Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Chiều Chủ Nhật 13 tháng 3, 2011 cụ Huỳnh Văn Lang đã tổ chức tại phòng hội của báo Người Việt, buổi ra mắt tác phẩm mới của cụ là tập 1 cuốn “Hồi Ưc” dầy 656 trang.

    Buổi ra mắt do nhà báo Đỗ Tiến Đức dẫn chương trình với thành phần diễn giả gồm: Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, cựu Nghị Sĩ VNCH Lê Châu Lộc và nhà biên khảo Đỗ Hải Minh. Đặc biệt là có phần nói chuyện của tác giả và trả lời những câu hỏi của cử tọa.

    Những bài phát biểu của các diễn giả sẽ được lần lượt in trên Thời Luận. Xin mời quý vị đọc bài viết của nhà văn Nguyễn Mạnh Trinh thay cho bản tường thuật buổi ra mắt.

    Nguyễn Mạnh Trinh

    Có rất nhiều chân dung Huỳnh Văn Lang. Đa diện và bao trùm nhiều lãnh vực khác nhau. Chân dung là một chính trị gia có tầm vóc, là một doanh gia có nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, là một nhà giáo dục và văn hóa với Hội Văn Hóa Bình Dân, là một nhà báo khi sáng lập và làm chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa một tạp chí văn học có chiều dài hoạt động suốt hai chục năm văn học miền Nam. Tạp chí này cũng là một công trình văn học mà ở ngay những người phía bên kia chiến tuyến cũng không thể nào phủ nhận vai trò chính yếu của một thời kỳ văn chương có nhiều đóng góp nhất cho gia tài văn hóa dân tộc. Và ông cũng là một nhà văn với văn phong đặc thù miền Nam, viết trung thực những tâm tư của một người Việt dù tuổi đã cao nhưng vẫn còn nhiều ưu tư với đất nước dân tộc.

    Chân dung nào cũng đều phản ánh từ một người dân Nam Bộ trung thực và nồng nhiệt, góp mặt trong bất cứ một lãnh vực nào cũng đều đem hết tâm huyết của mình. Những chân dung về văn hóa, về chính trị, về xã hội, về giáo dục, được biểu lộ rõ nét trong tác phẩm Ký Ức Huỳnh Văn Lang mà ông đã hoàn thành.

    Tác giả Huỳnh văn Lang sinh năm 1922, xuất thân từ một gia đình đại điền chủ ở Trà Vinh. Năm 1954 khi đang du học tại Đại Học Chicago thì ông theo lời kêu gọi của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lúc đó trở về giúp nước. Ông giữ chức diám đốc Viện Hối Đoái từ năm 1955 đến 1962 và là giaó sư tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Ông cũng là sáng lập viên và điều hành Hội Văn hóa Bình Dân mở hệ thống trường học với mục đích nâng cao dân trí và phổ cập giáo dục đến quần chúng ít học. Đồng thời cũng là chủ nhiệm sáng lập tạp chí Bách Khoa, một tạp chí quy tụ hầu hết những nhà văn nhà thơ tiêu biểu của hai mươi năm văn học miền Nam.

    Về doanh thương ông từng sáng lập Đông Phương Công Ty nhập cảng độc quyền xe gắn máy Honda, là chủ nhân Đại Á Ngân Hàng, Phượng Hoàng Bảo Hiểm Công Ty, Phương Phương Export xuất cảng gỗ. Về chân dung văn học, những tác phẩm của ông gồm: Hồi ký Cờ Bạc, Chuyện Đường Rừng, Nhân Chứng Một Chế Độ (3 tập), Những Sự Kiện Lịch Sử và CácCông Chúa Sứ Giả Trung Hoa Việt Nam (2 tập), Đã Hơn 30 Năm Rồi.

    Ở tuổi gần chín chục, xem ra sức làm việc của ông cũng còn mạnh mẽ. Với tác phẩm mới này, ông đã tự mình tạo một quyển sách mẫu với những trang in của máy điện toán và cả bìa sách do chính cụ trình bày trước khi đem đến cho nhà in. Ông viết rất dễ dàng vì viết theo trí nhớ và tự thân là người trong cuộc và đóng vai người kể.

    Suốt gần một thế kỷ, trải theo một thời gian rất dài, qua nhiều không gian khác nhau và những sự kiện vừa riêng của một cá nhân, đến nối dài ra một dòng họ rồi cả những chuyện chung của quốc gia, người kể phải có một trí nhớ siêu phàm để tạo thành một thiên ký sự vừa phản ánh được sự thực lại chuyên chở được những ý tình có thể gọi là của chung cả một thế hệ.

    Cuốn “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” gồm ba quyển, trải dài ra từ những không gian, thời gian khác nhau và chia thành ba thời kỳ mà tác giả đã đề cập đến trong bài mở đầu.

    Quyển thứ nhất, thời kỳ Pháp thuộc từ khi tác giả bắt đầu hiểu biết, nghĩa là từ lúc 6 tuổi, cũng là lúc cha mẹ ông rước thầy dạy tại gia(1928) cho đến khi quốc gia Việt Nam được hoàn toàn độc lập mà tác giả ở cương vị một chứng nhân trực tiếp nhận định là năm 1955 có thể không phải là nhận định của các sử gia khác.

    Quyển thứ hai, thời kỳ quốc gia Việt Nam độc lập từ 1955 đến tháng 4 năm 1975, gồm Đệ Nhất Cộng Hòa và Đệ Nhị Cộng Hòa. Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, tác giả là chứng nhân trực tiếp, nhưng sẽ cố gắng để tỏ ra khách quan và tôn trọng sự thực. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, mà tác giả gọi là “chế độ của người lính cai trị” đối chiếu với “người lính đánh giặc”, tác giả chỉ là một nhân chứng kể những chuyện gián tiếp gần như là khách bàng quan hay như một doanh gia giữa chợ trời chính trị.

    Quyển thứ ba, thời kỳ sống lưu vong, chạy giặc Cộng Sản từ ngày 27 tháng tư năm 1975 đến bây giờ. Đối tượng là đời sống của một người tị nạn với một gia đình 1 vợ 4 con. Tác phẩm chú trọng mô tả cuộc sống những người tị nạn trong một môi trường văn hóa và kinh tế của một xã hội còn nhiều xa lạ với người Việt Nam.
    Đọc cuốn đầu tiên, tôi có cảm giác của người tìm được thật nhiều mới lạ về một đời sống của miền Nam Bộ mà tôi hiểu biết không nhiều. Từ những phong tục, từ những món ăn, mỗi mỗi chi tiết mở ra cho tôi một thế giới nhiều kỳ thú. Khác với đời sống ở miền Bắc và miền Trung, đời sống ở miền Nam dễ chịu hơn vì đất đai phì nhiêu và nhờ tài nguyên phong phú về lúa gạo, cá tôm. Và con người Nam Bộ cũng khác với người ở địa phương khác, dễ dãi thực thà hơn. Tác giả đã phác họa đời sống ấy với nhiều nét đặc thù và như dựng lại một cuộc sống đã lui vào dĩ vãng.

    Tôi đã đọc sách của Vương Hồng Sển, của Sơn Nam, của Bình Nguyên Lộc,.. và bây giờ Huỳnh Văn Lang, một cách thích thú để thấy ở một vùng đất mà nhiều nền văn hóa pha trộn vào nhau, hài hòa, không đối nghịch để tạo một sắc thái văn hóa độc đáo.

    Văn hóa của người Việt của những di dân Nam tiến khai phá đất hoang, đến văn hóa của người Hoa đi tị nạn và văn hóa của người Miên, tạo thành một nếp sống mà từ ăn đến mặc, từ học hành đến giải trí, từ ngôn ngữ đến văn học, mỗi một lãnh vực mở ra từ những khai phá xây dựng. Viết về văn hóa đi sâu vào chi tiết để tìm lại một thời văn hóa của Miệt Giồng và Miệt Vườn.

    Văn hóa Miệt Giồng của người Kampuchea của thời Cao Miên Thủy Chân Lạp xa xưa. Còn văn hóa Miệt Vườn là của những người di dân Việt của thế kỷ thứ 18. Những đặc tính văn hóa ấy biểu hiện từ những đình chùa, từ đời sống phong tục, từ nếp sống nếp ăn nếp ở, của cách giải trí âm nhạc. Tất cả những tính chất ấy đã được nhìn ngắm, quan sát và kể lại trong tác phẩm này một cách linh động…

    Nghĩ gì viết nấy, ông kể lại phong cách rất thực thà. Những chi tiết những dữ kiện có khi là những chi tiết nhỏ nhưng lại có nhiều chất sinh động của cuộc sống,. Trả lời câu hỏi rằng ông có mang một thông điệp nào gửi theo tác phẩm của mình không thì ông trả lời ông viết cho mình trước nên không hề có những điều mà ông gọi là “tham vọng”, những chủ đích to lớn kèm theo tác phẩm. Có thể với ông viết là để giải tỏa ẩn ức, những chèn ép đã từ lâu nhiều năm nhiều tháng chất chứa trong tâm tư. Cũng có thể viết như là một cách thế kỳ vọng để lại một cái gì thiết thực cho đời sau vì không còn cảm thấy một điều gì khác đáng giá để lại cho người sau, ngoài một chút lòng chân thực trên trang giấy trắng để dâng hiến cho bà con đồng bào, cho quê hương đất nước…
    Tác giả cũng không muốn mình là người chép sử dù với vai trò của một nhân chứng. Từ cuộc đời ông, đã trải qua nhiều biến cố lịch sử và nhiều khi là một diễn viên trong những vai trò khởi động. Ông kể lại, chủ quan với sự hiểu biết của người trong cuộc nhưng cố gắng khách quan để cái nhìn và nhận định của mình công bằng hơn và có nhiều chất chính xác hơn. Ông cũng hiểu rằng đã có nhiều cuốn hồi ký của nhiều “yếu nhân” lịch sử viết với những tâm ý riêng tư, có thể là tự đề cao mình hoặc thay đổi sự thực hay xóa lấp những tội lỗi những khiếm khuyết cá nhân. Và đó là những điều mà ông tâm niệm phải tránh khi cầm bút. Phải trung thực và có những nhận định khách quan hợp lý.

    Ở cuốn sách đầu tiên của bộ “Ký Ức Huỳnh Văn Lang”, một thời kỳ kéo dài đến năm 1955 bắt đầu thành lập nền Đệ Nhứt Cộng Hòa, trải dài theo cuộc đời ông được ghi chép lại với những dữ kiện lớn hoặc nhỏ. Những sự kiện lịch sử lớn từ thời kháng chiến chống Pháp, đến khi đi du học rồi về nước phò tá thủ tướng Ngô Đình Diệm, để qua cuộc đời cá nhân của ông có thể mường tượng ra một thời thế của đất nước.

    Qua nhận định và ghi chép của ông về những lãnh vực chính trị , kinh tế, văn hóa, xã hội, chúng ta đã có những tư liệu khả tín để một phần nào hiểu rõ hơn lịch sử. Nếu quan niệm rằng lịch sử không phải chỉ ghi chép lại bởi những sử gia mà còn ghi dấu lại từ những chứng nhân và từ đó có những tư liệu xác thực. “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” là một trong những tư liệu hiếm quý ấy.

    Có người nói ông Huỳnh Văn Lang không phải là một nhà văn đúng nghĩa mà chỉ là một chủ báo Bách Khoa hay một chủ tịch hội Văn Hóa Bình Dân hoặc một tổng giám đốc Viện Hối Đoái thời Đệ Nhứt Cộng Hòa hay doanh gia chủ tịch Đại Á Ngân Hàng. Điều ấy chính ông cũng không nhận mình là nhà văn và viết hồi ký cũng chỉ là một cách thế để kể chuyện mình để tâm sự với chính mình.

    Riêng tôi, thì cũng tùy nhận định riêng mỗi người khi hiểu thế nào là nhà văn và viết hồi ký có phải là một cách thế làm văn chương không? Tôi chợt nghĩ đến những bộ hồi ký về đệ nhất và đệ nhị thế chiến của thủ tướng Anh Winston Churchill được giải Nobel văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển năm 1953.

    Lẽ dĩ nhiên, không thể nào có sự so sánh nhưng với nhiều người trong đó có tôi đọc hồi ký cũng có thú vị ngang với đọc những tiểu thuyết khác và như vậy sẽ không thắc mắc nhà văn đúng nghĩa ra sao…

    Nhân vật của “ Ký Ức Huỳnh Văn Lang” phần đông đều là những người của “muôn năm cũ”, những người của một thời thế đã qua. Có người là thân thuộc trong dòng họ tác giả, của thời khẩn hoang lập ấp xa xưa hay những thời gian gần hơn thời Pháp thuộc hay gần hơn nữa là thời bắt đầu của chế độ Đệ Nhứt Cộng Hòa. Những nhân vật ấy vẽ lại xã hội của một thời miền Nam trên nhiều lãnh vực với những nét minh họa từ những chi tiết của dữ kiện được kể lại trung thực.

    Viết về những khuôn mặt của chính trị Việt Nam, dù không cố ý phê phán nhưng ông cũng viết tất cả điều tốt xấu vì không muốn lừa đối chính mình trước khi lừa dối độc giả. Dĩ nhiên là có thể có sự chủ quan hoặc ảnh hưởng do những xúc động tâm lý của người trong cuộc nhưng khi đọc tôi không tìm thấy được những sự phê phán cố ý hoặc kể lại câu chuyện theo chủ ý cá nhân. Lịch sử có nhiều phía để nhìn ngắm và có nhiều bí mật ẩn dấu mà chính người trong cuộc cũng chưa thấu đáo. Tác giả Huỳnh Văn Lang cũng hiểu điều đó và khi có nhận định cũng thường không có thái độ quyết đoán và chỉ nêu lên dữ kiện để làm sáng tỏ hơn. Do đó, ông cho rằng mình chỉ là người kể chuyện hơn là người chép ghi lại lịch sử.

    Viết về món nợ văn hóa bình dân tác giả “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” kể:

    “Cuối tháng Tám năm 1954, trong các sinh viên du học nước ngoài được Thủ Tướng Ngô Đình Diệm gọi về giúp nước có ba người rất tầm thường là Lê Thành Cường kỹ sư canh nông trường Pháp, Đỗ Trọng Chu sinh viên cao học bang giao quốc tế Đại Học Georgetown, Washington DC và Huỳnh Văn Lang, sinh viên cao học Econometrics Đại Học Chicago. Sau khi trình diện thủ tướng ngẫu nhiên Sở Nội Dịch Phủ Thủ Tướng gửi họ vào ở tạm trong nhà ngủ Kinh Hoa, Chợ Lớn để chờ ngày được bổ nhiệm vào một chức vụ lớn nhỏ nào đó tùy theo khả năng chuiyên môn của mỗi người.

    Không dè chính trong 20 ngày chờ đợi đó vì cùng một nhân sinh quan như nhau họ đã gặp nhau ở một điểm: ý thức mình được xã hội đãi ngộ quá nhiều được đi ăn học xa, được tôi luyện thành người có kiến thức hiểu biết hơn người, tức là mang nợ lớn với đồng bào mình cần phải lo trả càng sớm càng tốt. Là người lương thiện mình không có quyền quịt nợ dù nhiều hay ít.

    Ý thức mắc nợ và trả nợ đã thúc đẩy bộ ba nói trên phải tìm cho ra một phương pháp nào để được sòng phẳng với xã hội với đồng bào. Sau nhiều đêm suy tư, nhìn theo gương người xưa như một Nguyễn Trường Tộ, một Phạm Phú Thứ, một Phan Chu Trinh, một Trương Vĩnh Ký,.. để lại, sau nhiều ngày thảo luận sâu rộng họ đi đến kết luận là chỉ có trường học chữ dạy nghề cho những thành phần hiếu học mà không phương tiện như mình cũng có nghĩa là không được xã hội ưu đãi như chúng mình. Đó là phương thức linh nghiệm nhất để trả nợ mình mắc một cách sòng phẳng nhất cùng một lúc giải quyết được sự liên đới xã họi chiều ngang cũng như chiều dọc.

    Trường Bách Khoa Bình Dân được cưu mang từ ý thức mắc nợ và phải trả nợ. Suy luận và quan niệm thì dễ nhưng từ đó đi đến chỗ thực hiện như dự tính còn là một con đường dài nhiều trở ngại, vì cả ba con người có tấm lòng nói trên chưa có một chút quyền hành cũng như chưa có một chút tiền tài trong tay. Tuy nhiên bộ ba chúng tôi, một người Phật Giáo, hai Công Giáo, một người Nam và hai người Bắc tâm tánh rất khác nhau nhưng lại bổ túc cho nhau luôn luôn phục thiện cởi mở và trung thành hợp tác với nhau..”.

    Qua “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” độc giả là tôi thấy được gì những chân dung của một thời đã qua, của một thế hệ dĩ vãng. Tôi thấy được những con người của khai sơn phá thạch, của tổ tiên Huỳnh Văn Lang để tạo thành những vùng dân cư phì nhiêu trù mật. Qua những con người ấy, tôi hiểu được cá tính của những con người đầy nghị lực, của những công việc khó khăn “phá sơn lâm đâm hà bá”.

    Và tôi cũng thấy được những con người dù là chủ điền hay tá điền sống đùm bọc với nhau chia ngọt sẻ bùi với nhau trong đời sống, khác hẳn như chế độ Cộng Sản đã tuyên truyền về đấu tranh giai cấp có bóc lột thì phải có tranh đấu để tiêu diệt đi những nề nếp cổ truyền của dân tộc Việt Nam.

    Và tôi cũng thấy được chân dung một bà mẹ Việt Nam, là thân sinh ra tác giả, tận tụy với sự nghiệp gia đình, nhân từ với những tá điền, giúp đỡ họ khi đau yếu. Và tôi cũng chia sẻ với tác giả khi ông viết: “Và trên hết người viết vô vàn thiết tha nhớ ơn người mẹ của mình, vì ngoài giáo dục đức dục cho con còn nhiều câu chuyện với bao nhiêu chi tiết tôi ghi lại ra đây đều do má tôi kể lại cho tôi nghe từ khi tôi 5, 6 tuổi (năm 1927-1928) cho đến khi bà ra đi là năm 1943 lúc tôi vừa đúng 21 tuổi. Tên má tôi là Lê Thị Trầm, người con gái từ họ đạo Công Giáo Bãi xạn, làng Đại Phước, đi lấy cha tôi từ năm 17 tuổi (1910) đúng 100 năm rồi! Xin kính dâng tập sách này cho má! Trăm lần con xin lạy tạ! Má ơi!”.
  2. ta kẻ mộng du đường mãi bước
    chiều như cơn xế nắng qua mau
    ngã tư ngẩn đứng nhìn xuôi ngược
    trời đất dường như cũng biết sầu

    tự hỏi rất thầm ngày quá vãng
    nụ hồng còn nở góc vườn xưa
    thế thân, thân thế, đành quên lãng
    xứ người hiu hắt mấy cơn mưa

    có biết dòng sông nào một hướng
    về ta, biển lớn cũng khơi nguồn
    ý tưởng dường như không hình tượng
    còn mất, ai hay chuyện mất còn ?

    ta kẻ mộng du ngồi đối bóng
    yêu người tim đập cứ bâng khuâng
    khoang tâm nhồi nhét đành khuôn trống
    năm mươi tóc bạc sợi tần ngần

    buổi sáng, buổi trưa, như mặt lạ
    đóng vai kịch cũ gỉa hình nhân
    con chốt thoảng qua chiều vội vã
    bâng khuâng chiếc lá rụng ngoài sân

    sao cứ ấp ôm hoài kỷ niệm
    hỡi ta, bên lở với bên bồi
    đời cứ chập chờn câu chuyện phím
    nửa khuya trăng giọt vẫn còn soi

    ta thiếu nợ không đành tính sổ
    nên cố quên những mục lỗ lời
    soi gương mặt để nhìn cho rõ
    vết sẹo đời còn vệt son môi

    mờ sáng lái xe vào đất trích
    nhìn hai bên sương trắng mênh mông
    núi ơi sao cứ hoài u tịch
    đá xẫm mầu rêu để lạnh lùng

    đầu dốc tưởng như ngàn khói tỏa
    phận thân nào lưu lạc hôm nay
    năm tháng qua mùa xuân mùa hạ
    mốc đời nguyên vẹn dấu chân bày

    ta kẻ mộng du vào quên lãng
    vào vườn người hoá đóa từ tâm
    hạnh phúc đành, một cơn gió thoảng
    dập vùi thân thế mấy vòng lăn

    có lúc biết đất trời vô tận
    áo cơm rồi cũng lúc thờ ơ
    quá vãng trôi qua thời lận đận
    cành bèo trôi khuất bến tình cờ

    và ta có riêng ta kiếp khác
    và, giấc mơ, cũng giống giấc mơ
    đếm mái tóc khá nhiều sợi bạc
    nên chiều nay, tưởng ở hư vô

    ta thân thế thế thân sao nhẹ
    núi bên kia còn xẫm dáng trời
    ta bên này một con chim sẻ
    ríu rít buồn một nốt nhạc vui

    Nguyễn Mạnh Trinh
  3. Viết về các văn thi nhạc sĩ qua đề tài Giáng Sinh tuy tạo nhiều thích thú nhưng khó có có thể đầy đủ được. Thực ra có rất nhiều thi, văn, nhạc sĩ có những tác phẩm về ngày lễ này rất hay và độc đáo nhưng chúng tôi vì bài viết có hạn nên chỉ đề cập đến một vài tác giả tiêu biểu mà thôi. Nhưng điều cốt tủy là chúng tôi muốn chia sẻ với cuộc đời, với thời tiết, với nhân loại những tâm tư và ý nghĩa của ngày Chúa sinh ra đời. Và tất cả đã thể hiện trong những tác phẩm xuất hiện có thể từ thời tiền chiến, thời kỳ hai mươi năm văn học miền Nam hoặc văn học ở hải ngoại…

    Có người đã nhắc nhở đến nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên và các bài thơ về Giáng Sinh của ông.

    Trong không khí của ngày Noël năm nay, có lẽ chúng ta cũng nên nhắc lại những bài thơ ấy.

    Nguyễn Tất Nhiên có những bài thơ rất lạ. Hình ảnh của Chúa và Đức Mẹ được nhà thơ xử dụng phương cách độc đáo, chuyên chở được tình cảm một cách dễ thương. Từ “Vì Tôi Là Linh mục” đến “Chuông Mơ”, rồi "Em Hiền Như Ma Soeur” đến "Hai Năm Tình Lận Đận”, thơ và nhạc hình như đã bổ túc cho nhau để làm nổi bật hơn cá tính của người thơ. Thuở sinh thời, ông thường bực bội vì nghĩ rằng độc giả chỉ biết đến Nguyễn Tất Nhiên qua những bản nhạc mà ít để ý đến cốt tủy là chính những bài thơ của ông. Những bài thơ mà ông cho là biểu hiện rõ nét thi ca của ông. Những câu thơ tràn đầy nhạc tính và cũng chan chứa thi tính...

    Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và đã làm ông nổi tiếng.

    Như bài thơ nhan đề “Nguyện làm cây thánh giá” đăng lần đầu tiên trên tạp chí Văn số Giáng sinh năm 1972 và sau đổi thành “Hai năm tình lận đận“ và Phạm Duy phổ nhạc. Bài thơ ấy có đoạn như sau:

    “... em bây giờ có lẽ
    toan tính chuyện lọc lừa
    anh bây giờ có lẽ
    nên làm người tình thua
    nhà thờ chuông đổ chậm
    tượng Chúa gầy hơn xưa
    Chúa bây giờ có lẽ
    Rơi xuống trần gian, mưa
    (dù sao thì Chúa cũng
    một thời làm trai tơ
    dù sao thì Chúa cũng
    làm đàn ông… dại khờ)
    anh bây giờ có lẽ
    thiết tha hơn tín đồ
    nguyện làm cây thánh gía
    trên chót đỉnh nhà thờ
    cô đơn nhìn bụi bặm
    làm phân bón rêu xanh
    (dù sao cây thánh giá
    cũng được người nhân danh)
    hai năm tình lận đận
    em đã già hơn xưa.”


    Chỉ có hai năm lận đận cuộc tình thôi mà nhà thơ bắt “em” già đi thì hơi ác! Nhã Lan khi đọc thơ và nghe nhạc, cảm giác hơi khác nhau. Ở thơ, có một điều gì buồn buồn, nhẹ nhàng và hơi chút mỉa mai. Còn ở nhạc, thì có vẻ ngây thơ lãng mạn hơn.

    Với tôi, khi đọc thơ, lại cảm vì những chi tiết rất đời thường nhưng lại tạo được nét mới lạ. Từ trước tới giờ, có lẽ chưa có ai có ý nghĩ như Nguyễn Tất Nhiên: dù sao thì Chúa cũng / có một thời... trai tơ / dù sao thì Chúa cũng / làm đàn ông dại khờ. Chính cái nét ngang ngang khác người ấy làm bài thơ sinh động. Còn khi nghe nhạc thì cảm giác khác hơn. Cái nét ngang ngang tinh nghịch ngầm không giống ai ấy biến dạng đi. Và thay thế là cảm giác của sự trẻ trung đầy nét lãng mạn. Đó là nhận xét thô thiển của riêng tôi, khi đặt mình vào vị trí người thưởng ngoạn…

    Có một tập thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên mà hình bìa là hai tháp giáo đường cao vút với bức tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp. Đó là tập thơ Chuông Mơ mà Nguyễn Tất Nhiên xuất bản vào dịp Giáng sinh năm 1999. Bài thơ mà nhan đề được chọn cho tập thơ là bài thơ gửi về cho người xưa còn ở Việt Nam:

    “chiều nay em còn mảng tóc mai
    hay đã lao tâm luống bạc rồi
    chiều nay vừa đến giờ tan học
    hay vừa buông cuốc chặm mồ hôi?
    Chiều nay em bước trên quê hương
    Chắc tóc không còn óng ả chuông
    Chắc chuông không mượt nâng tà tóc
    Chắc tóc và chuông đã… đoạn trường!
    Chiều nay em trên quê hương
    Chắc Chúa chẳng nhìn như mọi hôm
    Bởi vì mắt Chúa và em đã
    Lóng lánh vùi chôn lệ ngấn lòng
    Áo trắng cả sân trường trắng
    Tan học trong đời anh thẩn thơ
    Đời anh quên, nhớ, quên, nhiều lắm
    Chiều chiều xứ Mỹ cũng chuông mơ.”


    Thơ Giáng Sinh của Nguyễn Tất Nhiên chắc còn nhiều lắm. Nhiều bài thơ khác như “Em Hiền Như Ma Soeur”. “Vì Tôi Là Linh Mục”... và cũng được phổ nhạc thành những bài hát mà chưa bị thời gian làm cho phai phôi…

    * * *

    Thơ tình Giáng Sinh còn có bài nào khác của thi sĩ khác làm tôi thích thú. Tôi có đọc một bài thơ của nhà thơ Trần Vấn Lệ. Ngày Giáng sinh, giở đúng bài ”Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình yên dưới thế cho người tôi thương” thì đúng là thích hợp quá rồi còn gì!!! Cái nhan đề gợi lại một điều gì tuy quen mà lạ, tuy dài mà ngắn. Nó gợi lại một giây phút của hai người tình nhân xưa sau hai mươi năm gặp lại trong ngày Giáng sinh. Chỉ có như vậy, nhưng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên như những lời kể chuyện và nhất là man mác trong đó nỗi niềm hoài vọng. Hoài vọng một thời đã qua. Hoài niệm mối tình đã lỡ...

    Bài thơ gồm 14 đoạn mỗi đoạn 4 câu. Khá dài nhưng là một truyện kể của một người đã luốn tuổi nhưng vẫn còn vương vấn mối tình xưa khi gặp người tình cũ.

    “ngày này năm ngoái nhớ không em?
    Mình gặp nhau qua một cái nhìn
    Mười bảy năm trời trên đất Mỹ
    Vẫn là ánh mắt tối Noël

    ôi em kinh ngạc trông mà tội
    anh cũng tội gì cứ đứng run?
    Em vẫn là em cô gái nhỏ
    Và anh vẫn vậy, lính băng rừng

    Hai mươi năm cũ như cơn mộng
    Mười bảy năm trời một tiếng kêu
    Rất khẽ. Bởi lòng hai đứa nghẹn
    Dù đêm ròn rã tiếng chuông reo

    Lạy Chúa cho con gặp lại người
    ôi lời anh thốt giống em thôi
    Đưa tay muốn nắm mà không được
    Đối diện trời ơi lỡ hết rồi

    Lỡ hết rồi em! Lỡ hết anh
    Em mừng sao mắt lệ long lanh
    Anh mừng mắt chớp sau làn kính
    cảm tạ trời! Con đã đứng im

    dăm ba câu hỏi như bè bạn
    em tiếp đường em, anh bước lui
    mình gặp nhau đây không ước hẹn
    tình cờ em nhỉ chuyện vui vui

    chuyện vui tình ý ai không biết?
    Thôi giả đò em nhé, Chúa thương
    Anh giả đò than hoàn cảnh khổ
    Để em dìu dịu ”mắt Tây phương”

    Bài thơ đôi mắt người Sơn Tây
    Em chép ngày xưa ”kính tặng thầy”
    Anh nhắc một câu mà nuốn khóc
    Một năm đằng đẵng mắt còn cay!”


    Sau một năm kể từ giây phút gặp gỡ ấy, người thơ vẫn còn cảm xúc. Và đến tối Noël năm sau, thì cảm giác ấy lại càng rõ nét.

    ”Hồi năm ngoái đó với bây giờ
    anh giật mình như tỉnh giấc mơ
    trọn tối Noël nhìn ảnh Chúa
    tưởng chừng đôi mắt của người xưa

    em nhớ hay là em đã quên
    lạy trời em mãi mãi bình yên
    anh làm thầy giáo rồi đi lính
    lết tới quê người đạn trúng tim

    thôi lỡ rồi em lỡ hết rồi
    đường Em đi tới – Con Đường Vui
    đường anh trở lạnh đêm năm ngoái
    gục xuống quỳ ôm Chúa ngậm ngùi

    tha hương kỳ ngộ, ôi lòng Chúa
    xin hãy vì người con mến thương
    chấp nhận những điều con khấn nguyện
    cho nàng hạnh phúc ở nhân gian

    em ơi anh tắt từng cây nến
    hai chục năm mờ bóng cố nhân
    chuông giáo đường vang, tim Chúa đập
    đường Em đi tới rộn ràng xuân

    đường anh trở bước trăng soi sáng
    vẫn bóng trăng rằm quá khứ xưa
    đôi mắt Sơn Tây thời lãng mạn
    dụi hoài cứ ướt những câu thơ...”


    * * *

    Có một bài thơ khá nổi tiếng của một nhà thơ người miền Nam Bộ. Bài thơ ấy cũng được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Huỳnh Anh và nhạc sĩ Anh Bằng. Một bài thơ mà thành hai bản nhạc. Đó là bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” bài thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà.

    Nhà thơ khi ăn mừng thượng thọ 81 tuổi đã mang bức di ảnh của người xưa để công bố một hình bóng nàng thơ áo tím, một nhân vật có thực của đời mình và là một hình bóng thân yêu trong bài thơ. Theo bài viết đăng trên web-site của nhà văn Lê Thiếu Nhơn thì nàng thơ của Kiên Giang Hà Huy Hà (tên thật là Trương Khương Trinh) là bà Nguyễn Thúy Nhiều, người bạn học của chàng hay đi ngang qua nhà thờ mỗi khi xem lễ với tà áo tím. Hà Huy Hà đã mang hình ảnh ấy vào thơ với cảnh giáo đường, với chuông nhà thờ. Và ông cũng lồng vào khuôn cảnh một thời tao loạn để có cảnh tử biệt sinh ly. Thơ Kiên Giang Hà Huy Hà rặc ròng âm hưởng Nam Bộ, có lúc thật giống với thơ Nguyễn Bính nhưng cũng có khi y khuôn như những câu ca dao của miền sông nước Cửu Long. Về khuynh hướng chính trị, Kiên Giang thiên cộng trong thời kỳ trước năm 1975 và là một người được chế độ Cộng sản cho tham dự vào các sinh hoạt văn chương sau 1975 nhưng dường như chẳng có đãi ngộ nào đáng kể mặc dù được xưng tụng là có hơn 60 năm phục vụ nghệ thuật cho cách mạng. Lúc đến tuổi hưu ông phải bán đi căn nhà nhỏ bé của mình và sinh kế cũng khá chật vật.

    Bài thơ khá dài. Đoạn mở đầu:

    “lâu quá không về thăm xóm đạo
    từ ngày binh lửa cháy quê hương
    khói bom che lấp chân trời cũ
    che cả người thương nóc giáo đường

    mười năm trước em còn đi học
    áo tím điểm tô đời nữ sinh
    hoa trắng cài duyên trên áo tím
    em là cô gái tuổi băng trinh

    quen biết nhau qua tình lối xóm
    cổng trường đối diện ngó lầu chuông
    mỗi lần chúa nhật em xem lễ
    anh học bài ôn trước cổng trường

    thuở ấy anh hiền và nhát quá
    nép mình bên gác thánh lầu chuông
    để nghe khe khẽ lời em nguyện
    thơ thẩn chờ em trước thánh đường...”


    Tình yêu rồi cũng phai phôi. Nàng áo tím đi lấy chồng. Chàng nghe ròn rã chuông xóm đạo như tiễn nàng vu quy. Rồi sau đó chiến tranh, và nàng áo tím ngày xưa đã thành chiến sĩ và chết dưới bóng cờ.

    Và kết cuộc:

    ”Hoa trắng thôi cài trên áo tím
    mà cài trên cỗ nắp quan tài
    điểm tô công trận bằng hoa trắng
    hoa tuổi học trò mắt thắm tươi

    xe tang đã khuất nẻo đời
    chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
    từ đây tóc rũ khăn sô
    em cài hoa trắng trên mồ người xưa.”


    Nhưng, đó là bốn câu thơ cuối của bài thơ đầu tiên. Về sau này, người chồng của bà Thúy Nhiều ghen tức khi bà này đặt tên con đầu lòng bằng tên ghép của hai người: Chính bà và người thơ ngày xưa. Bản sau của bài thơ, Kiên Giang Hà Huy Hà sửa lại đoạn kết bài thơ là:

    “Lạy chúa con là người ngoại đạo
    nhưng tin có Chúa ở trên trời
    trong lòng con giữa màu hoa trắng
    cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”


    Thơ Kiên Giang ngôn ngữ chất phác, những bài thơ như Xe Trâu hay Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím nhờ sự hồn hậu bình dân biểu lộ tính tình của người dân Nam Bộ nên đã có vị trí trong thi ca Việt Nam…


    * * *

    Tức cảnh sinh tình tôi cũng có làm vài bài thơ về Giáng sinh của đời mình. Trong đó, có bài thơ làm khi vừa từ đảo đến Mỹ định cư:

    Vào thương xá giọt nhạc rơi
    Giờ thánh tẩy, chợt cõi đời tù hao
    Từ khi gươm súng vẫy chào
    Ngẩn ngơ tiền kiếp lao đao bóng hình

    Soi gương mù mịt nhân sinh
    ngọn thông đèn thắp nỗi mình ở đâu?
    Đứng bên hang đá u sầu
    Thấy cây thập giá nỗi đau hình thành

    Tượng Mẹ giọt lệ long lanh
    Hồng ân thiên cổ trên cành còn treo
    Chiếc xe đò cũ qua đèo
    Nghe sương khói chạnh cuối chiều bâng khuâng

    Đứng trên đỉnh dốc phong trần
    Áo cơ hàn cũ thế thân vẫn vừa
    nhạc rơi ẩm sáng lạnh trưa
    Giáng Sinh tôi, quạnh đêm mưa ngang đầu.


    Nói về mình đã kỳ mà nói về thơ của mình lại kỳ cục hơn. Đại khái bài thơ này chỉ là tâm sự của một người sắp bước chân vào một cuộc sống mới và sẽ phải gánh nặng trong tâm một quá khứ có từ những thời gian đã qua của đời mình…

    Một bài thơ khác, ghi lại một thời gian khác một kỷ niệm khác. Giáng Sinh ở Sài Gòn. Bài thơ đã để lại từ một thành phố đầy ắp trong trí nhớ những kỷ niệm.

    1

    Hãy xuống đường và mặc áo mới.
    Chiếc áo ngày Chúa bị đóng đinh
    Còn khô vệt máu

    Hãy xuống đường và xưng tội
    Thân phận Việt Nam.
    Âm như dao sắc
    Thánh ca xoáy tròn

    cấu da nỗi đau có thực.



    2

    Giáng Sinh ở Sài Gòn
    Con phố không còn gió
    Ngọn cờ ủ ê.
    Lặng lẽ.

    Giáng Sinh ở Sài Gòn
    Thắp trong mắt mỗi người ngọn nến nửa đêm
    Đầu mang vòng gai buốt
    Hân hoan hành xác mình

    Giáng Sinh ở Sài Gòn.
    Mọi người đi ra đường
    Cầm trái tim
    Làm vũ khí.

    Lời đồng dao của quỷ
    Bắt đầu chuông báo tử mùa xuân.

    3

    hát cho rõ tiếng guốc nàng.
    Hai mươi năm trẻ dại
    Hát và thở ký ức chàng
    Thác reo lũng gió
    Hát và vỗ tay thế kỷ chúng ta.
    Khúc hoan ca thinh lặng
    Hát và long lanh hạt lệ
    Giáng Sinh ba mươi năm trí nhớ.

    4

    bây giờ nửa đêm
    phơi khô dây hạnh phúc
    ngọn nắng phai phai
    ru tôi tóc sợi.

    Bây giờ ở Sài Gòn
    Tôi trốn vào đám đông
    Mặt nạ che tông tích
    Tự hỏi có phải là dòng sông
    Trôi qua những ấu thơ tinh nghịch
    Cánh cửa khuya đóng lại bình minh.

    5

    Giáng Sinh ở Sài Gòn
    nhớ ly cà phê gạo rang đắng chát.
    Cho cũ một ngày.
    Ngọn đèn dầu nhỏ tăm tối
    Sao không thắp hỏa châu
    Sân ga không tàu đợi

    Giáng Sinh ở Sài Gòn.
    Ngực khan đám đông đau
    Than vừa ngún
    Bếp đỏ lửa rồi bè bạn ta ơi

    Giáng Sinh ở Sài Gòn
    Sống lại chính chúng ta
    Hàng hàng lớp lớp
    Tôi phục sinh anh phục sinh

    Từ dòng máu giọt…


    (Nguyễn Mạnh Trinh)
  4. Kim Lân,
    người bị treo bút trong chế độ đỏ…



    Kim Lân 1920-2007

    Có một người đã hỏi nhà văn Kim Lân: ”Ông không viết văn lâu rồi nhưng những gì ông viết của mấy chục năm về trước vẫn được không ít độc giả tìm đọc với những lý do khác nhau. Sao ông lại im lặng mấy chục năm nay và im lặng đến hết cuộc đời?”

    Nhà văn Kim Lân đã trả lời, chân thực, chua chát:

    “Có nhiều lý do khiến tôi im lặng. Có những điều tôi muốn viết nhưng ngại nên không viết ra được, không vượt qua được ngưỡng cửa của chính mình. Vì sự im lặng ấy mà giờ đây tôi cũng im lặng không viết ra.

    Cái mốc tôi ngưng viết văn là từ khi truyện Con Chó Xấu Xí ra đời. Khi người ta đã nhận mình là Con Chó Xấu Xí thì biết làm gì nữa đây. Đôi khi tôi viết về một người bạn văn chương nào đó đã khuất. Đó là những dòng của người còn sống trên dương gian nhớ người đã vắng bóng. Truyện ngắn cuối cùng trong đời, tôi đã chuẩn bị đầy đủ nhưng rồi lại không viết!”

    Và ông nói sơ lược về truyện ngắn cuối đời ấy, bình thản nhưng chứa một thông điệp nào của những điều khó nói:

    “Truyện này đại khái là về một người đàn ông câm. Ông câm này nuôi một con chó. Tất cả những người chung quanh anh ta chẳng hiểu anh ta nói gì nghĩ gì kể cả mẹ của anh. Chỉ có con chó hiểu được anh. Cả hai đều không nói được cái tiếng mà người quanh họ đã nói.

    Khi người ta mở chiến dịch giết chó, con chó của người này bị đuổi bắt. Nó chạy đến mép rừng. Chỉ dăm bước nữa là nó thoát chết. Đúng lúc đó người câm cất tiếng kêu như một tiếng tru. Con chó dừng lại. Nó quay lại và bị giết chết. Nó không thể bỏ đi trước tiếng kêu đau khổ của bạn mình”

    Sẽ có người trong nước kêu lên rằng viết như vậy là thú vật hóa loài người như của một cây bút “quốc doanh” nào đó kết tội tiểu thuyết của Dương Nghiễm Mậu. Và Kim Lân cũng đã tiên đoán trước nên không viết. Nhưng thử hỏi, người đã mang cái nghiệp văn chương mà tự mình treo bút thì não nề đến bực nào. Cứ âm thầm suy tư, cứ âm thầm nuôi trong lòng những điều muốn ngỏ mà không ngỏ được.

    Kim Lân, cho đến cuối đời. Viết, để rồi bị phê phán, bị kiểm thảo, tác phẩm bị vùi dập thì viết làm chi …

    Trước khi mất hai tháng, nhà văn Kim Lân có nói đến trường hợp sáng tác của mình:

    ”Tôi viết Con Chó Xấu Xí là viết sau khi xảy ra chuyện Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy tôi không bị liệt vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm nhưng lúc bấy giờ người ta lại xướng ra việc đấu tranh với Nhân Văn Giai Phẩm trong đó có 5 người không tham gia đám Nhân văn Giai Phẩm gồm có Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng và tôi. Chúng tôi không tham gia hội họp, không viết bài “đánh”.. vì chúng tôi cho rằng đó là anh em mình cả. Chúng tôi chỉ muốn nếu thật sự họ sai thì phải thuyết phục họ, vì tất cả đều mới ở trong kháng chiến mà ra cả (Hoàng Cầm, Trần Dần, Hoàng Tích Linh, Lê Đạt…) Nhưng chính vì không tham gia nên người ta cũng ghét chúng tôi.”

    Sau một thời kỳ dài bị phê phán, Văn Nghệ Trẻ đăng lại truyện ngắn “Con Chó Xấu Xí“ của Kim Lân. Đọc lời bình của Bảo Ninh, tự nhiên tôi muốn đọc lại một truyện ngắn đã gây ra nhiều rắc rối cho tác giả và cũng là một chuyện chứng minh rằng có những điều mà ở thời buổi ấy thật bình thường, xảy ra hàng ngày thì về sau lại rất lạ lùng tưởng chuyện xảy ra một nơi chốn nào khác như trên cung trăng chẳng hạn… Thời nào có đặc thù riêng của thời ấy. Trên mọi phương diện khác, các sự kiện có thể bị bôi xóa đi. Nhưng, ở văn chương thì không như vậy. Những sự kiện đã được ghi chép, không bị xóa nhòa mà trái lại còn là những chứng tích cho một thời mà những chứng tích ấy, càng về sau, lại càng làm rõ nét hơn một xã hội, một thời thế nữa…

    Viết về Kim Lân, Xuân Sách trong “Chân Dung Nhà Văn” đã phác họa như sau:

    “Nên danh nên giá ở làng
    chết vì ông lão bên hàng xóm kia
    làm thân con chó xá gì
    phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn”

    Tác phẩm của Kim Lân có hai tập truyện ngắn: Nên Vợ Nên Chồng và Con Chó Xấu Xí. Trong tập “Nên Vợ Nên Chồng” có truyện “Ông Lão Hàng Xóm” một truyện mà Xuân Sách đã hạ một câu thật tuyệt ”chết vì ông lão bên hàng xóm kia“. Nhân vật của truyện là một ông lão, tuy muốn sống một đời bình thường nhưng lại mang nặng vết thương cải cách ruộng đất. Với tâm cảm ấy ông nhìn hàng xóm làng mạc khác hẳn thuở xưa. Cái tình lân lý tương thân tương trợ ngày trước đã hết, mà thay vào đó là sự ngờ vực của những người đã trải qua những thay đổi của nhân tâm, của tâm lý những con chim bị tên nhìn cây cong tưởng cây cung nhắm bắn. Truyện ấy còn có một nhân vật khác, cô đội trưởng đội cải cách non choẹt đã từng làm chánh án những buổi đấu tố và xử tử biết bao nhiêu địa chủ trong vùng. Ông tả lại cái hoạt cảnh cô đội trưởng tập lái xe đạp, một chiến lợi phẩm tịch thu được của một gia đình địa chủ, ở sân đình, với tất cả sự mỉa mai và trào lộng : ”Cô đội trưởng lùn tè tè, hai bàn chân không đạp tới pê-đan… cặp mông mập xoắn lấy chiếc yên xe khi chân cô đạp lên đạp xuống…” Nhân vật cốt cán, là chủ lực của chế độ mà mô tả như thế thì làm sao những quan cán bộ “lãnh đạo“ văn hóa như Trường Chinh, Tố Hữu,.. chấp nhận cho được. Thế là, sách in ra, bị tịch thu. Nhưng, mọi chuyện đã muộn, mọi người đã đọc, và, trong sổ đen công an văn hóa, Kim Lân bị ghi thêm một điểm xấu…

    Trong lời bình của Bảo Ninh, viết sau hơn bốn chục năm tập truyện ngắn “Con Chó Xấu Xí“ ra đời, tôi thấy hình như tác giả Nỗi Buồn Chiến Tranh muốn diễn tả một tâm tư nào, có khác với thời ấy nhưng cũng giống với thời ấy. Tuy bây giờ, là thời của đổi mới, cũng như có một thời là “sửa sai”. “Đổi“ hay ”sửa“, có làm mất đi được cái chất phi nhân vong thân không? Bảo Ninh viết:

    “Con Chó Xấu Xí hồi mời ra đời bị phê dữ lắm. Cụ thể bị phán những gì qui kết ra làm sao chẳng ai còn nhớ, chỉ nhớ là rất kịch liệt. Cái thời đến lạ. Độc giả thời nay chịu không hiểu được.

    Đành rằng ở ta, và có lẽ chẳng riêng gì ở ta, cái sự truyện ngắn mà lại lấy loài vật, nào hợi, nào sửu, nào thân nào tuất ra làm “nhân vật“ thể nào tác giả cũng phải chuốc lấy phiền toái, song trong Con Chó Xấu Xí thì quả thật đọc kỹ và soi mãi vẫn không thể lọc ra một đoạn một câu một chữ có thể làm cho thiên hạ chạnh lòng. Vậy mà…

    Hay là bởi vì ở “con Mực nhà ta”, ở cái con êu êu thảm hại này với sự xấu xí phát ghê, sự thống khổ bi hài, và nhất là với sự tận nghĩa kinh hồn, mù lòa và điên dại của nó, có toát lên một cái gì đặc biệt con người chăng ít nhất là so với vợ chồng Nhược Dự?…”

    Không phải như Bảo Ninh viết: “Cái thời đến lạ. Độc giả thời nay chịu không hiểu được“ đâu. Mà tôi nghĩ. Bảo Ninh biết thừa ra đấy. Bởi, thời trước với thời bây giờ có gì xa lạ với nhau đâu. Dù đã đổi mới, dù đã bị áp lực của cả thế giới để buộc phải cải tổ. Tôi nghĩ, về phương diện văn học, cái giây buộc trói vẫn còn chứ không phải đã cởi ra với nhà văn như tổng bí thư đảng Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố. Hồi trước đã có nhiều vụ án văn tự như những nhà văn trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm hay nhóm nhà văn trí thức bị chụp tội “xét lại“. Thì bây giờ, cũng có nhiều nhà văn nhà thơ bị truy bức bị đày ải bị treo bút bị theo dõi bị làm những công việc không liên quan đến chữ nghĩa.

    Còn nhân vật vợ chồng Nhược Dự trong Con Chó Xấu Xí là hai nhân vật mà tác gỉa cố ý phác họa cho một đại diện của giời trí thức tiểu tư sản với tất cả những tật xấu gán cho. Ở một cực độ, ông cho thấy chủ tâm muốn so sánh nhân vật này với con chó xấu xí kia. Cũng cùng vô dụng, cũng cùng có bộ dạng không giống ai, cũng cùng bị những người chung quanh khinh ghét:

    “Trước ngày, Nhược Dư cũng có viết văn. Anh ta viết những truyện “ái tình” lâm ly, sướt mướt với một thứ văn chương uốn éo quen thuộc rẻ tiền. Anh ta làm văn chẳng khác gì người thợ kim hoàn quen tay làm đồ Mỹ khí. Vì thế, từ ngày khởi nghĩa anh không viết gì được nữa mà anh ta cũng chẳng nghĩ gì đến chuyện tiếp tục viết văn.

    Tuy vậy, cả nhà anh ta, từ bà cô già mõ bán bún riêu ngoài quán đình Bùi đến cô vợ hai còn trẻ măng chuyên việc bêp núc, hầu hạ chồng và con chồng ở nhà đều như còn lẩn quẩn mê luyến với cái không khí của một thời “oanh liệt” của ông chồng trước kia… Trước mặt người lạ họ đối đãi nói năng với nhau hoa mỹ kiểu cách như người trong truyện cả. Nghĩa là nghe nó ngớ ngẩn, giả dối rất chướng tai!

    Người như vậy kháng chiến cũng không bỏ. Biết Nhược Dư trước kia có viết văn cơ quan tôi mấy bận cử người về đón anh đi công tác. Bận nào Nhược Dự cũng có bộ mặt rầu rĩ băn khoăn vì nỗi hoàn cảnh anh ta bó buộc vì anh ta nặng gánh gia đình vì anh ta bệnh tật đau yếu luôn. Phải loanh quanh ở nhà như vậy anh ta lấy làm xấu hổ và khổ tâm lắm lắm.

    Người địa phương vì thế ghét vợ chồng anh ta thậm tệ. Giữa cuộc kháng chiến bùng nổ không ai có thể ưa một anh đàn ông sức dài vai rộng mà chỉ thấy cặp kè với hai bà vợ và nhởn nhơ với một ngôi hàng. Người ta làm vợ chồng anh ta khó chịu tức tối ngấm ngầm có khi phải tủi hổ…”

    So sánh một con chó với một con người, hình như tác giả muốn làm chất nhân bản bị giảm sút đi trong đời sống ấy. Con chó dù bị bỏ đói bạc đãi đủ điều nhưng vẫn trung nghĩa, trong mọi hoàn cảnh dù tối tăm đến đâu cũng không bỏ chủ. Suốt đời sống nó, toàn là cảnh nằm nhóc mõm chờ cơm, dù mẩu xương thừa hay miếng cơm ôi cũng không có. Thế mà mỗi khi chủ về vẫn chạy tới vẫy đuôi mừng rỡ. Nhà cửa bị Tây vào ruồng bố đốt phá tan hoang, chủ phải chạy tản cư khi trở về vẫn thấy chú chó xấu xí nhưng có nghĩa ở đó dù sức tàn nhưng vẫn vẫy đuôi mừng rỡ. Có phải ông chủ bạc ác ấy, không biết quý trọng nhân nghĩa ấy, là tượng hình của những người lãnh đạo mà nhà văn Xuân Vũ ví von gọi là “dì ghẻ văn nghệ”?

    Ví von vợ chồng Nhược Dư với chú chó, tác giả đã theo đúng những chỉ đạo được “trên” đề ra chưa? Hạ giá thấp giới tiểu tư sản, có gì mà rõ ràng cho bằng gọi bằng loài chó. Thế mà, trong cái nhận xét ấy, có một chút gì bất nhẫn, có một chút gì ngầm chứa từ liên tưởng xa xôi. Và, cái mục đích viết để gây căm thù giai cấp, viết để phân biệt ta địch, viết để minh họa chế độ, dường như không phải là chủ đích của Kim Lân. Mà, ngược lại có khi là những cái ngầm hiểu rất dễ gây ấn tượng đối nghịch…

    Bảo Ninh nhận định: ”Ngày nay chẳng biết phê gì biết bình gì hơn ngoài một chữ Hay, Truyện hay. Tuyệt hay.

    Mới ngẫm ra rằng nhà văn rất khác nhà khoa học, không chỉ khoa học tự nhiên mà cả khoa học xã hội. Nhà nghiên cứu thì thế hệ sau nhất định phải cao tầm hơn thế hệ trước, trò phải giỏi hơn chí ít là kiến thức phải đầy hơn thầy. Nhà văn thì không nhất thiết như thế. Nhà văn Kim Lân mà nói rộng ra là lớp nhà văn thế hệ ông, cho đến nay, và có thể sẽ mãi mãi, vẫn là những nhà văn bậc thầy, tác phẩm mãi mãi vẫn là hay mãi mãi vẫn vượt trội…”

    Riêng tôi, trong cảm thức của mình, truyện Con Chó Xấu Xí đáng nói hơn từ cái cái chủ tâm hơn là cái tài nghệ văn chương. Làm người kể chuyện, ông viết kiểu khề khà và ít thấy chất sống động trong văn mạch. Nhưng, ở cái trầm lắng ấy, lại càng rõ hơn cái tâm thâm thúy và gợi lại nhiều suy tưởng. Không phải chỉ giản dị là tác giả mượn con vật để ví von với con người, mà phức tạp hơn, là biểu tượng của những đặc tính của một thời thế đã qua nhưng vẫn còn sức sống và là niềm nuối tiếc của nhiều người. Không gian, thời gian của Con Chó Xấu Xí là của một thời đã qua, của khó khăn vật chất, của hy sinh tinh thần. Nhưng, sau đó, khi phần nào đạt được những thành quả, thì có những người, như những chú chó cứ chờ hoài một hạt cơm rơi, một mẫu xương thừa nhưng chẳng bao giờ có. Những nhà văn, lưng còn thẳng, chân còn đứng chưa quì, trở về Hà nội, ngỡ ngàng với chiến thắng nhưng lại thầm tiếc thời gian khổ, lúc mà “dì ghẻ » (lãnh đạo văn nghệ) và ”con chồng” (quần chúng văn nghệ) chịu chung thiếu thốn. Bây giờ, kẻ thì nhà cao cửa rộng lên xe xuống ngựa tem phiếu thượng hạng của ngon vật lạ không thiếu một món gì trong khi có người luôn thiếu, đói, vợ con nheo nhóc, chỗ ở chật hẹp.

    Có lần nhà văn Kim Lân tâm sự:

    ”Tôi viết không chỉ vì nhuận bút. Viết được thì viết. Không viết được thì thôi. Những cái cố gượng viết đều giả, đều khô khan đọc lại thấy xấu hổ lắm.

    Tôi nghĩ muốn theo đuổi nghề văn thì người viết phải là người tử tế trước đã. Dĩ nhiên không phải hễ là người tử tế ắt hẳn viết văn hay được. Viết văn phải có tài. Cái tài đến với nhà văn thật tự nhiên, mất đi cũng rất tự nhiên. Tôi thấy nhiều nhà văn lúc chưa biết nghề nếp tẻ ra sao, hồn nhiên thoải mái viết cái mình yêu, mình thích thì viết lại rất hay, đến lúc hiểu kỹ về nghề thì viết lại tồi đi rất nhiều. Hay chăng cái mình biết đã gò bó cái tự nhiên của mình? Những hiểu biết về nghề văn là rất cần. Nó nâng tầm nhà văn lên, nhưng nếu để nó khống chế mình, làm mất cái thiên bẩm của mình đi thì nhà văn ấy không còn là chính mình nữa..”

    Tôi vẫn chưa hiểu được tại sao “lúc hiểu kỹ về nghề thì lại viết tồi đi rất nhiều” như Kim Lân bày tỏ. Hay, nếu nghĩ rằng “hiểu kỹ về nghề “ có thể là hiểu biết những mục tiêu mà cấp trên cần hoặc luồn lách khéo léo qua những kẽ hở để nói lên được điều mình muốn nói?

    Theo Xuân Sách, trong những lời tâm sự khi viết về tập thơ “Chân Dung Nhà Văn” thì nhà văn phải học tập rất nhiều và rất nghiêm túc về những vấn đề chính trị, những yêu cầu cần thiết để văn học phục vụ chính quyền. Những giây phút học hành ấy là cả một cực hình cho những người nghệ sĩ. Và không biết có phải vì những hiểu biết thu lượm được để “hiểu kỹ về nghề” và làm ngọn bút tồi đi, kém đi.

    Thế mà, sau khi Kim Lân viết Con Chó Xấu Xí, hơn bốn chục năm, thì Bảo Ninh lại sám hối và ca tụng một tác phẩm đã bị chế độ vùi dập và đẩy tác giả của nó vào cùn nhụt lãng quên:

    “… nhà văn Kim Lân viết không nhiều, tự đùa mình là lão ông, vậy mà chúng ta hỡi ôi, chúng ta tràng giang đại hải, chúng ta hì hục sản xuất văn chương, nhưng một chút gì của “con chó xấu xí” thôi chúng ta cũng không thể có. Chúng ta ráo riết làm mới, làm lạ, mắm môi mắm lợi tự cao tự đại phô trương sự tối tân và thời thượng của những kiệt tác chúng ta sản xuất ra, nhưng chúng ta vẫn cứ vô cùng cũ và nhạt, hoàn toàn không thể nào bì được với văn chương chậm rãi, khề khà, nhà quê, mà vừa xiết bao chân thực vừa vô cùng thâm thúy lại thiết tha và sâu đậm lòng nhân, tình yêu thương con người và đất nước, tình yêu ngôn ngữ Việt của một nhà văn thực tài như Kim Lân.

    Trong tập truyện ngắn đầu tiên “Nên Vợ nên Chồng”, có truyện ngắn “Cu Ế”, một truyện tuy viết theo đúng chính sách nhưng không làm cho “lãnh đạo“ vừa lòng. Chuyện kể về một anh chàng trước đây nghèo đói nợ nần lại xấu xí nên vô duyên chẳng có cô nào thèm để mắt xanh đến. Những chàng trai cùng trang lứa đều thành vợ thành chồng hết mà chỉ có riêng anh vẫn sống cu ky một mình nên anh mới được gọi tên là “Cu Ế”. Nhưng đến khi đội cải cách về làng, anh được bắt rễ để làm việc tố cáo. Và, anh đã thấy được ánh sáng do Đảng mang tới cho đời mình. Cu Ế vươn lên và đấu tranh giai cấp một cách kịch liệt. Anh sắm được một cô vợ và người ta bây giờ không ai còn dám gọi anh là Cu Ế nữa. Truyện viết mạch lạc, kể một hơi, đọc dòng đầu đã ngờ ngợ dòng sau, lai viết đúng bài bản, không bắt bẻ chê bai chỗ nào được. Nhưng cái hình ảnh anh bần cố nông như thế kể ra mà đại diện cho những người đang đấu tranh để xóa bỏ giai cấp thì cũng hơi…đẹp mặt cho Đảng. Cái thâm thúy của nhà văn là mang cái chính sách đang được đề cao để so sánh với một câu chuyện có thể gọi là vụn vặt, chuyện lấy vợ cuả một anh chàng kiết xác. Thời Cải cách ruộng đất khi mà những đội cải cách là thượng đế, ai chết ai sống mặc tình tùy thuộc vào quyền hạn của họ, thì cái chiến lợi phẩm như cô vợ của anh Cu Ế hay chiếc xe đạp của cô đội trưởng nhãi ranh đang vẹo mình tập đạp kể ra cũng chẳng vinh quang mấy. Nó chỉ là một nét trào lộng thoáng qua thôi, nhưng mà thâm trầm sâu sắc…

    Một truyện ngắn khác của Kim Lân được nhiều người cùng thời nhắc tới là truyện “Làng”. Một truyện viết về nông thôn thời kháng chiến chống Pháp ở Việt bắc có những dấu ấn văn chương khá đậm. Cái tâm cảm của một người đi vào chiến đấu để mong có ngày trở về Hà Nội để nhìn thấy được những vinh quang mong đợi. Hình ảnh mà Kim Lân mô tả về cái gánh gồng của một gia đình tản cư có lẽ chỉ còn là chuyện rất cũ. Cái gánh này một đầu thì đầy những nồi niêu soong chảo đồ tuế nhuyễn lặt vặt cần thiết cho một gia đình còn đầu kia là một đứa bé. Nó ngồi trong thúng đầu đội chiếc nón lá che úp mặt hai bàn tay nắm chặt lấy quang giây dù bố nó đã cẩn thận chèn chung quanh những chăn màn vá chằng vá đụp. Cái hình ảnh ấy, nghèo nàn tang thương và nhẫn nhục làm sao…

    Nhưng, cái truyện ngắn ấy lại có những đoạn tuyên truyền hơi ngô nghê. Nhân vật trong truyện, ông Hai làng Dầu đã có những thay đổi theo thời rất nhanh. Trước, ông rất hãnh diện về làng của ông có những lăng mộ hùng vĩ thì sau này ông lại ghét đến độ căm thù vì những lăng tẩm phong kiến ấy bắt cả làng ông phục dịch. Rồi vì tin đồn làng Dầu đã theo tây nên dân chúng ở đây cũng ghét lây gia đinh ông. Nhưng sự thực làng Dầu không theo Pháp và vẫn tôn sùng Hồ Chí Minh nên cả làng nơi tản cư cũng đổi thái độ với gia đình ông... Viết đúng đường lối như thế mà khi in Con Chó Xấu Xí vẫn bị đấu đá tơi bời…

    Đọc lại truyện về chó, một con chó xấu xí, ghẻ lở vô dụng nhưng có nghĩa, tôi lại chạnh lòng khi nghĩ đến câu thơ của nhà thơ Nguyễn Vỹ “Nhà văn An Nam khổ như chó“. Ấy là thời của đế quốc, phong kiến, nô lệ. Còn thời đại của văn nghệ “hiện thực xã hội chủ nghĩa“ thì sao? Có còn người chủ bạc ác đối đãi tệ hại với một loài vật có tình với mình không? Dù, đã qua mấy thời sửa sai, đổi mới..?

    Trước khi mất, trong cuộc phỏng vấn của báo Đời Sống và Pháp Luật, nhà văn Kim Lân có nhận xét:

    “Tôi có cảm giác văn ngày nay mất đi tưởng tượng lãng mạn mơ mộng và nhiệt huyết sống. Nó trở nên thưc dụng ê chề oái oăm hơn. Đó là những điều cần khắc phục để nước nhà có một nền văn học ngày càng hoàn thiện…”



    Nhà văn Kim Lân đã từ trần vào ngày 20 tháng 7 năm 2007, thọ 87 tuổi. Là một nhà văn tiền chiến đã đi theo Đảng từ ngày còn kháng chiến thế mà suốt cả cuộc đời chỉ in được có 2 tập truyện ngắn và cũng suốt đời chỉ thai nghén mà không viết được những truyện xứng ý với mình. Đó có phải là một trường họp khi chính trị chỉ đạo văn hoc, thì thơ thành vè và văn chương chỉ là lớp son cho những điều giả trá,…


    24.12.2007
  5. Hồ Dzếnh,
    thơ văn là lệ hạt kết tinh…



    Hồ Dzếch 1916 - 1991

    Có một nhà thơ tài hoa, một nhà văn viết được những áng văn xuôi tuyệt tác mà đành lòng trong xã hội mới phải đi làm công nhân để kiếm sống và những tác phẩm để lại cho hậu thế chính lại là những tác phẩm ông viết khi bắt đầu cầm bút, lúc còn chế độ thực dân Pháp, của thời tiền chiến. Đó là nhà thô Hồ Dzếnh và hai tác phẩm Quê Ngoại và Chân Trời Cũ.

    Trong lời giới thiệu của Tuyển Tập Hồ Dzếnh – Tác Phẩm Chọn Lọc do nhà xuất bản Văn Học năm 1988 có đoạn nhận xét: “Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu vào nghề viết. Tuy nhiên với hai tập văn thơ Chân trời Cũ và Quê Ngọai, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ có chân tài...”

    Trong tập Chân Dung Văn Học, của Hoài Anh do nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2001 cũng có đoạn; “Phần đóng góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh là tập Chân Trời Cũ, thể hiện nếp sinh hoạt, tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con Việt gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh chị em mình, con ngựa của cha mình… mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy lòng.”

    Thực ra, trong một chế độ úy kị với trí thức tiểu tư sản, thì việc bắt một nhà văn nhà thơ đi thực tế sản xuất làm thợ đúc thép và sửa chữa cơ khí ở nhà máy xe lửa Gia Lâm mà không cho chuyên nghề sáng tác là một chuyện bình thường. và, do sự kiện ấy, những tác phẩm độc đáo xuất sắc lại là những tác phẩm từ thời tiền chiến...

    Năm 1943, vào lúc thịnh thời của thơ mới, nhà xuất bản Á Châu cho ra đời một tập thơ khá lạ: Tập thơ Quê ngoại của Hồ Dzếnh với lời giới thiệu: “Lần đầu tiên thi ca Việt Nam được tô điểm một cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của một nhà thơ ngoại quốc...” Thực ra, nói nhà thơ ngoại quốc là chưa chính xác lắm, nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh (phát âm theo giọng Quảng Đông là Hồi-Tsìu-Ding), một người có cha Tàu mẹ Việt. Ông viết về đất nươc quê hương của mẹ : Quê Ngoại. Cha ông tên là Hà Kiến Huân, gốc người Quang Đông, Trung Hoa di cư sang Việt Nam vào những năm cuôùi của thế kỷ 19 gặp mẹ ông là bà Đặng Thị Vân, một cô gái chở đò trên sông Ghép, Thanh Hóa. Hia người lập gia đình và sinh sống bằng cách buôn bán và đổi chác hàng hòa trên một con đò dọc nhỏ xuôi theo các bến chợ ven sông.

    Tập thơ ra đời đã là một viên châu ngọc của thi ca Việt Nam. Nhiều bài thơ, đã trở thành bất tử và ngôn ngữ ấy đã biểu hiện được tâm tình một thời của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Tri Tân đã có nhận xét : Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu những nhà văn hữu tài khác...

    Trong tập thơ ấy, người yêu thơ đã tìm ra được rất nhiều những bài thơ tuyệt tác. Có những bài thơ được phổ nhạc và trở thành quen thuộc đến nỗi như là một ngôn ngữ thường hằng và sống động.

    Những câu thơ thật quen thuộc và hình như lúc nào cũng tiềm tàng những cuộc sống riêng, những tâm tư riêng nên đã thành những ấn tượng không thể phai nhòa trong cảm quan người nhận.

    Như trong “Cảm xúc”:

    “Cô gái Việt Nam ơi!
    Nếu chữ hy sinh có ở đời
    Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
    Cho lòng cô gái Việt Nam tươi”

    Câu thơ ấy, hình như có nhiều người nói và viết, đến nỗi tưởng như là của chung và có nhiều người không biết mình đã nói hoặc viết của Hồ Dzếnh.

    Hay những câu thơ được phổ nhạc. Tuyệt vời!

    Như trong “Ngập ngừng”:

    “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
    để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
    ngó trên tay, thuốc lá cháy rụi dần..
    Tôi nói khẽ: Gớm làm sao nhớ thế…
    … Tôi sẽ trách- cố nhiên! – nhưng rất nhẹ
    nếu trót đi, em hãy gắng quay về
    tình mất vui khi đã vẹn câu thề
    đời chỉ đẹp những khi còn dang dở
    thư viết đừng xong thuyền trôi chớ đỗ
    cho nghìn sau.. lơ lửng với nghìn xưa...”

    Hay trong “Mùa thu năm ngoái“:

    “Trời không nắng cũng không mưa
    chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung
    chiều buồn như mối sầu chung
    lòng im nghe thoảng tơ chùng chốn xa
    đâu hình tàu chậm quên ga
    bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày..”

    hoặc “Màu cây trong khói”:

    “trên đường về nhớ đầy
    chiều chậm đưa chân ngày
    tiếng buồn vang trong mây
    chim rừng quên cất cánh
    gió say tình ngây ngây
    có phải sầu vạn cổ
    chất trong hồn chiều nay?
    Tôi là người lữ khách
    màu chiều khó làm khuây
    Ngỡ lòng mình là rừng
    Ngỡ hồn mình là mây
    Nhớ nhà châm điếu thuốc
    Khói huyền bay lên cây”

    Những câu thơ đã được nhạc tháp cánh và gây được xao động cho người đọc, người nghe. Những bản nhạc tới bây giờ nghe lại trải ra một không gian bàng bạc thương nhớ. Mà tình cảm thương nhớ thì ở bất cứ thời gian không gian nào cũng giống nhau cho nên cảm xúc cũng vẫn y nguyên không vì thời gian mà phai phôi. Hồ Dzếnh vẽ tranh, không bằng đường nét, không bằng màu sắc hiện thực mà chính bằng cái tâm cảm của một nỗi buồn mà hiện hữu có lẽ từ rất lâu, từ lúc mà con người còn thuở sơ khai hoang dã…

    Trong “Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến”, tác giả Nguyễn Tấn Long đã trích dẫn nhận xét của nhà văn Mai Thảo, một lời khen tặng nồng nhiệt và đầy cảm tính:

    “Trong cái thế giới ngột ngạt bít bưng tức thở ra của những tháp ngà tiền chiến như những phần mộ lạnh buốt, thơ Hồ Dzếnh hơn cả Xuân Diệu, và theo tôi, hơn cả Nguyễn Bính đầu mùa, là những xâu chuỗi lanh lảnh nhạc vàng gõ vui từng nhịp nắng trên mênh mang đài trán thnah niên. Tôi nhớ mãi cái cảm giác của tôi, 20 tuổi, tiếp nhận một tập thơ cốm mới đậm đà, một tập thơ mười tám cái xuân đầy, đọc mỗi câu tưởng tưởng như có mật có đường ngọt trong cổ. Thơ Hồ Dzếnh tiền chiến là cái trạng thái ngu ngơ trong suốt nhất của một tiếng thơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng. Ngó thật kỹ, Quê Ngoại không hằn một vết nhăn. Với tôi, một tập thơ đầu tay phải như thế. Phải có cái khí thế vạm vỡ của sống như một lao vào, cái vóc dáng của yêu như một kín trùm dào dạt...”

    Thơ Hồ Dzếnh là của niềm tâm cảm gờn gợn trong lòng, của nỗi nhớ mong về những cảnh thổ cũ, quê quán xưa. Không gian ấy rất mơ hồ, những nét phác họa đôi khi chỉ dệt bằng cảm giác, bằng những nét bút vờn của ảo ảnh tạo thành. Cảnh vật cũng bình thường, không có gì khác lạ nhưng khi đã chuyên chở những tâm ý thì lại khác hẳn, nó vời vợi chiều sâu và hun hút độ dày. Trời không nắng cũng không mưa / chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung/.. Có một chút gì không tròn vẹn. Không mưa, không nắng, nhưng lại có nỗi lạnh lẽo của nhớ nhung. Hình như người và cảnh cùng thở chung với nhau một nhịp tim, của những lỡ làng lửng lơ lơ lửng…

    Năm 1942, Hồ Dzếnh in “Chân trời cũ”. Một gia đình dòng tộc người Minh Hương được phác thảo lại trong những thiên truyện ngắn rất gần với những trang tự thuật. Nhân vật xưng tôi, có khi là chính bóng dáng của tác giả, tuy được phác họa trong sự cố ý làm mờ nhạt đi để những nhân vật khác nổi bật lên. Một người cha người Hán giang hồ đi sang xứ người lập nghiệp gặp người mẹ người Việt và thành một tiểu gia đình mà số phận họ buộc trói theo dòng đời trôi nổi. Người mẹ Việt, là hình bóng muôn đời của sự hy sinh, là gà mẹ xòe cánh ra ấp ủ đàn con giữa những đe dọa của cuộc đời. Rồi những người thân của nhân vật xưng tôi: chú Nhì, người anh cả, đứa cháu đích tôn, cô em Dìn, chị đỏ Đương, người chị dâu Trung Hoa, ông anh hai trụy lạc,… tất cả sống trong một xã hội mà những lề thói, những phong tục là những sợi dây buộc chặt vào một đời sống mà sự thiếu thốn và nghèo khổ luôn luôn lai vãng…

    Trong “Chân trời cũ” chúng ta thấy một đời sống cũ đã qua nay trở lại từ cái tâm hoài cổ, từ những suy tư bắt nguồn từ sự nâng niu những kỷ niệm khó quên của một đời người. Và, vì sống ở xứ sở bên mẹ nên quê ngoại lại gần gũi hơn và chan chứa tình cảm.

    Nhà văn Thạch Lam trong đề tựa của “Chân Trời Cũ” đã viết những dòng giới thiệu mà về sau này Hồ Dzếnh đã coi như người tri kỷ, hiểu được cả những góc cạnh thâm cảm của ông:

    “... Tác giả đã đau khổ trong cuộc sống; và chúng ta nhận thấy ông ưa thích quay về dĩ vãng, để lại khiến những đau khổ cũ trở dậy và thêm sắc mắc hơn nữa. Cho nên những truyện ông kể cho chúng ta nghe đều có một mầu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía. Ông chỉ kể những chuyện ấy thôi, nhưng mà đủ có mực thước để khỏi thành ra phô phang, và cũng đủ rung động để độc giả cảm thấy sự thành thực, sự “đã sống” của những chuyện đó.

    Những nhân vật mà ông trình bày đều linh động cả. Mỗi người đều có bản ngã riêng, và chúng ta nhận thấy-tình cờ hay là số mệnh?- người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ. Người mẹ, người con cả, người con thứ cho đến cô Yên, cái cô gái nuôi đặc biệt Việt Nam, vẫn sống trong một gia đình không phải của mình, để mà chịu đựng bao nhiêu vất vả và bất công, tuy có được người mẹ nuôi biết thương đến. Cái đời sống tối tăm và lặng lẽ ấy không đi đến đâu cả, và tác giả để chúng ta thấy thương qua số phận một dân số nghèo khó ở các tỉnh đông đúc hay nghèo nàn, cuộc sinh hoạt khó khăn trên những đồng ruộng bạc màu…”

    Cái chung nhất của thơ và văn Hồ Dzếnh chính là nỗi đau đớn của kiếp người. Trong bài thơ lục bát “Tặng vợ tôi khi còn sống” có câu thơ viết trong buồn khổ tận cùng: ”mùa đời rụng hết vàng xanh/nỗi đau thương cũ nay thành máu thơ...” “Máu thơ”, của những mảnh đời lận đận, của những lời thống thiết khi một người chồng vừa mất vợ bồng bế đứa con mới sinh còn đỏ hỏn đi xin sữa để nuôi con. “Máu thơ”, của người bị lôi cuốn vào trong tâm bão thời cuộc, có tâm hồn nghệ sĩ, muốn mang tâm não và tài sức vào bút mực để lại cho đời nhưng không toại chí. Mỗi ngày làm anh thợ đúc thép, đạp xe tư øHà Nội qua cầu Long Biên tới Gia Lâm, nhà văn ấy, nhà thơ ấy có nhớ lại một thời tung hoành trường văn trận bút trong nỗi chạnh lòng…

    Năm 1993, ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân lại in tập hồi ký“Quyển truyện không tên” và tập thơ “Quê Ngoại II”. Tập hồi ký ấy khá ngắn nhưng chất chứa cả một biển khơi tâm tư của người viết. Hồ Dzếnh mượn lời của đứa con vừa bốn tháng rưỡi tuổi vừa mất mẹ để nói lên cái tâm cảm và hoàn cảnh của mình. Thời gian mà ông kể lại trong khoảng năm 1947-1950 và không gian là vùng khu tư Thanh hóa, nơi cả gia đình bé nhỏ vì không sống nổi ở vùng đồng bằng phải đi lên vùng ngược mưu sinh nhưng rốt cuộc nghèo khó và bệnh tật đã đẩy họ trở về.

    Đọc những trang hồi ký, độc giả có nhiều lúc rơi nước mắt. Tình cảnh như thế là tận cùng. Hãy thử tưởng tượng chỉ trong vòng vài tháng, người thơ phải gạt nước mắt đau đớn chôn đưa con trai đầu lòng và người vợ bất hạnh. Chôn đứa con trai, với tất cả gia sản nghèo nàn: ”con búp bê đất mất đầu, hai đôi tất bằng vải, cái kèn tu huýt, đôi dép cao su mòn đế và hai bộ quần áo đã sờn rách...” và khi tống táng vợ : ”Đây không phải là một buổi liệm. Bởi nếu là liệm thì phải tắm rửa thay quần áo mới. Mẹ tôi không có một mảnh vải nào cả. Để cho người chết đỡ tủi – người chết có tủi không?- cha tôi cổi chiếc áo cánh ướt trên người, đắp lên vợ...”

    “Quyển truyện không tên “kể toàn là những chuyện đau lòng. Người mẹ cho con bú mà không đủ sữa vì thiếu dinh dưỡng, đứa con nhay đến nỗi có một chút máu vương ở miệng đứa bé hoặc cảnh đứa bé húc mãi vào vú mẹ để bú mà không được. Hoặc là tình cảm thê thảm, người cha bồng đứa con vừa bốn tháng rưỡi đi xin sữa sau khi người mẹ đã chết vì thiếu thuốc thang. Tất cả, những thảm kịch được kể lại với gờn gợn một chút gì phẫn hận. Lúc chiến tranh, có khi còn có nhiều thảm cảnh khác, nhưng tác giả có khi đi sâu vào suy tư để thấy được những nguyên do của thảm kịch. Thời thế đảo điên, văn chương cũng chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp tươi sáng.

    “... Chiến cuộc chỉ mới bước vào năm thứ hai. Còn lâu, còn gian nan, còn gay go mới đến ngày đoàn tụ. Sinh kế đã cảm thấy khắc khổ ở mọi lớp người, trước viễn tượng chiến tranh gần như vô cùng tận. Gánh gia đình, từ ngày có thêm tôi, mới bắt đầu nặng nhọc.Nếu đời là một thiên lệ sử, thì ngay buổi tôi sinh ra, những dòng chữ khắc khổ đã thành hình.

    Tôi sinh ra giữa một kỷ nguyên khác lạ, kỷ nguyên của những con đường thênh thnag bị phá vỡ, cầu đổ sụp, nhà cửa tiêu tan, xe cộ mất lối. Người đô thị tản mạn lên rừng xanh, những cô gái xinh tươi của cuộc đời nhung lụa biến thành những cô hàng nước, những bèo bọt phong trần.Cuộc đổi đời đó thật là vĩ đại và kinh khủng, lay chuyển hết mọi tầng lớp, giai cấp, san phẳng hết mọi chênh lệch vì sang giàu. Nếu chỉ có một trạng thái biến đổi đó thôi thì chưa đến nỗi gay gắt. Đằng này, buồn thế hệ gặm nhấm vào từng lòng người, cái phẫn uất cay chua nhào thành một loại cảm giác kỳ dị, gán lên cuộc sống một hình thức sượng sần khó tả. Cái gì dở, trái, đều được văn chương mới mạng danh bằng những tiếng kêu ròn: tiểu tư sản, phong kiến. Muốn vào trong cái thế giới vừa tân tạo hôm qua, con người bắt buộc phải qua một lớp lột xác, hay ít nhất, cũng phải có ý thức lột xác. Thành ra có nhiều lúc con người băn khoăn tự hỏi mình sao lại phải điêu đứng như vậy, và nếu mình cứ giữ thành phần của mình thì đã sao chưa?

    Nhưng tiểu tư sản lại là một chất nhựa- độc vì người ta bảo thế- đã nuôi lớn một lớp sống trước để cho lớp sống sau này lên án. Sau này món ăn đã khác, tư tưởng đã thay, loạt nhân sinh như tằm ăn lên, đã gặp đúng hoàn cảnh đón tiếp. Còn cái loạt trước, mới đến rầy rà. Máu là máu cũ, ngũ tạng đều thấm lớp men chua, lời nói, tâm tình sặc sụa những lãng mạn.

    Cha tôi rơi đúng vào cái ngã ba đó. Tôi cũng sinh nhằm vào thời đó. Một cái cũ đã chắt chiu ôm ấp một cái mới, trong khi cái mới xung quanh vẫn tìm cách đào thải những nếp sống trái ngược, tôi thấy là cả một chuyện kỳ.”

    Tô Hoài trong hồi ký “Chiều chiều” cũng phân bua về trường hợp Hồ Dzếnh bị từ chối không được nhận việc làm gần gũi với văn chương mà phải qua Gia Lâm làm thợ, cam chịu số phận của một công nhân:

    “…. Hồ Dzếnh đã dịch và in một tiểu thuyết nhật cho nhà xuất bản Thanh Niên. Nhà xuất bản muốn nhận Hồ Dzếnh vào làm. Những cơ quan có trách nhiệm xem xét thấy có thời gian Hồ Dzếnh làm đại diện bên Nhật của báo Thần Chung ở Sài Gòn. Mọi việc báo và xuất bản của các cơ quan khác, chẳng mảy may bàn đến hội, nhưng đến lúc có trắc trở thì bù nhìn chúng tôi được khiêng ra trả lời. Tôi có đọc một bài báo Trần Thanh Địch viết về Hồ Dzếnh có câu trách hội cái sự này. Và Hồ Dzếnh sau đó, đi đường gặp tôi, coi như không nhìn thấy…”

    và một đoạn khác cũng Tô Hoài:

    “Rồi chuyện tập kết giữa hai miền. Trong số người miền Nam ra miền Bắc, hoặc miền Bắc vào miền Nam có những anh em văn nghệ sĩ. những văn nghệ sĩ ở miền Bắc thường tập trung ở Hà Nội, đã vào Sài Gòn với con số không ít. Trong số đông này không có Hồ Dzếnh. Không chỉ thế, Dzếnh còn là một trong số những anh em văn nghệ đi tuyên truyền giải thích, bằng nhiều hình thức, đối với anh em đồng nghiệp đang hoang mang giuã đi hay ở-để giữ chân họ lại. Và sau năm 1954 trong Đại Hội Văn Nghệ toàn quốc, việc anh được bầu vào ban chấp hành Hội Văn Học Nghệ Thuật trong khóa đầu tiên là chuyện không lạ.

    Đầu năm 1956 tôi ở trong đoàn văn công Cải Cách ruộng đất liên khu Tư ra Hà Nội, chuyển công tác sang nhà xuất bản Thanh niên. Cơ quan này đang thiếu một cán bộ biên tập có tay nghề nhờ tôi tìm một người. Tôi nghĩ đến hồ Dzếnh. Và giới thiệu qua đôi nét về khả năng anh. Đồng thời, tôi đến nói chuyện với Dzếnh thì anh rất vui. Đôi cía giấy tờ thủ tục làm xong ngay đó. Một cán bộ trong nhà xuất bản liền sang hội Nhà Văn hỏi sơ qua một lời về Hồ Dzếnh cho tròn trách nhiệm. Nhưng một vị ở đây đã tỏ vẻ ngập ngừng. Vị ấy bảo rằng “hãy thong thả chút đã “và thế là xong. Nghĩa là không xuôi. Một lời nói. Không có công văn. Không có chữ ký. Không có khuôn dấu.

    Tôi đến tìm Hồ Dzếnhvà nói lại mọi sự việc. Anh có hơi đổi sắc mặt một tí tẹo, nhưng miệng vẫn cười. Một cái cười cam chịu nhẫn nhục. Xem như đây chỉ là chút “không may” được nhích thêm vào chuỗi dài không may trong đời mình.

    Thế là cuối cùng. Dzếnh trở thành một công nhân. Thực thụ là người thợ cầm búa qua nhiều năm tháng…

    Nhưng có người lại nghĩ khác đi. Hồ Dzếnh bị trù úm vì đã viêt bài thơ “Nhớ Nguyễn Sơn”, một tướng tư lệnh liên khu Tư rất có cảm tình và giúp đỡ văn nghệ sĩ rất nhiều.Nhóm Nhân văn Giai Phẩm khi tướng này mất cũng viết nhiều bài Khóc Nguyễn Sơn và cùng đăng vơi 1 bài của Hồ Dzếnh. Lữ Giang viết: ”anh có nhiều cảm tình với tướng Nguyễn Sơn nhà quân sự rất yêu văn nghệ sĩ nên bài báo Nhớ Nguyễn Sơn của anh cũng được chú ý.” Và vì “được chú ý” nên muôn năm vẫn phải lao động chân tay, quai tay búa để thay cho cầm bút, như thế còn lòng dạ nào để sáng tác nữa?

    Quyển truyện Không Tên mang rất nhiều tâm tư của Hồ Dzếnh. Mảnh đời đau thương biểu lộ, ngoài tấn thảm kịch còn lồng trong những suy tư về văn nghệ, về thế thái nhân tình, về cái buộc trói của chính trị vào văn hóa. Có lúc, ông cũng muốn cầm bút như kiểu theo dòng của cung cách “quốc doanh”. Nhưng những bài thơ ấy, chỉ là những âm vang mất biệt không dấu tích. Như bài thơ “Bến nước Thanh Trì”, “Khúc hát cầu phao”, “Ngày ấy xuân về “… Dù cố gắng đi theo “Cách mạng”, nhưng ông viết khó khăn và hầu như bỏ bút để kiếm sống. Ông chua chát:” Con mắt thời đại đã khác. Nó sắc và to, không có rèm mi nào dịu. Tôi, tôi ưa nhìn thực tại với chút bóng dịu dàng dẫu là chút bóng mơ mộng..”Chán nản cực độ hơn: ”Nào hành lý vợ con, nào áo quần tư tưởng. Mắt ta đã mù. Lưng ta đã mỏi.. Con người văn nghệ ngậm kín nỗi đau lòng…” Kỳ quặc thay là cái chế độ mà “tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, phải có xen vào công trình tập thể.”

    Có lúc, nhà thơ bi quan như muốn quyên sinh. “Nằm đây tưởng chuyện ngàn sau/ lung linh nến cháy hai đầu áo quan/ gió lìa cành lá không vang/ tin ta vĩnh quyết trần gian hững hờ”. Đời sống toàn bi thảm, những đoạn đường trần chông gai bít lối, nên cái đau đớn, cáo nỗi niềm như cũng bị khâm lịệm theo. Người nằm trong ba tấc đất nhưng vẫn còn đó nỗi đau nhân sinh:

    “ngậm ngùi nhớ trắng rừng mai
    cảm thương sông nước ghi bài điếu tang
    ngựa gầy bóng gió mênh mang
    cờ đen lối cũ, cây vàng nẻo xa
    ta nằm trong ván trông ra
    tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười
    ta toan … giận dỗi xa đời
    chợt hay: khăn liệm quanh người vẫn thơm
    nát thân không nát nổi hồn
    lẩn trong cái chết vẫn còn cái đau.”

    Ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân in tập thơ Quê Ngoại II – Tiếng hát thiên nga. So với tập thơ đầu thì tập này chỉ có giá trị từ những kỷ niệm đời của Hồ Dzếnh, in thơ lại như một cách thế để tưởng niệm. Phần nhiều những bài thơ là để tăng riêng cho hai bà vợ: bà Hồng Phúc và bà Hồng Nhật. Có nhiều bài thật cảm đông như bài tặng bà Nguyễn Thị Hồng Nhật:

    “Mình vừa là chị là em
    tấm lòng người mẹ trái tim bạn đời
    mai này tới phút chia đôi
    hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
    Xót mình đã lắm thương đau
    Tôi xin làm kẻ đi sau dỡ mình
    Cuộc đời đâu phải phù sinh
    Nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!”

    Viết về bài thơ này, Mai Quốc Liên đã bình như sau:

    ”... Thật là cổ kim chưa có một bài thơ nào lớn như vậy. Tôi có dẫn lời ông Viên Mai bình một bài thơ hay ngày xưa, nói rằng “lời tuy giản dị nhưng đọc lên làm người nghe biến cả thần sắc và dù cho Đỗ Phủ, Lý Bạch sống dậy cũng phải cúi đầu.

    Thật vậy bài thơ này là kết tinh tình cảm giữa anh chị trong mấy chục năm chia sẻû, gắn bó, thăng trầm và là lời nói sau cùng vĩnh biệt người bạn đời. Nó là viên ngọc của văn chương Lời giản dị mà thốt tự đáy lòng làm người đọc ứa nước mắt.

    Hôm tôi đọc xong thì liền có mấy nữ sinh viên Đại Học Y Khoa dự ở đó mượn để chép lại Đặc biệt câu cuối của bài thơ thật là một triết lý phù sinh rất lớn lao:” Cuộc đời đâu phải phù sinh/ nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!”

    Có một người bạn trẻ tri kỷ được Hồ Dzếnh làm thơ tặng. Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu người đã viết “AI điếu cho một giai đoạn văn học minh họa”. Một bài “Cầu Giát “viết bên giường bệnh bạn và bài “Cỏ lau “viết nhân ngày giỗ đầu bạn. Trong “Cầu Giát” có những câu : ”cái đẹp thiêng liêng đích thưc/nỗi đau truyền kiếp văn chương? Anh bnạ đi tìm chân mỹ/bao giờ tới đích hành hương...” Và trong “Cỏ lau”: “giã từ nhé, Nguyễn Minh Châu/trang văn tâm huyết chiều sâu ân tình...”

    Phần đông những bài thơ trong Quê Ngoại II đều tăng bà Hồng Phúc, có bài chân thành cảm động, như bài Giản dị:

    Em ăn, em nói, em cười
    Kiếp này không có hai người như em
    Kinh thành quần nhiễu, hàng len
    Em tôi áo trắng, quần đen sơ sài
    Ai mà để ý vào ai
    Quần đen lẩn bóng áo gai lẩn mầu
    trên đời hai đứa yêu nhau
    quần đen hóa đẹp, áo sầu hóa vui
    Tình là hạnh phúc chia đôi
    Hương lan kẽ đá trăng soi dậm trường
    Đừng mong ước cả thiên đường
    Hãy xin lấy nửa tấc vươờn vắng hoa.”

    Khi cuối đới Hồ Dzếnh dự trù sẽ viết “Chân trời Mới” về xã hội hiện tại để đối chiếu với “Chân trời Cũ” thuở xa xưa. Nhưng, dự định vẫn chỉ là dự định. Có lý do sức khỏe nhưng cũng có lý do là với tâm thức như thế khó lòng mà viết được một chân trời sáng lạn...

    Từ những tác phẩm đã in cũng như những di cảo được phổ biến, thơ và văn Hồ Dzếnh như những tiếng than tận trong phế phủ, bị trầm uất và nén tới tân đáy lòng. Đau đớn đã hòa vào trong máu huyết để mỗi câu văn, mỗi lời thơ là những giọt máu hồng thành mực cho ngòi bút...


    15.12.2007
  6. Nghĩ về một tập thơ


    Một buổi tối chủ nhật, sau một ngày lăng quăng chơi đùa, giở cuốn sách tìm giấc ngủ. Chợt nhớ đến cái cười tít cả mắt của Cao Bá Minh khi đưa tập thơ của Nguyễn Đức Liêm buổi sáng, tôi cầm lên và.. đọc. Tập thơ có cái bìa khá lạ. Một chữ S lớn làm nền và hàng chữ viết thảo bay bướm : “Chàng Liêm mái tóc điểm sương mới về” và góc dưới chữ S là hàng chữ in nghiêm trang: Nguyễn Đức Liêm.

    Vào trang trong là:
    Ở lại vì chót tin
    Ra đi vì tuyệt vọng
    Trở về vì lạc lõng
    Vong thân..

    Và thế là tôi đã bước vào một thế giới mà thi sĩ gọi là “thơ tùy bút”. Thơ hay tùy bút là chính, tôi tự hỏi. Thơ ? Tùy bút? Nhưng rồi ý tưởng ấy nhạt đi. Tôi nhớ lõm bõm, trong cuốn “Conversations with Czeslaw Milosz”, người phỏng vấn đã có cả một chương sách hơn bốn chục trang để hỏi về sự phân biệt giữa tản văn và thơ văn xuôi. Và, câu trả lời có cái biên giới khá mơ hồ với những yếu tố trừu tượng khó phân định. Thì bây giờ, phân biệt làm gì giữa tùy bút và thơ, nhất là với thơ Nguyễn Đức Liêm…

    Vui thôi mà! Tôi nhớ đến câu nói của thi sĩ Bùi Giáng khi làm thơ. Và bây giờ tôi cũng bắt chước để kêu như thế khi đọc thơ Nguyễn Đức Liêm. Thơ của ông có ngôn ngữ và hình ảnh của sự pha trộn, từ đời sống thường, có lúc nghiêm trang có lúc bỡn cợt. Thơ, đối với ông là những mạch suy nghĩ cứ nối tiếp nhau theo dòng. Ẩn náu ở trong đó, là một tâm trạng khá đặc biệt của một người sống trong cơn đồng thiếp.

    “Chàng Liêm mái tóc điểm sương mới về“ đích thực có căn nguyên từ một du ký. Hay là một cuộc trở về thì đúng hơn. Nơi về là Hà Nội, với cảnh với người.

    Cảnh, là ba mươi sáu phố phường của ngày xưa lúc chưa di cư, của kỷ niệm và của Hà nội bây giờ, của thành phố ồn ào bụi bậm bây giờ. Cảnh của quá khứ và hiện tại trộn lẫn biểu hiện bằng ngôn ngữ lúc thì thời thượng, lúc thì ngang ngang, nhiều ngoại ngữ chen lẫn và nhiều ý tưởng bất ngờ chen vào. Như:

    Ư đê Yên Phụ không còn
    Người nêm Quảng Bá xe ôm Nghi Tàm
    Hồ Tây bóng cậu mênh mang
    Đồng cô Trúc Bạch ngỡ ngàng nông sâu
    Cổ Ngư nằm giữa thương đau
    Thanh Niên sao nỡ bắt nhau về vườn…

    Người, là những nhân dáng của sĩ phu Bắc Hà, được nhìn ngắm bằng những câu lục bát phá thể, nghe tếu tếu vui vui:

    Này cô em mắt lưng tròng
    Kìa ông anh kẻ lưu vong mới về
    Ôm nhau cải táng sơn khê
    Hương linh bố cái mô tê đất trời
    Bao nhiêu sự cố lôi thôi
    Trên con sông đó đầy đời dân đen

    Một nửa Bùi Giáng, một nửa.. Bút Tre, có phải? Phân vân khi tôi đọc:

    * Bàn tay Xuân Diệu đi tuần
    Trên lưng Huy Cận phân vân hay Cù

    * Chúng chê Tú Mỡ vụng tu
    Sao không phản ánh đòn thù “anh Tam”

    *Tiến sang tây quát lên vang
    Ngậm tăm Quang Dũng phi tang đôi bờ

    * Hữu Loan trợn mắt ngu ngơ
    Đẩy xe ba gác treo cờ hoa sim

    * Sống nhồi tim chết đứng tim
    Cục u lịch sử gọng kìm trung ương

    “Le mal du siècle khẩn trương
    liên danh Đức Thảo Mạnh Tường cân phân

    * phủi tay công quả nhân dân
    người người lớp lớp Trần Dần truân chuyên

    * bõ công O chuột cửa quyền
    Nghĩa Đô lên giọng Nguyễn Sen Tô Hoài

    * "Đàn anh” Tố Hữu đăng cai
    trăm năm trong cõi quan tài Stalin

    * Điêu tàn biến Chế Lan Viên
    trường thơ loạn đỏ máu miền Chiêm nương

    *Nam Cao viết lại điển chương
    Vượn ơi mày chỉ đoạn trường theo tao

    * vang lừng trên sóng Văn cao
    thoái âm ba tiến đào nguyên tươi

    *Hoàng Cầm kiếm lá lôi thôi
    Diêu bông đối đãi cung trời làng Sen

    * Bóng Lê Đạt chữ mon men
    Trường ca bác chú bõ bèn gì chăng

    * Mặc cho họ mất thăng bằng
    Nguyễn Hữu Đang đứng thẳng băng trời trồng…

    Và, còn nhiều khuôn dáng nữa Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phùng Quán, Nguyễn Chí Thiện, Phùng Cung của Hà Nội sĩ phu Bắc Hà, Cũng như của người thanh niên tử sĩ hy sinh trong cuộc chiến tương tàn:

    Riêng tôi ngồi chết lẻ loi
    Trong “tăng" xích sắt cột lòi xương chân
    Dám xin thưa trước nhân dân
    Số lùi được báo không cần cho “tăng”
    Số lùi bị phá rối “tăng”
    Chỉ còn số trúng cỗ săng chiến trường…

    Đọc tới đoạn thơ “tùy bút“ kể lại câu chuyện chàng chơi gái ở khách sạn bị lừa, có mấy ai không cười mỉm. Tưởng là một nữ nhân mặt hoa da phấn dè đâu là một chàng đực rựa giả hình. Quái lạ, thơ mà sao như chuyện tiếu lâm. Nhưng, lại thấy mường tượng một đời sống mà ở đó giả thực trộn lẫn, cũ mới bất phân. Ở đó, thơ hay ngôn ngữ đời thường là một. Ở đó, tâm tư bùi ngùi hay bỡn cợt là một. Đọc thơ, có khi như nhai lại một món ăn hiện thực bằng đời sống. Có cay của ớt và có chua của giấm…

    Đọc xong tập thơ, trong tôi là một điều gì lẫn lộn khó tả. Thơ? không phải thơ ? nói ? Mà không phải nói? Cười? mà không phải cười? Đùa? mà không bỡn cợt? Trang nghiêm? Đùa chơi?… Thiệt là lơ lửng … Thiệt là phân vân. Nhưng lại bật cười xòa. Khi nhớ lại câu nói của thi sĩ “thứ thiệt” Bùi Giáng khi làm thơ “Vui thôi mà!”. Có phải tôi đang đi lạc trong một cái nhếch cười?

    2.12.2007
  7. "Dấu binh lửa" và Phan Nhật Nam,
    một thời chinh chiến.



    Những năm của thập niên 70, có lẽ là những năm đẹp nhất của cuộc đời tôi. Ở tuổi mới lớn, nhìn mọi sự việc đơn giản, cái lãng mạn của tuổi trẻ đã mang sự suy nghĩ đi xa hôn thực tế cuộc sống. Lúc ấy, chiến tranh bắt đầu tàn khốc. Những người bạn cùng lớp, có đứa đã mặc quần áo lính và cũng có đứa đã nằm xuống với lá cờ vàng ba sọc đỏ trên mộ và hàng chữ tổ quốc ghi ơn. Vào giảng đường học đại học, thi rớt một năm là vào quân trường ngay. Trong cái không khí ấy, chúng tôi đã đọc những trang bút ký chiến tranh của những người đi lính trước, để tưởng tượng ra những khổ nhọc mà sau này, khi đã bắt đầu đoạn đường chiến binh sẽ hiểu thấu. Có những bài viết, làm xúc động sâu xa. Có những câu thơ mang đến sự chia sẻ tột cùng.

    Chúng tôi đọc Nguyễn Bắc Sơn. Chúng tôi đọc Phan Nhật Nam. Thấy “Chiến tranh Việt Nam và tôi”. Thấy “Dấu Binh Lửa“. Thấy “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Thấy những người chết và những người đang lầm lũi trong khói lửa chiến tranh.

    Như Đỗ Quý Toàn đã đọc “Ngày mưa đọc lại Dấu Binh Lửa”, với những cảm giác bàng hoàng, của những thiên anh hùng ca tàn khốc, vỡ vụn:

    “ngày mưa đọc lại Phan Nhật Nam
    trời bỗng xầm đen tóe sấm sét
    mặt đất ào ào trận pháo tuôn
    trong thành phố tử thần co quắp
    viên đạn cuối cùng đã bắn đi
    người chết giữa trời trên đồng cháy
    hồn anh thảng thút bay lên không
    suốt dọc Trường Sơn đất run rẩy
    mặt trời chưa thấy đêm dài ôi
    từng khối lớn mênh mang đặc cứng
    qua khe nhìn lại đồi C2
    nhớ lại anh em ta nằm xuống…”

    Chiến tranh, là những điều quái gở, là chuỗi dài chém giết cả mấy chục năm, như Nguyễn Bắc Sơn thổ lộ:

    ”Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
    Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
    Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
    Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
    Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
    Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
    Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
    Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
    Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
    Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
    Lũ chúng ta sống một đời vô vị
    Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
    Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
    Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc
    Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
    Và máu xương làm phân bón rừng hoang.”

    Những bài hát, có hình dáng chiến tranh, có khăn tang cô phụ, có hình tượng của một thời núi xương sông máu, dù phản chiến hay cổ võ chiến đấu, với lời ca từ làm nhỏ lệ chúng tôi. Thân phận con người trong cơn bão lốc như chẳng còn chút giá trị. Viết về một thời đại ấy, là kể lại những kỳ tích mà mấy chục năm sau, lớp tuổi trẻ tiếp theo lớn lên khó tưởng tượng nồi. Dù rằng, những tác phẩm ấy chỉ nói lên một phần không toàn diện cuộc chiến.

    Một nửa, là dòng chữ Phan Nhật Nam, một nửa là câu văn Bảo Ninh. (Tôi chỉ nói Bảo Ninh của Nỗi Buồn Chiến Tranh thôi, còn Bảo Ninh bây giờ của “Tản mạn trên đường bị kẹt xe: thì hiện nguyên hình là một … văn nô có đẳng cấp). Chiến tuyến phân đôi khiến hai bên chỉ nhìn thấy ở phận mình. Nỗi niềm riêng, của những người bắt buộc lao vào cuộc chiến. Bao nhiêu năm qua, thống hận đã hết nhưng đau xót vẫn còn. Những vết thương vẫn chưa lành miệng…

    Nhưng, có người nói bây giờ mà đọc bút ký chiến tranh của thời xa xưa ấy thì hơi … chậm tiến. Chiến tranh đã qua lâu lắm rồi đã hàng nửa thế kỷ, bây giờ nhắc lại có ích gì, như hành động cứ moi mãi vào vết thương tâm của cả một dân tộc.

    Viết bút ký chiến tranh, là phản ánh lập trường chính trị một cách chủ quan, chỉ là một cách nhìn của một phía và chỉ soi rọi đến một nửa chân lý mà thôi. Đọc những trang sách viết về chiến tranh, chúng ta có thể rõ ràng mường tượng vị trí chính trị. Từ Phan Nhật Nam đến Bảo Ninh, từ Trần Hoài Thư đến Trần Mạnh Hảo,.. dù thời điểm sáng tác có khác, dù hoàn cảnh, môi trường có khác, chiến tuyến có khác nhưng những giòng chữ viết của họ phần nào nói lên được tâm cảm của người lính trong bão lốc chiến tranh…

    Nhưng, trên phương diện văn học sử, những tác phẩm như Dấu Binh Lửa, như Nỗi Buồn Chiến Tranh,.. chính là những ghi chép lại của tâm tư một thời, những ngày khốc liệt nhất của lịch sử. Khác với vai trò của một văn công tuyên truyền, họ mang cái lửa của những người tuổi trẻ sống trong một thời kỳ không thể có một quyết định nào khác hơn là cầm súng. Những người không thích chém giết mà vẫn phải lao mình vào lửa đạn.

    Tôi đọc Phan Nhật Nam trong tâm cảm ấy. Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Mùa hè Đỏ Lửa, là những bút ký ghi lại một thời mà chúng ta đều gắng quên mà phải nhớ. Một thời kỳ mà những suy tư đã dằn vặt lên những “con người“ biết nghĩ đến phát điên lên được. Thực tế lịch sử đã tròng tréo lên nhau hết mắc míu này đến liên hệ kia. Những thế lực ngoại quốc chi phối, những tâm cảm bức bối nhược tiểu, những con đường đi ít có ánh sáng mặt trời. Tuổi trẻ bị đẩy vào mê cung và quanh quẩn lồng lộn trong những chấn song giới hạn như trong một bẫy rập.

    Hình như, bút ký chiến tranh Dấu Binh Lửa đã gây nên rất nhiều phản ứng trong giới cầm bút. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn đã cho rằng đây là một kiệt tác viết về chiến tranh. Nhà báo Chu Tử cũng phát biểu như thế. Những dòng chữ, viết bằng máu và mồ hôi của một chiến trận có thực và những phẫn nộ có thực đã thuyết phục được người đọc. Đến nỗi, những người cầm bút phía đối nghịch bên kia như Tô Hoài và Nguyễn Tuân cũng phải nhận rằng quả thực Phan Nhật Nam đã viết tác phẩm của mình bằng máu, nhưng là một loại máu bị nhiễm độc. Và, khi chấm dứt chiến tranh, Phan Nhật Nam đã nếm biết bao nhiêu đòn thù, với những ngày biệt giam dài dằng dặc.

    Dù ở bất cứ một nhãn quan chính trị nào, ở những kết luận, đều chung một nhận định, chữ viết của Dấu Binh Lửa, Mùa Hè Đỏ Lửa là những dòng chữ của văn chương mang nỗi niềm của tuổi trẻ một thời đại rất là đặc biệt Việt Nam.

    Trước khi là lính, Phan Nhật Nam là một sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi để ý thấy ông ít tôn sùng một thần tượng nào, nhưng khi nhắc về Trường Mẹ của mình, ông đã viết với sự tôn trọng. Hơn nữa, với cả một tâm tình đằm thắm mà ông đã có từ thuở hoa niên. Những người, mà ông gọi là thầy, là niên trưởng, hay niên đệ, trong văn chương ông, đều có nét chung mang nhân bản, của những mẫu người yêu đất nước và mong muốn hòa bình dù phải bắt buộc cầm súng. Những lời ông ngỏ, như những tâm sự gửi đến, để chia sẻ : “…Tôi ở lính tám năm, năm nay 26 đi lính năm 18 suốt tám năm của một thời lớn lên tôi đem tặng hết cho quân đội, không phải đến bây giờ tôi thất vọng chán nản vì công danh không toại ý, cuộc sống bị ép buộc không đúng như mơ ước nên cay cú hằn học với nhà binh. Không như vậy, tôi đi lính năm 18 tuổi vào học trường tình nguyện ra làm ông Quan một. Chẳng có ai lôi kéo tôi vào trường ấy, tôi tự động hăng hái hãnh diện để trở thành một Sinh Viên Sĩ Quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình một hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời mọc. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừng thông hương nhựa thông tỏa đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng… Chuyển quân trong sương đêm, trong mây mù, ánh lửa mục tiêu của một đêm đông, trong hốc núi hoang vắng, thế giới mạo hiểm giang hồ của Jack London phảng phất đâu đây…

    Tôi say mê và thích thú với những khám phá mới mẻ đó. Nắng cao nguyên trong những ngày cuối năm vàng tươi rực rỡ, đứng ở đồi nhìn xuống hồ suối Vàng trong vắt yên lặng, người như muốn tan vỡ thành muôn ngàn mảnh nhỏ theo cơn gió bay chập chờn qua vùng đồi trùng điệp và tan đi trong nước hồ xanh ngắt…”

    Không phải cảm giác và tâm tưởng ấy là của riêng tác giả Dấu Binh Lửa. Mà hình như của chung những chàng lính ”sữa“ quân trường. Huấn nhục không làm vơi chất lãng mạn mà còn tạo thành một truyền thống để những cực nhọc thăng hoa thành những kỷ niệm đẹp một thời.

    Đà Lạt, phong cảnh hữu tình, người cũng đẹp và trời đất bốn mùa cũng có nét đẹp cách riêng. Sống ở trong môi trường ấy, óc tưởng tượng đã phát triển để thấy được cái lồng lộng vô biên của cuộc nhân sinh. Thực tế cũng có nhiều trắc trở, ngày tháng rồi sẽ kéo dài những mệt mỏi, nhưng trong rực rỡ những hy vọng vẫn là những bản hoan ca của một tuổi trẻ thanh xuân. Không phải là những bài hát mị lính rẻ tiền kiểu “anh tiên tuyến em hậu phương” mà là những tâm tư chất ngất hùng tráng của những câu thơ hào hùng thuở nào nhắc đến một thời trăng treo vó ngựa. Phan Nhật Nam viết về những ngày ở Trường Mẹ : “.. Phải nói thật những ngày ở lính đầu tiên của tôi đầy trong sáng và đẹp đẽ. Trong sáng như giấc mơ của số tuổi 19, giấc mơ mù mờ có cánh chim trắng bay chậm rãi qua rừng thông… nhưng đời sống nhà binh không hẳn là vậy, nó còn có sĩ quan cán bộ, có nghi lễ, có đủ những phiền toái hỗn độn mà đời sống dân sự không ai nghĩ ra được… Nên khung trời đầy sương mù bí mật ngoài khung cửa sổ hiện ra như một thách thức đối với đời sống kìm kẹp của tôi hiện tại.

    Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về phía thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tưởng như có một tiếng gọi của đời sống ở bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhở thúc gịuc, một đời sống thực sự tôi không có. Từ khung cửa sổ nhìn xuống những dàn đồi im lặng chạy dài trong sương mù và đằng xa ánh đèn xanh của vườn Bích Câu ma quái diễm ảo, tôi thấy rõ trong tôi có một nỗi cô đơn khủng khiếp hiện hình sừng sững. Những lúc ấy tôi thấy được con người thực của mình, một gã trai trẻ viễn vông, thấy rõ những cười đùa ban ngày, những buổi học, bữa ăn tập thể không ảnh hưởng gì đến con người trong tôi không thể có được một ý niệm về chuyên môn quân sự mà bằng tất cả mọi cách nhà trường cố nhét vào trong đầu óc. Những đội hình tác chiến, cung cách chỉ huy, chi tiết kỹ thuật về vũ khí trôi qua trí não mơ hồ như một cơn gió nhẹ. Hai năm sống ở mái trường đó như một cơn gió phiếm du. Những giây phút thực nhất là phiên gác nửa đêm về sáng dưới ánh đèn pha của vọng gác kho đạn tôi khám phá được một thế giới của cây cỏ đang thở, đang lớn lên, những giây phút khoảng năm giờ sáng, sau phiên gác nhìn xuống phòng sĩ quan trực, người lính kèn im lặng đưa lên môi thổi bài kèn báo thức. Và giây phút thực nhất không gì hơn suốt ngày chủ nhật một mình một ngựa chạy như bay vào hướng đồn Daksard. Con đường đỏ còn ướt sương đêm, trời chưa tan hẳn mù, ngựa phi như gió cuốn, ngựa đi vào trong một vùng mù đặc, rừng thông chuyển động ào ào, cả trời cao nguyên tan biến chập chờn theo vó ngựa. Kết quả sau hai năm ăn nhờ chánh phủ tôi được biến thành ông quan Một ra trường đi binh chủng hung hãn nhất…”

    Vào lửa đạn, đi qua từ những chiến trường này đến trận chiến nọ, trải qua bao nhiêu thăng trầm binh nghiệp, bao nhiêu lần thương tích, bao nhiêu lần thấy cái lý tưởng thời xưa bị vầy đạp, vẫn thấy, sáng ngời những ngày tháng quân trường, vẫn thấy, niềm hãnh diện xuất thân từ ngôi Trường Mẹ vẫn chưa nhạt phai : ”… Tôi ra trường năm 1963, thời gian chiến tranh bắt đầu nặng và hỗn loạn không phải chỉ thuần túy ở sự kiện chiến tranh nhưng đã bắt đầu gây mầm bùng nổ ở lòng người. Lẽ tất nhiên là sĩ quan nhà nghề, xuất thân từ quân trường mà quyền hành của khóa đàn anh không phải chỉ để thi hành kỷ luật nhưng là một ám ảnh khủng khiếp cho khóa dưới. Chỉ một cái quắc mắt của Nguyễn Xuân Phúc (khóa 16) khi bước lên bục gỗ, hai trăm người của khóa tôi co rúm tê liệt như con nai chết trước nhãn quan khủng khiếp của con hổ. Một sinh viên sĩ quan khóa 19 vì quá sợ niên trưởng nên dù trái lựu đạn đã bật kíp nhưng cũng không dám ném đi vì chưa nhận được lệnh (trong bài học ném lựu đạn tất cả các động tác đều theo lệnh) nên hậu quả trái đạn nổ trên tay….

    Tôi biến thành một người lính thực thụ, trận lớn, trận nhỏ, chiến dịch hai tháng, ba tháng, dài ngắn, từ Sài Gòn trở ra Bến Hải, tôi đi đủ. Những địa danh xa xôi bất kỳ một xó xỉnh hiểm hóc nào của miền Nam này tôi cũng có thể biết rõ một cách tường tận. Từ những miền quá nổi tiếng như khe Sanh, Cồn Tiên đến những làng nhỏ từ cửa Việt đi ra : Diêm hà Trung, Diêm Hà Nam, cái làng nhỏ cuối thung lũng sông Kim Sơn, làng Hà Tây, đèo ông Hổ đổ xuống Phù Củ ra Phù Ly, Phù Cát thẳng đến biển là núi Lồi, đầm Trà Ổ, xuống phía Nam là đầm Nước Ngọt. Lên đến Pleiku, trực thăng vận xuống phía Nam Biên giới Lào Việt đầu ngọn sông Ia-Drang… Đâu đâu tôi cũng đến. Năm thứ nhất, năm thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc; góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu là không ở ngoài, không chạy trốn trong khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự đang ngã chết. Dù bên này hay bên kia, chết trong thù hận…

    Những người đang đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống….”

    Chỉ có người ở trong cuộc mới hiểu được nỗi nhọc nhằn của một cuộc chiến phi lý. Ngoài tiền tuyến hy sinh, trong khi hậu phương thì bị phá nát bởi những tên vô trách nhiệm không một chút ý thức nào về dân tộc và quốc gia. Có những người trước khi vào lính là những sinh viên hay biểu tình tranh đấu nhưng khi gia nhập quân ngũ lại cảm thấy giận dữ khi máu xương và mồ hôi của mình và đồng ngũ mình bị phí phạm một cách cực kỳ vô ích. Cũng như, có những người lính, sau nhiệm vụ của mình, đã cầm bút như một cách thế để nói lên nỗi niềm tâm sự của mình. Thú thực tôi cũng không tâm đắc mấy với những ngôn từ như nhà thơ lính, nhà văn lính. Ở một thời kỳ mà tất cả sinh lực, tất cả những tinh hoa của đất nước đều dồn hết vào quân đội thì chữ lính đi sau có phải là thừa thãi không ? Nhà văn, nhà thơ là đủ rồi, hà tất còn phải thêm chữ lính làm gì? Đâu có phải đó là dấu mộc của tấm giấy chứng nhận tại ngũ để trình cho cảnh sát đứng gác đường xét hỏi… thời chiến tranh, mọi người phải hoàn tất nhiệm vụ của mình với đất nước, với xã hội mình đang sống…

    Tôi nghĩ đến cái mộng ước của đại tá Trần Ngọc Huyến, chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt một thời. Ông muốn hình thành một lớp quý tộc mặc quân phục với tiêu chuẩn văn võ toàn tài. Từ bước đầu rèn luyện ở quân trường, không phải chỉ là những kiến thức về quân sự về chuyên môn, mà còn cả những phương cách để học làm người nữa. Một mẫu người kiểu mẫu cho một thời đại. Bằng mọi cách, với tất cả nỗ lực ông kiến tạo một tiêu chuẩn mẫu mực mới cho phong cách và chân dung một sĩ quan hiện dịch. Tiếc là thời gian đã không đủ để có một trắc nghiệm chính xác. Nhưng, từ những người con xuất thân từ Trường mẹ, họ đã không làm phụ lòng những mộng ước mong mỏi trên. Địa linh thì có nhân kiệt. Đỉnh Lâm Viên vòi vọi cao nhưng không phải là chẳng thể vượt qua.

    Bây giờ, đọc những trang sách, lại thấy phảng phất đâu đây mùi nhựa thông buổi sáng hay mầu hoa quì vàng làm ngây ngất lòng người cái sương mù bây giờ ở xứ người có làm nhớ đến màn sương mù đặc của Phan Nhật Nam thuở trước ? ai làm người lính gác đêm, nhìn thành phố mờ tỏ ánh đèn có thấy xao xuyến nỗi nhớ mong nào đó? Kỷ niệm sẽ rất đẹp, khi lúc ta đang tuổi xuân, lòng bừng bừng men rượu của cuộc sống sắp đến. Đà Lạt, nơi có những người lính alpha đỏ trên vai, và những cô gái nữ sinh Bùi Thị Xuân, Couvent,.. đầy e ấp. Ở đó có những mối tình đẹp nhưng cũng có những chia tay buồn bã. Hoa mimosa, hoa anh đào, hoa quì có một buổi nào nở rộ? Những người lính, lên đường mang giấc mộng của mình đi đến chiến trường, nơi trăng treo vó ngựa, nơi sinh tử mịt mù.?

    Và với Phan nhật Nam, trong câu chuyện kể hoài không đủ, viết ngàn chương thiếu một tờ, biết đâu, về sau, những lớp con trẻ lớn lên đã thấy được những cảnh ngộ của cha ông trong một thời lịch sử qúa nhiều phức tạp…

    Với tôi, có một kỷ niệm nhỏ và một bài thơ. Bình sinh tôi rất yêu mến những người lính nhảy dù. Ở đó tôi nhìn thấy họ qua những sự hy sinh những gian khổ vô bờ và cả những chiến tích hiển hách. Tôi có nhiều đứa bạn, đã hãnh diện vì mầu nón đỏ trên đấu và ra đi rất sớm trong chiến trận. Những năm của thập niên 80, khi Phan Nhật Nam còn bị dập vùi trong lao ngục tôi giở cuốn sách tái bản ở hải ngoại “Mùa hè Đỏ lửa” và tự nhiên nhớ lại một thời chinh chiến đã qua. Tôi viết một mạch với cảm khái bừng bừng của một người sống lại những ngày dĩ vãng:

    Đọc Mùa Hè Đủ Lửa, nhớ tới Phan Nhật Nam.

    Mùa hạ gió bạt đồi Quảng Trị
    Cát bay con chốt mịt mù trời
    Trang sách máu loang dòng bi ký
    Ngôn ngữ tan tành miểng đạn rơi
    Đếm thử bao nhiêu năm binh lửa
    Bao nhiêu cái chết tựa trò chơi
    Bão cát trăng treo rừng vó ngựa
    Trường hành thảng thốt ánh sao khơi
    Dựng một lá cờ trên cõi chết
    Mặt trời phải mọc sáng hôm nay
    Cổ thành thi gan với nhật nguyệt
    Nhìn lên bờ tường buốt ngón tay
    Mùa hạ không bình yên An Lộc
    Giàn hàng ngang đại đội xung phong
    Da thịt nổi gai miền tàn khốc
    Nhịp tim nhảy bước chiều mênh mông
    Vào Xa Cam bắt tay thằng 8
    Sương xuống hay là khói cơm chiều
    Ngồi hố cá nhân chiều ảm đạm
    chiều hoang cháy xém nỗi đìu hiu
    nón sắt còn đây đâu người lính
    giầy trận bước lầy nẻo máu xương
    địa ngục thiên đàng trời sẵn định
    đỏ thẫm máu loang những tấc đường
    mùa hạ nắng hờn chiều biên trấn
    Charlie có phải pháo đang gào
    Sườn đá lở lói núi tự vẫn
    Bè bạn anh em ở chốn nào?
    Một trăm ngày kéo dài chiến trận
    Đứt hơi người chết trẻ như mơ
    Đen tỏa khói un vào vô tận
    Sự sống như cành cây chết khô
    Sau lưng C bốc lửa ngọn
    Xuống mãi, xuống hoài ngút vực sâu
    Đêm vỡ vụn những hồi chấn động
    Mặt trời, mặt trời ở chỗ nào?
    Tân Cảnh, Đồi Gió, bờ Thạch Hãn
    Đất quằn quại hai tiếng Việt Nam
    Cỏ lá ít hơn miểng bom đạn
    máu chảy sôi bờ ngực bàng hoàng
    tuẫn quốc vong thân người vắng mặt
    đêm nay gió chướng rủ nhau về
    lòng tạnh không sao có nước mắt
    bút mực nào thê thiết cơn mê
    nhìn bạn hữu anh em trang sách
    tưởng tháng ngày bão lửa chưa quên
    vết sẹo cũ còn nguyên dấu rạch
    da thịt nào trời đất ngả nghiêng
    Ơi Phan Nhật Nam dòng chữ viết
    Đỏ hồng ngôn ngữ máu còn tươi
    Đầy đọa ngục tù đâu làm chết
    Màu xanh lịch sử vẫn tinh khôi.

    Bài thơ tôi viết vào tháng 5 năm 1989, khi ở hải ngoại đang trong những ngày tưởng nhớ về một thảm nạn lịch sử của dân tộc. Đến nay, gần hai chục năm, Phan Nhật Nam đã sang định cư tại Hoa kỳ và vẫn tiếp tục công việc của một người lính dù bây giờ không còn gươm súng. Cuộc chiến đã tàn nhưng ảnh hưởng vẫn còn và vẫn là niềm đau xót từ một cuộc nội chiến xen vào chiến tranh ủy nhiệm của các đại cường. …


    2.12.2007
  8. Văn chương và chính trị
    trong trường hợp Orhan Pamuk...


    Có nhiều người nghĩ một cách nông cạn rằng những bài phỏng vấn không có tính sáng tạo văn chương mà chỉ là một công việc dựa dẫm vào công trình của người khác để tạo thành tác phẩm, chữ viết của mình. Có lẽ họ chưa đọc hoặc không đọc những bài phỏng vấn thần sầu của Granta, của Paris Review mà ở trong đó cả hai người hỏi và trả lời đã làm hiển lộng tất cả tài năng và kiến thức để tạo dựng ra những bài thật là giá trị vừa đầy nét sinh động vừa chan chứa sáng tạo và khám phá.

    Orhan Pamuk, giải Nobel văn chương năm 2006 đã thú nhận:

    “Tôi cảm thấy được an ủi và khích lệ vô cùng vì đã đọc được những dòng này khi đang sống trong một đất nước mà nghĩa vụ với cộng đồng được đặt lên trên hết. Tôi tìm cách đặt mua tất cả những bài phỏng vấn của Paris Review do Penguin xuất bản. Tôi đọc chúng với tất cả sự tập trung và cảm giác khoái trá vô cùng. Dần dà ngày tới ngày, tôi tuân thủ tuyệt đối vào một nguyên tắc ngồi vào chỗ làm việc cả ngày, làm thân quen với mùi thơm giấy mực trong căn phòng lặng lẻ., là một tập quán mà tôi không rời bỏ.

    Lúc ấy tôi bắt đầu với cuốn sách đầu tiên Cevdet Bey and Sons bề dày 600 trang và miệt mài suốt bốn năm trường. Mỗi khi bế tác, như một phản ứng từ bản năng, tôi rời khỏi bàn viết, ngã mình một cách chán nản lên chiếc giường gỗ và nghiền ngẫm những bài phỏng vấn các nhà văn Faulkner, Nabokov, Dos Passos, hemingway và Updike nhằm tin tưởng hơn vào hiệu năng của văn chương và tìm phương thế vượt qua những bế tắc của mình. Khởi đầu tôi đọc những bài phỏng vấn này vì đây là tác giả của những tác phẩm mà tôi yêu thích và tôi mong tìm được bí quyết của họ. Để hiểu phương cách xây dựng những thế giới vừa hư cấu và tưởng tượng ra sao. Nhưng rồi tôi đọc cả các bài phỏng vấn các nhà văn nhà thơ mà tôi xa lạ của những cuốn sách tôi chưa hề đụng tới. Những cuộc đối thoại trên Paris Review ít có chủ đích nhằm quảng cáo cho một cuốn sách đạc biệt trong một thời điểm đạc biệt nào. Những tác giả được phỏng vấn hầu như là những tuổi tên đã lừng danh trên thế giới. Họ chỉ phát biểu về thói quen khi cầm bút, những bí mật của nghề nghiệp, về phương thức viết, hay những giây phút yếu mềm và những thời khắc phải đối mặt với nỗi khó khăn trong cuộc sống. Tôi cần thiết phải học hỏi những kinh nghiệm của họ, cấp thiết và ngay lập tức…”

    Orhan Pamuk, ”người trong khi đi tìm kiếm những linh hồn sầu thảm của thành phố quê hương mình đã khám phá được những biểu tượng mới lạ cho những va chạm và đan kết của những nền văn hóa” như lời tuyên dương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển.

    Năm 2005, Orhan Kamuk cũng là một trong những người cầm bút có tên trong danh sách lựa chọn cuối cùng của giải và sau dó là Harold Pinter là lựa chọn chung quyết.

    Pamuk sinh trưởng ở Istambul năm 1952 trong một gia đình giàu có và chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Tây Phương. Ông nội ông là một kiến trúc sư đã làm việc và làm giàu trong một công ty xây dưng khi đất nước Thổ đang phát triển thành thị. Gia tài của ông nội ông rất lớn nên cha ông sống rất sung túc và phần lớn thời giờ là ở Paris. Còn Orhan Kamuk, lớn lên và sống ở tại thành phố quê hương. Ông đã có lần viết về thành phố của ông : « Số phận của Istambul cũng là số phận của tôi. Tôi gắn bó mật thiết với nơi chốn này bởi vì chính nó đã tạo nên con người tôi.. »

    Cuộc đời của Pamuk được mô tả khá chi tiết trong tiểu thuyết đầu tay viết xong lúc 30 tuổi “Cevdet Bey and his sons” và tiểu thuyết “The Black Book”. Ông học tại Robert College tại Istambul và cũng học ngành kiến trúc tại Istambul Technical University do áp lực của gia đình muốn ông trở thành kỹ sư hoặc kiến trúc sư. Tuy nhiên ông bỏ lớp kiến trúc sau khi đã học ba năm để trở thành một ký giả viết toàn thời gian và đã tốt nghiệp cử nhân báo chí tại Institute of Journalism của viện đại học University of Istambul năm 1976. Năm 1985 ông được học bổng du học tại Hoa Kỳ và học cho đến năm 1988 tại University of Iowa. Sau khi trở về Istambul năm 2006 ông trở lại Hoa Kỳ làm giáo sư thỉnh giảng của đại học Columbia. Ông lập gia đình với Aylin Tofajjal Turegen năm 1982 và ly dị năm 2001. Ông có một người con gái tên Ruya sinh năm 1991.

    Ngày 12 tháng 10 năm 2006, Hàn lâm Viện chính thức tuyên bố Orhan Pamuk đoạt giải Nobel về văn chương năm 2006. Adam Smith người biên tập web-site “nobelprize.com” đã phỏng vấn ông ngay sau khi công bố giải thưởng:

    Hỏi - được biết ông đang ở Newyork, hiện ông đang làm gì khi biết tin mình vừa đoạt giải?

    Đáp - ô, tôi đang ngủ. Lúc đó tôi nghĩ rằng chỉ còn một tiếng đồng hồ nữa người ta sẽ công bố giải thưởng, tôi yên trí rằng sẽ có người thông báo cho mình biết ai là người đoạt giải. Tôi băn khoăn suy nghĩ về những việc phải làm tiếp theo và mệt nhọc quá tôi ngủ thiếp đi. Rồi chuông điện thoại reo lúc bảy giờ rưỡi sáng. Tôi nhấc máy và người ta báo cho tôi biết tôi đoạt giải Nobel…”

    Trong diễn văn nhận giải đọc ngày 7 tháng 12 năm 2006 với nhan đề “My father’s suitcase“, Orhan Pamuk đã mang hình ảnh của người cha để nói lên những suy tư về nghệ thuật cũng như nhân sinh quan của mình. Cũng là một cách tránh né khéo léo để không nhắc tới những nhận định nóng bỏng về chính trị của ông. Ông tôn vinh người cha với những ngôn từ tốt đẹp nhất về một người đã dẫn dắt ông vào con đường văn chương.

    “Hai năm trước khi cha tôi từ trần, ông đưa cho tôi một chiếc va ly nhỏ chứa đầy những trang viết, bản thảo và sổ ghi chép. Giả đò trong sự đùa cợt hàng ngày pha chút châm chọc, ông bảo tôi rằng ông muốn tôi đọc chúng sau khi ông đã ra đi, nghĩa là sau khi ông chết.

    “Hãy nhìn qua“, ông như có môt chút lúng túng ”Xem ra để nếu trong đó có gì thể xử dụng được thì sau khi tôi chết đi, anh chọn lựa lại và xuất bản nó”.

    Chúng tôi đang ở trong phòng của tôi, bao quanh là hàng hàng những cuốn sách. Cha tôi tìm một khoảng trống để đặt vali xuống, loay hoay lui tới như người muốn trút bỏ đi một gánh nặng mệt nhọc. Cuối cùng ông đặt nó vào một chỗ góc thật khuất . Thời khắc vờ vĩnh ấy làm cả hai cha con không thể nào quên, dù rằng cũng qua đi và chúng tôi trở lại với vị trí sống hàng ngày, đùa cợt, châm biếm, và làm cho mình thoải mái. Chúng tôi nói với nhau về những việc đã làm, về những điều tầm thường của cuộc sống mỗi ngày, và những bất cập triền miên của chính trị Thổ Nhĩ Kỳ hay những cuộc kinh doanh đầy phiêu lưu và sai lầm của cha tôi mà tôi thấy ông chẳng mấy khi buồn tiếc…”

    Dù người cha không theo đuổi công việc cầm bút nhưng Pamuk đã thừa hưởng của thân phụ mình tấm lòng yêu quý sách vở và sự trân trọng với văn chương. Ông đã khuyến khích người con, không chỉ với tấm lòng của người cha mà còn với sự chia sẻ của người đồng điệu tri kỷ. Dù nhà văn là người luôn cô đơn và suy tư trong thế giới riêng của mình, thế giới ấy cũng có nhiều nét chung nhân bản của nghệ thuật được nâng niu và trau dồi tinh luyện.

    Viết về người cha chỉ là một cái cớ, mà, chính là viết về chính mình, về những suy tư của mình :

    “Nhà văn là người đã trải qua nhiều năm tháng để cố gắng tìm kiếm cho ra con người thứ hai bên trong của mình, và trong cái thế giới tạo ra chính con người hắn. Khi tôi nói về công việc cầm bút điều đầu tiên hiện ra trong suy tưởng tôi không phải là tiểu thuyết, không phải là thi ca hay văn học gì, mà, chính là người miệt mài trong phòng kín, ngồi trước bàn viết, môt mình lui tới với mình và trong hình bóng ấy, hắn tạo ra một thế giới mới bằng con chữ . Người ấy -nam hay nữ - có thể dùng máy đánh chữ, hay xử dụng sự tiện lợi của máy điện toán, hoặc viết bằng bút và giấy như tôi đã làm từ ba mươi năm nay. Khi cầm bút, người ấy có thể uống trà hay cà phê hoặc phì phà khói thuốc. Cũng có thời gian, người ấy đứng bên cửa sổ cạnh bàn nhìn ra đường phố xem lũ trẻ đùa giỡn và nếu may mắn sẽ thấy phong cảnh phố phường hoặc chăm chú nhìn những vỉa tường đen đủi. Người ấy có thể làm thơ, viết văn, soạn kịch, hay viết tiểu thuyết giống như công việc của tôi. Tất cả những khác biệt chỉ là mục đích cốt tử khi ngồi vào bàn viết rồi kiên nhẫn nhìn ngắm chính mình. Cầm bút chính là đem cái đam mê của nội tâm thành ngôn ngữ, là sự tìm kiếm chính mình trong cái thế giới tương tự của mình, miệt mài, say đắm nhưng ương ngạnh.

    Như khi ngồi vào bàn viết của tôi, bất kể ngày tháng năm, từ tốn viết những hàng chữ trên trang giấy trắng, tôi đã có cảm giác là tạo dựng được một thế giới mới như là tôi đã mang nhập chung một con người khác vào nội tâm tôi y hệt như đường lối mà ai đó đã gầy dựng những nhịp cầu hay những mái nhà bằng những gạch đá tiếp những gạch đá. Vật liệu gạch đá mà nhà văn xử dụng chính là ngôn ngữ. Giống như chúng ta giữ được nó trong bàn tay, cảm được phương cách mà chúng nối kết với nhau, có lúc ngắm nhìn chúng từ xa, có lúc lại nâng niu chúng bằng ngón tay hoặc đầu ngọn bút, truyền sức nặng nội lực, sắp xếp trong lãnh vực, năm tiếp năm, kiên nhẫn và đầy hy vọng, chúng ta tạo dựng một thế giới mới..”

    Năm 2006, Orhan Kamuk được tuyển lựa là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới theo sự bình chọn của tạp chí Times. Năm 2005, ông đã phải trốn khỏi quê hương một thời gian vì bị đưa ra tòa và kết tội phản bội dân tộc Thổ. Trước đó ông đã viết tác phẩm “My name is red” nghiêm khắc chỉ trích những sai lầm trong lịch sử đã xảy ra của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ với sự lột trần tội diệt chủng khi tàn sát hàng triệu người Armenia và sự đàn áp tàn bạo người Kurd.

    Câu chuyện bắt đầu khi Orhan Kamuk trả lời một câu phỏng vấn của một tờ báo Thụy Sĩ Tages-Anzeiger ngày 6 tháng 2 năm 2005.ông nói : “ba mươi ngàn người Kurd và một triệu người Armenia bị giết hại ở Thổ Nhĩ Kỳ và sự kiện ấy hầu như không một ai dám đề cập tới ngoại trừ tôi.“. Ông muốn nhắc đến vụ các lực lượng của đế chế Ottoman giết hại hàng chục ngàn người Armenia trong những năm 1915-1917 và 30 ngàn người Kurd bị giết hại trong cuộc chiến giữa quân đội Thổ và các lực lương ly khai người Kurd từ năm 1984. Ông bị phản ứng dữ dội và phê phán nặng nề từ những người Hồi Giáo và dân tộc cực đoan. Ngày 1 tháng 9 năm 2005, ông bị truy tố với lời buộc tội là phát biểu những lời nói nhục mạ trắng trợn phẩm chất quốc gia Thổ. Nếu bị kêu án ông có thể chịu ba năm tù giam. Phiên tòa ấn định vào ngày 16 tháng 12 nhưng sau đó thì bị đình vì nhiều lý do.

    Trước sau, nhà văn cũng chỉ một lời nói: ”Tôi bảo vệ những điều tôi đã nói và hơn nữa tôi bảo vệ cái quyền được phát biểu của tôi” và ông tiếp đại ý chúng ta đang phải trực diện với những bi kịch và đối đầu với những niềm đau đớn mà cả nhân loại phải chịu đựng, cũng như những vấn đề ấy chúng ta không được dạy dỗ từ những trường lớp phổ thông. Do đó, nó trở thành một vấn đề hết sức nhạy cảm.

    “Tôi đã nói rõ ràng và lớn tiếng rằng 1 triệu người Armenia và 30 ngàn người Kurd đã bị tàn sát tại Thổ Nhĩ Kỳ và tôi xác định điều đó. Với tôi, đây là một sự kiện có tính khoa học. Tôi cũng là một tiểu thuyết gia, tôi đã đề cập đến sự chịu đựng và những nỗi đau của con người. Rõ ràng là ở xứ Thổ có những niềm đau được giấu kín nhưng chúng ta vẫn phải bắt buộc phải đối diện..”

    Thế mà, trong cuộc họp báo trước khi nhận giải Nobel văn chương năm 2006, Orhan Kamuk lại từ chối những lới phẩm bình về những ý nghĩ mà ông đã có về Armenia. Trong bài diễn văn, “My Father’s Suitcase”, đọc khi nhận giải ông cũng tránh né vấn đề ấy.

    Có lúc, ông nhận mình là cây cầu nối liền hai thế giới. Trong khi trả lời cuộc phỏng vấn của Elizabeth Farnsworth của NewsHour Online:

    “Elizabeth Farnsworth: Nhà văn hàng đầu của Thổ Nhĩ kỳ, Orhan Pamuk, làm việc và sống tại vùng ngoại ô Istambul cạnh bên bờ vinh Bosphorous phân cách hai lục địa Âu và Á tiểu thuyết của ông tràn đầy sức sống và thắm đẫm cảnh sắc của khu vực địa lý tuyệt diệu và có lúc của lịch sử khủng khiếp của cuộc đất này. Istambul là trung tâm của Hồi giáo và Thiên Chúa giáo và những sáng tác của Pamuk thường xoay quanh sự hội tụ của hai tôn giáo ấy.

    “My name is red” là một truyện dài mới nhất đươc dịch sang Anh Ngữ, là một tiểu thuyết trinh thám, với cốt truyện đa tầng đề cập đến sự trả thù và lòng đố kỵ của con người ở thời kỳ của đế quốc Ottomans đang suy tàn và sự vươn lên của Thiên Chúa Giáo. Tôi nói chuyện với Orhan Pamuk tại phòng làm việc của ông, nơi nhìn xuống thành phố Istmbul ở dưới.

    Elizabeth Farnsworth: Tuyệt thật, từ đây ta có thể nhìn thấy mọi thứ.

    Orhan Pamuk: Vâng, đây là điện Topkapi, nơi mà mọi tình tiết của “My name is red “. Còn đây là cây cầu của tôi, nó được xây dựng lên từ 30 năm về trước.

    Elizabeth Farnsworth: Chiếc cầu đó bắc qua eo biển Bosphorous nối liền hai bờ Âu Á của Istambul. Pamuk xem cây cầu như một ẩn dụ cho chính ông bởi vì nó không thuộc về một bên nào và mỗi chân cầu đứng trên mỗi bên của hai lục địa. Ông hiểu rất rõ cả hai, phương đông và tây, cũng như đã sống hầu hết cuộc đời mình ở Thổ Nhĩ Kỳ và đồng thời có thời gian học viết và văn chương ở Hoa Kỳ.

    Orhan Pamuk: Tôi muốn mình là một chiếc cầu với cảm giác là chiếc cầu không thuộc vào một lục địa nào hết cũng như không thuộc về một nền văn minh nào hết. Nhưng một điều tuyệt diệu là đứng ở trên đó có cơ hội nhìn thấy cả hai bên và hai nền văn minh nhưng lại ở ngoài nó…”

    Nhưng gần đây khi trả lời câu hỏi cùa thông tấn xã AFP, tác giả của “My Name is Red”, “Snow”, “The White Castle”, ”Istambul” .., thường được gọi là người xây dựng nhịp cầu nối liền giữa cộng đồng Hồi giáo và nền văn hóa Tây phương, ông lại phủ nhận:

    “Người xây dựng nhịp cầu à! Tôi không thích câu nói ấy! Tôi không viết tiểu thuyết để rao giảng về các nền văn minh. Đó chẳng phải mục tiêu của tôi. Văn học khác xa với quyền lực. Mà văn học là những trang viết về niềm thấu hiểu và hưởng thụ để thưởng thức cuộc sống, là thú vị biểu hiện bằng những kết quả của quan sát bằng ngôn từ.”

    Nhưng, dù tuyên bố thế nào chăng nữa, tự thân tác phẩm của Pamuk đã là những nhịp cầu, là gạch nối giữa lịch sử đã qua và cuộc sống hiện nay, là nối liền giữa tự thuật và hư cấu, giữa thực tế và tưởng tượng. Qua các nhân vật, là tổng hợp của nhiều vóc dáng, nhiều nguồn gốc, nhiều giai cấp và ở đó nổi lên nhiều ẩn dụ, nhiều ngữ nghĩa có tính thẩm mỹ và thuyết phục cao. Tiểu thuyết của ông có nhiều tính triết lý nhưng lại có tính thực tế nên số lượng người đọc đông, cả người trí thức lẫn bình dân đều tìm thấy những yêu thích riêng. Ông là người không thích thú với sự cực đoan kể cả trong đời sống lẫn văn chương. Luôn luôn dung hòa và lúc nào cũng cảnh tỉnh về sự tác hại của lòng cuồng tín cả trong việc suy ngẫm và nhìn ngắm trong lãnh vực tôn giáo. Nhưng ông cũng là người luôn bảo vệ những điều mà ông cho là đúng đắn. Như những điều ông đã phát biểu với báo Thụy Sĩ Tages Anzeiger, hay như ông lên tiếng bênh vực nhà văn Salman Rushdie khi ông này bị giáo chù ayatollah Khomeini tuyên án tử hình fatwa, tội xúc phạm đến Hồi giáo.

    Trong lời phát biểu của Hàn Lâm viện Thụy Điển có nhấn mạnh đến ”hành trình đi sâu dể tìm hiểu tâm hồn u uẩn sầu muộn của thành phố quê hương” cuả Orhan Pamuk mà điển hình là tác phẩm “Istambul”. Cuốn sách này xoay quanh câu chuyện của một đứa trẻ, có suy nghĩ chín chắn trước tuổi, bị vây hãm giữa những rắc rối, những dằn vặt của một đời sống giữa một đại gia đình đầy những bất đồng và luôn luôn cãi vã xô xát. Đó là một dòng họ giàu có và không sùng đạo lắm, sống ở một tầng nhà của một căn phố cao, nhìn xuống dòng sông Bosphorus với phong cảnh thật đẹp đẽ tráng lệ của một khu vực sang trong nhất thành phố. Nhân vật chủ đạo thống trị dòng họ là bà nội đứa bé, một người đàn bà mập mạp và luôn ban lệnh trên giường ngủ. Bà luôn luôn kêu ca trăn trở hết vấn đề này qua vấn nạn khác từ những cậu con trai phung phí xa hoa, đến những xích mích cãi cọ của người trong dòng tộc, rồi đời sống hôn nhân không hòa thuận của cha mẹ đứa bé, rồi sự sùng bái Hồi giáo quá đáng của những đầy tớ gia nhân.

    Ông như bị phân tâm giữa hai hiện thực - một từ nội tâm, hai là đời sống bên ngoài – nên đã có bút pháp để mô tả một thế giới thứ hai hiện hữu từ thế giới thứ nhất có thực của đời sống. Thế giới thứ hai này được tạo hình từ những đào sâu vào thế giới thực của đứa bé. Một cảnh tượng khác lạ lôi kéo người đọc vào, một thế giới riêng của mơ hồ, của những căn phòng bất động âm u chật chội với quang cảnh lạnh lùng, những bàn ghế xa xỉ bám bụi, những cỗ dương cầm ít ai xử dụng, những tủ kính hào nhoáng đầy ắp đồ vật chưng bày vô vị, những khung ảnh khoe khoang nghi thức. Và trong không khí riêng ấy, con người như bị cách biệt với thế giới đầy ánh sáng sinh động bên ngoài.

    Orhan Pamuk đưa người đọc vào một thành phố Istambul mục nát những năm của thập niên 60 đến 80. Những ngôi lâu đài gỗ của thế kỷ 19 bị đốt phá để thay thế bằng những căn nhà hình khối bê-tông. Rồi những chiếc tàu chở dầu đụng nhau trong đêm tối cháy sáng rực trên dòng sông. Rồi khung cảnh hỗn loạn của thành phố bất an nơi những kẻ khủng bố đe dọa mọi người. Rồi những cuộc nổi loạn giả tạo được trình diễn để rồi thực sự thành những cuộc chém giết tàn bạo. Rồi những đường phố nhà cửa của người Hi lạp và Armenian bị cướp phá. Rồi phong cảnh tiêu điều của thành phố với những bầy chó gầy ốm lang thang. Rồi cảnh những người phu khuân vác quị mình lảo đảo mang nặng những kiện hàng to quá khổ. Tất cả, là những biến cố của quặn mình thay đổi, của phân vân giữa sự lựa chọn của sự nối tiếp truyền thống hay thay đổi theo Tây phương, của hiện đại hóa hay giữ gìn văn minh Hồi Giáo.

    Tác giả đã đùa giỡn khi nói: ”Tôi diễn tả Istambul khi tôi mô tả chính tôi, cũng như tôi diễn tả chính tôi khi mô tả Istambul” Hồi ký Istambul đầy ắp tính hoài niệm, pha lẫn tình mê đắm, dù là tư liệu nhưng không phải là sự khoe khoang chính mình. Tác phẩm là tiếng gọi trở về tuổi thơ, của niềm hân hoan được giãi bày tấm lòng của một người yêu quê hương tha thiết… Tác giả coi định mệnh của Istambul là định mệnh của ông vì: ”tôi gắn liền với Istambul bởi nó đã tạo tôi như con người tôi vậy.”

    Một tác phẩm khác của Orhan Pamuk, “Snow” (Tuyết), mà có người cho rằng là thông điệp của một thời đại mà tôn giáo và ý thức hệ của nó bị cáo chung. “ Snow” là tên của một bài thơ của nhân vật chính trong truyện. Khung cảnh chính của truyện là thành phố Kars, một thị trấn xa xăm nằm ở miền Đông Bắc nước Thổ. Nhân vật chính tên là Kerim Alakusoglu, nhưng thường được gọi với tên vắn tắt là Ka. Ông này thuộc một gia đình khá giả, được giáo dục theo phong cách Tây Phương và đã sống lưu lạc xa quê hương ở Franfurt từ khoảng 12 năm nay. Ông về thăm lại quê hương, đến ở thành phố Kars để đưa đám tang mẹ và cũng nhân thể ngắm tuyết rơi ở quê hương. Dịp đó anh nhận viết một phóng sự về cuộc bầu cử hội đồng thành phố này và điều tra về sự kiện có khá nhiều phụ nữ tự sát vì nghe đâu vì không chịu được những áp lực không cho phép chùm khăn choàng đầu.

    Một cách ngẫu nhiên, Ka đã dính líu vào những xung đột chính trị đẫm máu, những cuộc ám sát, khủng bố. Ông chứng kiến cảnh một viên giám đốc học chính bị ám sát bằng súng từ một thanh niên trẻ. Cũng như ông đã gặp người thủ lĩnh Hồi giáo quá khích tên Blue chống chính quyền độc tài, chống lại những vận động theo đuổi nền văn minh Tây phương. Ông cũng bị hăm dọa tới tính mạng vì bài báo buộc tội ông vô thần mà tự nhận là thi sĩ gieo những tư tưởng độc hại cho người dân ở thành phố nhỏ này. Cũng tại đây, ông có một cuộc tình với người yêu xưa cũ tên Ipek, một người mà ông mong muốn sẽ theo mình về lại Frankfurt trong một ước vọng hạnh phúc êm ái. Câu chuyện bắt đầu với cơn bão tuyết bao trùm thành phố làm mọi sinh hoạt ngưng trệ và đời sống tại đây như một ốc đảo cô lập với cả thế giới bên ngoài. “Tuyết“ cũng là tên tập thơ gồm 19 bài mà ông làm trong suốt thời gian tham dự vào những biến động. Những bài thơ này được sáng tác trong nỗi niềm hoài niệm tuổi thơ với những kỷ niệm khôn nguôi trong trí nhớ.

    Ka là người cô đơn và là kẻ chịu nhiều áp lực. Một bên là bị chính quyền, tuy có khuynh hướng đổi mới nhưng vẫn áp dụng những thủ đoạn xưa cũ tàn ác, bóp nghẹt tự do., theo dõi canh chừng. Một bên thì bị những tín đồ Hồi giáo nghi ngờ coi như là một kẻ địch phải trừ khử. Một bên thì bị giới truyền thông coi là ngây thơ, dễ bị lôi cuốn vào những âm mưu chính trị. Khi đi điều tra sự việc những người thiếu nữ tự tử, Ka gặp phải vô vàn những trở ngại. Những nạn nhân thì không tin tưởng vì họ cho Ka là kẻ không tín ngưỡng, chính quyền thì ngăn chân không muốn tin tức phổ biến tới báo chí Tây Phương. Nhưng trong cuộc tình với Ipek, tình cảm nồng nàn khơi lại từ mối tình đầu, và qua sự chứng kiến cảnh và người ở Kars, Ka lại làm thơ trở lại với bừng bừng xúc cảm sau một thời kỳ đóng băng xơ cứng. Tập thơ « Tuyết » là những ghi chép lại trong ký ức những phần đời tuy có đen tối nhưng vẫn có vẻ lãng mạn của những đóa tuyết sáu cạnh trắng xóa khoảng trời…

    Một tiểu thuyết trinh thám khác biệt, một không gian của một thành phố Istambul mê sảng, một cuộc hành trình lang thang đi tìm một nhân dáng vô vọng. “The black book” (Sách đen), một tiểu thuyết của Orhan Pamuk đem lại những đặc tính của một chuyện kể hào hứng. Galip người đi truy tìm Ruya, người vợ bị mất tích một cách thần bí. Celal, nhà bình luận báo chí nổi tiếng, em trai của Ruya và cũng là em họ của Galip, cũng bị thất lạc. Hiển nhiên hai sự kiện này có nhiều liên quan với nhau. Khi Galip xem xét cẩn thận những dòng chữ để lại của Celal, một cảm giác như đang đọc những trang kinh thánh để thấy mình thâm nhập vào nhóm người cuồng tín tin tưởng vào những lời tiên tri của Celal noí rằng sẽ có một cứu tinh Mác Xít gốc Hồi giáo. Câu chuyện trôi đi trong cái không khí huyền bí tạo dựng, là những bí mật làm thành những yếu tố của cuộc sống. Tác giả kết cấu cốt truyện với phương cách xen kẽ giữa mô tả sự kiện và phân tích tâm lý. Chúng ta thấy nổi lên sự khác biệt giữa tâm tính điên loạn của Galip và quan niệm hoa mỹ của Celal, cũng như khuynh hướng của thấp hèn và phương cách suy tưởng siêu hình mà căn bản từ con người bẩm sinh. Một biên tập viên của báo “The Observer“, Jonathan Beckman, đã nhận xét:” Cuốn sách này có thể là một bản tình ca cho Istambul, và là một phúng dụ tinh tế về thuyết giải cấu trúc, nhưng hơn thế nữa, nó là một sự ca tụng nghệ thuật kể chuyện ngày càng tỏ ra hiếm có trong thế giới đầy ứ những chuyện tầm phào vô nghĩa lý, “The Black Book” là một điên loạn ngọt ngào, tạo ám ảnh không nguôi và rất giàu có trong sáng tạo bất chợt, là những câu chuyện mang tính cổ tích cảm động nhưng đầy hóm hỉnh..”

    Một tiểu thuyết khác “The White Castle”, cái tôi thực sự soi vào gương để thấy một cái tôi khác, vừa là chính mình nhưng lại không phải là mình, như một cặp song sinh, có hòa nhập nhưng cũng có đối nghịch. Nhân vật “tôi” là một người Ý ở thế kỷ 15, bị bắt cóc và đưa về Constantinople làm nô lệ cho một quan chức Thổ tên là Hoja. Một điều kỳ lạ là hai người, ông chủ và người nô lệ có diện mạo y hệt nhau. Hoja hứa sẽ trả lại tự di cho người Ý gia nhân này khi học hết được những sở trường mà ông này truyền đạt. Họ tiếp xúc, trao đổi, học hỏi lẫn nhau cho đến khi cả hai hầu như thành là một với tất cả suy nghĩ, hành động mà hai nền văn hóa pha trộn lại. Cuối truyện, người Ý trở về lại quê hương. Nhưng, người về là chính ông ta hay là Hoja? Không ai biết được chính xác để trả lời. Bởi, cả hai đã trở thành một, giống hệt nhau, từ trong ra ngoài, từ suy nghĩ đến hành động. Orhan Pamuk đã muốn nêu ra cái chủ ý của mình khi nhân vật sultan đã nói trong tác phẩm: Có điều gì chứng tỏ mạnh mẽ hơn là dù ở nơi chốn nào cũng thế, giống hệt nhau và có thể tráo đổi vị trí cho nhau” Văn chương Việt có câu ”mình với ta tuy hai mà một. Ta với mình tuy một mà hai”. Có điều gì khác biệt, và có điều gì tương tự, khi chúng ta soi gương, nhìn và lập lại chính mình?

    Một tác phẩm khác, ”My name is Red”, có số lượng sách bán cao nhất của Orhan Pamuk. Trong bài phỏng vấn tác giả, ông đã thố lộ một vài điều về sáng tác này:

    Hỏi: ông đã áp dụng những cách thế khác lạ để kể về câu chuyện qua nhiều phương cách tường thuật khác nhau. Thực tế rõ ràng trong sách, qua từng chương, là những âm dạng không đồng nhất. Vì sao ông lại xây dựng tiểu thuyết của mình theo lề lối ấy? Ông phải trực diện với những khó khăn phải vượt qua nào khi lựa chọn phong cách văn chương như vậy?

    Orhan Pamuk: Rất thích thú với tôi khi tôi giả dạng được những nhân vật của mình. Tôi ưa khám phá âm giọng của một nhà họa sĩ Ottoman, một người mẹ của hai đứa trẻ đang đi tìm kiếm người chồng của mình, rồi giọng nói của hai đứa trẻ thơ, rồi âm thanh ma quỉ của một tên giết người, đến lời tự thuật của một người đàn ông trên con đường đến thiên đàng. Trong những chuyện kể của tôi, không chỉ riêng nhân vật, mà cả đến sự vật và màu sắc cũng có tiếng nói. Tôi nghĩ rằng những âm thanh riêng biệt ấy sẽ tạo ra một âm hưởng phong phú là biểu hiện cho cuộc sống thường nnhật của Istambul khoảng bốn trăm năm trước. Sự thay đổi ý niệm nhân sinh quan cũng biểu hiện những suy tư ray rứt chính yếu của tác phẩm, về góc nhìn từ vị trí của người thường chúng ta tương phản với góc cạnh nhìn ngắm của đấng tối cao. Tất cả những chi tiết ấy được nhắc đến từ sự liên quan giống như lối phối cảnh của hội họa. Những nhân vật của tôi sắp hàng thẳng trong một thế giới mà tầm nhìn hạn chế không còn hiện hữu và những nhân dáng ấy có thể có ngôn ngữ nói bằng chính âm giọng của mình và cũng bằng nổi diễu cợt riêng mình.

    Hỏi: Ông tạo dựng một nhân vật -con trai của nữ anh hùng Shekure trong chuyện- mang tên Orhan. Có phải đó chính là cái “tôi” bị biến dạng của ông?

    Orhan Pamuk: Orhan không phải là cái “Tôi” đối nghịch của tôi. Mà, anh ta chính là tôi. Hầu hết những chi tiết trong gia thoại về mối quan hệ giữa bà mẹ cô đơn và đưa con trai bắt nguồn từ chính kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã giữ nguyên bản danh tính của mẹ tôi và các anh em trai trong câu chuyện. Sự đố kỵ ganh đua giữa anh em trong gia đình, những trận cãi lộn, ẩu đả lẫn nhau, những lần hòa giải, những chuyện tranh giành tình thương của mẹ, chính là tự truyện đời tôi. Phương cách đem những chi tiết sống thực của tuổi thơ ấu vào trong chuyện lịch sử là cố ý của tôi mong sẽ tạo dựng được bề sâu có tính riêng tư cho nó. Cái khó của tiểu thuyết lịch sử không phải là cách diễn đạt qúa khứ được mô tả hoàn hảo trung thực, mà chính là liên kết được lịch sử với những điều tân kỳ, để phong phú hóa biến đồi quá khứ bằng óc tưởng tượng cũng như niềm xúc cảm từ kinh nghiệm cá nhân.


    25.11.2007
  9. Nghĩ về một bài thơ
    của một thi sĩ vừa ra đi



    Thơ Giang hữu Tuyên có nét riêng của những người sinh trưởng từ Nam Bộ. Thơ, đầy những hình ảnh của thôn quê, của liếp rau bên ao, của con kinh trước mặt, của dậu mồng tơi tím, của ngọn cải đọt rau quê nhà. Ở tâm tình của một người tha hương, nơi để nhớ nhung về, dù là những cảnh tầm thường quen thuộc của quê hương. Trong nhiều trường hợp, Giang Hữu Tuyên vừa là người “tạo cảnh“ vừa là người “tả cảnh”. Tạo cảnh là dùng những nét chân thực để tạo thành một thế giới riêng chuyên chở tâm sự ý tưởng mình. Còn tả cảnh là dùng lời chân thực để phác họa những cảnh tượng có nét sống động của đời sống hiện thực. Nhà thơ đã dung hòa để có một thế giới mà trong đó có sự chân thực của đời thường mà lại chuyên chở được ý tưởng, tâm tư. Giang Hữu Tuyên tả cảnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long, và trong ngôn ngữ chân chất ấy gửi gấm theo tấm lòng hồn hậu của một người yêu tha thiết quê hương.



    Giang Hữu Tuyên đã ra đi vào cõi miên viễn nhưng thơ của ông vẫn còn hiện hữu. Rất nhiều người bằng hữu của anh đã viết về người thi sĩ dễ mến này. Thơ của ông được đọc và qua nhiều nhận xét để phác họa lại một khuôn dáng người làm thơ có phảng phất thời tiết và nơi chốn của đồng bằng Nam Bộ.



    Trong thơ Giang Hữu Tuyên, hình bóng nổi bật nhất là hình bóng mẹ. Bà mẹ của quê mùa, của những hồi tưởng về những nơi chốn gần gũi.

    “Nắng xiên giàn dậu trức nhà
    Mẹ che tay ngó mông ra đầu làng
    Gió chiều bắt Mẹ ho khan
    Con giờ đâu mất biệt ngàn tăm hơi
    Nhớ con mẹ hái mồng tơi
    Nấu nồi canh cũ mẹ ngồi dầm chan”

    Những câu lục bát bình dị. Những tâm tình giản đơn mà thấm thía. Cảnh và ngườii, người và cảnh, như có điều gì quấn quít nhau. Vẫn là nơi quen thuộc. Vẫn là tâm tư vong ngàn trùng.

    “Rau răm trụi hết lá già
    mùa xuân gửi ngọn bạc hà xa xăm
    chiều nghiêng dáng núi đêm rằm
    lòng trăng cũng giục ý thầm nhớ quê
    nao nao tiếng cuốc bờ tre
    trên ao bèo giạt gió về mang mang
    bữa đi bông cải nở vàng
    sông chia nhánh chảy tóc ngàn dặm bay
    (lu không nước đã bao ngày)
    mà người thệ hải vẫn hoài ngóng trông.”

    Những câu thơ bình dị, những ý tưởng sống động cận gần trong cuộc sống hôm nay. Thơ những nét khắc họa, có mờ ảo lãng mạn nhưng cũng tràn đầy chất sống. Tập thơ “Trời mưa đi phát báo “ có đầy đủ những đặc tính ấy.

    Sống lưu lạc tha phương, ai mà chẳng có lúc chạnh lòng nghĩ về quê hương xưa, đất nước cũ. Làm thơ, để những vương vấn ấy không là những giây phút buồn phiền, mà, ngôn ngữ chính là màu nắng nhẹ, là tấc gió phai cho cuộc sống lung linh hơn. Dù rằng ai nấy cũng hiểu được nỗi mong manh của cuộc sống.

    Tôi biết Giang Hữu Tuyên từ lúc cộng tác gửi bài cho “Việt Chiến” cũng như biết hai người cùng chủ trương là Ngô Vương Toại và Nguyễn Đình Hùng. Những câu chuyện qua điện thoại, ấm áp, thân tình làm mình cảm thấy bớt cô đơn trước cuộc sống đang dần dần trước mắt. Thời gian ấy là lúc tôi mới vừa chân ướt chân ráo tới định cư ở Hoa Kỳ. Một thời kỳ chuyển tiếp của cuộc sống tôi tràn đầy kỷ niệm.

    Giai đoạn ấy cũng là thời gian mà tôi viết một cách hăng say nhất. Viết, để cho tôi nhiều hơn là cho mọi người. Nếu không, như nồi hấp đầy hơi sẽ vỡ toang ra hết…

    Thú thực, lúc ấy tôi còn mơ mộng nhiều lắm và cái dư âm ảnh hưởng của những ngày còn ở bên nhà cẫn còn đầy ắp trong tâm não. Và, tôi nghĩ, những người chủ trương “Việt Chiến” như Giang Hữu Tuyên chắc cũng như thế, lúc đó.

    Có điều gì bức bối phải nói ra cho hả. Quê hương, mới đây còn gần gũi mà bây giờ xa biệt. Có bao nhiêu gửi gấm từ những người còn kẹt lại bên nhà? Đời sống ở đây sao lạ lẫm quá. Ta đã làm gì đời ta? Câu hỏi ấy như chung mang của nhều người. Có nhắc nhở nhưng có một chút gì bó tay vô vọng…

    Thập niên 80 ở hải ngoại có những người lính cũ tương đối còn trẻ và bước vào văn chương một cách tình cờ trong sáng. Không có tham vọng làm nhà văn, mà, họ chỉ muốn làm chứng nhân để ghi chép lại nỗi niềm của một thời đại thật nhiều biến cố. Bây giờ, qua một khoảng cách thời gian cần thiết để ngoái lại nhìn ngắm, cái tâm hừng hực lửa với đời, với người của họ đã làm văn chương chữ nghĩa thuở ấy có sự lôi cuốn nhập cuộc nhiều người.

    Nhóm tạp chí Nhân Văn với những Tưởng Năng Tiến, Lý Khánh Hồng, Thượng Văn, Võ Hoàng.. ở miền Tây Hoa Kỳ và nhóm anh em quanh tạp chí Việt Chiến ở miền Đông bắc Hoa Kỳ, là một phần đại diện cho những người trẻ nhiều lý tưởng muốn đóng góp một phần nào công sức cho đại cuộc của quốc gia, dân tộc. Thơ văn, đối với họ, là mũi lao tấn kích vào bạo quyền, vào những thế lực phi nhân đang ngự trị trên đất nước. Một cuộc chiến vẫn còn, dù chém giết đã hết trên quê hương. Một mặt trận bằng bút mực trên lãnh thổ văn chương vẫn còn tiếp nối….

    Giang Hữu Tuyên có cảm xúc thực để làm thơ. Cái chất lính ngày xưa và cái tâm thời trôi dạt hôm nay, trộn lẫn. Những vần thơ chất phác bình dị nhưng chất chứa cái phần hồn nhiều bão dông thời thế. Thơ của ông không có cái phấn son điểm tô cho ngôn ngữ mà có sự mộc mạc của chất quặng nguyên sinh cuộc sống. Trong nhịp đập hôi hổi sinh động ấy, cái buồn đã chuyển hóa đi để thành động lực dù lãng mạn nhưng là sức đẩy để giúp chúng ta đi qua những gập ghềnh của cõi nhân gian. Thân phận lưu vong, như người bên lề lạc lõng, cái tủi thân ấy có thoáng qua nhưng cũng đủ làm tê điếng tấc lòng. Nếu viết ra, như một lời tâm sự, chắc cũng dịu đi nhiều cái dằn vặt thâm tâm.

    Tâm sự tha phương ai cũng giống nhau. Như một ông tướng tư lệnh quân chủng tôi, khi viết cảm khái về những giọt mưa quê nhà đã nói về cái mộng ước nhỏ nhoi được cùng với giai nhân của mình sống lại những đêm nghe mưa tí tách tầu tiêu trong cư xá phi trường Tân Sơn Nhứt. Hay, như Giang Hữu Tuyên : “Mưa ở Arlington nhớ mưa quê nhà.”

    “Lá vàng rụng hết đêm qua
    Chiều xô cửa ngõ ngó ra rất buồn
    Mưa đằm ngọn cỏ đan sương
    Mưa nghiêng kỷ niệm mưa buồn tóc bay
    Hồn bình nguyên rộng trên tay
    Căng đầy nỗi nhớ sông dài phù sa
    Ơi miền Nam Ơi quê nhà
    Dưới ao sen nở mẹ già vo cơm
    Vo nồi gạo mới Nàng Hương
    Của đồng tháng chạp của lòng đất thiêng
    Mưa phùn gió phất qua hiên
    Em gom củi đước đốt lên nỗi niềm
    Chị ngồi vá chút buồn riêng
    Anh đi như thể là thiên thu rồi
    Mây vô tình trắng chị ơi
    Nghìn năm muối mặn nghìn đời biển xanh!”

    Người sinh trưởng từ đồng bằng sông Cửu Long có tâm tính bình dị như cảnh thổ nơi ấy. Từ hình ảnh đến ngôn ngữ, đều bình thường như cuộc sống mọi ngày nhưng lại có độ ngân nga của những réo rắt đứt ruột của những dây đàn căng tột độ. Lục bát của Giang Hữu Tuyên có sự thiết tha của ngôn ngữ Nguyễn Bính. So sánh thi sĩ này với người làm thơ khác không phải là phương cách chính xác nhưng không hiểu sao, cái liên tưởng ấy tự nhiên có với tôi. Nó thành sự đồng cảm của những người luôn ngóng về quê hương với nỗi chạnh lòng.

    Những ngày của năm tháng đầu tiên ở Mỹ, dù có bận rôn, dù có mệt mỏi nhưng khi hồi tưởng lại là một thời gian có nhiều dấu ấn tâm thức và khó tàn phai nhất. Lúc ấy, nặng vai quá khứ, dấn bước hiện tại nhưng ngóng về tương lai. Ngày tháng, tiếp nối bằng nỗ lực. Những trang sách tiếp theo những giờ lao động nặng nề, óc não và cơ bắp cũng căng theo nhau lấp đầy những thời khắc. Có một điều gì, trong thâm tâm. Nửa tiếc nuối, nửa hãnh diện. Tuổi trẻ chúng tôi, những chọn lựa bắt buộc. Vào lính, mặc quân phục, cầm súng nhưng trong tâm vẫn tha thiết tiếng gọi yên bình. Những cơn mơ, trong thơ trong nhạc thắp lên bếp lửa thấp thoáng. Hiện về, những phương trời ảo giác. Có mặt, những mong ước mênh mông. Tuổi trẻ chúng tôi, đã thấp thoáng những bi thảm chực chờ cho đến ngày phương bắc thống trị toàn lãnh thổ. Thơ, văn lại bứt phá lên đường. Có tiếng kêu của kinh cầu hồn nhưng cũng có tiếng âm vang gọi nhau đứng lên dõng dạc lời của chứng nhân của một thời đạI cực kỳ bi thảm Việt Nam.

    Rồi tiếp những ngày lưu lạc. Rồi nối những tâm sự bềnh bồng. Có những thất vọng vì bàn tay bé nhỏ vô vọng trước những mong đợi to lớn của lịch sử. Nhưng cũng có những mong ước vươn lên từ cuộc sống phù hoa xứ người. Có giây phút chạnh lòng từ ám ảnh xa xưa ngày cũ. Thơ, là tiếng thở dài, trầm lắng, ngắn nhưng sâu…

    Một bài thơ của Giang Hữu Tuyên, tôi đọc và luôn luôn sau đó bao giờ cũng là những liên tưởng đến thân phận của mình một lúc nào tuy đã hai mươi năm nhưng tưởng như mới hôm qua. Những ngày chập chững gượng lại để bước tới vững vàng cuộc đời mình. Tôi đọc bài thơ ấy nhiều lần và mười lần như một cũng là những chạnh lòng như thế. Bài thơ “Trời mưa đi phát báo” mà nhiều người cũng đọc và đồng cảm như tôi.

    “Chiều ngã năm đường năm bảy ngã
    Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi
    Bao mùa mưa đã im giông bão
    Sao nước trường giang vẫn khứ hồi
    Mười mấy năm làm tên phát báo
    Lòng buồn theo thành quách xa xưa
    Những trang tin dội từ quá khứ
    Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa
    Mưa lót ngót đời loi ngoi mãi
    Sáng chưa đi chiều lại mưa về
    Mưa ngã năm từ năm bảy ngã
    Ngã nào cũng mưa và mưa thôi
    Xấp báo trên tay vừa ướt hết
    Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay
    Hình như những mùa mưa thuở trước
    Đang về làm ướt trái tim ai”

    Mưa. Những cơn mưa của con người bơ vơ lưu lạc giữa mù mịt đất trời. Đường năm bảy ngã chiều biết đi về lối ngã nào đây. Chỗ nào cũng mưa và mưa bao phủ. Mưa làm ẩm ướt những trang tin trên báo và cũng ướt luôn trái tim ai đang giây phút chạnh lòng. Ai? Người ấy có thể là tác giả nhưng cũng có thể là một người trong chúng ta, lạc giữa đìu hiu của đất trời và giữa đơn điệu thúc bách của áo cơm. Y hệt như cảnh “Xấp báo trong tay vừa ướt hết. Vậy mà cứ đứng giữa mưa bay. Hình như những mùa mưa thuở trước. Đang về làm ướt trái tim ai?”.

    Không còn là hình như, mà, đã là như thực, một cảm giác thực, một chạnh lòng thực. Mưa. Mưa. Vô cùng không gian thơ. Mưa của một người lính cũ còn vương vấn chiến địa xưa. Những hạt mưa thuở nào. Buốt xót.

    Hình như có lúc Giang Hữu Tuyên linh cảm sự ra đi của mình. Ai mà không có một lần phải ra đi khi chuyến tàu thiên cổ vào ga cập bến. Nhưng, ở giây phút chia xa còn vương vần lại quê nhà. Thi sĩ đã nhắn với người ở lại. Mai này trong chuyến tàu thiên cổ. Nếu có người thương tiếc tiễn đưa. Xin hãy rắc thêm vào huyệt mộ. Chút tình hệ lụy núi sông xưa… kẻ tha phương, vẫn muốn trở về để nhớ lại những ngày xưa cũ của quê hương. Có tiếng gọi nào trầm thống cho một nỗi niềm day dứt khôn nguôi. Thơ, như bước chân trở về dù là một chuyến đi xa. Chuyến đi của “Đất gọi người đi”

    “Đất gọi người đi buồn biết mấy
    sông dài chảy xiết một giòng thôi
    từ nay chín cửa mưa mù lối
    sóng nước mênh mông nhánh củi trôi
    đã nhiều năm vắng xa biền biệt
    mưa nắng hai mùa gieo nhớ thương
    mương nước nhỏ chờ bông cải ngọt
    vượt mình trên mảnh đất quê hương
    nhưng chẳng thấy đâu giờ hạnh phúc
    đàn chim bay mãi chửa về đây
    áo cơm lần lửa qua ngày tháng
    mộng ước lui dần xuống kẽ tay
    rừng phong u uẩn nằm im tiếng
    chiều phả hơi sương lạnh nỗi nhà
    Việt Điểu Cành Nam ôi cách trở
    Ngựa Hồ còn hí Bắc Phong xa
    Mai này trong chuyến tàu thiên cổ
    Nếu có người thương tiếc tiễn đưa
    Xin hãy rắc thêm vào huyệt mộ
    Chút tình hệ lụy núi sông xưa..”

    Thời gia n qua thật mau. Tháng tháng ngày ngày qua đi. Trong nhịp sống vội vã quê người, có lúc vẫn nghĩ về phương trời cũ, đất nước xưa. Có mấy ai, giở lại trang thơ, tìm lại dư hương của người đã ra đi vào cõi không cùng. Làm sao, hình ảnh quê nhà lại cứ mãi vấn vương.

    Thế nào mà tâm tư lại cứ mải vương vấn. Đọc những câu thơ Giang Hữu Tuyên, có lúc thấy mình lênh đânh chẳng khác nào bè lục bình trôi trên sông, trên rạch. Đời người tha hương, có lúc lại nhớ tha thiết cơn mưa xứ mình, lại yêu tha thiết bát canh mồng tơi mẹ nấu và thấy muôn đời vẫn là giòng sông thơ ấu ngày xưa tắm mát buôi trưa hè. Ôi ! đó có phải là hệ lụy của núi sông xưa không?

    Viết nhân ngày giỗ của một thi sĩ, Giang hữu Tuyên mất ngày 14 tháng 11, không phải chỉ là tưởng niệm mà thôi, còn là những giây phút để nhớ về một thời kỳ đã qua của đời sống mình. Có những câu thơ, gợi lại một đời sống cũ, đọc lại trong cái xúc cảm mênh mang. Câu hỏi chúng ta có phải là những người lưu lạc không trên xứ người có lẽ sẽ dễ trả lời. Bởi, cuộc sống này, dù là của thế hệ thứ nhất, thứ một rưỡi hay thứ hai, cũng vẫn chỉ là người đứng bên lề ở nơi bản địa này. Dù rằng, quốc gia này đa văn hóa và có nhiều cơ hội để hội nhập và thăng tiến nhưng cái tâm cảm lạc lõng vẫn bàng bạc và lẩn khuất, nhất là trong văn chương. Tôi đọc thơ Giang Hữu Tuyên trong cảm giác bồi hồi ấy…


    18.11.2007
  10. Trần Dần,
    từ những trang nhật ký



    Tháng 2 năm 2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh triết vừa công bố "Giải thưởng Nhà nước cho các tác giả có tác phẩm hay, công trình văn học nghệ thuật giá trị cao góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc”. Danh sách những tác giả được giải là Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Hoàng Cầm và hai vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ.

    Khi biết mình được nhận giải, nhà thơ Lê Đạt và Hoàng Cầm đã tỏ ra hân hoan và sốt sắng bầy tỏ như Lê Đạt đã nói với phóng viên Việt Nam Net rằng một thành viên trong ban chấm giải là Đỗ Chu đã phát biểu là “Có thể cho đây là lời xin lỗi của anh em đối với các anh”.. Còn nhà thơ Hoàng Cầm thì tỏ ra cảm kích với kết quả của giải thưởng.

    Có nhiều người đã tỏ ra không thiện cảm với hành động mau mắn ấy. Cái án Nhân Văn Giai Phẩm tới nay vẫn còn là một vết thương nhức nhối. Những lời buộc tội ngày nào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm bây giờ vẫn rành rành ra đó, chưa bôi xóa được. Những đầy ải, tru diệt cho cá nhân và gia đình vẫn chưa phai… Giải thưởng cho bốn người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm thì có hai người đã ra người thiên cổ là Trần Dần và Phùng Quán. Theo nhà văn Nguyễn trọng Tạo thì có cả nhà thơ Hữu Loan trong danh sách những người được giải thưởng nhưng giờ chót bị thay thế bởi hai vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lân Thị Mỹ Dạ. Có lẽ, vì sự can cường bất khuất của nhà thơ tác giả Màu Tím Hoa Sim..

    Tình cờ, tôi đọc lại "Trần Dần Ghi 1954-1960”. Một cuốn sách lạ lùng. Từ tên tựa sách đến nội dung chất chứa bên trong. Những trang sách của một người viết cho chính mình ở thể dạng nhật ký nay một cách bất đắc dĩ thành một tác phẩm cho đậc giả. Những dòng chữ của sự thực, một sự thực đen tối không tưởng tượng nổi. Những bi ký ghi chép lại một thời kỳ mà con người đối xử với nhau không giống con người. Có những sự thực, là những sự thực chua chát, khi mà con người bị dồn đẩy vào trong những hoàn cảnh bất đắc dĩ, và trang nhiều trường hợp phải nghĩ đến mình mà quên đi những tình nghĩa, làm những điều mà kẻ sĩ không thể làm..

    Trần Dần, một kiện tướng của Nhân văn Giai Phẩm, người đã viết "Dạ Đài”, bản tuyên ngôn của thơ tượng trưng từ những năm 1946 và là nhà văn, nhà thơ có năng lực sáng tạo mãnh liệt, cũng là người chịu sự trù dập suốt cả cuộc đời của chế độ độc tài phi nhân ”Được cái hoạn nạn” ông đã chua chát tổng kết cuộc đời của mình. Tài ba như thế, tâm huyết như vậy mà vẫn phải chịu hết bão táp này qua phong ba nọ dòng dã mấy chục năm cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt. Đọc xong những trang sách cuối, bần thần một lúc, tự nhiên tôi thấy một nỗi buồn và mỗi khi nghĩ đến lại chạnh lòng. Cái cảm xúc ấy kéo dài nhiều ngày trong tôi. Tưởng tượng ra trong một xã hội mà con người phải luôn luôn sống thủ thế với nhau và tuyệt đối không tin tưởng vào một ai ngoài chính mình. Hoàn cảnh ấy đã tạo ra một quán tính chung để tự bảo vệ và sống còn. Trong cuộc sống ấy, mọi người tự rào kín mình trong chu vi phòng thủ, nhiều khi phải ích kỷ nghĩ đến mình trước và làm những công việc mà thật tình với thiên lương con người họ không muốn. Đè nén, trù dập, tù tội, bao vây kinh tế, thắt chặt sinh hoạt, cô lập hóa, tạo sự nghi kỵ lẫn nhau,.. bao nhiêu là tội nạn chực chớ những người bị coi là có "vấn đề”. Những người ấy, có thể là những người đi sai đường lối của Đảng, hay không hưởng ứng sự suy tôn lãnh tụ hay thừa nhận quyền chuyên chính vô sản. Chuyện chu di tam tộc tưởng là chuyện phong kiến ngày xưa, nhưng những chuyện lý lịch, chuyện liên quan còn tàn bạo gấp nhiều lần. Đời sống ấy quá nhiều bi kịch, mà hậu quả dành riêng cho những nhà văn, nhà thơ có chân tài, có tâm huyết lại càng ghê gớm hơn như trường hợp Trần Dần. Lúc còn trẻ, tù tội gian nan, sống nghèo khổ không sinh kế, về già thì bệnh hoạn liệt bại, không có thảm cảnh nào hơn. Đó là một mẫu chân dung nhà văn bị đầy ải và nghiến nát trong guồng máy chính trị toàn trị độc tài..

    Trần Dần viết ”Thế là tôi mất bảy năm kể từ ngày hòa bình bắt đầu sinh sự cho đến ngày xử án. Bảy năm trong văn học có ý nghĩa gì? Một cái chớp mắt. Bảy năm trong đời một con người thì có ý nghĩa lắm! Chớp mắt mãi mà không xong.. ”Ngày 7 tháng 7 năm 1958 là ngày ông bị án treo bút hai năm. Thế mà không ngờ cái án hai năm ấy kéo dài đến suốt cuộc đời.. Bảy năm, từ 1954 đến nam 1960, từ xã hội đến con người đều có nhiều thay đổi.. Cộng sản nắm chính quyền tao nhiều biến động cho đời sống nhân dân. Chủ trương đấu tranh giai cấp. Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ. Cải cách ruộng đất, đấu tố, sửa sai, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu máu xương, nước mắt.

    Thế mà, nhà thơ Trần Dần lại viết phê bình phê phán lãnh tụ văn nghệ Tố Hữu, là đảng viên mà lập gia đình với người thuộc thành phần gia đình liên quan có thân nhân di cư vào Nam bất chấp sự ngăn cấm của Đảng và về chủ trương văn nghệ thì đòi quyền tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ không thừa nhận chế độ chính ủy trong văn học. Thành ra, ông là người đứng đầu sóng ngọn gió, hứng chịu biết bao nhiêu đòn thù của chế độ. Bị phê phán bởi cả Hội Nhà Văn điều động, bị đấu tố bởi cả một tập đoàn cầm bút đang lăm le lấy điểm với chế độ. Trần Dần chịu những áp lực đè nặng lên đời sống mình và gia đình mình.

    Bảy năm ấy, với những trang nhật ký ghi chép lại,đã thành một cuốn sách mà để cho những lớp người của thế hệ sau hiểu được những tang thương dâu biển của một thế thời hỗn loạn của lịch sử Việt Nam. Ngôn ngữ, là tiếng than ngậm ngùi, là biểu tỏ của tâm sự không biết có ai làm tri kỷ. Những trang sách, không phải chỉ viết về một người mà còn cho cả một thế hệ, với một sự thực mấp mé cảnh tượng của cơn hồng thủy.

    Sự thực ấy, với Trần Dần, không phải được mô tả theo cảm quan của người đứng bên này hay bên kia chiến tuyến. Ở cương vị người quốc gia, những tác giả của Nhân văn Giai Phẩm là những thần tượng văn hóa, là tiếng nói của kẻ sĩ chân thật. Còn ở phía bên kia, họ là những người phản bội lý tưởng Cộng sản, là kẻ nội thù, là những người phải bị phê phán và tiêu diệt.

    Ở nhật ký Ghi của Trần Dần, có chân dung của một con người, có buồn vui riêng tư, có buồn bã thất vọng, có chua chát vì tình đời và cũng có những lúc đau xót vì tình người. Đọc những trang sách ghi nhận lại cảm xúc chân thực và rất người ấy, rõ ràng một điều là trong hoàn cảnh ấy, khó ai cưỡng chống lại được một guồng máy tàn bạo lạnh lùng của chế độ Cộng sản. Trừ khi, như một ý nghĩ của nhà văn Solhzenytsin, sự dối trá bị vạch trần và chế độ bị tan rã vì chính sự phản tỉnh ấy.

    Con người, dù là văn nghệ sĩ, không phải là thần thánh siêu việt, nên đôi lúc cũng ích kỷ, cũng tự thủ thân bằng những hành động đôi lúc vì mình hơn là vì người. Nhưng, họ vẫn là những người hướng thiện, có những ray rứt những ý nuốn đi gần đến điều thiện hơn là điều ác. Nhưng xã hội ấy lại đẩy con người đi gần cái ác hơn mà bỏ xa cái thiện. Không có bản cáo trạng nào hùng hồn hơn những trang sách mô tả đến những nhỏ nhen, những tị hiềm, những vết chàm của chân dung những người một thời vang bóng. Đọc xong, để xót xa để thương cảm. Và, lại càng thấy hiện trạng của một xã hội bị sa đọa và xuống cấp trầm trọng. Làm sao hơn được, mọi người bị đẩy vào thế nghi ngờ nhau, tị hiềm nhau và như thế mọi đối kháng với chế độ không có cách nào liên kết với nhau được.

    Lúc tôi còn trẻ, đọc “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc" của cụ Hoàng Văn Chí, hay đọc những bài thơ Trần Dần, Phùng Quán, tôi đã nghĩ đến những sĩ phu Bắc Hà cang cường, nhưng nay đọc lại nhật ký của Trần Dần, thì sự ngưỡng mộ ấy không giảm bớt mà còn xót xa hơn. Từ sự thực ấy, mới hiểu được nỗi thống khổ của người cầm bút bị treo bút. Lại càng hiểu hơn những gánh nặng đè lên vai người mang cái nghiệp người cầm bút mà đã trở thành nghiệp.. chướng. Cái họa văn tự đeo đuổi một đời, như những gông xiềng tuy không hiện hữu nhưng như mơ hồ ràng buộc. Chẳng thà là một cái tội có án để dễ thở hơn là những tội vạ cứ rình đến tạo những bi thảm cho đời.

    "Trần Dần, ghi 1954-1969”, nhiều khi là nhật ký ghi chép lại những sự kiện hàng ngày mà còn là những ghi nhận có lúc mơ hồ không rõ ràng mà chỉ có người viết mới hiểu được. Nhưng cũng có những đoạn rất rõ ràng minh bạch, ghi lại những sự kiện, những ý nghĩ bắng những hình ảnh, những ngôn từ chuyên chở được tâm cảm. Viết về thơ, với tâm thức của một thi sĩ, và thâm trầm của người hay suy tư triết học, ông đã có những dòng chữ thật xúc tích và chứa nhiều đam mê. Thí dụ, đoạn viết kể lại hành trình đi vào thi ca của ông. Trước kia, ông viết tuyên ngôn của phái Tượng Trưng:

    "Trước kia tôi muốn Thơ tôi thế nào?

    Thời đó tôi muốn một thứ Thơ như một cơn mộng ác, trong đó người ta giận dữ, người ta điên cuồng, người ta lồng lộn, người ta sống hỗn độn, đang Bắc sang đông, vừa ở Bắc lại vừa ở Đông. Người ta có thể bất phương chủ nghĩa, tự thả mình theo quy luật một thứ biện chứng duy tâm, những hình ảnh thơ nóng bỏng cháy như lửa, một hình ảnh ánh lên nhiều hình ảnh, hình ảnh nọ chống đối hình ảnh kia, lôi kéo nhau trong một điệu nhảy ma quái. Đúng là một cuộc sống chaotique, nhưng một cái chaos có harmonic của nó.. Một cái hỗn độn có trật tự riêng của nó. Và cái harmonic, cái thần tiên, cái trật tự đó là tùy theo tiêu chuẩn tôi cho là ý thích của tôi. Mà ý thích của Tôi là theo tiêu chuẩn tối cao! Đó là sơ lược cái mơ ước ngày tôi mười tám, mười chín tuổi. ”,

    Lúc ấy là khi ông viết Dạ Đài. Nhưng khi chiến tranh, Trần Dần tham gia bộ đội, ông suy nghĩ về thơ khác hơn. Một phần nào, cuộc sống đã ảnh hưởng ông, nhưng ngược lại ông đã có những đối nghịch sâu sắc với những người lãnh đạo văn nghệ của Đảng. Trần Dần là một trong những người sáng lập ra tạp chí Văn nghệ thuở đầu tiên nhưng lối thơ bậc thang của ông lại bị chê bai là lập dị khó hiểu.. Cũng như khi soạn tài liệu giảng huấn cho các khóa đào tạo văn công, ông bị chỉ trích là diễn dịch sai chính sách văn nghệ của Đảng. Dù rằng sau đó ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và do cái chết của họa sĩ Tô ngọc Vân đã tác động mạnh mẽ để ông hoàn tất tiểu thuyết "Người người lớp lớp”, một cuốn tiểu thuyết duy nhất của văn học kháng chiến thời kỳ đó về Điện Biên Phủ.. về thơ, ông đã đi gần với chính trị hơn, để viết về thời sự, vế cuộc chiến đang diễn ra với tất cả sự khốc liệt của nó:

    “Vào chiến tranh, tôi muốn Thơ tôi như thế nào?

    Có những ngày và nhiều ngày, tôi không nghĩ tới nữa. Lại cũng có ngày tôi nghĩ rất nhiều. Có lúc tôi tưởng như nắm chặt chân lý trong tay rồi. Có lúc tôi tưởng như mất cả cuộc đời!!

    Lúc tôi muốn một thứ Thơ dễ dãi. Lúc một thứ Thơ không có vần. Lúc một thứ Thơ như một hạt ngọc. lúc một thứ Thơ kể chuyện. Lúc một thứ Thơ gồ ghề. Lúc một thứ Thơ hiền lành, có cái khỏe của những bắp thịt hồng..Lúc một thứ Thơ rõ nghĩa. Lúc một thứ Thơ vừa rõ nghĩa vừa mờ 100, 1000 nghĩa khác. Lúc một thứ Thơ theo sátchinh trị từng bước một. Lúc một thứ Thơ na ná như của anh lính, nó mát mà lành, nó hiền mà khỏe, nó thực tế… Tôi vẫn hằng nghĩ, đó là chuẩn bị cho một cơn bão sẽ tới. Tôi góp gió cho nên trong chiến tranh tôi mất và tôi được là những cái đó, chưa thành cái gì cả. Tôi có thể nói chắc chắn rằng Thơ tôi chưa thành tức là chủ nghĩa chưa đúc, lý tưởng chưa chảy vào tâm máu, chưa hóa thành những tế bào của cuộc đời tôi. Thơ tôi chưa thành tức là con người tôi còn đang dang dở, cuộc đời tôi chưa có ra gì. Chiến tranh đã dạy cho tôi những điều lụn vụn, những sự thực chi tiết và bộ phận. Chiến tranh chưa tạo cho tôi thành một người có da có thịt. Tôi chưa nhìn thấy sự thực lớn lao nhất của cuộc sống. Cho nên không có lạ gì những ngày đầu tiên của Hòa Bình tôi rất buồn cho những năm Chiến tranh của tôi, tôi có những hối hận những tiếc rẻ tiếc đắt, những ý nghĩ bâng quơ và nhạt mồm..”

    Sau chiến tranh, tác giả rơi vào hụt hẫng. Thơ đang ngơ ngác giữa ngã ba đường. Người ta (chỉ lãnh đạo Đảng) muốn một đàng thì tâm ý ông lại ở một nẻo khác:

    “..bây giờ tôi muốn một thứ Thơ như thế nào?

    Những sự suy nghĩ của tôi nó kế tiếp nhau tuy nhiều lúc tưởng rằng nó chống chọi nhau và từ bỏ nhau hẳn. Bây giờ tôi muốn một thứ Thơ như thế nào đó giải quyết được một số những mâu thuẫn giữa tôi và người ta và giữa tôi với tôi. Tôi muốn nhiều nghĩa, mờ ảo mà người ta muốn rõ nghĩa rành mạch. Vì vậy tôi muốn có một thứ Thơ nào đó có một nghĩa rõ ràng kèm theo muôn ngàn nghĩa khác. Tôi muốn (..) không có vần, không có kỷ luật. Người ta thích thơ dễ đọc có vần vì vậy tôi muốn có một thứ Thơ nào đó rất tự do nhưng rất có nhịp chắc chắn, cái nhịp đó đủ sức mạnh và âm điệu để cho tự nó có thể sinh tồn - chỗ có vần chỗ không có vần. Nó rất nhịp nhàng nhưng đó là một cái nhịp nhàng tạo nên bằng những cái gồ ghề khúc khuỷu, chối tai rức óc. Nhưng mà những cái đó lại nhịp nhàng. Nghĩa là tất cả những cái xốc họp lại thành cái êm. Một cái êm rất xốc…

    Tôi thích Thơ phải có buồn có tủi, có suy nghĩ, có thấm thía có chua xót, có đau khổ, có máu, có mồ hôi, Thơ đầm nước mắt. Giọt mực là giọt máu, giọt mồ hôi. Accent thơ là những accent éo le, trái ngược, giận dữ, châm chọc, tự hào, hãnh diện, hằn học, soi mói …”

    Viết một tập nhật ký là không ngoài chủ đích ghi nhận lại những cái “được" của tác giả, những hoạn nạn khởi đầu từ chuyện ông không bằng lòng với chính sách kiểm soát văn nghệ của Đảng, viết bài phê bình tập thơ "Việt Bắc" của người làm thơ thuộc loại quan chức lãnh đạo Tố Hữu. Thêm vào đó, mối tình của ông với bà Bùi Thị Ngọc Khuê bị ngăn trở và phê phán gay gắt. Bà ngọc Khuê xuất thân trong một gia đình Công giáo và cả nhà đã di cư vào Nam năm 1954. Bất chấp sự ngăn cấm và kỷ luật của đơn vị quân đội và đảng bộ địa phương, Trần Dần vẫn không ngại bị gán tội "liên quan" và kết hôn với bà Ngọc Khuê gây nên những cơn bão tố cho suốt cả cuộc đời mình. Biết là sẽ khổ sở, biết là sẽ bị trù dập nhưng với bản tính riêng ông vẫn bất chấp. Trong "Ghi“, Trần Dần than thở:

    ”..Đời một người con gái, một đứa bé và đời tôi người ta quyết định tùy tiện như vậy sao? Vậy có nhân đạo gì nữa không? Tư tưởng lập trường gì mà đàn áp tâm hồn người ta như vậy?

    Kính gửi những người phụ trách cuộc sống ở Việt Nam tôi buồn như thế, khổ như thế. người ta hà khắc vô lối với đời tôi, đời người con gái tôi yêu, đời đứa con tôi sắp đẻ như thế…

    Khi ấy đang có cuộc di cư vào nam và tình hình còn nhiều lộn xộn chưa ổn định nên Đảng chưa ra tay vội mà chờ thời gian sau thuận tiện hơn. Thế mà Trần Dần lại chọc tức bằng một công việc táo bạo là viết bài phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, một người coi như là hti sĩ tiêu biểu cho văn họcmiền Bắc. Bài phê bình rất nặng nề, coi Tố hữu như một nhà thơ giả trá, thi ca không có hồn và toàn là sao chép lượm lặt chứ không có nét to lớn vĩ đại của sáng tạo mà bộ máy tuyên huấn đã xưng tụng. Nhỏ nhen, Tố Hữu ra lệnh bắt giam Trần Dần ở Việt Bắc. Vợ trần dần ở Hà nội bơ vơ một minh, bụng mang dạ chửa, không sinh kế. Bạn bè phài thăm hỏi, giúp đỡ, nâng cao tinh thần. Vụ ông bị bát gây ra dư luận ồn ào tại Hà nội và Đảng buộc lòng phải dẹp yên và sửa sai bằng cách bắt buộc Trần Dần tham gia phong trào cải Cách Ruộng Đất.

    Năm 1956, nhân cơ hội chính biến ở Liên Xô, Krushchev hạ bệ Stalin và chủ trương xét lại nên một nhóm trí thức ở Hà Nội thực hiện "Giai Phẩm Mùa Xuân” trong đó có bài "Nhất Định Thắng " của Trần Dần. Tạp chí này vừa in xong là bị tịch thu ngay, Trần Dần bị đấu tố tơi bời, quy tội phản động, mang ra đấu tố công khai trước hội nghị. Trần Dần uất ức dùng lưỡi dao cạo cứa cổ tự sát nhưng không chết. Sau này còn vết sẹo to ở cổ.

    Năm tháng sau, lợi dụng phong trào sửa sai sau cải cách ruộng đất, nhóm trí thức này lại thực hiện "Giai Phẩm mùa thu" và tạp chí Nhân văn. Cụ Phan Khôi viết ”Phê Bình Lãnh Đạo VănNghệ”, nhà thơ Hoàng Cầm viết "Con Người Trần Dần”. Sau khi bị đàn áp, đến năm 1957, báo Văn phê bình Đảng và Trần Dần đăng bài thơ ”Hãy Đi Mãi” với sự xác quyết sẽ theo đuổi lý tưởng của mình đến cùng. Trần Dần bị kỷ luật, treo bút ba năm nhưng thực tế thì bị ghi tên vào sổ đen đoạn trường và không một chủ nhiệm hay chủ bút nào có gan đăng bài viết của ông nữa. Cuộc đời của ông lúc này bị cô lập, tuyệt đườing sinh kế, cả gia đình nheo nhếch sống nghèo đói khổ cực.

    Ghi lại đời mình trong những trang nhật ký, ông trung thực trong từng ý nghĩ cũng như sự nhận định. Nhiều chi tiết mà tới bây giờ khi đọc tới vẫn làm người đọc rùng mình ghê sợ. Cải cách ruộng đất, vô sản chuyên chính, oan khuất chập chồng, cơ hội cho những kẻ mặt người dạ thú cầm quyền sinh sát. Những chuyện xảy ra, vừa bi vừa hài, tưởng là chuyện dỡn mà là sự thực. Con người đối xử với nhau tàn bạo, phản trắc, vì quyền lợi mà đôi khi giết nhau một cách gián tiếp, gán cho nhau những tội lỗi tày trời một cách điêu ngoa. Trần Dần ghi chép lại. Không phẩm bình nhưng cô đọng và lôi cuốn với sự thuyết phục. Đọc những trang nhật ký, mà ở đó, sự thực được phô bày để rõ nét hơn một thời kỳ vô cùng đen tối của đất nước mà chủ nghĩa Mác Lê-nin đã gây ra.



    Những trang nhật ký tiếp theo từ năm 1957 là những năm mà Trần dần viết nhiều về những người cầm bút cùng thời kỳ với ông. Chân dung con người thực được tỏ lộ, để sự thực làm đau đớn và thất vọng những người đọc thời sau. Xã hội ấy, thì những chuyện như thế là chuyện dĩ nhiên phải có. Họ phải tự tạo ra áo giáp trong cuộc sống để thủ thế và nhiều khi có những lời nói, những việc làm trái với lương tâm ngược lại điều mong muốn.

    Trần Dần viết về Lê Đạt, người mà về sau này đã nhận giải một cách thật là "khôn ngoan" và "hồ hởi”:

    “..Viện Văn Học Gorki chả lấy 8 người đi học. Gạn mãi, ta mới chấm được 5. ! Ông Lê Đạt đâu tuyên bố: xin đi, để tị nạn!

    Hoàng Cầm cười khỉnh ”Ông Lê Đạt mà! Bão chưa lên ông ấy đã trốn biến ngay”

    Trần Dần viết về Văn Cao, HoàngCầm:

    "Cuôí cùng Vcao (Văn Cao) bảo thẳng mặt HCầm (Hoàng Cầm) rằng tính mày hay mách lẻo thì nhớ cho kỹ nội dung cuộc gặp hôm nay đấy, có mách thì mách cho đầy đủ!

    Cuộc hội đàm bẩn thỉu ấy xong rồi, không biết Vcao có về báo cáo lãnh đạo hay không? Nhưng HCầm thì có: Anh ta gặp ngay NĐThi (Nguyễn Đình Thi) báo cáo ra sao không rõ, nhưng cũng có thể đoán là anh ta chắc không báo cáo đúng về riêng cái phần của anh ta! Tphác (Tử Phác) kết luận "cả hai thằng đều như hai con đĩ rạc đĩ rày cả. Bẩn hết chỗ nói!!”

    Và đoạn khác: ”Tphác nói" rất lạ, là nó cứ nói mình, rất cynique rằng, nó xưa nay vẫn là người tiến bộ, theo Đảng! Kỳ thế cơ chứ, bao nhiêu lần pum, ăn uống, nó nói những gì, bây giờ nó làm như không có cả ! mà nó lại rất thành thực cơ chứ, Vcao quên thực hay sao! Đặng Đình Hưng bĩu môi sì một cái. "Quên. Nó thiếu probité..thì có”.

    Đang lúc kiểm thảo ở cơ quan thì tiên chỉ đi pum. Tất nhiên là lãnh đạo phải biết! Một tối anh mò đến Tố Hữu. Tố Hữu hỏi:

    - Có còn chống đối không?

    - Thôi rồi. Văn Cao nói.

    - Nhưng pum thì vẫn còn chứ? Tố Hữu hỏi độp một cái, khác gì cái tát.

    Văn Cao choáng người, thú nhận vẻ xuê xoa:

    - Có một lần..Hì!

    - Đã mắc chưa?

    - Chưa!! Hì.. Buồn quá thì lại đi..Hì!! Chứ chưa mắc..Hì..

    Văn Cao về, kể lại chuyện ấy, có vẻ khoe cái sự thân mật của mình với Đảng đến được cái độ ấy!!”

    Trong Ghi rất nhiều những đoạn ghi lại những câu chuyện của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Những Nguyễn Tuân,Tô Hoài, Lê Đạt, Phùng Quán, Phùng Cung, Nguyễn Sáng, Sỹ Ngọc, Quang Dũng, Trần Lê Văn, Đặng Đình Hưng, Tử Phác, Hoàng Cầm.. Những người thưc, chuyện thực. Và ở trên tất cả là một không khí chung của một xã hội mà mọi người không ai tin tưởng vào ai được, luôn luôn dè chừng, canh chừng nhau, thủ thế nhau, báo cáo lẫn nhau. Ở những khuôn mặt ấy, họ bộc lộ đầy đủ mặt xấu mặt tốt. Đừng ai bắt họ phải tử vì đạo bởi vì trong cuộc sống họ phải vật lộn bươn chải để tự sinh tồn nên cá tính của mỗi người hiện ra không che dấu được. Những năm 1959, 1960, Trần Dần sống trong hoàn cảnh tận cùng khổ sở một vợ hai con gia đình nghèo mà đơn bạc lại không được ở gần để săn sóc. Bị cải tạo lao động chân tay ở tập đoàn sản xuất Chí Lonh ở gần thị xã Đông Triều. Công việc nặng nhọc, không phù hơp với thể chất thư sinh nên lâm bịnh nặng nhưng vẫn phải gượng làm việc, cố gắng để bày tỏ thiện chí muốn tự mình sửa đổi bằng lao động. Viết văn, làm thơ, lúc này đối với ông sao xa vời quá. Năm 1960 ông bị cảu tạo ở khu gang thép Thái Nguyên, bị bệnh nặng nên được trở về Hà Nội. Sau đó, ông sống âm thầm bằng nghề dịch sách, bị cấm viết một cách không chính thức và xóa tên trong những sinh hoạt văn học. Trong "Ghi" có kể lại những ngày tháng đó, phác sơ lược nỗi đau đớn và vẫn là những câu hỏi để tự vấn chính mình. Lao động như thế có giúp ích gì cho nhà văn, nhà thơ hay không…

    Đọc xong cuốn sách lần đầu, tôi bàng hoàng cả người và những lần sau đều như thế. Đời sống ấy, từ những phóng chiếu trung thực, từ tâm tư tác giả, phản ánh một thế thời đen Thẳm. Câu văn, ý chữ, không phải đơn thuần mà như kết tinh bằng máu lệ của một đời người trí thức sống trong một xã hội đầy biến loạn nhiều biến cố. Trần Dần là một người cầm bút bất hạnh, là một nhà thơ luôn gậm nhấm nỗi bất lực của mình với cuộc đời. Cuộc sống dìm ông xuống tận đáy vực sâu, tuổi trẻ hoạn nạn, tuổi già bệnh hoạn liệt bại cho đến khi nhắm mắt lìa đời.

    Trần Dần, tuy đời sống đầy tân toan cực nhục, mà thơ ông vẫn khởi hành đi, đi mãi như những câu thơ:

    ”Tôi vẫn cháy
    Ngọn hải đăng con mắt
    Ở trong biển sống
    Hằng đêm
    Tôi vẫn đóng những câu thơ
    Như người thợ đóng tàu
    Chở khách
    Đi về phía trước.
    Nơi
    Loài người
    Đã biết sống chung nhau
    Nơi
    Tất cả
    chẳng còn ai bần tiện
    chẳng còn lo
    cơm áo
    nợ nần “

    nghĩ về một thi sĩ, nghĩ về một người tuẫn nạn bởi văn chương, tôi bắt chước ông Nguyễn Hữu Đang, khấn vái và cầu chúc:

    "Anh đi nhé và sẽ hưởng hạnh phúc lâu dài ở thế giới bên kia!!!


    31. 10. 2007
  11. Văn Quang,
    với những người muôn năm cũ



    Những người muôn năm cũ. Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 đã có bao nhiêu khuôn mặt đã thành người của muôn năm cũ? Những khuôn mặt ấy dần vắng đi trong đời thường nhưng vẫn còn hiện hữu trong văn chương.

    Với tôi, không biết tại sao lại có một liên tưởng nào đó, từ những chuyện kể về các chân dung văn học lừng lẫy một thời làm tôi nhớ đến Sài Gòn, thành phố mà tôi có quá nhiều kỷ niệm. Từ người nhớ đến cảnh, để gợi lại một thời đã qua. Cho dù, lúc ấy tôi chỉ là một người mê đọc sách và không có sinh hoạt văn chương nào. Nhắc đến những người xưa, lại nao nao buồn, lại nhớ về những kỷ niệm mà có lẽ khó quên trong đời mình. Những kỷ niệm riêng tư, sống mãi trong tâm thức mình không phai…

    Có một lần tôi đọc bài viết của Văn Quang trong loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” viết về tang lễ họa sĩ nhà văn Thái Tuấn có những cụm từ làm tôi chạnh lòng. Những “người anh em cũ”. Chữ “cũ“ của ngày xưa, dù chỉ mấy chục năm mà sao nghe xa xăm lắm:

    “Tang lễ cố họa sĩ Thái Tuấn chắc chắn sẽ có rất nhiều “anh em cũ” đến tiễn đưa “lão“ về nơi an nghỉ cuối cùng. Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với tôi như thế trước khi tôi từ Lộc Ninh về Sài Gòn. Tôi hiểu “anh em cũ” có nghĩa là những anh em hoạt động trong lãnh vực văn học nghệ thuật trước năm 1975 ở miền Nam, chứ chẳng riêng gì ở Sài Gòn. Họa sĩ Thái Tuấn đã trở thành một trong số vài nghệ sĩ nhiều tuổi nhất còn sống ở thành phố này. Ông trở thành “cây đại thụ” cũng như những hàng cây đại thụ mà từ khi những người Bắc di cư vào Nam năm 1954 đã nhìn thấy trên những con đướng đẹp nhất đô thành thời bấy giờ..”

    Tôi có ý nghĩ như đọc một bài viết của một người “lưu lạc” trong chính đất nước của mình, viết chuyện hiện tại mà nghe vương vất những chập chờn của qúa khứ. Chiến tuyến hai bên hình như là đường hào quá sâu, cà mấy chục năm mà vẫn chưa san bằng được. Đọc bài viết, tưởng như thấy những người bị gạt bỏ ra những sinh hoạt mà họ yêu mến trân trọng. Và, dù có muốn nối tiếp cũng chỉ là những công trình rời rạc mà thôi.

    Văn Quang viết ”… Trong lúc chờ đợi linh cữu ra ngoài xe, tôi có dịp nói chuyện với Dương Nghiễm Mậu. Hồi này anh cắt tóc ngắn, kiểu cắt “bốc” của những cậu học sinh khi còn nhỏ. Anh vẫn trẻ trung như thanh niên. Tôi chưa kịp cười anh đã giải thích ngay ”Ấy cắt tóc như thế để chúng nó không nắm được tóc mình” Nguyễn Nghiệp Nhượng nhún vai, phê một câu ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa ”hơi muộn”. Một anh bạn nào đó hùa theo “Không những nó bắm tóc ông mà còn bị nó ghè cho gãy xương”. Tôi hỏi lảng ”Cuốn sách của ông ra sao rồi? Hết bán được rồi phải không?” Dương Nghiễm Mậu cười tỉnh như không ”Chỉ không bán được ở Sài Gòn thôi. Còn các nơi vẫn bán như thường. Mình chỉ ngại cho nhà xuất bản, họ bỏ vốn ra in khá nhiều. Mình thì cứ bình an vô sự. - “Té ra thành phố Sài Gòn lại không cởi mở bằng những nơi khác”. “ở đó mà cởi,,”.

    Một chút chua chát. Một chút bất cần. Những người cầm bút thuở xưa hình như vẫn chưa “thỏa hiệp” được. Không giống như những Từ Kế Tường, Đoàn Thạch Biền, Mường Mán,.. để có chức tước, có nhà cửa…!!!

    Văn Quang đã viết trong “Sài Gòn – Cali 25 năm gặp lại“ về hiện tượng ấy:

    “… Có lẽ tình hình ấy cũng giống như ở Sài Gòn thôi. Chỉ khác là ở Sài Gòn lóp người hoạt động văn nghệ trước năm 1975 hầu hết đã yên lặng thậm chí có một số nhiều, độc giả ở đây không còn biết đến tên tuổi họ nhưng ở nước ngoài thì lại có nhiều người biết đến tên tuổi họ. Đó là một sự thật. Nhưng có những tên tuổi vẫn còn sống được giữa hai thời kỳ, đó là những người vì lẽ này hay lẽ khác vẫn còn đất dụng võ, dù là sống vất vưởng chứ cũng chẳng làm nên trò trống gì. Hay nói cách khác là những người cần kiếm cơm ăn áo mặc hàng ngày. Còn những vị sống được giữa hai thời kỳ mà vẫn cơm no rượu say thì có thể đếm trên đầu ngón tay.

    Nhưng với những anh em đã từ xưa cùng sống với nhau ở Sài Gòn thì với người ở nước ngoài về, tinh thần vẫn còn đó, sự gần gũi vẫn như xưa nếu không muốn nói là hơn xưa. Hồi đó có những người chưa từng gặp nhau chỉ biết tên nhau nhưng bây giờ trở về người ta đi tìm nhau, đôi khi là sự tương trợ rất đầm thắm. Đó là sự thông cảm ngày càng sâu sắc càng thấy thương nhau yêu quý nhau hơn. Anh Thái Tuấn hỏi về tình hình những anh em còn ở lại đây. Tôi kể:

    - Không nhiều lắm nhưng cũng đủ để vui chơi những lúc nhàn rỗi. Bây giờ có tuổi cả rồi nên nhiều lúc ngại di chuyển.Thỉnh thoảng có dịp nào đó gặp nhau, cái đám ma như đám ma Trần Lê Nguyễn thì đông đủ cả, đám giỗ như giỗ anh Chu Tử thì cũng vài ba chục người do gia chủ Chu Vị Thủy và Đằng Giao chọn lựa, tiễn người ra đi như tiễn Uyên Thao, Thanh Thương Hoàng có đến trên 40 người. Lâu lâu có một ông về chơi như ông Phan Diên thì lại cơm gà ngồi túm tụm trong một căn phòng nhỏ. Sinh hoạt chẳng có nơi chốn nào nhất định và làm thế nào có nơi chốn nhất định được ! tuy nhiên những hoạt động của anh em ở hải ngoại thường được anh em ở đây rất chú ý. Nhưng báo chí sách vở thì khó lòng về được đến nơi. Đến ngay mấy số báo Kịch Ảnh vô thưởng vô phạt gửi qua bưu điện năm lần đều mất tăm cả năm. Vài anh em có computer, chơi e-mail nói chuyện cà kê dê ngỗng với nhau hàng ngày nên hầu như những sinh hoạt lặt vặt thì chuyện gì cũng biết ngoại trừ những chuyện mà anh em ở bên đó cho rằng có hại cho những người ở đây thì họ không gửi. Tuy vậy đôi khi cũng lạc lõng một vài cái e-mail lạ hoắc vừa đọc vừa lo chẳng biết có chuyện gì xảy ra hay không..”

    Văn Quang đã viết Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự trong một tình cảnh tế nhị của những người không có tự do cầm bút. Bài phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ bày tỏ một vài điều.

    “Lê Thị Huệ; Tại sao ông lại chọn đề tài ấy. Giữa cách viết này ông viết rất sung sức, rất khỏe, rất bén nhạy. Tại sao ông không chọn lối sáng tác tiểu thuyết như trước năm 1975?

    Văn Quang: Về câu hỏi thứ hai tôi chọn lối viết “Lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự” bởi mỗi đề tài, tôi chọn một lối viết khác để độc giả dễ dàng chia sẻ những cảm xúc, những ý tưởng của mình. Trước đây tôi cũng thường viết nhiều loại. Tiểu thuyết, tiểu thuyết phóng sự, phóng sự, truyện ngắn. Tiểu thuyết để diễn tả những đề tài về nội tâm sâu sắc hơn, và tính thời đại chứ không phải thời sự. Tính thời đại có thể nói về những sự việc, những tâm trạng, những hình ảnh cách đó 5, 10 năm. Nhưng thời sự thì chỉ diễn tả những sự kiện xảy ra gần nhất trong tuần hoặc trong tháng.

    “Lẩm cẩm” là lối viết có tính cách thời sự. Bởi tính cácch đặc thù của thời hiện tại nơi tôi đang sống nên buộc phaỉ viết theo một cách nào đó để không bị gây phiền lụy. Tôi xông vào những đề tài xã hội nóng nhất có tính điển hình nhất mà người dân đang chú ý. Một nhu cầu khác nữa là hướng đến độc giả hải ngoại đang quan tâm tới điều gì? Nói cho rõ hơn, Việt kiều của chúng ta đang muốn biết điều gì đang xảy ra tại quê hương mình. Chắc ai cũng muốn có những thông tin chính xác không bị vo tròn bóp méo bởi bất cứ lý do nào, đôi khi chỉ là sự “tam sao thất bản” nên thông tin thiếu độ trung thực. Tôi chọn lọc những sự kiện ấy, tìm kiếm thông tin chi tiết và làm thế nào càng chính xác được càng tốt. Nó không phải là một bản tin thuần túy mà đưa vào những nhận định quan điểm của riêng mình như một lời bàn bạc, nói chuyện với độc giả một cách bình thường chứ không phải là lý luận. Từ đó bạn đọc có thể hiểu rõ được vấn đề hơn và có thể suy luận nhận định riêng. Do đó, người ở xa quê hương vẫn có thể biết rõ những sự việc xảy ra ở quê nhà.

    Tuy nhiên như chị đã thấy ”lẩm cẩm Sài Gòn” không chỉ là những chuyện lẩm cẩm. Nó có cả những mặt trái mặt phải của xã hội, chuyện khôi hài và chuyện đau thương những bản tường trình thẳng thắn vượt qua mọi áp lực. Miễn là chuyện xảy ra có thật. Cái nhìn xoáy vào phía sau những sự việc đã và đang xảy ra chứ không phải chỉ có bề mặt sự việc, tôi nghĩ đó mới thực sự cần thiết cho bạn đọc ở nước ngoài vốn không có nhiều thì giờ theo dõi.

    Tóm lại, “Lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự” nếu tổng kết lại nó sẽ là một bức tranh toàn cảnh của xã hội tôi đang sống. Nó phản ảnh được trung thực mọi vấn đề ở bế mặt đời sống của người dân thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội. Từ một anh nông dân ”lừa được cả nước“ đếm một đại gia lương thiện và bất lương từ lớp thanh niên đến các quan chức từ cô gái tỉnh lẻ đến các cô gái chân dài thành thị. Từ nỗi đau thương cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến những cảnh trác táng cùng cực hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước… cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn những điều phi lý bất công những điều cần nói mà người dân không nói được.

    Tất nhiên trong hoàn cảnh của tôi có những hạn chế mà ai cũng hiểu được. Cho nên viết và lách vẫn là điều phải nghĩ tới. Tôi làm cái gì mà luật không cho phép mà cũng không cấm. Tôi làm với lương tâm của người cầm bút. Dù ở đây chẳng có ai công nhận tôi vẫn là người cầm bút. Người làm báo có thẻ làm báo nhưng tôi chẳng có gì ngoài những tìm tòi của mình, tự mình lựa chọn thông tin. Còn những “rủi ro” bao giờ tới và tới lúc nào, đành chấp nhận như một số phận an bài. Nếu cứ nghĩ tới những thứ đó thì chẳng làm được việc gì đáng làm. Tôi không tham gia bất kỳ tổ chức nào, tôi không thích làm “chính trị” như bản tính tôi từ xưa tới nay. Tôi chỉ biết cầm bút, độc lập và hành xử theo tiếng gọi của lương tri…”

    Hay câu trả lời Lê Thị Huệ về những ngày tù của ông:

    “Có những điều đáng nói về những ngày tháng trong nhà tù. Và cũng đã có rất nhiều những cuốn sách nói về chuyện này rồi. Nhiều chi tiết đã được trình bày cụ thể. Vì thế lúc này tôi nghĩ vào vị trí của tôi nên chuyên tâm vào những vấn đề xã hội hiện tại mà tôi đang có điều kiện tìm hiểu tường tận hơn các bạn khác. Tôi chỉ có thể nói nhà tù vẫn là nhà tù, không có chuyện cải tạo ở đây. Điều này tôi cũng đã viết trong “Ngã Tư Hoàng Hôn”. Một lúc nào đó, nếu còn thì giờ có thể tôi sẽ viết lại toàn bộ những sự thật mà tôi đã được chứng kiến”

    Riêng với cá nhân tôi, một người đọc tôi đã nhìn Văn Quang qua con mắt của một người rất tò mò về đời sống ở một nơi chốn mà mình rất thân quen nhưng bây giờ xa lạ. Đọc những bài viết của ông, tôi mường tượng thấy một cuộc sống linh động diễn ra, phản ánh cho một thời thế thật nhiều biến động. Ở thời điểm này, khi cả thế giới như một ngôi làng trong kỹ nghệ truyền thông thì con người dù ở những không gian khác nhau gần gũi nhau hơn. Đọc Văn Quang để nhớ lại, để hồi tưởng và thấy cả một đại dương xa cách ngàn trùng có lúc như thu nhỏ lại để gần tới một vài bước chân đi đến…

    Tôi đã đọc tiểu thuyết Văn Quang từ khi còn lâu lắm lúc còn ngồi ở ghế nhà trường. Tôi biết ông là một nhà văn có nhiều tác phẩm được in và rất nhiều độc giả. Thêm nữa, ông là một người viết tiểu thuyết từng kỳ cho các nhật báo ở Sài Gòn có những tác phẩm được chuyển thể thành phim ảnh. Ngoài ra ông còn làm Quản Đốc đài phát thanh Quân Đội và là một sĩ quan cấp tá trong tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị của quân lực VNCH. Nhưng khi tuổi trẻ tôi ít quan tâm tới những tiểu thuyết như Chân Trời Tím, hay Người Yêu Của Lính, dù những cuốn sách này đã gây ra những dư luận một thời. Lúc ấy, tuổi trẻ nên say mê theo những “thời thượng”, một chút triết học, một chút làm dáng của sự chưa trưởng thành. Lúc ấy vừa bắt đầu những khốc liệt của chiến tranh nên đời sống đã nhuốm nhiều những hoài nghi, những vấn nạn của những người vừa đi vào cuộc.

    Khi sang định cư ở đây, bắt đầu gia nhập sinh hoạt văn chương, quen biết người này người kia, tôi biết thêm nhiều chi tiết về nhà văn Văn Quang. Người hay nhắc tới ông nhiều nhất là nhà văn Mai Thảo. Trong những cuộc trà dư tửu hậu ông hay nhắc đến những bạn hữu của ông, những người đã cùng nhau cầm bút làm thơ viết văn trong thời kỳ hai mươi năm văn học miền Nam. Ông nhắc đến một người bạn đã chia sẻ với ông những nỗi buồn, những niềm vui của nghiệp cầm bút với tâm cảm xót thương những người còn kẹt lại ở quê nhà.

    Khi Văn Quang gửi bản thảo tiểu thuyết đầu tiên ông viết sau khi bị tù cải tạo trở về “Soi Bóng Cuộc Tình”, nhà xuất bản Hồng Lĩnh in và nhà văn Mai Thảo đã viết một bài vào tập vừa trân trọng vừa thân ái. Ông nhắc đến những kỷ niệm, những lúc vui trong sum họp bạn bè, những lúc buồn khi cùng chung những ngày đen tối sau năm 1975. Nhà văn Mai Thảo viết:

    “... Để khép lại bài viết này, một vài dòng về cõi văn chương tiểu thuyết của Văn Quang. Ta có nhiều nhà văn quân đội là những tài viết xuất sắc. Như Phạm Huấn, Thảo Trường, Y Uyên, Diên Nghị và nổi bật nhất là Phan Nhật Nam. Nhưng ở mấy nhà văn vừa kể, thường chỉ là những bút ký và hồi ký chiến trường, về đời sống quân ngũ, về những tuyến đầu và những trận đánh, với hình ảnh người lính chiến trực diện với kẻ thù trên cái toàn cảnh của chiến trường 20 năm khốc liệt. Văn Quang khác. Là một tiểu thuyết gia trong cái nghĩa trọn vẹn và toàn phần của một tiểu thuyết gia ông đã đẩy cõi viết ông tới những cõi bờ rộng lớn và nhiều mặt hơn, ở đó không chỉ có tiền tuyến mà còn có hậu phương, những cõi bờ mênh mang ấy từ muôn đời đã có một cái tên gọi rất giản dị là xã hội, là đời sống. Và từ một vị trí tiểu thuyết gia như Văn Quang, xã hội không phải là một đồng bằng phẳng lặng và đời sống một con đường một chiều. Mà là những đỉnh cao kế liền những vực thẳm. Mà là những ngày đẹp trời còn có ngày mưa gió. Mà là những giọt lệ bên cạnh những tiếng cười, máu đang chảy ở một phía này lại hoa nở ở phía kia. Tất cả tạo thành một địa hình nhân thế cực kỳ phức tạp, với tình yêu, hạnh phúc và những vui buồn, lúc là sự thật lúc là ảo tưởng với những tỏ hiện lúc là mặt phải lúc là mặt trái, ở đó mỗi con người sống và chết với những vấn nạn, những mộng tưởng, những thảm kịch tạo nên phần số và định mệnh của một đời người. Những trạng thái trăm vẻ nghìn hình vừa kể chính là những chất liệu cho một thể văn phổ biến nhất và đang được đọc nhiều nhất ở thế kỷ này là thể văn tiểu thuyết, và người xử dụng tốt đẹp thể văn này là một tiểu thuyết gia.

    Văn Quang là người của thể văn tôi vừa nói tới. Cho nên, bằng nhận thức trên và qua những tác phẩm chủ yếu của Văn Quang tuy ông cũng có một số phóng sự vui như Nguyễn Đình Thiều, như Hoàng Hải Thủy, trước sau tôi chỉ thấy ông là một tiểu thuyết gia, một tiểu thuyết gia trước hết. Một tiểu thuyết gia đã hiểu được rất rõ điều này ; là những tiểu thuyết hay của một thời – điều này cũng cắt nghĩa cho những cuốn best- sellers- phải có hiệu năng hấp dẫn và lôi cuốn người đọc. Không có là thất bại. Và lôi cuốn và hấp dẫn chính là hai điều đáng ghi nhận nhất ở cách viết văn Quang, ở tiểu thuyết Văn Quang. Tiểu thuyết Văn Quang có một số người đọc mọi giới rộng lớn vì thế. Một thời gian dài, ông là một trong những tác giả đắt giá, có sách đạt tới những số bán cao nhất của văn chương tiểu thuyết ở miền Nam vì thế..

    Cho nên tôi nghĩ, dẫu sau 17 năm im lặng và vắng bóng, Văn Quang không hề trở thành xa lạ với người đọc mà vẫn là một tác giả được nhiều người yêu mến. Và tiểu thuyết ông cũng vậy, viết lại 17 năm sau mà truyện dài do Hồng Lĩnh xuất bản ở ngoài nước là tác phẩm đầu tiên.

    Theo nhà phê bình Uyên Thao thì các tác phẩm của Văn Quang có thể chia làm bốn thành phần chính. Thứ nhất là mô tả cuộc sống của tuổi trẻ với những Nguyệt Áo Đỏ, Đời Chưa Trang Điểm, Tiếng Hát Học Trò, Nét Môi Cuồng Vọng, Từ Biệt Bóng Đêm… Phần thứ hai là phản ánh đời sống quân ngũ với Chân Trời Tím, Vì Sao Cô Độc, Người Lính Hào Hoa, Người Yêu Của Lính, Ngàn Năm Mây Bay., Phần thứ ba là phản ánh xã hội thực tại thời chiến như Xuôi Dòng, Tiếng Gọi Của Đêm Tối,, và thành phần sau cùng là châm biếm những lề lối thời thượng lố lăng thuộc nhiều lãnh vực sinh hoạt, đặc biệt là các giới làm văn học nghệ thuật như Những Ngày Hoa Mộng, Sài Gòn Tốc.

    Về tác phẩm Ngã Tư Hoàng Hôn được in ở hải ngoại trong thể loại phóng sự tiểu thuyết, là một trong những sở trường của Văn Quang. Có người nói rằng so với những tác phẩm được viết từ trước thì Ngã tư Hoàng Hôn có khá hơn nhưng chưa đủ sức vuột trôi khi sa sánh với những cây bút như Vũ Trọng Phụng thời tiền chiến chẳng hạn. Theo tôi, khó mà so sánh giữa hai người cầm bút ở hai thế hệ khác nhau có tâm tư khác nhau và cả đời sống cũng khác biệt nhau một cách sâu xa. Vũ Trọng Phụng có cái nhìn của một người tuy sống dưới chế độ thực dân nhưng đời sống tương đối bình yên và ít có những biến động đời sống tác đông đến nhân vật. Cái hiện thực của ông vẫn pha trộn hư cấu nhiều hơn. Còn ở Văn Quang, đời sống của chính tác giả và cả một xã hội mà ông sống là một cuộc sống bế tắc và tất cả mọi giá trị bị đảo lộn vì những biến cố thời thế. Con người ở trong những cơn lốc xoáy, dù ở bên này hay bên kia, dù trẻ tuổi hay già lão, dù là cán bộ viên chức của chế độ mới hay là những người của chế độ cũ vừa được thả khỏi trại tù, và hình như bị chìm đắm vào trong một bầu khí quyển tối tăm của một thế giam bị xuống cấp tới tận cùng đầy đọa. Những người đã từng sống ở trong nước chắc hiểu rõ những cảnh tình này. Trong diễn tả cuả Văn Quang, hình như chất hiện thực nhiều hơn so với những hư cấu và một xã hội có thực được phác họa lại bằng những chấm phá độc đáo và sâu sắc.

    Sau năm 1975, tình trạng xã hội ở Việt Nam càng ngày càng có nhiều vấn đề trầm trọng từ kinh tế đến sự phá sản của đạo đức. Chế độ chính trị độc tài toàn trị đã gây ra bao nhiêu nỗi thống khổ cho dân chúng. Và, con người trong hoàn cảnh ấy cũng bị ảnh hưởng nặng nề theo. Nhà văn Uyên Thao đã viết về “Ngã Tư Hoàng Hôn”:

    “qua Ngã Tư Hoàng Hôn, Văn Quang đã phác họa những hậu quả não nề do các chế độ chính trị tạo ra in hằn từ tâm lý cá nhân đến thực tế xã hội để hình thành bức chân dung toàn cảnh về sự dậy dụa trong ngột ngạt tối tăm nhớp nhúa của con người Việt nam sau những biến động lịch sử nối tiếp hơn nửa thế kỷ và cuộc đổi đời 1975. Hậu quả của tất cả những sự kiện đó không chỉ phá nát đời sống về kinh tế của một xã hội mà đã thọc sâu những mũi dao nhọn vào tận tim óc con người gây nên những vết thương tâm tư nhức nhối cho từng cá nhân nhỏ bé không dễ hàn gắn theo năm tháng.

    Với Ngã Tư Hoàng Hôn, Văn Quang gần như đã khẳng định tương lai đất nước chỉ là một khoảng trống đen ngòm sau hơn nửa thế kỷ dân tộc phải cắn răng chịu nỗi đọa đày chấp nhận mọi nỗ lực hy sinh và đổ ra không biết bao nhiêu là xương máu.

    Từ đây, Ngã Tư Hoàng Hôn cũng là tiếng kêu báo nguy về một xã hội hoàn toàn lạc hướng trong đó con người không còn biết và thê thảm hơn là không thèm biết đâu là Tà đâu là Chính, đâu là phải đâu là trái trong lúc miệt mài lao theo những dẫn dắt của bản năng..”

    Văn Quang là một sĩ quan cấp tá của QLVNCH, bị đi tù hơn 12 năm, nhưng không đi mỹ theo diện HO và tình nguyện làm một người ở lại để quan sát và viết về một xã hội mà đối với người Việt hải ngoại còn nhiều bí ẩn gợi óc tò mò. Sự lưa chọn của ông, tới bây giờ ông vẫn thấy không có gì hối tiếc mà còn trái lại nữa. Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi sự lựa chọn trong cuộc đời có số phận riêng mà ông trời đã định. Số phận của Văn Quang là làm một nhân chứng để viết về một xã hội đang tan rã, khi mà tiền bạc trở nên một cứu cánh cho cuộc đời và tất cả các giá trị khác đều trở thành không nghĩa lý và có thể mua bán đổi chác bằng tiền bạc.

    Văn Quang viết “Soi bóng Cuộc Tình”, viết ”Sài Gòn-Cali 25 năm gặp lại”, viết “Ngã Tư Hoàng Hôn”, viết “Đỗi Đời“, viết “Lẩm cẩm Sài gòn thiên hạ sự”, Tất cả chỉ với một chủ đích của một người viết lại những biến chuyển của một xã hội mà ông đang sống. Ông tâm sự :

    “Ở đây cũng có một số anh em sĩ quan cũ sau khi ở tù ra rồi cũng không đi theo diện HO. Dường như vấn đề kinh tế quyết định tất cả. Hầu hết những người ở lại đều có một cuộc sống tương đối ổn định hoặc có những trở ngại về gia đình, như con cái đã có vợ có chồng rồi không được đi theo… mỗi người một hoàn cảnh.

    Mặt khác tôi nghĩ anh em ra đi nhiều rồi tôi muốn ở lại để chứng kiến cho hết, cho đầy đủ những đổi thay. Đời sống lúc đó ở đây bấp bênh rồi chao đảo vì Liên Xô tan rã, vì Đông Âu lập lờ. Cuộc sống “lên voi xuống chó“ quay quắt nếu nhìn như một kẻ ngoài cuộc nó sinh động hơn một sân khấu với đầy đủ bi hài kịch thú vị. Có quá nhiều đề tài mới lạ cho mình ghi nhận. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn. Và cũng vì sự “gậm nhấm” của tôi về “người bạn đồng minh” nên tôi quyết định ở lại..”

    Tôi đọc Văn Quang, từ những tác phẩm đã xuất bản đến những bài viết đăng tải hàng tuần trên các “web-site”, với sự thích thú của một người trở lại với nơi chốn mà mình đã rời xa hơn 20 năm. Có người hay đi về Việt Nam thường nói rằng thành phố cũ đã thay đổi toàn diện đến nỗi không ngờ và nếu đi về để thơ thẩn tìm kiếm những điều xưa cũ thì thật là khó khăn. Tôi là người hay trân trọng với quá khứ dù mình chỉ là một người bình thường nhưng cũng nếm đủ mùi phong trần từ sau ngày tang thương tháng tư năm 1975. Đọc Văn Quang, như đã về thăm quê hương, một nơi chốn mà mình luôn nhớ về. và từ cảnh, lại chạnh nghĩ đến người, những người của “muôn năm cũ”. Ruộng dâu thành bể xanh, nhưng con người có lúc vẫn cảm khái để ngưỡng vọng về một thời kỳ đã thành một phần cuộc sống mình. Mấy ai, khi nhắc về nơi chốn cũ, về những người đã xa xăm mà không thấy nao lòng. Ở Văn Quang, tôi đọc ông qua tâm cảm ấy…


    27. 10. 2007
  12. tác phẩm: Ổ tình lận lưng
    tác giả: Luân Hoán

    Một điều tôi nhận thấy rõ từ tập thơ Luân Hoán là tính thiết tha và trân trọng với văn chương. Đọc thơ anh, tôi có cảm tưởng đó là một phần xương thịt của cuộc đời chính anh. Những bài thơ, nhắc đến một thời, ở những địa danh không thể nào quên và những người mà hình bóng không thể nào xóa mờ. Thơ như để nhắc đến một nơi chốn và nhắc lại những phần đời. Thơ nhắc lại những hình bóng đã ăn sâu vào tâm khảm. Ở Luân Hoán, thơ là đời sống và đời sống cũng là thơ. Những bài lục bát, những câu bảy chữ, tám chữ, không đơn thuần là ngôn ngữ thi ca mà hình như, nó còn chuyên chở những tâm sự, ẩn dấu những chìm nổi của cuộc sống.

    Luân Hoán làm thơ rất nhiều và đều tay. Trong suốt hơn bốn chục năm làm thơ ông đã xuất bản gần 20 tập htơ vừa ở trong nước vừa ở hải ngoại. Và tập thơ “ Ổ tình lận lưng “ mà ông vừa xuất bản gồm 7 phần với số trang đồ sộ hơn 600 trang. Nhưng, không phải những tập thơ ấy nhiều về số lượng mà không có sự trân trọng chữ nghĩa. Trái lại, ở trong vần điệu hay chữ nghĩa, ngoài ẩn dấu tấm lòng thiết tha, yêu đời yêu người còn có sự cẩn trọng của người hiểu được uy lực của con chữ. Hình như, làm thơ với ông là một cách thế sống. Chân thành, nhưng lại nhạy cảm. Lãng mạn, nhưng sống động. Cho nên, những câu thơ của ông như có máu xương da thịt của một cảnh sống thực của một tình cảm thực.

    Vương Phụ Chi đời Thanh trong Khương Trai Thi thoại có nói ” Tình trung cảnh, cảnh trung tình ”.

    “ Tình và cảnh tên là hai nhưng kỳ thực không thể tách rời nhau. Cái thần ở trong thơ diệu hợp vô hạn. Người khéo thì có cảnh trong tình, tình trong cảnh. Tình trong cảnh thì như cảnh một mảnh trăng Tràng An,.. tự nhiên có một cái tình cô liêu vời vợi.. cảnh trong tình thì càng khó hơn, chẳng hạn như câu ” thành thơ vung bút ngọc châu rơi ”, miêu tả được cái cảnh hứng khởi từ trong lòng khi cảm hứng văn chương của nhà thơ chan chứa..”

    Đem so sánh người xưa với người nay là điều hơi gượng ép,nhưng không hiểu tại sao khi đọc thơ Luân Hoán tôi thấy có một cảm nghĩ gì kèm theo. Tình và cảnh trong nhiều bài thơ của ông dường như có liên hệ chặt chẽ với nhau. Như tôi đọc “ Đứng dưới chân đèo Bình Đê ”:

    Nào xuống cả đây lũ chúng ta
    Đường trưa, cầu hỏng xe chưa qua
    Tiếng chim chợt gọi trong rừng lá
    Trời rộng mây dừng theo chúng ta
    Đố bạn núi cao này mấy tuổi
    gió bay, bay mãi có nhớ nhà
    nhịp chảy nghe buồn như thở ra
    đố bạn nơi đây trời mấy ngã
    một ngày trôi nổi mấy người qua
    có ai cùng rủi chân đứng lại
    cũng dạo loanh quanh để gọi là.
    Cũng bắt chước ta tìm phương hướng
    Tìm hơi người trước giữa bao la
    Tìm trong mạch máu ta giọt rượu
    Ngất ngưởng muôn đời ta là ta
    Đố bạn nơi đây sầu có lại
    Trong lòng những kẻ thích đi xa
    Áo cơm nào nhạt tình sông núi
    Sông núi nào quên kẻ thiết tha
    Bạn hỡi hãy xem hoa lá nở
    Âm thầm như mỗi một chúng ta
    Vẫn nhen trong trái tim chút lửa
    soi ấm muôn đường sẽ vượt qua”

    Trong ý nghĩ thô thiển chủ quan của tôi, đây là một bài thơ hay. Tôi cảm thấy mình như lạc vào giữa cõi mênh mông vô tận mà trong đó thiên nhiên như ngầm chứa một tâm sự nào. Núi, rừng, trời đất, không chỉ là đơn sơ cảnh vật mà như muốn nói với người những lời thầm thỉ của xưa cũ vọng về, của hiện tại đang tới. Giữa cái vô cùng mênh mang của ngọn đèo, cái cảm khái như cơn gió vút qua xao xác trầm lắng nhưng nhiều âm ba rung động. Thiên nhiên, cảnh vật và con người trong một giây phút nào, đã hòa nhập vào nhau, lãng đãng nhưng nồng ấm. …

    Những bài thơ như thế rất nhiều trong “ Ổ tình lận lưng ”. Mà thơ Luân Hoán thì rất đa diện, đề tài phong phú. Thơ của một người lính trong chiến tranh. Có mặt. Thơ của cậu học trò mê man với cảm xúc yêu đương nam nữ đầu đời. Có mặt. Thơ cho quê hương, cho nơi chốn đã hằn dấu trong tâm tư chẳng thể nào quên. Cũng có mặt. Thơ của một người lưu vong sống ngơ ngác xứ người. Thơ của một người gửi bằng hữu. Thơ của một người nghĩ đến tuổi già sắp đến.. Tất cả có mặt trong tác phẩm mà anh gọi là tập hợp thơ. Anh không tuyển chọn chính thơ mình vì anh không muốn bỏ một bài thơ nào còn sót. Nó như một phần thân thể của anh… Anh giữ lại để cho nó có nhịp thở của trái tim …

    Tôi đọc thơ của anh, từng trang giở từng trang. Có bài thơ quen. Có bài thơ lạ. Nhưng tất cả vẫn là gợi đến một ý nghĩ. Đây là một tín đồ cực kỳ ngoan đạo của tôn giáo thơ. Và, hình như tôi cũng vừa là một kẻ tân tòng. Cho nên, đọc thơ Luân Hoán để chia sẻ với nhau những nỗi niềm về quê hương, những suy tư về cuộc sống. Cầm cuốn sách trên tay, như nhìn thấy người thơ. Mà đời sống này, mong manh lắm những phút linh cầu. Thơ vẫn là những bái vọng để tìm kiếm cho được hạt ngọc của trời. Và, tôi vẫn thấy rất nhiều nụ hoa trên con đường tìm kiếm ấy…


    14. 10. 2007
  13. Hồi Ký Đặng Thùy Trâm,
    khi người chết sống lại trong tuyên truyền



    Nhà xuất bản Random House vừa xuất bản “Last night I dream of peace: The diary of Đang Thuy Trâm” do Andrew. X.Pham dịch từ “Hồi ký Đặng Thùy Trâm“ với lời đề tựa của Frances Fitzgerald. Một cuốn sách được promoted khá kỹ từ nhà xuất bản đến chính quyền Việt Nam hiện tại. Bài đề tựa của một nhà văn thiên tả Frances Fitzgerald, tác giả của “Fire in the lake” thời phản đối chiến tranh Việt Nam thập niên 1970, của một nhà xuất bản nổi tiếng là thiên tả Random House cho một cuốn sách tuyên truyền cho một cuộc chiến phi lý của Cộng sản “Hồi ký Đặng Thùy Trâm” không làm cho tôi bất ngờ. Mà người dịch là Andrwe.X. Phạm chuyển ngữ một tác phẩm như thế làm tôi ngạc nhiên. Anh ta là tác giả của “ Catfish and Mandala: A two-wheeled voyage through the landscape and memory of Viet Nam” và có người cha là một người tị nạn Cộng sản và chính người này cũng phụ giúp anh trong công việc chuyển ngữ. Không hiểu anh nghĩ gì về một cuộc chiến khi dịch tác phẩm này…

    Ngày phát hành sách cũng được chọn là chính ngày 11 tháng 9, ngày mà khủng bố làm sập hai tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở New York. Tuy nhà xuất bản nói rằng chỉ tình cờ chọn đúng ngày chứ không phải là cố ý. Nhưng theo tôi, đó là sự cố tình gây ấn tượng. Cũng như ở Việt nam, các hệ thống truyền thông đã khua chiêng gõ mõ về cuốn sách này. Trước đây ít lâu, có một nhà văn người Thái Lan tên là Montira Rato đã dịch Hồi ký Đặng Thùy Trâm ra tiếng Thái và các báo ở trong nước như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Nhân Dân,.. đã đề cập đến rất nhiều và tuyên truyền như một bằng chứng của tiếng vang dội trên thế giới.

    Không ai có thể phủ nhận lòng yêu nước chịu hy sinh của Đặng Thùy Trâm, hay Nguyễn Văn Thạc, Hoàng Thượng Lân,.. Họ viết trong sự chân thành từ nguyên bản nhưng khi bị “biên tập“ thì lại khác. Họ trở thành những người hô hào người khác hy sinh mà cho một mục đích nhiều khi mù mờ của những âm mưu chính trị. Cũng như trong bản dịch của Andrew X. Phạm, những đoạn đề cập đến quân đội Hoa kỳ cũng được “biên tập“ lại cho phù hợp với đường lối chính trị của chế độ bây giờ. Thêm hay cắt xén đi, nguyên tác đã bị “biên tập” từ trước nay lại càng sai biệt.

    Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, một cây bút đang sống ở trong nước, đã nhận xét về Hồi ký Đặng Thùy Trâm và “Mãi mãi tuổi hai mươi“ của Nguyễn Văn Thạc như sau:

    “...Trong cuộc chiến tàn khốc vừa qua dân tộc Việt Nam đã chịu bao nhiêu hy sinh máu xương, đau thương mất mát và cũng đã xuất hiện bao nhiêu người anh hùng, nhất là những người trẻ tuổi, trong đó có Nguyễn Văn Thạc, và Đặng Thùy Trâm. Họ là những người trẻ tuổi vô cùng trong sáng, yêu nước nồng nàn sẵn sàng chấp nhân mọi gian khổ hy sinh vì lý tưởng độc lập tự do của tổ quốc.

    Đặc biệt hai cuốn nhật ký Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm gây xúc động sâu xa vì được viết với một giọng văn tài hoa trữ tình hoặc giản dị nhẹ nhàng nhưng sâu lắng mô tả hiện thực cuộc chiến diễn ra ngay trước mắt từng ngày, đi vào những xúc động nội tâm chân thật, tinh tế đầy chất nhân văn chứ không hề lên gân cường điệu. Người ta vô cùng khâm phục những con người như thế, không cần gì phải đợi ai tuyên truyền tung hô. Họ viết nhật ký là viết cho chính họ trong tâm tình riêng tư và chính vì thế sự chân thật càng tăng thêm giá trị.

    Tuy nhiên đọc kỹ ta sẽ thấy sự chân thật trong sáng của họ cũng đã bị nhiễm sắc tuyên truyền mà họ không tự biết. Khi họ tự hào về con người xã hội chủ nghĩa, và giác ngộ giai cấp, căm thù đế quốc Mỹ xâm lược hăng hái đi vào chiến trường để giải phóng miền Nam.. có lẽ họ không bao giờ tự hỏi ”Vì sao cuộc chiến” Câu hỏi đó đã có sẵn câu trả lời qua công tác tuyên truyền cưỡng bức toàn thể xã hội của bộ máy toàn trị độc quyền chân lý. Dĩ nhiên ta không thể trách những người tuổi trẻ bị nhiễm độc tuyên truyền vì trong hoàn cảnh đó họ không thể ý thức được và cũng không vì thế mà lòng yêu nước, sự trong sáng và xả thân hy sinh của họ kém đi giá trị…”

    Chiến tranh Việt Nam đã qua từ hơn 30 năm nay. Nhưng dư âm và hậu quả vẫn còn trên mọi phương diện từ chính trị đến văn hóa, từ xã hội đến kinh tế. Một cuộc chiến tranh kéo dài hơn 20 năm và hàng triệu người lính của hai bên tử trận. Nơi đây là chỗ thử sức của vũ khí và chiến lược đôi bên cường quốc trong cuộc chiến tranh lạnh. Có người gọi là cuộc nội chiến, có người gọi là chiến tranh ủy nhiệm. Cũng như có người cho rằng đây là một cuộc chiến của những người chống quân xâm lược ngoại bang trong khi ngược lại có người cho rằng đây là một cuộc chiến tự vệ bảo vệ tự do ngăn chặn làn sóng đỏ….

    Thời gian qua, đã có nhiều cố gắng để truy tìm sự thực của lịch sử. Những chứng nhân trong vai trò chính khách của mình lột trần từng phần của lịch sử nhưng không đủ để có một kết luận xác đáng. Phần đông là chủ quan, cục bộ trong vị trí của mình và đôi khi là những lời chạy tội đổ thừa trách nhiệm cho người khác. Những cuốn hồi ký, là một chứng cớ. Về chi tiết, có thể có nhiều xác đáng nhưng ở tổng quan vẫn là những thiếu sót cố ý, có thể là che dấu hoặc nhìn ngắm nhận định theo chủ quan riêng mình…

    Những cuốn hồi ký ấy, của những chính khách Hoa Kỳ và cả hai bên VNCH và VNCS, đã hé lộ cho chúng ta những bí ẩn đàng sau hậu trường. Từ Nixon tới Kissinger, từ Bùi Diễm tới Nguyễn Tiến Hưng, từ Trần Văn Đôn đến Đỗ Mậu, Từ Hoàng văn Hoan đến Nguyễn Văn Trấn, từ Văn Tiến Dũng đến Trần văn Trà,… Trong rừng sách ấy, những chi tiết của sách này nhiều khi chống chỏi với sách kia dù viết và kể chung một vài diễn tiến lịch sử. Do đó, người đọc mới thấy rõ được cái chủ tâm cũng như vị trí của người viết. Chiến tuyến vẫn còn đó, dù đã hơn ba mươi năm viết về lịch sử, nhưng không phải lịch sử từ sự thực. Mà, chỉ là sự nhìn lại từ những góc cạnh khác nhau. …

    Với những người Cộng sản Việt Nam, tuyên truyền ở một vị trí xung yếu. Tất cả, trên mọi phương diện đều phục vụ cho một mục tiêu: tạo một bánh vẽ tốt đẹp để cưỡng bách bắt mọi người phục vụ theo đường hướng định sẵn. Nhà văn Alekxandr Solzhenitsyn trong diễn văn đọc khi nhận giải Nobel về văn chương đã viết về tính chất của các chế độ độc tài toàn trị như sau:

    “ … Ai là người sẽ đặt câu hỏi với chúng ta: văn học sẽ làm được gì để chống trả lại sự công hãm khốc liệt của cường quyền công khai? Là: chúng ta phải nhớ mãi rằng bạo lực không thể đơn độc một mình và cũng không có khả năng tồn tại duy nhất, nó bắt buộc phải bắt tay với sự dối trá. Giữa bạo lực và dối trá có mối quan hệ sâu sắc ruột thịt tự nhiên : bạo lực được che đậy kín đáo bằng dối trá và dối trá cũng nhờ vào bạo lực để tồn tại. Nếu có một kẻ nào tự nhận bạo lực là phương pháp áp dụng của mình thì bắt buộc phải chọn dối trá làm chỉ nam hướng dẫn. Khi khởi đầu quyền thế, bạo lực nghiễm nghiên công khai và rất là kiêu hãnh. Nhưng khi đã bành trướng, đủ sức mạnh áp chế với vị trí độc tôn của mình, nó lại cảm thấy bất an với dông bão chung quanh và chỉ thấy sẽ tồn tại được nếu cứ tiếp tục dối trá. Và dối trá đã sẵn được ngụy trang bằng nhũng ngôn từ ngọt ngào hoa mỹ. Bạo lực không nhất thiết luôn luôn bóp cổ bẻ họng trực tiếp dân chúng mà phần đông chỉ đòi hỏi từ nhân dân của chúng một lời thề từ dối trá, để có mặt trong vai trò ấy một cách tự nguyện.

    Bước giản dị của một người dũng cảm để chống lại là không tham dự cào trò dối trá và không đi theo những việc làm dối trá. Nếu bắt buộc cứ để nó ngự trị và nếu thống trị cả toàn cầu cũng chẳng sao, ta không đứng về phía nó! nhà văn và nghệ sĩ còn có thể tích cực hơn nữa: chiến thắng sự dối trá. Trong cuộc chiến sinh tử này, nghệ thuật bao giờ cũng đã và đang chiến thắng. Sự ấy hiển nhiên, không một ai có thể chối cãi. Dối trá có thể lừa được rất nhiều thứ trên thế gian này nhưng chỉ bị một khắc tinh: nghệ thuật…“

    Trở lại với hiện tình Việt nam tình trạng tụt hậu hiển nhiên rõ ràng. Từ mọi mặt, là sự sa sút tràn đầy. Xã hội tha hóa, giáo dục xuống cấp, con người chạy theo tiền bạc, luật pháp bất công, kinh tế trì trệ, tham nhũng tràn lan, văn chương lạc hướng. Trong khi ấy, có một động lực thúc đẩy xã hội thay đổi con người thay đổi, khuynh hướng đòi tự do dân chủ. Chiến tranh mới tiếp diễn, giữa cái thiện và cái ác, giữa độc tài và dân chủ, giữa công bằng và bất công. Và, những người có quyền lực trong tay đã dùng phương cách dối trá tạo một chiêu bài mới dùng lòng ái quốc và tự ái dân tộc làm sống lại những thần tượng xưa thời chiến tranh. Đây không phải lần đầu tiên mà Đảng cộng sản đã dùng thủ thuật ấy. Thời chiến tranh chống Pháp đã có những anh hùng, “thật“ có “ma” có, nào Lê Văn Tám, nào Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Nguyễn Văn Cừ…, với những chiến tích như lấy thân mình làm đuốc sống phá kho đạn, lấy thân chèn pháo, khi xung phong tự mình chặt cánh tay bị thương để liều mình lao vào quân thù,…

    Bây giờ, những mẫu nhân vật như thế lại có một phong trào để làm sống lại. Những cuốn nhật ký được giở ra với mục đích : làm sống lại những người đã chết…

    Khi lời nói của những người sống, qua những trang hồi ký mất đi giá trị. Khi lý tưởng hư vô, hưởng thụ, trọng tiền bạc, bất kể và không nghĩ tới ngày mai chỉ biết hôm nay thành suy nghĩ của phần đông mọi người. Khi còn chiến tranh thuở ấy, thành chiến sĩ là một con đường độc đạo phải qua cho tất cả thế hệ thanh niên. Khi sự hô hào chiến đấu chống xâm lăng thành khẩu hiệu bắt mọi người đi theo. Lúc ấy, có những mẫu người đã chết trỗi dậy. …

    Những người ấy là ai? Là người viết “Hồi ký Đặng Thùy Trâm”, là Nguyễn văn Thạc của “Mãi mãi tuổi hai mươi”, là Hoàng Thượng Lân của “Nhật ký tài hoa ra trận”… Những người ấy, xương thịt đã mủn nát theo tháng ngày, bây giờ xuất hiện lại, sống lại, trong cái ồn ào cố ý. Cả một nước, bị tham dự vào một trò chơi dối trá…

    Không phải tình cờ, mà tất cả những lãnh tụ đồng thanh tán thưởng những tác phẩm văn nghệ như thế. Thủ tướng Phan Văn Khải, Cựu Tổng Bí Thư Đảng Lê Khả Phiêu nói về những cuốn nhật ký thì ít mà nhấn mạnh về sự thúc đẩy hy sinh thì nhiều.

    Trong lá thư gửi báo Tuổi Trẻ, Phan Văn Khải viết: “ tôi nhớ lại điều đã nêu thành chủ đề của bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. “Đưa đất nước tiến kịp thời đại với ý chí mãnh liệt như ý chí giành độc lập thống nhất” Tấm gương của Thùy Trâm và Thạc làm cho khát vọng đổi mới và phát triển đất nước càng thấm sâu trong mọi người Việt Nam ở trong nước cũng như nước ngoài, tạo khí thế mới trong lao động học tập và rèn luyên vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc…”

    Lê Khả Phiêu thì kêu gọi hơn: ”Lớp tuổi 20 hiện nay hãy thể hiện lòng biết ơn sự ngưỡng mộ của mình với những người đi trước những anh hùng liệt sĩ bằng hành động và trái tim của tuổi trẻ… Đó là sự cống hiến sức lực trí tuệ tài năng của mình cùng cả dân tộc đưa Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, đưa vinh quang hạnh phúc cho mọi người, của mọi người. Nối tiếp truyền thống anh hùng của cha anh góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc làm cho dân tộc ta bước lên đài hạnh phúc. Đó chính là giá trị đích thực của lẽ sống tuổi trẻ Việt Nam trong thế kỷ mới…”

    Nguyên Ngọc, nhà văn thuộc khuynh hướng đòi đổi mới, người đã viết về một mẫu chân dung anh hùng người thiểu số tên Núp trong truyện ký “Đất nước Đứng lên”, cũng tán tụng: ”những ngày này, chúng ta cứ như đang được sống trong một chuyện cổ tích thần kỳ, một cổ tích hiện đại một cô gái tuổi 20 mất cách đây đã 35 năm bỗng như sống dậy sinh động lạ thường và đánh thức trong mỗi chúng ta và trong toàn xã hội không chỉ những cảm xúc nồng cháy mà cả những nghiệm suy sâu xa về lẽ sống, cách sống ở đời buộc mỗi chúng ta bỗng phải giật mình tự nhìn lại, tự soát lại mình rành mạch hơn, thẳng thắn hơn nghiêm khắc hơn, tự hỏi mình đang sống như thế nào đây, mình sống hôm nay có thật sự xứng đáng không hay đã để phôi pha mất những gì tốt đẹp nhất mà chính chúng ta, xã hội chúng ta đã tạo nên được một thời…”

    Thế mà, Vương Trí Nhàn, người “biên tập” “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm” lại viết rằng việc giới thiệu tác phẩm này không phải là đưa ra một tấm gương ngõ hầu mang đến những lời giáo huấn cho thế hệ trẻ ngày nay. Quyển này là quyển sách dành cho nhiều thế hệ, mỗi một người đọc quyển nhật ký này sẽ tìm được cho mình một ý nghĩa riêng, một lẽ sống lẽ yêu, chí ít là hiểu lại được thời gian khổ, hy sinh. Ăn cây nào, rào cây nấy, Vương Trí Nhàn làm công việc “biên tập“ này, một dịp bằng vàng đầy đủ danh và lợi thì tán tụng cũng là chuyện dĩ nhiên.

    Có người thắc mắc về danh từ “Biên Tập”. Thế nào là biên tập, có giữ được trung thực cho những dòng chữ của người đã viết ra nhật ký không? Hay là, thêm vào những đoạn “tuyên truyền“ và cắt bớt những đoạn không thích hợp. Chắc không ai có thể trả lời chính xác bằng những người trong cuộc! thế mà, có một ông “đại trí thức“ ở đâu bên Pháp trong nhóm Diễn Đàn trước đây thuộc thành phần Việt kiều yêu nước nhưng có lúc bị cấm về tự nhiên không ai bảo lại khệng khạng bênh vực: “Đối sánh bản in của công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Văn Học với di cảo Đặng thùy Trâm, ta có thể kết luận rằng nó không hàm chứa một ý đồ “bất trung“ nào. Những khác biệt một phần do chủ trương biên tập, một phần do cách làm việc thiếu cẩn trọng“ (Nguyễn Ngọc Giao –Nhật ký Đặng Thùy Trâm: so sánh nguyên bản và ấn bản). Riêng tôi, không biết trường hợp tỉ dụ như cắt bớt những đoạn phê phán chế độ Cộng Sản của hồi ký Nguyễn Hiến Lê của nhà xuất bản có mang một ý đồ “bất trung“ nào không? !!!

    Thêm một chi tiết về một nhà biên tập khác, bút danh Đặng Vương Hưng, phó tổng biên tập báo Công An Nhân Dân, người đã “biên tập“ hai cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc và “Nhật ký tài hoa ra trận” của Hoàng Thượng Lân. Theo bài viết “Vụ Scandal giữa lòng Hà Nội” của Vũ Quế Dương đăng trên web-site Talawas thì ông nhà thơ này có đời tư khá bẩn và không đáng tin tưởng khi nói lên những lời rao truyền rất đạo đức và đầy lý tưởng. Ông này khi in cuốn “Mãi mãi tuổi hai mươi” đã lời đến một món tiền khổng lồ là 1 tỷ 300 triệu đồng Việt Nam nhưng khi chi trả tiền chút đình cho cha của tác giả Nguyễn Văn Thạc thì chi ly từng đồng và tỏ ra rất hỗn hào khinh người. Tệ hại hơn, ông biên tập này còn dâm ô hoa thơm đánh cả cụm đến nỗi bị hai chị em cô phóng viên thuộc quyền gài bẫy tống tiền khiến bị thân bại danh liệt và cách chức phó tổng biên tập báo Công An Nhân Dân. Thế mà, ông này vẫn vác mặt dầy đi cổ động cho những tác phẩm như “Mãi mãi tuổi hai mươi” và ”Nhật ký tài hoa ra trận”. Thử hỏi, những lời nói và bài viết giới thiệu của mẫu người như thế có đáng tin cậy không ? Ông Đặng Vương Hưng chắc hiểu được chính sách mà cả Đảng và bộ máy tuyên truyền thực hiện ? Tôi chợt nghĩ đến ngôn từ “dối trá“ của văn hào Solzhenitsyn!!!

    Tôi đã đọc “nhật ký Đặng Thùy Trâm“, và “Mãi mãi tuổi hai mươi”. Thú thực, tôi rất phục và thương những mẫu người mà tôi nghĩ có hình tượng của những anh hùng vô danh đã bị thời gian vùi lấp nhưng nay thì vì nhu cầu nên được lôi ra đánh bóng lại. Trong lời văn, trong suy tư, có chất sống thực và lôi kéo được sự theo dõi của độc giả. Sự hy sinh của họ không phải là không có ý nghĩa nhưng tiếc thay lại bị lợi dụng. Cái lý tưởng kháng chiến chống xâm lăng chỉ là chiêu bài thúc giục hy sinh trong một cuộc chiến ủy nhiệm.

    Đọc những ghi chép lại những sinh hoạt đời thường, những suy nghĩ rất gần cận cuộc sống, tôi nghĩ những điều ấy có thể là chung mang cho những người lính của hai bên. Họ bị đẩy vào cuộc chiến và không có một chọn lưa nào khác. Số phận bị định đoạt bởi những khắt khe của cuộc chiến. Một điều, họ có tâm hồn trong veo của những người rất ngây thơ nhìn đời sống qua những hỏa mù ảo ảnh tạo ra từ chế độ.

    Một sự kiện khác chung quanh tập hồi ký là bài viết của một cô phóng viên báo Tuổi Trẻ cất công đi sang tận Hoa Kỳ để tìm tông tích một anh trung sỹ thông dịch viên Nguyễn Trung Hiếu đã dịch và khuyên anh Frederic Whitehurst, sĩ quan quân báo giữ lại tập nhật ký để ba mươi năm sau trao lại cho gia đình người tử trận. Cô phóng viên Uyên Ly này viết rất nghệ thuật coi chuyến đi này như một “mission imposible“, một cuộc nhảy toán vào vùng địch đầy nguy hiểm. Người ở trong nước có thể tin vào những điều cô viết nhưng người ở hải ngoại, nhất là ở California, thì nực cười và coi là chuyện đi xa về rồi khoác lác lập công. Ở một xứ sở như Hoa Kỳ, dù có ai quá khích đến đâu cũng không thể làm những việc theo dõi hăm dọa người khác!!!

    Một tác phẩm được in tới cả trăm ngàn ấn bản, được giới lãnh đạo tuyên dương, được các nhà văn biên tập “tốt”, được hệ thống truyền thông nhắc nhở nhiều, được nhiều nhà phê bình của chế độ tán tụng… tất cả những điều ấy có thể làm cho người đã chết ngậm cười nơi chín suối không? Hay, chỉ làm đau xót thêm như khi cha ruột của người chiến sĩ đã hy sinh Nguyễn văn Thạc tác giả của “Mãi mãi tuổi hai mươi” bị cư xử tệ bạc vô nhân? Và, có bao giờ suy nghĩ về sự bị mê hoặc của mình khi quyết định liều mình cho lý tưởng thời thanh xuân?…

    Một cây bút trong nước, nhà văn Tam Nguyên, trong cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do RFA đã nhận xét về cuốn Hồi Ký Đặng Thùy Trâm như sau:

    Văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa vẫn mắc một cái tật vinh danh những tác phẩm mà chất văn học đích thực non yếu nhưng nội dung lại nặng tính chính trị. Ví dụ như “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm”. Trong tiểu thuyết người ta cũng dùng dạng nhật ký ở một số văn cảnh nếu thấy cần thiết.

    Nhưng bản thân dạng này không được xếp vào một trong các thể loại văn học như tiểu thuyết, truyện ngắn,.. Bởi là nhật ký tức ghi lại các sự việc xảy ra hàng ngày, nếu không cho phép người viết hư cấu và không thể miêu tả tâm lý các nhân vật khác mà người viết đề cập fến. Nhất là người viết không có đất để khái quát những vấn đề xã hội.

    “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm” được đích thân nhà xuất bản Hội Nhà Văn xuất bản, có vẻ người ta coi nó là một tác phẩm văn học đích thực và như vậy là có ý đề cao nó. Nếu chỉ thấy một cái tên tác giả ở bìa thì có lẽ chẳng có sự đón đọc mặn mà như đã thấy…

    Bởi Đặng Thùy Trâm chỉ là một nữ bác sĩ và trước đó chưa ai thấy tên chị xuất hiện như một bút danh văn học. Và sự thật nó đã được thổi lên nhờ gắn với hai sự kiện. Một là bác sĩ Trâm phơi phới tuổi xuân cùng với đội ngũ đồng nghiệp “hân hoan” đón nhận sự phân công của tổ chức lên đường vượt cả ngàn cây số vào miền Nam đánh Mỹ, không may bị thiệt phận do bom đạn.

    Hai là (đây mới là lý do chính) Tập nhật ký viết tay do một người lính Mỹ cất giữ đã ngoài ba chục năm. Anh xuất hiện trên TV với vẻ mặt ân hận và những câu trả lời đượm buồn. Anh còn tới bàn thờ bác sĩ Trâm thắp nhang kèm với vẻ mặt đau khổ.

    Người Việt Nam không thể tự đặt câu hỏi: Tập nhật ký rất có thể ẩn chứa những điều bất thường, những chuyện lạ, thậm chí những bí ẩn của một cuộc đời, một cuộc chiến? Người lính Mỹ gỉa dụ biết đọc chữ Việt cũng không thể đọc nó ở hoàn cảnh tàn phá và chết chóc ngổn ngang.

    Như thế anh mang theo có lẽ chỉ do một sự ngẫu nhiên. Các báo tryền hình từ trung ương đến địa phương không ngớt quảng bá và tuyên truyền cho quyển sách như thế các sự kiện nội hàm trong quyển sách đã khiến người lính Mỹ phải kính phục người viết ra nó…

    Và nhà văn Tam Nguyên đã nói về mục đích của truyền thông Việt Nam ở trong nước khi quảng bá rông rãi vá làm ầm lên quanh cuốn sách như một tác phẩm vĩ đại về chiến tranh:

    “Cái mục đích của họ theo tôi nghĩ là hơi kỳ cục. Thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay thực sự đang mải mê kiếm tiền mà không thích nghe nào là “lý tưởng cao quý” nào là “sự hy sinh xương máu” mà thế hệ cha anh họ đã từng ngộ nhận hoặc phải chấp nhận bởi nhiều lý do khác nhau.

    Các vị lãnh đạo Đảng cũng như Đoàn cảm thấy hiện trạng ấy nói lên tinh thần cách mạng của thanh niên đã và đang xuống cấp trầm trọng - hiển nhiên nó đi ngược lại đòi hỏi của các vị nên cố công vinh danh cuốn sách hy vọng nó có thể lên giây cót cho phẩm chất, lập trường tư tưởng của thanh niên.

    Và như đã thấy, hầu hết độc giả đọc sách ấy chỉ để thỏa mãn những tò mò, tương tự như dân Mỹ đọc My life để biết trong đời tổng thống, ông còn làm những gì nữa mà trong kỳ hành chức ông chưa tiện hoặc chưa thể nói ra. Để rồi gấp sách lại người ta chỉ thấy thương cho một thiếu nữ bị bỏ mình cho những tham vọng tồn tại bên ngoài tâm thức của cô, điều cô không hề mơ ước.

    Và những người cùng thời với cô đều có chung một nhận định. Thời ấy khó ai né được “dòng thác cách mạng“ nên sự thiệt phận của cô cũng là nỗi đau chung của cả miền Bắc Việt Nam..”


    14. 10. 2007
  14. Dương Thu Hương,
    từ Tiểu Thuyết Vô Đề đến Chốn Vắng



    Từ năm 1975 đến nay, là hơn ba chục năm, mà dư âm của cuộc chiến vẫn còn. Nó để lại hậu quả chua xót cho cả một thế hệ về tất cả mọi phương diện. Về văn học, trước 1975 thì có văn học miền Nam và văn học miền Bắc, sau năm 1975 thì có văn học trong nước và văn học hải ngoại. Không phải chỉ là phân biệt địa lý mà sâu sắc hơn là sư phân biệt về chính kiến và đôi khi ở vào những chiến tuyến đối nghịch nhau… Ở trong nước, với văn nghệ bị chỉ huy bởi chính trị, văn nghệ sĩ bị trói buộc vào những đường lối những chính sách được ấn định bởi Đảng nếu muốn được viết và được in tác phẩm. Còn ở hải ngoại, văn chương có tính lưu vong lúc ban đầu và có tính chống đối nhà cầm quyền trong nước kéo dài mãi đến những năm tháng về sau. Còn, ở trong nước có một số nhà văn thức thời, viết văn là một cách thế để tranh đấu và nói thật tâm tư mình với những tác phẩm phản kháng muốn tìm lại chân lý của cuộc chiến, vượt qua những đe dọa hoặc trừng phạt của chế độ hiện hữu.

    Một khuôn mặt văn học ở trong nước nổi tiếng vì những tư tưởng phản kháng chứa chất trong tác phẩm và được cả thế giới biết đến qua những tiểu thuyết được chuyển ngữ sang Anh và Pháp ngữ. Đó là Dương Thu Hương, tác giả của những Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Những Thiên Đường Mù, Chân Dung Người Hàng Xóm, Tiểu Thuyết Vô Đề, Chốn Vắng.

    Xuân Sách, trong Chân Dung Nhà Văn đã phác họa Dương Thu Hương bằng :

    Tay em cầm Bông Bần Ly
    Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
    Chuyện tình kể lúc rạng đông
    Hoàng Hôn Ảo Vọng vẫn không tới Bờ
    Thiên Đường thì quá Mù mờ
    Vĩ Nhân Tỉnh Lẻ vật vờ bóng ma
    Hành trình Thơ Ấu đã qua
    Hỡi Người Hàng xóm còn ta với mình.

    Bài này viết trước khi Dương Thu Hương xuất bản Tiểu Thuyết Vô Đề và Chốn Vắng cũng như viết những bài Tự bạch hoặc có những bài phỏng vấn nẩy lửa nên chỉ nhắc đến Những Thiên Đường Mù, Những Vĩ Nhân Tỉnh Lẻ, Chuyện Tình Kể Lúc Rạng Đông, Hành Trình Ngày Thơ Ấu, Chân Dung Người Hàng Xóm,..

    Dương Thu Hương là một nhà văn phản kháng hàng đầu, hiện đang sống ở Paris dù rằng đã tuyên bố không muốn rời khỏi nước. Theo tài liệu của Trung Tâm Văn Bút Hoa kỳ thì bà được giải thưởng của chính phủ Pháp “Chevalier of the Ordre des Arts et des Lettres” năm 1994 và “Prince Claus Foundation Award“ năm 1999 và “Grinzane Cavour Literay Award” năm 2005. Tiểu thuyết của bà như Tiểu thuyết Vô Đề, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Những Thiên Đường Mù, Chốn Vắng,.. được dịch ra 10 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới như Pháp, Anh, Đức , Ý,..

    Trong bút ký “Nhìn lại những chặng đường đã qua“, được phổ biến hạn chế, của giáo sư Nguyễn Văn Trung có nhận xét :

    “Đọc Tiểu Thuyết Vô Đề và Tự Bạch của Dương Thu Hương, tôi thấy mấy điểm chính sau đây:

    Dương Thu Hương cho rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến thần thánh chống Mỹ cứu nước nằm trong truyền thống chống xâm lược của người Việt và Dương Thu Hương hãnh diện tham gia cuộc chiến đó chống lại những tội ác của đế quốc Mỹ xâm lược và ngụy quyền Sài Gòn tay sai bán nước. Công giải phóng miền Nam là của Đảng, miền Bắc.

    2- quân đội Sài Gòn là một quân đội tàn bạo. Bọn thám báo không phải chỉ hiếp 6 người con gái miền Bắc thuộc một đơn vị thanh niên xung phong hay binh trạm nào đó, mà còn xẻo vú, cửa mình của họ ném vung vãi khắp đám cỏ xanh (trang 16). Khi thuật lại bộ đội miền Bắc hạ sát ba tù binh miền Nam, Dương Thu Hương không bày tỏ phẫn nộ, coi như thuộc qui ước chiến tranh mà thôi.

    3- Chính quyền Sài Gòn, Ngô Đình Diệm cũng tàn nhẫn khủng bố những người kháng chiến cũ, phân loại treo bảng từng gia đình cách mạng để trả thù.

    4- Tiểu Thuyết Vô Đề không phải viết cho hải ngoại, cũng không phải để bày tỏ sám hối của một con Việt Cộng, của một kẻ đã từng là đảng viên Cộng Sản mà chỉ để tố cáo những kẻ phản bội cách mạng trong hàng ngũ cách mạng “lý do duy nhất thúc đẩy mọi suy nghĩ hành động vẫn là luôn luôn hướng tới chủ nghĩa xã hội đích thực”

    5- những kẻ phải sám hối là chính quyền miền Nam và những kẻ ủng hộ chính quyền chống cộng đó, việc xuất bản Tiểu Thuyết Vô Đề và Tự Bạch ở hải ngoại là do bọn chống Cộng cực đoan lợi dụng mà thôi, những người mà bà khinh bỉ gọi là “bọn chó”..”

    và giáo sư Trung đã nhận xét:

    “Tôi muốn nói thêm đôi điều về lối nhìn Miền Nam của mấy nhà văn miền Bắc như Dương Thu Hương. Họ là những tác giả, nếu tôi không nhầm, đã sinh ra và lớn lên trong chế độ, ít hiểu biết miền Bắc trước năm 1954 và không biết gì về miền Nam trước năm 1975. Ngay cả những người sau 1975 vào sống ở Sài Gòn cũng có cái nhìn sai lệch về miền Nam chỉ vì họ không sống ở miền Nam, đặc biệt giai đoạn 55-75.

    Tôi bắt đầu làm việc ghi nhận này từ những năm đầu thập niên 90, duy có cái nhìn về Dương Thu Hương cần được điều chỉnh vì nhà văn này đã có những chuyển biến mới..”

    Chính Dương Thu Hương cũng đã thú nhận khi viết như vậy :

    “.. Thực ra tôi không nên viết vội vã như vậy. Tôi cần phải có một thời gian dài hơn nhiều để suy nghĩ đắn đo. Bản thân tôi, tôi đã nghĩ ; mình có thể là một nhà văn tồi nhưng là một công dân tốt. Điều quan trọng hơn cả trong lúc này là gửi được những thông điệp tới người đọc. Bạn đọc hãy thứ tha cho tôi. Mai sau sẽ có những nhà văn bản lĩnh hơn tài ba hơn, làm văn chương thực sự. Phần tôi, tôi xin nhận làm người cày vỡ lư ợt đầu” (in trong báo Lao Động ngày 24 tháng 8 năm 1989)

    Tiểu Thuyết Vô Đề là những trang tự thuật của một sĩ quan trẻ tên Quân trong hàng ngũ bộ đội Cộng Sản. Anh gia nhập cuộc chiến với lòng hămg say của tuổi trẻ và huyền thoại cứu nước đã huyễn hoặc bao thế hệ tuổi trẻ. Dần dần, đối chiếu từ sự thực, từ những gục ngã của lơp trẻ của những hy sinh máu xương đến sự hao phí tiềm lực đất nước để đạt được những mục tiêu viễn vông không nghĩa lý. Do đó anh nhận thức được đằng sau những lý tưởng được tuyên truyền là một chiêu bài lừa dối mà những người cầm quyền xử dụng. Bình đẳng – hạnh phúc – Tự Do, tất cả chỉ là trong mơ mộng và không bao giờ có thực. Nhưng dù có tâm ý như vậy, vẫn phải dấn thân về đằng trước với trách nhiệm của một người lính.

    Trong khi đang ở chiến trường hay đi phép về thăm nhà, Quân đã gặp được nhiều người, nghe và thấy nhiều sự kiện vốn là đặc sản của chiến tranh. Có những trường hơp mà người thường khó tưởng tượng nổi. Trên đường về phép quay ngược lại phía bắc, Quân gặp một trạm giữa rừng mà người trách nhiệm là một lính cái xấu xí bản thỉu và hôi hám vì vừa chôn xong ba xác người vừa bị chết. Vì cô đơn và sinh lý dồn nén nên đã thành một con thú thèm khát đến cùng cực và đã có hành động như hiếp dâm chàng sĩ quan trẻ tuổi:

    “Dưới chân giường đống than hồng rực tỏa một thứ ánh sáng dễ chịu nhưng bất lợi cho tôi. Tôi đành nhắm nghiền mắt lại. Cô trăn trở, cục cựa mạnh hơn lên, hơi thở cô dồn dập. Rồi, không kiên nhẫn được nữa, cô túm lấy lưng quần tôi, lay. Tôi ậm ừ giả bộ ngái ngủ, xoay mình đi. Động tác đó thật sai lầm. Cô hiểu rằng tôi đã thức. Cô gọi: Anh Quân!. Tôi im lặng: -Anh Quân! Tôi không đáp.

    Cô buông lưng quần ngồi lên :

    - Anh Quân, sao anh ác thế? Em ở đây một mình, buồn thối ruột gan. Anh mở mắt ra em bảo cái này.

    Tôi không dám mở mắt ra nhưng xoay người lại, nói ôn tồn:

    - Đồng chí Viềng ạ.. chính vì đồng chí ở đây một mình nên tôi không dám gây phiền phức. Lỡ có chuyện gì không may xảy ra thì chết mất.

    Cô thốt lên một tiếng kêu khe khẽ rồi đổ ập xuống người tôi:

    - Chẳng có gì mà chết cả. Có nghén với anh càng tốt… Anh Quân, anh Quân… người cô uốn cong lên, cô rên rỉ quằn quại…

    - Không… Không

    Cô bật kêu lên khe khẽ

    - Em đang muốn chết đây. Anh hãy giết em đi. Anh hãy làm cho em chết đi…

    Rồi cô riết chặt lấy tôi, ôm bổng lên bụng mình. Một cảm giác xộc lên khiến tôi như tê bại. Thoáng qua tiếng tặc lươi “Thôi nhắm mắt cho xong… Nhắm mắt,,” Chân tay tôi đờ ra. Một nỗi sợ hãi mơ hồ chập chờn, một cơn đói nhục thể chập chờn. Đúng lúc ấy cô lại thở hồng hộc và cất tiếng gọi:

    - Anh Quân. Anh Quân…uân..”

    Rồi nhân vật Biền cũng là một mẫu người bị xác thịt dày vò và bị dồn nén đến nỗi phải “tí toáy“ với bò rồi bị bại lộ nên phát ngượng và giả điên. Người cha, ở hậu phương đã cảm khái cho thân phận của con trai mình:

    “Khổ thân con tôi, trai đương thì hơ hớ… Anh Quân này, lũ dân thường như chúng ta chịu cực đủ điều, bóp miệng bóp mồm, bóp cả đến con c... Tụi tướng lĩnh nó có khổ như thế đâu? Ra Bắc vào Nam, đâu đâu chúng nó cũng có đàn bà. Ngày xưa thì là phi là thiếp, giờ thì là các đồng chí nữ phục vụ! Trò đểu, thời nào cũng giống nhau là thế!

    Nhân vật Hùng cũng là một mẫu người đặc thù của chiến tranh. Mồ côi từ nhỏ, sống sót sau những cuộc vật lộn với cơm áo, lớn lên thành du thủ du thực rồi đi lính thành một mẫu người không tim óc tàn nhẫn. Dương Thu Hương đã mô tả mẫu người say máu :

    “Về tướng mạo bọn đó có: Một gương mặt vẻ u ám hình cong diệp cày - mũi nhọn và khoằm - cằm rất dài nhô ra như mảnh sành vỡ dưới hai gò má bẹt - hai mắt nhỏ, xếch cái nhìn ngưng đọng như cái nhìn của loài rắn. Họ có dáng đi lừ đừ nhưng trong nửa giây thoắt biến thành con mèo rừng chộp mồi, sau đó tức khắc trở lại vẻ lứng khừng an nhiên.

    Hùng thường nghĩ ra những cách giết người đặc sắc trong các trận giáp lá cà. Và gã kể lại cho đồng đội nghe với khoái cảm không che đậy. Kẻ thì gã sọc lê từ họng xuống tim – kẻ gã chọc từ nách bên phải qua bên trái - kẻ gã lại đâm ngược từ hạ bộ lên ổ bụng..”

    Những nhân vật của chiến tranh ấy sống trong một giai đoạn đầy ắp những hận thù. Những nhân vật phía bên kia bị Dương Thu Hương bỉ thử khinh miệt. Giáo sư Nguyễn Văn Trung phê phán về thái độ ấy:

    “Tôi thấy thái độ của Dương Thu Hương bày tỏ một mâu thuẫn về nhận thức chính trị. Chủ đề cuốn truyện được trình bày trong Tự Bạch là sau một chiến thắng mà tác giả chỉ được một con búp bê mang về làm quà cho con, tác giả đau sót nhận ra biết bao hy sinh mất mát để trả giá cho một vinh quang khải hoàn môn chỉ là mộng tưởng giả trá… Đau sót làm cho tác giả nghi ngờ mục tiêu cuộc chiến mà bây giờ mới thấy. Vậy đáng lẽ tác giả phải đi xa hơn tìm hiểu “thực chất của chiến tranh cách mạng thì đã dừng lại tiếp tục tuyên xưng những luận điểm, khẩu hiệu về cách mạng giải phóng mà tác giả đã được học trong trường, các buổi học chính trị, trường dạy Việt Nam, dựa trên quan điểm phân biệt bạn / thù dứt khoát chính / tà rõ rệt và đảng cách mạng, chủ nghĩa Marx Lenine là chân lý tuyệt đối, còn mọi ý thức hệ là tà, là địch mọi tổ chức khác đều là địch cần phải bôi đen tiêu diệt.

    Đoạn tác giả viết về lính thám báo cho thấy rõ tác giả không biết một chút gì về quân đội miền Nam vì thám báo chỉ đi nắm tình hình và thấy có thể bị lộ phải tìm cách ẩn núp chạy trốn. Thôi thì hãm hiếp xẻo vú còn nghe được nhưng làm sao lại xẻo cả cửa mình vứt bừa bãi. Tác giả viết về miền Nam, quân đội Sài Gòn sao giống như Tố Hữu trong một bài thơ tả lính ngụy dập bụng đàn bà đang mang thai làm phọt ra hài nhi để tố cáo cái dã man của lính ngụy,,”

    Chúng ta thấy được chế độ giáo dục nhồi sọ đã làm cho cả một thế hệ bị mê muội và đi vào con đường chiến tranh bằng một chiêu bài rất đẹp là vì yêu nước và vì độc lập tự do cho dân tộc. Dù về sau bà đã thay đổi hẳn suy nghĩ nhưng lời nói, câu văn vẫn có một chút gì đó chưa gột rửa hết, dù bà đã phê phán cái chế độ hiện hữu một cách rốt ráo không khoan nhượng. Trong Tiểu Thuyết Vô Đề có rất nhiều đoạn như vậy. Như đoạn tác giả mượn lời một nhân vật cha của Biền :

    “Thời xưa, cứ mười người thì phải có bảy tám người là con nhà tử tế có lễ nghĩa. Muốn làm bậy cũng còn sợ nhục. Bây giờ đa phần là bọn không học cương thường đạo lý. Họ học luân lý Mác Lê. Cướp vườn cướp ruộng nhà người ta cũng là học theo sách Mác. Lột quần vợ người ta mà ngủ cũng là vì lợi ích của đấu tranh giai cấp..”

    Hay như lời của một anh lính trẻ, nhìn ra cái bất công của chế độ:

    “Em nghĩ cũng nhiều. Em cũng nghe chán vạn điều thiên hạ nói. Nhưng mà nhân dân lúc có thật lúc như bóng ma: nếu cần lúa nhân dân là con bò kéo cày. Lúc có chiến tranh, con bò ấy mặc áo giáp và cầm súng. Rồi khi mọi sự đã qua vào những ngày lễ lạc hội hè Người ta tôn xưng nhân dân như hú vọng các hồn ma. Tưởng thưởng cho khói thơm và tro tiền, còn phần xôi thịt thì kẻ khác hưởng…”

    Đoạn văn mô tả giấc mơ của Quân suốt trong gần 6 trang sách là một chuyện như cổ tích, đẹp lãng mạn nhưng đầy ẩn dụ. Trong mơ, Quân gặp lại tổ tiên mình đi chân đất, vai mang ruột tượng lương khô, cầm ngọn dáo dài rèn bằng than củi quê hương. Hai người đã đối thoại về cái khải hoàn môn, của ngày xưa và của bây giờ. Khải hoàn môn bây giờ hùng vĩ hơn tuy tạo dựng bằng xương máu nhân dân, kết quả của những hy sinh dân tộc, nhưng lại do kẻ khác làm chủ, không ai khác hơn là những đại cường đã chỉ đạo và thúc đẩy trận chiến với chiêu bài vinh danh những ý tưởng vô nghĩa lý với dân tộc chúng ta.

    Năm Dương Thu Hương viết Tiểu Thuyết Vô Đề là năm 1989. Lúc ấy chế độ Cộng sản chưa là một bóng ma trên thế giới và ở trong nước chưa khủng hoảng niềm tin như sau cuộc sụp đổ của Cộng Sản ở Liên Xô và Đông Âu. Sau đó, là một sự kêu gọi đổi mới và cởi trói cho văn nghệ sĩ của Tổng Bí Thư Đảng Nguyễn Văn Linh. Do đó có một số tác phẩm của văn chương phản kháng ra đời. Năm 1991, Dương Thu Hương bị bắt và lúc đó công luận thế giới mới biết đến sự cang cường bất khuất của nhà văn nữ này. Trong một cuộc phỏng vấn bà tuyên bố:

    “Tôi không cố tâm làm nhà văn. Tôi viết vì có những nỗi đau. Đau khổ là một từ ngữ tiên tri. Tiểu thuyết của tôi là tiếng kêu của nỗi đau đớn. Và như vậy trong phong cách ấy tác phẩm của tôi không thể chia lìa với xã hội mà tôi đang sống cũng như với đất nước đã rèn luyện tôi. Trong chiến tranh, tôi nghĩ, và tôi đã quan sát những số phận của những người đồng bào tôi. Dần dần, tôi bắt đầu bị ám ảnh và tôi đã cầm lấy ngọn bút. Tôi chia sẻ với nhận định của Henry Miller mà tôi đã đọc từ bản dịch” Công việc viết văn bốc ra những độc tố ”Sức tranh đấu của một mình tôi được gánh vác chia sẻ của nhiều người khác. Thụ hưởng được sự kính trọng từ lẽ phải của mình là một công dân tự do sống ở trên đất nước tôi. Cầm bút là một con đường tự giải phóng mình, con đường mà tôi tự tạo cho mình là một phụ nữ tự do. Tôi đã quyết định dâng hiến đời tôi cho công việc cầm bút và làm phim về đất nước tôi. Nếu quyết định này có thể đẩy tôi vào nhà tù một lần nữa, tôi cũng sẵn sàng..”

    Ba cuốn sách viết sau khi Dương Thu Huơng bị cầm tù được coi như tiểu thuyết bộ ba: Tiểu Thuyết Vô Đề, Lưu Ly và Chốn Vắng. Mặc dù kết cấu không chặt chẽ, hình thức hoặc cách kể truyện liên tục, chúng cùng họ hàng với nhau từ tính chất của nhân vật (Sương và Miên, người đàn bà chiến thắng những khổ nạn của tiểu thuyết Lưu Ly và Chốn Vắng, cũng là chị em trong cùng một bối cảnh làng quê nghèo nàn vùng sơn cước) và cũng như thời điểm và bối cảnh từng thời kỳ của chân dung thời chiến, hậu chiến và hiện tại ngày nay của xã hội người Việt Nam mà tiểu thuyết của bà có khuynh hướng muốn tạo dựng thành nguyên khối đồng nhất.

    Nina McPherson., dịch giả của tác phẩm Chốn Vắng đã viết về tiểu thuyết này đại ý như sau:

    Tác phẩm được phê bình nhiều nhất và cũng là một tiều thuyết bi thảm nhất của Dương Thu Hương được xuất bản gần đây. Tiểu thuyết này - Chốn Vắng cùng với hai tiểu thuyết khác là Lưu Ly và Tiểu Thuyết Vô Đề là cuốn sách cuối của bộ ba tiểu thuyết viết về chiến tranh, mà bối cảnh của nó là chuyện ở một vùng quê trung châu Bắc Việt tiếp theo những ngày mà cuộc chiến chấm dứt vào năm 1975. Tiểu thuyết chứa đựng và giãi bày theo cấu trúc xoay quanh số phận của ba nhân vật chính : Miên, Hoan và Bôn. Bộ ba này có phận số của những người bị bắt buộc liên quan với nhau và khó có thể tháo gỡ với cái cực kỳ phi lý của hậu quả chiến tranh. Trong truyện, tác giả làm tiếp tục bùng vỡ những bi kịch vật vã buộc trói kiếp người. Cuộc sống lứa đôi đang êm đẹp thì bị Đảng bắt hy sinh như một cách tế thần cho chế độ cũng như cách đả phá những thói tục mà họ gọi là phong kiến đã xây dựng nên làng xóm Việt Nam từ xưa. Không giống như những tiểu thuyết trước của bà, Chốn Vắng mở ra những bi kịch, chìm sâu tức thì vào những quan hệ bộ ba mà hai nhân vật trong đó hứng chịu những số phận của những người bị làm chốt thí. Trong nét siêu thực, ác mộng của ám ảnh kinh khủng mở ra những diễn tiến câu chuyện và người kể chuyện giãi bày phận số của mình. Miên, người đàn bà xứ quê ở tuổi quá ba mươi, đã có một đời sống hôn nhân hạnh phúc với Hoan người chồng nông dân năng động thì một bữa khi trở về nhà thì thấy trước cửa đầy những người trong làng. Cô biết tin người chồng cũ, Bôn, mà cô nghĩ đã chết như một anh hùng chiến tranh, nay sống sót trở về và muốn trở lại tình chồng vợ với cô.

    Đối diện với áp lực kinh khủng của những người trong làng và Đảng bộ địa phương, Miên phải đồng ý rời bỏ người chồng thứ hai và đứa con để sống một đời sống chồng vợ nghèo nàn với Bôn.

    Nhưng quyết định ấy bắt đầu cho những số phận cay đắng của bộ ba tình cảm không giải quyết được cho mình mà phải chịu sự sắp xếp của Đảng. Bôn, người mơ ước tạo dựng lại đời sống lứa đôi tươi đẹp với Miên và muốn có một đứa con với nàng. Nhưng, vì ảnh hưởng của chất độc da cam, Bôn bị bất lực và chẳng thể nào có con được. Người chồng thứ hai của Miên là một người có tiền, nhân dáng đẹp, buôn bán gioỉ dắn và có khả năng làm tình tốt đã tao thành một khuôn dáng “anh hùng“ thực sự và như là một hình tượng nhạo báng với nhân vật Bôn đã được Đảng vinh danh, một anh chàng bất lực kiết xác được phong tặng “anh hùng chiến tranh” ..”

    Ghen tức với tình địch, lại thất vọng vì không thể có con và bị bất lực sinh lý, Bôn trở thành một con người thèm khát những ước vọng không thể nào đạt. Hoan là người tốt có tiền của nên hay giúp đỡ Miên, trong khi đó Miên lại dùng tiền bạc để chạy chữa cho bôn về bệnh bất lực và thối mồm kinh niên vì bị hở thực quản. Tác giả đã kể :

    “Trong khoảng ngắt của hai hơi thở, lời rên rỉ buột khỏi môi anh, thuyền anh nô dỡn trên con sóng dục tình., thấy lại tuổi trẻ của anh. Nhưng đột nhiên một luồng khí bị dồn nén chạy dọc sống lưng xuyên suốt thân xác anh như một mũi tên, khoái lạc và mộng mơ cùng lúc vọt ra rồi tắt ngấm. Con thuyền đắm say rơi từ đỉnh sóng xuống bờ cát nằm vật vờ như mảnh ván mục. Rồi bỗng dưng bộ phận truyền giống của anh đi vắng, nó chẳng còn là của anh mà như một thứ đồ vật ngoài thân thể ngoài ý muốn và sự điều khiển của anh... Nỗi sợ hãi hùng hổ thẹn cùng lúc làm sống lưng anh lạnh toát trong khi hai thái dương và đầu anh nóng phừng phừng như lửa đốt.. Anh lặng lẽ tụt xuống chân miên không dám nhìn thẳng vào mắt chị.. vơ chiếc quần đùi mặc vội để che đi cái phần héo rũ trên cơ thể..”

    Bôn vào một lúc muốn hạ sát Hoan cho hả lòng căm giận và kết cuộc là Hoan và Miên lại tiếp tục là một cặp vợ chồng hạnh phúc….

    Trong bài phỏng vấn của đài BBC với Christine Nguyễn, Dương Thu Hương đã nói về tác phẩm Chốn Vắng của mình.

    “Christine Nguyễn : Bà nói rằng những nhân vật trong truyện có thực ngoài đời, đó là những người đàn bà Việt Nam trong chiến tranh và họ đã thôi thúc bà viết Chốn Vắng?

    Dương Thu Hương: Vâng, hoàn toàn tất cả những tiểu thuyết của tôi đều dựa trên những câu chuyện thật và Chốn Vắng cũng như vậy, tức là những nhân vật này tôi đã gặp họ và câu chuyện của họ xảy ra ở tại Quảng Bình. Tất nhiên là khi tôi viết thì tôi có gia cố vào đó tất cả những suy tưởng của tôi, những giấc mộng của tôi, những ý tưởng và quan niệm sống của tôi. Và đương nhiên là tôi phải nói một cách rành rọt phần kết chính là phần mà tôi sáng tạo. Cái đoạn kết mà người ta gọi là có hậu đó chính là giấc mơ của tôi cho số phận những người đàn bà như Miên. Còn trong cuộc sống thì có lẽ mọi người đều biết rằng sau cuộc chiến tranh này hàng vạn người đàn bà chết già bởi vì không có ai lấy họ nữa và họ bị dồn vào những nông trường xa xôi, những nông trường trồng cam ở Hòa Bình và các tỉnh miền núi khác, trồng cam, trồng lạc, trồng sắn và những nông trường toàn đàn bà đến nỗi ở một cái chân trời không bao giờ hiện lên một người đàn ông nào cả. Và nếu có một vài thi thoảng hiện lên một người đàn ông thì đối với họ đấy là những cái hạnh phúc thật là hiếm hoi, mặc dù nó chỉ là một cái thứ hạnh phúc vay mượn và chup giựt…

    CN: Với ba nhân vật : cô Miên, anh Bôn và anh Hoan thì ba nhân vật này tạo thành một bi kịch trong xã hội sau thời chiến. Ý đồ sáng tác của bà khi viết Chốn Vắng là gì?

    DTH: Thật ra tôi là người viết văn không có ý đồ. Khi nào tôi định viết, khi nào có thời gian và khi nào có đủ điều kiện để có thể ngồi viết được thì những câu chuyện mà nó còn tích trữ trong óc tôi thì nó tự mở đường chui ra và tôi viết là dưới sức ép của nó như người ta nói là viết như một sự ám ảnh và tôi hoàn toàn không có ý đồ gì cả. Khi tôi đã bắt đầu viết thì câu chuyện đó nó sống dậy và những nhân vật đấy nó kéo tôi theo chứ tôi không kéo họ theo

    CN: Như vậy thì phải chăng sự ám ảnh đó chính là những thân phận của những người lính cũng như là của những người phụ nữ sau chiến tranh thống nhất đất nước, thưa bà ?

    DTH: Nó rất bình thường với thế hệ chúng tôi và nó xa lạ với thế hệ của các chị. Vì bây giờ các chị trẻ tuổi và các chị đã tự cho mình quyền được sống cuộc đời của các chị. Các chị không chịu sức ép của truyền thống và sự hy sinh vô tận như chúng tôi. Cho nên tôi đã nói lại là cái thích của người này có thể là cái không thích của người khác. Cái của đối với người này là tất nhiên thì đối với người khác là hoàn toàn ngược với lý chí và có thể là không tất nhiên.

    CH: Cũng là một người phụ nữ đã từng tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam thì bà nghĩ gì về thân phận những người phụ nữ sau cuộc chiến hiện nay?

    DTH: Tôi nghỉ rằng những thế hệ sau chiến tranh đã tiêu mòn và đã già rồi như tôi và tất cả những thế hệ ấy là những cuộc đời bị đánh mất trong hoàn toàn câm lặng và quên lãng. Tôi hy vọng là các chị và những người trẻ hơn các chị sẽ không bao giờ nếm trải lại những cái địa ngục mà chúng tôi đã trải qua,,”

    Từ Tiểu Thuyết Vô Đề đến Chốn Vắng, từ Tự Bạch đến bài tham luận Sự Cứu Rỗi Cuối Cùng hay Thời Gian Bản Lề, hoặc các bài trả lời phỏng vấn, càng ngày Dương Thu Hương càng tỏ ra đồng ý với nhận xét : Đổi Mới là con đường trở lại cái cũ đã bị phủ nhận… Những giọt lệ khóc ngày 30 tháng tư ở Sài Gòn cho một thức tỉnh đến nay ở Paris đã làm bà có giọng nói đanh đá miệt thị với những người Cộng sản nhưng đã biểu lộ những ý nghĩ tốt về chế miền Nam. Bây giờ, những người Cộng sản loay hoay với mô hình xã hội mà có thời gian là cái đích cho hành động hủy diệt của họ…


    7. 10. 2007
  15. Chí Phèo, và Hậu Chí Phèo,
    những nhân vật của một thời mạt kiếp



    Chí Phèo là tên một nhân vật nổi tiếng của truyện ngắn Nam Cao.

    Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí sinh ngày 29 tháng 10 năm 1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông xuất thân gia đình trung lưu nhưng ông lận đận về đường sinh kế khi còn thời thực dân Pháp. Ông sống bằng nghề gia sư, lúc viết báo, lúc làm những công việc lao động chân tay nhưng rất chật vật. Sau năm 1945, ông gia nhập Việt Minh, tham gia kháng chiến và bị chết trong một cuộc phục kích của quân Pháp năm 1951 ở vùng hậu địch khu III. Ông khởi đầu nghiệp cầm bút khá vất vả, cố gắng lắm mới giành được một chỗ trên văn đàn. Thời kỳ sinh sống ở Sài Gòn ông viết báo Kịch Bóng ở Sài Gòn và viết bài gửi đăng các báo Ích Hữu, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ngày Nay ở Hà Nội. Tác phẩm gồm nhiều loại khác nhau như thơ, truyện ngắn, kịch, tin tức, vui cười nhưng phần đông đều không được xử dụng. Ông thường dùng bút hiệu Thụy Rư, Nhiêu Khê và Xuân Du. Gặp Tô Hoài ở Hà Nội, ông mới có bắt đầu có truyên ngắn đăng ở Hà Nội Tân Văn và bắt đầu có sách được xuất bản. Từ 1942 đến 1945 ông viết nhiều truyện thiếu nhi trên sách Truyền bá, Hoa Mai và nhiều truyện ngắn cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy, truyện dài cho Trung bắc Chủ Nhật. Nam Cao viết theo kiểu viết khoán, cứ mỗi tháng một truyện Truyền bá và hai truyện ngắn cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy của nhà xuất bản Tân Dân.

    Truyện Đôi Lứa Xứng Đôi trong tập truyện ngắn cùng tên của nhà xuất bản Đời Nay năm 1941. Dù in từ thời tiền chiến nhưng truyện này vẫn được coi là thuộc dòng “văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa“ và được các nhà phê bình văn học trong nước đánh giá trị cao, coi là có tính đấu tranh giai cấp và được trích giảng trong chương trình giáo dục học sinh bậc trung học phổ thông.

    Nhìn Nam Cao có lẽ rõ ràng nhất là bắt đầu từ thời kỳ mà ông in sách.

    Trong bài Tựa của nhà văn Lê Văn Trương của ấn bản đầu tiên có đoạn:

    “Quyển Đôi Lứa Xứng Đôi có được độc giả hoan nghênh hay không, đó là điều tôi chưa cần biết, tôi chỉ biết rằng lúc viết nó, ông Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình…”

    Nhân vật Chí Phèo của Đôi Lứa Xứng Đôi quả là một nhân vật dị dạng, từ bản tính đến ngoại hình. Anh ta tiêu biểu cho những người bị dồn đẩy vào con đường cụt với tâm tính hận thù dồn ép, sống gần với bản năng và xa lý trí. Cùng một loại với những nhân vật của Nam Cao như Binh Chức, Năm Thọ, Binh Tư,.. những người ngang ngược, coi kỷ luật của xã hôi như không có và sống bất cần không nghĩ đến ngày mai.

    Theo tài liệu “Báo giáo viên nhân dân năm 1992” in trong “Nam Cao: Đời văn và tác phẩm“ của Hà Minh Đức thì trong một cuộc hội thảo về văn học Việt Nam thời kỳ 1918 - 1945 tại đại học Harvard năm 1992, có người đã đặt câu hỏi giữa nhân vật A.Q. của Lỗ Tấn và Chí Phèo của Nam Cao có gì khác biệt và Nam Cao có chịu ảnh hưởng nào của Lỗ Tấn không khi viết ra nhân vật này. Câu trả lời là cả hai nhân vật đều có điểm giốpng nhau là cùng cảnh ngộ của những người bị hiếp đáp bởi những người có học và giàu có. Chí Phèo thì tiêu biểu cho mẫu người nông dân Việt Nam còn AQ thì tiêu biểu cho nông dân Trung Hoa và cả hai đều có nét đặc thù của xã hội họ đang sống. Tâm tính, cách ứng xử, đời sống của họ được mô tả khác nhau và trong đó chất nhân bản được nhìn tất rõ. Chí Phèo là một người lương thiện và sau những oan khuất, những đưa đẩy của xã hội để biến tính trở thành một kẻ ngang tàng hung bạo như trong thâm tâm vẫn muốn làm người lương thiện. Anh ta giết người chẳng qua cũng vì cái khát vọng ấy. Cũng như Nam Cao không chịu gì ảnh hưởng của Lỗ Tấn vì khi viết thì truyện AQ Chính Truyện chưa được phổ biến. Tuy vậy trong một cuộc phỏng vấn thì Nam Cao lại nói rằng hay đọc Racine, Corneille, Guy De Maupassant và chịu ảnh hưởng của Dostoievski, Tchekov cũng như rất thích đọc những truyện của Lỗ Tấn như Khổng Át Kỷ được dich ra Việt ngữ.

    Truyện của Nam Cao có nhiều nhân vật sông trong sự đen tối của xấu xa tha hóa. Như người cha tham ăn tục uống ăn mất cả phần của vợ con trong Trẻ Con Không Ăn Được Thịt Chó, hay những tên cờ bạc dông dài như Binh Hựu, Cả Tuynh, Mạo Khiễng, hay tham lam bần tiện như anh Cu Lộ trong Tư Cách Mõ, hay học thói cờ bạc rượu chè của anh cu Thiêm trong Thôi, Đi Về, hay xấu tính như anh Tẻ trong Rình Trộm. Tất cả những nhân vật ấy, dường như đang trượt xuống một cái hố sâu để nhân cách của họ bị tha hóa đi và gần gũi hơn những tật xấu của bản năng. Nhưng, thật ra họ vẫn không phải là những mẫu người xấu mà chỉ đáng thương mà thôi.

    Hình như các nhà nhận đinh phê bình văn học trong nước đều cùng một nhận xét và đổ lỗi cho xã hội làm con người biến chất. Điều ấy nghĩ ra cũng đúng nhưng chưa đủ. Bởi nếu như gán cho cái hành động Chí Phèo đâm chết cường hào Bá Kiến là do phản ứng đấu tranh giai cấp, ở đâu có áp bức thì ở đó phải có tranh đấu bạo động thì nhận định ấy có vẻ vơ vào qúa. Cái tâm tình của một anh vừa tỉnh một cơn ác mộng khi chạnh lòng trở về với tính nhân bản con người không đi xa hơn được cái ý thức căm thù của lý thuyết Cộng Sản.

    Năm 1940, Nam Cao viết truyện “Cái lò gạch cũ“ (Tức Chí Phèo) mà vẫn chưa tin tưởng vào văn tài của mình. Khi đưa đến nhà xuất bản Đời Nay, bản thảo này không được để ý và bị bỏ quên khá lâu. Về sau nhà văn Lê Văn Trương tìm thấy bản thảo đọc và khen hay nên thích thú đề tựa và cho mang đi in. Ông cũng đổi tên nhan đề truyện là “ Đôi Lứa Xứng Đôi ” . Sau này, trong thời kháng chiến vào năm 1946 Nam Cao mới cho in lại trong tập Luống Cày của Hội Văn hóa Cứu Quốc lấy nhan đề lại là Chí Phèo.

    Trong ấn bản của nhà xuất bản Đời Nay thì Đôi Lứa Xứng ĐôI gồm 7 truyện ngắn: Đôi Lứa Xứng Đôi, Nguyện Vọng, Hai Khối Óc, Giờ Lột Xác, Chú Khì, Ma Đưa và Cái Chết Của Con Mực. Trong đó truyện “ Đôi lứa xứng đôi ” xuất sắc nhất và tạo được ấn tượng cho cái tên tác giả Nam Cao.

    Tác gỉa đặt tên truyện là " Cái lò gạch cũ ” bởi vì nơi ấy là chỗ mà Chí Phèo bị vứt ở đó như một đứa con rơi và cũng là chỗ mà trong cuối truyện khi Thị Nở nghĩ đến khi sẽ sinh ra đứa con của Chí Phèo đang nằm trong bụng. Truyện là một mối tình kỳ lạ giữa hai người một là anh chàng liều lĩnh bán trời không cần văn tự còn một là cô gái lỡ thì dở hơi và xấu xí. Họ là những nhân vật dị dạng của làng Vũ Đại, những người sống bên lề, kẻ ngụ cư ngay chính nơi mình sinh trưởng. Chí Phèo là một anh chàng canh điền bị oan khuất tù tội suốt mười năm nên từ một người nhút nhát hiền lành trở thành một người côn đồ văng mạng quậy phá trong làng trong xóm ở tuổi bốn mươi. Anh trong bước đường cùng, say sưa be bét, để rồi có một ngày bị chấm dứt cuộc sống bằng một trận ốm sau một cơn say của một đêm mưa bão nào đó. Nhưng, con người dị hình dị tính ấy lại có một mối tình với một cô gái cũng dị hình dị tính không kém, xấu xí đến ma chê quỉ hờn và tính tình ương dở ngây ngô. CHí Phèo đã yêu ThỊ Nở qua bát cháo hành và những giọt lệ cũng như trở lại với cái ước vong muốn làm người lương thiện thuở xưa lúc là anh canh điền hai mươi tuổi. Bây giờ, Chí Phèo bị gạt ra khỏi cộng đồng con người và hành động cầm dao đâm chết Bá Kiến cũng là một cách biểu thị cái ước vọng của một người tuyệt vọng trong cuộc sống...

    Chí Phèo đã đi vào đời sống và thành một cái tên để chỉ những người cùng đồ hung dữ, luôn luôn bơi ngược dòng đời sống và có những hành động không kiểm soát được bằng lý trí. Ngay cả trong văn chương, có những nhà văn này dùng chữ Chí Phèo để nói về một nhà văn khác với cả sự bỉ thử và khinh miệt. Từ ngữ Chí Phèo đã thành một danh từ, một tĩnh từ để chỉ và mô tả một mẫu người đặc biệt trong xã hội mà người ta đã quen dùng .

    Chí Phèo đã chết trong truyện ngắn Nam Cao sau khi đâm chết Bá Kiến rồi tự đâm mình ? Không, Chí Phèo sống lại mấy chục năm sau trong Hậu Chí Phèo của nhà văn Phạm Thành. Tiểu thuyết ấy được nhiều người nhắc đến, được in nhiều lần và cũng nhằm phác họa một mẫu nhân vật của một thời đại mới, thời xã hội chủ nghĩa. Nếu Chí Phèo là một nhân vật gợi lại một thời kỳ thực dân phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước năm 1945 thì Hậu Chí Phèo cũng có nhân vật để biểu trưng cho một thời kỳ tuy gọi là độc lập tự do nhưng tồi tệ và bất công hơn nhiều. Từ “ thằng “ Chí Phèo ”cùng đinh qua Hậu Chí Phèo đã thành “ Cụ ” Chí với tất cả uy quyền của một tên thất học nhưng vào thời bần cố vô sản lên ngôi nên thành người lãnh đạo của làng Vũ Đại. Một thời đại nhiễu nhương được phác họa lại với tất cả những biểu tượng mô hình độc đáo.

    Hậu Chí Phèo là một tác phẩm được in năm 1991 do nhà xuất bản Thanh niên và là một cuốn sách bán chạy nhất ở trong nước năm 1991 theo tổng kết của báo Văn Hóa Thể Thao trực thuộc cơ quan chính thức VN Thông Tấn Xã. Cuốn sách xuất hiện giữa lúc ở Liên Xô đang có đảo chính của phe bảo thủ Cộng sản chống lại chính quyền của Gorbachev nhưng rồi sau bị Boris Yeltsin dẹp tan. Trong hoàn cảnh dao động chính trị vì ảnh hưởng từ Liên Xô như thế, cuốn sách mới có cơ hội để ra đời sau khi bị nhiều nhà xuất bản từ chối.

    Tác giả đã làm sống lại con người của Chí Phèo trong thời đại mới từ Hậu Chí Phèo. Thời của chuyên chế vô sản nên những người như Chí Phèo xa lạ với chữ nghĩa, với lương năng nhưng lại trở thành những người lãnh đạo “ hồng hơn chuyên ” ngu dốt, tàn ác và mất nhân tính. Nếu ở truyện Nam Cao, Chí Phèo còn có tham vọng muốn làm người thì ở truyện Phạm Thành, Cụ Chí lai muốn làm một con thú dữ, áp đặt luật lệ ngu đần của mình lên tất cả những người liên hệ đến và cả bàn dân thiên hạ. Tiểu thuyết Hâu Chí Phèo nối tiếp Chí Phèo bằng những tấn hài kịch biếu thành thảm kịch cười ra nước mắt.

    Tác giả Hậu Chí Phèo là Phạm Thành sinh năm 1952 tại xã Định Bình, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Sau rất nhiều bôn ba với đủ thứ nghề nghiệp của cuộc đời anh vào học trường Đại Học Tuyên Huấn Trung ương va hành nghề phóng viên báo chí báo TNVN. Ngoài làm báo anh còn viết văn. Tác phẩm Hậu Chí Phèo ra mắt năm 1991 có tiếng vang khá rộng lớn và có nhiều nguồn dư luận xoay quanh khen chê lẫn lộn.

    Truyện Hậu Chí Phèo bắt đầu với cái chết của Cụ Chí với tất cả to lớn huy hoàng của một người có quyền có chức. Tác giả nói về ba chiếc xe con với ba ông chủ của nó là con của Chí Phèo, kết quả của những mối tình có một không hai của làng Vũ Đại. Và từ đó là câu chuyện lẫn lộn tình và thù của Chí Phèo và bà Ba, người vợ lẽ của Bá Kiến, là đầu mối oan trái hận thù ngày xưa, kẻ đã làm nhục hắn và chính là nguyên nhân để hắn chịu hơn mười năm tù. Tằng tịu với bà Ba xong, bà này có chửa thì bị Chí Phèo kết tội và mang ra xử bắn. Bà này chạy thoát được và sinh ra đứa con làm chủ tịch ở vùng dân thiểu số cư ngụ. Đứa con này cũng về chịu tang Chí Phèo. Đứa con thứ hai của hắn và thị Nở, kết quả của những cơn say bị hắn từ bỏ và sau này lớn lên nhờ thời thế mà trở thành một bí thư của một làng và là một tay đấu đá có hạng. Hắn vì có dị dạng nên không thể làm chức cao hơn nhưng cũng là một quan chức của thời đại mới. Đứa con thứ ba là đứa con chính thức của Chí Phèo với người vợ được Đảng thừa nhận là Thị Tèo, một viên chức lãnh đạo hội Phụ nữ. Thằng này khôn ngoan chững chạc nhất và có lẽ con đường quan chức rồi ra cũng vinh hiển giống cha.

    Kể lại những mối tình của Chí Phèo tân thời, tác giả Phạm Thành lẫn lộn giữa bi và hài kịch. Những mối tình quái gở, những con người quái gở và những cuộc đời cũng cực kỳ quái gở, lẫn lộn giữa tính toán và dục tính, lẫn lộn giữa hãm hiếp và dâng hiến.

    Tả cuộc làm tình giữa Chí Phèo và Bà Ba:

    “.. tay Chí vào việc ngay:

    - Không cần thắp đèn.

    Nghe tay Chí nói thế, hình như chẳng có sự bất ngờ nào, Bà Ba quay người lại, ngước cặp mắt long lanh ngấn lệ, nhìn hắn, giọng nụng nịu;

    - Không, tôi thích sáng cơ

    Tay Chí quát: - Sáng tối cái gì / Cô có nhớ cô tệ thế nào với tôi chứ

    Thực tình bà Ba chẳng hiểu tay Chí định ám chỉ gì, run run:

    - tệ nào?

    - Quên hả? Cô quên đau đầu đau bụng rồi hả?

    - A! -bà ba kêu lên sung sướng- Nhớ rồi, tôi nhớ rồi!

    Tay Chí quát tiếp:

    - Cởi quần ra!

    Theo phản xạ tự nhiên, bà Ba đưa tay sờ vào cạp quần. Một chút lưỡng lự. Nhìn màn đêm qua cửa sổ tối om, bà yên tâm.

    - Cởi ra - tay Chí giục

    - Có phải cởi áo ra không ạ! Bà Ba hỏi vừa nghiêng bộ ngực oai vệ về phía tay Chí. Một tay bà đưa lên sờ vào khuy áo ngực.

    - Không cần - Tay chí bực mình quát. Lập tức tay Chí đưa bàn tay thô ráp đầy lông lá lên cổ bà, ấn mạnh. Bà Ba vội buông tay trên khuy áo ngực, ngả người xuống giường. Tay Chí cũng ngả người theo..”

    Hay một đoạn khác:

    “ Báo cáo anh Chí, bây giờ bắn người phải có lệnh. Mắt tay Chí trợn lên, tỏ rõ sự ngạc nhiên, hỏi lại:

    - cái gì?

    - Dạ thưa anh, bắn người phải có lệnh.

    - lệnh nào?

    Người thư ký chìa tờ lệnh cho tay Chí nhìn. Tay Chí nói:

    - ai ra lệnh?

    - Dạ thưa chính anh ạ!

    - Tôi đã ra lệnh?

    - Nhưng anh phải ký vào lệnh ạ!

    Tay Chí cười lên sằng sặx:

    - À a! Có bước tiến mới này phải không? Đưa đây, ký vào chỗ nào?

    Tay Chí cầm tờ lệnh tử hình, chẳng thèm đọc, chọc ngón tay trỏ vào lọ mực tím đã mở sẵn nắp, rất thành thạo, rút ngón tay trỏ ra, nhắm vào chỗ người thư ký chỉ, tay Chí vẽ một con giun loằng ngoằng, dài suốt cả phân nửa dưới của bản án tử hình…”

    Phạm Thành mô tả “Cụ Chí” như là một sản phẩm của một thời đại lưu manh lừa lọc. Tự nhiên, tôi lại liên tưởng đến con người Hồ Chí Minh. Cũng dâm ô, thủ đoạn. Cũng gian dâm rồi giết người tình. Cũng tự thần thánh mình. Cũng coi mọi người như là một công cụ của riêng mình, muốn hành hạ bắt giết thế nào tùy ý. Cái hành động ký án tử hình như thế như của một kẻ uống máu người không tanh, coi rẻ mạng sống con người. Dù rằng, người tử tội ấy đã ăn nằm với mình và có giọt máu của mình trong bụng. Ở một liên tưởng khác, tôi nghĩ đấn chuyện Hồ chí Minh gian dâm với Nông Thị Xuân rồi đem giết đi để bịt miệng. Tuy ở trình độ cao hơn Chí Phèo, nhưng cũng là một kẻ sát nhân nham hiểm.

    Trong bài phỏng vấn của Phạm xuân Chiến đăng trên báo Văn Hóa Thông Tin Thanh Hóa có đoạn:

    “Hỏi: Anh có run không khi cho hậu Chí phèo ra trình làng?

    Phạm Thành: Run cái gì mới được chứ?

    Hỏi: Có người nói Hậu Chí Phèo nói xấu chế độ, bôi bác rất nhiều cán bộ kể cả cán bộ có chức có quyền?

    PT (cười): Quyền phán xét là của mọi người. Tôi viết với cái tâm “sáng”. Ở đây cần phải hiểu cái tâm thế nào cho đúng. Nếu nó không xấu mà tôi nói xấu thì tôi là kẻ xấu. Còn ngược lại thì.. (cười) để xây dựng. Nhưng thật ra để Hậu Chí Phèo ra được cũng khá gian nan. Tôi đã viết xong tác phẩm này năm 1989 ”Thiên tình sử của anh Chí” cũng đã nằm lăn lóc ở báo Văn nghệ hơn một năm trời. Tập sách đã qua vài ba nhà xuất bản. Tóm lại là có nhiều người ”ngại”. Cuối cùng nhà xuất bản Thanh niên, nhà in Tiến bộ là “bà đỡ” cho cuốn sách này.

    Hỏi: Có người nói văn của Hậu Chí Phèo hơi thô tháp. Phải chăng khi viết tác phẩm này anh không chú ý đến văn?

    PT: Cũng không hẳn như vậy. Thô tháp đó là tính cách của anh Chí. Ở đây tôi không cố làm văn. Vả lại cần phải hiểu chất văn không phải là câu chữ mà là toàn bộ tác phẩm toát ra điều gì nhân văn. Trong khi đó, đọc phần “ám ảnh một dòng sông” thì có người lại cho là lãng mạn,

    Hỏi : các nhân vật của anh thường thiên về cái hài pha chút bi kịch?

    PT: Đúng, viết cho người đọc vui vẻ. Cái hài dễ gây ấn tượng và đi vào lòng người đọc nhất. Anh có thấy cô Cúc trong “ám ảnh một dòng sông” bị nghi ngờ, bị kết tội, bị xua đuổi vì trên đầu có chiếc cặp tóc bằng kim loại sáng quá và nhất là cô gái ấy lại có mảnh gương soi nhỏ. Bằng hai thứ đồ dùng của phụ nữ đó, cô bị kết tội là gián điệp là chỉ điểm cho máy bay Mỹ bắn phá. Chuyện đó là sự thật đau lòng của một thời. Bây giờ nghĩ lại thấy nó hài hước và ngớ ngẩn. Rõ ràng trong cái hài hước lại chứa đựng những cái bi đến rơi nước mắt..”

    Kể ra, những điều mà Phạm Thành đã viết chẳng phải là chuyện lạ. Trong thời kỳ cải cách ruộng đất, biết bao nhiêu cái ngớ ngẩn chết người đã tạo oan khuất cho bao nhiêu người vô tội. Những giới chức cầm quyền mới, không có đủ lương năng cũng như kiến thức nên biết bao nhiêu cái ngu cái dốt xảy ra và nạn nhân chính là toàn dân bị áp đặt trong một môi trường sắt máu tàn bạo.

    Ở một đoạn khác, là sự so sánh giữa hai thời kỳ, hai con người hai chế độ:

    “ Hỏi: anh Chí trong Hậu Chí Phèo của anh có khác gì với anh chí của Nam Cao?

    PT: viết theo tác phẩm nhất là một tác phẩm nổi tiếng là rất khó. Anh Chí của tôi và anh Chí của Nam Cao đều có một điểm giống nhau căn bản đó là sự trung thực với đời mình.

    Anh Chí của Nam Cao là một nhân vật bị xã hội chà đạp còn anh Chí của tôi (cười) là một anh Chí đẹp trai hơn được xã hội nâng đỡ hơn.

    H: Lý do nào mà anh dưa anh Chí lên làm chủ tịch làng Vũ Đại?

    PT: Tôi sinh ra ở nông thôn. Trình độ dân trí của nông thôn ta đa phần còn thấp. Tôi đi công tác nhiều, xin nói thật, hiện nay khối ông chủ tịch chỉ có học lớp ba lớp bốn mà phải giải quyết việc liên quan đến hàng triệu con người. Ngớ ngẩn lắm. Lãnh đạo mà không được học hành thì thật là đáng sợ. Anh Chí đấy, lên chủ tịch làng Vũ Đại do không học gặp bao sai lầm ngớ ngẩn. Tôi đã đánh một tiếng chuông cảnh tỉnh trước tình trạng dân trí của các vùng quê, nhất là hệ thống lãnh đạo huyện xã...”

    Dường như Phạm Thành nói chưa hết ý. Không phải những cường hào ác bá mới ấy chỉ có ngu dốt thôi mà còn tàn ác nữa. Những tên giết người không ghê tay, những đứa dám giết cả người ăn nằm với mình, những kẻ coi chuyện vợ chồng như một cách giải quyết sinh lý, thì chẳng phải là con người nữa mà là con thú sẵn sàng moi gan uống máu đồng loại..

    Nam Cao đã phác họa nên một mẫu nhân vật của một thời đại mà tới bây giờ vẫn còn sinh động. Chí Phèo đã thành một khuôn dáng quen thuộc cũa những người cùng đồ hung dữ quậy phá xã hội. Còn với Hậu Chí Phèo, thì mẫu nhân vật ấy đã thành một thứ quan quyền và gây tác hại cho xã hội ghê gớm hơn và sâu rộng hơn.


    26. 09. 2007