Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. - Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.
    Huỳnh Nhật Hải

    -Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.
    Huỳnh Nhật Tấn

    Cách đây chưa lâu, hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Tác phẩm này được báo chí nhà nước xưng tụng là “một hồi ký đậm chất văn chương của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác giả đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

    Giấc mơ (đẹp) này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật (chả may) lại là ác mộng của một người làm thơ khác:

    “tôi sống yên ổn với những việc làm hàng ngày của mình
    không định được ngày mai
    có một đồng để mua cho con nửa cái bánh tráng hay hai
    cái kẹo gừng
    có hai đồng cất dưới chân đèn trên bàn thờ
    lỡ khi hết dầu thắp tới bữa thiếu ruốc hết bột ngọt
    mả cha cuộc đời quá vô hậu
    cơm không có mà ăn
    ngó lui ngó tới không biết thù ai
    những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất”
    lâu ngày tôi thấy quen đi
    như quen thân thể của mình
    tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi
    buổi chiều không có cơm ăn
    những con ruồi ăn nước mũi khô trên má
    những đứa đau quan sát những con chuột
    chết lòi ruột ở bến xe đò
    những tiếng cha mẹ vợ chồng anh em
    con cái chưởi bới la hét trong bữa ăn
    người điên ở trần đứng làm thinh
    giữa trời mưa ngoài chợ
    những ngày hết gạo hết tiền hết củi
    muối sống không còn một hột của tôi
    những trách canh rau khoai tháng năm không có bột ngọt
    hai mắt tôi mở to
    đầu tôi cúi thấp
    miệng tôi há ra
    những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm
    dồn cứng chật cuống họng"

    (Trần Vàng Sao – Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình)

    Toàn bản bài thơ thượng dẫn vừa được đăng lại trên trang Quà Tặng Xứ Mưa, vào hôm 11 tháng 6 năm 2012, với đôi lời giới thiệu (rất buồn) về tác giả:

    “Nhà thơ Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính) ở đường Tuy Lý Vương, phường Vỹ Dạ, Huế là nhà thơ nổi tiếng với bài thơ ‘Bài Thơ Người Yêu Nước Mình’. Giữa lúc phong trào ‘xuống đường’ ở Huế những năm 1965-1968 đang rầm rộ mà dám lấy bút danh ‘Trần Vàng Sao’ là rất ghê gớm. Thế mà, năm 1988, ông có bài thơ ‘Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình’ in ở tạp chí Sông Hương đã gây nên cuộc cãi vã náo loạn ở Huế. Cán bộ chính trị, các ‘nhà văn đỏ’ đua nhau suy diễn chính trị, phán xét. Đài phát thanh, báo đảng địa phương đăng nhiều bài viết chửi rửa nhà thơ, họ ‘phỏng vấn’ cả các bà tiểu thương chợ Đông Ba để tố cáo nhà thơ. Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…”

    Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia ghi chi tiết hơn, chút xíu:

    “Trần Vàng Sao sinh ở Thừa Thiên – Huế, năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại Học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên Huấn Thành Ủy Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những suy nghĩ của ông về về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’ đó và sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó, theo như Hồi Ký ‘Tôi Bị Bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)’ sau này của ông.”

    Tập hồi ký này có thể đọc được ở diễn đàn talawas. Xin trích dẫn lại vài đoạn ngắn:

    Thứ Ba, ngày 31.10.1978
    Mong có một bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và một chút ớt.

    Thứ Hai, 22.07.1979
    Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, một lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu.

    Gạo.

    Bây giờ ai cũng chỉ mong, không phải bữa nào cũng cơm mà sắn cũng được, mì hột cũng được. Miễn là dộng vào cho đầy cái dạ dày. Ước mơ của thiên hạ thì cũng đơn giản thôi: Làm sao bữa nào nồi cũng đầy cơm, đầy tràn ra, đến nỗi hôi khói. Có cơm ăn với chi cũng được, với muối, nước mắm thì tuyệt rồi. Người ta không ao ước gì hơn nữa. Không có mơ ước, không có hy vọng.

    Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của mình về một người thứ ba cho một người thứ hai nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có một không khí chính trị giả dối trong dân chúng. Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: Không chết tươi ngay mà chỉ chết mòn, chết dần …


    Phần đời (“vô hậu”) này của Nguyễn Đính gần giống như hoàn cảnh sống cơ cực của Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù, qua cảm nhận của Phùng Cung:

    Gót nhọc men về thung cũ
    Qùi dưới chân quê
    Trăm sự cúi đầu
    Xin quê rộng lượng
    Chút thổ phần bò xéo cuối thôn


    Phùng Quán cho biết thêm là Nguyễn Hữu Đang phải sống nhờ vào… rắn rít và cóc nhái! Ông cũng đã chọn sẵn chỗ trong “… một búi tre gần cuối xóm, độc giữa cánh đồng…, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ dầy lá tre rụng, rất vừa người … Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phiền ai … Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay” (“Ngày Cuối Năm Tìm Thăm Người Dựng Lễ Ðài Tuyên Ngôn Ðộc Lập.” Nhớ Phùng Quán. Ngô Minh và nhiều tác giả. Việt Nam: Trẻ 2003, tr. 474).

    Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) như thế? Một trong những nguyên do – có thể nhìn thấy được – là vì ông đã không chịu chấp nhận sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước CHXHCNVN:

    “Hoà bình lập lại đã hai năm, dù cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước có phức tạp, gay go thế nào thì cũng không thể coi miền Bắc như ở một hoàn cảnh bất thường để duy trì mãi tình trạng thiếu một nền pháp trị hẳn hoi…”

    “Do pháp trị thiếu sót mà Cải Cách Ruộng Đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…”
    (Nhân Văn số 4, phát hành ngày 5.11.1956).

    Sáu năm sau, vào năm 1961, “người ta đã trắng trợn vu cáo” Nguyễn Hữu Đang là gián điệp. Mười hai năm sau nữa thì đến lượt Nguyễn Đính bị vu cáo là CIA:

    “Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh đã tổ chức họ như thế nào? Công việc của anh hiện nay đã tiến hành đến đâu? Anh phải nói thật, nói hết, không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi sự thành khẩn của anh quyết định đó...”

    “Chúng tôi biết hết những việc anh làm, nhưng chúng tôi muốn tự anh nói ra hết. Vì chỉ có như thế, anh mới hưởng được lượng khoan hồng của Đảng...”

    “CIA giỏi thật, cài anh ta vào sâu đến như thế”.

    Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đính đều đã trải qua nhiều năm tháng não nề, ê chề, và cay đắng. Họ bị chôn sống nhưng nhất định không chịu chết. Hai ông, nói nào ngay, chỉ là hai nạn nhân tiêu biểu – của hai thế hệ kế tiếp nhau – đã dấn thân vào cuộc cách mạng vô sản (và vô hậu) ở Việt Nam.

    Thụy An, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Trần Dần, Trần Duy, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Dương Bích Liên, Hữu Loan, Phùng Cung, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu… đều không còn nữa nhưng tâm cảm trân trọng và qúi mến của mọi người dành cho họ chắc chắn sẽ còn lâu. Thế hệ của Nguyễn Đính (e) khó có nhận tình cảm tương tự. Sự nông nổi, ồn ào và lố bịch của họ khiến cho người ta cảm thấy khó gần!

    Dù vở kịch cách mạng đã hạ màn từ lâu, họ vẫn làm bộ như không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, vẫn cứ xưng xưng coi đó như Một Thời Để Nhớ, vẫn kịch cỡm viết sách tự phác hoaa. Chân Dung của thế hệ mình và mô tả là tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

    Họ cố tình quên rằng chính hiến pháp của hai chế độ đệ I và đệ II Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, tuy non trẻ và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ cho họ được sống như những con người, với những quyền tự do tối thiểu, để có được “những hình ảnh khí phách” và “những tháng ngày sục sôi” – thay vì bị đạp vào mặt chỉ vì đi tuần hành biểu lộ lòng yêu nước.

    Không ít kẻ thuộc thế hệ Nguyễn Đính đã tự choàng vào người những vòng hoa (giả) và họ cứ thế mà đeo mãi cho đến cuốn đời. Tội!
  2. Lúc còn tại thế, có lúc, ông Phạm Văn Đồng đã phải đối diện với một câu hỏi khó:

    “Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín, “Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại,” Cánh Én, Feb.1999:05).

    TT Phạm Văn Đồng, tất nhiên, không “nhìn nhận trách nhiệm” gì ráo trọi. Và đây là thái độ chung của giới hữu trách ở Việt Nam – theo như nhận xét của ông Ngô Nhân Dụng:”Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi.” Ông nhà báo này nói tầm bậy tầm bạ như vậy mà … không trật. Khi được phóng viên báo Nhân Dân, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987, hỏi về cuộc “di dân rộng lớn và bi thảm ấy,” Trung Tướng Nguyễn Đình Ước (Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) đẩy cây như máy:

    “ Đó là chuyện có thật … Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

    Mới đây, ông Dương Trung Quốc mô tả đó là một “vết thương lịch sử” nhưng (sau một lúc quanh co) ông kết luận rằng là nó sắp … lành đến nơi rồi: ”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử.”

    Cái “hoàn cảnh lịch sử” này ra sao là điều mà ông tổng thư ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam không muốn nói đến. Ông Trương Tấn Sang cũng vậy:

    “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn và làm hết sức mình để hỗ trợ đồng bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập vào cộng đồng dân cư trên đất nước cư trú…”

    [Nowy obraz (1)]

    Dưới mắt nhìn của những người cầm quyền ở Việt Nam thì mấy triệu thuyền nhân cứ y như một đám người từ trên trời rớt xuống, tứ tán khắp năm Châu. Đảng và Nhà Nước đã gom cái tập thể này lại và biến họ thành cục bột, muốn nắn bóp nó ra sao – tùy thích.

    Có lúc Nhà Nước mô tả những kẻ ra đi là một lũ người“bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” Không hiểu đám thuyền nhân đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.

    Từ đó, Đảng ta đổi giọng: những kẻ phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được “tôn vinh” như “những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,” hay “là cấu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới…” – theo như (nguyên văn) lời của ông Chủ Tịch Nước vừa phát biểu vào hôm 15 tháng 1 năm 2012, tại Hà Nội.

    Thiệt khoẻ!

    Thế còn chính những thuyền nhân họ nghĩ sao? Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn văn Tuấn thì dường như đây là một đám đông thầm lặng, không nghe ai lên tiếng nói năng gì hết trơn hết trọi: ”Đúng là một cuộc di tản qui mô lớn chưa bao giờ có trong lịch sử Việt Nam. Nhưng không có ai của Nhà nước chính thức ghi nhận sự kiện này. Tôi chưa bao giờ nghe / đọc một người từ miền Bắc nhắc đến sự kiện này.”
    Nói nào ngay thì có nhưng rất ít. Lý do giản dị chỉ vì những nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, vượt ngoài sức chịu đựng bình thường của con người, thường không mấy ai muốn nhắc đến những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã phải trải qua. Đây là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) theo như ghi nhận của DSM – IV – TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 – cẩm nang hiện dụng của khoa Tâm Thần Học).

    Hiện tại, trên bàn viết của chúng tôi chỉ có hai cuốn sách thuộc loại này:

    - Góc Bể Bên Trời của Võ Hoàng có lẽ là tác phẩm đầu tiên, viết về chuyện vượt biên, tạp chí Nhân Văn (California) xuất bản năm 1984. Tác giả vốn là một ngư dân ở Rạch Giá đã ghi lại một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến tận Úc Châu – trên một chiếc thuyền con mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc, và có trăm ngàn thứ gian nguy – của chính ông và bè bạn.

    - Buồn Vui Đời Thuyền Nhân của Lâm Hoàng Mạnh, Tiếng Quê Hương (Virginia) xuất bản năm 2011. Đây là tập hồi ký dầy hơn ba trăm trang của một y sĩ kiêm văn sĩ, ghi lại hết sức sống động và chi tiết cuộc trốn chạy của những người Việt gốc Hoa từ bến Tam Bạc (Hải Phòng) qua Hồng Kông, và điểm đến cuối cùng là Anh Quốc.

    Trang sổ tay hôm nay chúng tôi xin dành để giới thiệu một tác phẩm khác ( Đường Phía Bắc) của nhà văn Lê Đại Lãng, tuần báo Trẻ ( Texas) xuất bản đầu năm 2012, viết về “hành trình của những người hướng Bắc sinh và sống từ cầu Hiền Lương đến nàng Tô Thị.” Tác giả là một thuyền nhân đi từ phía Nam nhưng có một thời gian dài làm việc thiện nguyện trong những trại tị nạn, ở Hồng Kông. Ông cũng là tác giả của tập bút ký Nước Mắt Trong Tim do tạp chí Người Dân (California) xuất bản năm 1990, và tiểu luận Vietnamese-English Bilingualism: Patterns of Code-Switching – Routledge Studies in Asian Linguistics – xuất bản năm 2003, ký tên thật là tiến sĩ Hồ Đắc Túc.

    Trong phần lời tựa của Đường Phía Bắc (*) Lê Đại Lãng tâm sự:

    “Tôi viết lại những mẩu chuyện nho nhỏ mà các bạn đã kể cho tôi nghe như một người nghèo thiếu áo, chắp lại những mẩu áo đủ màu đủ cỡ, lành có rách có, đậm có nhạt có, để ráp thành một cái áo vụng về xấu xí mặc cho qua rét mướt mùa đông. Dù cho công tôi chắp vá mà thành, nhưng chất liệu vẫn là các bạn, nếu có chỗ nào (nói cho le) là hư cấu thì cũng xin coi là cái cúc áo đơm vào để gài kín ngực. Bỏ cái cúc ra, áo vẫn hoàn áo, vải gấm hay vải thô vẫn là của các bạn. Vốn liếng và chất liệu đã làm nên cuốn sách này là từ đời sống của các bạn tôi… và những hạt mưa dầm.”

    “Những mẫu chuyện nho nhỏ” của người đi từ phía Bắc và những kẻ đi từ phía Nam, gần như, chả khác gì nhau. Đều là những chuyện nát lòng, và những mảnh đời tơi tả, của những kẻ bị đẩy đến bước đường cùng không còn lựa chọn nào khác nên phải (đành đoạn) rời bỏ quê hương âm xầm ra biển – như một cách lao đời vào cái chết để tìm sự sống.

    Người ta ước đoán chừng vài trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả (**). Những kẻ thoát chết đến được bến bờ không nhất thiết đã là những người may mắn. Đường Phía Bắc là tác phẩm viết về họ, những kẻ trong các trại cấm ở Hồng Kông sau giờ khắc định mệnh “0 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1988” – giờ khắc mà nhiều trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đột ngột biến thành những trại tù, qua ngòi bút của Lê Đại Lãng:

    “Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.”

    Và đây là vài mẩu đối thoại của những con người sống trong trong vòng rào của những trại cấm này:

    - Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.

    Giọng một bà trả đũa:

    - Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.

    Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu:

    - Ỉa thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!

    Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng:

    - Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!

    Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”.

    Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địch mẹ, biết thề này ông thèm vào”.

    Ở trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”

    Chúng thay bằng tiếng khác:

    - Tao đéo thèm chơi với mày nữa

    - Tao đéo vào

    - Mầy có cái đó không?

    - Đéo có.

    Những mảnh đời méo mó qua những mẫu đối thoại thô tục (thượng dẫn) của những may mắn sống sót đến được bến bờ, cùng với oan hồn của hàng triệu sinh linh dưới đáy biển sâu không thể nói lấp liếm cho qua chuyện (”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử”) theo cái kiểu xuê xoa của ông Dương Trung Quốc. Cũng không thể yêu cầu những quốc gia láng giềng đục bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân là kể như huề – như cách hành xử của ông Trần Đức Lương.

    Hoạ Cộng Sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài chuyện Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như C.C.R. Đ, Nhân Văn, Xét Lại, Thảm Sát Mậu Thân, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Khai Thác Bauxit, Vinashin … – cần phải được ghi nhận, và xét xử minh bạch, trong tương lai gần.

    Vấn đề không phải là để tầm thù hay báo oán. Điều này hoàn toàn không cần thiết, và hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt . Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả để chúng ta an tâm hơn khi hướng đến tương lai.

    Tưởng Năng Tiến



    —————————————-

    (*) Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
    Toà soạn báo Trẻ
    3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

    ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com

    (**) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People
    · Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.

    · Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
    · Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.

    · Estimates for the number of Boat People who died:
    o Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum.

    o The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.

    o The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.

    § Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”

    o The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.

    o Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    o Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))

    · Rummel
    o Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
    § Executions: 100,000
    § Camp Deaths: 95,000
    § Forced Labor: 48,000
    § Democides in Cambodia: 460,000
    § Democides in Laos: 87,000
    § Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)
  3. “Một hệ thống truyền thông do chính quyền kiểm soát có thể tạo ra một làn sóng thông tin sai lệch, nhưng sẽ chỉ làm gia tăng hiệu ứng ngược khi chính quyền đó đã mất tín nhiệm nơi dân chúng.”
    Hoà Thượng Thích Quảng Độ


    [​IMG]
    Nguồn ảnh: chuadieuphap

    Cái gì chứ chùa chiền, thánh thất là những nơi tôi rất ít khi lai vãng. Nghiêm và buồn thấy mẹ. Tam Bảo, Phật – Pháp – Tăng, tôi cũng đều né tuốt. Vậy mà cả đêm qua tôi lo muốn chết luôn, không ngủ được, nên phải lồm cồm bò dậy – viết vội vài hàng – sau khi đọc bài viết của nhà bình luận thời cuộc Nguyễn Ngọc Già (về một vị tu sĩ) trên diễn đàn Dân Luận:

    “Vừa qua, theo loan báo của đài RFA và VOA, bà Loretta Sanchez – dân biểu Mỹ và phóng viên Ỷ Lan (đài RFA) thực hiện cuộc phỏng vấn Dân Biểu Ramon Tremosa I Balcells – Châu Âu, cả hai vị này đều lên tiếng đề nghị và ủng hộ trao giải thưởng uy tín – giải Nobel Hòa Bình cho người Việt Nam – Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ – nhà đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền trong nước không mệt mỏi suốt gần 40 năm qua. Đó là một tin rất đáng mừng cho người Việt Nam. Nhiều người vẫn không quên Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã từng nhận giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 2006 và là một người được đề cử cho giải Nobel Hòa bình nhiều lần, tuy vậy cho đến nay giải thưởng cao quý đó vẫn chưa đến tay Ngài…”

    “Giải thưởng cao quý này nhất định sẽ trở thành một cánh quân quả cảm để người Việt Nam cùng nhau tập hợp lại, phất cao “Lá cờ – Nobel Hòa Bình” mà thế giới trao cho chúng ta như một niềm cổ vũ, như một lời cảm thông và trên hết như một lời hiệu triệu người Việt Nam hãy nắm chặt tay nhau và cùng chuyển thông điệp quan trọng, cấp thiết và dứt khoát đến ĐCSVN rằng: HÃY QUAY VỀ VỚI DÂN TỘC, TỔ QUỐC TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN!”

    “Thật lòng, ngoài Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ – Người rất xứng đáng nhận giải thưởng này, tôi mong Ủy ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.”

    “Giá như tôi có được một lá phiếu trong tay, người tôi đề cử sẽ là TRẦN HUỲNH DUY THỨC. Bởi xét về quá trình cống hiến có lẽ anh còn thua xa Ngài Thích Quảng Độ, nhưng xét về sức bật và sự đóng góp cho tương lai Việt Nam hòa bình (tôi tin một ngày không xa), anh còn thừa năng lượng để cống hiến cho Việt Nam tất cả tâm, trí, lực với tuổi đời còn đủ trẻ, với khối óc thông minh cùng một tấm lòng lương thiện, yêu nước không mảy may ngờ vực cho bất kỳ ai.”

    Tôi tin giải Nobel hòa Bình 2012 sẽ được trao cho người Việt Nam. Tôi tin ngày ấy đang đến. Khởi từ giải thưởng Nobel Hòa Bình trong năm nay – cho TRẦN HUỲNH DUY THỨC HAY ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ – chính là cho VIỆT NAM.”

    “Miến Điện đang đổi thay từng ngày bởi lòng yêu nước, thương dân nồng nàn của bà Aun Sang Suu Kyi cùng sự quay đầu hối cải của nội các Thein Sein. Sao người Việt Nam không có quyền nghĩ đến điều này và… sớm hơn?”


    [​IMG]


    Chuyện tuốt luốt bên Lèo, bên Miên, hay bên Miến “thay đổi từng ngày” ra sao – nói nào ngay – tôi hoàn toàn mù tịt nên không dám lạm bàn. Còn chuyện giải Nobel đối với với nhà sư và nhà nước ở ta thì (ôi thôi) phiền toái lắm, cho cả hai bên, và cũng cho rất nhiều người!

    Mấy năm trước, khi HT Quảng Độ vừa mới nhận giải Thorolf Rafto là báo Nhân Dân đã giẫy nẩy lên như đỉa (phải vôi) rồi: “Đây là một việc hoàn toàn không thích hợp.”

    Ủa, sao lại không thích hợp cà?

    Phản ứng của Đảng và Nhà Nước, rõ ràng, yếu ớt. Phản bác khơi khơi như vậy (nghe) thiệt là … trớt qướt, không chỉ mơ hồ mà còn có vẻ hàm hồ nữa. Do đó, để đối phó với tình thế – sau đó – Ban Tuyên Giáo Trung Ương đã ra một công điện khẩn và mật (nguyên con) như sau:


    [​IMG]


    - Trời, tưởng gì chớ “ngậm máu phun người” là hoạt động thường trực của những cây bút trong Hợp Tác Xã Tư Tưởng, ở Việt Nam. Ông Vụ Trưởng Nguyễn Thế Kỷ còn bầy đặt đóng dấu “khẩn” hay “mật” làm chi, trông cho nó thêm… kỳ! Không tin thử lật lại vài trang báo cũ coi:

    - Thích Quảng Độ kẻ đi ngược lợi ích dân tộc, luôn có thái độ bất mãn, chống đối chính quyền nhân dân, dọa tự thiêu và lợi dụng việc tổ chức “Đại Giới Đàn” để thuyết giảng, vu cáo chính quyền đàn áp Phật Giáo. Đặc biệt nhân vụ Sư Cô Như Hiền tự vẫn vì có hoang thai, Thích Quảng Độ cùng một số đối tượng khác đã tung tin sai sự thật để phản đối chính quyền. Báo An Ninh Thủ Đô, ngày 26 tháng 8 năm 2007.

    - Thích Quảng Độ xuyên tạc thô bạo tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, tạo cớ và tiếp tay của các thế lực hoạt động chống phá Việt Nam từ bên ngoài. Báo Công An Nhân Dân, ngày 27 tháng 8 năm 2007.

    - Thích Quảng Độ móc nối các tổ chức cực đoan lưu vong ở hải ngoại để dùng “oán trả ơn” bằng cách thông tin vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, không cho tự do tôn giáo. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 28 tháng 8 năm 2007.

    - Hành trình 30 năm nay của ông Thích Quảng Độ là một xâu chuỗi những hành vi vu khống, “nằm vạ”, hối lỗi, van xin và sáng nắng chiều mưa, thay đổi chính kiến ngay sau khi được khoan hồng… Lợi dụng những thời điểm thuận tiện để xuất hiện và khoa trương nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân. Báo Tuổi Trẻ, ngày 31 tháng 8 năm 2007.

    - Thích Quảng Độ, con người tráo trở, ngựa quen đường cũ. Báo Người Lao Động, ngày 31 tháng 8 năm 2007.

    - Đất nước thống nhất mấy mươi năm nhưng ông không mong muốn hòa hợp, cứ muốn tách mình ra khỏi dòng chảy chung chỉ vì những cuồng vọng. Báo Pháp Luật, ngày 16 tháng 5 năm 2009.

    - Ông Thích Quảng Độ, người đứng đầu tổ chức không được các tăng ni, phật tử ở Việt Nam công nhận, là “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”, chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà cho rằng việc khai thác bôxít sẽ dẫn đến “nguy cơ huỷ hoại màu xanh Tây Nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người”. Tiếp theo, ông ta “khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây Nguyên Quả là không thể hiểu nổi, một vị tu hành đến chức Hoà thượng mà lại làm những việc phản dân hại nước đến vậy. Công An Nhân Dân, ngày 18 tháng 4 năm 2009.

    Năm nay, dù không phải là thầy bói, tôi cũng đoán được rằng ông vụ/hay bà trưởng Vụ Báo Chí – Xuất Bản đương nhiệm lại sắp sửa ký một công điện (“khẩn” và “mật”) mới, với nội dung y như cũ:

    “Chuẩn bị sẵn bài viết, phóng sự, hình ảnh, tư liệu về vấn đề này để đấu tranh.

    Chú ý phỏng vấn, lấy ý kiến người dân, ý kiến các bậc chân tu phản đối việc trao giải, lên án Thích Quảng Độ và các thế lực đen tối khác.”

    Thế là “các cơ quan báo chí trong nước” lại sắp phải vất vả “chuẩn bị” để … ngậm cứt phun người. Uy danh của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, tất nhiên, không thể bị ô uế bởi những lời lẽ bẩn thỉu thượng dẫn. Tuy thế, cứ nghĩ đến những cây rừng sẽ phải bị hạ (để tạo ra giấy mực cho chiến dịch bôi bác sắp tới) và tiền thuế của dân chúng (dùng để nuôi sống một đám bồi bút côn đồ) thì tôi không thể nào không cảm thấy vô cùng… sót ruột!

    Do vậy, tôi hoàn toàn đồng ý với ông Nguyễn Ngọc Già rằng “mong Ủy Ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.”

    [​IMG]

    Cũng như trường hợp của ông Lưu Hiểu Ba, người nhận giải Nobel Hoà Bình năm 2010, ông Trần Huỳnh Duy Thức đang ở trong tù. Việc trao giải thưởng này cho nhân vật này, do đó, sẽ khiến cho công việc bôi bẩn ông sẽ bớt tốn kém hơn. Nhờ vậy, môi sinh cũng đỡ bị tàn phá hơn, và tiền thuế của người dân cũng sẽ đỡ phải tiêu phí hơn – chút xíu!
  4. Mới đây, Tuổi Trẻ Online có bài viết vô cùng thú vị (“Tình Đồng Hương Của Dũng Việt Nam”) của phóng viên Đình Dân. Nếu rảnh, xin đọc chơi vài đoạn:

    “Ở Philippines ngư dân ta đi biển gặp nạn được Dũng giúp đỡ rất nhiều”, ‘Không chỉ những người Việt đi biển gặp nạn ở Philippines biết tới Dũng, mà thậm chí nhiều thân nhân của họ đang sống ở quê cũng lưu trong điện thoại cầm tay cái tên Dũng Việt Nam’…

    Đó là những thông tin mà tôi nghe được từ nhiều người dân ở đảo Phú Quý. Và tôi đã có cơ hội gặp gỡ ‘Dũng Việt Nam’ nhân chuyến đi Philippines viết về vụ 122 ngư dân bị giam giữ tại đây...”

    “Chiều 23-8, trời Palawan vẫn mưa suốt. Sáng mai là ngày diễn ra phiên tòa xét xử 122 ngư dân nên chiều hôm đó những người từ Việt Nam qua ai cũng bận rộn lo giấy tờ, thủ tục chuẩn bị hầu tòa. Anh Dũng cũng cuống cuồng vừa chạy xe vừa điện thoại liên tục để hẹn các luật sư ở Philippines nhằm thiết kế các buổi gặp gỡ với các luật sư từ Việt Nam qua.

    Vừa gặp luật sư xong, anh Dũng lại cùng anh Thoại – chủ DNTN Long Hải Long – vào nhà tù để mang thuốc tây và một ít tiền bà con ở đảo Phú Quý gửi cho người nhà của họ trong trại giam. Mưa to ướt hết áo, anh Dũng phải mượn áo một thuyền trưởng mặc vào để chạy tiếp. Thay vội chiếc áo vừa mượn, anh lại quay ngoắt chiếc xe ba bánh ra khỏi cổng nhà tù rồi nói vội: ‘Tôi chạy ra tòa xin cái giấy cho anh em xuống tàu lấy gạo và quần áo’.

    “Ngày diễn ra phiên điều trần, từ sáng sớm anh Dũng đã ngồi trong chiếc xe ba bánh chờ dưới đường. Anh bảo chờ đi cùng 115 ngư dân từ nhà tù ra tòa án. Nhìn những ánh mắt âu lo qua song sắt của chiếc xe màu vàng bóp chặt khóa, anh Dũng ngậm ngùi: ‘Đồng hương mình cả. Mà toàn là ngư dân chân chất. Vợ con họ ở nhà mà thấy hình ảnh này chắc không cầm lòng được…’.

    “Nhiều lần ngồi tâm sự, xen trong câu chuyện của những tháng ngày bị bắt trên đất Philippines, các thuyền trưởng luôn kể về anh Dũng với vẻ hàm ơn.

    Ông Trần Hút, người lớn tuổi nhất trong bảy thuyền trưởng, kể: “Những ngày đầu bị bắt lên đây, chúng tôi vừa hoảng hốt vì không biết vì sao mình lại bị bắt, vừa lo lắng vì không người thân thích, không biết đường sá, cũng không biết hải quân Philippines nói gì. Chúng tôi cứ như người câm điếc, may mà có Dũng...”

    “Một số ngư dân ở Quảng Ngãi và Bình Thuận kể rằng từ năm 2004 đến nay, anh Dũng đã giúp đỡ khoảng 30 nhóm ngư dân Việt Nam bị mắc nạn và trôi dạt vào vùng biển của nước bạn. Anh nói anh giúp các nhóm ngư dân những việc như phiên dịch, làm cầu nối giữa những ngư dân bị nạn và chính quyền địa phương, giúp ngư dân từ việc làm giấy tờ cho đến đi chợ, mua card điện thoại…“

    “Anh Dũng nói có một câu chuyện mà anh sẽ chẳng bao giờ quên. Đó là vào đầu tháng 8 vừa rồi. ‘Hôm đó đã 22g đêm. Trời mưa to gió lớn. Tôi đang cho mấy đứa con đi ngủ thì nhận được điện thoại từ Việt Nam. Người đầu dây là anh Sơn – một chủ ghe ở tỉnh Quảng Ngãi: Dũng ơi, làm ơn cứu nạn cứu khổ giùm. 12 ngư dân của tôi đang đánh bắt ở vùng biển nước mình thì bị bão đánh chìm ghe. Họ điện về nói đã trôi dạt mấy ngày nay theo hướng nam về vùng biển Philippines. Họ đang cố đu bám vào thuyền thúng trôi dạt giữa biển. Anh nhờ người ở đó cứu giùm, không để đến sáng mai lạnh quá họ chết hết”.

    “Ngay trong đêm, bằng tất cả mọi mối quen biết, anh Dũng xác định lại chính xác tọa độ nơi 12 ngư dân bị nạn rồi lập tức cầu cứu hải quân Philippines...”


    Ủa, cái ông Dũng này là ai mà sao rảnh rỗi và “bao la” dữ vậy cà?

    Xin hãy nán đọc thêm một đoạn ngắn nữa, về người đàn ông Việt Nam vô cùng nhân ái và tháo vát này:

    “Một lần khi anh Dũng đang mải miết phiên dịch cho các ngư dân ở tòa án đến nỗi quên đi đón vợ, thế là vợ anh tự thuê xe chở cả bao dép bán dở đến tòa án tỉnh để tìm. Lúc này tôi mới biết người đàn ông thông thạo ba thứ tiếng Việt, Anh, Philippines này là một người bán giày dép trên hè phố...”

    Coi: Một người dân Việt lam lũ, vợ dại con thơ, đang lưu lạc nơi đất lạ xứ người mà chăm lo cho những đồng hương của mình từ A tới Z (cung cấp toạ độ nơi ngư dân bị bão đánh chìm thuyền cho Hải Quân Phi Luật Tân, tham gia cố vấn với luật sư bản xứ, làm cầu nối giữa những ngư dân bị nạn và chính quyền địa phương, vào tù thăm nom tiếp tế cho đồng bào đang bị giam dữ, rồi cùng đi với họ ra tòa…) như vậy thì các Tòa Lãnh Sự và Đại Sứ Quán Việt Nam ở hải ngoại mở cửa để làm gì – hả Trời?

    Câu hỏi tuy hơi bao quát nhưng câu trả lời có thể tìm ngay được trong lá “Thư Phản Đối Đại Sứ Quán Việt Nam,” đã được chính tác giả (ông Đỗ Xuân Cang) cầm loa đọc trước cửa Lãnh Sự Quán Việt Nam, tại thủ đô Praha – Tiệp Khắc – hồi cuối năm rồi:

    “Khi tôi sinh ra tôi sinh ra trên đất Việt Nam, khi tôi bắt đầu nói bằng tiếng Việt Nam, tổ quốc đất nước cũng như cha mẹ chúng ta đều không có quyền lựa chọn, đó là định mệnh.

    Sự gắn bó tôi với Việt Nam cũng là định mệnh, không một thế lực nào, không một quyền năng nào thay đổi được điều đó. Chế độ hiện nay đã từ chối cấp hộ chiếu cho tôi. Họ tưởng rằng thay đổi được định mệnh. Không. Xin hãy đừng lầm tưởng cuốn hộ chiếu thay được giá trị con người. Tôi khẳng định dù có cuốn hộ chiếu hay không, tôi vẫn là người Việt Nam.”

    “Hôm nay, một lần nữa tôi có mặt tại đây để phản đối cách hành xử bất minh của nhà cầm quyền thông qua LSQVN trong việc từ chối cấp hộ chiếu cho tôi. Không thể nhân danh quyền lực, nhân danh đại diện pháp lý của người VN ở nước ngoài mà hành xử phi pháp, không ai đủ can đảm đứng ra chịu trách nhiệm về quyết định không cấp hộ chiếu. Vậy họ có xứng đáng đại diện cho người VN hay không?”

    “Tôi phản đối việc sử dụng hộ chiếu như vòng kim cô trói buộc người Việt Nam trong sự sợ hãi tuân phục.Tôi cũng như tất cả mọi người, cũng từng sợ hãi, cũng từng chịu sự bất công.

    Và tôi thấy rằng, không thể chấp nhận mãi hiện trạng này. Khi phải trả 3500 Kc cho cuốn hộ mà giá chính thức của nó chỉ có 750 Kc (50 USD), hay 300 Kc cho giấy “không phạm tội” trong khi giá chính thức là 75Kc (5 USD)…”

    “Tôi chỉ là một cá nhân nhỏ bé trước một guồng máy quan quyền với mật vụ, an ninh. Tôi không có vũ khí và sẽ không trang bị vũ khí, tôi chỉ có tiếng nói và niềm tin cần có công lý cho mọi người. Việc nhân danh quyền lực để ép tôi im lặng, để yêu cầu tôi không viết bài, không tổ chức, không tham gia các cuộc hội thảo nhằm đổi lấy hộ chiếu là việc làm xấu xa, tồi tệ không thể chấp nhận được. Tôi phản đối hành động bất chính này.”

    “Việc mua quyền căn bản của con người bằng hộ chiếu là hành động không thể chấp nhận được của một nhà cầm quyền. Việc từ chối trao cho tôi quyết định không gia hạn hộ chiếu là một thú nhận rằng chính quyền đã hành động gian trá. Tôi phản đối hành động gian trá này.”

    “Tôi phản đối việc giải quyết thủ tục hành chính không bằng văn bản. Đây là một hành động lấp liếm có mục đích, che giấu cách hành xử trái pháp luật, dù là luật Việt Nam hay công pháp quốc tế.

    Tôi phản đối việc đẩy công dân Việt Nam vào tình trạng bất hợp pháp với ý đồ khống chế đàn áp tiếng nói tư do, đẩy cá nhân tôi và gia đình vào tình trạng pháp lý bất minh.”

    “Chúng ta có thể chấp nhận mãi bất công này hay không? Chúng ta có thể tiếp tục trả 4000kc thay cho trả 1330kc mãi không? Tôi không kêu gọi mọi người xuống đường vì tôi. Tôi kêu gọi mọi người hãy vì mình.

    Không thể chấp nhận mãi sự chà đạp, không thể chấp nhận mãi sự móc túi trắng trợn, nhân danh tổ quốc. Không thể chấp nhân mãi sự khinh rẻ từ những người đại diện Việt Nam.

    Hôm nay nhà cầm quyền chà đạp lên tôi vì tôi lên tiếng, họ cũng đã và đang chà đạp lên bao nhiêu con người cũng bởi vì họ lên tiếng.

    Công lý không thuộc về nhà cầm quyền. Việc sử dụng bạo lực với tiếng nói hòa bình là việc làm trái với đạo lý con người.

    Tôi phản đối sự phi nhân bất nghĩa mang danh cầm quyền!”

    Đỗ Xuân Cang Praha
    23.11.2011


    Trong hàng trăm nhận xét nhận được, bên dưới những bài tường thuật liên quan đến ông Đỗ Xuân Cang – đăng tải trên trang Đàn Chim Việt – có hai độc giả viết từ Pháp và Gia Nã Đại:

    - Ông Vĩnh Tiến: ’Không riêng gì bên Đông Âu, tại Pháp tôi cũng thấy tòa Đại sứ Việt cộng ở Paris cũng thâu tiền mặt mỗi lần xin xỏ giấy tờ gì đó, không bao giờ có giấy biên nhận. Trước mỗi quầy có hàng chữ: “Chỉ nhận tiền mặt”

    - Ông Ngọc Đoàn: LSQ hình như ở đâu cũng vậy! Khi xin cấp lại hộ chiếu tại LSQ VN tại Ottawa (Canada) tôi cũng bị đòi 200CAD thay vì 80CAD theo luật quy định. Khi tôi thắc mắc là bạn tôi vừa làm cách đó 1 tuần hết 80 CAD thì nhận được thái độ rất khó chịu của nhân viên LSQ. Đặc biệt là trên trang web của LSQ không ghi cụ thể số tiền là bao nhiêu như lật định! Thật không thể chịu nổi cơ quan công quyền!

    Đây mới là câu chuyện (đầu năm) của Đại Sứ Quán Việt Nam từ Phi đến Tiệp. Nếu rảnh, và nếu muốn biết thêm cung cách của các quan sứ (ta) trong mấy năm qua, ở vài quốc gia khác nữa – như Mã Lai, Nam Dương, Hoa Kỳ, ở Anh Quốc, ở Jordan… – xin mời bạn đọc thêm bài Năm Cánh Hoa Đào, cùng một người viết.

    Tưởng Năng Tiến
  5. Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến


    Nhớ Bác Hồ Trồng Cây Năm Xưa.



    Trong quyển Lịch Sử Tây Nam Bộ 30 Năm Kháng Chiến có đoạn ghi rằng:

    “Mùng 2 Tết Nguyên Đán năm Ất Mùi (1955), trong buổi chúc tết Bác Hồ tại Phủ Chủ Tịch, đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh thay mặt đồng bào Nam bộ dâng tặng Bác cây vú sữa.”

    “Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác Hồ. Nhưng ai là người trực tiếp gửi tặng Bác cây vú sữa, nguồn gốc cây vú sữa là ở đâu?”


    Chèn ơi, sao mà hỏi khó nhau dữ vậy? Hồi đó, miền Nam cả đống người ái mộ Bác Hồ chớ đâu phải chỉ có một hay hai. Làm sao mà biết chính xác “ai là người trực tiếp gửi tặng Bác cây vú sữa” cho được, mấy cha?

    Vậy mà hai phóng viên Hồ Văn Phương và Phương Nguyên, nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm những chuyến tầu tập kết, đã thực hiện được kỳ tích đó. Hai người lặn lội tuốt xuống xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để làm một thiên phóng sự về vụ này.

    Bài viết của họ (“Ai gửi tặng Bác Hồ cây vú sữa miền Nam” , trên Tuổi Trẻ Online) tuy hơi hoang đường nhưng vô cùng hấp dẫn, xin coi chơi một đoạn cho nó đã:

    “Chúng tôi thuê tắc ráng xuôi kinh 10 tới thẳng nhà ông Nguyễn Văn Phận – một nhân chứng của những ngày tập kết lịch sử. Ngày trước ông là tổ trưởng tổ Đảng ấp 10, xã Trí Phải. Trong những ngày tháng tập kết đầy xúc động ấy, ông là người đón, đưa bộ đội về xã, về Vàm Chắc Băng chuẩn bị lên đường ra Bắc.”

    “Ông kể: Khi lễ tiễn đưa sắp kết thúc, mẹ Tư hai tay ôm cây vú sữa nhỏ bước tới đưa cho anh Ba Kiên (khi đó là đại đội trưởng đại đội pháo của tiểu đoàn 307), nhắn gửi tặng Cụ Hồ. Ai nói gì thì nói, riêng tôi và nhiều người nữa ở xã này biết rõ cây vú sữa ấy là do mẹ Tư gửi tặng Bác Hồ. Nó được cô Bảy (con gái mẹ Tư, hiện còn sống ở kinh 9) bứng từ nhà ông Năm Đươn, cha nuôi của mẹ Tư hồi xưa.”

    “Hồi đó, cô Bảy chỉ mới 14 tuổi. Cô kể: ‘Khi các chú với tía mang balô lên Vàm Chắc Băng tập kết, mẹ gọi tôi vào nói: Tụi nó đi mà không có gì gửi cho Cụ Hồ. Mày chạy xuống nhà ngoại bứng về cho má cây vú sữa gửi cho Cụ nhanh lên!”

    “Chẳng ai trả lời được câu hỏi tại sao mẹ Tư lại tặng cây vú sữa mà không là cây khác.”

    “Cô Bảy kể lại: ‘khi đã ở cái tuổi ‘gần đất xa trời,’ mẹ cô nói với con cháu rằng muốn được một lần ra thăm lăng Bác để coi lại cây vú sữa bà tặng Cụ Hồ bây giờ ra sao. Nhưng mong ước chưa thực hiện vì không có điều kiện thì mẹ đã ra đi mãi mãi. Bây giờ mộ mẹ nằm đó, bên cạnh mộ chồng. Còn cô Bảy, khi kể chuyện thỉnh thoảng lại hỏi chúng tôi: ‘Đã ra thăm lăng Bác lần nào chưa? Kể cho cô nghe với. Lăng có đẹp không? Vô đó có nhìn thấy Bác không? Cây vú sữa có sai quả không?’ Cô hỏi mà chúng tôi không kịp trả lời, mà cũng chẳng trả lời nổi. Họ là vậy đó, vẫn một lòng hướng về với Bác, với đồng bào miền Bắc như cái thời đất nước còn chia cách!”

    Ông Nguyễn Hữu Thành – phó ban tuyên giáo tỉnh Cà Mau – cho biết do có quá nhiều ý kiến xung quanh sự kiện “Cây vú sữa miền Nam” nên tỉnh ủy và UBND tỉnh Cà Mau đã tổ chức cho thẩm tra, và kết luận:

    “Cây vú sữa miền Nam gửi tặng Bác Hồ năm 1954 là do gia đình bà Lê Thị Sảnh (thường gọi là mẹ Tư) đại diện nhân dân miền Nam gửi tặng Bác Hồ’. UBND tỉnh cũng đã chấp thuận cho xây dựng bia kỷ niệm ‘Cây vú sữa miền Nam với Bác Hồ’ tại nhà bà Sảnh để kỷ niệm 50 năm những chuyến tàu tập kết.”


    Thiệt đọc rồi mà muốn ứa nước mắt. Câu chuyện dù khó tin nhưng vẫn (cứ) vô cùng cảm động. Trên suốt đoạn đường, đi suốt từ Cà Mau ra Hà Nội, chắc anh Ba Kiên ăn không ngon ngủ không yên vì phải lo chăm sóc cây vú sữa. Không chừng, có lúc, anh (dám) bỏ uống luôn để lấy nước nuôi cây. Chớ không lẽ cây vú sữa mà mẹ Tư đại diện nhân dân miền Nam dâng Bác mà lại tưới bằng nước đái!

    Chỉ có cái quyết định của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Cà Mau, “cho xây bia tưởng niệm cây vú sữa miền Nam với Bác Hồ,” là có vẻ hơi nặng phần trình diễn. Tưởng gì chớ mộ bia, và bằng khen thì “những gia đình có công với cách mạng” – Bắc cũng như Nam – đâu có thiếu. Nhà nào mà sau vườn không ngổn ngang bia mộ liệt sĩ, và trên tường không treo (tá lả) cả đống bằng khen thưởng.

    Thay vì xây bia, theo tui, nên để tiền cho cô Bẩy ra ngoài Bắc chơi một chuyến có phải đã hơn không? Hồi 1954, cô Bẩy 14 tuổi. Bây giờ cổ đã quá bẩy mươi. Nhân sinh thất thập cổ lai hy. Sợ rồi cô Bẩy (cũng như mẹ Tư) sẽ qua đời với ít nhiều ân hận là chưa được dịp đi tham quan lăng Bác, và (sẵn dịp) coi lại cây vú sữa năm xưa luôn cho mãn nhãn.

    Lại thêm một lần 30 tháng Tư vừa trôi qua. Đất nước đã thống nhất hơn ba mươi năm rồi, và đã hơn hai mươi năm kể từ khi Đảng cương quyết (và dũng cảm) có quyết tâm đổi mới để đưa đất nước đi lên – thành một con rồng Châu Á – cho bằng với người ta. Chả lẽ Nhà Nước ta không chi nổi một cái vé tầu Thống Nhất cho cô Bẩy để đền ơn đáp nghĩa sao?
    Thôi bỏ đi Tiến à! Đừng có tưởng vậy. Tưởng vậy là tưởng năng thúi. Đảng ta không tạo cơ hội cho cô Bẩy ra Hà Nội đâu phải vì thiếu tiền mà chỉ vì sợ rằng con mẻ đi luôn, không chịu về thôi – sau khi đã thăm qua lăng Bác.

    - Chớ ở lại ngoài đó làm chi, cha nội?

    - Tham gia biểu tình, đòi lại đất đã bị cướp chớ làm chi!

    - Ý Trời, có vụ đó nữa sao?

    Ông Kha Văn Chầu trong chuyến ra Hà Nội để khiếu kiện đất đai bị cưỡng chiếm. Hình của các phóng viên PTCDVN tại Hà Nội .

    - Chớ sao không, coi cái hình chần dần kìa – giữa vườn hoa Chí Linh, trước tượng Lenin – một người đang đi vòng vòng, tay cầm một tấm bảng nhỏ, ghi dòng chữ như sau: “KHA VĂN CHẦU, CÁN BỘ LÃO THÀNH, MỘT THƯƠNG BỆNH BINH, GIA ĐÌNH LIỆT SĨ CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG, KIỆN NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN BA LẦN CƯỚP ĐẤT.”

    - Ủa, mà ông Kha Văn Chầu này ở đâu ra vậy cà?

    Ổng là người cùng quê, và cũng cùng thế hệ (chống Mỹ cứu nước) với cô Bẩy đó, chớ ai. Hồi đó, ông Kha Văn Chầu gia nhập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, được kết nạp vô Đảng vào đúng ngày sinh nhật của Bác (19 tháng 5 năm 63) tại chiến trường Cà Mau, thuộc quân khu IX. Ổng được Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình trao tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng III nữa nha. Vậy mà bây giờ ổng (nỡ lòng nào) tố giác Đảng và nhà nước (ta) là đồ ăn cướp!

    Mà không phải mình ên ông Kha Văn Chầu kỳ cục (dữ) như vậy đâu nha. Không tin, ghé qua vườn hoa Mai Xuân Thưởng mà coi. Từ nhiều năm nay, biết bao nhiêu người dân miền Nam kéo ra Hà Nội khiếu kiện theo kiểu đó. Trong số này thiếu gì những bà “Mẹ Việt Nam Anh hùng” (như mẹ Tư) và những người thuộc diện “gia đình có công với cách mạng” (như cô Bẩy).

    Trong quyển Lịch Sử Tây Nam Bộ 30 Năm Kháng Chiến, có đoạn ghi rằng:

    “Mùng 2 Tết Nguyên Đán năm Ất Mùi (1955), trong buổi chúc tết bác Hồ tại Phủ Chủ Tịch, đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh thay mặt đồng bào Nam bộ dâng tặng Bác cây vú sữa.”

    “Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ Quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác Hồ.”


    Tình cảm của những đồng bào ở những “vùng tận cùng của tổ quốc,” rõ ràng, đã đổi. Cây vú sữa ở Phủ Chủ Tịch (ngoài Hà Nội) không biết có còn sống hay không chớ tấm lòng của một số người dân miền Nam đối với Bác, Đảng và Nhà nước thì hoàn toàn đã chết – và chết từ lâu rồi.
  6. Mưa Ơi Sao Khổ Thế

    “Mưa ngày nay như lệ khóc phần đất quê hương tù đày…”
    (Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội)


    Khi khổng khi không, sáng nay, tôi hơi bị nhức đầu. Đối với đàn ông, chuyện nhức đầu (nếu không vì những đêm quá chén) xưa nay hiếm. Mà đêm qua, nói có đất trời làm chứng, tôi chỉ uống (sương sương) có mấy chai bia thôi – chớ không nhấp thêm một giọt rượu nào ráo trọi.

    Trong khi loay hoay tìm mấy viên Aspirin, tôi chợt thấy Chuyện Của Một Nguời Di Cư Nhức Đầu Vừa Phải. Cuốn sách này tôi được ký tặng đã lâu nhưng chưa đọc dòng nào, nửa dòng cũng không luôn.

    Lý do: Không phải vì tôi ghét chuyện nhức đầu mà chỉ vì tôi không ưa tác giả. Tôi đã long trọng tự hứa là sẽ không bao giờ đọc thêm một câu chữ nào – bất kể là bằng văn vần, văn xuôi, hay văn dịch – của nhà văn (kiêm nhà thơ và dịch giả) Nguyễn Bá Trạc.

    Nói như vậy (nghe) dễ gây án mạng nên xin được giải thích đôi lời, dù có hơi lôi thôi và dài dòng chút đỉnh. Chuyện bắt đầu từ hồi cuối thế kỷ trước – vào mùa Hè năm 1984 – khi tôi vừa từ Santa Clara, di chuyển đến thành phố kế cận (có tên là San Jose) thuộc tiểu bang California.

    Nơi đây, tôi đã có dịp được quen biết với danh sĩ Nguyễn Bá Trạc. Chúng tôi không “gần” nhau mấy dù cả hai đều đều thất nghiệp, và đều thuộc loại “tứ cố vô thân”.

    Bởi rảnh nên hàng ngày Nguyễn quân vẫn đều đặn ghé qua tệ thất của tôi, dù tôi chưa bao giờ tỏ ý mời – kể cả mời lơi. Thêm một điều đáng phàn nàn khác nữa là đây (chả may) lại đúng vào lúc mà ông đang thai nghén một tác phẩm văn thơ tổng hợp: Ngọn Cỏ Bồng.

    Sáng tác (thường) là một việc làm thầm lặng. Với họ Nguyễn thì khác, hoàn toàn khác. Do đó, trước khi cuốn Ngọn Cỏ Bồng được nhà xuất bản Người Việt đem in, tôi đã phải nghe tác giả đọc đi đọc lại bản thảo (cỡ) một… tỉ lần! Riêng tiểu truyện “Ông Khó Tính” thì tôi phải nghe đến nhập tâm luôn:

    Bạn tôi, ông Khó Tính, lúc còn ở Sài Gòn vốn làm nghề mô phạm. Kể cả trường công lẫn trường tư, sĩ tử theo học kinh nghĩa có đến mấy nghìn. Gặp lúc can qua, học trò thì đông mà chả mấy ai hiển đạt: Cứ học nửa chừng lại bị gọi đi lính, ba phần chết tiệt mất hai. Số còn lại trở về chống gậy, đi xe lăn. Thầy trò nhìn nhau nghẹn ngào chửi thề những câu tục tĩu…

    Khi Cộng Sản từ Bắc tiến vào Nam, xe tăng vừa ì ạch đến sát cửa Dinh Ðộc Lập thì ông Khó Tính quyết định dắt vợ cõng con xuống tàu lánh xa bạo ngược. Cuối cùng trôi dạt đến Mỹ. Ðất lạ quê người, tiếng Anh ăn đong, kinh nghĩa nói không ai hiểu…

    Từ ngày xa nhà, tính tình lại càng khó chịu hơn. Mặt mày hầm hầm, mồm lúc nào cũng lẩm nhẩm nói chuyện một mình. Chiều chiều đứng chống nạnh bắt con tập võ ta. Ðứa đi quyền, đứa dang chân đứng tấn. Người bản xứ cho là lạ, tò mò rủ nhau nhìn trộm qua hàng rào như đi xem xiếc. Ban đêm bắt con học Việt sử. Ðứa nào không thuộc bài thì co giò mà đá, đến nỗi bị cảnh sát còng cả tay.

    Càng cay đắng, càng chửi, càng chê. Chê người gì mà nhiều lông lá, chê nhà chọc trời nhìn thêm mỏi mắt, có ngày động đất nó đổ xuống đầu cho mà khốn. Lại chửi trời nhiều hơn, chửi tục hơn, gọi trời là thằng không kiêng nể gì nữa…

    Bạn khen biển, ông chê lạnh, tắm cóc sướng bằng Long Hải, Vũng Tàu. Bạn khen núi, ông bĩu môi: “Tôi lấy làm ngờ về cái thẩm mỹ của anh. Núi trọc thế này so sao được gót chân Ðại Lãnh?”

    Bạn ngượng, không còn dám mở mồm khen điều gì. Bụng bảo dạ: “Bọn Ðông Dương ta khối đứa bị bịnh tâm thần.” Có ý thương xót mà lui tới thăm viếng nhiều hơn…

    Một hôm nhận được bao trà từ Việt Nam gửi sang, bạn thân ái mời ông Khó Tính đến.
    Nước đun sủi tăm, trà trút vào bình, chủ khách ân cần đối ẩm. Ðược đôi tuần, bạn lên tiếng hỏi:

    “Trà uống được không?”

    Ông Khó Tính:

    “Cũng được. Nhưng thua Ðỗ Hữu”. Bạn cười giòn:

    “Bố ơi! Chính hiệu trà Ðỗ Hữu Bảo Lộc vừa gửi sang.”

    Ông Khó Tính:

    “Thảo nào. Có điều cái nước máy chát quá!”

    Bạn chồm lên:

    “Biết tính bố thích trà Bảo Lộc, phải hứng nước mưa pha trà đây. Không phải nước máy đâu.”

    Ông Khó Tính tuột giày gãi nách ngáp:

    “Nước mưa ở Mỹ, uống vào đắng cả mồm!”

    Tôi đã nghe rất nhiều danh gia tán thưởng sự duyên dáng (quá cỡ) của Nguyễn quân khi viết về Ông Khó Tính. Ai cũng thích thú, buột miệng xuýt xoa khi đọc đến câu nói cuối cùng: “Nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm!”

    Tôi thật chết được chứ chả bỡn đâu, Giời ạ! Ai mà ngờ Nguyễn Bá Trạc (nói riêng) và cả đám những danh sĩ Việt Nam ở hải ngoại (nói chung) lại kém hiểu biết về vấn để môi sinh đến thế.

    Ông Khó Tính không phải là một nhân vật hư cấu. Ông ấy sống (rành rành) ở thành phố San Jose một thời gian rất dài. Người vốn họ Trần, lấy tên thật làm bút hiệu: Trần Lam Giang.

    Trần tiên sinh thích làm thơ, làm văn, làm báo… Đôi lúc, ông cũng làm luôn thợ điện hoặc thợ sơn [dù (hình như) không hào hứng gì cho lắm] nhưng riêng thời gian ở San Jose thì người tuyệt đối không làm gì hết trơn hết trọi. Nói cách khác: Thằng chả (cũng) thất nghiệp luôn!

    Bởi dư thì giờ nên chúng tôi có rất nhiều dịp hội kiến và mạn đàm về thế sự. Nhân sinh quan và vũ trụ quan Trần quân ra sao, phận kẻ hậu sinh, tôi (tuyệt nhiên) không dán lạm bàn nhưng nhận xét của ông là “nước mưa ở Mỹ uống vào đắng cả mồm” – theo thiển ý – vô cùng chính xác.

    Tôi bắt chước cổ nhân, làm bộ ăn nói cầu kỳ cho nó ra vẻ khiêm cung. Chứ “nước mưa ở Mỹ uống ngang phè” là một sự kiện khách quan, chả có dính dáng (con bà) gì đến “tôn ý” hoặc “thiển ý” của bất cứ ai.

    Những hóa chất như sulfur dioxide, nitrogen oxides… từ chất đốt của xăng dầu than củi trong không khí, khi gặp môi trường không khí ẩm thấp sẽ góp phần tạo thành mưa hay tuyết với nồng độ acid cao – có thể làm ô nhiễm nước uống, hư hại nhà cửa, mùa màng và ảnh hưởng đến sinh hoạt của của nhiều sinh vật – là một tiến trình tự nhiên.

    Khói xe, khói nhà máy phun tùm lum ở Mỹ vẫn được coi là nguyên nhân chính tạo ra nồng độ acid cao trong nước mưa. Uống vào đắng cả mồm là phải.

    Trần tiên sinh phán như thế thì có trật chỗ nào đâu mà quý vị che miệng (chúm chím) cười. Ðã thế, còn xa gần ám chỉ rằng tâm thần của ông ấy “hơi” bất ổn.

    Ðã lâu, tôi không có dịp gặp lại ông Khó Tính – dù thỉnh thoảng vẫn nghĩ đến cố nhân với đôi chút quan hoài và (rất nhiều) ái ngại. Chúng tôi đều đã qua hơn nửa đời tha phương cầu thực, tóc đã điểm sương (từ lâu rồi) mà đường về vẫn chưa có lối.

    Hà thời kết ốc vân phong hạ
    Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên


    Mà nghe nói thì bây giờ nước suối, hay nước mưa (nơi cố lý) nếu đem pha trà uống xong dám… tắt thở như không – theo như tường trình của ông Dương Hồng Sơn, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Môi Trường (“Mưa độc có thể tàn phá hệ hô hấp của con người”) đọc được trên VnMedia, vào hôm 23 tháng 12 năm 2008:

    “Ở Việt Nam, lượng mưa axit đã chiếm 30%, có nơi tới 50% số lần mưa… gây tác hại không nhỏ đối với con người, cơ sở hạ tầng, sản xuất… Những báo cáo của mạng lưới quan trắc quốc gia cho thấy, mưa axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên…”

    Ủa, “nước ngoài” là nước nào vậy cà? Lào Quốc, Miên Quốc hay Trung Quốc?

    Người Lào, dù đã vượt quá độ từ tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa từ lâu – nghe đâu – vẫn còn đi xe bò lòng vòng trong thành phố, và (vẫn) cưỡi voi dạo chơi tà tà ở trong rừng.

    Còn người Miên, cách đây chưa lâu, họ vẫn còn có thể (nhân danh chủ nghĩa Cộng Sản) giết hàng triệu mạng bằng cuốc chim hay chầy vồ gì đó mà khỏi cần tới lò ga hay súng đạn gì ráo. Ðời sống của nhân dân ở hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng, ngoại trừ những lúc nướng khoai, đâu mấy khi có ai đụng chạm gì tới máy móc – sao khói dữ vậy được?

    Vậy thì khói thải ở đâu ra? Phải có lửa ở chỗ nào đó mới được chớ, đúng không? Không có lửa sao có khói? Lò dò một chập, tui tìm được xuất xứ của khói lạ (nguyên nhân gây ra “mưa axit từ nước ngoài vào nước ta”) qua một bài viết ngắn, bằng Anh Ngữ: “Transboundary sulfur pollution & Vietnam.”

    Tác giả, một chuyên gia về khí quyển hiện sinh sống tại nước Úc, bày tỏ sự quan ngại rằng ở Ðông Nam Á có những quốc gia chỉ tạo ra những lượng lưu huỳnh rất nhỏ nhưng lại phải chịu nhận sự tích tụ của loại hóa chất này (rất lớn) từ những lân bang. Việt Nam và Nepal là hai “nạn nhân” điển hình, trong vùng, về tệ trạng này.

    Tài liệu mà Tiến Sĩ Nguyễn Đức Hiệp trích dẫn (R. Arndt, G. Carmichael, J. Roorda – Seasonal source-receptor relationships in Asia, Journal of Atmospheric Environment, Vol. 32, No. 8, 1988, pp. 1937-1406) được phổ biến từ năm 1988. Hơn hai mươi năm sau, ông Dương Hồng Sơn – Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Môi Trường thuộc Viện Khoa Học Khí Tượng – mới từ tốn cho công luận biết là “hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đáng giá tổng thể ảnh hưởng của mưa axit,” và chỉ nói xa gần rằng “mưa axit từ nước ngoài vào Việt Nam đang tăng lên…” nhưng nhất định không chịu cho biết đích xác nước nào là thủ phạm.

    Theo như cách nói “đương đại” thì sự gia tăng mức độ và nồng độ mưa axit ở Việt Nam là do… khói lạ, từ nước lạ bay tới – thế thôi. Nếu ai cảm thấy bức xúc và muốn làm rõ vấn đề thì cứ tự nhiên (và tự phát) thiết kế “Trang Sulfuric Việt Nam” – làm y như nhóm chủ trương “Trang nhà Bauxit VN” vậy.

    Ông Dương Hồng Sơn không phải là người duy nhất có thái độ dè dặt, tế nhị, và kín đáo như thế. Thời phải thế, thế thời phải thế!

    Trong buổi hội thảo An Ninh Môi Trường Và Trách Nhiệm Của Ngành Công An – tổ chức lần đầu tại Hà Nội vào ngày 2 tháng 6 năm 2009 – người ta thấy có sự tham dự của Trung Tướng Đặng Văn Hiếu (thứ trưởng Bộ Công An), Thiếu Tướng TS. Nghiêm Xuân Dũng (phó tổng cục trưởng Tổng Cục Kỹ Thuật) và đông đảo các cán bộ quản lý đầu ngành tại Bộ Tài Nguyên Môi Trường, Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Viện Khoa Học Thuỷ Lợi Việt Nam và các đơn vị nghiệp vụ trong lực lượng CAND…

    Qua ngày hôm sau, 3 tháng 6 năm 2009, báo điện tử của ĐCSVN tường thuật rằng: “Các tham luận đều nhất trí quan điểm, an ninh môi trường và an ninh quốc gia có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ. Mất an ninh môi trường có thể trở thành nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia.” Cả lũ đều gật gù hay phát biểu như một đàn vẹt thế thôi. An ninh môi trường mất (mẹ nó) lâu rồi, chứ còn “có thể trở thành nguy cơ” gì nữa, mấy cha?

    Chuyện 60 phần trăm số lượng khí thải sulfur từ Trung Hoa – nước có lượng khí thải vào hàng thứ hai thế giới – vẫn theo “gió lạ” vào Việt Nam, gây ra những trận “mưa độc” với nồng độ axit mỗi lúc một cao cũng được mọi người ("nhất trí") bỏ qua luôn. Họ không biết, không dám, hay không hề bậm tâm về sự kiện này? Chắc cả ba.

    Cho đến thời điểm hiện tại, mưa acid ở Việt Nam (có lẽ) không có ảnh hưởng gì tức thời đến sức khỏe của những ai có khả năng tài chính mua dùng những nước tinh khiết đóng chai.

    Còn những người dân nghèo khổ ở thôn quê, những kẻ đang sống ở “những làng ung thư” thì sao? Câu trả lời có thể tìm thấy trong thư ngỏ của Sơ Trịnh Thị Hồng, đọc được trên web của Hội Bác Ái Phanxicô – Franciscan Charity:

    “Nước trong cuộc sống là một điều không thể thiếu, và nước sạch lại càng cần thiết trong sinh hoạt hằng ngày giúp con người sống vui sống khỏe. Xin… Quý Ân Nhân Hải Ngoại quan tâm giúp đỡ để người nghèo có được những nhu cầu tối thiểu của con người: GIÚP GIẾNG NƯỚC, $140 USD/ 1 giếng.”

    Tôi viết những dòng chữ này khi California đang bước (khẽ) vào Thu. Sáng trời đã bắt đầu se se lạnh, và lất phất mấy hạt mưa bay. Mưa không đủ làm ướt đất, và chắc cũng không làm nhạt được chén nước mắm của những o bán bánh bèo (gánh) ở quê nhà.

    Quê hương tôi ở vùng nhiệt đới, nơi đây mỗi năm chỉ có hai mùa: Mưa và nắng. Vũ độ hàng năm tính hào phóng theo đơn vị mét (mètre), nghĩa là cả trăm “inches”. Cũng chính đây là nơi xuất xứ của câu thành ngữ “hiền như một ngụm nước mưa.” Vậy mà, sau hơn nửa thế kỷ đói ăn, đồng bào tôi – đã đến lúc – phải ngửa tay đi xin luôn… nước uống. Mưa ơi, sao khổ thế!

    Tưởng Năng Tiến
  7. Đầu Năm Trâu Nói Chuyện Cá


    Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng 'đô la'. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.
    Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism).

    Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống - bất kể là bống kèo hay bống đá - hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

    Cá hồi sinh ở sông nhưng sống phần lớn thời gian sống ở biển. Đặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

    Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

    Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.
    Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

    Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời tha phương cầu thực.

    Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng cảm đuợc từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà - tức sông xưa bến cũ - và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.
    Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào …hộp !

    Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu đem con bỏ chợ, để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.

    Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chước. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

    Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã thả ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả - tối thiểu - cũng phải một phần ba đã vong mạng.

    Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

    Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân trôi sông lạc chợ này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

    Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 - đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Đông Nam Á - cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông - khi phần đất này còn thuộc Anh - Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi !

    Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Đại Tây Dương - giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn xin phép được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn đô la, hay nhiều hơn nữa.

    Ngân hàng nhà nước VN dự báo lượng kiều hối từ nước ngoài gửi về nước năm nay có thể lên tới 8 tỷ đôla, tăng 2,5 tỷ so với 2007” - theo như nguồn tin của BBC, nghe được vào ngày 3 tháng 12 năm 2008.

    Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này - thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu - về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nuớc những con nguời cùng quẫn và sôi xục bất mãn, rồi thu về những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.
    Thiệt khoẻ !

    Tưởng Năng Tiến
  8. Quân Tử Tầu Và Quân Tử Ta

    Quân tử có thương thì đóng cọc.
    Xin đừng mân mó, nhựa ra tay.


    Cứ theo quan niệm giản dị của bà Hồ Xuân Hương thì hễ có cọc, và đóng được, là (tính như) quân tử. Mấy chi tiết lẻ tẻ khác như tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đều là chuyện nhỏ, và (e) chỉ là… đồ bỏ! Bằng vào tiêu chuẩn rất tới (và cũng rất nới) này của nữ sĩ, đương nhiên, tôi được coi là lưỡng quốc quân tử: Quân tử ta, và quân tử Tầu.

    Ai cũng nói tôi là dân Tầu lai, hay người Việt gốc Tầu mà. Và không phải xứ sở nào cũng có cái may mắn, cũng như vinh dự, sản xuất ra được quân tử đâu nha. Làm gì có quân tử Uganda, quân tử Nga, quân tử Phú Lãng Xa, quân tử Ma Rốc, quân tử Mễ Tây Cơ, quân tử Ba Lan, quân tử Mỹ, quân tử Úc, quân tử Nam Dương, hay quân tử Ấn Độ? Những nước đồng văn (hoá) với Trung Hoa – như Nhật Bản, Đại Hàn – cũng chả hề sản xuất ra được một chú quân tử Lùn, hay quân tử Củ Sâm (Cao Ly) nào cả. Còn đám láng giềng (lóc nhóc) thì khỏi cần nhắc đến làm chi, cho má nó khi. Có nghe ai nói tới quân tử Lào, quân tử Thái, quân tử Miên, hay quân tử Miến… bao giờ đâu – đúng không? Tóm lại: Quân tử là của hiếm – và là "hàng độc" – chỉ tìm được ở ta, hoặc ở Tầu. Còn đến cỡ như lưỡng quốc quân tử thì (ôi thôi) hiếm hoi và quý hoá không biết đến đâu mà nói. Khối bà, khối cô chỉ (thầm) mong cho chồng – sau một đêm dài – sáng thức dậy bỗng biến ngay thành Tưởng Năng Tiến. Nếu không được vậy thì thành Tưởng Năng Thối cũng … tốt (thôi) miễn là có cái gốc Tầu, để có thể mệnh danh là lưỡng quốc quân tử – y như vị thế (giá trị) của tôi, hiện tại.

    Có điều, tưởng cũng nên nói cho rõ: Tôi tuy có thế nhưng lại sinh bất phùng thời, ra đời vào thời cách mạng. Ở thời buổi nhiễu nhương này, quân tử ở ta, cũng như ở Tầu, bị thiên hạ càu nhàu dữ lắm. Mới đây, hay nói chính xác hơn là vào ngày 24 tháng 8 năm 2009, trên diễn đàn talawas, ông Phạm Toàn có đôi lời phàn nàn (hoặc nói đúng hơn là chì chiết) như sau:

    “… bà Rebiya Kadeer, một phụ nữ Tân Cương, tuy đã được thả ra khỏi nhà tù và lưu vong ra tới nước ngoài rồi, ấy vậy mà vẫn còn bị chư vị quân tử của ‘cố quốc’ đuổi theo dọa nạt. Họ còn dọa nạt cả chính quyền nước chủ nhà đang đón tiếp bà Kadeer…” “Các nhà điện ảnh đã làm một bộ phim tài liệu về bà Kadeer, và họ mời bà qua Úc, đến tận thành phố Melbourn dự liên hoan. Chính quyền của các bậc ‘quân tử’ đã hành xử thế nào? Có năm việc điển hình cho hành vi của các bậc quân tử có thể kể ra ở đây:”

    “một, gọi bà Kadeer là ‘kẻ khủng bố’, và quy cho bà ngồi ở nước ngoài để chỉ đạo cuộc nổi dậy của dân Tân Cương hồi tháng 7-2009 vừa rồi;

    “hai, gây ra một vụ xì-căng-đan có tên gọi là gián điệp thương mại và kinh tế và cho tóm luôn người đại diện của hãng Nhôm Rio Tinto của Úc đang thương thảo buôn bán với Trung Quốc;

    “ba, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer vào Úc tham gia liên hoan phim mà bà là một nhân vật quan trọng của cuộc vui đó;

    “bốn, yêu cầu chính phủ Úc không cho bà Kadeer phát biểu tại Câu Lạc Bộ Báo Chí; và

    “năm, huy động các đồng chí Hoa kiều (yêu nước) đang sống ở Úc tiến hành chống phá các hoạt động của bà Kadeer ngay trên đất nước đang cho họ tá túc.“

    Việc gọi bà Kadeer là kẻ khủng bố là một hành vi rẻ tiền, nhưng các ông quân tử vẫn cứ sử dụng, họ chẳng thấy chuyện đó có gì đáng hổ thẹn cả…”Cách hành xử của quân tử Tầu, rõ ràng, có hơi ("bị") tiểu nhân. Tư cách của đám quân tử ta, xem ra, cũng không khác mấy – theo như lời than phiền của ông Hà Sĩ Phu, trong bài tiểu luận “Chia Tay Ý Thức Hệ”:

    “Nếu những phạm trù NHÂN,THIỆN, ĐỨC còn mang tính lý tưởng, hoặc còn chung chung, trừu tượng, thì phạm trù QUÂN TỬ đưa thiện-ác vào tới con người cụ thể, tới tình huống cụ thể,thái độ ứng xử cụ thể. Mỗi tình huống ấy là một cuộc thử thách quyết liệt : Anh nói anh ‘thiện’, anh ‘đạo đức’ thì anh thể hiện ra đi, quyết định lấy một thái độ ứng xử đi ; hoặc là hành động một cách QUÂN TỬ, hoặc là hành động một cách TIỂU NHÂN!“

    “Những bài học về QUÂN TỬ thiết thực lắm. QUÂN TỬ rất gần với TRƯỢNG PHU và THƯỢNG VÕ. Người ta thua trận,người ta nằm trong tay anh rồi, anh làm gì người ta cũng phải chịu, thì anh sẽ đối xử thế nào? Hoặc là anh học người xưa, đem tất cả sổ sách thù hận đốt đi để coi nhau như anh em, hay anh lục đống hồ sơ cũ ra, bới lông tìm vết để phân biệt đối xử ?”

    Cái gì chứ “lục lọi,” hay “bới lông tìm vết,” hoặc “phân biệt đối xử” thì quân tử ta (bảo đảm, hay đảm bảo) là lúc nào cũng làm tới nơi, tới chốn. Bởi vậy, hàng triệu gia đình (thuộc phe “thua trận”) đã phải liều mạng đâm sầm ra biển – ù té, bỏ của chạy lấy người. Chết đuối, chết trôi, chết chìm, chết sông, chết biển, chết dấm, chết dúi, chết bụi, chết bờ – tất nhiên – vô số. Số còn lại lóp ngóp bò đến được những bến bờ xa lạ, hay những hải đảo xa xôi, thuộc những nước láng giềng. Họ được gọi là thuyền nhân và được đa phần nhân loại mở rộng vòng tay, nồng nhiệt đón chào, tạo cho cơ hội làm lại cuộc đời – rải rác khắp năm châu. Trang sử thuyền nhân tuy đã được lật qua (vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX) nhưng những kẻ đi tị nạn, và đã thoát nạn, vẫn nhớ về chốn cũ – nơi đã cho họ một chỗ nương thân, giữa lúc đang bơ vơ giữa mênh mông trời cao và biển rộng. Tạp chí Thế Kỷ 21 (số phát hành từ California, tháng 7 năm 2005) có bài viết của nhà báo Phạm Phú Minh, về vấn đề này – xin được ghi lại vài đoạn ngắn:

    “… nhiều phái đoàn người Việt Nam tị nạn Cộng Sản từ khắp thế giới đã mở những cuộc ‘hành hương’ về những bến bờ đã đón tiếp mình từ tay biển cả trong các cuộc vượt biên xưa. Và như một cử chỉ cụ thể để tỏ lòng biết ơn các quốc gia đã cứu vớt mình, người Việt tị nạn Cộng Sản đã xin phép chính quyền địa phương đặt những tấm bia kỷ niệm tại nơi ngày xưa đã là trại tạm trú đầu tiên của những người đặt chân lên được đất sống.”

    “Với tấm lòng có trước có sau, người tị nạn chỉ ghi lại những lời tri ân hay lời tưởng niệm, là những thứ người ta nghĩ là có thể tồn tại với thời gian vì ý nghĩa nhân bản phi chính trị nhất thời của nó. Chẳng hạn lời dịch sau đây từ tấm bia viết bằng tiếng Anh, dựng trên đảo Bidong thuộc tỉnh Terengganu thuộc nước Mã Lai Á vào tháng Ba 2005:

    “Tưởng nhớ hàng trăm ngàn người Việt đã thiệt mạng trên đường tìm tự do (1975-1996). Dù họ đã chết vì đói, khát, bị hãm hiếp, bị kiệt sức hoặc vì một nguyên nhân nào khác, chúng ta cầu xin rằng họ bây giờ được hưởng yên bình vĩnh cửu. Sự hy sinh của họ không bao giờ bị quên lãng. Các cộng đồng người Việt hải ngoại, 2005.”

    Và những dòng chữ mặt bia bên kia:

    “Để nhớ ơn những nỗ lực của Phủ Cao Ủy tị nan Liên Hiệp Quốc, Hồng Thập Tự Quốc Tế và Hội Lưỡi Liềm Đỏ Malaysia và các tổ chức cứu trợ quốc tế khác, chính phủ và nhân dân Malaysia cùng các quốc gia đã cung cấp nơi tạm trú đầu tiên cũng như nơi tái định cư. Chúng tôi cũng xin bày tỏ tri ân đến hàng nghìn cá nhân khác từng làm việc hết mình để giúp đỡ người tị nạn Việt Mam. Các Cộng Đồng người Việt Hải Ngoại”

    Cùng thời điểm này, BBC (nghe được vào hôm 17 tháng 6 năm 2005) loan tin:

    “Tấm bia trong trại tị nạn cũ ở Pulau Galang, Indonesia, có ghi những dòng chữ tưởng nhớ những người bỏ mạng trên đường vượt biển và ghi ân những ai giúp đỡ thuyền nhân, đã bị đục bỏ… Chính phủ Malaysia cũng đã ra lệnh dẹp bỏ tượng đài trên đảo Bidong tưởng niệm các thuyền nhân đã bỏ mình trên đường vượt biển trong thập niên 70, 80. Chính phủ Malaysia đã có quyết định này sau khi nhận được than phiền từ chính phủ Việt Nam.”

    Ủa, chớ chính phủ Việt Nam than phiền về chuyện gì vậy cà? Bản tin thượng dẫn không ghi lại chi tiết này. Tuy thế, dù không phải là thầy bói, người ta cũng có thể đoán biết được rằng lời than phiền của họ (hoàn toàn) không dễ nghe, và (chắc chắn) cũng không được “quân tử” gì cho lắm!

    Câu chuyện thời sự hôm nay, nếu ngừng ngang đây, tưởng đã đủ ớn chè đậu, và có thể khiến cho lắm kẻ tiểu nhân (cũng) còn phải cau mày. Sự việc, tiếc thay, đã đi xa hơn như thế. Nhật báo Jakarta Post, số ra ngày 01 tháng 8 năm 2009, vừa có bài viết (“Vietnamese Refugee Camp Still Open’) đề cập đến yêu sách đóng cửa trại tị nạn (Galang) của nhà đương cuộc Hà Nội. Quý vị quân tử ta (rõ ràng) đã đi … xa quá. Sự quá quắt của họ khiến cho thiên hạ phải bất bình, hay phẫn nộ. Bài báo thượng dẫn trích lời bà Nada Faza Soraya – chánh sự vụ Phòng Thương Mại của Nam Dương – nói rằng khu trại rất quan trọng đối với hướng dẫn viên du lịch, và họ không hề có ý muốn khai thác quá khứ đen tối của chính phủ Việt Nam. (“There was no intention of exploiting the gloomy past of Vietnamese gorvernment”).Từ Galang, phóng viên Hồng Nga của BBC có bài tường thuật (nghe được vào ngày 5 tháng 8 năm 2009) về sự việc này. Xin được trích dẫn vài điểm chính:

    “Hai thập niên hiện diện của người Việt tại đây khiến thông tin trại có thể sẽ đóng cửa vĩnh viễn, ngừng đón người tới thăm khiến người dân địa phương ngỡ ngàng.”

    “Lý do chính là từ khi ngừng hoạt động, trại tỵ nạn Galang cũ đã trở thành một địa chỉ du lịch khá phổ biến, mang lại thu nhập cho người bản địa.”

    “Dư luận địa phương bày tỏ bất bình, trong khi có cáo buộc chính phủ Việt Nam đã gây áp lực với Jakarta để làm công việc này.”

    Ông Trần Đông, đại diện tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam cũng đã lên tiếng chỉ trích yêu sách của quân tử ta là “âm thầm xóa bỏ dấu vết tội ác, hủy hoại di tích lịch sử và nhân đạo thế giới.”

    Ký giả Bùi Bảo Trúc thì lớn tiếng thoá mạ:

    ”Càng ngày những việc chúng mày làm, và những việc chúng mày không dám làm, đều cho thấy chúng mày là một bọn chó đẻ không hơn không kém.”

    Ý chèng ơi, sao mà nặng lời (với nhau) dữ vậy? Ở vào cái thế lưỡng quốc quân tử, tôi không tiện bênh ai, cũng không thể bỏ ai. Bởi há miệng (sợ) mắc quai nên tôi chỉ trộm nghĩ rằng: Quân tử ta – xét cho cùng – đỡ (chó) hơn quân tử Tầu, chút xíu. Trong vụ Tân Cương, theo lời ông Nguyễn Quang Duy – đọc được trên talawas, vào ngày 24 tháng 8 năm 2009 – đám con bà Rebiya Kadeer (còn kẹt lại ở Trung Quốc) đã bị buộc phải lên đài truyền hình, của lể bên phải, để nhận tội … thay cho mẹ! Cách hành xử của quân tử ta, xem ra, đỡ tiểu nhân hơn chớ. Ở ta, ai bị bắt thì chính kẻ đó sẽ bị đưa lên TV nhận tội. Không có, hay chưa có, cái vụ con cái (phải) nhận tội thay cho cha hay mẹ – như ở bên Tầu. Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt: nếu phải từ bỏ song tịch, và buộc phải lựa chọn giữa quân tử ta và quân tử Tầu thì tôi sẽ xin về … tắm (ở) ao ta – cho nó chắc ăn. Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn. Nó hơn ở chỗ là khi tức, chửi thề bú xua còn có thằng nghe. Chớ (đ… mẹ) văng tục um xùm mà đám quân tử lạ cứ nghệch mặt ra – không hiểu gì ráo trọi – thì đứa bị tức là mình, chớ đâu phải tụi nó – đúng không? Mà bộ hết đứa chơi rồi sao mà đi chơi với Tầu, mấy cha!

    Tưởng Năng Tiến
  9. IDS Và Cảnh Cá Chậu Chim Lồng

    "Tôi khinh miệt những cái mồm oang oang rao giảng và “khích lệ” sự phản biện, nhưng lại lăm lăm trong tay miếng băng keo và… cái còng số 8".


    Võ Đắc Danh


    Cách đây chưa lâu, có bữa, ông Vũ Cao Quận ghé tai tôi nói nhỏ:

    “Không có tự do dân chủ thì thân phận dân tộc ta chẳng khác lũ chim cảnh được chuyển từ cái lồng sắt đen sì của chế độ thuộc địa sang cái lồng sơn son thiếp vàng lòe loẹt của chủ nghĩa xã hội. Ngạn ngữ có câu ‘cái lồng đẹp không nuôi sống được con chim!’ Chẳng lẽ cả dân tộc đi xuyên suốt một chặng đường máu lửa để chỉ đổi được từ cái lồng này sang một cái lồng khác hay sao?” (“Một Nền Dân Chủ Nhọc Nhằn.” Gửi Lại Trước Khi Về Cõi. Tiếng Quê Hương: Hoa Kỳ 2006, 125).

    Nghe giọng ông anh nghiêm và buồn thấy rõ nên tôi không kiếm chuyện cà khịa, như thường lệ, chỉ trộm nghĩ rằng cách ví von này nghe tuy có vẻ hay nhưng hơi bị … trật. Sự khác biệt giữa “cái lồng sắt đen sì của chế độ thuộc địa sang cái lồng sơn son thiếp vàng lòe loẹt của chủ nghĩa xã hội” không chỉ vụ ở màu sắc mà vấn để quan trọng là chiều kích của nó kìa, theo như nhận xét của rất nhiều người. Ngày 25 tháng 4 năm 2005, khi đọc tham luận đọc trước Đại Hội Nhà Văn Việt Nam (lần thứ VII) nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã khẳng định như sau:

    “Mà thằng Tây gian ác cũng lạ… Nó cóc có Ban Tư Tưởng, cóc có A25, cóc có hàng chục cơ quan, hàng trăm người thò tay, thò chân vào nắn nắn từng con chữ như chế độ độc lập, tự do bây giờ. Trong thời Tây, nô lệ muôn vàn, gian ác muôn vàn, không hiểu các bố nhà văn ta hồi ấy tự do sáng tác ở đâu ra mà sinh ra không biết bao nhiêu là kiệt tác truyền tới hôm nay…”

    Trong một bài tham luận khác, đọc tại thành phố Hải Phòng (vào cùng thời điểm, 25 tháng 11 năm 2005) nhà văn Bùi Ngọc Tấn cũng đã phát biểu những điều tương tự:

    “Nếu nhà nước bảo hộ là thực dân Pháp hồi đó cũng ngặt nghèo như ông Phan Khắc Hải, như sự không kiểm duyệt mà hoá ra siêu kiểm duyệt hôm nay thì làm sao chúng ta và con cháu chúng ta được đọc Số Đỏ, một kiệt tác làm vinh dự cho văn học Việt Nam. Thật may! Thực dân Pháp và triều đình Huế đã không làm như vậy!”

    Gần hơn, trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC, hôm 12 tháng 9 năm 2008, nhà văn Võ Thị Hảo cũng than phiền y như thế:

    “Trước đây Việt Nam đánh đuổi Pháp đi và lên án đủ điều. Nhưng chính hồi đó chính Pháp cho rằng việc thành lập nhà xuất bản hay báo chí tư nhân là đương nhiên… Chỉ riêng sự việc đó thôi cũng có thể cho thấy dân chủ ở Việt Nam tới mức nào.”

    Nếu giới hạn vấn đề vào “chỉ riêng sự việc đó thôi” thì e rằng cả ba nhân vật dẫn thượng đều chưa đủ “tư cách” để có thể xác quyết là quyền tự do ngôn luận trong xã hội (ưu việt) của ta thua xa thời phong kiến, hay chế độ thuộc địa. Họ chỉ nghe hơi nồi chõ rồi nói thế (cho đã miệng) chứ cả đám thì chưa từng làm báo (dưới trào thực dân) một ngày nào hết trơn hết trọi, đúng không? Do đó, để cho vấn đề được khách quan hơn, cần phải tìm thêm vài nhân chứng nữa có thẩm quyền hơn (chút xíu). Ngó quanh ngó quất, tôi vớ ngay được nhà báo Nguyễn Văn Trấn. Ông có thời nổi tiếng là “anh hùng (hay hung thần) Chợ Đệm, ”một trong những chiến sĩ quyết tử của Sài Gòn và Chợ Lớn năm xưa". Tiếng nói của nhân vật này, tất nhiên, có trọng lượng hơn:

    “Điều rất khó hiểu là trong chế độ xã hội thuộc địa cũ trước đây của xứ Nam Kỳ (Cochinchine) người Cộng Sản đã dựa vào luật tự do báo chí mà ra báo… chỉ cần có tờ khai báo (simple declaration) thôi. Còn ngày nay, trong chế độ xã hội chủ nghĩa – chế độ tự do – mà những người kháng chiến cũ lại không có quyền ra báo, làm báo được, mặc dù Hiến pháp đã qui định các quyền tự do của công dân trong đó có quyền tự do báo chí.“ (Nguyễn Văn Trấn. Thư Gửi Mẹ Và Quốc Hội. California: Văn Nghệ 1995, 392).

    Chèng ơi, sao mà nghe dễ ợt vậy cà? Phải thiệt vậy không, cha nội? Sự thiệt được khẳng định bởi một nhân vật khác, còn thế giá hơn nữa, kẻ đã nhất định giữ trọn tình cảm đối với “cách mạng” cho đến… hơi thở cuối cùng – ông Hoàng Xuân Hãn:

    “Khi Phan Anh trao đổi với ông về việc một nhóm trí thức ở Hà Nội dự định lập ra tờ báo Thanh Nghị, Hoàng Xuân Hãn nói: ‘Bây giờ trăm mắt đổ xô vào hành động của thanh niên trí thức ta: Quốc dân, chính quyền thực dân Pháp và cả quan sát nhân Nhật. Tuy trong thực tế mình không có quyền chính trị, nhưng hãy tự coi mình như con dân một nước độc lập. Đối với mọi việc đáng suy nghĩ, thì cứ nêu lên mà bàn với tư tuởng mới, thực tế. Chắc toà kiểm duyệt cũng không cấm viết, mà độc giả cũng sẽ quen dần với những suy nghĩ đứng đắn và trách nhiệm.” [Hoàng Xuân Hãn Với Nội Các Trần Trọng Kim,” Tạp chí Xưa & Nay số 328 tháng 3 năm 2009 (trang 18 -19)].

    Quý vị thành viên của Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute Of Development Studies) ngày nay chắc cũng không dám mong mỏi, hay đòi hỏi gì hơn lớp trí thức Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX – khi đất nước này còn ở trong tình trạng một cổ mà bị (tới) hai ba tròng lận:

    “Tuy trong thực tế mình không có quyền chính trị, nhưng hãy tự coi mình như con dân một nước độc lập. Đối với mọi việc đáng suy nghĩ, thì cứ nêu lên mà bàn với tư tuởng mới, thực tế. Chắc toà kiểm duyệt cũng không cấm viết, mà độc giả cũng sẽ quen dần với những suy nghĩ đứng đắn và trách nhiệm.”

    Nội dung Quyết Định 97, nhằm bịt mồm bịt miệng người dân, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 9 năm 2009, và hệ quả trước mắt là sự tự giải thể (cùng ngày) của IDS khiến tôi lại (trộm) nghĩ thêm rằng: Nếu cả dân tộc đi xuyên suốt một chặng đường máu lửa để … đổi được từ cái lồng này sang một cái lồng khác (cũng) cùng một cỡ thì đỡ mệt biết chừng nào!

    Tưởng Năng Tiến
  10. Viễn xứ và viễn ý

    Tưởng Năng Tiến


    Lấy cớ rằm tháng Tám – Tết Trung Thu – tôi hú cả đống bạn bè tới uống sương sương (vài chai) cho nó vui nhà, vui cửa. Sau khi cạn mấy ly đầy, rồi đầy vài ly cạn, và lại cạn mấy ly đầy, rồi đầy vài ly cạn nữa… thì cả đám (dù đã bước vào tuổi năm mươi) đều ngỡ như còn thơ.
    Chúng tôi cùng ca vang Thằng Cuội, bản nhạc mà có lẽ mọi đứa bé sinh trưởng ở miền Nam – vào thập niên 50, hay 60 – đều thuộc. Bài đồng dao này tuy được Lê Thương viết vào năm 1953, khi nền tân nhạc Việt Nam còn ở giai đoạn phôi thai, nhưng lời lẽ tân kỳ dễ sợ:

    "Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
    Có thằng Cuội già ôm một mối mơ…
    Lặng nghe trăng gió hỏi nhau
    Chị kia quê quán ở đâu
    Gió không có nhà
    Gió bay muôn phương
    Biền biệt chẳng ngừng
    Trên trời nước ta…
    Các em thích cười muốn lên cung trăng
    Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang…
    Các con dế mèn suốt trong đêm khuya
    Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ…


    Hát bộ, hát chèo, hát cô đầu, hát cải lương, hát hồ Quảng… để kiếm sống ra sao thì tôi không rõ. Chớ còn hát xẩm thì dù có được (cho) tiền, vẫn nghèo xơ xác.

    Thuở bé, đôi lúc, tôi cũng nhìn thấy những người hát xẩm. Họ thường ngồi ở cầu thang chợ Đà Lạt – vào lúc chợ đông – cùng với cái đàn bầu, và những bài ca buồn bã.

    Đó là hình ảnh hát xẩm quen thuộc, trong trí nhớ thơ ấu của tôi, ở miền Nam. Ngoài miền Bắc, sinh hoạt của một số những người hát xẩm – xem ra – hơi khác:

    "Và đây là một công tác độc đáo: Ấy là khi hoà bình mới lập lại 1954, ông được giao phụ trách một đoàn xẩm, gồm 23 anh chị em, phần lớn là mắt kém, đi về hướng Bùi Chu – Phát Diệm, lấy lời ca tiếng hát dân gian để động viên đồng bào đừng nghe theo những lời dụ dỗ di cư của kẻ địch mà hãy ở lại với quê hương. Không biết ai đã có sáng kiến đặt Thanh Tịnh vào việc ấy? Song quả thực, đấy là một trong những lần, tài năng của Thanh Tịnh được sử dụng một cách đắc địa" (Vương Trí Nhàn. Cây Bút Đời Người. Nxb Trẻ: Sài Gòn 2002, 174).

    Tác giả đoạn văn thượng dẫn (tiếc thay) không viết thêm một chữ nào về chuyện "quả thực" này, để xem "tài năng" của Thanh Tịnh đã được "sử dụng một cách đắc địa" ra sao – trong việc "động viên đồng bào đừng nghe theo những lời dụ dỗ của kẻ địch di cư" vào Nam.

    Vẫn cứ theo như lời của Vương Trí Nhàn thì sau "sáng kiến" này, "tài năng" của Thanh Tịnh (dường như) không còn được "sử dụng một cách đắc địa" vào bất cứ "công tác độc đáo" nào khác nữa:

    "Ở vào cái tuổi chưa đầy sáu mươi mà Thanh Tịnh những năm đó trông đã già lắm, già hơn tuổi rất nhiều… muốn biết Thanh Tịnh đơn độc thế nào phải nhìn những lúc ông đi bộ. Trên đường Phan Đình Phùng, duới những hàng sấu, cũng già cả mệt mỏi, ông bước đi như không thể dừng lại nên phải bước, khuôn mặt đăm chiêu, dáng điệu đờ đẫn" (sđd, 181).

    Một nhà văn tăm tiếng, một sĩ quan cao cấp của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam mà "đăm chiêu" và "đờ đẫn" (thiếu điều muốm xụm bà chè luôn) như vậy thì những người ở lại đã sống (dở, và chết dở) ra sao – bên kia vĩ tuyến – là điều mà ai cũng có thể hình dung được, kể cả những người đui.

    Còn những kẻ bỏ đi thì hậu vận cũng không sáng sủa gì cho lắm. Họ bị bắt lại, gần trọn đám, sau khi miền Nam thất thủ. Từ đây, "Nam/Bắc hoà lời ca." Nhiều người ca (rất) dở nên đã phải liều mình đâm sầm ra biển, hoặc ù té bỏ chạy thục mạng qua những bãi mìn – nơi biên giới xứ người. Chết chóc (ôi thôi) hết đếm luôn!

    Đó là những thành phần "bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… " – theo như nguyên văn lời giải thích của chính quyền cách mạng, với thế giới bên ngoài, và với lũ cột đèn còn (kẹt) lại.

    Không hiểu những người ra đi đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.

    Từ đó, Đảng ta đổi giọng: Những kẻ phản bội tổ quốc không những đều được "khoan hồng" mà còn được "tôn vinh" như "những sứ giả Lạc Hồng", và (bỗng) trở thành "một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc". Nghị quyết số 36-NQ/TƯ, về "Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài", đã ra đời (hơi muộn) vào ngày 26 tháng 3 năm 2004 – cũng dựa trên cơ sở đó.

    Đây là công tác vô cùng quan trọng, của Bộ Ngoại Giao, do một vị thứ trưởng đứng đầu. Ngoài những ban ngành phụ thuộc, mỗi thành phố lớn đều có thêm một vị chủ nhiệm (hay phó chủ nhiệm) Ủy Ban Người Việt Ở Nước Ngoài – chuyên trách về khu vực của mình. Nếu bỏ những chức danh này qua một bên – cho nó bớt rườm rà – và nói trắng phớ ra thì đây (cũng) chỉ là… một đoàn hát xẩm thôi!
    Vấn đề chỉ khác ở chỗ là bây giờ (ta) không động viên đồng bào ở lại nữa (vì chúng đã lỡ đi hết trơn rồi) mà chỉ kêu gọi họ "làm ơn" đừng có quay lưng đi luôn, tội lắm. Con cá nó sống nhờ nước, và nhà nước ta thì sống nhờ… kiều hối mà!

    Một trong những công tác "độc đáo" mà đoàn hát xẩm tân thời được giao phó là chương trình "Vinh Danh Nước Việt". Wikipedia ghi nhận được ba đợt vinh danh, trong ba năm liên tiếp (*):

    Năm 2004, có 19 Việt kiều được mời tham dự "Ðêm Vinh Danh Của Những Người Con Nước Việt Xa Xứ " – tổ chức vào ngày 18 tháng 2 năm 2005 – ở Hà Nội. Con số khiêm tốn này được ông Nguyễn Anh Tuấn (tổng biên tập báo điện tử VietNamNet) giải thích một cách khéo léo là "vạn sự khởi đầu nan." Còn ông Lê Truyền, phó chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, thì nói một cách rõ ràng hơn:

    "Đó chỉ là một con số ngẫu nhiên vì khả năng phát hiện, thông tin của chúng ta mới chỉ được đến thế. Có thể nói rằng công lao đóng góp của bà con Việt kiều ta trên khắp thế giới đối với quê hương đất nước là rất phong phú đa dạng, dưới nhiều hình thức. Việc vinh danh họ sẽ vẫn còn tiếp tục được thực hiện trong các lần khác. Tất nhiên, có cả những người chưa muốn xuất hiện trong đợt vinh danh này."

    Qua đợt sau, Đêm Vinh Danh Nước Việt 2005 – cũng tổ chức tại Hà Nội, vào ngày 5 tháng 2 năm 2006 – con số "những người chưa muốn xuất hiện" lại tăng thêm chút đỉnh, làm giảm số người "muốn xuất hiện" xuống chỉ còn 15 mạng.
    Đến đợt kế tiếp thì chỉ có 11 trong số 17 kiều bào được trao giải "muốn xuất hiện" trong Đêm Vinh Danh Nước Việt 2006 – theo như tường thuật của Tiền Phong Online, đọc được vào ngày 5 tháng 3 năm 2007.

    Tình trạng, rõ ràng, không khá. Bởi vậy thủ tướng chính phủ mới ban hành chỉ thị 19/2008/CT-TTg ngày 06/06/2008 để chấn chỉnh "những hạn chế, yếu kém trong việc nắm tình hình người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là ở từng địa bàn và các đối tượng cụ thể…"
    Phen này, Đảng hạ quyết tâm: Từ ngày 19 đến ngày 24 tháng 11 năm 2009, Hà Nội sẽ tổ chức Hội nghị người Việt ở nước ngoài. Khi được phóng viên của VnExpress.net hỏi về "nội dung của hội nghị này," ông Trần Trọng Toàn – Phó chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài – đã trả lời như sau: "Hội nghị này được coi như dịp quy tụ trí tuệ của Việt kiều, hiến kế cho đất nước."

    Tui chưa tới Hà Nội lần nào. Cũng chưa bao giờ có ý định phiêu lưu đến một nơi (rất) lôi thôi, và bất an như thế. Đường thì xa, vé tầu thì mắc, thủ tục thì lung tung rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì… chết mẹ! Bởi vậy, xin phép Hội nghị để được đứng vào thành phần "viễn ý’ (góp ý từ xa) cho nó chắc ăn:

    - Nghị Quyết 36, trong phần những "nhiệm vụ chủ yếu," có đoạn như sau: "Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại… Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài."

    Nói như thế người Việt gọi là "nói trạng," hay "nói khoác". Và cái giọng điệu ba hoa, khoác lác tương tự không thiếu trong bản Nghị quyết này. Theo thiển ý: Đã đến nước phải ngồi ngửa nón giữa chợ (đời) thì cũng nên bỏ cái thói huyênh hoang, và cái tính khoác lác đó đi. Kỳ lắm.

    - Nghị Quyết 36 gồm 3.824 chữ nhưng không có một chữ nào – nửa chữ cũng không luôn – đề cập đến nguyên do khiến mấy triệu nguời Việt phải lưu lạc và tứ tán khắp năm châu. Nói cách khác, đây là một "bản nghị quyết không đầu." Thiếu đầu thì làm gì có hậu. Sao mà đoảng dữ vậy, mấy cha?

    Cứ làm như thể là khi khổng khi không (cái) từ trên trời, có mấy triệu đứa Việt Nam rơi rớt xuống khắp cả địa cầu vậy. Đảng chỉ tiện tay gom cả đống lại cho nó gọn, rồi tiện miệng phán luôn: "Tụi tao đang kẹt lắm. Tụi bay sẵn có tiền, có của thì đóng góp cái này cái kia chút chơi nha." Chơi như vậy có mà chơi với chó.

    Nói gần, nói xa chẳng qua nói thiệt: Chỉ có những thằng những con mất trí nhớ, hay tụi chó má, mới chơi (được) với tụi mày thôi.

    Tưởng Năng Tiến
  11. Tự phê tự sỉ tự xử và tự tử



    Tưởng Năng Tiến

    Về mặt tư tưởng mà nói, chủ nghĩa Mác -Lê đang rút chạy ra khỏi đời sống xã hội, Ðảng Cộng Sản vẫn còn đó, nhưng cái hồn Mác - Lê cứ từng bước rút chạy khỏi những đảng viên của mình. Có hương khói, chiêng trống thanh la gọi hồn cũng không ích gì.

    Hà Sĩ Phu

    * * *

    Tôi tình cờ nghe được mẩu đối thoại - giữa hai người dân bản xứ, ở California - như sau:

    - Biết tại sao mà đường phố sáng cuối tuần lại vắng ngắt vậy không ?

    - Không.

    - Tại Mỹ đen còn ngủ. Mỹ trắng ở trong nhà thờ. Tụi Á Châu đi làm "overtime" từ hồi sớm...

    - Còn Mễ Tây Cơ?

    - Tụi Mễ thì bận ...sửa xe !

    Tôi "tâm đắc" hết sức với câu nói cuối cùng. Tôi sống trong một khu phố nghèo ở miền Bắc California. Hàng xóm đều là dân thiểu số mà phần đông là người Mễ, những di dân hồn nhiên vô tư và thường là những người tốt bụng. Tôi rất quý mến họ. Tình cảm quý mến đó sẽ gia tăng gấp sáu nếu như người Mễ Tây Cơ thích sửa đồng hồ, hay một vật dụng gì đó nhỏ bé tương tự, thay vì là sửa ô tô.

    Tự sửa xe, tất nhiên, cũng là một việc làm hay một thú vui tiêu khiển vô cùng hữu ích và có nhiều giá trị thực tiễn. Ðiều đáng tiếc là công việc này không thể làm một cách âm thầm, nhẹ nhàng, trong phòng hay nhà riêng, và rất làm phiền... hàng xóm - nếu như chúng ta cứ sửa xe hoài.

    Nhiều người cho rằng "hát hay không bằng hay hát." Chuyện ca hát, tôi ít bị làm phiền, nên không quan tâm. Tôi chỉ cực lực phản đối cái quan niệm "sửa xe hay không bằng hay sửa" của những người di dân Mễ. Họ sửa xe đều đều, và cách mà họ sửa xe mới là điều rất đáng phàn nàn.

    Nếu có hai cái bánh xe trước bị mòn, và hai cái bánh sau đỡ mòn hơn một chút, người Mễ sẽ đội xe lên, lấy hai cái bánh sau thế cho hai bánh trước. Một thời gian rất ngắn sau ( sau khi cả bốn bánh xe đều mòn nhẵn), họ sẽ ra chợ trời hay một nơi bán vỏ xe cũ, mua những bánh xe còn tạm dùng được về thay. Cũng thế, nếu bình điện (hay bất cứ cơ phận nào trong xe) bị hư, người Mễ sẽ đi ra nghĩa địa xe hơi tìm tháo một cơ phận tương tự để thay vào đó.

    Nói tóm lại là họ chỉ sửa qua loa, sửa đỡ, sửa cho có, sửa lấy lệ, sửa cầm chừng, sửa sơ sơ, sửa tạm, sửa chút chút, sửa đại khái, sửa tượng trưng...để hôm sau - hay tuần sau - lại lôi xe ra tiếp tục lai rai sửa nữa, cho vui. Tôi rất tiếc là mình đã không chia sẻ được với niềm vui "đơn sơ và ồn ào" của những người hàng xóm Mễ, và vô cùng buồn vì họ làm tôi liên tưởng đến lối sửa sai của những người Cộng Sản Việt Nam - những ông bà này cũng chuyên môn sửa sai một cách rất ồn ào và chỉ sửa cho có, sửa lấy lệ, sửa cầm chừng, và sửa ...hoài hoài (mà không hề bao giờ thấy ngựợng)!

    Báo Nhân Dân - số 156, phát hành ngày 19 tháng 5 năm 99, tại Hà Nội - đăng ở trang nhất bài "Phát Biểu Của Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu" về chiến dịch sửa sai, có đoạn nguyên văn như sau: "Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã đi tới một quyết định đặc biệt quan trọng: Phải tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, tự phê bình và phê bình nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 70 năm thành lập Ðảng. Cuộc vận động tiến hành trong hai năm, từ 19-5-1999 đến 19-5-2001, sau đó trở thành nếp thường xuyên."

    Chỉnh đốn, chỉnh huấn, khắc phục, kiểm điểm, kiểm thảo, phê bình, tự phê, sửa sai...là những chuyện gắn liền với đảng viên cộng sản Việt Nam y như việc sửa xe gắn liền với đời sống của những người di dân Nam Mỹ ở Hoa Kỳø vậy. Chuyện này trở thành "thường xuyên" vì họ thường sai, và vì không bao giờ có ý muốn sửa chữa bất cứ chuyện gì một cách đàng hoàng tử tế.

    Ðó là cách nói ví von , và ví von một cách vụng về, của cá nhân tôi - một di dân Việt Nam xa xứ từ lâu nên khả năng xử dụng Việt Ngữ rất là hạn chế, và (e) không lấy gì làm chính xác. Ông Nguyễn Xuân Tụ, một người cầm viết có bút hiệu là Hà Sĩ Phu, hiện đang sống ở Việt Nam, có cách nói chính xác và gọn gàng hơn về những "hiện tượng tiêu cực" vừa nêu. Ông ta gọi đó là lối "tu sửa vặt" hay "bổ sung vặt". Khi bàn về chuyện "thường xuyên sửa sai" của người CSVN, ông Hà Sĩ Phu đưa ra một hình ảnh so sánh khác - rất cụ thể và khoa học - như sau:

    "Thế giới sinh vật đã cho ta những ví dụ rất rõ về vấn đề này. Con đường tiến hóa là: Sinh vật đơn bào phải đa bào hóa, trên cơ sở đa bào mới phân hóa thành những cơ quan khác nhau, giữa các cơ quan ngày càng có sự 'phân công' rành rọt nhưng ngày càng phối hợp với nhau chặt chẽ bởi sự chỉ huy càng ngày càng tập trung của hệ thần kinh. Cứ thế mà tiến hóa từ thấp lên cao, và cuối cùng xuất hiện loài người chúng ta."

    "Nhưng có những sinh vật đơn bào không đi vào con đường đa bào hóa mà thích nghi bằng cách 'tu sửa vặt' , 'bổ sung vặt', khiến cho bên trong cái tế bào duy nhất của nó cũng có đủ thứ như một cơ thể đa bào: có một chút tượng trưng cho 'tim', một chút tượng trưng cho 'dạ dầy', một chút 'thận', một chút 'giác quan', một chút 'thần kinh', một chút 'chân tay'... Chúng kéo dài cái cấu trúc 'cổ lỗ' ấy suốt mấy triệu năm, và vĩnh viễn không thể 'gia nhập' vào con đường tiến hóa chung được nữa. Nếu chỉ lấy sự 'sống chết' để đo mức độ tiến hóa thì những sinh vật đơn bào ấy hẳn là 'cao' hơn con người người nhiều, vứt ra bất cứ cống rãnh nào chúng cũng sinh sôi".

    "Ðiều kiện để có sự tiến hóa là phải có nguy cơ bị tiêu diệt: Nếu không tiến hóa nó sẽ bị diệt vong trong cuộc đấu tranh sinh tồn! Sự 'tu sửa vặt' chính là 'giải pháp' giúp cho sinh vật 'lách' qua được sự đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt, vượt qua nguy cơ bị tiêu diệt mà không cần đến con đường chính thống, nhưng chính sự 'thành công' này đã tách nó ra xa con đường chung và không tiến hóa cao được nữa". ("Ðôi Ðiều Suy Nghĩ Của Một Công Dân". Tuyển Tập Hà Sĩ Phu. Phong Trào Nhân Quyền Cho Việt Nam Năm 2000 và Tạp Chí Thế Kỷ 21 xuất bản tháng 1 năm 96, trang 99 và 100).

    Báo Nhân Dân - cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CSVN, số đã dẫn - cũng có bài xã luận, không ghi tên người viết, về phong trào phê và tự phê. Bài báo này kết luận: "Ðó cũng là vấn đề sống còn của Ðảng Cộng sản Việt Nam, chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam."

    Phê và tự phê hay "tu sửa vặt" và "bổ sung vặt" chính là "giải pháp" sẽ giúp cho đảng Cộng Sản Việt Nam "lách" khỏi hiểm nguy trong giai đoạn "sống còn" này, theo như kinh nghiệm và nhận xét của Hà Sĩ Phu. Tôi tin là đảng CSVN sẽ thành công, như nó đã từng thành công nhiều lần trước đó, với cùng phương cách. Tuy nhiên, tưởng cũng cần nên nói cho hết lẽ là sự thành công của đảng luôn luôn là tai họa của dân. Khi những sinh vật đơn bào, những ký sinh trùng, hay nói rõ ra là sán lãi...thành công trong việc thích nghi để sống mãi trong lòng quần chúng thì hậu quả tất nhiên là nạn nhân của nó sẽ phải chết dở vì luôn ở tình trạng suy kiệt về dinh dưỡng.

    Theo chương trình Khoa Học Thường Thức mà tôi học vào năm lớp tư ở trường tiểu học Ðoàn Thị Ðiểm, Ðà Lạt - cách đây đã gần bốn chục năm - thì khi có giun sán người ta phải...sổ! Tôi viết xong mà cũng thấy hơi ngường ngượng vì thứ ngôn ngữ không mấy tao nhã của mình. Vẫn ông Hà Sĩ Phu, người có cách nói văn hoa và bóng bẩy hơn nhiều, gọi đó là chuyện "chia tay ý thức hệ".

    Khoảng thập niên sáu mươi và bẩy mươi, ở miền Nam Việt Nam, khi bị sán lãi người ta hay dùng thuốc sổ hiệu Nhành Mai. Loại thuốc này "sổ êm" và không "sốc". Nói là "êm" và không "sốc" nhưng cách dùng chữ sống sượng của tôi (e) vẫn còn làm "sốc" nhiều người. Lại ông Hà Sĩ Phu, người biết rất nhiều từ ngữ thanh tao, dùng trạng từ "thanh thản" để thay thế cho hai chữ nôm na mách qué vừa nêu. Xin đọc nguyên cả câu, loại văn chương hoa mỹ này, cho nó sướng:" Hãy để cho chủ nghĩa ấy được ra đi thanh thản." ("Chia Tay Ý Thức Hệ". Tuyển Tập Hà Sĩ Phu, sđd trang 216).

    Ủa, sao có chủ nghĩa gì ở đây? Ðang nói về những sinh vật đơn bào, có cấu trúc "cổ lỗ", chuyên "tiến hóa vặt vãnh", hay ký sinh trùng hoặc giun sán gì đó mà. Dạ thưa đó là chủ nghĩa Mác Lê, như cách nói ẩn dụ - theo khoa sinh vật học - của Phó Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Tụ. Ðể cho nó đi "êm" ra khỏi lòng quần chúng hay "thanh thản" rời khỏi Việt nam là đề nghị của chính ông ta, về chủ nghĩa này, trong bài viết vừa dẫn.

    Vấn đề là cách nào ? How ? Ông Trần Ðộ - trong bức thư ngỏ viết ngày 8 tháng 1 năm 99, sau khi bị khai trừ khỏi đảng CSVN - đã đề nghị rằng :"Trước sau gì đảng cũng phải đổi mới. 'Ðổi mới hay là chết'." Nhiều người rất "tâm đắc" với câu nói này của ông ta. Tôi thì không, hoàn toàn không. Tôi không thấy lý do gì để đảng CSVN tiếp tục sống nữa cả. Nó chết ...là phải và chết cho rồi. Chết cách nào cũng tốt. Chỉ cần sao cho việc tống gọn gàng và chóng vánh, thế thôi. Trăm họ sẽ thở phào nhẹ nhõm. Nếu cần phải rải vôi quanh mả nó - rải càng nhiều càng tốt dù là càng tốn - tôi xin được tình nguyện nhận lãnh cái hóa đơn về khoản tiền tốn kém phụ thêm này.

    Tôi cũng lấy làm tiếc là đã không chia sẻ được với ông Trần Ðộ (một ông tướng - mà theo nhận xét của riêng tôi - có tư cách hơn cả trăm những ông tướng thổ tả cùng thời khác, của cả hai miền) về sự tin tưởng rằng nếu đảng CSVN "chịu" thay đổi thì nó sẽ khả năng đưa đất nước và dân tộc Việt ra khỏi cảnh lầm than. Sự tin tưởng này hoàn toàn dựa vào cảm tính.

    Ông Trần Ðộ say mê chủ nghĩa Cộng Sản từ khi 17 tuổi. Ông ta phải lòng đúng đồ phải gió, nếu nói theo tiếng Bắc. Ðó là một chuyện tình không may, nếu nói theo kiểu miền Nam và nói một cách hơi thời thượng. Còn nói theo kiểu của tôi, một thường dân đứng bến, thì đây là chuyện trao duyên lầm ... tướng cướp.

    Năm mươi năm sau, sau một cuộc hôn nhân dài lê thê, với nhiều ngang trái và tội ác mà lúc chia tay ông cụ vẫn còn bịn rịn - dù là nó đã tống ông ta ra khỏi nhà cùng với mùng mền, chiếu gối, nồi niêu, song chảo, dao kéo, ly tách, dầy dép... ném vun vút theo sau. Ông ta bỏ của chạy lấy người chưa chắc đã thoát thân thế mà còn tỏ vẻ tần ngần tiếc rẻ. Tôi ái ngại cho nỗi đam mê vụng dại của ông ta nhưng - cùng lúc - cũng thấy khoái trá khi phát hiện ra được "kẻ lãng mạn cuối cùng của thế kỷ chúng ta." (chuyện này nếu xẩy ra trễ một năm, chỉ một năm thôi, ông ta sẽ có danh hiệu là người-lãng-mạn-cuối-cùng của thế kỷ 21).

    Tuổi đời của tôi không bằng tuổi đảng của ông Trần Ðộ. Thế hệ của tôi không có cái chuyện phải lòng một lần là kể như vĩnh viễn, theo như kiểu "yêu ai yêu chỉ một người". Chúng em chả dại mà chơi cái trò trung với đảng, hiếu với dân. Cái đảng thổ tả của ông Trần Ðộ, nói thiệt ông đừng buồn nha, rặt một phường đốn mạt. Chúng nó có coi dân chúng ra gì đâu mà nói chuyện hiếu với dân. Tôi dốt toán nhưng tính nhẩm cũng ra là ít nhất đã có mười triệu dân Việt, thuộc ba thế hệ liên tiếp, chết vì bàn tay của đảng.

    Hơn nửa thế kỷ qua, thời gian đủ dài để mọi người thấy rằng tất cả những đợt "tự phê" hay "sửa sai" của đảng CSVN đều mang đầy kịch tính. Cộng Sản không chỉ lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt, nó còn khai thác tới nơi tới chốn bản tính khoan dung của dân tộc này. Do đó cái màn "sửa sai" và "tự phê" cứ xẩy ra hoài mà vẫn còn có khách, vẫn cứ "ép - phê". Ðó là chưa kể chuyện người cộng sản mượn tấm bình phong tự phê để ngang nhiên đứng ngoài vòng pháp luật. Họ gây ra đủ thứ những tội ác tầy trời mà chưa bao giờ bị mang ra xét sử. Họ chỉ cần, theo lệ, tự phê (lấy lệ) là kể như... huề!

    Mà hình như tôi cũng chưa nghe những đồng chí lãnh đạo cỡ như Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng... tự phê bao giờ cả. Với "trên" thì không những luật mà leä cũng kể như là đồ bỏ. Khỏe thì thôi chứ. Thảo nào mà các đồng chí đều tình nghuyện phục vụ nhân dân cho đến khi nhắm mắt hay ...đui mắt (vẫn chưa thôi!)

    Cái được người Cộng Sản VN mệnh danh là "đổi mới", theo nhận xét vô cùng chính xác của Hà Sĩ Phu, chỉ là những "tu sửa vặt" hay "bổ sung vặt" mà thôi. Ðó là một hình thức thích nghi để sinh tồn, hoàn toàn có tính cách giai đoạn và chiến thuật. Bản chất của ký sinh là ăn bám. Dù nó có "thiện chí" thay đổi cách nào hay kiểu nào chăng nữa thì sự khác biệt cũng chỉ ở mức độ sống bám và đục khoét mà thôi chứ bản chất thì bất biến.

    Bài viết này, lẽ ra, đã chấm dứt ở đây nếu như đảng CSVN coi việc sửa sai là chuyện riêng của nó. Tiếc thay, cái liêm sỉ tối thiểu đó cũng không có nốt. Trong phần kết luận, của bài diễn văn đã dẫn, ông Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu tuyên bố:" Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Ðảng lần này thể hiện trách nhiệm và tình cảm của Ðảng đối với Bác Hồ, đối với nhân dân. Cuộc vận động ấy liên quan đến vận mệnh của Ðảng, của chế độ, hạnh phúc của đồng bào..."

    Tôi không đụng chạm gì tới " trách nhiệm và tình cảm của Ðảng đối với Bác Hồ". Là một người chủ trương tự do tín ngưỡng, nên dù kinh tởm, tôi vẫn hoàn toàn tôn trọng tục lệ "thờ ma xó" của những người Cộng Sản. Tôi chỉ để ý đến chuyện ông Lê Khả Phiêu nhắc đi nhắc lại hoài những điệp ngữ "nhân dân", "đồng bào", "hạnh phúc của toàn dân"...trong bài diễn văn khai mạc cho phong trào tự phê vừa phát động. Với tư cách thường dân, tôi xin ân cần góp ý xây dựng với BCHTU đảng như sau:" Nếu vì 'hạnh phúc của đồng bào' (theo như nguyên văn cách nói của đồng chí tổng bí thư) thì điều cần làm của quí vị bây giờ không phải là tự phê mà là tự xử hay nói rõ hơn là ... tự tử".

    Tôi lại vừa buông lời cay độc. Tôi vô cùng ân hận vì sự thiếu tự chế của mình. Tôi đã hứa với mẹ già là sẽ ngưng khẩu nghiệp và bút nghiệp. Và tôi đã buông bút gần được cả chục năm. Trời ơi, thay vì cứ xoành xoạch tự phê, tự kiểm...; phải chi, nếu quí vị biệt tự sỉ hay tự thẹn một chút thì thiệt là đỡ tôi (và mẹ tôi) biết mấy!
  12. NGUYỄN HỮU ĐANG VÀ LÊ CÔNG ĐỊNH

    Tưởng Năng Tiến


    Vào những năm đầu của thập niên tám chục, lúc vừa bắt đầu cuộc đời tị nạn, khi sắp bước vào tuổi 30, tôi được nhiều vị trưởng thượng ở hải ngoại coi như là một mầm non - có rất nhiều triển vọng sẽ tiến (rất) xa trong tương lai - trong cả hai giới người: Cầm chai và cầm bút.

    Gần ba mươi năm đã trôi qua, cả đống nước sông (cũng như nước suối) đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống. Tôi đã không “tiến xa” và trở thành một… nhà văn, như mong đợi. Lều văn, chòi văn hay túp văn cũng dẹp luôn.

    Tôi quả có làm cho một số người (trong giới cầm bút) thất vọng. Tuy nhiên - nói tình ngay, và nói cho nó công bằng - tôi cũng đã khiến cho không ít vị thuộc giới cầm chai lấy làm (vô cùng) hãnh diện.

    Tôi cầm viết bữa đực bữa cái nhưng cầm ly thì đều như bắp, chưa sót bữa nào. Đã vậy, nhiều bữa còn mải cầm ly mà quên cầm đũa nên… quá chén đều đều. Đến cuối đời, tôi chỉ mong được là một thường dân nhưng cũng không xong. Thay vào đó, tôi trở nên một thằng nát rượu.

    Lỗi, tất nhiên, không phải tại tôi.

    Tôi không có cái may mắn sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn học. Từ đời nọ đến đời kia, cả dòng họ của tôi chưa từng có ai cầm bút. Họ chỉ cầm ly. Riêng bên ngoại không mấy khi có người tỉnh táo. Ngoại tôi và mẹ tôi đều uống và đều xỉn dài dài.

    Con hư tại mẹ. Cháu hư tại bà. Tôi hư là phải (giá). Ngay từ lúc ấu thơ, tôi đã suốt ngày loanh quanh bên những tiệc rượu. Do đó, những giai thoại về văn chương thơ phú thì tui mù tịt chớ chuyện quanh bàn nhậu thì (ôi thôi) tui biết nhiều vô số. Đang rảnh nên xin kể (một) nghe chơi.

    Cuối thập niên sáu mươi, khi mà chế độ Đệ I Cộng Hòa ở miền Nam bắt đầu có tai tiếng về tính chất độc tài thì dân làng nhậu hay truyền tai chuyện (tiếu lâm) này:

    Có một ông lớn hầm hầm chạy vô Ty Cảnh Sát Lê Văn Ken, lôi một phụ nữ ra khỏi xe, nói như hét:

    “Mấy anh điều tra vụ này liền cho tui.”

    Vài tiếng sau, ông nhận được điện thoại. Đầu dây bên kia, giọng một nhân viên cảnh sát (nghe) có vẻ rụt rè:

    “Dạ thưa ông con mẹ nhận tội rồi.”

    “Tội gì?”

    “Cộng Sản nằm vùng.”

    “Ý trời, tui biểu mấy anh điều tra về vụ khác. Nó ở nhà tui, và vợ tui mới mất cái hột xoàn, tìm hoài không ra, hiểu chưa?”

    Chuyện giễu này được kể ở tất cả các quán nhậu của miền Nam, và nghe xong thì dân chúng “ở vùng địch tạm chiếm” đều bò lăn bò càng ra cười mệt nghỉ. Không ít người cười tới té ghế luôn.

    Người Việt quả là thích cười đùa. Điều đáng tiếc là không phải lúc nào (và ở đâu) họ cũng có cơ hội cười cợt thoải mái, hả hê như vậy.

    Cùng thời điểm này, ở bên kia vĩ tuyến cũng có một chuyện giễu cợt hơn nhiều nhưng tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng ai cười, cười thầm hay cười lén (chắc) cũng không luôn. Và câu chuyện này - thay vì chỉ để kể quanh bàn nhậu, cho vui - đã được báo chí miền Bắc đồng loạt loan tin (”vụ xử án gián điệp ở Toà Án Nhân Dân Hà Nội”) cùng với những lời kết án vừa hàm hồ, vừa đanh thép, nghe cứ y như thiệt vậy. Xin chầm chậm, lật lại vài trang (*) báo cũ - đã úa vàng và phủ bụi thời gian:

    Báo Thủ Đô Hà Nội (21/01/1960):

    “Tên Nguyễn Hữu Đang thú nhận: ‘Báo Nhân văn có tính chất chính trị ngay từ số 1′. ‘Mục đích của tờ báo là khích động quần chúng cùng với chúng tôi chống lại lãnh đạo’. Để đạt mục đích ấy, - đây vẫn là lời của tên Đang - chúng tôi đã dùng lối bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, các bài báo của chúng tôi không đúng sự thật, cứ viết bừa nói bừa, chuyện không nói có và nói toàn những vấn đề quan trọng để gây những tác hại lớn.”

    Báo Quân Đội Nhân Dân (21/01/1960):

    “Ta hãy nghe Đang cung khai trước Tòa án: Tôi đã gây hoài nghi đối với sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ. Tôi đã cổ động cho những xu hướng chính trị phản động. Tôi đã thổi phồng hoặc xuyên tạc bịa đặt ra những khuyết điểm để nói xấu Chính phủ và những cơ quan Nhà nước”.


    Báo Nhân Dân (21/01/1960):

    “Trước tòa án, với những bằng chứng đầy đủ, bọn gián điệp nói trên đã nhận hết tội lỗi của chúng. Sau khi luật sư Đỗ Xuân Sảng bào chữa cho các tội phạm, căn cứ vào chính sách xét xử và trừng trị của Tòa án nhân dân là nghiêm trị bọn chủ mưu và bọn ngoan cố, khoan hồng với những người lầm đường, bị lừa gạt đã biết hối cải …”

    Báo Văn Học ( 05/02/1960):

    ” Nguyễn Hữu Đang thú nhận: “Tư tưởng của chúng tôi là phản động nên chúng tôi ra tờ báo Nhân văn để chống đối lãnh đạo, kích động quần chúng làm áp lực đấu tranh”. Ngoài báo Nhân văn, Nguyễn Hữu Đang còn dùng nhà xuất bản Minh Đức làm một công cụ để chống cách mạng. Y cung khai: “Tôi đã biến nhà xuất bản Minh Đức thành một công cụ chống lãnh đạo.”

    Báo Thời Mới (21/01/1960):

    “NĂM TÊN GIÁN ĐIỆP PHẢN CÁCH MẠNG, PHÁ HOẠI HIỆN HÀNH CÚI ĐẦU NHẬN TỘI

    Nguyễn Hữu Đang và Thụy An, đầu sỏ chủ mưu, bị phạt giam 15 năm và mất quyền công dân 5 năm sau khi hết hạn giam”.


    Mười lăm năm sau, sau khi mãn hạn tù, không biết Thụy An và những nhân vật khác trôi dạt về đâu, riêng Nguyễn Hữu Ðang thì lủi thủi trở lại làng quê ở Thái Bình:

    … Gót nhọc men về thung cũ
    Quỳ dưới chân quê
    Trăm sự cúi đầu
    Xin quê rộng lượng
    Chút thổ phần bò xéo cuối thôn

    (”Ăn Năn” - Phùng Cung)

    Nguyễn Hữu Đang sống gần hết quãng đời còn lại nhờ vào… côn trùng và cóc rắn! Ông cũng đã chọn sẵn chỗ nằm trong “… một bụi tre gần cuối xóm, độc giữa cánh đồng…, dưới chân bụi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ dầy lá tre rụng, rất vừa người … Tôi sẽ nằm ở đó chết để khỏi phiền ai … Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay” (Phùng Quán, “Ngày Cuối Năm Tìm Thăm Người Dựng Lễ Ðài Tuyên Ngôn Ðộc Lập.” Ba Phút Sự Thực, 2nd ed. Nhà Xuất Bản Văn Nghệ Sài Gòn: 2007, 137).

    Xử thế nhược đại mộng. Mười lăm năm tù, và mười lăm năm sống vất vưởng bên lề xã hội (kể như ) chỉ là … một giấc ngủ trưa - chắc chắn với rất nhiều ác mộng!

    Cho đến khi ông nhắm mắt lìa đời, tội danh gián điệp mới được “châm chước” (chút đỉnh) thành “mắc sai lầm tham gia nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm.”

    Thiệt là mừng muốn chết!

    Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” đến Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) tới cỡ đó ? Một trong những nguyên do, có thể nhìn thấy được, là vì ông đã không chịu chấp nhận điều mà ông gọi là sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước CHXHCNVN.

    Trên Nhân Văn số 4, số ra ngày 5.11.1956, Nguyễn Hữu Đang còn (trót dại) lật cái mặt nạ đang đeo của Đảng CSVN:

    “Hoà bình lập lại đã hai năm, dù cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước có phức tạp, gay go thế nào thì cũng không thể coi miền Bắc như ở một hoàn cảnh bất thường để duy trì mãi tình trạng thiếu một nền pháp trị hẳn hoi…”

    “Do pháp trị thiếu sót mà Cải cách Ruộng đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…”


    Ông đã bị mang đi chôn (sống) bằng bản án mười lăm năm tù, và vùi dập cho đến chết chỉ vì lên tiếng đòi hỏi một thể chế pháp trị “chính qui” như vậy.

    Năm mươi năm sau, khi ‘Bàn Về Chính Danh Trong Thể Chế Pháp Trị” (qua BBC, ngày 4 tháng 7 năm 2006) một công dân Việt Nam khác - ông Lê Công Định - cũng đã phải một lỗi lầm (chí tử) tương tự khi đã chỉ ra cho mọi người thấy “mặt thật” của những kẻ đang nắm quyền bính tại xứ sở này:

    “Không cần phải chờ đến kết quả ‘bầu cử’ vào ngày 26 và 27 tháng 6/2006 vừa qua tại Quốc hội, ngay từ lúc bế mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, ai cũng biết Ủy viên Bộ Chính trị nào sẽ đảm nhận những chức vụ Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Nước và Thủ tướng Chính phủ.”

    “Dư luận không hề ngạc nhiên khi biết các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng lần lượt được ‘tấn phong’ vào những vị trí then chốt đó.”



    “Việc điều hành hệ thống quản lý nhà nước với cơ chế thông qua những quyết sách quan trọng và bầu chọn nguyên thủ quốc gia, mà trên thực tế do một đảng chính trị quyết định, dù là đảng cầm quyền, một lần nữa cho thấy Đảng, chứ không phải nhà nước, đang cai trị quốc gia. Thể chế chính trị như vậy, trong ngành chính trị học, được định danh là ‘đảng trị’, chứ không phải ‘pháp trị’".


    Lê Công Định đã bị bắt giữ. Tất cả các cơ quan truyền thông của nước CHXHCNVN đều đồng loạt đưa tin là ông đã… nhận tội (rồi) cùng với những lời kết án vừa hàm hồ, vừa đanh thép - như họ đã từng dùng để nhục mạ Nguyễn Hữu Đang, năm mươi năm trước.

    Trí nhớ của những người làm báo ở Việt Nam, xem chừng, không được tốt; hoặc giả, tâm địa của họ hơi bị xấu. Còn giới lãnh đạo của xứ sở này thì rõ ràng là kém cỏi cả hai: Về tâm địa cũng như ký ức.

    Với tất cả quyền lực trong tay thì có khó khăn gì trong chuyện bắt một người đem giam, ép họ phải nhận tội để xin khoan hồng, rồi mang rêu rao (một cách hể hả) trên mọi phương tiện truyền thông.

    Tôi chưa bao giờ có dịp đặt chân đến Hà Nội. Cứ theo lời kể của một nhà thơ (ông Phùng Quán) thì đây là nơi :

    Chín người - mười cuộc đời rạn vỡ
    Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy…


    Nguyễn Hữu Đang chỉ là một trong vô số những nạn nhân mà “cuộc đời rạn vỡ,” trong thời gian hơn năm mươi mà những người Cộng Sản nắm được quyền bính ở Việt Nam. Xin đừng ai ảo tưởng rằng nhà đương cuộc Hà Nội lại sẽ có thể tiếp tục gây những tội ác tương tự lên cuộc đời của Lê Công Định.

    Thời thế đã đổi. Gió đã chuyển rồi. Hãy để dành “những lời thú tội” và “xin khoan hồng” cho những phiên toà sắp tới, khi mà những kẻ tội phạm đích thực (của cả dân tộc Việt) sẽ bị mang ra xét xử - trong tương lai (rất) gần thôi.

    Tưởng Năng Tiến

    (*) Tất cả các bản tin về phiên toà xử Nhân Văn - Giai Phẩm, do Lại Nguyên Ân sưu tầm, đều có thể đọc được ở talawas.
  13. TÔI (CŨNG) LÀ BẠN CỦA ÔNG DƯƠNG TƯỜNG


    Tôi đứng về phe nước mắt.
    D.T.



    Tôi có cái thói hễ thấy người sang (là) bắt quàng (ngay) làm họ. Nhưng riêng chuyện tôi cũng (muốn) là bạn của ông Dương Tường thì không hẳn thế. Ông ấy, rõ ràng, trông cũng bệ rạc thấy mẹ - y như tôi thôi - chứ chả có sang trọng quái gì đâu.

    "Một lần Dương Tường đưa nhóm hoạ sĩ 5 người (gang of five) từ Hà Nội vào thành phố HCM mở triển lãm. Nguyễn Quân mời tất cả tới khách sạn chiêu đãi. Dương Tường đi xích lô, tay cầm tờ Vietnam News cẩn thận, bước vào khách sạn. Nguời gác cửa khách sạn to lớn, mặc sắc phục nắm chặt vai anh, đẩy ra vỉa hè:

    o Không được bán báo ở trong ấy! Ði ra ngoài kia mà bán!

    Chuyện ở Hà Nội:

    Một ngày giáp Tết, nghe mấy họa sĩ trẻ rủ rê, Dương Tường đi chợ hoa với họ. Vào chợ, họ tản mát khắp nơi để chọn bằng được một cành hoa đào ưng ý. Lơ ngơ một mình giữa chợ, Tường mua đại một cành đào, vác ra ngoài cổng chợ đứng chờ. Ðang cầm cành hoa mới mua, xo ro trong mưa dầm gió bấc, bỗng một bàn tay nắm lấy vai anh, đẩy vào trong chợ:

    o Không được bán hoa ở đây! Mang vào trong chợ mà bán!

    Ðó là người bảo vệ chợ (Bùi Ngọc Tấn, "Tôi
    Là Bạn Của Ông Dương Tường,"

    http://www.canhen.de/noidung/baoce/CE2005/CE03va04/baiviet/buingoctan.htm).

    Vẫn cứ theo như lời Bùi Ngọc Tấn thì Dương Tường nhỏ người. Ðã là dân Việt mà lại nhỏ con thì phải hiểu là... nhỏ lắm. Tôi áng chừng ông ấy cao khoảng một thước năm mươi lăm đổ lại, và nặng cỡ bốn mươi lăm ký là hết sức.

    Tôi thì khác. Tôi cao đến một thước tám mươi, và nặng gấp rưỡi Dương Tường. Chỉ có điều đáng tiếc là cái vóc dáng "cao cả" này đã không khiến cho tôi trông cao sang, và quý phái hơn ông ấy được bao nhiêu - nếu chưa muốn nói là ngược lại.

    Tôi cũng bị đời "hiểu lầm", rất nhiều lần, chỉ vì trông không được bảnh bao gì cho lắm. Mới hôm qua chứ đâu, tôi ngồi cú rũ (một đống) trên mấy bậc thềm - trước khu thương xá Phước Lộc Thọ - ở phố Bolsa. Tôi hay bị buồn (ngang) khi ngày sắp tắt, nhất là vào những buổi chiều tàn - ở California.

    Màu nắng vàng hanh, hay đỏ rực của ráng chiều, dễ làm cho kẻ tha hương trạnh lòng nghĩ về chốn cũ. "Chiều nay gửi đến quê xưa, bao là thương là nhớ cho vừa... "

    Tôi cứ ngồi hát nho nhỏ, chỉ đủ cho chính mình nghe như thế, mà thấy nẫu cả lòng. Hẳn là trông tôi phải thê thảm lắm nên có một bà đồng hương đi qua, đã cúi xuống, kín đáo dúi cho tôi một tờ giấy bạc. Cầm thì kỳ mà không cầm cũng kẹt nên tôi cầm (đại). Miệng lí nhí nói cảm ơn mà mặt đỏ bừng!

    Cũng theo lời kể của Bùi Ngọc Tấn, vào những năm đầu thập niên 60, Dương Tường phải sinh sống bằng nghề... bán máu. Ông Tấn đã hơi bi thảm hoá vấn đề, khiến nhiều người nghe muốn rơi nước mắt, chứ ở xứ tôi (nói tình ngay) mà có máu để bán, và có người mua - lại không phải qua cò, vì ông Tường vốn quen biết lớn - thì sung sướng và hạnh phúc lắm rồi, còn than van gì nữa?

    Sau 1975, đất nước thống nhất, "Nam/Bắc hoà lời ca", tôi ca (hơi) trật nhịp nên bị túm đi học tập một thời gian. Ra khỏi trại tù, với cái giấy tạm tha, tôi sống lang thang vất vưởng ở nhiều nơi - trước khi trôi rạt về Rạch Giá.

    Thành phố này, vào mùa mưa, hay có những ngày biển động. Trời thấp, ẩm, lạnh, mây xám màu chì. Lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang. Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Tôi hay loanh quanh trong chợ Nhà Lồng của Rạch Giá, mắt láo liên nhìn quanh những bàn ăn, chỉ chờ thực khách buông đũa là nhào vào húp vội phần ăn còn lại. Chao ơi, giá lúc ấy mà có máu để bán và có người mua thì đỡ (khổ) biết chừng nào?

    Những cảnh đời (không may) mà Dương Tường trải qua, tôi cũng đều đã nếm. Ðồng cảnh tương lân. Kiếp sống lao đao của ông ấy khiến tôi sinh lòng ái ngại nên (thoáng) có ý muốn làm bạn cho vui, thế thôi.

    Nhưng cuộc đời của Dương Tường không chỉ khốn khổ và khốn nạn như thế. Nó tệ hơn thế, đôi khi. Ông ấy còn bị bạn bè xa lánh, "bị công an thẩm vấn nhiều lần, mỗi bước đi đều bị giám sát chặt chẽ". Và cũng có những khi Dương Tường được ưu ái cho đi nước này nước nọ. "Anh được Cộng đồng pháp ngữ mời sang Pháp. Anh sang Ðức trong Festival Gặp Việt Nam của Ðức" (Bùi Ngọc Tấn. "Tôi Là Bạn Của Ông Dương Tường". Viết Về Bè Bạn. Nhà Xuất Bản Hải Phòng, 2003, 42).

    Lúc nào thì Dương Tường cũng nằng nặc... đứng về phe nước mắt, như ông đã tuyên bố như vậy - bằng thơ. Ngày 28 tháng 5 năm 2004, tại viện Geoge, ở Hà Nội, khi giới thiệu buổi đọc văn của một bạn đồng nghiệp, Dương Tường phát biểu:

    "Những gì chảy ra từ ngịi bt Bi Ngọc Tấn khiến tôi nghĩ đến quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thụy Ðiển) ngy 10/12/1957:

    "Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không, anh ta sẽ cô đơn và mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đày ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật" (Dương Tường, "Người Chưng Cất Nỗi Ðau Thành Hy Vọng," http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=1644&rb=0102).

    Nếu tính từ lúc Nguyễn Mạnh Tường đọc tham luận, góp ý với Ðảng CSVN, trước phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc (vào ngày 30 tháng 10 năm 1956, rồi bị vùi dập cho đến chết) thì mãi đến nửa thế kỷ sau, người ta mới lại được nghe tiếng nói dõng dạc và thẳng thắn như thế - của luơng tri - qua miệng Dương Tường, giữa lòng Hà Nội.

    Tôi trộm nghĩ (rất có thể) là Dương Tường đã tạo nền cho những bài tham luận nẩy lửa - trước thềm Ðại Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ VII. Sau nhiều năm nín lặng, những người cầm bút Việt Nam đã cùng lên tiếng (nói một cách "chẻ hoe" và "trắng phớ") về hoàn cảnh tồi tệ và nghiệt ngã mà chế độ đã dành cho họ.

    Dương Tường, cùng với "Phạm Xuân Nguyên, Phạm Minh Ngọc, Nguyễn Xuân Quang, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Huy Thiệp... - và nhiều vị nữa mà tôi đã không có cơ hội đề cập đến hay trích dẫn phát biểu của họ trong bài viết ngăn ngủi này - đang lăm lăm những cây đinh (mười phân) sẵn sàng đóng vào những tấm ván thiên, dành cho Hội Nhà Văn Việt Nam" ("Chẻ Hoe Và Trắng Phớ," http://danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=298).

    Nếu những suy đoán chủ quan của tôi mà không trật thì Dương Tường (rõ ràng) quá bảnh. Ông ấy chỉ có cái dáng ngoài bệ rạc (như tôi) thôi chứ tư cách thì ngon lành hết biết. Tôi mới đụng chuyện với Ðảng và Nhà Nuớc CS đâu có vài năm (lẻ) đã ù té bỏ chạy, và chạy luôn tới bữa nay, tuyệt nhiên không dám quay đầu nhìn lại. Còn Dương Tường, và những kẻ đồng hội đồng thuyền

    "... đã ghánh cây thập ác đi trọn đường trần ai của mình.

    Không vứt xuống
    Không chạy trốn.
    Không ngã gục.
    Không dừng bước

    Và dẫu không là Chúa, các ông đã được phục sinh" (Phạm Xuân Nguyên. "Một Kiếp Bên Trời". Viết Về Bè Bạn. Ed. Bùi Ngọc Tấn. Nhà Xuất Bản Hải Phòng, 2003. 296).

    Một thằng cha bảnh bao cỡ đó mà tôi cứ nằng nặc đòi làm bạn thì e hơi (bị) khó. Khó thì thôi.

    Tưởng Năng Tiến
  14. Nguyễn Khắc Toàn Và Những Thanh Củi Nỏ

    Muốn đốt rừng cũng cần que lửa nhỏ
    Thì ta đây củi nỏ giữa than hồng.

    Nguyễn Mậu Lâm (Nổi Lửa)



    Ngày 20 tháng 12 năm 2002, nhà đương cuộc Hà Nội tuyên xử ông Nguyễn Khă;c Toàn mười hai năm tù và ba năm quản chế với tội danh gián điệp. Trước đó một hôm, vào ngày 19 tháng 12 năm 2002, biên tập viên Tâm Việt của đài Á Châu Tự Do có bài tường thuật về nhân vật này - xin trích một đoạn ngắn - như sau:

    "Cuối năm ngoái, Quốc Hội họp kỳ họp chót của khoá X bắt đầu từ ngày 20 - 11 - 2001. Trong suốt thời gian Quốc Hội họp ở Ba Đình trong vòng một tháng trời đã có một hiện tượng khá lạ, đó là gần như không có ngày nào mà nông dân ở khắp nước, đa phần là phụ nữ, nhất là những người đi ở trong Nam hay ở miền Trung ra Hà Nội, là không có biểu tình ngay ở trước Quốc Hội, ở gần tư gia Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, Bộ Ngoại Giao và nhất là văn phòng khiếu kiện trên đường Mai Xuân Thưởng gần chùa Một Cột."

    "Lúc đầu, những cuộc biểu tình này còn ôn hoà và chưa đến nỗi đông lắm, chỉ chừng vài chục người ở mỗi nơi. Nhưng với thời gian, khi họ nhận thức được là Quốc Hội cũng như các cơ quan chính quyền thực sự sẽ không làm gì để giúp họ thì họ bắt đầu tề tựu đông hơn, có lúc lên đến cả vài trăm người, gây sự chú ý và ngạc nhiên của nhiều nhà báo quốc tế có mặt ở Hà Nội lúc bấy giờ."

    "Nhận thấy việc làm của họ mang nhiều ý nghĩa hy sinh mà không có kết quả, ông Nguyễn Khắc Toàn, một cựu chiến binh đã từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh xâm chiếm Sài Gòn, lúc bấy giờ 46 tuổi, bèn nẩy ra ý đứng ra giúp đỡ họ bằng cách chỉ dẫn cho họ cách làm đơn, đi gõ cửa đúng những chỗ cần gõ cũng như làm theo đúng những thủ tục tố tụng. Chính vì lý do đó mà ông bị công an bắt đầu theo dõi."

    "Để cho việc làm của những người nông dân này, trong đó có nhiều người là "mẹ liệt sĩ" hay thuộc gia đình có công với cách mạng, có tiếng vang, ông Nguyễn Khắc Toàn đã quay ra, bắt đầu từ hôm 16 tháng 12 năm 2001, làm ra những bản tin về những cuộc biểu tình này và tìm cách phổ biến đi khắp nơi, kể cả hải ngoại …"

    Thế là ông Toàn bị bắt. Còn những người tham dự biểu tình (phần lớn là phu nhân liệt sĩ hay mẹ Việt Nam anh hùng) thì chỉ bị tạm giữ tại hai trại Đông Dâu và Lộc Hà, ở ngoại ô Hà Nội, nơi chuyên để bắt giam những kẻ vô gia cư và những cô gái mãi dâm. Lý do: Đã đi biểu tình mà còn cầm thêm biểu ngữ là "lạm dụng dân chủ", theo như phán quyết của ông Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh.

    Như thế, mọi chuyện kể như xong. Hà Nội trở lại im lặng. Nó đã quen nhẫn nhục, e dè, khép nép và sợ hãi trong nín lặng như thế từ lâu lăm rồi mà. Khóa họp quốc hội năm 2003 lại diễn ra trong an bình, lặng lẽ và tẻ nhạt - nếu chưa muốn nói là chán ngán, như nó vốn đã chán ngán như thế ngay từ lúc mới ra đời. Những ngày "sôi động ở Hà Nội" (theo như cách nói của Nguyễn Khắc Toàn) coi như là chấm hết.

    Tưởng vậy mà không phải vậy. Cuối năm 2003, thay vì những bản tin nẩy lửa gửi đi từ Hà Nội của Nguyễn Khắc Toàn thì người Việt - ở khắp mọi nơi - nhận được một cuộn băng cassette có tên là CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM CÔNG LÝ của một phụ nữ tên Phạm Thị Lộc. Nó được ghi lại và chuyển đi qua hệ thống internet, cùng với hình ảnh, bao gồm 68 trang giấy (khổ 8 ½ x11) nếu download theo kiểu chữ VNI-Times 14. Nội dung có thể được tóm gọn như sau:

    Bà Phạm Thị Lộc kết hôn với ông Nguyễn Văn Hùng vào năm 1995, tại tỉnh Bắc Giang. Đến năm 1999, họ có với nhau một đứa con tên Nguyễn Thị Ngọc Anh. Vì cháu Ngọc Anh không phải là con trai, và cũng vì bố mẹ ông Hùng không tán thành cuộc hôn nhân thiếu … "môn đăng hộ đối", ngày 10 tháng 5 năm 2000, anh Hùng làm đơn gửi toà án nhân dân thị xã Bắc Giang xin hủy hôn thú giữa hai người. Đến ngày 14 tháng 4 năm 2001, anh Hùng lại kết hôn với một người đàn bà khác. Vì "sơ xuất" của cả hai phiên toà của tỉnh Bắc Giang nên chuyện hủy hôn và tái hôn của ông Nguyễn Văn Hùng đều … trót lọt. Thế là bà Phạm Thị Lộc mất chồng và cháu Ngọc Anh mất cha.

    Sau ba năm bồng con thơ lang thang đầu đường xó chợ, đi gõ cửa mọi cơ quan công quyền để đòi hỏi công lý một cách vô vọng, bà Phạm Thị Lộc đã rút ra kết luận như sau về hệ thống pháp luật ở VN - bây giờ:

    "Kêu trời thì trời cao
    Kêu đất thì đất dầy
    Kêu Đảng thì Đảng lặng im, một sự lặng im đáng sợ!
    Kêu nhà nước và pháp luật thì biệt vô âm tín ...?

    Giờ đây người dân oan vô tội mới thấm thía câu ngạn ngữ của cha ông: "Lưỡi không xương trăm đường lắt léo" muốn kết tội ai cứ giải thích pháp luật theo kiểu mình muốn. Coi tính mạng con người như cỏ rác, coi thiên hạ không bằng cái trống thủng, cứ kêu đi, cứ phản đối đi, binh quyền trong tay ta, nhà tù trong tay ta, toà án trong tay ta, pháp luật trong tay ta, đất trời trong tay ta. Đố ai dám làm gì ...? Làm gì nổi ta ...?

    Bởi thế vụ án của tôi là một sự thực minh chứng cho những điều tôi vừa biện dẫn trên. Mà từ xưa tới nay chưa một người dân thưa kiện nào dám nói lên tất cả sự thật: mục ruỗng thối nát của cả một hệ thống tư pháp, dưới trên đều sai phạm nghiêm trọng. Chẳng khác nào như một bệnh dịch hiểm nghèo đang lây lan khắp mọi miền đất nước. Vô phương cứu chữa".

    Trong thư gửi riêng cho ông Nông Đức Mạnh, sau khi bầy tỏ tâm trạng chán chường và thất vọng của mình, bà Phạm Thị Lộc viết tiếp:

    "Thôi thì việc ông ông làm, đường dân dân cứ đi rồi xem thế vận xoay vần đến đâu. Khi quý Ông nhận được cuốn băng này trong vòng 30 ngày không nhận được sự chỉ đạo trả lời dứt điểm để trả lại công lý - nhân quyền cho 2 mẹ con tôi, thì toàn bộ sự thật của nước Việt Nam từ ngày có Đảng lãnh đạo sẽ được đưa lên mạng Internet và các cơ quan truyền thông quốc tế, để lịch sử loài người sẽ hiểu sâu về Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh như thế nào? Sinh mạng của 2 mẹ con tôi các quý Ông phải hoàn toàn chịu trách nhiệm vì tôi là một công dân Việt Nam giám dũng cảm bóc trần mọi sự thật thối nát từ địa phương lên đến Trung ương, dù bọn giặc nội xâm có thừa lệnh của ai đi nữa để giết chết mẹ con tôi bằng mọi thủ đoạn đê tiện nhất thì tôi cũng tính đến hậu quả này, chết mà mang lại chính nghĩa cho ngàn vạn dân oan Việt Nam mẹ con tôi sẵn sàng.

    Hà Nội, ngày .... tháng .... năm 2003
    Người dân oan bất hạnh
    Phạm Thị Lộc
    Địa chỉ hồi âm: Dẫy lều giữ xe đạp số 10 phố Thụy Khuê, sát cạnh trường Chu Văn An - Tây Hồ - Hà Nội.

    Cũng ở "địa chỉ hồi âm" này, bà Lộc quen biết với một người vô gia cư khác - bà Nguyễn Thị Kỷ. Bà Kỷ (nguyên là người ở xóm 3, xã Bách Thuận, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) tâm sự như sau:

    "Tôi là dân oan bị chính quyền xã, huyện, tỉnh đồng loã, bao che cướp trắng đất thổ cư của tôi cho đấu thầu đã 24 năm đi kiện hiện nay chưa được giải quyết, rất mong Đảng, Chính phủ, Quốc hội yêu cầu phải chỉ đạo cấp địa phương phải trả lại đất thổ cư cho tôi, được đảm bảo quyền sống tối thiểu của một công dân nước Việt Nam. Đừng để tôi phải là ngọn đuốc sống để đón chào Sea Games 22 vào cuối năm 2003 này."

    Nằm cạnh bà Kỷ (tại dẫy lều giữ xe đạp số 10, trên vỉa hè phố Thụy Khuê) là bà Lê Thị Hương, hồi xưa ở số 86 lô 106 Trần Văn Lang D1 Cát Bi, Hải An, Hải Phòng. Ba mươi năm qua, bà Hương kiên trì đi thưa kiện để đòi nhà cửa tải sản bị cướp đoạt từ năm 1975. Sự nhẫn nại hiếm có và đáng qúi này (không hiểu tại sao) chấm dứt - cái rụp - vào cuối năm 2003. Bà Hương, bỗng dưng, dõng dạc và lớn tiếng tuyên bố:

    "Yêu cầu Đảng, Chính phủ, Quốc hội giải quyết dứt điểm đến Quốc hội tháng 10/2003 này. Nếu không nhận được sự chỉ đạo của các ông thì tôi xin chết tại cổng nhà các ông. Còn hơn để một phụ nữ như tôi trong diện chính sách ưu tiên đặc biệt phải chết dần chết mòn, chết nhục nhã trong bàn tay của bọn bạo chúa - ác ôn - cướp ngày".

    Đây cũng là thái độ chung của mười bốn người người "dân oan" khác nữa, họ cùng lên tiếng - như sau:

    "Tất cả những người có tên trong cuốn băng này nếu trong vòng một tháng không nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của các ông thì dân oan của 61 tỉnh thành nhất tề đứng dậy, xiết chặt hàng ngũ xuống đường đấu tranh quyết tử với bọn bạo chúa, ác ôn, cướp ngày mà chúng đã luồn lách chui rúc trong các bộ máy chính quyền từ địa phương tới Trung ương, chuyên ăn xương, hút máu của ngàn vạn dân oan mà đã máy chục năm nay thành một hệ thống bệnh hoạn. Nay toàn dân oan chúng tôi sẽ lấy sức mạnh của 80 triệu dân cùng với lương tri của nhân loại biến căm thù thành hành động vùng lên quyết tử … "

    Trời đất, nghe thấy mà ghê! Cứ y như trong câu tục ngữ "giặc đến nhà đàn bà phải đánh" vậy. Rõ ràng, những "bà già giết giặc" này muốn liều mạng và ăn thua đủ với Đảng CSVN (quang vinh) mà họ đã "ngộ nhận" là đảng cướp. Vậy mà tôi cứ tưởng là dân Hà Nội đã quen nhẫn nhục, e dè, khép nép và nín lặng (từ lâu) rồi chớ.

    Nghe cuốn băng đến đây thì người ta (liền) "thông cảm" và (bèn) hiểu tại sao ngày 20 tháng 12 năm 2002 nhà đương cuộc Hà Nội đã vội vàng cất ngay Nguyễn Khắc Toàn - và cất kỹ - trong tù với tội danh là "gián điệp, vì đã gửi thông tin ra nước ngoài. Sự thực, đó chỉ là cái cớ. Một cách kiếm cớ rất vụng về.

    Những bản tin mà Nguyễn Khắc Toàn gửi ra hải ngoại, từ ngày 20 tháng 12 năm 01 đến ngày 1 tháng 01 năm 02, đều đã được thông tín viên của những hãng thông tấn ngoại quốc gửi đi sớm hơn - từ Hà Nội - với nội dung tương tự. Điểm khác biệt duy nhất trong những bản tin của Nguyễn Khắc Toàn là ông đã không dùng ngôn ngữ thông tin thuần túy. Thay vào đó là những lời lẽ chân thành, sôi nổi và (đôi khi) mang nội dung kích động. Trong bản tin "Nông Dân Thanh Hóa Tố Cáo Chính Quyền Đàn Aùp Dân Chúng", viết ngày 20 tháng 12 năm 2001, ông kết luận như sau:

    Trong khi CSVN vơ vét từng mét đất của người dân khốn cùng, đói rách chỉ vì cái ghế thống trị đầy béo bổ cho quyền lợi ích kỷ của chúng, chúng lại còn hèn hạ đặt bút ký những hiệp định về lãnh hải và biên giới trên bộ dâng hàng trăm ngàn km2 cho bọn bành trướng Trung Quốc. Thật là một lũ hại dân bán nước cầu vinh. Nhất định sớm hay muộn CSVN sẽ bị lịch sử kết án tội ác tầy trời này.

    Và đây là câu kết cho bản tin gửi đi ngày 17 tháng 12 cùng năm:

    "Thật là một ngày sôi động tại Hà Nội, đi đâu cũng đập vào mắt người dân những cảnh bất công ngang trái, phi nhân … Đây là báo hiệu điềm gở, một tai hoạ sẽ đến … Đó là sự sụp đổ của chế độ sẽ không còn bao xa nữa."

    Thái độ "sôi nổi" và ngôn ngữ "kích động" của Nguyễn Khăc Toàn bật ra tự nhiên như những tia lửa nẹt từ trong lòng một đống than hồng. Nghĩa cử hào hiệp và sự dũng cảm của ông (khi thản nhiên đến với những người dân cùng khốn đang bị oan khuất) bất chấp bạo lực đã như những ánh diêm lóe sáng giữa đêm đen.

    Không thể để cho mồi lửa Nguyễn Khắc Toàn tiếp cận với những thanh củi nỏ như Phạm Thị Lộc, Nguyễn Thị Kỷ, Lê Thị Hương … ở vỉa hè Hà Nội. Vì như thế thì "Thủ Đô của ta" cháy (dễ) như không!

    Nhốt Nguyễn Khắc Toàn vào một chỗ kín đáo để đề phòng hỏa hoạn quả là một việc cần làm nhưng … (e) không đủ. Dân Việt (vốn) có hơi nhiều … Nguyễn Khắc Toàn.

    Ngày 18 tháng 6 năm 03, ngay sau khi nghe toà tuyên án Phạm Hồng Sơn 13 năm tù cũng vì tội danh gián điệp, ông Nguyễn Xuân Phúc, bào dệ của ông Nguyễn Khắc Toàn, đã nói với biên tập viên Đinh Quang Anh Thái của đài Little Saigon Radio - trong một cuộc phỏng vấn - như sau: "Tôi không sợ ….. Tôi nghĩ tiến trình dân chủ là mộ tiến trình tất yếu … Việt Nam trước sau gì cũng dân chủ,một nền dân chủ thật sự. Đây là tiến trình tất yếu của nhân loại."

    Chỉ trong một gia đình thôi mà có đã có đến hai Nguyễn Khắc Toàn! Và những thanh củi nỏ bây giờ thì (ôi thôi) nhiều vô số, và ở khắp mọi nơi - chứ chả riêng chi Trà Cổ, Thái Bình, Tây Nguyên hay Hà Nội.

    Tưởng Năng Tiến
  15. Từ Nguyễn Mạnh Tường Ðến Mai Thái Lĩnh



    Người đứng đầu các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đoàn thể quần chúng…phải là người có tài, có đức, được quần chúng tín nhiệm, không phân biệt là đảng viên hay người ngoài đảng. Từ nay trở đi, để có thể giữ những chức vụ trong bộ máy quản lý nhà nước, bộ máy quản lý kinh tế, các đoàn thể quần chúng, đảng viên không còn 'đặc quyền' gì mà phải 'thi đua' với quần chúng.
    Mai Thái Lĩnh


    Ðó là ý kiến đóng góp để xây dựng đảng Cộng Sản Việt Nam của một nghị viên Hội Ðồng Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố, ông Mai Thái Lĩnh, được phát biểu vào năm 1988. Ở thời điểm này, dù là đảng Cộng Sản Việt Nam đang hô hào đổi mới và chủ trương cởi trói, ý kiến hoàn toàn không có gì là mới lạ và độc đáo vừa nêu cũng đã khiến cho nhiều đồng chí lãnh đạo rất phiền lòng!

    Trước đó 32 năm, trong một bài tham luận đọc trước phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc vào ngày 30 tháng 10 năm 56, một trí thức Việt Nam khác, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường, cũng đã 'góp ý' tương tự với đảng- bằng cách nói ví von và diễu cợt hơn:

    'Trong 10 năm qua ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ ‘lập trường’ làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu dùng một hình ảnh duy tâm, tôi ví lập trường như cái oan hồn theo đuổi ngày đêm kẻ nào đã hãm hại chủ nó…'

    'Dầu sao ở Việt Nam chúng ta đã xẩy ra những việc như sau đây, ta cần ghi lại để con cháu ta cuời muôn thưở: Khi chọn một nguời lái xe ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi: 'Có lập trường không?' Kết quả là :từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà-nội, hàng trăm tai nạn xẩy ra, do những nguời vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: 'bệnh nhân thành phần giai cấp nào ?'

    Chỉ đề cập đến một tình trạng rất 'quái gở' nhưng vô cùng phổ biến thế thôi (vào đúng lúc đảng hô hào 'sửa sai' sau vụ thảm sát cải cách ruộng đất) nhưng đã là một cách 'vời họa' của Nguyễn Mạnh Tường. Cái giá mà ông phải trả cho những lời lẽ bộc trực, thẳng thắn và hơi diễu cợt vừa rồi khá 'mắc'. Nó mắc tới cỡ nào – cho mãi đến giờ phút này, nghĩa là sau khi ông đã lìa đời (vào ngày 13 tháng 6 năm 97) – có lẽ không mấy người biết rõ. Tưởng cũng nên nhắc lại chút đỉnh, nghe chơi, trước khi tiếp tục câu chuyện Mai Thái Lĩnh.

    ' Ông đi theo Việt Minh rất sớm, ngay từ 1942. Khi việc thương lượng với Pháp thất bại, năm 1946 chính phủ Hồ Chí Minh ra bưng kháng chiến, NMT cũng đi theo. Nhưng vì xuất thân từ thành phần phi vô sản, lại chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa tư sản, nên ông không được trọng dụng…'

    ' Mặc dù không được trọng dụng, lại còn bị hiểu lầm, bạc đãi, Nguyễn Mạnh Tường vẫn một lòng cúc cung phục vụ kháng chiến, vì ông đã trót theo kháng chiến và nghĩ rằng kháng chiến có chính nghĩa, có công trong việc đánh bại thực dân Pháp. Ông còn hăng hái vận động nhiều trí thức khác ủng hộ Việt Minh nữa…'

    ' Cho mãi đến sau cải cách ruộng đất ông mới nhìn thấu bản chất của đảng và chế độ. Nhân chính sách sửa sai ban bố sau đó, ông đã đọc một bài tham luận dài tại mặt trận Tổ Quốc ngày 30 –10 –56, hùng hồn phê phán những sai lầm của đảng…Trong dịp này Nguyễn Mạnh Tường đã bị cải tạo lao động. Cho đến 1960 mới được cho về nhà, chịu sự quản chế.' (Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư, Minh Võ, Thông Vũ California 1999, trang 375 - 376).

    Sau đó là những năm tháng dài ông bị khai trừ (hay nói ví von là bị 'vạ tuyệt thông'), nghĩa là bị vùi dập, xa lánh và cô lập để chết dần mòn trong đói lạnh, cô đơn và tủi nhục – theo như tường thuật của chính ông, qua hồi ký (Un Excommunié: Hanoi 1954-1991: Proces d’un intellectuel), viết bằng tiếng Pháp, do nhà Quê Mẹ Paris xuất bản năm 1997.

    'Nhà tôi ước mơ bán thuốc lá lẻ trên vỉa hè, nhưng không làm sao kiếm nổi vốn liếng và tiền đấm mõm cho công an và cán bộ thu thuế để bọn họ cho chúng tôi được yên thân.'(tr. 253).

    'Tôi phải làm gì bây giờ ? Tôi không thể đạp xích lô như vài đồng nghiệp trẻ, không phải vì sợ những lời thị phi, nhưng chỉ vì tôi đã già rồi.' (tr. 255).

    'Bạn bè cho gia đình tôi một con chó rất khôn. Chó có tuổi, chúng tôi chẳng còn gì cho con vật đáng thương ăn cả. Con chó kiệt sức rơi nước mắt, buồn bã vĩnh biệt chủû' (tr. 256).

    'Trong chế độ này đói kém là chuyện thường. Nước da nhà tôi và con gái tôi xanh mét, tấm thân gày gò. Nhưng cả hai cắn răng chịu đựng, họ sợ làm tôi buồn nên chỉ khóc thầm trong đêm khuya. Tôi biết lắm nhưng giả vờ không biết. Tôi cũng không ngăn được giọt lệ sót sa khi thấy vợ con cắn răng chịu đựng bao nỗi cực khổ, không có hạt cơm lót bụng.' (tr. 256-257 trích từ Lê Ðình Thông, 'Thế Hệä Vong Thân, Thế Kỷ U Sầu.' Tạp Chí Thế Kỷ 21 Jan. 2000:54).

    Không phải đợi đến khi cuốn hồi ký đẫm nước mắt và đầy phẫn nộ của Nguyễn Mạnh Tường ra đời người ta mới biết đuợc những mảnh đời te tua, bầm dập và tan nát, ở bên kia bức màn sắt, của gia đình ông và những người đồng thời. Bi kịch nàyï đã đuợc ghi lại tương đối rõ ràng và đầy đủ trong Trăm Hoa Ðua Nở Trên Ðất Bắc của Hoàng Văn Chí, xuất bản năm 1959 và Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản của Minh Võ, xuất bản năm 1963 tại Sài Gòn. Cả hai cuốn sách, có lẽ, đều không được lưu tâm đúng mức. Chúng chịu chung số phận cùng với tất cả những soạn phẩm hay tác phẩm, với nội dung tương tự, xuất bản tại miền Nam Việt Nam; bởi thế, hai mươi năm sau, lại thêm một mớ trí thức nữa tiếp tục đi theo con đường bi thương của thế hệ Nguyễn Mạnh Tường.

    Mai Thái Lĩnh, nghĩ cho cùng, chỉ là một thí dụ cay đắng điển hình của thế hệ sau - 'thế hệ không chịu học bài' và vì 'chưa thấy quan tài nên chưa đổ lệ.' Ông sinh trưởng ở miền Nam, tốt nghiệp cử nhân triết học và trở thành giảng viên phụ giảng của trường Văn Khoa thuộc viện Ðại Học Ðà Lạt - lúc còn rất trẻ. Ðược lệnh động viên vào mùa hè đỏ lửa 1972, thay vì gia nhập quân đội miền Nam để bảo vệ phần đất đã bảo bọc và nuôi dưỡng mình nên người, Mai Thái Lĩnh - vì thất vọng trước cảnh bất toàn của xã hội mà ông đang sống - đã từ chối nhập ngũ và 'nhẩy núi' gia nhập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

    Mặt trận này bị bức tử ngay sau khi miền Nam được 'giải phóng'. Còn 'giấc mơ đổi đời' của Mai Thái Lĩnh thì cũng dần phai màu 'cách mạng' và biến thành ác mộng sau đó, không lâu.

    Cũng như Nguyễn Mạnh Tường, nhân dịp đảng chủ trương 'đổi mới' và 'cởi trói', Mai Thái Lĩnh đã thẳng thắn và can đảm đặt vấn đề với nó:

    Những bài báo, những tác phẩm văn nghệ phơi bầy những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội có làm rối lòng dân, hoang mang dư luận không ? Cần khẳng định rằng: nếu chúng ta phản ánh đúng sự thật thì chúng không thể có tác dụng tiêu cực. Bởi vì cái làm rối lòng dân hoang mang dư luận không phải là những bài báo, những tác phẩm văn nghệ mà chính là những hiện tượng tiêu cực đang sờ sờ trong đời sống hàng ngày, trước mặt người dân. Và người ta không thể làm yên lòng dân nếu không bắt tay vào việc chính những mâu thuẫn đang tồn tại trong thực tế. ( 'Ðộ Trong Suốt Của Một Nền Dân Chủ', tạp chí Langbian, số tháng 2 năm 1988).

    Nói như thế, e có người vẫn chưa nghe 'thủng'; do đó, ba tháng sau, Mai Thái Lĩnh nói lớn tiếng hơn: Cấm đoán và trừng phạt đó là ngón đòn quen thuộc của chủ nghĩa giáo điều. Nhiều văn nghệ sĩ chân chính đã trở thành nạn nhân của nó. Ðó là tấn bi kịch của thời đại mới, thời đại xã hội chủ nghĩa. ('Văn Nghệ Và Sự Thật', tạp chí Langbian, tháng 5 năm 1988).

    Nói kiểu này - kiểu Nguyễn Mạnh Tường, nghĩa là có sao nói vậy – coi như Mai Thế Lĩnh đã 'vời họa' vào thân. Có lẽ cũng đã dự liệu được hệ lụy tất yếu giữa mình và đảng Cộng Sản Việt Nam, cuối bài báo vừa dẫn, Mai Thái Lĩnh viết câu kết luận như sau:'Vấn đề còn lại là tài năng, tính trung thực và lòng dũng cảm của văn nghệ sĩ.'

    Và Mai Thái Lĩnh quả… 'viễn kiến'. Tạp chí Langbian số tháng 5 năm 88 là số báo thứ ba và là số báo cuối cùng. Nó bị đảng Cộng Sản Việt Nam bóp chết, như họ đã từng làm với tờ Nhân Văn - ba mươi năm truớc đó. Khi Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự – những nguời chủ trương tờ Langbian - đi thu thập chữ ký của những văn nghệ sĩ khác để phản đối việc này, họ đều bị đe doạ 'xử lý kỷ luật'.

    Với tư cách hội viên Hội Văn Nghệ Lâm Ðồng, ngày 7 tháng 6 năm 1989, Mai Thái Lĩnh lên tiếng phản kháng bằng cách viết thư gửi ban chấp hành của hội. Bức thư này có những đoạn đáng chú ý, như sau:

    ' Trước hết, cần phải dẹp bỏ cái ‘giáo điều’ cho rằng không phải là đảng viên thì không đuợc quyền bàn việc của Ðảng… cấm dân bàn chuyện của Ðảng là điều cực kỳ phi lý… khi mà nhân dân bị trói tay, đại biểu nhân dân cũng bị trói tay bởi ‘cơ chế’ bất hợp lý thì làm sao ngăn nổi sự lạm quyền và tình trạng vi phạm dân chủ ? '

    'Về trường hợp của hai anh Quốc và Cự, theo những gì tôi nắm đuợc, hai anh không phải là những kẻ phản bội, cũng không phải là sâu dân mọt nước, tham ô hối lộ, thóai hoá biến chất… Nếu hai anh bị thi hành kỷ luật vì những lý do tương tự thì tôi chẳng phải nhọc công viết lá thư này…'

    ' Có thể những điều tôi nói trong lá thư này là quá táo bạo, và gây ra nguy hiểm cho chính bản thân tôi. Những bài báo của tôi trong thời gian qua đã chẳng đem lại cho tôi ít nhiều tai hoạ đó sao?' (Tiêu Dao Bảo Cự. Hành Trình Cuối Ðông. Văn Nghệ California: 1998, trang 274 - 275).

    Nửa năm sau Liên Bang Xô Viết cùng với cả khối cộng sản Ðông Âu sụp đổ. Chủ trương đổi mới ở Việt Nam, tất nhiên, chấm dứt ngay sau đó. Giai đoạn những lời nói hay những bài báo trung thực mà chỉ 'mang lại ít nhiều tai họa'đã qua. Sau đó (ôi thôi) tùm lum tai họa xẩy đến cho Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự… - những kẻ đã quyết liệt từ chối đưa tay cho đảng trói trở lại.

    Không trói đuợc tay thì đảng tìm cách trói chân, và trói bằng một thứ xiềng xích tân kỳ của thời đại xã hội chủ nghĩa. Nó có tên là nghị định 31/ CP, được Võ Văn Kiệt ký vào tháng Năm năm 97, để biến vô số tư thất ở Việt Nam thành…lao thất.

    - Ủa, nói vậy không lẽ ở Việt Nam mà cũng có sự phân biệt giữa lao thất và tư thất hay sao ?

    - Có chớ. Sự dị biệt giữa hai nơi cư trú này rõ ràng như sau: ở lao thất thì chắc chắn có cơm hẩm với muối và nước lã chứ còn ở tư thất thì chưa chắc – trừ khi trong nhà có chôn vàng thì không kể!

    Bởi vậy Nguyễn Mạnh Tường và vợ con mới đói thất điên bát đảo và dở sống dở chết suốt cả kiếp người.

    Riêng Mai Thái Lĩnh, sau bức thư ngỏ vừa dẫn, tên tuổi của ông chìm dần vào quên lãng. Ông lựa chọn một thái độ im lặng hay bị bắt buộc lặng im là điều kẻ bàng quan không thể nào biết được.

    Bất ngờ, ngày 31 tháng 5 năm 2000, cơ quan quốc tế đấu tranh cho nhân quyền Human Rights Watch đã phổ biến một tuyên cáo 'kêu gọi nhà cầm quyên Việt Nam trả ngay tự do cho Hà Sĩ Phu.' Cơ quan này cho biết ông Hà Sĩ Phu bị công an tình nghi có liên lạc với một số trí thức, những người đã thảo ra một tuyên ngôn chung đòi dân chủ có danh xưng là 'Kết Ước 2000'.

    Human Rights Watch cũng tiết lộ danh tánh một người thứ hai có liên quan đến nội vụ là ông Mai Thái Lĩnh. Ông cũng bị soát nhà và công an đã tìm ra bản thảo của Kết Ước này.

    Cũng theo HRW :'Năm ngoái khi soát nhà Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội, công an đã tìm thấy một bức thư yêu cầu ông Giang thu thập chữ ký của những nguời bất đồng chính kiến cho bản kết ước, việc này đã dẫn đến chuyện ông Giang bị bắt vào tháng 3 năm 99 (Last year, when police searched the house of HaNoi dissident Nguyễn Thanh Giang, they found a letter requesting Giang to gather signatures on the dissent statement, which led to Giang’s arrest in March 1999).

    Năm 1991, sau một phần tư thế kẻ bị đầy đọa, Nguyễn Mạnh Tường vẫn giữ nguyên được sự dũng cảm và khí phách của một sĩ phu. Cũng như bản tham luận viết năm 1956 - trong cuốn hồi ký Un Excommunié: Hanoi 1954-: 1991: Proces d'un intellectuel, hoàn tất năm 1991- Nguyễn Mạnh Tường vẫn tiếp tục lớn tiếng lên án những sai trái và tội ác của Ðảng Cộng Sản Việt Nam:

    'Họ là những cái thùng rỗng tuyếch khua ầm ĩ. Mở miệng ra là nói Mác, nhưng không bao giờ đọc sách vở của Mác, hoặc nếu ngẫu nhiên đọc một trang trong cuốn tư bản luận cũng chẳng hiểu ất giáp gì.' (tr. 27)

    'Ðất nước mất đi bản sắc, chỉ nhắm mắt bắt chước, sao chép (sự tàn ác của) Liên Xô và Trung Quốc (Le Vietnam perd sa personalité pour devenir le reflet, le fac-simile de l’Union soviétique et de la Chine).' (tr.84).

    Niềm tin của Nguyễn Mạnh Tường vào cuộc đời và vào tương lai vẫn vững mạnh như khi ông còn trai trẻ:' (Chúng ta) nhất định ngăn chận không cho những thảm họa tưong tự tái diễn trong tương lai.' (tr. 153 theo Lê Ðình Thông, Tạp Chí Thế Kỷ 21, số đd, tr. 58).

    Năm 2000, sau một phần tư thế kỷ bị lường gạt, Mai Thái Lĩnh cũng vẫn giữ nguyên được niềm tin vào công lý và điều thiện. Hãy xem qua bản Kết Ước 2000 mà ông 'bị tình nghi' là có liên quan ít nhiếu chi đó đến nội dung của nó:

    'Thế kyœ 21 và thiên niên kyœ thứ ba đến vào giữa lúc mà xu hướng toàn cầu hóa đã trơœ thành áp đaœo. Trong kyœ nguyên mới này, cũng là kyœ nguyên cuœa sáng kiến và sự hiểu biết, các quốc gia mà biên giới được coi như hàng rào ngăn chặn đà tiến chung và những giá trị phổ cập cuœa loài người sẽ không còn lý do tồn tại và sẽ không thể tồn tại. Các quốc gia như thế sẽ không được sự hươœng ứng cuœa người dân, sẽ không động viên được nội lực, sẽ thua kém, sẽ bị giaœi thể trong lòng người và sau cùng sẽ tan rã.'

    'Chúng tôi là những người Việt Nam cùng chia seœ một lo âu trước sự tụt hậu cuœa đất nước, trước sự thờ ơ cuœa quần chúng và trước sự thiếu tầm nhìn cuœa nhiều người lãnh đạo đất nước. Chúng tôi tin là phaœi tìm ra một giaœi đáp chung cho những khó khăn cuœa đất nước; sự kiện người dân mất lòng tin và ý thức cộng đồng, mỗi người tự tìm một giaœi pháp cá nhân là rất nguy hại cho đất nước và cho mọi người. Chúng tôi muốn giữ đất nước mà ông cha đã đổ mồ hôi và xương máu tạo dựng cho con cháu. Chúng tôi muốn để lại cho các thế hệ mai sau một đất nước đẹp hơn, đáng yêu và đáng tự hào hơn.'

    'Chúng tôi quan niệm đất nước cần cho mọi người, vì đó là một tình caœm và một không gian tương trợ giữa những người cùng một ngôn ngữ, lịch sưœ và văn hóa. Ðất nước ấy nhìn nhận và baœo đaœm chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người. Bạo lực và đàn áp phaœi được loại boœ, thay vào đó, đối thoại, thoœa hiệp và hợp tác phaœi được tôn vinh như những giá trị nền taœng cuœa xã hội; mọi người Việt Nam phaœi quí mến nhau trong sự tôn trọng mọi khác biệt. Nhà nước phaœi xuất phát từ nhân dân qua một chọn lựa thực sự tự do…'

    Nội dung chỉ có vậy thôi mà Mai Thái Lĩnh, Hà Sĩ Phu… – những kẻ chỉ bị tình nghi có liên quan đến những người dự thảo văn kiện này – đã bị qui chụp tội phản quốc. Bằng tội danh này, theo điều luật 78 của Bộ Luật Hình Sự hiện tại ở Việt Nam, hai ông có thể bị kết án tử hình!

    Từ nửa thế kỷ trước, dù bị vây khổn suốt đời bên trong bức màn sắt, những ngọn đòn thù đê tiện nhất của đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ làm lao đao nhưng không đánh gục nổi Nguyễn Mạnh Tường và những văn nghệ sĩ trong nhóm Nhân Văn. Dù vậy, người cộng sản Việt Nam vẫn không nhận ra sự thất bại thê thảm của họ trong việc sử dụng bạo lực. Do đó - trước thái độ bất khuất của giới văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam hôm nay - họ lại tiếp tục loay hoay tìm cách trấn áp, khủng bố bằng những thủ đoạn ti tiện cố hữu.

    Họ quên rằng bức màn sắt để che chắn tội ác bên trong thế giới cộng sản đã thủng te tua và thủng từ lâu. Họ cũng quên rằng cái thời có thể bắt ép mọi người phải xa lánh Nguyễn Mạnh Tường không còn nữa. Bên cạnh Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh hôm nay không chỉ đơn thuần có giới trí thức và văn nghệ sĩ mà còn có tu sĩ, nông dân và tín hữu của tất cả những tôn giáo chính ở Việt Nam.

    Chưa hết, mới đây, ông Nguyễn Văn Chấn - một thương nhân, có biệt danh là Vua Lốp, bị qui chụp là tư sản, tịch thu hết tài sản vào năm 1983, và cả gia đình bị đuổi ra đường - đã không ngừng gửi đơn kiện đảng và nhà nuớc cộng sản Việt Nam suốt 17 năm qua. Khi đuợc đài BBC phỏng vấn về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Chấn đã trả lời một cách cương quyết như sau:' Tôi nghĩ thế này:cơm thì có thể ăn nửa bữa đuợc, ngủ thì có thể nửa đêm thức giấc dậy cũng đuợc, nhưng con đuờng chân lý thì quyết đi tới cùng' (nhật báo Việt Báo, ấn bản Bắc California, số ra ngày 09 tháng 6 năm 2.000).

    Thái đội quyết liệt 'tới cùng' của ông Nguyễn Văn Chấn quả là đáng sợ. Người ta không e ngại cho chính bản thân ông ta, cho những nguời nông dân ở Thái Bình - Xuân Lộc, cho những tín hữu ở An Giang – Châu Ðốc, hay cho những người dũng cảm như Hà Sĩ Phu và Mai Thái Lĩnh … mà là cho những kẻ đui điếc và chậm trí đang cố làm vật cản trên 'con đường chân lý' của dân tộc Việt.