Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Năm 2006, có một nhà thơ ở Paris liên lạc email với Tô Vũ, khi TV làm chương trình giới thiệu thơ, nhạc, văn, trong trang nhà Tin Paris.net. Đọc bút hiệu của ông, tự nhiên TV thấy có cảm tình dù chưa nghe danh ông bao giờ. Khi còn ít tuổi và bây giờ vẫn thế, TV rất thích những tên có ý nghĩa tốt, đẹp, hiền dịu. Bút hiệu của ông là Phú Sĩ, như tên ngọn núi nổi danh của Nhật Bản, cái tên nghe hiền dịu, và cao cả.

    TV nói với ông gửi bài đến. TV chọn một bài thơ, một bài nhạc của ông, và một bài thơ của bạn ông, thi sĩ Kim Thành, do Hồng Vân ngâm trong CD để đưa vào chương trình.

    Rồi một chuyện lạ, một người ở Paris xưng là bạn của nhà thơ, tìm ông đã hai chục năm mà không gặp, nhân đọc bài thơ của ông trên chương trình của Tô Vũ, yêu cầu TV cho biết địa chỉ của ông ta. Hai người liên lạc được với nhau, và trong một tiệm ăn quận 13 Paris, do TV mời, hai người bạn cũ đã gặp lại nhau. Nhờ đó TV biết thêm được nhiều về nhà thơ. Ông là một sĩ quan Hải Quân VNCH, ông đã tự ý ở lại VN ngày 29-3-75 rồi bị học tập cải tạo, ông vượt biển, lái một chiếc tảu (nghề của chàng) được một tàu của Pháp vớt, rồi được đưa về Pháp định cư.

    Nhân ngày kỷ niệm 30 tháng Tư và ngày thành lập Quân Đội VNCH, Tô Vũ xin mời quý độc giả nghe nhà thơ Phú Sĩ kể:

    Ngày 29 tháng 04 1975, tôi đi công tác trên chiến hạm LSM, loại tàu chuyên chở, đổ bộ, từ đảo Guam trở về Việt Nam. Tàu chúng tôi được lệnh ủi bãi để đón người di tản. Sau khi đưa đoàn người đến cửa Vũng Tàu, tôi phân vân không biết nên đi hay ở lại vì vợ con tôi còn kẹt ở Sài Gòn. Giữa cái đi và cái ở, tình cảm gia đình đã chiến thắng trong tôi. Thế là tôi xuống một chiếc tàu nhỏ của Mỹ và yêu cầu cho tôi vào bờ, giã từ vĩnh viễn cuộc đời hải nghiệp mà tôi trân quý, để rồi mang bao đắng cay vào tận nhà tù Cộng Sản.*

    Đã hai mươi chín năm rồi mà tôi tưởng chừng như mới ngày hôm qua. Theo thông cáo của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố SG, tôi trình diện đi học tập cải tạo vào ngày 01/06/75. Thông báo phổ biến cÀn đem theo lương thực, đồ dùng cho đủ một tháng nên ai cũng tưởng lầm mình đi một tháng rồi về. Sau hơn một năm tập trung cải tạo tại trại Tân Hiệp Suối Máu Biên Hoà, cán bộ Công Sản giải thích: Nhân dân bảo các anh đem lương thực một tháng chứ đâu bảo các anh cải tạo một tháng, sau một tháng lương thực các anh mang theo đã ăn hết, nhân dân tiếp tục nuôi các anh để các anh được cải tạo tiếp, khi nào các anh tốt thì nhân dân sẽ để các anh về. Bây giờ chúng tôi mới hi‹u ra thời gian cải tạo không có hạn định và thấm thía câu nói chí lý của ông Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu: Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.

    Ngày ngày chúng tôi lao động, đào mương, đào giếng, làm nhà để ở, làm chuồng để nuôi heo, làm rẫy phát vồng trồng rau muống, tối tập họp học chính trị, làm kiểm điểm, lấy lời khai để xếp loại về tội ác của chúng tôi đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. Thời gian như vậy cứ trôi qua trong lo âu, trong sợ hải.

    Thế rồi vào một buổi tối, dưới ánh trăng rằm của đêm Trung Thu 76, sau bửa cơm chiều với mỗi người được phát cho một chén bobo và một con cá khô kho mặn, có lệnh tập họp toàn trại để điểm danh. Lần tập họp nầy có điểm đặc biệt là tất cả phải đem theo hành lý cá nhân. Chúng tôi nghĩ là có sự kiểm soát hành lý, nhưng sau khi điểm danh xong, một thượng uý VC tuyên bố đêm nay có biên chế, nghĩa là có sự chuyển trại. Một danh sách được đọc, từng người một nghe tên ôm hành lý đứng riêng dưới gốc cây, thành hai hàng dọc. Tổng cộng 42 người, trong số đó có tôi. Lòng ngổn ngang trăm mối, tôi không biết mình sẽ bị đưa đi đâu. Có người tưởng được cho về. Nhìn chung quanh thấy toàn những người có “đầy nợ máu với nhân dân”, tình báo, an ninh, tuyên uý, chiến tranh chính trị, đơn vị trưởng ...tôi tự hiểu ra mình bắt đầu sống một cuộc sống khổ ải hơn. Chúng tôi sắp hàng hai. Bốn bộ đội miền Bắc, người miền núi, giọng nói eo éo điếc cả tai, cầm súng trong tư thế nhả đạn dẫn chúng tôi đi về một căn nhà trống: ”Các anh im lặng, không được quan hệ (ý nói liên lạc), mỗi khi muốn di chuyển đi đâu phải xin phép, nếu tự ý rời khỏi láng, bắn chết tại chỗ”. Chúng tôi ngồi im, mỗi người một suy nghĩ, miên man trong đầu những dấu hỏi: ”Chúng đưa mình đi đâu đêm nay? làm sao liên lạc được với gia đình để cho biết mình đã rời khỏi Biên Hoà?....” Ánh trăng chiếu dọi xuống chui qua hàng cây già, trải một màu vàng êm dịu. Phi trường Biên Hoà hiện rất rõ trong tầm mắt tôi.

    Đến nửa đêm, mỗi người được phát một túi lương khô và một bi đông nhựa đựng nước uống. Hai chiếc xe vận tải Molotova bịt bùng, ngụy trang bằng sơn và lá cây rừng đã sẳn sàng. Chúng tôi bị trói từng hai người lại với nhau bằng cái còng số 8. Tất cả lên xe, cảnh vật im lìm, chỉ nghe tiếng hối thúc la hét của các tên bộ đội. Trong xe nóng như cái hầm lửa mặc dù ngoài trời đang mát dịu. Cái màn phía sau xe đã kéo xuống, tôi không còn thấy được gì bên ngoài. Xe bắt đầu chuyển bánh, phía ngoài toàn tiếng reo hò của bộ đội, giọng Bắc chua cay như xé lòng chúng tôi:” Mấy thằng Ngụy nầy đem bắn bỏ, nuôi chúng nó làm gì cho phí cơm" . Xe di chuyển một khoảng thời gian dài chúng tôi vẫn không thể đoán được chúng đưa đi đâu. Thần kinh căng thẳng, chúng tôi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng xe vấp phải một ổ gà và ngừng lại. Tiếng chân bộ đội chạy qua lại, hình như đông lắm. Giọng Bắc mà mỗi lần nghe tôi phải rùng mình, lại reo lên: ”Đến rồi, đem bọn nó xuống”. Tiếng lên đạn của các khẩu AK như chừng sắp sửa bắn ai. Mà bắn thật, vài tiếng súng nổ trong đêm khuya tĩnh mịch. Chúng tôi nghĩ rằng chúng đem chúng tôi đi thủ tiêu. Tiếng đọc kinh và cầu nguyện của vài người bạn tù làm cho tôi lạnh người. Tử thần đang vờn chúng tôi như mèo vờn chuột. Tôi nhắm mắt, trong bóng tối ghê rợn, đoán chắc là mình sắp chết,tôi nghĩ đến vợ con, gia đình Ba Mẹ và các em: ”Ba Mẹ và các em đều đã di tản ngày 29. Vợ con tôi không đi theo, ở lại chờ chồng chờ cha. Còn tôi, vì vợ con, đã từ ngoài biển trở về, đoàn tụ được một tháng rồi chừ vĩnh biệt sao?...” Trong hoàn cảnh này tôi mới hiểu được giờ hấp hối là gì, mới biết đươc cái suy nghĩ của một tử tội trước giờ bị hành quyết. Tôi nghĩ đến hình ảnh vợ tôi, cô bé học trò Đồng Khánh dễ thương mà một thời tôi ngẩn ngơ trồng cây si theo hàng phượng vĩ dài xứ Huế. Cô nữ sinh Đệ Nhất C ấy đã yêu chàng thủy thủ phiêu bồng, cho tôi dệt thơ bằng sóng biển, bằng tiếng hát học trò, bằnh hình ảnh con tàu ra khơi, bằng những lá thư tình sưởi ấm tim tôi trong những phiên hải hành. Từ đáy lòng, tôi gọi tên vợ tôi, tên các con tôi theo dòng nước mắt chảy ngược về tim... Tôi cũng nghĩ đến mối tình đầu học trò thơ dại mà tôi đã để lại cho trường Phan Châu Trinh yêu dấu cất giữ giùm tôi, mối tình với con đường Hùng Vương mỗi chiều tôi lặng lẽ đi qua, đi qua một mình cho hết thời trung học... Có tiếng khóc chung quanh tôi. Lòng tôi quặn đau như chưa từng đớn đau như thế. Sông biển đưa tôi đi, không lẽ tuổi đời mới ngoài 30 sông biển lại gọi tôi về. Người tù cùng khoá chung còng số 8 với tôi là một dân biểu của Việt Nam Cọng Hòa. Anh tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, một thời làm phó Quận, sau về ứng cử dân biểu đơn vị Quy Nhơn. Anh ngồi bất động từ lúc lên xe đến giờ. Khi nghe tiếng súng nổ, anh chửi bằng tiếng Pháp, anh chửi bằng tiếng Anh, rồi đột nhiên anh chửi bằng tiếng Việt. Tôi vội lấy tay bụm miệng anh: “Anh phải coi chừng, chúng nó nghe được, ghép vào tội phản cách mạng thì anh đừng hòng gặp lại vợ con”. Anh nói: ”Bố nó, bây giờ cũng sắp chết rồi”. Đang lo âu tôi bỗng bật cười: ”Sắp sửa chết chứ chưa chết, vẫn còn hy vọng mà”. Anh yên lặng, hình như tôi đã truyền được một chút hy vọng vào anh.

    Trong giờ phút nầy rất cần hy vọng, cho dù là một chút hy vọng mong manh để thay đổ cái chết thành cái sống. Chúng tôi muốn sống để thấy cái tức tưởi của chiến tranh, cái phi lý của bom đạn, để thấy tại sao lại có cái đầu hàng nhục nhã ê chề. Chúng tôi muốn sống không phải để đội đá vá trời, chúng tôi muốn sống để sau nầy nhìn và hiểu được, tại sao và tại sao thế nầy, tại sao với một đoàn quân hùng mạnh như thế đó, với tinh thần chiến đấu dũng cảm mà bao nhiêu chiến trận đã ghi công, trong tay khẩu súng vẫn còn ghì chặt, lòng tràn đầy nhựa sống, trí óc sáng như trăng rằm, tim vẫn in đậm lá cờ Tổ Quốc màu vàng ba sọc đỏ thân yêu mà chúng tôi phải ở trong tình trạng như thế nầy? Tại sao? Tại sao?

    Tôi để hồn mình phiêu du vào một chân trời xa thẳm, nơi đó không có chiến tranh, không có hận thù, không có những bất công của xã hội, không có người hành hạ người. Tôi chợt thấy thanh thản trong cái chết, lòng hướng về tương lai đầy tình người, tình nhân loại.....

    Ngày tôi vào Hải Quân, mẹ tôi buồn lắm nhưng không ngăn được lòng yêu giang hồ phiêu bạt của tôi. Mẹ cho tôi một lá bùa, xin của một vị sư nào đó. Mẹ nói: “Mạng con mạng thủy mà con đi lính thủy thì thế nào con cũng bị nguy hiểm vì nước, con cất kỹ bùa nầy để lấy cái linh thiêng mà gìn giữ mạng sống“. Tôi không tin nhưng vẫn nhận để mẹ yên lòng. Mẹ ơi! Không lẽ lời vị sư nào đó nói đúng, nhưng con không chết vì nước sông, nước biển mà chết vì nước Việt của con, của mẹ và của mọi người. Tôi lần tay vào cổ cầm chắc lá bùa tôi thường đeo cho mẹ vui. Tôi phải sống, niềm tin và hy vọng tràn ngập trong tôi, tôi phải thắng Thiên Mệnh. Còn bao nhiêu việc phải làm, bao nhiêu mộng ước chưa thành, còn tình nghĩa với vợ tôi, còn trách nhiệm và bổn phận với con tôi. Tuổi đời ngoài ba mươi, tôi chưa muốn chấm dứt tại đây.Tôi buột miệng gọi “Mẹ” như thời còn bé dại. Đột nhiên hình như có sự thay đổi gì, các bộ đội nhảy lên xe và xe lại chuyển bánh. Tôi không biết xe lại chở mình đi đâu nữa đây.

    Trời bắt đầu sáng, những tia sáng chiếu rọi vào những khe hở. Sau một đêm dài trí não bị tra tấn, những khuôn mặt tiều tụy bơ phờ hiện rõ dần trong thùng xe. Tôi mặc kệ bọn ác quỷ, chúng muốn gì thì muốn, bắt đầu thấy đói. Tôi uống một ngụm nước trong bi đông mang theo. Dòng nước lạnh mát trôi dần vô cổ họng đang khô vì thần kinh căng thẳng. Tôi ăn một mẫu lương khô, loại lương khô của Trung Cộng, bộ đội dùng để băng rừng băng núi vượt tuyến vào Nam. Đến giữa trưa xe dừng lại ̣tại một khu rừng. Chúng tôi được xuống để làm vệ sinh cá nhân. Tôi thầm đếm, hai xe còn đủ 42 người. Vậy lúc tối chúng bắn doạ thôi, uy hiếp tinh thần tù nhân cho khủng hoảng trước khi đưa đến trại khác, tôi nghĩ vậy. Chúng dẫn tất cả đến một cái hầm cho chúng tôi làm vệ sinh cá nhân tập thể. Hơn 10 tên bộ đội vây quanh, cầm súng chĩa vào chúng tôi trong tư thế nhả đạn. Giọng Bắc của tên cầm đầu lại eo éo nổi lên nghe như tiếng cô hồn từ địa ngục vọng về: ”Các anh khẩn trương giải phóng chỉ được 10 phút nhé, “nên” xe biên chế tiếp". Một người tù tiếu lâm dịch nguyên câu nói sang tiếng...Việt. Các anh làm vệ sinh nhanh lên, chỉ được 10 phút thôi, phải lên xe đi tiếp. Tôi nhìn quanh khu rừng, định vị trí mình đang ở đâu nhưng đành chịu. Những hàng cây cổ thụ cao tít che khuất ánh mặt trời. Bây giờ chúng tôi đã hết sợ, nghĩ rằng chúng doạ thôi, chưa thủ tiêu mình. Trong cái thùng xe bít bùng nầy, khí hậu thay đổi đột ngột, sáng sớm lạnh vì hơi khí của rừng già, chừ lại nóng bức như một buổi trưa mùa hè Sài Gòn. Màn đêm bắt đầu buông xuống. Chúng tôi đã vào thành phố, nghe được tiếng kèn inh ỏi của xe cộ qua lại, tiếng nói cười của khách đi đường. Chúng tôi yên tâm, thở phào nhẹ nhỏm. Xe ngừng, cánh màn cửa được vén lên, chúng tôi từng cặp một xuống xe sắp hai hàng dọc. Đây rồi, bến cảng Sài Gòn, bến Bạch Đằng của tôi, vài con tàu không đi được, còn nằm lại dọc theo bờ sông. Xa xa Hải quân công xưởng chìm trong ánh điện mờ. Nơi đây ngày trước mỗi chuyến tuần dương, tôi đưa con tàu đi có vợ con đưa tiễn, xong công tác tôi đưa con tàu về, vợ con đón đợi, trong nụ cười, trong vòng tay thân yêu . Tối nay, cũng bến cảng tàu nầy, cũng dòng sông nầy, con tàu ngày trước còn đây nhưng màu cờ đã đổi và tôi, tay trong tay với người bạn tù đồng hành. Cảnh vật im lìm lạnh ngắt. Tôi cô đơn trong nỗi buồn vô tận. Từ Biên Hoà về Sài Gòn, một đêm một ngày xe chạy quanh co. Bị dọa nạt, trấn áp tinh thần, chúng tôi ai nấy đều bơ phờ bạc nhược. Bỗng hai bóng người tù trong chúng tôi chạy ù ra sông, nhảy xuống nước với tiếng hú thảm thiết. Hai thân người bị kẹp giữa thân tàu và thành cầu, máu đỏ loang cả một khoảng sông đen ngòm. Hai người bạn tù đả tự tử. Không biết cả hai đồng ý cùng chết hay là một người muốn chết kéo theo một người không muốn chết trong cái còng số 8. Chúng tôi nghẹn ngào trong uất hận. Tôi thẫn thờ nhìn qua ánh đèn mờ hai cái xác trôi trong vũng máu. Vẻ mặt của những tên bộ đội lạnh như tiền.So sánh giữa người và vật, giờ phút nầy con vật còn hơn chúng tôi. Hai anh bạn tù, hai chiến hữu của tôi mà tôi chưa biết tên, không chịu nổi cảnh nhục nhã này đã ra đi trong cái bất khuất của người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA. Lòng tôi chua xót. Tổ Quốc sẽ ghi tên anh, lịch sử sẽ viết tên anh bằng chữ HOA để tô thắm cho giòng máu anh hùng của dân tộc Việt. Tôi tự thẹn với lòng, ngậm ngùi nhìn hai cái xác vẫn bềnh bồng bên cạnh thân tàu, cúi đầu chào vĩnh biệt, ghi hình ảnh đau thương vào tận trái tim chai đá.

    Tout passe!
    Tout casse!
    Tout lasse!
    Sauf le souvenir est vivace.

    Tất cả rồi cũng phôi phai, tất cả rồi cũng tan vỡ, tất cả rồi cũng chán chường, chỉ có kỷ niệm là vĩnh cửu. Với tôi, kỷ niệm luôn luôn là nỗi nhớ trong lòng, dù là kỷ niệm đau thương. Tôi đang tìm lại một khoảng đời rất ngắn trong 7 năm tù dài. Người Ra Biển Bắc là một cuộc hội ngộ giữa tôi và con tàu, cùng biển trời mênh mông của ngày trước đầy mơ ước vào tuổi đang trưởng thành. Biển bây giờ thu hẹp, nhỏ bé trong một khoang tàu, với tấm thân nhục nhã, ê chề, uất hận. Mỉa mai thay,chính con tàu ( hiện nằm lầm lỳ trong một cầu tàu của Hải Quân Công Xưởng, đổi tên là Xưởng Sửa Tàu TP. SG) ngày xưa đưa tôi đi để gìn giữ vùng biển của miền Nam thân yêu sẽ đưa tôi ra biển Bắc để đi vào chốn tù đày của một người lính bại trận. Chúng tôi lần lượt hai người một vẫn trong cái còng số 8 được đưa xuống một chiến hạm của Hải Quân VNCH để lại vào giờ phút chót. Chiến hạm mang tên là Hộ Tống Hạm HÀ HỒI số 13. Tên và số tàu vẫn không thay đổi, chỉ có lá cờ trên đài chỉ huy là đổi thay. Tôi rùng mình khi nhìn lá cờ đỏ sao vàng bay phất phơ trong gió, thấy lòng mình quặn đau.Một sớm một chiều màu cờ của miền Nam đã không còn nữa. Tôi vẫn muốn đi trong mơ và không thể nghĩ đây là sự thật. Chúng tôi đi qua một hành lang để xuống một căn hầm trước mũi tàu. Tôi thoáng nhìn thấy những nhân viên cũ mà chúng gọi là những Hải Quân Ng̣ụy được giữ lại để truyền nghề cho các bộ đội của Hải Quân Nhân Dân. Các hầm tàu chứa đầy gạo. Thì ra anh em miền Bắc giàu có, cái gì cũng hơn miền Nam gấp bội, từ cái TV, tủ lạnh đến cái đài, tốt, đẹp và nhiều vô số thứ khác ... nhưng chỉ có thiếu gạo mà thôi, nên anh em miền Bắc chuyển gạo từ Nam ra Bắc để nuôi nhân dân Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt, cái nôi của nhân loại và đỉnh cao của trí tuệ loài người !!! Cái hầm nhốt chúng tôi trên chiến hạm là một cái hầm để chứa sơn tu bổ tàu của ban Vận chuyển, nằm trước mũi, cạnh một cái phòng nhỏ nuôi 3 con heo. Xã Hội Chủ nghĩa, cái gì cũng quý, từ cọng rau muống đến chén bobo, lúc nào cũng lo cho nhân dân, nhất là giai cấp công nhân, do đó bất cứ ở đâu hay bất cứ chỗ nào cũng có thể làm nơi cải thiện cho đời sống. Tôi nghe nói ở Sài Gòn bây giờ các nhà cao ốc, các cao tầng, cách mạng tiếp thu, vừa ở vừa trồng rau muống, nuôi heo gà. Tôi không tin nhưng bây giờ chính mắt tôi đã thấy. Con tàu đẹp đ̃ẽ ngày xưa, oai nghi ngày trước, sau một năm giải phóng trở nên loang lỗ, không được sơn phết. Tất cả tiện nghi làm đẹp con tàu bị tháo gỡ, bây giờ lại thêm một chuồng heo. Phòng nhốt tù cạnh chuồng heo và người tù cải tạo không thể nào quý bằng con heo! Sau khi đã vào vị trí, mỗi người nhận một khoảng nhỏ trên sân tàu để nghỉ ngơi, tất cả được tháo còng. Tự do ôi tự do ! Hai tay bây giờ được thong thả, không dính liền với người khác. Chỉ một chút tự do thôi nhưng sao thấy thoải mái lạ lùng. Đang được hồi sinh lại thì tôi thấy đói. Vừa đúng lúc đó, mừng làm sao, hai thuỷ thủ nhà bếp khiêng vào để giữa phòng một nồi cháo trắng còn nóng. Mùi thơm dịu của chất gạo thật hấp dẩn. Lâu ngày rồi không được ăn gạo, chỉ toàn bobo thôi, bây giờ mọi người được một tô cháo ăn với vài miếng dưa leo ướp muối. Tôi nghĩ rằng tất cả cao lương mỹ vị trên đời nầy không bằng một góc nhỏ của bữa ăn hôm nay. Bên kia, 3 con heo ủn ỉn rống to đòi ăn. Thế là nồi cháo còn bao nhiêu hai người thuỷ thủ nhân dân đổ cho 3 con heo háu ăn. Tô cháo vội chạy vào bao tử chúng tôi như vào cõi hư không. Mỗi người tiêu chuẩn chỉ một tô. Nhìn 3 con heo ăn sồng sộc tôi thấy cuộc đời bao nhiêu nỗi đắng cay.

    Gió sông thổi vào bốn cửa tròn hai bên thành hầm tàu mát rượi lòng của kẻ lưu đày. Tôi nằm dài thoải mái chờ đợi một chuyến hải hành, không biết đi về đâu, đến bến bờ nào. Tôi chẳng cần nghỉ đến nữa, nhắm mắt mơ màng tìm một giấc ngủ, giữ gìn sức khoẻ để chịu đựng những gian khổ sẽ đến. Mọi người đều lặng im, cùng một tâm trạng, cùng một lo âu. Bỗng nhiên nghe ai hát đâu đây bài hát quen thuộc ngày nào. Anh bạn nằm bên cạnh nói nhỏ với tôi: ”Điếc không sợ súng, chắc có ai điên rồi, nguy hiểm quá, bọn chúng nghe được, hát nhạc vàng đồi truỵ, ghép vào tội phản cách mạng thì chỉ có...” Anh bỏ lửng và lắng nghe:

    Nếu em không là người yêu của lính
    Ai đem cành hoa rừng về tặng em
    Ai băng gió sương cho em đợi chờ
    Và những lúc đêm về, ai kể chuyện đời lính cho em nghe.
    Hỡi ..... hỡi ... người em gái Gia Long ơi!
    Hỡi ... Ngươi. em mến thương tôi...

    Tiếng hát của một anh bạn tù, còn trẻ như tôi. Có lẽ anh khủng hoảng tinh thần nên không còn biết sợ là gì, tiếng trong và ấm lạ lùng. Tiếng hát đủ cho mọi người nghe trong cái hầm bịt bùng. Tôi quên cả khổ đau, chợt thấy lòng mình man mát nhớ về những mộng đẹp của thuở xa xưa. Nỗi lo lắng không còn nữa, tôi buột miệng hát theo nho nhỏ về mối tình đẹp như một bài thơ đã đưa tôi vào kỷ niệm. Rồi tôi thiếp đi trong sự chờ đợi con tàu chuyển mình âm thầm lưu đày tôi ra biển Bắc. Một hồi còi vận chuyển đánh thức tôi dậy. Sau vài giờ mê man vì mệt mỏi, nhìn qua các cửa tròn, phía ngoài trời đã rạng đông. Con tàu vào nhiệm sở vận chuyển, tiếng máy chánh hoà với tiếng sóng dội đập vào thành tàu nghe rì rào tạo thành bản nhạc của trùng dương. Tôi tưởng tượng mình đang đưa con tàu trên dòng sông Sài Gòn và con tàu từ từ đi, oai nghiêm, hùng vỉ lướt qua cầu tàu trước Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Thuỷ thủ đoàn trong bộ quân phục tiểu lễ HQ dàn chào, trắng tinh màu sóng biển. Chúng tôi nghiêm chỉnh chào Quốc kỳ và cờ Tư Lệnh HQ để giã biệt Sài Gòn vào đại dương mênh mông. Ngang qua bến Thủ Thiêm, tàu tiến ra biển dọc theo sông Lòng Tảo, vượt qua Nhà Bè, từ từ ra cửa Tiểu. Biển miên man xanh một màu trải rộng trong tầm mắt, ánh nắng đầu ngày ấm lòng kẻ ra khơi. Tôi đang mơ nhìn ngọn núi Vũng Tàu, chợt tỉnh mộng... cảm thấy buồn tênh. Giấc mơ cho tôi sống lại một khoảng thời gian, một khoảng đời ngang dọc biển Đông. Tôi đâu có thể ngờ có những giờ phút đau thương nầy. Vài con chuột to như bắp tay từ các hầm chứa gạo đuổi nhau kêu chí choé kéo tôi về với thực tại đen tối. Mọi người cũng im lặng, ngơ ngẩn nhìn nhau như thầm hỏi” ngày mai, ngày. mai ...sẽ ra sao?”. Tàu hình như đã ra khỏi cửa Tiểu, con tàu trường mình lắc lư nhẹ nhàng như chiếc vỏng đong đưa. Chỉ có một chút vậy thôi mà phần lớn các bạn tù bắt đầu chảy mồ hôi trán, mặt trắng xanh . Những ngày ăn uống kham khổ, lao động chân tay nặng nhọc, thân hình ốm teo, làm sức chịu đựng không còn nữa. Vài người đã nôn mửa. Nôn mửa là bệnh hay lây, thấy một người nôn mửa trong lúc say sóng, ngửi cái vị chua, cái mùi nồng tanh, cộng thêm với mùi con tàu không thể nào không nôn mửa theo . Từ chiều hôm qua đến giờ chỉ có tô cháo, đâu còn gì trong bụng để oẹ ra nên miệng mọi người nôn ra toàn những nước vàng làm hôi hám cả hầm tàu.. Hầm nhốt chúng tôi, ngày trước, là một kho sơn nằm ngay trước mũi tàu. Khi tàu chạy, mũi tàu là nơi bị lắc nhiều nhất. Tội cho những ai dễ bị say sóng, nằm ở hầm nầy thì xem như là đi vào địa ngục. Con tàu mỗi lúc một xa bờ. Không ai còn sức nghĩ bây giờ tàu chở mình đi đâu. Tất cả nằm im bất động, co ro như những xác không hồn. Mỗi lần biển động, sóng càng lớn tôi càng thấy đói.Tôi khó chịu không phải vì sóng mà vì đói. Ước gì bây giờ có một chút gì ăn cho cái bao tử bớt cồn cào. Những tiếng rên của những bạn tù giống tiếng rên của những người bệnh nặng. Có nhiều người không dậy nỗi để đi làm vệ sinh cá nhân. Hầm tàu có một mùi hôi hỗn hợp, khó chịu làm mình ngất ngư. Thức ăn hôm nay vẫn thùng cháo và cá khô. Tôi khuyên mọi người hãy cố gắng ăn, dù biết ăn vào sẽ bị nôn oẹ ra. Phải ăn để khỏi hại bao tử sau nầy.Trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê như vậy, hơn chín ngày đêm vượt sóng với vận tốc ước chừng hơn 15 hải lý 1 giờ, con tàu có thể qua Phan Thiết để hướng vào Cam Ranh, Nha Trang. Rồi sau mấy mươi ngày lênh đênh, con tàu bắt đầu bớt lắc lư, mọi người cảm thấy dễ chịu, có thể ăn được một chút cháo. Sóng đã nhỏ dần, tôi đoán chừng con tàu ghé một bến nào đó. Bầu trời thu hẹp qua cửa thông hơi, nhỏ quá, tôi không thể định được vị trí. Ước chừng, ước chừng vậy thôi, chúng tôi ở trong vùng biển Đà Nẳng. Tàu cập bến, đám tù hồi sinh. Thức ăn hôm nay được cơm trắng, cũng chỉ một tô thôi. Thịnh soạn hơn, có thêm một miếng thịt heo mỡ nhỏ xíu bằng ngón tay và vài muổng nước béo. Bây giờ đã hết say sóng, thân hình được cân bằng, không đong đưa, ăn uống ngon lành, từ một góc nào đó, giọng hát yếu ớt của anh chàng ca sĩ bất đắc dĩ lại vang lên đem đến nụ cười tuy héo hon hơn nhưng cũng đủ ấm lòng người trong cơn khốn khổ .

    “Ra khơi, biết mặt Trùng Dương, biết trời mênh mông, biết trời viễn vông, biết ta Hãi Hùng. Ra khơi, thấy tình thế giới, thấy mộng ngày mai, thấy niềm tin mới ...". Ra khơi, ra khơi trong cái hầm tối tăm đầy mùi ô uế nầy, nào có thấy gì Trùng Dương bao la đâu. Biết là sóng miên man vỗ, biển miên man xanh nhưng đời vẫn cứ khổ, vẫn chưa qua được một giấc mộng Hải Hùng”. Tình thế giới, mộng ngày mai, niềm tin mới ...Bây giờ tôi chỉ mong sống cho qua một kiếp người. Còn nặng nợ với vợ con, với gia đình, tôi cầu mong một đấng linh thiêng nào đó cho tôi giữ vững được niềm tin để tôi làm tròn bổn phận ,một niềm tin nhỏ nhoi trong cái tình người của NHÂN LOẠI.

    Đang vô cùng khó chịu với mùi hôi chua, sung sướng thay, chúng tôi được một ân huệ trước khi tiếp tục chuyến viễn du. Tất cả mọi người được giặt giũ, tắm rửa trong một căn phòng bịt bùng vừa đủ 10 người đứng. Một vòi nước chảy liên tục, chúng tôi tắm tập thể, giặt giũ áo quần và làm vệ sinh cái hầm giam. Tôi cảm thấy thoải mái dễ chịu một phần nào, tuy hoàn toàn không biết gì bên ngoài, không biết mình đang ở bến cảng nào. Thôi mặc kệ, tôi nghĩ, cứ tận hưởng giờ phút Thiên Đường nầy để lấy lại tinh thần mà tiếp tục sống, tiếp tục trả nợ MÁU cho Nhân Dân Xã Hội Chủ Nghĩa anh hùng.

    Ngày N+ 20, sau ngày rời bến cảng Sài Gòn, chúng tôi được cán bộ cho biết đang nghỉ tại Đà Nẵng, đúng như dự đoán. Có lẽ bây giờ đang cập tại cầu Toà Thị Chính Đà Nang cũ. Chúng tôi chia thành 4 tổ, mỗi tổ 10 người để học tập chính trị. Hầm tàu được chia làm 4 góc cho 4 tổ sinh hoạt. Anh Dân biểu và anh chàng hay hát nhạc vàng ở cùng trong tổ với tôi. Anh hát nhạc vàng tên là Phạm Văn Ch..., sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ra trường năm 1965, làm việc trong ngành tình báo của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Hai chúng tôi cùng tuổi, là hai tên trẻ nhất trong đám tù. Thế là chúng tôi thành đôi bạn thân. Mỗi đêm anh thường hát nho nhỏ cho tôi nghe, giọng anh ấm, trầm ru nhẹ hồn tôi vào những giấc mơ đẹp. Mỗi bài hát đưa tôi vào một khoảng không gian va thời gian của từng kỷ niệm để cứ tưởng mình đang sống vào ngày tháng đó.

    Tôi đang ở Đà Nẵng nhưng không được nhìn thành phố thân thương của tôi, nơi tôi lớn lên trong sự thương yêu đùm bọc của mẹ cha, vui buồn theo từng mùa phượng vỷ nở hoa, tiếng ve sầu rên rỉ, mùa thi cử, mùa chia tay tạm biệt, mùa của những trang lưu bút ngày xanh. Trang lưu bút ngày xanh... con gái cũng như con trai lúc nào củng mở đầu bằng dòng chữ thật đẹp và thật dễ thương trên trang giấy học trò: Hè đã đến, phượng đỏ nỡ đầy sân trường, tiếng ve sầu báo hiệu một mùa chia tay, biết nói gì đây, xin gởi về bạn niềm lưu luyến TUỔI HỌC TRÒ:

    “Hôm nay đây mình vui trông thấy nhau. Bên tiếng ca tiếng đàn vượt trời cao”. Anh Chính hát bài Tạm Biệt của Lam Phương cho tôi sống lại một thời của trường lớp, của bảng đen, của thầy cô, những ngày đi cắm trại ở bãi biển Mỹ Khê với cô Diệm, những đêm văn nghệ cuối năm do trường tổ chức. Nhớ hồi đó, Ngô Nguyên Phúc, bạn cùng lớp Đệ Nhị với tôi, hát bản Đường Lên Núi Rừng làm rung động trái tim cô học trò nhỏ lớp Đệ Tứ. Sau nầy có dịp gặp lại anh chị, tôi cười đùa: “Đường Lên Núi Rừng sao hãi hùng, ôi gió lộng, muôn tiếng động, trong tiếng nhạc làm vấn vương cô Nường “. Anh hát cho chị nghe Đường Lên Núi Rừng rồi từ đó đi trên con đường nầy để vào tình yêu lứa đôi. Nhớ những ngày kỷ niệm Quốc Khánh, suy tôn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xe hoa rước đèn đi khắp thành phố. Năm nào xe hoa của trường Trung Học Công Lập Phan Châu Trinh cũng được chấm ưu hạng. Nhớ thầy Trần Đình Hoàn, anh ruột bạn cùng lớp với tôi, Trần Đình Dinh, hai tay đánh nhịp cho học trò hát mà như múa võ Sơn Đông: “Đường ta đi vui thênh thang hoa lá reo cười, một niềm tin ta dâng lên 26 tháng 10, ngày toàn dân chào đón hiến pháp, hưởng tự do trong nền Cọng Hoà, ngày toàn dân được no ấm Tự Do. Ta là người dân Việt, đây giòng người anh dũng, ta nhớ ngày hôm nay, no ấm là từ đày...”. Tôi bỏ ra ngoài vấn đề chính trị, không phê phán, để hồn đi vào những năm tháng dân miền Nam sống trong thanh bình, hạnh phúc, ấm no. Một trời thương nhớ đầy kỷ niệm trở về trong tôi, như là cái phao cho người sắp chết đuối, đã giúp cho tôi nghị lực tranh đấu với cuộc đời hẩm hiu trong một kiếp lưu đày.

    Thời gian được nghỉ bến, chúng tôi cũng phải học chính trị. Những bài học cũ rích từ trại giam Biên Hoà. Các cán bộ quản giáo nhè nhè nói dốc mỗi buổi sáng: ”Lao động là vinh quang, đế quốc Mỹ là kẻ thù số 1. Chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt là đỉnh cao của trí tuệ loài người “. Nghe riết đến chán ngấy và buồn cười. Lại còn mỗi đêm phải họp tổ để kiểm điểm và làm tự khai. Tờ tự khai không biết làm mấy chục lần. Chúng cố chờ mình khai không đúng với tờ tự khai trước một chút để cho là mình nói dối, rồi tiếp tục điều tra, hỏi cung và phân loại đối xử.

    Ngày N+ 25, con tàu rời bến, xa dần Đà Nẵng thân yêu. Tàu ra cửa biển Sơn Trà nơi Bộ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải đồn trú. Ngày đầu nhập ngũ vào đây, lòng tôi ham mê trời biển bao la, giang hồ khắp mọi nơi, mọi miền, phiêu lưu như con dế mèn thuở nhỏ của Tô Hoài, với biết bao mộng ước sáng ngời của tuổi 20... Con tàu lầm lủi đi... Tàu ra cửa biển Thuận An, tàu lướt qua cửa Việt, tàu vượt vĩ tuyến 17, tàu ra biển Bắc mang theo những thân xác rã rời, những mãnh hồn tan nát. Chiến tranh và hoà bình trong một nước Cọng Sản như Việt Nam nước tôi là triền miên trong đau khổ. Cầu mong đây chỉ là một thời suy mạt của vận mệnh đất nước giống như những thời suy mạt trải dài trong lịch sử Việt Nam. Tổ tiên ta đã bao lần đập tan những chế độ độc tài khát máu để đưa đất nước đến phú cường thịnh vượng. Hồn thiêng sông núi, những bậc tiền nhân anh hùng đã gầy dựng từng tấc đất cho Việt Nam mến yêu sẽ hun đúc cho những thế hệ mai sau xây dựng lại cơ đồ. Lịch sử sẽ không tha tội cho đám con cháu Cộng Sản phản bội Tổ Quốc. Trong tôi vẫn luôn luôn có một niềm tin vào tương lai với một nước Việt Nam Độc Lập, Tự Do và Thịnh Vượng.

    Qua cửa sổ tròn, tôi thấy bầu trời đã tím ngắt, sóng càng lúc càng nhiều, con tàu lắc lư, âm thầm đưa NGƯỜI RA BIỂN BẮC. (Avril 2004 TT Phú Sï).

    Kỳ sau sẽ đăng tiếp: Trong tù cải tạo - Hết hạn tù, Phú Sĩ về Sài gòn và vượt biển

    Kính chào quý độc giả.

    Tô Vũ