Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Suốt hai năm nay ẩn thân nơi chốn tuyết phủ, “nóc nhà nước Mỹ” nầy, quả tình tôi khong muốn dính dấp đến những chuyện “cặn bã tồi tệ”, với người và việc trong tranh chấp chính trị. Nhưng nay, nhân người bạn trở lại vụ việc cũ với câu hỏi: “Làm sao năm 1995, ông bị gán cho tiếng “Việt Cộng nằm vùng? !” mà kẻ chụp cái nón cối kia không ai khác là những người cùng ông chung nơi xuất phát, đồng trình độ khả năng kỹ thuật quân sự và vị thế chính trị - những người thuộc Hội Võ Bị Đà Lạt !!” Tại sao đến nông nổi như thế? Tại sao?

    Ngày 30 tháng Tư 1995, lên đường từ San Jose, chốn tôi đã đến Mỹ đầu tiên do bảo trợ của Gia Đình Mũ Đỏ, để trả phần nợ ân nghĩa đối với những người lính đã cùng tôi sống, chết hết một đời người, tôi đi tiếp đến 38 nơi trên toàn thế giới để nói với những cộng đồng Người Việt một điều tận cùng dẫu bị bó tay, bẻ súng, cùng đành thất trận, nhưng chính chúng ta – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – là người nhận sứ mệnh Bảo Quốc An Dân trước Lịch Sử Dân Tộc, và đã phải trả giá mối thống hận không hoàn thành nhiệm vụ kia bằng Máu và Mạng Sống của mình.

    Những tưởng với cố gắng như trên sau 30 năm “ở lính và ở tù”, chí ít cũng làm cho những người khắc nghiệt nhẫn tâm nhất phải nhận ra: Lòng tôi trước sau hằng sắc son thủy chung với một màu cờ đã chọn lựa từ buổi thanh xuân (mà nay đã gần hết một đời người với tuổi quá 50). Nhưng tại sao, từ đâu đã xẩy ra sự kiện ác độc bất công như trên? Chắc chắn phải có một trung tâm quyền lực với những con người cực tham hiểm điều hành một cách có hiệu quả âm mưu lăng nhục, vấy bẩn, đánh phá tất cả không từ một ai. Thế nên, hôm nay, tôi phải trở lại câu chuyện cũ để xác nhận một điều cay đắng chúng ta đã bị bức hại bởi chính kẻ nội thù ngụy trang trong đội ngũ chúng ta - những tên VC nằm vùng.

    I. VỤ THỨ NHẤT

    Trong nỗi nhục rã rời sau ngày 30 tháng Tư, 1975, khi lâm cảnh tại những trung tâm “đăng ký trình diện hoc tập cải tạo”, chúng tôi còn phải gánh chịu thêm tình trạng bàng hoàng của kẻ bị lừa gạt, khi nhận ra những người hôm qua còn là “huynh đệ, bằng hữu”, nay thoắt trở thành “cán bộ” với những y phục xa lạ thô kệch, chiếc nón cối chùm hụp và đôi dép râu quê mùa. Lẽ tất nhiên những kẻ nầy không quên đeo trên người khẩu K 54 và chiếc băng đỏ. Tôi và Triệt, người bạn cùng khóa, gặp Lưu Thừa Chí (cũng chung khóa 18 Đà Lạt) trong tình thế bẽ bàng đáng hổ thẹn nầy. Chí ngồi ghi danh người đến “đăng ký” với lon thượng úy – ba ngôi sao và một vạch ngang, địa điểm trường Trần Hoàng Quân, Chợ Lớn.

    Thật sự, anh ta cũng có vẻ ngượng khi Triệt hỏi gằn với cách mĩa mai: Mầy làm cái gì mà kỳ cục như thế nầy ? Ờ … ờ tại vì kỳ làm ở Phong Dinh, tao có vài liên hệ với họ nên bây giờ họ nói tao giúp trong buổi chuyển tiếp. Tôi đứng xa chỉ nghe Triệt đến kể lại. Thôi kệ nó, mầy và tao lần nầy lại ở chung với nhau như mười bốn năm trước trên trường Đà Lạt, chỉ khác bây giờ là trại tù Việt Cộng, đất trời tính ghê quá, con người không biết đâu mà lường.

    Ngày 23 tháng 6, 1975, chúng tôi vào trại Long Giao, Long Khánh, câu chuyện về một người gọi là “thiếu tá an ninh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mang lon thượng úy Cộng Sản ngồi ghi danh”, anh em không ai muốn nhắc lại – Vì hiện tượng phản trắc đã lộ mặt và cùng khắp. Tồi tệ hơn, những kẻ thay màu áo nầy hãnh diện với “sự nghiệp tráo trở của mình – thành tích “có công với cách mạng”. Chữ nghĩa được dùng với toàn bộ tính đê tiện khinh miệt nhất. Tôi và Triệt mất liên lạc với nhau khi chuyển ra Bắc, sau chuyến đi địa ngục trên tàu Sông Hương, khởi hành từ Tân Cảng, Sài Gòn, đúng Ngày Quân Lực 19 tháng Sáu, 1976.

    “Mười tám” năm sau, 1994, tôi và Triệt lại gặp nhau ở Houston, đường Beechnut. Hai chúng tôi đã thật sự ở tuổi già sau ba mươi năm “tuổi tù và tuổi lính”, nhưng Triệt vẫn giữ nguyên cách thẳng thắng mạnh mẽ của người miền Nam như đang kỳ trai trẻ. Lần gặp gỡ bắt đầu với câu hỏi gay gắt như đã chực sẵn từ lâu:

    - Mầy nhớ vụ thằng Chí khóa mình trình diện năm 1975 không?

    - Thằng Chí thiếu tá an ninh quân đội, cũng là thượng úy Việt Cộng chứ gì? Tôi cũng sẳng giọng không kém.

    - Hắn qua Mỹ rồi đó, HO, đi trước khi mầy ở tù về, bây giờ đang ở DC, kỳ đại hội Võ Bị tháng 7 vừa rồi, nó có mặt trong ban tổ chức!!

    - Mầy có giỡn không, nó là Việt cộng chính gốc, sao lại đi HO?!

    Câu chuyện được kể lại với những chi tiết bất ngờ, cho dẫu kẻ có trí tưởng tượng phong phú cũng khó lường phần bố cục.

    Bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 80, một số ít sĩ quan miền Nam thuộc những đơn vị chuyên môn như Hành Chánh Tài Chánh, Quân Cụ, Quân Nhu lần lượt được trở về chịu sự quản chế của địa phương. Khóa chúng tôi do một may mắn hiếm có (chỉ xẩy ra một lần với khóa 18), vào giai đoạn ra trường (cuối năm 1963), khi chiến tranh tăng cường độ, tổ chức quân đội mở rộng nên cần một số sĩ quan về các đơn vị chuyên môn. Những người may mắn nầy sau 1975 nhận thêm một lần “hên”, họ được thả sớm hơn so với những người bạn ở các đơn vị tác chiến, mà theo đánh giá của cán bộ cộng sản thì món “nợ máu của nhân dân” chia ra bốn cấp: “Nhất Pháo, nhì Phi, tam Rằn Ri, tứ Chính Trị” (ý nói, lính Pháo Binh, Phi Công, Biệt Kích, Nhảy Dù, Biệt Động, Thủy Quân Lục Chiến và Chiến Tranh Chính Trị là những đơn vị đứng hàng đầu tội phạm). Nhóm sĩ quan may mắn của khóa 18 kia vào ngay 23 tháng 11, 1981 (kỷ niệm ngày mãn khóa học mười tám năm trước, 23 tháng 11, 1963), tập trung tại nhà Nguyễn Ngọc Anh, biệt thự gia đình vợ, đường Pasteur cũ. Mười mấy anh, chị lôi thôi, tơi tả vì trận đòn thù từ 1975 đến nay vẫn chưa hồi tỉnh, tính sổ lại 198 mạng của ngày mãn khóa nay chỉ còn không tới 20, với 50 người tử trận vĩnh viễn không về, mươi kẻ tị nạn, vượt biên, số lớn còn lại hiện sống, chết không nên dạng người nơi các trại tù trong Nam, ngoài Bắc.

    Trong giây phút mừng tủi của lần hội ngộ, bỗng nhiên, Lưu Thừa Chí xuất hiện. Mọi người đồng im bặt. Sau cùng, có người gắng gượng hỏi:

    - Anh còn đến với chúng tôi làm gì?

    - Tôi cũng đi cải tạo như các bạn, ở trại Cây Trâm!

    Chí giả lả làm hòa, hắn đưa Giấy Ra Trại để làm bằng, và đề nghị được góp phần tiền lớn để cùng mua thức ăn, đồ uống về chung vui buổi họp mặt. Không khí hóa nặng nề, từng người lặng lẽ rút lui.

    - Mầy có mặt hôm đó không? Tôi nôn nóng hỏi Triệt, cố tìm nên đầu mối.

    - Có, năm đó tao mới về, về được một tháng thì Tết Tây.

    - Thế thì nó cũng đi tù như bọn mình sao?

    - Tù chỗ nào, sao mầy ngu vậy, thiếu tá An Ninh Quân Đội thì phải đi ra Bắc chứ; với lý lịch An Ninh Quân Đội thì chẳng phải cần đến cấp tá, chỉ thiếu, trung úy hoặc hạ sĩ quan nó còn tìm cớ để bắn chết không cần xét xử như ở trại Xuân Phước, Tiên Lãnh ngoài Trung. Thiếu tá An Ninh Quân Đội nào để lại ở trại Cây Trâm, Bình Dương như thằng nầy?! Triệt gắt cao giọng lộ vẻ bực tức vì tôi vẫn chưa rõ đầu mối câu chuyện.

    - Trại Cây Trâm ở đâu, ngày ở Long Giao không nghe ai nói đến.

    - Đó là trại tụi hình sự, cũng có sĩ quan, nhưng chỉ có cấp thiếu, trung úy, mà là thành phần gây vụ việc sau 1975, chứ không là đám tập trung tháng 5, tháng 6, năm 75 như bọn mình.

    - Rồi sao nữa? Tao ngao ngán.

    - Sao nữa, đ.m. nó đi HO trước hơn ai hết, kỳ đại hội 7 vừa rồi ở DC, nó góp 1000 đồng cho ban tổ chức.

    - Tiền đâu mà một thằng HO có ngay một ngàn để đóng?!

    - Mầy tìm nó mà hỏi!! Triệt gầm gừ chấm dứt câu chuyện với cách chưởi thề chậm rãi từng tiếng một.

    Những nhân sự như Lưu Thừa Chí kể trên sẽ mãi mãi ở trong bóng tối với khả năng tầm thường, đối tượng công tác hạn chế riêng của nó, và giá như bị phát giác (như đã từng bị nhận ra lý lịch), thì người quốc gia cũng chỉ giải quyết bằng biện pháp “đóng cửa dạy nhau”, coi như trường hợp “xử lý nội bộ” (nói theo cách Cộng Sản), bởi người phe Quốc Gia vốn dễ tính, không chấp nhứt đối với những kẻ tráo trở, bội phản, cũng do những kẻ nầy lỡ đã một lần là bạn bè cùng khóa, cùng hội, cùng trường. Nói ra sợ “xấu hổ cả đám”. Nhưng, vì năm 1994 kia, tôi mới qua Mỹ được mấy tháng, lòng còn đang sôi sục ‘những chuyện cần được kể lại”, với ý hướng “ngây thơ” – người bên ngoài cũng đang muốn nghe về những câu chuyện kia – dẫu những vụ việc nói ra gây nặng lòng, cau mặt.

    Ba mươi khóa Đà Lạt, trước và sau khóa 18 (khóa chúng tôi bao gồm Lưu Thừa Chí), không hề có trường hợp: Thiếu úy tốt nghiệp trường Đà Lạt được chọn đi ngành An Ninh Quân Đội ngay lúc mãn khóa. Bởi, sĩ quan ngành tình báo nầy phần đông, nếu không nói hầu hết do ngành an ninh tuyển chọn từ các đơn vị, được huấn luyện ở những trung tâm quân báo, tình báo trong nước và ngoại quốc, sau một quá trình sưu tra an ninh đặc biệt (thời Đệ Nhất Cộng Hòa, trách nhiệm sưu tra thuộc một bộ phận của Văn Phòng Nghiên Cứu Chính Trị của Cố Vấn Ngô Đình Nhu). Thế nên, sự kiện viên thiếu úy tên gọi Lưu Thừa Chí được tuyển chọn đi ngành An Ninh Quân Đội từ ngày 23 tháng 11, 1963, không thuộc thẩm quyền chỉ định của ban tham mưu Trường Võ Bị, cũng không thuộc Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH – Nó xuất phát từ cấp độ cao hơn. Cao đến chỗ nào, chúng ta không thể biết, cũng không hề có khả năng được biết những “bí mật quốc gia” từ Dinh Tổng Thống, Dinh Thủ Tướng, Bộ Quốc Phòng – Những bí mật hằng được đám tình báo chiến lược Việt Cộng nắm rõ đầu mối, ngọn nguồn.

    Chúng tôi không hề quan trọng hóa một sự kiện nhỏ nhặt, vì sau nầy, khoảng năm 1972, Chí để lộ cơ sở công tác: Y thả một nữ cán bộ Cộng Sản bị bắt giam tại Ty An Ninh Quân Đội Phong Dinh, âm mưu vỡ lở, Trung Tá Nguyễn Hữu Khiếu, tiểu khu phó thụ lý nội vụ. Chí cầu cứu Trung Tá Khiếu với lý lẽ: “Bị mê hoặc bởi sắc đẹp cô gái, chứ không phải do công tác nội tuyến”.

    Trung Tá Khiếu nay ở Montréal, kể lại câu chuyện nầy với Hội Võ Bị địa phương ngày 20 tháng 10, 1996, có cá nhân tôi tham dự. Năm 1960 1963, ông Khiếu là đại úy dạy vũ khí ở trường Đà Lạt. Do bản chất trung hậu, và cũng có phần tin, “Chí lỡ dại do dáng dấp quê kệch, xấu trai” nên ông Khiếu che chở Chí vì tình thầy trò ở giai đoạn 1972 kia. Nhưng, sau nội vụ, do từ một “gốc” lớn nào đó ở Sài Gòn lo an ninh, phản tình báo trong cộng đồng người Hoa. Lưu Thừa Chí cũng có thể đọc là Liêu thay vì Lưu, vốn giòng Minh Hương, người Việt gốc Hoa.

    II. VỤ THỨ HAI

    Năm 1957 – xin nhắc lại, trước năm 1975 mười tám năm trước, trước vụ việc Lưu Thừa Chí như vừa kể tren gần một thập niên – một thanh niên tuổi chưa tới hai mươi, lội sông Bến Hải vượt tuyến vào Nam. Anh ta đến khai cùng đồn cảnh sát Gio Linh là em ruột của viên tướng tư lệnh quân khu 2, đóng tại Huế. Viên tướng cho người ra đón em, đem về hỏi lý do vượt tuyến. Anh thanh niên tỏ bày, vì có anh là tướng lãnh miền Nam, nên gia đình ngoai Bắc bị vây khổn chính trị ngặt nghèo, bản thân anh ta không được đi học và chịu cảnh sống cơ cực kinh tế, hoặc người anh cả (anh ông tướng) vốn là trung tá binh chủng phòng không không quân bộ đội miền Bắc, dẫu có công trận lớn vẫn không được thăng cấp.

    Được anh nuôi ăn học, người thanh niên sau bậc trung học, tình nguyện đi lính với hoài bão nói ra lời: “Cũng muốn được sự nghiệp vinh quang trong quân đội như anh”. Anh ta tốt nghiệp khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức, đổi về binh chủng Hải Quân, Bộ Tư Lệnh vùng 4 Sông Ngòi ở Mỹ Tho. Những năm 70, anh lên thiếu tá, được mệnh danh là “VC killer”, do thành tích, cuối mỗi cuộc hành quân, anh kéo xác Việt Cộng sau tàu chạy dọc bến sông để biễu dương ý chí “chống Cộng”!! Những ngày cuối tháng 4, 1975, viên tướng cho người em út, phó quận hành chánh quận Tân Bình, Gia Định về Mỹ Tho, kêu vị thiếu tá “VC killer” về Sài Gòn để cùng gia đình lớn đi Mỹ. Thiếu tá “VC killer” mạnh mẽ khẳng định với người em: “Tui chỉ là thiếu tá, chú là Quốc Gia Hành Chánh, có gì mà phải sợ “cách mạng”, ông ấy là tướng mới cần đi Mỹ, còn chú với tôi thì ở lại “xây dựng đất nước”, hòa bình thống nhất rồi ta còn mong ước gì hơn”.

    Sau 30 tháng Tư, 1975, thiếu tá “VC killer”, người em quốc gia hành chánh đồng “hồ hởi, phấn khởi trình diện học tập cải tạo”. Người em vào trại Long Thành, Biên Hòa; thiếu tá “VC killer” ra trại 1, Đoàn 776, xã Việt Hồng, Hoàng Liên Sơn. Gặp tôi đi vác nứa giữa đường vào Cốc, thiếu tá “VC killer” đưa tay ngoắc thân ái và hỏi thăm về người em quốc gia hành chánh – cũng là em rể, lấy em gái tôi, Phan Ph. Kh.

    Một năm sau, khoảng mùa Hè 1977, một cán bộ mặc thường phục từ Hà Nội đến bộ chỉ huy đoàn 776, gặp viên chính ủy đoàn. Thiếu tá “VC killer” ra khỏi trại, về Ban-Mê Thuộc hành nghề giữ xe đạp với căn cước mới: “Thiếu tá ngụy quân học tập tiến bộ, trở về do chính sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng”. Chỉ có một điều không ghi vào lý lịch, ấy là, đối tượng công tác của thiếu tá “hải quân ngụy - VC killer” trong giai đoạn mới là những ai. Hoặc là thành phần “Fulro phản động đang âm mưu nổi loạn ở Tây Nguyên”, cũng có thể là đám cán bộ Cộng Sản mới được bố trí vào Tây Nguyên mà thành phần chưa đồng nhất, nên cần phải theo dõi, báo cáo công tác theo hệ thống riêng của Cục Bảo Vệ Chính Trị thuộc quyền chỉ huy trực tiếp duy nhất của Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng – Cơ quan bao trùm cả Bộ Nội Vụ, lẫn Cục Tình Báo Hải Ngoại.

    Thiếu tá “VC killer” hay người thanh niên vượt tuyến là Thái Quang Chức; người anh cả là Trung Tá Thái Quang Hồng, binh chủng Phòng Không Không Quân bộ đội miền Bắc; người anh thứ là Thiếu Tướng Thái Quang Hoàng, tư lệnh Quân Khu 2. Từ năm ấy đến nay, trên đất nước Việt Nam, nơi hải ngoại, hằng vạn, triệu người đã chết. Chỉ một số còn sống, nhưng vẫn “ - giữ nguyên bí số” - Những người như Thái Quang Chức, Lưu Thừa Chí và rất nhiều - rất rất nhiều nữa - những kẻ vô danh, tầm thường, chuyển công tác theo “hệ thống ngang – từ nhân viên Cục Bảo Vệ Chính Trị lên thành nhân viên Cục Tình Báo Hải Ngoại – dưới quyền chỉ đạo nhất quán thuộc “hệ thống dọc bất khả thay thế”: Ban Tổ Chức Trung Ương ĐCSVN.

    II. VỤ THỨ BA

    Bắt đầu mùa Hè năm 1990, chương trình ODP được thực hiện với đối tượng cựu tù nhân cải tạo qua kế hoach H (Chỉ danh nầy bị hiểu nhầm một cách có ý nghĩa thành HO), cá nhân tôi cũng nộp hồ sơ theo thủ tục chung tại Trung Tâm Xuất Nhập Cảnh 333, Nguyễn Trải, Sài Gòn (trước Tổng Nha Cảnh Sát đường Võ Tánh cũ). Sau thời gian chờ đợi, trung tâm trả lại hồ sơ với lý do: “trên chưa có quyết định về những trường hợp thuộc diện như cá nhân tôi”. Sau vài lần vượt biên không thành, hơn nữa các trại tỵ nạn cũng đang có kế hoạch đóng cửa, nhạc mẫu tôi thử cố gắng thêm một lần nhân chuyến ra Bắc thăm họ hàng, với đầu mối – Trung Tâm Trung Ương, Cục Xuất Cảnh, Bộ Nội Vụ, 40 A Hàng Bài Hà Nội. Trung tâm ra giá, 500.000 đồng tiền Việt, cụ tặng thêm 100.000 đồng cho nhân viên làm biên lai thâu nhận hồ sơ. Ngày hôm sau, trung tâm Hàng Bài trả lại hồ sơ với lý do tương tự của đường Nguyễn Trải. Cuối cùng, HĐ Ngoạn và PĐ Vượng, (hai người bạn thân, biết hầu hết nhân sự và vụ việc của Sài Gòn trước lẫn sau năm 1975, do đường giây giang hồ riêng) chỉ cho tôi đến địa chỉ 206 Nguyễn Trải, cạnh rạp chớp bóng Khải Hoàn, sát cổng xe lửa số 1.

    Cơ sở không bảng hiệu, nhân viên mặc thường phục đón khách với thái độ “chúng tôi đã biết rõ tất cả”. Mà quả thật như thế, người tiếp tôi bắt đầu với câu chào “anh Nam có mạnh khỏe không?” Anh ta đứng dậy, mở tủ, nói với vẻ tự tin: “Tôi biết anh nhiều lắm!!” Rồi anh cho coi Chứng Chỉ Nhảy Dù do Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn Nhảy Dù cấp, Trung Tá Trần Văn Vinh ấn ký, với lời giới thiệu: “Trung úy Trần Trung Phương, gốc đại đội 33 Tiểu Đoàn 3 Dù, và đơn vị cuối, Biệt Đội Quân Báo Điện Tử sư đoàn”.

    Nhưng, Trần Trung Phương không chỉ là “sĩ quan nằm vùng nơi Biệt Đội Điện Tử Sư Đoàn Dù”, mà còn là “nhân viên đặc vụ của sở phản gián Bộ Nội Vụ cộng sản”, nên anh ta đã có kết luận mau chóng: “Tôi có thể làm hồ sơ để anh ra khỏi nước trong vòng tám tháng là tối đa, gia đình anh tại Mỹ trả 2000 đô la cho người chúng tôi bên đó, và thêm một vài điều kiện khác .v.v”.

    Lẽ tất nhiên, tôi không thể thực hiện những đề nghị của Phương, từ 2000 đô la đến “những điều kiện khác”. Sau nầy, năm 1993, để giúp một người quen giải quyết một khó khăn tương tự, tôi đi tìm Trần Trung Phương ở địa chỉ mới, một văn phòng trong khách sạn góc đường Nguyễn Văn Trỗi (Cách Mạng cũ) và Trần Quang Diệu. Nhân viên văn phòng nầy cho biết Phương đã có mặt ở Nam Cali, vùng Westminter với nhiệm sở mới là một văn phòng dịch vụ du lịch.

    Những bãi đáp đổ quân, vị trí hỏa tập tiên liệu, toa độ dội bom B52 của Sư Đoàn Nhảy Dù trong chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 đã bị quân báo cộng sản giải mã từ nhiều đầu mối. Một trong những đầu mối hiểm nghèo kia có sự tham dự rất tích cực và hiệu quả từ Biệt Đội Điện Tử và Phòng Hành Quân của sư đoàn. Và tại cơ quan hành quân tối mật nầy đã không cần đến một “sĩ quan nằm vùng” với cấp bậc trung úy như Trần Trung Phương, nhưng chỉ cần một hạ sĩ quan vẽ phóng đồ hành quân – viên Hạ Sĩ Nhất mà tôi đã từng thấy mặt, luôn làm việc im lặng, chăm chỉ của phòng 3 khi đơn vị còn mang phiên hiệu Lữ Đoàn Nhảy Dù, năm 1963. Ngày 30 tháng 4, 1975 viên hạ sĩ quan nầy hướng dẫn trung tá Nguyễn Văn Tư, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Đoàn qua Camp Davis, Tân Sơn Nhất gặp cán bộ cộng sản để bàn giao hồ sơ trận liệt của đơn vị mà y đã lưu giữ, cập nhật từ mười, hai mươi năm qua.

    LỜI KHẨN CẦU VIẾT VỚI GIÁ MÁU

    Tôi đã quá tuổi để bắt đầu một dự định mới, cho dẫu kế hoạch dự trù ấy cần thiết, cấp bách đến bao nhiêu, bởi thời gian còn lại không cho phép và việc chưa hoàn tất lại quá nhiều – Nhưng tôi phải có bổn phận chỉ đích danh những cá nhân tác hại điển hình như Lưu Thừa Chí, Trần Trung Phương, TQ Chức, những viên hạ sĩ quan, những công an cộng sản (đi theo diện “ghép” với những gia đình HO, ODP) như vừa kể trên (hiện tràn lan khắp cộng đồng Người Việt hải ngoại) – Một nhiệm vụ không thể trì hoãn và khoan thứ, vì đây không là sự việc “liên hệ giữa những cá nhân”, nhưng là sự tồn vong “sinh mệnh chính trị” của một tổng thể rộng lớn – Không phải chỉ khối Người Việt Miền Nam mà là toàn Việt Nam khổ nạn. Bởi chúng ta, người Việt Không Cộng Sản – không bao giờ là đảng viên cộng sản – đã lần lượt thua những trận quyết định liên quan đến vận mệnh toàn dân tộc, lần tháng 8, 1945, và lần 20 tháng 7, 1954, và lần cuối cùng 30 tháng tư năm 1975. Và nếu hôm nay, chúng ta không điều chỉnh sách lược để nhìn rõ địch tình thì e rằng khí thế của lần Cali Vùng Dậy Cờ Vàng 1999, những Đêm Tuổi Trẻ Thắp Nến sẽ trở nên vô ích, gây tàn lụi nguồn hy vọng bức thiết từ Xuân Lộc, Long Khánh, Thái Bình. Chúng ta sẽ mãi mãi là “ Người Việt xấu xí” trước mắt thế giới do âm mưu từ một kẻ nội thù hiễm độc. Nhưng, cũng phải nói rõ thêm một lần hay bao nhiêu lần mới đủ: Đây là lỗi từ chúng ta. Cứ sẵn khắc nghiệt cáo buộc, chụp mũ, tranh chấp cùng nhau để rảnh tay cho kẻ thù, cũng đồng nghĩa vô tình tiếp tay kẻ nghịch, bức hại anh em – với “biện pháp cuối cùng và độc nhất” – cáo buộc người bạn của minh là “cộng sản”, do sau khi đã không tìm ra được nơi bạn mình một lỗi lầm nhỏ nhặt nào. Cuối cùng, chính bản thân ta đơn độc nguy khốn, vì lẽ đã tự tay phá hủy vũ khí đoàn kết của chính mình. Đau đớn bao nhiêu. Uất hận bao nhiêu.
  2. Đọc cuốn sách... Nhìn suốt cuộc chiến!
    (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng, NXB Nam Việt, CA – USA 2006)

    Dẫn nhập:

    Năm 2005 vừa qua, sách “Khi Đồng Minh Tháo Chạy” (1) của tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã đạt tới số bán kỷ lục trong một thời gian dài (kéo dài suốt hơn nửa năm 2005) do đã được phát hành đúng thời điểm 30 năm mất miền Nam (30 tháng Tư, 1975-2005), và được đánh giá là đáp ứng thích đáng đối với câu hỏi (từ Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại nói riêng, của người Việt nói chung) luôn cần được trả lời, giải thích: Tại sao Miền Nam đã sụp đỗ nhanh chóng đến như vậy? Riêng với chúng tôi, tập thể những người lính, công nhân, viên chức Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) và gia đình là những đối tượng chịu tác động trực tiếp, trước nhất của giai đoạn kể trên trong suốt thời gian dài kể từ đầu thập niên 1960 (khi chính quyền, quân đội Mỹ bắt đầu tham dự trực tiếp vào tình thế Miền Nam), mà hội chứng khắc nghiệt đến nay vẫn còn di hại, tác động. Khi Đồng Minh Tháo Chạy (cùng với The Palace Files của chung tác giả) quả thật chưa là trả lời đầy đủ cho câu hỏi đơn giản nhưng khắc nghiệt kể trên – Trong lãnh vực quân sự - Những diễn tiến chiến trận kéo dài từ ngày 10 tháng Ba (ngày vỡ trận Ban Mê Thuộc) đến ngày 30 tháng Tư, 1975 bao trùm những sự kiện về người, việc không hợp lý.

    Thế nên, Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng của Trần Đông Phong nay (2007) cũng phải được đọc với tính cách, thái độ tìm hiểu cẩn trọng tương tự - Bởi Lịch Sử luôn cần được giải thích chính xác và trung trực – Do đã là một hoàn tất không thể sửa đổi, điều chỉnh mà Nỗi Đau 1975 không là của riêng ai. Hơn thế nữa, Trần Đông Phong đã viết nên cuốn sách với Tấm Lòng Người Lính QLVNCH như lời đề tặng chân thành của ông nơi trang đầu, dẫu ông chỉ là người hoạt động nơi những “mặt trận im lặng”, ở hậu trường chính trị miền Nam.

    Dù nhan đề chỉ giới hạn trong “Mười Ngày Cuối Cùng”, nhưng cuốn sách chứa đựng nhiều dữ kiện, nguồn tài liệu, những mưu định, ẩn số chính trị, ngoại giao, quân sự chồng chéo, tác động hỗ tương – Điều nầy là nguyên do gây nên hậu quả kia. Hoặc chính nó là hệ quả của những nguyên nhân sẵn có từ trước, và tiếp tục tác động theo một chu kỳ mới với đối tượng mới - Có khả năng giải thích đủ và đúng cuộc chiến Việt Nam mà đến bây giờ vẫn là một vấn nạn chưa thể có trả lời chung nhất đối với tất cả các phe lâm chiến. Nhưng bởi yêu cầu của bài viết (với mục tiêu là “những vấn đề quân sự”); từ quan điểm của một quân nhân, chúng tôi buộc phải giới hạn nội dung trình bày chỉ căn cứ trên những sự kiện, biến cố quân sự có liên quan trực tiếp đến vận mệnh của Miền Nam, cả Việt Nam qua chọn lựa cẩn trọng bắt buộc người lính phải áp dụng như trong buổi hành quân – Huống gì đây là cuộc hành quân chung kết của “10 Ngày Cuối Cùng”

    Người Lính Phan Nhật Nam
    CA, tháng 4, 2007

    I. Trước lần sụp đỗ.

    Trần Đông Phong đưa chúng ta đi xa hơn biến cố Tháng Tư 1975, đến tận nguồn khởi đầu bi kịch Miền Nam, với những vận động chính trị ở những nơi ngoài lãnh thổ VNCH nhưng gây nên những hệ quả quân sự tại Việt Nam... Bắt đầu từ Hoa Thịnh Đốn vào mùa thu năm 1974, từ Mạc Tư Khoa vào cuối năm 1974, tại Hà Nội và tại Sài Gòn cũng vào tháng 12 cùng năm. Và cuối cùng, xa hơn nữa là từ Bắc Kinh vào năm 1971. Những sự kiện thoạt đầu kể như chẳng có dính dáng gì đến Việt Nam mà chỉ có liên hệ đến người Nga gốc Do Thái, nhưng thật sự liên quan trực tiếp với sinh mệnh của toàn dân tộc Việt chứ không riêng đối với Miền Nam.

    1- Mỹ/Liên Xô

    Trước tiên là sự việc xẩy ra giữa những chính khách. Trong thời gian giữ chức Phụ Tá An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Nixon, Tiến Sĩ Henry Kissinger đã mở nhiều cuộc thương thuyết nhằm giảm bớt căng thẳng (detente) trong bang giao Mỹ-Liên Xô và cũng nhằm lấy cảm tình với Liên Xô để nhờ đó, đại cường Cộng Sản này có thể gây áp lực với Hà Nội nhằm tiến đến việc ký kết hiệp ước mang lại hoà bình (cho người Mỹ) tại Việt Nam. Với mục tiêu nầy, Kissinger đã hứa hẹn với các nhà lãnh đạo Nga Xô rằng Hoa Kỳ sẽ cho Liên Xô được hưởng quy chế Tối Huệ Quốc (Most Favored Nation) và nếu được hưởng quy chế này, Liên Xô có thể mở rộng giao thương với Hoa Kỳ và Tây phương, một mục tiêu mà Nga Xô đang cấp bách tìm cách thực hiện để cứu vãn nền “kinh tế xã hội chủ nghĩa”đang trên đà kiệt quệ. Để đáp lại thiện chí của Mỹ, lãnh tụ Liên Xô Brezhnev đã áp lực với Hà Nội ngưng việc đòi hỏi phải loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu như là một trong những điều kiện tiên quyết để ký kết Hiệp Định Ba Lê.

    Sau khi lên làm ngoại trưởng, ông Kissinger đã thực hiện lời hưá hẹn với Nga Xô hồi năm 1972, đã vận động với Quốc Hội Mỹ cho Liên Xô được hưởng quy chế “Tối Huệ Quốc” và dự luật này đã được Hạ Viện thông qua. Nhưng khi bản dự luật này được đưa lên Thượng Viện vào mùa Thu năm 1974 thì Thượng Nghị Sĩ Henry Jackson thuộc Đảng Dân Chủ Tiểu Bang Washington, một nghị sĩ thuộc phe “diều hâu” tức là phe (được quan niệm) ủng hộ VNCH, nhưng ông này không ưa Tiến Sĩ Henry Kissinger, lại là một trong những nghị sĩ đang hy vọng ra ứng cử tổng thống vào năm 1976. Vì muốn chiếm được cảm tình của cử tri cũng như là khối tài phiệt gốc Do Thái, Henry Jackson đã kèm vào dự luật này một Tu Chánh Án (Amendment) liên kết việc thông qua dự luật với điều kiện Liên Xô phải có một chính sách cởi mở hơn trong việc cho phép công dân Liên Xô gốc Do Thái được di dân sang Tây phương và cứu xét vấn đề này một cách dễ dãi hơn. Dự luật này về sau được gọi là “Tu Chính Án Vanix-Jackson”.

    Dù rằng cho đến ngày 3 tháng 1 năm 1975 bản dự luật này đã được Tổng Thống Gerald Ford ban hành, nhưng về phiá Liên Xô thì họ biểu lộ cho thấy họ không thể chấp nhận được việc các nghị sĩ Hoa Kỳ đã can thiệp vào việc nội chính của Liên Bang Xô Viết, do đó giới lãnh đạo Liên Xô đã nổi giận và tìm cách trả đũa bằng cách “phá ”ù Hoa Kỳ tại Việt Nam.
    Tuy không nói rõ sẽ trả đũa như thế nào, nhưng một tuầøn sau đó thì Đại Sứ Liên Xô tại Washington đã bị triệu hồi về nước để “tham khảo” ý kiến, đồng thời Đại Tướng Viktor Kulikov cũng bất thần được Điện Cẩm Linh phái sang Bắc Việt (2)

    Tướng Viktor Kulikov đến Hà Nội vào tháng 12 năm 1974, trên danh nghĩa với tư cách đại diện Hồng Quân Xô Viết tham dự lễ Kỷ Niệm 30 Năm Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, tuy nhiên sau đó đã tham dự phiên họp Khoáng Đại Kỳ thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam. Tướng Kulikov nói với các lãnh đạo đảng Cộng sản và quân đội Bắc Việt rằng: “Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ không chấp thuận cấp thêm viện trợ kinh tế cũng như là quân sự cho miền Nam Việt Nam nữa, như vậy thì đây là lúc thuận lợi nhất để mở các cuộc tấn công đại quy mô tại miền Nam, và Liên Xô cam kết sẽ ủng hộ kế hoạch tấn công này bằng cách tích cực gia tăng viện trợ quân sự cho Bắc Việt.”

    Sau khi Kulikov trở về Mạc Tư Khoa, Liên Xô đã thực hiện lời hứa của Kulikov và viện trợ quân sự cho Bắc Việt đã gia tăng gấp bốn lần trong những tháng Giêng, Hai và Ba năm 1975. Không những chỉ gia tăng viện trợ vũ khí đạn dược, Liên Xô còn cung cấp những tin tức tình báo bằng vệ tinh cho quân đội cộng sản tại miền Nam. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Liên Xô phóng vệ tinh từ căn cứ Plessetsk với phương giác (góc độ) 65 độ và 8 ngày sau đó lại phóng thêm một vệ tinh thứ hai với phương giác 81 độ và cả hai vệ tinh này đã quan sát được mọi hoạt động trên toàn cõi Việt Nam. Đây là loại vệ tinh mới nhất cuả Liên Xô có đủ khả năng chụp được những bức không ảnh với hình ảnh những xe cộ và chiến xa rất rõ ràng. Từ Mạc Tư Khoa, những bức không ảnh này được chuyển sang Hà Nội trong vòng vài tiếng đồng hồ sau đó và Hà Nội lại chuyển vào Nam cho Tướng Văn Tiến Dũng, nhờ đó Cộng sản Bắc Việt biết rõ họ đang phải đối đầu với quân số và đơn vị ở cấp nào trên chiến trường tại miền Nam Việt Nam. (3)

    Hiện diện của Tướng Viktor Kulikov không tránh được sự quan sát của các cơ quan tình báo của Hoa Kỳ tại Việt Nam, và ông Wolfgang Lehmann, Xử lý Thường Vụ Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã đánh một công điện “mật” về Hoa Thịnh Đốn tường trình về vụ việc này. Tuy nhiên tại Hoa Thịnh Đốn vào thời điểm (quyết định) đến vận mạng miền Nam, không có ai chú ý đến bức điện văn này của viên Xử Lý Thường Vụ Đại Sứ Hoa Kỳ gửi đi từ Sài Gòn. (4)

    2- Bộ Chính Trị Hà Nội/ Trung Ương Cục Miền Nam

    Vào khoảng cuối năm 1974, Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt đã soạn thảo một kế hoạch quân sự cho năm 1975, theo kế hoạch này thì các lực lượng cộng sản sẽ gia tăng đánh phá tại các chiến trường B2 (Miền Đông Nam Bộ); B3 (Tây Nguyên); và B4 (Trị-Thiên) để chiếm các tiền đồn, các quận lỵ hẻo lánh, cô lập các lực lượng của VNCH, rồi sang năm 1976, khi tại Hoa Kỳ đang diễn ra bầu cử tổng thống vào tháng 11 thì Cộng sản Bắc Việt sẽ mở các cuộc tổng tấn công để chiếm trọn Miền Nam. Kế hoạch này đã được các cấp lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam như Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Quân Ủy Trung Ương chấp thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, giới lãnh đạo đảng muốn đưa dự án kế hoạch này ra thảo luận trước phiên họp khoáng đại lần Thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương vào ngày 18 tháng 12 năm 1974 để đại hội phê chuẩn.

    Trung Tướng Trần Văn Trà cho biết vài điểm chính về kế hoạch này như sau: “Năm 1975 phải hoàn thành mọi công tác chuẩn bị thật tốt để đảm bảo đánh lớn, tổng công kích tổng khởi nghĩa thắng lợi trong năm 1976.. Tất cả xoay quanh nhận định đánh giá tình hình trong nước, ngoài nước. Ta đánh mạnh, ngụy sẽ ứng phó thế nào? Mỹ sẽ hành động ra sao? Có giám can thiệp trở lại không hay có những âm mưu thủ đoạn nào khác? Năm 1975 nên thế nào? Và rồi năm 1976? Hai năm trong chiến tranh ác liệt có phải đâu là ngắn, nhưng hai năm cuối cùng của trên 30 năm khổ cực thì sao thấy nó nhanh quá, sắp đến nơi rồi.." (5)

    Như vậy thì “vào cuối năm 1974”, Bộ Chính Trị Đảng Lao Động đã chấp thuận kế hoạch quân sự tại miền Nam cho năm 1975 là “chỉ tấn công những mục tiêu nhỏ” để chiếm đất dành dân, làm tiêu hao quân lực Việt Nam Cộng Hòa với 10% vũ khí dự trữ, và sang đến cuối năm 1976, sẽ tổng tấn công chiếm miền Nam. Kế hoạch nầy là bước thực hiện của “Mệnh Lệnh Đánh Trả ngày 15 tháng 10, 1973”- Mệnh lệnh nầy quy định, tổng quát hóa phương thức hành động để hoàn tất những mục tiêu đề ra từ Nghị Quyết 12R (biến danh của Nghị Quyết 21 Trung Ương Đảng): “Giành dân, lấn đất. Giành thắng lợi từng phần.. Đánh lấy miếng, không đánh lấy tiếng..” Mệnh lệnh gọi là “đánh trả (phía VNCH)” nhưng thực chất là quyết định “đánh chiếm Miền Nam bằng vũ lực” sau khi “Hiệp Định Paris ký ngày 27 tháng 1, 1973 Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam” đã chứng tỏ “không có tính cách thực tế, khả thi” dẫu Lê Đức Thọ và Kissinger ký thêm một Nghị Định Thư ấn định các biện pháp thi hành (13/7/1973) (6).

    Vì lý do nêu trên, kể từ sau khi Hiệp Định Ba Lê được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, tuy Hà Nội có chủ trương vi phạm hiệp định rất nhiều lần, nhưng trong hai năm 1973 và 1974 không có một trận đánh quan trọng nào xảy ra tại miền Nam ngoài những trận đụng độ trong chiến dịch chiếm đất dành dân giữa hai bên. Chỉ có trận chiến quan trọng nhất là trận Thường Đức ở Quảng Nam với mục tiêu là Đồi 1062, nơi mà hai Lữ đoàn 1 và 2 Nhảy Dù đã chiến đấu chống lại các Trung Đoàn 29, 31, 24 và 66 thuộc các sư đoàn 2, 324B và 304 của Cộng Sản Bắc Việt. Trong trận này, về phía bộ đội cộng sản có 2,000 người chết, 5,000 người bị thương, và về phía VNCH thì có 500 chiến sĩ nhảy dù bị tử thương và 2,000 người bị thương. (7)

    Căn cứ từ thực tế chiến trường, tình hình chính trị VNCH, những người cầm đầu Cộng Sản thuộc Trung Ương Cục Miền Nam lại có nhận định theo một chiều hướng khác với kế hoạch Bộ Tổng Quân Ủy Miền Bắc như vừa kể bên trên. Tháng 11 năm 1974, nhân lần ra Hà Nội để các cấp lãnh đạo quân sự Bắc Việt thông báo kế hoạch quân sự tại miền Nam trong năm 1975 và 1976, hai đại diện của Trung Ương Cục là Phạm Hùng, Bí Thư Trung Ương Cục (Người thứ tư trong Bộ Chính Trị Đảng Lao Động), và Trung Tướng Trần Văn Trà, Tư Lệnh B2, tức là tư lệnh các lực lượng võ trang của Chính Phủ Lâm Thời Cọng Hòa Miền Nam Việt Nam đã đưa ra đề nghị tấn công và chiếm đóng tỉnh Phước Long nhắm vào hai mục đích:

    - Về quân sự, khi tấn công, chiếm được Phước Long thì phía Cộng Sản sẽ chiếm được năm tiền đồn quan trọng, sẽ thiết lập được con đường chiến lược (nằm dọc mạn Đông dãy Trường Sơn): Đường 613 chạy song song với “Đường mòn Hồ Chí Minh” vốn nằm hoàn toàn trong đất Lào thuộc Tây Trường Sơn) giúp việc chuyển vận chiến xa, cơ giới, trọng pháo, xe chở nhiên liệu, và binh sĩ từ vùng phi quân sự (đã lấn chiếm được từ Tổng Công Kích 1972) di chuyển thẳng xuống miền Đông Nam Bộ tức là lãnh thổ thuộc VùngIII Chiến Thuật của VNCH một cách dễ dàng thuận lợi hơn. Cuộc tấn công này sẽ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của VNCH, và do đó sẽ không còn đủ quân để tiếp viện cho những chiến trường khác.

    - Về phương diện chính trị, nếu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để mất tỉnh Phước Long thì ông sẽ bị mất uy tín rất nhiều tại Miền Nam vì đã không bảo vệ được lập trường cứng rắn “4 Không” của ông. Và quan trọng hơn cả là “để xem Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào” khi Cộng Sản lần đầu tiên chiếm được một tỉnh tại miền Nam Việt Nam, nhất là sau khi Tổng thống Richard Nixon phải từ chức vì vụ Watergate và Tổng Thống Gerald Ford lên thay thế.

    Thoạt đầu, đề nghị của Phạm Hùng và Trần Văn Trà đã không được các cấp lãnh đạo trong quân đội miền Bắc ủng hộ, và một trong những người chống đối mạnh nhất là Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt. Chính Lê Đức Thọ, nhân vật số hai trong Bộ Chính Trị cũng chống lại đề nghị này; Lê Đức Thọ đã nói với Phạm Hùng và Trần Văn Trà một cách rất khôn khéo rằng: “Các tài nguyên nhân sự, vũ khí và trang bị cần phải được bảo tồn để dành cho cuộc tổng tấn công tối hậu (được dự liệu vào năm 1976) vì Liên Xô vẫn còn tiếp tục kiểm soát và hạn chế mọi sự vận chuyển về chiến cụ cho Hà Nội. Tình hình ở ngoại quốc rất là phức tạp, do đó chúng ta phải giới hạn các hoạt động quân sự trong năm 1975.” (8)

    Hùng và Trà thấy rõ kế hoạch quân sự đánh chiếm Phước Long của họ khó lòng thực hiện, nên phải lấy thêm sự trợ lực của Phạm Văn Đăng (Năm Quốc Đăng), ủy viên thường vụ của TƯC, trong phiên họp ngày 3 tháng 12 để thuyết phục Bộ Tổng Tham Mưu và Tổng Quân Ủy Miền Bắc cho họ được thi hành kế hoạch ban đầu: Đánh Phước Long. Cuối cùng, quyết định chỉ được chấp thuận với lời răn đe từ Lê Duẩn: Phải chắc thắng mới (cho) đánh! (9) – Điều nầy có nghĩa: Chỉ được đánh Phước Long với những đơn vị của Quân Khu 7 (lực lượïng vũ trang của MTGP) – Bảo đảm an toàn cho các đơn vị thuộc quyền điều động trực tiếp của quân ủy Miền Bắc. Nhưng theo Đại Tướng Cao Văn Viên: Đầu tháng 10 năm 1974, qua tin tức thâu thập từ tình báo, phản gián, hồi chánh viên, và tù binh, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã biết được kế hoạch cộng sản (thuộc TƯC/MN) chuẩn bị đánh chiếm Phước Long. Tin tức này đã được chuyển đến Quân Đoàn III và Tiểu Khu Phước Long…. Thế nên, cuộc tấn công Phước Long không phải là một sự bất ngờ ngoài sự ước đoán của chúng ta.”(10) Nhận định nầy không đúng so với thực tế (đã xẩy ra) qua cuộc họp tại Dinh Độc Lập (9, 10/12/74) và việc gởi Trung Đoàn 48/SĐ18BB đến tăng viện mặt trận Tây Ninh – Đơn vị nầy chỉ được trả lại cho SĐ18 (Thiếu Tướng Lê Minh Đảo) sau khi mặt trận Long Khánh bùng nổ (9/4/75).

    Lực lượng phòng thủ toàn tỉnh Phước Long gồm có năm tiểu đoàn Địa Phương Quân khoảng 4,000 người, 48 trung đội Nghiã Quân khoảng 1,000 người và bốn pháo đội (đại đội) Pháo Binh. Như vậy thì trong khu vực tỉnh này, chỉ có những lực lượng Điạ Phương Quân và Nghiã Quân đảm trách việc phòng thủ, không có một đơn vị tác chiến nào cuả Chủ Lực Quân – Sự kiện cho thấy nhận định của Đại Tướng Viên (về tình hình quân sự của Vùng III nói riêng) không đúng với thực tế tình hình địch - Cho đến khi một số tiền đồn bị thất thủ thì Quân Đoàn III mới tăng viện cho Phước Long một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh cùng với hai pháo đội và ba đại đội trinh sát. Đối lại, phía cộng sản xử dụng Quân Đoàn 4 do Tướng Hoàng Cầm tư lệnh và Đại Tá Bùi Cát Vũ giữ chức chính ủy gồm có ba Sư Đoàn 3, 7 và 9 (trừ bị), cùng với hai trung đoàn cao-xạ phòng không, và nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng tấn công vào năm mục tiêu trong tỉnh Phước Long.

    Tính đến ngày 26 tháng 12 năm 1974, trừ vị trí Quận Châu Thành (Phước Bình) và Thị Xã Phước Long, toàn thể tỉnh này đã hoàn toàn rơi vào sự kiểm soát của phía cộng sản. Sau khi Đôn Luân thất thủ, một phiên họp khẩn cấp đã được triệu tập tại Dinh Độc Lập dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Thiệu và sự hiện diện của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, cùng đầy đủ tướng lãnh các quân binh chủng. Mục đích của phiên họp này là thảo luận để đi đến quyết định là Sài Gòn có nên tăng viện cho Phước Long hay không và nếu tăng viện thì tăng viện như thế nào về vũ khí, về nhân sự.

    Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III trình bày về tình hình Phước Long và đề nghị xin một sư đoàn bộ binh hay Sư Đoàn Nhảy Dù lên tăng viện cho Phước Long; Tướng Cao Văn Viên cho biết: Bộ Tổng Tham Mưu không còn đủ quân trừ bị, hai sư đoàn tổng trừ bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang trấn đóng ở Vùng I và tình hình chiến sự ở đây không cho phép rút bất cứ đơn vị nào để tăng viện cho Phước Long. Tại Vùng III, hai sư đoàn cơ hữu là Sư Đoàn 18 và 25 cũng không thể đưa lên tăng viện cho Phước Long vì còn phải được dùng để án ngữ khu vực Tây Ninh ngăn chận hai Sư Đoàn 5 và 9 Cộng Sản tiến về Sài Gòn. Phước Long không quan trọng bằng Tây Ninh, Pleiku hay là Huế. Buổi họp đi đến quyết định là chỉ xử dụng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù để tăng viện cho Phước Long như đã dùng đơn vị này để tiếp viện cho An Lộc hồi năm 1972. (11)

    Với tỷ lệ quân số, hỏa lực áp đảo, đến nửa đêm hôm 6 tháng 1 năm 1975, sau khi các vũ khí hạng nặng và trang bị truyền tin bị pháo binh và chiến xa của cộng sản phá huỷ hoàn toàn, quân cộng sản tấn công ào ạt, một số mấy trăm chiến sĩ thuộc các binh chủng Biệt Động Quân, Biệt Kích Dù, Điạ Phương Quân và Nghiã quân thuộc Tỉnh Phước Long đã phân tán ra những khu rừng rậm quanh tỉnh lỵ Phước Bình. Trong tổng số 5,400 chiến sĩ bảo vệ cho toàn Tỉnh Phước Long, chỉ có khoảng 850 người trong đó có 121 quân nhân Biệt Cách Nhảy Dù đã thoát được và trở về trình diện Quân Đoàn III. Tỉnh Trưởng Phước Long, Quận Trưởng Phước Bình, một số tiểu đoàn trưởng cùng khoảng trên 3,000 quân nhân thuộc các đơn vị của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã ghi nhận mất tích và tử vong.(12)

    Tin tiến chiếm thành công Phước Long ra đến Hà Nội vào lúc phiên họp khoáng đại lần thứ 23 TƯĐ làm yên lòng toàn thể ủy viên trung ương với hai sự kiện: 1/Mỹ không can thiệp vào VN. 2/QLVNCH không còn khả năng và quân số trừ bị tiếp cứu những vùng bị lấn chiếm. Tuy nhiên, vào phiên họp sau đó (ngày 8 tháng 1, 1975) của Ủy Ban Trung Ương, Lê Duẩn vẫn lập lại lời cảnh giác: “Dù rằng chắc chắn Mỹ sẽ không tái can thiệp, nhưng nếu quân đội miền Bắc không tiến chiếm mau chóng thì Mỹ sẽ can thiệp ở một mức độ nào đó để cứu nguy chế độ Sài Gòn khỏi phải sụp đổ toàn diện.” Mức độ can thiệp như thế nào và bao giờ vẫn là điều không thểâ khẳng định được.

    Trên đường trở về Nam, Phạm Hùng và Trần Văn Trà dẫu đã được hài lòng là thành công trong việc thuyết phục Bộ Chính Trị cho phép đánh (và đánh thắng) trận chiếm Phước Long, nhưng đồng thời họ hiểu ra rằng: Chiến trường sắp tới (Trận Ban Mê Thuột nơi Tây Nguyên) – Chiến Dịch 275 đã hoàn toàn thuộc về Bộ Tổng quân Ủy Miền Bắc - Cụ thể trong tay Văn Tiến Dũng.(13)

    Trong thời gian Cộng Sản tấn công Phước Long, Tiến Sĩ Kissinger đang làm Ngoại Trưởng Hoa Kỳ và lúc đó có một hạm đội Hoa Kỳ đang hoạt động trong vùng biển Á Châu, trong đó có hàng không mẫu hạm nguyên tử Enterprise đang hoạt động trong vùng Thái Bình Dương tiến vào vùng hải phận gần bờ biển Việt Nam, nhưng thay vì ở lại chung quanh vùng biển này như là một hình thức để ủng hộ một cách tượng trưng cho Việt Nam Cộng Hoà thì hạm đội này lại được lệnh đi thẳng sang….. Phi Châu. (14)

    3- Sài Gòn/Hoa Thịnh Đốn/Viện trợ..

    Thực ra thì chẳng cần phải cậy tới cơ quan tình báo KGB mới biết được chiều hướng chính trị đang trên đà giải kết của Mỹ - Bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa. Trong bộ sách nhiều tập “The Vietnam Experience” cuốn “The Fall of the South,” các tác giả bộ sách này đã nói rằng: “Các cấp lãnh đạo cộng sản chỉ cần đọc báo chí Tây phương cũng đủ biết rõ về sự suy giảm trong vấn đề viện trợ cho Miền Nam Việt Nam, cả về số tiền viện trợ cũng như là thăm dò dư luận. Ngày 22 tháng 5 năm 1974, Hạ Viện Mỹ biểu quyết không được tăng số tiền viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa trong tài khoá 1974-1975 quá mức 1,126 triệu mỹ kim dù rằng Ủûy Ban Quân Vụ Hạ Viện đã đề nghị 1,400 triệu. Sau đó, đến ngày 22 và 23 tháng 9 năm 1974, cả Hạ Viện và Thượng Viện Hoa Kỳ lại biểu quyết cắt bớt thêm nữa và chỉ cấp cho VNCH có 700 triệu mỹ kim mà thôi (tính luôn cả kinh phí dành cho việc chuyên chở từ Hoa Kỳ sang Việt Nam).

    Đại Tướng Cao Văn Viên đã dành hầu hết Chương 4 cuốn “The Final Collapse” (1983, US) để trình bày rất rõ về “Sự Giảm Thiểu Quân Viện của Hoa Kỳ” và những hậu quả vô cùng trầm trọng đối với các hoạt động của QLVNCH trong năm 1974 và những tháng đầu năm 1975: “..Với ngân khoản viện trợ là 700 triệu, trừ đi ngân khoản trả lương cho quân nhân Hoa Kỳ thuộc văn phòng DAO thì chỉ còn có 654 triệu mỹ kim, tức là chỉ còn có 51% nhu cầu cần thiết Về phiá đạn dược, số đạn dược tồn kho chỉ còn có khoảng 30 ngày, có nghiã là nếu không được tăng viện thì cho đến hết tháng 3 năm 1975, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà sẽ không còn một viên đạn. Đến giữa tháng 4 năm 1975, chúng ta đã xài hết quân dụng, vũ khí tồn kho vào việc tái trang bị cho các đơn vị di tản từ hai Vùng I và II. Đến giờ phút muộn màng đó, dù chúng ta có nhận được 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự bổ túc đi nưã thì tình hình cũng đã quá trễ”

    Nhưng cuối cùng, tất cả vấn đề chiến lược chính trị, chiến thuật quân sự; tăng, giảm viện trợ (quyết định chuyện sống, chết đối với một quốc gia từng được gọi là đồng minh) thật ra đôi khi bắt nguồn từ những nguyên do xét ra cũng chẳng lấy chi làm “cao cả”.. Ấy là, vào năm 1968, Hội Nghị Paris dự trù khai mạc vào ngày 6 tháng 11, sau ngày bầu cử tổng thống Mỹ một ngày (5 tháng 11). Lá bài chủ của hai đảng để quyết định cho chiếc ghế của người sẽ ngồi vào Tòa Bạch Ốc là sáng kiến (đề nghị) và kế hoạch “Chấm dứt cuộc chiến Việt Nam”.
    Để yểm trợ cho ứng viên thuộc Đảng Dân Chủ, Hubert Humphrey phó tổng thống đương nhiệm, Tổng Thống Johnson tung ra đòn quyết định “Ngưng oanh tạc Bắc Việt” vào ngày 1 tháng 11, và chỉ thị Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bunker hối thúc phía Việt Nam Cộng Hòa có mặt tại Paris đúng như thời biểu ấn định, tối thiểu cũng đưa ra một thông cáo chung về việc Hoa kỳ ngưng oanh tạc và hòa đàm, nếu như còn những dị biệt giữa hai chính phủ (15). Nhưng tại Sài Gòn, Tổng Thống Thiệu lại đi nước cờ khác. Trong cuộc họp của lưỡng viện quốc hội nhân ngày “Quốc Khánh 1 Tháng 11”, có sự hiện diện trang trọng chính thức của Đại Sứ Bunker, ông Thiệu đã tuyên bố trong một bài diễn văn quyết định: “Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris”. Bài diễn văn, lời tuyên bố được cả quốc hội đứng dậy đồng loạt vỗ tay thật lâu. Nhưng phía Mỹ thì “Đại Sứ Bunker lúc ấy cố làm ra vẻ bình tĩnh mà không đượïc. Ông toát cả mồ hôi..”; hoặc nhận định của Tổng Thống Johnson sau nầy viết lại trong hồi ký “The Vantage Point” là: “Ngày 1 tháng 11, sau khi cho hay sẽ tham dự Hòa Đàm Paris, [các] nhà lãnh đạo Việt Nam Cộâng Hòa lại quyết định không tham dự. Tôi tin chắc rằng sự việc đó đã làm cho ông Humphrey thất cử”(16)

    Cũng theo ý của Nguyễn Tiến Hưng trong KĐMTC, sở dĩ ông Thiệu đã đi một nước cờ phiêu lưu, mạnh mẽ như kia dẫu đã tính đến chuyện có thể bị ám sát hay lật đổ, nếu như chính quyền Mỹ biết rằng ông sẽ tuyên bố lời chối từ không tham dự hội nghị vào thời điểm quyết định trước, sau ngày 1 tháng 11 (Ngày 30 tháng 10 của Hoa Thịnh Đốn). Bởi vì ông Thiệu đã nhận được thông điệp: “Chớ tham gia hòa đàm Paris, cố trì hoãn càng lâu càng tốt để đợi ông Nixon lên làm tổng thống, mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn”. Hiện thực hơn cho mưu định nầy, Đại Sứ Bùi Diễm qua sự giới thiệu của bà Anna Chennault (phu nhân Tướng Chennault, Tư Lệnh Phi Đoàn Phi Hổ trong Đệ Nhị Thế Chiến ở Trung Hoa) đã gặp mặt Nixon và nghe lời hứa hẹn: “Sẽ coi vấn đề Việt Nam là ưu tiên số 1, và bảo đảm sẽ dành cho Việt Nam một sự đối xử thuận lợi hơn phe Dân Chủ”(17). Trong hồi ký “Trong Gọng Kìm Lịch Sử - In the Jaws of History”, ông Bùi Diễm phủ nhận về nhận định, và diễn tiến của sự việc theo nội dung kể trên (18)

    Một nhân chứng khác là Hoàng Đức Nhã, lúc bấy giờ là Bí Thư kiêm Tham Vụ Báo Chí tại Phủ Tổng Thống trong bài báo sau nầy (1/2003) đăng trên tờ Ngày Nay Houston (Texas) và Người Việt ở Cali, cũng đã lên tiếng phủ nhận vụ việc bà Anna Chennault đã thuyết phục được TT Thiệu từ chối tham dự hòa đàm Paris để giúp cho ứng cử viên Richard Nixon. Như vậy qua bài báo, Hoàng Đức Nhã đã phủ nhận lời của cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ kể ra trong Buddha’s Child, lẫn xác nhận (sau nầy) của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong phần phụ chú của cuốn The Palace File, hai tác giả Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold Schecter nói rằng: “Trong những cuộc phỏng vấn của chúng tôi với ông Nguyễn Văn Thiệu, chúng tôi có hỏi ông rằng: “Ông có cảm thấy rằng ông Nixon đã mắc ông một món nợ vì ông đã ủng hộ ông Nixon trong cuộc bầu cử năm 1968 hay không?” Ông Thiệu đã trả lời rằng: “Dĩ nhiên, dĩ nhiên.”(19)

    Một sử gia khác, Frank E. Vandiver thuộc Học Viện Mosher Institute for International Policy Studies của trường Đại Học Texas A&M University lại viết về sự việc kể trên như sau: “Ông Nixon vỗ tay vào túi áo và nói rằng ông ta có một “kế hoạch bí mật để chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam”. Bí mật đấy là: “Có hai nhân vật hành động với tư cách bán chính thức qua tổ chức vận động bầu cử của ông Richard Nixon và đã làm rối loạn và gần như làm hỏng cuộc hoà đàm tại Paris: Đó là ông Bùi Diễm, Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Washington và bà Anna Soong Chennault, em gái của bà Tưởng Giới thạch, quả phụ của Tướng Claire Chennault; bà cũng là Chủ Tịch của Hội Phụ Nữ Cộng Hoà Ủng Hộ Richard Nixon ” (20)

    Nhưng nói gì thì nói (có hay không việc giúp Nixon đắc cử), cựu tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu sau 1975 đã được chính phủ Mỹ (BẤT KỂ CỘNG HÒA HAY DÂN CHỦ) nhắn bảo qua cách Nguyễn Cao Kỳ kể ra trong hồi ký của ông ta: “Chẳng bao lâu sau ngày tôi (NCK) khởi đầu cuộc đời tỵ nạn, bà Anna Chennault đã mời tôi đến dùng cơm tối tại nhà bà trên lầu thượng của cư xá Watergate tại Washington, chỉ có bà và tôi mà thôi. Bà Chennault vưà mới từ Đài Loan trở về và nói với tôi: “Tôi đi Đài Loan để nói với ông Thiệu rằng: Ông ta không thể đến (tỵ nạn) tại Hoa Kỳ”. Tổng Thống Gerald Ford đã nhờ tôi nói với ông Thiệu: “Tại vì sự “mang tiếng” (reputation) của ông (gây nên) cho nên ông sẽ không được đón mừng (welcome) ở Mỹ.” Tác giả Frank Snepp còn thêm phần cay đắng: ”Hồi tháng 4 năm 1975, Ngoại trưởng Henry Kissinger có nhắn với cựu Tổng Thống Thiệu hiện ở Đài Loan: “Ông đừng có trông đợi chiếu khán được vào định cư tại Hoa Kỳ (nơi mà con gái của ông đang theo học đại học) ít ra là cho tới sau cuộc bầu cử tổng thống tại Mỹ vào tháng 11 năm 1976.”(21)

    Cuối cùng, khối quyền lực (góp phần quyết định chiến tranh Việt Nam) ở một nơi không xa với chiến địa Miền Nam mà hồ sơ giải mật sau nầy cho biết: Tất cả nỗ lực hướng tới Bắc Kinh (của Mỹ) không phải đợi đến ngày Tổng Thống Nixon chính thức viếng thăm Trung Quốc (1972), mà đã móc nối, thiết lập từ những năm 1968-1969, và đặc biệt từ 1970, Kissinger đã nhiều lần cam đoan cùng Châu Ân Lai: Hoa Kỳ sẽ đơn phương rút quân ở Miền Nam. Đơn phương rút quân khỏi Miền Nam; tránh không dội bom xuống biên giới Bắc Việt-Trung Hoa trên một vùng an toàn 30 dặm – Tất cả để chứng minh một yếu tố chung nhất: Liên hệ Trung Quốc-Mỹ là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại Á Châu (22) – Điều nầy nay được Trần Đông Phong nhắc lại (dẫu muộn nhưng vô cùng cần thiết): Ngày 13 tháng 7, 1971, Thủ Tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bí mật qua Hà Nội thông báo việc Kissinger đi Bắc Kinh: “Vấn đề Đông Dương là quan trọng nhất trong cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi và Kissinger”. Trong lần trao đổi với những người cầm quyền ở Hà Nội, Chu Ân Lai nói rõ thêm: “Hoa Kỳ không đòi quân đội Miền Bắc rút khỏi Miền Nam, nhưng chỉ đòi (quân đội Miền Bắc) rút khỏi Lào và Campuchia!!” Ông Chu còn khẳng định (qua lời Kissinger): “Mỹ sẽ rút quân (khỏi Miền Nam) trong 12 tháng!!” (23)

    Chúng ta có thể chấm dứt tất cả những “tấn kịch (tàn nhẫn) chính trị” nơi đây để trở lại chiến trường miền Nam qua hiện thực những cảnh tượng thảm khốc vô tận với máu xương Người Việt.


    II- Số phận một quốc gia được rút lại trong mươi ngày!
    1. Dinh Độc Lập/CIA/ Tình Báo Cộng Sản.
    Sau một lượt trình bày tổng quát coi như tạm đủ (về những yếu tố chính trị-quân sự ) kể trên, chúng ta trở lại những sự kiện liên quan đến tình hình chiến trận Miền Nam với một người gọi là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nơi Dinh Độc Lập.. “Văn Phòng CIA Mỹ Sài Gòn tin rằng trong số những người thân cận của Tổng Thống Thiệu, có một gián điệp cao cấp của Hà Nội. Người đó là ai? Trung Tướng Đặng Văn Quang? Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo? Hay là một người nào khác?”(24) Nhưng không chỉ riêng Oliver Todd là nhà báo ngoại quốc duy nhất nói đến “gián điệp cao cấp của cộng sản bên cạnh Tổng Thống Thiệu”, còn có những người khác nữa: Frank Snepp, vốn là một chuyên gia cao cấp về phân tích tình báo chiến lược (Intelligence Strategy Analyst) của Văn Phòng CIA Sài Gòn, cũng có nhận định như sau (tuy không có đề cập đến tên của Tướng Quang và Phó Thủ Tướng Hảo như Oliver Todd): “Một điệp viên trong bộ tham mưu thân cận của Tổng Thiệu đã gửi một bản báo cáo tối mật về những kế hoạch và ước đoán của chính phủ Sài Gòn cho Bắc Việt. Theo báo cáo của tên gián điệp này thì vào hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974 (*), có một phiên họp cao cấp (bàn về tình hình quân sự)ï tại Sài Gòn (Dinh Độc Lập) nhằm vào việc thẩm định những dự tính của Hà Nội trong năm tới. Trong phiên họp này, các tướng lãnh cùng đồng ý (Luôn đồng ý. Những ngày sau, TTThiệu quyết định đến cả việc điều động cấp đơn vị tiểu đoàn - Pnn) với quan điểm của Tổng Thống Thiệu là: “Trong những tháng sắp tới (thuộc thời hạn 1974-75), cộng sản sẽ “chiến đấu trên một bình diện đại quy mô hơn, tuy nhiên sẽ “không tổng tấn công” như hồi năm Mậu Thân 1968, hoặc 1972.” Tên điệp viên nói (rõ) rằng: “Tổng Thống Thiệu đã kết luận: Các lực lượng Bắc Việt sẽ không có đủ khả năng để tấn công chiếm giữ và bảo vệ các thành phố lớn, ông cũng đã tiên đoán rằng cộng sản sẽ nhắm mũi tấn công vào Tỉnh Tây Ninh thuộc Vùng III Chiến Thuật, và cộng sản sẽ tấn công mạnh cho đến hết mùa khô vào tháng 6 (năm 1975) rồi sẽ ngưng các cuộc tấn công để dưỡng quân, tái tổ chức và trang bị.” Điệp viên nằm vùng này cũng báo cáo thêm: “Căn cứ trên những ước tính (Hoàn toàn sai lạc–Pnn) này, Tổng Thống Thiệu đã quyết định: “Sẽ không tăng viện cho Vùng II và (chỉ) sẽ tập trung các lực lượng trừ bị trong vùng phiá Nam mà thôi.”(25)

    Đến đây thì chúng ta đã thấy ra và hiểu rõ (“Tại Sao” và “những Tại Sao”) đã xẩy ra với hai trận chiến quyết định số phận Miền Nam: Trận Phước Long ngày 13 tháng 12, 1974 (*), và trận Ban Mê Thuộc ngày 10 tháng ba, 1975. Và những diễn tiến tai hoạ kế tiếp: Bỏ Cao Nguyên/ Vùng II; Bỏ Huế, Đà Nẵng../Vùng I. Chúng ta cũng có thể kết luận: Trong số những người đã đóng góp công trạng cho sự chiến thắng của Bắc Việt, tên gián điệp nằm vùng (*) LƯU Ý: Trận Phước Long (13/12/1974) chỉ khởi sự sau khi có kết luận chắc chắc của báo cáo (từ gián điệp nằm vùng tại Dinh Độc Lập) về phiên họp 9 và 10/12/1974.
    này (của một trong bộ tham mưu của ông Thiệu) phải là người có công lao lớn nhất. Và Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu phải là người độc nhất chịu trách nhiệm - Do những quyết định đơn phương chung quyết hoàn toàn sai lệch chỉ riêng về mặt quân sự của chính bản thân ông. Cho đến nay, tên tuổi của tên gián điệp này vẫn còn bí mật, chỉ Hà Nội mới biết rõ. Tuy nhiên vào thời gian người nầy cung cấp tài liệu giá trị vô giá vừa kể cho Bắc Việt (cuối năm 1974) thì văn phòng CIA Sài Gòn cũng đã có một bản danh sách gồm “bốn người trong bộ tham mưu thân tín của ông Thiệu” bị tình nghi là có thể làm gián điệp nội tuyến cho Bắc Việt (!?) Nhưng dù có đủ bằng chứng, CIA vẫn không có thể làm gì được đối với họ vì cả bốn người cũng là “những người tâm phúc thân cận với Tổng Thống Thiệu”(25Bis) Trong tổng số “Tứ Nhân Bang” kia lại gồm hai nhân viên cao cấp phụ trách về phản tình báo của cơ quan An Ninh QLVNCH – Và kẹt thay, họ cũng là cộng sự viên lâu đời của CIA - Nếu CIA làm tới (tương tự như đối với Trần Ngọc Hiền, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng) thì sẽ làm cho bản thân siêu cơ quan tài giỏi (người, việc gì cũng biết) bị mất mặt - Do đó CIA đành phải in lặng làm ngơ (!) Hơn nữa, xét về quy luật tình báo, khi một điệp viên bị lộ thì giá trị (những nguồn tin họ cung cấp, và bản thân sự khả tín của họ) tất nhiên bị đào thải.

    Thật sự, đã từ lâu sau vụ ném bom năm 1962, trong những năm xây cất, sửa chữa Dinh Độc Lập, người Mỹ đã đặt máy vi-âm để nghe tất cả những gì xảy ra nơi đây. Từ đó suy ra, chắc chắn phía cộng sản cũng đã cho cán bộ tình báo trà trộn giả làm công nhân xây cất chỉnh trang, và lén đặt máy nghe lén như người Mỹ đã làm. Tóm lại: Mỹ đã nhận đủ những tin mật phát đi từ Dinh Độc Lập, và phía cộng sản cũng cập nhật không thiếu – Chỉ riêng ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vì “không nghe” được từ cộng sản (lẫn của Mỹ) nên đã có câu nói bất hủ: ”Đừng nghe những gì cộng sản nói..”, và lời tố cáo đối với một “Đồng minh vô nhân đạo (sic!)” mà mãi đến giờ cuối cùng trong buổi từ chức ngày 21 tháng Tư, 1975 mới thấy và nói ra.

    2. Chiếm Miền Nam – Biện pháp quân sự “hợp lý, tối ưu”ù của Hà Nội
    Được bảo đảm với báo cáo tình báo mật (không thể sai trật) phát xuất từ Dinh Độc Lập; thái độ của Hoa Kỳ không phản ứng sau trận lấn chiếm Tỉnh Phước Long; tăng viện tối đa do Liên Xô; thêm “cam kết” từ Kissinger với Chu Ân Lai (đã được thi hành, thực hiện toàn diện trước, sau Hiệp Định Paris 27/1/74). Cộng Sản Bắc Việt quyết định thi hành kế hoạch thứ hai - Chiến Dịch 275 - Tấn công, chiếm đóng khu vực chiến trường B3 (Cao Nguyên VNCH), chiến trường B4 (vùng phiá Nam Sông Thạch Hãn/Bắc Đèo Hải Vân thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên). Ngày 5/2/1975, Thượng Tướng Văn Tiến Dũng, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân vào Nam trên một chiến máy bay Antonov 24 để đích thân chỉ huy chiến dịch. Nhưng hằng ngày, vẫn có chiếc xe chở một người (giống y hệt ông ta “đương nhiên”) đưa “Tướng Văn Tiến Dũng” đến văn phòng; buổi chiều đánh ra sân đánh bóng chuyến cùng binh sĩ thuộc hạ! Màn kịch “thật” đến nỗi tại phiên họp Ban Liên Hợp Quân Sự /TƯ, khi nghe phía VNCH tố cáo về vụ việc lực lượng quân sự cộng sản miền Bắc lấn chiếm Ban Mê Thuộc (sau ngày 10/3/75), viên phó đoàn cộng sản Võ Đông Giang đã có lời phản đối: “Về cái gọi là vụ lấn chiếm Ban Mê Thuộc của Quân Đội Nhân Dân/Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một vu cáo có hệ thống, vi phạm “tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc” mà Hiệp Định Pa-ri đã đề cao”. (26)
    Và tại Hà Nội, tại buổi họp hai ngày sau khi Phước Long (8/1/1975) thất thủ, Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với các ủy viên Bộ Chính Trị/Đảng Lao Động: “Bây giờ thì dù bằng cách nào, người Mỹ cũng không còn có thể gởi quân đội sang tham chiến tại Việt Nam được nưã. Họ có thể yểm trợ bằng không quân hay hải quân, tuy nhiên hai quân chủng này cũng không thể đem lại sự chiến thắng cũng như cứu vãn thất bại. Nói chơi cho vui nhưng mà cũng đúng sự thật là dù có cho ăn kẹo, người Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam.” (27)

    Mặt trận Vùng II: Mất Ban Mê Thuộc; rút bỏ Cao Nguyên
    Ngày 10 tháng 3, 1975, Tướng Văn Tiến Dũng xử dụng bốn sư đoàn bộ binh (F10, 316, 320, và 968 (từ Lào rút về) và Sư Đoàn 314 tổng trừ bị của quân đội Miền Bắc, được yểm trợ bởi một lực lượng pháo binh gồm bốn trung đoàn pháo (lớn hơn cấp số một sư đoàn/ba trung đoàn), hai trung đoàn chiến xa nặng T54 tiến chiếm Ban Mê Thuộc, mở đầu trận chiến Tây Nguyên. Nếu cộng thêm với những đơn vị pháo binh và hậu cần khác thì lực lượng của cộng sản Bắc Việt trong cuộc tấn công Tây Nguyên lên tới khoảng 7 sư đoàn tức là 28 trung đoàn. Đối lại, về quân số, thì Việt Nam Cộng Hoà chỉ có khoảng 2 trung đoàn – Tỷ lệ 2/28. Cộng sản mở màn cuộc tấn công với 6000 viên đạn bắn đi trong đợt thứ nhất (10/3), và tổng cộng trên 11, 000 đạn đại bác trong vòng những ngày thuộc tuần lễ đầu tiên (10 - 17/3) - Cũng Ngày 17 Tháng Ba - Lệnh rút bỏ Cao Nguyên thực hiện chiến lược gọi là “Đầu Bé Đít To” được thi hành qua một “khẩu lệnh” của Tổng Thống VNCH, kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong cuộc họp đúng 117 phút tại Cam Ranh (ngày 14/3): “.. Tôi ra lệnh cho anh (Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II) mang chủ lực quân, chiến xa, đại bác, máy bay về phòng thủ duyên hải và tổ chức hành quân tái chiếm Ban Mê Thuộc. Lệnh này từ cấp tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng trở xuống không được biết - Có nghĩa là các lực lượng Địa Phương Quân vẫn ở lại chiến đấu. Các cơ sở hành chánh ba tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn vẫn tiếp tục làm việc cùng với tỉnh trưởng, quận trưởng như thường lệ!!... Ngừng một lát, Tướng Thiệu kéo một hơi thuốc thật dài. Mặt ông tự nhiên đanh lại, nhìn vào các Tướng Khiêm, Viên rồi dõng dạc nói: “Quyết định mang tất cả chủ lực quân, chiến xa, pháo binh, máy bay của Quân Đoàn II khỏi Pleiku, Kontum, tôi đã thảo luận với các tướng lãnh. Đây là một quyết định chung của Hội Đồng Tướng Lãnh, như quyết định hôm qua cho Tướng Trưởng ngoài Quân Đoàn I.” (28)

    Cuộc “lui quân về đồng bằng để phối trí lực lượng” lừa phía cộng sản chỉ được một ngày. Đến ngày 18 tháng 3, khi đoàn quân, dân đến Hậu Bổn, Tỉnh Phú Bổn, thì bị cộng sản bắt đầu truy kích, pháo kích và tấn công vào đoàn người và đoàn xe đang bị kẹt. Ngày 22 tháng 3, cây cầu Sông Ba được ráp xong nhưng vì xe và người tràn lên cầu quá đông khiến cho cầu sập. Phải mất thêm một thời gian nưã để sưả cầu, và cho đến ngày 27 tháng 3 thì đoàn người này mới về đến Tuy Hoà vào khoảng 9 giờ đêm.
    Tướng Cao Văn Viên sau nầy trong cuốn The Final Collapse có kết luận: “.. Nhìn từ quan điểm quân sự, cuộc triệt thoái hoàn toàn thất bại, hầu như tất cả các đơn vị rút về từ Kontum-Pleiku đều bị thiệt hại. Theo Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, chỉ có 5000 quân trong số 20, 000 quân nhân trong các đơn vị yểm trợ, tiếp vận về được Tuy Hoà. Chỉ có 900 người trong số năm Liên Đoàn Biệt Động Quân về trình diện ở Nha Trang…. Tổng số 200,000 dân chúng hai tỉnh Pleiku và Kontum di tản, chỉ có khoảng 60,000 người về được Tuy Hoà và Nha Trang. Cuộc triệt thoái Cao nguyên là một thất bại chiến lược về phương diện quân sự: 75% lực lượng của Quân Đoàn II gồm Sư Đoàn 23, Biệt Động Quân, Thiết Kỵ, Pháo binh, Truyền Tin và Công binh bị tiêu diệt chỉ trong vòng có 10 ngày.. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột cũng thất bại vì quân đoàn không còn quân. Cộng sản chiếm được Kontum và Pleiku mà không tốn một viên đạn. (29) Và Tướng Viên lại quy trách nhiệm nầy hoàn toàn thuộc về Tư Lệnh Phạm Văn Phú (?)

    Mặt trận Vùng I: Rút bỏ Huế, Đà Nẵng..
    Trước, sau ngày ký Hiệp Định Paris 27/1/1973, tại mặt trận vùng giới tuyến nam sông Bến Hải (Vùng I Chiến Thuật/VNCH hay là Mặt Trận B2 do Bộ Tổng Quân Ủy, Bộ Tổng Tham Mưu Miền Bắc trực tiếp điều động, chỉ huy), phía cộng sản có các đơn vị: Ba sư đoàn bộ binh 341, 325C, 324B (vùng Bắc Đèo Hải Vân - Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế); Nam Hải Vân có SĐ304 và SĐ2 “Sao Vàng” hoạt động trong lãnh thổ Quảng Nam - Quảng Tín - Quảng Ngãi của VNCH; 9 turng đoàn độc lập tương đương với ba sư đoàn bộ binh; các trung đoàn chuyên đánh đặc công.. Tất cả được phối hợp yểm trợ bởi ba trung đoàn chiến xa, đại pháo, phòng không đủ loại (kể cả đại pháo tầm xa 130 ly từ bên kia sông Bến Hai). Đối lại phía QLVNCH gồm có: Ba sư đoàn bộ binh cơ hữu: 1,2,3; Hai sư đoàn nhảy dù & TQLC tổng trừ bị; Bốn liên đoàn Biệt Động Quân; Ba thiết đoàn kỵ binh thống thuộc ba sư đoàn bộ binh kể trên; Một lữ đoàn kỵ binh có một Thiết Đoàn Chiến Xa M48. Ngoài các tiểu đoàn pháo 105 cơ hữu của các sư đoàn bộ binh, ND, TQLC; còn có các tiểu đoàn pháo 155, và 175 ly thuộc quyền xử dụng của BTL Quân Đoàn I (Đà Nẵng) yểm trợ tổng quát. Qua năm 1975, Vùng I không còn ở tình thế “quân bình và tương đối vững của 1972-1973”, và có thể do “rút kinh nghiệm của vụ việc “bỏ Tây Nguyên” với một loạt “lệnh và phản lệnh” bắt đầu từ ngày 11 tháng Ba (nhắc lại: 10/3 là ngày N của chiến dịch 275 của phía cộng sản) đến ngày 17/3 với kết quả thảm hại như đã trình bày, việc “phối trí lực lượng” theo quyết định của ông Thiệu đối với Vùng I có vẻ hợp lý vì kéo dài được tới “Mười (10) Ngày” chứ không phải chỉ “Năm (5) Ngày” như lần bỏ Tây Nguyên!!

    Song song, cùng lần (trước “thành tích thảm hại do tái phối trí lực lượng” ở Tây Nguyên một ngày), Ngày 13 Tháng Ba, tại phiên họp tại Dinh Độc Lập gồm TThThiệu, TTgKhiêm, ĐTgViên, Cố Vấn Quang, hai tư lệnh TTgTrưởng và TTgToàn, ông Thiệu lần đầu tiên chính thức tuyên bố: “Với khả năng và lực lượng ta đang có, chắc chắc chúng ta không thể bảo vệ bảo vệ được tất cả lãnh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên “tái phối trí lực lượng” và bảo vệ những cùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng”. (Khi Đồng Minh Tháo Chạy của NTHưng, và The Final Collapse của CVViên (Bản dịch Nguyễn Kỳ Phong, Những Ngày Cuối Cùng của VNCH) ghi là Ngày 11 Tháng 3)- Sở dĩ có cuộc họp và lời tuyên bố (tai họa) như trên vì ngày 10 tháng Ba khi lực lượng cộng sản tấn công BMT cũng là ngày Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm từ Mỹ trở về với tin sét đánh: Không những không có 300 quân viện triệu tăng cường (để đủ số 1 tỷ như đề nghị) mà cũng không có 700 triệu đang đệ trình quốc hội Mỹ chuẩn dự chi. Tóm lại, ông Thiệu chỉ còn trước mắt con đường mà Tướng Murray (Tùy Viên Quốc Phòng Cơ Quan DAO) và ban tham mưu đã đệ trình cho ông trước năm tài khoá 1975 với kết luận: Ông hãy coi như mất tiền viện trợ cũng như mất đất vậy!! Cách đánh giá nầy cũng là nền tảng của phân tích đồng hợp soạn của Cố vấn chính trị Đặng Văn Quang và chuyên viên người Úc Ted Sarong để đi tới kết luận chung: “Với tiềm năng (qua viện trợ Mỹ bị cắt giảm) quân sự còn lại, VNCH KHÔNG THỂ GIỮ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC LÃNH THỔ.(30)

    Nhưng dù là ngày 11 hay ngày 13 (Nghĩa là cũng phải sau ngày 10 tháng Ba như vừa), Tướng Trưởng cũng nhận được một “Mật Lệnh Chết Người”: “Chuẩn bị rút khỏi Vùng I (càng sớm càng hay) với sự kiện mở đầu “hoàn trả Sư Đoàn Nhảy Dù về lại Bộ Tổng Tham Mưu trong vòng ba tuần lễ”. Chỉ từ sự việc rút sư đoàn Dù khỏi Vùng I chúng ta đã thấy có đến bốn nhận định khác biệt:
    1/ Để có lực lượng trừ bị cho hành quân giải toả Ban Mê Thuộc (theo lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu ngày 12/3 - Cũng là ý của ĐTViên trong NNCCCVNCH)
    2/Để có lực lượng phòng thủ Sài Gòn (sau khi cộng sản tổng tấn công BMT, và những vị trí Miền Đông Nam Bộ, Phước Long, Bình Long (An Lộc). Phân tích của The VN Experience/The Fall of the South.
    3/Để có đủ lực lượng bảo vệ những vùng dân cư (Chiến lược “Đầu Bé Đít To” của NVThiệu được tuyên bố chính thức trong buổi họp 11 (hay13) tháng 3)
    4/Cố ý xé lẻ Sư Đoàn Nhảy Dù (hay lực lượng tổng trừ bị quốc gia nói chung) để đề phòng đảo chánh (Hồi ký “Thiệu Xé Lẻ SĐND Như Thế Nào – Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh cuối cùng của Dù)
    Tướng Trưởng khẩn thiết trình bày: Dẫu Vùng I có nghiêm trọng thế nào đi nữa, dân, quân vẫn đủ khả năng và tinh thần chiến đấu như đã một lần chứng tỏ qua lần giữ vững Huế (1968) và tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị (9/1972). Ông chỉ xin giữ lại một lữ đoàn nhảy dù (LĐI Dù) để làm thành phần trừ bị và bố trí quân theo một kế hoạch mới với những vị trí, lực lượng được phối trí như sau (Từ 13 đến ngày 20 tháng 3/1975):
    - Bắc Đèo Hải Vân (Huế là trọng điểm): Lữ Đoàn 147 TQLC + Liên đoàn 14 BĐQ bảo vệ phòng tuyến Mỹ Chánh-Sông Bồ (Bắc Huế); SĐIBB bảo vệ phòng Tuyến Tây Nam; Lữ Đoàn 369 TQLC trấn giữ Phú Lộc, Nam Thừa Thiên (Bắc Bắc Đèo Hải Vân
    - Nam Hải Vân (Căn cứ Chu Lai làm trọng điểm) gồm lực lượng Sư Đoàn 2, và 3 BB; SĐ/TQLC (-) thay thế các Lữ Đoàn 2, và 3 Dù (rút về miền Nam theo lệnh của TTThiệu) giữ mặt Tây-Nam quận Đại Lộc, Thường Đức vùng cận sơn thuộc tỉnh Quảng Nam.
    Tóm lại từ lượng giá của Tướng Murray, phân tích hợp soạn bởi Đặng Văn Quang và Ted Sarong đến quyết định bỏ đất, bỏ dân cuả ông Thiệu đã không phải là một điều bí mật.. Dinh Độc Lập, Toà Đại Sứ Mỹ, Văn Phòng CIA, Đài Phát Thanh BBC, báo chí Mỹ.. Nghĩa là tất cả mọi người ai cũng biết – Thế nên phía cộng sản, bộ chính trịtrung ương đảng tại Hà Nội là phải là đơn vị BIẾT RÕ NHẤT KẾ HOẠCH DI TẢN CỦA ÔNG THIỆU – Cuộc di tản khỏi Tây Nguyên kể từ ngày 17/3 đang xẩy ra là một xác chứng cuối cùng – Hà Nội dồn toàn lực công khai dứt điểm Miền Nam chứ không đợi đến 1976 (Năm bầu cử tổng thống ở Mỹ như dự định ban đầu). Cuối cùng Ông Thiệu gọi Tướng Trưởng về Sài Gòn ngày 19 tháng Ba để có quyết định Ngày 20 tháng Ba.
    Nếu cuộc họp tại Cam Ranh ngày 14/3 đưa đến quyết định rút Tây Nguyên ngày 17/3 chỉ lừa được Văn Tiến Dũng, Kim Tuấn (Sư Trưởng SĐ320) một ngày; thì cuộc họp ngày 19/3 tại Dinh Độc Lập (có Phó Tổng Thống Hương tham dự) chỉ lừa được một người: Trung Tướng Trưởng. Bởi Tướng Trưởng không nghe ông Thiệu “nhắc gì đến việc di tản Huế, Đà Nẵng” mà chỉ nhắc nhở ông “giữ bất cứ phần đất nào còn có thể được với lực lượng đang có (bao gồm sư đoàn TQLC)”. Trở ra lại Đà Nẵng, Tướng Trưởng tự tin và tin tưởng sức chiến đấu của quân dân dưới quyền hiện thực khẩu lệnh từ ông tổng thống được phát thanh lúc 1giờ 30 ngày 20/3: “Phải Giữ Huế Bằng Mọi Giá”. Ông bay ra Huế và Quảng Trị quan sát tình hình mặt trận, gặp Tướng Lâm Quang Thi, Tư lệnh tiền phương quân đoàn để xác định khẩu lệnh quyết tâm kia (từ ông tổng thống). Trở về lại Đà Nẵng lúc buổi chiều, tướng Trưởng nghe tin chí tử: Chỉ giữ lại Đà Nẵng thôi, hoàn trả ngay Lữ Đoàn I Nhảy Dù về Sài Gòn. Lập kế hoạch di tản lực lượng bắc Đèo Hải Vân (Sư Đoàn I Bộ Binh, Lữ Đoàn147TQLC; Liên Đoàn 14 BĐQ; Tiểu Khu Thừa Thiên..) bằng đường thủy với hai điểm bốc quân tại Cửa Thuận An, sau đổi thành Cửa Tư Hiền (Bắc và Nam của Phá Tam Giang).
    Chưa kể gia đình binh sĩ của những đơn vị địa phương, chỉ riêng dân chúng Thừa Thiên-Huế đã là 600.000 con người tràn vào Đà Nẵng; toàn bộ cứ điểm Nam Hải Vân, căn cứ Chu Lai nơi tập trung các đơn vị SĐ2, 3 Bộ Binh, Tiểu Khu Quảng Ngãi; dân chúng của hai tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi tất cả nằm trong túi lửa của đại pháo cộng sản.. Cuộc lui binh ngày 25, 26 tại cửa Thuận An, sau đó tại cửa Tư Hiền hiện thực nên cảnh địa ngục có thật. Phía Chu Lai (SĐ2 và gia đình) di chuyển ra Cù Lao Ré cường đôä bi thảm chỉ nhẹ hơn đôi phần. Thêm 200,000 người sống sót của vùng đất phía Nam đổ vào Đà Nẵng nâng tổng số cư dân trong thành phố lên mức hai triệâu con người trong một vùng đất chỉ rộng bằng từ Garden Grove đến Santa Ana.
    Ngày 25 tháng Ba, sáu giờ, Tướng Ngô Quang Trưởng nhận được lệnh cuối cùng phải bỏ Huế, cố đô triều đình Nhà Nguyễn. Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn 14 Biệt Động và Sư Đoàn I đồng tập trung tại cửa biển Thuận An, đông-nam Huế. Đề đốc Chung Tấn Cang gởi một số vận tải hạm ra cửa Thuận An để đón đoàn quân cùng đám dân chạy loạn. Nhưng muốn đến bờ biển, lên tàu lớn, đoàn người di tản phải qua phà Thuận An.. Thế nên, tại đây lại một lần tái lập cảnh tượng nơi Sông Ba, Tuy Hòa mười ngày trước. Thật sự chỉ đúng một tuần. Điều đau đớn này xẩy ra như một việc tất nhiên. Bắt đầu là vô tổ chức, tiếp tới hỗn loạn và sau cùng là.. bạo loạn. Công binh không thể bắc phà qua sông, tàu lớn không vào sát bờ, người di tản trong cơn khiếp đảm bởi cái chết dâng đầy, tràn ngập, vùng vẫy tuyệt vọng từng giây phút ngắn tranh sống. Tiền sát viên pháo binh cộng sản điều chỉnh mục tiêu không phí một quả đạn. Đoàn người trần trụi trên giòng sông dưới đạn pháo. Cảnh bi thảm không phải chỉ bày ra nơi cù lao cửa Thuận An, tiếp đến Cửa Tư Hiền (Nam Phá Tam Giang). Một trăm cây số đường từ Huế vào Đà Nẵng dầy đặc xe và người. Hỏi người lính nào còn chiến đấu được với tình cảnh con trên lưng, vợ đang cơn nguy khốn? Khi đoàn xe di tản bị tắt nghẽn trong vũng lửa, người bỏ hết của cải, hành lý, bế con trên tay, đầu gục xuống, lần từng bước đường về nam..

    Cơn hấp hối của Đà Nẵng không kéo dài. Ngày 27 tháng Ba, pháo binh cộng sản bắt đầu bắn thăm dò vào Đà Nẵng từ những vùng lân cận vừa lấn chiếm. Hỏa lực pháo binh cộng sản tập trung vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I và căn cứ Hải Quân Tiên Sa, bến tàu chân cầu Trịnh Minh Thế, các địa điểm thực hiện kế hoạch di tản. Nhưng thực tế không còn kế hoạch nào nữa, bởi các địa điểm, căn cứ kia đã là những vị trí hỏa tập. Đặc công cộng sản trà trộn vào đám đông điều chỉnh từng quả đạn nỗ chính xác giữa những thân người chen chúc. Ngoài khơi Đà Nẵng, một hạm đội chực sẵn gồm tàu Việt Nam Cộng Hòa, Đại Hàn, Đài Loan, Úc, Anh, Phi Luật Tân.. Qua ngày 28, bãi biển đã thành một nghĩa địa bồng bềnh xê dịch. Người sống sót rẽ người chết đi ra phía chân mây mờ đục khói. Khói sóng, khói đạn pháo binh, chụp thêm khói hỏa tiễn. Nhiều trường hợp, xác chết biến thành cái phao để người “chưa chết” bám víu vẫy vùng, cố sống. Cố gắng sống thêm vài phút ngắn.

    Trên những chiếc xà-lan (Theo kế hoạch chỉ thực hiện việc di tản người từ bến cảng đến tàu lớn đậu ngoài hải phận), cảnh ghê tởm, cùng khốn xẩy ra dưới ánh nắng chói chang, biển trời bát ngát. Tàu Pioneer Contender ghé Cam Ranh, căn cứ ngoại vi lớn nhất của Mỹ ở Đông- Nam Á (Trước 1973) , người cha bế đứa con bước xuống bãi cát trắng. Cát nóng sôi lúc nhúc những đầu người cuống quýt. Không âm động lớn, không ầm ĩ ồn ào, chỉ tiếng khẽ rít nhỏ rầm rì giữa những cánh môi khô nẻ, sũi trắng bọt xám.. Nóng quá!Khát quá! Chiếc tàu họ vừa rời khỏi đã là một nghĩa địa di động, nhưng khốn khổ hơn những lò thiêu người Do Thái ở Auschwitz, Birkenau, bởi hơi nóng của vỏ, sàn tàu dưới mặt trời không đủ lượng nhiệt để đốt cháy tiêu da thịt người. Trên sàn, dưới hầm lềnh kềnh những thây chết chưa đúng nghĩa: Những người ngộp thở vì bị đè, ép, dẫm lên. Tất nhiên, người già và trẻ em chiếm phần lớn. (31)

    Mặt trận Vùng III với “Chiếc Đầu..” bị vỡ
    Sau một loạt suy sụp quân sự như vừa trình bày nêu trên hẳn giới lãnh đạo Hà Nội biết rằng “thời cơ” đã đến - Ngày 19 tháng 3, Sư Đoàn 341,ø đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của Miền Bắc vượt sông Thạch Hãn hợp lực với hai sư đoàn 324 và 325 (có mặt từ 1972) tấn công chiếm tỉnh Quảng Trị trong vùng điạ đầu giới tuyến. (Không biết điệp viên nằm vùng trong Dinh Độc Lập có gởi thêm báo cáo nào khác không, nhưng rõ ràng thời điểm trùng hợp với ngày Trướng Ngô QuangTrưởng về Sài Gòn cuối cùng để nhận lệnh “Rút bỏ Huế, Đà Nẵng..”?!) Ngày 20 tháng 3, quân cộng sản chiếm An Lộc (cách Sàigòn 100 cây số đường thẳng hướng chính Bắc); Sau lần mất Huế ngày 26; Quảng Tín ngày 24; Quảng Ngãi ngày 25; và Đà Nẵng ngày 29 tháng 3.. Qua thángTư , đến lượt Quy Nhơn, Nha Trang mất trong hai ngày 1, 2 Tháng 4; tiếp Đà Lạt ngày 4; và Phan Rang ngày 16; Phan Thiết ngày 19 tháng 4.. Quân cộng sản tiến vào những thành phố không bóng người – Quân và dân di tản nhanh hơn bộ đội cộng sản tiến quân.

    Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Văn Tiến Dũng triệu tập một phiên họp cuả toàn thể Ban Chấp Hành Trung Ương cuả Trung Ương Cục Miền Nam Việt Nam tại Lộc Ninh thì một người khách thình lình xuất hiện, đó là Anh Sáu tức là Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, “Huy chương Nobel Hoà Bình năm 1974” và cũng là nhân vật Số Hai cuả chế độ Cộng sản Hà Nội. Đây là lần thứ tư Lê Đức Thọ vào Miền Nam với tư các là đại diện cho Bộ Chính Trị, trước đó “Anh Sáu Thọ” đã vào chỉ đạo cho Trung Ương Cục vào những năm 1967, 1971 và 1972. Lê Đức Thọ mang những huấn thị cuối cùng cuả Bộ Chính Trị về việc thiết lập một “Bộ tư lệnh đặc biệt chỉ huy cả Trung Ương Cục Miền Nam” để phối hợp các cuộc hành quân tấn công Sài Gòn. Huấn thị cuả Đảng Cộng sản cử Tướng Văn Tiến Dũng làm Tư Lệnh, Phạm Hùng làm Chính Ủy, hai tướng Trần Văn Trà và Lê Đức Anh làm Tư Lệnh Phó. Dĩ nhiên là Lê Đức Thọ có nhiệm vụ chỉ huy toàn thể bộ tư lệnh đặc biệt này, đó là “Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch 275.” Lê Đức Thọ cũng chuyển đến cho các thành viên trong bộ tư lệnh chiến dịch một văn thư cuả Chủ Tịch Nhà Nước Tôn Đức Thắng: “Các đồng chí phải chiến thắng. Nếu không thì đừng có trở về.”(32)

    Long Khánh nằm trên ngã ba đường Quốc Lộ 20 (đi Đà Lạt) và Quốc Lộ I, lối ra Trung, đường đi Hàm Tân, Phan Thiết. Nơi mặt trận nầy, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và những người lính Sư Đoàn 18 đang giữa trùng vây của lửa. Tiếng gọi là một sư đoàn, nhưng Tướng Đảo chưa hề tập trung đủ lực lượng cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn. Đầu tháng Ba 1975, Trung Đoàn 48 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn cũng chung Vùng III Chiến Thuật với Sư Đoàn 18. Thế nên khi trận chiến bắt đầu 9 tháng 4, 1975 ông chỉ có một lực lượng sư đoàn (-) gồm những đơn vị:
    - Chiến đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy gồm trung đoàn 43 (trừ Tiểu Đoàn 2/43 đóng giữ các cao điểm quan trọng) gồm Tiểu Đoàn 2/52 (cơ hữu của Trung Đoàn 52); Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Lực lượng Chiến Đoàn 43 có nhiệm vụ phòng thủ nội vi Xuân Lộc hợp cùng các đơn vị của Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Phúc làm chỉ huy trưởng.
    - Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng gồm Trung Đoàn 52 (trừ Tiểu Đoàn 2/52 tăng phái như kể trên) và các đơn vị trinh sát, thiết giáp, pháo binh thống thuộc hành quân. Đơn vị nầy trấn giữ dọc Quốc Lộ 20 (Bắc-Tây Bắc Long Khánh) từ Kiệm Tân (cứ điểm chận đường từ Đà Lạt xuống) đến Ngã Ba Dầu Giây (giao điểm của hai Quốc Lộ I và 20), nút chận về Biên Hòa, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn III, Sư Đoàn 3 Không Quân, thị xã cách Sài Gòn 30 cây số về hướng Bắc.
    - Trước khi trận chiến bùng nỗ lớn, Thiếu Tướng Đảo khẩn thiết yêu cầu viên tư lệnh quân đoàn, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn hoàn trả lại Trung Đoàn 48; khi nhận được trung đoàn nầy về, Tướng Đảo xử dụng đơn vị để trấn giữ mặt đông thị xã - đoạn đường từ Xuân Lộc đến thị trấn Giá Rai, mặt bắc của Ngã Ba Ông Đồn đường đi vào Quận Tánh Linh, Tỉnh Bình Tuy.
    Với quân số như kể trên, Sư Đoàn 18 Bộ Binh quả thật đã gánh một nhiệm vụ quá khổ dẫu trong thời bình yên chứ chưa nói về tình thế khẩn cấp của tháng 4, 1975. Trước 1972, vùng nầy được tăng cường một lữ đoàn thuộc lực lượng Hoàng Gia Úc-Tân Tây Lan, Lữ Đoàn 11 Chiến Xa do Đại Tá Patton chỉ huy (con của Danh Tướng Patton của lực lượng thiết kỵ Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến) cùng những đơn vị bộ binh, nhảy dù Mỹ; chưa kể đến Sư Đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tăng phái, trách nhiệm vùng Long Thành, dọc Quốc Lộ 15, đường đi VũngTàu.
    Thiếu Tướng Lê Minh Đảo không có gì ngoài những người lính gian khổ dưới quyền, những viên sĩ quan cấp úy trung đội trưởng, với quân số còn lại đúng "mười hai-người" chờ đợi để chết trước lần một biển người , chiến xa, đại pháo dập tới. Nếu có một người (chỉ một người thôi) để ông có thể trao lòng tin cậy là một vị tướng nổi danh liêm khiết - Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III- Nhưng oan nghiệt và uất hận thay, trong giờ phút sôi lửa kia, vị tướng trung chính ấy đã chết vì một viên đạn bức tử tại văn phòng do "sẩy tay, lạc đạn khi chùi súng?!"(33)

    Đối mặt binh đội của Tướng Đảo là Quân Đoàn IV BắcViệt do Trung Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Một quân đoàn vừa thành hình trong ngày 20 tháng 7, 1974 theo sách lược chung của cộng sản Hà Nội - Toàn phần vất bỏ Hiệp Định Paris, quyết thanh toán Miền Nam bằng vũ lực với trận mở màn thử xem phản ứng của chính quyền, quân đội Mỹ: Tấn Công Thị Xã Phước Long thuộc tỉnh Phước Bình (Đông - Bắc Sài Gòn, tháng 12, 1974) trên đã trình bày. Tướng Hoàng cầm có dưới tay ba sư đoàn: 6, 7 và 341, chưa kể lực lượng địa phương, yểm trợ thuộc Quân Khu 7 cộng sản. Tương quan lực lượng coi như 4 đánh 1. Nhưng cũng không hẳn thế, Hoàng Cầm còn được cả một bộ chính trị đảng cộng sản Hà Nội trực tiếp chỉ đạo, yểm trợ và tăng cường với Văn Tiến Dũng, tổng tham trưởng quân đội Miền Bắc, Phạm Hùng, bí thư Trung ương cục Miền Nam, Lê Đức Thọ ủy viên Bộ chính trị, Bí thư chiến dịch.. Tất cả đang có mặt tại Lộc Ninh, nơi chỉ cách chiến trường Xuân Lộc hơn 100 cây-số đường chim bay. Trước những nhân vật kể trên, Trần Văn Trà, Tư Lệnh Khu 7 báo cáo về tình hình quân sự. Phạm Hùng hỏi về tiếp liệu đạn dược; viên cán bộ phụ trách hậu cần trả lời: "Báo cáo đồng chí, ta có đủ đạn để bắn (bọn ngụy) sợ đến ba đời.."(34) Đấy không không phải là lời nói đùa, vì sau nầy khi thắng lợi nghiên về phía quân cộng hòa, bộ tư lệnh mặt trận (cộng sản) đã cho thay thế Tướng Hoàng Cầm bằng Trần Văn Trà, vốn là người chỉ huy chiến trường miền Đông từ chiến tranh 1945-1954; và tăng cường thêm Sư Đoàn 325, đơn vị tổng trừ bị quân đội miền Bắc, lực lượng nổ lực chính đánh chiếm Nha Trang, Phan Rang đầu tháng 4, và Trung Đoàn 95B biệt lập từ vùng châu thổ sông Cửu Long kéo lên tăng cường- nâng tỷ số tác chiến (ban đầu) lên thành 5 đánh 1.

    5 giờ 40 sáng ngày 9 tháng 4, 1975- "Giờ H của Ngày N", chiến dịch đánh chiếm Xuân Lộc bắt đầu với một trận mưa pháo 2000 quả đạn từ nhiều vị trí cùng đổ xuống trung tâm thị xã Xuân Lộc lập lại cảnh tàn sát của một ngày năm 1972, cũng buổi tháng 4 tại An Lộc. Chính xác một giờ sau, 6 giờ 40, tám xe tăng được lính Trung Đoàn 165, đơn vị tiền phong của Sư Đoàn 7 tùng thiết xông vào trung tâm thị xã Xuân Lộc, nơi đặt bộ chỉ huy Sư Đoàn 18. Lính cộng sản ngỡ rằng sau đợt pháo hung hãn, và đội hình ào ạt, bề thế của những chiếc T54, thế nào cũng sẽ tràn ngập mục tiêu dễ dàng như đã xẩy ra ở những mặt trận "không cần giao tranh" ở Vùng I và II của tháng 3 vừa qua. Họ cũng được học tập, "Sư Đoàn 18 chỉ là một đơn vị bộ binh tầm thường, nếu không nói là yếu kém" Nhưng hoàn toàn không phải là như thế, những xe tăng nầy mắc kẹt giữa bãi mìn của một hệ thống tám lớp kẻm gai và mìn bẫy mà Thiếu Tướng Đảo đã sẵn bố trí; không những chỉ thế, những phi cơ A37 và F5 từ phi trường Biên Hòa được gọi đến chỉ sau ít phút cất cánh và trên đồng trống, giữa những khu rừng cao su đều đặn, đội hình của toán quân tùng thiết và chiến xa cộng sản trở nên thành mục tiêu lộ liễu, trần trụi. Mặt đông của thị xã, dọc Quốc Lộ I, Trung Đoàn 209 (cũng của SĐ7CS) số phận cũng không mấy khả quan - Bởi họ gặp một đơn vị đang cơn uất hận - Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Sau nầy Hoàng Cầm ghi lại trận đánh trong Hồi Ký “Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân”.. "Những đợt xung phong đánh vào sở chỉ huy của Sư Đoàn 18 và hậu cứ Trung Đoàn 52 ngụy đều không thành công. Chiến sĩ ta giành giựt với điïch từng đoạn giao thông hào, qua mỗi căn nhà, căn phố. Điều đáng ngạc nhiên là cuộc tấn công đã bị chận lại không phải chỉ do pháo binh và không quân yểm trợ, hệ thống phòng thủ vững chắc và sức chiến đấu ngoan cố của Trung Đoàn 43 ngụy, nhưng điều đáng nói là Đảo đã tổ chức cho từng người lính thuộc sư đoàn mỗi một vị trí chiến đấu”

    Mặt trận phía bắc của Sư Đoàn 341 tương đối khả quan hơn, một phần địa thế không thích hợp cho việc bố phòng của Chiến Đoàn 52 do Trung Tá Ngô Kỳ Dũng chỉ huy. Viên tư lệnh sư đoàn cộng sản Trần Văn Trấn đi theo với Trung Đoàn 266, đích thân chỉ huy cuộc tiến công. Bộ đội cộng sản tùng thiết thoạït tiên mở được đường qua lớp kẻm gài, mìn bẫy thứ nhất tiến gần đến vùng "Hố Heo Rừng", nơi Quốc Lộ I chạy một đường quanh gắt trước khi đổ vô thị xã. Nhưng quả như ước tính của Tướng Đảo, đại đội trinh sát của Đại Úy Đa giăng một hàng lưới lửa bằng đại liên 50 chống chiến xa, hiệp cùng máy bay AC119 Hỏa Long tự tầng trời đan kín thêm bằng đại liên Minigun bốn nòng chống biển người vô cùng hữu hiệu. õ. Đại Đội Trinh Sát của Đại Úy Lê Phú Đa lập lại thành tích "1 chống 16 - Một đại đội chận đứng mũi tiến công một trung đoàn"

    Tổng kết ngày chiến trận đầu tiên, chỉ riêng Sư Đoàn 341 đã bi thiệt hại khoảng 600 chết và bị thương cùng một số tù binh ba-mươi người bị bắt giữ. Đám thanh thiếu niên nông thôn Miền Bắc ngồi ngơ ngẫn giữa nhà cửa, gạch ngói tan vỡ do đạn pháo họ vừa thực hiện, hiểu mường tượng ra một phần ý nghĩa của công tác "giải phóng" sau lần giao tranh với quân lực Miền Nam. Buổi chiều, Thiếu Tướng Đảo khi đi thanh sát mặt trận bên trong thị xã không quên ra lệnh cho Phòng Quân Tiếp Vụ sư đoàn trích một số khẩu phần lương khô để nuôi ăn đám tù binh còn rất mới. Buổi chiều tối ngày 9 tháng 4 không hẳn là thời gian nghỉ ngơi, phía cộng sản lại dụng tâm gây căng thẳng bằng cách pháo vào khu vực thị xã thêm một loạt liên tục, cũng khoảng 2000 ngàn quả đạn trên khắp các vị trí, không loại trừ khu vực dân chúng, nhà thương, chùa, nhà thờ.. Đêm 9 rạng 10, ngày 11 tháng Tư, 1975 ở Xuân Lộc cuộc pháo kích cũng mang chung một tính chất với cường độ ác liệt hơn- do để yểm trợ cho bộ binh tiến chiếm bởi Bộ tư lệnh Quân Đoàn 4 cộng sản vẫn không tin quân phòng thủ Xuân Lộc đứng vững sau hai cuộc tấn công. 5giờ 30 sáng ngày 11, đợt tấn công thứ hai bắt đầu. Sư Đoàn 341 tiến chiếm từ hướng Tây-Bắc dọc Quốc Lộ 20; Sư Đoàn 7 từ mặt Bắc đâm thẳng vào thị xã; Sư Đoàn 6 từ hướng Đông, chân núi Chứa Chan nơi đặt bộ tư lệnh chiến dịch của Quân Đoàn 4. tất cả ba mũi dùi đồng hẹn ở điểm đến: Trung tâm thị xã, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 18. Kết quả cũng tương tự như ngày 9, quân cộng hòa giữ chắc vị trí, có khác chăng thêm một số chiến xa bị bắn hạ trên tuyến phòng ngự và một số tù binh bị bắt. Những ngày chẳng mấy vinh quang nầy được Hoàng Cầm viết lại trong Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân:" Trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch, Sư Đoàn 7 bị tổn thất 300 chiến sĩ; Sư 341 thiệt hại 1,200.. Cụ thể tất cả pháo 85 và 57 ly đồng bị phá hũy "(35). Cùng lúc Văn Tiến Dũng cũng phải thú nhận trong Đại Thắng Mùa Xuân: "Từ ngày đầu mặt trận Xuân Lộc đã diễn ra vô cùng gay go, ác liệt. Những sư đoàn của ta.. tổ chức nhiều đợt tấn công vào thị xã, đánh đi đánh lại để chiếm từng vị trí, và phải đẩy lui nhiều cuộc phản công của địch." Cùng ngày Không Quân VNCH cũng góp thêm vào chiến thắng qua hủy diệt hơn 100 xe quân sự tăng viện cho mặt trận.

    Ở Sài Gòn, không khí lạc quan nùng lên, Tổng Thống Thiệu thúc dục Tướng Toàn cố gắng giữ vững Xuân lộc để có thế đão ngược tình thế.. Để "B52 có thể trở lại"! Tướng Toàn xử dụng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi từ Trãng Bom cố mở đường tiếp cận với cánh quân ở Xuân Lộc, lực lượng thiết kỵ không thành công trong việc phá chốt ở Ấp Hưng Lộc. Không thành công trong việc dùng lực lượng chiến xa để giải toả áp lực của cộng sản tại Xuân Lộc, Tướng Toàn xử dụng một thành phần hữu hiệu hơn- Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm bốn tiểu đoàn 1, 2, 8 và 9 được Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù trực tiếp yểm trợ- Cuộc hành quân không vận lớn nhất của trận chiến thực hiện trong hai ngày 11, 12 đưa đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của Miền Nam vào trận. (36) Sự xuất hiện của lực lượng nhảy dù tại trận địa đặt nên vấn đề nghiêm trọng đối với tập thể lãnh đạo bộ tư lệnh chiến dịch. Chiều ngày 11 tháng Tư, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Trần Văn Trà duyệt soát lại kế hoạch tấn công theo chiều hướng mới. Dũng có ý kiến: "Nếu địch tăng cường lực lượng phòng thủ Xuân Lộc thì ta không cần phải tập trung lực lượng để tấn công chúng nữa.. Chúng ta nên xử dụng sức mạnh của mình để đánh những lực lượng ngoại vi (hàm ý chỉ lữ đoàn Dù) trước khi chúng đặt chân xuống đất.. cũng nên dùng pháo tầm xa phá hũy căn cứ Biên Hòa để máy bay chúng không thể cất cánh" Nội dung buổi hội cũng bàn thảo lại chiến thuật tấn công chính diện mà đã không đem lại kết quả từ bốn ngày qua. Hẳn Trà và giới chức lãnh đạo trung ương cục không quên lần tấn công thất bại An Lộc của Mùa Hè 1972, cũng trên địa bàn Quân Khu III nầy với lực lượng Quân Khu 7 Cộng Sản.

    Theo quan điểm của Văn Tiến Dũng, Tướng Hoàng Cầm, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 ra lệnh cho các Trung Đoàn 165, 266 tiếp tục giữ vững vị trí đang trách nhiệm để sau đó từ từ rút đi, riêng Trung Đoàn 209 trở hướng tấn công vào lực lượng nhảy dù vừa nhảy xuống trận địa. Trong khi chuyển hướng tấn công bằng cách đi vòng Xuân Lộc để (thực sự) tiến thẳng về Sài Gòn. Trần Văn Trà thay thế Hoàng Cầm để trực tiếp thực thực hiện kế hoạch. Ngày 13, Trà họp ban tham mưu của Quân Đoàn 4 để thông báo về việc thay đổi kế hoạch với luận cứ chính xác: "Địch tăng cường phòng thủ Xuân Lộc sẽ gây nhiều bất lợi cho ta nếu cứ tiếp tục tấn công thị xã.. Thế nên, nếu chúng ta tiến chiếm Dầu Giây (nam Xuân Lộc, trên Quốc Lộ I, lối về Biên Hòa) thì Xuân Lộc không còn nằm trong tuyến phòng thủ của chúng nữa. đồng thời ta xử dụng pháo tầm xa 130 ly pháo sân bay Biên Hòa thì địch sẽ bị hạn chế khả năng dùng phi cơ xuất kích yểm trợ." Trong chiều hướng của kế hoạch nầy, lực lượng cộng sản dần rút đi nới rộng vòng đai phòng thủ của thị xã. Tướng Đảo lập tức ra lệnh cho các đơn vị chiếm lại những vị trí bị phía cộng sản chiếm giữ, tiếp nhận thực phẩm, quân trang, đạn dược và tải thương. Hai trái bom CBU 55 "Daisy Cutter" nặng 15.000 cân Anh rơi xuống từ lòng chiếc C130 phá toang một vùng rộng lớn trong phòng tuyến của quân cộng sản dọc Quốc Lộ 20 tăng cường thêm sự quyết tâm giữ vững Long Khánh của phía quân cộng hòa, nhưng cũng chính là màn khói giúp cho lần rút đi của bộ đội cộng sản với 235 xác đếm được trên trận địa thêm phần hợp lý - Không một ai trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa, nơi Phòng Hành Quân Tổng Tham Mưu Sàigòn có ý niệm: Phía cộng sản sẽ siết chặt Biên Hòa-Sài Gòn với hai gọng kềm (hướng Bắc và Đông) bằng cách cắt Quốc Lộ I ở Dầu Giây và Quốc Lộ 15 ở Long Thành qua thay đổi quan niệm chiến thuật theo tình hình thực tế (của thất bại) Long Khánh - Và họ biến thất bại nầy thành một kế nghi binh. Kế sách nầy càng thêm hữu hiệu khi mặt trận được tăng cường thêm hai đơn vị mới, Sư Đoàn 325, tổng trừ bị quân đội Miền Bắc, đơn vị chủ lực trong trận tấn công Nha Trang, Phan Rang ngày đầu tháng 4; và Trung Đoàn 95B biệt lập từ đồng bằng Sông Cửu Long điều động lên.

    Tòa Đại Sứ Mỹ phấn khởi trước chiến thắng Long Khánh cố nài Quốc Hội Mỹ chuẩn chi $722 triệu quân viện khẩn cấp cho Việt Nam, nhưng đến phiên họp ngày 17 tháng 4, Ủy Ban Quân Sự Thượng Viện bác bỏ thẳng thừng, như câu nói bất cậïn nhân tình của hai Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits và Edmund Muskie trong show truyền hình đại chúng "Face the Nations".."Cho tiền để lo việc di tản thì bao nhiêu cũng được chứ một xu cho ngân sách quân sự cho Thiệu cũng không có" (37). Hai con người nầy ngày 15 tháng Ba vừa qua cũng đã "cứu giúp" toàn bộ Dân Tộc Campuchia với giá tiền đúng $82.5 triệu đô-la Mỹ

    Chiến trận lắng xuống, các đơn vị cộng sản dần rút đi, chỉ còn pháo kích cầm chừng vào các vị trí phòng thủ. Ngày 20 tháng 4, Tướng Toàn và Đại Tá Thọ, Trưởng Phòng Hành Quân Quân Đoàn III đích thân đến giao cho Tướng Đảo một lệnh mơ hồ như vô cùng kích động: Rời bỏ Xuân Lộc về bảo vệ mặt trận Sài Gòn - Hóa ra quân cộng sản đã hoàn tất kế sách bỏ trống Xuân Lộc từ một tuần trước. Thiếu Tướng Đảo phản đối, nhưng viên tướng tư lệnh khẳng định: Đó là lịnh của Ông Thiệu! Lại "Tổng Thống Thiệu", đầu mối của mọi điều hư hại và dỡ dang. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo chỉ có đúng nửa ngày để hoàn tất một kế hoạch rút quân – Rút lui với lực lượng một sư đoàn cùng các đơn vị tăng phái và yểm trợ, chưa kể thành phần diện địa của Tiểu Khu Long Khánh.
    Hành quân rút lui là hình thái hành quân khó nhất - Bởi đã mang sẵn mầm thất bại- Những danh tướng quân sử thế giới mấy ai thực hiện được kể cả Hốt Tất Liệt, Napoléon, Rommel.. Nhưng như một phép mầu - một mầu nhiệm của trí tuệ và dũng lược, cộng thêm lòng yêu thương chiến sĩ, đơn vị thật tình. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo cuối cùng cũng hoàn tất cuộc rút binh về Bà Rịa, bảo toàn đơn vị và vũ khí, thậm chí đến hai khẩu pháo 175 ly hạng nặng cũng giao lại cho quân đoàn. Cũng một phần, lực lượng giữ phần tập hậu là Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy. Trung Tá Đỉnh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Dù - Đơn vị đã giải tỏa An Lộc trong trận đánh ngày 8 tháng 6, 1972 mà đơn vị cộng sản đóng chốt ở Xa Cam, nam An Lộc chỉ còn đúng một người - Tù binh tên Nguyễn Văn Tiền.
    Cũng có một điều cần ghi thêm là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Đoàn dù đã bất chấp lệnh của tổng tham mưu, vất bỏ mưu đồ "xé lẻ" đơn vị bách thắng nầy của ông Thiệu (do lo sợ một cuộc đảo chánh - mà thật sự là một mối sợ đối với những tay hoạt đầu chính trị nơi Miền Nam từ 1960 cho đến bấy giờ) nên đã gởi một đơn vị nhảy dù khác - Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô, Lô "lọ rượu" đơn độc đưa quân đi ngược Tỉnh Lộ 2 (từ Bà Rịa (Phước Tuy) lên Long Khánh) đón đoàn quân di tản. Nguyễn Lô dẫn quân đi như ánh chớp, và Tiểu Đoàn 7 Dù là đơn vị cuối cùng chận giặc nơi Cầu Xa Lộ, cửa ngỏ chính của Sài Gòn ở hướng Bắc.

    III Hậu Từ:
    Vào thời điểm cuối cùng của Miền Nam, tại Sài Gòn, từ những ngày đầu tháng 4, 1975 Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã nay giữ chức vụ cố vấn riêng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã có mặt tại Singapore theo lời mời của Thủ Tướng Lý Quang Diệu. Thủ Tướng Lý vào thẳng vấn đề: "Đừng để mất thì giờ vô ích, tôi mời ông tới đây bởi kết thúc (ở Việt Nam) sắp xẩy đến. Rockefeller vừa hỏi ý kiến tôi cũng như những vị lãnh đạo Á Châu khác, liệu chúng ta có cách gì để đưa ông Thiệu ra đi hay không."(38) Thủ Tướng Lý không nói thêm điều gì khác - Việc "ai" sẽ thay thế ông Thiệu là vấn đề của Sài Gòn với những người như Đại Tướng Minh, Khiêm, hoặc Cựu Phó Tổng Thống Kỳ.. Ông chỉ thúc dục cố vấn Nhã: "Hãy khẩn báo cho ông anh của ông như thế mà thôi. Riêng ông nên ở lại đây. Đừng về lại Sài Gòn, tôi sẽ lo liệu cho gia đình ông ra khỏi nước. Người Mỹ cũng đã xếp đặt sẵn một nơi cho ông Thiệu lưu trú.."(38Bis). Nhã thông báo liền cho Tổng Thống Thiệu nguồn tin chẳng mấy phấn khởi nầy; một phần ông cố vấn cũng đã hiểu ra thực tế: "Giới quân nhân, những tư lệnh chiến trường đã không còn tin tưởng nơi ông tổng thống vốn xuất thân từ quân đội nầy nữa." Lời thông báo của Phó Tổng Thống Rockefeller không là ý kiến riêng của người lãnh đạo ở Tòa Bạch Ốc nhưng là phản ảnh thực tế về quyết định của giới lãnh đạo Mỹ đối với tình thế chính trị chung cho toàn vùng Đông- Nam Á. Ngày 12 tháng 4 Nam Vang thất thủ, người lãnh đạo Sirik Matak cùng tất cả bộ trưởng của chính phủ Long Boret (chỉ trừ một người) là những nạn nhân đầu tiên của cách hành hình man rợ hơn cả thời trung cổ do đám đao phủ Kmer Đỏ hành quyết. Họ không chết do bất ngờ, vì không lường được tính ác ghê rợn của lực lượng cộng sản Khmer mà hơn ai hết, vị cố vấn chính trị của tổng thống Campuchia đã có lá thư tuyệt mệnh gởi đến Đaị Sứ Dean John của Hoa Kỳ với lời lẽ khẳng quyết bi tráng như sau: "Kính gởi Ngài Đại Sứ và các Bạn... Tôi chân thành cảm ơn lá thư ngài chuyển tới với đề nghị giúp tôi phương tiện đi đến vùng tự do.. Nhưng hỡi ơi, tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như thế được... Xin ngài cứ ra đi, và tôi cầu chúc ngài cùng đất nước Hoa Kỳ có được nhiều điều hạnh phúc dưới cõi trời nầy. Nếu tôi có phải chết thì cũng chết trên đất nước mà tôi vô cùng yêu quý dẫu cho đấy là điều bất hạnh, nhưng chúng ta ai chẳng sinh ra và một lần mất đi. Tôi chỉ phạm một lỗi lầm là đã tin vào ngài và tin vào những người Bạn Mỹ."(39) Lời báo động của người thân cận Hoàng Đức Nhã cùng tình thế bi thảm của Campuchia, lẫn thực tế tuyệt vọng của miền Nam khi phòng tuyến Phan Rang (mà cũng không bao giờ đã là một tuyến phòng thủ vững chắc được bởi đấy là một vùng đất có thể tiếp cận đến bởi bất cứ hướng tiến quân nào, kể cả hình thái bao vây, chia cắt) bị tan vỡ buộc Tổng Thống Thiệu phải hiểu ra rằng: Những lá thư bảo đảm của Tổng Thống Nixon với những lời trịnh trọng.."Tự do và độc lập của Việt Nam Cộng Hòa luôn là mục tiêu tối thượng của chính sách đối ngoại của nước Mỹ. Tôi hằng dốc sức thực hiện mục ấy suốt cuộc đời chính trị của bản thân.."(40) đã không còn mảy may có giá trị, vì người viết như giòng chữ (cho là thực tâm kia) đã đi ra khỏi Tòa Bạch Ốc với tình cảnh của kẻ "phạm tội" sau vụ Watergate. Người thay thế ông, tổng thống không do dân cữ, Henry Ford lại bị trói buộc toàn diện bởi Nghị Quyết Xử Dụng Vũ Lực Chiến Tranh đã được quốc hội phê chuẩn từ tháng 11, 1973, cho dù Tổng Thống Nixon đã dùng quyền phủ quyết bác bỏ. Nghị quyết nầy thật sự là phần hiện thực hiến định của đạo luật cắt bỏ quỹ "Hoạt động tác chiến" vốn được dùng để yểm trợ cho chiến cuộc Đông Dương - Tất cả điều khoản, đạo luật nầy đã được lưỡng viện Quốc Hội Mỹ phê chuẩn thi hành sau khi ký Hiệp Định Paris (27 tháng 1, 1973) và Thông Cáo Chung của Kissinger cùng Lê Đức Thọ, ngày 13 tháng 7 cùng năm để "thúc đẩy các bên ký kết thi hành hiệp định "Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam (sic)."

    Người gọi là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa nhất quyết không để thân phận mình kết thúc tan thương oan khốc như tình cảnh của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, cũng không muốn "hiển thánh vị quốc vong thân" trước nòng súng của binh đội cộng sản. Nhưng cốt yếu đối với người "bạn Mỹ", người bạn mà vị chính khách Campuchia Sirik Matak bên nước láng giềng kia đã phẫn uất kêu lên lời tán thán – Ông Nguyễn Văn Thiệu phải ra tay trước- Vất bỏ gánh nặng mà ông cho là "vô lý" với luận cứ: "Người Mỹ đòi hỏi chúng ta làm một việc bất khả thể. Tôi đã từng nói với họ: Các ông đòi chúng tôi làm một việc mà các ông không làm nỗi với nửa triệu quân hùng mạnh, với những viên chỉ huy tài giỏi, và tiêu hơn 300 tỷ (Mỹ-kim) trong hơn sáu năm... Rồi bây giờ tương tự như các ông chỉ cho tôi 3 đồng, bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất, thuê phòng khách sạn 30 đồng một ngày, ăn bốn, năm miếng bíp-tếch, uống bảy, tám ly rượu vang mỗi ngày. Đấy là một chuyện hết sứ vô lý.."(41) Sau khi so sánh cuộc chiến đấu của một dân tộc với cách thức đi ăn tiệc với giá biểu "kỳ cục" kể trên, ông cao giọng tố cáo người bạn quý không e dè: "..các ông để mặc chiến sĩ chúng tôi chết dưới mưa đạn pháo. Đấy là một hành động bất nhân của một đồng minh nhân." Ông chát chúa lập lại: "Từ chối giúp một đồng minh và bỏ mặc họ là một hành vi bất nhân." (42) Những giới chức cao cấp của Tòa Đại Sứ Mỹ ở đường Thống Nhất (đối diện với Dinh Độc Lập, nơi ông tổng thống đang nói cho buổi truyền hình trực tiếp) theo dõi đủ nội dung của bài nói chuyện với những lời lẽ nặng nề như trên - Bài nói chuyện của một người đang cơn nóng giận chứ không phải ngôn ngữ ngoại giao của một vị nguyên thủ quốc gia, một chính khách lãnh đạo. Tuy nhiên, người Mỹ luôn là một người "bạn tốt". Họ đã chuẩn bị cho ông một nơi an toàn và cách ra đi kín đáo (cũng không thể kín đáo hơn), thích hợp với "danh dự của một vị nguyên thủ" vì dù gì ông cũng đã giúp họ cởi bỏ gánh nặng chiến tranh qua lần rút quân có vẻ "coi được" ra khỏi Việt Nam theo điều khoản Hiệp Định Paris sáu-mươi ngày sau 27 tháng 1, 1973. Thế nên, đồng minh không hề tháo chạy như cách nói của Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng.

    Ngày 21/4/75, ông Nguyễn Văn Thiệu ra đi sau một màn bàn giao chức vụ tổng thống đến Phó Tổng Thống Trần Văn Hương với bài diễn văn đầy kịch tính như vừa kể trên. Số phận của một quốc gia gọi là Việt Nam Cộng Hòa còn lại “Mười Ngày” – Không phải “Mười Ngày Rung Chuyển Thế Giới” của John Reed viết về Cách Mạng 1917 của Nga – Nhưng mười ngày để chờ đợi cái chết ắt đến cùng lần thật chết quê hương – Cái chết chậm, chắc chắn ngấm vào từng phần thân thể, xuyên suốt trong lòng như một thư ùchất độc cực mạnh như lời từ chối bi tráng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương “Kẻ Sĩ Cuối Cùng của Miền Nam”- Khi Đại Sứ Mỹ ngỏ lời đưa cụ ra khỏi nước, buổi chiều ngày 29 tháng 4 khi Sài Gòn đang vỡ bùng giữa tiếng nổ của đại pháo và động cơ những đoàn trực thăng di tản, máy bay võ trang yểm trợ bảo vệ.. “Thưa Ngài Đại Sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm.. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sàigòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng Miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước.” (43) Nhưng không chỉ một mình Con Người Cao Thượng Trần Văn Hương, cũng không phải là người lính nơi trận địa tàn cuộc nơi Cầu Xa Lộ, ở Ngã Tư Bảy Hiền mà là hằng loạt tướng lãnh giữ chức tư lệnh đại đơn vị, hoặc sĩ quan cấp tá cao cấp... Người không chỉ chết một mình, mà với toàn gia đình cùng một lần quyết tử - Chị Nguyễn Thị Thàng, vợ một nghĩa quân chết với chồng và đàn con nơi chiếc đồn cô quạnh ở vùng IV; Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh, bào huynh của gia đình niên trưởng Hà Thượng Nhân (Trung Tá Phạm Xuân Ninh, Chủ Nhiệm Báo Tiền Tuyến) chết cùng với cả nhà gồm ba thế hệ: ông, cha, cháu; những người lính Thủy Quân Lục Chiến của Nguyễn Xuân Phúc, Đỗ Hữu Tùng đồng tự sát nơi Bãi Mỹ Khê, Đà Nẵng cuối tháng 3, 1975; Trung đội Nhảy Dù của Huỳnh Văn Thái cùng nỗ chung một lần lựu đạn; những sinh viên sĩ quan hai khóa cuối cùng Trường Võ Bị Quốc Gia vào trận địa với mũ đại lễ mang từ Đà Lạt xuống còn đeo trên ba lô; những em nhỏ tuổi 12, 14 của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu.. Tất cả cùng chung lần hiến tế khi Tổ Quốc Lâm Tử sáng 30 tháng Tư, 1975.. Ánh chớp thanh quang của anh hồn bao người trung liệt kia hẳn đã rung mờ nhật, nguyệt hiện thực lần Núi Sông cùng khóc với Con Người. Và Người cùng một lần sống mãi với Quê Hương.

    Thượng đế ban cho con người Sự Sống nhưng Người quyết định lần chết cho chính bản thân. Người trao gởi lại sau cái chết xác thân một trị giá vinh diệu. Người Việt Nam đã hiện thực điều cao cả kia một cách tự nhiên trong suốt đêm đen bất hạnh dài theo thế kỷ, giữa vũng lửa chiến tranh, sau lần sụp vỡ 30 /4 trên đại dương, sâu rừng già ba nước Đông Dương trên đường vượt biên xuyên suốt hai thập niên 70-80.. Mà cũng là toàn dân tộc đang gánh chịu một cách khắc kỷ- Xem như một sự cùng đành. Chúng tôi không nói điều tán tụng với chữ nghĩa phù phiếm, không nội dung. Chúng tôi xác tín với giá máu của mỗi người anh em đã, đang hằng hằng lâu dài gánh chịu tại hôm nay, khi đọc cuốn sách VIỆT NAM CỘNG HÒA 10 NGÀY CUỐI CÙNG với Cơn Hấp Hối kéo dài 31 năm chưa có dấu hiệu chấm dứt. Và lời cuối cùng – Cám ơn Người Viết Sách Trần Đông Phong đã cho chúng ta biết một lần tương đối đầy đủ: Hóa ra làm Người Việt Nam là phải chịu những đau thương uất hận như thế.


    Ghi chú:
    (1)Nguyễn Tiến Hưng, KĐMTC, Hứa Chấn Minh, CA, USA 2005
    (2)Trần Đông Phong, VNCH 10 Ngày Cuối Cùng, NamViệt, CA, USA 2006 trg27
    (3)TĐP, sđd trg 31
    (4)TĐP, sđd trg32-33
    (5)TĐP, sđd trg22-25
    (6)PhanNhậtNam, Tù Binh & Hòa Bình, Hiện Đại, Sàigòn, VN 1974 trg222
    (7)TĐP, sđd trg18-19
    (8)TĐP, sđd trg26
    (9) TĐP, sđd trg80
    (10) CaoVănViên, The Final Collapse (1983); Nguyễn Kỳ Phong Những Ngày Cuối Cùng của VNCH Vietnam Bibliography, VA, USA 2003, trg 99-100
    (11) CVV sđd trg106-109
    (12) Clark Dougan, David Fulghum, The Vietnam Experience, The Fall of South Vietnam, Boston Publishing Co, USA, 1985, p20
    (13) C.D&D.F, op. cit., p20-21
    (14) TĐP, sđd trg87
    (15) NTH, sđd trg41
    (16) NTH, sđd trg46-47
    (17) NTH, sđd trg36-37
    (18) Bùi Diễm, Gọng Kìm Lịch Sử, Phạm Quang Khai, Paris, FR 2000 trg384- 393
    (19) NTH sđd trg483
    (20) Frank E. Vandier, The Shadow of Vietnam, Lyndon Johnson War, Texas A&M University Press, USA 1977, p337-338
    (21) TĐP sđd trg 65-67
    (22) Henry Kissinger, Years of Upheaval, Little Brown & Co, Boston, US 1982, p679
    (23) TĐP sđd trg 158-159
    (24) Olivier Todd, Cruel Avril, La Chute de Saigon, Robert Laffont, Paris, FR1981, p51
    (25&25Bis) TĐP sđd trg72-73
    (26) PhanNhậtNam NCCĐKL, Tú Quỳnh, CA, USA1995, trg20
    (27) O.T., op. cit., p88; TĐP sđd trg93
    (28) Phạm Huấn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên, San José, USA 1987, trg 84-89
    (29) CVV sđd trg114/TĐPsđd 119-122
    (30) NTH sđd trg 234-235
    (31) Tổng hợp từ: C.D&D.F, op. cit.; HàMaiViệt Thép&Máu (TX, USA2005); NTH&JS The Palace Files, Harper&Row, NY, USA1989; NTH KĐMTC; PNN NCCĐKL; CaoXuânHuy TBGS (Văn Học, CA, USA2004)
    (32) TĐP sđd 164-169
    (33) NguyễnVănTín Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, CA, USA 2005
    (34) PNN NCTCGQH CA, USA2003 Trg 223
    (35) George J. Veith & Merle L. Pribbenow Fighting is an Art: The ARVN Defense of Xuan Loc, April 9-21, 1975; Draft, PA, USA 2001 (p13-16)
    (36) Phạm Huấn NUHTCMN, San José, USA 1988 trg168-177
    (37) O.T., op.cit., p305
    (38&38Bis) O.T., op.cit., p277
    (39) O.T., op.cit., p274
    (40) NTH&J.S., op. cit., p393
    (41) NTH&J.S., op. cit., p331-332
    (42) O.T., op.cit., p314
    (43) TĐP trg 353
  3. VÒNG ĐAI VỠ.

    Nhân đọc lại Vòng Đai Xanh (*) sau ba-mươi-ba năm (1970-2003), (*) Ngô Thế Vinh, Sài Gòn, VN 1970; Văn Nghệ CA, USA 1987.

    Ngày 19 tháng 9, 1964, 3000 lính Dân Sự Chiến Đấu người Thượng sắc dân Rhadé của năm trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Ban Mê Thuộc, thủ phủ Tây Nguyên nổi loạn chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Nhóm nổi loạn hành hình các trại các sĩ quan trưởng trại, biệt kích quân người Kinh, và bắt giam các quân nhân cố vấn Mỹ (của các trại) để làm con tin, dự định tiến chiếm Thị Xã Ban Mê Thuộc. Tại Trại Buon Brieng, Đại Úy Cố Vấn Gillespie vội vã thực hiện hành động phản ứng, cứu vãn tình hình. Ông hợp tác với Đại Úy Trương, trưởng trại người Việt, cùng lần giúp sức tích cực của Y Jhon Nie, viên thông dịch người Thượng khôn ngoan, trung hậu. Gillespie thay thế Đại Úy Trương nhận lãnh quyền chỉ huy trại, mặc y phục người Thượng, tổ chức lễ ăn thề do lão thầy pháp buôn làng chủ tế qua thực hiện đủ nghi lễ uống rượu cần, thắt vòng chỉ ngũ sắc vào cổ tay. Qua trung gian của Y Jhon Nie, Đại Úy Gillespie có lời huấn dụ khôn ngoan nhưng không kém phần cương quyết với đám lính nổi loạn (thể hiện tinh thần dấn thân, tích cực của người quân nhân Mỹ - đại diện chính sách của chính phủ Hoa Kỳ).. "Nước Mỹ là cha của dân tộc Rhadé, chúng ta là những người con chung. Khi có việc rắc rối giữa cha và con, người con phải nghe theo lời khuyên bảo của cha.." Đại Úy Gillespie bước tới gần đám quân hơn, lời ông được viên thông dịch chuyển tiếp.. "Trái tim người Mỹ và trái tim của người Rhadé là một. Nước Mỹ đến đây để giúp dân Rhadé, biếu tặng thực phẩm, xây trường học, dạy trồng lúa. Quả tình chúng ta đồng chung một trái tim, nhưng nếu người Rhadé thay lòng, đổi dạ, chống lại người Mỹ, thì người Mỹ sẽ đối kháng lại.." 700 lính Thượng Trại Boun Brieng nghe theo lời Gillespie, từ đây toán cố vấn Mỹ, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Freund đến Trại Bon Sar Pa, trung tâm chỉ huy cuộc nổi loạn để điều đình, hòa giải.. Cuộc khởi loạn được dàn xếp tốt đẹp.

    Bi kịch đối kháng Kinh-Thượng của năm 1964 được thuật lại như trên phóng viên Howard Sochurek của báo National Geographic, số tháng 1, 1965 với kết thúc êm thấm để trả lời những câu hỏi của Cố Vấn Trưởng Freund đối với đám loạn quân.. "Bây giờ ai là người muốn tiếp tục nhiệm vụ? Các anh kiếm đâu ra gạo, áo quần, thuốc men từ đâu.. Tất cả chỉ là vô vọng nếu như các anh không có người Mỹ cứu giúp..."

    Nhưng qua biến cố trên Ngô Thế Vinh đã nhìn hệ thống trại (Lực Lượng Đặc Biệt) và vai trò của cố vấn Mỹ, cùng cách thức giải quyết của họ dưới một góc độ khác: "Đó chỉ là (Trại Lực Lượng Đặc Biệt) những căn cứ quân sự thuần túy cũa Mỹ mà căn bản của cứu trợ chỉ là sự bố thí.." (Ngô, sđd, trg 34) và biện pháp đưa dân cư người Thượng vào các khu tập trung gần những trại (lính) kia là:"Nguyên mấy chữ trại ti nạn đã nói lên tính chất tạm bợ của nó.."(Ngô, sđd, trg 35), bởi vì Chính Phủ Sài Gòn, Toà Đại Sứ và hệ thống cố vấn Mỹ đã phạm một sai lầm chí tử nên đã đánh mất phần tích cực tốt đẹp nhất của kế hoạch đối với người sắc tộc Tây Nguyên.. Thật ra, đây là một cơ hội bằng vàng để thực hiện những dự định manh nha từ nhiều năm trước, quy tụ những dân cư thiểu số sống rải rác thành những Buôn Hdíp Mrâo, kiểu như những đại xã gần các trục giao thông, giúp đỡ giáo dục họ làm quen vối nếp sống cộng đồng.." (Ngô, sđd, trg 35). Sai lầm chính sách hóa càng trở nên trầm trọng bởi những va chạm, kình chống giữa những cá nhân chỉ huy, điều hành, thực hiện chính sách kia.. Những Tướng Trị, Thuyết, chỉ huy quân khu Tây Nguyên, cố vấn trưởng Trung Tá Tacelosky... Sai lầm cũng không tránh khỏi nơi những kẻ có lòng (thực sự hoặc làm ra vẻ) như Đại Úy Cobb, Mục Sư Denman; hoặc nhà báo trẻ tuổi, Davis, bạn của họa sĩ Triết, nhân vật chứng tá của câu chuyện kể.. Không thể có một giải pháp tốt cho một vấn đề vốn đã sai lầm.. Vấn đề Tây Nguyên từ mục tiêu, yêu cầu như đã đặt ra trên, với những nhân sự phụ trách tự thân nhiều mâu thuẩn đã thể hiện đủ về màn thảm kịch mà Gerald Hickey, chuyên gia nghiên cứu về các sắc tộc thiểu số của Đại Học Yale đã khẩn thiết báo động từ 1973.. "Sự giải kết của Mỹ ra khỏi cuộc chiến Việt Nam, cũng có nghĩa người Mỹ không còn quyền lợi, và nghĩa vụ đối với người Thượng và cao nguyên.. Và điều tệ hại là chúng ta - Người Mỹ đã cư xử với họ một cách đáng hổ thẹn.. chúng ta chỉ biết đứng dậy, rời bỏ cao nguyên trong hỗn loạn, bỏ rơi nhưng người bạn tốt nhất của chúng ta."
  4. Dựa Lưng Nỗi Chết



    Nhật ký tháng Mười

    Tháng Mười, tháng của chuyển động hoài hoài giữa hai điểm ngất ngây đớn đau và hạnh phúc. Tháng của những lạnh tanh bất chợt cứng ngắc và nồng nhiệt tràn đầy thác đổ. Tháng của đỉnh cao và vực sâu. Tháng tiếng động núi lở và im lặng đáy biển. Năm tháng căng thẳng giữa hai điểm không cùng.

    Làm sao để sống? Giữa những buồn phiền tanh tưởi độc địa, người muốn tan đi theo cơn gió rã rời, trôi vào lượn sóng nhạt thếch vô tri… Bỗng nhiên xôn xao những ý tình rực rỡ, bỗng choáng váng giữa niềm tin chói sáng, như mặt trời khởi đầu những ngày hè ở cực Bắc… Sống thật khó. Khó những ngày lặng lẽ rơi xuống, sáng trưa chiều trôi đi như lá khô, lặng lẽ đốt thêm điếu thuốc, xòe bàn tay, tay nhiều chỉ, tay nát bấy. Chiến tranh sắp chấm dứt và bàn tay chiến đấu cũng đã mỏi mệt. Xếp hai bàn tay, mở hai ngón, kẹp lấy điếu thuốc, thở ra lớp khói tàn tạ. Nhưng tháng Mười không hoàn toàn như thế. Tháng Mười, đêm thức giấc mở đôi mắt chợt xoay người để thấy một tình yêu thần bí hiện rõ từng đường nét khối lượng. Một tình yêu có thật cho người. Nhưng tháng Mười trong lòng hạnh phúc vẫn có những đớn đau câm lặng không ngừng nghỉ – phút rình rập của định mệnh độc ác…

    Gần cái chết và hạnh phúc, thấy rõ thêm niềm phấn đấu để sống.


    1.

    Thuấn lái xe dọc theo con phố. Chiều thứ Bảy, người đông kín. Chiều thứ Bảy, thật lâu Thuấn không biết đến loại thời gian này. Thứ Bảy, Chủ Nhật, thứ Hai, những ngày tháng phân biệt đó trôi đi không gợi lên sự chú ý. Sự nghỉ ngơi chỉ có được lúc đêm khuya, khi đại đội đã trả súng vào kho, lính đi ra cổng doanh trại để nghỉ phép sau cuộc hành quân… Nghỉ ngơi – Thuấn thật sự không có. Chỉ có những giờ ngồi trước ly rượu bên con sông, nhìn xuống khoảng sông đào chen chúc thuyền đậu. Những con đò xứ Huế, nặng nề, bề thế, chắc chắn cùng thú vui đẫm ướt dục tình được mở ra thỏa thuê trong đêm. Thuấn, người lạ ở xa đến, người Bắc, quê hương xa khuất ở cuối trí nhớ, quê hương trên bát bún thang, chiếc ảnh hồ Hoàn Kiếm, cây cầu gỗ chênh vênh trên mặt nước lung linh vòng cây phượng. Quê hương được nhớ lại ở trang sách bất chợt trong đó nhắc đến dáng dấp của lão Tàu bán lạc rang, mụ Béo bán bánh tôm ở bờ hồ… Những hình ảnh thoáng qua như ngọn lửa đầu que diêm yếu ớt. Thuấn không nhớ nổi. Quê hương, một chốn không còn. Thuấn từ Sài Gòn đến đây theo chiến dịch, nửa đất nước đi qua, đi và đến từ hai tỉnh đối đầu của quê hương bị cắt. Thuấn đã khởi hành và đến hai cực điểm của một đau đớn vô hình.

    Huế, thành phố không giống một nơi nào đã đi qua. Pha trộn giữa e thẹn câm nín và xôn xao đột khởi cơn lặng lẽ, bỗng chốc thành giông bão, thành phố của dịu dàng như cảnh giấc mơ và tồi tàn luộm thuộm của đời ẩn ức. Thành phố của lãng mạn và bi phẫn. Thuấn ở Huế được ba tháng, thời gian của những cuộc hành quân ngắn hạn. Từ Huế đi về hướng Bắc, qua chiếc phà, con nước xanh rêu không sông, bên kia bờ sông lũy tre mờ mịt sương giăng, sáng mùa đông im lìm không mặt trời, con gà nhỏ lông sũng nước cố rít lên tiếng gáy, tiếng gáy của loài gà tre nghe the thé phiền muộn. Quân qua sông, đổ bộ lên bến, cợn đất sét màu vàng ứa ra từ phiến đá khi chân người lính giẫmlên tản theo dòng nước. Lính đi băng qua những khu rừng trống ẩm ướt, chuối, thanh trà, ổi chen chúc đứng khép vào nhau trong im lặng nặng trĩu. Một trái bom vừa nổ, mảnh gang trắng ghim vào thân cây chuối ứa mủ, đống bẹ chuối tươi non nằm hỗn độn trên lớp đất bu nhiều tung tóe, đất dính từng tảng nhỏ trên phiến đá bầm dập như những hạt máu khô đọng trên cánh tay gãy. Mảnh gang của quả bom theo đà bay phá vỡ khoảng tường vôi để lộ phiến gạch tươi, màu đỏ thớ thịt sau nhát dao chưa kịp ứa máu. Ba tháng hay chính xác hơn bảy mươi ngày, Thuấn đi qua những căn nhà kỳ quái, nhà không vách, không cột, không nền. Nhà là căn hầm sát xuống đất, sâu hun hút lạnh lùng, tối thăm thẳm. Nắp hầm được đắp cao bằng đất cứng, chắc chắn như nấm mồ, trên mặt mồ vĩ đại đó người dân úp cái mái bằng lá gồi hay tranh và người ta chui từ hầm lên nhà, bò từ nhà xuống hầm, không ai có thể ngồi thẳng lưng trong loại nhà hoang tàn kỳ lạ này. Người dân ngồi cong lưng đầu kẹp giữa hai gối, người dân ngồi im lìm, trẻ con cũng không khóc, đứa trẻ đã mất thói quen được khóc, khóc vì đói, vì lạnh hay ẩm ướt nước tiểu. Đứa trẻ đã quen với bóng tối, quen im lìm nặng trĩu. Tiếng động chỉ có ở những cánh quạt trực thăng chém gió lượn vòng trên cây cau, hay tiếng nổ của quả đạn súng trọng pháo. Tiếng nổ và sự im lặng trì trợm đã làm tê giác quan đứa trẻ. Không còn tiếng khóc trẻ thơ trong xóm làng Thuấn đi qua.

    Thuấn đã đi qua một lần, hai lần, những lần sau không đếm được. Đi qua để thấy người dân vùng Thừa Thiên đâu đâu cũng chừng đó thế ngồi, cũng chừng đó lối hò, cũng những âm thanh rít lên khó nhọc, hiu hắt phiền phiền xô đẩy nhau trả lời khi người lính hỏi đến… "Da, dạ…" những tiếng dạ liên hồi mở đầu chen trong câu chuyện, nghe nhức nhối như vết thương nung mủ bị bóp vỡ giữa hai lưỡi dao kẹp chặt. Thế nhưng người dân vẫn tiếp tục sống. Thuấn cũng tiếp tục sống, tiếp tục sống để sau mỗi cuộc hành quân cùng với một lũ bạn chen chúc lên chiếc xe đi về thành phố như hôm nay…

    "Đi đâu bây giờ?"

    "Đi đâu?" Thuấn quay đầu sang nhìn Minh, kẻ vừa hỏi, giọng Huế phẳng lì như phiến lá mít. Thuấn ngừng xe, xoay hẳn người ra đằng sau "Đi đâu?" Sáu đôi mắt nhìn nhau không nói.

    "Hay đi uống cà phê?" Đề nghị rụt rè không thành hình khối. Lạc nói nhỏ.

    "Cà phê?" Minh hỏi cao giọng.

    "Tao đã uống sáng nay hai lần cà phê rồi, nhưng thôi, cà phê phát nữa cũng được. Thuấn xoay người trở lại, quanh xe về quán cà phê giữa thành phố.

    "Đến chỗ Lạc Sơn ngồi nhìn thiên hạ, chiều hôm nay thứ Bảy". Không có tiếng ai trả lời câu nói của Minh.

    Ba người ngồi quanh chiếc bàn, ba bàn tay khuấy tròn những chiếc muỗng quanh vành ly gây tiếng động dễ chịu trong không khí cứng đặc.

    "Tụi mình đi hành quân được ba tháng rồi".

    "78 ngày".

    "Sao mày nhớ kỹ vậy?"

    "Nên tao thích ngồi ở đây, nhìn những người gánh củi đi qua, xúc động lúc nhỏ tự nhiên trở về như sống lại thời gian trước".

    "Mày vớ vẩn thấy mẹ". Lạc vòng tay bó lấy đầu gối ngồi ưỡn người trên nệm xe. "Minh, mày leo lên ngồi với tao, ở đây đâu còn Quân Cảnh, ngồi đằng sau xe xóc, chết cái mông".

    "Tao nói cho có chuyện". Thuấn hững hờ trả lời.

    Xe ngừng ở nơi đóng quân. Đối nối tiếp nhau thành vòng tròn, lều của lính nằm rải rác trông như những khối đá xanh mềm nhão nhún nhảy theo cơn gió, từ đó những người lính lạ lùng đi ra. Người lính thời xưa được biểu tượng qua hình ảnh một người đội nón dấu, mang cây giáo; người lính cận đại có chiếc nón sắt cùng khẩu súng… Nhưng những người lính này khác hẳn, họ đội chiếc nón nhựa, chiếc nón loang lổ ngô nghê. Nón sắt có vẻ đẹp hung bạo riêng, nay ở nơi đóng quân, lớp nón sắt được hạ xuống để vo gạo, rửa rau. Hai chiếc nón sắt hai tay lỏng chỏng những cây cải xanh, nón nhựa che kín mặt, áo bỏ ngoài, quần lót, loại quần lót nhà binh Mỹ có xẻ một đường rãnh ở giữa, trong đó… Việt Nam di động theo bước chân người lính. Hai đôi chân đen đủi ốm yếu thảm bại trôi xuống từ hai ống quần úa bẩn; quần màu trắng để lâu vàng ố một cách tục tĩu… Những người lính mang đôi giày không vớ, giây không buộc, súng mang vai nặng nề đi xuống sườn đồi: Giờ làm cơm. Những người lính Nhảy dù, thiên thần nón đỏ trở thành sinh vật lạ lùng của một thời tiền sử một thời tiền sử xám.

    "Giờ này về lều chờ cơm tao chịu không nổi, lên nơi lăng Khải Định chơi". Thuấn đề nghị.

    "Lên đó cũng được, nhưng phải có thứ gì uống". Lạc nói.

    "Bắt buộc, tụi mày góp tiền vào đây… mỗi thằng hai trăm". Thuấn xòe tay, mấy ngón tay chuyển động trước mặt Lạc và Minh.

    Chiếc xe chạy lồng lên đường dốc, bụi tung đỏ chạch trong ráng nắng chiều. Lăng gồm ba khối vuông vắn chồng lên nhau xám đặc lặng lẽ, hai hàng voi ngựa, văn võ quan chống gươm đứng im lặng nhìn nhau trong bóng nắng cuối cùng của ngày. Ba người bước lên những bậc thang xám, bóng đổ dài.

    "Ngồi ở đây hay vào trong kia?" Lạc hỏi bâng quơ.

    "Lên trên kia, nơi có bức tượng ông Khải Định, chỗ ấy cao hơn có thể nhìn thấy con sông".

    Bia được uống trong im lặng, khối lượng nước màu vàng sóng sánh những tia nắng đỏ hiu hắt. "Lạnh". Có tiếng xuýt xoa nhỏ. "Gần Tết rồi không lạnh sao được, có thằng nào cho tao mượn hộp quẹt". Thuấn nói lãng đãng mắt không rời chiếc thuyền vừa hiện trên khói sông. Tiếng hò bất chợt vút lên đầu ngọn sóng. Sóng nhỏ li ti trôi dạt xua đuổi hai bờ lau..

    "Này Minh, sao người Huế mày hò buồn đến như thế?"

    "Buồn ở đâu, người Huế nào cũng hò như vậy, giã gạo, chèo thuyền, ru con, khi nào họ chẳng hò được, ông mới nghe lần đầu nên thấy lạ thế thôi".

    "Không phải vậy, toàn thể không khí điệu hò đều chất chứa u uất, như mày thấy đấy, anh chàng chèo thuyền dưới kia đang làm một công việc lao lực, thay vì nó hò để tăng thêm sức mạnh, đằng này nó hò như thở không nổi, chỉ một tiếng "à ơi" kéo dài qua bốn nhịp, trôi hết một quãng sông. Tao không nghĩ nó hò như người ở vùng biển kéo lưới, nhưng đây là thói quen thở than, nhu cầu muốn được bày tỏ nỗi u uẩn ngàn đời của khối linh hồn tan nát dưới biến cố hằng hằng điêu linh".

    "Thôi, luận như thế đủ rồi, thắc mắc thì xuống gọi nó lên mà hỏi".

    Như không để ý đến lời Minh, dựa người vào bức tượng, sau một hớp bia, Thuấn tiếp: "Tiếng hò buồn thật, tao nhớ cách đây hai buổi trưa, đang nằm trên võng thiu thiu ngủ nghe bà già ở gần nơi đóng quân hò ru thằng cháu, người tao cứ mềm đi. Chắc thằng cháu dưới sức tê ma quái của câu hò khóc không nổi, nó nằm im hết cựa quậy. Buổi trưa nắng hanh vàng, trời yên không gió, có con gà tre ở đâu lâu lâu cất tiếng gáy. Cảnh vật nhỏ bé nhưng buồn thảm lạ lùng, không khí đọng cứng lại… Tao cứ nghĩ về tiếng hò từ hôm ấy".

    "Hôm nào mày về nhà tao, nằm vào nôi, mẹ tao hò cho mày một lúc, chắc mày chạy đến mười năm không trở lại".

    Được hơi men trợ lực, Minh nhảy xuống ngựa tiếp tục:

    "Chúng mày đâu biết cái nhỏ nhặt của người Huế, như bà già tao, bà để ý soi mói từng lỗi nhỏ, không phải để cho tao hay cho bà nhưng vì người khác. Hôm tao hỏng tú tài, bà buồn phiền ra mặt, buồn vì con bé bên cạnh nhà tao đỗ bình thứ. Con xem đấy, nó là con gái mà lại đỗ cao. Cứ như thế bà làm tao phát điên luôn. Tao học như mê trong mấy tháng hè, thuộc bài không những chỉ nhớ đến nội dung nhưng thuộc lòng, nhớ như in từng trang sách, nơi nào có dấu mực lem, nét chữ ở chữ "khí métal" in đậm như thế nào. Mấy trang sách toán lý hóa đè hẳn lên mặt, trong đầu tưởng như không có não nhưng gồm những tờ giấy xếp ngay ngắn; não của những hàng chữ in xếp thứ tự, não của Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Văn Phú, não của giấy ba Tàu, chữ in từ Sài Gòn và Chợ Lớn trên đó chặn hòn đá khắc hình bà già".

    "Và kỳ thi đó mày đậu ưu?" Lạc nhìn hai con mắt to đen của Minh, hỏi nửa thành thực nữa giễu cợt.

    "Không, hỏng mới đau. Đến ngày thi tao đổ ốm thật lạ lùng, không nóng không lạnh, không một lý do chính yếu gì cả, đột nhiên tao ăn không được, ngủ không được, những ngày trước tao có thể ngủ ngồi ngủ đứng, ngủ trong hai phút nhưng mê man, tưởng như vừa qua cả đêm dài. Tao đổ ốm lạ lùng, bao nhiêu ý chí phục thù tự nhiên tan biến, chán nản buông xuôi, muốn bóc hẳn phần đầu để ném đi, muốn rửa sạch hết trí não, không còn đạo hàm, quỹ tích, lượng giác, chỉ còn một khoảng trống như ruột của quả chuông trong đó cứ kêu hoài những tiếng vang. Năm sau tao thi ban văn chương, đậu bình và đi lính luôn".

    "Sao vào trường mày học giỏi thế?" Thuấn hỏi, chai bia không rời môi.

    "Đó chỉ là để vuốt ve tự ái, tao đem cái vốn liếng toán lý hóa ra dùng lại như thằng cha đánh kiếm hết thời, sau thời gian đằng đẵng rèn được cây gươm vô ích, không lẽ đem đi bửa củi nên đêm khuya mang gươm ra múa an ủi mình. Buồn cười là có kẻ đã khen nó múa hay, cũng như tao được mang tiếng là người giỏi toán nhất của trường Võ Bị. Khỉ thật, hình như suốt đời tao phải cố gắng làm những việc mà lòng không muốn".

    "Ngay cả khi ra trường đi đơn vị tác chiến?"

    "Có thể, mày xem đấy, lúc lựa binh chủng tao đã có chỗ Quân cảnh nhưng đổi lấy Nhảy dù… Có thể vì muốn hơn tên Trung úy Công binh đến chơi với con nhỏ cạnh nhà. Buồn cười thật, Nhảy dù, quần áo hoa, chiếc mũ đỏ, nhưng rồi tao thấy thích hợp và hãnh diện với bộ đồ này lắm".

    "Sẽ kéo dài được bao lâu?"

    "Không biết".

    Lạc ngửa người trên sàn đá, cong hai đầu gối lại. Hai chiếc gối gầy gò móp vào ở phía bên trong. Gối lỏng, ba mươi sáu tuổi, mười tám năm lính, Trung úy nhiệm chức, thâm niên cấp bậc được tám tháng, mười hai ngày quyền đại đội 3 tiểu đoàn 19 Nhảy dù. Nhảy dù, cái áo saut có chiếc đai đằng sau, khi nhảy kéo tới đằng trước che hạ bộ. Dù 17 nhảy đau đến ngất ngư, ba ngày sau còn vết thâm trên lưng. Mười tám năm lính, bao nhiêu cà men cơm đã khuấy vào đó, chiếc thìa có lỗ thủng ở cán; lỗ thủng buộc vào nút áo, áo tác chiến hoa Nhảy dù Pháp có túi dài hai mươi phân hỗn độn thìa, bao thuốc lá Gaulois, chai rượu Rhum hình con gấu… Lieutenant tối ngày, oui suốt ngày, hai gót giày chạm vào nhau cứng nhắc, le petit caporal, caporal Vũ Văn Lạc. Trung úy nhiệm chức Vũ Văn Lạc cong hai chiếc gối lên, hai điểm tựa hoan lạc. Dọc theo chiều dài của nước Việt Nam đã tựa lên bao nhiêu chiếc chiếu, bao nhiêu tấm nệm, đã tựa trên đất, tì vào gốc cây. Hai đầu gối công dụng và mệt nhọc… Lạy xếp, xếp tha cho con. Ngày đổ bộ ở Phát Diệm, hàm răng đen rít lên than vãn, Sergent chef Vũ Văn Lạc với khẩu sten trên vai đong đưa nhắc nhở một sức mạnh, sức mạnh có trọng lượng chiều dài, sức mạnh được đếm bằng số đạn ở trong băng, khóa an toàn đã mở. Hai bàn tay kẹp lấy một thân sườn cứng ngắc… Hà hà, ngon lành, xếp thương. Người đàn bà nhà quê ngồi bẹp xuống, lưng quần bị xé rách một miếng nhưng chiếc quần chưa kịp rơi, cái hoa lạc thú mới nhú một túm lông đen kích thích. Sergent chef Vũ Văn Lạc nuốt nước bọt, viên đạn bắn lên trời. Bạo lực ho một tiếng dọa nạt. Người đàn bà nín lặng, cái hoa tam giác đen tươi lốm đốm. Sergent Lạc cười thích chí: "Tốt, thẳng hai chân ra, giang rộng chút nữa, tốt, ném khẩu súng sang bên cạnh, hai đầu gối quỳ xuống trên nền cỏ…" Bây giờ chiếc gối vô ích, mệt mỏi. Chiến tranh này không còn Phát Diệm, Thất Khê, Cao Bằng, không còn B.M.C. đổ gái xuống ở Isabelle dưới tiếng nổ của sơn pháo 75 ly không giựt, 82 ly Trung Cộng. Không còn cảnh chạy theo giao thông hào, đưa tay kéo cái đàn ông ra, dính một chút đất ở đầu, teo lại nhăn nhó… "ĐM quá sợ teo lại sao mày? Allez, sờ mấy cái coi mày". Năm ngón tay xanh xao lạnh buốt loang lổ những ngón màu hồng đưa ra nắm lấy phần thịt gân đen đúa hâm hấp… "Merde, foutu không ra cái gì sất, không xong rồi, nó ra hết bố rồi…" Vũ Văn Lạc thót bụng lại, phần sự sống chảy ra nhão nhoẹt. "Merde, merde không được gì hết, et alors?" Vũ Văn Lạc thọc bàn tay vào phần dưới chiếc bụng, nơi thịt da thâm đen. "ĐM như miếng giẻ rách". Thôi xong, cái đàn ông mềm oặt được đặt vào lại. Chạy ra khỏi căn hầm, tên Tabor nhào vô như ánh chớp. "Tout fini, mon sergent? Oui, ĐM vào đi còn ấm ớ…" Chiến tranh này chỉ còn những chiếc chiếu bình yên, những tấm đệm bẩn thỉu nhưng từ tốn. Tiếng động của chân giường khoái lạc vang dội tạo nên một xúc cảm trợ lực cho phần cơ thể thấm đẫm mồ hôi, hai chiếc gối lách cách trăn trở. Trung úy nhiệm chức Vũ Văn Lạc quỳ giữa một cái bụng nhăn nheo sau bốn lần sinh nở… Sau cái liếc xéo và câu nói rít giữa hai hàm răng : "Chán cái l… già này rồi hả?" Không. Vũ Văn Lạc cúi xuống hùng hục một cách miễn cưỡng … Bà Vũ Văn Lạc hay cô bán hàng xén ở Chợ Dầu kẹp hai đầu gối lại, nhắm đôi mắt. Mình, mình ơi… Chiều hôm nay một chiều cuối năm, hai đầu gối của Trung úy Vũ Văn Lạc lại nhô lên một cách vô tích sự giữa bầu trời xám đặc.

    "Nếu tôi được chỗ Quân cảnh là tôi đi gấp. Gắng làm đại đội trưởng thêm năm nữa, bắt cái Đại úy là tôi dọt. Có Đại úy chắc ăn ra ngoài không sợ ai ăn hiếp. Mụ vợ tôi than lúc này không đủ tiền chợ. Các ông thật là dại, từ trong trường có những chỗ thật tốt không đi, đi làm thứ gì Nhảy dù này, chỉ có được tiếng hão. Rồi các ông sẽ có gia đình, vợ con một đống, cả năm chỉ ở nhà không hơn một tháng, lúc ấy mới thấy cái tiếng kia vô ích".

    "Nhưng tụi này là sĩ quan nhà nghề, không lẽ đi lính để làm công chức nhà binh sao? Có nhiều nghề dẫn đến sự thành công, nhà binh có cái thành công đồng hạng của nó. Đi Nhảy dù như kiếm một cái ghế tốt trong rạp hát đồng hạng, thế thôi…" Minh cãi.

    "À, ông muốn lên lon nhanh, thuở xưa tôi cũng vậy nhưng lúc ấy nhà binh nó có cái giá của nó. Chiều thứ Bảy, tôi lúc ấy chỉ là Trung sĩ nhưng đã hách ra gì, áo quần kaki thẳng nếp, vớ trắng cao tới đầu gối, mũ đỏ, chiếc ga lông có hình mỏ neo, ông đội bước ra phố, đi Godart chẳng kém ai. ĐM bây giờ anh nhóc con 18 tuổi, chỉ sau 8 tháng quân trường xong cũng thành ông quan, sĩ quan hồi này xuống giá rồi, các ông đã đi kiếm công danh muộn".

    "À, như thế ông Lạc bảo mày với tao yếu giá rồi, Trung úy Nguyễn Khoa Minh cựu á khoa của khóa 18 trường Võ bị Quốc gia đã đấu vật với một cái bóng công danh muộn. Mày nghe chưa hở Minh, lính già nó nói thiêng lắm, 18 năm lính mòn gần năm mươi đôi giày, từ giày Tây qua giày Mỹ, cái gót chân "Bắc kỳ già" kia đã hiển thánh, đã được hun đúc bởi hai nền văn minh, đã thành tinh rồi huống gì đầu não. Lính già này nói đúng, và tao đang nuốt một thức ăn thừa". Thuấn vỗ vào gối để tăng cường độ khoái trá.

    "Tôi cũng như các ông chứ khác gì, hơn nữa tôi không còn trẻ để đổi nghề. Bả thuốc phiện nhà binh đã ngấm vào máu, bỏ không được nữa".

    "Thôi uống đi, nói quanh co hoài".

    Uống, hình như người lính nào cũng biết uống rượu. Không những biết mà thích thú. Rượu, thứ thuốc tê ngắn ngủi có phân lượng, hình khối, có thể nuốt vào người, để nảy nở những phản ứng sôi nổi hạn chế. Chỉ mất ít tiền, mua được niềm choáng váng nhân tạo, cử chỉ bồng bềnh. Rẻ quá, không uống cũng uổng đi. Lý Bạch say rượu mà chết, lính thì không có được cái quên lãng tiêu sái đó, nhưng cũng chẳng cần. Uống để có được phút giây đưa cánh tay, nghiêng chất lỏng vàng rực óng ánh như khối mặt trời chảy nước. Đổ từ chai vào ly, từ ly chảy vào miệng… Uống, động tác si mê tội nghiệp, cách hành lễ tưởng chừng tha thiết nhưng cuối đáy thấp thoáng chút bệ rạc lang thang.

    "Minh, lái xe xuống mua thêm mấy chai nữa. Còn tiền không?" Những bàn tay lùa vội trong túi, nắm giấy bạc nhàu nát được kéo ra, năm trăm, bảy trăm. Vừa rồi, mua thêm nửa két uống cho đã.

    Minh lái xe xuống phía xa, nơi lũy tre xanh có nhà cửa, sương lam bốc khói mịt mù.

    "Này Lạc".

    "Gì?"

    "Thuở xưa tao có đóng một vở kịch vui, kịch có ba vai chính, ba anh ngốc: trong buổi hội họp, một anh được cử đi mua rượu, hai anh ở nhà giả vờ chết, anh chàng đi mua rượu nửa đường uống trộm hóa say… Khi về, tưởng hai anh kia chết thật, nó làm nhiều điều thật buồn cười".

    "Ông muốn nói điều gì, nói rõ mẹ nó ra, đầu óc tôi đặc cứng chẳng hiểu được". Lạc lè nhè trong miệng.

    "Năm xưa diễn kịch tôi nghĩ một đời sống thật như thế không có, nhưng bây giờ mình diễn lại cảnh ba thằng như trong vở kịch. Tôi buồn cười tự hỏi: không biết mình có phải là thằng ngu không".

    "Ngu biết ngay, ngu không có thể nghĩ vớ vẩn, ngu có vẻ ù lì chắc chắn như cục gỗ mít, trông thì biết liền". Lạc cao giọng xác định.

    Hơi men giúp câu chuyện dễ dàng. Chuyện vô nghĩa níu kéo nhau theo nhịp độ liên tưởng, lãng đãng mù mờ như lớp men dậy lên theo lượng rượu căng phồng trong bao tử.

    Lạc bày trò chơi: Lấy vỏ chai đặt lên đầu tượng ngựa đá, người bắn trật phải uống một hơi hết chai bia. Những viên đạn bay xuống đồi rít tiếng lạnh hơn hơi sương… Minh nâng súng lên. Đầu con ngựa nháng lửa. À, con ngựa tóe lửa. Bắt con ngựa ô… "Ngựa ô tôi bắt, tôi bắt cái con ngựa". Minh lẩm bẩm hát, mắt nheo lại nhắm theo nòng súng, đỉnh đầu ruồi chao động, bàn tay run, bóng ngựa chập chờn. Ngựa phi đường xa thật mau.

    "Bắn đi mày, nhắm lâu quá vậy". Thuấn hét lớn.

    "Cột con ngựa lại cho tao!"

    "Con trai say rồi, bắn đi con ơi".

    Đoành, hai viên đạn bay vút. Mày bắn trật rồi, uống thêm một chai nữa.

    "Sao tao cứ bắn trật hoài, hay ông vua không bằng lòng vì tụi mình phá quấy".

    "Này Minh, ông Khải Định hình như bị chứng phong nên chết sớm?"

    "Phong gì, ông ta bị bệnh phong tình, mày không thấy Bảo Đại bị yếu mắt hay sao".

    "Làm vua mà đi chơi bời sao?"

    "Làm sao biết được, nhưng nhìn cái tượng thì ông ta chỉ khoảng thước rưỡi, người như thế chắc chơi không nổi. Dám "lúy" thủ dâm hay làm nhiều màn kinh khiếp lắm. Đoành. Lạc bắn viên đạn thật chính xác, chai bia vỡ tan. A, ngựa vua Khải Định được uống bia lính Nhảy dù. Lạc đặt một vỏ chai khác lên đầu ngựa. Đến lượt thằng Thuấn bắn. Thuấn đưa nòng súng lên. "Tao thấy con ngựa khóc".

    "Xạo, nước bia chảy xuống mắt nó đấy. Tao đố mày bắn trúng mắt con ngựa". Lạc thách.

    "Thôi, để cho nó yên thân, suốt đời đã mang ông vua đi chơi bời, đến khi chết đứng nhìn núi trọc, đủ buồn cho thân ngựa đá rồi…" Viên đạn đi trượt thấp xuống trúng vào một nơi nào đó của tượng đá. Thuấn bắn thêm hai viên nữa, trật. "Ê, đừng gian, mày phải uống liên tiếp hai chai". Thuấn nắm hai cổ chai ngồi vắt vẻo lên yên một tượng voi… "Cỡi voi ra trận miệng uống bia, chúng mày thấy tao thế nào?... Hà hà mấy anh tướng xưa sướng thấy mẹ, cứ ngồi yên trên ngựa hoặc voi rồi tà tà ra trận. Tụi mình bây giờ vẫn lội bộ. Như lính có khác gì. Nếu thuở xưa như tao là cử nhân võ đấy, nhị khoa cử nhân võ. Chúa ơi, tao không hiểu tao học thế nào đến hai khóa mới xong chương trình của trường Đà Lạt, cứ mỗi lần đi vào sân bắn ngang qua tấm bảng có mũi tên chỉ lối vào xa trường, nơi có mấy cây thông con, tao cứ tưởng như có lời chế nhạo. Minh, mày nhớ tấm bảng đó không?"

    "Nhớ quái gì tấm bảng ấy".

    Những phát nổ liên tiếp chung quanh mắt con ngựa, lớp vôi vỡ tung tóe.

    "Hay, lính già bắn hay thật". Thuấn và Minh cùng khen ngợi. Lạc không nói, bóp cò hết 6 viên đạn. Viên đạn chót bay đến chém vỡ chai bia.

    Có tiếng gọi ở máy truyền tin trên xe Jeep - Lạc đi đến – "Lệnh gọi tụi mình về họp". Lạc la lớn gọi Minh và Thuấn. Thuấn đưa súng lên trời bắn hết những viên đạn còn lại… "Tiên sư, làm tướng tá không được, cao bồi Mỹ không xong, thôi ta về làm lính". Bóng hai người đi về phía xe, nòng súng chùi xuống đất.


    2.

    Mười lăm chiếc trực thăng chia làm ba đợt hạ xuống trên nghĩa địa cát trắng. Đại đội của Minh xuống hết, những người lính chạy nặng nề trên cát lún hướng về phía bắc, đối diện với ngôi làng nằm khuất trong hàng dương liễu ở nơi xa. Đến cuối hàng rào nghĩa địa, Minh cho đại đội nằm xuống bố trí theo vòng đai hàng rào. Người chết cũng có hàng rào, tượng trưng bằng những cây cột gỗ, ba hàng kẽm gai hờ hững lệch lạc. Hàng rào nay chỉ còn dấu vết, chiếc cột đã đổ kéo theo đoạn kẽm gai nằm sâu dưới cát.

    Đơn vị xuống hết, đại đội Minh được lệnh dẫn đầu, lấy bờ biển làm chuẩn tiến về phía ngôi làng. Trời mùa đông miền Trung lạnh cóng, mây xuống thấp, xám ngắt. Gió thổi từng cơn như gom hơi lạnh để quạt vào mặt người. Minh kéo cao cổ áo, định hướng đi, nói qua máy truyền tin với Trung đội trưởng dẫn đầu: "Hướng 6000, hơi ép trái một chút, có gì thì dựa lưng vào biển đánh vào phía trái mục tiêu. Nhận rõ. Tốt, ông đi đi". Sản phẩm đẹp đẽ của thời đại chinh chiến – Sĩ quan hiện dịch trẻ tuổi – Bắt đầu xua quân chạy như bay qua bãi cát trắng trơ trọi. Chạy trên nghĩa địa, trên người chết, để tạo nên số người chết mới. Đoạt dăm khẩu súng Trung Cộng, để cắn vào một chút bánh vinh quang. Trung đội 1, 2, 3 cùng nhào vào một lượt. Thằng 4 (trung đội 4) cho ông già 60 nhổ vào bìa làng liên tiếp, rải đều đều, ngừng khi có lệnh. Các Trung đội trưởng nhận đủ. Minh hô lớn qua máy: "Xung phong. Xung phong… Xung phong…" Trên nền cát bóng người lính lụp xụp chạy, ba lô nặng đè lưng xuống, nón sắt cột không chặt úp xuống mặt, cọng rau cải lủng lẳng sau lưng, mũi súng hướng về trước. Trung sĩ vợ năm con, nhà ở trại gia binh trên tôn chung quanh vách ván mỏng. Mình nhớ mua hàng quân tiếp vụ gởi về cho tôi. Lá thư vừa nhận được: "Hụi một ngàn mà người ta bỏ đến 412 đồng vì tháng sắp Tết". Những lo âu có hình khối như sợi dây nón sắt đập liên tiếp vào gò má theo bước chạy, mặc, cứ chạy về đằng trước, lính Nhảy dù chỉ có tiến chứ không có lùi… "Xung phong". Chuẩn úy Trung đội trưởng dang hai tay rộng ngoắt từ sau ra trước: "Vào. Nhào…" Cục hột xoài dưới háng căng nhức đau đớn. Vô lậu bất thành nhơn mà Chuẩn úy! Chuẩn úy trẻ tuổi chịu chơi đi hành quân ở Huế không ngủ đò không được. Chuẩn úy 19 tuổi, đậu tú tài 1 khóa hai năm 1966. Đậu với tám điểm vớt. ĐM, thế thì làm sao đậu được tú tài hai. Xe Solex cọc cạch, chiếc đầu máy gật gù… Lính Nhảy dù đóng ở Sài Gòn, đi nhờ xe Jeep của Đại đội trưởng, chỉ tiếc nhà ở trong xóm xe bốn bánh không vào được. Chiếc Solex đã được bán lấy bốn ngàn lấy tiền nhậu… Nhậu, phải tập làm quen với hung bạo cằn cỗi này. Phải tập nói: Một giọt rượu là một giọt máu. Phải tập gật gù: Cắt cổ không bằng đổ rượu. Tuổi trẻ chịu chơi với con dao commando mua lại ở đám lính cũ, cột ở dưới chân. Hột xoài căng mủ trong háng. Thật đủ, nòng súng hướng về đằng trước. Xung phong. Trung úy Nguyễn Khoa Minh, Đại đội trưởng trẻ nhất của Tiểu đoàn 19 Nhảy dù rút súng colt cầm tay: "Thằng nào chạy lui tao bắn gãy giò. ĐM… vào". Chỉ vì thiếu chút chiều cao không thôi đỗ thủ khoa. Cây toán học của trường Võ bị, người giỏi toán nhất của các khóa bắt đầu từ ngày trường cải tên. Tay vô địch bóng bàn học sinh miền Trung. Con học làm sao mà thua con Lan con mợ Ấm ở dưới Gia Hội thì mạ buồn lắm. Khổ quá, Nguyễn Khoa Minh học bài suốt đêm, học ngậm sâm, uống thuốc bắc, học đến nỗi biết cách giải bài toán số 154 cuốn Le Bosset như thế nào! Nhưng, Nguyễn Khoa Minh đã hỏng một lần đã bị tình phụ, đi theo người yêu tốt nghiệp Đại học Sư phạm, người biết thắt cà vạt double, người biết nhảy cha cha cha, người dạy người tình của Minh những bước đầu tiên điệu mambo trong nhà bếp. Nguyễn Khoa Minh chỉ có đôi bata trắng, đứng lên nhận chiếc cờ hình tam giác trên có thêu hàng chữ: Vô địch bóng bàn học sinh niên khóa 1957 – 1958. Ông hiệu trưởng thấp bé có bằng MG đầu tiên ở miền Trung xưng "ta" với học trò. "Ta dạy các ngươi là một điều dại dột vì làm thầy thằng dại là ngu xuẩn!... Ta đánh tennis, service cú nào đáng cú đó, chỉ một cú rervert làm cercle ngất ngư…" Ông hiệu trưởng trao cái cờ, bắt tay hờ hững, chút giá lạnh khinh khi. Phải học giỏi. Nhưng Nguyễn Khoa Minh bị hỏng vì bệnh trong ngày thi, mất chân thủ khoa vì thiếu thước. Nguyễn Khoa Minh chỉ có cái cờ tam giác bằng vải sa tanh thêu chữ vàng lành lạnh trong bàn tay. "Vào… vào", đoành, viên đạn bắn bổng lên trời thật hào hùng. Minh mê man như khi vụt trái banh trong tiếng cổ võ hoan hô của hàng ngàn học sinh trường Quốc học. Anh Minh, người giỏi toán nhất ở Huế đó! Nguyễn Khoa Minh, niềm hãnh diện cao một thước sáu mươi mốt của lớp đệ nhất B1 trường trung học do cụ Ngô Đình Khả lập ra, người được đọc diễn văn trước Tổng thống Ngô Đình Diệm lúc mười giờ sáng ngày mùng Năm Tết năm 1960, và cũng chính Nguyễn Khoa Minh trong ngày 23 tháng 11 năm 1963 quỳ trên bãi cỏ xanh nắm tay đưa cao, thề trung thành với tổ quốc trước mặt lãnh tụ mới. Người đã ra lệnh bắn vỡ đầu Tổng thống Ngô Đình Diệm trước đó hai mươi hai ngày. Nguyễn Khoa Minh cảm động từng lời diễn văn, run run khi được Tổng thống bắt tay khen ngợi: "Con gắng học giỏi để làm rạng danh xứ sở". Người được Tổng thống bắt tay, trong đảo chánh lật đổ độc tài đã cầm đầu đại đội sinh viên sĩ quan chiếm đóng đài phát thanh Đà Lạt… "Vào, vào", thêm một viên đạn được bắn lên, tiếng pháo đuổi ma quỷ nặng trĩu trong lòng người. Những người lính cùng bắn về trước mặt, cong chiếc lưng đẩy mạnh đôi chân tiến vào làng. Trong làng, những bóng áo đen và nâu bắt đầu ngửng cao khỏi giao thông hào. Nòng súng thượng liên Trung Cộng, tiểu liên Tiệp Khắc, súng báng đỏ của Nga, những cây súng ngoại quốc bắt đầu nhắm chiếc vòng đen sâu hun hút vào đám lính mang giày Nhật nón sắt Mỹ, M16. Những ngón tay Việt Nam chờ đợi trái tim Việt Nam đến gần hơn chút nữa. Chờ nhau hân hoan âm ỉ, chờ thản nhiên lạnh cứng. Những ngón tay Việt Nam bắt đầu cong, hàm răng vàng úa xấu xí nghiến chặt lại, thớ thịt bạc nhược trên mặt căng cứng giựt giựt.

    Thịt sốt rét, thịt thương hàn, thịt được nuôi dưỡng bằng cơm rang nước ruốc, thịt trắng xanh vì ở lâu dưới hầm, áp sát vào đất, đè lên báng súng … Những ngón chân bấm sâu vào đất để viên đạn đi cho ngọt, những ngón chân thay vì gần nhau, bắt đầu tách rời, ngập cứng vào đất. Đôi mắt sát cứng vào lỗ chiếu môn, sát vào nữa để nhìn một lần cuối bóng dáng Việt Nam đang đi dần vào cái chết. Mở mắt cho rõ để nhìn thấy nhau một lần cuối cùng… Đôi mắt trong giao thông hào bắt gặp một hình ảnh: Hạ sĩ Nguyễn Thế Hùng, 21 tuổi. Hạ sĩ Hùng đeo một thánh giá bằng vải đen, thấm đẫm mồ hôi của ba năm lính. Hạ sĩ Hùng đọc kinh mỗi tối trước khi đi ngủ, đọc kinh trong hố phòng thủ, bên chuồng bò Bồng Sơn, đọc kinh trong địa đạo Khe Sanh, dưới hàng dừa An Phú Đông. Chúa Jêsu chuộc tội cứu thế. Cầu cho chúng tôi. Chúa Jêsu chuộc tội cứu thế. Cầu cho chúng tôi. Lạy Đức Mẹ Maria trọn đời đồng trinh. Cầu cho chúng tôi… Hạ sĩ Hùng bây giờ có đôi con mắt láo liên, mắt mở lớn. Chiếc nón sắt lại úp xuống mặt, Hùng dùng tay trái nâng lên, bìa làng màu đen kia rồi, im lìm lặng lẽ, hình như có đám chim bay lên ở phía cây bàng. Việt Cộng? Không có đủ thì giờ để nghĩ, không có tiếng động nào trong đầu não. Chỉ nghe bước chân chính mình vang trên cát, nón sắt nhảy lùng bùng trên đầu và một đôi mắt đen mở hết cỡ. "Người Việt Nam "nền" có con mắt thiệt đẹp Thượng sĩ hi!" Hạ sĩ Hùng đã nói với Thượng sĩ đại đội như thế. "Đẹp làm sao? "Hén" đen thùi lùi như hột nhãn trong khi thằng Mỹ xanh như mắt mèo…" Con mắt người Việt Nam đẹp thật. Mắt Hạ sĩ Hùng đẹp, mắt của buổi sáng đứng ở bờ Quảng Bình nhìn mặt trời lên từng đường ánh sáng, mắt nhìn biển sáng như lân tinh dưới ánh trăng, mắt nhìn nến ở nhà thờ, mắt nhìn rừng xanh từ ngày di cư vào Long Khánh. Mắt Hạ sĩ Hùng đen thăm thẳm, vô tội ngọt ngào. Trong giao thông hào đôi mắt Việt Nam trên báng súng AK Tiệp Khắc căng lên lần chót vì nhắm quá lâu, những sợi gân ửng đỏ, mắt ứ đầy nước, chỉ đợi cái chớp sẽ chảy xuống ngón tay Việt Nam cong lại trên chiếc cò súng cong vòng tiện lợi cho động tác khép vào. Những viên đạn vàng rực từ băng đạn cong bắn ra từng ba nhịp một chính xác. Mắt Việt Nam ở giao thông hào khép lại nghỉ ngơi, quả tim thở hơi dài dễ chịu sau lần chờ đợi cứng ngắc. Ngoài đồng cát mắt của Hạ sĩ Hùng, mắt Việt Nam đẹp đẽ chợt thấy lóe lên ánh lửa, xong lửa tắt ngúm còn lại tảng tối mênh mông như mặt biển khi trăng lặn vào mây đen. Quả tim Việt Nam vừa ngừng đập.

    Minh ngừng thở trong khoảnh khắc. Đạn đi đầy trong bầu trời, những tiếng rít xé gió kinh khiếp sát vào cạnh mang tai. Nhưng chỉ một khoảnh khắc, Minh tiếp tục vẫy mạnh người lao về đằng trước. Bìa làng, lũy tre kín mít đầy hết tầm mắt. Minh đưa ống liên hợp vào miệng: "Xung phong". Tiếng hét vượt ra khỏi sức chuyền của máy truyền tin vang rộng trên bề mặt cát. Có sợi dây nào giữ chân Minh lại, gã binh nhất mang máy truyền tin ngã nhào xuống, viên đạn xuyên qua lớp da thịt trần trụi tiếp tục phá chiếc máy một lỗ lớn. Hai thứ kim khí chạm nhau không thành tiếng động vì được lót lớp thịt người. Gã mang máy ngã co quắp trên cát, sợi dây cao su từ chiếc máy đến ống liên hợp trên tay Minh căng thẳng. Minh bị kéo giựt trở lại, gã mang máy làm những động tác cuối cùng, hai tay co để trút bỏ sợi dây mang chiếc máy, người lính muốn bỏ gánh nặng trước khi chết. Chiếc lưng ưỡn cong, hai bàn tay duỗi khép chặt sau lưng, chân chống trên mặt đất, cong người hơn chút nữa, chiếc đai máy rời khỏi vai trôi xuống, hai chân chống cao hơn chút nữa… Một loạt đạn khác bay đến, những lỗ đạn tốt tươi tênh hênh trên thân áo ngụy trang. Minh nghe được tiếng động của viên đạn đi qua thân thể người lính. Minh ném chiếc ống liên hợp xuống đất, trước mắt chỉ còn lũy tre xanh nháng lửa.

    "Đổi tần số nội bộ". Minh hét thật to với gã mang máy truyền tin thứ hai (máy liên lạc giữa đại đội và tiểu đoàn). Bằng bất cứ giá nào các ông cũng phải vào tất cả, tôi ở trong này với thằng Hai rồi (Trung đội 2).

    Có tiếng thét của Trung đội trưởng Trung đội 1 và 3 ở máy: "Nhưng tôi bị kẹt quá vào không được… Tôi bị hai khẩu Thượng liên nó kềm nát bấy".

    "Được, tôi sẽ cho hai thằng phá nó".

    Trung đội 2 chiếm được một đoạn giao thông hào, tiếp tục đánh ép qua trái nơi có tiếng Thượng liên nổ liên tục. Việt Cộng bỏ giao thông hào chạy ép về phải, phía toàn bộ chủ lực của Tiểu đoàn Nhảy dù đang đánh vào.

    Năm gã áo đen rải dài theo chiếc hầm, hai AK, hai B40 và một Thượng liên. Toán đao phủ lý tưởng với vũ khí đầy đủ của trò chơi kỳ lạ. Gã bắn Thượng liên ném cái mũ có ngôi sao vàng qua bên cạnh, hai chiếc chân ngập sâu trong bùn, gã không cần rút ra, đầu cúi gầm xuống trên báng súng, hai bàn tay di động thoăn thoắt, bàn tay trái nâng băng đạn, bàn tay phải bóp cò. Gã đã từng làm việc này thật quen thuộc từ một quận lỵ ở Quảng Bình. Đồng chí Lê Hoạt thợ may bảy tuổi đảng tính đến nay, năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, người anh hùng lao động của hợp tác xã cắt may Sao Vàng, đã sản xuất bằng tay mười tám chiếc áo trong vòng hai mươi tiếng đồng hồ… Đồng chí Lê Hoạt đã ngồi trên sập gỗ, đầu ở giữa hai đầu gối, lưng còng xuống ngồi bất động để hai cánh tay thoăn thoắt di động trên xấp vải tấm dệt từ Nam Định, tay trái Hoạt đè xuống cho thẳng tấm vải, tay phải ấn chiếc kéo, xong hai bàn tay thoăn thoắt luồn cây kim vào thân vải khô cứng. Lê Hoạt người anh hùng lao động trong dịp lễ thi đua sản xuất mừng sinh nhật bác Hồ của mùa hè năm một ngàn chín trăm sáu mươi rất muốn yên phận với niềm hãnh diện rạo rực, lần say độc nhất của ba mươi sáu năm làm người khi được Ban quản trị Hợp tác xã cắt may gọi đến vào buổi sáng 19 tháng 5 năm 1967 để nhận tờ giấy khen trên có hình Hồ chủ tịch với hàm râu dài, nhưng Hoạt bị kéo ra khỏi niềm vui bình yên, bị kéo ra khỏi chiếc sập gỗ, bị dúi vào tay khẩu súng AK thay vì chiếc kéo. Lê Hoạt phải luồn đạn vào trong những chiếc băng hình cong thay vì luồn chỉ vào kim. Lê Hoạt phải tập chống xe bọc sắt, được học tập những điều xa lạ và hung bạo. Bắn máy bay lên thẳng của Mỹ, tập đặt plastic, làm nổ cầu… Lê Hoạt phải nhồi vào óc, phải tin những điều kỳ quái: Máy bay lên thẳng của Mỹ chỉ có mỗi bộ máy, không có khung, chỉ cần bắn một viên đạn cũng đủ rơi. Hoặc phải học và tin như thế, mặc dù chiếc máy may Singer Hoạt mua sau ngày đình chiến được sơn lại bằng tay vẫn được Hợp tác xã mua lại và cạo sửa để ngụy tạo dưới một nhãn hiệu khác: Máy Tiến Hóa do nhà sản xuất Thăng Long làm nên. Hoạt biết sự ngụy tạo nhưng phải tin giặc Mỹ Ngụy hết sức kiệt lực không làm nổi chiếc máy bay lên thẳng toàn vẹn. Hoạt cũng biết rằng máy bay Mỹ đã làm lở một phần đèo Mụ Già, núi đã biến hình dưới cơn tàn phá của bom Mỹ. Nhưng giặc Mỹ Ngụy sắp thua, Hoạt bắt buộc phải tin như thế và giã từ tiếng hoan hô của Hợp tác xã cắt may, tấm giấy khen được bọc trong túi ni lông đeo trước ngực, vượt sông Bến Hải vào Nam trong tháng Mười một giữa đêm khuya lạnh cóng.

    Lê Hoạt được biết mình đang ở trên phần đất quận Phong Điền giáp ranh Quảng Trị, Thừa Thiên. Hoạt không thấy hai thành phố và quận lỵ mặc dù trước khi xâm nhập đã được đồng chí Ủy viên chính trị Trung đoàn cổ động: "Các đồng chí là những người hạnh phúc nhất trong tập thể quân đội nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các đồng chí sẽ là những người lính đầu tiên của Bác và Đảng bước chân đến thành phố Quảng Trị nơi quân miền Nam đã hoàn toàn làm chủ sau khi đánh đuổi hết quân đội Mỹ Ngụy về phía Nam đèo Hải Vân". Hoạt đã nghe như thế nên lấy làm lạ tại sao phải vượt sông Bến Hải trong đêm, tiếp theo màn chạy bộ đến đứt đôi người từ cửa Tùng vào đến cửa Việt, chạy trong đêm người này nắm vào lưng người kia đi như ma đuổi, nín thở, cấm nói, cấm đốt lửa và khi năm giờ sáng đến một con sông tất cả phải đào hố ngụy trang nằm bẹp dí trong suốt một ngày. Nằm một ngày để nghe trên dòng sôngg từ khi trời sáng cho đến buổi chiều vàng, vang động tiếng tàu chạy, đồng thời có những tiếng nói xa lạ, không phải tiếng Việt, vang lên ầm ĩ cùng tiếng cười huyên náo loáng thoáng. Chen lẫn trong cơn bão cười xôn xao nóng nảy đó, những tiếng thét rờn rợn đẫm ướt kích thích, tiếng của con mái khoái trá khi được chạm vào chỗ kín. Hoạt nằm nghe những tiếng cười mất dạy đó trong những giờ đầu tiên ở miền Nam. Tiểu đoàn I Trung đoàn E 812 quân đội Nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tiếng cười nô nức nhầy nhụa tình dục của đám con gái miền Nam cùng giống đực Mỹ quốc chào đón trong bước đầu giải phóng. Đêm xuống, Tiểu đoàn Quyết Thắng sau một ngày nghe tiếng động tình ái, tiếp tục bước đường giải phóng về hướng Nam. Cuộc di tản kéo dài đến làng Phú Trung quận Phong Điền, Lê Hoạt không thấy được gì thêm của miền Nam ngoài tiếng động kích thích thú vị trên mặt sông Ô Lâu ngày hôm trước…

    Đóng tại làng Phú Trung được một tháng, Lê Hoạt và đồng đội chỉ có mỗi hai việc: tu sửa hầm hố và thực tập tấn công trên sa bàn một thành phố vuông vắn như ô cờ. Thành phố nào và ở đó có gì để phải tấn công vào? Quảng Trị và Thừa Thiên không nghe nói đến nữa. Cuộc giải phóng thành phố trên sa bàn chưa tới thì hôm nay, Tiểu đoàn 1 chạm với Tiểu đoàn 19 Nhảy dù Ngụy. Đã lâu nay, Lê Hoạt nôn nóng vô cùng vì những người dân của làng Phú Trung lần lượt đi về phía Tây, hướng quốc lộ, làng chỉ còn lại vài người già và ít phụ nữ cằn cỗi cùng lũ trẻ èo uột lây lất. Những hình ảnh đoàn văn công miền Nam có những thiếu nữ đội mũ rộng vành màu xanh ca vọng cổ đàn tây ban cầm sao không thấy, Lê Hoạt chỉ cảm thấy chung quanh thứ không khí nặng nề như những hôm trời oi bức báo cơn bão lũ chuồn chuồn bay trong ráng vàng bệnh hoạn chói đỏ góc trời. Bộ chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh gài mìn chung quanh làng để ngăn cấm dân chúng bỏ đi, nhưng ban ngày khi đơn vị rút xuống hầm trú ẩn, Lê Hoạt thỉnh thoảng nghe tiếng mìn nổ. Một người dân làng nào đó trốn ra khỏi làng và đạp phải. Tối hôm đó có đám táng. Người chết được kéo về, bó chiếc chiếu, chôn vội trong đêm. "Các đồng chí noi gương đó, ai muốn sống thì phải ở lại đây với quân đội nhân dân". Ông mếu máo: "Đồng chí ơi là đồng chí ơi, có muốn băm vằm gì tui thì làm, xong rồi xin các đồng chí kéo nhau đi chỗ khác đánh nhau, dân chúng cực lắm rồi đồng chí cán bộ ơi…". Nhưng quân đội nhân dân vẫn ở lại nên sáng nay trận đánh diễn ra. Ngay khi chiếc phản lực vừa trên cao rít xuống, Lê Hoạt đã nhảy xuống hầm, hầm đào sâu dưới rễ một lùm tre kiên cố, lớp đất dầy thước rưỡi, đám rễ tre chắc chắn nhưng Lê Hoạt vẫn có cảm giác thân thể như vừa bị ép giữa một khối vô hình và tường đất lạnh cóng. Dưới hai thước đất và rễ cây Hoạt nghe được chấn động kinh khiếp thoạt tiên văng vẳng từ thinh không phút chốc biến đổi thành cơn giông bão sắc nhọn xuyên hẳn qua màng tai. Máy bay đi để lại đám cháy, lẫn trong tiếng nổ lép bép của thân cây tươi, cỏ lá cháy sém, có âm thanh khắc khoải tuyệt vọng của lũ vật lồng lộn trong chuồng bị lửa vây. Lê Hoạt còn nghe được tiếng khóc đứt khúc từ những cổ họng già nua. Sau trận giông bão nhân tạo, Hoạt tưởng mình như đã chết xuống địa ngục, vì thoảng đâu đây từ trên mặt đất la đà mùi nồng tổng hợp của thịt xương, cây cỏ sau khi đã bị đốt vàng cháy biến thành lớp tro tàn ươn ướt mùi chết chóc. Nửa giờ sau trận bom, qua lỗ hổng dưới lùm tre, Hoạt thấy từ ngoài đồng trống thấp thoáng những bóng đen. Bóng đen di động chậm chạp ở nơi xa và khi tiến gần như lũ ma ám, họ la lớn và bắt đầu chạy vào. Tim của Lê Hoạt đập hay bước chân người lính Ngụy, Hoạt hoa mắt vì trước mắt không phải một hình ảnh Mỹ quốc tàn bạo và đáng ghét như lời tuyên truyền, trước mắt Lê Hoạt chỉ có những người Việt Nam, có thể gầy hơn Hoạt, vác nặng hơn Hoạt, nhịp chạy làm ba lô trên lưng họ xê dịch qua lại, hai ống chân mỏng manh tìm kiếm vất vả như chân con bò chạy vòng tròn quanh chiếc cột sau nhát búa giữa đỉnh đầu… Tiếng súng nổ bên phải, khẩu B40 bên trái bắn liên tiếp hai quả… Người lính khựng lại, hắn ngã xuống, ba lô nằm nhú lên trên nền cát, ba lô có con vịt, con vật thò đầu ra khỏi lỗ thủng kêu ngu ngơ trăn trối. Cái mỏ đen của con vật hiện rõ trên nền trời, con vật xoay đầu bên trái, bên phải nhưng thân hình bị cột cứng trong lòng ba lô, cuối cùng cố gắng, một cái cánh được nhú lên. Chiếc cánh cụt ngủn tha thiết quẫy mạnh trên bầu trời đỏ lửa. Hoạt bấm cò khẩu Thượng liên, đạn ghim vào cát ướt, đạn ghim vào ba lô, ghim vào thân thể người lính đã chết, ghim vào con vật nhỏ bé đang giẫy giụa cố rút chiếc cánh còn lại. Hai cánh vịt làm sao chịu đựng được sức công phá đỏ au nhức buốt của hàng chục viên đạn. Người lính và con vật chết thật xứng đáng, chẳng nên ngậm ngùi. Lê Hoạt bấm cò liên tiếp vào những bóng người xuất hiện qua lỗ hổng căn hầm. Tiếng nổ và hơi thuốc súng đốt cháy trí não, Hoạt không nhìn thấy mặt những người bị nhắm vào, Hoạt bắn vào những bóng đen trên nền cát.

    "Đấy, cây Thượng liên ở dưới gốc tre, mày bò lại tìm miệng hầm, ném lựu đạn xuống không cần bắt sống. Trung đội bị kẹt chỉ vì thằng con c… này". Gã khinh binh theo lời Minh bò lại chỗ bụi tre. Đúng thật, ông Trung úy nói thật đúng. Gã khinh binh nhủ thầm. Trước mắt nó một đường hầm sâu xuống đen thẳm. Gã rút chốt lựu đạn, thả trái phá tiếp tục lăn cọc cạch trong bóng tối và một tiếng nổ bùng rung chuyển mặt đất…

    Lê Hoạt úp mặt vào lỗ hổng nhìn ra xa, biển ở sau vùng cát trắng, biển xám đặc bọt trắng. Chưa bao giờ Hoạt nhìn biển lâu như thế, không phải không có dịp, nhưng trong trí óc khản đặc của anh thợ may, biển chỉ là lớp nước xanh xôn xao mặn chát không ích lợi. Sáng hôm nay Lê Hoạt phải ngồi đối diện với biển, chợt khám phá ra vẻ quen thuộc đã bao nhiêu lâu gần kề. Hoạt thấy mình như sống lại trong khung cảnh bình yên của quê nhà. Hoạt nghe tiếng sóng rì rào, nghe gió lọt qua rặng phi lao gây âm thanh dịu dàng, âm thanh của ngày mới lớn. Thời gian đã qua thật lâu tưởng như không bao giờ nhớ lại được… Nhưng sáng nay trong phút giây căng thẳng, đầy tiếng động, những người chết nằm trên cồn cát, những người bị thương trăn trở, lượng máu đỏ thấm sâu qua cát từ những vết thương do viên đạn của Hoạt gây nên, Hoạt nhìn thấy biển, cùng với cái cảm giác lạ lùng khi chợt khám phá thêm khả năng giết người của mình, Hoạt sợ hãi thảng thốt khả năng ma quái cay độc này. Hình ảnh vinh quang khi bước chân vào thành phố Huế nhạt nhòa như lỗ kim nhỏ chợt mờ mịt sau cái chớp mắt đầy mệt mỏi.

    Lính Ngụy đã bò ra xa tầm đạn. Họ đánh vào phía trái hay phải, Hoạt không biết, người liên lạc chưa nhận được lệnh mới. Những biến chuyển về trận đánh ngoài căn hầm, Hoạt không theo dõi được, trước mặt chỉ có lớp sóng biển thay đổi hoài hoài, bọt trắng ùn ùn kéo ra xa…

    Trong im lặng, Hoạt nghe tiếng động sau lưng. "Cái gì đấy?" Không trả lời. Tiếng động khô khan của vật tròn lăn trên nền đất. Trí não Hoạt bỗng giãn ra. Ngọn đèn được kéo bấc lên hết cỡ. Trong sáng suốt đau nhói Hoạt nghĩ đến hai chữ "lựu đạn". Cùng lúc với ý nghĩ, tiếng nổ bùng lên. Luồng ánh sáng chớp lòe, Hoạt thấy được tám đôi mắt khiếp đảm của bốn tổ viên, tám đôi mắt bốc lửa khi tiếng thét chưa kịp mở. Ánh chớp tắt, Hoạt ngã xuống, hai bàn tay vừa kịp ôm lấy ngực nơi có tấm giấy khen của Hợp tác xã may cắt Sao Vàng in hình Hồ chủ tịch.

    Xác Lê Hoạt cùng bốn tổ viên được kéo lên khỏi hầm. Sau tiếng nổ chói chang, Hoạt biết mình ngã xuống và ngất đi, nhưng khi bị kéo ngược ra khỏi hầm, Hoạt tỉnh hẳn, tỉnh táo để biết mình bị thương nặng, máu từ thân thể chảy ra, không phải từng giọt mà từng dòngg, từng khối, Hoạt cảm thấy rõ rệt có bàn tay bóp lấy hơi thở và cơn tức dâng cao, cao từng bậc có chiều dài, chiều sâu đè Hoạt lún lần xuống. Hoạt biết mình nằm trên cỏ ướt, mặt trời chiếu sáng lên mặt, chung quanh người nói lao xao, những giọng nói Việt Nam, Bắc, Trung, có giọng nói thanh hơn giọng Quảng, chắc là người Sài Gòn. Tất cả người ở miền Nam đều được gọi là Sài Gòn, người của miền đất phì nhiêu, nơi cá đầy đồng, chỉ cần mang chiếc rổ xuống ngồi ở bờ ao cũng đủ thức ăn cho một ngày. Những người Sài Gòn sung sướng là đây. Hoạt muốn mở mắt ra nhìn nhưng nắng chói quá, chỉ còn chút sức lực đủ để lắng tai nghe. "Lục túi mấy thằng cha này coi". Có bàn tay luồn vào ngực áo, hình như Hoạt bị thương ở đấy vì khi bàn tay chạm phải, Hoạt cảm thấy trong thớ thịt những mảnh kim loại nóng hổi, sắc nhọn xao động.

    Minh nhìn vào xác người thợ may, gã đàn ông chỉ còn hơi thở tàn tạ, mảnh lựu đạn xuyên lỗ chỗ trên thân thể, phần áo ở lưng rách nát máu sẫm đỏ bê bết đất cát, chiếc quần cộc mở tênh hênh bày ra cái vật người đen đúa nhão nhoẹt. Gã nhà quê này là kẻ thù của mình? Gã đàn ông đang thiêm thiếp trong cơn hấp hối, khuôn mặt nặng nề khờ khạo, tóc đen khô cứng chổng ngược rối tung bày ra một vầng trán ngắn hai nếp sâu hằn xuống vụng về. Bác thợ may Lê Hoạt ba mươi tám tuổi, người Quảng Bình này là nguyên nhân chính đã bẻ gãy mũi dùi thế công của Nguyễn Khoa Minh? Minh nhớ đến người làm vườn ở nhà, cũng cỡ người và khuôn mặt này, loại người chỉ biết mài con dao thật sắc để chọc tiết heo dễ dàng trong buổi chiều hai mươi chín Tết, những người gọi mẹ Minh bằng bà Phán và gọi Minh bằng cậu, khả năng chỉ có thể phân biệt cây gạo hay cây mù u, hay tinh xảo hơn biết thêu đôi bướm bay trước hai chữ "Hạnh phúc" trên mặt gối bằng những sợi màu sắc xanh đỏ ngây ngô. Mặt gối này sẽ được bán trong một phiên chợ thôn quê đổi lấy tiền mua cặp kính nhựa màu nâu… Những loại người này là kẻ thù của Minh? Những người như bác thợ may này là vật cản lối trên con đường công danh, đã làm Minh lạnh cóng tay trong nửa giờ trước đây?

    "Trung úy. Gã mang máy truyền tin đến gần Minh. Ở trên Tiểu đoàn bảo mình báo cáo tổn thất, em nghe Đại đội 3 lấy được súng cối mà chỉ có hai chết… Trung đội mình bị nặng quá, ông Chuẩn úy bị nặng chắc không sống nổi…"

    "Tao biết, mất năm con với một Trung đội trưởng, không khá chút nào hết. Minh cầm máy liên lạc với Tiểu đoàn trưởng: "Thiên sơn đây Minh mạng [1] ".

    "Minh mạng đợi tôi một chút, tôi đang nói chuyện với thằng Ba (Đại đội 3)". Minh nghe qua máy giọng nói hân hoan của Tiểu đoàn trưởng: "Lạc long [2] đấy hả, tốt, toa số dách, toa đánh như vậy tụi nó chỉ mang cụ Hồ về Bắc thôi. Ông Đại bàng lát nữa sẽ xuống ở chỗ toa". Lạc trả lời lại với giọng cười mở đầu. Tiếng nói của Trung úy Vũ Văn Lạc, Đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 19 Nhảy dù nghe hân hoan phấn khởi khác với giọng nói khề khà mệt nhọc của một Vũ Văn Lạc ba mươi sáu tuổi, vợ năm con. Lạc hay gọi dễ dàng quen thuộc hơn, Cai Lạc cựu Commando hổ xám của những năm 50, vừa nhận được thơ của vợ nhắc nhở chuyện xin đổi qua ngành không tác chiến, thơ cũng nhắc nhở đến việc mua hàng quân tiếp vụ nhiều hơn cổ phần sẵn có… Nhưng tất cả đã thuộc về quá khứ, bây giờ chỉ có giọng nói chững chạc của Trung úy Vũ Văn Lạc trong máy: "Trình Đích thân…" Minh nhủ thầm: "Lính già ăn nói có kiểu cách riêng của nó, ở ngay chốn đánh nhau tơi bời nó vẫn không quên thưa gởi".

    "Trình đích thân [3] tôi đã có làm Trung đội trưởng cho ông Đại bàng trong suốt năm 1960". Minh cười thầm vì chữ "suốt". Giọng Lạc tiếp tục vững chắc hân hoan: "Trình Đích thân, nói tên tôi với ông ấy thì ông biết ngay". Lính già tự tin đúng chỗ và đúng lúc, chẳng ai chê trách được. Minh gật gù đầu nhận xét từng câu đối thoại của Lạc với Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn trưởng oang oang trả lời: "Ô kê, moa sẽ nói tên toa cho ông ấy hay trước. Đồng thời nói trước toa mừng, gì moa cũng kiếm cho toa cái thực thụ, đồng ý?"

    "Vâng, cám ơn Đích thân trước, kính Đích thân, dứt".

    Cuộc nói chuyện chấm dứt. Minh nghe trong đầu vẫn còn vang động âm thanh sáng khoái chắc nịch của Lạc.

    "Minh mạng đây Thiên sơn". Tiểu đoàn trưởng xoay qua nói chuyện với Minh.

    "Dạ, tôi nghe".

    Toa coi lại thằng 1 (Trung đội 1) của toa đi, nó bết quá… Toa xui rồi. Sao chẳng lựa thằng khác, lại cho thằng Ánh vào ngay chính diện".

    "Vâng, tôi nghe rõ". Minh bỏ máy xuống, Minh chẳng rõ được điều gì. Chính diện, diện nào chính yếu sau lũy tre xanh dày đặc lúc súng chưa nổ, làm sao Minh biết Chuẩn úy Ánh sáng nay nổi hạch hột xoài nên không thể điều động nhanh nhẹn Trung đội được. Làm sao Minh biết được tên chỉ huy tổ Thượng liên chỉ là một gã thợ may ba mươi tám tuổi có bằng khen thưởng vì đã sử dụng kéo nhanh, sử dụng kim tốt đã đạt được ưu điểm sản xuất do Hợp tác xã cắt may Sao Vàng đề xướng, gã thợ may ngu ngốc ngớ ngẩn không biết rút lui khi Tiểu đoàn đã bị đánh tan nát ở cánh phải. Chắc chắn đây là trận đầu tiên và cũng là cuối cùng của bác thợ may Lê Hoạt ở một chốn xa xăm với quê hương Quảng Bình không bao giờ trở lại. "Trung úy, thằng Việt Cộng cứ hấp hối hoài chắc nó đau lắm, em thấy mặt nó nhăn tréo". "Ừ, một viên để nó đi cho ngon, đỡ đau đớn". "Dạ". Súng nổ. Bác thợ may Lê Hoạt giẫy người lên lần chót. "Trung úy, ông Chuẩn úy Ánh chết khi lên trực thăng". Minh nhìn khẩu Thượng liên bị gãy báng bên cạnh thây gã thợ may, khẩu súng đã đưa đến cái chết của hai người. Một gã trẻ tuổi Chuẩn úy mắc bệnh hột xoài và gã thợ may ba mươi tám tuổi.

    Thuấn đi hết khu vực phòng thủ của Đại đội, trở về chỗ đóng quân của ban chỉ huy. "Có gì ăn tối nay không Thiên?" "Có gà và chai rượu. Gà bắt được, dân chúng chạy đâu hết trơn, rượu ông Trung sĩ tiền trạm gởi theo chuyến tải thương hồi chiều vào". "Gà của dân mày ơi, ăn sao vô". "Không có, gà chạy hoang, mình không bắt đứa khác cũng bắt, đụng mà Đại úy, tụi Việt Cộng đóng đây cũng cỡ một Tiểu đoàn". "Mày lúc này giỏi rồi, biết ước đoán địch tình và bắt gà nhanh như chớp, mày là lính cũ rồi Thiên hử?" "Dạ". Lính cũ, một thứ vũ khí đã dậy men máu, vũ khí im lìm sắc nước, dễ sử dụng. Lính cũ, như khẩu súng đã được điều chỉnh, thoa dầu vào đủ các trục hay ressort, sẵn sàng bắn ra viên đạn đến mục tiêu không sai trật. Binh nhất Thiên của hai năm trước thì khác, hai năm trước chỉ biết khóc trong buổi tối vì nhớ nhà, khóc vì thấy đồng bạn chết thê thảm đột ngột, khóc khi thấy người dân bị lùa lên trực thăng khi về quận xét lại thành phần. Thành phần của người dân trong thời chiến được định nghĩa: Thành phần giết được người hay bị người giết. Nhưng Hồ Thiên của sau hai năm lính thì đã khác, biết ước tính tình hình đơn vị địch, biết lý luận: "Làng có Việt cộng, dân bỏ đi, có quyền hưởng thụ những vật còn lại". Sau hai năm để biết rằng: "Nếu không ăn thịt gà, chốc nữa biết đâu trở nên con ma thèm khát, bó tấm poncho bằng hai đoạn băng trắng". Thiên, lính cũ, tức là người lính đã biết mình sắp sửa để chết và bao tử làm việc nhiều hơn quả tim hay trí não. Người lính cũ nào cũng thế.

    "Mày qua mời Trung úy Minh qua đây".

    "Dạ".

    Bữa rượu diễn ra dưới ánh đèn mù mịt trong căn nhà lạnh tanh, bàn thờ Phật yên lặng. Có lẽ Phật đang trầm tư về cảnh khổ hiện thực đầy dẫy tính cách vô lý đang diễn ra. Có định mệnh kỳ quái nào để kết hợp một anh sĩ quan hai mươi lăm tuổi, anh thợ may ba mươi tám, gã phi công Mỹ trên trời cao, ông chủ nhà bảy mươi hai tuổi chưa hề thấy cục nước đá. Định mệnh nào đã kết hợp những con người xa lại kỳ quái đó với trái bom sản xuất ở Philadelphia, đôi giầy được phát ở Fort Benning ấn trên cầu thả bom trong giây phút ngắn ngủi bọt bèo lúc ban chiều để tạo thành một loại khổ không căn nguyên, vô luân hồi. Khổ không khởi đầu, không chu kỳ chấm dứt. Phật trầm tư vì hai nghìn rưởi năm cách biệt và Ấn Độ quá xa lạ, Phật cũng đâu tiên đoán được quả bom sẽ xuất hiện như dấu tích văn minh khốn nạn cho con người, Phật cũng nên ngạc nhiên vì ông lão chủ căn nhà, căn nhà cháy hết một nửa ở mé bên trái, ngồi ở phía phải nhìn lên thấy bầu trời xanh đen lấm chấm những ngôi sao, tay nâng ly rượu của Thuấn.

    "Cha, cái rượu chi hắn ngon lạ ngon lùng, cả đời "ôn" chưa khi mô uống được "en" ơi, buồn chi mà buồn, trái bom hắn như ông thiên lôi rớt xuống cái rầm, "ôn" với hai thằng cháu đang lớ quớ chưa xuống hầm mà khôn can chi hết. Thôi lạy Phật mớ bái, khôn can chi cả là mờn [4] rồi".

    Phật phải ngạc nhiên vì được cảm tạ, phải ngạc nhiên vì giọng ông lão tỉnh táo đến ngang ngược. Đức vô úy lạc quan nào trong thân thể gầy gò chỉ còn một lớp da nhăn khô bao lấy bộ xương chỏng chơ. Thuấn cũng ngạc nhiên. "Ông già uống với cháu thêm ly nữa".

    "Đa tạ, đa tạ, ôn Đại úy mời thì tôi xin phép, chà hôm nào hai thằng cháu lớn tui cũng cho tui "hén" đi lính, đi lính đóng lon to như ôn Đại úy thì mấy hồi chẳng xây lại được cái nhà. Thôi, của đi thay người, cám ơn Trời Phật!"

    Ông lão ngửa cổ uống một hơi hết ly rượu. Hai đứa cháu đứng nhìn ông nội đang uống cạn niềm hân hoan cay đắng vì sống sót, nhìn Thuấn, tương lai ao ước của một tấm lòng hắt hiu đang được đốt cháy gượng gạo bởi thứ rượu ngoại quốc, rượu cùng xuất xứ với trái bom rớt xuống ban chiều. Phật ngạc nhiên vì tai họa và hạnh phúc cùng một nhãn hiệu. Chiến tranh giúp một ông già tầm thường phút chốc nhận chân được hết căn bản sắc không suốt một đời suy nghĩ của đầu óc ngoại hạng, chiến tranh đang biến người Việt Nam thành loại Phật tội nghiệp hân hoan trong Niết Bàn giới hạn qua hơi men mùi lúa mì.

    "Ông già tay tổ, uống nữa đi ông ơi, uống đi để mừng được sống sót sau quả bom như ông thiên… thiên lôi". Thuấn rót thêm rượu cho ông lão.

    "Uống cha, sao không uống, ôn chưa muốn chết thì chết răng đặng, ba bốn trận giặc trước tê chưa chết, lúc ni chết thì Trời Phật đi khỏi hết sao, rót nữa cho tui… Rót nữa cho tui, à uống đi ông Trung úy, răng mà ngồi rầu rĩ rứa, ông Đại úy nói ông Trung úy uống nữa đi, cha có chi mà buồn, coi tui đây, nhà cửa cháy một nửa cũng vui như ai".

    Thuấn đưa mắt nhìn Minh đang ngồi im lặng trước ly rượu: "Uống đi em, không lẽ bị sếp chê rồi em bỏ rượu sao!" Minh không trả lời, cầm lấy ly.

    "Mở miệng một chút đi em, rượu vào lời ra cớ sao em lại… Cớ sao, cớ sao em buồn, em ơi!" Thuấn gõ đũa vào thành chén, tiếng kêu boong boong sắc lạnh.

    Minh nhếch miệng cười:

    "Cố vui không được, cứ thấy tức ngang người, lại thêm một thằng Trung đội trưởng chết nữa, tao xui rồi, ông Tá nói đúng".

    "Ở đây không có ông Tá ông Tướng nào hết, cứ nghĩ hồi sáng này ăn một viên đạn thì giờ này ra sao? Sống được đã khá rồi con ơi, đừng lo thành công hay thất bại rồi đâm ra hụt cẳng".

    "Tao đâu nghĩ thế", Minh muốn giải thích nhưng hình như tiếng nói không đủ, làm sao Thuấn biết được cảm giác xao động âm ỉ khi Minh nghe lời đối thoại hân hoan giữa Lạc và Tiểu đoàn trưởng, cảm giác tròng trành thiếu hụt khi nghe câu từ chối: "Minh mạng đợi đó, để tôi nói chuyện với Lạc long". Chút khinh khi nhẹ nhàng như khói bếp bốc lên trong trời mù. Minh đứng dậy, bước ra nhìn lên trời. Trời trong, sao lấp lánh, trăng thượng tuần nhợt nhạt, tiếng sóng rì rầm ở xa xa. Minh ngửi thấy mùi lạ, mùi của lá tre ẩm mốc dưới bờ ao, thứ hơi hám âm ỉ nhưng nồng nàn chát đắng như từ một thân thể đẫm ướt dục tình. Minh linh cảm thấy giữa mùi vị lạ lùng đó với mình có một khăng khít xưa cũ được cất giấu bao lâu nay chợt thấy giữa mùi vị lạ lùng đó với mình có một khăng khít xưa cũ được cất giấu bao lâu nay chợt thấy như khi nhìn tấm ảnh đã mất hết vẻ quen thuộc của thời thơ ấu. Trong nhà vang tiếng cười sảng khoái của Thuấn và ông già, chợt Minh khó chịu như đang soi gương trong phòng vắng thấy được cái mụn đỏ nổi trên mặt. Ở một nơi nào đó chắc Lạc với Tiểu đoàn trưởng cũng đang có những tiếng cười vui như thế này. Minh châm điếu thuốc bước vào. Cuộc rượu đã đi đến chỗ đậm đà, Thuấn ôm lấy cổ ông già.

    "Ôn ơi là ôn ơi, ôn uống nữa đi ôn, ôn chịu chơi, ôn tay tổ, uống, uống…" Thuấn kê ly rượu vào miệng ông lão, tay kia đỡ lấy chiếc cổ nhăn nheo:

    "Cha răng lại không uống, nam vô tửu như kỳ vô phong, một giọt rượu là một giọt máu, đổ ra thì uổng biết mấy… Thả tay, ôn uống từ từ, uống để mà quên chứ en ơi!" Hai đứa bé ngồi dựa cột nhìn ông nội uống rượu với người lính. Hai đứa bé nhìn với ước muốn trở thành ông Đại úy Nhảy dù từ Sài Gòn đến đây, làng Phùng Trung, quận Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, đến với dấu tích văn minh có đủ trên người, này điếu thuốc lá Mỹ, này hộp quẹt gaz, chai rượu cũng có một cái nhãn in hình một ông Mỹ đang đi…

    Ông lão bắt đầu say, giọt nước mắt muộn màng long lanh trên viền mi sẫm đỏ mệt nhọc chảy xuống đôi má nhăn nheo.

    "Này ôn Đại úy ơi, nhà cháy rồi làm sao sửa được hè?"

    Thuấn ngừng uống, đặt ly rượu xuống, thò tay vào túi móc bao thuốc, điếu thuốc được đốt lên khó khăn… "Hết cái hỏi rồi sao ông già?"

    "Biết, biết hỏi chi đây, cơ nghiệp cả đời tui mới có được cái nhà, cày ruộng từ lúc tui còn chút xíu, chao ơi tui chắt bóp dành dụm cả gần bốn mươi năm mới làm được, cái bộ rui mè ni mua được hồi đảo chánh Nhật, bộ cửa lá sách mua từ ngoài Huế lúc ôn vua Bảo Đại về nước… Ôn Đại úy ơi, làm răng mà sắm lại được "en" ơi?"

    Giọt nước mắt không cưỡng nổi, chảy xuống, giọt nước mắt già cay đắng tưởng như chừng đã khô héo biết bao nhiêu năm nay tuôn tràn từ đôi mắt đỏ ửng. Lớp tro nóng âm ỉ khói leo lét một vài tia lửa nhỏ khi gió thổi qua. Hai đứa bé thấy ông lão khóc, chúng nhào tới, những tiếng khóc mạnh khoẻ thỏa thuê vang theo tiếng nấc nghẹn tức tưởi của ông già. Ông lão giơ tay lên lau mắt… "Ôn Đại úy ơi…" Chiếc ly bị đụng lăn xuống, tiếng động khô nhọn lăn lóc nghe đau đau như lưỡi dao từ từ rút ra khỏi thớ thịt. Thuấn liếc qua Minh, điếu thuốc lóe sáng ở đầu môi, Minh cúi gầm trên ly rượu, ánh trăng theo phần vỡ của mái nhà rọi xuống lóng lánh trong lòng ly. Minh ngửa cổ dốc trọn cả một trời mù tịt vào người. Tiếng khóc của ba ông cháu khó nhọc rối tung vào nhau. Thuấn lóng cóng tìm lấy cổ chai rượu… "Ông ơi, thôi gắng thêm một ly nữa rồi đi ngủ".

    "Nhà ơi là cửa ơi, ôn bà cha mẹ Trời Phật ơi. Thôi cám ơn ôn Đại úy". Trong cơn say đau đớn, ông già vẫn không quên gã trẻ tuổi ngồi trước mặt là một ông quan thật lớn. Ông quan lớn nhất trong ý niệm và lần đầu tiên ông lão được uống rượu cùng.

    "Gắng uống ông già". Thuấn đưa tay ra trong bóng tối. Tay Thuấn chạm phải tay ông lão, một bàn tay lạnh buốt. Bàn tay của người già, bàn tay chết nhưng quả tim vẫn còn đau đớn chất đầy. Quả tim, vật mệt mỏi tội nghiệp nhất của người.


    [1] Minh Mạng: Danh hiệu liên lạc của Minh.
    [2] Lạc Long: Danh hiệu liên lạc của Lạc.
    [3] Trình Đích Thân: Tiểu đoàn trưởng. Danh xưng truyền tin thường được binh chủng Dù dùng.
    [4] mừng

    Dựa Lưng Nỗi Chết. Truyện dài của Phan Nhật Nam. Bìa của Đằng Giao. Hiện Đại xuất bản lần thứ nhất 5.000 cuốn tại Sài Gòn Việt Nam tháng 5.1973. Giấy phép số 1642 PTUDV/ KBCNT/KSALP ngày 24.5.1973.

    Tác giả và tvvn.org giữ bản quyền.
  5. CHUYỆN DỌC ĐƯỜNG...



    Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương...
    (Chinh Phụ Ngâm - Đoàn Thị Điểm)



    Dọc theo chiều dài tiểu bang California có những thành phố lớn, địa danh quan trọng không chỉ riêng đối với nước Mỹ, nhưng mang tầm vóc của thế giới – Một thế giới thu nhỏ, với những khu vực điển hình khác biệt môi trường, khí hậu, sinh thái, địa thế đa dạng, phong phú.. Vùng bờ biển phía Nam với thành phố San Diego, địa vực có khí hậu tốt nhất thế giới; Los Angeles phi trường lớn, rộng với mực độ phi cơ lên xuống bận rộn liên tục, để không thể gọi là một phi trường, nhưng phải hình dung đấy là một thành phố phi cảng với Xa Lộ 105 “Xa Lộ Thế Kỷ” chạy song song với Đại Lộ Thế Kỷ, “Century Boulevard” chuyên chở lượng xe luôn ở mức trì chậm, tắc nghẻn cho dầu đang lúc nửa đêm về sáng. Tiếp miền sa mạc Mojave đông Đường Số 5 với những khu quân sự ẩn mật mà chắc đa số người Mỹ bản địa cũng chưa hề đi đến, nghe tới; địa danh Bakerfield, trung tâm động đất toàn thế giới; và nơi San Francisco với những cầu treo nổi danh, Golden Gate, Bay Bridge xuyên vịnh cảng nối Châu Mỹ với miền Viễn Đông; Thủ Đô Sacramento tiếp vùng rừng sát các Tiểu Bang Oregon, Washington bắc đường Số 5, nơi có mực độ mưa cao quanh năm gây mây mù, không khí ẩm ướt. Cuối cùng, cũng Tiểu Bang Cali: Vùng đất tập trung hơn hai-trăm ngàn người Việt với hai thủ phủ người tỵ nạn, Orange County phía Nam và San José phía Bắc.



    Có những chuyến xe đò do người Việt khai thác chạy đường Nam-Bắc trên: Xe Đò Hoàng, Xe Khách Việt Nam.. Người viết do một xếp đặt tự nhiên đã có mặt trong những chuyến xe đầu tiên kia (chỉ là một chiếc van gia đình mười-hai chỗ ngồi do chính chủ nhân Công Ty Xe Đò Hoàng sau nầy cầm tay lái) khi mới đến nước Mỹ, 1993. Nay, hơn mười-hai năm sau, vì lớn tuổi phản ứng lão hóa trì chậm, phần do sức khỏe suy kém sau cuộc đại phẫu nên không thể lái xe, phải thường có mặt trên những chuyến xe mang đặc thù Việt Nam, hiện diện bền bỉ một cách tự nhiên nơi đất Mỹ theo lộ trình vừa kể. Từ đó, có cơ hội tiếp xúc, nghe ra những câu chuyện của nhiều người, nhiều giới người, nhiều lứa tuổi trao gởi trên đường xa.. Những câu chuyện bình thường, đơn giản của mỗi người Việt, của mỗi cá nhân thuộc nhiều sắc dân của Bán Đảo Đông Dương, những người hằng sống qua, rời bỏ những nơi chốn gọi là Sài Gòn, Mỹ Tho, Nam Vang, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Hải Phòng.. trong những tình huống khác biệt. Câu chuyện về những người đã qua ngưỡng cửa tử-sinh một cách lặng lẽ, tự nhiên như đã sống, như đã chết. Người viết tường thuật lại với tính trung trực hẳn có đối với công việc của một người dụng văn. Và nếu cần thiết, chỉ thay đổi phương danh, địa danh căn bản để tránh những ám chỉ, đụng chạm vô tình có thể xẩy ra.



    Bắt đầu từ Nam Cali, USa



    CHUYỆN “CÔNG CẮN”

    Tất cả dấu hiệu về con người của thằng Công chỉ hiện ra nơi hai tròng mắt. Tròng mắt người nhưng có ánh sắc loang loáng của loài chuột sống dưới hầm sâu, nơi cống rãnh ẩm tối nhầy nhụa những rác rưới, cặn bã. Vây quanh động vật gọi là con người kia là tấm màn dày dặt oi oi gây nôn bốc lên từ một thân thể không hề tắm rửa, và bộ áo quần tù khô mốc quết dính bởi mồ hôi, đất, bùn.. sau năm tháng thấm ướt nước mưa, nước ruộng, nước tiểu ủ phân người dùng để tưới rau xanh. Và Công xử dụng sự bẩn thỉu nầy nên thành một vũ khí lợi hại. Mỗi khi lâm trận xô xác, giành giựt lá rau, củ sắn.. hắn nhào vào địch thủ, ôm cứng như loài sên bám vào vỏ cây để mùi hôi thối từ thân người xông lên chụp lấy đối phương như bị ủ kín trong một chiếc chăn nồng nặc.. Và nó cắm chặt vào bất cứ phần da thịt nào của đối thủ với hàm răng nhọn của một loài sài lang khủng đói.. Mặc cho đối thủ dập xuống những nắm đấm đòn thù, Công chỉ buông kẻ nghịch khi miệng thấm ướt mùi máu và miếng da, thịt người tanh tưởi. Lẻ tất nhiên, đối thủ nó cũng là những tên tù đói, bẩn, nhưng mùi thối của thân thể Công nặng nề gay gắt hơn hẳn. Hơi thối có độ dày tởm lợm bốc lên từ đầu tóc rậm lỡm chởm, trên lớp da đen xỉn nhầy nhầy đất ghét. Công cũng đã xử dụng mùi hôi thối của thân thể (mà bất kỳ ai đến gần cũng bị phản ứng nôn mữa) để chiếm cứ chỗ nằm sát bức tường ngăn khu cầu xí cuối buồng giam. Em nó, thằng “Công em” được đặt nằm an toàn trên chỗ ngủ âm âm thối ủm nầy. Nó nằm ngoài che em với đôi mắt nhỏ liếc đảo ngang dọc từ đầu căn buồng đến khu chuồng xí.. Khi khám phá ra một “con mồi” nào đấy đang nằm cử động nhẹ khẻ dưới tấm chăn đắp, Công lẻn tới im như một loài bò sát.. Nó phóng nhanh lên thân người đang chuyển động kia, chớp lấy thứ, loại thức ăn mà kẻ kia đang nhóp nhép nhai, bỏ tọt vào miệng, xong gục đầu xuống ngực chấp nhận trận đòn cho đến khi nuốt xong miếng ăn vừa cướp được. Chỉ hai thứ vật chất Công chưa đưa vào miệng: đất, cát và lá, cỏ. Nó đã lập nên những thành tích: Ăn thức ăn từ mồm thằng Huân “con” nôn thốc ra khi tên nầy phải ăn nhanh hết hai cân gạo tẻ, cân đường chảy, lọ mắm ruốc từ nhà thăm nuôi trở về. Nó cũng vượt mặt tất cả toàn trại tù với gói phân của thằng em còn lẫn nhiều hạt bo bo chưa tiêu hóa kịp.. Từ khu lao động hầm đá, thằng Công lận gói phân dưới đũng quần, vào trại, rửa qua loa, và đun lại trong chiếc bát nhôm mẻ.. Tao ăn cứt của em tao chứ đâu ăn cứt của chúng mầy. Công nói tỉnh khi bọn tù xỉa xói chưởi rủa hành vi súc vật của hắn.

    Hai anh em thằng Công thuộc Đội 12 Trại Cải Tạo Số 5, Xã Lam Sơn, Tỉnh Thanh Hóa - Đội tù trừng giới (gồm những phạm nhân chịu án phạt tập trung vô hạn định) có nhiệm vụ cung cấp đá ong cho toàn vùng để xây các trụ sở hành chánh, công trường, nhưng chủ yếu là những hầm tù khác của hệ thống trại tù Lý Bá Sơ để lại từ những năm chiến tranh Việt-Pháp (1946-1954). Công tác sản xuất nầy có giá trị kinh tế cao, đem về cho trại nguồn thu nhập tài chánh lớn nhất (so với các đội làm gỗ, đốn củi, trồng rau, chăn nuôi..) nhưng cũng là công tác nặng nề gây chết im lặng, chắc chắn mà các “Trường Vừa Học Vừa Làm” (nơi huấn luyện, đào tạo nên những con người “xã hội xã hội chủ nghĩa tiên tiến” từ thuở vị thành niên) tiếp chuyển giao đến khi bọn “trại viên cải tạo” tới tuổi thành người - Thành người tù nếu muốn nói rõ hơn. Trai hay gái đồng chung một chế độ quản lý, giáo dục. Chế độ không có hiện tượng “người bóc lột người” nếu muốn xác định thêm “tính chất ưu việt của chế độ ta”.



    Khu vực hầm đá thoạt tiên là bãi đất trống mọc rải rác một loại bụi nhỏ khô cằn có tên là “cây cốt khí”. Không ai hiểu vì sao loại cây nầy được đặt tên bởi tính danh kỳ cục ấy. Nhưng thật ra không có tên gọi nào thích hợp hơn. “Cây cốt khí” không là loại cỏ do mọc cao hơn mặt đất khoảng vài gang tay, nhưng cũng không hẳn là cây vì không cành, lá.. Đấy chỉ là một loại bụi lùm hoang dã, thân có gai nhỏ, và những lá nhọn tua tủa sắc, lởm chởm như lông nhím.. Đéo mẹ cái thứ quỷ quái nầy đun bếp cũng không được nốt! Bọn tù ngao ngán đánh giá loại cây, cỏ vô dụng. Nhưng, ban giám thị trại đã nhìn thấy “tiềm năng” dưới lòng đất: Hầm đá ong được thành hình trên vùng đất không cỏ mọc. Đại úy Trịnh Bắc (một đại tộc của vùng thanh Hóa), cán bộ nhân lực Trại 5 đưa cặp mắt đứng tròng sắc xảo nhìn lướt qua vùng đất khô nỏ ong ong bốc hơi dưới nắng nói cùng viên giám thị trưởng trại, Thiếu Tá Đỗ Năm (một đại tộc thứ hai có viên tổng bí thư đảng đương quyền họ Đỗ suốt hai thập niên 70, 80).. Thưa Ban (Ban giám thị) dưới lớp đất nầy là đá ong, ta xử dụng bọn Đội 12 đang làm rau xanh cho ra làm đá.. Liệu có làm được không, đá ấy cứng như thế, sợ bọn chúng không làm nổi? Phải được, sẽ chỉ định quản giáo Chuyên phụ trách bọn nầy. Không làm không được.. Phải làm đúng chỉ tiêu mỗi ngày, thiếu viên nào bớt suất ăn phần ấy! Trịnh Bắc tin chắc vào khả năng ”Mắt công an/Gan bộ đội” của bản thân – Anh ta đã “nghĩ, thấy” thế nào thì sự việc cũng “phải xẩy đến” như thế. Bọn ngụy quân, ngụy quyền mấy ngàn người trong Nam đưa ra từ cấp đại úy đến trung tướng, bao gồm cả tổng, bộ trưởng, giáo sư, tiến sĩ.. lọt vào tay anh không dám hó hé một âm mưu, hành vi phản động. Ta bóp chúng từ khi chúng mới được nghĩ ra. Chẳng thế, năm 1978 kia mới mang cấp trung sĩ nhất mà nay đã là đại uý công an không cần qua trường, lớp “Sĩ quan đại học biên phòng”. Bắc còn có quản giáo Chuyên phụ tá, xử dụng dưới tay bọn “Thường Trực Thi Đua – Ban đại diện tù” và những tên đội trưởng như gã Đội 12, Nhiền. Nhiền mặt vuông, thân hình thấp, ngón tay ngắn chỉ hai đốt, vốn gốc công an Hải Phòng, do phạm tôi giết người đoạt của nên chuyển về Trại 5. Nhiền được đề bạt làm Đội trưởng Đội 12 do thành tích đánh chết Định “già” (Cựu thượng úy bộ đội, chuyên nghiệp tình báo, thuộc diện “B quay – Hồi chánh theo quân đội cộng hòa”, trao trả về quân đội giải phóng năm 1973 tại Thạch Hãn, Quảng Trị) do trên ra lệnh giết. Định “già” chết không để lại dấu vết. Không giọt máu ứa ra. Cũng không kịp kêu lên tiếng gào hấp hối. Định chết khi đang đứng lãnh phần bắp trước mặt Nhiền.



    Buổi sáng, ra đến bãi, mỗi tên tù Đội 12 được phát một cây cuốc chim loại nhỏ, một đầu dùng để cuốc đá, đầu kia dùng để đẽo theo hình mẫu: Khối đá ong hình chữ nhật có góc cạnh 10 phần dày, 20 bề ngang, và 40 chiều dài.. Chỉ tiêu mỗi ngày 8 viên. Qua tháng thứ hai, chỉ tiêu nâng lên 12 viên/ngày; tháng thứ ba, tư 15 viên, và ngừng ở con số nầy.. Bởi bãi đá trở nên là một chiếc giếng khô khổng lồ với vòm miệng loe rộng lên bầu trời. Bọn tù làm đá lúc nhúc dưới đáy lấm chấm như một đàn chuột bị bẫy sập. Hơi nóng từ trời cao ủ xuống vực đá tích tụ vào trung tâm nên thành một luồng hơi sầm sập ẩn hiện lung linh qua ánh nắng. Đầu trần (chiếc áo tù đã cởi ra trùm đầu thay mũ, nón), chân đất, những tên tù Đội 12 bò lên nền đá ong, gõ chiếc búa chim rời rạc kiệt cùng.. Sẵn vũ khí, chúng gây chuyện đánh lộn để đi nằm nhà kỹ luật thay vì phơi thân làm đá. Trò bạo loạn chạm tới cao độ khi tên Tịnh “mắt” (do có đôi mắt đặc biệt đen thẩm) chém đứt gân chân thằng Định “nhạn trắng”, chấp nhận án tử hình do đã gây vụ việc từ những năm trước, ở những “Trường vừa học vừa làm” phía Bắc, sát biên giới Hoa-Việt. Sau vụ thằng Tịnh, bốn vệ binh được lệnh đứng gác bốn góc bãi đá, trên cao nhìn xuống, theo dõi từng cử chỉ của mỗi tên tù. Vệ binh được lệnh nổ súng khi thấy dấu hiệu bạo động. Bọn tù cũng được chia thành từng nhóm ba tên để chỉ huy, rình rập, thúc dục nhau công tác hầu đạt được chỉ tiêu. Thiếu một viên cả ba đồng phải chịu cắt khẩu phần ngô, khoai sắn. Hai anh em thằng Công được chỉ định ở chung một tổ.

    Một hôm, thằng Công em “bất ngờ” bị té từ trên thềm đá cao xuống một chỗ thấp hơn, đầu đánh vào góc bậc đá đang đẻo dở, máu từ trán chảy ra thấm ướt đậm màu nền đá đỏ.. Ông cho cháu cõng em cháu về bệnh xá. Gã bộ đội đứng gác ý hẳn cũng đang mệt nhọc dưới trời nắng hươi mũi súng thuận cho lời cầu xin của Công. Trên đường đi, Công “em” úp mặt lên lưng anh hỏi khẻ.. Mầy xô tao ngã xuống phải không? Im, nhớ giữ kỹ “cây bút chì”! Thằng em cắn vào lưng áo anh tỏ vẻ hiểu.



    Hai ngày sau Công “em” xuất viện, thằng anh ôm em ngủ vẻ săn sóc, yêu thương.. Nhưng thật ra nó nói khẻ với em: Đêm nay, khi tao “đánh” cái vòm.. Mầy đừng cho thằng nào vào nhà xí! Với “cây bút chì” (dùi đẻo đá) thằng Công mở rộng vòm tròn lỗ đại tiện không khó khăn do lớp vôi vữa từ bao năm bị nước tiểu, chất dơ bào mòn, thấm nhũn.. Chỉ cần mở mỗi bên rộng khoảng gang tay. Thằng Công nhảy xuống trước, chân ngập vào hố phân. Không cần để ý, nó bò theo lỗ hổng hầm cầu (ngang mặt đất) thông ra sân sau buồng giam. Công em bò theo nói nhỏ.. Tao dính đầy cứt! Im, theo tao, chạy xuống nhà bếp! Tại sao không ra cổng? Đánh soong ngô để khi ra nằm ngoài kia có cái mà ăn. Phải nằm chờ bên khu công trường trồng cam vài ngày, chưa chạy thẳng về Thanh Hóa, Hà Nội được.. Khi hai anh em thằng Công lọt vào được khu nhà bếp cuối trại thì từ căn buồng Đội 12 có tiếng la lớn.. Báo cáo cán bộ.. Báo cáo cán bộ.. Trốn trại!.. Báo cáo cán bộ.. Trốn trại!! Tiếng súng nổ vang. Kẻng đánh dồn bốn phía trên các chòi gác. Công chạy nhanh đến chiếc giếng nơi có cây sào dùng kéo nước.. Bình tỉnh, nó nói chắc với em.. Tao giữ sào, mầy bám vào, chân đạp vào tường trèo lên trước. Loạt đạn từ vọng gác góc nhà bếp bắn tung lớp mảnh chai rải trên đầu bức tường.. Thằng em chạm tay lên bờ tường cố rút người lên.. Tao, tao bị rồi.. Thân nó rơi xuống nhanh. Thằng Công ôm em, ngồi gục mặt trên khoảng ngực dần đập yếu. Nó ngửi ra mùi máu đầm đìa ngập ngập. Những báng súng dập xuống lưng, đầu.. Công vẫn ôm chặt xác đứa em như khả năng bám cứng thường áp dụng. Nhưng lần nầy, cuối cùng nó phải buông rời xác em, ngã ra chết ngất, chỉ tỉnh dậy ba ngày sau nơi phòng kỹ luật. Công biết nó chưa chết do ngửi ra mùi máu quen thuộc đóng khô trên mặt.



    Sáu tháng sau, Công được tháo cùm cho về buồng. Nó bò với hai tay, hai gối, nhích tới từng khoảng ngắn, xong nằm bẹp lên đất.. Quản giáo Chuyên đi theo, dùng chân đè lên lưng, đầu, đá vào hai chân lê lết, cong queo của nó nói lời khinh bỉ.. Mầy có thành con dòi cũng không trốn khỏi đây được. Tao có thể bắn chết mầy ngay bây giờ nhưng cho mầy sống để ăn cứt! Thằng Công lết chậm im lặng, mắt ráo hoảnh, không cảm giác, tròng đen khô như hòn than. Về đến đội, Công nói cùng Huân “con”, tên đội trưởng mới: Tao sẽ không gây vụ việc gì để mầy phải liên hệ.. Mầy chỉ cho tao biết thằng Nhiền đâu rồi? (Nhiều là tay đội trưởng cũ). Nó được chuyển vào trong Thanh Cẩm làm Trực Thi Đua vì thành tích báo cáo vụ trốn trại của anh em mầy. Một tháng sau, tại bãi đá, Công chụp cứng bàn tay của một gã vệ binh, cắn đứt ngón trỏ khi tên nầy xoè tay xỉa xói, tát tai nó do tội không làm đủ chỉ tiêu 15 viên đá. Ban giám thị Trại 5 có quyết định nhân hậu khôn ngoan.. Cho nó lên trại Thanh Cẩm, thằng Nhiền sẽ trị nó.



    Người tù thở hơi dài thanh thản.. Đây là phòng kỹ luật “tiện nghi” nhất ông được ở của mười năm qua, kể từ 1978 khi chuyển về vùng Thanh Hoá nầy. Phòng vuông vức mỗi bề ba thước, hai bệ nằm, ở giữa có lối đi. Ông có thể “đi bộ” qua, lại nơi chiếc sân rộng một thước, dài ba thước nầy. Điều tuyệt diệu hơn hết là ông có được khung cửa sổ mỗi bề rộng bốn gang tay, chắn bởi bốn thanh sắt dọc và ngang bởi một bản sắt dày.. Nhưng những thanh sắt chấn song không ngăn cản được tầm nhìn ra dãy núi thượng nguồn Sông Mã, và lắng nghe âm tiếng sông trôi về xuôi xa dưới chân đồi trước mặt trại. Nếu đứng ép mình sang góc phải, người tù có thể nhìn xéo ra chiếc cổng chính của khu kỹ luật, cực trái sân cỏ, nơi có cây hoa gạo nở đỏ rực mỗi dịp xuân, báo hiệu ngày Tết. Từ khung cửa sổ thần tiên nầy, ông nghe được hơi thở nhẹ của tự thân rung động theo từng di chuyển im lặng của trăng.. Ông ấy lên rồi đó!! Người tù nói ra thành lời khi căn phòng bắt đầu dọi sáng ánh biên biếc, rồi chuyển sang sắc xanh thanh khiết thắm thiết.. Ông bước xuống khỏi bệ nằm, kéo chân cùm ra một góc để có được tầm nhìn tối đa khi đứng ở cửa sổ.. Cảm giác tắm đẫm giữa sắc trăng xanh. Và “ông ấy” lên chậm rãi, lặng lẽ, uy nghi.. Rồi cả một vùng núi trải dài hùng vĩ đồng rộ sáng dưới mầu trăng miên man cảm động. Những chấn song khung cửa sổ dọi lên tường thành hình hàng Thánh Giá nghiêng nghiêng. Ông thấy Chúa Cứu Thế có thật trên dãy Thánh Giá màu Đen kỳ diệu nầy dẫu chưa được phép rữa tội theo nghi thức Công Giáo.. Bốn hàng soong sắt lạnh. Dọi Thánh Giá lên tường. Chúa vô cùng hiện thực. Với con người đau thương.. Người tù đọc nhiều lần lời thơ đơn giản như một cách cầu kinh của riêng mình.

    Nhưng bình minh lại đến với hân hoan làm rưng rưng nước mắt. Mặt trời chưa lên mà người tù đã nghe toàn vũ trụ, vạn vật rộn ràng chào đón. Tiếng vượn hú dài hơi theo trùng điệp rặng núi. Bầy chim đen vùn vụt bay lên khoảng không, đồng lần sà xuống trên sân cỏ, và những con bướm.. Những chấm vàng, trắng nổi bật nơi xa trên mầu xanh của núi, rừng dần dần bay về tụ lại trên sân cỏ trước phòng giam.. A.. bướm tìm ra nhau theo màu của cánh! Ông miên man theo dõi, khám phá sự huyền bí kỳ diệu từ những cánh bướm im lặng, chập chờn. Người tù cũng thật sự cảm khích với cách kiên trì nhẫn nại của cách con tò vò làm tổ.. Tò vò kẹp từng viên đất tròn nhỏ với hai ngàm và hai chân trước, tô đắp nên thành chiếc tổ qua từng mỗi ngày khó nhọc.. Xong “hắn” tất tả bay đi kiếm sâu (loại sâu màu xanh lá mạ có chiều dài hơn thân tò vò), đặt vào tổ làm mồi dự trữ, đẻ trứng, đóng kín tổ bằng lượng nước dãi cố gắng mỏi mòn.. Anh yên tâm, tôi giữ tổ cho anh để hai-mươi mốt ngày sau con anh ra đời.. Người tù nói chuyện cùng tò vò thân thiết thật lòng khi thấy ra cách bay mệt mỏi của “gã bạn” với đôi cánh đập dần dần yếu đuối. Tò vò sẽ rớt chết ở một nơi nào đó.. Người tù muốn sống trong tình thế nồng nhiệt mến thương nầy để quên khuất một cảnh tượng đau lòng.. Thân con người bị kéo ngược (gã trật tự kéo bằng cách nắm hai cổ chân) đâu từ dưới trại, qua mấy mươi bậc thang (để đưa lên khu kỹ luật nơi đỉnh đồi cuối trại).. Căn buồng cực trái dãy sau (Người tù luôn cách biệt các bạn tù bởi những phòng để trống, và hai dãy buồng đối lưng nhau) có tiếng mở cửa, kéo chân cùm, và tiếng chưởi.. Địt mẹ cha cố cũng đánh theo cha cố!! Hôm đó, năm xẩy ra cảnh tượng đau lòng ấy đã quá lâu, nhưng người tù luôn nhớ rõ, hiện sống với cảm giác khiếp sợ làm thân người ông run lên bần bật (dẫu ông là người lính tác chiến của một đơn vị kiệt liệt của Miền Nam).. Người bị kéo ngược như thế chắc hẳn đã là một xác chết! Nhưng tại sao còn bị đánh bồi và xỉ nhục?! Sau nầy hỏi ra, ông biết người thụ nạn là một Linh Mục Công Giáo.. Chúa ơi! Sao con người có thể đau thương đến thế?!



    Mỗi lần đứng ở cửa sổ, người tù đồng có mối hân hoan (trước cảnh trí rực rỡ vui hòa của thiên nhiên) chen lẫn mối nặng lòng (do ác độc của con người) với câu hỏi như trên nhiều lần lập lại.. Sáng nay, từ buồng giam cực trái (buồng số 1, cùng dãy trước với buồng ông) có tiếng mở khóa cùm chân và lời quát tháo.. Địt mẹ, lần sau ông đéo cho mầy đi đổ ống.. ỉa xong thì ăn đi.. Đi ra, đồ chó đẻ.. Chó nó cũng không bẩn đến như mầy! Nghe tiếng chưởi của Nhiền, gã thường trực thi đua, người tù đứng nép vào góc phải cửa sổ nhìn ra sân theo dõi.. Gã tù khom người bước đi mệt nhọc, chậm chạp.. Địt mẹ mầy có nhanh được hay không hay đợi ông đá cho mấy cái.. Nhiền đi cách khoảng gã tù ý chừng như muốn tránh xa sự bẩn thỉu. Gã tù lê ống tre bươm trên sân cỏ, lúc lắc thân người rề rà hướng về phía hầm chứa phân khu kỹ luật.. Đổ vào đây.. Địt mẹ đổ vào đây!! Nhiền hét lớn chỉ vào hố chứa.. Mầy làm rơi vải tao bắt mầy phải ăn cho hết! Địt mẹ.. đồ ăn cứt!! Gã tù đã đến bên hố chứa phân, gã lóng cóng với ống bươm.. Phân, nước giải rơi vải tung toé.. Đổ xuống hố.. Địt mẹ thằng chó.. Nhiền xoay xoay chùm chìa khoá buồng giam tiến gần chực đánh.. Gã tù với một phản ứng nhanh nhẹn bất ngờ tạt ống bươm vào mặt Nhiền.. Tên nầy hét lớn hốt hoảng đưa tay vuốt những mảng phân thối, dòng nước dơ. Gã tù nhảy thoắt đến viên đá chận nắp hố phân. Nó nâng lên.. Đập mạnh xuống khuôn mặt lầy nhầy chất bẩn. Nhiền ngã quay quắt trên đất.

    Thằng Công nhảy lên ngồi trên ngực Nhiền, thọc tay vào ổ mắt.. Móc ra!! Nó nuốt khối nhầy ươn ướt máu và cứt. Súng trên chòi canh nổ sắc, gọn, chính xác từng phát một. Lưng thằng Công ưỡn lên, nẫy nẫy..

    Trong nầy, người tù cúi gập xuống.. Nôn khan.



    Phan Nhật Nam
  6. Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.

    Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẩm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngồi ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

    Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.

    Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết quả là tôi đã đỗ được bằng tiểu học năm đó.

    Vào lớp đệ thất trường Trần quốc Tuấn, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm đệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung học. Đến niên học đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất đệ lục, nghĩa là cũng chỉ bé thua tôi vài tuổi.

    Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi.

    Hết năm đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi đậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trâm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở...

    Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào "tuổi ngọc", nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi "quyền huynh thế phụ". Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

    Tôi thi đỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà nẳng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm đuợc, tôi phụ mẹ một ít nuôi em.

    Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

    Lật đật trở vào Đà nẳng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khoé mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt.

    Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và òa lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tỉnh mach ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa...

    Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, đừng khóc ... nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai giòng nước mắt chảy nhạt nhoà trên má.

    Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi... Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẩm cả vạt áo mẹ bạc màu. Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi...

    Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữa. Nhưng em thì phải trở lại trường.

    Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi. Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi, cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều. Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời. Tôi vào trường Võ bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao gi dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

    Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khoá của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người.

    Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn... Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhở có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ...

    Hai năm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng . Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già. Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lể nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng độ kinh hoàng giữa đơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những "kỳ tích" của bạn tôi, của Mễ, của Lô ...

    Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm. Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lể ở Phan rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim cũ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh ...

    Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Saigòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo. Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em súng sính trong bộ đồ cưới , tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em. Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nửa ở vùng giới tuyến, thì "tai nạn" xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội đồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù.

    Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long, An Lộc ... đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký "Mùa hè đỏ lửa". Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan rang, gần trường em dạy.

    Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rãnh rỗi tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lãnh dòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao uớc mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này.

    Biến cố tháng 4/75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em ...

    Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu, đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá ...

    Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em. Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhoà. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

    Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được , bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn nguời đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.

    Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi bố trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc đến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy. Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mủi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.

    Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi.

    Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy truởng trại tiết lộ về địa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ.

    Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng , bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dững dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình. Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây giờ tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.

    Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

    Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khoẻ yếu lắm, em sợ nhở có mệnh hệ nào ...

    Tôi thẩn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi, khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ?

    Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi. Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Nguời chồng, trung úy hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung úy Trần Nguyên Tuấn . Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng nguời nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hóa đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhòa, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi .... Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du ...
  7. Mùa Hè Đỏ Lửa

    Phan Nhật Nam



    Mùa Hè, những cơn mưa bất chợt ùn ùn kéo đến, ào ạt chụp xuống núi rừng Kontum, Pleiku... Trời thoắt trở lại xanh, cao khi mưa dứt, nắng hanh vàng ấm trong không khí gây gây lạnh, những đồi cỏ xanh dọc Quốc Lộ 14 bắt đầu óng mượt, cánh cỏ non lớn dài phơi phới dưới sau trận mưa đầu mùa và thung lũng xa vàng rực hoa hướng dương. Không khí, gió, trời mây và cỏ cây thay đổi hẳn, mới mẻ toàn khối, toàn sắc, vùng cao nguyên lộng lẫy, triền miên với từng hạt nắng vàng ối tan vỡ trên đồng cỏ xôn xao gió thổi...

    Mùa Hè, gió Lào miền Quảng Trị, Thừa Thiên thổi từng luồng, từng chập, đưa “con trốt” chạy lừng lững trên cánh đồng cát chói chang, những đồi hoa sim, hoa dủ dẻ rung rinh bốc khói dưới mặt trời hạ chí. Giòng nước sông Hương, sông Đào, sông Bồ, Mỹ Chánh, Thạch Hãn đục hơn, thẫm màu hơn, lăn tăn từng sợi sóng nhỏ len lỏi khó khăn qua kẽ đá, bãi cát, chầm chậm chảy về phía Tam Giang, cuốn trôi theo đám lá tre già khô úa.

    Mùa Hè, những con đường thành nội Huế lốm đốm ánh trăng xuyên qua cành lá, cô gái chuyển tấm lưng sau lớp tóc dài dày kín, nâng khối tóc xôn xao lên khỏi chiếc gáy để cơn gió ngắn len qua hàng rào chè xanh thổi khô đi lớp mồ hôi rịn trên những lông tơ nõn.

    Mùa Hè, mưa rào tăm tắp đổ xuống kín trời An Lộc, chập chùng ẩn hiện những thân cây cao su nhoà vào nền trời xám tối, khu rừng biến thành khối đêm đen trong khoảng khắc, khối đen chuyển dịch, vẫy vùng ào ạt theo từng cơn lốc gió... Mưa tan, trời tạnh, ánh trăng lạnh nhô lên từ phương tây, cuối bình nguyên lồng lộng, núi Bà Đen ấn một nét đen thẫm thần bí trên nền trời xanh ánh trăng. Và đàn nai bắt đầu tung tăng từ đầu nguồn, cuối lạch... Đàn nai chạy vun vút qua rừng cây, trên đồng cỏ mượt sóng, chạy và ngừng lại, “bép” mấy tiếng âm u cùng ánh trăng chập chờn trên sóng cỏ.

    Mùa Hè, mùa đẹp đẻ, tươi gắt căng sức sống, ngày ngày nỗ lực trên mặt nước loáng ánh nắng hay đồng lúa nặng hạt. Hạt ngọc của trời, và người dân cất cao tiếng hò...

    Được mùa chớ phụ môn khoai,
    Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng...

    Tiếng hò chạy dài trên lúa, theo cơn gió đưa ra đến đầu ghềnh, cuối cửa sông, tan biến vào cùng sóng nhỏ... Trên mặt nước, con đò xuôi về Thế Chí, Đại Lộc dọc Phá Tam Giang(*), lại vang dội một giọng hò khác phảng phất nét tàn tạ bi thảm của hơi Nam Ai thê thiết... Hò... ơ... ai...về...ạ... ạ... Đại...Lộc...ạ... ạ... ai vượt... ạ..ơ..Kế Môn...

    Đã từ lâu...Lâu lắm, người dân của ba miền đã qua những mùa hè trong cạn đáy khắc khoải để hy vọng tiếp tục đời sống với mơ ước chỉ đầy chén cơm. Nhưng mùa Hè năm nay, 1972 tất cả hy vọng và mơ ước nhỏ nhoi tội nghiệp kia tan vỡ trong tận cùng kinh ngạc. Bao năm qua, chiến tranh đã quá nặng độ, chiến tranh quá dài, dài thê thảm, dài đau đớn tràn ngập. Người dân Việt mong mỏi đi qua thêm một mùa, một năm, chiến tranh lắng dịu và được sống sót. Nhưng, 30 tháng 3 ở Đông Hà, 24 tháng 4 ở Tân Cảnh, 7 tháng 4 ở An Lộc, 1 tháng 5 cho Huế và Quảng Trị... Hoài Ân, Tam Quan, Bồng Sơn, Bình Giả, Đất Đỏ... Toàn thể những địa danh nơi hốc núi, đầu rừng, cuối khe suối, tận con đường, tất cả đều bốc cháy, cháy hừng hực, cháy cực độ...Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt. Lửa ngùn ngụt. Lửa bừng bừng. Lửa kêu tiếng lớn đại pháo. Lửa lép bép nức nở thịt da người nung chín. Lửa kéo dài qua đêm. Lửa bốc khói mờ trời khi ngày sáng. Lửa gào chêm tiếng khóc của người. Lửa hốt hoảng khi cái chết chạm mặt. Lửa dậy mùi thây ma. Lửa tử khí trùng trùng giăng kín quê hương thê thảm khốn cùng.

    Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân(**), cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy. Mùa Hè năm 1972- Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện. Mùa Hè cuối đáy điêu linh. Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đày!

    Ba sư đoàn bộ binh 304, 308, 324B, cùng sáu trung đoàn địa phương của Khu 5, ba trung đoàn chiến xa, hai trung đoàn đặc công và một sư đoàn pháo nặng 130 ly, cho mặt trận Trị-Thiên. Ba sư đoàn 5, 7, 9, tăng cường sư đoàn Bình Long, hai trung đoàn 202 và 203 chiến xa, được yểm trợ bởi một sư đoàn pháo nặng tại mặt trận An Lộc. Hai sư đoàn 320 (Thép) và Sao Vàng, một trung đoàn chiến xa tấn công vào Tân Cảnh, Kontum; hướng tiến được dọn đường bởi một trung đoàn pháo đặt từ rặng Big Mama Mountain, vùng Ba biên giới Việt-Miên-Lào. Cộng quân chơi trò chơi máu, mở đầu những “ngày hè đỏ lửa”, trận cuối cùng để tìm kiếm kết thúc cho mười năm chiến tranh “giải phóng” cạn lực, sau “tổng-công-kích thất bại Mậu Thân 1968”.

    Quân ta phải chống lại.Chống giữ để tự vệ. Chống trả nơi biên giới cuối cùng: Tự Do hay Nô Lệ. Sống hoặc Chết. Trận đấu quyết tử và trận chiến cực điểm. Ba tháng hay 100 ngày chiến trận, những kỷ lục chiến trường thay đổi từng nấc, từng bậc lớn, từ 2,000 quả đạn cho cứ điểm Charlie, Kontum đến 8,000 quả cho An Lộc.Bắc quân đi bước tàn nhẫn không nương tay và quân dân Miền Nam đồng đương cựvới nổ lực cao nhất tại “Điểm đứt hơi - Điểm vỡ của chiến trận”. Chúng ta đã chiến đấu giữ vững và kiêu hùng chiến thắng.

    Hôm nay, ngày đầu tháng 8, cuộc đại chiến đã bước qua tháng thứ tư, và có cơ kéo dài thêm một thời gian nữa, nhưng quân dân ta cắn răng, ngậm chặt, hứng hết tai họa, đựng đầy khổ nạn... Chịu thêm nữa cũng thế, đánh thêm nữa cũng được. Trong nguy nan, Dân tộc biến thành “Thánh chịu nạn”. Dân tộc kiêu dũng, quật cường, vượt qua, bất chấp tất cả để tồn tại. Ngọn lửa Mùa Hè 1972 nung độ nóng cao nhất trui rèn chúng ta - Người Việt Nam muốn sống đời đáng sống của Người - Người Tự Do.

    Được đi, chứng kiến và dự phần vào ba mặt trận, ba vùng đất quê hương, người viết không mong gì hơn ghi lại một vài khía cạnh của cuộc chiến - Cuộc chiến vĩ đại vượt mọi chiến tranh - Mà phải một ủy ban quân sử, trong thời gian dài mới có khả năng, điều kiện thâu tập và đúc kết toàn thể. Vì chỉ ghi được biến cố qua một vài khía cạnh, với những người, đơn vị lâm chiến quen thuộc; người viết xin tạ lỗi do những thiếu sót mà một cá nhân không thể nào tránh khỏi, và đã phải viết lại từ một khoảng ngày tháng quá gấp rút.

    (*): Phá lớn giữa hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên, do ba sông Thạch Hãn, sông Bồ và Sông Hương đổ vào.

    (**): 1945; 1968.

    Viết lại,
    Ngày Quân LựcVNCH,
    Tháng 6, 1998.
    Mùa Hè, Đất Mỹ.

    ------------------------------
    * CHARLIE, Tên nghe quá lạ
    * Đến đây, Người gặp Người
    * Trận đánh trên cao điểm
    * Ngày cuối của một người
    * Đốt Charlie
    * Người ở lại với CHARLIE
    * Anh Năm kính yêu
    ------------------------------

    CHARLIE,
    Tên nghe quá lạ


    Quả tình nếu không có trận chiến mùa Hè 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum. Charlie, “Cải Cách” hay “C,” đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-kơ và Đường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên. Charlie bị bao vây bởi Căn Cứ 5, Căn Cứ 6 ở phía bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngõ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè, mùa mưa rào, báo chí hằng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống vùng núi non, cạnh sườn cực tây địa giới nước Nam.

    Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa 1971 qua đầu xuân 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua được cửa ngõ hai căn cứ số 5, số 6, thế nên cộng quân đổi hướng tiến, lòn sâu xuống phía nam hai căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp “giải phóng” với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt Đường 14.

    Vòng đai Lữ Đoàn II Nhẩy Dù nằm về phía trái quốc lộ có hình cánh cung bắt đầu bởi căn cứ Anh Dũng ở cực bắc đến Yankee hay Yên Thế, ngã lần xuống nam với Charlie, Delta, Hotel, Metro và chót hết là Bắc Ninh, phía đông Võ Định, nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn. Vòng đai này có nhiệm vụ che chở phía trái đường 14, phát hiện sự di chuyển từ đông sang tây của địch xong dùng phi pháo để tiêu diệt. Đây là lý thuyết chiến thuật,quan niệm hành quân của phía cộng hoà đối với mục tiêu và hướng tiến của phía cộng sản hằng bao nhiêu năm. Nay địch thay đổi đường đi và quân ta lập vòng đai nhẩy dù... Yankee, Charlie, Delta bắt đầu được đặt tên để tiếp nhận định mệnh tàn khốc trong cuộc chiến trùng trùng. Đoạn sau kể về trận đánh ở Charlie, trận đánh nhỏ của một tiểu đoàn nhẩy dù, nhưng điển hình cho toàn thể bi hùng cực độ về người Lính Chiến Việt Nam.

    Đến đây,
    Người gặp Người


    Đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào khi chạy đến vùng Ba Biên Giới phía đông cao nguyên Boloven chia ra hai nhánh; nhánh thứ nhất từ Chavane đâm thẳng biên giới Lào-Việt xuyên qua dãy Chu Mon Ray để nhắm vào Darkto; nhánh thứ hai từ Bản Tasseng qua trại Lệ Khánh, và Kontum là mục tiêu cuối cùng của quan niệm chiến thuật Bắc quân: Phải chiếm giữ thị trấn cực bắc nầy để làm bàn đạp lần tấn công Pleiku, rồi từ đây tiến về phiùa đông, xuống bình nguyên tỉnh Bình Định. Gọi nhánh thứ nhất là nhánh Bắc và nhánh thứ nhì là nhánh Nam. Trong chiến dịch Xuân-Hè 72 của Mặt Trận B3 (chiến trường Tây Nguyên), đường rẽ phía Bắc được sử dụng, từ đỉnh 1773 của núi Chu Mon Ray, con đường không thể gọi là một nhánh nhỏ của “đường mòn Hồ Chí Minh” nữa, nhưng phải gọi đó là một “Bypass” của một cải lộ tuyến phẳng phiu trơn láng, chạy ngoằng ngoèo qua các cao độ, đổ xuống những thung lũng hun hút của dãy Big Mama Mountain rồi bò theo hướng đông đến đỉnh Kngok Kon Kring. Đỉnh núi này cao quá, con đường phải quẹo qua trái, đi lên cao độ 960 và tạm dừng lại. Dừng lại, vì phía đông, hướng trước mặt chỉ cách mười cây số, con sông Pô-Kơ dậy sóng... Con sông ầm đổ qua ghè đá, ào ào đi giữa rừng xanh núi đỏ. Bên kia sông, Quốc Lộ 14 chỉ khoảng trên dưới sáu cây số và đầu con đường là Tân Cảnh, mục tiêu của bao chiến dịch.Từ ngày chiến tranh “giải phóng” bùng nổ.

    Đây rồi, “...nồi cơm điện National” đây!! Tân Cảnh hấp dẫn ngon lành như cô gái yếu đuối hớ hênh thụ động nằm dưới thung lũng bát ngát ở đằng kia. Bộ đội ta tiến lên! Nhưng không được nữa, con đường đã bị dừng lại, và bộ đội ta dù được “tùng thiết”, dù được đại pháo “dọn đường” cũng phải dừng lại, vì đỉnh 960 chính là bãi đáp C, là cứ điểm Charlie và Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù đã xuống LZ (*) này từ ngày 2-4. Con cháu Bác và Đảng phải ngừng lại bố trí trận địa.Nỗ lực kinh khiếp kéo dài trên năm mươi cây số đường núi, từ ngả rẽ đất Lào phải dừng lại vì chạm phải “sức người”.Ở đây - Người đã gặp nhau.

    Vực thấp, đỉnh cao, bạt núi, xẻ đèo, những con người cuồng tín và tội nghiệp của miền Bắc đã làm được tất cả. Con đường núi của Tướng Stiwelle từ Miến Điện đến Trùng Khánh, Trung Quốc năm 1945 đã là một sự khủng khiếp - Đường xuyên sơn vạn dậm, dài thật dài, quanh co khúc khuỷu lớp lớp giữa núi rừng nhiệt đới, con đường nổi tiếng đúng như tầm vóc và giá trị của nó - Cả nước Tầu sống bám vào cái ống cứu nguy thậm thượt hun hút này. Vào thời điểm đầu thế chiến, nước Tầu, đồng minh “tuyệt vời cần thiết” của người Mỹ dễ thương cần phải sống để chống đỡ trục Bá Linh - Đông Kinh. Con đường quả đáng tiền và đáng sợ. Nhưng đường này làm bằng máy, dưới sự yểm trợ và che chở của các “Ong Biển” hảo hạng, những người lính công binh chiến đấu hãnh diện của Mỹ Quốc giàu sang hùng mạnh. Năm mươi cây số đường xuyên sơn của “bộ đội ta” thì khác hẳn. Bộ đội đào bằng tay trong đêm tối. Bộ đội lấp hố dưới tấm lưới lửa thép của B52, trên những giải thảm tử thần dầy lềnh bom bi CBU. Sức người và lòng cuồng tín ghê gớm đã vượt qua giới hạn. Đấy không còn là người với thịt da biết mệt mỏi đau đớn, cũng không là người với trí óc biết nguy biến và sợ hãi. Bắc quân, khối người vô tri tội nghiệp chìm đắm trong ảo tưởng và gian nguy triền miên. Con đường sạn đạo vào đất Ba Thục tân thời được hoàn thành từng phân từng thước... Bắc quân theo đó đi về Đông.

    Nhưng đến đây, ở cao độ 960, người lính Bắc Việt không tiến được nữa vì đã gặp “người”- Người rất bình thường và giản dị. Người biết lo âu, sợ nguy biến. Người có ước mơ và ham muốn vụn vặt. Những người không thần thánh hóa lãnh tụ và tin tưởng Thiên Chúa cũng chỉ là bạn tâm tình. Nhưng đó cũng là những người lính đánh giặc “tới” nhất của Quân Lực Miền Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan miệt mài trên dưới mười năm trận địa. Những sĩ quan biết đánh hơi rất chính xác khả năng và ý định của đối phương. Bắc quân dừng lại giữa đường, ảo tưởng bị công phá và tan vỡ- Họ gặp lính Nhẩy Dù Việt Nam.

    Trận đánh trên cao điểm

    Anh Năm (Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng 11 Dù) bố trí quân “hết sẩy”. Cứ điểm C hay Charlie chính thống, cao độ 960 giao cho “thằng 1”, đại đội 1 do Thinh, trung uý khoá 25 Thủ Đức chỉ huy. Thinh trẻ tuổi đời lẫn tuổi lính. Thinh có vẻ yếu trước mắt mọi người vì Thinh...đẹp trai! Đã đẹp trai, tốt mã thì đánh giặc hơi yếu. Chẳng hiểu sao phần đông là như thế?! Những anh có vẻ tài tử, ăn nói ngon lành, rỗn rãng thường hay lạnh cẳng... Nhưng nghĩ cho kỹ thì cũngcông bằng thôi, con người mà, được cái nầy thì mất cái kia. Nhưng anh Năm dưới cái nhìn sắc sảo của con ó, kèm theo “suy tư “ của phó Mễ đã chọn Thinh để giữ Charlie vì cả hai người chỉ huy đều chắc một điều: Đây là một tay “dur”, loại liều, thứ “kép trẻ đang lên” của trận địa. Thinh được lãnh hãnh diện “Nhất kiếm trấn ãi” và những ngày sau Thinh đã chứng tỏ, người chỉ huy mình đã không nhầm lẫn. Phía bắc của C giao cho đại đội 3, do Hùng “mập” làm đại đội trưởng. Hùng chỉ là đại uý thôi, nhưng “người” có đủ tác phong và khả năng để “tiến” xa hơn. Vì “người” cũng là tay văn nghệ, “lãnh tụ” sinh viên, có kích thước cơ thể và tính chất của tướng Thắng, ông “tướng sạch nhất “ của quân đội và cũng là ông tướng học giỏi nhất!! Nhưng giờ nầy Hùng chỉ là “simple captain” nên cam phận dẫn quân lên trấn giữa phía bắc Charlie, căng mìn bẩy, đào hầm chờ con cháu Bác, những chiến sĩ Điện Biên... Điện Biên cái con bà nhà nó, lúc xưa bố nó đánh Điện Biên chứ đâu phải nó hôm nay, trong họ tôi có ông chú làm tiểu đoàn trưởng đánh cái Điện Biên khỉ gió kia... Bây giờ tụi nó là cái chó gì..Chẳng nhẻ tôi là lính Tây cà-lồ sao?!! . Phần còn lại tiểu đoàn lên cao điểm 1020 hay C2. Anh Năm bảo Mễ:

    - Mình giữ hột lạc (cao độ bản đồ thường tượng hình hột lạc) này vì phiá nam tao chắc toàn tụi nó, lệnh hành quân bắt buộc mình phải giữ cửa thằng Charlie. Kẹt lắm, trước sau gì tụi nó cũng phải chiếm thằng Charlie nầy, và mình thì chỉ việc “thủ”?! Bố khỉ, thôi đã xuống đây thì phải giữ chứ biết làm sao, hôm đi họp hành quân được nhận tin tình báo từ quân đoàn, sư đoàn 320 (Sư đoàn Điện Biên cộng sản) đã rút về tây, vào đất Lào!!

    - Anh Năm yên chí, mình “hơn tiền “ tụi nó!! Mễ chắc giọng.

    Nhưng thật ra tất cả chỉ là những câu nói bề mặt, phần trong, đằng sau lý luận và phân tích, do những kinh nghiệm và nhạy cảm riêng về chiến trường, mọi người đều có chung ý nghĩ: Xong rồi, mình đã lọt bẫy!! Bởi, chiến tranh miền núi là chiến trường giữa những cao điểm; đành rằng C và C2 cũng là những cao độ, nhưng 960 và 1020 làm sao chế ngự được những đỉnh 1773, 1274, 1512 của rặng Big Mama Mountain và tiếp theo một dãy đường đỉnh nam rặng Chu To Sang... Và pháo binh của tụi nó. Pháo và kèm theo một “rừng cối”, gồm một hệ thốngsúng cối có đường kính từ 80 ly trở lên hoặc sơn pháo bắn thẳng... Sự thông minh và tinh tế về chiến trường của toàn bộ sĩ quan tiểu đoàn ngừng lại ở đây. Họ không dám nghĩ thêm. Phần lệnh hành quân đã giao cho họ một đỉnh núi trơ trọi để sửa soạn vinh quang cùng cái chết. Họ chỉ có một đỉnh Charlie đang hừng hực bốc hơi dưới nắng hè hạ chí trời Tây Nguyên. Định mệnh, sức mạnh khắc nghiệt khốn kiếp đã bắt phải như thế. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù không còn khả năng chọn lựa. Như cuối cùng cái chết thế nào rồi cũng phải tới cho dù người lính hằng chiến đấu quyết liệt bao nhiêu.

    Ngày 6, cứ điểm Delta ở phía Nam bị đánh. Đúng chiến thuật, lính ông Giáp tưới xuống một trận mưa pháo, cối và hoả tiễn. Đêm thật dài, người ở Charlie chờ đợi và theo dõi...Tiên sư, tụi thằng Mạnh (Tiểu đoàn 2 Dù giữ Delta) bị rồi.. Xem thử tụi nó đánh đấm ra sao? Bộ chỉ huy tiều đoàn 11 Dù chong mắt vào loa khuếch đại máy truyền tin để nghe kết quả... Trời sáng dần, Delta lấy lại được, quân ta thắng. Anh Năm nhìn Mễ:

    - Mầy thấy đấy, chúng sẽ chơi với mình cũng với cách nầy, chúng sẽ lấy kinh nghiệm ở Delta để “dứt điểm” mình. Toàn thể bộ chỉ huy im lặng. Mọi người đều có ý nghĩ chung. Bao giờ đến lượt mình? Baogiờ?

    Nhưng anh Năm không thụ động, con hổ dù bị nhốt trong chuồng vẫn còn nguyên phong độ, uy lực riêng. Không cần phải luận lý lâu lắc. Đây, quyết định của anh:

    - Mễ, mầy đem hai thằng 2 và 4 (Đại đội 2 và 4) lên chiếm cho tao cái nầy. Anh chỉ vào một cao điểm ở nam C2. Nếu chiếm được mình sẽ cho một thằng lên giữ nó, mình đã bị phân tán mỏng thì cho mỏng luôn, càng mỏng càng tốt, tránh được pháo, đỡ bị tụi nó vây... Mầy nghe chưa?

    Mễ gật đầu, anh năm thấy, nó cũng chung ý nghĩ. Đã vào bẩy thì tìm cách thoát ra, một đỉnh núi không thể là vị trí cố thủ. Tôi nghe anh rõ. Mễ trả lời. Trời vừa sáng, Mễ quay bảo Hải, sĩ quan trưởng ban 3( Ban hành quân),

    - Ông cho hai thằng 2, 4 chuẩn bị, mình đi làm ăn. Không thể ngồi đợi tụi nó tới đây rúc rỉa, cấu xé được...

    Ba đợt xung phong không thành, Bắc quân quả không dại dột bỏ vị trí rất nhiều ưu điểm; cũng bởi sườn quá dốc, quân ta dù can trường, dùng tay lẫn chân cũng không thể nào “chạy” qua được hàng lưới lửa của 12ly7 (đại liên phòng không hoặc chống chiến xa) hoặc sơn pháo 75 ly bắn thẳng!!

    - Cho thằng Mễ lui! Anh Năm bảo Hải. Trán cau lại, anh nhìn xuống đất, gỡ kính, chớp mắt, nói nhỏ sau tiếng chặc lưỡi : Mình bị một con dao đâm lút cán vào lưng!!

    Những ngày sau tương đối bình yên, hằng ngày các đại đội tung các đứa con ra xa lục soát, chỉ trừ đườngvề phía nam, nơi tụi “khốn nạn” đang chui trong núi. Làm sao”móc” chúng ra được? Bom thả xuống hằng ngày, nhưng chỉ là bom miểng... Mẹ...hầm tụi nó đào theo chữ U hoặc con c... gì gì thì làm sao bom “lách“ vào được?! Anh Năm đi lại trên đỉnh đồi nhìn bốn hướng trùng trùng và xa xa trong ánh nắng về phiá Tây, cuối con đường trong vùng núi Lớn có lớp bụi mù...

    ...Xe chúng nó! Xe chúng nó! Tăng hay GMC của tụi nó...Bom!! Bom... Gọi lữ đoàn Hải,

    - Để em gọi, nhưng Molotova chứ đâu phải GMC, anh Năm!

    - Thì đấy là GMC của Nga, mầy biết mẹ gì!!

    Đàn em thì bao giờ cũng ‘chẳng biết mẹ” gì. Anh Năm vốn hay phủ đầu như vậy. Nhưng đấy chỉ là một cách nói, bởi anh rõ ưu điểm của từng người như một máy ghi âm cực tốt. Máy bay ta ào tới, con đĩ “Lan 19” lượn một vòng trên vùng chỉ định, cho “ra” một trái khói... Khu trục nhào xuống tiếp theo, bom nổ dâng cột khói lên cao.

    - Tiên sư, bom ném thì hay nhưng sợ tụi nó trốn rồi, nó lại không trốn luôn mà quay trở lui về phía mình thì bỏ mẹ...

    Sau cơn bom, khói bay lên không trung, qua bóng nắng đằng xa thung lũng lại có lớp bụi mới bồi từng chập...

    ...Tăng! Tăng...tăng nữa, đông quá, tụi nó chưa bị... Tiên sư, nó trốn ở đâu nhỉ? Trên đồi cao, anh Năm đứng im như con báo nhìn lũ sài lang tiến tới hằng hằng lớp lớp. Làm gì được bây giờ... Không lẽ xin thêm phi tuần khu trục?

    Ngày 11, trận địa pháo bắt đầu. Pháo thật sự của 122 và 130 ly ào ào trútxuống C1, C 2, C3...Không phải từng trái, nhưng từng chùm, từng loạt... Một, hai, ba....Hải cố gắng đếm,

    - Mầy làm gì thế, điên sao em?! Anh Năm vừa hỏi vừa cười,

    - Mình gắng đếm để báo cáo cho chính xác!!

    - Thế thì mầy phải đếm hàng chục một, một chục, hai chục... Tụi nó đâu “đi tiền” lẽ!!

    - Tụi nó “chơi” tôi!Thinh ở Charlie báo cáo qua máy.

    - Mầy giữ nỗi không? Anh Năm cướp ống liên hợp máy truyền tin trên tay Hải.

    -Trình “ đích thân”, suya là tôi giữ được, xin cho pháo mình nổ gần tôi thêm chút nữa...

    Pháo căn cứ hoả lực Võ Định (Nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn) bắn tới tới trước, rơi xuống sườn phía đông Charlie... Đạn 105 và 155 nổ từng trái một, khói bụi tung lên trông rõ.

    ... Mẹ, bắn gì “quí phái” vậy, nó tấn công chính diện ở phía tây, mầy xin pháo căn cứ 5 bắn xuống dễ ăn hơn!!

    Hải bốc ba, bốn cái máy truyền tin một lúc, năm ngón tay chuyên “xoa”, “nặn” di chuyển trên giàn ống liên hợp lẹ như chớp... Thằng nầy gọi là “Hải khều” cũng phải, nó khều cái gì đúng cái đó!! Anh Năm phịa câu khôi hài đúng lúc, Hảinheo mắt cười thích chí.

    Pháo căn cứ 5, và hai căn cứ Sơn Tây, Mạnh Mẽ cùng ào xuống, vây quanh Charlie vòng đai lửa. Đấy! Đấy...phải như thế mới được. Anh Năm gật gù tán dương, đồng lúc tiếng Thinh vang vang qua loa khuyếch đại,

    - Trình đích thân cứ cho gà nó “đá” như thế, em đánh tụi nó de ra như đuổi con nít... Tốt! tốt...cho gần hơn năm mươi thước nửa thì tốt hơn, ngay trên tuyến em cũng được!!

    Bốn mươi lăm phút sau, pháo im bặt, cả ta lẫn của địch. Anh Năm lên hầm chong ống nhòm xem đại đội 1 bên đồi C lục soát chiến trường. Súng và xác bộ đội cộng sản nằm lềnh kênh chật kín đồi đất đỏ.

    - Nó đánh thằng 1 là để dợt chơi, cú dứt sẽ với mình,

    - Trung tá, trên họ không tin nó pháo mình bằng 130 ly?! Hải báo cáo, giọng mỉa mai.

    - Gì? Anh Năm chỉ gắt được một tiếng. Như thế là người đang nổi cáu. Trường hợp nầy vốn rất ít, vì anh vốn trầm tỉnh, sự giận chỉ đến sau chót, khi dã cuối cùng chịu đựng.

    - “Họ” bảo mầy sao? Chữ “họ” được gằn xuống khinh thị!!

    - “Họ” bảo mình kiếm mảnh 130 để gởi về!! Chữ “họ” thứ hai qua cách nói của Hải cũng đắng cay không kém.

    - Đến đây mà kiếm, muốn thấy súng của chúng thì cũng đến đây, tao như thế nầy không lẻ la hoảng, báo cáo láo sao?! Anh đá một hòn đất bay tung... Mẹ, nó xài toàn đạn delay (*) mới thế nầy đây! Câu nói ngắn đau đớn của niềm phẫn nộ tuyệt vọng.

    - Cho sửa sang hầm hố, ngày mai gì tụi nó cũng “chơi “ lại. Trước khi bước đi, anh quay sang Hải, dặn thêm: Mầy trình với lữđoàn, để nói với quân đoàn, đây là đạn 130 ly thật. 130 ly xuyên phá. Mầy bảo tao nói thế.

    (*)Đạn đầu nổ chậm, dùng xuyên phá công sự

    Đêm xuống thật mau, đêm của núi rừng thẩm màu và đầy bóng tối đe doạ. Sao trên cao lấp lánh, sương mù đùn lớp... Đêm như có hình khối chuyển dịch. đêm chất chứa che dấu hàng ngàn sinh vật đang bò dần vào cứ điểm. Đêm cũng vô cùng im lặng, nhưng nỗi im lặng kinh dị như khoảng cách từ khi viên đạn ra khỏi nòng súng và sắp sửa “chui” xuống mái hầm, hố phòng thủ. Trong bóng tối, mấy trăm con người trên ba cứ điểm dựng đứng đôi mắt xuyên thủng qua bóng tối. Và chờ. Ngủ chỉ là khoảng cách ngắn để đối mắt khép lại, đầu gục xuống, xong giật mình tỉnh giấc với nỗi “lo lắng” như vừa qua cơn mê thiếp dài, và trong khoảng khắc “dài thăm thẳm chóng vánh” nầy, hình như quân địch đã tiến sát gần hơn!! Tiểu đoàn 11 Dù qua đêm trong chập chờn sắc buốt với cảm giác viên đạn vô hình đang bay thẳng vào mặt. Có ráng hồng bên kia núi... Ngày đã tới. Ánh sáng đẹp âm vang hân hoan, như ân huệ nồng nàn vừa được sống sót qua thêm một đêm.

    Ngày cuối của một người

    Ngày 12 bắt đầu. Lính cong lưng xuống trên đất để đào thêm độ sâu... Càng sâu càng tốt. Tỷ lệ được sống sót là độ sâu của lớp đất đá vô tri nầy. Đất được đổ lên mái. Con người chui lọt vào giữa đất đá, tội nghiệp và thụ động như con sâu ẩn mình trong tổ. Pháo sẽ đến lúc nào? Nổ ở đâu? Câu hỏi âm thầm vang vang trong đầu hàng trăm con người. Trên ba cứ điểm im lặng chỉ loáng thoáng bay những sợi khói mỏng manh. Khói của cơn pháo cuối cùng chưa dứt độ nóngtrong đất. Chỉ tiếng cuốc đục đều đều vào đất đá như hơi thở bị ngắt khoảng.

    Trong hầm chỉ huy, anh Năm chỉ những điểm ước tính Bắc quân đặt súng,

    - Chắc chắn chúng chôn súng ở đây... Anh chỉ ngón tay trên các đỉnh Kngok Toim, Kngok Im Derong. Toàn là cao độ trên 1500 thước, ở đấy, tụi nó thấy mình rõ như ở đây mình thấy thằng 1 dưới Charlie. Ngày hôm qua nó bắn mình không trật một phát ra ngoài. Mầy xin mấy phi tuần để sẵn, có gì mình dội xuống liền. Dội ngay trên tuyến mình cũng được. Xong, ông Mễ và Bác sĩ Liệu về hầm đi, đừng tụ vào một chỗ.

    Mễ và Liệu đứng dậy,

    - Chào trung tá. Anh Năm gật đầu. Hình như anh gượng cười. Có điều gì khó khăn sắp xẩy ra? Không ai biết, nhưng âm tiếng mọi người có điều gì khang khác, buồn buồn... Tai ương nguy biến chực sẵn đâu đây đã làm người hoá nên tê liệt, rã rời. Cũng thật do chờ đợi quá căng thẳng giữa vũng tối, dầy bóng đêm.

    - Thôi, tôi về, có gì tôi chạy qua với anh. Hải không để ý tiếng “anh” bất bình thường nói trong hơi thở hụt. Người chỉ huy đứng dậy, Hải tiển anh ra cửa hầm. Anh bước lên nặng nề, chậm chậm, lưng cong xuống. Anh đi trên đất đá đào xới với dáng dấp của con hổ bị thương khi trở lại, rừng xưa nay đã hoang tàn.

    11 giờ 5 phút, pháo lại bắt đầu... C2 bị nặng hơn C và C1. Theo thói quen, Hải nhẫm tính tính từng chục trái một; hắn hét lớn báo cáo với lữ đoàn,

    - Tôi và hai đứa con củng bị một lượt, toạ độ đặt súng ở yếu tố cũ... Không ước lượng được, hai trăm trái rồi... tụi nó đang tấn công C!!

    Bắc quân từ Tây và Tây-Nam đồng nhào lên C, những người ở C2 nhìnxuống sườn đồi lúc nhúc những bóng áo vàng đục di chuyển chậm chạp, lui tới...

    -Nó đánh giặc gì kỳ vậy? Người hạ sĩ quan hành quân hỏiHải.

    -Tụi nó ”điên”, chẳng phải “điện biên” mẹ gì cả,đéo thấy ai ngu bằng tụi nó,

    Lính đại đội Thinh nhỏm dậy khỏi giao thông hào, súng bắn không cần nhắm, lựu đạn ném không cần lấy đà. Ta và địch cách nhau không đầy một tầm lựu đạn. C2 vẫn im lìm dưới trận mưa đạn và lửa... Tám trăm trái rồi... Chưa đầy một tiếng, nó đã nổ hơn tám bớp!! Hải ngồi bẹp trên đất, nón sắc chụp xuống, lẫm bẩm những câu vô nghĩa với chính mình. Qua máy truyền tin nội bộ (giữa các đại đội và ban hành quân tiểu đoàn), tiếng chuyển lệnh của Thinh nghe chững chạc, tự tin, ”... đợi tụi nó đến gần rồi hẳn bắn, nó chỉ là lính con nít, bây là nhẩy dù mà để thua là yếu lắm đó...”. Hải cố mỉm cười nhưng nụ cười không thành dạng. Pháo vẫn nổ như cơn địa chấn như xoay chiếc hầm nghiêng ngã... Tụi nó đòi dứt đứa con của mình... Ờ mà sao chẳng nghe anh Năm gọi qua gì hết... Có chuyện gì không nhỉ. Trí não Hải đã cứng trơ. Hắn không nghĩ được điều gì hơn.

    Mễ không buồn nghĩ đến số vũ khí của hai đại đội 1 và 3 tịch thu được. Anh Năm chết, là tiểu đoàn phó, Mễ tự động lên thay thế. Trách nhiệm quá nặng với tình thế kẹt cứng. Và anh Năm, người đàn anh thân mến từ bao nhiêu năm, gian nguy, khổ nhọc bao ngày dài cùng chia sớt. Vĩnh biệt anh, hầm bị ba trái cực mạnh, chịu làm sao thấu... Sao cuộc đời chỉ dành cho anh toàn hoạn nạn. Hoạn nạn của ba mươi năm ở đời chưa đủ sao?

    Mễ, Hải, Liệu nhìn nhau... Trời chiều cao nguyên sẫm bóng nắng. Đêm sắp đến. Đêm với chiếc bẫy sập xuống từ từ, lũ người tuyệt vọng nhìn thấy những tia gân máu đỏ đục loáng ánh sáng phẫn nộ hấp hối trong mắt nhau.

    Liệu cho lệnh những người lính y tá đào đất lên, mang anh ra ánh sáng. ngoài vết thương ở tim, người anh tím bầm từng chỗ, chiếc kính vỡ, mắt nhắm, miệng hơi mở để lộ ra những răng cửa. Hải ngồi xuống, rờ vào xác anh còn ấm, đập mấy cái lên áo. Lớp bụi mờ đục bay bay...

    - Để tôi rửa cho ông ấy,

    Liệu ngồi xuống với bông và cồn. Thi thể anh trầm trầm dưới nắng Tây Nguyên đẫm màu vàng rực. Hết. Mười hai năm chiến trận chấm dứt phút nầy đây trên cao độ 1020. Trông về bốn hướng chập chùng đồi cao tiếp núi thẩm.

    Trường Sơn ác độc nhận thêm một hình hài.

    Đốt Charlie,

    Bây giờ là buổi chiều. Buổi chiều với nắng vàng và gió lộng. Không còn tiếng nổ trong không gian, ba mỏm núi bốc những sợi khói nhỏ, mờ mờ hơi nóng. Nóng không phải hơi nắng mặt trời nhưng do âm ỉ của thuốc súng chưa kịp tan, còn lẫn khuất nơi cây cỏ, đất cát.

    - Thiếu tá... Hải gọi nhỏ Mễ. Lúc riêng rẽ, ít khi hai người gọi nhau bằng cấp bậc, nhưng bây giờ, tình hình đã khác, trách nhiệm và bổn phận quá đổi nặng nề, thêm xúc động trong lòng qua cái chết của người chỉ huy. Hải nhắc nhở Mễ,

    Thiếu tá, tổng kết là mình chết 20, 40 bị thương cần di tản,

    Mễ gật đầu, đưa mắt nhìn hỏi Liệu...

    - Đúng vậy! Liệu đáp nhỏ. Anh toubib hết đồ nghề, nhìn xuống xác anh Năm, như một cách lẫn tránh.

    - Dạ, có ông Hùng muốn nói chuyện với thiếu tá. người lính truyền tin đưa ống liên hợp cho Mễ.

    Tiếng Hùng ở C1, vọng trong máy: Trình Mê Linh (danh hiệu truyền tin của Mễ), ở tôi thì không có gì, nhưng từ sáng tới giờ sao chẳng nghe 008 (Tiểu đoàn trưởng) nói gì với tôi hết... Giọng Hùng mang vẻ trách móv xa vắng, ắt hẳn hắn đã linh cảm được tai nạn xảy ra. Mễ nhìn xuống xác anh Năm, đôi mắt đỏ mệt mỏi chớp chớp, hình như có giọt nước mắt lưng tròng,

    - 008 đã bắt tay với ông Phan (tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1 Dù, đã tử trận Hạ Lào, 1971), biết thế thôi, đừng nói cho ai hay...

    - Dạ, tôi nghe rõ Mê Linh. Hùng không còn hơi sức để hỏi gì thêm.

    Súng lại nổ dưới Charlie. “Cất” anh Năm lại, đừng cho lính biết. Tất cả ra giao thông hào. Mễ ra lệnh ngắn. Lời nói đanh cứng, dứt khoát. Trong ráng chiều, những người lính ở C1 và C 2 chăm chú theo dỏi trận đánh nơi cao độ C.

    Bắt đầu, cối và sơn pháo từ những cao độ phía Tây bắn từng nhịp bốn trái một vào căn cứ, xong Bộ Binh Sư Đoàn Điện Biên từ hai hướng Tây, Tây-Nam xếp hàng như đi điễn hành tiến vào...

    - Đúng là tụi nó điên rồi, không điều động, ẩn núp gì cả... điện biên cái con c...!! Lính ở C1 và C2 đồng đứng dậy khỏi giao thông hào chơi trò chơi mới,

    - Mầy bắn vào cái hố có bốn thằng núp dưới kia, nếu trật thì để tao. Hai người lính đại đội 112 thách nhau dùng súng phóng lựu M 79 và hoả tiễn cầm tay M72 từ đồi cao bắn xuống. Trái đạn bay đi khoảng ngắn, đất bụi bay lên... Bốn thân xác phơi trần trụi, vật vã, lăn lóc. Người lính nhỏ miền Bắc đi giải phóng ai đây; trong phút chốc họ đã trở nên thành những bia thịt sống thậm vô ích và chết với gía qua rẻ.

    Cuộc tấn công vào cứ điểm C kéo dài năm đợt. Lính Thinh đánh tỉnh táo, chắc chắn. Nhưng bỗng nhiên, Mễ có quyết định: Rút nó về, nhỡ tối nay, nó hết đạn thì sao...

    Hải gọi liền máy, bảo Thinh,

    - 401 (Thinh) đây 06 (Hải), anh xếp va-ly lại, nhớ mang theo mấy thằng rách áo, về ở với bố mẹ...

    - Vâng, vâng, tôi nghe rõ, tôi cũng có ý định đó vì kẹo gần hết, nhưng sợ 008 và 007 (tiểu đoàn trưởng và phó) hiểu lầm. Tội nghiệp chưa, đến giờ nầy, Thinh vẫn không biết người anh cả của tiểu đoàn đã đi khuất. Trong âm nói của Thinh vang động mối hân hoan vui sướng” về với bố mẹ”. Thinh đâu tiên đoán được đến lượt mình ở ngày mai?!

    Đại Đội 111 rút được về C2, năm giờ chiều, trời chỉcòn chút ráng đỏ, gió lạnh... Đỉnh Charlie trống trải cháy ngọn lửa điêu tàn. Và trong hoang vu hấp hối của cỏ cây, hằng trăm người lính Bắc Việt, “những chiến sĩ Điện Biên của sư đoàn Thép, đơn vị vang danh bốn chiều lục địa, những người lính Quân đội Nhân Dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, tất cả đồng nhào lên Charlie một lượt... Những “bàn chân gang thép mang linh hồn vũ bảo vào Nam giải phóng, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược” đồng chạy mau hơn, nhanh hơn... Để cùng lăn lộn, giành giựt trên vùng đất vỡ nát, lầy lụa xác người và hơi thuốc đạn. Như một cơn đồng nhập quẩn trí, tất cả đồng vất bỏ vũ khi, dùng tay trần cào, xới, bới, móc... Đám lính đói Sư Đoàn Thép kiếm thức ăn. Họ tìm gạo sấy, thịt hộp và C Ration. Cuối đường giải phóng, những “chiến sĩ Điện Biên anh hùng” tìm ra “vinh quang đích thực” nơi những hộp thức ăn chế tạo tại Mỹ, giữa đám xác người miền Nam họ vừa tàn sát.

    ... Bom!! Bom!! Đốt cháy tụi nó hết!! Mễ nói như thét,

    - Có ngay! Hải “khều” ngay ba phi tuần Napalm; toán lính Bắc định tháo chạy, nhưng không kịp nữa. Theo một hướng Tây-Đông chính xác, ba chiếc Skyraider cùng chúi xuống một lúc... Lửa lồng lộng, lửa vàng đỏ trộn khói đen cuộn lên lớp lớp... Trong cỏ cây cháy khét có mùi thịt. Thịt của người và thịt của thức ăn. Lính cộng sản sưđoàn Điện Biên Phủ vinh quangchết trên mục tiêu vừa chiếm lĩnh - Những hộp thịt thức ăn chế tạo tại Mỹ.

    Ngày 13 tháng Tư, Mễ cho đại đội 112 xuống chiếm lại C. Lính của Hùng “móm” vừa từ trên “hột lạc” đổ xuống bị bật lại ngay bởi một hàng rào của cối 60, 82 và sơn pháo 75 ly bắn thẳng từ ngọn đồi phía Tây. Bộ chỉ huy tiểu đoàn không một chút do dự: Cho thằng 2 về, tụi nó hận mình về vụ hôm qua. Lên phía Bắc không được, Mễ thử bung quân ra hướng Đông để tìm bãi đáp. Phải có một bãi đáp bất cứ gia nào, thương binh, người chết, xác anh Năm...Tất cả cần phải di tản. Sự hiện diện của những đau đớn nầy làm lòng nặng xuống, cũng có thể gây nên tâm lý phục hận phẫn nộ, nhưng cũng là lần suy sụp lo sợ. Phải di tản gấp số thương binh. Mễ nói với Thinh:

    - Ông gắng ra chỗ nầy, (một trãng trống cách C2 khoảng ba trăm thước về hướng Đông), kiếm được LZ( bãi đáp trực thăng), di tản hết thương binh và người chết, tụi còn lại mới yên lòng được. Đừng để cho lính có cảm giác bị bỏ rơi, tinh thần họ giản dị, dễ xúc động. Hơn nữa, mình hết đạn và nước uống. Nhé, ông gắng ra cho được.

    - Dạ, thiếu tá để tôi.

    Thinh can trường như Triệu Tử Long, dẫn đại đội chỉ trên khoảng bốn mươi người rời căn cứ. Cái trãng trống kia rồi, 50, 40, 30...Gắng chút nữa, mình có nước uống!! Thinh thúc dục người lính. Nhưng không thể được. Bắc quân bắt đầu khai hoả, bốn phía cùng nổ từ các cao điểm chung quanh. Nguy hiểm hơn, địch cắt đứt đường về, quân ở C2 cố ra đón bị chận lại, không thể dùng một thứ vũ khí nào khác ngoài lựu đạn. tiến không được, thối lui không xong, trên đầu bị vây chụp bởi đạn sơn pháo từ dãy cao điểm phiá Nam dội xuống. Thinh ngã chết. Chỉ còn con đừng nầy cho người lính trẻ. Thinh chết giữa trời, trên đồi cháy. Viên đạn cuối cùng vừa bắn ra. Bóng Bắc quân vây kín. Trái lựu đạn còn lại cũng vừa ném... Người sĩ quan tuổi quá hai mươi ngã xuống bởi chục nòng súng xả đạn vào. Chuẩn Úy Ba nhào đến ôm xác Thinh, hứng nốt những viên đạn còn lại.

    Mễ nổi điên trong giao thông hào, gọimáy liên lạc với đại đội 111,

    - Ở đấy còn có ai?

    - Có tôi. Khánh, sĩ quan liên lạc tiền sát pháo binh đáp mau.

    - Anh coi đại đội, cố dẫn về lại tôi, có thằng 4 ra đón.

    - Tôi nghe đích thân rõ. Người sĩ quan pháo binh gom quân làm một mũi dài. ... Đánh!! Để tao đi đầu, lựu đạn mở hết kíp ra. Trung Sĩ Lung, người hạ sĩ quan thâm niên nhất dẫn đầu toán quân, xung trận như mũi tên lửa. Đường về có được rồi, bắn bắn che nhau, Lung về chót... Nhưng còn hai ông thầy!! Lung cố chạy ngược trở lại nơi xác của Thinh và Ba. Một loạt đạn vô tình nào đó... Chầm chậm Lung ngã xuống. Ba xác chết chồng lên nhau bất động.

    Hai giờ chiều, Bắc quân mở cuộc tấn công mới, cuộc tấn công công khai, nhắm thẳng vào C2, căn cứ chính.

    - Tụi nó dứt mình. Được, mầy “điện biên” tao “nhẩy dù”, xem ai hơn ai... Tất cả ai ngồi được, kể cả bị thương, ra hết giao thông hào, thằng nào kêu la khóc lóc, tao bắn chết. Chính tao bắn... tụi mầy để thua, tao bombing vào đây. Chết, chết tất cả!! Mễ gào lên, xong ngất xỉu.

    Liệu nói nhỏ, thì thầm sát tai Mễ: Tim ông nó mệt rồi, đừng “gonfler” quá, ông chết luôn, hết người chỉ huy.

    Lính sư đoàn Điện Biên thổi kèn xung phong dưới yểm trợ của cối và sơn pháo. Quân ta sau mỗi đợt pháo, đứng khỏi giao thông hào... Vào nữa...vào nữa đi con... Có đứa nào già không mầy? Tao chỉ thấy toàn con nít, đánh tay không tao cũng có thể bóp cổ tụi nó được!! Trước mắt lính nhảy dù, một lớp, hai lớp, những “đứa trẻ” cứ tuần tự đi tới... Những lớp trẻ con chơi trò đánh nhau. Chơi trò chơi ác độc do ép buộc, tuyệt vọng và vô nghĩa lý.

    ... Không nương tay với nó... Napalm Hải!!

    - Có ngay!!

    Hai chiếc skyraider xuống thấp như chưa bao giờ thấp hơn, dưới đất thấy được chiếc mũ trắng của anh pilot; hình như anh muốn nhìn quân bạn, anh muốn chào thăm hỏi như sau mỗi lần thả “líp” dù chót, phi cơ thường hạ thấp cách mặt đất khoảng vài mươi thước để “chào bãi”. Ở đây cũng thế, hai chiếc máy bay rà sát xuống coi như gần đụng ngọn cây. Thả bom với cao độ như thế nầy chắc chắn không chệch một thước, bom nổ cháy xém đến tuyến phòng thủ của quân bạn, đám lính Bắc lăn lộn trong bãi lửa, chạy dạt ra xa... Nhưng ô kìa, hai chiếc skyraider không lên được nữa... Lòng can đảm và tình đồng đội đã giết các anh. Các anh đã xuống quá thấp để ném bom thật chính xác, để bung địch ra cho bạn. Các anh đã quên thân mình... Hai cánh đại bàng chúi xuống. Chúi xuống nữa và bốc cháy... Vĩnh biệt các anh! Đám cháy kết thúc trận đánh. Thây người cháy đen nằm chật sườn đồi.

    ...chúng nó đánh, chết như thế để làm gì nhỉ!? Một ngày của hai mươi bốn giờ trên thép đỏ và máu nóng đi qua. Trời tối dần. Đêm xuống... Người lính dựa lưng vào giao thông hào liếm môiâ. Môi anh nóng như miếng vỏ cây bi nung khô... từ sáng đến giờ chưa được uống nước. Anh không còn sức để nghĩ thêm sau chữ “nước”.

    Ngày 14 tháng Tư tiếp theo. Tính đến hai giờ chiều, C2 nhận hơn 2000 đạn “delay” và nổ chụp. Toàn bộ Tiểu Đoàn 11 co mình trong giao thông hào dưới cơn mưa pháo không dứt đoạn.

    ... Nó nổ xa mình. Hải thều thào,

    - Ừ phía Tây, ngoài tuyến mình. Liệu tiếp lời, gật đầu đồng ý với Hải. Nhưng thật ra cả hai đều tự dối, pháo không rơi một điểm, một tuyến, pháo chụp toàn thể C2. Pháo tan nát. Pháo mênh mông. Tất cả những lời nói chỉ là cách tự đánh lừa, trấn tỉnh đồng đội và cũng chính mình.

    - Hôm nay 14? Liệu hỏi bâng quơ, gợi chuyện trong tiếng nổ ầm ỉ sắc buốt. Mễ Hải không trả lời, đưa mắt dò hỏi. Còn lời nào trong cơn mưa lũ của sắt thép vang động nầy ?!

    - Hôm nay mười bốn, mai mười lăm, ngày đầy tháng con tôi...

    Bốn con mắt lại mở ra. Mễ và Hải không hiểu ý Liệu. Không hể hiểu nổi... Vì Liệu đang nghĩ: Không lẽ ngày đầy tháng con bố lại chết?! “ Chết”, chữ nhỏ ngắn nầy làm tê liệt hết phản ứng. Chết đến từ tiếng “bục” âm âm nơi xa, sâu trong rặng Big Mama... xong nổ “oành” đâu đây... Hình như ngay trên đỉnh đầu, trong lòng nón sắc đang vang động u u. Giữa khoảng cách kinh khiếp nầy chữ “chết“ hiện ra sáng rực như một giải quang báo, tiếp nổ bùng với toàn hể sức công phá. Tiếp tục... tiếp tục... Bốn cây 130 ly nơi xa nã đạn xuống Charlie nhịp nhàng từng ngắt khoảng ngắn.

    Năm giờ chiều, trận mưa đại pháo chấm dứt để cối và sơn pháo 75 ly điểm giọt, bắn thẳng vào căn cứ.

    - Xong rồi, tụi nó “chơi’ mình lại. Mễ đứng khỏi giao thông hào. Đêm nay là quyết định, mình và nó last fighting... Mễ báo cáo với bộ chỉ huy lữ đoàn,

    - Bây giờ tụi nó hết “in coming (pháo kích)”, và bắt đầu “ground attack”. Không phải Mễ sính dùng tiếng Mỹ, bởi thông thường, những danh từ kia phải được nguỵ hoá, nhưng bây giờ tìm đâu ra thì giờ để dò tìm từng từ trong bảng “Ám danh đàm thoại”.

    - Nó đánh anh chưa? Viên lữ đoàn trưởng ở căn cứ Võ Định vào máy liên lạc trực tiếp với Mễ.

    - Bắc đầu ở hướng cũ, tây và tây-nam, heavy attack,

    Tất cả đứng khỏi hầm, đạn súng colt lên nòng, Bác Sĩ Liệu lúi húi tìm mấy trái lựu đạn... Tôi hết đồ nghề bác sĩ rồi, chơi “đồ chơi” mới vậy, lần sau đi hành quân, tôi mang một khẩu đại liên 60!! Không ai còn sức hưởng ứng câu đùa của Liệu. Mễ nhăn mặt đau đớn, ngày hôm qua bị một quả pétard (thủ pháo, một loại lựu đạn biến chế) nổ quá gần, sức nổ ép cứng xương sườn vào vách hầm, để lại những vết máu bầm lấm chấm...

    Trời tối dần, hơi núi đùn lên cao, đậm đặc thêm vì khói súng. Bắc quân đã chiếm được một phần giao thông hào, tuyến phòng thủ của đại đội 114...Trình Mê Linh, nó lấy của của tôi một “khúc ruột”. Cho, đại đội trưởng 114 báo cáo với Mễ,

    - Hải, nói với lữ đoàn nó vào tuyến mình rồi,

    - Tao...tao mệt... nói không nổi, Liệu giúp hộ...

    Bác Sĩ Liệu, to người, béo mập, đang khom lưng lẫy súng colt lạch cạch như trong phim cao-bồi, chớp ống liên hợp máy truyền tin,

    ... Dễ thôi, để tôi... Tụi nó cắm được một phần vỏ lạc của tôi... Liệu ề à với giọng tỉnh táo đùa cợt,

    - Ông phải la lên mới được, đùa thế, ngoài ấy tưởng mình giỡn,

    - Giỡn làm sao, không đùa như thế, chẳng nhẻ lại khóc lóc mếu máo sao... Ê... chạy đi đâu!! Liệu quay nòng súng colt về phía một anh lính đang nháo nhát chạy vào khu giao thông hào trung tâm,

    - Đi ra, ông bác sĩ không bắn mầy thì tao bắn cho mầy biết chết như thế nào? Mễ hét lớn với người lính... “biết chết như thế nào?!”.

    Mễ cũng buồn cười vì lời nói của mình... Chết rồi, thì biết chó thế nào nữa?! Ầm! Một trái bộc-pha nổ thật gần, bắn Mễ ngã ngữa người xuống. Mễ lồm cồm bò dậy, sờ lưng,

    ...bác sĩ, chắc tao bị thương nặng!! Mễ thều thào.

    Liệu xoa tay lên lưng Mễ, thân áo rách lỗ chổ... Đếch có gì cả, mảnh nhỏ như bụi, vì ông yếu sức nên ngất thế thôi, đây là hậu quả những cú đấm của thằng Hennessy, Couvoisier trước kia!!

    ...C... giờ nầy mà mầy còn trêu được!

    - Stupid! Why you fire forty-five? Anh cố vấn trưởng, Thiếu Tá Duffy hét vào tai Liệu,

    - I have only this... Mẹ mày, giờ nầy còn why với what....What cái cần câu ông ấy,

    Một đợt, hai đợt... năm đợt, Bắc quân tràn vào, bị đẩy ra, lại tiếp tục tràn vào, chiếm được một đoạn giao thông hào, xong lấn dần từng đoạn,

    - Không xong rồi, nó nhiều “tiền” quá! Hải lẩm bẫm.

    Mễ nhìn Liệu, Hải, Cố Vấn Trưởng Duffy. Tôi muốn ở lại! Mễ chắc giọng.

    -Nó vào chỗ thằng 4 (Đại Đội 4), đang qua chỗ thằng 2, mình hết đạn... Dọt, tôi đề nghị. Hải khôn ngoan, dứt khoát.

    - Phải, mình “ra” đi, ở đây chịu không nổi, tụi nó đông gấp mấy mình. Liệu tiếp theo. Chữ “ra” ráo hoảnh trống không.

    Mễ im lặng, gở nón sắc ra khỏi đầu,

    ...No hesitation, the best way... Sir? Duffy, Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, người quấn băng loang lổ máu khô, anh đã bị thương ba nơi trên thân, nhưng quyết ở lại với tiểu đoàn. Viên cố vấn, hiểu được phút giây nghiêm trọng đối với Mễ; lần đầu tiên anh gọi người cùng cấp bậc, một thiếu tá người Việt với danh xưng kính trọng, “sir”.

    - Đồng ý, cho thằng 2 dẫn đầu, xong đến đại đội chỉ huy và thằng 4 bao chót. Hải, gọi máy qua thằng 3, bảo nó “nhổ neo” ra điểm hẹn nầy. Mễ chỉ một vùng tập trung ở hướng đông-bắc trên bản đồ. Bảo nó đi ngay, mang theo thương binh.

    Lần đầu tiên trong đời tác chiến Mễ phải “chạy”, Mậu Thân, 1968, ở Huế, với đại đội chỉ còn ba mươi người, dẫu trùng trùng nguy khốn, Mễ vẫn điều quân phản công chiếm lại cổng thành Thượng Tứ. Nhưng, lần nầy, viễn ảnh toàn bộ tiểu đoàn bị tràn ngập, Mễ không còn cách nào khác hơn.

    - Hướng đông-bắc, 800 ly giác, thằng 3 sẽ ra đó với mình. Hải chuyển lệnh cho Hùng “móm”, thành phần xung kích còn lại cuối cùng của đơn vị.

    ...OK, em nghe, em làm được cái một. Hùng “móm” vẫn ranh mảnh như không có chuyện quan trọng đang xẩy ra.

    Đi xuống hoài, vực sâu hun hút, trời tối thẫm và cây rừng đan lưới. Chỉ tiếng lá khẽ động dưới bước chân cùng những thanh âm rên rỉ gầm ghìm trong cổ họng.Đoàn quân lẫn vào bóng đêm như muốn tan thành vật vô hình. Sau lưng họ trên đồi cao, C2 bốc lửa ngọn. Bom đã thả xuống khi người lính cuối cùng đại đội 1 ra khỏi vòng vây. Thương binh nặng và xác “anh Năm”, chuỗi cảnh tượng chập chờn chồng lên trí óc Mễ. Mệt, cảm giác rõ rệt nhất, ba ngày và đêm không ăn, ngủ, chỉ nhấp chút nước lã cầm hơi và cuối cùng, cuộc rút quân trong đêm... Đi nữa đi Hùng, đúng hướng rồi, cứ tiếp tục, phía mặt trời đó, bao giờ đến chỗ trống thì báo tôi. Nhớ liên lạc với thằng 3 ở phía trái, thấy mặt trời thì bảo. Mễ thì thào chuyển lệnh cho Hùng, đại đội trưởng đại đội 1.

    Mặt trời chưa thấy, đêm còn dầy. Dầy từng khối lớn mông mênh và đặc cứng. Hình như đã đến đáy một “tan-véc”(khe nhỏ chạy giữa hai chân núi), chân bước lên lớp đất ẩm. Nước! Người lính đặt tay xuống “mặt nước”. Không có, chỉ một lớp lá ẩm mục và đất bùn, khe suối mùa, chưa có nước. Nhưng bàn tay có chút ẩm, người lính lè lưỡi liếm miếng nước vô hình đó .

    Qua khỏi “tan-véc”, lên đỉnh đồi, thấy lại sau lưng ngọn lửa ở C2 bập bùng. Bạn bè ta còn đó, sống làm sao được hở trời ?Mễ kiệt lực hỏi,

    - Hải, khi chót mình để “anh Năm” ở đâu ?

    - Ở giao thông hào, nơi hầm đại liên. Mễ và Hải chỉ nói với nhau được câu ngắn trong đêm. Nguy biến và rình rập vẫn còn rất nhiều. Sao trời chưa sáng nhỉ ?Hùng, gắng đi mau hơn nữa, càng xa tụi nó càng tốt, giữ được súng và thương binh nhẹ như thế này cũng tạm coi như là “đẹp”. Đẹp, hình như Mễ cười chế riễu mình trong bóng tối. Thôi, đừng nghĩ gì nữa, cởi nón sắt cầm tay, bốn ngày đội hoài khối sắt trên đầu, khi cởi ra còn nguyên ảo giác của âm vang tiếng nổ lộng trong lòng chiếc nón kim khí. Mệt quá! Sống rồi! Hùng “móm” kêu một tiếng sảng khoái, bốc máy báo cáo cho Mễ, nhanh như chớp:

    - Tôi thấy “nó” rồi phía tay trái tôi.

    Mễ nhìn lên tàng cây, trời tím nhạt chưa có ráng nắng, nhưng ngày đã bắt đầu, trãng trống vùng tập trung đã gần đến. Thoát rồi chăng? Mễ tự tin nhưng cũng rất đầy kinh nghiệm: Nó phục mình ở đây nữa thì tan hàng!! Ý nghĩ kinh khiếp như một mũi dao cực bén cắm ngay đỉnh đầu.Mễ không dám nghĩ tiếp...

    - Kêu thằng “Đỗ Phủ” đến tao Hải,

    - Duffy come here... Viên thiếu tá cố vấn đang đi sau Hải và Liệu nghe kêu, mỉm cười bước lại. Ba lần bị thương, bốn ngày chiến đấu không ăn, ngủ, Duffy vẫn “cứng” như một khối thép, đầu đội mũ đi rừng, khẩu M18 đặt ngang hông, tự tin và bình thản như một ý chí không lay chuyển. Tiên sư thằng cha này “dur” cả hồn lẫn xác, number one! Liệu nói với Hải khi Duffy qua mặt để lên gặp Mễ. Anh chàng hiểu ý, mỉm cười: Hello Doc!!Trong phút chốc sự việc khủng khiếp của bốn ngày căng cứng như vụt tan đi. Nắng cũng vừa đến, nắng đầu tiên của ngày, lòng người lính duỗi ra theo độ ấm của vệt ánh sáng. Sống được rồi mừng biết bao nhiêu!

    - Đây nhé Duffy, vùng tập trung của mình, 113 bên trái, phe ta bên phải cùng “move” lên. Mình làm một cái LZ (bãi đáp), xong “mày” gọi “Tây” đem máy bay tới móc mình ra, OK ?

    - OK Do !! “Đỗ Phủ” gật đầu lia lịa... Good...very good, you’re the best commander! “Đỗ Phủ” đưa ngón cái lên ca tụng Mễ.

    - Tao hay hơn nhiều, cú này bị “kẹt”, mày khen làm tao ngượng. Duffy không biết Mễ nói gì, cười rộng mồm, Mễ cười theo.

    Rất cẩn thận, Mễ cho Hùng “móm” và Hùng “mập” cùng lên trãng trước. Hai cậu Hùng “bắt tay” nhau, làm thành vòng phòng thủ, phần còn lại của tiểu đoàn với đám thương binh “bò” lên tiếp... Xong rồi, khá an toàn, giữ được cái trãng là tốt, có đường thoát rồi.Duffy,có tàu bay chưa ?

    - OK! Ten minutes, sir!

    Nhưng không còn “ten minutes” nào cho Tiểu Đoàn 11 nữa! Một trận mưa rào, mưa đầu mùa... Mưa bởi một rừng cối và sơn pháo từ những cao độ phía đông “tưới” xuống. Bắc quân tấn công bộ từ đông-nam lên. Không hầm hố, không đạn, mệt mỏi, đói khát của bốn ngày đã đến đỉnh cao nhất chịu đựng. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù lăn lộn, cựa quậy hấp hối trên trãng cỏ tranh trơ trụi dưới lưới chụp đan dầy bởi lửa, khói và mảnh đạn thép... Hàng sống, chống chết! Hàng sống, chống chết! Bắc quân ào ào như nước lũ tràn đi qua con đê bị vỡ. Tiểu đoàn 11 tựa tình cảnh con báo kiệt lực bị vây khốn bởi một rừng ong cực độc! Bây giờ là 8 giờ sáng của ngày 15-4-1972, Tiểu Đoàn Nhẩy Dù mới tinh của Anh Năm, tiểu đoàn đã khoan thủng bức tường thép của cộng quân ở Damber; tiểu đoàn “nướng sống” hai tiểu đoàn của sư đoàn Điện Biên trên cứ điểm C- Thua. Thua đau đớn và thua vô lý!! Đâu còn có thế để dựa vào. Đâu còn lực để đương cự ?!

    Muốn đánh nhau phải có “thế” và “lực”.Thế đã mất ngay từ ngày đầu tiên khi bước xuống cao điểm với một nhiệm vụ “phòng thủ” quá mỏng manh thụ động, và lực nào còn nổi sau bốn ngày hay 156 giờ tác chiến căng thẳng trên các cao điểm nguy biến và thiếu thốn toàn diện. Hình như mọi người đều không ăn, uống kể từ ngày 12.Uống, nếu có chỉ là chữ gọi động tác “nhúng” chiếc lưỡi vào nắp bi đông ẩm ướt. Tan hàng!! Những người sống sót còn lại tan biến vào rừng cỏ tranh.

    Người ở lại với CHARLIE,

    Charlie tan, trên đất đá điêu tàn chỉ còn vươn vãi khói xám và thây người. Trong đó có Anh- Người đàn anh kính mến đã cùng tôi chia xẻ quãng đời dài. Những dòng chữ viết để nhớ Anh - Nguyễn Đình Bảo.

    Ngày 22 tháng 5, ông Nixon đi Nga, không ít thì nhiều chuyến đi ấy đã có tác dụng với cuộc đại tấn công của Bắc quân vào ba quân khu.Rất nhiều giả thuyết về cuộc kịch chiến này được đem bàn tán, nhưng tất cả đều đồng ý: Chuyến đi có ảnh hưởng đến trận đánh và đây cũng là trận cuối mùa, một mùa đại loạn đẫm ướt máu đỏ chảy trên những thân thể gọi là “người Việt Nam”. Ngày 22 tháng 5 ông Nixon khởi đầu chuyến đi, ngày 12 tháng 4 anh chết. Sao anh không gắng sống? Anh chỉ cần gắng thêm một tháng rưởi nữa, nếu chưa chấm dứt, chiến tranh có thể mang những hình thức khác, cuộc đại tấn công này sẽ được đình chỉ lại, hoặc chuyển qua vùng khác... Những vùng dễ đánh để anh có thể tung hoành như anh đã làm nhiều lần trong tháng năm chinh chiến dằng dặt. Và biết đâu chiến tranh sẽ biến thái lại nên thành chiến tranh du kích, anh là tiểu đoàn trưởng đơn vị Nhẩy Dù, làm sao có thể chết được trong những “chiến tranh an toàn” như thế! Tại sao anh không gắng sống?Tại sao thế hở trời ?

    Vẫn biết rằng đi chiến trận là mất mát. Không chết trước thì chết sau... Trước anh cả trăm ngàn người đã nằm xuống. Anh đã cùng tôi chứng kiến bao nhiêu lần “nghỉ phép” của ông Huệ, Thừa, Hổ... Anh gật gù, “Thôi tại số, mình gắng chịu vậy...”. Anh gắng chịu đã quen. Anh đã thoát nhiều lần. Từ trung đội trưởng Tiểu Đoàn 8, anh qua Tiểu Đoàn 3; làm đại đội trưởng Tiểu Đoàn 1 và tiếp theo Tiểu Đoàn 9. Anh đã dự bao nhiêu trận từ thuở ông Đống mới làm tiểu đoàn trưởng giờ này là trung tướng tư lệnh; anh đánh trận từ lúc chiến tranh còn như là trò chơi, ông Tư “Hòa Hảo” đi thuyền vào họp với Việt Cộng, đám giặc cỏ chỉ vài cây súng ngựa trời hay 2 khẩu Mat 36 để thay đại liên. Từ những trận đánh nhỏ đó, anh được “trưởng thành trong khói lửa”, thành ngữ nói ra nghe có vẻ “cải lương” nhưng quả thật không còn chữ nghĩa nào để dùng chính xác hơn. Anh đánh trận Ấp Bắc, giải vây đồn Bổ Túc vào những năm 60, với những trận đánh mở đầu “chiến tranh giải phóng”. Chiến tranh lớn dần như một thứ quái thai được mùa, như tế bào ung thư ngon trớn, chiến tranh lớn như sinh vật quái dị ở hành tinh khác đến đây nẩy nở theo cùng chiều rộng của không gian. Khói lửa từ đấy dậy lên như giông bão. Trong “môi trường” hào hùng độc địa nầy - Anh trưởng thành.

    Anh già hơn không phải do số tuổi, nhưng chiến trận, hành quân như nối mối thời gian để nhắc nhở mỗi ngày, mỗi tháng, năm anh qua... Năm 1965 giải vây Đức Cơ, Pleiku; năm 1966 bị phục kích ở Cheo Reo, cũng năm này “giải phóng” Bồng Sơn, Tam Quan.67 “lội” nát người suốt vùng Thừa Thiên, Quảng Trị, từ cái làng nhỏ ở bên kia sông Hương nhìn ra phá Tam Giang, đến cuộc tấn công vào khu phi quân sự đổ từ đèo Ba Giốc xuống. Hết 67 đến 68 anh đem quân về vùng đồng Ông Cộ, Hốc Môn, Bà Điểm; Việt cộng tấn công đợt Hai, tiểu đoàn 9 do anh làm “ông Phó” có cơ hội “rửa mặt” nhân vụ tịch thu cả hầm vũ khí chở đầy một chiếc F.O.M.Chiến thuật thay đổi, từ ven đô anh di chuyển về Tây Ninh để “cày” từ Tống Lệ Chân qua Katum, Trại Bí... Suốt một vùng biên giới dài theo con sông Vàm Cỏ anh đi như không mệt... Anh đi như định mệnh đốn mạt bắt anh dính liền vào mỗi thước đất phải bước qua.

    Nhưng chưa bao giờ nghe anh than tiếng nhỏ. Sự chịu đựng và vẻ bình thản là tính chất căn bản của anh.

    - Mầy biết nhá, tao di cư vào, mỗi ngày phải đạp xe mờ người chạy từ trại định cư đến Phú Thọ để lấy khẩu phần bánh mì và năm đồng bạc. Mầy biết, tao tập thể thao to chừng này, thằng Tây bán thịt gần trăm ký bị tao ném một cú đòn vai, nằm luôn.

    Anh là con nhà võ, thắt đai đen nhu đạo thời kỳ 56, 57, tính chất võ chân truyền này là nền tảng tinh thần của anh. Đó là một tinh thần rất thường ở bề mặt nhưng phần trong rất “sáng”; một thứ “sáng” mã thượng, độ lượng và chân thật - Chân thật và thẳng thắn tuyệt đối. Anh sống ở đời giản dị và thẳng thắn như kẻ có võ công thượng thừa lại thêm tâm tư nhân ái. Anh không một lần than thở dù lúc làm “ông Phó” ở tiểu đoàn 9 anh bị “kẹt”. Anh bị nạn. Anh bị “ép”. Bị “nát như cái mền”. Nhưng tất cả đã không là đáng kể... Hãy nghe anh nói:

    - Mày thấy, tao là lính tác chiến, rồi cũng có ngày tao phải chỉ huy, nhỡ bị kẹt là cái hạn của mình, sau đó mình “bốc”. Anh cong một bàn tay lên làm cú “bốc” kèm theo tiếng chửi thề “mẹ”. Sự bực dọc của anh chỉ được diễn tả chừng ấy.Không hận đời và tin ở mình.Trong đời sống bình thường, anh sống với thái độ khắc kỷ thật cao thượng.

    Anh Năm kính yêu,

    Anh chết ngày 12 tháng Tư, đến giờ này, sau ba ngày xác anh vẫn chưa móc ra được. Ngày 14 ông Bạch Long cho hai trực thăng và một Skyraider vào, cố làm một bãi đáp để đưa anh ra, cả ba chiếc đều bị “shotdown”. Người lính về nói với gia đình như thế, cháu Tường bẩy tuổi đã lớn, nhưng cũng chưa hiểu nổi phận bi thảm của lần mất bố, kể lại câu chuyện... Kể lại phút anh nằm xuống với lồng ngực bị vỡ. Không biết chi tiết đó có đúng thế không, nhưng cháu cứ lập lại với mọi người xem như như một nét “xuất sắc” của anh. Tội nghiệp cháu quá anh ơi, nó đang lún xuống trong một bất hạnh với quả tim hồng và nụ cười sáng, nó nắm tấm ảnh lúc anh còn ở trường, thắt đai đen bên cạnh ông Hiếu... “Bố cháu là những người “xuất sắc”!Ôi anh đã sống, chết bới những hoàn cảnh cực độ. Những phiền não cùng cực và vinh quang bốc lửa. Anh di chuyển giữa những cực điểm với tâm tư bình yên, lặng lẽ, chiếc lưng gù xuống chịu đựng. Giờ này anh mới “thật sự nghỉ ngơi”, một cách nghỉ ngơi cay đắng và khắc nghiệt. Cuộc đời đã “ta-pi” anh trước khi anh kịp đứng lên rũ áo, thối tiền.Anh thua trong sáng suốt và nín lặng cũng như ván bài ở lăng ông Cẩn ngoài Huế trong tối mùa đông năm xưa... “Tao biết mày tháu, nhưng cũng cho mày ăn.”Anh úp bài cho tôi vồ tiền. Anh Năm ơi, anh bị cuộc đời “tháu” cú này nữa. Cúù tháu độc địa và hết thuốc chữa.

    Anh chết thật rồi!! Tin cuối cùng rõ ràng về anh do Hải “khều” nói lại không thể sai vào đâu nữa. Hầm anh hứng đúng ba trái hỏa tiễn, mảnh ghim vào tim và anh chết ngay phút đầu tiên, khi “tụi nó” bắt đầu đánh biển người vào Charlie.Hải “gói” anh vào ba lớp poncho, nhưng máy bay không xuống được, Mê Linh lại bị thương. Chúng nó phải “rút lui chiến thuật” vì pháo và hỏa tiễn rơi đến cả ngàn trái vào căn cứ, đặc công cảm tử lại phá được hàng rào ngoài.Giữ thế nào được nữa, Mễ lẫn Hải đều bị thương, chúng cố điều động phần sống sót còn lại để mở đường máu, bảo toàn đơn vị.Phải bỏ anh lại, chắc chắn Mễ đau đớn lắm, vì hắn và tôi đều nặng ân tình với anh biết mấy; từ thuở ở tiểu đoàn 9, anh “che” cho hắn bao nhiêu đòn; Mễ là đứa rất có tình, bỏ anh lại nơi chốn núi rừng, vùi dưới đống đất cát và lửa đỏ chắc là vết thương dài đời không hết, tâm hồn khó được phần quên lãng nguôi ngoai.

    Mấy hôm nay tôi ngủ không được, mắt nhắm lại thấy cảnh anh đang chết, những giờ khắc cuối cùng, anh chống ngược mắt xuôi tay và đi khuất... Tưởng đến tiếng nói, nụ cười và toàn thể không khí của bữa cơm chót trong vườn Tao Đàn, đâu có ngờ đây là bữa cơm vĩnh biệt?! Chưa bao giờ anh vui vẻ và tự tin cho bằng thời gian đó: “Số tao hết cực rồi, hạn 33 tuổi đi qua... Tao làm lớn cho mày nhờ.”Tôi cũng nghĩ như thế, vì cái “võ nghiệp” cứ phú quý thụt lùi, thôi thì chỉ mong ngày anh “làm ông tướng!!”Ngày đó sẽ không bao giờ có nữa, cũng không còn những ngày vui như buổi chiều cuối năm mờ hơi sương, anh và tôi đứng ở sườn đồi nhìn xuống sông Hương bốc khói lam, nồng hớp rượu “số Bảy” không đá, nghe từng âm ba rộn rã của men rượu tan trong máu và cất tiếng cười bất chợt... Tiếng cười hào sảng thống khoái vang động không khí u trầm bí ẩnchiều cuối năm dầy sương lạnh.

    Tôi cũng tin vào số mạng, biết rằng anh có tướng lộ xỉ không được tốt, nhưng bù lại tai anh dày, có thùy châu, bước đi vững chãi... Nên nghĩ rằng anh sẽ đi qua, anh sẽ vượt qua tất cả hoạn nạn, vì anh đã hoạn nạn dư thừa, hoạn nạn ngập mặt. Từ tuổi thiếu niên anh đã gian nan phấn đấu, phấn đấu để thành người và dựng đời, anh đối chọi với khó khăn như con trâu miệt mài trên đồng ruộng. Năm nay anh 35 hay 36 tuổi, tôi không được rõ, nhưng hình như anh chưa có ngày nghỉ ngơi toàn nghĩa. Cuối đời, vừa le lói chút ánh sáng bình yên và hạnh phúc, anh hân hoan sửa soạn tương lại, rộn rã như cô dâu tốt số. Đời đã quật anh cú chót và anh đành thua. Bao nhiêu năm tranh sống để lúc chết quả tim đang hả miệng cười.

    Tiểu đoàn rút khỏi Charlie và phi cơ oanh kích căn cứ. Ôi sao tàn khốc thế hở trời?! Anh đã sống cay nghiệt sao cái chết lại quá bi thương. Ba lớp poncho gói thân anh làm sao che chở nổi hình hài vô tri dưới cơn mưa bom, bão thép. Phép màu nào giữ nổi xác thân anh? Vĩnh biệt, Anh Năm kính yêu...Nơi chốn hư không nào... Mong linh hồn anh được lần yên nghỉ.