Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Khi Sotirios A. Tsaftaris, một giảng viên gốc Hy Lạp 34 tuổi, rời Đại Học Northwestern gần thành phố Chicago (Mỹ), để trở thành phó giáo sư (assistant professor) của trường Đại Học IMT Lucca, một trường đại học nghiên cứu dành cho sinh viên sau đại học ở Lucca, Tuscany, thành phố có từ thời trung cổ của Ý Đại Lợi, ở hầu hết những đồng nghiệp của anh đã tỏ ra nghi ngờ. Những câu hỏi đại loại như “Đại Học Lucca ư?”, “Ở đó họ có sử dụng tiếng Anh không?”... đã được nhiều người nêu ra.

    “Tôi quyết định đến IMT Lucca bởi vì tính liên ngành ở đây rất cao. Chúng tôi làm việc trong các đơn vị nghiên cứu bổ sung. Tôi nghĩ rằng điều đó rất quan trọng để giữ cho cái đầu của chúng ta luôn cởi mở với tư cách một nhà khoa học”, ngồi trong một phòng hội nghị trần mái vòm cổ kính của Đại Học IMT Lucca, Tsaftaris cho biết.

    Trong khi Ý Đại Lợi là một trong những địa chỉ khá phổ biến đối với sinh viên trao đổi quốc tế, đặc biệt là những sinh viên đại học muốn theo học một học kỳ hoặc một năm ở nước ngoài, thì chỉ có rất ít sinh viên nước ngoài theo học cả khóa và tốt nghiệp ở Ý Đại Lợi. Cũng rất ít giảng viên, nhà nghiên cứu là sinh viên quốc tế tốt nghiệp chọn khởi đầu sự nghiệp giảng dạy của họ ở đây. “Thủ tục tuyển chọn để thuê các giảng viên đại học ở Italia vẫn luôn bị coi là nhiều tham nhũng hoặc chỉ tạo điều kiện cho những người trong cuộc. Ngoài ra, sự quan liêu trong ngành giáo dục đại học Ý Đại Lợi càng khiến cho nhiều ứng viên nản lòng. Đây là lý do tại sao các nhà nghiên cứu nước ngoài không đến với các đại học nước này", ông Roberto Perotti, giáo sư chính trị kinh tế tại Đại Học Bocconi ở Milan, người đã có nhiều bài viết về hệ thống trường đại học Italia, nhận xét.

    Tính chung, chỉ có khoảng 1% trong đội ngũ giảng dạy và nhà nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học khác nhau ở Ý Đại Lợi là người đến từ nước ngoài. Các giảng viên, giáo sư, nhà nghiên cứu quốc tế khi đến Ý Đại Lợi thường phải đối mặt với nhiều trở ngại như rào cản ngôn ngữ, tệ quan liêu, khó khăn theo nhiệm kỳ, thiếu cơ sở tin tức trực tuyến qua internet, tài chính hạn hẹp và một số quyền lợi dành cho đội ngũ giảng dạy trong các trường đại học chỉ dành cho người Italia mà không bao gồm những giảng viên là người nước ngoài.

    Ý Đại Lợi là một đất nước đang chìm ngập trong nợ nần do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Không chỉ vậy, quốc gia này còn có nguy cơ mất vị trí của mình với tư cách một khu vực đầy tiềm năng cho sự tăng trưởng của giáo dục đại học. Quỹ nhà nước Ý Đại Lợi dành cho giáo dục đã liên tục giảm trong thời gian qua. Nhiều trường đại học và viện nghiên cứu cộng ở nước này luôn trong tình trạng bị thiếu tiền, và các giảng viên, giáo sư giảng dạy thiếu sức trẻ: Theo Bộ Tài Chính Ý Đại Lợi, có gần 30% các nhà nghiên cứu, 60% phó giáo sư và hơn 86% các giáo sư giảng dạy đại học ở đây là những người ở độ tuổi lớn hơn 50. Trong khi đó, chỉ có rất ít người nước ngoài làm việc tại các trường đại học Ý Đại Lợi, chủ yếu là những giảng viên được thuê vì các kỹ năng ngôn ngữ của họ.

    Nhưng tại Đại Học IMT Lucca lại là những hình ảnh khá khác biệt. Được thành lập vào năm 2005, với ý thức về tầm quan trọng của sự cởi mở trong giao lưu quốc tế đối với sự thành công của một trường đại học, IMT Lucca đã có chính sách mở cửa và tạo điều kiện cho những nhà nghiên cứu và giảng viên quốc tế đến làm việc tại trường. Đến nay, Đại học IMT Lucca đã có khoảng một nửa số tiến sĩ và nhiều phó giáo sư là người đến từ nước ngoài. Nhưng các đại học như IMT Lucca đã phải vật lộn rất nhiều để có được những điều kiện như nguồn tài chính tư nhân hay thậm chí là ngay cả những tài nguyên trực tuyến tốt để thu hút một đội ngũ giáo sư, giảng viên trẻ và song ngữ đến với trường.

    “Làm thế nào chúng tôi có trở nên thể hấp dẫn với những giáo sư, nhà nghiên cứu nếu giờ đây tôi không thể hỏi những ứng viên của tôi rằng họ có muốn đua tranh cho vị trí giảng dạy trong nhiệm kỳ ba năm hay không? Chúng tôi có thể giữ chân được những giáng viên của mình từ một rừng các quy định của Italia bằng cách làm cho quy trình tuyển dụng tiếp cận được về mặt văn hóa với người nước ngoài”, Giáo Sư Fabio Pammolli, người sáng lập và cựu giám đốc của Đại Học IMT Lucca cho biết.

    Mặc dù vậy, theo Giáo Sư Fabio Pammolli, Đại Học IMT Lucca vẫn chưa thể tuyển dụng được những giáo sư làm việc toàn thời gian trong một khung thời gian hợp lý. Trong số chín giáo sư được Đại Học IMT Lucca thuê năm 2011 thì tất cả đều là người Ý Đại Lợi với kinh nghiệm quốc tế và có thể hòa nhập với tốc độ chậm chạp của môi trường công việc ở nước này. Anh Massimo Riccaboni, 39 tuổi, một giáo sư kinh tế và quản lý tại Đại Học IMT Lucca cho biết: “Khi họ đề nghị tôi vị trí công việc này, tôi đã nghĩ đến việc chuyển đến Brussels làm việc. Tôi quyết định ở lại Ý Đại Lợi vì lý do cá nhân và vì nhiều lý do khác, nhưng việc giảng dạy và học tập ở đây diến ra với nhịp điệu chậm chạp, làm người ta phát sợ đến nỗi muốn tránh xa”. Trước khi đến Đại Học IMT Lucca, anh Massimo là một giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Carnegie Mellon và một nhà nghiên cứu tại trường Đại Học Stanford (Mỹ).

    Cũng giống như ở các quốc gia khác của Châu Âu, giáo sư của các trường đại học công lập Ý Đại Lợi là những người được hưởng chế độ công chức nhà nước. Nhưng sự khác biệt ở đây là một khi đã được tuyển dụng, tiền lương của những giảng viên và giáo sư sẽ được tự động tăng theo thâm niên công tác, bất kể năng suất nghiên cứu hoặc kết quả công việc của họ như thế nào. “Đó là một hệ thống cứng nhắc. Chỉ có các nhà nghiên cứu không được xuất sắc mới là những người có động lực để đến Ý Đại Lợi, bởi vì đồng tiền mà những giảng viên kiếm được có thể không liên quan đến khả năng làm việc của họ là bao nhiêu. Nếu một khoa nào đó của Đại Học Harvard thuê một giảng viên không có kỹ năng, họ sẽ mất đi sinh viên và điều này sẽ có hậu quả. Trong hệ thống công chức Italia, không có ai kiểm tra về hiệu suất làm việc của các nhà nghiên cứu và các giáo sư, và không có ai chịu trách nhiệm trực tiếp về sự hủy hoại danh tiếng của các trường đại học. Những cán bộ, công chức, viên chức sẽ không phải chịu hậu quả nào về những quyết định kém cỏi của họ", Giáo Sư Perotti, thuộc Đại Học Bocconi ở Milan, cho biết.

    Mặt khác, một số người phê phán chính sách phát triển đại học ở Ý Đại Lợi còn cho rằng các trường đại học nước này đã không làm gì để nuôi dưỡng sự nỗ lực của các học giả trong việc phát huy tên tuổi mình ra bên ngoài biên giới đất nước. Mặc dù gần đây đã có một sự gia tăng các khóa học tiếng Anh, nhưng hầu hết các trường đại học Italia vẫn không cung cấp các khóa học đại học hoặc sau đại học được giảng dạy bằng tiếng Anh, khiến cho các nhà nghiên cứu khó khăn hơn trong việc xuất bản những công trình khoa học của họ trên các tạp chí uy tín quốc tế. “Dù là tốt hay xấu, ngôn ngữ phổ biến của nhiều ngành khoa học là tiếng Anh, và những học giả người Ý Đại Lợi đã bị trừng phạt so với các đồng nghiệp của họ ở nhiều nước khác, ví dụ như Hòa Lan. Họ ít có cơ hội hơn để có được những khoản tài trợ và quỹ dành cho nghiên cứu từ nước ngoài”, Fabrizio Bernardi, một giáo sư xã hội học tại Viện Đại Học Châu Âu ở Florence nhận xét.

    Trong suốt nhiều thập kỷ qua, các giáo sư đại học tại Ý Đại Lợi đã được tuyển dụng thông qua những quy trình thủ tục phức tạp. Về mặt lý thuyết, quá trình tuyển dụng đó là nhằm mục đích tuyển chọn được những nhà nghiên cứu và giảng viên có trình độ tiến sĩ từ bất cứ nơi nào trên thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, những thủ tục đó chỉ những người có thể đọc tiếng Italia mới có thể tiếp cận được.

    Trong nỗ lực để cải thiện quá trình tìm kiếm nhân sự chất lượng cao cho các trường đại học, Bộ Giáo Dục Ý Đại Lợi đã đưa ra một quy trình thủ tục tuyển dụng giáo sư và giảng viên qua internet. Bắt đầu từ ngày 27/7/2012, những ứng viên từ khắp thế giới có thể tải lên mạng hồ sơ xin việc và các công trình nghiên cứu, ấn phẩm của họ đến một trang web để chứng minh mình có đủ điều kiện để có thể giảng dạy ở bậc đại học. “Cho đến nay, thủ tục đó đã được xây dựng như một quá trình mở. Giờ đây chúng tôi đang chú ý nhiều hơn đến tính minh bạch, quy định rõ ràng, và giới hạn về thời gian khi thuê đội ngũ giáo sư, giảng viên đại học. Thế hệ giảng viên mới đã trải qua thời gian ở nước ngoài, và đất nước Italia đã sẵn sàng cho sự hội nhập quốc tế hóa nhiều hơn. Tuy nhiên, việc xây dựng một nền đại học có uy tín trên toàn thế giới là một quá trình phức tạp cần có thời gian”, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Ý Đại Lợi Francesco Profumo cho biết.

    Tuy vậy, các thủ tục tuyển chọn giảng viên trực tuyến mới qua internet của Bộ Giáo Dục Ý Đại Lợi đã bị một số nhà hoạch định chính sách giáo dục chỉ trích. Theo họ, quá trình tuyển chọn phải trải qua mấy tháng chờ đợi để được đăng ký làm một giáo sư đại học tại Italia không phù hợp với những thủ tục tiến hành công việc đó qua internet như trong một thị trường việc làm thông thường, đặc biệt là trong các lĩnh vực có yêu cầu cao như khoa học máy tính, những ngành khoa học chuyên sâu và kinh tế. Một số người khác thì lại tỏ ra hoài nghi về các quá trình thủ tục trực tuyến sẽ có thể giải quyết được các vấn đề lâu dài về tuyển chọn những giảng viên và giáo sư tại các trường đại học Ý Đại Lợi.

    Ngược lại, nhiều chuyên gia giáo dục lại cho rằng, ở nhiều nước Âu Mỹ khác, hội chợ việc làm là nơi có thể kết nối hàng ngàn ứng viên tiềm năng cho vị trí giáo sư, giảng viên với hàng trăm trường đại học chỉ mất một vài ngày.

    Mặt khác, nhiều chuyên gia giáo dục Ý Đại Lợi lại tỏ ra lo ngại về danh tiếng quốc tế yếu kém của những trường đại học nước này, cũng như sự ra đi của các sinh viên và giáo sư tài năng. Họ cũng lo ngại trước một thực tế là Ý Đại Lợi còn thiếu một chiến lược thúc đẩy các trường đại học nước này để có thể trở fhành cái nôi của sự sáng tạo và đổi mới.

    “Điều thực sự quan trọng là sự năng động trong giao lưu quốc tế của các sinh viên trẻ. Sự phát triển sự nghiệp của một sinh viên trẻ có rất nhiều rủi ro kèm theo, và tôi rất vui mừng vì chúng tôi đang tập trung vào lĩnh vực nguồn lực quốc tế ở đây, không chỉ riêng về nguồn lực Ý Đại Lợi”, anh Alexander Peterson, 31 tuổi, người đã có bằng tiến sĩ vật lý tại Đại Học Boston trong năm 2011 và bây giờ là một phó giáo sư tại Đại Học IMT Lucca, cho biết.

    Quả vậy, những giáo sư, nhà nghiên cứu tại Đại Học IMT Lucca đang cho thấy rằng họ là các nhà khoa học có uy tín và có năng lực thu hút được các quỹ đầu tư cho nghiên cứu, giảng dạy. Cùng với các đồng nghiệp của họ tại Hội Đồng Nghiên Cứu Quốc Gia Ý Đại Lợi (Italy’s National Research Council), những nhà nghiên cứu của Đại Học IMT Lucca đã nhận được một khoản tài trợ 11,1 triệu USD để nghiên cứu về cuộc khủng hoảng trong hệ thống tài chính, năng lượng và giao thông vận tải ở Ý Đại Lợi.

    Trong ba năm qua, Giáo Sư Alberto Bemporad, giám đốc mới được bổ nhiệm của Đại Học IMT Lucca, đã thu hút được 7 khoản tài trợ quốc tế đầu tư cho các dự án nghiên cứu của trường. Theo kế hoạch, tháng 11/2012, các nhà nghiên cứu tại Đại Học IMT Lucca sẽ phối hợp cùng 17 trường đại học khác để bắt đầu một dự án trị giá 5,1 triệu Euro nhằm cung cấp cho các tổ chức ở Châu Âu một khuôn khổ để đánh giá những rủi ro hệ thống trong mạng lưới và thị trường tài chính toàn cầu.

    Mặc dù phía trước còn nhiều trở ngại, nhưng đó chính là những dấu hiệu đáng khích lệ cho thấy IMT Lucca đang đi đúng hướng, và làm “người mở đường” cho những trường đại học khác ở Ý Đại Lợi, như Giáo Sư Pammolli, giám đốc đầu tiên của Đại Học IMT Lucca đã phát biểu: “Tôi hiểu rằng chúng ta là một đại học nhỏ, nhưng nhà trường là nơi đang đối mặt với các vấn đề của cả đất nước. Chúng tôi đang cố gắng để đổi mới bằng việc mở cửa một cách cởi mở cho sự giao lưu với các trường đại học và nhà nghiên cứu quốc tế. Đại Học IMT Lucca đang đi đầu các trường đại học trong việc tìm cách đổi mới giáo dục đại học ở Ý Đại Lợi”.

    Vũ Anh Tuấn
  2. Với kế hoạch tăng quỹ liên bang để hỗ trợ trợ tài chính dành cho sinh viên và quy định sử dụng quỹ này để khuyến khích các trường đại học giảm học phí, Tổng Thống Mỹ Barrack Obama đã đưa ra một cách tiếp cận mới nhằm giảm chi phí giáo dục đại học cho sinh viên Mỹ.

    Trong một bài phát biểu đầy nhiệt huyết trước 4.000 sinh viên trường Đại Học Michigan trong chiến dịch tái tranh cử tổng thống năm 2012, Tổng Thống Mỹ Barrack Obama cho biết, chính phủ nước này sẽ thúc đẩy khoản đầu tư liên bang trong chương trình Perkins cho sinh viên vay từ 1 tỷ USD lên 8 tỷ USD và đề ra những quy định để phân phối tiền từ quỹ. Theo kế hoạch, các trường cao đẳng, đại học sẽ được thưởng dựa trên thành công của họ trong việc giữ cho học phí ở mức tương đối thấp, cung cấp được nhiều giá trị phục vụ sinh viên có thu nhập thấp. Ngoài ra, chính quyền Obama cũng đang đề xuất cung cấp 1 tỷ USD tài trợ cho những tiểu bang hạn chế được mức chi phí giáo dục đại học; đề ra một cuộc thi với 55 triệu USD tài trợ ban đầu dành cho các trường, viện đại học để theo đuổi những nghiên cứu đổi mới để tăng hiệu suất trong lĩnh vực giáo dục đại học.

    Quan điểm về chính sách giảm chi phí đại học của ông Obama đã phản ảnh một trong các mối quan tâm trung tâm của dư luận ở Mỹ trong những năm qua. Trong hơn 3 thập kỷ qua, con số chi phí thực tế cho việc học đại học ở Mỹ đã tăng hơn 100%, một tốc độ tăng theo cấp số nhân cao hơn so với bất cứ sự gia tăng lương và chi phí sinh hoạt của hầu hết người Mỹ. Theo các số liệu mới nhất của tổ chức College Board, chi phí trung bình năm học 2011-2012 của mỗi sinh viên Mỹ theo học một khóa đại học bốn năm tại một trường đại học công, bao gồm học phí, lệ phí, chi phí phòng ở và nội trú, là 17.131 USD (tăng 6% so với năm trước); và 38.589 USD cho một trường đại học tư, hay viện đại học phi lợi nhuận (tăng 4,4% so với năm trước). Với tốc độ gia tăng chi phí cho việc học tập như vậy, ước tính chi phí để theo học bốn năm đại học tư của mỗi sinh viên Mỹ vào năm 2026, mà ngày hôm nay còn là những trẻ em đang học mẫu giáo, sẽ lên đến 280.000 USD trở lên.

    Những con số được coi là “đáng báo động” này đã gây lo ngại cho nhiều người Mỹ, và đã thúc đẩy các cuộc tranh luận trên toàn quốc về sự gia tăng chi phí theo học đại học của sinh viên. Một quan điểm chung được nhiều quan chức dân cử, các phương tiện truyền thông và thậm chí cả công chúng chia sẻ, là vẻ ngoài hùng tráng, danh tiếng của các trường cao đẳng, đại học và bộ máy quản lý cồng kềnh là những nguyên nhân chủ yếu chịu trách nhiệm về sự leo thang các chi phí theo học đại học mà đang chiếm một phần ngày càng tăng trong thu nhập của tầng lớp trung lưu và tước đi không ít cơ hội theo học đại học của nhiều sinh viên nghèo, có hoàn cảnh khó khăn.

    Còn theo cuốn sách "Sao Chi Phí Đại Học Tốn Thế?" (Why Does College Cost So Much?), do nhà xuất bản Oxford ấn hành, xu hướng gia tăng chi phí của giáo dục đại học cũng tương tự như các ngành công nghiệp dịch vụ khác như pháp luật, chăm sóc sức khỏe và giải trí. Trong khi ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy mức chi phí của giáo dục đại học tăng nhanh hơn so với tỷ lệ lạm phát, nhiều người đã đặt câu hỏi lý do tại sao giá hàng hóa đã tăng chậm hơn so với chi phí của giáo dục đại học. Có hai yếu tố giúp giải thích hiện tượng chi phí đại học tăng nhanh. Không giống như các lĩnh vực sản xuất, nơi giá thành sản phẩm thường giảm đi hay trở nên ổn định theo thời gian nhờ được cải tiến quá trình sản xuất hoặc gia công, giáo dục đại học không thể có được cùng quá trình cải tiến tăng năng suất và giảm chi phí như vậy. Trong thực tế, nhu cầu đạt được các tiêu chuẩn ngày càng cao của giáo dục đại học trong nhiều trường hợp còn có nghĩa là năng suất trong ngành giáo dục đại học đi xuống.

    Tổng Thống Obama cho biết, chính quyền của ông coi việc kiềm chế chi phí theo học đại học của sinh viên là một trong những mục tiêu được ưu tiên của chính phủ Mỹ. "Các trường đại học không thể tự ý tăng học phí mỗi năm. Nếu các trường không thể ngăn được học phí tăng, thì nguồn kinh phí từ tiền nộp thuế của những người dân sẽ giảm xuống. Chúng ta cần thúc đẩy các trường đại học làm việc tốt hơn, chúng ta nên đòi hỏi họ chịu trách nhiệm nếu họ không làm được điều đó", tổng thống Mỹ phát biểu.

    Ở Mỹ, các trường cao đẳng và đại học đều có một danh sách các quỹ hỗ trợ sinh viên. Các sinh viên khó khăn về tài chính được giảm chi phí theo học từ quỹ hỗ trợ sinh viên của chính phủ và những tổ chức phi lợi nhuận tư nhân. Nhiều tổ chức trong số này là các công ty Mỹ cung cấp cho sinh viên đại học sự tiếp cận với các khoản vay giáo dục phục vụ cho việc học đại học. Trường Đại Học Saint Peter, ở bang New Jersey, là nơi có mức học phí trong năm 2011-2012 là 28900 USD, cao hơn mức trung bình của những trường đại học tư ở Mỹ một chút. Giáo Sư Eugene J. Cornacchia, chủ tịch Đại Học Saint Peter, cho biết: “Nhiều sinh viên khi nhìn thấy mức học phí khoảng gần 30.000 USD đã nghĩ: “Học phí tốn nhiều tiền quá!”. Tuy vậy, học phí trung bình mà những sinh viên phải trả trên thực tế ít hơn nhiều con số đó, “bởi vì chúng tôi cung cấp hỗ trợ học phí dựa trên hoàn cảnh gia đình sinh viên. Chúng tôi đang sử dụng những nguồn tài trợ của trường để thu hút các sinh viên “ruột” của chúng tôi" và giúp họ đủ khả năng chi trả bởi vì chúng tôi biết học vấn đại học sẽ giúp cho con người nâng cánh và cung cấp cho họ một viễn cảnh cuộc sống tươi sáng hơn”.

    Hiện nay, quỹ Pell là khoản trợ cấp đại học liên bang lớn nhất dành cho các sinh viên có thu nhập thấp ở Mỹ. Các nhà phân tích cho rằng kế hoạch của Tổng Thống Obama có lẽ sẽ không ảnh hưởng đến ngân sách dành cho quỹ Pell, nhưng có thể có một nhược điểm tiềm ẩn: Sự trừng phạt về tài chính đối với một số trường đại học bằng cách từ chối nguồn tài trợ từ liên bang nếu các trường đại học này không thể giảm chi phí giáo dục đại học, sẽ ảnh hưởng đến khả năng theo học của những sinh viên nghèo. "Chúng ta có nên lấy đi nguồn tiền hỗ trợ từ các sinh viên và gia đình có thu nhập thấp và trung bình chỉ bởi vì chúng ta không hài lòng với các trường đại học không?", Giáo Sư Terry Hartle, phó chủ tịch cao cấp của Hội Đồng Giáo Dục Hoa Kỳ (American Council on Education) cho biết.

    Giờ đây, sau khi đắc cử thêm nhiệm kỳ tổng thống thứ hai, ông Obama đang có điều kiện thực hiện kế hoạch giảm gánh nặng tài chính cho sinh viên của mình bằng cách tăng quỹ liên bang cho các khoản vay lãi suất thấp dành cho sinh viên và quy định gắn trực tiếp những quỹ này với khả năng giảm học phí của các trường đại học. Trước mắt Tổng Thống Obama còn một số trở ngại vì phần lớn trong kế hoạch này cần được Quốc Hội Mỹ thông qua, và Đảng Cộng Hòa đã phản đối chương trình Perkins của ông Obama vì lý do giảm sự tốn kém trong thời điểm nước Mỹ đang có nhiều khó khăn về kinh tế. Tuy nhiên, các viên chức Tòa Bạch Ốc cho biết, khoản cho vay trong chương trình Perkins trị giá 8 tỷ USD theo kế hoạch của Tổng Thống Obama sẽ không làm tốn thêm tiền của người nộp thuế bởi vì sinh viên sẽ trả tiền lãi suất cho những khoản vay. Tổng Thống Obama cho biết, khả năng tiếp cận với giáo dục đại học là một công cụ quan trọng đối với những người trẻ tuổi có mong muốn "làm việc đủ tốt để nuôi gia đình, sở hữu một ngôi nhà, và gửi con mình theo học đại học". Mùa thu năm 2011, Tổng Thống Obama cũng đã công bố một chiến lược để củng cố ngân quỹ liên bang dành cho các khoản vay của sinh viên và giảm lãi suất để giúp sinh viên tốt nghiệp có thể trả nợ dễ dàng hơn.

    Trong khi nhiều nhà lãnh đạo các trường đại học đánh giá cao các kế hoạch của Tổng Thống Obama, các trường đại học Mỹ cũng đang đặt câu hỏi liệu chính quyền Tổng thống Obama sẽ xác định những tiêu chuẩn mà một trường đại học được hưởng sự hỗ trợ chi phí giáo dục đại học từ liên bang là như thế nào. Theo một số quan chức giáo dục Mỹ, chính phủ Obama có thể yêu cầu các trường đại học hạn chế sự gia tăng học phí ở mức 3% một năm trở xuống để không bị mất nguồn tài trợ liên bang. Tuy nhiên, những nhà giáo dục cũng đặt câu hỏi, liệu việc tổng thống Mỹ phạt một trường đại học công lập có dẫn đến làm tăng hơn nữa học phí với sinh viên để bù đắp vào các khoản hỗ trợ tài chính của nhà nước bị lấy đi hay không.

    Dù còn những ý kiến khác nhau, nhưng chủ trương giảm gánh nặng chi phí theo học đại học cho sinh viên là hướng đi đã được xác định trong chính sách của chính quyền ông Obama trong thời gian tới, như Tổng thống Mỹ đã phát biểu: "Đó là những gì các bạn đang phấn đấu, là tất cả những gì thuộc về giấc mơ nước Mỹ. Việc chúng ta giải quyết vấn đề đó như thế nào là vấn đề quyết định trong thời đại của chúng ta. Chúng ta không muốn sống ở trong một đất nước coi thành công là điều chỉ dành cho một nhóm người nhỏ. Chúng ta muốn có một đất nước mà tất cả mọi người đều có được cơ hội học tập”.

    Vũ Anh Tuấn
  3. Theo một nghiên cứu mới được các nhà khoa học Mỹ công bố trên tạp chí Tim Mạch Mỹ (American Heart Journal), tỷ lệ béo phì trong học sinh tiểu học ở Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng, nhưng các chương trình giáo dục thể chất và dinh dưỡng có thể có tác động tích cực tạo ra sự khác biệt.

    Từ năm 2005 đến nay ngành giáo dục California đưa ra một chương trình giáo dục thể chất mới, bắt buộc đối với học sinh các trường công lập toàn tiểu bang. Theo chương trình này, nhà trường sẽ yêu cầu trẻ em ở các trường mẫu giáo đến học sinh lớp 5 tập thể dục trung bình 20 phút mỗi ngày. Đối với những học sinh từ lớp 6 đến 12, chương trình yêu cầu thời gian tập thể dục là 40 phút. Các trường học cũng phải nâng cao chất lượng và số lượng của chương trình giáo dục thể chất, đồng thời không đưa những loại thực phẩm và đồ uống có nhiều đường và chất béo vào các bữa ăn phục vụ học sinh.

    Các nhà nghiên cứu Mỹ đã ghi lại những kết quả mà chương trình tập thể dục bắt buộc và ăn uống hợp lý trong các trường học công được áp dụng trên toàn tiểu bang California trong những năm qua. Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra những dữ liệu của hơn 6 triệu học sinh các lớp 5, lớp 7 và lớp 9 trong các năm học từ 2003 đến 2008, sau khi các chương trình giáo dục thể chất này được áp dụng. “Những kết quả chúng tôi tìm thấy là: Nhìn chung thể chất của các em học sinh lớp đầu vào mỗi năm là như nhau, và trẻ em tăng cân trong suốt những năm học”, nhà nghiên cứu Bommer, chuyên gia tim mạch tại Đại Học California, một trong những người thực hiện cuộc nghiên cứu, cho biết.

    Tại mỗi cấp lớp, các học sinh đã được kiểm tra về thể chất, bao gồm chỉ số khối lượng cơ thể (BMI), đo sức chạy bền bỉ, sức đẩy và căng vai. Các nhà nghiên cứu đã phân tích các hồ sơ theo dõi những thay đổi đối với tình trạng béo phì và thể chất của các em học sinh tham gia chương trình.

    Và những nhà nghiên cứu nhận thấy một số dấu hiệu đáng khích lệ trong sự tiến bộ về thể chất của các em học sinh. Mặc dù số lượng trẻ em béo phì vẫn tiếp tục tăng (đến năm 2008, tỷ lệ học sinh bị quá cân hoặc béo phì đã tăng thêm 2% so với năm 2003), nhưng tỷ lệ tăng đã chậm lại. Tỷ lệ béo phì của những học sinh được khảo sát chỉ tăng trung bình 0,3% mỗi năm trong thời gian được nghiên cứu, so với khoảng 0,8 đến 1,7% mỗi năm trong những nghiên cứu của quốc gia trước đây.

    Như vậy, theo kết quả cuộc khảo sát, tỷ lệ béo phì trong học sinh Mỹ lớp 5 ngày càng tăng cao hơn trong những năm gần đây. Tuy nhiên, từ lớp 5 trở lên, sự béo phì của các em đã không tăng thêm và tình trạng thể lực nói chung của học sinh California đã được cải thiện khi các em chuyển lên học những lớp cao hơn.

    Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các em học sinh đã có được những sự cải thiện nhỏ về khối lượng chất béo và trọng lượng cơ thể khi các em học tiếp từ lớp 5 đến lớp 9. Các em cũng đã tiến bộ hơn - hoặc ít nhất là không kém hơn – về tình trạng thể chất, như sức cơ bụng, độ linh hoạt và sức mạnh phần trên cơ thể. Đặc biệt, các nghiên cứu cho thấy, hằng năm càng có nhiều học sinh bị béo phì ở độ tuổi lớp 5. Tuy nhiên, từ lớp 5 đến lớp 9, tỷ lệ các em học sinh bị thừa cân hoặc béo phì đã không tăng thêm.

    Theo các nhà nghiên cứu, những khảo sát cho thấy các chương trình phòng chống béo phì đã có hiệu quả tích cực. Điều này có thể dẫn đến những cải thiện đáng kể về sức khỏe, vì béo phì có liên quan tới những căn bệnh cả ở trẻ em và người lớn như cao huyết áp, tiểu đường và một số bệnh khác. Theo Trung Tâm Kiểm Soát Và Phòng Chống Dịch Bệnh Mỹ (Centers for Disease Control and Prevention), hiện có khoảng 17% trẻ em và thanh thiếu niên tại nước này bị béo phì.

    Theo Giáo Sư - Tiến Sĩ Maura Frank, một chuyên gia nhi khoa tại Đại Học Weill Cornell ở New York, các chương trình giáo dục thể chất cho học sinh ở bang California là một mô hình tốt để các tiểu bang khác làm theo. “Khi chúng tôi làm việc với các gia đình hoặc trường học riêng lẻ, nếu không có sự hỗ trợ của chính sách công, thì sẽ không có điều gì có thể được thực hiện. Đó là điều kiện tiên quyết cho một sự thay đổi trên quy mô dân số”, Giáo Sư - Tiến Sĩ Frank nói.

    Các nhà nghiên cứu cho rằng những phát hiện về tỷ lệ béo phì ngày càng tăng trong các học sinh lớp 5 là rất quan trọng, vì điều đó cho thấy sự cần thiết phải bắt đầu các biện pháp can thiệp chống căn bệnh này ngay từ trước đó. “Nếu bạn bị béo phì từ khi còn là một học sinh hoặc ở tuổi vị thành niên, rất khó khăn để có thể đảo ngược được tình hình khi bạn trở thành một người lớn”, nhà nghiên cứu Bommer nói.

    Tiến Sĩ William Bommer còn cho biết: “Chúng tôi đã thực hiện được một bước quan trọng đầu tiên để làm chậm lại sự béo phì. Nhưng điều quan trọng là chúng tôi vẫn chưa thể đảo ngược được căn bệnh này”.

    Theo nhóm các nhà khoa học thực hiện cuộc khảo sát, thời gian tới họ sẽ tiến hành thêm những nghiên cứu cần thiết để xác định xem bệnh béo phì phát triển như thế nào trước khi trẻ em đến trường mẫu giáo, cũng như trong suốt những năm tiểu học. Qua đó, các nhà hoạch định chính sách giáo dục có thể đề ra những chương trình giáo dục thể chất để can thiệp trong tương lai nhằm tạo ra tác động tích cực đến sức khỏe của học sinh.

    Vũ Anh Tuấn
  4. Trong những năm gần đây, công ty Asieco ở Pháp, chuyên cung cấp các sản phẩm sinh học sạch và thảo dược (bio), đã chinh phục được nhiều khách hàng khó tính ở Pháp và Châu Âu. Ít ai biết rằng ông chủ của công ty này lại là một sinh viên người Việt mới ra trường, còn rất trẻ. Đó là anh Trần Văn Thắng.

    Chàng sinh viên nghèo trên đất Pháp
    Vốn sinh ra trong một gia đình nông dân đông con ở Hà Tĩnh, Trần Văn Thắng đã quen với cái nghèo, cái lam lũ từ khi còn rất nhỏ. Sau khi cùng gia đình chuyển vào Vũng Tàu sinh sống, cậu bé Thắng đến trường và luôn tỏ ra có nhiều năng khiếu trong học tập. Nhìn sự bươn chải, vất vả của bố mẹ, tuy nhỏ, nhưng Thắng đã luôn ấp ủ trong lòng mơ ước lớn lên sẽ làm nghề kinh doanh để giúp gia đình thoảt cảnh chân lấm tay bùn.

    Học xong phổ thông, Trần Văn Thắng thi đỗ vào trường Đại Học Kinh Tế tại thành phố Sài Gòn. Năm 2002, sau khi tốt nghiệp đại học, anh lại xuất sắc giành được học bổng theo học Master về Quản Trị Kinh Doanh (MBA) tại Paris, Pháp. Trong thời gian theo học Quản Trị Kinh Doanh, Thắng còn đi làm thêm để vừa có thêm thu nhập vừa có điều kiện học hỏi, tiếp xúc với môi trường kinh doanh tại Pháp.

    Khởi nghiệp với 2 bàn tay trắng
    Qua việc nghiên cứu hệ thống siêu thị và thị trường tại Pháp, Thắng nhận thấy các sản phẩm sinh học sạch và thảo dược là loại mặt hàng đang được ưa chuộng ở đây, nhưng còn thiếu các nhà phân phối. Trần Văn Thắng nhận định, đây sẽ là sản phẩm tiêu dùng của tương lai. Bên cạnh đó, anh cũng thấy Châu Á là nơi có rất nhiều ưu thế về các loại mặt hàng này, vì các nước Châu Á có cả một truyền thống canh tác và sử dụng thảo dược từ lâu đời nay. Sau khi ra trường với tấm bằng MBA, Thạc Sĩ Trần Văn Thắng quyết định đứng ra thành lập công ty riêng, khởi nghiệp từ những sản phẩm thảo dược và sinh học sạch.

    Công ty Asieco kinh doanh các sản phẩm sinh học sạch và thảo dược của Trần Văn Thắng đã ra đời ngày 12/10/2006. Kể từ đó, trong con phố nhỏ nằm trên đường Charenton ở thủ đô Paris quận 12, có một cửa hàng mới xuất hiện với cái tên Asieco khá giản dị, chuyên kinh doanh các mặt hàng sinh học sạch và thảo dược. Bắt đầu chỉ với 2 bàn tay trắng cùng số vốn ít ỏi đi vay và 6 nhân viên đa số đều là các sinh viên Việt Nam và bạn bè thân quen du học tại Pháp, lĩnh vực hoạt động đầu tiên của Trần Văn Thắng và công ty Asieco là cung cấp các loại sản phấm chăm sóc sức khỏe làm từ thiên nhiên.

    Khai thác sản phẩm truyền thống từ Châu Á
    Với khẩu hiệu “công ty đến từ Châu Á tại kinh đô ánh sáng Paris!”, tuy không nằm trong khu phố thương mại nhộn nhịp người qua lại nhưng Asieco lại thu hút được khá nhiều khách hàng bởi những sản phẩm nhập khẩu bày bán ở đây đều là những mặt hàng sinh học sạch và thảo dược có nguồn gốc tự nhiên mà người tiêu dùng Pháp ngày nay vẫn quen gọi là sản phẩm Bio. Sau những bước đi khởi đầu khó khăn, sản phẩm Aseico đã xâm nhập vào thị trường ở Pháp và thu hút được khá đông khách hàng. Trên các giá hàng của Asico có bày bán rất nhiều loại trà, sâm, đồ uống và các chế phẩm bổ dưỡng khác được chế biến từ những nguyên liệu thảo dược hoàn toàn tuân thủ các quy trình sạch, không chịu tác động của hóa chất. Sản phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm thảo dược với mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, của công ty Asieco đã thu hút được đông đảo khách hàng và doanh thu hằng tháng đã tăng liên tục. Công ty Asieco còn tiến hành giới thiệu hàng hóa của mình qua các hội chợ truyền thống, các trung tâm thương mại với mục đích quảng bá thương hiệu và tìm kiếm khách hàng.

    Ngay từ những bước chập chững ban đầu, công ty của Thắng đã có được một nhóm nhân viên là các bạn bè đồng học. “Đặc biệt, người đầu tiên phải kể tới là anh Billy, vừa là bạn học cùng lớp, vừa là nhà đầu tư lớn, vừa là nhân viên trong công ty, đã cống hiến tất cả thời gian và sức lực cho Asieco. Ngoài ra anh Billy còn kêu gọi bạn gái Sandra làm chung trong công ty và cả bố mẹ giúp đỡ Asieco rất nhiều về trang trí gian hàng, vận chuyển hàng hóa”, kể về những ngày mới lập nghiệp, Trần Văn Thắng cho biết.

    Cứ như vậy, người đi trước hướng dẫn, dìu dắt người đến sau như anh em trong một gia đình luôn hòa thuận, yêu thương nhau, biết lắng nghe và tôn trọng, biết giúp đỡ nhau để cùng phát triển, lo đủ các công việc từ tiếp thị giới thiệu mặt hàng nhân các kỳ hội trợ cho đến tận các cửa hàng phân phối bán lẻ ở khắp mọi nơi. Mọi thành viên đều coi thành công của công ty là của chính bản thân mình. Asieco còn nhận được ủng hộ và động viên tinh thần rất lớn từ bà con người Việt ở Pháp.

    Những thành công
    Bằng nỗ lực không ngừng của Thắng cùng các nhân viên trong công ty, chỉ sau 2 năm hoạt động, sản phẩm với thương hiệu Asieco đã có mặt khắp nước Pháp và Thụy Sĩ, doanh thu đã lên tới con số hàng triệu USD mỗi năm. Sản phẩm Asieco phẩm chất tốt, mẫu mã đẹp cùng với các nhân viên nhiệt tình, chuyên nghiệp đã tạo uy tín rất lớn cho khách hàng địa phuơng vốn rất khó tính và có yêu cầu cao. “Thành công bước đầu này phải nhờ đến đội ngũ nhân viên trẻ là anh chị em sinh viên Việt Nam và Pháp đã rất nhiệt tình, sáng tạo và năng động”, Trần Văn Thắng bộc bạch.

    Đến nay, sau hơn 5 năm hoạt động, công ty Asieco đã chinh phục được khách hàng Châu Âu bằng những sản phẩm truyền thống độc đáo từ những vùng đất xa xôi. Khách hàng Châu Âu có thể tìm thấy ở Asieco những loại sản phẩm độc đáo, đa dạng, xuất xứ từ Châu Á như nhân sâm đỏ cao niên Triều Tiên, trà thanh nhiệt, giảm cân, chống mất ngủ đến từ Trung Cộng... hay cả những loại chế phẩm truyền thống của y học phương đông như phấn hoa, hạt kỳ tử rồi cả những sản phẩm bổ dưỡng tăng cường sinh lực có nguồn gốc xa xưa của người thổ dân Inca bên Châu Mỹ như bột Maca hay Guarana được nhập về từ Peru, Brasil...

    Trần Văn Thắng cũng tự hào giới thiệu với bạn bè quốc tế các sản phẩm từ Việt Nam, như các loại trà làm từ thảo dược (trà xanh, trà đen, artichaut, gừng, cỏ ngọt …), hạt sen, cây tam diệp, cây bạch quả, nấm Linh Chi …, kẹo Bimin, Kẹo Hải Hà Kotobuki… Tất cả các nguyên liệu của sản phẩm trên đều phải tuân thủ theo các quy định chặt chẽ của canh tác sinh học để được đóng nhãn hiệu Bio ở Pháp. Không chỉ có mặt trên thị trường Pháp, sản phẩm Aseico đã xâm nhập sang cả thị trường một số nước Châu Âu như Thụy Sĩ, Anh, Lục Xâm Bảo...

    Hứa hẹn những thành công lớn hơn phía trước
    Ngoài các gian hàng bán trực tiếp, Asieco còn phát triển mạnh các giao dịch mua bán qua mạng của công ty tại địa chỉ asieco.com. Hiện nay doanh thu bán hàng qua mạng đã chiếm hơn 20% tổng doanh thu của công ty Asieco mỗi năm. Theo giám đốc trẻ Trần Văn Thắng, sắp tới đây công ty sẽ tiếp tục mở rộng thị trường hơn nữa, và sẽ nhập nguyên liệu, tự lo phần chế biến đóng gói để trở thành nhãn hiệu riêng của Asieco.

    Từ một sinh viên nghèo, bước vào lập nghiệp ở nước ngoài bằng cái vốn duy nhất là kiến thức đã học và suy nghĩ táo bạo, Trần Văn Thắng đã có được những thành công bước đầu, và tìm được chỗ đứng cho mình trong một môi trường kinh doanh rất đa dạng nhưng cũng không ít khó khăn như ở châu Âu. Sau những năm học tập nghiên cứu, rồi tích lũy kinh nghiệm từ những công việc làm thêm lúc còn là sinh viên để có được công ty Asieco hôm nay, giờ đây chắc hẳn nhiều cơ hội thành công tiếp theo lớn hơn sẽ còn mở ra phía trước nhà kinh tế chủ doanh nghiệp người Việt chưa đầy ba mươi tuổi này.

    Vũ Anh Tuấn
  5. Pháp là quốc gia được coi là một trong hai đầu tàu kinh tế Châu Âu, đồng thời là một trong những nước có nền giáo dục tiên tiến nhất thế giới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây giáo dục Pháp đã bộc lộ một số dấu hiệu trì trệ, gây lo ngại cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục.

    Pháp là quốc gia vẫn tự hào với nền giáo dục có uy tín quốc tế của mình. Cho đến năm 1995, nước Pháp vẫn được coi là “ngọn hải đăng trong biển chữ”, và luôn dẫn đầu Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế (OECD) trong lĩnh vực giáo dục. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, cứ bốn người dân Pháp lại có một người đang đi học. Tuy nhiên, cuộc khảo sát PISA (Programme for International Student Assessment) 2011 về giáo dục của Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế (OECD) cho thấy nền giáo dục Pháp những năm gần đây đang ở trong tình trạng trì trệ và thậm chí có mặt tụt hậu đáng kể so với cách nay 16 năm.

    Về giáo dục bậc cao (tức là đại học và trên đại học), nước Pháp lâu nay vẫn sở hữu một trong những hệ thống các cơ sở đào tạo và trung tâm nghiên cứu uy tín và đa dạng nhất thế giới với hơn 3000 cơ sở đào tạo giáo dục bậc cao trên khắp nước Pháp, trong đó có 90 trường đại học, 240 trường đào tạo kỹ sư, 230 trường thương mại và 2000 trường nghệ thuật, kiến trúc, y dược. Theo Viện Thống Kê Và Nghiên Cứu Kinh Tế Quốc Gia Pháp (INSEE), tính đến năm 2008, số người dân Pháp có trình độ đại học là 69,2% và 19,9% dân số nước này có trình độ cao hơn đại học. Các trường công lập cũng như các trường đại học thành lập vào thế kỷ 12 được nhà nước Pháp tài trợ phần lớn chi phí đào tạo (khoảng 7000 Euro/năm cho mỗi sinh viên). Mỗi sinh viên Pháp chỉ phải đóng khoảng từ 133 đến 230 Euro/năm. Với sự trợ giúp này, Pháp được xếp vào những nước có mức học phí thấp nhất thế giới.

    Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong thời gian qua đã làm tăng chi phí giáo dục đại học ở nước này, và khiến cho việc theo học giáo dục và đào tạo ở bậc cao trở nên vượt khỏi tầm với của ngày càng nhiều sinh viên Pháp. Trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2009, số người lớn ở lứa tuổi từ 20 đến 29 tốt nghiệp đại học ở Pháp chỉ dậm chân tại chỗ với tỷ lệ 19%. Trong khi đó, ở 34 quốc gia thành viên của OECD, tỷ lệ này đã tăng thêm hơn 8% trong cùng thời kỳ. Tỷ lệ thanh niên Pháp cắp sách đến trường cũng thấp hơn so với các nước khác thuộc Tổ Chức OECD.

    Kể từ năm 1959, giáo dục bắt buộc ở Pháp được áp dụng cho lứa tuổi từ 6 đến 16 tuổi. Trong vòng 30 năm, quốc gia này đã nâng được trình độ của người dân, bắt kịp với các nước phát triển khác. Kết quả này có được phần lớn là do chính sách coi đầu tư cho giáo dục như là một trong những ưu tiên quốc gia hàng đầu ở Pháp.

    Thế nhưng, điều đáng ngạc nhiên là nếu như năm 1995, ngân sách cho giáo dục chiếm 7,6% GDP của Pháp, thì đến năm 2008, tỷ lệ ngân sách giáo dục của cường quốc về kinh tế và công nghiệp hàng đầu Châu Âu này trong GDP đã giảm xuống còn 6,6%. Từ năm 2000 đến 2008 tỷ lệ GDP dành cho ngân sách giáo dục của Pháp đã giảm đi 0,3%. Ngân sách chi cho mỗi học sinh ở Pháp chỉ tăng 5% trong những năm từ 2000 đến 2008, trong khi tại 33 quốc gia khác trong OECD ngân sách này tăng đến 15%. Khoản ngân sách đầu tư cho giáo dục trong ngân sách nhà nước Pháp cũng giảm từ 11,5% năm 1995, xuống 10,6% năm 2008.

    Ngân sách dành cho giáo dục ngày càng ít đi hơn, trong lúc lương giáo viên, vốn đã ít hơn những nước phát triển khác, lại có chiều hướng giảm sụt về giá trị thực tế do lương bổng của các thầy các cô thì đã tăng chậm hơn so với vật giá. Theo bản báo cáo của OECD, lương thầy cô giáo tại Pháp hiện thấp hơn so với trung bình của khối OECD và thấp hơn so với hơn 10 năm về trước. Nếu lấy năm 2005 làm cột mốc, thì lương của các thầy cô giáo vào năm 1995 cao hơn ở mức dao động từ 105% đến 107% tùy cấp học, và đến năm 2009 thì chỉ số này đã tuột tiếp xuống chỉ còn là 95%. Nếu nhìn chung các nước trong khối OECD, thì mức lương của các giáo viên hay giáo sư trong cùng thời kỳ đều đã nhảy vọt, từ chỉ số 93% lên thành 107%, trong vỏn vẹn 4 năm, từ 2005 đến 2009. Kể từ 2007 cho đến mùa khai giảng năm 2011, đã có 66 000 ghế của các thầy, cô giáo bị bỏ trống.

    Năm 2007, ba nhà nghiên cứu thuộc đại học kinh tế Paris 1- Sorbonne đã lên tiếng báo động về hiện tượng thu nhập của các nhà giáo sụt giảm trong suốt một giai đoạn dài từ năm 1960 đến 2004, khiến cho nhiều nhà giáo nản lòng đã từ bỏ nghề sư phạm.

    Một điều gây lo ngại khác là việc Pháp đã tụt hậu so với các quốc gia phát triển khác về mục tiêu đảm bảo quyền bình đẳng xã hội trong học đường. Rào cản về kinh tế đang gây khó khăn trên con đường đến trường của con em các tầng lớp lao động trong xã hội. 30% học sinh Pháp ở độ tuổi 15, xuất thân từ gia đình nhập cư, có trình độ yếu kém hơn các bạn cùng tuổi, và trung bình bị học muộn đến 1 năm rưỡi so với các bạn khác. Trong giai đoạn các năm từ 2006 đến 2010, tỷ lệ con em các tầng lớp lao động trong xã hội vào được đại học đã giảm từ 35% xuống 31%, trong khi con số tỷ lệ này ở các tầng lớp khá giả trong xã hội Pháp đã tăng từ 32% lên 36%. Tình trạng này càng tồi tệ hơn ở các trường đại học danh giá. Số sinh viên Pháp xuất thân từ gia đình công nhân ở các trường này chỉ chiếm tỷ lệ 10%, còn tại Trường Hành Chính Quốc Gia (ENA), nơi chuyên đào tạo các quan chức Nhà nước, thì tỷ lệ sinh viên từ gia đình công nhân chỉ chiếm 4%.

    Giải thích nguyên nhân, các nhà hoạch định chính sách giáo dục cho rằng, dưới sức ép của khủng hoảng kinh tế, việc thi tuyển vào các trường lớn trở nên khó khăn hơn. Thêm vào đó, thu nhập của tầng lớp lao động trong xã hội đã bị tuột dốc. Thất nghiệp gia tăng, cuộc sống trở nên bấp bênh, khiến chi phí cơm áo gạo tiền thêm nặng gánh với sinh viên nghèo.

    Trong bối cảnh đó, môi trường giáo dục đã góp phần đào thêm hố sâu ngăn cách giàu nghèo. Theo nghiên cứu của OECD, ở Pháp, hiện có đến 20% học sinh ở tuổi 15 lâm vào cảnh khó khăn kinh tế, tức tăng gấp đôi so với cách đây 10 năm. Một điều đáng chú ý là, theo hiệu trưởng một trường đại học danh tiếng tại Pháp, đang có nhiều rạn nứt xã hội xuất hiện giữa các gia đình công chức, giáo chức, những người có khả năng đầu tư chi phí giáo dục cho con em họ, và các tầng lớp xã hội khác. Mong ước được vào học các trường đại học danh giá đã tạo nên tình trạng chạy đua căng thẳng. Nguyên nhân một phần là do trong khi ngày càng có nhiều học sinh Pháp đậu tú tài, thì chỉ tiêu tuyển sinh của các ngành “cao cấp” như thương mại, kỹ sư, y khoa, luật… lại không tăng thêm. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, số thí sinh đăng ký thi vào ngành y, chính trị học và luật đã tăng gấp đôi. Những gia đình giàu chẳng ngại tiêu tốn để con em mình được vào trường danh giá. Họ sẵn sàng bán căn nhà rộng rãi ở ngoại ô để mua một căn hộ chật chội trong thành phố cho con em mình được đi học gần trường. Như vậy, để đầu tư cho chuyện học hành của con em mình, các gia đình giàu ở Pháp chấp nhận tốn tiền tốn sức, còn nhà nghèo thì chạy vạy vất vả và luôn bị ám ảnh bởi chi phí học hành. 30% thanh niên Pháp trong lứa tuổi từ 20 đến 24 rời nhà trường không bằng cấp, đã không tìm được việc làm.

    Tình trạng khủng hoảng kinh tế từ năm 2008 đến nay tại châu Âu đã ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt đời sống xã hội, khiến cơ hội vào đại học của những thanh niên nghèo xuất thân từ tầng lớp lao động càng khó khăn. Vậy nên không có ai ngạc nhiên khi thấy cho đến nay mục tiêu đế 50% thanh niên Pháp tốt nghiệp đại học hãy còn là một cam kết trên giấy tờ, và theo thẩm định của OECD thì tại Pháp, vào năm 2009 chỉ có 84 % thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 19 còn cắp sách đến trường, so với tỷ lệ này là 89% vào năm 1994. Tỷ lệ này thấp hơn đến 6% so với các thành viên khác của Tổ chức OECD.

    Vì vậy, theo nghiên cứu của OECD, trong số 34 nước thành viên của tổ chức này, Pháp hiện xếp thứ 33 về đảm bảo quyền bình đẳng trong giáo dục trong xã hội. Nếu như đến năm 1995 Pháp vẫn luôn là nước dẫn đầu Tổ chức OECD về giáo dục, thì đến nay ngành giáo dục Pháp chỉ đứng hàng thứ 32 trong tổng số 34 quốc gia phát triển thành viên của OECD đuợc khảo sát.

    Bên cạnh Pháp, hầu hết các cường quốc kinh tế châu Âu lớn khác, như Anh, Đức và Italy cũng đang vật lộn để duy trì được chất lượng về giáo dục. Ngoài Pháp, những nhược điểm còn được thấy rõ ở hệ thống giáo dục các nước Đức, Pháp và Ý Đại Lợi. Theo kết quả cuộc nghiên cứu của OECD thì: “Pháp và Đức, nắm giữ 35% giá trị nền kinh tế có tổng trị giá 11,6 nghìn tỷ USD của Liên minh châu Âu, nhưng lại không nằm trong nhóm những cường quốc hàng đầu thế giới về phát triển kiến thức và kỹ năng”.

    Các kết quả nghiên cứu này cho thấy nền giáo dục Pháp đang có xu hướng tụt lại so với nhiều nước khác, và khiến cho nhiều người Pháp lo ngại. Theo các nhà hoạch định chính sách giáo dục, các ghi nhận tiêu cực kể trên không phải là mới mẻ, và bộ Giáo dục Pháp đã ra biết bao chỉ thị nhằm cải thiện tình hình, nhưng không được áp dụng. Theo giải thích của ông Eric Charbonnier, chuyên gia kinh tế của OECD, thì một trong trong những nguyên nhân khiến giáo dục nước Pháp lâm vào tình trạng đình đốn là: “Mục tiêu của giáo viên ở các nước OECD đó không phải như ở Pháp là chạy theo chương trình, mà là làm thế nào để các học sinh nắm vững chắc các yếu tố cơ bản chung”.

    Và lời cảnh cáo mới đây của OECD lại làm nổi lên các cuộc tranh luận xung quanh chính sách giáo dục của Pháp. Nhiều ý kiến cho là muốn ngăn chặn đà suy giảm giáo dục thì chính phủ Pháp phải bắt đầu xây dựng lại ngay từ bậc mẫu giáo.

    Tổ Chức OECD không tán đồng việc ngân sách dành cho giáo dục ở Pháp bị thu hẹp lại, và cho rằng phải đầu tư vào giáo dục cho dù ở trong thời kỳ khủng hoảng. Báo cáo của OECD khiến người dân Pháp không khỏi nêu lên câu hỏi: Phải chăng giáo dục không còn là một trong những ưu tiên quốc gia hàng đầu ở Pháp?

    Vũ Anh Tuấn
  6. “Tôi còn mang nợ Indonesia bởi vì đất nước đã cho tôi cơ hội để kiếm sống, nuôi các con tôi và bây giờ cho tôi có được một chút thành công. Vì vậy, trả lại cho xã hội những gì tôi nhận được từ xã hội, tôi nghĩ, là một nguyên tắc cốt lõi của đạo lý phương Đông”, đó là chia sẻ của nhà tỷ phú Indonesia Tahir. Chính những triết lý như vậy đã là phương châm cho những nỗ lực đóng góp cho giáo dục của ông trong những năm qua.

    Sinh viên vượt khó làm... doanh nhân
    Doanh nhân Tahir là người đã sáng lập ra tập đoàn Mayapada, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, bao gồm ngân hàng, bất động sản, bệnh viện và truyền thông học ở Indonesia, Vốn là người đi lên từ nghèo khó, Tahir luôn tìm cách chia sẻ với sinh viên nghèo những thành công mà ông đã có được từ sự nỗ lực và học vấn để trở thành một nhà tỷ phú.

    Ông Tahir sinh ra ở thành phố Surabaya của Indonesia vào năm 1952 trong một gia đình nghèo. Hồi Tahir còn bé, cha mẹ của ông đã phải vật lộn kiếm tiền nuôi con ăn học bằng nghề cho thuê xe xích lô. Khi Tahir học xong trung học, gia đình ông đã chạy vạy lo liệu để có thể cho cậu con trai cưng vào đại học. Mặc dù vậy, sự nghiệp học tập của Tahir khởi đầu khá trắc trở. Ban đầu, ông đã thử theo học ngành xây dựng dân dụng tại một trường đại học ở Surabaya, nhưng rồi Tahir chỉ học được một học kỳ. Sau đó, ông đi sang Đài Loan, nơi ông thi đỗ vào trường đại học y. Tuy nhiên, Tahir cũng chỉ theo học được một tháng tại đây thì phải trở về Indonesia vì cha của ông ở nhà bị ốm nặng.

    Những tưởng sự nghiệp học hành của chàng thanh niên Tahir sẽ chấm dứt vì cái nghèo, cái khó, thì đến năm 20 tuổi, ông lại có được cơ hội theo học tại Trường Kinh doanh của Đại học Nanyang tại Tân Gia Ba. Để có tiền theo học, Tahir đã phải mày mò tìm cách nhập cảnh hàng hoá xách tay từ Tân Gia Ba về Indonesia. Mỗi tháng một lần, anh sinh viên Tahir lại từ trường Đại Học Nanyang trở lại Surabaya với các sản phẩm mang theo mua từ các cửa hàng bên Singapore như quần áo phụ nữ, xe đạp trẻ em..., rồi bán cho người tiêu dùng ở Indonesia. Nhờ công việc này mà Tahir đã tự lo liệu và hoàn tât được tấm bằng kinh doanh của trường Đại học Nanyang vào năm 1976, khi ông 24 tuổi.

    Vừa học, vừa điều hành tập đoàn đến thành công
    Năm 1986, khi 34 tuổi, Tahir thành lập ra tập đoàn Mayapada. Tahir bắt đầu với ngành sản xuất, kinh doanh hàng may mặc và dệt vải. Một năm sau, lúc 35 tuổi, Tahir trở lại trường đại học để theo học chương trình thạc sĩ của Đại Học Golden Gate, Tân Gia Ba, mở tại Indonesia. Vừa học, vừa điều hành tập đoàn Mayapada, ông đã hoàn thành bước học vấn với tấm bằng thạc sĩ về tài chính của Đại Học Golden Gate.

    Tốt nghiệp thạc sĩ, năm 1990, chỉ bốn năm sau khi sáng lập tập đoàn Mayapada, ông đã thành lập thêm ngân hàng Mayapada. Dưới sự quản lý và lèo lái của Tahir, bên cạnh kinh doanh ngân hàng, “đế chế Mayapada” của Tahir cũng mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực bất động sản, bán lẻ và chăm sóc sức khỏe. Tahir là nhà tỷ phú giàu thứ 15 ở Indonesia trong bảng xếp hạng của tạp chí Forbes năm 2011, với tài sản trị giá 1,4 tỷ USD.

    Mùa hè năm 2008, ông được trao bằng tiến sĩ danh dự của trường đại học Surabaya, Indonesia. Theo Tahir, năm tháng trôi qua khiến ông càng thấy được tầm quan trọng của học vấn trong cuộc đời. Trong nhiều năm qua, Tahir đã chia sẻ sự giàu có của ông với nhiều trường đại học ở Indonesia và một số quốc gia như Tân Gia Ba, Trung Quốc, Mỹ.

    Nhà tỷ phú khuyến học
    Tỷ phú Tahir đã tặng nhiều triệu đô la cho sinh viên nghèo các trường đại học. Người sáng lập và chủ tịch điều hành tập đoàn Mayapada đã đóng góp khoảng 30 tỷ rupiah, tương đương 3,27 triệu USD làm học bổng cho những sinh viên nghèo của 10 trường đại học công ở Indonesia. Ông Tahir cũng tài trợ cho một số trường đại học ở Trung Quốc và hai trường đại học Mỹ. Năm 2011, ông đã tặng 1 triệu USD để làm học bổng cho sinh viên quốc tế, chủ yếu là từ Châu Á, theo học chương trình thạc sĩ Quản Trị Kinh Doanh (MBA) tại Trường Kinh Doanh Haas, thuộc Đại Học California, Berkeley. Trong các năm từ 2006 đến 2010, Tiến Sĩ Tahir đã tặng 3 triệu USD để làm học bổng tặng cho các sinh viên tại Trường Kinh Doanh Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba và Đại Học Town. “Bạn cần cung cấp cho sinh viên chiếc cần câu, chứ không phải là con cá. Con cá, người ta có thể ăn hết trong một tuần. Nhưng nếu bạn cung cấp cho sinh viên cái cần câu - là tài năng và học vấn - họ có thể sử dụng nó suốt đời", Tahir cho biết.

    Tháng 1/2012, Tahir tặng 30 triệu đô la Tân Gia Ba (khoảng 24 triệu USD) cho Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba để giúp trường đại học này trong lĩnh vực nghiên cứu y học. Cùng với số tiền đối ứng của chính phủ Tân Gia Ba, số tiền mà Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba được tặng dự kiến sẽ lên đến khoảng 75 triệu đô la Tân Gia Ba. Chủ tịch Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba, Giáo Sư Tan Chorh Chuan cho biết, món quà lần này của Tahir sẽ giúp nâng cao việc đào tạo và nghiên cứu về y tế tại Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba. Theo nhà tỷ phú, ông có mối quan hệ mật thiết với trường đại học này bởi vì đó là trường cũ của ông đã theo học (Đại Học Nanyang, trường nhà tỷ phú Tahir đã theo học, sau này đã sáp nhập với trường Đại Học Tân Gia Ba để tạo thành Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba). Chính con trai của nhà tỷ phú Tahir cũng là một sinh viên. Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba. “Hệ thống giáo dục của Tân Gia Ba rất tốt, vì vậy có nhiều người Indonesia đi du học tại Tân Gia Ba từ tiểu học lên đến đại học”, nói về lý do để ông chọn tài trợ cho Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba, nhà tỷ phú Tahir cho biết.

    Với một cách tiếp cận thực tế hơn nhiều so với các nhà tài trợ khác, Tahir cho rằng: “Bạn cần cung cấp cho sinh viên chiếc cần câu, chứ không phải là con cá. Con cá, người ta có thể ăn hết trong một tuần. Nhưng nếu bạn cung cấp cho sinh viên cái cần câu - là tài năng và học vấn - họ có thể sử dụng nó suốt đời”

    Và kế hoạch mới nhất của ông là tặng 10.000 máy tính xách tay cho các học sinh trung học nghèo, thiệt thòi, nhưng học giỏi ở Indonesia, với chi phí ước tính khoảng 3 triệu USD. “Chúng tôi nhìn thấy xung quanh mình có rất nhiều học sinh nghèo. Các em có thể mất cơ hội để đi học vì cái nghèo. Tôi nghĩ điều đó thôi thúc tôi. Chúng ta phải chú ý nhiều hơn đến giáo dục”, ông nói.

    “Đại sứ của các trường đại học châu Á”
    Với tài năng và tâm huyết dành cho sự nghiệp giáo dục, ông còn là phó chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Đại Học Pancasila ở Jakarta. Tiến Sĩ Tahir cũng là người Đông Nam Á đầu tiên được bầu vào Hội Đồng Quản Trị Đại Học California, Berkeley. “Tiến Sĩ Tahir là một sự lựa chọn đúng đắn cho Đại Học California, Berkeley vì sự kết nối và niềm say mê ông dành cho trường và vì nhiều điểm mạnh cá nhân của ông như là một đại sứ của các trường đại học Châu Á”, nói về sự tham gia của nhà tỷ phú Tahir trong Hội Đồng Quản Trị Đại Học California, Berkeley, Giáo Sư Scott Biddy của Đại Học California, Berkeley cho biết.

    Nhà tỷ phú Indonesia này hiện sống ở Jakarta với gia đình của mình. Ngoài cậu con trai là sinh viên của Đại Học Quốc Gia Tân Gia Ba, ông còn có ba cô con gái đang theo học tại Đại Học California, Berkeley. Theo ông: “Sức mạnh của mỗt gia đình, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức hoặc doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khả năng quản trị hiện hành, mà còn phụ thuộc vào cách bạn chuẩn bị cho các thế hệ tương lai tiếp nhận nó ra sao”.

    Vũ Anh Tuấn
  7. Cách nay đúng 40 năm, ở Mỹ xảy ra vụ scandal Watergate gây chấn động chính trường nước này. Đây là một vụ án gián điệp chính trị kéo dài suốt từ năm 1972 đến năm 1974, dẫn đến sự từ chức của vị tổng thống Mỹ thứ 37 Richard Nixon. Nixon cũng là người duy nhất trong lịch sử các đời tổng thống Mỹ từ trước đến nay đã bị buộc phải rời khỏi chiếc ghế quyền lực khi nhiệm kỳ còn dang dở.

    Vụ scandal Watergate diễn ra trong cuộc vận động tranh cử tổng thống Mỹ năm 1972, liên quan đến việc một số quan chức cấp cao thuộc đảng Cộng Hòa (lúc đó cầm quyền) tổ chức đột nhập vào văn phòng của đảng đối lập Dân Chủ để gài máy nghe trộm và ăn cắp tài liệu của đảng này. Tuy đã được sự che đậy của các quan chức cao
    cấp trong chính quyền nhưng cuối cùng vụ án vẫn bị báo chí phanh phui ra, dẫn đến việc Tổng Thống Richard Nixon phải từ chức. Nhân dịp mùa bầu cử tổng thống năm 2012 đang diễn ra ở nước Mỹ, chúng tôi xin giới thiệu lại vụ scandal nổi tiếng này cùng một số bí mật được công bố trong những năm gần đây.

    NĂM KẺ ĐỘT NHẬP BỊ BẮT


    Vụ việc được bắt đầu vào ngày 17/6/1972, giữa lúc các chiến dịch vận động tranh cử của 2 đảng Dân Chủ và Cộng Hòa cho chiếc ghế tổng thống Mỹ đang diễn ra quyết liệt, thì Frank Wills, một nhân viên an ninh làm việc tại khu văn phòng đảng Dân Chủ trong toà nhà Watergate bên sông Potomac, ở Washington, D.C, tìm thấy một cuộn băng ghi âm được đặt trước cửa ra vào thông giữa đoạn cầu thang tầng dưới cùng của toà nhà và garage để xe. Ban đầu, anh ta không để ý mấy đến cuộn băng, chỉ thấy nó làm cho cửa bị kẹt, vì thế Wills đã kéo cuộn băng ra và cho rằng có thể một nhân viên quét dọn nào đó đã vô tình để cuộn băng tại vị trí này. Tuy nhiên, một lúc sau, anh quay lại và thấy cuộn băng đã bị thay thế. Phát hiện dấu hiệu khả nghi, Frank Wills lập tức thông báo cho cảnh sát thủ đô.

    Khi cảnh sát tới hiện trường, vào khoảng 2h30' sáng, họ đã phát giác và bắt quả tang 5 người đã đột nhập vào bên trong tòa nhà Watergate, bao gồm Bernard Barker, Virgilio González, Eugenio Martínez, James W. McCord Jr. và Frank Sturgis. Những kẻ bị bắt mặc bộ áo liền quần chuyên dụng và đeo găng tay bằng cao su. Họ mang theo các thiết bị nghe trộm điện tử, máy ảnh và những chi phiếu có mệnh giá 100 USD. Quá trình điều tra sau đó cho thấy, những người này đã đột nhập vào văn phòng của Uỷ Ban Quốc Gia đảng Dân Chủ từ 3 tuần trước và phải quay lại để sửa lại những thiết bị nghe trộm, được lắp đặt tại toà nhà Watergate trong lần đột nhập trước đó, vì có trục trặc kỹ thuật. Họ khai đã được các viên chức cao cấp của đảng Cộng Hòa cử đi đánh cắp các tin mật liên quan đến chiến dịch vận động bầu cử của đảng Dân Chủ đối lập.

    Một trong những nhân vật đáng chú ý nhất trong số những người bị bắt là James W. McCord, người chính thức chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh cho Uỷ Ban Tái Cử Tổng Thống (ủy ban vận động tái cử của ông Nixon). James W. McCord cũng là một cựu nhân viên CIA đã có 20 năm kinh nghiệm. Cảnh sát đã tìm thấy trong ví của McCord số điện thoại của E. Howard Hunt, cũng làm việc cho ủy ban vận động cho Tổng Thống Nixon, người từng làm việc tại Tòa Bạch Ốc và thực hiện 42 điệp vụ trong chiến dịch Vịnh Con Heo xâm chiếm Cuba năm 1962. Chính E. Howard Hunt là người đã tuyển mộ bốn kẻ do thám còn lại.

    Những phát hiện kể trên đã đưa cảnh sát Mỹ tới kết luận sơ bộ về chiến dịch do thám tại toà nhà Watergate: Chính các nhân vật thân cận của Tổng Thống Nixon cùng với ủy ban vận động bầu cử của ông khi đó đã tổ chức vụ đột nhập này nhắm đánh cắp các thông tin của đối thủ chính trị là đảng Dân Chủ.

    Vụ việc đã lập tức gây xôn xao dư luận nước Mỹ. Ngay ngày hôm sau, trên trang nhất của tờ Washington Post, một bài báo có tựa đề: "5 kẻ bị bắt giữ vì âm mưu đặt máy nghe trộm trong văn phòng đảng Dân Chủ" do 2 phóng viên trẻ của tờ báo này, khi đó là Bob Woodward và Carl Bernstein đưa tin. Đoạn đầu bài báo có đoạn: "5 người đàn ông, một trong số đó được biết là cựu nhân viên Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia (CIA), đã bị bắt lúc 2 giờ 30 phút sáng qua. Nhà chức trách mô tả vụ này là âm mưu tinh vi nhằm nghe trộm các văn phòng của Uỷ Ban Quốc Gia đảng Dân Chủ ở Hoa Thịnh Đốn".


    NHIỆM KỲ HAI KHÔNG BÌNH YÊN CỦA TỔNG THỐNG NIXON

    Trong khi nước Mỹ còn chưa hết xôn xao về vụ đột nhập toà nhà Watergate bị khám phá, hai phóng viên của báo Washington Post là Bob Woodward và Carl Bernstein là những người đã đặc biệt chú tâm theo dõi vụ đánh cắp tin tức này. Ngay từ lúc đó họ đã cảm thấy đây có thể là đầu mối của một vụ scandal có liên quan tới tận Tòa Bạch Ốc.

    Tuy nhiên, sau đó thư ký báo chí của Tổng Thống Nixon là Ron Ziegler đã lên tiếng bác bỏ mọi dư luận về sự liên quan của Tổng thống Mỹ trong vụ đột nhập văn phòng đảng Dân chủ. Nhiều người Mỹ cũng tin rằng trong lúc các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy tổng thống đương nhiệm đang có lợi thế trước đối thủ là đảng Dân Chủ, ông Nixon chẳng dại gì mạo hiểm tham gia vào một vụ việc như vậy.

    Thế nhưng, nhiều tuần sau đó, khi vụ Watergate trở nên "quen thuộc" với người dân Mỹ, mọi khía cạnh, mọi âm mưu được hé lộ dần trong câu chuyện đều cho thấy sự liên quan tới Tòa Bạch Ốc và Phòng Bầu Dục. Ngày 1/8/1972, Washington Post lại đăng bài của 2 phóng viên Bob Woodward và Carl Bernstein, những người đang tiếp tục cuộc điều tra. Họ lần theo dấu vết của 4 kẻ đột nhập toà nhà Watergate, và phát hiện ra một tấm séc 25.000 USD đã được đưa vào trương mục của Bernard L. Barker - một trong những kẻ đột nhập - cho thấy tấm séc 25.000 USD đó là tiền thuộc quỹ vận động tranh cử của Nixon. Khoản tiền này đã được trao cho người phụ trách gây quỹ tranh cử của Nixon là Maurice H. Stans trên một sân gôn ở Florida. Đây là bài báo đầu tiên cho thấy mối liên hệ trực tiếp gắn kết tiền tranh cử của Nixon với vụ Watergate.

    Ngày 10/10/1972, 2 phóng viên Bob Woodward và Carl Bernstein của Washington Post lại đưa tin: Các nhân viên Cục Điều Tra Liên Bang (FBI) đã chứng minh được rằng vụ đột nhập vào bên trong tòa nhà Watergate nằm trong một chiến dịch gián điệp chính trị quy mô, được tiến hành bởi những nhân vật thuộc lực lượng tranh cử cho Tổng Thống Nixon.

    Tuy nhiên, các kết quả điều tra của FBI đã bị ỉm đi bởi những âm mưu che đậy của Tòa Bạch Ốc với những khoản tiền lớn để bị miệng những kẻ đột nhập toà nhà Watergate. Tòa Bạch Ốc còn phái nhân viên CIA tham gia tiến trình điều tra để ngăn cản sự điều tra của FBI.

    Bởi vậy, mặc dù vụ đột nhập toà nhà Watergate đã được công khai trước dư luận, nhưng ông Nixon vẫn giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử năm 1972 và đắc cử thêm nhiệm kỳ tổng thống thứ hai vào ngày 11/11/ 1972. Vị tổng thống thứ 37 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã giành chiến thắng trước đối thủ là ứng cử viên George McGovern của đảng Dân Chủ tại 49 tiểu bang, và giành được hơn 60% số phiếu bầu.

    Tuy nhiên, không gì có thể thay đổi được vụ Watergate. Ngay sau cuộc bầu cử, 2 phóng viên Bob Woodward và Carl Bernstein đã lên tiếng khẳng định trên Washington Post rằng một số viên chức cao nhất trong chính phủ Nixon đã có liên quan trong việc tổ chức vụ đột nhập toà nhà Watergate. "Lúc đầu, người ta không hề thấy vai trò của ông Nixon trong vụ Watergate. Nhưng sau đó, thủ phạm đã "cầu cứu" sự giúp đỡ từ Tòa Bạch Ốc", ông Buchanan cố vấn của ông Nixon kể lại. Sự cầu cứu nhằm vào hai cố vấn cao cấp nhất của ông Nixon là H.R. Halderman và John Ehrlichman. Bản thân Tổng Thống Nixon cũng bị nêu tên.

    Vì thế, niềm hân hoan của chiến thắng sau cuộc bầu cử tổng thống đối với ông Richard Nixon cũng qua đi nhanh chóng, và từ đó bắt đầu một quãng thời gian kinh hoàng của vị tổng thống mới tái đắc cử. Ngay từ khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống thứ 2 vào tháng 1/1973, vụ Watergate đã chiếm hết thời gian, sức lực và sau đó là lấy đi cả chiếc ghế tổng thống của ông. "Ông ấy giành rất nhiều thời gian cho vụ Watergate. “Tỷ lệ những người ủng hộ ông ngày càng giảm, và thái độ của ông ấy trở nên rất thất thường. Đó là một quãng thời gian khủng hoảng: Nói dối và che giấu", một cựu viên chức trong chính quyền Nixon phát biểu.

    Tuy vậy, dù khéo che giấu đến đâu, vụ việc cũng không qua mắt được Quốc Hội và báo giới Mỹ. Chính báo chí đã có những tác động quan trọng nhất trong quá trình đưa sự thật đằng sau vụ Watergate ra phơi bày trước ánh sáng. Trong đó, đặc biệt phải kể đến vai trò của 3 nhân vật: 2 phóng viên Bob Woodward và Carl Bernstein của báo Washington Post; và một nhân vật giấu mặt đã trở nên nổi tiếng mang mật danh Deep Throat. Chính Deep Throat đã cung cấp nhiều tin tức cho những bài điều tra được hai nhà báo công bố trên mặt báo Washington Post.

    DIỄN BIẾN BƯỚC NGOẶT CỦA CUỘC ĐIỀU TRA

    Ngày 30/1/1973, hai cựu nhân viên của Tổng Thống Nixon là G. Gordon Liddy và James W. McCord Jr. đã bị tòa án Mỹ kết án về tội âm mưu, trộm cắp và tiến hành nghe trộm điện thoại trong vụ Watergate. Ngoài ra, năm người khác cũng bị kết tội.

    Tuy nhiên, nhiều bí ẩn xung quanh vụ đột nhập toà nhà Watergate vẫn còn chưa được làm sáng tỏ. Dư luận Mỹ đòi đưa ra ánh sáng mọi hoạt động phi pháp được giữ bí mật của Tổng Thống Nixon. Tháng 2/1973, Thượng Viện Mỹ bắt đầu vào cuộc với việc thành lập một ủy ban đặc biệt để điều tra các hoạt động tranh cử của tổng thống. Uỷ ban này đã phát hiện được nhiều bằng chứng gây sửng sốt dư luận về những việc làm bất hợp pháp của Tòa Bạch Ốc, trong đó có những chứng cứ khẳng định sự liên quan của cố vấn cho Tổng Thống Nixon tại Tòa Bạch Ốc là John Dean trong vụ Watergate.

    Trước sức ép như vậy, ngày 30/4/1973, Tổng Thống Nixon đã phải lên đài truyền hình thừa nhận trách nhiệm của mình trong vụ Watergate, đồng thời cho hai cố vấn thân cận là H.R. Haldeman và John D. Ehrlichman từ chức. Cùng ngày, hai nhân vật này cùng với Tổng Chưởng Lý Richard Kleindienst đã phải tuyên bố từ chức. Tổng Thống Nixon khẳng định ông không biết gì về việc bưng bít thông tin trước dư luận, và rằng ông không bao giờ khuyến khích nhân viên dưới quyền sử dụng những chiêu thức vận động không thích hợp. "Sự thật đơn giản là như vậy", ông Nixon tuyên bố với những người dân Mỹ.

    Tổng thống Mỹ cũng phải sa thải Cố Vấn Tòa Bạch Ốc John Dean. Thế nhưng, nhân vật này sau đó đã tiết lộ trước dư luận Mỹ về những việc làm bí mật của Tòa Bạch Ốc. Trong đó, có việc chính phủ Mỹ đã chi tiền để mua sự im lặng của những kẻ do thám bị bắt trong tòa nhà Watergate.

    Trong cuốn sách mang tựa đề: "Tổng Thống Nixon: Một Mình Trong Tòa Bạch Ốc", tác giả Richard Reeves đã kể lại những gì đã xảy ra sau khi Nixon yêu cầu hai cố vấn tin cẩn nhất từ chức. Tổng thống ngồi một mình trong trại David, "tất cả các đèn trong phòng đều tắt và ông đứng như hoá đá bên cửa sổ, nhìn ra những dãy núi bên ngoài... Rồi ông quay về phía Trợ Lý Báo Chí Ron Ziegler và nói: "Mọi việc đã kết thúc rồi Ron, ông biết điều này không?"... Ông ngồi xuống và khóc".

    Từ tháng 5/1973, ủy ban đặc biệt điều tra các hoạt động tranh cử của tổng thống bắt đầu tổ chức các buổi điều trần công khai, tất cả đều được truyền hình trực tiếp.

    Trong một diễn biến bước ngoặt, ủy ban điều tra đã khám phá ra sự tồn tại của những cuốn băng ghi âm bí mật của Tòa Bạch Ốc. Trong phiên điều trần trước Thượng Viện ngày 13/7/1973, ông Alexander Butterfield, thư ký của Tổng Thống Nixon, đã tiết lộ về sự tồn tại của hệ thống ghi âm tự động được tổng thống Mỹ cho lắp đặt từ năm 1971 để ghi lại toàn bộ những cuộc nói chuyện và điện thoại của Nixon tại Phòng Bầu Dục, Phòng Họp Nội Các, phòng khách và phòng làm việc của tổng thống ở trại David.

    Khám phá này đã dẫn đến một cuộc chiến pháp lý và chính trị lớn giữa Quốc Hội Mỹ và Tổng Thống Nixon, vì tổng thống Mỹ đã từ chối yêu cầu giao lại những cuốn băng trên cho Uỷ ban đặc biệt điều tra các hoạt động tranh cử của tổng thống. Cuộc đấu tranh nhằm giữ bí mật những cuộn băng đã kéo dài suốt những tháng còn lại của năm 1973 và kết thúc vào “mùa hè khủng hoảng” năm 1974.

    Ngày 30/4/1974, Tổng Thống Nixon đã phải nhượng bộ một bước khi ông chuyển giao cho ủy ban đặc biệt điều tra các hoạt động tranh cử của Tổng thống 1.200 trang tài liệu, là một phần nội dung của những cuốn băng ghi âm đã được chuyển sang dạng văn bản và biên tập lại. Tuy nhiên, ủy ban điều tra khẳng định lại yêu cầu: Họ cần đến những cuốn băng ghi âm đầy đủ.

    Mùa hè năm 1974, bầu không khí trên chính trường Mỹ thật sự hết sức căng thẳng. Vụ scandal Watergate xảy ra vào thời kỳ đang diễn ra cuộc chiến tranh Việt Nam cho thấy Tổng Thống Nixon đã lạm dụng quyền lực để ngăn cản phong trào phản chiến và lực lượng chính trị đối lập là đảng Dân Chủ. Vụ Watergate không chỉ liên quan tới số phận một vị tổng thống mà tác động tới cục diện của cả nền chính trị Mỹ thời điểm đó.


    TỔNG THỐNG NIXON BUỘC PHẢI TUYÊN BỐ TỪ CHỨC

    Với 8 phiếu thuận, không có phiếu chống, ngày 24/7/1974, toà án tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết bác bỏ đề nghị miễn trừ của tổng thống, và yêu cầu ông Nixon giao nộp những cuộn băng ghi lại 64 cuộc đối thoại của ông trong Tòa Bạch Ốc. Và số phận của Richard Nixon đã được định đoạt chính bởi những cuộn băng ghi âm mà ông thu, như một kiểu nhật ký hàng ngày trên.

    Những cuộn băng ghi âm của Tòa Bạch Ốc cho thấy chính Tổng Thống Nixon đã là người đứng sau âm mưu cài bọ nghe lén trong vụ đột nhập toà nhà Watergate, tổng hành dinh của đảng Dân Chủ. Những cuộn băng được ghi âm từ ngày 23/6/1972 – chỉ ít ngày sau khi xảy ra vụ đột nhập toà nhà Watergate bị bắt quả tang - cho thấy ông Nixon và cố vấn thân cận của ông là Haldeman đã có kế hoạch sử dụng CIA để ngăn cản quá trình điều tra của FBI. Những cuộc đối thoại của ông Nixon, về sau được công bố, đã đóng chiếc đinh cuối cùng lên cỗ quan tài chính trị của Nixon, khiến ông này phải rời Tòa Bạch Ốc sau đó.

    Sau khi Quốc Hội Mỹ quyết định cho phép Ủy Ban Tư Pháp có thể tiến hành quá trình luận tội đối với Tổng Thống Nixon, ngày 27/7/1974, Ủy Ban Tư Pháp của Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua điều khoản đầu tiên trong tổng số 3 điều khoản để luận tội Tổng Thống Nixon.

    Những ngày đầu tháng 8/1974, bên trong Tòa Bạch Ốc là một bầu không khí ảm đạm bao trùm. "Tâm trạng của các nhân viên rất chán nản, họ chỉ nghĩ tới việc từ chức", Pat Buchanan, cố vấn của ông Nixon, sau này cũng là người soạn bài phát biểu từ chức, kể lại. "Chúng tôi biết rằng chúng tôi đang chứng kiến kết cục của một nhiệm kỳ tổng thống".

    Rồi việc gì phải đến cũng đã đến: Tối ngày 8/8/1974, để tránh nguy cơ bị Quốc Hội Hoa Kỳ phế truất, Tổng Thống Nixon đã phải lên truyền hình để tuyên bố từ chức. Trước hàng triệu con mắt của những người Mỹ theo dõi truyền hình, trước ánh sáng của đèn và máy quay phim, vị tổng thống thứ 37 của Mỹ đã tuyên bố "đáp lại tiếng gọi của lịch sử" và chính thức từ bỏ chiếc ghế quyền lực cao nhất của mình.

    Trong bóng chiều nhập nhoạng của buổi tối ngày hôm đó, những đám đông quần chúng đã tụ tập tại quảng trường đối diện Tòa Bạch Ốc. Họ chờ đợi nghe bài phát biểu trên truyền hình của ông Richard Nixon để biết về số phận vị tổng thống thứ 37 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhiều người mang theo biểu ngữ bày tỏ quan điểm của cá nhân về vụ scandal Watergate. Những người khác thì ra sức biểu lộ suy nghĩ, quan điểm của họ qua lời nói. "Tôi nhớ mình đã đi tới công viên Lafayette vào đêm đó. Có hàng nghìn người tụ tập ở đây", Hugh Sidey, phóng viên lâu năm phụ trách Tòa Bạch Ốc của tờ Time & Life kể lại. "Họ có những quan điểm khác nhau. Có người thì khóc, người thì cười. Một cảm giác lẫn lộn không thể phân biệt".

    "Tôi không phải là kẻ trốn chạy", ông Nixon phát biểu trong bài diễn văn từ chức, "Phải rời khỏi văn phòng này trước khi kết thúc nhiệm kỳ là một điều hoàn toàn xa lạ đối với mọi bản năng của con người tôi. Nhưng là một vị tổng thống, tôi phải đặt lợi ích của nước Mỹ lên cao nhất". Và ông Nixon đã trở thành vị tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ phải từ chức giữa nhiệm kỳ.

    Trưa ngày 9/8/1974, một ngày sau khi đọc bản diễn văn từ chức trên truyền hình, ông Nixon đã nghẹn ngào nói lời chia tay với các nhân viên của mình tại căn phòng phía đông Tòa Bạch Ốc.

    Giữa trưa, Nixon và phu nhân là bà Patricia được Phó Tổng Thống Gerald Ford và Phu Nhân Betty tiễn tới bãi đỗ trực thăng ở phía trước Tòa Bạch Ốc để bay đi California. Khi bước lên bậc thang cao nhất của máy bay, ông Nixon đã quay lại và vẫy tay. Đó là hình ảnh cuối cùng của một nhiệm kỳ tổng thống phải kết thúc dở dang của ông Richard Nixon, người đã trở thành cựu tổng thống Mỹ kể từ đó.

    Sau khi ông Nixon ra đi, phó tổng thống Mỹ khi đó là Gerald R. Ford đã lên thay thế để tiếp tục đảm nhiệm chức vụ người đứng đầu Tòa Bạch Ốc. Gerald R. Ford đã trở thành tổng thống của nước Mỹ trong thời gian từ năm 1974 đến năm 1977.

    Nửa năm sau tuyên bố từ chức của Tổng Thống Nixon, những nhân vật thân cận của ông ta có dính líu đến vụ Watergate cũng đã phải chịu những hình phạt của tòa án. Ngày 21/2/1975, John W. Mitchell, H.R. Haldeman và J.D. Ehrlichman đã bị tòa án Mỹ kết án từ 30 tháng đến 8 năm tù.

    NGUỒN TIN DEEP THROAT BƯỚC RA ÁNH SÁNG

    Vụ án Watergate cũng được coi là một thắng lợi lớn của báo chí và giới truyền thông trong viêc dũng cảm lên tiếng phanh phui và tố cáo trước công luận những việc làm vi phạm pháp luật của chính người đứng đầu nước Mỹ. Dư luận ghi nhận sự gan dạ và bền bỉ của hai nhà báo trẻ thuộc Washington Post là Bob Woodward và Carl Bernstein (2 nhà báo của Washington Post sau đó đã đoạt giải báo chí Pulitzer vì loạt bài điều tra này). Tuy nhiên, mọi người đồng thời cũng rất thắc mắc về nhân vật giấu mặt Deep Throat, đã cung cấp những thông tin châm ngòi cho các cuộc điều tra dẫn đến việc hạ bệ tổng thống Richard Nixon.

    Bí mật ấy thật ra chỉ có bốn người biết, đó là hai phóng viên Bob Woodward và Carl Bernstein, Ben Bradlee, tổng biên tập của báo Washington Post và Deep Throat. Cả bốn người đều đã có chung một giao ước: Danh tính thật của Deep Throat sẽ không được tiết lộ cho đến khi người này qua đời. Bản thân Woodward, Bernstein và ông Ben Bradlee vẫn khẳng định là họ sẽ không công bố lai lịch của Deep Throat trước khi khi ông này qua đời.

    Deep Throat đã trở thành nguồn tin nặc danh nổi tiếng nhất và danh tính ông cũng là một trong những bí mật được giữ kín nhất trong lĩnh vực báo chí từ trước đến nay. Trong hơn ba thập kỷ, mọi người đã ra sức suy đoán và thậm chí đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn tin Deep Throat là ai, nhưng chưa có một cá nhân nào được khẳng định. Và bí mật này lẽ ra sẽ còn tiếp tục là bí mật nếu như chính nhân vật giấu mặt Deep Throat không công khai lên tiếng về danh tính của mình.

    Ngày 31/5/2005, cả nước Mỹ và toàn thế giới đã được biết rằng Deep Throat - người đã “bật mí” cho báo chí biết về những việc làm sai trái của tổng thống Mỹ - chính là W. Mark Felt, một trong những nhân vật lãnh đạo của cơ quan điều tra liên bang FBI thời gian đó. Sau đó, báo Washington Post cũng đã chính thức xác nhận tin kể trên.

    Thông qua một người bạn, là Luật Sư John O'Connor, ông Mark Felt đã công khai sự thật. Sau đó, những thông tin này đã lần đầu được đăng tải trên tờ tạp chí Vanity Fair. Theo tạp chí này, ông Felt muốn nói ra sự thật vì "cảm thấy gần đất xa trời", rằng ông phải kể sự thật để mọi người hiểu đúng về ông. Mark Felt cho biết, ông cũng chỉ mới tiết lộ bí mật này cho gia đình ông vào năm 2002. Vào lúc Mark Felt công khai danh tính của mình, ông đã là một ông già 91 tuổi, đang sống ở Santa Rosa, bang California cùng con cháu. Gia đình Felt rất tự hào về ông và tin rằng ông là một người anh hùng của nước Mỹ.

    Theo lời kể của Mark Felt, Deep Throat đã bí mật hợp tác với Woodward và Bernstein thông qua một loạt những ám hiệu được quy định giữa 2 người. Nếu Woodward cần gặp Deep Throat để lấy thông tin, ông sẽ dịch chuyển một chậu hoa có đặt một lá cờ ngay phía trong ban công căn nhà của mình sang một ví trí nhất định để báo hiệu họ sẽ gặp bí mật tại một bãi đỗ xe ngầm ở Washington trong đêm tối.

    Còn khi Deep Throat cần gặp Woodward, ông sẽ gửi thông điệp bằng cách đưa ra dấu hiệu trên tờ New York Times mà nhà báo này đặt mua và được gửi đến cửa nhà Woodward mỗi buổi sáng. Theo đó, số trang 20 sẽ được khoanh tròn, và Deep Throat vẽ kim đồng hồ ở góc dưới của trang để ám chỉ thời gian cuộc hẹn vào ban đêm, thường là 2 giờ sáng, cũng tại bãi đỗ xe trên. Bob Woodward và Carl Bernstein không bao giờ biết bằng cách nào mà Deep Throat có thể thực hiện những ám hiệu liên lạc đó.

    Vốn là một chuyên gia an ninh lão luyện, Deep Throat đã đề ra và hướng dẫn Woodward tuân thủ một cách nghiêm ngặt hàng loạt các kỹ thuật để tránh bị theo dõi. Khi đến điểm hẹn, Woodward không được dùng xe riêng mà phải đi taxi và đổi taxi chạy lòng vòng qua nhiều phố nhỏ trước khi đến bãi đỗ xe để gặp nhau.

    "Ông ấy đã giúp chúng tôi hết mình trong vụ điều tra Watergate", Bob Woodward và Carl Bernstein đã viết như vậy và ký tên chung trong bản thông cáo của Washington Post để xác nhận sau khi Mark Felt tiết lộ danh tính của mình.

    Bằng việc làm của mình, Mark Felt tin tưởng rằng ông đang bảo vệ luật pháp của nước Mỹ, và tìm cách, dù là bí mật, đưa ra công khai trước công luận những thông tin có được từ các cuộc điều tra và tài liệu của FBI, góp phần tạo ra sức ép từ công chúng và chính trị để đòi Nixon cùng đội ngũ tái tranh cử có câu trả lời. Ông chẳng làm gì ngoài bất chấp Tòa Bạch Ốc thời Nixon và nỗ lực thao túng FBI vì những lý do chính trị.


    DEEP THROAT VÀ MÂU THUẪN GIỮA FBI VỚI NIXON

    Sau khi Mark Felt công khai lên tiếng về danh tính của mình, Bob Woodward, một trong hai phóng viên Washington Post có công lật tẩy vụ Watergate trên báo chí, đã cho biết nhà báo này đã tình cờ quen được Mark Felt vào năm 1970. Khi ấy, Bob Woodward còn là trung uý trong Hải Quân nhận nhiệm vụ mang văn bản tài liệu tới Tòa Bạch Ốc cho Mark Felt. Sau khi chuyện trò, 2 người nhận ra nhau cùng là đồng hương và đã học sau đại học tại trường Đại Học George Washington.

    Mark Felt, người đáng tuổi cha chú của Bob Woodward, cho biết ông đang phụ trách bộ phận điều tra trong FBI, một vị trí quan trọng dưới quyền giám đốc FBI khi ấy là J. Edgar Hoover. Sau đó, Bob Woodward còn gặp Mark Felt một lần nữa trong Tòa Bạch Ốc. Hai người luôn giữ liên lạc với nhau.

    Theo Bob Woodward, từ trước khi vụ Watergate bị phơi bày, dư luận Mỹ hầu như không hề biết mối quan hệ căng thẳng giữa Tòa Bạch Ốc của Tổng thống Nixon và FBI của Hoover. Cuộc điều tra vụ Watergate sau này tiết lộ năm 1970, Tom Charles Huston, một trợ lý của Tòa Bạch Ốc đã đưa ra kế hoạch cho phép CIA, FBI và các đơn vị quân báo tăng cường các hoạt động giám sát điện tử "các mối đe doạ an ninh trong nước", cho phép đọc trộm thư từ một cách bất hợp pháp, dỡ bỏ hạn chế với những cuộc đột nhập nhằm thu thập tin tình báo.

    Sau khi bản kế hoạch của Huston được Tổng Thống Nixon thông qua, Giám Đốc FBI Hoover đã tìm mọi cách phản đối. Việc nghe trộm điện thoại, đọc trộm thư từ và đột nhập vào nhà riêng, văn phòng, các mối đe doạ an ninh trong nước về cơ bản thuộc phạm vi hoạt động của FBI, và cơ quan này không tán thành những hoạt động như vậy. Trước sự phản đối của FBI, 4 ngày sau Tổng Thống Nixon đã phải huỷ kế hoạch của Houston.

    Tháng 1/1971 - khoảng một năm trước khi xảy ra vụ Watergate - Hoover đã tiến cử Mark Felt vào vị trí cao cấp số 3 trong FBI. Mặc dù Clyde Tolson là viên chức số hai, nhưng ông này hay ốm yếu và nghỉ làm nhiều ngày. Điều đó có nghĩa Mark Felt trở thành người quản lý tất cả các vấn đề của FBI hằng ngày.

    Tháng 9/1971, Bob Woodward bắt đầu vào làm việc cho Washington Post. Dù rất bận rộn với công việc mới, nhưng Bob Woodward vẫn giữ liên lạc với Mark Felt. Ngay sau khi vụ đột nhập toà nhà Watergate bị bắt quả tang trong đêm 17/6/1972, phóng viên Bob Woodward đã bị biên tập viên của Washington Post đánh thức dậy ở nhà riêng và phóng viên này được yêu cầu đi đưa tin về “một vụ trộm bất thường” cho bài báo trên trang nhất số ra ngày hôm sau.

    Để phục vụ cho loạt bài điều tra cho báo Washington Post trong thời gian sau đó, Bob Woodward nhận thấy đây là thời điểm một nguồn tin hay người bạn trong các cơ quan điều tra của chính phủ có ý nghĩa vô giá. Và phóng viên này đã gọi điện cho Mark Felt tại FBI, gặp ông qua thư ký. Tuy nhiên, Mark Felt nói ông không thích các cú điện thoại ở văn phòng và cho biết vụ trộm Watergate sẽ "nóng lên" vì những lý do mà ông không thể giải thích, rồi đột ngột cúp máy.

    Vì vậy, Woodward đã tới nhà riêng của Mark Felt ở Fairfax. Ông Mark Felt yêu cầu Bob Woodward không gọi điện thêm, không tới nhà và làm chuyện gì liên quan đến ông một cách công khai nữa. Nếu cần trao đổi, 2 người sẽ tìm một nơi an toàn để không ai có thể nhìn thấy. Họ cần một hệ thống ám hiệu thông báo được chuẩn bị từ trước - thay đổi trong môi trường mà không bị ai để ý đến.

    Và Mark Felt đã thiết lập ra cả một hệ thống liên lạc bí mật để ông có thể hợp tác với Woodward và Bernstein trong việc phanh phui ra những nhân vật đứng sau vụ Watergate. Mark Felt và Woodward thường gặp nhau vào khoảng 2 giờ sáng ở tầng dưới cùng của một bãi đỗ xe dưới cầu Key ở Rosslyn, sau khi đã trao đổi những ám hiệu liên lạc.

    Mark Felt yêu cầu Woodward phải tuân thủ các kỹ thuật để không bị theo dõi một cách nghiêm ngặt. Trước khi đến điểm hẹn, Woodward phải dành 1-2 giờ để đi qua những phố nhỏ và không được dùng xe riêng. Nếu bị theo dõi thì không được xuống bãi đỗ xe. Nếu cả hai không xuất hiện, thì coi như cuộc gặp đã hủy bỏ.

    Hệ thống thông tin mà Mark Felt đã thiết lập ra hoàn hảo đến mức ngay cả ông Tổng Thống Nixon khi đó cùng với cả bộ máy an ninh hùng hậu trong tay cũng đành bất lực không thể biết được Deep Throat là ai. Trong thời gian diễn ra vụ Watergate, Thư Ký Tòa Bạch Ốc Alexander Haig là người đã từng bị nghi ngờ nhiều nhất. Sau đó, ông này phải nhờ đến Woodward cải chính mới “thoát nạn”.





    VẪN CHƯA HẾT NHỮNG BÍ ẨN

    Sau khi Mark Felt công khai lên tiếng về danh tính về việc ông chính là nguồn tin có biệt danh Deep Throat, bí mật lớn nhất của vụ án gián điệp chính trị Watergate nổi tiếng trong lịch sử nước Mỹ đã được lộ diện. Tuy nhiên, dư luận Mỹ vẫn còn đặt câu hỏi về một số vấn đề chưa được làm sáng tỏ xung quanh vụ scandal này. Dưới đây là một số trong những câu hỏi như vậy:

    1. Động cơ nào của Tổng Thống Nixon khi tổ chức chiến dịch do thám và gửi những nhân viên đột nhập vào trụ sở của đảng Dân Chủ tại toà nhà Watergate?

    Đương nhiên, lý do chính thức được biết cho đến nay là những kẻ đột nhập muốn thay những thiết bị nghe trộm điện thoại bị hỏng, được lắp trong lần đột nhập trước đó. Nhưng tại sao Tòa Bạch Ốc lại phải làm điều đó trong lúc các cuộc thăm dò ý kiến đã cho thấy tổng thống đương nhiệm đang có lợi thế trước đối thủ là ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ? "Lẽ ra ông ấy có thể đã giành được nhiều phiếu hơn nữa nếu không có vụ Watergate", ông Pat Buchanan, cố vấn của Tổng Thống Nixon sau này đã cho biết.

    Đến nay, một trong những giả thuyết được một số người đưa ra là có khả năng những kẻ đột nhập muốn tìm cách khám phá ra – hay mưu toan gài lại - những bằng chứng để cáo buộc phe Dân Chủ có liên hệ với phe cánh tả. Hoặc Nixon lo sợ Chủ Tịch Đảng Dân Chủ Lawrence O’Brien có những thông tin bất lợi về khoản vay mà nhà tỷ phú Howard Hughes dành cho Donald Nixon, em trai của ông.

    2. Lý do gì đã khiến cho Tổng Thống Nixon không phá huỷ các cuốn băng ghi âm ghi lại các cuộc đối thoại của ông tại cơ quan trước khi chúng bị buộc phải giao lại cho ủy ban đặc biệt điều tra các hoạt động tranh cử của tổng thống?

    Chính các cuốn băng trên được coi là chứng cớ quan trọng nhất đã biến Nixon trở thành tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ phải từ chức vì bê bối. Sự thật được phơi bày trong các cuốn băng này đã cho thấy những nỗ lực của Nixon nhằm che giấu sự thật xung quanh vụ đột nhập vào khách sạn Watergate, và đã mở ra sự kết thúc đáng hổ thẹn cho nhiệm kỳ tổng thống thứ 2 của ông. Vì thế, ông Nixon có lẽ vẫn giữ được chiếc ghế tổng thống, nếu các cuốn băng bị phá huỷ. Bộ trưởng Bộ Tài Chính Mỹ khi đó, ông John B.Connally từng đề nghị với Nixon như vậy.

    Một số người đã cho rằng nguyên nhân của điều này có lẽ là bởi Luật Sư Leonard Garment đã từng khuyên Nixon rằng, theo luật pháp Mỹ, các cuốn băng không thể bị phá huỷ. Trong cuốn hồi ký năm 1978, Nixon viết rằng việc phá huỷ các cuốn băng sẽ tạo ra ấn tượng phạm tội và chúng là “sự đảm bảo tốt nhất của tôi” chống lại một cố vấn “phản bội” là John Dean, người đã tiết lộ về Watergate với các nhà điều tra.

    3. Trong các cuốn băng được Tổng Thống Nixon giao nộp cho ủy ban đặc biệt điều tra các hoạt động tranh cử của Tổng thống, trong một cuốn băng quan trọng đã có một đoạn đối thoại giữa Nixon với một trợ lý hàng đầu của ông bị trống. Đây chính là cuốn băng ghi lại một cuộc trò chuyện 3 ngày sau khi xảy ra vụ đột nhập toà nhà Watergate ngày 17/6/1972. Trong đoạn băng dài 18 phút rưỡi đã bị xóa này chỉ có tiếng lèo xèo. Ai là người đã gây ra khoảng trống này?

    Theo Alexander Haig, cố vấn của ông Nixon, có “một thế lực đen tối” đã làm điều đó. Còn bà Rose Mary Woods – thư ký riêng của Nixon – thì nhận một phần trách nhiệm. Bà nói rằng điện thoại reo khi bà đang chép lại nội dung cuốn băng, và chân bà vô tình giẫm vào nút xoá của máy ghi âm trong 4 – 5 phút.

    Thế nhưng kết luận nghiên cứu cuốn băng của những chuyên gia điều tra thuộc ủy ban đặc biệt điều tra các hoạt động tranh cử của tổng thống lại cho thấy rằng một mình bà Woods không thể gây ra toàn bộ chuyện này. Họ có bằng chứng cho thấy ít nhất 5, thậm chí có thể tới 9 người, cố tình xóa băng.

    Ngày 29/7/2011, Thẩm Phán Liên Bang Mỹ Royce Lamberth đã ra phán quyết cho phép công bố lời giải trình mật của Tổng Thống Richard Nixon về vụ bê bối Watergate. Tài liệu được phép giải mật là 297 trang ghi chép những nội dung giải trình của ông Nixon về vụ Watergate, trong đó bao gồm việc Nixon trả lời câu hỏi về đoạn ghi âm trống dài 18 phút rưỡi đó. Thẩm Phán Lamberth cho rằng tầm quan trọng và sự quan tâm về nội dung đó còn lớn hơn rất nhiều so với sự cần thiết phải giữ bí mật nó. “Việc công bố lời giải trình của Tổng Thống Nixon có thể sẽ giúp nâng cao sự chính xác của các tài liệu lịch sử hiện nay, thúc đẩy các cuộc thảo luận học thuật và tăng cường sự hiểu biết của công chúng về sự kiện lịch sử quan trọng này”, ông Lamberth tuyên bố.

    Bởi vậy, nhiều người đang hy vọng rằng tấm màn che phủ những điều bí ẩn còn lại xung quanh vụ Watergate kể trên cuối cùng cũng sẽ được kéo lên để những bí mật còn lại sẽ được đưa ra công khai trước dư luận trong một tương lai không xa.

    Vũ Anh Tuấn (tổng hợp từ Wikipedia, Reuters, Washington Post và báo chí Mỹ)


    [SPECIAL]Sau khi xảy ra vụ bê bối Watergate, từ -GATE trong “Watergate” đã được báo chí và dư luận sử dụng làm hậu tố để tạo ra những thuật ngữ hoặc tên của những vụ bê bối, hành vi phi đạo đức, lén lút, có ảnh hưởng sâu rộng, đặc biệt là trong chính trị và chính quyền, như: Billygate, Briefingate, Contragate, Deavergate, Debategate, Doublebillingsgate, Billygate, Briefingate, Contragate, Deavergate, Debategate, Doublebillingsgate, Frankiegate, Franklingate, Genschergate, Housegate, Iraqgate, Koreagate, Lancegate, Maggiegate, Nannygate, Raidergate, Scalpgate, Travelgate, Troopergate, Whitewatergate...

    Sáng kiến sử dụng hậu tố -GATE để nói về sự tồn tại của một vụ bê bối được nghĩ ra và thúc đẩy ban đầu bởi nhà báo William Safire, của tờ New York Times, người từng viết diễn văn cho ông Nixon. Việc sử dụng hậu tố -GATE để đề cập đến những vụ bê bối chính trị cùng lan sang các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh, như Argentina, Đức, Hungary, Hy Lạp, Nam Tư cũ...[/SPECIAL]
  8. Tuy là một thành phố hiện đại hàng đầu Châu Á, nhưng Tokyo vẫn lưu giữ được đậm nét bản sắc của một nền văn hóa giàu truyền thống. Đó là những cảm nhận đầu tiên của tôi khi đến với thủ đô Đất nước mặt trời mọc theo lời mời của Hôi Chăm Sóc Con Người Nhật Bản (Human Care).

    Sang thủ đô của xứ sở Phù Tang vào thời điểm cuối mùa Thu, thời tiết tuy đã khá lạnh giá, nhưng tôi vẫn thấy ấm áp trong lòng bởi sự cởi mở, chu đáo và nhiệt tình đã trở thành nếp sống của những người dân nơi đây. Mùa thu ở đây còn được người Nhật Bản gọi là mùa lá đỏ (momiji). Mùa lá đỏ ở Nhật Bản rất đẹp với những chiếc lá phong (còn gọi lá cây gỗ thích) ở khắp nơi. Nếu có dịp đến Tokyo vào mùa lá đỏ, chúng ta sẽ được bắt gặp sự pha trộn giữa các gam màu vàng và màu đỏ của lá phong trên những vòm cây, và lá đỏ trút khắp đường phố, trong khuôn viên và trên mái vòm của những ngôi chùa ở thủ đô Nhật Bản.

    Một trong những cảm nhận đầu tiên của tôi khi đến với thủ đô Nhật Bản là, mặc dù có cuộc sống công nghiệp hiện đại, nhưng người Nhật rất có ý thức và coi trọng việc giữ gìn văn hóa truyền thống. Tuy thời gian ở Tokyo chỉ có nửa tháng, nhưng tôi đã được thấy khá nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian được tổ chức với sự tham dự của rất nhiều người dân. Được tham dự một trong những lễ hội được mùa của những người dân địa phương diễn ra ngay trên đường phố Tokyo trong khu vực tôi ở, tôi mới biết đó là lễ hội của những người nông dân xưa sau mỗi vụ thu hoạch. Lễ hội này vẫn được duy trì đến ngày nay, dù bây giờ đường phố và đô thị đã thay thế cho những làng mạc từ rất lâu. Trong những ngày ở Tokyo, tôi thường xuyên bắt gặp hình ảnh những chiếc áo Kimono truyền thống trên đường phố, trong các lễ hội, điểm sinh hoạt văn hóa. Trẻ em trong các gia đình Nhật Bản cũng hay được cha mẹ mặc cho những bộ Kimono trong những ngày nghỉ và dẫn đi chơi.

    Ở Tokyo có rất nhiều ngôi chùa. Chùa ở đây không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo, mà còn là nơi tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống khác. Vì vậy, những ngôi chùa Nhật Bản thu hút rất đông người đến thăm. Ngoài đến để hành lễ, nhiều người dân Tokyo và du khách nước ngoài còn đến chùa để tham quan, vãn cảnh, dự những sinh hoạt văn hóa, và thậm chí để… mua sắm! Có lần, tôi đã đi chùa và mua được mấy món đồ lưu niệm của những người dân địa phương tại một phiên chợ trong khuôn viên một ngôi chùa Tokyo. Một lần khác, tôi có dịp tham dự Lễ Hội Hoa Cúc tố chức trong khuôn viên một ngôi chùa. Người Nhật rất quý trọng hoa Cúc vì loài hoa này có 16 cánh, như mặt trời đang tỏa chiếu ánh sáng là biểu tượng của hoàng gia và được chọn làm quốc huy của Nhật Bản.

    Trong tiếng Nhật, Tokyo có nghĩa là "Thủ Đô Ở Phía đông". Trước đây, Tokyo có tên là Edo, có nghĩa là cửa sông. Thành phố được đổi tên như ngày nay từ khi trở thành thủ đô của Nhật Bản năm 1868. Từ đó, Tokyo phát triển nhanh chóng và trở thành một trong những thành phố lớn nhất trên thế giới với dân số trên 1 triệu người vào thế kỷ 18. Tính đến tháng 10 năm 2007, thủ đô Nhật có khoảng 12,79 triệu người.

    Nhắc tới Nhật Bản, nhiều người hình dung đến một đất nước phát triển kinh tế hùng mạnh từ đống tro tàn chiến tranh, nói đến tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người nằm trong số những nước đứng đầu thế giới. Tuy nhiên, đến nước này mới thấy, đằng sau những thành công ấy, không thể thiếu vai trò ảnh hưởng của văn hóa. Điều này có thể được thấy rõ trong phong cách sống và làm việc của những người dân nơi đây. Trong phương pháp làm việc, người Nhật Bản rất nghiêm túc, quan tâm chu đáo đến từng chi tiết và tính chính xác về mặt thời gian. Khi hết giờ làm mà còn việc gì dở dang, người Nhật thường ở lại làm tiếp đến khi hoàn thành công việc mới thôi. Trong những ngày ở Tokyo, ngoài công việc, tham dự các buổi gặp gỡ và thuyết trình, tôi đã dành thời gian đi thăm được khá nhiều nơi. Ở đâu cũng thấy người Nhật Bản có nếp sống rất kỷ luật. Ý thức kỷ luật của người Nhật được thấy rõ ngay ở những nơi công cộng. Khi đi xe điện, mọi hành khách đều tắt máy điện thoại di động, và không bao giờ nói chuyện ồn ào. Đi ngoài phố, người tham gia giao thông rất tôn trọng luật đi đường. Tuy xe cộ rất nhiều, nhưng hiếm khi tôi nghe thấy tiếng còi xe hơi… Để có được điều đó, những người làm luật Nhật Bản đã phải suy tính, ghi ra rất chi tiết các quy định và sự phổ biến, giám sát rộng rãi để mọi người phải tuân theo. Một người bạn tôi mới sang Tokyo kể lại chuyện buổi sáng cô quên tắt điện đồ dùng trong phòng trọ trước khi ra khỏi nhà, thì buổi chiều đã nhận được một tờ giấy nhắc nhở về sơ xuất đó.

    Nếp sống của người Nhật Bản mang cả dấu ấn của phong cách Châu Âu và Bắc Mỹ. Nếp sống kỷ luật Nhật Bản bắt nguồn từ điều kiện lịch sử như khó khăn về tài nguyên, cũng như yêu cầu của sự phát triển công nghệp, tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là ảnh hưởng từ nền văn hóa truyền thống. Văn hóa Nhật Bản được coi là một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất thế giới, đã phát triển mạnh mẽ từ thời kỳ tiền sử Jōmon (khoảng từ năm 10.000 trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên) cho đến ngày nay. Đặc biệt, văn hóa Nhật Bản ngày nay có ảnh hưởng quan trọng của những chính sách chấn hưng đất nước do Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji 1852-1912) đưa ra. Năm 1868, sau khi lên ngôi, Vua Minh Trị đã đề xướng cuộc Minh Trị duy tân để mở cửa nước Nhật với Phương Tây và học hỏi từ Phương Tây những công nghệ, khoa học, kỹ thuật, y khoa…, tiên tiến nhằm đưa Nhật Bản từ một quốc gia phong kiến, lạc hậu thành một nước hùng mạnh ở Châu Á.

    Chính chủ trương xây dựng một xã hội “phương tây kiểu Nhật Bản” mới của Minh Trị Thiên Hoàng đã có vai trò lớn trong việc xây dựng một nền văn hóa “hòa nhập nhưng không hòa tan” của người Nhật trong suốt một thế kỷ rưỡi qua. Và một phần của những thành công ấy đã được thấy trong bộ mặt của một Tokyo với những bản sắc đậm nét của một nền văn hóa giàu truyền thống bên cạnh nhịp sống công nghiệp hối hả, trong việc phát huy được một cách tích cực những nét văn hóa ấy trong xã hội hiện đại. Điều này có thể ví như hình ảnh những cây phong lá đỏ ở Tokyo: Loài phong lá đỏ không chỉ có ở Nhật Bản, nhưng màu lá đỏ nơi đây vẫn có vẻ đẹp riêng, không giống ở những nước phát triển khác.

    Tạm biệt Tokyo khi chỉ còn một tháng là bước sang năm mới, tôi mang theo mình những cảm nhận đẹp đẽ về một thành phố hiện đại hàng đầu Châu Á nhưng vẫn lưu giữ đậm nét bản sắc riêng. Bỗng chợt nhớ đến nhận xét của LĐ, một người bạn tôi: “Cái hay của người Nhật là sự tiếp thu văn hóa Phương Tây cùng với duy trì văn hóa Phương Đông, chính xác là văn hóa nước Nhật, và sự kết hợp này rất thành công trong đời sống, nhất là trong kinh tế. Nghiên cứu văn hóa của Nhật mới hiểu tại sao họ thành công nhất trong những nước châu Á”.

    Quả thật, những thành công của Nhật Bản trong tiếp thu những cái hay của văn hóa thế giới, duy trì và phát huy văn hóa truyền thống là một trong những kinh nghiệm mà chúng ta nên học hỏi từ nước bạn để có thể đẩy mạnh phát triển đất nước trong khi vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc mình.



    Vũ Anh Tuấn
  9. Được thành lập vào tháng 7/2001 chỉ với 6 thành viên, sau 10 năm hoạt động, Quỹ Học Bổng Đồng Hành của sinh viên Việt Nam tại Pháp đã trao hàng nghìn học bổng cho những sinh viên, học sinh nghèo trong nước. Với mong muốn gắn kết những người Việt trẻ với nhau trong tình tương thân nhân ái, Quỹ đã góp phần mở ra cơ hội học tập cho nhiều bạn trẻ có tinh thần vượt khó để vươn lên trong học tập tại Việt Nam.

    Người khai sinh ra Quỹ Học Bổng Đồng Hành là anh Trần Văn Xuân, một sinh viên nghèo du học tại Pháp. Vốn sinh ra trong một gia đình nghèo ở Việt Nam, chàng trai Trần Văn Xuân vẫn nung nấu trong mình đầy khát vọng vươn lên trong học tập. Bằng ý chí và nghị lực, Xuân đã vượt qua cái nghèo để không chỉ đoạt giải toàn quốc môn hóa học lớp 12, mà còn giành được học bổng sang Pháp du học. Để thực hiện được những mơ ước của mình, chàng trai Trần Văn Xuân đã phải đi làm thêm, rồi sau đó nhận được sự tài trợ của một nhà hảo tâm để anh bớt phải đi làm và tập trung vào việc học. Trước khi Xuân sang du học tại trường Đại Học Bách khoa Paris (Ecole Polytechnique Paris) danh tiếng, người mạnh thường quân ấy đã nói với anh: “Cô giúp con, con không cần phải nhớ ơn cô, con hãy sống là người có ích là cô vui rồi”.

    Trần Văn Xuân đi sang Pháp cùng với suy nghĩ cần phải làm một cái gì đó để trả nghĩa cho những gì mình đã nhận và giúp những sinh viên nghèo ở trong nước. Rồi anh đứng ra vận động những người bạn cùng học lập ra Quỹ Học Bổng Đồng Hành, do anh là chủ tịch đầu tiên. Tên gọi của Quỹ học bổng này đã nói lên được phần nào suy nghĩ của Trần Văn Xuân và những người sáng lập mong muốn được “bước cùng sinh viên Việt Nam” giúp các bạn sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cũng có được điều kiện học tập tốt hơn, tự tin trên con đường tìm kiếm tri thức chuẩn bị hành trang cho tương lai.

    “Với số tiền học bổng ít ỏi 3000 franc của 6 thành viên sáng lập, chúng tôi nhờ các thầy cô giáo cũ của mình ở các trường đại học làm đại diện tại Việt Nam và dán thông báo, thu nhận và xác minh hồ sơ rồi chuyển qua Pháp để trao 6 học bổng”, Xuân nhớ lại.

    Sau đó, những người vận động và phụ trách vận động của Quỹ hồi hộp chờ thông tin từ các em sinh viên khó khăn trong nước. Sau 1 tháng thông báo, ở TP. Sài Gòn có tới 84 hồ sơ xin học bổng mà tất cả đều xứng đáng. Sau vài đêm mất ăn mất ngủ suy nghĩ, các thành viên của Quỹ quyết định giới thiệu Đồng Hành đến các sinh viên Việt Nam học tại trường Bách Khoa Paris và Hội Những Người Việt Làm Điện Toán Học tại Pháp (AIVF). Và Quỹ Học Bổng Đồng Hành sau đó đã rất nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của đông đảo các bạn sinh viên, các nhà hảo tâm cùng tham gia vào các hoạt động gây quỹ vì các sinh nghèo vượt khó ở trong nước trên tinh thần ‘‘lá lành đùm lá rách’’, khi số tiền tài trợ và lời hứa ủng hộ liên tục gửi tới Đồng Hành. Cuối cùng, Quỹ Đồng Hành đã trao được 17 học bổng cho sinh viên Đại học Bách Khoa TP. Sài Gòn trong lần đầu tiên ra mắt vào cuối tháng 11/2001.

    Từ 17 học bổng đầu tiên cho sinh viên Đại Học Bách Khoa TP Sài Gòn, ngày hôm nay, Đồng Hành đã đến với sinh viên của 7 trường đại học và học sinh của 4 tỉnh, thành phố trong cả nước. Với tôn chỉ của
  10. Tháng 4/2012, một cậu bé 14 tuổi ở thành phố Cheltenham, Anh, bị cảnh sát bắt giữ vì đã đăng một đoạn video khiêu dâm của chính mình và bạn gái trên Facebook. Phản ứng ban đầu của nhiều người lớn ở Anh, như vẫn thường thấy, là tỏ ra khó tin hoặc “giật mình” hoảng hốt. Nhưng với những thanh thiếu niên thì lại khác. “Điều đó rất phổ biến. Nếu tìm kiếm xung quanh, mỗi giờ em có thể nhận được 10 đến 20 bức ảnh như vậy được gửi đi trên mạng hoặc đưa lên Facebook”, Amy, một thiếu niên 16 tuổi cho biết.

    [​IMG]

    Theo nhà nghiên cứu Sherry Adhami của tổ chức từ thiện Beatbullying, Sexting (tức nạn gửi hình ảnh, tin nhắn hoặc video clip khêu gợi về tình dục qua internet hoặc điện thoại, theo tiếng Anh) đã trở thành một “đại dịch” trong giới trẻ học đường. “Chúng tôi đang chứng kiến ngày càng nhiều hơn những hình ảnh đó – thậm chí ngay cả trong trường tiểu học. Đại dịch này 100% không phân biệt người lớn hay trẻ em, và ảnh hưởng đến trẻ em, bất kể các em thuộc các tầng lớp giàu có hay bị thiệt thòi ", bà Sherry nói.

    Và kết quả của đại dịch có thể có sức tàn phá ghê gớm. Một trong những nạn nhân như vậy là Jane. Khi còn là một cô bé mới 12 tuổi, hình ảnh không mảnh vải che thân của Jane đã bị tung lên mạng. “Khi đi đâu, em cảm thấy như tất cả mọi người trên đường phố đều chăm chú nhìn vào em. Em luôn lo sợ ai đó sẽ nói cho em biết rằng họ đã nhìn thấy hình em trên mạng. Bởi vì vậy, em hay từ chối đi đến các nơi công cộng và không cảm thấy mình có thể tin tưởng ngay cả những bạn bè gần gũi nhất”, Jane, giờ đã là một thiếu nữ 15 tuổi, chia sẻ.

    “Thật khó có thể diễn tả được cảm giác trong lòng khi em nhận ra rằng những gì mình nghĩ về một mối quan hệ riêng tư với một người thực sự quan tâm đến em lại chẳng có ý nghĩa gì cả”, Lucy, một học sinh 16 tuổi, kể về những trải nghiệm của mình. Lucy, cũng như Jane, từng trở thành nạn nhân của sexting khi cô mới chỉ có 13 tuổi, và đã được sự giúp đỡ của MCF. “Anh ấy 16 tuổi và em cảm thấy hãnh diện khi được một chàng trai ở độ tuổi đó thích mình. Em đã nghĩ chắc chắn là mình yêu anh ta và có thể làm bất cứ điều gì mà anh ta đòi hỏi, vì vậy khi anh ta yêu cầu em gửi hình ảnh khỏa thân của mình, mặc dù cảm thấy một chút khó xử, nhưng em đã làm theo. Rồi anh ta đã gửi chúng cho bạn bè của mình, dường như cả trường đều biết hình ảnh đó... Cú vấp ngã đối với em thật là khủng khiếp”.

    Một trong những trường hợp sexting nghiêm trọng nhất cho đến nay là nữ học sinh Jessica Logan, 18 tuổi, người bang Ohio, Mỹ. Jessica đã dùng điện thoại di động gửi cho bạn trai một bức ảnh khỏa thân của mình. Đến khi hai người chia tay, bạn trai của cô đã gửi tấm ảnh đó cho bạn bè của hai người. Logan đã bị gán cho những tên gọi như “kẻ dâm đãng”, “con điếm”. Sau đó, Jessica bắt đầu bỏ học để tránh không gặp những kẻ hành hạ cô ở trường. Cuối cùng, Jessica đã treo cổ tự vẫn, để lại chiếc điện thoại di động của cô ở giữa căn phòng, nơi cô đã tự tử.

    Theo một cuộc thăm dò ý kiến trong năm 2009 đối với 2.000 trẻ em nước Anh do tổ chức Beatbullying thực hiện, có 1/3 số trẻ em được hỏi trả lời đã nhận được một tin nhắn khêu gợi tình dục qua mạng, trong khi 1/4 trẻ em được hỏi trả lời đã nhận được một hình ảnh khêu gợi tình dục qua mạng. “Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, mọi người đều có máy ảnh trong túi. Và với các ứng dụng chia sẻ ảnh như Instagram, bạn đã có thể chia sẻ một hình ảnh cho nhiều người chỉ bằng một nút bấm chuột”, ông Jonathan Baggaley, thuộc Trung Tâm Phòng Chống Lạm Dụng Trẻ Em Qua Mạng (Child Exploitation and Online Protection Centre - CEOP) cho biết.

    Trong khi đó, theo một nghiên cứu khác của Đại Học Plymouth, 40% số trẻ em từ 14 đến 16 tuổi ở Anh đã cho biết, các em có những người bạn đã tham gia vào sexting. Điều đáng lo ngại là có gần 20% trẻ em không nghĩ rằng những hình khoả thân trong các bức ảnh như vậy là không có gì sai trái, trong khi 40% trẻ em cho rằng những bức ảnh ngực trần là “không sao cả”. Theo nhà nghiên cứu sư phạm Jon Brown, thuộc tổ chức bảo vệ trẻ em NSPCC, không giống như các trường hợp cậu bé ở thành phố Cheltenham, hầu hết thanh thiếu niên Anh chia sẻ hình ảnh thông qua tin nhắn BlackBerry Messenger. “Không giống như Facebook, mà thanh thiếu niên Anh gọi là Baitbook (bait là mồi nhử), vì cha mẹ và những người khác có thể dễ dàng nhìn thấy những gì được chia sẻ trên đó, BlackBerry Messenger là một mạng kín, mà bạn phải mời mọi người và có một số cá nhân để xem nội dung”, ông Jon Brown nói.

    Và trong khi, dù muốn hay không, việc trải nghiệm tình dục đang trở thành một phần cuộc sống của giới trẻ ngày nay, các chuyên gia giáo dục lo ngại rằng những thanh thiếu niên đang bị lôi cuốn vào làn sóng đưa ra những hình ảnh khêu gợi của bản thân, rồi những hình ảnh này sau đó được chia sẻ mà không có sự đồng ý của họ qua điện thoại di động và các mạng xã hội. Nhà nghiên cứu Baggaley đã lên tiếng cảnh báo về việc thanh thiếu niên đang tự đặt mình vào nguy cơ từ những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em. Nhiều bạn trẻ ngày càng có xu hướng tìm cách trải nghiệm tình dục bằng cách sử dụng webcam, không chỉ với bạn trai hoặc bạn gái của mình, mà cả với những đối tượng rộng hơn - bằng cách sử dụng các dịch vụ như Skype phòng chat có webcam, hoặc các trang web như Chatroulette, nơi người ta có thể tán gẫu với một người lạ gặp ngẫu nhiên trên mạng. “Những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em không còn phải tìm đâu xa, vì giờ đây họ có thể lạm dụng các nạn nhân trẻ tuổi chỉ qua một webcam. Không có ngay cả sự ve vãn như truyền thống - chúng tôi thấy những kẻ lạm dụng chỉ đơn giản là đe dọa bằng cách ghi lại (hoặc giả vờ đã ghi) một đoạn video qua webcam của nạn nhân và sau đó nói rằng họ sẽ gửi nó cho tất cả bạn bè của em đó nếu đứa trẻ này không làm theo lời chúng”, nhà nghiên cứu Baggaley nói.

    Một điều thường xảy ra là các cô gái bị áp lực phải phơi bày hình ảnh bản thân qua internet, và sau đó bị bôi xấu bởi những bức ảnh đó. Nhà sư phạm Jon Brown, thuộc tổ chức bảo vệ trẻ em NSPCC cho biết: “Các cô gái cảm thấy bị ép buộc vào việc chia sẻ hình ảnh riêng tư. Những bạn trai hay bình thường hóa điều đó với những câu nói với người yêu như: Nếu em thực sự yêu anh, thì hãy...” Và điều đó còn thường chịu ảnh hưởng của vấn đề bình đẳng giới, khi các cô gái được xem như là sở hữu của những chàng trai. Chúng tôi đã thấy hình ảnh những em gái viết trên ngực dòng chữ “thuộc về X [tên của bạn trai]”.

    “Một cách tự nhiên, các thiếu nữ trong độ tuổi từ 12-14 bắt đầu có những trải nghiệm trong nhiều khía cạnh của cuộc sống - và tất nhiên là bao gồm cả quan hệ tình dục. Khi nói đến tình dục qua mạng, cơ hội trải nghiệm lớn hơn và rất ít bị sự kiểm soát của cha mẹ. Thanh thiếu niên hiếm khi cân nhắc về các hậu quả của hành vi của họ”, nhà nghiên cứu Tink Palmer thuộc tổ chức Marie Collins Foundation (MCF), chuyên giúp những người trẻ tuổi bị lạm dụng qua mạng và điện thoại, cho biết.

    Thế nhưng việc đưa ra những biện pháp có hiệu quả giúp cho thanh thiếu niên phòng chống lạm dụng tình dục qua điện thoại và mạng viễn thông ở Anh còn rất hạn chế. “Có một bức ảnh chụp cảnh quan hệ tình dục giữa một bạn trai 16 tuổi và một bạn gái 15 tuổi. Bức ảnh bị phát đi trên mạng và nhà trường đã phải can thiệp bởi rất nhiều học sinh đã đặt bức ảnh đó làm hình ảnh hồ sơ trên mạng của mình. Nhà trường đã có buổi nói chuyện với cô gái và khiển trách bất cứ học sinh nào đề cập đến hình ảnh đó trong lớp học, nhưng nhà trường cũng thực sự không thể làm gì nhiều hơn”, Amy một học sinh 16 tuổi cho biết.

    Theo nhà sư phạm Jon Brown, thuộc tổ chức bảo vệ trẻ em NSPCC, có nhiều giáo viên tại Anh đã không được đào tạo đầy đủ về việc phòng chống lạm dụng tình dục qua mạng, và họ đã cầu cứu sự giúp đỡ từ tổ chức của ông. “Chính phủ và các ngành công nghiệp đang kiếm được hàng triệu dollars từ việc kinh doanh viễn thông và điện thoại di động nên có một vai trò chính trong việc đưa ra các biện pháp và hướng dẫn rõ ràng hơn về việc sử dụng, tránh những kẻ lạm dụng điện thoại và mạng viễn thông vào việc xấu”, ông Brown nhận định.

    Mặt khác, theo các chuyên gia giáo dục, dẫu sao, thế hệ trẻ ngày nay đang sống trong một thế giới nơi mà mọi sự chia sẻ hình ảnh đã trở thành điều bình thường trong cuộc sống. Vì vậy, để bảo vệ một cách hiệu quả các em học sinh trước những nguy cơ sexting kể trên, cha mẹ và giáo viên cần phải có được những thông tin đầy đủ hơn. “Điều đó sẽ giúp chúng ta có thể hỗ trợ con em của mình nếu có vấn đề xảy ra. Và vấn đề còn là trách nhiệm, có thể cân nhắc về việc hạn chế thời gian vào internet của con em mình sau 10 giờ đêm," nhà nghiên cứu giáo dục Phippen cho biết.

    “Chúng tôi muốn những bạn trẻ biết rằng nếu bạn chụp một bức ảnh không đứng đắn của người nào dưới 18 tuổi, lã bạn đã vi phạm pháp luật. Và trong khi ai đó có thể vui vẻ chia sẻ một hình ảnh với bạn trai hoặc bạn gái của mình, người đó nên biết những hình ảnh tự chụp như vậy sẽ được lưu trong các bộ sưu tập của những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em. Cuối cùng, liệu bạn trẻ đó có còn thấy vui khi mẹ, hay bà của mình nhìn thấy hình ảnh đó?”, nhà nghiên cứu giáo dục Baggaley cảnh báo.

    Nhưng liệu những thanh thiếu niên sẽ đón nhận lời cảnh báo này như thế nào? Như chính cậu thiếu niên ở thành phố Cheltenham, người đã bị bắt vì tội chia sẻ hình ảnh khiêu dâm cho biết: “khoảng hai năm trước đây, ở trường chúng em đã nhận được một cuốn sách về sexting, nhưng không ai quan tâm và em nghi ngờ mọi người sẽ để ý đến nó. Mọi người chỉ rút ra những bài học từ những sai lầm của họ, sau khi tất cả đã xảy ra”.

    Vũ Anh Tuấn (Theo Telegraph)
  11. Năm mới vừa sang khắp ba miền
    Trao nhau ly rượu, nụ cười duyên
    Cùng chúc nhau An Khang Thịnh Vượng
    Mùa Xuân hạnh phúc, Rồng gặp Tiên.

    (Giao Thừa Nhâm Thìn)
  12. Vào những ngày Tết Nguyên Đán, trong khi ở quê nhà mọi người đang rộn ràng vui đón năm mới, thì có nhiều bạn sinh viên phải đón tết ở nước ngoài. Xa quê hương và gia đình trong những ngày tết cổ truyền dân tộc, tuy mỗi người có những suy nghĩ, cảm xúc khác nhau, nhưng tâm trạng chung của các bạn sinh viên là nỗi nhớ nhà, và cầu mong một năm mới tốt lành đến với quê hương và gia đình.
    Là sinh viên tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Hà Nội, sang Mỹ học cao học ngành Phát Triển Quốc Tế Và Thay Đổi Xã Hội (International Development & Social Change) tại trường Đại Học Clark (Clark University, 950 Main Street, thành phố Worcester, bang Massachusettes) chưa được 1 năm, Đỗ Thị Huyền chia sẻ: “Tết càng nhớ quê hương nhiều hơn. Mình nhớ khi con trai mình khi được 3 tuổi (tết này lên 6 rồi), 2 mẹ con đi chợ tết, con mình nhắc: Mẹ phải mua cây đào nhé. Tết phải có đào mẹ nhỉ? Thế rồi khi về nhà, cu cậu lăng xăng chạy quanh cành đào rồi đi khoe hàng xóm: “Nhà cháu cũng có cây đào!” Năm nay con trai mình vào lớp 1 rồi. Mình cũng thấy lo lo. Hy vọng sang năm mới, mọi chuyện đều thuận lợi”.

    Chuẩn bị đón cái tết xa quê đầu tiên, cô gái quê ở Bắc Giang này cho biết: “Bọn mình cũng tổ chức đón tết với những món ăn truyền thống của người Việt. Các bạn sinh viên Việt Nam gặp gỡ nhau, kể chuyện ăn tết ở quê mình. Vui nhất là khi mọi người trổ tài nấu những món ăn đặc trưng ngày tết của từng vùng. Thế là mình được thưởng thức hương vị ngày tết nhiều địa phương”.

    Một sinh viên đang học cao học ngành Phát Triển Quốc Tế Và Thay Đổi Xã Hội khác ở Đại Học Clark, cũng lần đầu tiên đón tết xa nhà, là Nguyễn Thị Hương. Cô sang Mỹ học từ tháng 5/2011. “Năm đầu tiên ăn tết xa nhà, cũng chưa tưởng tượng được nhớ nhà đến mức nào nữa? Ngày thường mình cũng rất hay tập trung mấy bạn sinh viên cùng sang học nấu nướng, ăn uống cho đỡ nhớ nhà. Tết bên này cũng có bánh chưng và những món truyền thống như nem, giò lụa, măng..., chỉ thiếu không có hoa đào. Lúc mọi người quây quần bên nhau, hết người này đến người kia kể chuyện đón tết ở Việt Nam. Hầu như mỗi người một quê, nên bọn mình được biết đến nhiều phong tục đón tết ở Việt Nam mình mà trước đây chưa biết đến. Mọi người thi nhau kể chuyện, vui đấy, nhưng cũng có đứa rơm rớm nước mắt vì nhớ nhà. Mình cũng rất dễ khóc”, Hương tâm sự.

    Nhân dịp năm mới, Nguyễn Thị Hương có đôi lời chúc tết gửi đến gia đình và quê hương: “Bố con ở nhà luôn mạnh khỏe, con gái của mẹ luôn học giỏi. Mình mong muốn đất nước mình ngày càng phát triển, chị em phụ nữ có điều kiện học hành, nâng cao trình độ. Càng đi mình càng thấy phụ nữ Việt Nam còn nhiều thiệt thòi, nhất là những chị em ở vùng nông thôn, xa xôi”. Nói về dự định trong năm mới, cô cho biết: “Dự định thì nhiều, nhưng trước mắt, mình phải tập trung vào học đã. Hè này mình sẽ về Việt Nam thu thập số liệu cho luận văn cuối khóa”.

    Tùy thuộc vào thời gian xa quê ngắn hay dài mà nỗi nhớ của mỗi người trong ngày tết cũng khác nhau. Đối với Huỳnh Tùng, sinh viên quê ở TP. Sài Gòn, người đã học xong đại học ở Mỹ, rồi học tiếp lên cao học ngành Khoa Học Và Chính Sách Môi Trường (Environmental Science & Policy) ở đại học Clark, nơi mà 60% số người theo học ở trường là sinh viên quốc tế, thì cái tết xa quê hương đã trở nên khá quen thuộc. “Tết đầu tiên cũng buồn, nhớ nhà khủng khiếp. Những năm sau, mình thường hô hào mấy anh em tổ chức tết, có mời cả các bạn nước ngoài tham gia nữa, vừa để giới thiệu về tết của Việt Nam, vừa để cho tết thêm đông vui. Cộng đồng người Việt ở đây khá đông nên hầu như có đủ mấy món ăn truyền thống của Việt Nam mình trong siêu thị người Việt. Mấy anh chị sinh viên có gia đình, con nhỏ, thường hay nói chuyện về nhà, còn mình cũng gọi điện về nhà chúc tết bố mẹ, gia đình. Nhưng cũng đỡ buồn hơn các anh chị ấy, thanh niên mà”, Tùng cho biết.

    Vào dịp Tết Nguyên Đán, các bạn sinh viên Việt Nam ở Mỹ thường vẫn phải đi học. Nếu may mắn được nghỉ, họ sẽ có thời gian để gọi điện nói chuyện với gia đình nhiều hơn. Theo Huỳnh Tấn Anh, quê ở Đắc Nông, năm nay là cái tết thứ 2 của chàng sinh viên Việt Nam này tại Mỹ. Tấn Anh tâm sự: “Vào dịp Tết mình vẫn phải lên lớp, học bài. Tuy vậy, mấy anh em vẫn tụ tập nhau lại, cũng làm nhiều món ăn truyền thống của mình cho đỡ nhớ nhà. Lần đầu tiên ăn tết xa quê buồn quá. Nhưng bài vở nhiều nên cũng không có thời gian mà buồn nhiều. Tết năm ngoái, ngày nào mình cũng gọi điện về nhà. Có lẽ Tết năm nay sẽ đỡ buồn hơn vì đã quen chút rồi”.

    Dù vậy, trong khi mọi người ở quê nhà đang chuẩn bị đón năm mới, Tấn Anh lại bồi hồi nhớ kỷ niệm về những cái tết ở Việt Nam: “Mình nhớ nhất thời khắc giao thừa, cùng gia đình cúng tổ tiên, cảm giác linh thiêng lắm”. Theo Tấn Anh, người Mỹ đón năm mới liền với dịp lễ Giáng Sinh, nên khác hẳn ở Việt Nam. “Thành ra mình cũng có 2 cái tết trong năm cơ đấy”, Tấn Anh hóm hỉnh.

    Theo kế hoạch, Tấn Anh sẽ ra trường vào tháng 5/2012. Dự định của Tấn Anh là sẽ gắng học thật giỏi, rồi về nước làm việc sau khi nhận bằng tốt nghiệp ngành Phát Triển Quốc Tế Và Thay Đổi Xã Hội. Lời chúc Tấn Anh nhắn gửi mọi người ở quê nhà trong năm mới: “Chúc mọi người ở nhà luôn mạnh khỏe, thành đạt, an khang thịnh vượng”.

    Còn đối với Đỗ Hà Thu, năm nay cũng không phải lần đầu cô sinh viên Đại Học Tổng Hợp Tokyo này ăn tết xa nhà. Sinh ra ở Hà Nội, từ khi sang Nhật, Hà Thu đã theo học tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Osaka, sau đó học lấy bằng cử nhân và 2 năm thạc sĩ tại Đại Học Tổng Hợp Tokyo.

    Nhớ lại những cái tết xa quê hương đầu tiên, Hà Thu kể: “em và các bạn sinh viên Việt Nam cùng chung kí túc thường tụ tập nấu nướng các món ăn ngày tết của Việt Nam. Đến đúng giờ Giao Thừa, mọi người cùng nhau nghe bản nhạc Happy New Year, cùng đếm ngược chờ đón giờ khắc chuyển sang năm mới. Có những năm, em và các bạn học cùng thức thâu đêm, hàn huyên, tâm sự, ôn lại những kỷ niệm 1 năm đã qua. Sáng hôm sau, mọi người cùng đi chùa xin may mắn cho năm mới”.

    Năm nay đón tết xa quê, Hà Thu cho biết: “Nhớ lắm không khí ồn ào, náo nhiệt, người người đi mua sắm, rộn ràng háo hức chuẩn bị cho mâm cỗ ngày tết”. “Vì Tết cổ truyền của Việt Nam không trùng với ngày tết ở Nhật, nên đã lâu lắm rồi em cũng chỉ cảm nhận hương vị tết qua tranh ảnh, báo chí”.

    Nhân dịp năm mới, Hà Thu có đôi lời chúc tết gửi đến gia đình và quê hương: “Chúc bố mẹ mạnh khỏe. Cảm ơn bố mẹ luôn yêu thương và lo lắng cho con. Chúc cho Việt Nam mỗi năm thêm phát triển và giàu mạnh. Dù có ở đâu thì quê hương vẫn luôn là nơi cho tôi cảm giác bình yên và ấm áp mỗi khi trở về”.

    Vũ Anh Tuấn
  13. Từ một thanh niên 17 tuổi bị khuyết tật với cái vốn văn hóa lớp một, sau những năm tháng vượt qua mọi khó khăn để học tập nghiên cứu miệt mài trên đất Mỹ, chàng trai người Việt Huỳnh Phước Ðương đã trở thành một tiến sĩ thần kinh học làm việc tại đại học y khoa UCLA uy tín ở Mỹ.

    Tuổi thơ hạnh phúc, và khuyết tật

    Sinh năm 1958 trong một gia đình nghèo mồ côi cha từ nhỏ ở Hội An giữa thời kỳ đất nước còn chiến tranh, Huỳnh Phước Ðương có hai em trai và một em gái. Là anh cả trong nhà, từ nhỏ cậu bé Huỳnh Phước Ðương đã phải đi chăn trâu giúp gia đình. Dù vậy, theo anh, tuổi thơ anh vẫn là “những ngày vui nhất, hạnh phúc nhất!”. “Khoảng năm 1965, lính Mỹ lùa người từ Cẩm Thanh lên Cẩm Châu để cô lập Việt Cộng”, Tiến Sĩ Ðương nhớ lại. Cậu bé Ðương và gia đình nằm trong nhóm người bị lùa đi ấy. “Tôi còn nhớ, ngày nào cũng xảy ra đánh nhau”, anh kể tiếp.

    Năm 1968, trong một đêm chiến tranh kinh hoàng nơi ngoại ô Hội An, khi đang ngủ, nghe có tiếng súng nổ, cậu bé Huỳnh Phước Ðương ngồi nhỏm dậy. Không may, vì hành động ấy mà cậu bị một viên đạn xuyên vào cột sống. Cái vết thương nơi cột sống ấy đã khiến cậu bé chăn trâu Huỳnh Phước Ðương trở thành người khuyết tật và thay đổi cả cuộc đời anh.

    “Tôi được đưa vào một nhà thương của quân đội Mỹ tại Non Nước, Ðà Nẵng”, Tiến Sĩ Ðương kể lại. Anh nằm tại bệnh viện này trong ba tháng. Sợ trở về nhà sẽ thành gánh nặng cho mẹ, nên Huỳnh Phước Ðương đành phải khai không có gia đình để các tổ chức y tế nhận nuôi. Anh được đưa vào Sài Gòn vì không có thân nhân đi cùng. Tại Sài Gòn, vết thương của anh bắt đầu lành sau một tháng chữa chạy tại Bệnh Viện Nhi Ðồng Quốc Tế.

    Lúc đó là năm 1974, cậu bé Ðương bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành, nhưng chỉ mới học lớp... một. "Tại mấy năm liền nằm bệnh viện có học hành gì đâu!", Tiến Sĩ Huỳnh Phước Ðương cho biết. Tại Sài Gòn, anh bắt đầu đi học nghề tại một trung tâm phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật. Huỳnh Phước Ðương chọn học nghề thêu.

    Cậu học trò lớp một 17 tuổi ngồi xe lăn trên đất Mỹ

    Khi chiến tranh chấm dứt vào tháng 4/1975, Huỳnh Phước Ðương cũng từ bỏ giấc “mộng thêu đan" sau hai tháng học nghề. Huỳnh Phước Ðương theo một linh mục lên đường sang Mỹ. "Tôi vẫn khẳng định với họ rằng tôi không có gia đình", Tiến Sĩ Ðương kể lại.

    Đến định cư ở Mỹ, ở tuổi 17, là thời gian khó khăn nhất của Huỳnh Phước Ðương. Với kiến thức tương đương lớp một, lại phải di chuyển trên chiếc xe lăn dành cho người khuyết tật, Huỳnh Phước Ðương bắt đầu đi học lại.

    Tự nhủ rằng mình cần phải cố gắng hết sức học thành tài để có một tương lai thật sáng sủa, cậu học trò của một trường dành cho trẻ chậm phát triển Huỳnh Phước Ðương bắt đầu cuộc chạy đua để giành lại thời gian đã mất. Thời gian này, Đương được giáo sư người Việt nhận dạy toán và một cô giáo dạy tiếng Anh. Không ngờ chàng thiếu niên khuyết tật với tố chất thông minh đã nhanh chóng hoàn tất chương trình bậc tiểu học chỉ trong vòng 6 tháng. Chỉ trong một năm, sau khi hoàn tất chương trình tiểu học, với học lực xuất sắc, cậu bé “chậm phát triển” ấy đã được miễn các năm học tiếp theo để vào thẳng lớp 10. "Năm ấy tôi 19 tuổi, và tiết kiệm được năm năm học", Tiến Sĩ Ðương cười thú vị.

    Nói về bí quyết để kết thúc chương trình học phổ thông một cách xuất sắc, Tiến Sĩ Đương cho biết: “Có lẽ lúc đó mình đã lớn tuổi nên phải cố gắng. Lúc đầu cũng khó khăn, nhưng mình chỉ có việc học, không phải lo nghĩ điều gì nên tiếp thu nhanh. Nhưng lý do để mình quyết tâm nhiều nhất là vì mình nghĩ chỉ có cố gắng học thật giỏi mới có điều kiện để trở về Việt Nam sau này”. Lá thư đầu tiên mà gia đình Huỳnh Phước Ðương nhận được tại Quảng Nam được anh gửi đi vào năm 1977. Trong khi đó, ở quê nhà, gia đình đã lập bàn thờ anh. "Tôi không nhớ địa chỉ. Cứ ghi làng, thôn, xã là tới thôi... Lúc ấy gia đình đã lập bàn thờ tôi. Tại vì cũng lâu quá rồi...", Tiến Sĩ Ðương bùi ngùi.

    Đến Vị Giáo sư - Tiến sĩ người Việt nặng tình với quê hương

    Với sự nỗ lực không ngừng, trong những ngày tháng đi học anh luôn là học sinh ưu tú với những thứ hạng cao để được nhận vào trường Đại Học California, khoa Công Nghiệp Sinh Học. Giải thích cho việc chọn ngành học của mình, Huỳnh Phước Ðương cho biết: “Có lẽ hình ảnh ruộng lúa, con trâu hồi trẻ thơ đã ăn sâu trong đầu nên tôi đã chọn ngành học này để sau này trở về Việt Nam, có điều kiện giúp đỡ cho quê hương. Nhưng sau đó thấy ngành học này không phù hợp với hoàn cảnh của mình nên tôi chuyển hướng sang nghiên cứu về thần kinh học”.

    Học xong cao học, Huỳnh Phước Ðương theo học tiếp chương trình tiến sĩ ngành Sinh Hóa, Thần Kinh tại Đại Học University of California, Riverside. Theo anh Huỳnh Phước Ðương, thật ra, chương trình cao học chuyển tiếp vào tiến sĩ là giai đoạn “thử thách” mà trường đại học đặt ra cho Huỳnh Phước Ðương trước khi anh học lên tiến sĩ. Vượt lên mọi khó khăn, Huỳnh Phước Ðương đã hoàn tất xuất sắc chương trình đào tạo tiến sĩ ngành thần kinh học vào năm 1992 và trở thành giáo sư tại Đại Học UCLA California.

    Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, Huỳnh Phước Ðương về Việt Nam lần đầu tiên thăm gia đình. “Tôi đi từ Sài Gòn ra Hội An bằng xe chứ không phải bằng máy bay. Trên đường đi, tôi đã nhìn thấy những người khuyết tật không có xe lăn, không có phương tiện di chuyển. Họ rất khó khăn. Trong làng tôi cũng có người khuyết tật. Người dân Việt còn nghèo quá”, Tiến Sĩ Ðương nhớ lại lần đầu về thăm quê.

    Trên đường trở lại Mỹ, anh quyết định phải làm "một cái gì đó" để giúp người khuyết tật trong nước. Thế rồi vị tiến sĩ nặng tình với quê hương Huỳnh Phước Ðương đã tham gia vào hội đồng quản trị của tổ chức từ thiện Chương Trình Trợ Giúp Xã Hội Cho Việt Nam (Social Assistance Program for Vietnam - SAP-VN), được thành lập năm 1992 bởi những sinh viên và chuyên gia ở Mỹ. Mục tiêu chính của SAP-VN là cung cấp, cứu trợ trực tiếp cho người nghèo, đặc biệt là trẻ mồ côi và trẻ em khuyết tật.

    Tiến Sĩ Huỳnh Phước Ðương đã đi đến nhiều quốc gia để tham gia hội thảo, thuyết trình khoa học nhưng vui nhất, hạnh phúc nhất với anh là được trở về Việt Nam để tham gia các chương trình từ thiện.

    Ngồi trên chiếc xe lăn, Tiến Sĩ Huỳnh Phước Ðương tất bật cùng các chuyên gia y tế của SAP-VN trong các chuyến đi về Việt Nam tổ chức những chương trình Dự Án Chăm Sóc Sức Khỏe Lưu Động Miễn Phí (Free Mobile Health Care Project) tập trung giúp khám chữa bệnh, phát thuốc, xe lăn, và cố vấn cho trẻ em khuyết tật ở vùng quê. “Nhìn sự vui mừng của các em khi có xe lăn để di chuyển tôi cảm thấy vui. Rất vui. Cứ vậy rồi tiếp tục làm thôi”, nói về lý do gắn bó với tổ chức SAP-VN, Tiến Sĩ Huỳnh Phước Ðương cho biết.

    Vũ Anh Tuấn
  14. (tặng bé Hương Giang)

    Lim dim giấc ngủ trưa hè
    Tai vẫn ve vẩy lắng nghe điều gì
    “Mèo ơi, mèo ngủ làm chi
    Lũ chuột kia cắn phá thì làm sao?”

    “Tôi ngủ, nhưng cảnh giác cao
    Hễ nghe tiếng chuột tôi nhào ra ngay.
    Là mèo, tôi phải ngủ ngày
    Để đêm canh gác giấc say cho người”.

  15. Bốn bạn nhỏ đang vui chơi bên bờ biển. Các bạn tìm nhặt những viên sỏi nhẵn bóng và vỏ sò xinh đẹp, rồi lại viết tên của mình lên bãi cát trắng tinh. Cuối cùng, chơi đã chán, các bạn đang chuẩn bị đi về nhà, thì chợt một bạn trong nhóm đi đến một đống đá gần đó, và kêu lên:

    “Ồ! Bọn mình hãy chơi trò xây dựng pháo đài đi! Chúng ta hãy coi chiếc tàu thủy ngoài xa kia là một chiếc tàu của kẻ thù, và làm như chúng ta đang nã đại bác hạng nặng vào con tàu ấy nhé!”

    “Ừ, đồng ý! Bọn mình sẽ xây dựng một pháo đài!”, cậu bạn Edward hưởng ứng ý kiến người bạn trai kia.

    Và hai bạn trai – bởi trong nhóm có hai bạn trai và hai bạn gái – chạy đến đống đá, và bắt đầu khuân những viên đá đến một nơi gần mép nước.

    “Anna và Jane! Hãy đến đây nào!”, hai bạn trai gọi, “hãy đến và giúp chúng tớ đi.”

    “Ồ, không. Đừng bắt bợn tớ xây dựng pháo đài”, Jane đáp.

    “Không, chúng tớ sẽ xây một pháo đài”, các bạn trai trả lời. “Chúng mình có thể xây dựng được cái gì khác nữa? Ta sẽ không thể xây một ngôi nhà ở đây, ngay cạnh mép nước này, đúng không nào?”

    “Không xây được ngôi nhà, nhưng tớ sẽ nói cho bạn biếtchúng ta có thể xây dựng cái gì, và nó sẽ hay hơn nhiều so với xây một pháo đài”.

    “Được, vậy chúng mình nên xây dựng cái gì?”

    “Một ngọn hải đăng”, hai bạn gái nói, “và ngọn hải đăng đó cũng sẽ chỉ cần một địa điểm cạnh bờ biển, tương tự như khi xây một pháo đài. Chúng mình có thể coi chiếc tàu đằng kia là một con tàu bị lạc đường trong đêm tối, và chúng ta sẽ soi đèn sáng chỉ dẫn cho con tàu đó đi đúng đường. Điều đó không tốt hơn nhiều so với coi đó là một chiếc tàu của kẻ địch, và xây dựng một pháo đài để tiêu diệt nó hay sao? Nhìn mà xem, con tàu lướt đi trên mặt nước êm đềm thật đẹp đẽ biết bao! Những cánh buồm của con tàu trông giống như những cánh của một con chim đang mở ra, và chúng mang vẻ đẹp thật duyên dáng của chiếc tàu. Chẳng lẽ là không nhẫn tâm lắm ư, khi bọn mình nã đại bác vào con tàu, làm xé nát những cánh buồm ra thành từng mảnh, và giết chết những người đang ở trên tàu? Ôi, tớ cho rằng việc cứu một chiếc tàu lạc đường trong đêm tối và nguy hiểm sẽ làm tất cả chúng ta cảm thấy vui hơn. Không! Xin đừng xây dựng pháo đài, mà chúng ta hãy xây một ngọn hải đăng, vì giúp người sẽ tốt hơn là hại người.”

    Các cô bé nói với vẻ sôi nổi, nhưng dịu dàng, và những lời nói đã nhận được sự đồng cảm còn lớn hơn của các bạn trai.

    “Ừ, phải đấy!”, cả nhóm nhất trí, “chúng mình sẽ dựng một ngọn hải đăng, chứ không xây pháo đài nữa”.

    Và các bạn đã cùng nhau thực hiện đúng như vậy.

    Đúng thế! Việc giúp người sẽ tốt hơn nhiều so với làm tổn hại ai đó. Xin hãy suy nghĩ về điều đó nhé các em, và hãy mang theo nó như một hành trang theo suốt cuộc đời. Hãy thật tận tâm khi giúp bạn bè, hơn là tiêu diệt những kẻ thù của mình. Và khi có một kẻ thù thực sự xuất hiện, và định làm điều ác, xin hãy dũng cảm để chống lại hắn.

    (dịch theo tác phẩm của T. S. Arthur)