độc của Hào.

    - Ngó xéo sân bóng chuyền là ngôi nhà nhỏ với vườn rau be bé xinh xinh của gia đình một nhân viên trường Văn Khoa khác. Gia đình này có cô con gái tên Phương về sau đánh bạn với Hoàng Xuân Giang em tôi.

    - Kế nhà Phương là trụ sở của Ca Đoàn Nguồn Sống. Trưởng Đoàn là Nghiêm Phú Phát ít khi xuất hiện. Người điều hành thường trực là Hà Quốc Bảo, người tròn trịa, vui tính. Chính nữ ca sĩ Thanh Lan và nhiều tên tuổi khác cũng xuất phát từ ca đoàn này.

    - Sau rốt, day mặt ra đường Lê Thánh Tôn là trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ: Chủ Tịch /Nguyễn Trung, Tổng Thư Ký / Hồ Thành Đức và nhiều khuôn mặt hội họa danh tiếng khác hằng lui tới sinh hoạt. Có thể kể: Nguyên Khai, Trịnh Cung, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Mai Chửng, Lâm Triết, Hiếu Đệ v. v. Một số đã trở nên thân thiết với bọn tôi về sau như Cung, Cường, Đề, Khai... Coi sóc Hội Họa Sĩ Trẻ là hai cây cọ trẻ chịu chơi Mai và Bích.

    MỘT BƯỚC THÀNH CƯ DÂN CPS

    Vì đâu Ngô Vương Toại và tôi trở thành dân cư ngụ thường trực của CPS ? Đầu dây mối nhợ cũng tự Nguyễn Huỳnh. Như đã nhắc ở trên, chính Nguyễn Huỳnh xúi Toại và tôi ghi danh Văn Khoa. Sau một khoảng thời gian ngắn, Huỳnh hỏi tụi tôi: Toại Sơn có muốn đi làm kiếm thêm tí bổi không ? Thế thì còn gì bằng. OK liền tút xuỵt. Lũ bọn tôi xa nhà du học chỉ trông mong vào trợ cấp gia đình, nay có cơ hội kiếm thêm tí ngoại bỗng thì sướng rên mé đìu hiu. Bạn hãy tin vào triết lý mèo mù vớ cá rán nhé ! Nhờ quen biết sao đó với mấy anh trong ban chấp hành CPS, Huỳnh đưa chúng tôi vào làm việc bán thời gian cho cơ quan này. Trợ cấp tới ba ngàn rưỡi một tháng à nhe ! Với cuộc sống sinh viên tự túc, đó là một món tiền lớn cho tụi tôi. Nhớ lần đầu tiên lĩnh lương, Toại và tôi ra phố sắm mỗi chàng một ống vố (pipe) hiệu Dr.Plum ngậm cho oai với thiên hạ.

    Trước khi rời xa miền Trung trọ học, tôi đã mường tượng ra cái cảnh:

    Anh chàng người Huế đi lang bạt
    Vô tuốt Sài Gòn ở gác thuê
    Chiều chiều ngó xuống đường xe cộ
    Buồn nhớ chi mô, lạ rứa tề !

    Thế mà cuộc đời không vận vào cái xì tin “trầm buồn xa vắng“ như mấy câu thơ thẩn trên. Cuộc đời xoay chiều theo hướng khác, một sớm một chiều bỗng xô vào trường náo nhiệt. Một khúc quành rẽ của đường đời khá quan trọng.

    Trước khi cất bước giang hồ, bọn tôi, những đứa con cưng xứ Huế cũng đã được gởi gấm cẩn thận. Toại có người chú ruột ngụ ở gần Trường Đua Phú Thọ (ông là chuyên gia đấu thầu hệ thống cung cấp giếng nước). Chú Phát của Toại thuộc hàng trung lưu. Ông cũng thường dẫn tụi tôi đi ăn uống du hí này nọ. Phần tôi được trao gởi cho người chị bà con, chủ nhân nhà xuất bản Trường Thi ở đường Võ Tánh, cạnh ngã sáu Sài Gòn. Chị Đức, nữ chủ nhân Trường Thi là thân mẫu của Nguyễn Xuân Hùng (tức nhà thơ Khê Kinh Kha). Hùng và tôi đồng trang lứa, lại có chút máu văn nghệ văn gừng nên rất dễ thân nhau. Cơ sở Trường Thi ngoài việc xuất bản và phát hành sách vở từ điển còn có hai cao ốc lớn ở đường Trương Tấn Bửu và Nguyễn Huỳnh Đức Phú Nhuận cho người nước ngoài (Mỹ, Đại Hàn, Phi Luật Tân …) mướn dài hạn. Vì còn nhiều phòng ốc trống, bọn lang bạt chúng tôi được phép chiếm ngụ làm chỗ lui tới văn nghệ nhiều năm sau đó. Nhân lực phục vụ cho nhà Trường Thi cũng đông đảo vô ngần: Thợ in, thợ sắp chữ, nhân viên bán hàng, giao hàng, quản trị, hành chánh lên độ vài chục người. Tất cả đều ăn chung một nhà nhưng phải chia làm hai, ba đợt.

    Toại và tôi đều có chỗ nương tựa “nhà êm cửa ấm là thế” mà cứ thích bụi đời. Âu là những con chim ra ràng mới lìa xa tổ ấm thích đời tự do bay nhảy. Hết hai phần ba cuộc đời sinh viên, bọn tôi sống lây lất ở CPS. Chỉ lúc nào ngặt nghèo mới lết về nhà kiếm ăn.

    Thế là một sớm một chiều, lũ chúng tôi vầy đoàn, nhập bọn với nhau và trở thành những tay tử thủ dài hạn vùng đất thiêng CPS

    XXXXXXXX

    Phía sau trụ sở chính CPS là dãy nhàngang được ngăn làm nhiều phòng. Vách rơm, mái lợp tôn, những dãy ghế bố nhà binh kê sẵn, là “long sàn“ của những ông vua lang bạt. Căn nhà nóng hừng hực những trưa hè và mướt lạnh những ngày mưa. Và cứ thế, chúng tôi mỗi người bám trụ một ghế bố, một giang san “riêng một góc nhà“. Đồ đạc nhét dưới gầm ghế. Sách vở đóng thùng kê đầu giường. Tiên chỉ trong đám ngụ cư dĩ nhiên về tay Nguyễn Huỳnh. Một đầu nậu hiền lành, dễ mến, rất có lòng với bạn hữu. Huỳnh kéo theo Trần Tiến Định, anh vợ Huỳnh (sau mới biết Định là cháu gọi nhà thơ Luân Hoán bằng cậu ruột). Hiện diện những tay vào CPS trước Toại và tôi: Nào là Nguyễn Luyện nhà văn trẻ, Tiên đàn ghi ta tay trái, Tỷ (to, cao – về sau đi Quân Cảnh), Châu công-tử-bột, Nguyễn Phùng (tức Phùng nhỏ, phân biệt với Phan Văn Phùng lớn ) v.v. Để kết chặt tình thân hữu, chúng tôi thành lập Nhóm Thanh Niên Tự Lực (NTNTL) – lại bắt đầu phe nhóm ! – về sau còn có tên gọi là Thiên Bang (ý muốn nói ta đây là bang hội của nhà trời, đâu có thua gì Cái Bang hành hiệp trượng nghĩa !).

    Kể thêm vài láng giềng gần: Linh, Phát của chương trình Bạn Đường, Đỗ Tăng Bí (Đỗ Việt Anh) em nhà thơ Đỗ Qúy Toàn, Phan Văn Phùng, Phạm Phú Minh ngụ ở nhà trên...

    Nhận thấy Nhóm Sử Địa Văn Khoa quay cours làm ăn coi bộ khấm khá, Thiên Bang được phép sử dụng phương tiện in ấn của CPS, cũng thực hiện quay bài vở cho lớp Dự Bị Triết Văn Khoa, kiếm thêm chút ngoại bổng bia bọt cuối tuần cho cả nhóm.

    Đám tân tuyển tụi tôi làm tất cả mọi việc cho CPS, từ những việc lặt vặt văn phòng, trang trí, sắp xếp hồ sơ, đến tham vấn kế hoạch các chương trình sinh hoạt thanh niên/sinhviên/xã hội. Tinh thần làm việc chung rất cao, không có phân biệt kẻ trước người sau, chức phận lớn nhỏ nhưng vẫn theo đúng quy củ nề nếp tổ chức. Mọi việc tiến hành tốt đẹp … Nhờ óc tổ chức khéo léo, có cơ sở trường ốc của anh Lê Đình Điểu, cọng thêm kinh nghiệm và nhiệt huyết của những thành viên trẻ, CPS sớm chiều trở nên một trong những cơ quan nòng cốt, tiên phong trong các sinh họat đoàn thể thời bấy giờ. Trong nhiều sinh hoạt, phải kể đến sự hổ trợ tác động của Ban Trầm Ca (tiền thân của Phong Trào Du Ca VN) gồm có Nguyễn Đức Quang, Trần Trọng Thảo, Hoàng Kim Châu (*) với loạt nhạc hùng mạnh, trong sáng, khởi động lòng hăng hái của tuổi trẻ tham gia vào những công tác tự nguyện xây dựng xã hội, quê hương.

    Nào chúng ta cùng hát:

    Từ Nam Quan Cà Mâu – từ non cao rừng sâu
    Gặp nhau do non nước xây cầu
    Người thanh niên Việt Nam quay về với xóm làng-
    Tiếng reo vui rộn trong lòng

    Cùng đi xoay Hoành Sơn – cùng đi lay Trường Sơn
    Cùng đi biến đồng hoang ra lúa thơm
    Vượt khơi ra đảo xa – lướt ngàn nước sông nhà
    Ta đắp bồi cho mẹ cha


    [Về Với Mẹ Cha – Nguyễn Đức Quang]

    hoặc :

    Ngồi bên nhau ta hát, hát cho vang trời
    Trời bao la nung chí cao tới mây
    Ngồi bên nhau ta hát, hát cho bao lời
    Lời yêu mến sẵn trong tim mỗi người

    .....



    Ngồi bên nhau hôm nay ta hát hát lên cho đông ta chung một nhà
    Nhà Việt Nam qua bao giông tố bấy nhiêu đem cho tương lai
    Ngồi bên nhau hôm nay ta hát hát lên cho hung ta chung một dòng
    Người Việt Nam đã có lắm phen nêu cao chí hùng....

    [Ngồi Bên Nhau Ta Hát – Nguyễn Đức Quang]

    Chính lúc này, ở đây, tất cả mọi người đều bắt tay vào việc:

    Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi
    Phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới
    Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau – nghi ngờ nhau –
    Khích bác nhau cho cay cho sâu cho thật đau ....

    Không phải là lúc ta ngồi mà cãi suông
    Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai bắt đầu ?
    Thế giới ngày nay không còn ma quái – thần tượng tàn rồi còn anh với tôi
    Chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi
    Làm việc đi không lo khen chê – làm việc đi hãy say và mê...


    [Không Phải Là Lúc Đặt Vấn Đề – Nguyễn Đức Quang]

    Nhưng khí thế và mạnh mẽ nhất chính là đại hùng ca Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ [đã qua bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu thế hệ mà tiếng đồng ca hùng tráng vẫn còn cất lên, vang vọng trong lòng người]:

    Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
    Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
    Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
    Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng

    Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
    Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
    Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
    Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian...


    [Nguyễn Đức Quang] (**)

    Và rồi thêm Việt Nam Việt Nam, tâm ca cùng loạt dân ca cải biên của Phạm Duy, những bài ca cộng đồng, tranh đấu của Ngô Mạnh Thu, Giang Châu, Nguyễn Tầm v. v... đã mang lại những đêm lửa trại hào hứng, bừng bừng khí thế.

    Sinh hoạt Du ca, khởi nguồn từ CPS đã lan rộng thành phong trào rộng lớn với các Toán, Nhóm sinh hoạt có mặt khắp nơi trên đất nước. Có thể kể thêm Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Trần Đình Quân v. v. tay đàn tay nhạc khiến phong trào du ca ngày thêm vững mạnh. Nguyễn Hữu Nghĩa về sau còn tiếp nối Phong Trào Hưng Ca ở hải ngoại với Nguyệt Ánh, Huỳnh Công Anh, Đào Trường Phúc ...

    (*) Theo Hoàng Kim Châu, Ban Trầm Ca được thành lập vào muà hè năm 1965 gồm có Nguyễn Đức Quang như cánh chim đầu đàn, và các anh chị em khác: Hoàng Kim Châu, Trần Trọng Thảo,Mai Thái Lĩnh, Đinh Gia Lập, Nguyễn Quốc Văn và chị Đỗ Phương Oanh. Khởi đầu Ban Trầm Ca chuyên sinh hoạt ca diễn văn nghệ theo tinh thần hướng đạo, thanh niên sinh viên phụng sự xãhội. Sau hơn một năm hoạt động, với thành quả sinh hoạt ngày càng nâng cấp, phát triển; Ban Trầm ca quyết định thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam với cả ngàn đoàn viên có mặt khắp mọi nơi trên đất nước dưới hình thức những Toán Du Ca từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Đà Lạt... đến Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang v.v. Phong Trào Du Ca Việt Nam đặt trụ sở tại số 114 Sương Nguyệt Anh Sài Gòn. Chủ tịch đầu tiên là anh Hoàng Ngọc Tuệ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang là Trưởng Xưởng Du Ca...


    (**) Nguyễn Đức Quang sinh năm 1944 tại Sơn tây, Bắc Việt – tạ thế lúc 4 giờ sáng ngày Chủ Nhật 27 tháng 3 năm 2011 tại bang California – Hoa Kỳ; sau cuộc điều trị tai biến mạch máu não không thành công.


    Hoàng Xuân Sơn
  8. Lâu lắm rồi mới đến chơi nhà ông đồ gàn. Thật ra đó là một ông giáo già về hưu, ngày trước mình hay qua nhà ông trao đổi sách với nhau. Đến nơi ông hỏi dồn dập:

    - Mày biết vụ thằng Vũ con ông Huy Cận chứ, xử 7 năm cơ đấy. Chỉ cái tội nói lên sự thật.

    Mình giả vờ hỏi để ông già bật máy nói cho xôm.

    - Nói thật mà bị tù đến 7 năm à, chắc là tiết lộ bí mật quốc gia, quốc phòng, an ninh thì mới bị xử tù vì tội nói thật. Chứ ngoài cái đó ra, nói thật phải được khen chứ. Sao lại bỏ tù, thời nào mà lạ vậy.

    Ông giáo già chặn ngay:

    - Thời XHCN chứ còn thời nào nữa, mày nghĩ mày đang sống thời Tần Thủy Hoàng à. Thời này nói gì không vừa ý người ta, là họ bắt, họ xử. Quyền trong tay họ, họ muốn thế nào chả được.

    Mình cãi :

    - Thế thì loạn à, phải có pháp luật, mọi cái phải chiểu theo pháp luật chứ. Sao tùy tiện được.

    Ông già nói :

    - Này nhé, chưa nói đến đoạn họ dựng chứng cứ giả, nhân chứng giả. Chỉ cần giờ tao ví dụ thế này. Mày nói một câu như sau : ‘‘Đảng Cộng Sản Việt Nam không tốt, thì họ đã không đứng vững đến ngày nay.’’- Đấy ví dụ mày nói câu như thế. Mày thấy không có tội đúng không ?

    Mình gật đầu nói:

    - Như thế là khen Đảng, chứ có tội gì?

    Ông giáo già nói:

    - Con ơi, ông mày đây già đời sống 50 năm trong lòng Cộng Sản, người ta thích cho mày chết là mày chết, họ đứng vững vì họ có cái quyền đó chứ không phải vì họ không tốt thì đã không đứng vững đâu. Mày cứ nghĩ là đứng vững được là do tốt à. Ngây thơ lắm con trai ạ. Giờ tao sẽ chỉ cho mày thấy, riêng câu nói đó nếu họ thích họ cho mày đi tù.

    Mình nghe thế điên quá gào:

    - Nói thế tù sao được, vi phạm cái gì mà tù.

    Ông giáo già xua tay:

    - Bình tĩnh nào con trai, thế này nhé. Họ bắt mày vì tội tuyên truyền nói xấu chế độ, nhằm kích động lật đổ chính quyền nhân dân.

    Mình tá hỏa tam tinh, ngơ ngác hỏi:

    - Sao câu đó thôi mà thành tội to thế, ông đùa cháu thì cũng vừa với thực tế thôi chứ !

    Ông giáo:

    - Thực tế nhất đấy con ạ, đây này nếu họ thích thì họ hỏi mày thế này: Mày có viết đoạn ‘‘Đảng Cộng Sản không tốt...’’ không ? Thì mày nói sao, đúng là mày có viết đoạn ấy.

    Mình dãy nảy:

    - Nhưng mà nguyên văn câu đó còn thêm đoạn là – ‘‘thì họ không đứng vững đến ngày nay’’ - mà.

    Ông giáo nói:

    - Tòa nó chả cho mày văn thêm, nó nói bị cáo chỉ trả lời có hay không. Nào thì tòa hỏi bị cáo có viết đoạn ‘‘Đảng Cộng Sản không tốt...’’ có viết hay không.

    Mình nói:

    - Tất nhiên là có viết, nhưng còn thêm đoạn sau….

    ‘‘Uỳnh’’ - Ông già nổi giận đập bàn như Chủ Tọa Nguyễn Hữu Chính, chánh tòa hình sự Hà Nội.

    - Bị cáo Lái Gió trả lời rõ, có hay không. Tất nhiên có viết là bị cáo đã khẳng định mình có viết câu đó. Tòa chuyển sang phần khác.

    Mình định cãi, ông già nói:

    - Tỉnh táo nhé, tòa nó chỉ hỏi thế, mày có thì tòa nó chuyển sang phần khác. Ở tòa thì thằng chủ tọa nó có quyền. Mày cự sao được. Đến ông tổng giám mục Ngô Quang Kiệt, hàng triệu dân Công Giáo yêu mến mà còn bị cắt cúp kiểu đó, chứ mày là cái gì. Giờ mày nghe luận tội nhé.

    Ông già nghiêm giọng:

    - Bị cáo Lái Gió nghe tòa tuyên án, qua phần xét hỏi bị cáo dù quanh co nhưng đã phải nhận rằng có làm ra tài liệu nói xấu Đảng lãnh đạo. Hành vi của bị cáo đã khiến quần chúng nhân dân phẫn nộ, gây tác động xấu cho xã hội. Mục đích của bị cáo là bôi xấu chế độ khiến nhân dân hiểu lầm, qua đó dẫn đến những thế lực thù địch lợi dụng cơ hội, khoét sâu mâu thuẫn nhằm làm mất ổn định chính trị. Tiếp sức cho cách mạng mầu để thay đổi chính thể, phá hoại thành quả cách mạng của nhân dân ta đã đổ bao xương máu dành được, ý đồ cuối cùng của bị cáo là tuyên truyền kích động để lật đổ chính quyền nhân dân. Xét thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, tòa căn cứ... xét thấy cần phải có mức án thích đáng... để răn đe...

    Ông già xuống giọng thầm thì:

    - Thế là 7 năm chứ 17 năm cũng có lý phải không con. Bọn báo chí nó đưa tin theo chỉ định từ phiên tòa, dăm ba đứa cò mồi nó viết ‘‘blog’’ ngoài lề dạng kiểu Lái Gió đã nhận tội rằng y có viết đoạn như thế như thế... rồi nó lại ra vẻ thương cảm là sao dại thế, không viết thế này lại viết câu đó. Dân tình đọc xong lúc đó họ đã nghĩ mày có tội thật. Vì từ lúc bắt đến lúc xử xong, người ta làm mọi thứ để thiên hạ hình dung mày có tội thật. Thế là thiên hạ nghĩ là thằng Lái Gió nó mà không viết thế, thì sao nó bị bắt, sao mà bị xử tù. Bao nhiêu người viết đầy ra đấy có sao đâu.

    Nghe ông già nói đến đây, mình thấy đuối lý. Công nhận ông già sống lâu kinh nghiệm, nhìn lại thì mọi việc diễn ra như thế là chuyện quá bình thường. Mình nghe xong mà hậm hực, cay cú nhưng chả biết nói sao.

    Ông già cười vỗ vai mình nói:

    - Tao biết mày sẽ uất ức, vì như thế là mày bị oan. Mày ức vì bị oan là chính đúng không?

    Mình gật đầu nói:

    - Vâng ạ.

    Ông già nói:

    - Thế tốt nhất là đừng đưa mình vào thế bị oan, đúng không?

    Mình gật đầu:

    - Vâng thế không viết, không nói gì ông nhỉ?

    Ông già nói:

    - Mày mãi vẫn chưa khôn, đã ví dụ như thế có nghĩa là họ muốn bắt tù mày thì kiểu gì họ cũng làm được, nói hay không thì có nghĩa lý gì.

    Mình hỏi:

    - Thế thì thế nào ạ ?

    Ông giáo đứng dậy, nhìn lên ảnh ‘‘Cu Hồ’’ treo trên tường nói:

    - Thì cứ nói mẹ nó thật, như thế đi tù cũng đỡ ức con ạ.
  9. Định viết những bài ký về cộng đồng người Việt Nam ở Ba Lan đã lâu nhưng tôi chưa sắp xếp được thời gian. Gần đây những bài viết của Misha Doan, Thần Gió, Hoang Minh Ngo... về Liên Xô, về Ba Lan như một sự thôi thúc, truyền cảm hứng cho tôi bắt tay vào viết kí ức về một thời kỳ đã qua. Đây là những câu chuyện thật 100% diễn ra trong một không gian rộng từ Việt Nam, đến Liên Xô, đến Ba Lan được tác giả viết lại. Tổng hợp các sự kiện từ chính cuộc đời mình, từ vai trò nhân chứng, từ vai trò người trong cuộc tác giả muốn đem đến cho bạn đọc một góc nhìn khái quát về một thời vừa huy hoàng, vừa đau thương nhưng rất đáng nhớ.



    Phần 1: Ngã rẽ mới của cuộc đời



    Nguyên biết đến Ba Lan lần đầu tiên có lẽ từ câu thơ của Tố Hữu "Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan, Đường bạch dương sương trắng nắng tràn". Lớn thêm một chút nữa Nguyên biết thêm về Ba Lan qua những bộ phim "cực đỉnh" thời bấy giờ như Con Hủi, Thầy Lang, Nạn Hồng Thủy, Đại Tá Volodizovski, Thế Giới Đàn Bà…Đến khi vào trường đại học Nguyên lại được chứng kiến một số sinh viên vốn là lưu học sinh Ba Lan bị kỷ luật đuổi về nước vì nhiễm "các giá trị tư bản phương Tây". Lạ nhỉ! Ba Lan là nước xã hội chủ nghĩa cơ mà, Nguyên không hiểu tại sao lại như vậy. Nhưng nhìn các anh chị cựu lưu học sinh Ba Lan ở trường nó trong trang phục quần loe, áo sơ mi hoa cổ to với bộ tóc dài Nguyên hình dung được ít nhiều về một đất nước Ba Lan cởi mở và yêu chuộng tự do trong lòng hệ thống xã hội chủ nghĩa.

    Mới 25 tuổi Nguyên đã trở thành đảng viên. Người đời bảo trẻ thế mà vào đảng chắc vì cơ hội, Nguyên nhăn nhở cãi: Chỉ đúng một nửa, 50% lý tưởng, 50% cơ hội. Nguyên là đảng viên trẻ nhất cơ quan lại cộng thêm cái mác con lão thành cách mạng. Thế là nguồn với lại kế cận chứ còn gì nữa, Nguyên tự mãn. "Giá, lương, tiền" tiến hành được ba tháng thì Nguyên cưới vợ. Đồng lương hai cử nhân kinh tế cùng làm ở cơ quan đầu não chính phủ vậy mà không nuôi nổi nhau. Vợ chồng Nguyên được cả hai đằng nội ngoại xúm vào giúp. Gom đủ tiền Nguyên mua một máy dệt len 2 giàn. Chồng thừa dịp đi những chuyến công tác để buôn len, vợ tần tảo dệt áo đổ buôn cho các sạp ở chợ Đồng Xuân. Những tưởng đời Nguyên gắn bó với cơ quan và nghiệp len. Nhưng chỉ một câu khích tướng của vợ, đời Nguyên đã sang trang lần thứ nhất. Một đêm hai vợ chồng nằm bên nhau thao thức, vợ Nguyên hết trở mình lại thở dài mãi sau mới thỏ thẻ:

    - Anh còn nhớ anh Nam khoa toán không? Anh ấy vừa thi nghiên cứu sinh đỗ đầu hội đồng kinh tế toàn quốc đấy.

    Nguyên chồm ngay dậy:

    - Thật hả, nó mà đỗ cao thế lẽ gì mình không đỗ.

    Biết vợ muốn mình thử sức nhưng ngại, lại nữa cái thằng Nam ấy ngày xưa từng hướng dẫn vợ Nguyên thực tập tốt nghiệp. Nổi cơn tự ái ngay hôm sau Nguyên lên phòng Đào Tạo Vụ Tổ Chức Cán Bộ xin dự kỳ thi nghiên cứu sinh ngoài nước. Thế rồi Nguyên nhận được quyết định đi ôn thi đúng ngày vợ nó chuyển dạ sinh đứa con gái đầu lòng. Sau ba ngày thăm nuôi biết chắc vợ tròn con vuông, Nguyên đưa thẳng vợ con về đằng nhà ngoại. Trước là để trốn việc, sau là dồn thời gian vào việc đèn sách. Vốn là người hiếu thắng lại tham vọng nữa, Nguyên bước vào việc luyện thi với ý chí thép. Nguyên biết rằng nếu thi đỗ, tương lai gia đình bé nhỏ của nó sẽ rẽ sang một ngã mới như mọi người nói là đổi đời. Nếu thi không đỗ Nguyên sẽ không còn cái lỗ nẻ nào nữa để mà chui, hơn nữa cánh cổng quan lộ đầy triển vọng của nó sẽ khép chặt lại chẳng còn hy vọng thăng tiến.

    Sau tám tháng miệt mài bài vở Nguyên không những vượt qua được kỳ thi tuyển chọn nghiên cứu sinh ngoài nước mà còn lọt vào top five hội đồng kinh tế toàn quốc. Hồi đó kết quả thi không phải là tiêu chuẩn để chọn nước. Thực tình Nguyên chỉ biết thi chứ không mấy quan tâm mình sẽ đi đâu. Nhưng thằng bạn thi trước Nguyên một năm bảo:

    - Mày ngu lắm đi học chỉ để lấy kiến thức thì nước nào chả như nước nào, nhưng mày đi học đâu chỉ có mục đích cao cả là cứu nước, còn phải cứu nhà nữa chứ.

    Nguyên nghe thế gật gật nhưng thực tình nó chả biết chọn nước nào. Nguyên không có ai quen để hỏi thông tin về chuyện đời sống kinh tế ở mấy nước xã hội chủ nghĩa anh em. Lúc đó trong giới nghiên cứu sinh lưu truyền một câu châm ngôn "muốn giàu đi Đức, muốn kiến thức đi Nga". Nguyên hỏi thằng bạn kia có đúng như vậy không. Thằng bạn trợn mắt mắng:

    - Mày đéo biết gì, câu đó xưa rồi.

    Thằng kia như quên hẳn việc Nguyên đi một phần để học, nó chỉ quan tâm mỗi việc cố vấn cho Nguyên chuyện kiếm tiền. Hắn thao thao lên lớp cho Nguyên là đi Đức ăn tiêu tằn tiện để dành tiền giỏi lắm chỉ mua được một cái xe máy mô-kích với hai ba cái xe đạp mi-fa, chấm hết. Phải đi Ba Lan, đi Hung "đánh thuốc" về lại chả mua được bằng mười lần như thế. Nguyên cứ há mồm nghe thằng bạn thuyết giáo. Sau rồi Nguyên mới nhỏ nhẹ hỏi làm cách nào để được đi Ba Lan. Thằng kia lại cặn kẽ bày cho Nguyên cách tiếp cận ông cán bộ trên Bộ Đại Học phụ trách mảng phân chỉ tiêu đi nước ngoài, rồi bảo nó cứ thế cứ thế ắt việc sẽ thành. Nguyên theo chỉ dẫn của thằng bạn mà làm. Số người phải chạy như Nguyên cũng không ít, sau mấy buổi bỏ công ngồi đập muỗi rình rập trước cửa nhà ông cán bộ nọ, nó cũng tiếp cận được đối tượng. Lấy can đảm trình bày nguyện vọng rồi đỏ mặt đặt mấy xấp vải len với mấy hộp sữa lên bàn Nguyên lí nhí xin phép ra về đem theo một lời hứa bâng quơ. Ngày tập trung tại hội trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân để công bố việc phân nước, mãi đến khi nghe ông cán bộ kia đọc tên nó trong danh sách nghiên cứu sinh đi Ba Lan Nguyên mới tin đó là sự thật. Sau một năm vừa nuôi con nhỏ, vừa học ngoại ngữ tại Thanh Xuân, đúng đến ngày đến tháng Nguyên leo lên máy bay bay sang Ba Lan.

    Đặt chân đến Warszawa sau đó xuống Lodz, những hình ảnh hiện thực về chủ nghĩa xã hội phát triển khiến Nguyên thất vọng như người bước hụt. Dù trước khi đi Nguyên được giáo huấn trước rằng nước bạn đang gặp khó khăn do Công Đoàn Đoàn Kết gây mất ổn định. Nhưng Nguyên vẫn không thể nghĩ được bức tranh Ba Lan tại sao lại khác xa với những điều nó hình dung đến thế. Sáng sớm trước các cửa hàng thịt, cá, đường… từng đoàn người lặng lẽ, kiên nhẫn xếp hàng. Các quầy hàng gần như trống trơn. Ở đâu cũng vậy. Nhiều loại nhu yếu phẩm phải mua bằng tem phiếu theo định mức.

    May được thằng bạn cố vấn, Nguyên mang theo một thùng carton TV chứa toàn kimono, áo phin thêu, vòng xương, lắc trai…Ba Lan lúc đó hàng hoá khan hiếm kinh khủng nên những thứ Nguyên mang theo đều bán được lãi gấp rưỡi, gấp đôi. Thế là ấm rồi! Nguyên bắt đầu cảm thấy tự tin hơn. Lương nghiên cứu sinh khi đó tính ra chỉ khoảng 10 USD/tháng. Vậy là ngay từ khi khởi nghiệp Nguyên đã lận lưng được số vốn bằng phụ cấp ăn học cả 5 năm trời ở Ba Lan. Do nền kinh tế kế hoạch hoá lại khép kín nên vào cuối những năm 80, đồng đô la Mỹ ở Ba Lan được thị trường định giá quá cao so với giá trị thực. Ví dụ một vé máy bay hai chiều Warszawa – Hà Nội transit qua Mockva khoảng 65 USD, giá thuê căn hộ một buồng, một bếp, một toilet giữa trung tâm Warszawa giá 20 USD/tháng, tiền ăn khá xông xênh chỉ hết 6 USD/tháng. Lạm phát lồng lên như con ngựa không kìm được dây. Chỉ số giá cả tăng đến 3 chữ số một năm.

    Chưa kịp buồn Nguyên đã sớm nhận ra đây là cơ hội, là vận may để nó đổi cuộc đời công chức khốn khó thành cây, thành chỉ óng ánh vàng. Cái đêm trước khi ra sân bay, nằm bên vợ, Nguyên lạc quan quá đà vung tay hoạch định cái kế hoạch 5 năm lần thứ nhất với lời hứa sẽ bảo vệ xong tấm bằng và đem về nước cho vợ 20 cây vàng. Vợ gõ ngón tay vào trán Nguyên thủ thỉ "liệu anh có điều chỉnh kế hoạch như chính phủ vẫn thường đề xuất với quốc hội không?".

    Phải nói rằng nghiên cứu sinh khi đi du học hầu hết đã có vợ có con. Thế nên động lực kiếm tiền của họ thôi thúc mạnh mẽ hơn nhiều so với tụi sinh viên. Sẵn có sạn trong đầu, khi phân phòng ký túc xá ở Trung Tâm Học Tiếng, Nguyên xung phong nhận phòng trên tầng 3 trong khi cả đoàn của nó ở hết dưới tầng trệt. "Cho vắng vẻ dễ bề làm ăn" Nguyên lẩm bẩm thế. Vượt lên mọi cám dỗ của sự ham vui, ham nhậu nhẹt Nguyên đã có những toan tính riêng cho mình.

    Một lần lang thang lên Warszawa vào ngày Chủ Nhật để tìm mối bán kimono và vòng xương Nguyên được vợ chồng đại gia số một Ba Lan thời đó rủ về nhà ăn trưa. Trong buổi gặp mặt định mệnh Nguyên được họ bày cho bài học kiếm tiền thứ hai sau cái vụ nhặt tiền từ việc bán hàng trong nước đem theo. Chị vợ bảo Nguyên về lùng kiếm các mối cung cấp thuốc với lời hứa sẽ bao tiêu toàn bộ. Không quen một ai từ khi đặt chân sang Ba Lan bỗng dưng Nguyên được gia nhập một đường dây làm ăn lớn. Như mở cờ trong bụng, Nguyên muốn hét to "con đường sáng đây rồi" y như khi Nguyễn Ái Quốc tìm được chủ nghĩa Mác-Lênin vậy.

    Ngày qua ngày, sau giờ lên giảng đường với tấm bản đồ trong tay, Nguyên lặng lẽ ngồi tầu điện, trong khi tụi bạn của nó vùi đầu vào những cuộc chơi liên miên. Cứ thế lầm lũi Nguyên lặn lội xuyên màn đêm tuyết phủ để đặt chân đến cả 43 hiệu thuốc trên địa bàn thành phố. Thời gian đầu Nguyên rất ngại mỗi khi bước chân vào bên trong hiệu thuốc. Nguyên lấm lét nhìn mọi người với mặc cảm tội lỗi, sau mặt cứ dầy lên rồi quen dần. Nhiều nơi họ xua đuổi Nguyên, họ dọa gọi điện báo công an khi nó chưa kịp mở mồm. Có người nhìn Nguyên run rẩy trong chiếc áo khoác bị ngấm nước với ánh mắt đầy cảm thông. Nhưng Nguyên cóc cần sự thương hại, nó đang thèm những vỉ thuốc B1, B6, Bisepton, Ampicilin…óng ánh đang bày trên quầy hàng, trên tủ kính kia cơ. Hễ ai hỏi Nguyên từ đâu tới, nó trả lời ngay là sinh viên Bắc Triều Tiên. Trong con người Nguyên lúc đó vừa xen lẫn nỗi sợ hãi vì đang làm cái việc bất chính, vừa trỗi dậy lòng tự tôn dân tộc. Trời không phụ công kẻ cần mẫn, cuối cùng Nguyên cậy được 5 mối thuốc. Mà Nguyên không thèm rón rén một hai chục vỉ cò con như những thằng bạn khác, với nó đơn vị phải là hàng nghìn. Nguyên chẳng bao giờ chịu mất thì giờ lân la với mấy con bán hàng đỏng đảnh, nó tìm cách tiếp cận ngay cửa hàng trưởng để mỗi lần đến hẹn nó vác túi ba tầng lèn chặt các loại thuốc quý. Địa điểm giao thuốc thay đổi luôn y như hoạt động gián điệp vậy. May mà hồi đó tình hình an ninh ở Ba Lan chưa phải là mối đe dọa lớn đối với người nước ngoài.

    Có một lần đợi khi màn đêm buông xuống đặc quánh, Nguyên ngồi tầu đến tận bến cuối, nó lội tuyết thêm một quãng xa đến một bìa rừng ven đô để gặp người cung cấp thuốc. Đứng chờ Nguyên ở địa điểm hẹn trước là một phụ nữ tóc vàng óng ả tuổi chưa đến bốn mươi, nhìn vẫn giòn gái lắm. Nguyên lúc đó tròn ba mươi nhưng mới bén hơi chưa lâu đã phải xa vợ. Khi người phụ nữ kia ghé sát tai Nguyên thì thầm báo số lượng, chủng loại và giá cả, nhịp tim nó đập loạn xạ. Trong hơi ấm hôi hổi của tấm thân đầy quyến rũ kia Nguyên ngửi thấy mùi thơm đàn bà. Không biết đấy là hương tự nhiên từ thân thể người phụ nữ kia truyền sang hay mùi nước hoa, chỉ biết rằng người Nguyên ngây ngất đến đờ đẫn. Quả táo Adam nuốt dở trong họng Nguyên lên xuống theo nhịp nuốt nước bọt tràn ứ trong miệng nó. Đúng lúc người Nguyên chực đổ ụp xuống cái cơ thể rừng rực kia, bỗng nhiên hình ảnh vợ con rất đỗi nhớ thương ùa về cộng với lời nguyền công việc văng vẳng trong tai, nó rùng mình một cái rồi bừng tỉnh. Nguyên giục người phụ nữ khi đó cũng đang thở gấp gáp như muốn lả đi trong vòng tay của nó rằng phải kết thúc ngay việc giao tiền và hàng để nó còn kịp về chuyến tầu điện cuối đêm.

    Phòng của Nguyên ở ký túc xá bao giờ cũng đầy ắp thuốc. Thuốc ngập tràn các ô tủ, thuốc xếp từng chồng dưới gậm giường, thuốc bò ra cả sàn. Việc Nguyên chọn ở "vùng sâu, vùng xa" chính là để tránh những cặp mắt nhòm ngó, dị nghị của mọi người. Thế mà vẫn có chuyện. Một hôm thằng Afganistan ở phòng kế bên cùng chung toilet với phòng Nguyên bỗng la toáng lên kêu mất cái catset. Thằng bựa đó gọi hết bạn bè của nó lên tầng 3 giúp phong toả các phòng rồi báo bảo vệ đi kiểm tra. Đến phòng Nguyên tụi nó không thể vào được. Nguyên đứng đó với con dao chặt thịt lăm lăm trong tay, mắt vằn lên những tia đỏ. Nguyên thề rằng thằng nào đến gần nó sẽ chém chết. Hàng ngày Nguyên vốn nhỏ nhẹ hiền lành mà lúc này trông nó dữ tợn đến thế. Nguyên biết cái việc lộ đầy hàng cấm trong phòng nó sẽ bị trục xuất về nước, vì thế nó thề phải tử thủ đến cùng. Bà trực nhật toà nhà phải gọi điện báo cho Ban Giám Hiệu. Sau nửa tiếng một ông hiệu phó xuất hiện bảo Nguyên phải đồng ý cho người vào kiểm tra phòng. Lúc đó có người của trường nên Nguyên không còn cầm dao trong tay nữa. Ông hiệu phó thuyết phục thế nào Nguyên vẫn không đồng ý cho bất kỳ ai vào khám phòng nó. Nó nhất quyết hết sức củ chuối rằng, muốn khám phòng nó phải có lệnh hoặc phải có người sứ quán. Ông hiệu phó không làm gì được đành viết biên bản kết luận sự việc, Nguyên khăng khăng không chịu ký. Một tuần sau trường lập hội đồng kỷ luật xét cái vụ ăn cắp catset với nghi án số một là Nguyên. Họ viện dẫn lý do nếu không lấy tại sao không cho khám phòng. Đứng trước hội đồng kỷ luật Nguyên bình tĩnh trình bày rằng nước nó nghèo như thế nào, vợ con nó ở Việt Nam bây giờ ăn đói ra sao. Vậy nên nó đi sang đây vừa để học kiến thức, vừa phải mang theo kimono bán lấy tiền đỡ đần gia đình (kimono được phép mua bán). Nguyên nói sở dĩ nó không muốn cho mọi người vào phòng vì nó không muốn ai nhìn thấy những chiếc kimono xếp đầy trong tủ. Nguyên hùng hồn biện minh y như khi Phiden tự bào chữa trước phiên toà Batista với câu nói bất hủ "lịch sử sẽ xoá án cho tôi". Nguyên nói một hơi không nghỉ đến khi dừng lại, nó nhìn "hội thẩm đoàn" thấy ai nấy mắt cũng đỏ hoe. Thế là trắng án.

    Trong khi Nguyên may mắn được vẫy vùng trong biển lớn nhờ sự nâng đỡ của các soái, thì những người bạn cùng khoá với nó vẫn hàng ngày đàn đúm rượu bia. Chỉ đến dịp weekend họ mới lùng sục vào các xưởng dệt quanh thành phố Lodz vốn là trung tâm công nghiệp dệt may của Ba Lan để tìm mua áo môngtegi và khăn voan. Đợi đến lúc có điện thoại đặt hàng, họ đóng chặt nắp vali rồi đáp tầu hoả lên Warszawa cung cấp cho các đầu nậu người Việt ở đây. Môngtegi và khăn voan không thuộc diện hàng cấm nên đương nhiên lợi nhuận không thể cao ngất như thuốc.

    Vào nửa đầu năm 1989 có một chiến dịch âm thầm diễn ra rất ngắn nhắm vào hệ thống các cửa hàng Jubiler (trang sức) trên toàn Ba Lan. Cho đến nay có rất ít người biết đến kiểu làm ăn chớp nhoáng mà kín đáo này trong quá khứ. Cách thức săn hàng từa tựa như cách dân Cộng mình mua vàng ở Liên Xô. Mặt hàng đặc biệt này không phải vàng mà là đồng hồ Liên Xô. Thời đó theo hiệp định ký kết giữa các nước thành viên Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế việc xuất nhập khẩu trong khối chủ yếu dựa trên phương thức hàng đổi hàng. Chính cái sự trao đổi mang tính phi thị trường như thế nên hàng hoá trong các cửa hàng được bày bán với giá rẻ như cho. Từ tin tức nghe trộm được của bà vợ một cán bộ sứ quán, Nguyên rủ thêm thằng sinh viên làm cùng cho an toàn. Dành thời giờ trong những ngày nghỉ, hai anh em ngồi tầu đi đến những thành phố hơn 50 nghìn dân được đánh dấu trên bản đồ để mua vét đồng hồ. Ở một vài nơi, thỉnh thoảng nó cũng đụng đầu người Việt Nam quần đảo cửa hàng Jubiler y như nó. Chạm mặt nhau ở những chốn đó mới thấy hiếm khi có sự thân thiện hiện lên trong ánh mắt các con rồng cháu tiên.

    Từ ga Nguyên ngồi taxi chạy thẳng đến những cửa hàng Jubiler có trong thành phố. Nó chẳng ngạc nhiên khi thấy cửa hàng Jubiler nào cũng đầy ắp hàng thủ công mỹ nghệ made in Việt Nam. Nguyên vờ nhặt lên mấy cái giỏ tre, bức sơn mài hay hộp khảm trai, nhưng kỳ thực mắt nó lại dán chặt vào mấy cái tủ kính bày đồng hồ. Nhìn thấy những chiếc đồng hồ Liên Xô hiệu Polgot, Raketa, Zuravia… mắt Nguyên sáng rực lên. Chiến lược tiếp cận của Nguyên vẫn y như cách thức nó cậy mối thuốc vậy. Nguyên sải những bước chân đầy tự tin vào ngay phòng cửa hàng trưởng. Thô bạo không kém những người đồng hương mua vàng bên Liên Xô, Nguyên chỉ cho bà cửa hàng trưởng xem những chồng tiền xếp ngay ngắn đầy ăm ắp trong chiếc túi du lịch mang theo người. Chờ cho đến khi bà ta hết ngỡ ngàng lấy lại được bình tĩnh, Nguyên vào thẳng ngay vấn đề rằng nó muốn mua hết số đồng hồ có trong cửa hàng với giá cộng thêm 20%. Nhân viên trong cửa hàng nhốn nháo ngược xuôi. Tất cả đồng hồ không kể mác gì miễn là made in CCCP được gỡ ra từ các quầy hàng, tủ kính, thậm chí cả những chiếc chưa được xuất kho. Mỗi lần như thế Nguyên gom được hàng trăm chiếc đủ loại. Nó chia ra một phần bán ngay lấy lãi, một phần gửi mấy ông có hộ chiếu công vụ về nước cho vợ. Công việc kiếm tiền này vừa nhẹ nhàng, vừa kín đáo lại lịch sự nữa nên hai thằng hăng hái ngồi tầu dễ đến nửa năm cho đến khi không thể đào đâu ra đồng hồ Liên Xô trên đất này nữa.

    Sau một năm tần tảo, vừa học tiếng vừa đánh quả Nguyên tích lũy cho mình một số vốn kha khá. Quan trọng hơn Nguyên đã thiết lập được cho mình nhiều mối quan hệ cần thiết cho công việc kinh doanh. Khi phải lên Warszawa làm bằng, Nguyên truyền lại cho mấy thằng đàn em mới sang học tiếng kiểu làm ăn nhặt nhạnh vừa mất thời gian vừa mất sức. Nguyên bắt tay vào việc triển khai các kế hoạch làm ăn đầy tham vọng trong tương lai.

    Từ một trí thức trẻ, một đảng viên đầy nhiệt huyết với bao khát vọng được cống hiến, được phấn đấu cho lý tưởng "cao đẹp" Nguyên bắt đầu dấn thân vào một ngã rẽ mới của cuộc đời như một sự an bài của số phận.


    Nguyên như một nhân chứng được sống trong thời khắc diễn ra các biến cố làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Nguyên không gọi sự kiện thay đổi chế độ chính trị những năm 1989-1991 là cuộc cách mạng mà Nguyên coi đây như là một cuộc chuyển đổi từ chế độ toàn trị sang chế độ tự do dân chủ đa nguyên, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Hơn 20 năm đã trôi qua nhân dân tại các nước xã hội chủ nghĩa anh em cũ đã lựa chọn cho mình cuộc sống mới bằng chính lá phiều dân chủ của họ. Quyền lực phải thuộc về nhân dân. Ý chí và nguyện vọng của nhân dân mới thực sự là sức mạnh vô địch.




    Phần 2: Một cuộc chuyển đổi



    Trong lúc nhân dân Ba Lan và bạn bè phải vật lộn trong nỗi cơ cực khốn khó thì Nguyên lại được tận hưởng bữa ăn hàng ngày trong sự sung túc mà trước đấy một năm nó không bao giờ dám nghĩ đến. Ngay từ tháng đầu tiên Nguyên cho luôn mấy thằng em sinh viên tất cả số tem phiếu thịt, cá và nhu yếu phẩm của nó. Nguyên lấy đâu ra thời gian để vừa học, vừa đánh quả lại kiên nhẫn xếp hàng đua với các cụ về hưu. Nguyên chỉ mua các loại thực phẩm ngon nhất ở chợ nông trường giữa trung tâm thành phố Lodz. Bữa trưa đương nhiên Nguyên phải ăn ở kí túc xá trường dạy tiếng. Nhưng trong bữa tối Nguyên tự thưởng cho mình bất kì món gì mà nó muốn cùng với những chai bia. Mục kích sở thị món súp tứ đời chỉ có khoai tây nấu lẫn bắp cải mà bọn sinh viên Bắc Triều Tiên che che đậy đậy nấu trong bếp, Nguyên thấy mình còn may được sống kiếp người. Không muốn tranh nhau xem cái tivi tập thể dưới phòng văn hoá, Nguyên mua lại chiếc tivi Neptun nguyên hộp với giá 50 USD của ông bạn trên Warszawa. Kết thúc năm học tiếng, một thằng nghiên cứu sinh Bắc Triều Tiên phải năn nỉ mãi Nguyên mới bán lại cho nó chính chiếc tivi ấy với giá 70 USD. Lúc đầu Nguyên không hiểu tại sao mấy ông nghiên cứu sinh trường WAT (quân đội) lại có nhiều tivi Neptun đen trắng đến thế. Hồi đó mua được tivi là cả vấn đề vì hiếm khi thấy bày bán trong các cửa hàng mậu dịch. Mãi sau Nguyên mới biết họ mua tivi không phải vì mục đích kiếm lời, bởi lãi không bao nhiêu, mà họ bỏ công móc tivi tận nơi phân phối gốc chỉ với mục đích lấy cái thùng carton để đóng thuốc gửi tầu thuỷ chuyển về Việt Nam.

    Trước khi rời Trung Tâm Học Tiếng, Nguyên vẫn kịp tham gia chiến dịch chuyển tem cốc về Việt Nam. Mặt hàng này ở trong nước lúc đó bị liệt vào dạng văn hoá phẩm đồi truỵ. Những chiếc tem folie in hình cô gái có thể tự dán lên cốc uống bia. Khi rót bia lạnh, hơi nước tụ trên mặt tem làm tuột hết quần áo, lộ ra cơ thể con gái nõn nà. Cả một đường dây hoàn chỉnh được thiết lập. Mỗi vali đóng đầy tem cốc nặng tới trên 50kg. Ở cửa đi sân bay Okecie hễ thấy ai kéo lết vali trên sàn đích thị trong đó chứa tem cốc. Mấy thằng đại diện hàng không làm tiền chuyện quá cân, mỗi vali chúng thu 150 USD. Một lần vợ Nguyên gọi điện thoại sang hỏi "Tại sao mấy chục cái tem bị tróc hình, mà toàn tróc chỗ…ấy". Lúc đó Nguyên mới nhớ ra có lần mấy ông nghiên cứu sinh lân la sang phòng nó ngỏ ý muốn được xem thứ hàng lạ lẫm ấy. Nguyên xoa nước lên tem trình diễn. Vừa khi Nguyên chạy xuống phòng thường trực nghe điện thoại, mấy ông bạn mỗi ông một bộ sáu chiếc, tranh thủ… liếm để thưởng ngoạn. Nước không sao chứ nước bọt có dịch tiêu hoá làm nhạt hồ in. Hệ quả của vụ mấy ông bạn lén lút "tự sướng" làm Nguyên thiệt hại đến vài "vé".

    Chia tay thành phố Lodz Nguyên lên Warszawa ngay từ khi kết thúc khóa học, trong khi bạn bè của nó vẫn ở lại đến hết hè. Chưa vào năm học mới nên trường Đại Học Tổng Hợp Warszawa không thể làm thủ tục cho nó vào kí túc xá. Nguyên chẳng bận tâm về điều đó bởi nó đang sở hữu số tiền có thể mua được cả căn phòng ở trung tâm Warszawa. Nhưng chẳng dại gì làm cái việc điên rồ đó, để tiền còn làm ăn chứ. Nguyên nghĩ thế nên nó mò vào Akademik trên phố Zamenhofa cũng của trường Đại Học Tổng Hợp thuê lại một phòng. Trường này nhân dịp sinh viên về nhà kỳ nghỉ hè, cho thuê lại phòng để kiếm thêm thu nhập.

    Nguyên được bố trí một phòng trên tầng hai của tòa nhà năm tầng. Nó rất ngạc nhiên khi thấy cả tầng toàn người Việt Nam già có, trẻ có, lại cả trẻ con nữa. Y như một ốp lao động bên Nga. Hỏi kỹ Nguyên mới biết đó là gia đình các chuyên gia Việt Nam làm việc tại Châu Phi. Ba Lan khi đó tính ra đô cái gì cũng rẻ, kể cả vé máy bay về Việt Nam. Dân mình vốn nhạy bén nên truyền tin cho nhau về miền đất hứa vừa dễ kiếm tiền vừa có giá sinh hoạt rẻ. Thế là đám chuyên gia cứ vào dịp hè rủ nhau ùa sang Ba Lan quá cảnh và "tranh thủ đánh quả". Lợi cả đôi bề. Nguyên lại gặp may khi vô tình rơi vào hũ ấy. Nó lân la làm quen với từng người, rồi cung cấp các dịch vụ cần thiết cho họ. Nguyên vừa biết tiếng vừa nhiều mối quan hệ nên đương nhiên các ổ dịch vụ khác bị gạt ra rìa. Mấy ông nghiên cứu sinh chuyên "làm thịt" chuyên gia tức vằn mắt lên nhưng đếch làm gì được. Nguyên vừa xuất thân Phố Nhà Binh lại từng trải qua ba năm nghĩa vụ, nó không đánh ai nhưng cóc sợ thằng nào.

    Số Nguyên thế nào mà ngay từ lúc trở thành đàn ông năm 14 tuổi, nó thường bị bọn con gái cùng lứa xoa đầu vặt mũi vặt tai coi như trẻ con, nhưng không hiểu sao nó lại hay được các chị già thích... Nguyên như lọt vào xóm "không chồng". Mấy bố chuyên gia chắc đuội, thế nên các bà vợ nhìn Nguyên với ánh mắt lúng liếng như muốn... nuốt tươi nó. Trong số đó có một chị tên Hoa hơn Nguyên chừng bảy, tám tuổi. Chồng Hoa không già nhưng bị cái bụng phệ. Mỗi lần thấy Nguyên đi đâu về là Hoa chạy sang phòng nó mon men hỏi đủ chuyện linh tinh. Có lần Nguyên vừa vào phòng, Hoa bám ngay sau lưng, theo vào chốt cửa phòng lại. Nguyên lúng túng, Hoa nói cần 50 vỉ ampicilin. Nguyên bảo tối sẽ qua tận phòng đưa, nhưng Hoa không chịu về ngay, cứ nấn ná mãi. Vừa ngồi tầu mấy trăm cây số trở về Warszawa nên Nguyên mệt mỏi. Không giữ ý tới sự có mặt của Hoa, nó ngã vật ra giường ngủ vùi. Trong cơn mê hình như Nguyên thấy Hoa dắt tay nó bồng bềnh bay đến chốn thần tiên.

    Tối Nguyên sang phòng đưa thuốc cho Hoa. Không thấy anh bụng phệ đâu, nó chỉ thấy Hoa đắp tấm chăn mỏng nằm trên giường. Nguyên để thuốc lên bàn định quay gót thì nghe tiếng Hoa gọi "lại đây, đưa mình xem nào". Nguyên tiến lại đầu giường bất thần Hoa hất tấm chăn mỏng, kéo mạnh tay nó. Trên tấm thân căng tràn sức sống của gái một con không có lấy một mảnh vải dù chỉ bằng bàn tay. Người Nguyên như lên con sốt, vật vã trong cơn thèm khát... Xa vợ hơn một năm, Nguyên thật khó lòng cưỡng lại được sức lôi cuốn trần trụi đầy bản năng của cái cơ thể rừng rực hoang dại kia. Nguyên đã định tặc lưỡi nhảy ùm xuống dòng sông hoan lạc để bơi, bơi mãi đến bến bờ vô định. Đúng lúc đó có mấy tiếng gõ nhè nhẹ lên cửa phòng. Nguyên luống cuống lao nhanh ra phía cửa. Nhưng Hoa vẫn lõa thể lồ lộ đứng giang hai tay ngay trước mặt nó ngăn lại. Nguyên há mồm kinh ngạc bởi thái độ điềm tĩnh đến lạ lùng của Hoa. Trên gương mặt Hoa không hề biểu lộ chút nào sự sợ hãi. Lúc đó Hoa với tay lấy chiếc kimono, khoác lên người rồi nói với ra cửa "chờ chút". Nguyên hình dung một khuôn mặt đằng đằng sát khí cắm trên cái thân hình đồ sộ, ầm ầm lao vào phòng như một cỗ xe tăng. Nó thủ thế đề phòng một trận chiến ác liệt. Nhưng chẳng hề có chuyện gì xảy ra như nó vừa nghĩ. Anh bụng phệ ló đầu vào phòng đã nhoẻn ngay nụ cười thân thiện với nó, lại gật gật ra chiều hiếu khách. "Anh chồng này chắc chưa bao giờ làm được cái điều khiến vợ sợ hãi" nó nghĩ thế. Nguyên nhớ đến câu nói của người đời "phàm thằng chồng nào không làm chủ được ban đêm cũng không làm chủ nổi ban ngày".

    Một ngày nọ, khi Nguyên đang lom khom mở khóa phòng, nó nhìn thấy một thanh niên người Việt Nam khoác vai một cô gái Ba Lan khá xinh xắn đi vào phòng bên cạnh. Trong lúc mải miết dán chặt ánh mắt thèm thuồng lên đôi vòng ba tròn vo đang nẩy tanh tách của cô gái, Nguyên nghe thằng kia liến thoắng tiếng Ba Lan. Chắc hắn là sinh viên. Hơn năm trời chay tịnh, Nguyên cũng khát khao lắm chứ, người chứ có phải gỗ đá đâu. Đêm ấy Nguyên cố tình mở toang cửa sổ để đón nhận những âm thanh đầy khêu gợi từ phòng bên cạnh vọng sang. Chẳng phải chờ lâu, chỉ độ nửa tiếng sau tiếng huỳnh huỵch dội trên sàn, rồi tiếng giường lắc, tiếng rên, tiếng thở gấp gáp... Người Nguyên rạo rực lên xuống theo cường độ âm thanh từ phía ấy. Nguyên nhận biết khoảng nghỉ giữa mỗi hiệp đấu qua sự tĩnh lặng. Chỉ có tiếng bật nút chai, tiếng chạm ly, tiếng thì thầm, xen lẫn tiếng cười rinh rích. Sau lần thượng đài thứ hai của mặt trận bên kia, Nguyên bắt đầu cảm thấy chán, mặt mũi nó phờ phạc, hai mắt đỏ ngầu. Nguyên muốn đi ngủ nhưng nào có ngủ được. Trong cơn tức giận Nguyên chồm dậy lao về phía bức tường, hai tay đấm thình thịch. Thinh không chỉ lắng dịu ít phút rồi lại sôi lên sùng sục. Nguyên chạy ra cửa sổ gào lên "tiên sư mấy con ngựa hoang, vừa phi vừa hí thế kia, bố mày ngủ làm sao được…". Như trêu tức Nguyên, những âm thanh nó vừa ném ra lại dội ngay trở lại nơi nó đứng như chiếc boomerang. Nguyên chong mắt nằm đếm. Gần sáng miệng nó lẩm bẩm "Mẹ kiếp! cái thằng ngực mỏng như gián ấy lấy đâu ra sinh lực mà làm được tới bốn chiếc lận".

    Mấy hôm sau Nguyên xách chiếc vali chuyển đến căn phòng trên phố Bagno mà nó vừa thuê được. Không thể gần trung tâm hơn được nữa bởi chỗ này đúng là trung tâm của Warszawa. Chính từ căn nhà này Nguyên bắt đầu bước chân vào vận hội làm ăn mới với quy mô ngày càng lớn. Lúc này Ba Lan như bị hút xuống đến tận cùng đáy vực của vòng xoáy khủng hoảng. Xã hội chia rẽ, đình công xảy ra khắp mọi nơi, tỉ lệ thất nghiệp cao, lạm phát phi mã với tốc đô chóng mặt, cửa hàng trống trơn... Mặc dù có nhiều tiền nhưng trong hoàn cảnh bi đát đó Nguyên cũng cảm thấy hoang mang. Nó không thể biết tình hình này sẽ kéo dài bao lâu và trôi về đâu? Suốt nửa năm trời Nguyên không tìm đâu ra một hạt gạo, một cọng mì. Nó phải tập thích nghi bằng cách làm quen với những món ăn đơn giản nhất làm từ bánh mì và khoai tây. Đến rau cũng trở nên khan hiếm, miệng nó loét vì nhiệt.

    Thực trạng Ba Lan như đang đẩy hai khối nhiên liệu uranium đến tới hạn của một vụ nổ hạt nhân. Trước sức ép mạnh mẽ của dư luận, của các trào lưu xã hội, chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Ba Lan dưới sự lãnh đạo của Đảng Công Nhân Thống Nhất buộc phải chấp nhận "hội nghị bàn tròn" với Công Đoàn Đoàn Kết và đồng ý tổ chức bầu cử dân chủ vào quốc hội và thượng viện. Ngày 17 tháng 4 năm 1989 tòa án thành phố Warszawa phải cấp lại ghi danh pháp lý cho Công Đoàn Đoàn Kết và chấp nhận cho tổ chức này hoạt động công khai và hợp pháp sau gần bẩy năm bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 04 tháng 6 năm 1989 trong cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên, Công Đoàn Đoàn Kết giành thắng lợi lớn. Công Đoàn Đoàn Kết cùng các lực lượng đối lập là Đảng Nông Dân Thống Nhất và Đảng Dân Chủ đứng ra lập chính phủ liên hiệp. Tháng 12 năm 1990 Lech Wałęsa lãnh tụ Công Đoàn Đoàn kết trở thành tổng thống. Chính quyền mới tiến hành chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường tự do. Ba Lan bắt đầu ra khỏi khủng hoảng, vượt qua những khó khăn về kinh tế và dần dần trở thành một quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển cao. Nguyên vô tình được làm nhân chứng sống chứng kiến sự hồi sinh và phát triển đến chóng mặt của xã hội Ba Lan. Từ chỗ các cửa hàng trống trơn không có gì để mua, chỉ sau nửa năm hàng hoá đủ loại tràn ngập mọi nơi. Người dân hân hoan đón chào cuộc sống mới.

    Sự kiện lực lượng tự do dân chủ Ba Lan lên nắm chính quyền một cách hoà bình làm rung chuyển toàn bộ khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Cuộc chuyển đổi chế độ chính trị như một con sóng lớn lan nhanh qua từng nước, từ Ba Lan sang Tiệp Khắc, đến Hungari, qua Đông Đức tới Bungari, Albani. Nhưng khó khăn nhất, đẫm màu nhất là cuộc nổi dậy của nhân dân Rumani chống độc tài Ceausescu. 5000 người bị tàn sát tại thành phố Timisoara và ngay sau đó là cuộc hành quyết không qua xét xử hai vợ chồng nhà độc tài. Quãng thời gian này Nguyên háo hức đón chào biến cố thay đổi dân chủ diễn ra lần lượt qua từng nước, từng nước Đông Âu.

    Mới chỉ hơn một năm trước Nguyên còn là một đảng viên thấm đẫm tinh thần quốc tế vô sản, cuồng nhiệt cổ vũ cho sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Nhưng từ khi được chứng kiến thực trạng chính trị, kinh tế, xã hội Ba Lan cũng như một số nước Đông Âu khác, thế giới quan trong con người Nguyên gần như thay đổi hoàn toàn. Nguyên không còn cực đoan khi nhìn nhận thế giới vận động và phát triển trên nền tảng tư tưởng như trước nữa.

    Đây thực sự là một bước chuyển biến sâu sắc trong Nguyên về nhận thức, về quan điểm, về tư tưởng. Nguyên sinh ra trong một gia đình "cách mạng kiểu mẫu" có bố hoạt động "Việt minh bí mật" từ thời tiền khởi nghĩa. Cả nhà Nguyên không tính dâu rể có tới chín đảng viên (trong đó có Nguyên) đủ để thành lập một chi bộ mạnh. Ngay từ bé, lý tưởng Cộng Sản từ những người thân trong gia đình thấm dần vào Nguyên. Cậu bé Nguyên từng rơi nước mắt khi nghe tin Tổng Thống Agiende ở Chi Lê hy sinh trong cuộc đảo chính do Pinoche cầm đầu. Chàng trai Nguyên từng coi Phiden Castro, Cheguevara, Nguyễn Văn Trỗi… như những thần tượng của đời mình. Thanh niên Nguyên từng say sưa đọc những tác phẩm gối đầu giường như Ruồi Trâu, Thép đã tôi thế đấy, Bất Khuất… Sinh viên Nguyên từng vùi đầu nghiên cứu Tư Bản Luận của Các Mác, Tuyển Tập Lê Nin, Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học…Nguyên từng tin tưởng tuyệt đối vào sự thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa Cộng Sản, từng tin tưởng vào thế giới đại đồng mà ở đó "Của cải nhiều như không khí/ Cảnh vật như thần tiên/ Con người như thánh hiền". Vậy mà những điều Nguyên tận mắt được chứng kiến lại không đúng như thế.

    Năm 1991 Nguyên lần đầu đặt chân lên đất nước Liên Xô vĩ đại thành trì của chủ nghĩa xã hội, nó nhìn thấy "thành quả" của công cuộc hoàn thành xây dựng "chủ nghĩa xã hội phát triển" đang tiến lên xây dựng "chủ nghĩa Cộng Sản". Nguyên đã có dịp đặt chân đến một số nông trang tập thể với những tên gọi rất kêu như "Con Đường Sáng", hay "Con Đường Tiến Lên Chủ Nghĩa Cộng Sản”... Trên đất nước Ucraina, khi đi qua những nơi từng ghi dấu ấn của Paven Coocsaghin, Nguyên thấy rất nhiều mảnh đời lam lũ hiện lên trên từng gương mặt nhầu nhĩ khắc khổ của những người nông dân. Các căn nhà gỗ xiêu vẹo, leo lét ánh đèn ven đường đập vào mắt Nguyên chẳng khác những gì Ostrovski từng ghi lại trong tác phẩm "Thép Đã Tôi Thế Đấy" từ hơn 70 năm trước. Nguyên hoang mang chới với, Nguyên mất niềm tin. Đâu là lối đi định hướng cho cuộc đời một đảng viên Cộng Sản đầy nhiệt huyết như Nguyên?

    Tháng Tám mùa Thu năm 1991, Nguyên trở về Việt Nam thăm song thân. Cả nhà quây quần mừng đón cậu con trai út lần đầu trở về sau ba năm biền biệt. Bên mâm cơm rất mực đầm ấm mọi người bỗng im lặng lắng nghe bản tin thời sự mới nhận được phát trên ti vi về cuộc đảo chính ngày 19/8 ở Liên Xô loại Gorbachov khỏi mọi quyền lực về mặt đảng cũng như chính quyền. Bản tin vừa dứt, những tiếng phân tích, tranh luận xung quanh biến cố bất ngờ này rộ lên. Bầu không khí trong căn phòng nhà Nguyên mỗi lúc một nóng và ngày càng sôi động. Hai chiến tuyến dần được thiết lập, song cục diện như đã được dự báo trước. Phái Bolshevik ủng hộ phe đảo chính gồm hai vị phụ huynh và tất cả các anh chị ruột cùng dâu rể, phái melshevik ủng hộ Gorbachov và Yeltsin chỉ đơn độc một mình Nguyên. Hai bên khẩu chiến không khoan nhượng. Nguyên dẫu thân cô thế cô vẫn đưa ra những lập luận sắc bén để bảo vệ quan điểm của mình. Xem ra xung đột chính trị là nguyên nhân dễ gây chia rẽ không những xã hội mà cả mỗi gia đình bé nhỏ. Ba Nguyên không làm sao thuyết phục được cậu con út, tức quá ông chỉ vào mặt Nguyên quát "Mày là đảng viên mà tư tưởng tha hoá đến thế à. Nếu mày vẫn giữ lập trường sai trái như vậy thì làm đơn ra khỏi đảng ngay lập tức. Đảng không cần những người như mày. Cút ngay!". Đạo làm con, làm em không cho phép Nguyên to tiếng cãi các bậc bề trên đến cùng. Trước nay Nguyên luôn là người con hiếu thảo nhưng lòng Nguyên đã định, không thể thay đổi được nữa. Nguyên ngồi đấy kìm nén sự ấm ức trào lên từng cơn trong cổ. Nguyên nhọc nhằn nuốt từng miếng cơm chan cùng nước mắt.

    Sau khi quay trở lại Ba Lan Nguyên đã "tự ý" bỏ sinh hoạt đảng. Nguyên "lặng lẽ" rời bỏ đội ngũ "tiên phong" từng một thời được nó coi là lẽ sống suốt đời. Song thật lạ! cho đến tận bây giờ sau mười mấy năm không đóng đảng phí, tên của Nguyên vẫn chưa bị gạch khỏi danh sách đảng viên. Không lẽ đảng vẫn không muốn ly hôn với nó, không lẽ đảng vẫn còn hy vọng vào một cuộc hoà giải. Nhưng Nguyên đã dứt khoát lựa chọn cho mình cách yêu quê hương đất nước như cha ông nó từng yêu từ hàng nghìn năm nay. Vốn là người rất mực chung tình, dù không còn đồng hành trên cùng một con đường, Nguyên không chọn đại bác, không chọn súng lục hay thậm chí chỉ là một viên đá để ném vào quá khứ. Nguyên nguyện suốt đời không bao giờ "đái" vào cái "bình sữa" đã từng một thời nuôi dưỡng nó thành người.


    Phần 3: Từ nhãn "Lưu Vong" đến mác "Việt Kiều"


    Ký ức trong Nguyên về Warszawa dưới chính thể Cộng Sản là một thành phố trống rỗng, xám xịt và không một chút tráng lệ. Warszawa khi đó hầu như không có nhà chọc trời, ngoại trừ một khối kiến trúc nặng nề mang đậm bản sắc Xô Viết là Palac Kultury (Cung Văn Hóa) tọa lạc ngay tại điểm zero của trung tâm thành phố. Palac Kultury trông như bản sao của toà nhà trường Đại Học Lomonosov ở Mockva. Toà nhà to lớn mà thô thiển này được đưa vào hoạt động năm 1955 cao 230 mét gồm 42 tầng với 3288 phòng. Đây là quà tặng của Stalin cho nhân dân Ba Lan sau chiến tranh như một sự sám hối về tội ác của chính ông ta đã gây ra trong vụ thảm sát Katyn và vụ mượn tay Hít Le dìm cuộc khởi nghĩa Warszawa tháng 7 năm 1944 trong biển máu. Tương phản với khối kiến trúc đồ sộ, kém hiệu quả và nặng về hình thức của Palac Kultury là Dworzec Centralny (Nhà Ga Trung Tâm) với kiến trúc xây dựng đơn giản, hiện đại và đầy tính hữu dụng. Dworzec Centralny đưa vào hoạt động năm 1975 có tám làn đường sắt chạy ngầm dưới đất được xây dựng bằng nguồn tiền vay với lãi suất ưu đãi của chính phủ Mỹ từ thời cố Tổng Bí Thư Gierek. Hệ thống giao thông công cộng của Warszawa lúc đó chủ yếu dựa trên mạng lưới tầu điện và xe buýt. Dù phương tiện cũ kỹ và không đẹp mắt nhưng rất tiện lợi cho việc đi lại. Tuyến tầu điện ngầm đầu tiên đang xây dựng nhưng do thiếu vốn nên vẫn ngổn ngang. Lưu thông trên đường phố chủ yếu là những loại ô tô do Ba Lan sản xuất như Maluch, Polonez, Fiat 126…rất hiếm khi nhìn thấy xe hơi có xuất xứ từ các nước tư bản phát triển.

    Họa hoằn lắm Nguyên mới nhìn thấy người Việt Nam lẫn trong các cư dân của thành phố. Những nơi người Việt Nam thường lui tới thời đó chỉ đếm trên đầu ngón tay, vài địa điểm quen thuộc như nhà ga trung tâm, chợ trời Skra, chợ trời Targowa, một số khu ký túc xá trường Đại Học Tổng Hợp, Bách Khoa và cuối cùng là Đại Sứ Quán…

    Bắt đầu từ đầu những năm 1980, du học sinh Việt Nam nhất là nghiên cứu sinh mới chập chững bước vào con đường buôn bán. Họ khởi đầu buôn từ chiếc kimono, áo phin thêu tay đến vòng xương, lắc tay và gửi về Việt Nam từ những chiếc máy khâu Singer cũ kĩ đến xấp vải tuytsi len. Khởi nguồn quy mô kinh doanh của họ rất nhỏ bé. Họ phải tiết kiệm từng đồng vốn nên phương tiện di chuyển trong thành phố chủ yếu dựa vào các phương tiện công cộng. Ngồi taxi hồi đó là một sự xa xỉ. Di chuyển xa ngoài Warszawa phương tiện duy nhất là tầu hoả. Đi các tuyến địa phương nội địa họ thường lên từ Ga Trung Tâm. Đi các tuyến quốc tế vì phải xếp hàng lên tàu nên họ thường lên từ ga gốc cho chắc ăn. Nếu đi Liên Xô lên từ Ga Tây, nếu đi Đức lên từ Ga Đông. Xuống tàu thì tùy, nhà gần ga nào xuống ga đó. Ngày xưa thời đế quốc La Mã có câu châm ngôn nổi tiếng "mọi con đường đều dẫn đến Roma", thời kỳ kinh doanh còn sơ khai, dân nghiên cứu sinh ở Ba Lan cũng có câu châm ngôn "mọi ngả đường buôn lậu đều dẫn đến sân ga".

    Năm Nguyên mới sang Ba Lan, Đại Sứ Quán Việt Nam là một toà nhà ba tầng rất rộng nằm trong khuôn viên khoảng hơn năm nghìn m2 trên phố Kawalerii. Từ cổng Đại Sứ Quán ra đến cổng công viên Lazienka đẹp nổi tiếng Warszawa chỉ khoảng hai trăm mét. Ít có Đại Sứ Quán nước nào ở Warszawa nằm trên vị trí đẹp hơn thế. Nơi đó vừa có rừng, vừa có sông, vừa kín đáo, vừa thơ mộng trong một khung cảnh thiên nhiên yên tĩnh đẹp như một bức tranh. Chỉ tiếc một điều là toà nhà Đại Sứ Quán lại được xây đơn điệu, vuông vắn, lát đá màu xám nhạt nên trông buồn tẻ, lạnh lẽo không hợp với nền đẹp như mơ của khung cảnh trữ tình, lãng mạn. Vào những năm khốn khó, cái chốn bồng lai tiên cảnh một phần thiêng liêng của tổ quốc ấy có rất ít người Việt Nam "dám" đặt chân đến. Tuỳ vào hoàn cảnh, mỗi người "ngại" sứ quán theo một kiểu. Thời gian đó giữa cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với các con dân mà họ có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi ít có sự gần gũi, thân thiện. Thật cần thiết người ta mới đủ "can đảm" để mon men đặt chân đến nơi ấy.

    Vào những năm 80 trở về trước, Warszawa có hai cái chợ trời mà người Việt Nam hay đặt chân tới. Một cái là chợ trời Sân Vận Động Skara chỉ họp mỗi tuần một phiên vào ngày Chủ Nhật. Cái chợ Skara này hoạt động đúng theo nghĩa chợ trời. Trên là trời (không có mái che) dưới bày đủ các loại đồ cũ. Có lẽ vì nó nằm gần khu ký túc xá của trường Đại Học Bách Khoa trên phố Grojecka và của trường Đại Học Tổng Hợp trên phố Zwirki i Wigury vốn là hai nơi tập trung nhiều du học sinh Việt Nam nên mỗi Chủ Nhật người Việt Nam thường dạo ra đó để nhìn nhau cho đỡ…nhớ và hy vọng múc được món hàng cũ có thể đánh về Việt Nam kiếm chút lời như máy khâu Singer chẳng hạn. Chợ trời Targowa nằm bên kia sông Wisla lại hoạt động cả tuần. Ở chợ này người ta bán các loại hàng mới, hàng giả nhãn mác. Đây chính là đầu mối cung cấp hàng dởm đủ loại cho thị trường "xã hội chủ nghĩa phát triển" Liên Xô. Bây giờ nghĩ lại vừa buồn cười, vừa thương xót cho những người anh em Xô Viết. Các thứ hàng bày bán ở đây gồm quần bò nhái, đồng hồ điện tử, ví nhựa lồng hình con gái, kính râm thời trang, thắt lưng giả da, đồ mỹ phẩm rẻ tiền... trông y chang đồ chơi trẻ con. Hàng hoá mua ở đây được đóng vào vali hành lý xếp lên tàu hoả liên vận quốc tế để chuyển về phương Đông. Những phi vụ buôn hàng theo người ngồi tàu chỉ như muối bỏ bể, như mưa phùn rải trên vùng đất khát sa mạc có tên gọi "Liên Xô vĩ đại". Thời bấy giờ hộ chiếu công vụ và hộ chiếu đóng dấu AB của Việt Nam được phép đi lại dễ dàng giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Thế nên vào lúc đó có rất nhiều cán bộ đi công tác nước ngoài, đi chuyên gia ở Châu Phi, nhân viên sứ quán ở Đông Âu và Liên Xô tranh thủ quá cảnh sang Ba Lan để gia nhập "đội du kích đường sắt" chuyên vận chuyển những thứ hàng nhái, hàng dỏm sang Liên Xô bán kiếm lời.

    Trước năm 1990, người Việt Nam tại Ba Lan tương đối thuần khiết với số lượng hạn chế. Hầu hết trong số họ đi du học dưới ba dạng là lưu học sinh, nghiên cứu sinh và thực tập sinh. Lứa du học sinh Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Ba Lan vào niên học 1957/1958. Đến niên khoá 1972/1973 số lượng du học sinh Việt Nam tại Ba Lan đạt đến đỉnh cao với hơn 800 người. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc số lượng du học sinh đến Ba Lan giảm dần. Từ những năm thập kỷ 80, theo hiệp định hỗ trợ đào tạo được ký kết, hàng năm Ba Lan cấp học bổng đào tạo cho khoảng 50 du học sinh Việt Nam, trong đó lưu học sinh 25 người, nghiên cứu sinh 15 người và thực tập sinh 10 người. Cùng trong thời gian đó ngoại trừ ba nước xã hội chủ nghĩa thân Trung Quốc như Rumani, Nam Tư và Albani, hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu và Liên Xô đều ký hiệp định hợp tác lao động với Việt Nam. Trong số đó duy chỉ có Ba Lan và Hungari không nhận lao động người Việt Nam. Chính vì vậy người Việt Nam ở Ba Lan ít hơn rất nhiều lần so với các nước xung quanh như Liên Xô, Đức, Tiệp và Bungari. Thời đó người Việt Nam rất hiếm khi có cơ hội nhìn thấy nhau ở những nơi công cộng nhưng bù lại hầu như họ đều quen biết nhau. Ngoài số du học sinh chiếm phần lớn, số rất ít còn lại là những người trong đội học nghề nuôi ong tại Gdynia và đội học nghề bảo tồn di tích cổ tại Lublin. Mãi đến năm 1989, một công ty tư nhân của Ba Lan mới xin được giấy phép tuyển dụng 160 thợ may nữ từ Việt Nam sang làm việc tại Uniejow ngoại vi thành phố Lodz.

    Số lượng người Việt Nam ở Ba Lan đã ít nhưng số người Việt Nam có giấy tờ hợp pháp do nhà nước Ba Lan cấp lại càng hiếm hoi hơn nữa. Chính vì vậy khái niệm Việt Kiều hay cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan hầu như chưa được thừa nhận. Cư dân Việt Nam đầu tiên định cư ở Ba Lan từ năm 1956 là một bà tên M trước làm diễn viên đoàn kịch nói Hải Phòng bạn cùng lứa với nữ nghệ sĩ Lê Mai (mẹ của Lê Vân, Lê Khanh, Lê Vy). Năm 1989 khi bà Lê Mai sang thăm bà M ở Warszawa, Nguyên có dịp được gặp hai bà. Bà M lúc đó đã ngoài 50 nhưng trông vẫn còn sắc nét lắm. Bà M lấy chồng là sĩ quan quân đội Ba Lan trong Uỷ Ban Quốc Tế Giám Sát Hiệp Định Giơ Ne Vơ. Năm 1969 một phụ nữ gốc Huế em họ của Nam Phương Hoàng hậu sống ở Sài Gòn tình cờ gặp một chàng trai là phóng viên người Ba Lan trong một hội nghị quốc tế. Câu chuyện tình yêu rất cảm động của họ do chính cô con gái sau này làm tổng biên tập tạp chí thời trang hàng đầu thế giới Elle tại Ba Lan kể lại trên tạp chí Elle mà Nguyên vô tình được đọc. Khoảng năm 1974 có một phụ nữ tên Đ lấy chồng là sĩ quan Ba Lan trong Uỷ Ban Quốc Tế Giám Sát Hiệp Định Pari. Còn một số phụ nữ Việt Nam khác như chị K ca sĩ đoàn nghệ thuật tỉnh Nghệ Tĩnh, chị H làm việc tại cửa hàng Intershop Tràng Tiền Hà Nội…cưới rồi theo chồng là những chuyên gia Ba Lan công tác tại Việt Nam về Ba Lan sinh sống.

    Trước năm 1980, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, cũng như ở Liên Xô và các nước Đông Âu khác, du học sinh Việt Nam tại Ba Lan bị cơ quan đại diện ngoại giao và các tổ chức đoàn thể quản lý, giám sát hết sức ngặt nghèo. Hộ chiếu của họ ngay khi đến Ba Lan đã bị thu giữ. Họ bị cấm triệt để chuyện yêu đương trai gái, không được tự do ra phố, đi xem phim ảnh và đến vũ trường... Nếu có việc cần thiết bên ngoài khu vực ký túc xá, trường học phải có cán bộ quản lý đi theo, hoặc phải có ít nhất ba người đi cùng để giám sát lẫn nhau. Thời gian đó Ba Lan được tiếng tự do nhất trong các nước xã hội chủ nghĩa, tuy vậy chế độ quy định về việc quản lý du học sinh của nhà nước Việt Nam ở đâu cũng như nhau. Mặc dù phải chịu sự giám sát chặt chẽ như vậy, vẫn có một số du học sinh "vượt rào" trốn ở lại sau khi tốt nghiệp. Số người không về Việt Nam sau khi tốt nghiệp bị nhà nước và dư luận xã hội lúc đó dán cho cái nhãn đầy tủi nhục là "Lưu Vong".

    Trong khi cuộc sống của những cô con dâu người Việt Nam tương đối ổn định và yên bình, dựa trên đồng lương khá cao của các ông chồng sĩ quan hay chuyên gia thì cuộc sống của những chàng rể người Việt Nam ở Ba Lan lại rất cơ cực. Một mặt họ phải bươn chải làm đủ thứ nghề vất vả thu nhập thấp vừa để tồn tại, vừa nuôi vợ con; một mặt họ phải trốn tránh sự truy nã của sứ quán. Đầu những năm 70, người dân Warszawa lạ lẫm nhìn theo một thanh niên người châu Á nhỏ thó, tóc đen ngồi sau tấm kính chắn gió, lái tầu điện trên những nẻo đường ray của thành phố. Đó là anh V người trong lứa đầu tiên vượt rào lấy vợ Ba Lan. Anh T, anh H, anh Q…hàng ngày chui hầm lò đua sức với những người thợ bản xứ to cao lực lưỡng để cuốc than. Nhiều kĩ sư, cử nhân phải làm việc trên cánh đồng quê vợ như người nông dân thực thụ. Còn rất nhiều những mảnh đời tủi nhục khốn khó khác mà Nguyên được chứng kiến. Một lần Nguyên đang đứng trên sân ga, có một người Châu Á mắt xếch tiến lại gần giọng đầy xúc động hỏi:

    - Thưa, Anh có phải người Việt Nam không ạ?

    Nguyên nói:

    - Phải, tôi là người Việt Nam.

    Lúc đó anh kia xin được cầm tay Nguyên lắc mạnh. Trên đôi gò má khắc khổ của anh, hai hàng lệ ứa ra từ hốc mắt chảy dài. Anh nói trong tiếng nghẹn ngào:

    - Tôi cũng là người Việt Nam đây, nhưng đã gần hai mươi năm tôi chưa được nghe dù chỉ một câu tiếng Việt. Tôi trốn ở lại lấy vợ Ba Lan, không có một thứ giấy tờ tùy thân do Việt Nam cấp, từ đó tôi sống hoàn toàn cách biệt với những người đồng hương. Tôi ở một vùng hẻo lánh quê vợ làm nghề đẽo tượng thánh bằng gỗ, bán ở các chợ nhỏ nông thôn. Cơ cực lắm anh ạ!

    Những người Việt nam ở lại lấy vợ Ba Lan thường là sinh viên. Nhiều người trong số họ bước vào cuộc sống hôn nhân từ khi còn rất trẻ. Việc họ phải lấy vợ sớm có nhiều lý do. Trước hết, họ nương tựa vào phía Ba Lan để hợp pháp hoá cho việc ở lại. Sau nữa, họ phải cưới vợ vì lỡ sa chân vào những mối tình chớp nhoáng với các cô gái tóc vàng.

    Nguyên có hai thằng "đệ" sinh viên. Ngày còn ở Việt Nam chúng nó là niềm tự hào không những của dòng tộc mà của cả huyện, cả tỉnh. Hai thằng đều là "dân trường chuyên" có tiếng ở Việt Nam, chúng lần lượt giành các giải thưởng danh giá dễ như cởi truồng "bơi chó" qua cái ao trước cửa sân đình. Chúng tuy học rất giỏi nhưng đều tụt xuống từ lưng trâu. Đặt chân đến Ba Lan đúng vào lúc cơ thể rừng rực sức xuân của một con đực vừa mới hoàn thiện, lại chuyển đổi cơ chế từ "đói góp" sang "no dồn" thế nên chúng nó "đành lòng vậy, cầm lòng vậy" sao được mỗi khi nhìn thấy gái Tây. Một lần Nguyên vừa nấu xong bữa tối chưa kịp ăn thì nghe tiếng gõ cửa dồn dập. Mở cửa ngó ra Nguyên thấy hai thằng em đang đứng cùng hai con Tây trẻ măng. Nguyên xua tay ra chiều từ chối rồi sập ngay cửa lại. Một thằng đẩy mạnh cửa bước vào phòng, chắp tay lạy Nguyên như tế sao:

    - Anh ơi! Thương tụi em với, anh mà không cho vào thì tụi em biết "chiến" ở đâu.

    Nguyên vẫn lắc đầu:

    - Gái với chả mú, "chiến" ở đây để "đen" hết vía nhà tao à.

    Nguyên vẫn dứt khoát. Thằng kia nói:

    - Anh ơi! Em thề với anh rằng chúng nó là học sinh, không phải mấy con "dziwka" đâu.

    Nguyên vẫn không nhượng bộ:

    - Sao chúng mày không rước về ký túc xá?

    Thằng kia nói gần như khóc:

    - Về đấy rồi nhưng bà thường trực dứt khoát không cho vào.

    Thấy thằng đệ ruột một thời sinh tử cùng nhau van nài mãi, Nguyên cũng thương, nó tặc lưỡi:

    - Thôi chúng mày vào đi nhưng không được qua đêm đấy nhé.

    Chưa kịp ăn uống gì, Nguyên giao nhà lại cho bốn đứa rồi lang thang ra trung tâm mua vé vào rạp xem phim. Chừng nửa đêm nghĩ tụi kia chắc "chiến" đã xong, Nguyên trở về nhà. Lúc đập cửa nó thấy một thằng mặc mỗi cái chíp trên người thò đầu ra nhăn nhở:

    - Anh đi đâu chừng tiếng nữa quay lại được không?

    Mẹ kiếp! Tụi nó quần nhau bao nhiêu hiệp rồi không biết nữa. Nguyên phờ phạc vì lang thang mấy tiếng ngoài đường nhưng biết làm gì được, nó lại ra quán rượu gần đó ngồi gà gật thêm mấy ly. Độ tiếng rưỡi sau, Nguyên trở về nhà với thái độ rất dứt khoát, nó mệt quá rồi, không lẽ lại ngủ ngoài Ga với mấy thằng nghiện hút. Nhưng lần này chúng nó không đuổi Nguyên đi nữa, hai con kia cũng biến đâu mất dạng rồi. Nhà Nguyên lúc đó như một bãi chiến trường. Ga đệm nhàu nát, nhầy nhụa, loang lổ. Bát đĩa, xoong nồi, vỏ chai bia lỏng chỏng. Tủ lạnh sạch trơn không còn thứ gì ăn được. Nguyên vừa đói, vừa mệt, vừa buồn ngủ. Nó đổ vật xuống sàn nằm thở. Trong lúc hai thằng "đệ" dọn rửa, Nguyên hỏi:

    - Hai con kia bắt ở đâu ra.

    Tụi nó tranh nhau kể:

    - Có bắt gì đâu anh, hai con đó con nhà lành, mới lớn, thích đú đởn rượu, bia, thuốc lá chứ không cần tiền.

    Một thằng còn khoe:

    - Chúng đang là học sinh trung học chưa đầy mười sáu tuổi, anh ạ.

    Nguyên nghe xong lạnh gáy chửi:

    - Mẹ chúng mày, ngu thế! Chơi gì thì chơi, không để cửa mà sống, chưa đủ tuổi vị thành niên mà bọn mày dám ru vào đời, có ngày tù mọt gông.

    Một thằng nhăn nhở:

    - Chúng nó ru bọn em vào đời thì có, chính hai con nhỏ "bóc tem" bọn em chứ không phải ngược lại đâu nhá.

    Lâu không gặp lại, chừng hai năm sau Nguyên nghe tin hai thằng "đệ ruột" của "cái đêm hôm đó, đêm gì?" đã bỏ học để kiếm tiền nuôi con. Thế là hai dòng họ lam lũ ở Việt Nam đã mất đi hai niềm tự hào mà hàng trăm năm nay họ mới loé lên niềm hy vọng được mở mặt với đời.

    Tuy không nhiều nhưng số lượng du học sinh đào thoát ngày càng tăng lên, trong số họ có nhiều người lấy vợ, lấy chồng là người Ba Lan. Bắt đầu từ lứa đầu tiên khoảng năm 1970, hai mươi năm sau đã có hàng trăm du học sinh Việt Nam ở lại Ba Lan định cư. Số người Việt Nam "Lưu Vong" này dần dần nhận được giấy tờ hợp pháp từ phía Ba Lan. Vai trò của họ trong đời sống kinh tế, xã hội Ba Lan và Việt Nam ngày càng được khẳng định.

    Do nhu cầu hợp tác và hỗ trợ trong cuộc sống trở nên cấp thiết, tháng 4 năm 1986 những cựu du học sinh đã liên kết với nhau thành lập Hội Văn hoá và Xã hội người Việt Nam tại Ba Lan. Đây là tổ chức có tư cách pháp nhân đầu tiên của những người Việt Nam mà trước đó ít lâu còn mang tiếng "Lưu Vong". Sự kiện này đánh dấu một chương mới đầy ý nghĩa đối với những người Việt Nam ở lại Ba Lan hợp pháp, từ đây trên mọi phương diện của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội cái mác Việt Kiều mới chính thức được thừa nhận và đề cao.


    Phần 4: Thị trường trung chuyển


    Thời kỳ trước năm 1995 hệ thống kinh tế ngầm của người Việt Nam tại Liên Xô gắn bó chặt chẽ với hệ thống kinh tế ngầm của người Việt Nam tại Ba Lan. Lúc đó top ten "Soái" Liên Xô chưa thể so được với top ten "Soái" Ba Lan cả về tiếng tăm lẫn mức độ giàu có. Từ năm 1985 đến năm 1994 bất kể người Việt Nam nào ở Liên Xô có mối quan hệ họ hàng hay bạn bè thân thiết với những "người đương thời" ở Ba Lan là có "điều kiện cần" cơ bản để làm ăn quy mô lớn và làm giàu nhanh chóng. Phải nói một cách công bằng, người Việt Nam ở Ba Lan không hề giỏi hơn những người đồng hương của mình ở Liên Xô. Thực ra đã là dân nước Việt, tự nhận con rồng cháu tiên đều chui ra từ cái bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, thế nên tài năng lẫn tính cách của đám con cháu "đồng bào" ấy ở đâu cũng như nhau.

    Không phải ngẫu nhiên Ba Lan bỗng dưng trở thành thị trường trung chuyển hàng hóa cho Liên Xô trong thế giới ngầm của người Việt. Thứ nhất, vị trí của Ba Lan nằm ở Trung Âu trên đường nối thị trường Phương Tây với thị trường Liên Xô. Thứ hai, người Ba Lan rất giỏi buôn bán. Thứ ba, người Ba Lan có mạng lưới buôn bán toàn cầu. Theo số liệu thống kê chính thức, có 21 triệu người Ba Lan sống tại 126 nước trên thế giới so với 38,1 triệu người sống trên chính mảnh đất quê hương của họ. Nếu tính về tỉ lệ, người Ba Lan sống ngoài lãnh thổ của mình chỉ sau người Do Thái. Chính từ những lý do đủ cả thiên thời, địa lợi, nhân hòa ấy mà người Việt ở Ba Lan suốt một thời gian dài được làm cầu nối trung chuyển cho thị trường "nước lớn" Liên Xô.

    Liên Xô thời đó tuy là cường quốc hàng đầu thế giới nhưng do nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung cao độ, không có tính cạnh tranh nên hàng hóa tiêu dùng đã thiếu thốn trầm trọng lại thấp kém về chất lượng, nghèo nàn về chủng loại, đơn điệu về mẫu mã. Hàng hóa xa xỉ, chất lượng cao tuyệt nhiên vắng bóng trên thị trường. Tuy nhiên nhu cầu về những thứ không được khuyến khích đó trong xã hội Xô Viết vẫn cứ phát sinh, thậm chí không hề ít. Rõ ràng có một nghịch lý trong nền kinh tế chỉ huy phi thị trường: Càng cấm càng hiếm, càng hiếm càng đắt và tất nhiên càng đắt lãi suất càng cao. Tóm lại là "đục nước béo cò".

    Thời bấy giờ không ở đâu trên thế giới này việc kinh doanh buôn bán lại có thể tạo ra lợi nhuận cao như "con đường tơ lụa" Ba Lan – Liên Xô. Rất nhiều mặt hàng, rất nhiều vòng quay đạt tỉ suất lợi nhuận lên tới 100%, thậm chí 200%. Lý luận của Mác nhiều chỗ phải xem lại tính đúng đắn nhưng riêng cái đoạn Mác mô tả ý chí làm giàu của các nhà tư sản thì không sai chút nào. Mác viết "nếu tỉ suất lợi nhuận đạt đến 100% nhà tư sản như sôi lên sùng sục, nếu đạt đến 200% nhà tư sản không có việc gì không dám làm và khi đạt tới 300% nhà tư sản sẵn sàng treo cả cổ mình lên". Nhận định này của Mác rất đúng với việc kinh doanh của người Việt Nam ở Ba Lan và Liên Xô trong thời kỳ đó. Bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu thử thách, bao nhiêu hiểm nguy vẫn không thể ngăn nổi ý chí kiếm tiền của họ trong thời "tích lũy nguyên thủy" này. Từ đây nhiều doanh nhân người Việt được đặt lên bệ phóng để cất cánh, để thành đạt, để ghi danh tên tuổi trong số những người giầu nhất ở Việt Nam hiện nay, như Phạm Nhật Vượng (tập đoàn Vincom), Đoàn Quốc Việt (Air Mekong), Nguyễn Cảnh Sơn (Euro Window, Me Linh Plaza), nhiều ông chủ ngân hàng TechcomBank, VIBBank, VPBank, OCBBank, GPBank...

    Từ năm 1982 du học sinh Việt Nam tại Ba Lan bắt đầu cung cấp cho thị trường Liên Xô một số chủng loại hàng tiêu dùng. Những thứ hàng hoá này chủ yếu được vận chuyển theo con đường "tiểu ngạch" bằng tầu liên vận quốc tế. "Đánh nhỏ" với quy mô vài vali hay vài thùng carton dưới dạng hành lý theo người có hộ chiếu phổ thông (thẻ xanh). "Đánh lớn" với quy mô hàng chục carton chất đầy cả khoang tàu nằm, coi như hành lý theo khách VIP có hộ chiếu ngoại giao được quyền miễn trừ kiểm soát hải quan (thẻ đỏ). Thời kỳ này những ai thiết lập được mạng lưới vận chuyển hàng hoá bằng hệ thống "thẻ đỏ" người đó có nhiều cơ hội trở thành "Soái". Danh từ Soái không biết từ đâu ra nhưng ở giai đoạn khốn khó của chủ nghĩa xã hội trước khi sụp đổ có tính hệ thống, Soái là danh hiệu "cao quý" mà dư luận ngưỡng mộ phong tặng cho các doanh nghiệp người Việt Nam ở Đông Âu sở hữu số vốn từ 50 nghìn đô la trở lên. Bây giờ nghe số tiền này nhiều người cười thầm cho là nhỏ nhoi. Nhưng cách đây 25 năm số tiền đó là cả một gia tài lớn không những ở Việt Nam mà còn ở các nước Đông Âu và Liên Xô.

    Trong số những hàng hoá cung cấp cho thị trường Liên Xô, mặt hàng chiến lược gọn nhẹ, giá trị cao, lợi nhuận lớn là đồng hồ điện tử hiện số, nhạc chuông. Đường đi của những chiếc đồng hồ điện tử có giá dưới 1USD/chiếc khởi đầu từ Hồng Kông trung tâm hàng giả lớn nhất thế giới, quá cảnh qua Cộng Hòa Áo rồi sang Ba Lan, sang Tiệp, sang Hungari. Thời kỳ chủ nghĩa xã hội chưa sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô, mọi hành vi buôn bán với quy mô lớn không qua thương nghiệp nhà nước đều bị coi là buôn lậu. Từ Ba Lan đồng hồ điện tử được các "thẻ đỏ" áp tải sang Liên Xô trên những chuyến tầu liên vận quốc tế. Số lượng lên đến hàng chục nghìn chiếc mỗi chuyến.

    VIP "thẻ đỏ" vừa hiếm vừa chi phí cao nên chỉ được tận dụng để áp tải hàng "độc" như đồng hồ điện tử, vàng, đô la... Còn "thẻ xanh" giấu số lượng nhỏ trong hành lý mang theo người đủ loại từ hàng độc đến quần bò, kính, ví, thắt lưng, đồ mỹ phẩm… Hàng hoá từ Ba Lan chuyển sang Mockva lúc đó thường được đổ tại Dom 5 trên phố Dimitria Ulianova. Đây là toà nhà ký túc xá của nghiên cứu sinh và thực tập sinh nước ngoài thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô. Địa điểm thứ hai hay được nhắc đến sau Dom 5 là Thương Vụ Việt Nam tại Liên Xô. Đó là toà nhà cao tầng nằm kín đáo trong một khu dân cư cách ga metro Belaruskaya chưa đến một kilomét.

    Qui mô, chủng loại và tần suất những chuyến hàng đổ từ Ba Lan sang Liên Xô cứ tăng dần theo năm tháng, tăng dần theo tốc độ suy thoái của nền kinh tế Liên Xô. Lúc đầu là vài vali, vài thùng carton, tiếp đến là cả khoang nằm tầu hỏa, sau nữa là xe tải nhỏ và cuối cùng là xe tir, xe container. Thưở ban đầu chỉ có Dom 5, nhà Thương Vụ sau đó từ năm 1992 trở đi mọc thêm các Dom 5 (mới), Dom 11, ob Thủy lợi, ob Saliut 1, 2, 3...

    Liên Xô thời kỳ trước khi tan rã chịu ảnh hưởng nặng nề của lệnh cấm vận công nghệ cao từ các nước Phương Tây. Lúc đó tuy công nghiệp vũ khí và hàng không vũ trụ của Liên Xô chiếm thế thượng phong do được ưu tiên đầu tư, nhưng công nghiệp thông tin lại vô cùng lạc hậu. Thời bấy giờ hệ máy điện toán hiện đại nhất của Liên Xô là cỗ máy điện toán Minsk 32 cồng kềnh như một nhà máy, tốc độ tính toán thấp. Hệ máy điện toán này sử dụng thiết bị nhập dữ liệu dựa vào máy đục lỗ trên bìa vừa dễ nhầm lẫn, vừa khó khắc phục lỗi lại vừa tốn nhân công. Đầu những năm 80 sự xuất hiện máy điện toán cá nhân sử dụng hệ thống điều hành MS-DOS sau đó là Windows của Microsoft khiến cả thế giới lên cơn sốt. Giống như các nước công nghiệp phát triển khác, nhu cầu máy tính cá nhân ở Liên Xô rất lớn nhưng không thể nhập khẩu chính ngạch vì lệnh cấm vận. Hiểu được nhu cầu thị trường hết sức nhạy bén, các nghiên cứu sinh Việt Nam tại Ba Lan đã triển khai một chiến dịch cung cấp cho Liên Xô những chiếc máy tính cá nhân hệ 286, 386 được lắp ráp tại Ba Lan bằng linh kiện nhập khẩu từ Đài Loan, Nam Triều Tiên, Tân Gia Ba…

    Mỗi chiếc máy điện toán cá nhân mua tại Ba Lan lúc đó với giá chừng 3000 USD mang sang Liên Xô bán được 5000 USD rồi quy đổi thành vàng để chuyển trở lại Ba Lan. Một chu kỳ máy tính – vàng – máy tính kéo dài khoảng 2 tuần đem lại lợi nhuận hơn 100% cho người bỏ vốn. Vòng xoáy đầy ma lực này đã lôi cuốn nhiều du học sinh Việt Nam từ cả hai đầu Ba Lan và Liên Xô, khiến cho họ sao nhãng việc học hành để dấn thân vào con đường buôn bán chuyên nghiệp. Máy tính vận chuyển theo lộ trình từ Tây sang Đông lúc đó dựa trên phương tiện duy nhất là tầu hoả. Mỗi "thẻ xanh" áp tải hai bộ máy tính hoàn chỉnh, mỗi "thẻ đỏ" áp tải 16 bộ. Nguồn cung cấp máy tính lúc bấy giờ lấy từ một số doanh nghiệp lắp ráp mới thành lập của người Ba Lan. Lúc đó ở Warszawa có hai thương hiệu máy điện toán quen thuộc với người Việt, một là Hector nằm trên phố Gwiadzista, hai là Complex nằm trên phố Polaczynska. Trong khi hầu hết mọi người xếp hàng để giành giật nhau từng cái máy điện toán hiệu Hector thì tay Q bạn Nguyên chỉ từ một mẩu tin quảng cáo trên báo lại ung dung độc chiếm máy điện toán hiệu Complex. Thời gian đầu lúc chưa tham gia vào đường dây "đánh" máy điện toán sang Liên Xô, Q cưa đứt đục suốt chuyên làm dịch vụ cung cấp máy điện toán cho nhiều "Soái" và đội quân "du kích đường sắt". Mỗi máy tính chuyển thẳng từ xưởng lắp ráp đến Ga Tây, xếp lên tàu liên vận quốc tế đi Mockva, Q đút túi 150 USD. Thời gian sau Q nhanh nhạy huy động thêm tiền vốn từ mấy anh cán bộ thương vụ thân quen để "đánh" sang Liên Xô mỗi chuyến cả chục chiếc máy điện toán.

    Rất tình cờ một lần đến nhà Q, Nguyên loá mắt nhìn đống nhẫn, hoa tai, dây chuyền, lắc tay bằng vàng 0,583 đổ đầy có ngọn trên chiếc bàn ăn. Nguyên ngỡ mình như đang trong cơn mơ hóa thân thành chàng Ali Baba lạc chân vào động vàng của bốn mươi tên cướp. Sau bữa đó Q rủ Nguyên ban ngày cùng nó đi lấy máy tính, xếp lên tầu; ban đêm về nhà, hai thằng cần mẫn ngồi cậy từng cái mặt đá quý, dồn thành vốc cho vào toilet giật nước. Đến bây giờ nghĩ lại Nguyên vẫn còn thẫn thờ tiếc, tại sao ngày đó nó không giữ lại những viên đá saphia, rubi rất quý đó. Vàng trang sức tinh xảo với những mặt đá long lanh đủ sắc màu bỗng dưng bị đập bẹp, biến thành những miếng vàng móp méo để bán theo gram cho các nhà "tài phiệt" Do Thái. Trong các loại vàng mà bạn hàng của Nguyên chuyển từ Liên Xô sang, Nguyên khoái nhất được nhận Huân Chương Lê Nin. Đó là cả khối vàng nguyên chất được thị trường lúc đó định giá 380 USD/chiếc. Khi đã trở thành "con buôn", Nguyên dần xa lánh chính trị nên đối với nó Huân Chương Lê Nin chẳng có chút nào ý nghĩa về giá trị tinh thần (ở mặt phải) mà chỉ ánh lên trong mắt nó thứ màu vàng tinh khiết mang đầy giá trị vật chất (ở mặt trái). Có lần Nguyên tự đắc nói với Q:

    - Ở Việt Nam hình như chỉ có ba lãnh tụ sáng giá được tặng phần thưởng cao quý nhất này của nhà nước Liên Xô là Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp vậy mà tôi với ông chẳng ai biết đến lại được tặng thưởng tới hơn 50 lần.

    Máy điện toán từ Ba Lan chuyển sang được mang công khai, song việc vận chuyển vàng vốn là hàng quốc cấm theo chiều ngược lại từ Liên Xô lại hết sức khó khăn. Các VIP "thẻ đỏ" được huy động vào công việc đầy nguy hiểm này với số lượng vận chuyển lên đến hàng chục kilogram vàng mỗi chuyến. Một số "thẻ xanh" liều lĩnh cất dấu dưới muôn hình vạn dạng khác nhau nhưng mỗi lần khó vượt quá hai kilogram. Cuối năm 1989 một VIP "thẻ đỏ" người Việt từ Albani vận chuyển vali bên trong chứa 30 kg vàng không may bị phát giác tại cửa khẩu Brest. Sau vụ này hải quan Liên Xô tăng cường kiểm soát gắt gao việc chuyển lậu vàng sang Ba Lan. Trong khi máy điện toán vẫn được chuyển đều đặn từ Ba Lan sang Liên Xô nhưng chiều thanh toán ngược lại bằng vàng bị gián đoạn một thời gian. Nguyên ngao ngán vì vàng ùn tắc, vốn cụt, vòng quay ngưng trệ…

    Hàng ngày Nguyên thấp thỏm như ngồi trên đống lửa vì toàn bộ thành quả lao động của nó từ ngày sang Ba Lan đã biến thành vàng nằm trong tay đầu dây phía bên kia. Nguyên bàn với Q phải tự mình xuất chinh một chuyến sang Mockva nghiên cứu cách giải toả vàng. Nguyên bay sang bằng máy bay nhưng lại quay về bằng tầu hoả. Đây là một sai lầm khiến Nguyên suýt nữa phải trả giá đắt. Biết rằng việc chuyển vàng về Ba Lan hết sức nguy hiểm nhưng Nguyên vẫn muốn đi để tự mình tìm ra kẽ hở của hải quan Liên Xô. Tại Mockva Nguyên mua một chiếc xe đạp trẻ con và một lò sưởi điện, nó mở ra nhét đầy vàng vào bên trong rồi lắp lại như cũ. Q lại khác, nó mua hai cục giăm bông to, lấy ống tuýp cắm vào rút lõi thịt bên trong ra, nhét đầy vàng vào và đóng vỏ bọc ngoài như cũ rồi cho vào nồi luộc lại.

    Hai thằng mua vé ngồi hai toa tầu khác nhau. Khi đến cửa khẩu Brest sát biên giới Ba Lan một thằng hải quan Liên Xô kiểm tra vé và hộ chiếu của Nguyên, nó thắc mắc tại sao Nguyên sang bằng máy bay lại về bằng tầu hoả, rõ ràng có điều gì bất thường. Thằng ma mọi này kiểm tra Nguyên rất kỹ càng, nó lật giường, mở đinh vít thành toa tầu, nắn người, lột giầy, lộn bí tất…rồi cuối cùng nó nhìn xoáy vào cái xe đạp và cái lò sưởi của Nguyên với ánh mắt ngờ vực. Nguyên chột dạ nhưng cố giữ nét mặt bình thản. Thằng hải quan không chịu buông tha, nó bảo Nguyên bê cái lò sưởi còn nó vác cái xe đạp xuống tầu đến trạm hải quan đưa vào máy soi. "Cha mẹ ơi! Thế này thì chết con rồi, chuyến này chắc phải ngồi bóc lịch vài năm". Nguyên vừa lẽo đẽo theo sau thằng kia vừa lẩm bẩm. Lúc Nguyên nhìn thấy cái máy soi hải quan thì một tay ra dáng sếp của phiên trực hất hàm hỏi thằng nhân viên:

    - Có chuyện gì đấy?

    Thằng hải quan trả lời:

    - Tao nghi thằng Việt Nam nó dấu vàng hay đô la trong hai cái vật bằng sắt này nên muốn kiểm tra trên máy soi.

    Nguyên nghĩ mười phần chắc chết đến chín. Nhưng lạy giời, đúng lúc đó y như có thánh nhân giơ bàn tay ra đỡ khiến nó không bị rơi xuống vực thẳm. Thằng sếp phẩy tay:

    - Thôi khỏi, tao vừa tắt máy rồi, bây giờ khởi động lại lâu lắm, chậm tàu của nó.

    Thằng nhân viên nghe vậy có vẻ hậm hực nhưng không dám cãi, nó lại cum cúp vác cái xe đạp cùng Nguyên quay trở lại tầu. Thế là thoát!

    Về đến Ga Trung Tâm Warszawa Nguyên hỏi Q có bị hải quan Liên Xô "trần" không, Q bảo:

    - Thằng hải quan bên tao cũng rất tích cực tìm kiếm, nhưng khi sờ đến túi đựng hai cục giăm bông để lẫn với cọng tỏi muối, nó bịt mũi không chịu nổi mùi hôi nên phẩy tay chạy mất.

    Sau chuyến khảo sát đường tầu hút chết, Nguyên bàn với Q:

    - Mình dù thoát nhưng là do may mắn, xác suất "chết" cực cao nên không thể bị động trông chờ may rủi. Thôi tôi với ông cứ kiên nhẫn chờ đợi, khi nào khai thông chắc chắn rồi mới làm tiếp được.

    Tắc vẫn hoàn tắc.

    Gần một tháng chờ đợi trong nỗi tuyệt vọng, bỗng một hôm Nguyên nhận được điện thoại của thằng bạn bán máy điện toán bên Liên Xô thông báo đã có cửa sáng - vàng có thể chuyển được về… Việt Nam. Nguyên và Q chụm đầu bàn bạc, trong lúc cửa sang Ba Lan vẫn đang bị khép chặt thì cửa về Việt Nam có thể tạo bất ngờ lớn. Thêm nữa vào thời điểm đó lạm phát đang hoành hành dữ dội tại Việt Nam nên vàng vừa dễ bán lại được giá. Nguyên và Q đồng ý với thằng bạn đầu Liên Xô chuyển toàn bộ số vàng đang bị kẹt tại Mockva về Hà Nội do VIP thực hiện qua đường hàng không. Thật bất ngờ số vàng sau khi bán tại Việt Nam được qui đổi thành tiền, sau đó biến thành áo kimono, khăn kim tuyến, áo soa thêu, áo gió… rồi "đánh" ngược sang Ba Lan theo đường cargo hàng không đã giúp Nguyên vừa thoát vốn vừa đạt lợi nhuận cao. Sau sự kiện này Nguyên quyết định kết thúc chiến dịch "đánh" máy tính sang Liên Xô để chuyển hướng làm ăn với thị trường may mặc Việt Nam. Chiến trường buôn máy tính, máy fax từ Ba Lan sang Liên Xô mặc dù không còn bóng dáng Nguyên nữa nhưng vẫn còn được kéo dài đến tận cuối năm 1991.

    Từ đây trong mỗi chuyến về thăm Việt Nam với bao lời hứa hẹn có cánh về những dự án đầu tư tạo ra công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, Nguyên bỗng dưng lột xác để trở thành "Việt Kiều yêu nước". Nguyên được đón tiếp nồng nhiệt, Nguyên được trọng vọng mỗi khi đặt chân đến các nhà máy quốc doanh, các công ty xuất nhập khẩu nhà nước, thậm chí trụ sở Ủy ban nhân dân các địa phương, các bộ, các ngành... Mới có hai năm từ một công chức nghèo không mua nổi một chiếc xe máy để đi làm bây giờ Nguyên đã vinh dự được "đóng vai" một ông chủ "Việt Kiều" xe đưa, xe đón. Oách thật! Nguyên không bao giờ có thể nghĩ được chính sự khốn khó của chủ nghĩa xã hội thế giới lại là viên gạch lót đường đưa đời nó lên hương.


    Phần 5: Bức tường Berlin sụp đổ


    Từ chuyển đổi chính trị đến chuyển đổi kinh tế - Lý luận Mác – Lê Nin luôn đề cao "mâu thuẫn là động lực của phát triển”. Nhưng nói vậy mà không phải vậy. Trong thực tiễn, về chính trị, chủ nghĩa xã hội tồn tại dựa trên hệ thống chuyên chính vô sản triệt tiêu đấu tranh giai cấp; về kinh tế, trong một thời gian dài chủ nghĩa xã hội không thừa nhận tự do cạnh tranh.

    Thời gian đầu mô hình xã hội toàn trị và nền kinh tế chỉ huy ở một mức độ nào đó đã phát huy được tác dụng trong việc huy động mọi nguồn lực của đất nước, nhất là trong thời kì chiến tranh. Một khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế về số lượng của chủ nghĩa xã hội đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người. Vào thập niên những năm 50, 60 và 70 của thế kỷ trước, chủ nghĩa xã hội thế giới thể hiện được phần nào tính ưu việt của thời đại để tạo nên trào lưu mang tên "dòng thác cách mạng”. Nhưng từ khi bước vào thập kỷ những năm 80 chủ nghĩa xã hội thế giới bắt đầu bộc lộ bản chất yếu kém về chất lượng và hiệu quả. Cuộc đua tranh "ai thắng ai" giữa hai con đường, giữa hai phe ngày càng bất lợi cho chủ nghĩa xã hội. Các nước xã hội chủ nghĩa bị lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội. Liên Xô và các nước Đông Âu buộc phải tiến hành công cuộc cải tổ, nhưng vẫn không thể ngăn được đà phá sản có tính hệ thống, những nước này bị đẩy dần đến bờ vực sụp đổ.

    Năm 1980 sự ra đời của Công Đoàn Đoàn Kết ở Ba Lan như một đốm lửa nhỏ lan nhanh thành đám cháy rừng lớn. Phong trào đấu tranh vì tự do dân chủ do Công Đoàn Đoàn Kết lãnh đạo buộc hai tổng bí thư Đảng Công Nhân Thống Nhất Ba Lan là Gierek và Kania phải từ chức. Đại Tướng Jaruzienski bộ trưởng Bộ Quốc Phòng lên làm tổng bí thư vào tháng 10 năm 1981. Ngay sau đó Jaruzielski thay mặt ban lãnh đạo mới ban bố tình trạng chiến tranh và thực hiện thiết quân luật (từ 13/12/1981 đến 22/07/1983). Tuy nhiên căn bệnh trầm kha mang tính hệ thống không có phương thuốc hiệu nghiệm nào có thể cứu chữa được nữa. Ba Lan cùng các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô ngoi ngóp, vô vọng trong cơn lũ khủng hoảng kéo dài.

    Chính sách không can thiệp của Gorbachev tạo điều kiện thuận lợi cho các phe phái Ba Lan ngồi đàm phán với nhau trong "hội nghị bàn tròn" (từ ngày 06/02 đến ngày 05/04 năm 1989). Ngày 04/06/1989 trong cuộc bầu cử dân chủ lần đầu tiên, Công Đoàn Đoàn Kết thắng lớn, chế độ xã hội chủ nghĩa bị xóa bỏ hoàn toàn ở Ba Lan. Sự kiện chính trị này đã tạo nên cơn địa chấn rung chuyển toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Đêm thứ năm 09/11/1989 Bức tường Berlin biểu tượng của Chiến tranh Lạnh và ranh giới chia cắt nước Đức đã bị sụp đổ. Trước đó không một ai dù lạc quan nhất có thể nhìn ra viễn cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh ở Đông Âu và Liên Xô lại có thể bị xóa sổ trong hòa bình nhanh đến như vậy.

    Sau 74 năm thực nghiệm mô hình xã hội chủ nghĩa không thành công, với việc xóa bỏ nhà nước chuyên chính vô sản thiết lập Nhà nước dân chủ tư sản, các nước Đông Âu và Liên Xô đã bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển theo đúng quy luật, theo đúng tiến trình của lịch sử. Các chính quyền mới đã tiến hành cuộc chuyển đổi chính trị từ chế độ toàn trị độc đảng sang chế độ dân chủ đa nguyên. Từ đây người dân ở những nước này thực sự được làm chủ, được cởi trói hoàn toàn để phát huy đến tận cùng năng lực sáng tạo.

    Đi đôi với việc thay đổi về thượng tầng kiến trúc là thay đổi về hạ tầng cơ sở. Những nước hậu Cộng Sản đã tiến hành một cuộc chuyển đổi sâu rộng từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường tự do, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, dần trở thành những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển cao.

    Khi mới đặt chân sang Ba Lan, Nguyên không có chút thiện cảm với Công Đoàn Đoàn Kết, với tất cả những ai ủng hộ phong trào này. Nhưng ngay sau khi chế độ mới được thiết lập ở Ba Lan, Nguyên ngỡ ngàng nhận thấy cuộc sống chuyển biến quá nhanh và ngày càng trở nên tốt đẹp. Người dân hồ hởi đón nhận sự thay đổi tận gốc rễ về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội. Hình ảnh đầy thuyết phục đập vào mắt Nguyên hàng ngày đó là các cửa hàng trước đấy ít lâu vẫn còn trống rỗng thì nay đã đầy ắp hàng hóa. Chợ cóc mọc ra khắp nơi, ngay cả địa danh tôn nghiêm là quảng trường Cung Văn Hoá Warszawa cũng biến thành chợ. Hàng trăm quầy hàng, hàng nghìn kiốt được dựng lên. Kinh tế thị trường có khác, nó được vận hành nhuần nhuyễn, rất tự nhiên dựa trên quan hệ cung - cầu, quan hệ tiền - hàng. Những thứ hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống thường ngày, nửa năm trước đó dù có nhiều tiền, Nguyên nằm mơ cũng không thể mua được thì giờ đây đã tràn ngập thị trường.

    Nguyên nhanh chóng bị cuốn vào trào lưu biến đổi của xã hội. Cỗ máy trong con người Nguyên vận hành dù chậm nhưng chuyển động theo xu hướng chung của thời đại từ quan điểm, nhận thức đến hành động. Thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết Nguyên tâm nguyện suốt đời phấn đấu cho lý tưởng cộng sản, vậy mà đến lúc đó nó dần quay sang ngưỡng mộ những người đã góp phần kết thúc chiến tranh lạnh không cần dùng đến bom đạn, không cần dùng đến vũ khí hạt nhân, những nhân vật đã góp phần tích cực xoay chuyển cục diện chính trị Châu Âu và thế giới như Gorbachev, Yeltsin, Walesa…

    Cơ hội vàng để làm giàu trong buổi giao thời của nền kinh tế chuyển đổi khiến Nguyên như sôi lên, quay cuồng trong vòng xoáy kiếm tiền. Nguyên không còn yên lòng theo đuổi những buổi semina trên giảng đường hay vùi đầu vào đống sách tham khảo dày như những viên gạch trong thư viện. Lúc đó quyết định làm tiếp hay không tấm bằng tiến sĩ kinh tế là lựa chọn khó khăn của Nguyên. Tuy đã vượt qua được một nửa số môn thi bắt buộc và giáo sư hướng dẫn đã thông qua nội dung cơ bản của luận án, nhưng thời gian còn lại dành cho khoa học thì Nguyên khó có thể thu xếp được. Việc bỏ bằng tiến sĩ với Nguyên không phải chịu nhiều áp lực bởi "danh gia, vọng tộc". Ông nội Nguyên có 15 cháu đã có 13 bác sĩ, cử nhân và kỹ sư, trong đó có 1 tiến sĩ. Thêm một thằng tiến sĩ hay không với họ nhà nó không còn quan trọng nữa. Tấm bằng tiến sĩ chỉ là phương tiện lót đường giúp Nguyên tiến thân, thế mà nó lại quyết định không về nước để theo đuổi sự nghiệp nữa. Danh vị tiến sĩ với Nguyên lúc đó có chăng chỉ còn dùng để in vào card visit. Điều đó thật phù phiếm! Nó nghĩ thế. Sau một đêm trăn trở, Nguyên quyết định lên khoa xin không làm tiếp bằng nữa vì lý do "gia đình". Cho đến bây giờ trong Nguyên chưa bao giờ gợn lên nỗi hối tiếc dù chỉ thoáng qua vì nó đã lựa chọn "lối rẽ ngang cho cuộc đời".

    Đồng hành với sự thay đổi sâu sắc về thể chế chính trị là sự thay đổi toàn diện về kinh tế. Nền kinh tế được cởi trói khỏi những nút thắt để tự thân vận động theo quy luật thị trường. Sự thông thương tự do như hiệu ứng "nước thẩm thấu sang chỗ khô". Ở đâu có dấu hiệu khan hàng, chỉ ít ngày sau hàng hóa tự được lấp đầy. Không những trong thị trường nội địa mà cả trên thị trường liên thông quốc tế.

    Khoảng thời gian sau khi Bức tường Berlin sụp đổ cho đến trước khi thống nhất nước Đức, nhiều người Việt Nam ở Đông Đức ra sức tận dụng cơ hội tích luỹ đồng mác Đông Đức với hứa hẹn nó sẽ được chuyển đổi sang đồng mác Tây Đức với tỉ giá 1/1. Lúc bấy giờ bạn bè của Nguyên đã "tập kích" ồ ạt những chuyến hàng từ Ba Lan sang Đông Đức. Phương thức vận chuyển không khác gì "đánh" hàng sang Liên Xô. Các "thẻ đỏ" lại được tận dụng để tung vào chiến trường mới phía Tây. Cán bộ có hộ chiếu ngoại giao đi lại như mắc cửi trên những chuyến tầu hỏa để áp tải những thùng hàng chất đầy ắp trong các khoang nằm.

    Hàng đưa sang Đông Đức gồm đủ các loại từ đồ may mặc rẻ tiền nhập từ Thái Lan như áo chấm, áo ren, quần bò, váy bò...đến băng catset hiệu TDK của Nhật. Nhưng rủi ro cao nhất và đương nhiên sinh lời nhiều nhất phải nói đến thuốc lá không dán tem thuế mang hiệu Golden America, Marlboro...Ba Lan trở thành căn cứ địa cung cấp nguồn hàng cho hệ thống bán dạo thuốc lá lậu, ban đầu trên các nẻo đường Đông Đức, sau đó là nước Đức thống nhất. Thuốc lá lậu từ Ba Lan là mặt hàng đẩy các băng đảng người Việt ở Đức vào cuộc chiến thanh toán đẫm máu nhằm tranh cướp nguồn cung cấp và lãnh địa tiêu thụ.

    Sau khi nước Đức thống nhất, cảnh sát và hải quan Đức cực kì vất vả trong việc kiểm soát buôn bán thuốc lá lậu. Họ phải huy động đội quân hùng hậu, trang bị hiện đại trải trên một không gian rộng lớn. Có những màn máy bay trực thăng cảnh sát truy đuổi xe vận chuyển thuốc lá lậu ly kì y như trong phim hành động Hollywood. Có lần một nguồn tin mật báo tại khu rừng N. một xe tir đang giải toả thuốc lá cho hàng chục xe con. Kế hoạch triệt phá của cảnh sát Đức được thiết lập nhanh chóng. Trên trời máy bay trực thăng quần đảo, dưới đất hàng trăm lính đặc nhiệm được vũ trang tận răng tiến vào khu vực mafia Việt Nam đang tẩu tán thuốc lá lậu. Không một ai trốn thoát cùng phương tiện vận chuyển với hàng trăm nghìn bao thuốc lá. Lợi nhuận từ buôn lậu thuốc lá khiến người tham gia phát điên. Cứ hai xe tir đưa từ Ba Lan sang có một xe bị bắt là về hòa, ba xe có một xe thoát là thắng lớn. Không ai còn biết sợ để tính đến rủi ro nữa.

    Tiệp Khắc lúc chưa chia thành hai nước cũng chịu nạn khan hiếm hàng tiêu dùng và thực phẩm giống như các nước có nền kinh tế chuyển đổi khác. Ngay sau đó thị trường tự do tại nước này nhanh chóng được điều tiết bởi quan hệ cung cầu. Giữa năm 1990 Nguyên cùng anh bạn nghiên cứu sinh tên Đ. sử dụng VIP "thẻ đỏ" chuyển nhiều chuyến quần áo bò trẻ con made in Thailand sang Praha. Trong một lần ngồi tàu sang thu gom tiền, Nguyên mang theo người bốn kiện quần áo bò trẻ con. Khi tầu đến ga Ostrava bên kia biên giới Ba Lan, số hàng Nguyên đem theo bị hải quan kiểm tra. Do không có giấy tờ xuất xứ, Nguyên đã phẩy tay để lại toàn bộ số hàng trị giá hơn nghìn đô la mà không chịu ký vào biên bản thu giữ hàng. Do thị trường Tiệp Khắc và Ba Lan có nhiều điểm tương đồng nên các chiến dịch trao đổi hàng hoá giữa hai bên thường diễn ra trong thời gian ngắn với giá trị không lớn.

    Việc khai thác nguồn hàng và tổ chức hệ thống "thẻ đó áp tải hàng hoá không đơn giản nên các Soái thành công nhất trong việc "đánh" hàng thời kỳ này thường là người có mối quan hệ xã hội sâu rộng và có tiềm lực vốn. Trước năm 1991 đứng đầu hai đường dây "đánh" hàng qui mô nhất và hiệu quả nhất ở Ba Lan là hai tiến sĩ khoa học (bậc 2), họ không cùng tên nhưng trùng chữ cái V. Sang hướng Đông (Liên Xô) là Soái, tiến sĩ khoa học Đ.H.V và sang hướng Tây (Đông Đức) là Soái, tiến sĩ khoa học C.L.V. Anh Đ.H.V. sau này về nước đảm nhiệm cương vị lãnh đạo cao cấp tại một Bộ. Anh thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam, anh còn được phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao Động thời kỳ đổi mới. Anh C.L.V. học giỏi có tiếng ở Ba Lan, cho đến bây giờ anh vẫn theo đuổi con đường khoa học, anh là giáo sư giảng dạy tại một trường Đại Học Tổng Hợp của Ba Lan. Năm 1990 anh C.L.V. đã tổ chức một chuyến chuyên cơ đưa lao động Việt Nam tại Đức về nước. Có lần Nguyên hỏi lý do vì sao sau đấy không có những chuyến chuyên cơ tiếp theo, anh C.L.V. cười buồn:

    - Nguyên nhân là do phía đơn vị quản lý sân bay Nội Bài gây khó dễ. Thậm chí lúc máy bay hạ cánh, họ không bố trí xe hoa tiêu dẫn đường máy bay vào nơi đỗ. Mình phải lót tay để một nhân viên hoa tiêu ngồi sau xe cúp 81 làm hiệu dẫn đường trước mũi máy bay bằng… đèn pin.

    Hoang dã hết biết! Không khác gì xứ rừng rậm Amazon.

    VIP "thẻ đỏ" hơn 20 năm trước dập dìu qua lại Ba Lan, trước hết là các cán bộ sứ quán, thương vụ Việt Nam trên khắp thế giới, sau nữa là các quan chức cao cấp của đảng, nhà nước, chính phủ…có cấp bậc tương đương thứ trưởng, bộ trưởng, thậm chí ở cấp cao hơn. Xung quanh việc đưa rước và cất dấu "thẻ đỏ" ở Ba Lan thời đó có những câu chuyện cười ra nước mắt. Các "thẻ đỏ" đi lẻ được bố trí đón, sau đó bị "nhốt" tại một địa điểm bí mật. Lúc nào bên cạnh VIP cũng có vài ba thằng đàn em của Soái kè kè như canh giữ món đồ "quốc bảo". Thậm chí phải thường xuyên di chuyển chỗ ở của VIP để tránh sự nhòm ngó tranh giành của thằng khác. Mất cảnh giác dù chỉ vài bước là có ngay kẻ chen chân vào phá đám. Gặp VIP tham, được gạ trả công vênh thêm năm trăm hay một nghìn đô là VIP biến mất dạng. Mấy hôm sau đã thấy VIP đó lên tầu áp tải hàng cho Soái khác.

    Từ năm 1991 trở về trước, xuất khẩu của Việt Nam sang Ba Lan được thực hiện theo nghị định thư về ngoại thương ký kết giữa hai nhà nước. Lúc đó 100% hàng hóa từ Việt Nam xuất đi do các công ty ngoại thương nhà nước thực hiện (gọi là xuất khẩu chính ngạch). Bắt đầu từ năm 1989 ngay sau khi Ba Lan thay đổi thể chế, giá trị trao đổi thương mại giữa hai nước giảm sút nhanh chóng. Từ năm 1992 hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Ba Lan được thực hiện chủ yếu bởi các doanh nghiệp Việt Kiều tại Ba Lan (gọi là xuất khẩu tiểu ngạch). Kim ngạch xuất khẩu tư nhân từ Việt Nam sang Ba Lan ngày càng tăng và đạt tới giá trị hàng trăm triệu USD mỗi năm, gấp hàng chục lần so với xuất khẩu của ngoại thương nhà nước trước đây.

    Buổi ban đầu của kinh tế thị trường Ba Lan, rất ít người Việt Nam có đủ tư cách pháp nhân để thành lập doanh nghiệp. Lúc đó hầu hết người Việt Nam chưa vào quốc tịch Ba Lan nên chỉ có những người dùng tư cách pháp nhân của vợ (chồng) là người Ba Lan mới mở được công ty. Ngoài loại hình trên, rất hiếm người có đủ số vốn tối thiểu 50 nghìn USD để mở công ty đầu tư nước ngoài (Joint venture). Hội Văn hóa, Xã hội người Việt Nam tại Ba Lan, tổ chức có tư cách pháp nhân đầu tiên của người Việt Nam được thành lập năm 1986 là một cứu cánh rất kịp thời cho những cựu lưu học sinh khi đó. Hội đã giúp nhiều hội viên thành lập hệ thống sklep orientalny (cửa hàng phương đông) tiền thân của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Trong lúc giao thời, hàng chục chiếc cửa hàng của Việt Kiều trải trên khắp lãnh thổ Ba Lan đã thay thế dần hệ thống cửa hàng Jubiler của Ba Lan để tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc từ Việt Nam đưa sang. Thời gian đầu các cựu lưu học sinh Việt Nam, những ông chủ của hệ thống cửa hàng phương đông rất nhanh nhạy, họ vừa khai thác nguồn hàng nhập khẩu tiểu ngạch của người Việt Nam đem sang, vừa mua lại hàng Việt Nam xuất khẩu chính ngạch còn tồn trong hệ thống thương nghiệp quốc doanh của Ba Lan. Không những mua hết tại quầy hàng, họ còn vét sạch hàng chưa kịp xuất kho khi giá thị trường nhảy từng ngày trong khi thương nghiệp nhà nước Ba Lan chậm thay đổi giá.

    Từ cuối năm 1989 thị trường Ba Lan như lên cơn sốt đón nhận hàng hoá đủ loại do các doanh nghiệp Việt Kiều nhập về ồ ạt qua đường hàng không và đường bưu điện. Từ đây nền "kinh tế chợ Việt Nam trong lòng Ba Lan” bắt đầu mở ra với quy mô lớn, phát triển rộng khắp và len vào từng ngôi nhà nhỏ Ba Lan. Nền kinh tế mở đánh dấu thời tàn của mô hình buôn lậu trên các nẻo đường quốc tế Đông – Tây dựa vào hệ thống "thẻ đỏ" như nguồn bao cấp đặc quyền của một số người. Nền kinh tế mở vừa mở ra cơ hội làm giàu cho tất cả mọi người, vừa đẩy đến sự sụp đổ nhanh chóng của những Soái - thần tượng "một thời vang bóng" không biết nhanh nhạy với sự nghiệt ngã của thị trường.

    Sau gần một năm không còn đóng vai "chiến sĩ tình nguyện trên mặt trận quốc tế", Nguyên bỗng thấy nao lòng nhớ đến chiến trường xưa. Một ngày mùa thu năm 1990, Nguyên thả bộ chậm rãi trên lối đi trải đầy lá vàng lẫn chút lá đỏ dẫn tới Ga Tây. Vọng trên thinh không, tiếng mấy con ngỗng trời đang sải cánh chậm rãi bay về phương nam. Vài dải mây trắng mỏng nhẹ như lụa lãng đãng vắt ngang bầu trời xanh ngắt. Nắng chiều rực rỡ như đổ thêm màu, nhuộm vàng cảnh sắc đất trời cuối thu. Trên sân ga, cảm giác nhẹ tâng như cuốn Nguyên theo những đoàn tầu trôi về ký ức xa xăm. Dõi mắt nhìn về phương mặt trời lặn, Nguyên thấy đoàn tàu vừa lướt qua chỉ còn như một dấu chấm giữa nền trời hoàng hôn chiều tím huyền ảo. Từ dấu chấm đó, đời Nguyên lại lần nữa bước sang một chương mới.


    Phần 6: Những cô thợ may bé nhỏ làm nên một cuộc "cách mạng" lớn lao


    Ngay từ thời chính thể Cộng Sản, mặc dù quan hệ hữu nghị tốt với Việt Nam nhưng Ba Lan không ký hiệp định hợp tác về lao động giữa hai nước. Chính vì vậy trong suốt hàng chục năm, tại Ba Lan chỉ có du học sinh mà hầu như không có lao động người Việt Nam.

    Năm 1989 một công ty may mặc của Ba Lan tại Uniejow (gần thành phố Lodz) xin được giấy phép tuyển một trăm sáu mươi nữ công nhân may Việt Nam sang làm việc. Các cô thợ may này đến từ Hà Nội và các vùng ngoại thành. Có thể nói đây là đội công nhân Việt Nam duy nhất làm việc tại Ba Lan trong lịch sử quan hệ hai nước. Mặc dù rất thận trọng trong việc tiếp nhận lao động nước ngoài, nhưng phía Ba Lan không thể ngờ được rằng chỉ một "sai lầm nhỏ” họ đã phải "trả giá đắt” cho quyết định tiếp nhận đội lao động gồm toàn các cô gái Việt Nam yếu đuối này. Một trăm sáu mươi cô thợ may bé nhỏ trong một thời gian ngắn đã làm xáo động xã hội Ba Lan, làm thay đổi cuộc sống bình lặng của du học sinh Việt Nam và quan trọng nhất, họ đã thúc đẩy nhanh quá trình hình thành cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan.

    Những năm cuối thập kỷ 80 là thời kỳ khó khăn nhất của Cộng Hòa Nhân Dân Ba Lan. Cả xã hội kiệt quệ - sản xuất đình đốn, bãi công triền miên và lạm phát phi mã. Ba Lan như đang âm ỉ trước một vụ phun trào núi lửa. Đúng lúc đó những cô gái thợ may Việt Nam sang Ba Lan làm việc. Họ mang theo ước vọng về một chuyến đi Tây có thể giúp gia đình tại Việt Nam thoát cảnh đói nghèo. Viễn cảnh tươi đẹp đó sụp đổ nhanh chóng trước thực trạng kinh tế, xã hội mà họ được chứng kiến ngay khi mới đặt chân đến Ba Lan.

    Những ngày đầu tiên, một trăm sáu mươi cô thợ may bị "nhốt” vào khu nhà hai tầng nằm sâu trong một khu rừng. Hàng ngày, rất đúng giờ, sáng xe đưa đến chỗ làm việc, chiều đón về. Lịch trình đều đặn đến nhàm chán. Cuộc sống đơn điệu của những cô thợ may như bị khép kín trong một "thế giới đàn bà”. Họ hầu như không được tiếp xúc với bên ngoài. Ngày qua ngày họ chỉ biết sống và làm việc tẻ nhạt như những con ong thợ cần mẫn. Mới có mấy tháng "âm thịnh, dương... không”, mấy "cô” bỗng dưng biến thành "cậu”. Tình trạng này tiếp tục kéo dài lâu hơn nữa, có khi cả trại biến thành "thế giới les”.

    Giới chủ hoặc không có kiến thức về tâm sinh lý phụ nữ, hoặc không đếm xỉa đến điều đó vì lợi nhuận. Sau gần nửa năm tù túng, chị em bắt đầu nhen nhúm "phản kháng”. Họ thể hiện sự bức bối nữ quyền bằng cách đòi giới chủ cho phép được ra ngoài "giao lưu” vào dịp nghỉ cuối tuần. Cuộc đấu tranh nổ ra quyết liệt dưới nhiều hình thức như bãi công, lãn công, cáo ốm… Đội ngũ phân hoá. Trong đoàn may chỉ có hai lãnh đạo là đàn ông - một đội trưởng và một phiên dịch. Bộ phận trung kiên ủng hộ anh đội trưởng, bộ phận thoả hiệp ngả theo người phiên dịch. Cuối cùng giới chủ nhượng bộ cho phép chị em được tự do sử dụng ngày nghỉ. Cái giá phải trả không hề đắt, duy nhất anh đội trưởng, người lãnh đạo cuộc chống đối buộc phải về nước trước thời hạn.

    Thời gian weekend đủ cơ hội cho chị em được tiếp xúc với đám du học sinh đang mắc "hội chứng lò so nén” về cái sự khao khát đàn bà. Nhà nước Việt Nam từ lâu vốn ác cảm với lối sống phóng túng của xã hội Ba Lan nên chủ trương hạn chế gửi nữ sinh viên du học tại đây. Lại thêm việc quản lý khắt khe, cấm sinh viên quan hệ với gái bản xứ. Âm dương không hài hòa, giới tính mất cân bằng nghiêm trọng. Thế nên ngay từ lúc nghe tin có đoàn nữ công nhân may sẽ sang Ba Lan làm việc, đám đàn ông háo hức đếm từng ngày.

    Trong số du học sinh, một số dũng cảm vượt rào lấy vợ người Ba Lan, nhưng số đông còn lại chỉ muốn "tắm ao ta”. Họ thực sự mong mỏi tìm được vợ trong số những cô gái thợ may người Hà Nội. Sau thời gian tính bằng năm, hàng chục gia đình "thuần Việt” được xây dựng từ các mối tình "du học sinh – thợ may”. Thành công nhất trong việc chinh phục trái tim các người đẹp "nội địa” phải kể đến những chàng trai học viên trường Sĩ Quan Hải Quân Gdynia. Sau hơn hai mươi năm, tất cả các gia đình "du học sinh - thợ may” đến nay vẫn ấm nồng hạnh phúc. Chưa có cuộc hôn nhân nào của họ bị tan vỡ, một tỉ lệ hiếm có trong thế giới hiện đại. Len lỏi bên cạnh các cuộc tình đẹp, vẫn không tránh khỏi ít nhiều có các mối quan hệ thực dụng không nhân danh tình yêu. Một bên là chàng nghiên cứu sinh xa vợ lâu ngày muốn có chốn trút nỗi đơn côi, một bên là nàng thợ may muốn tìm điểm tựa vật chất. Đến khi các bà vợ được đón sang, những chàng nghiên cứu sinh vừa trải qua "một thoáng phiêu lưu” lại trật tự trở về chốn xưa.

    Từ khi được sổ lồng, những con chim cái rời tổ, sải cánh bay đi muôn phương kết bầy. Đám nữ công nhân may tranh thủ ngày nghỉ cuối tuần ngược xuôi thiết lập các mối quan hệ với du học sinh. Như một cuộc di dân, địa chỉ đầu tiên các cô gái nhắm đến là trường dạy tiếng tại thành phố Lodz, cách nơi ở của họ không xa. Qua sự giới thiệu của bạn bè, nhiều người còn tìm đường lên Warszawa, rồi họ nhanh chóng toả ra nhiều thành phố lớn khác. Theo chiều ngược lại, các chàng trai Việt từ khắp Ba Lan quan tâm đến các cô gái thợ may cũng đổ về "khu trại” ở Uniejow. Vào dịp weekend, thị trấn này nhộn nhịp người ra, người vào. Khu rừng trước đây hoang vắng bỗng vui như trảy hội. Liền anh, liền chị dập dìu trao duyên.

    Một số cô gái thợ may nhanh nhạy tìm cách khai thác nguồn hàng từ người mới quen. Các cô gái trẻ "không nơi nương tựa” mỗi khi ra khỏi nơi cư trú không có tiền để tá túc nhà trọ chứ đừng nói tới vào khách sạn. Thế là đương nhiên địa chỉ qua đêm mỗi khi lỡ độ đường của họ là ký túc xá sinh viên hay nhà nghiên cứu sinh.

    Nguyên có thằng bạn nghiên cứu sinh, nhà nó toạ lạc đúng điểm trung tâm Warszawa, cách ga Dworzec Centralny hơn 200 mét. Đây là nơi rất tiện lợi cho các nàng thợ may ghé qua lấy hàng, hay gửi đồ trước khi ra tầu. Một lần Nguyên khuyên đểu thằng bạn:

    - Mày nhân lúc vợ chưa sang, mở dịch vụ nhà trọ, lợi cả đôi đường, vừa tiền, vừa tình, mất gì!

    Thằng kia cũng thuộc loại nhát chết như Nguyên. Nó cười hề hề:

    - Tao hay nghĩ xa, được chẳng thấy đâu, có khi trắng tay. Mày chưa biết mụ vợ tao đâu, léng phéng mụ ấy xẻo liền, vứt cho vịt nuốt chửng.

    Thời gian đó Nguyên và thằng bạn chung tay đánh rất nhiều hàng Việt Nam. Cả hai đều muốn xây dựng hệ thống tiêu thụ hàng. Đối tượng chúng nó nhắm đến trước tiên đương nhiên là các cô thợ may, sau mới đến đám Việt Kiều. Thế nên mặc nhiên nhà thằng bạn Nguyên trở thành trạm giao liên, vừa là nơi dừng chân cho các nàng, vừa là đầu mối bán hàng. Thằng kia rất hám gái nhưng lại sợ mụ vợ la sát sắp sang. Nó biết điểm yếu của mình, hễ bị nhốt chung chuồng với đàn bà là không giữ nổi mình. Nó tìm cách ngăn ngừa từ xa theo lối "phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Trước khi trời tối, thằng bạn Nguyên thường viện cớ có việc phải đi, để lùa các em ra khỏi nhà. Mà nó đi thật, nó sang nhà Nguyên, vừa để lánh nạn, vừa kiếm bữa rượu, lại không phải nấu, tiện đủ mọi đường. Nhưng dù kỹ mấy, đôi lần thằng bạn Nguyên vẫn không thoát. Ấy là vào những dịp Nguyên vắng nhà, không cứu giúp được gì cho nó.

    Mỗi khi như thế, thật là thảm hoạ cho thằng kia. Nhà nó có mỗi một phòng với cái giường đôi. Không lẽ lại nằm chung. Nỗi khổ này không chỉ dành riêng cho thằng bạn Nguyên mà cho cả con kia nữa, cho cả hai đứa "tuy rằng khác giống nhưng chung một...chuồng”. Thằng kia tỏ vẻ đàn anh, nhường giường cho gái. Nó trải đệm ngủ dưới đất. Mà ngủ thế quái nào được, nói chính xác phải là nằm qua đêm. Ai đã từng nếm trải hoàn cảnh trớ trêu này mới hiểu được nỗi khổ của hai con người, một đực, một cái, ngửi thấy mùi da thịt của nhau, nghe hơi thở của nhau mà không được làm gì. Thật tội nghiệp cho hai cơ thể đang độ khát dục, phải gồng mình vật vã suốt đêm. Thằng kia giả bộ nằm yên đó, nhưng nó vẫn căng người, dõi theo tấm thân cô gái trong lần váy mỏng, đang vặn mình, quắp chặt tấm chăn len còn đượm nồng hơi ấm của nó. Có lẽ trong cái đêm dài như vô tận đó, cả hai đứa thao thức trong cơn tê dại, chực vồ lấy nhau. Cuối cùng thằng bạn Nguyên vẫn hèn như bản tính cố hữu của nó. Không biết cô thợ may trẻ có nghĩ về thằng kia như một gã đàn ông ngu ngốc đầy tội lỗi đối với phụ nữ không?

    Sau cái đêm khốn nạn ấy, có đôi lần thằng bạn kia phải gọi Nguyên sang ngủ cùng. Vừa để giúp nó không bị lỡ bước sa chân, vừa giữ trọn tình thâm với vợ. Mỗi lần như thế, không riêng gì hai đứa kia mà lại thêm một kẻ khốn khổ thứ ba nữa là Nguyên. Hai thằng đực nằm dưới sàn trở mình suốt đêm. Mỗi khi nước bọt ứ đầy miệng, chúng phải cố làm ra tiếng động, để dấu nhau những tiếng ực ực phát ra từ nơi cổ họng. Đàn ông thằng nào chả thế, cứ gì thằng kia với Nguyên.

    Rõ khổ cho thằng bạn Nguyên, giữ gìn phẩm hạnh đến vậy, thế mà sau khi đón vợ sang, chưa được ba năm con vợ nó đã tếch theo thằng phi công trẻ. Tội nghiệp! Thằng bạn Nguyên vừa mất vợ, vừa mất tiền con vợ nó cuỗm theo giai. Đến bây giờ, mỗi khi nhắc lại chuyện xảy ra trong "cái đêm hôm ấy, đêm gì” thằng bạn Nguyên vẫn chép miệng ra chiều nuối tiếc.

    Có cô gái đoàn may nào còn rưng rưng khi nhìn thấy chiếc cầu này?

    Từ năm 1989 chính sách của nhà nước Việt Nam đối với người ra nước ngoài thăm thân nhân đã thoáng hơn trước rất nhiều. Thời gian này Ba Lan vẫn còn dễ dãi trong việc cấp thị thực lưu trú cho người Việt Nam. Chính từ những lẽ đó, trong ba năm 1989-1991 làn sóng vợ chồng, bố mẹ của du học sinh sang Ba Lan dội lên ồ ạt. Rất nhiều người trong số đó đã ở lại, không về nước sau khi hết hạn visa. Người nhà du học sinh hầu như đều xuất thân từ trí thức, họ là cán bộ làm việc tại các cơ quan danh giá trong nước. Thời đó trong quan niệm xã hội, buôn bán là một việc làm đáng xấu hổ. Không một ai trong số du học sinh và người nhà của họ đủ can đảm phơi mặt bán hàng trên phố. Họ chỉ làm công việc nhập hàng hóa từ trong nước sang và phân phối ngầm trong nội bộ người Việt. Chính đức tính sĩ diện mang tính "đằng cấp trên” của họ khiến cho vai trò của các cô gái thợ may càng được khẳng định và toả sáng.

    Trong giai đoạn bản lề chuyển sang kinh tế thị trường tại Ba Lan, trước khi các cô gái thợ may đồng loạt tiến hành cuộc "cách mạng đường phố”, hàng từ Việt Nam chuyển sang chủ yếu được tiêu thụ trong hệ thống các cửa hàng lưu niệm "Phương Đông”. Phương châm bán hàng của các anh Việt Kiều nhiều chữ là thu lợi nhuận cao trên doanh số thấp. Hàng hóa trong các cửa hàng của họ được bày bán với giá cao ngất, thường gấp ba bốn lần giá bán buôn. Chính vì vậy số lượng hàng hóa tiêu thụ được trên thị trường bán lẻ rất ít. Nhưng kể từ khi các cô gái thợ may đảm nhiệm vai trò dẫn dắt trên thị trường bán lẻ, tình hình phân phối hàng hóa đã thay đổi căn bản. Doanh số bán hàng tăng lên gấp hàng chục thậm chí hàng trăm lần so với trước.

    Thủa ban đầu, các cô gái Hà Nội yếu ớt chưa coi bán hàng là nghiệp, họ vẫn còn rụt rè e ngại, họ chỉ muốn thoát nghèo từ việc tần tảo kiếm tiền phụ thêm đồng lương còm cõi những lúc "công nhàn”. Nhưng sau một thời gian ngắn, họ bất chợt nhận ra rằng, họ đang bơi trong một "biển vàng” thời buổi đục nước béo cò. Thực ra người dân Ba Lan cũng như các nước Đông Âu khác và Liên Xô vẫn còn nghèo khi mới bước ra khỏi nền kinh tế quan liêu bao cấp. Nhưng trải qua thời gian dài khủng hoảng, hàng hoá rất thiếu thốn và khan hiếm, nên bất kể thứ hàng gì lạ mắt, hợp thị hiếu, dù chất lượng không cao, đều bán được với giá rất hời.

    Thời gian này trên đất nước Ba Lan, hầu như ở đâu, từ thành thị đến nông thôn đều diễn ra khung cảnh hết sức lạ mắt: người dân bản xứ vây quanh các cô gái nhỏ nhắn, mắt xếch để mua hàng như tranh cướp. Trong vòng vây của các bà, các chị to lớn gấp đôi, gấp ba, các cô gái Việt Nam vừa bán hàng, vừa lo đảo mắt canh chừng mất cắp. Nhiều khi họ phải yêu cầu người mua xếp hàng trật tự y chang thời mậu dịch phân phối hàng hóa. Mỗi buổi sáng họ kéo đi một xe kéo với hàng chục chiếc áo phông, áo vải, váy thêu… xuất xứ Việt Nam, cùng hàng chục tá bút bi, bật lửa… Trung Quốc, đến chiều về, chỉ còn lại chiếc túi rỗng không. Hàng gì cũng bán được, thậm chí hàng lỗi, hàng hỏng. Chỉ cần giảm giá chút ít người tiêu dùng vẫn chấp nhận mua. Mỗi ngày bán hàng, sau khi trừ tiền vốn, người bán hàng thu lời từ 150 đến 450 USD tuỳ địa điểm, tuỳ mặt hàng và tất nhiên tuỳ cả duyên người bán.

    Với thu nhập một ngày bán lẻ tại Ba Lan nhiều hơn một năm tiền lương công chức ở Việt Nam, cả cộng đồng người Việt nhao lên trong cơn sốt kiếm tiền, họ ồ ạt xuống đường "đi chợ lẻ”. Tất cả mọi người không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần xuất thân đều vứt bỏ nỗi ám ảnh định kiến về "buôn đường, bán chợ” đua nhau tìm chỗ bán hàng. Họ chia nhau toả ra trấn giữ lối đi bộ trên các trục giao thông chính, họ tràn xuống các đường hầm, họ đứng ngập các chợ cóc, họ len lỏi về các vùng thôn quê hẻo lánh, vùng biên giới xa xôi…Sức lan tỏa mang hương vị tiền, tưởng chừng như không gì cưỡng nổi. Mùa đông giá rét, nhiệt độ xuống tới âm 15 - 20 độ C cũng không ngăn được ý chí của những người Việt Nam. Họ bất chấp thời tiết khắc nghiệt, chôn chân dưới tuyết, run rẩy bán hàng trong cơn gió vần vũ, buốt lạnh thấu xương.

    Đến lúc này thu nhập phụ của các cô gái đoàn may đã trở thành thu nhập chính. Đồng lương còm cõi tại xưởng may không còn giữ được chân họ nữa. Các cô thợ may lại một lần nữa nổi loạn. Họ lãn công, tự ý bỏ việc.. với quyết tâm được giải phóng. Sau mấy tháng quậy phá của các cô gái, giới chủ không chịu được nhiệt, đành buông xuôi. Họ phá bỏ hợp đồng, trả lại hộ chiếu cho 160 thành viên đoàn công nhân may. Các cô gái không bị trục xuất về nước, họ trở thành người tự do trên lãnh thổ Ba Lan. Tuy nhiên một bộ phận trong số họ tự nguyện trở về Việt Nam. Số đông còn lại quyết định ở lại Ba Lan kiếm tiền. Họ không những tự mình đứng vững mà còn đưa anh em, bạn bè, họ hàng từ Việt nam, từ các nước lân cận sang, đi chợ bán hàng. Số người Việt Nam đến và ở lại Ba Lan tăng trưởng từng tuần. Năm 1989 mới tính đến con số hàng trăm, chỉ mười năm sau số lượng đã lên đến hàng chục nghìn người, cả hợp pháp lẫn không hợp pháp. Nhà nước Ba Lan lo ngại tìm cách đối phó với làn sóng di dân người Việt nam. Họ đề ra các chính sách chặn cửa, xiết chặt visa. Đến lúc đó mọi chuyện trở nên quá muộn. Một cộng đồng thiểu số Việt Nam vững mạnh đã hình thành trong lòng xã hội Ba Lan

    Sau hai năm rời Việt Nam sang Ba Lan, nỗi nhớ vợ con vời vợi lớn dần trong Nguyên. Một đêm tháng ba, ánh trăng như dát bạc đất trời, Nguyên ngồi trên ban công dõi mắt về phương Đông, nó như thấy hiện lên trong chiếc gương soi vằng vặc treo giữa trời đêm, hình ảnh người vợ đang chong mắt nhìn nó, ngóng đợi. Hai tháng sau cái đêm quay quắt nỗi nhớ ấy, vào đúng ngày 19 tháng 5 năm 1990 vợ và con gái đầu lòng của Nguyên đặt chân đến Ba Lan. Đây là một sự kiện trọng đại trong cuộc đời Nguyên. Kể từ lúc đó Nguyên không còn đơn độc bươn trải trên thương trường khắc nghiệt xứ người. Bên cạnh Nguyên có thêm một người đồng ngũ trung kiên, luôn sẻ chia tiếp sức cho Nguyên trên mỗi bước thăng trầm của cuộc sống và sự nghiệp.


    Phần 7: Nền kinh tế chợ Việt Nam trong lòng Ba Lan


    Kinh tế chợ của người Việt Nam là một bộ phận cấu thành trong nền kinh tế thị trường Ba Lan. Cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan là một cộng đồng non trẻ, chưa hội nhập đầy đủ vào xã hội Ba Lan, nên các hoạt động kinh tế của nó còn khép kín, chậm hòa tan vào nền kinh tế sở tại. Kinh tế chợ được mọi người Việt Nam ở Ba Lan quan niệm nôm na là một dạng kinh tế đặc thù, riêng có của cộng đồng.

    Tổ chức ban đầu của nó tương đối sơ khai và mang đặc trưng dấu ấn chợ. Mọi người gọi mãi thành quen, rồi gán luôn cái tên “kinh tế chợ” cho nền kinh tế cộng đồng. Trong nền kinh tế chợ, người Việt Nam tự tổ chức các hoạt động kinh doanh từ khâu thiết lập nguồn hàng, phân phối và tiêu thụ hàng hóa. Họ tiếp thị, lựa chọn mẫu mã, huy động nguồn vốn, nhập hàng, giải quyết hải quan và cuối cùng là tiêu thụ hàng hóa (bán buôn và bán lẻ).

    Trước năm 1990, lực lượng trí thức chiếm tỉ lệ gần như tuyệt đối trong cơ cấu người Việt Nam tại Ba Lan. Cùng với sự tăng trưởng dân số của cộng đồng, tỷ trọng trí thức ngày càng bị pha loãng. Tuy nhiên trong suốt chặng đường phát triển, tầng lớp trí thức luôn đóng vai trò hạt nhân. Họ có nhiều ưu thế vượt trội về hiểu biết xã hội, về tiếng và quan hệ sâu rộng với người bản xứ. Trong các chiến dịch làm ăn, trí thức Việt Kiều dù số lượng ít nhưng luôn là lực lượng tìm tòi, sáng tạo, khơi nguồn và dẫn dắt cộng đồng.

    Sau cuộc cách mạng chuyển đổi thể chế, Ba Lan bỗng dưng trở thành miền đất hứa màu mỡ cho cộng đồng người Việt Nam làm giàu nhanh chóng. Ngoài việc đóng vai trò thị trường trung chuyển hàng hoá cho nước láng giềng “Liên Xô vĩ đại”, Ba Lan còn là thị trường nội địa có sức mua cao, với gần 40 triệu dân. Thời gian đầu khi mới mở cửa, thu nhập đại bộ phận dân chúng chưa cao, nhưng do trải qua thời gian dài khủng hoảng, hàng hoá thiếu trầm trọng, nên người tiêu dùng còn dễ tính. Khi đó hầu như tất cả các loại hàng hóa hợp thị hiếu, dù chất lượng không cao, đều được thị trường chấp nhận.

    Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, thị trường Ba Lan như một sa mạc mênh mông háo nước. “Cơn mưa hàng hoá” dẫu có to, ngay lập tức bị thấm sâu vào “lòng cát”. Thời đó việc kiếm tiền thật dễ. Không cần tài giỏi, chẳng cần tư duy nhiều, chỉ cần một chút không ngu, một chút ý chí, cộng với tí ti không biết sợ, là có cả điều kiện cần và đủ để làm giàu. Vòng luân chuyển tiền – hàng với tốc độ chóng mặt, tỷ suất lợi nhuận khó tin nổi. Cứ có tiền là có hàng và ngược lại, cứ có hàng là sinh lời, là đêm về vợ đếm chồng cười. Ai cũng thế, không có ngoại lệ. Người người đua nhau vơ tiền, y như bắt được. Cơ may không chỉ đến một lần mà hầu như ngày nào cũng vậy.

    Được ngụp lặn trong “biển vàng”, nhiều mảnh đời Việt Nam trước đó lam lũ đến khi ấy phất lên như diều gặp gió. Đổi lại, cuộc sống của họ trở nên kém an toàn hơn, họ luôn phải đối mặt với nhiều nguy cơ rình rập. Người dân Ba Lan vừa thoát khỏi nền kinh tế quan liêu bao cấp, cuộc sống của họ còn rất khốn khó. Trong khi đó người Việt Nam trên mảnh đất đó lại kiếm được rất nhiều tiền. Đúng là đục nước béo cò. Trong mắt người dân bản xứ thuộc tầng lớp dưới, cộng đồng người Việt Nam là bộ phận xã hội giàu có. Bọn bất lương người Ba Lan đánh hơi thấy những miếng mồi ngon, nhởn nhơ trước mắt. Chúng tìm cách tấn công người Việt Nam đơn lẻ ở mọi nơi, khi có cơ hội. Những địa điểm nguy hiểm với người Việt thường là nơi vắng vẻ như lối vào chung cư, trong thang máy, đường hầm, nhà riêng, thậm chí cả trong toa tầu hoả…

    Đất nước Ba Lan thanh bình, người dân Ba Lan thân thiện. Theo đánh giá của Tổ Chức An Ninh Liên Hiệp Châu Âu, Ba Lan là nước có tỉ lệ tội phạm thấp nhất EU. 96% dân số Ba Lan theo đạo Thiên Chúa nên người dân Ba Lan nói chung sống có đạo lý. Tuy nhiên không có gì tuyệt đối. Ba Lan vẫn có tệ nạn xã hội và khó tránh khỏi những mối đe doạ nguy hiểm.

    Trong những năm sống ở Ba Lan, Nguyên chưa bao giờ bị đánh. Nhưng Nguyên lại có duyên nợ với hơi cay bình xịt. Có lẽ Nguyên mạng mộc hợp với thủy (thủy sinh mộc) nên cái mặt nó hay được người đời tưới tắm. Vào một ngày tháng 3 năm 1990, Nguyên ra ga Dworzec Centralny tiễn ông bạn tên V đang học trường tiếng tại thành phố Lodz. Hai thằng khệ nệ xách một chiếc túi du lịch, bên trong đầy căng các loại khăn, áo, váy thêu… Vừa đu người lên toa tàu, chưa kịp kéo túi vào hành lang, Nguyên và V bị ba thằng tây không tóc, không râu, to như ba con gấu quây lại. Một thằng cao cỡ gần hai mét nhấc bổng V lên, giộng mạnh mặt nó vào thành tàu, rồi thả tay. Thằng bạn khốn khổ của Nguyên đổ ụp xuống như một cây chuối phạt ngang, bất động. Hai thằng tây còn lại giật chiếc túi du lịch, định nhảy xuống sân ga. Lúc đó, Nguyên không kịp nhận biết nỗi sợ hãi. Nó lao đến, đấm túi bụi vào cái bụng căng tròn của một thằng đứng ngay trước mặt. Hai nắm đấm bé nhỏ chỉ quen cầm bút của Nguyên lút sâu vào tảng mỡ, gắn trên một cái bụng phệ, vòng chu vi có đến mét rưỡi. Gương mặt thằng béo chẳng hề biểu cảm sự đau đớn. Có lẽ lực đấm từ tay Nguyên không đáng để nó phải bận tâm. Đúng lúc đó, thằng V mặt bê bết máu, đã định thần sau cơn choáng. Vừa nhặt hai cái răng ra khỏi miệng, nó gào toáng lên:

    - Cướp, cướp!

    Ba thằng tây khủng như ba con King Kong sững lại trước tinh thần không nao núng của hai tên loi choi mắt xếch. Thằng béo giằng mạnh chiếc túi khi tàu vừa chuyển bánh. Nhưng hai tay Nguyên vẫn bám chặt quai túi, ghì lại. Nguyên thấy thằng thứ ba rút từ trong túi áo khoác một vật có hình thù giống như trái lựu đạn. Nguyên chưa kịp nhận ra đó là thứ gì thì bản mặt bạch diện thư sinh của nó đã lãnh trọn nửa bình xịt hơi cay. Nguyên ôm mặt gục xuống. Ba thằng cướp bước vội qua người nó, nhảy xuống sân ga cùng với túi hàng. Đúng lúc đó tàu tăng tốc. Dưới sân ga không một bóng người, ngoài ba cái thân hình lực lưỡng đang khùng khục cười, đắc thắng.

    Trên toa tàu không một ai qua lại, có lẽ mọi người đã ngủ. Nguyên không chịu nổi mùi hơi cay xộc lên nồng nặc. Mặt Nguyên bỏng rát, hai mắt nó nhắm nghiền, mũi nghẹt đặc, từng cơn nấc dội lên từ lồng ngực. Nguyên gần như không thở được nữa, mồm nó ngáp ngáp như cá đớp bóng khí. Nguyên ngã dúi vào người V, lúc đó đang ngồi bệt trên sàn. Máu từ mặt V nhỏ xuống người Nguyên, thấm đỏ cả một vạt áo. Nguyên lịm dần. Sau nửa tiếng, cái mùi hăng hắc, ngai ngái rất khó chịu của hơi gaz dịu dần, nhịp thở của Nguyên sâu hơn. Nguyên bắt đầu tỉnh lại, nó mờ mờ nhìn thấy ánh sáng sau làn nước cay xè, nhoe nhoét. Sau này mỗi khi nhắc lại chuyện cũ, Nguyên và thằng V vẫn không hiểu, lúc đó chúng nó lấy đâu ra sự can đảm, dám đương đầu với ba tên cướp hung tợn, cao to vật vã.

    Việt Nam từ bỏ nền kinh tế kế hoạch quan liêu, chuyển sang kinh tế thị trường trước khi Ba Lan chuyển đổi cơ chế. Yếu tố hàng hoá đầu vào Việt Nam và thị trường đầu ra Ba Lan như một bài toán được xắp đặt trước, hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Qua nhiều ngả đường, qua nhiều cách thức khác nhau, các loại hàng hoá có xuất xứ Việt Nam, Trung Quốc được chuyển sang Ba Lan với quy mô ngày càng lớn, chất lượng ngày càng cao.

    Thời gian đầu, hàng may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ từ Việt Nam được mang theo như hành lý của hành khách bay máy bay. Hãng hàng không Aeroflot của Liên Xô khi đó chiếm thị phần lớn nhất về vận chuyển từ Việt Nam sang Liên Xô và Đông Âu. Hãng này không quy định khắt khe về khối lượng hành lý. Mỗi hành khách có thể mang bẩy, tám chục kg với cước phí rẻ như cho không. Vợ và con gái Nguyên sang Ba Lan đúng vào dịp này. Số hàng dệt may hai mẹ con mang theo, nặng tới hơn một tạ, được bán hết veo tại căn hộ của Nguyên trong vòng hai tiếng đồng hồ. Các khách hàng quen thuộc của Nguyên gầm gè, lao vào mua như tranh cướp. Vợ Nguyên trước đó đã biết về “thiên đường” Ba Lan qua những lá thư của chồng gửi về và qua các bà bạn, vợ nghiên cứu sinh. Nhưng thị vẫn cứ ngỡ ngàng, lại thầm tiếc rẻ nữa.

    Nửa đầu năm 1990, vào những ngày có lịch bay của hãng hàng không Aeroflot nối chuyến từ Hà Nội quá cảnh Moskva đến Warszawa, băng chuyền hành lý tại sân bay Okecie luôn quá tải. Hàng chục kiện hàng được đóng trong bao dứa giống hệt nhau, dồn ứ, chất thành từng đống lớn bên cạnh băng chuyền. Không bao lâu sau, nhân viên hải quan sân bay nghĩ ngay ra cách làm tiền. Họ đề ra quy định tư nhân không được phép nhận hàng hoá như hành lý mà phải qua thủ tục nhập khẩu vào công ty. Thời gian này hầu hết người Việt Nam chưa có tư cách pháp nhân để thành lập hãng. Một ý tưởng làm ăn lóe lên trong Nguyên. Nó hợp tác với công ty Vinam của Soái DC làm thủ tục nhận hàng cho những người Việt Nam bay sang theo đường hàng không.

    Hàng đêm, khi màn đêm buông xuống, Nguyên ngồi taxi ra sân bay. Nó vạ vật, nhấm nháy, móc nối với nhân viên hải quan kéo từng kiện hàng. Bọn nhân viên hải quan chẳng thèm để mắt đến mấy thứ giấy tờ, cùng con dấu công ty. Lúc đó Nguyên mới hiểu, chúng chỉ thèm tiền. Càng dễ! Nó nghĩ thế. Mỗi kiện hàng to vật vã, Nguyên lót tay cho nhân viên hải quan 100 USD thay vì nộp thuế. Bọn hải quan dù hám tiền song vẫn sợ sếp nên việc kéo hàng chỉ tiến hành vào ban đêm, lén lút như những tên trộm. Số lượng các kiện hàng lấy ra không theo kịp với tốc độ hàng ùn ùn đổ về theo mỗi chuyến bay. Đến khi những kiện hàng bọc bao dứa, kẻ sọc mầu mè, chất cao như núi, nhân viên hải quan đứng nhìn bất lực. Dù muốn họ cũng không dám ăn tiền trắng trợn, những núi hàng lồ lộ đã trở thành chuyện lớn. Lúc đó cơ quan hải quan Ba Lan mới vào cuộc, việc nhập hàng như hành lý theo người bị kiểm soát chặt chẽ. Từ khi đó, con đường tơ lụa đơn giản, hiệu quả qua đường sân bay bị chặn lại.

    Đồng thời với việc khai thác đường hàng không, các du học sinh Việt Nam còn tận dụng đường bưu điện để chuyển hàng hoá. Theo qui định của phía Ba Lan mỗi bưu kiện nặng dưới 1 kg được coi như quà tặng, không phải chịu thuế. Tuy nhiên họ lại không hạn chế số lượng bưu kiện được nhận mỗi lần. Các du học sinh Việt Nam khai thác ngay sự sơ hở này để chuyển hàng hoá từ Việt Nam ồ ạt qua đường bưu điện trong suốt năm 1990. Những gói bưu kiện này được bưu điện hai nước hợp tác chuyển theo đường hàng không, từ khi gửi đến tay người nhận rất nhanh. Thời gian này đầu bên phía Việt Nam, mọi người thường nhìn thấy hình ảnh người nhà du học sinh nườm nượp ra vào Bưu Điện Bờ Hồ - Hà Nội. Quầy chuyển bưu kiện bừa bãi, hối hả như một phân xưởng đóng gói, nghiệm thu. Cùng lúc, đầu bên phía Ba Lan, tại các chi nhánh bưu điện, những gói bưu kiện bọc giấy xi măng xuất xứ Việt Nam ngồn ngộn, chất đống. Trước các quầy nhận bưu kiện, nhiều người Ba Lan kiên nhẫn xếp hàng. Họ chứng kiến cảnh các chàng trai gốc Á bé nhỏ, kéo lê từng bao tải chứa đầy những gói bọc giấy xi măng ra taxi. Họ không thể biết bên trong những gói bưu kiện có cái gì và tại sao quà tặng lại nhiều đến vậy.

    Chính các gói bọc giấy xi măng nhỏ nhắn đầy ma lực này khiến Nguyên một lần nữa lại “gặp duyên” với bình xịt hơi cay. Chung cư của Nguyên nằm tại trung tâm Warszawa. Về mặt lý thuyết đây là vùng an ninh khá tốt. Người Việt Nam thích thuê tại đây, họ ở khu này với mật độ rất cao. Những con mồi bé nhỏ, tóc đen, lắm tiền đã cuốn hút bọn lưu manh Ba Lan đến đây hành nghề. Bọn chúng lượn lờ quanh chân các toà nhà chung cư rình rập. Chiều tối một ngày cuối năm 1990, Nguyên chở chiếc bao tải chứa đầy bưu kiện mới nhận từ bưu điện về nhà. Trong lúc đi qua sảnh rộng đến thang máy, Nguyên chột dạ thấy một thằng tây lấm lét bám theo. Khi Nguyên bấm thang máy, thằng kia dừng lại cách nó chừng mươi mét, giả vờ lơ đãng nhìn quanh. Cửa thang máy vừa mở, Nguyên vội vã kéo chiếc bao tải vào trong. Nó luống cuống bấm nút tầng 5. Không kịp rồi! cửa thang máy chưa khép chặt, thằng vô lại đã sấn đến. Tên cướp giơ tay, xịt cả bình ga về phía mặt Nguyên. Do có linh cảm từ trước, Nguyên nghiêng đầu tránh được luồng hơi ga. Nó xô mạnh thằng kia, lách người lao ra bên ngoài. Nguyên vừa chạy vừa hô:

    - Cướp, cướp!

    Đến lượt thằng tây luýnh quýnh, nó chui ngược vào bên trong thang máy, mong tẩu thoát cùng với kiện hàng. Toà nhà Nguyên ở là chung cư lớn, có bảo vệ. Tuy nhiên chỗ bảo vệ ngồi lại khuất với thang máy, nơi đang diễn ra sự kiện kia. Thấy Nguyên lảo đảo chạy đến, nước mắt dàn dụa, bụi trắng một vai áo, viên bảo vệ lao ra hỏi:

    - Có chuyện gì vậy?

    Nguyên không nói được, nó chỉ tay về phía thang máy. Viên bảo vệ vừa dụi mắt, vừa hắt xì hơi, lao theo hướng Nguyên chỉ. Thang máy không còn ở đó, chắc nó đã đi lên, không biết dừng tại tầng nào. Nguyên cùng viên bảo vệ nhảy một bước vài ba bậc thang chân, leo lên xét kỹ từng tầng. Đến tầng năm, cả hai nhìn thấy tên cướp nằm vật trước cửa thang máy, hai bàn chân nó còn kẹt phía bên trong cùng với kiện hàng. Thì ra tên cướp bị say hơi ga, do chính nó đã xịt vào Nguyên trước đó. Những hạt bụi hơi cay li ti trắng đục vẫn còn mù mịt như sương trong thang máy. Mười lăm phút sau cảnh sát xuất hiện, thằng cướp vẫn nằm bất động. Viên cảnh sát vừa còng tay tên cướp vừa ngạc nhiên hỏi Nguyên:

    - Tại sao tên cướp say hơi ga, còn ngài thì không?

    Nguyên cười, đùa lại:

    - Thằng này tửu lượng kém, với tôi chừng đó chưa đủ đô.

    Hai gã cảnh sát nhìn Nguyên từ đầu đến chân, rồi lại nhìn nhau, thè lưỡi nhún vai.

    Giống như số phận các bịch hàng chuyển theo đường hàng không, những gói hàng gửi qua đường bưu điện rồi cũng đến hồi hấp hối. Các gói bưu kiện đều chằn chặn, giống như những viên gạch, cứ ngày ngày, xếp chồng lên nhau, cao dần, đến lúc chạm trần. Hàng núi công việc bỗng dưng ở đâu xuất hiện, đổ ập xuống đầu các nhân viên bưu điện Ba Lan. Họ quá vất vả với cường độ lao động mới. Mỗi ngày vẫn từng ấy nhân viên, họ phải tiếp nhận, phân loại và phát chuyển hàng tấn bưu kiện cho các thượng đế khách hàng Việt Nam. Cả hệ thống bưu điện Ba Lan hỗn loạn vì không chịu nổi áp lực đến từ một đất nước xa lạ. Sự kiên nhẫn cũng có giới hạn. Tháng 12 năm 1990, hải quan Ba Lan một lần nữa lại vào cuộc. Họ đề ra qui định cá nhân không được phép nhận hàng miễn thuế dưới dạng bưu kiện. Hàng chục tấn hàng hoá đội lốt quà tặng dồn ứ trong hệ thống bưu điện Ba Lan. Mấy ông Việt Kiều vợ tây lại có việc làm. Họ có công ty để triển khai dịch vụ nhận hàng. Sau khi toàn bộ số bưu kiện đầy ắp mấy gian bưu điện trên phố Chmielna được giải toả, con đường tơ lụa thứ hai, nhập hàng may mặc từ Việt Nam vĩnh viễn đóng lại.

    Trải qua khó khăn, sức sống Việt Nam càng có cơ hội chứng tỏ bản lĩnh và trí tuệ. Sau mỗi lần vấp ngã, cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan lại vươn mình ngạo nghễ đứng dậy, trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn. Cuối năm 1990, cả hai cách thức chuyển hàng hoá từ Việt Nam sang Ba Lan qua đường hàng không và đường bưu điện không thể thực hiện được nữa bởi rào cản pháp lý. Trước thử thách mới, các doanh nhân Việt Nam tại Ba Lan không khoanh tay đầu hàng số phận. Một lần nữa họ lại thử nghiệm thành công và tìm ra con đường mới chuyển hàng từ Việt Nam sang Ba Lan trên cơ sở phát triển liên tục, bền vững với quy mô lớn hơn, hiệu quả cao hơn.


    Phần 8: Nền 'kinh tế chợ' Việt Nam trong lòng Ba Lan


    Năm 1991 đánh dấu sự bùng nổ của thị trường hàng châu Á tại Ba Lan. Thời gian này các doanh nghiệp Việt Nam khai thác hàng hóa từ nhiều nguồn. Trước hết và chủ yếu là nhập khẩu trực tiếp từ Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Korea, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ…sau nữa là mua lại của các doanh nghiệp khác tại Ba Lan và cuối cùng là nguồn hàng ký gửi.

    Ngay sau khi hai con đường chuyển hàng vào Ba Lan qua đường hàng không (theo người) và qua đường bưu điện bị đóng lại, các doanh nghiệp Việt Nam đã sớm tìm ra con đường mới, vận chuyển cargo bằng đường hàng không. Chiến dịch này được tiến hành trong suốt cả năm 1991. Ban đầu cargo hàng chậm được chuyển từ Hà Nội quá cảnh qua Praha đến Warszawa. Thời điểm đó không một hãng Hàng không nào cạnh tranh được với hãng Hàng không Tiệp về giá cước vận tải cargo. Bốn tháng sau, hãng Aeroflot của Nga mới giành lại được thị phần và duy trì thế độc quyền trong suốt 8 tháng còn lại của năm 1991.

    Thời gian này, thị trường Ba Lan luôn ở trong tình trạng khát hàng. Lượng hàng chuyển sang tuy dồn dập vẫn không theo kịp tốc độ tiêu thụ. Lúc đó dịch vụ trọn gói từ khâu xuất hàng, vận chuyển, nhập hàng, đến giải quyết hải quan là công việc mới mẻ, đem lại thu nhập cao. Hợp tác với một công ty Việt Kiều có trụ sở tại thành phố Bydgoszcz, Nguyên triển khai công việc này từ A đến Z cho các khách hàng nhỏ lẻ không có điều kiện tự làm. Suốt một thời gian dài, hàng từ Việt Nam chuyển sang đến đâu, bán hết ngay đến đó với lợi nhuận cao. Mỗi lô hàng vài chục kiện của nhiều chủ, nên rất khó khai báo chính xác số lượng. Gom đủ số liệu có khi mất hàng tuần. Chịu sức ép từ các chủ hàng và muốn vòng quay nhanh, Nguyên đã phải trả giá cho một lần bất cẩn vì thiếu kiên nhẫn.hợ Sân Vận động Mười Năm, lúc sầm uất nhất có gần 1.400 quầy của người Việt Nam

    Ngày 24/01/1991, Nguyên cùng cô bạn Barbara, chủ một công ty tư nhân Ba Lan đến kho ngoại quan nằm trên phố Ordolna làm thủ tục nhận lô hàng gồm 70 kiện của nhiều chủ hàng. Không có số liệu đầy đủ từ phía Việt nam về lượng hàng trong mỗi kiện, Nguyên đã tự ý ghi tờ vận đơn. Thật xui xẻo, hôm đó nhân viên hải quan nhất mực đòi kiểm tra ngẫu nhiên để đối chứng với tờ khai. Đếm ba kiện, sai cả ba. Cô bạn người Ba Lan tái mặt, vã mồ hôi. Trong lúc bị lập biên bản vi phạm, do không giữ nổi bình tĩnh, cô ấy đã giật phắt tờ vận đơn vật chứng cho vào mồm nhai rồi nuốt chửng. Quá đỗi bất ngờ, nhân viên hải quan chỉ biết tròn mắt nhìn người đồng hương thưởng thức "bữa sáng” trong vòng chưa đầy một phút. Cô bạn tây thường ngày vốn nhỏ nhẹ lịch sự , vậy mà trước hiểm nguy bỗng chốc hóa anh hùng.

    Toàn bộ số hàng bị hải quan niêm phong chờ giải quyết. Để xoá dấu vết sai phạm và kịp lấy hàng đang cơn nóng sốt, Nguyên quyết định đánh một canh bạc. Do non nớt, Nguyên chưa ý thức được tính nghiêm trọng của tội danh huỷ hoại tài liệu, cản trở người thi hành công vụ. Ngay sáng hôm sau, Nguyên tiếp cận nhân viên hải quan, người đã kiểm hàng, lập biên bản hôm trước. Hắn nói với Nguyên: - Muốn nhận được lô hàng, phải bù đủ số tiền thuế còn thiếu do khai thiếu số lượng. Nguyên hồ hởi, đút ngay hai nghìn zloty vào chiếc phong bì, kẹp chung với tập vận đơn.. Viên hải quan đột nhiên thay đổi thái độ, mặt nó rạng ngời, ra dấu làm hiệu cho Nguyên xếp hàng lên xe.

    Khi chiếc xe tải chở 70 kiện hàng chuẩn bị chuyển bánh, bỗng nhiên một chiếc xe cảnh sát nhấp nháy đèn, hú còi lao từ cổng vào, chặn trước đầu xe tải. Ngay lập tức, hai viên cảnh sát bật cửa lao ra. Nguyên chưa kịp định thần, một viên cảnh sát đã rút súng chĩa thẳng vào Nguyên, viên cảnh sát còn lại dúi người Nguyên áp sát thành xe tải. Rất nhanh, hai chân Nguyên bị đá xoạc rộng ngang vai, hai tay giơ cao hơn đầu. Viên cảnh sát nắn vuốt kỹ lưỡng người Nguyên từ trên xuống dưới. Khi biết chắc Nguyên không mang theo vũ khí, họ tuyên bố Nguyên bị tạm giữ để điều tra về vụ tình nghi vi phạm pháp luật. Hai tay tra trong chiếc còng số tám, Nguyên bị đẩy lên xe cảnh sát. Còi lại hú, đèn lại nhấp nháy. Hai mươi phút sau, Nguyên đã yên vị trong trại giam của cảnh sát thành phố Warszawa. Tại đây, Nguyên đề nghị cho biết lý do bắt giam và yêu cầu ngay lập tức phải thông báo sự vụ cho gia đình và sứ quán. Cảnh sát Ba Lan rất kiên nhẫn và lịch sự, họ làm theo các yêu cầu của Nguyên. Do chưa có phiên dịch tuyên thệ và đại diện sứ quán, việc lập hồ sơ cáo trạng phải chờ đến hôm sau.

    Lần đầu tiên trong đời, Nguyên biết thế nào là nhà tù. Phòng giam chật chội, vẻn vẹn tám mét vuông. Hai bên sát tường có hai bệ xi măng được gọi là giường. Phía trên cao, gần sát trần, có một cái lỗ hình tròn, đường kính 30cm, được chia ra bởi hai cái cọc sắt phi 20. Đây là lối duy nhất nối ra thế giới bên ngoài. Kiễng chân không tới, Nguyên chỉ nhìn thấy qua đó vào ban ngày một khoảng trời vằng vặc như trăng đêm rằm. Ngày ba bữa, mỗi bữa ba lát bánh mì đen, phết bơ mỏng đến độ, nếu ai không biết, lại nghĩ bơ không màu, không mùi, không vị. Đói ăn tuốt, Nguyên nhâm nhi nhai đến mẩu vụn bánh cuối cùng. Khát uống cạn, Nguyên liếm láp từng giọt nước hòa bột gạo rang cháy.

    Chín giờ sáng hôm sau, đại diện sứ quán cùng người phiên dich có mặt. Lần đầu tiên Nguyên được làm quen với một người Ba Lan rất đặc biệt. Anh có tên Việt Nam là Lê Bình. Làm nghề phiên dịch tiếng Việt nhưng Lê Bình chưa một lần đặt chân đến Việt Nam. Anh tốt nghiệp khóa tiếng Việt tại Học Viện Quan Hệ Quốc Tế Mockva (Nga). Anh là người bạn thân thiết, gắn bó với cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan. Sau nửa ngày làm việc, mọi thủ tục khai báo hồ sơ kết thúc, Nguyên lại trở về phòng giam với bánh mì, nước gạo rang, giường xi măng và một khoảng trời nho nhỏ. "Một ngày tù nghìn thu ở ngoài” quả thật không sai. Không giải trí, không thông tin, không hình ảnh, không tiếng động, chỉ có tiếng cửa sắt rít và tiếng giày cảnh sát gõ ngoài hành lang. Không gian khép kín trong bốn bức tường thật kinh khủng, sống ở đó chẳng khác gì bị chôn trong nhà mồ.

    Ngay sau khi Nguyên bị bắt, ba tờ báo Warszawa giật tít lớn "Trùm mafia Việt Nam tại Ba Lan bị còng tay”. Hoá ra báo lá cải ở đâu cũng như nhau. Với sự hào phóng của báo chí, đảng viên cộng sản Nguyên bỗng dưng được phong tặng danh hiệu… Bố Già. Sau đúng bốn mươi tám tiếng tạm giam, Nguyên được trả tự do để đối mặt với cuộc chiến pháp lý kéo dài tới mười hai năm.

    Trong thời kỳ quá độ lên...kinh tế thị trường đầu thập kỷ 90, hàng hoá do các doanh nghiệp Việt Nam nhập về từ Việt Nam, Trung Quốc...hầu hết được bán sỉ cho người Việt Nam bán lẻ. Nghĩa là mạng lưới bán buôn của người Việt Nam khi đó chủ yếu dành cho trao đổi trong nội bộ cộng đồng. Thuở ban đầu, công đoạn bán buôn diễn ra ngay tại các căn hộ, nhà ở, hay kho lẻ của người nhập hàng. Thời gian sau, khi số lượng và chủng loại hàng hóa tăng lên, địa điểm giao hàng phân tán không còn đáp ứng được nữa, một số Việt Kiều có công ty đã lập ra các khu kho bán buôn. Họ thuê lại nhà máy cũ, kho chứa hàng, rồi ngăn thành các quầy nhỏ cho các doanh nghiệp Việt Nam thuê lại. Các quầy này vừa là nơi chứa hàng, vừa là địa điểm giao hàng, thu tiền.

    Kho bán buôn đầu tiên nằm trên phố Dobra do hai Việt Kiều T.C. và C.K. lập ra. Diện tích mặt bằng rộng, được chia thành 12 quầy, mỗi quầy rộng hàng chục mét. Ở đây tập trung tên tuổi các soái lớn đánh hàng Việt Nam và Trung Quốc. Kho Dobra tuy không nhiều chủ hàng thuê, nhưng ở đó vẫn có đủ quán ăn và câu lạc bộ phục vụ cho vừa chủ, vừa khách đến mua hàng. Kho thứ hai nằm trên phố Grzybowska do anh Tr. Gdansk mở. Đây là một tòa nhà 4 tầng vốn là trụ sở một công ty Ba Lan. Anh Tr. Gdansk thuê lại mặt bằng tầng một và tầng hầm. Sau đó anh dùng lưới thép B40 ngăn lại thành 30 quầy, mỗi quầy rộng chừng 15m2. Kho này có địa điểm thuận lợi, tọa lạc ngay trung tâm Warszawa, trong khu dân cư có nhiều gia đình Việt Nam sinh sống. Kho cuối cùng được thành lâp theo mô hình này nằm trên phố Trojdena cắt phố Zwirki i Wigury do Việt Kiều T.C. và N.Đ.H mở. Khu kho này thực ra chỉ là những dãy container đặt trên một bãi đất trống. Các chủ kinh doanh đã dự tính trước thời gian tồn tại ngắn của mô hình này nên họ triệt để tiết kiệm chi phí đầu tư, đề phòng rủi ro. Do sinh sau đẻ muộn, kho Trojdena đã đóng cửa chỉ sau gần một năm hoạt động.

    Sân Vận Động Mười Năm Warszawa, chợ trời lớn nhất Châu Âu ra đời và phát triển những năm đầu thập kỷ 90 đã góp phần khai tử mô hình kho bán buôn do người Việt Nam tổ chức. Từ đây "mọi con đường buôn bán đều dẫn đến... Sân Vận Động”. Thời kỳ đỉnh điểm, Chợ SVĐ có trên 15 nghìn kios bán hàng (cả tây và ta), giải quyết việc làm cho hơn 30 nghìn lao động. Gọi là chợ trời nhưng thực ra đây là khu chợ đầu mối giao dịch bán buôn và bán lẻ hàng tiêu dùng được nhập khẩu từ nhiều nước trên thế giới và sản xuất tại Ba Lan. Đúng với nghĩa đen, chợ trời SVĐ là "trên trời, dưới hàng”. Cần mẫn lượn cả ngày chắc vẫn chưa thể đi hết mọi ngóc ngách của chợ.

    Chợ SVĐ bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 1990, khởi đầu với hai dãy kios tại khu vực Chợ Chó. Một thời gian sau, các kios bán hàng mọc lên như nấm sau cơn mưa và nhanh chóng loang ra các khu Đường Ngang, Sân Tròn Trên, Sân Tròn dưới, Đường Tàu, Parking, PKS, Đuôi Máy Bay, Nhà Tôn, Nhà Gỗ, Tam Giác, Tứ Giác, Nhà Trắng, Đường Tàu Mùa Xuân, Đường Dốc...Toàn các địa điểm do người Việt Nam tự đặt tên, gọi mãi thành quen. Mỗi khu vực do một công ty, một "lãnh chúa” cai quản. Nhưng bao trùm nhất, bài bản nhất vẫn là công ty Damis. Thời kỳ cực thịnh, giá chuyển nhượng quyền sử dụng một kios vài mét vuông ở địa điểm đẹp có thể lên tới năm, bẩy chục nghìn, thậm chí cả trăm nghìn đô la.

    Khách mua hàng tại đây đến từ nhiều quốc gia phía Đông như Nga, Lítva, Belarusia, Ukrajna, Moldavia, thậm chí từ những vùng xa hơn như Azerbaijan, Armenia, Czesnia...hay từ các nước phía Nam như Rumani, Bungari, Nam Tư...và không thể thiếu khách đến từ các địa phương trên lãnh thổ Ba Lan. Thời gian đầu, người đóng hàng tại Chợ Sân Vận Động chủ yếu là khách tây. Thường họ mua mỗi lần một hay vài xe mini bus, nhiều thì cả container, thậm chí vài container. Về sau người Việt Nam đổ buôn, bán lẻ từ các tỉnh xa ở Ba Lan thay vì vào các khu kho của người Việt Nam, họ lên thẳng SVĐ. Những năm 1995 – 2000 khách Việt Nam từ Czech, Slovakia, Đức...sang đóng từng xe tir hàng hóa. Người mua hàng đi lại nườm nượp, nhiều khi tắc nghẽn phải nhích từng bước một. Đó là thời kỳ hoàng kim của "nền kinh tế chợ Việt Nam trong lòng Ba Lan”

    Vì là chợ bán buôn nên Chợ SVĐ mở cửa hoạt động từ rất sớm. Hai giờ sáng khách mua hàng đã chen chân bấm đèn pin, rọi hàng, hỏi giá. Chợ hầu như mở cửa quanh năm, không có ngày nghỉ, trừ những ngày lễ tôn giáo thiêng liêng. Lịch đỏ áp dụng ngày nghỉ cho cả Ba Lan, trừ Chợ SVĐ. Người Việt Nam làm việc tảo tần suốt tháng. Nếu được quản lý chợ cho phép, họ có thể bán hàng cả ngày, cả đêm, không ngừng nghỉ. Con dân nước Việt ở đâu cũng vậy, ý chí làm giầu vượt qua cả giới hạn sinh học. Nhiều người luôn trong tâm trạng thấp thỏm, bất an. Họ bị ám ảnh bởi hội chứng "sợ thằng hàng xóm tranh mất khách hàng”.

    Có câu chuyện về hai cô người Việt ngồi bên nhau, bán cùng mặt hàng. Mới đầu họ thân nhau như chị em ruột, con chấy cắn đôi, hạt gạo bẻ nửa. Vậy mà chỉ nửa năm sau, hai bên thường xuyên bị đặt trong tình trạng chiến tranh lạnh, sẵn sàng ấn nút hủy diệt nhau. Chuyện gầm ghè tranh khách của nhau xảy ra như cơm bữa. Bên này báo giá cho khách, vừa lúi húi quay đi, bên kia đã giật áo, giơ máy tính trước mặt khách, bấm giá thấp hơn. Một lần có cô buồn tiểu, dù phải nhảy tưng tưng vẫn không dám rời quầy vì sợ cô kia tranh khách. Sau rồi chịu không nổi, cô bèn lấy chai bia chồng uống cạn, tưới vào đấy. Vừa lúc cô quay lưng, có ông già chuyên đi nhặt chai đổi bia, ngật ngưỡng đi ngang. Cô hàng xóm vẫy ông lại, chỉ vào cái chai dựng ở chân ghế. Ông già rạng rỡ nhặt lên. Thấy bên trong có lưng chai nước màu vàng nhạt, ông già tưởng bia còn sót lại định ngửa cổ tu. Cô này động lòng trắc ẩn, hoảng hồn xua tay ngăn lại. Cô chỉ tay vào cái "ấy” của mình, rồi lại chỉ vào quầy cô kia, ý chừng mách cô kia chính là chủ nhân của thứ bia tạo hóa đó. Ông già hiểu ý, văng ngay ra một câu chửi thề "kurwa”. Vẫn chưa hả cơn tức, ông già cầm đít chai, dốc ngược cả chỗ "nước thơm” lên xấp hàng mới tinh của thủ phạm. Chuyện này Nguyên chỉ nghe kể lại, chưa được kiểm chứng nên không biết thực hư, đúng sai thế nào.

    Chợ SVĐ là nơi kiếm cơm của đủ các hạng người. Vì thế rất nhiều tệ nạn xã hội xảy ra ở đây. Trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, bạc bịp, đâm chém...diễn ra thường ngày như một sự tất yếu của cuộc đấu tranh sinh tồn. Không chỉ có những kẻ du thủ du thực mà cả lực lượng bảo vệ, cả cảnh sát thoái hóa tham gia tích cực vào quá trình tận thu, phân phối lại thu nhập. Bọn chúng là nỗi ám ảnh kinh hoàng của dân lao động lương thiện cả tây và ta trên chợ. Một lần đang ngồi ăn, Nguyên được nghe chủ quán kể lại: Sáu giờ sáng nay, tại đường hầm vào khu PKS, hai thằng bất lương vật một phụ nữ Nga ra đất, mặc cho bà ta giãy dụa cầu cứu, một thằng ngang nhiên thò tay vào bên trong quần giật ra một chiếc túi đầy tiền, chúng cười hô hố, chạy mất dạng trước ánh mắt nhìn theo, bất lực của nhiều người. Tội nghiệp! bà người Nga chỉ biết giậm chân khóc than. Toàn bộ số tiền mua hàng bà đem theo tận nước Nga xa xôi đã bị cướp sạch.

    Doanh số trao đổi hàng hóa của Chợ SVĐ, theo báo cáo của Cơ Quan Thống Kê thành phố Warszawa lên tới gần năm tỷ USD mỗi năm. Người ta không công bố chính xác tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trong số đó được tái xuất ra nước ngoài và bao nhiêu ở lại với thị trường bán lẻ Ba Lan. Nhưng theo ước tính của báo chí, vào những năm 1995-2000 có không dưới một nửa doanh số hàng hóa đã tỏa ra thị trường bán lẻ nội địa Ba Lan. Một con số không hề nhỏ. Năm 2008 Ba Lan và Ukrajna chính thức được UEFA chọn đồng thầu tổ chức giải Vô Địch Đá Banh Châu Âu năm 2012. Vậy mà kế hoạch đóng cửa chợ trời để xây dựng lại Sân Vận Động Quốc Gia đã gây ra cuộc tranh cãi không dứt ở cấp thành phố và cấp nhà nước. Mãi đến ngày 31/06/2010 nghĩa là hai năm sau, việc đóng cửa Chợ SVĐ mới hoàn tất. Thế mới thấy, Chợ SVĐ có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với nền kinh tế, chính trị, xã hội của Ba Lan và sự tồn tại của bộ phận lớn cộng đồng người Việt Nam.

    Năm 1991 đánh dấu bước phát triển cả về số lượng và chất lượng của cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan. Trong năm này, Ba Lan bắt đầu ban hành các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Họ cho phép công dân các nước đầu tư tối thiểu năm mươi nghìn USD có thể mở công ty Joint Venture. Tháng bảy năm 1991, Nguyên cùng một người bạn thành lập công ty theo luật Đầu Tư Nước Ngoài. Có thể nói vào thời điểm đó, sau công ty Tofima của soái T., công ty Joint Venture của Nguyên là công ty thứ hai của người Việt Nam (không phải là Việt Kiều) có tư cách pháp nhân.

    Sau khi vướng vòng lao lý, Nguyên thường xuyên phải đối mặt với hệ thống pháp luật đồ sộ của Ba Lan. Chán nản vì những cuộc gặp không mong đợi diễn ra hàng tuần với cảnh sát, luật sư, công tố viện, tòa án...Nguyên quyết định giảm quy mô kinh doanh nhằm "bảo toàn lực lượng”. Qua một người bạn có mối liên hệ với đường dây chuyên gia Việt Nam tại Châu Phi, Nguyên đặt mua xe máy từ Nhật để chuyển về Việt Nam. Hai tháng sau, Nguyên bay về nhận cả một container 60 chiếc Honda toàn loại DD, DE. Thật khó diễn tả được tâm trạng "mà niềm vui như đến bất ngờ” của Nguyên lúc đó. Từ một kẻ trước đó không lâu còn là công chức quèn ở một Bộ, hàng ngày hai vợ chồng vẫn lóc cóc đèo nhau đi làm trên một chiếc xe đạp ghẻ, thế mà bây giờ Nguyên đã sở hữu một gia sản bề nổi ngần ấy cái xe máy model đỉnh nhất Việt Nam lúc bấy giờ. Cả nhà nội, nhà ngoại ngỡ ngàng, không ai nghĩ được rằng, chỉ sau ba năm du học tại Ba Lan đời Nguyên lại lên hương đến vậy.

    Đang loay hoay chưa biết phải xử lý như thế nào với 60 chiếc xe máy, Nguyên nhận được tin báo từ vợ cho biết áo gió hiện đang là mặt hàng hot tại Ba Lan. Nguyên quyết định chuyển toàn bộ xe máy thành áo gió để đánh sang Ba Lan. Thay vì đặt hàng "made in Cổ Nhuế, Trâu Quì” của các tổ hợp tư nhân, Nguyên đặt làm toàn bộ áo gió tại Xí nghiệp Mũ Đội Cấn. Với số lượng hàng hóa nặng tới vài chục tấn, nếu chuyển cargo hàng không chi phí vận tải sẽ rất cao. Được người anh họ làm việc tại công ty Vận tải Ngoại thương Viettrans gợi ý, Nguyên thử nghiệm mô hình vận chuyển container đường biển, theo hành trình Hà Nội – Hải Phòng – Singapore – Gdynia – Warszawa. Do lượng tàu biển từ Singapore đến cảng Gdynia (Ba Lan) rất ít so với lượng tàu cập cảng Hamburg (Đức) dày đặc nên hành trình trực tiếp đến Gdynia lâu hơn khoảng mười ngày nếu container quá cảnh tại Hamburg, rồi được kéo theo đường bộ về Warszawa. Mãi sau này việc vận chuyển container mới được thiết lập với hành trình tối ưu cả về thời gian và chi phí: Việt Nam – Singapore – Hamburg – Warszawa.

    Thời gian đó, do Việt Nam mới chuyển sang kinh tế thị trường và bước đầu hội nhập quốc tế, nên các chính sách về xuất nhập khẩu và hải quan còn vướng mắc nhiều thủ tục nhiêu khê. Lúc đó theo quy định, tư nhân và nhà máy không được phép xuất khẩu trực triếp. Để chuyển được toàn bộ số hàng hóa tương đương ba container, Nguyên phải trả chi phí dịch vụ ủy thác xuất khẩu cho một công ty ngoại thương nhà nước. Dù phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, ách tắc, cuối cùng ba container hàng dệt may của Nguyên đã lên tàu đúng thời hạn, để hơn một tháng sau cập cảng Gdynia (Ba Lan). Theo hành trình vận tải, điểm cuối nhận container là Warszawa. Nhưng hải quan Gdynia lại không muốn thế, họ yêu cầu container phải được thông quan tại cảng trước khi chuyển tiếp lên Warszawa. Biết là vô lý, nhưng Nguyên vẫn phải cắn răng chịu đựng thêm nỗi khó chịu nhân danh nền kinh tế mới thoát thai...quan liêu bao cấp. Nguyên tự tay lái xe vượt hơn 400 km, chỉ để giải quyết mỗi việc hết sức đơn giản: dúi vào tay thằng hải quan chết tiệt mấy trăm đô để nó không bắt dỡ, đếm cả container hàng. Tình trạng cửa quyền vẫn y chang như ở các nước quá độ...dân chủ.

    Trong khi đi tìm đầu mối ủy thác xuất khẩu, tình cờ Nguyên được biết có một Việt Kiều Ba Lan, biệt danh H.Hen đang liên doanh với một công ty tư nhân trong nước để xuất khẩu nhiều container áo gió sang Ba Lan. Tám container của H.Hen cộng với ba cái của Nguyên, vị chi là mười một cái. Nghe tin đó, Nguyên cũng thấy choáng. Mười mấy container chứ có phải mười mấy kiện đâu. Từng ấy áo gió đổ cùng một lúc vào thị trường mới mở Ba Lan. Không thể đùa được, nhưng lúc đó dẫu có muốn phanh cũng không kịp nữa rồi. Thôi đành "nhắm mắt đưa chân”, trôi theo số phận. Nguyên làm phép tính "so với cargo hàng không, vận chuyển container rẻ hơn nhiều, nếu có chết, những thằng đánh cargo chết trước”. Thế mà chết thật, chết thảm thương trong vụ áo gió đầu tiên ấy. Cái sự đổ vỡ trong kinh doanh nó chẳng chừa một ai, kể cả Nguyên. Do ấu trĩ, thiếu kinh nghiệm, tất cả các doanh nghiệp áo gió tại Ba Lan cùng kéo chân nhau xuống vực trong cơn lốc hạ giá thê thảm để tháo hàng. Trước tiên cái chết tìm đến với những lô áo gió đã "lỡ” đánh theo đường cargo. Sau đó mới đến lượt các container áo gió chuyển bằng đường biển. Trong hai doanh nghiệp tiên phong tìm ra "châu Mỹ” là Nguyên và H.Hen, chả biết thằng nào hi sinh trước thằng nào. Không ai kiểm chứng được điều đó, bởi vì đối với doanh nhân đất Việt "được khoe, thua dấu” đã trở thành bí quyết làm ăn.

    Nguyên đau với nỗi đau của người chiến binh vừa ra quân trận đầu đã bị trúng đạn, tử thương. Ngần ấy cái xe máy với bao nhiêu là công sức đã bị thổi bay chỉ trong chốc lát. Nguyên đắng lòng, bất lực y như phải tận mắt chứng kiến cảnh tượng cả một container xe máy đang sủi tăm bọt, chìm dần xuống đáy biển sâu. Coi đây là vấp váp đầu đời trong sự nghiệp kinh doanh, Nguyên không cho phép mình được gục ngã nếu muốn tồn tại trên thương trường nghiệt ngã. Quyết chí làm lại, nó tìm mọi cách thu gom từng đồng vốn rơi rớt, chờ dịp. Đúng ngày Noel năm 1991, như một giải pháp cứu cánh, toàn bộ số hàng còn lại được Nguyên chuyển theo đường bộ sang thị trường "Liên Xô vĩ đại”. Sau hơn hai năm xa vắng, từ đây Nguyên lại trở lại với chiến trường xưa, nơi đầy ắp những kỷ niệm thân quen, gắn bó với nó một thời...


    Phần 9: Thương trường nghiệt ngã Liên Xô

    Đất nước Liên Xô vĩ đại từ lâu đã đem đến cho Nguyên những cảm xúc vui buồn lẫn lộn. Vui cũng nhiều mà buồn không ít. Nguyên biết đến xứ xở này ngay từ khi nó còn bé lắm, bắt đầu từ những câu chuyện kể của người lớn, qua những bài tập đọc về Lê Nin, về Cách Mạng Tháng Mười về cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.

    Lớn lên chút nữa Nguyên biết đến Liên Xô như người bạn lớn của Việt Nam. Ở lứa tuổi đam mê đồ chơi vũ khí, nhìn những chiếc máy bay, những xe tăng, tên lửa, những khẩu súng AK-47... đầy uy lực diễu qua trước mắt, cậu bé Nguyên ngưỡng mộ vô cùng đất nước có biểu tượng búa liềm được viết tắt bằng bốn chữ đỏ CCCP.

    Khi Nguyên trở thành chàng trai trẻ, các bộ phim, cuốn sách, vần thơ Xô Viết, các bài ca, điệu múa Nga đã tràn vào Việt Nam, làm mê hoặc cả một thế hệ thanh niên đầy nhiệt huyết. Trong mắt Nguyên Liên Xô là bức tranh tuyệt đẹp với những cung điện, lâu đài tráng lệ, những thảo nguyên bát ngát xanh, những hàng cây bạch dương dịu dàng soi bóng nước... Cho đến ngày nay vẫn vậy, chưa bao giờ Nguyên hết say mê nền văn hóa Nga qua các tên tuổi Puskin, Dostojevski, Lev Tonstoi, Trajcovski, Levitan... Nguyên mãi không thôi yêu mến và cảm phục con người Xô Viết thông minh, đôn hậu, lạc quan và dũng cảm...

    Thời sinh viên đại học kinh tế, Nguyên phải thuộc lòng các chỉ tiêu, các số liệu thống kê "hàng đầu thế giới“ của Liên Xô, được giáo huấn về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển cao độ, trên cơ sở kế hoạch hóa, không có cạnh tranh và vì thế không biết đến khủng hoảng. Nguyên nhai đi nhai lại đến phát chán mớ lý luận về chế độ ưu việt có phúc lợi xã hội tốt nhất, dựa trên phân phối thu nhập công bằng và vì vậy không có kẻ giàu người nghèo...

    Đến khi đi làm, lấy vợ, có con, Nguyên trở nên thực dụng hơn với nỗi lo cho cuộc sống gia đình. Lúc đó Nguyên biết đến Liên Xô hàng ngày qua câu chuyện của các đồng nghiệp quanh ấm chè nồng nặc mùi khói thuốc với các từ cửa miệng: Tủ lạnh Saratov, xe máy Minsk, bàn là hoa dâu, nồi hầm áp suất, áo bay, thuốc lá Capstan... Nguyên ao ước đổi đời với một thùng hàng sau chuyến công tác hay thực tập ngắn ngày trên xứ sở huyền thoại ấy. Thế rồi Nguyên được đặt chân lên quê hương của Cách Mạng Tháng Mười. Không phải mơ mà là thực, không phải một lần mà rất nhiều lần. Nguyên không còn nhớ chính xác những chuyến "tầu con thoi“ đi, về như thế nữa. Chỉ biết rằng nó đã ghi dấu chân mình lên hai nước lớn nhất trong Liên bang Xô Viết là Nga và Ucraina.

    Lần đầu bao giờ cũng khắc ghi những kỷ niệm khó quên. Ngày 20/09/1988 Nguyên thực hiện cuộc dấn thân đầu tiên vào "thành trì của chủ nghĩa xã hội“ trong một dịp tình cờ. Trên đường bay từ Hà Nội sang Warszawa du học, khi quá cảnh tại sân bay Sermechevo, Nguyên và năm người bạn cùng đoàn bị rớt lại. Ba ngày "may mắn" ở Mátxcơva đủ thời gian cho Nguyên tận mắt được chứng kiến sự thật sinh động về nhà nước Công – Nông đầu tiên trên thế giới trong cơn hấp hối trước khi sụp đổ.

    Nguyên và các bạn được bố trí ở tạm trong khách sạn Aeroflot ngay cửa ngõ Mátxcơva để chờ nối chuyến bay đến Warszawa. Theo tiêu chuẩn xếp hạng, phải nới tay cho điểm, khách sạn này mới đạt tiêu chuẩn... khách sạn. Trong nhà tuềnh toàng, tiện nghi nghèo nàn, người phục vụ mặt lạnh như bom. Nhưng chẳng sao, miễn có chỗ đặt lưng, không phải vạ vật nằm sàn là được rồi. Nguyên tặc lưỡi dễ dãi. Nhưng chính từ nơi này, niềm tin của Nguyên về con người Xô Viết bắt đầu rơi rụng. Bọn chúng phải bấm bụng tặng quà ba túi thêu và hai kimono để nhanh chóng được xếp chuyến bay và mua được sự yên bình.

    Cho dù trải qua một thoáng hụt hẫng, nhưng đất nước vĩ đại này vẫn như ngày nào, đem đến cho Nguyên nhiều cảm xúc kỳ diệu. Sermechevo lúc đó là sân bay quốc tế to và hiện đại bậc nhất thế giới. Được biết hàng lang ống cho hành khách di chuyển ra vào máy bay chính là phát minh của các nhà khoa học Xô Viết. Từ sân bay vào thành phố, hai bên đường những cánh rừng trải dài bất tận. Cuối tháng chín thảm lá bạch dương bắt đầu nhuốm vàng thay áo sang thu.

    Có thể nói không ngoa rằng hệ thống tầu điện ngầm Mátxcơva đẹp nhất thế giới. Đường hầm hun hút dẫn xuống các nhà ga chôn sâu hàng trăm mét dưới lòng đất. Mỗi nhà ga một kiểu, lộng lẫy như những cung điện tráng lệ. Tám triệu người mỗi ngày đêm hối hả lên xuống nhờ những dàn thang cuốn chuyển động không ngừng. Với chiều dài 270 km, nhiều nơi đường hầm chồng lên nhau tới ba, bốn tầng. Hình ảnh những chàng trai, cô gái vừa gặm cá muối, vừa cắm mắt trên những trang sách trong các toa tàu mãi khắc ghi ấn tượng đẹp trong Nguyên về con người Xô Viết hiếu học.

    Nơi Nguyên và bạn bè muốn đặt chân đến trước tiên trong ba ngày lưu lạc tại Mátxcơva, không phải nơi nào khác chính là Quảng Trường Đỏ huyền thoại, với Nhà Thờ Thánh Basil, Lăng Lê Nin, Điện Kremlin và bức tường hùng vĩ màu đỏ. Cảm giác choáng ngợp khiến con người trở nên nhỏ bé trước công trình xây dựng do chính bàn tay mình tạo nên. Các khối kiến trúc nguy nga theo kiểu truyền thống, cổ điển và hiện đại đan xen nhau hài hòa tạo nên dáng vẻ uy nghi, kỳ vĩ.

    Ngay bên cạnh Quảng Trường Đỏ, là tòa nhà bách hóa tổng hợp GUM. Khi chủ nghĩa xã hội đang cận kề bên ngưỡng sụp đổ, những ai muốn lưu giữ kỷ niệm đẹp đẽ và ấn tượng về Mátxcơva, về đất nước Liên Xô vĩ đại, không nên đặt chân đến chốn này. Dù được bạn bè cho biết trước, nhưng Nguyên vẫn không khỏi ngỡ ngàng trước sự tương phản giữa bề ngoài hùng vĩ với bên trong trống rỗng, tan hoang của tổ hợp thương mại này. Trên cả bốn tầng lầu, các tủ hàng treo bày leo teo những bộ váy áo nhàu nhĩ, nhợt nhạt, các quầy kính đặt lưa thưa dăm ba vật dụng. Hàng hóa ở đây trông đơn điệu, thô kệch lại được bày trí cẩu thả. Người bán hàng uể oải ngáp vặt, không buồn đứng dậy mỗi khi có khách đến xem. Đúng là bộ mặt thương nghiệp xã hội chủ nghĩa ở đâu cũng vậy. Nguyên và đám bạn để ý tìm các sản phẩm nồi đồng cối đá quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam như bàn là hoa dâu, nồi hầm áp suất, quạt tai voi, tủ lạnh Saratov, áo bay... tuyệt nhiên không thấy bày bán ở đây dù chỉ một chiếc.

    Bi kịch thay! Chủ nghĩa xã hội khoa học đang phải oằn mình chống chọi với cơn lốc khủng hoảng ngay trên chính mảnh đất mà nó đã sinh ra. Nền công nghiệp Xô Viết mang danh hiện đại luôn tự hào với đỉnh cao chinh phục vũ trụ lại không thể đáp ứng được nhu cầu tối thiểu, giản dị của người dân. Đã có lần, Nguyên được nghe câu truyện cười thời Xô Viết:

    Một lao động Việt Nam mua được lô quần bò ở GUM, về khoe với bạn cùng phòng. Anh kia không biết GUM ở đâu, anh này chỉ cặn kẽ rằng nó ở cạnh Quảng Trường Đỏ, cứ đến đó thấy chỗ nào đông người xếp hàng, đó là nơi bán quần bò. Anh kia hí hửng ra đi. Chừng mấy tiếng đồng hồ sau, anh ta trở về mặt tiu nghỉu, nói như sắp khóc: "Thấy một chỗ người ta xếp hàng dài lắm, tôi đứng vào, nhích dần từng bước, mãi mới vào được bên trong thì ông bán quần bò (Lê Nin) đã lăn ra chết rồi".

    Ký ức thời tuổi trẻ của Nguyên về quê hương Cách Mạng Tháng Mười đẹp như bài ca, bản nhạc trữ tình. Vậy mà lúc này đây nốt nhạc Nga diệu kỳ ấy như đang bị đánh rơi xuống tận đáy cùng vực thẳm. Nguyên chống chếnh buồn, hoang mang như người bước hụt.

    Suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, mặc dù Liên Xô đã tuyên bố chấm dứt sự tồn tại, nhưng các nước cộng hòa thuộc Liên Xô (cũ) vẫn được các doanh nghiệp Việt Nam coi như một thị trường thống nhất với gần ba trăm triệu dân. Sau khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, các nền kinh tế ấy bùng nổ nhu cầu hàng tiêu dùng giá rẻ nhập khẩu từ Châu Á. Thời gian này Ba Lan đã phát huy được vai trò đầu mối trung chuyển trong việc cung cấp hàng hóa cho thị trường vĩ đại có sức mua cực lớn này.

    Trong kinh doanh cơ hội luôn song hành cùng thách thức, cơ hội càng nhiều thách thức càng lớn và ngược lại. Đồng tiền kiếm được trong cuộc cạnh tranh khốc liệt vì mưu sinh thật không dễ chút nào. Nó được kết bằng mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả máu từ công sức của bao nhiêu con người. Liên Xô vĩ đại là nơi thành danh của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam, nhưng cũng là đất chôn vùi sự nghiệp biết bao mảnh đời bất hạnh. Nguyên cũng vậy, nghiệp kinh doanh của nó đã trải qua bao cung bậc thăng trầm tại đây. Nguyên vừa căm ghét đất nước này, lại vừa yêu quí nó. Nơi đây từng là bờ vực khiến Nguyên xảy chân rơi xuống đáy sâu không chỉ một lần, lại từng làm bệ phóng đưa nó đến đỉnh thành công. Có lúc Nguyên nguyền rủa vùng đất dữ dội đã lột nó đến trắng tay, nhưng cho đến tận bây giờ, trong thâm tâm Nguyên mãi mãi chịu ơn xứ sở này.

    Sau cuộc chiến thảm khốc giành giật thị trường Ba Lan với các đối thủ Việt Nam, Nguyên rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Mùa đông khắc nghiệt khiến cho những chiếc áo chắn gió không chắn nổi cái lạnh thấu xương dưới nhiều độ âm. Áo gió rơi giá từng ngày, đang bán 125 nghìn zloty (tiền cũ) rớt xuống 85 nghìn, 65 nghìn... sau cùng không còn giá nữa. Thị trường áo gió Ba Lan ngay sau lễ Thanh Minh (01/11) tê liệt hoàn toàn. Lúc đó phần phía nam Liên Xô còn ấm áp nên áo gió ở đó vẫn nhúc nhắc đi.

    Có đơn đặt hàng từ thị trường lớn, Nguyên khấp khởi hy vọng tìm ra lối thoát. Nó khẩn trương thu gom những kiện áo gió chưa bán được, đưa sang Liên Xô tiêu thụ như một giải pháp vớt vát, cứu vãn. Ngay trước lễ Giáng Sinh năm 1991, Nguyên thuê xe tir chở toàn bộ số áo gió sang Mátxcơva, chiến trường quen thuộc với nó từ thời "đánh" máy điện toán. Thực hiện sứ mạng này, ngoài lái xe người Ba Lan, có thêm một người Việt Nam ngồi theo xe, áp tải. Nguyên không đi cùng theo họ, nó nhảy tàu sang bên kia đón đầu.

    Do thời vụ gấp gáp, lại chưa có kinh nghiệm chuyển hàng đường bộ sang Mátxcơva, dù biết giáng sinh là ngày lễ thiêng liêng đối với người Công Giáo Ba Lan, nhưng Nguyên không thể lần lữa thay đổi kế hoạch được nữa. Nguyên và T. bạn nó bên Nga lại không cân nhắc tránh dịp nghỉ lễ cuối năm của người Nga nên bọn chúng phải canh xe, nằm queo trong rét mướt, buồn chán và thiếu ăn. Chỉ vì quá sốt sắng với thời vụ tiêu thụ hàng mà Nguyên làm khổ mấy người bạn đồng hành. Nạn nhân trước tiên và bi thảm nhất là tay lái xe người Ba Lan. Mười mấy ngày chờ đợi, không có ngày nào hắn không đấm ngực, than trời, rủa Nguyên độc ác. Nghe hắn rền rĩ mà não cả ruột gan. Nguyên biết hắn muốn ăn vạ, bắt đền, vì Nguyên mà hắn mất lễ Giáng Sinh và giao thừa cùng vợ con. Anh bạn người Việt Nam lại gần như không nói một lời, nhẫn nhịn chịu đựng như một nhà chính trị chuyên nghiệp. Mà quả thật, chỉ mươi năm sau anh ta đã leo lên đến cấp bậc thứ trưởng.

    Nguyên và chiếc xe hàng sang đến nơi đúng ngày Liên Xô tuyên bố giải thể 25/12/1991. Thật không may cho Nguyên vướng vào dịp nghỉ lễ, phải treo xe chờ đợi, nhưng nó lại may mắn được trải qua những ngày lịch sử hiếm hoi. Trong hai tuần đó Nguyên tận mắt chứng kiến thảm cảnh nước Nga vật vã ngay sau ngày Liên Xô tan rã. Khó khăn, thiếu thốn lại đang giữa mùa đông, đêm dài ngày ngắn. Cảnh vật trông như bức ảnh đen trắng, bầu trời xám xịt, gió tuyết vần vũ, cây cối đen đúa xác xơ...càng khiến cho Mátxcơva lúc đó thêm ảm đạm.

    Nguyên và các bạn được bố trí ở trong một căn nhà 2 buồng không rộng hơn 40 m2, gần đường vành đai ba. Liên Xô chỉ thực sự vĩ đại với những thứ thuộc về nhà nước, còn của nhân dân cái gì cũng bé. Nguyên đùa, gọi hai tuần khổ ải này là thời gian lưu đày của Lê Nin. Có lẽ chẳng khác mấy, dù nó diễn ra ở ngay cửa ô thủ đô nước Nga những năm cuối thế kỷ 20. Không tiếp xúc, không giải trí, thiếu thốn, buồn chán và rét mướt...

    Trong những ngày vạ vật ấy, đôi khi Nguyên đảo chân qua một chợ nông trường ở trung tâm Mátxcơva để tìm cách cải thiện vấn đề dinh dưỡng. Nơi đây giống như ốc đảo "thị trường tự do“ nhỏ nhoi trong lòng nền kinh tế bao cấp thời Xô Viết. Khác với các cửa hàng mậu dịch nhà nước, chợ nông trường bày bán đủ các loại thịt, cá, rau củ quả... phong phú, hấp dẫn trong thời buổi hiếm hoi thực phẩm tươi sống dành cho các bữa ăn tạm gọi là "xa xỉ“. Mùi gia vị, mùi cọng tỏi muối, mùi thịt cá tươi, quyện lẫn hơi người nồng nồng, vướng vất bên những gương mặt bán hàng đầu đen xuất xứ vùng Cáp-ca-zơ, đưa đến cảm giác lờm lợm không mấy dễ chịu.

    Xa xôi, cách trở cùng với nạn khan hiếm thực phẩm khiến cho bữa ăn của mấy thằng đàn ông lười biếng trở nên thê thảm y như thời chiến tranh. Đôi lúc hứng chí, Nguyên lại hào phóng tự thưởng cho cả bọn "đập phá“ tại các quán ăn rẻ tiền ven đường hay cạnh bến tàu, bến xe. Xập xệ, nhếch nhác, không mấy vệ sinh là hình ảnh thường thấy trong các hàng quán mà Nguyên ghé chân.

    Thời bấy giờ, do hậu quả của chính sách đóng cửa toàn diện, Liên Xô như một thế giới riêng lạc lõng trong nền văn minh nhân loại. Cơn bão công nghiệp thông tin, điện tử với computer, calculator lan nhanh trên địa cầu lại như bị chặn đứng trước "thành trì của chủ nghĩa xã hội“. Công cụ tính toán rất phổ biến lúc đó trên đất nước Liên Xô mà Nguyên thường thấy trên bàn thu ngân trong các cửa hàng hay trên tay cô phục vụ bàn trong những quán ăn lại là chiếc bàn tính gẩy bé bé xinh xinh có từ thời Trung Hoa cổ đại.

    Hai tuần quá đủ để Nguyên được trải nghiệm thực tế từ đó nhận thức đầy đủ về nền tảng xã hội Xô Viết "đã xây dựng xong chủ nghĩa xã hội phát triển, đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa Cộng Sản“. Giữa sự thật và dối trá phải nhận thức như thế nào đây? Niềm tin trong con người đảng viên Cộng Sản Nguyên lung lay tột độ.

    Sau những ngày nghỉ lễ cuối năm, mọi người trở lại với cuộc sống thường nhật. Nguyên và đám bạn háo hức chia tay quãng thời gian vô vị, tẻ nhạt nhất trong đời để lao vào công việc. Ngay sau tuần đầu năm mới 1992, Nguyên và T áp tải xe hàng đến cơ quan hải quan làm thủ tục thông quan, dỡ bỏ kẹp chì. Với Nguyên ở Ba Lan việc này quá đơn giản. Nhưng đây là công việc mới mẻ cho người Việt Nam ở Nga. Lạ một điều, hải quan Nga cũng lúng túng, họ chưa biết việc, hay muốn gì khác nhưng không dám nói trắng ra. Họ chỉ hết chỗ nọ, chỗ kia, rối tinh. Đến trạm hải quan thứ tư, đã quá mệt mỏi, Nguyên hết kiên nhẫn với các nhân viên công vụ Nga. Nó cùng vào với T. để trưc tiếp tay bo với sếp của trạm. Không cần lý luận nhiều, Nguyên đã hiểu bọn hải quan muốn gì. Thôi cứ đi tắt cho sớm chợ, khỏi vòng vo rách việc, lại mất thời gian. Đúng như Nguyên nghĩ, tiền vẫn là ngôn ngữ thông minh nhất trong tình cảnh nhà nước đang mục ruỗng.

    Xong việc, Nguyên nói với T: "Ngày hôm nay cậy được cửa hải quan này là sự kiện trọng đại đối với cuộc đời mày. Đây là cơ hội hiếm hoi giúp mày đổi đời. Hãy tin tao đi! Cái cánh cửa ọp ẹp bẩn thỉu của trạm hải quan này được dát bằng vàng mười đấy. Tao có kinh nghiệm bao năm nay làm ăn theo mô hình này ở Ba Lan. Mày mạnh dạn bỏ đàn gà đẻ trứng với mấy con bò vắt sữa ở quê vợ đi. Lên Mátxcơva mà vơ tiền“. Nhìn cái điệu cười ngô nghê của thằng T, Nguyên biết nó vẫn chưa tin những điều Nguyên nói.

    Sau vụ này, thằng T đưa cả vợ con lên Mátxcơva thuê nhà. Nó hăm hở muốn khai thác ngay cái mỏ vàng mà Nguyên vẽ ra viễn cảnh trước mắt nó. Nhưng chẳng có gì dễ, nhất là trong việc kiếm tiền. Muốn giàu phải hội đủ các tố chất trong con người, không thể thiếu dù chỉ một thứ. Lẽ ra với cỗ bàn được dọn sẵn, chỉ cần chí thú ngay từ thời đó, thằng T đã làm nên chuyện lớn. Lẽ ra một số tên tuổi làm dich vụ hải quan có số, có má ở Nga như N. Đ.C hay N.C.S chỉ dám đứng từ xa nhìn nó bái vọng. Thằng T lại không làm được như thế. Nó muốn có nhiều tiền, nhưng lại mắc bệnh hám gái với lại nghiện rượu, nặng đến độ vô phương cứu chữa. Ở đời lúc mới khởi nghiệp, thằng nào cũng thế, phải kìm nén bản năng, chỉ được chọn hoặc tiền, hoặc rượu và gái. Đằng này thằng T ham hố, nó chẳng chịu nhịn thứ nào, nó muốn có tất cả cùng lúc.

    Thằng T lúc đó mới ngoài 30 tuổi, nhưng đầu nó đã hói bóng, chỉ còn tí tóc lơ thơ hai bên thái dương. Y học hiện đại đã kết luận "người hói sớm là do hoóc môn tình dục nam vượt trội“. Chẳng biết người khác thế nào nhưng với thằng T thì quá đúng. Người nó lúc nào cũng rừng rực, xồng xộc như con chó dái. Rượu vào nó chém tưng tửng "đêm không tính, sáng banh mắt, tao mà chưa được một nháy, con vợ tao đừng hòng ra khỏi cửa“. Không biết độ tin cậy đến đâu, nhưng Nguyên tin là nó nói thật. Thằng T có thể hành sự bất cứ lúc nào khi có cơ hội. Công việc dù quan trọng đến đâu, cứ có gái là nó vứt toẹt, chỉ để rúc đầu vào chốn ấy. Thằng T không nên người vì rượu và gái, tiêu tan sự nghiệp cũng bởi hai thứ ấy. Sau bao nhiêu năm lăn lộn trên thương trường, đến giờ này, khi mọi cơ hội vàng đã tuột khỏi tay, thằng T lại an phận với mấy con bò sữa và đàn gà đẻ trứng.

    Sau khi làm xong thủ tục hải quan, chiếc xe tir chở đầy áo gió chạy thẳng đến Dom 5 trên phố Dimitri Ulianov để dỡ hàng. Đây là địa điểm rất nổi tiếng đối với người Việt Nam ở Mátxcơva thời những năm 80. Tòa nhà 7 tầng với hơn 600 phòng vốn là ký túc xá dành cho nghiên cứu sinh và thực tập sinh nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Sau những thăng trầm của lịch sử, Dom 5 gần như biến thành nơi trú ngụ của các nhà khoa học Việt Nam tương lai, rồi lại sau bao nhiêu sàng lọc, đổi chác nữa, cái nôi nuôi dưỡng trí tuệ, văn hóa Việt lại biến thành "trung tâm thương mại“ nuôi béo các khoa học gia kiêm nhà buôn nước Việt.

    Đã từ lâu người Việt Nam biến nơi này thành một tụ điểm đầu mối hổ lốn vừa là nhà kho, nhà trọ, vừa là quầy giao dịch hàng hóa, quán ăn...trong đó có đủ các dạng dịch vụ từ cắt tóc, đổi tiền, mua vé máy bay, môi giới vận tải, giải quyết hộ chiếu, thị thực...Dom 5 lúc đó như một lãnh địa khép kín, như một cái làng Việt Nam trong lòng Mátxcơva. Nguyên đã đặt chân đến đây rất nhiều lần từ thời đánh máy tính và vàng. Trở lại sau hai năm, Nguyên vẫn cứ ngỡ ngàng, mặc dù cảnh đấy, người đấy, có lẽ do cường độ làm ăn đã tăng lên nhiều lần.

    Cánh cổng gỗ của tòa nhà như ngăn đôi hai thế giới cách biệt. Chỉ cần lách người qua cửa vào bên trong, Nguyên có cảm giác như bị lạc vào một cái tổ mối khổng lồ. Những chiếc thang máy treo ròng rọc cổ lỗ đầy ắp hàng lên xuống không ngừng. Người đẩy hàng, người bốc hàng tấp nập đi lại như những chú mối thợ cần mẫn. Nguyên cùng T. đến các phòng quen, chào hàng áo gió. Phòng nào cũng xếp hàng cao chất ngất lên đến tận trần. Mọi khoảng trống gần như được tận dụng tối đa. Sàn chỉ còn đủ chỗ trải hai manh chiếu, ban ngày làm nơi ngồi ăn uống, tiếp khách, ban đêm trải đệm làm giường ngủ. Khách xa ngủ lại qua đêm, phải xếp các kiện hàng, trải chiếu lên trên, biến thành giường đệm.

    Ba ngày vừa giao hàng, vừa thu tiền, Nguyên đã giải quyết xong toàn bộ số áo gió đưa sang, lại thu được giá cao gấp rưỡi so với ở Ba Lan thời điểm ấy. Vẫn biết Liên Xô là thị trường lớn, nhưng Nguyên không khỏi kinh ngạc về tốc đô tiêu thụ hàng ở đây. Lô áo gió chính là phép thử về sức mua của "thị trường mới nổi“ này. Thực trạng đó giúp Nguyên đưa ra một quyết định có tính chiến lược trong sự nghiệp kinh doanh của mình: "Gắn bó lâu dài, hợp tác toàn diện với thị trường Liên Xô vĩ đại“. Nguyên đã bám trụ, kiên nhẫn thực hiện ý nguyện này trong suốt hai mươi năm. Có thể nói một cách đầy tự tin rằng Nguyên là một trong số rất ít chiến sĩ "tình nguyện quốc tế“ Việt Nam xứng đáng được nhận Huân Chương Hữu Nghị của nhà nước Xô Viết (nếu còn tồn tại) cho thâm niên công tác dài hạn trên "thương trường nghiệt ngã Liên Xô“.
  10. Chuyện về giáo dục ở Việt Nam ngày nay (Tức là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Độc Lập- Tự Do - Hạnh Phúc):

    Trong một buổi học, cô giáo đang dạy cho học trò tập đọc. Đến một chữ khó trong câu: "Đồng chí Phan Đình Giót đã anh dũng lấy thân lấp lỗ châu mai". Cô hỏi:"Có em nào biết "anh dũng" là gì? Hỏi mấy lần mới có một em dơ tay xin "phát biểu":

    - Anh dũng là "đéo sợ".

    Cô giáo đi từ kinh ngạc đến giận dữ, đem chuyện đến mách hiệu trưởng:

    - Đồng chí xem, học trò dốt nát, mất dậy thế này. Nó lại dám nói: "Anh dũng là đéo sợ".

    Hiệu trưởng gật gù, mỉm cười nói với cô giáo:

    - Ừ! Nó nói thế "đéo sai".

    Cô giáo lắc đầu chán nản nói:

    - Đã thế thì đây "đéo dạy "nữa!

    Hiệu trưởng khoát tay:

    - Đây "đéo cần".

    Câu chuyện gọi là tiếu lâm, nhưng cười ra nước mắt này là một mặt biểu hiện của một nền "văn hoá đểu", có thể là tiêu biểu cho văn hoá Macxit – Lêninnit đang ngự trị trên nước Việt Nam.

    Nói đến văn hoá, người ta đã hàm một ý khác với dung tục. Người có văn hoá là một người có học – không cứ phải là có bằng cấp cao- cách cư xử lịch lãm, thanh lịch:

    Người xinh cái bóng cũng xinh,
    Người dòn cái tỉnh tình tinh cũng dòn.


    Chính vì muốn có một phạm trù văn hoá tốt đẹp hướng thượng như thế, nên trước kia người ta gọi là văn hiến. Chỉ từ khi văn hoá Tây phương du nhập, các nhà văn tây mới dùng từ văn hoá để dịch chữ "culture" và cho nó nhiều ý nghĩa duy vật hơn. Nhất là quan niệm thiên Marxist của Đào Duy Anh (1), hay của các nhà "văn hoá" Cộng Sản sau này của Việt Nam: "Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình."(2)

    Dùng khái niệm văn hoá Cộng Sản để hiểu văn hoá Cộng sản vì sao lại gọi là "văn hoá đểu", đối với quan niệm xưa xem ra có nghịch lý; nhưng lại rất "biện chứng" với nền văn hoá Macxit hiện nay ở Việt Nam.

    Theo "Tự Điển Tiếng Việt" do Hà Nội phát hành, từ ngữ "đểu" (3) đã được định nghĩa và có những từ kép như sau:

    Đểu (tt): Xỏ xiên, dối trá đến mất hết nhân cách: Nói đểu, đồ đểu, chơi đểu.

    Đểu cáng (tt): đểu và đê tiện: Bộ mặt đểu cáng.

    Đểu giả (tt): Đểu và thâm hiểm; thủ đoạn đểu giả. (chữ" giả" theo định nghĩa cũng trong tự điển này là "Không phải thật nhưng làm ra vẻ giống như thật", khi ghép với chữ "đểu" lại có nghĩa là thâm hiểm).

    Thực ra những người làm tự điển chỉ là sưu tập các từ ngữ lưu truyền trong dân gian. Thái độ khoa học là phải ghi rõ ràng những từ mới và nghĩa mới; cũng như những từ cũ đã bị đổi nghĩa. Có nhiều từ lúc đầu là nói lóng, nói trại nghĩa, vì mục đích che dấu bí mật, lâu dần đã mang ý nghĩa che dấu ấy và trở thành thông dụng. Cũng vậy, chữ "đểu" lúc đầu chỉ mang một ý nghĩa là xỏ xiên, dối trá (tự điển ghi chính thức), nhưng nay nó mang rất nhiều nghĩa:" Ngôn ngữ của dân tộc nào cũng gắn liền với lịch sử. Cái gì thường trực và lâu dài cũng trở thành ám ảnh rồi đi vào ngôn ngữ. Mày thử xem, ngôn ngữ của nước nào cũng xoay quanh hai từ "có" và "là", ("être et avoir"); to be and to have. Người Việt thì không có gì cả mà cũng chẳng là gì cả, chỉ có cái thân phận nô lệ, bị bóc lột và đói triền miên, vì thế mà động từ cơ bản của tiếng Việt là "ăn".

    Thắng bại thì gọi là "ăn thua", sinh hoạt nghề nghiệp thì gọi là "làm ăn"; vợ chồng "ăn ở, ăn nằm" với nhau; nói chuyện là "ăn nói", rồi "ăn ý", "ăn ảnh", "ăn khớp"... Ngay cả lúc chửi nhau cũng cho ăn cái này cái kia, rủa nhau đồ "ăn mày, ăn nhặt", "ăn cắp, ăn giật". Cái gì cũng ăn cả vì đói quanh năm, lúc nào cũng bị miếng ăn ám ảnh. Bây giờ cũng thế, cái gì cũng đểu cáng cả. Chính quyền đểu, Nhà Nước đểu, nhà trường đểu...cái gì cũng đểu cả nên "đểu" hiện diện một cách trấn áp qua ngôn ngữ.

    Hắn dừng lại một lúc rồi nói tiếp:

    - Nhân loại tiến triển qua các thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt. Chúng ta còn có thời kỳ "đồ đểu". Nước mình đang ở thời kỳ "đồ đểu".

    Bây giờ trong nước người ta không nói là giả nữa mà nói là "đểu": Hàng đểu, bằng đểu, rượu đểu, thuốc đểu. (Vô danh)

    Tác giả "vô danh" chỉ quan sát và đúc kết hiện tượng sinh hoạt của xã hội Cộng Sản Việt Nam mà không thấy có sự hiện diện của một nền văn hoá chỉ có thể dùng từ "đểu" đặt cho mới xác đáng vì nó có nguyên ủy và biến thái "đểu".

    I.- Nguồn gốc đểu của văn hoá Macxit Lêninnit ở VN:

    Về cuối đời, sau khi đã bị đày đọa cả nửa thế kỷ trong xã hội XHCNVN, triết gia Trần Đức Thảo nói "Chính là Marx sai". Một cái sai của một triết gia đã lấy đi cả trăm triệu tính mạng con người, và còn không biết đến bao giờ nhân loại mới hoàn toàn rũ bỏ được cái sai ấy. Ông Gorbachew nhận định: "Cộng Sản là dối trá và chỉ có dối trá". Theo ngôn ngữ hiện đại ở Việt Nam thì là "Cộng Sản là đểu và chỉ có đểu".

    Căn cứ vào mục tiêu của Tuyên Ngôn Cộng Sản thì nếu không có dân chủ Xô Viết, không thể có chủ nghĩa xã hội. Tham vọng của Cộng sản là thực hiện chủ nghĩa xã hội ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước tiền tiến. Năm 1939 Trosky đã viết: "Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là tạo ra một xã hội không giai cấp, dựa trên sự liên kết và thỏa mãn hài hòa mọi nhu cầu. Trong ý nghĩa cơ bản ấy thì chưa có một tí xã hội chủ nghĩa nào ở Liên Xô". Điều này chứng tỏ một sự lừa đảo có ý thức đối với lao động và nhân dân thế giới. Engel trên lý thuyết nói về xã hội không có giai cấp của CS nghe rất "sướng tai": "Sau này khi không còn sự thống trị giai cấp và đồng thời không còn cuộc đấu tranh của mỗi cá nhân để tồn tại do sự tổ chức hỗn loạn của nền sản xuất hiện nay, và do sự va chạm và xung đột thái quá bắt nguồn từ cuộc đấu tranh này thì không còn gì để phải đàn áp, không còn có một lực lượng đặc biệt của Nhà Nước để đàn áp nữa. Kẻ tầm thường nghĩ rằng muôn đời vẫn cần có anh xen đầm. Thật ra anh xen đầm còn chế ngự được con người chừng nào con người chưa đủ lực để chế ngự thiên nhiên. Muốn cho Nhà Nước tiêu vong, phải làm tiêu vong sự thống trị giai cấp và cuộc đấu tranh để cá nhân tồn tại". Nhưng khi chuyển sang thực tế, trước hết bên Liên Xô trong những năm đầu của cách mạng đã hình thành một giai cấp quan liêu. Sự lừa đảo quần chúng nhân dân tiên khởi của chủ nghĩa CS ở Liên Xô là đã dẹp bỏ một giai cấp mà họ gọi là ăn bám, tức là phong kiến để rồi thay thế vào đó một giai cấp ăn bám mới, tức là giai cấp cán bộ có hành vi rất quan liêu. Nói đúng ra, giai cấp quan liêu của CS gồm toàn thành phần đảng viên nắm nhiệm vụ điều hành đất nước, chỉ là một hình thức quan liêu tư sản thoái hoá, vì họ cũng có một động cơ quá trình phát triển như nhau, đúng như Trosky đã nhận xét về giai cấp quan liêu CS này: "Xét về tính chất, quan liêu không phải là một giai cấp, mặc dù có khát vọng trở thành giai cấp. Trong quá trình sản xuất, quan liêu không có vị trí độc lập và cần thiết như một giai cấp. Quan liêu chỉ là một đám người ăn bám vào giai cấp lao động (Cả cái Đảng CS từ lãnh đạo chóp bu đến cấp thấp nhất ở địa phương đều là ăn bám vào lao động quần chúng), như cây tầm gửi ăn bám vào một thân cây to, rút nhựa để sống. Trong hàng chục năm qua, quan liêu ở Liên Xô đã rút ở nền kinh tế Nhà nước những đặc lợi, đặc quyền cho mình. Mặc dầu không chiếm hữu những phương tiện sản xuất, họ vẫn có quyền hưởng thụ tối đa những sản phẩm do những phương tiện sản xuất này làm ra. Chính vì thế, họ đã bảo vệ (bảo vệ theo phương pháp quan liêu của họ!) nền kinh tế tập thể, thành quả của Cách mạng tháng Mười như bảo vệ con ngươi của mắt họ" (Bác Hồ cũng lập lại câu này với đảng viên). Thứ hai họ vẫn phải lẩn lút dấu diếm thu nhập của họ, trước mắt dân chúng. Họ vẫn phải giả dối, đem chủ nghĩa Macxit ra tuyên truyền, trong lúc họ áp dụng chủ nghĩa này dưới lăng kính quan liêu của họ".(5)

    Người nông dân và thợ thuyền, nói theo quan điểm của CS là "vô sản" đoàn kết lại để cho bọn bất lương bóc lột và đoạ đầy. Những tuyên bố lừa phỉnh "làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu" đã mê hoặc được dân chúng và đưa được họ vào chốn cực khổ triền miên. Đó là đường lối chính trị "đểu" của đảng Cộng Sản Liên Xô, tiền bối của cách mạng tháng Tám V.N. (Đây VN tháng Tám, em Liên Xô tháng Mười - Tố Hữu)
    Trong việc đào tạo nếp sống tinh thần của người dân, tức là về mặt văn hoá Đảng chiếu cố tận tình khuôn ép nhân dân trong cái gọi là nền văn hoá vô sản: "Cơ quan trung ương của đảng ban bố những bài không ký tên, khá giống lệnh của các tướng tá quân sự quản lý kiến trúc, văn học, kịch bản, nhảy múa, cố nhiên là cả triết học, các khoa học tự nhiên và lịch sử."(6).

    Sự lãnh đạo bằng khủng bố của Đảng đối với tầng lớp gọi là trí thức tiểu tư sản làm thui chột hết mọi sáng tác, phát minh mà nguyên do cũng chỉ vì tầng lớp này cần phải tạo một vỏ sò cho mình để tồn tại: ' Đã từng nếm một kinh nghiệm đau đớn, các nhà khoa học tự nhiên, toán học, ngữ vị văn học, lý thuyết gia về nghệ thuật quân sự cố tránh những khái quát hoá lớn rộng, sợ rằng có một "giáo sư đỏ" thường thường lại là một anh ngoi lên ngu dốt chống lại họ một cách thô bạo bằng một trích dẫn nào đó của Lênin, hoặc Stalin. Trong trường hợp như thế, bảo vệ tư duy và phẩm chất khoa học chắc chắn là tự gây cho mình một sự đàn áp khắc nghiệt."(7) Như thế, điều hợp lý là phải có một nền văn hoá, nói riêng về văn học xây dựng bằng những tác phẩm "đểu" của những tác giả được Đảng chiếu cố : 'Sự trung thực không có nó không thể có công tác lý luận, bị dẫm xuống chân. Những ghi chú để giải thích kèm theo các văn bản của Lênin cứ mỗi lần tái bản lại được sắp xếp lại từ đầu đến cuối để phục vụ lợi ích riêng bộ tham mưu của Chính phủ, tâng bốc các" lãnh tụ", bôi nhọ các địch thủ của họ, xoá đi một số dấu vết... Các sự việc bị bóp méo, tư liệu bị che dấu, hoặc, ngược lại, được chế tạo ra, thanh danh được dựng lên hoặc bị hủy đi"(8). Đặc sắc của các lãnh tụ Cộng Sản đều là các " nhà văn lớn" với những tác phẩm đồ sộ trở thành kinh điển, và mỗi lời nói là khuôn vàng thước ngọc chỉ đạo: 'Bí thư đoàn Thanh niên Cộng sản tuyên bố trong một cuộc hội nghị các nhà văn rằng : 'Các chỉ thị của đồng chí Stalin là pháp lệnh cho tất cả mọi người" và người ta vỗ tay, mặc dù một số đỏ mặt vì xấu hổ "…Và như người ta muốn lăng mạ đến tột cùng văn học, Stalin, người không thể viết đúng ngữ pháp một câu tiếng Nga, được phong là một trong những nhà cổ điển về văn phong ".(9)

    Nền tảng văn hoá Macxit ở "quê hương cách mạng Tháng Mười" mà những người đầu tiên ái mộ chủ nghĩa Marx hết lòng hết dạ đem về cho nhân dân Việt Nam để thay thế nền văn hoá mà họ gọi là phong kiên lạc hậu, thực dân, tự bản chất nó đã là sản phẩm của đám người " tiêu giấy bạc giả"- nếu dùng từ mới của VN ngày nay thì là bọn "tiêu tiền đểu". Thực vậy, những sách gọi là kinh điển mà những trí thức VN đọc để từ đó hiểu chủ nghĩa Mac đều không phải là trước tác cơ bản của nền tảng Macxit. Nếu người ta đã biết không phải học thuộc tứ thư ngũ kinh là thành nhà Nho, mà còn phải có công phu hàm dưỡng tu thân mới thể ngộ được đạo đức để làm một hiền nhân quân tử; thì đối với Macxit khả năng tổ chức và lãnh đạo quần chúng- tức là lừa bịp và đàn áp mới là cơ bản. Hồ Chí Minh chỉ là một người hành động, không phải là lý thuyết gia, và ông cũng hoạt động ở ngoại quốc nhiều hơn ở Việt Nam. Nhóm chủ trương cách mạng theo Maxit là nhóm Tân Việt với Đào Duy Anh, có định hướng và chương trình rõ rệt: 'Tôi (Đào Duy Anh) sở dĩ thừa nhận rằng con đường cách mạng của nước ta phải theo phương hướng cách mạng Xã hội chủ nghĩa là do nhận thức bằng lý trí, thấy như thế mới lô-gic, chứ thực ra chưa biết làm cách mạng xã hội chủ nghĩa như thế nào."(10).Chỉ căn cứ vào sách vở do Đảng Cộng Sản viết mà chuyển đạt chủ nghĩa CS vào VN, Đào Duy Anh cũng như vài cộng tác viên của đảng Tân Việt lúc ấy không hiểu rằng thực chất những sách ấy đã không phản ánh thực trạng của cách mạng Xã hội chủ nghĩa: 'Nhờ quen biết một thanh niên quê ở Thanh Hoá đã từng làm thư ký tàu biển cho một công ty hàng hải Pháp, có lẽ bấy giờ anh ta là một đầu mối liên lạc ở Saigon để các thủy thủ Pháp tiến bộ trao cho những sách báo do đảng Cộng Sản Pháp xuất bản, tôi được anh trao cho một số sách về chủ nghĩa Cộng Sản như": ABC du Communisme, Theorie materialisme historique, Lenine et la question national v.v…Ngoài ra tôi còn mua được một số sách của các nhà xuất bản khác như Histoire du Socialisme, Karl Marx, sa vie, son oeuvre của Mac Beer, Lenine của Clara Zetkin, La femme et la socialisme của Auguste Bebel."

    Con đường đi đến chủ nghĩa Mac hoàn toàn bằng lối hàm thụ ấy đương nhiên chỉ cho người ta một mớ kiến thức hào nhoáng bên ngoài, nhưng nó lại tạo ra một niềm tin mù quáng. Không đối chiếu với thực tại thì không thấy những yếu kém hay sai lầm của lý thuyết. Mang tiếng là khoa học, nhưng lại hành xử rất từ chương, nó sẽ dẫn đến "nói một đàng, làm một nẻo" mà sự kiện này vốn lúc ấy đang diễn ra ở Liên Xô, quê hương của Cách Mạng tháng Mười,"Tôi đã tin tưởng rằng Cách mạng VN muốn thành công, cuối cùng tất phải theo hướng Cách mạng Xã hội chủ nghĩa; chủ nghĩa xã hội ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học hay chủ nghĩa Cộng Sản, dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mac, mà chủ nghĩa Mac là chủ nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử."(11).

    Rất nhiều người đã lầm lẫn khi cho rằng những người Cộng Sản VN chỉ dùng chủ nghĩa Cộng Sản như một phương tiện để tranh thủ độc lập cho nước nhà. Đó là vì theo ý thức hệ cũ, tinh thần quốc gia là tuyệt đối, dù trong chế độ quân chủ, nhân dân và xã tắc vẫn được tôn trọng và từ vua đến quan đều phải lây quốc gia làm trọng. Những nhà cách mạng buổi đầu của VN như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu dù chủ trương Đông Du hay Tây hoá cũng vẫn có mục đích tranh thủ độc lập cho quốc gia. Nhưng Cộng Sản thì theo đúng tư duy của họ, mục đích là thế giới. Quốc gia chỉ là một phần nhỏ của thế giới. Tranh thủ độc lập quốc gia chỉ là bước đầu để cho giai cấp công nông có chính quyền mà tiến lên làm cách mạng thế giới: 'Sau khi phân tích tình hình kinh tế, tình hình chính trị, tình hình xã hội, đặc biệt là sự phân bố giai cấp ở nước ta, tôi đi đến kết luận rằng Đảng ta ngày nay phải là một đảng có tính chất liên hiệp quốc dân, chứ chưa có thể là một đảng Cộng Sản thuần túy của giai cấp công nhân được, vì thực ra giai cấp công nhân của nước ta còn non trẻ, nhưng trong tình hình thế giới ngày nay, cách mạng nước ta cuối cùng phải là một bộ phận của cách mạng thế giới, do giai cấp công nhân lãnh đạo, cho nên để có thể đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà từ cách mạng dân tộc tiến lên cách mạng thế giới (tức cách mạng Xã hội chủ nghĩa."(12)

    Rõ ràng :

    "Trong khi chắp cánh liền cành,
    Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên."

    Tự cơ bản của Cộng Sản không có chỗ đứng cho quốc gia. Lenin chỉ dùng chiêu bài dân tộc để đánh phá tư bản và thực dân, cho Liên Xô rảnh tay làm cách mạnh xã hội ở trong nước. Như thế bản chất của văn hoá Macxit đã là giả dối, lừa phỉnh, hay nói ngôn ngữ ngày nay là "đểu". Vănhoá Macxit hay bất kỳ một nền văn hoá nào đều phải là tiếp thu những tinh hoa của văn hoá tiền nhiệm. Sự tiếp thu ở mặt văn hoá không hàm ý đấu tranh triệt tiêu, mà chỉ là chọn lựa tự nhiên. Tuy vậy giai cấp cầm quyền với sự lo ấu về an nguy của nó, vẫn muốn khống chế một tư duy văn hoá thể hiện ra ở cách tư duy và hành động. Nền văn hoá nhân bản vốn đã có thời gian dài xây dựng và củng cố trong lịch sử, dù bị nhiều va chạm cũng vẫn là tiêu chuẩn cho mục đích hành động của con người. Nó không thể thỏa hiệp được với sự lăng mạ lòng nhân ái và liêm xỉ của con người bằng những hành vi dối trá, cướp đoạt, diệt chủng.

    Mê hoặc lý thuyết của những người tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng Sản nhắm vào thành phần trí thức trong xã hội là cái vỏ bạo lực của cách mạng. Họ tung hỏa mù để vừa che lấp những hành vi tàn bạo diệt chủng, vừa lu loa gian dối chào hàng: 'Bao nhiêu thế hệ triết gia từ mấy trăm năm gần đây đã cố đi tìm thực chất của cuộc sống con người(*), và đến hơn trăm năm nay Karl Marx là nhà tư tưởng mới gọi là nắm được căn bản của cuộc sống. Nhà Phật cho rằng chỉ cần tâm ý con người được sự chỉ đạo của định và tuệ, thì con người bị "phóng thể" có thể trở vè được bản thân mình, do đó mà tự cứu mình và cứu độ người khác. Karl Marx thì cho rằng con người bị "tha hoá" về mọi mặt phải được giải thoát khỏi sự tha hoá để trở thành con người chân chính, toàn diện...Marx thì cho rằng sự tha hoá của con người là bắt đầu từ sự tha hoá về kinh tế, tức là sự tha hoá của chế độ tư hữu tài sản,(*). Người Macxit phải dùng đấu tranh mới thực sự giải phóng được con người (Cộng Sản trên thế giới đã giải phóng được cả trăm triệu người khỏi cuộc sống. Riêng Công Sản Việt Nam đã giải phóng cả 20 triệu dân miền Nam (VNCH) khỏi cuộc sống tương đối ổn định về kinh tế để đưa công nông cả nước vào cuộc sống nghèo khổ, nô lệ ). Người Macxit cho rằng nếu không đấu tranh thì không thể nào mong tự giải thoát được. Song đấu tranh có nhiều hình thức, từ đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị, đến đấu tranh bằng bạo lực, tùy thời cơ mà dùng hình thức này hay hình thức khác.(Cái đểu của đấu tranh tư tưởng Cộng Sản là bịt mồm không cho đôi phương phát biểu).. Những điều căn bản để cứu đời chỉ có thể thực hiện được bằng cách đấu tranh để mở rộng cách mạng ra nhiều nước khác, kể cả những nước Đế quốc chủ nghĩa, để hạn chế và dần dần chấm dứt sự lũng đoạn của những công ty tư bản khổng lồ trên toàn thế giới là những kẻ thủ ác trong những mối đe dọa lớn đối với loài người.(* )Như thế thì có thể nói rằng lý tưởng cứu độ của người Phật tử cũng như lý tưởng cứu thế của các tôn giáo khác mà xưa nay các tôn giáo không thực hiện nổi (sic), chủ nghĩa Mac sẽ có thể thực hiện được".(12)"Con người được giải phóng khỏi mọi hình thức tha hoá, con người toàn vẹn ấy, chỉ có thể trở thành ở trong xã hội Cộng sản thôi. So với các thứ chủ nghĩa nhân đạo cũ, từ chủ nghĩa nhân đạo Phật giáo và Khổng giáo ở Đông phương, đến các thứ chủ nghĩa nhân đạo bắt nguồn ở lòng thương của Thiên chúa hay những chủ nghĩa nhân đạo của những nhà triết học vô thần, thì chủ nghĩa nhân đạo của Mac cao thượng và thiết thực hơn nhiều"(13).

    2.-Chính trị đểu:

    Thiết thực đến người dân là chính trị. Trong xã hội Phong kiến, sống dưới sự cai trị của quan lại trong vương triều cũng như chính quyền ở làng xã, nhân dân không thể tránh khỏi những xử đoán bất công, hà khắc, cho nên ai cũng mong muốn một chế độ cai trị dễ thở. Người ta gọi là "minh quân,lương tể" khi trong nước có vua quan biết thương yêu lo cho cuộc sống an bình của người dân. Cộng Sản đã mị dân bằng chiêu bài dân chủ thủ tiêu tất cả những áp bức của phong kiến: 'Về vấn đề quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính thực chất là vấn đề chuyên chính vô sản, nghĩa là" Sự tổ chức của bộ phận tiên phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để đàn áp kẻ áp bức... Đồng thời với sự mở mang rất rộng rãi dân chủ...cho người nghèo, cho nhân dân...chuyên chính vô sản đem lại một loạt hạn chế tự do đối với những kẻ áp bức, kẻ bóc lột, bọn tư bản. Dân chủ cho tối đại bộ phận của nhân dân và đàn áp bằng sức mạnh đối với những áp bức của nhân dân ".(14)

    Thực tế xã hội CSVN đã chứng tỏ tính chất "đểu cáng" của chính quyền Cộng Sản dựa trên cơ bản chuyên chính vô sản. Nhân dân được lao động vượt quá sức mình (các tận sở năng) để hưởng được những gì nhà nước chuyên chính ban cho mà không được phàn nàn. Thay vì áp chế kẻ thù giai cấp nay đã hoặc cao bay xa chạy, hoặc nằm im dưới lòng đất, nó "hơi xem nhẹ cái mặt dân chủ đối với nhân dân (sic) (Xem nhẹ nghĩa là giai cấp Đảng làm mọi việc một cách độc đoán cho quyền lợi riêng của Đảng.)

    3.- Pháp luật đểu:

    Người ta thường dùng những tiêu chuẩn và quan niệm của thế giới dân chủ Tây phương (Cộng Sản gọi là phản động) để đo lường và đánh giá hành vi chính trị cũng như luật pháp của Đảng Cộng Sản. Hiển nhiên điều ấy là bất cập vì trong chế độ độc tài toàn trị Cộng Sản, không có vấn đề luật pháp không bị chính trị chi phối. Như thế pháp luật là một công cụ để Đảng phát huy tác dụng chuyên chính của nó.(bằng cách bịt mồm bị cáo ở tòa án, định sẵn bản án cho tội nhân trước khi sử, ngăn cản không cho luật sư biện hộ, mớm cung, bịa đặt bằng chứng v.v..Thế nhưng lại bọc cái gọi là "pháp luật XHCN ấy dưới cái vỏ rất dân chủ và tiến bộ: '...Làm thế nào để cho nó phát huy tác dụng chuyên chính của nó thì chỉ là đối với cái gì có quan hệ thực sự với kẻ thù giai cấp mà phải phát huy tác dụng quản lý dân chủ của nó đối với nhân dân lương thiện. Muốn được như thế thì chỉ có cách là mở rộng dân chủ XHCN, mà vấn đề dân chủ XHCN, như đã nói ở trên chỉ có thể giải quyết bằng đấu tranh nội bộ- phê bình và tự phê bình- trên nhu cầu của thực tế khách quan." (14). Xem như thế mới hiểu được nhũng người trong đảng mà phạm pháp thì không thuộc phạm vi luật pháp mà chỉ có "xử lý nội bộ " căn bản đặt trên sự phê và tự phê". Điển hình vụ tham nhũng Vinashin ở Việt Nam nếu xảy ra ở nước dân chủ (chẳng thể nào có ở một nước dân chủ như Mỹ, Anh, Pháp), thì dư luận, luật pháp đã xử lý tới nơi tới chốn. Nhưng ở nước CHXHCNVN (độc lập- tự do- hạnh phúc) thì: 'Quyết định của Bộ Chính Trị đã quyết định không xử lý kỷ luật với các tập thể, cá nhân trong chính phủ liên quan đến tình hình sai phạm ở Vinashin! (Chắc là các đồng chí cũng có phê và tự phê). Mặc dầu chúng tôi có thiếu xót và khuyết điểm nhưng đã nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và tự xét thấy chưa đến mức phải thi hành kỷ luật

    (có nghĩa là nếu một " nhân dân anh hùng" ăn cắp 100 đồng VN thì tù - ngụy danh là học tập cải tạo, vì pháp luật nước ta chủ yếu giáo dục, cải hoá; còn "quan lớn Bộ Chính Trị ăn cắp cả trăm triệu đô la Mỹ thì lỗi ở đồng đô la đã hủ hoá cán bộ, nên cán bộ phải nghiêm túc tự phê mà đề cao cảnh giác.)

    Pháp luật" đểu" là có luật hình sự ban hành để xếp xó, còn thì dùng "luật rừng" mạnh được yếu thua. Mạnh là Đảng, yếu là nhân dân. Bùi Tín đã viết về vụ án "mua dâm nữ sinh vị thành niên ở Hà Giang như sau: 'Ngay ngày 11 tháng 3 các đài phát thanh VOA, RFA, RFI …đã chỉ ra những điều không bình thường của phiên toà. Tại sao lại xử kín, không cho báo trong nước và báo nước ngoài tham dự, không cho cả người thân trong gia đình, mẹ của hai em Hằng và Thúy vào dự? Tại sao không cho luật sư bảo vệ các em? Tại sao không cho phép Luật Sư Trần Đình Triển tham dự khi ông tình nguyện biện hộ miễn phí cho các em? Cuối cùng luật sư xin vào dự chỉ để tìm hiểu về vụ án, cũng bị từ chối với một lý do rất vớ vẩn: 'Hôm nay toà không làm việc".

    Dưới đây là những biểu hiện của "luật rừng" rõ rệt nhất:

    "Tên gọi của vụ án vẫn cứ gọi là "vụ án mua bán dâm của vị thành niên". Không có gì sai hơn là tên gọi này. Có thể khẳng định nếu không có tên hiệu trưởng ma cô Sầm Đức Xương đứng ra bịp bợm, dọa dẫm mua chuộc các em rằng: 'Không nghe theo, không ngoan ngoãn vâng lời các quan chức thì dù học giỏi cũng không được lên lớp, cũng không được đỗ khi thi, còn bị điểm hạnh kiểm xấu" thì không có vụ án này. Bọn nhóm quan đầu tỉnh tham nhũng, hoang dâm đầu xỏ của vụ án nghĩ ra mưu dùng tên hiệu trưởng đầy thú tính làm tay sai đắc lực. Tên hiệu trưởng này hiểu rõ tâm lý các em là rất sợ bị điểm đạo đức xấu, rất sợ bị điểm thấp, rất sợ thi không đỗ, không được lên lớp, sẽ bị gia đình rầy la, nên lợi dụng nỗi lo sợ ấy, biến các em thành những kẻ nô lệ tình dục.

    Để soi tỏ cái chế độ tư pháp độc đảng kỳ dị này, xin nhắc lại lời của Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trịnh Ngọc Dương tháng 10 – 2008 được truyền bá rộng rãi: 'Ở nước ta xử đúng cũng được, xử sai cũng được; xử hòa cũng được, xử thắng cũng được." Một tuyên ngôn, một lời thú nhận đáng sợ. Cũng như nữ Luật Sư Ngô Bá Thành, đại biểu Quốc Hội từng nói: ' Ở Việt Nam ta có một rừng luật, nhưng khi xét xử lại áp dụng luật rừng". (Bùi Tín viết riêng cho VOA, 21-3-2011).

    "Việt Nam không có tù chính trị", chỉ có phản động làm nguy hại an ninh, chống phá cách mạng. Đấy là cần phải xử. Còn thông thường thì cứ âm thầm bắt người, giam ở một chỗ bí mật, thân nhân cứ lấy ngày nạn nhân được "mời đi làm việc" làm ngày giỗ.

    3.- Giáo dục đểu:

    Tự cơ bản giáo dục Cộng Sản dạy cho người ta ăn gian nói dối để phục vụ chính trị của Đảng. Ngoài chương trình đào tạo nặng về chính trị (hồng hơn chuyên) còn có sách vở "đểu" khiến cho trí thức người dân chỉ phát triển theo chiều Đảng muốn (Xin hẹn ở một bài khác tìm hiểu và phê phán sâu đậm hơn về sách "đểu"). Ngay từ hồi Cộng Sản còn lén lút tuyên truyền trong dân chúng VN, người có thể nói có công nhất trong việc đưa chủ nghĩa Cộng Sản vào VN là Đào Duy Anh. Ông đã biết làm việc "treo đầu heo, bán thịt chó": 'Làm việc này tôi có một dụng ý riêng là nhân việc giải thích từ ngữ, mà phổ biến trong nhân dân một số khái niệm chính trị theo hướng chủ nghĩa Mac, mà tôi thấy là cách giải thích tiến bộ nhất và khoa học nhất. Tôi có giải thích những thuật ngữ này theo sự hiểu biết của mình do nghiên cứu những sách về chủ nghĩa Mac trước đây, chứ không theo hẳn cách giải thích của các từ thư thông thường, và đôi chỗ nó vượt ra ngoài cách giải thích thường có ở một cuốn từ điển (*). Đó cũng là một cách để phổ biến chủ nghĩa Mac mà bước đầu tôi đã thử làm trong mười ba tập sách của Quan hải tùng thư. Thí dụ: Cộng Sản chủ nghĩa: Cái chủ nghĩa muốn tiêu diệt quyền tư hữu, đem tất cả cơ quan sinh sản (*), sinh sản phẩm trên xã hội làm của chung của tất cả mọi người, đặt cơ quan thống kê và quản lý chung; về chính trị thì chủ trương liên hiệp tất cả giai cấp lao động để đánh đổ chế độ Tư bản.(14)

    Cả một hệ thống văn học tuyên truyền ngự trị trong giáo dục nhằm uốn nắn tâm hồn người dân ngay từ tuổi mới học nói: 'Yêu biết mấy nghe con học nói; Tiếng đầu lòng con gọi Stalin), cho đến ông già gần đất xa trời "nhớ nghĩ chiều hôm" (15). Hệ thống giáo dục ngụy trá ấy không những đánh lừa người dân trong nước, mà còn có mục đích đánh lừa cả quốc tế. Nó không phải là sáng kiến của Cộng Sản VN mà chính là sáng kiến của Cộng Sản quốc tế với Lênin và Stalin: 'Cách đây ít lâu, khi tôi ở nước ngoài, người ta đã đề nghị tôi 20.000 Đôla để in các hồi ký của tôi, nhưng những hồi ký này phải qua sự kiểm duyệt của Bộ Chính trị và tôi biết ở đất nước chúng ta, người ta giả mạo, xuyên tạc biết bao nhiêu lịch sử đảng và cách mạng, tôi không muốn tiếp tay cho một số giả mạo như thế. Tất cả công việc kiểm duyệt của bộ Chính trị chỉ là cấm tôi đánh giá trung thực những nhân vật và hành động của họ"(16).

    Chúng ta không có công sức mà rà soát toàn bộ tác phẩm văn học và giáo dục của Cộng Sản Việt Nam. Hãy gạt ra ngoài những sách giáo dục ấu trĩ, chỉ kể riêng phần gọi là "hàn lâm" là nơi tham khảo cho những người ngoại quốc muốn biết về văn hoá VN cũng đã "nguyền rủa sự thật " khủng khiếp đến thế nào. Sách vở miền Bắc đều là những phiên bản của một bản ngợi ca lố bịch gần như hoang tưởng. Hãy xem ông Nguyễn Khắc Viện gọi là trí thức đỉnh cao, đã từng được đào tạo về y khoa ở Paris năm 1983 viết: 'Với tất cả những giàu sang và hấp dẫn của nó, xã hội tư bản phát triển nhất vẫn là một xã hội bệnh hoạn, có nguy cơ dẫn loài người đến ngày tận thế hạt nhân (*). Một xã hội xã hội chủ nghĩa ngay từ trong trứng nước như ở Việt Nam còn mang nặng tất cả những chứng tật ấu trĩ và di sản từ ngày xưa (vẫn đổ lỗi cho quá khứ) vẫn có những mầm mống lành mạnh không thể nào có ở những nước tư bản". (17)

    Hãy so sánh ý tưởng sau đây sẽ thấy rõ phiên bản "trăng Liên Xô đẹp hơn trăng Mỹ": 'Nhưng hễ tôi so sánh những cảnh đông người, cảnh xã hội ở đấy với những cảnh tôi thấy trong đường phố Matxcơva thì một sự khác biệt đập ngay vào mắt. Cảnh đông người trên đường phố Matxcơva toát ra một khí sắc lành mạnh không thể có ở các thành phố tư bản". (18) (Làm sao tìm được ở Paris mầm mống và khí sắc lành mạnh như hiệu trưởng làm ma cô ép buộc gái vị thành niên bán dâm như ở Hà Giang, thiên đường Cộng Sản của CHXHCNVN.)

    Đến thời gọi là "mở cửa" thì vì chủ trương "kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa" nên về mặt văn học có sự tái bản những sách của "miền Nam". Nhưng Đảng đâu có thiếu đề cao cảnh giác. Các sách đã bị cắt xén những điều chạm đến chính sách và niềm tin của Đảng. Điều này tạo ra những nhận định sai lầm về văn hoá ở "miền Nam (VNCH) trước đây (*). Những học giả ở "Miền Nam" trước đây đều phải tuân thủ một tinh thần tôn trọng sự thật khi sáng tác hay biên khảơ. Nề nếp có tính chất quốc tế ấy khiến người ta tin tưởng ở những điều các vị học giả ấy viết ra, để căn cứ vào đấy mà có những nhận định chính xác.Vì thế những biên khảo không được có sự bịa đặt, dựng đứng hay ngụy tạo chứng cớ. Nếu có sự sai lầm trong tác phẩm biên khảo thì đấy là do trình độ còn yếu kém và không thể che dấu được người đọc có trình độ. Việc phê bình thẳng thắn sẽ giúp độc giả nhận ra những chỗ sai lầm này.

    Học giả XHCN thì không tôn trọng quy tắc này. Điển hình như "Thầy" Đào Duy Anh đã dựng lên chuyện cụ Phan Bội Châu ca tụng Nguyễn Ái Quốc mà không cần chưng ra một chứng cớ nào cả.Cũng như "học giả" Trần Dân Tiên đã viết sách về tiểu sử "Bác Hồ" để từ đó những học giả ngoại quốc tham khảo khi viết về Hồ Chí Minh. Thầy Đào viết: '.. Hiện nay đã có người khác giỏi hơn lớp chúng tôi nhiều đứng ra đảm đương công việc để làm trọn cái việc mà lớp chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không?

    -Có báo đăng tin Nguyễn Ái Quốc đã bị bắt và chết ở Hương Cảng cách 2,3 năm nay rồi mà?

    - Không, tôi chắc ông Quốc vẫn còn, mà ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Họ bắt tôi dễ chứ làm sao bắt được ông Quốc; mà có bắt đi nữa thì cũng phải thả thôi, vì ông ấy giỏi chứ có như tôi đâu, lại có nhiều vây cánh và bạn bè khắp thế giới (Cụ Phan đâu có biết, làm sao Pháp bắt được Nguyễn Tất Thành khi chính hắn đã bán cụ cho Pháp để lấy tiền phát triển Đảng,)

    -Thưa cụ "Bò đái thất thanh, Nam Đàn sinh Thánh" chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là khác!

    -Kể cái nghề cử tử thì xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường cũng có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực, thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác". (18)

    Các học giả ngoại quốc khi viết về VN cứ yên trí tin vào những sự kiện trên thì giá trị của tác phẩm sẽ như thế nào? Rõ ràng chỉ là phiên bản của một chính sách nói dối thông suốt cả nền văn hoá Cộng Sản.

    Trong sách giáo khoa dùng đào tạo giáo viên (Đại Học Sư Phạm) đầy dãy những tin bịa đặt, tuyên truyền một chiều và nhất là sinh viên không hề được suy nghĩ đối chiếu để tiếp cận chân lý, do đó đã tập quen cho những người thầy giáo tương lai một bản chất nói dối, ngụy biện, để sau này đi dạy, cứ theo con đường "sáng suốt" của Đảng mà hành nghề. Thí dụ năm 1930, sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, Pháp có ném bom vào làng Cổ Am, mà họ cho là nơi tụ tập của các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng "Tan tác Kiến Kiều An đất nước; Xác xơ cổ thụ sạch Am mây". Các báo chí thời ấy đều có đăng tải. Nhưng vì đó là cuộc nổi dậy của VNQDĐ, do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, nên sinh viên không được học; Còn Đảng thì thổi phồng vụ chống thuế của một số dân làng ở Nghệ Tĩnh lên thành Xô Viết Nghệ Tĩnh (*) mà chính dân làng ở Nghệ Tĩnh cũng chẳng biết Xô Viết là cái gì). Như thế là Bộ Giáo Dục của CSVN đã chủ ý đào tạo một hàng ngũ "thầy đểu" để thực hiện chính sách "dạy đểu". Việc CSVN có thành công hay không ở chính sách này lại có một nguyên nhân khách quan khác.

    4.- Tu đểu:

    Kể từ khi "lý thuyết gia" Đào Duy Anh phong "Bồ Tát" cho Hồ Chí Minh: 'Không hề có ý đồng nhất hoá Bác Hồ với Khổng Tử, tôi chỉ muốn nói rằng Bác Hồ tuồng như có thể xem là bực thánh nhân tập đại thành những cái thánh của nhà Nho mà còn gồm cả cái thánh của nhà Phật (Bồ Tát), cho đến cái thánh của người Macxit chân chính." (19) thì Cộng Sản VN khai sáng một nền "tu đểu" có thể coi như từ một lý thuyết của Thích Nhất Hạnh như Đào Duy Anh đã viết: 'Tất cả năm công tác mà Thích Nhất Hạnh coi là căn bản và cấp thiết để cứu đời chỉ có thể thực hiện được như ông tự biết khi nào "sự chia cắt đau nhức giữa tôn giáo, chủng tộc và quốc gia được bãi bỏ - Những điều ấy không có thể thực hiện được bằng sự có mặt của các nhà đại sư để cho đạo lý thấm dần vào mọi hoạt động của xã hội và bằng sự tĩnh tu giác ngộ của mỗi người, mà chỉ có thể thực hiện được bằng cách đấu tranh để mở rộng cách mạng ra nhiều nước khác, kể cả những nước đế quốc". (19)

    Cơ bản "hiện đại hoá đạo Phật này cũng giống như chủ nghĩa Macxit là một thứ "đầu voi đuôi chuột. Nhà nước Cộng Sản kinh nghiệm thới gian trước đã từng lợi dụng đạo Phật làm một sức mạnh tranh đấu (20) nên ngày nay đã kiểm soát chặt chẽ giới tu hành chân chính, đồng thời dung dưỡng để tạo nên một cán cân "tu đểu" dần dà tiêu diệt đạo Phật. Điển hình ở một số chùa có hiện tượng buôn thần bán thánh. Trong chùa cũng có sinh hoạt tổ chính trị, và nhiều sư bị phát hiện với rất nhiều hiện tượng phạm giới. Nếu các tín đồ phẫn khích vẫn lui tới lễ bái, tín ngưỡng trở nên lỏng lẻo, nhạt nhẽo; nếu tín đồ bỏ chùa, Đảng thành công, vì đúng là một viên đạn hạ được hai con chim: Vừa thực hiện được chủ trương vô tôn giáo, vừa nắm được ý thức của người dân.

    Việc đưa cả Hồ Chí Minh vào thờ trong chùa, như ở phần trên có nói là do một bài báo quan trọng của Đào Duy Anh phong "Bồ Tát" cho "Bác"; cũng như dựng tượng "Bác" ở ngay đền Hùng với huyền thoại là ghi nhớ câu nói của "Bác": 'Các vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải giữ lấy đất nước" (thế mà chỉ 2 năm sau đã sai Phạm Văn Đồng viết công hàm bán đứt Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu). Xây dựng chùa to để nói với quốc tế là tôn trọng tín ngưỡng, nhưng thực chất bên trong lại làm cơ sở cách mạng, không kể làm kinh tế du lịch. Trong khi những chốn tu hành không "vào luồng" thì đổ nát, nghèo khổ, phải đi xin tiền của người Việt tị nạn ở nước ngoài để trùng tu. Nghiễm nhiên nhiều chùa trở thành chỗ buôn thần bán thánh, vừa làm kinh tế, vừa ru ngủ quần chúng, khiến bất kỳ một manh động nào có hại cho Đảng, nhà nước đều bị trấn áp ngay từ trong trứng. Hãy cứ đặt một nhận xét nhỏ để thấy rõ vai trò của các sư công an ở chùa này: Năm 1963 sao mà biểu tình dễ dàng và đông đảo thế; còn hiện thời sư sãi phật tử có dịp nào mà tụ tập nổi nghìn người để khiến cho chính quyền phải huy động bộ máy công an giải tán và đàn áp. Như thế, phải nhận rõ ưu điểm của bộ máy an ninh Cộng Sản đã lồng được vào tôn giáo niềm sợ hãi sự trừng phạt ở hiện thế.

    4.- Hành xử đểu:

    Xưa cũng như nay dù mang tên gọi khác nhau ở ngôn ngữ, con người đối với nhau bằng lòng thành. Ở Nho giáo chữ Thành đã mang đầy đủ ý nghĩa triết học là tư tưởng cơ bản của triết lý hành động: 'Thành giả, thiên chi đạo giã; thành chi giả, nhân chi đạo giã" (Thành là đạo của Trời, làm đến được điều thành là đạo của người). Không có thành thì sao gây được tín nhiệm với nhau, tôn trọng nhau để tạo một cuộc sống hoà hợp trên căn bản giúp đỡ nhau mà cải thiện cuộc sống.

    Cái "đểu" là Cộng Sản đã phá ngay chữ "Thành" và chữ "Tín" ở chỗ cơ bản nhất là gia đình từ khi khuyến khích con tố cha mẹ, vợ chồng tố nhau. Sự tan nát niềm tin nơi gia đình đưa ra ngoài xã hội tạo nên một xã hội mất niềm tin mà chỉ còn rình mò và lợi dụng nhau. Đành rằng việc làm bậy không đời nào không có, chỉ ít hay nhiều mà thôi. Tuy nhiên xhính quyền phải cầm cân nảy mực để duy trì sự công bình, thành tín cho dân. Ngày trước người ta gọi một ông quan "đểu" là vì ông này lợi dụng chức vụ để ăn tiền, phân xử bất công, đổi trắng thay đen:

    Tri Phủ Xuân Trường được mấy niên,
    Nhờ Trời hạt ấy được bình yên.

    Chữ "y" chữ "chiểu" không phê đến,
    Quan chỉ phê ngay một chữ "Tiền".


    Thiểu số quan tham ấy không thể tồn tại hay lũng đoạn xã hội được khi ý thức đạo đức và pháp luật của dân chúng được nâng cao. Câu nhận định tuy rằng hàm hồ, nhưng cũng có chút sự thật của Tản Đà cho ta thấy một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao dân trí với việc ổn định xã hội:

    Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn,
    Cho nên chúng nó dễ làm quan.


    Cũng bởi bọn chính quyền lưu manh dùng bạo lực kìm kẹp khủng bố người dân, lại thủ tiêu sự công chính và thành tín nên xã hội VN hiện tại là một xã hội không giống ai. Người ta gọi là "thời kỳ đồ đểu", tuy nghe đau xót, nhưng cũng phản ảnh được sự thật. Việc xưng bằng cấp "rởm" của Cộng Sản VN ngày nay mới nở rộ, nhưng đã có từ quá khứ mà suy ra ai cũng hiểu nhưng không ai dám nói là Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đỗ kỹ sư điện tử; còn "Bác Hồ" vì đã chót tô vẽ cho Bác là "thiên tài" hy sinh tìm đường cứu nước quên cả học, nên Đào Duy Anh đành lấp liếm ca Bác về trình độ: 'Bác Hồ không đi thi, nhưng sức học chữ Hán bấy giờ đã tương đương với sức học của một người thí sinh trung bình, tức khi chuyển sang học chữ Pháp, Bác đã có được một vốn Hán học về văn thể (*) gọi là kiêm bị, mà về nội dung thì một người thông minh như thế phải là đã có những sở đắc chứ không phải như những học trò dung phàm(*). Bác Hồ học chữ Pháp ở trường Pháp Việt và trường Quốc Học được 6 năm... Bác Hồ đã tiếp thu được một số kiến thức về Tây học kha khá đủ để làm thầy giáo dạy học tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết trước khi Bác vào Sài Gòn (*) (21). Bây giờ thì con cháu Bác hách hơn, mua bằng từ thạc sĩ đến tiến sĩ ở các nước Tây phương tư bản về để trí thức hoá Đảng.

    Tất cả mọi thứ đều được đem ra mua bán từ quan tước đến liêm xỉ và cả sự thật nữa, cho nên mọi hành vi đều thể hiện tính chất nguyền rủa cái Đẹp, cái Tốt và cái Thật. Điều nổi bật hiện nay là vụ án Cù Huy Hà Vũ đang phô diễn cho cả thế giới thấy rõ một tòa án ngồi lên trên pháp luật theo sự lãnh đạo của Bộ Chính Trị hay của Đảng mà hành xử "đểu" với nhân dân.

    5.- Vấn đề hoà hợp hòa giải với CSVN: Những người còn mang bản chất người có thể hòa vào với nền "văn hoá đểu" của Cộng Sản Việt Nam không? Cộng Sản không thể và không muốn sửa đổi. Cái gọi là nền văn hoá Macxit ấy là tai họa cho không những dân tộc Việt Nam, mà còn cho cả nhân loại cần phải được giải trừ để thay thế vào đấy một nền văn hoá nhân bản. Phải làm ngay lúc này thì vài ba thế hệ sau mới trở về nẻo thiện được. Văn hoá không thể từ trên trời rơi xuống và có kết quả cấp kỳ. Bài học cay đắng của lịch sử là từ giữa thế kỷ trước người ta không nghĩ đến sự nguy hại của văn hoá Macxit vì thật sự chưa có những biểu hiện "đểu" trong xã hội; vì xã hội vẫn còn ảnh hưởng của những yếu tố văn hoá cũ với điều mà người ta gọi là tử tế. Công việc tẩy rửa văn hoá "đểu" thật là khó khăn và lâu dài. "Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh."

    Lê Văn Ngọc

    Chú thích:

    (1) Trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh, xuất bản năm 1938 ông định nghĩa văn hoá như sau: Người ta thường cho rằng văn hoá là chỉ những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hoá vốn có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt.

    Văn hoá đã tức là sinh hoạt thì không kể là dân tộc văn minh hay dã man đều có văn hoá riêng của mình, chỉ khác nhau về trình độ cao thấp mà thôi. Ví dụ văn hoá của các dân tộc Âu Mỹ thì cao, mà văn hoá của các dân tộc mọi rợ ở Phi Châu, Úc Châu cùng các giống người Mường, Mán, Mọi ở nước ta thì thấp.

    (2) Trần Ngọc Thêm- Tìm Về Bản Chất Văn Hóa Việt Nam – trg25

    (3) Xét về từ nguyên của chữ "đểu" chưa thấy có tự điển nào nêu ra ngoài các định nghĩa thông thường. Có thể phỏng đoán rằng tiếng Hoa nói lóng dương vật của đàn ông là con chim, tức là "điểu". Người Việt ta đọc trại thành "đểu" (?)

    (4) Trích từ trang mạng của Vô Danh. Xin cám ơn tác giả Vô Danh đã có phát kiến thâm thúy về ngôn ngữ.

    (5) L. Trosky - Cuộc Cách Mạng Bị Phản Bội – trg 17

    (6) Nt – trg 196

    (7) nt – trg 196

    (8) nt – trg 197

    (9) nt – trg 198

    (10) Đào Duy Anh - Nhớ Nghĩ Chiều Hôm – trg 33

    (11) Nt – trg 34

    (12) Nt trh 43

    (*) Đào Duy Anh ít tham khảo lịch sử tư tưởng nhân loại nên không hiểu rằng việc đi tìm thực chất của cuộc sống con người đã có ít nhất cũng 2000 năm.

    (*) Như vậy muốn đừng bị tha hoá về kinh tế, đương nhiên phải triệt tiêu chế độ tư hữu tài sản.

    (*) Một trong những lo âu là võ khí nguyên tử của đế quốc sẽ tiêu diệt nhân loại, còn võ khí nguyên tử của Liên Xô và Trung Quốc thì không (?)

    (13) ĐDA - Nhớ Nghĩ Chiều Hôm – trg 343

    (14) nt. Trg 389

    (*) Nghĩa là không theo quy luật chính xác của tự điển.

    (*) Có lẽ ĐDA muốn nói là các cơ sở sản xuất tạo ra sản phẩm kinh tế. Dùng chữ tối nghĩa như trên có thể làm cho người ta hiểu lầm là cơ quan sinh sản của đàn ông và đàn bà đều trở thành của chung.

    (15) ĐDA – NNCH - trg 50 – 51

    (16) Tác phẩm cuối cùng của Đào Duy Anh xuất bản năm 1972 vẫn viết được những lời bịp bợm: 'Nhưng trong 12 ngày cuối năm nhân dân ta đã quật ngã gần trăm máy bay khổng lồ (B52) ấy (máy bay là một đồ vật hay một con bò mà quật ngã), khiến thứ võ khí chiến lược hoàn cầu mà đế quốc Mỹ vẫn dùng để đe dọa nhân dân thế giới bỗng biến thành con ngáo ộp không đáng sợ nữa. (Một tài liệu mới phát giác gần đây cho biết: Một tốp nhân viên an ninh nhận được điện tín của chính phủ CSVN xin đầu hàng, nhưng ban này đã bị "cất đi" và Mỹ cũng không ném bom sang ngày thứ 13 nữa. Sau đó Hòa Đàm Paris lại tiếp tục). Không ngờ thua đau như thế, Mỹ phải vội vàng nhận trở lại với ta quanh bàn hội nghị, cuối cùng phải ký hiệp định đình chiến và thừa nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta."
  11. The Wall Street Journal – nhật báo tài chính hàng đầu của Mỹ: “Việt Nam có nguy cơ trầm trọng hoá vấn đề lạm phát”

    Là một nền kinh tế luôn bị nạn lạm phát hoành hành, Viêt Nam vừa phá giá đồng bạc (VND) xuống 8.5% vào ngày thứ sáu 11/02/2011. Quyết định này có mục đích ngăn ngừa những khó khăn kinh tế ngày một dày cộm.

    Tuy nhiên nhiều chuyên gia cho biết, thay vì chấn hưng tình thế, chính quyền cộng sản Hà Nội có thể, một lần nữa, gây ra tình trạng vật giá leo thang.

    Tại một số quốc gia vừa trỗi dậy, tệ nạn lạm phát đã được rung chuông báo động khi giá cả thực phẩm và nguyên liệu đã tăng vọt. Việt Nam là một trong những trung tâm của vấn đề lạm phát. Sau nhiều năm thi hành chính sách thả lỏng lãi suất và nới rộng trợ cấp bằng tín dụng rẻ, tăng trưởng của Việt nam đã đạt đến mức độ ngang tầm với Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn là một quốc gia tương đối kém phát triển. Theo một số chuyên gia, Việt Nam còn thiếu nhiều phương tiện quản lý mức tăng trưởng quốc gia.

    Vì vậy vật giá đã tăng vọt, nhất là cho một số nhu yếu phẩm. Hệ lụy là nhiều đợt phá giá VND khiến đồng bạc mất đi 20% giá trị từ giữa năm 2008 trở đi. So sánh với tỉ lệ của 12 tháng qua, chỉ số tiêu dùng (CPI) đã tăng cao vào tháng 01/2011 – hơn 12%. Tỉ lệ này có thể tăng cao hơn nữa trong tháng 02/2011, sau Tết Nguyên Đán và sau khi quyết định phá giá đã mất đi tác dụng của nó.

    Các nhà chức trách Việt Nam đã tỏ ra ít quan tâm đến việc triệt tiêu lạm phát cho dù, vào tháng 01/2011, đề tài phòng chống lạm phát đã được bàn cãi tại Đại Hội Đảng (được tổ chức hai lần trong thập niên). Quyết định phá giá để tăng cường xuất cảng có nguy cơ trầm trọng hoá vấn đề.

    Thay vì tăng lãi suất và chấp nhận rủi ro giảm thiểu mức cung-ứng công ăn việc làm cho giới trẻ và lực lượng lao động, Việt Nam đã chọn lựa chính sách “duy phát triển”. Mục tiêu GDP của Việt Nam là 7.5%. Trong điều kiện này, phòng chống lạm phát đã trở thành một vấn đề phụ đối với Việt Nam, giới kinh tế suy luận như vậy. Cho năm nay và 5 năm trước mắt, chính sách của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản ước định mục tiêu lạm phát ở mức độ 7% (Tương đương với năm 2010). Trong khi đó lạm phát đã tăng quá 11%.

    Việt Nam có nguy cơ trầm trọng hoá vấn đề lạm phát. Nếu lãi suất không tăng và nếu không có một số biện pháp kìm hãm vật giá, nhiều kinh tế gia lo ngại rằng lạm phát sẽ tăng tốc sau quyết định phá giá vừa rồi. Thật vậy, phá giá sẽ dẫn đến hậu quả tăng giá của một số hàng được nhập cảng, nhất là các hàng xuất phát từ dầu lửa.

    “Quyết định phá giá vào ngày thứ sáu (11/02/2011) sẽ mang lại tác động xấu cho chỉ số tiêu dùng”, theo bà Prakriti Sofat, một chuyên viên kinh tế khu vực thuộc ngân hàng Barclays Capital Singapore. Bà cho rằng khi VND mất đi 1% giá trị so với đồng Mỹ kim (USD) thi tỉ lệ lạm phát sẽ tăng 0.15%.

    Ước lượng trên cho thấy quyết định phá giá sẽ đẩy lạm phát lên 1.28%. Tuy nhiên, bà Sofat cũng nhìn nhận rằng phần nào tác động của việc phá giá vừa qua đã được sáp nhập vào mức lạm phát hiện hữu vì thị trường hối đoái chợ đen đã tiên đoán việc phá giá. Rất linh động, giá cả được định tại thị trường chợ đen mới là giá thông dụng. Từ lâu, thị trường chợ đen đã định giá VND thấp hơn so với tỉ lệ hối suất chính thức. Barclays tiên đoán rằng lạm phát sẽ tăng đến 13% vào tháng 03/2011 và sẽ vượt qua ngưỡng 15% vào tháng 06/2011.

    Việt Nam gần như đi ngược lại với xu hướng của các quốc gia Á Châu. Ở các quốc gia này, mối quan ngại về vật giá tăng tốc đã khiến các ngân hàng quốc gia nâng lãi suất lên một khi nền kinh tế đã nhanh chóng phục hồi sau cơn khủng hoảng toàn cầu. Vào thứ ba 08/02/2011, Trung Quốc đã tăng lãi suất lần thứ ba trong vòng 4 tháng. Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Bộ Trưởng Bộ Kinh Tế Thái Lan Korn Chatikavanij đã cho biết vật giá leo thang là một trong những mối lo âu hàng đầu. Trước đó, ông đã ban hành nhiều đợt nâng cao lãi suất.

    Một số quốc gia cũng đã cho tăng giá trị đồng bạc để làm yếu đi tác động của lạm phát. Hành động này đã giúp nhập cảng hàng hoá, như thực phẩm và nguyên liệu, với trị giá thấp hơn. So với USD, giá trị của đồng Ringgit Mã Lai đã đạt đến tột đỉnh trong 13 năm qua. Đồng bạc Thái, Phi và Tân Gia Ba cũng đã tăng giá trong 2 năm qua.

    Ngược lại, Việt Nam đang được xem như tấm gương để cảnh cáo giới chức trách Á Châu về những hậu quả của chính sách bất cập khi những “phanh tiền tệ” đã không được huy động kịp thời.

    Chuyên gia kinh tế của HSBC, Sherman Chan, cho biết: “Những vấn đề cơ bản của nền kinh tế vẫn chưa được giải quyết. Hiện tượng này cho thấy áp lực dẫn đến phá giá vẫn tồn tại”. Những vấn đề cơ bản bao gồm thâm hụt cán cân thương mại và tính vô hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong khi DNNN vẫn thao túng nền kinh tế quốc gia.

    Với lạm phát tăng nhiệt trong những tháng qua, người dân Việt Nam đã chuyển tài sản của mình từ VND qua USD hay vàng. Giá vàng ở Việt Nam cao hơn giá thị trường quốc tế khoảng 5% vì kim loại này được xem như “chắc ăn” nhất. Động thái này gây thêm sức ép giảm giá VND. Đến nổi vài công ty, trong đó có Ford Motors Co, phải khó khăn tìm cách dự trữ ngoại tệ để trang trải chi phí nhập cảng.

    Quyết định phá giá đã hạ thấp tỉ lệ hối đoái từ 18.932VND/USD xuống 20.693VND/USD. Mục tiêu của đợt phá giá này là thu hẹp lại khoảng cách giữa tỉ lệ chính thức và giá cả thị trường chợ đen. Trước khi quyết định phá giá được ban hành, tại thị trường chợ đen tỉ lệ hối suất là 21.320VND/USD. Trên nguyên tắc, quyết định này cũng sẽ tạo điều kiện cho các xí nghiệp tìm mua ngoại tệ dễ dàng hơn.

    Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNNVN) cũng đã tuyên bố rằng phá giá sẽ tăng cường xuất khẩu và kìm chế thâm thủng cán cân thương mại của Việt Nam. Hiện tượng thâm hụt cán cân cũng đã tạo sức ép trên VND. NHNNVN suy luận rằng đồng bạc rẻ sẽ tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia.

    Một trong những mục tiêu của việc phá giá cũng nhắm vào lượng dự trữ ngoại tệ èo uột của Việt Nam. Giới báo chí nhà nước đã tường thuật rằng lượng dự trữ ngoại tệ đã giảm xuống mức 10 tỉ USD vào cuối năm 2010, so với mức 16 tỉ USD vào cuối năm 2009 và 26 tỉ USD vào năm 2008.

    Chi phí bảo hiểm cho viễn tượng Việt Nam vỡ nợ hoặc viễn tượng nợ công Việt Nam được tái cấu trúc đã tăng vụt ngay sau khi chính quyền phá giá VND. Hợp đồng bảo hiểm vỡ nợ Việt Nam trong thời hạn 5 năm (5-year credit default swap) đã tăng từ 385 đến 395 điểm (từ 3.85% lên 3.95%) vào thứ năm (10/02/2011).

    Các chuyên gia quan niệm rằng, nếu Việt Nam muốn tránh khỏi một cơn khủng hoảng trầm trọng hơn, cần giải quyết triệt để những thói hư tật xấu của nền kinh tế. Một trong những khuyết điểm trên là vấn đề khá nhạy cảm trên phương diện chính: Tình trạng kém hiệu quả của DNNN.

    Nhiều nhà phân tích đã cho rằng nguyên nhân của hiện tượng lạm phát hiện nay xuất phát từ những món nợ với lãi suất thấp mà nhà nước đã ban bố cho các DNNN. DNNN đã điều động nguồn vốn này để đầu tư vào những dự án “hại nhiều lợi ít”, hoặc để đầu cơ vào bất động sản hay vào thị trường tài chánh. Một số DNNN đã bơm tiền vào những ngành nghề mà chúng không am tường để rồi mắc vào bẫy của cơn khủng hoảng toàn cầu vào năm 2008.

    Công ty quốc doanh Vinashin, một thời được mệnh danh là công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thủy, đã bị đẩy gần kề vực thẳm khánh tận sau khi đã tích luỹ 4.4 tỉ USD nợ. Sự kiện này đã thúc đẩy hai công ty định mức tín nhiệm, Moody’s Investors Services và Standard & Poor, hạ giảm điểm tín nhiệm các món nợ công Việt Nam. Đến tháng 12/2010, tình hình trở nên bi đát hơn khi Vinashin không đủ khả năng trang trải món nợ trị giá 60 triệu USD trên 600 triệu USD, được cho vay qua công thức hợp vốn (syndicated loan).

    Bà Chan, thuộc ngân hành HSBC, cho biết: “Theo tôi, chính sách Việt Nam sẽ gặt hái được hiệu quả nếu một số chương trình cải tổ DNNN được thực thi”.

    Nguồn: http://online.wsj.com/article/SB10001424052748703745704576136990103856696.html?KEYWORDS=vietnam
  12. Ðại hội thứ 11 của Ðảng Cộng Sản Việt Nam có đặc tính nào nổi bật? Có thể gọi tên, đó là tính chất ù lì và trâng tráo. Ù lì vì 1,377 đại biểu nhất quyết sẽ giữ đảng ngồi tại chỗ trên đầu trên cổ dân Việt Nam, không có gì thay đổi cả mặc dù gần như toàn thể 88 triệu người Việt Nam đang khát khao muốn thay đổi, thay đổi toàn diện và càng nhanh càng tốt.

    Trâng tráo, bởi vì muốn ngồi lại để hưởng thụ các “quả thực của cách mạng,” tích lũy của cải làm giầu thì họ phải theo truyền thống “văn hóa mặt dầy” mà nói dối, hô to những khẩu hiệu huênh hoang, phải đánh lừa mình và lừa người một cách thản nhiên, không biết hổ thẹn.

    Thể hiện tính chất ù lì là chủ trương giữ vững độc quyền chính trị. Hai ngày trước đại hội, ông Trưởng Ban Tuyên Giáo Tô Huy Rứa đã dọa trước rằng: “Ðảng kiên quyết bác bỏ ‘nhu cầu đa nguyên’ về chính trị tại Việt Nam.” Một người có hy vọng sắp vào Bộ Chính Trị là ông Ðinh Thế Huynh, chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam đã khẳng định: “Dứt khoát không đa nguyên đa đảng!” Ông Huynh giải thích rằng: “Chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 46, với nhiều đảng tham gia Quốc Hội. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Ðảng Cộng Sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”

    Ðây là một lối xuyên tạc lịch sử trắng trợn, mà xưa nay đảng Cộng Sản vẫn trâng tráo thi triển. Năm 1945 chỉ có 5,000 đảng viên cộng sản, còn các đảng phái quốc gia đông hơn nhiều. Hồ Chí Minh đã phải mời các đảng quốc gia hợp tác vào chính phủ, mời cả ông Bảo Ðại làm cố vấn, để có bộ mặt đoàn kết. Hồ còn tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản nữa, nhưng ai cũng biết là bịp. Sau đó, Cộng Sản đã thỏa hiệp để có thời gian “hưu chiến” với Pháp, trong thời gian đó họ dùng toàn lực lượng tìm giết các người có khuynh hướng quốc gia, những người không theo đảng Cộng Sản do Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế chỉ huy. Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Cộng Sản Việt Nam đã hạ sát, thủ tiêu bao nhiêu người Việt yêu nước xuất sắc. Hãy nhớ tới Trương Tử Anh, Lý Ðông Á, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ. Một nhà văn yêu nước như Khái Hưng, đã từ giã cháu ở Hà Nội với câu, “Chú về quê đi kháng chiến,” nhưng cũng bị cộng sản thủ tiêu mất xác. Bao nhiêu các lãnh tụ đảng phái quốc gia phải trốn sang Tầu như Nhất Linh, Hoàng Ðạo, Nghiêm Kế Tổ, chỉ vì nếu ở lại trong nước sẽ bị ám sát như các nhân vật trên. Lịch sử sẽ ghi rõ năm 1946 đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp độc quyền chính trị theo đúng bài bản của Stalin. Năm 1953, Cộng Sản Việt Nam lại phát động Cải Cách Ruộng Ðất theo đường lối Mao Trạch Ðông, và một lần nữa, đi tìm giết hết những người bị nghi ngờ, hoặc bị vu cáo, là đảng viên Quốc Dân Ðảng! Vì đã nhắm mắt chạy theo một chủ nghĩa ngoại lai “đấu tranh giai cấp” để thực hiện “vô sản chuyên chính” cho nên đảng Cộng Sản tiêu diệt hết những người yêu nước không cùng ý kiến và có khả năng!

    Bây giờ ông Ðinh Thế Huynh lại nói rằng năm 1946 các đảng phái quốc gia biến đi mất để đảng Cộng sản một mình kháng chiến, đó là một lời trâng tráo xuyên tạc lịch sử. Nhưng trong số các nhân vật lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ít có người trâng tráo bằng ông Nguyễn Tấn Dũng!

    Ngày hôm qua tạp chí trên mạng Ðàn Chim Việt đã trình bày cho bà con khắp thế giới một thủ đoạn tô điểm phấn son để tung hô ông Nguyễn Tấn Dũng, người đang ngồi chủ tọa đại hội Ðảng Cộng Sản. Màn kịch này xuất hiện ở Việt Nam với một bài báo ngày 11 tháng 1, 2011, trên tờ Pháp Luật Việt Nam, nhan đề “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”

    Báo Pháp Luật nói là họ viết tin này “theo báo Firmenpress” và rêu rao rằng đó là do báo chí Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng! Nhưng đảng Cộng Sản quen đánh lừa dân Việt Nam lại không biết rằng ngày nay người Việt đã khôn hơn những năm 1946 nhiều rồi. Ông Nguyễn Tôn Hiệt, trên tờ Ðàn Chim Việt, đã đi tìm hiểu và khám phá ra mạng firmenpresse.de

    ở Ðức là một trang mạng chuyên đăng các bài tự quảng cáo (PR), dưới hình thức “Thông cáo cho báo chí” trong mọi lĩnh vực, từ thương mại, nghệ thuật, công nghệ, cho đến chính trị, do các khách hàng tự viết gửi đến. Ai muốn “lăng xê” món hàng nào, ca sĩ, tài tử nào, cứ việc đưa lên mạng này!

    Tìm trên trang firmenpresse.de, ông Nguyễn Tôn Hiệt cuối cùng thấy có tới hai cái “press release” quảng cáo cho Nguyễn Tấn Dũng do một khách hàng tên là “RES-Resources, Ecology, Services GmbH” gửi đăng trong hai ngày 10 và 12 tháng 1, 2011. Công ty này bản thân là một hãng chuyên về các dịch vụ chế biến rác rưởi và vệ sinh môi trường; tạm gọi là một công ty Rác.

    Sau nhiều màn điều tra, Ðàn Chim Việt đã khám phá ra đây là một “vở kịch chuyền bóng” giữa công ty chế biến rác “RES-Resources,” với hai tờ báo của Việt Nam là VnExpress và Pháp Luật. Màn mở đầu là mạng VnExpress, từ ngày đầu năm 2011, viết bài tổng kết thời sự phong ông Dũng là Nhân Vật Năm 2010 của họ. Thế rồi, qua công ty Rác RES-Resources, Cộng Sản đã biến tin đó thành một bài quảng cáo trên mạng firmenpresse.de vào ngày 10 tháng 1 năm 2011, trước khi đảng Cộng Sản khai mạc đại hội. Hôm sau, báo Pháp Luật lại dùng bài quảng cáo trên firmenpresse làm thành bản tin mới, tung ông Nguyễn Tấn Dũng lên cao hơn, nói các báo ở Âu Châu coi ông ta là vị thủ tướng “xuất sắc nhất Châu Á!” Một ngày sau, họ lại dựa trên bài của báo Pháp Luật này mà đưa qua RES-Resources cho thêm một bài quảng cáo nữa trên firmenpresse với nội dung “Ngôi sao chính trị mới ở Châu Á: Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng!” Các báo khác trong nước cứ theo firmenpresse mà đăng tin theo đuôi, nói trắng trơn rằng: “Các báo Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”

    Sau khi những màn tung bóng trên được xuất hiện làm quà cho đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam trong ngày khai mạc, 1,377 đại biểu thay mặt cho gần 3.7 triệu đảng viên Cộng Sản không biết đầu đuôi thế nào chắc sẽ “hồ hởi phấn khởi” tin tưởng vào ông Nguyễn Tấn Dũng, như một nhân vật nổi danh quốc tế, không kém gì ông Hồ Chí Minh! Như vậy thì không bầu ông ta làm tổng bí thư sẽ phí uổng một nhân tài quốc tế!

    Ít nhất, Nguyễn Tấn Dũng bây giờ còn giỏi hơn ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Ông Dũng có thể thuê người dùng mạng lưới ngoại quốc mà dàn cảnh vở kịch “tự đánh bóng mình,” như đánh bóng chuyền. Chứ không như ông Hồ phải tự cặm cụi viết sách ca ngợi mình ký tên Trần Dân Tiên; chứ không phải là một cái tên Nga hay tên Ðức cho có vẻ quốc tế! Có thể nói, ông Dũng đã làm đúng theo chủ đề của Ðại Hội XI là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng!” Năng lực dối trá, nói láo một cách trâng tráo không hề đỏ mặt, đã được đưa lên ngang tầm thời đại!

    Một bằng chứng là trong ngày khai mạc đại hội, các đại biểu được nghe đọc “danh sách 103 đảng từ 69 nước và 14 tổ chức quốc tế” đã “gửi điện chúc mừng Ðại Hội XI của đảng Cộng Sản Việt Nam,” theo bản tin của hãng tin nhà nước. Sau khi biết chuyện về chiến dịch tung hô Nguyễn Tấn Dũng trên đây, người dân Việt Nam sẽ tự hỏi không biết có bao nhiêu điện văn chúc mừng đó ký tên là Trần Dân Tiên? Nhưng mối nghi hoặc đó cũng không ngăn cản được Nguyễn Tấn Dũng “thay mặt Ðoàn Chủ Tịch và toàn thể đại hội phát biểu ý kiến bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn nồng nhiệt đối với tình cảm hữu nghị và hợp tác của các chính đảng, tổ chức và bạn bè quốc tế!” Tự nhiên, các “bạn bè quốc tế” như công ty Rác RES-Resources thì lúc nào cũng nồng nhiệt ủng hộ và hợp tác với Nguyễn Tấn Dũng rồi!

    Bản tin báo nhà nước còn viết rằng: “Ðại hội coi đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ quốc tế của Ðảng ta; là sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới của nhân dân Việt Nam do đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.”

    Ðiều đáng chú ý trong câu văn quảng cáo trên đây là họ không nói gì tới Chủ nghĩa Xã hội hay là Chủ nghĩa Cộng sản cả. Họ nói đến “sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới...” Tức là họ coi như bỏ quên luôn cái tên của đảng họ! Mà trong thực chất, bây giờ những đại biểu ngồi trong đại hội này có còn ai là “chiến sĩ vô sản” nữa hay không?

    Nhưng chúng ta biết trong báo cáo chính trị, ông Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại một cách long trọng là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn “tiếp tục thực hiện chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân;” và “kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào đảng.” Nhìn chung quanh đại hội, trong số 1,377 người ngồi đó có người nào không đang “kinh doanh” hay không? Trước khi đi dự đại hội này, có người nào còn đọc Tuyên Ngôn Cộng Sản của Karl Marx hay không?

    Cuối cùng thì đối với gần 1,400 con người này, mối quan tâm lớn nhất của họ là bảo toàn tài sản của gia đình họ và làm sao cho tiền bạc cứ càng ngày cang phong phú hơn! Anh có một triệu đô la nhìn thấy anh khác có 10 triệu thì sẽ "phấn đấu" để mình cũng có 10 triệu. Anh có 10 triệu sẽ nhìn tấm gương các đồng chí có 100 triệu, có một tỷ đô la để quyết tâm tiến tới trên con đường đổi mới! Nhưng muốn giữ được tài sản và bành trướng tài sản, thì điều kiện quan trọng nhất là phải bám lấy quyền lực. Mất quyền là mất tất cả.

    Ðó là tâm trạng của cả ngàn đại biểu đang ngồi nghe những bài diễn văn trống rỗng trong hội trường. Trong lúc đó, hơn 80 triệu người Việt Nam đang lo làm sao đối phó với lạm phát. Ông Nguyễn Bắc Son, phó trưởng ban Tuyên Giáo nói đến tiêu chuẩn chọn người vào Trung Ương Ðảng sắp tới: “Có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có uy tín trong đảng, trong xã hội, có tư duy đổi mới, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý vấn đề mới và vấn đề phức tạp nảy sinh; có khả năng đoàn kết, quy tụ, có phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm...”

    Toàn những khẩu hiệu ròn rã ghi trong sách giáo khoa cho trẻ em học, nghe hay kinh khủng. Nhưng ông ta không nói gì đến khả năng kiềm chế lạm phát cả! Cũng không nói gì đến khả năng giảm bớt khiếm hụt thương mại mỗi năm 12 tỷ đô la cả. Cũng không nói đến khả năng làm sao quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc cho chúng khỏi ăn mòn của cải do toàn dân tạo ra cả!

    Tóm lại, đảng nhất định ù lì, miễn sao tiếp tục hưởng thụ những “thành quả cách mạng” tính bằng đô la! Không biết người Việt Nam cứ tiếp tục coi những màn kịch này sẽ còn chịu đựng được bao lâu?
  13. Ở ngôi làng kia có một chú bé tuổi độ mười sáu. Chú là một chú bé thông minh, tốt bụng, có những suy nghĩ khá sâu sắc so với lứa tuổi của chú.

    Thế nhưng, chú lại thiếu lòng tin và hay buồn rầu, chú luôn cảm thấy mình thiếu bạn...

    Một ngày kia, như thường lệ, chú lại cảm thấy buồn chán và không có chuyện gì làm, chú lang thang một mình dọc theo bờ biển, lẩm bẩm tự than với mình:

    -Chán quá đi...Ta buồn chẳng hiểu vì sao ta buồn? Chẳng có ai hiểu ta! Chẳng có ai làm bạn với ta và thật sự coi ta là bạn...!!!

    Vô tình chú giẫm phải vật gì đó dưới chân. Cuối xuống xem, chú thấy đó là một con sò nhỏ có lớp vỏ rất đẹp với nhiều màu sắc. Chú thờ ơ bỏ nó vào túi dự định đem về nhà chơi và định đi tiếp. Thình lình, con sò bỗng cất tiếng nói:

    -Bạn ơi... Hãy thả tôi về với biển... Hãy giúp tôi trở về với nơi sinh ra mình... Có thể tôi không có gì để tặng lại bạn, nhưng tôi sẽ cho bạn một lời khuyên...!!!

    Cậu bé vừa ngạc nhiên, vừa sợ hãi, lại vừa thích thú. Nhìn con sò, cậu nói:

    -Được thôi, ta sẽ thả bạn về với biển, nhưng... hãy cho ta một lời khuyên trước đi... Ta đang buồn chán vì không có bạn bè đây!

    Con sò cất tiếng trả lời bằng một giọng nói chậm rãi, nhẹ nhàng:

    -Bạn hãy nhìn những hạt cát dưới chân bạn và nắm một nắm cát đầy đi. Bạn biết không, nắm cát trong lòng bàn tay của bạn cũng giống như bạn bè vậy. Những hạt cát quá xa lòng bàn tay sẽ theo kẻ hở giữa những ngón tay mà rơi ra ngoài. Nếu càng siết chặt bàn tay thì chúng càng rơi ra nhiều hơn. Chỉ có những hạt cát nằm giữa lòng bàn tay bạn, được giữ chặt trong đó mới còn lại mà thôi. Đó chính là những người bạn thân thiết mà chúng ta thật sự cần, những người bạn này sẽ ở lại với ta dù bất cứ chuyện gì xảy ra. Nhưng, bạn thấy đó, những hạt cát này rất ít và dễ dàng rơi ra nếu ta không biết giữ gìn. Hãy đem chúng về và ngâm trong những vỉ màu đẹp nhất. Hãy giữ gìn và nâng niu chúng bằng tình cảm của mình. Chúng sẽ ở bên cạnh bạn và không rời xa đâu. Tôi chỉ có thể khuyên bạn như vậy thôi...

    Chú bé im lặng, thả con sò về lại với lòng biển xanh bao la mà không nói lời nào... Chú còn mải suy nghĩ về những điều con sò nhỏ nói...

    Vô Danh
  14. Văn Hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam quyên sinh ngày 07.07.1963



    Vũ Hoàng Chương



    Than ôi!

    Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái, ngẩng đầu lên sấm sét vẫn chưa nguôi;

    việc văn chương một tấc để ngàn thu, ngoảnh mặt lại đá vàng sao khỏi thẹn.

    Muốn gào to hồn phách anh linh;

    để vọng khắp giang sơn tam biến.

    Nhớ xưa tiên sinh:

    Chào đời khi gió nổi Đông Du; mài thép dưới trăng mờ Thế Chiến.

    Nghiệp truyền gia giáo,thuở nhập môn từng đất Bắc vui quê;

    vai nặng quốc thù, bước du học lại trời Tây vượt biển.

    Rèn chí đấu tranh; đua tài hùng biện.

    Chí khí ngày kia một kiên cường; tài năng ấy càng thêm phát triển.

    Bao năm xuất ngoại, đã lưu tâm tại chỗ, từng mưu lừa chước dối thực dân;

    một sớm hồi hương, lại ngứa mắt trông ra, cả tấn kịch trò hề phong kiến.

    Thi Văn Đoàn Tự Lực thế tất phải xung phong; mà tuần báo Ngày Nay phải kịp thời xuất hiện.

    Vì dân vì nước đẩy mạnh phong trào; có chí có gan thiếu gì phương tiện.

    Nào hia với hốt, phá cho tan trò hoạn lộ thanh vân; nay cấp mai bằng, cười đến tỉnh lũ thư sinh bạch diện.

    Từ đó tiên sinh:

    Lấy văn đàn làm nơi bái tướng, cờ phất dọc ngang; giữa chính trường cao giọng lập ngôn, bút mài sắc bén.

    Làm sống lại tinh thần Yên Bái, nửa bước không lùi; cuốn ào lên tâm huyết Quốc Dân, một dòng thẳng tiến.

    Bôn ba nơi hải ngoại, Hàng Châu, Quỳ Châu, Liễu Châu; đối lập mọi cường quyền, chống Pháp, chống Cộng, chống Diệm.

    Ai hay:

    Gió gọi chưa lên; giờ nghe đã điểm.

    Giữa cao trào Phật Giáo, để hoằng dương chính pháp, lửa từ bi vừa thượng toạ thiêu thân; nêu đại nghĩa Nho gia, nhằm cảnh cáo độc tài, chén tân khổ cũng tiên sinh tuyên chiến.

    Sét ngang tai, bạo lực thấy ghê hồn: Trời cúi mặt, không gian chờ nảy điện.

    Lửa Cách Mạng dâng về thư tuyệt mạng,thôi rồi tay lãnh tụ!

    Khắp các giới: Thức giả, bình dân, sinh viên, đồng chí, cùng dạt dào tim vỡ máu sôi; Người Quay Tơ đành bỏ trống guồng tơ, đâu nữa mặt kinh luân?

    Cả bốn phương: Cà Mau, Thuận Hoá, Bến Hải, Nam Quan, nghe giục giã sông dời núi chuyển.

    Nhưng đau đớn thay:

    Phút hạ huyệt súng gươm vây kín, muôn dòng châu đứt nối chưa tròn; buổi cầu siêu hương khói âm thầm, bao tiếng khóc dở dang còn nghẹn.

    Cho nên hôm nay:

    Mừng quốc gia vừa khắc bạo trừ hung; đẹp hy vọng sẽ hà thanh hải yến.

    Dân chúng thủ đô hướng về tiên sinh:

    Lễ Truy Điệu mở đầu năm Dương Lịch, chạnh tưởng cồn dâu bãi bể, đốt hương lòng toả khắp mười phương; vườn Tao Đàn rung hết đợt âm giai, trông ra ngọn cỏ lá cây, hoà nước mắt vẩy quanh một chén.

    Mong cảm tới tiên sinh: Dám nề chi u hiển.
    Hỡi ơi:

    Tố Đoạn Tuyệt thành hồ đoạn tịch, mộng dẫu chơi vơi nửa cuộc, sử còn thơm danh liệt sĩ Tường Tam;

    Phượng Nhất Linh hề thiên nhất phương, lầu tuy ngơ ngác bên sông, gió vẫn nổi tiếng văn hào họ Nguyễn.

    (Sài Đô, 5-1-1964)
  15. Em là cựu học sinh,
    Dưới mái trường cấp I, II năm nào...
    Nhớ về các Thầy Cô giáo.
    Truyền cho em bài học năm xưa.
    Bài bắt buộc mỗi mùa khai trường gõ cửa.
    Bài cấm được quên trong giáo án Thầy Cô lên lớp:
    "Năm điều Bác Hồ dạy"

    Ba mươi năm trôi qua.
    Em tự hỏi rằng:
    Học thuộc năm điều ấy để làm gì
    Nếu không mang nó vào cuộc sống?

    Thưa Thầy Cô, Nhà Trường cùng Xã Hội...
    Trên hết là Đảng và Nhà Nước này
    Làm sao để thực hành bài học ấy trong cuộc sống hôm nay?

    Điều 1. Yêu tổ quốc, yêu đồng bào

    Lại thấy tôi yêu Tổ Quốc tôi mà tôi bị bắt

    Anh ấy xuống đường hô vang khẩu hiệu chống ngoại xâm
    Và anh vào tù. Đảng bảo tội danh là "trốn thuế"!

    Có người lên cầu vượt
    Treo biểu ngữ bảo vệ Hoàng - Trường Sa
    Và tố cáo tham-ô nhũng-lạm cửa-quyền
    Đang ngày đêm tàn phá quốc gia, xói mòn đất nước
    Và họ đi tù vì tội “tuyên truyền chống nhà nước"!

    Có cô gái xót thương đồng bào mình bỏ xác chốn trùng dương
    Cô tìm hiểu căn nguyên và bật thành câu chữ:
    Uất ức biển ta ơi

    Rồi cô ấy ra toà. Cũng tội danh "chống nhà nước"

    Nhiều vị học rộng hiểu sâu
    Thấy nguy cơ mất nước ẩn tiềm
    Họp kín nhau cùng bàn kế sách đổi thay
    Mưu tìm một vận may cho tổ quốc
    Và họ ra toà với tội danh "lật đổ"

    Điều 1 phá sản rồi,

    Nên chăng dạy chúng em phải kính yêu Đảng – Bác?
    Còn Tổ Quốc và Đồng Bào, thôi đặt xuống hạng ba?

    Điều 2. Học tập tốt, lao động tốt

    Học tập làm sao cho tốt, khi:
    Chủ nghĩa thành tích lên ngôi
    Nhan nhản nơi nơi bằng cấp dỏm, luận văn thuê
    Lâu lại rộ chuyện ông giáo sư cóp bài của bạn
    Nay xì chuyện bà tiến sĩ đạo văn
    Cửa quan chỉ thấy tung hê bằng cấp, coi rẻ tài năng

    Lao động tốt sao bằng kẻ gian ngoan xảo quyệt
    Luồn lách lươn lẹo lại lên lương
    Sớm cắp ô đi, chiều cắp về

    Ba chục phần trăm công chức thực sự đáng ăn lương
    Chưa kể những kẻ ngồi mát ăn phong bì
    Một chữ ký đem về dự án
    Có thể cưu mang cả dòng họ - chẳng màng gây hậu hoạ mấy đời sau!

    Điều 2 nhai còn không nổi, nuốt sao trôi?

    Điều 3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt

    Hợp quần gây sức mạnh
    Thế mà buổi đầu cướp chính quyền
    Đảng phân biệt cha thằng này nguỵ quân, mẹ con kia nguỵ quyền
    Chị thằng nọ là tư sản, nặng tội hơn là mại bản
    Để gieo vào đầu đám trẻ con nỗi hằn đau lý lịch, nỗi mặc cảm nhân thân
    Nên cả triệu người ra đi, kết đoàn nơi xứ lạ quê người...

    Kỷ luật tốt thế nào khi kẻ xấu ung dung
    Pháp chế vị nhân thân với những trò vải thưa che mắt:
    Nào là xử lý nội bộ, rồi thì chuyển nơi công tác
    Trên bảo dưới chẳng nghe, mấy chục năm không màng khiển trách!

    Điều 3 quá xa rời thực tiễn, em chào thua !

    Điều 4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt

    Em ra đường phải làm Ninja bịt mặt
    Khói xe bụi đường mù mịt khắp nơi nơi
    Rừng vàng kêu cứu
    Sông ngòi khô cạn
    Môi trường ô nhiễm
    Chẳng biết giữ vệ sinh thế nào

    Khi thực phẩm hằng ngày em ăn, họ cảnh cáo:
    Coi chừng độc tố gây ung thư !

    Cho em quên điều 4, để sống tạm qua ngày!

    Điều 5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm

    Chịu thôi,
    Từ bấy lâu nay Đảng vẫn tự hào:
    Ta là trí tuệ đỉnh cao!
    Xã hội chủ nghĩa lừng danh nơi em đang sống
    Là chế độ ưu việt nhất trong lịch sử loài người
    Dân chủ và tự do gấp vạn lần tư bản
    Thực dân và đế quốc, kìa chúng nó còn đang giãy chết
    Khiêm tốn làm sao khi em đang chót vót trên tầm cao nhân loại?

    Lời dạy thật thà sao nghe thum thủm
    Khi em thấy từng đoàn lũ lượt
    Con ông cháu cha cùng dây mơ rễ má
    Chen chúc nhau sang du học xứ người
    Xứ sở đang từng ngày "giãy chết"
    Ôi xảo trá chứ thật thà chi?
    Lời dạy thật thà tạt vào mặt em gáo nước lạnh
    Khi nghe bài học anh hùng Lê Văn Tám ngày xưa
    Lại là đồ đểu!

    Em hiểu, những chuyện nêu trên có cả triệu người biết
    Nhưng vì lòng dũng cảm của điều năm
    Họ cứ phải ngậm tăm
    Để an bài trong hiện tại

    Em xin khoanh tay
    Trả lại năm điều dạy không có đất thực hành. Em bỏ học !

    Phạm Văn Hải