Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Không biết tác giả

    Khi gả về nhà anh, chị mới vừa tròn mười sáu, anh thì mới lên năm. Vì chỉ có mình anh nên ông bà cha mẹ quý anh hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

    Ông nội nhờ buôn bán, gom góp dành dụm được ít tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một hôm bà đi chùa lễ Phật và xin được một quẻ xăm giữa miếu nghi ngút khói hương, quẻ dịch ra, nói là phải cưới vợ lớn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

    Bà nội tin vào lời Phật dạy chúng sinh, nơi khói hương tỏa ngát vây quanh tiếng chuông chùa ngân vang, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh...

    Cảnh nghèo

    Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu khô cằn sỏi đá, chỉ đủ bát cháo cho mùa đông, cha chị đi xa để may ra kiếm được đồng nào đỡ đần cho vợ con, ông theo người lên núi đập đá, nhưng... tiền chưa kiếm được đã bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương khô mà thương tích vẫn cứ trơ trơ.

    Ngày ngày ông chỉ có thể nằm trên giường thở dài ngán ngẫm, muốn chết mà chẳng chết được. Mấy em trai còn bé dại. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm thời con gái của chị mang trĩu nặng một gánh tâm tư.

    Bà mối cứ đến, rỉ tai: "Gả cô nhà đi, có tiền dưỡng bệnh cho cha, rồi còn đỡ đần cho việc túng quẩn trong nhà".

    Mẹ chị khổ sở lắc đầu, bà không muốn gả bán con như thế, đứa con gái thơ dại yêu quý nhất của mình. Nhưng chị van xin: "Mẹ, cho con đi, với chỗ tiền ấy ta sẽ chữa khỏi cho cha!".

    Tiếng pháo vu quy vang lên ngoài ngõ, bố chị nằm trên giường tần ngần sửng sốt. Con gái tôi phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình để cứu tôi và cứu gia đình này, thật oái oăm làm sao...

    Mẹ rưng rưng với hai hàng nước mắt, tay run run vuốt mái tóc của con và cài chiếc trâm lên mái tóc cho con lần cuối... Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mẹ, tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới tràn ra.. Từ đó, cuộc đời chị về tay một đứa bé lên năm...

    Xót xa

    May thay bà mẹ chồng còn trẻ không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng, anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái. Hằng ngày ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì hầu hạ anh, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ cho chồng, ru chồng ngủ, nhiều khi anh ốm anh ho suốt đêm, nóng sốt, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.

    Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

    Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ không nói, vội vã đi nhanh. Không biết là có ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm sóc của chị, anh lần lượt thoát khỏi mọi cơn bệnh tật hiểm nghèo: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v...

    Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt trội hơn tình cảm dành cho chính mẹ mình, ngoài những lúc bận rộn, hoặc khi đêm về anh đã ngủ say, chị thường khóc thầm với chính thân phận của mình, nước mắt lăn dài trên hai bên gò má để rồi thờ thẫn tự hỏi mình: "Đây là hôn nhân của mình ư, chồng của mình đây ư?".

    Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây quanh nhìn anh rồi nhìn chị soi bói...

    Chị cố nén nỗi đau trong lòng, cúi gằm mặt xuống. Một tối, anh nằm trong chăn nói: "Chị ơi, em yêu chị!".

    Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị mỉm cười, một nụ cười đau khổ.

    An ủi

    Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài canh bạc mà thua sạch bao gia sản đã khổ sở tích lũy bấy lâu nay. Sau khi bố mẹ chồng cãi vã ầm trời, bố chồng chị bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe đâu người ta thầm thì với nhau, ông bị lính bắt đi làm phu nơi góc bể chân trời nào đó. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, Mẹ cầm đi đổi lấy tiền.

    Mẹ và chị bàn nhau mua lấy vài sào đất. Không thể mượn người phụ làm được nữa rồi, mẹ chồng con dâu xắn ống quần lên lội ruộng, nhớ ngày còn ở nhà, chị đã từng giúp cha mẹ mình một tay đắc lực, khổ sở gì chị cũng đã trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng xưa nay chưa từng phải chân lấm tay bùn.

    Vốn giàu có, bỗng chốc bần cùng, đàn ông cột trụ thì đã bỏ đi biệt tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc ruộng vườn không quen nặng nhọc, bà kiệt sức nhuỗm bịnh không dậy nổi. Trước phút lâm chung, bà kéo tay chị, thều thào van xin: "Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành..."

    Chị nắm chặt bàn tay gầy guộc của mẹ chồng để trấn an bà, rồi nắm chặt lấy tay anh như thầm hứa sẽ bão bọc anh mãi mãi. Và từ đó số mệnh của chị và anh hình như lại dán chặt thêm vào nhau...

    Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, chị như bị cuốn theo chiều gió. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận được ra mình là vợ, là chị hay là mẹ của anh?

    Chị làm việc quần quật ngày cũng như đêm, để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử thiêng liêng.

    Sau khi anh học xong trung học và thi đỗ vào Đại Học Sư Phạm, chị thu xếp hành lý cho anh, lại một lần nữa chị đưa anh tới trường.

    Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi từ bé đến giờ, chị dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra không nói thêm một điều gì nữa.

    Nhưng anh cầm lấy tay chị siết nhẹ rồi nói: "Chị.. chờ tôi quay về nhé!".

    Lần đầu tiên trong đời tim chị đập liên hồi những nhịp tim khó tả, chị cố giử vẻ mặt vẫn bình thường, môi chị tiềm ẩn một nụ cười hân hoan nhè nhẹ mà người đối diện khó nhìn thấy. nụ cười ấy không biết có phải vì câu nói của anh, hay vì những công lao bấy lâu chị vun sới, đã được đáp đền?

    Hy sinh

    Chị vẫn lam lũ với ruộng vườn, nhịn ăn nhịn mặc dành dụm gửi cho anh. Hai năm đầu, những ngày hè và ngày Tết anh về quê giúp chị một tay. Nhưng những năm sau anh viết thư về nói: "Chị đừng gửi tiền nữa, những kỳ nghỉ tới tôi cũng không về đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị".

    Giờ chị đã 32 tuổi, ở quê người như chị đã là mẹ của một bầy con. Người trong làng bảo: "Chị nuôi anh lớn khôn, lại còn lo cho anh ra tỉnh đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ nữa. Bây giờ anh đã đi xa, thế giới bao la, muôn màu rực rỡ, hư thực khó phân, biết chồng có về nữa hay không mà đợi?"

    Đêm đêm chị tự hỏi lòng mình có phải là mình đang thủ tiết, giữ đạo phu thê chăng? Dù sao thì mười mấy năm trước đây chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh kia mà, hay là mình đang vì câu nói ngày ấy của anh trước khi lên đường: "Chị... chờ tôi quay về nhé!"

    Hay là chị đang âu lo như cái âu lo của người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa, và chị phải cứ chờ, mặc cho miệng đời dị nghị, bàn tán.

    Chị vẫn cứ câm nín như đã từng câm nín hơn chục năm nay.

    Ngày anh tốt nghiệp đã đến, và anh quay về, anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách dáng dấp một người đàn ông già dặn trường đời.

    Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm mất đi những nét đẹp thời son trẻ, chị bây giờ là một người đàn bà nhà quê đích thực.

    Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không ngờ anh cầm lấy hai tay của chị và nói: "Mình, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!"

    Chị nhìn anh, như đang mơ, chị sợ mình đã nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình, trọng nghĩa.

    Hai hàng lệ rươm rướm trong khóe mắt của chị, nụ cười tự đáy lòng dâng lên làm rơi xuống hai gò má xạm nắng những giọt nước mắt sung sướng nhất đời chị.

    Xin lỗi

    Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau bầy con hai đứa. Anh được thuyên chuyển đến làng này dạy học, rồi nhậm chức hiệu trưởng của một trường trung học nhờ bằng cấp và kinh nghiệm của mình. Vì phương tiện và nhà cửa ruộng vườn nên chị và các con vẫn ở lại quê nhà. Sau khi yên nơi yên chỗ anh về quê đưa vợ con lên.

    Các giáo chức trong trường xúm nhau đến giúp ông Hiệu Trưởng dọn nhà. Một người nhanh nhẩu chạy ra hỏi: "Anh đón bác lên, rồi bao giờ thì mới đón chị?".

    Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị, chị sượng cứng người, với nụ cười gượng gạo, nhìn anh như kẻ có trọng tội, anh nhìn mọi người rồi tay anh tìm tay chị và dõng dạc nói: "Chị của các chú đây! Nhờ cô ấy tôi mới có ngày hôm nay, thậm chí đến cả tính mạng của tôi".

    Chị nghe anh nói xong, hai khóe mắt chị ướt đẫm nước mắt...

    Thủy chung...

    Bây giờ chị đã bảy hai, vì làm việc quá nặng nhọc, sức khoẻ suy yếu đi nhiều, bệnh phong thấp làm bước đi của chị đi khập khễnh. Anh sáu mươi mốt và đã về hưu.

    Hơn năm nay dọn về khu này, những hôm tốt trời không mưa ít gió, xóm giềng qua lại trong công viên này đều có thể thấy bóng dáng của anh chị hay quanh những bồn hoa, chị chống gậy, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc thật ân cần.

    Những người biết chuyện nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ, tình đầy suốt một kiếp người, anh thường hay nói:

    "Cô ấy đã cho tôi sự sống, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành cuối đời tôi để chăm sóc cô ấy"

    Anh dắt tay chị đi, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười toại nguyện, một mối tình đẹp như những áng mây chiều êm ả trôi lờ lững ở cuối lưng trời…
  2. Ngày tháng Tư 8/1865 của Hoa Kỳ và ngày tháng Tư 30/1975 của Việt Nam.

    Lúc bấy giờ là đêm ngày 8 tháng 4 năm 1865, Đại Tướng Robert Lee, thống lãnh quân đội miền Nam, cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần Toà Thị Xã Appomattox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge, nơi tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appomattox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về... Tất cả hy vọng của Tướng Lee lúc này chỉ còn đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon. Vị tướng này sáng sớm hôm sau sẽ tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.

    Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của Tướng Grant, thống lãnh quân đội miền Bắc, bước vào phòng riêng của Tướng Grant để đánh thức ông dậy. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến Tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp nhẹ đi cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của Tướng Grant. Sau cùng Tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ Tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hoà”, Tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do đại tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hoà hay chiến.” Nhưng bức thư của Tướng Grant chưa kịp đến tay Tướng Lee, tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.

    5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appomattox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng Chủ Nhật 9/Apr/1865, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền Nam. Từng đợt tấn công của Tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phía bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, của hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phiá sau là hai đơn vị bộ binh khác của quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và “chém vè” cũng không được.

    Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, Tướng Lee được tin khấp báo của Tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình đại tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”. Lập tức Tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hoà hay chiến. Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước Tướng Grant”.

    Nơi được chọn để nghị hoà là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appomattox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phiá Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và toà thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc tướng Lee đã đến điểm hẹn, ông bước theo sự hướng dẫn của vị sĩ quan tuỳ viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã có mặt ngay trong lòng đất đối phương.
    Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện trên sàn gỗ và Tướng Grant bước vào. Khác hẳn với Tướng Lee, Tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.

    Theo yêu cầu của Tướng Lee, Tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau tự tay trao cho Tướng Lee xem lại. Chậm rãi, từ tốn, Tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.

    “….Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”

    Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của Tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra toà truy tố về tội phản loạn.

    Tướng Lee nói, “Thưa đại tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và Tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam của tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.”

    Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngưạ và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.

    Trận đánh quyết định tại Five Forks (tháng Tư 1865)

    Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho Tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, Tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam.

    Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”

    “Thưa, quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.

    Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của Tướng Grant, bắt tay Tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi phòng họp.

    Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà, nơi đôi bên nghị hoà. Khi ngựa Tướng Lee rảo bước đi qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau trong giây phút, họ đồng ngả nón chào nhau. Trên bao lơn xung quanh Tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.

    Tin đồn đầu hàng của Tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ vật gì có thể ném tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Súng ống các loại, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng Tướng Grant nhanh chóng ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ nỗi vui mừng của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ”. Điều quan trọng với tướng Grant là phải làm sao để thắng trận, đồng thời cũng phải gìn giữ cho bằng được sự toàn vẹn tình cảm giữa những người cùng trong cộng đồng dân tộc Hoa Kỳ.
    4:30 chiều ngày 9 tháng 4, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Đốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của Tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.”

    Cách đó không bao xa, Tướng Lee cỡi ngưạ trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, Tướng Lee hướng về họ và nói: ”Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng tôi nặng chĩu và không thể nói gì hơn”.

    Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các anh em hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đầu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và Tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.

    Điều kiện đầu hàng được hai Tướng Lee và Grant ký kết tại Appomattox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.

    Hai đạo quân dàn đôi bên con đường chạy theo phía Đông rừng Appomattox. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là Tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường.

    Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là Tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại Tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.

    Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: ”Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, một đoàn quân tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường”.

    Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, Tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào!” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.

    Phiá đối diện, Tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một dáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.

    Và phía hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.
    Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và lắm cái nhuộm máu đã khô, sau cùng họ khẽ đặt những lá cờ kia xuống mặt đất…

    Tại sao người Mỹ lại có được tháng 04/1865 tuyệt vời như thế kia? Tuyệt vời bởi lẽ cả người thắng lẩn kẻ bại đều thiết tha và chân thành tôn kính lẩn nhau. Tuyệt đối không có cảnh “nhảy múa trên đau khổ của kẻ bại”. Người đích thực là kẻ chiến thắng trong 04/1865 chính là dân tộc Hoa Kỳ.

    Mang tháng 04/1865 đặt cạnh tháng 04/1975, mọi người, kể cả những người khác biệt chính kiến, đều có thể dễ dàng nhận ra những khác biệt lớn lao vì chiến bại tháng 04/1975 là chiến bại của một quân đội bị “Đồng Minh” đâm sau lưng.

    - Sau 04/1865, quân Bắc Mỹ không hề trả thù quân Nam Mỹ. Tất cả hình thức ăn mừng chiến thắng đều bị ngăn cấm. Chẳng những không bị ngược đãi, quân Nam Mỹ còn được Bắc quân trao tặng hơn hai mươi lăm ngàn phần ăn như một lời chúc thượng lộ bình an trên con đường trở về quê quán. Sau 04/1975, CSVN ra lệnh mang ra chợ xử bắn những quân cán chính nào của VNCH mà Hà Nội gán cho danh hiệu “ác ôn”. Mặt khác, tất cả thương bệnh binh của VNCH lập tức bị đuổi ra khỏi toàn bộ hệ thống Quân Y Viện của miền Nam Việt Nam. Đó là lý do giải thích tại sao những ngày đầu tháng 05/1975 vô số thương binh VNCH, kể cả những thương binh vết thương còn mới nguyên, lê lết khắp phố chợ làng quê…

    - Không một người lính nào trong quân đội Nam Mỹ bị bắt giam như những tù binh. Ngược lại, tại Việt Nam 04/1975, CSVN bắt giam nhiều trăm ngàn quân nhân từ tướng đến binh (an ninh tình báo) của VNCH. Hành động bắt giam này được thực hiện bằng lời kêu gọi mang theo mười ngày lương thực nhằm tạo cho “nạn nhân” hiểu lầm là họ chỉ đi “học tập cải tạo” mười ngày. Trong thực tế 10 ngày có nghĩa là một hai thập niên tù khổ sai.

    Khi dứt chiến chinh trên quê hương tôi (tháng Tư 1975)

    Tháng 04/1865 quân Bắc Mỹ chỉ tịch thu vũ khí cộng đồng, họ cho phép quan, quân miền Nam giữ lấy ngựa và vũ khí cá nhân như những tài sản riêng. Tháng 04/1975 nhà cửa, xe cộ của sĩ quan cao cấp của VNCH bị tịch thu, vợ con của quân nhân các cấp bị mất việc làm, bị đuổi đi kinh tế mới. Đặc biệt, không chỉ riêng gia đình quân cán chính VNCH mà ngay cả người dân bị goi là “dân vùng ngụy” cũng bị CSVN đánh đòn rất cẩn thận: Đánh tư sản mại bản, đánh công thương kỹ nghệ gia, đánh tiểu thương, đánh văn nghệ sĩ, đánh tu sĩ các tôn giáo. Nói chung, tháng 04/1975 là ngày ghi dấu toàn bộ xã hội miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian.

    Cùng là CON NGƯỜI, tai sao người Mỹ đối xử với người Mỹ khác hẳn CSVN đối xử với người Việt Nam? Phải chăng văn hoá Mỹ khác với văn hoá Cộng Sản?


    Sưu tầm
  3. Sưu tầm trên mạng, không thấy đề tên tác giả


    Người xưa viết rằng, tha hương mà gặp người quen biết cũ là một trong bốn cái thú lớn nhất trong đời. Tôi nghĩ, cần chi phải là quen biết cũ, tha hương mà gặp một đồng hương, cũng mừng đến lịm người đi chứ. Đó là trường hợp của anh Hy và tôi, khi gặp nhau trong cái thành phố Morris nhỏ bé, có dân số bảy ngàn người nầy, vào năm 1981. Tôi vì cơm áo, mà trôi dạt đến đây, gặp anh Hy. Anh được định cư trong thành phố nầy đã hơn một năm. Thế là có được hai gia đình Việt Nam trong thành phố nhỏ hiền hòa nầy. Không quen biết trước, mà chúng tôi quý và thân thiết nhau còn hơn cả anh em ruột thịt. Gia đình anh Hy có năm người, bà mẹ già, hai vợ chồng anh và hai đứa con nhỏ. Lần đầu tiên gặp chúng tôi, bà cụ mẹ anh Hy cầm tay vợ tôi mà mắt rưng rưng vì mừng, bà cứ vuốt ve lưng bàn tay vợ tôi mãi.

    Vợ tôi thân thiết ngồi ép sát vào bà. Bà cười nói sung sướng, như vợ tôi là đứa con gái của bà thất lạc nhiều năm mới tìm lại được. Gặp người đồng hương là sung sướng thế đó. Chị vợ anh Hy thì không dấu được niềm vui, cười nói tíu tít, và nhìn hai vợ chồng tôi với ánh mắt đầy thiện cảm. Anh Hy hiền lành, ít nói, nhưng nụ cười trên môi nở mãi không tàn. Hai đứa con chưa biết gì, chạy nhảy, reo hò. Gia đình anh Hy sung sướng, chúng tôi cũng hân hoan mừng.

    Một buổi tối, tôi đi làm về, được điện thoại của anh Hy, anh hớn hở báo cho tôi biết rằng, sắp có một gia đình Việt Nam tị nạn đến thành phố nầy. Giọng anh vui mừng ríu rít. Ông bà người Mỹ bảo trợ mới thông báo cho anh biết. Ông bà muốn anh xếp đặt thì giờ, để cùng mấy người trong họ đạo đi đón người mới đến, vào thứ tư tuần tới. Tôi vội vã báo tin mừng cho vợ , và trong lòng nghe lâng lâng vui. Có thêm càng đông đồng hương, càng đở buồn, và thỉnh thoảng qua lại chuyện trò cũng bớt cô đơn nơi quê người. Vợ tôi bàn thêm, nếu thuận tiện, thì chúng tôi cùng đi đón gia đình Việt Nam tị nạn nầy cho vui, và tỏ cái tình thân thiết lúc ban đầu.

    Suốt trong tuần, vợ anh Hy và vợ tôi soạn nồi niêu, chén bát, ly tách, muỗng đủa, chia bớt các thứ cần dùng trong nhà, để dành mà tặng cho gia đình mới đến. Mỗi khi bà Mỹ bảo trợ tiết lộ một tin tức gì về người sắp đến, chị vợ anh Hy vội vã điện thoại báo cho chúng tôi biết ngay.

    Máy bay sẽ chở gia đình người tị nạn đến phi trường Chicago vào hôm thứ tư, lúc mười một giờ đêm. Hôm đó anh Hy bị cảm mạo, lên cơn sốt, thân nhiệt nóng hơn một trăm độ F. Hai ông bà người Mỹ bảo trợ kêu điện thoại cho tôi lúc bảy giờ tối, khi tôi mới đi làm việc về. Họ yêu cầu tôi thay anh Hy, đi cùng họ, để đón người tị nạn mới tới. Bỏ tắm rửa, tôi ăn vội vã, để khởi hành lúc tám giờ rưỡi, phòng khi đường sá có gì bất trắc. Ông Mỹ bảo trợ tên là Gary có vợ là bà Eva, cả hai ghé nhà tôi để hướng dẫn và chỉ đường trên bản đồ. Tôi cũng run lắm, vì chưa bao giờ đi đến phi trường nầy, và thấy cái bản đồ ghi chằng chịt đường sá đan nhau, như cái nùi chỉ rối. Ông bảo tôi chạy bám sát xe ông, nhưng chưa được mười phút thì đã lạc nhau. Khi cách phi trường ba mươi dặm, thì xa lộ bị tắc nghẽn, vì chiếc xe vận tải hàng hóa bị lật, gây tai nạn dính chùm. Xa lộ bị đóng hoàn toàn. Khi vào đến phi trường, tôi bị lạc đường hai lần, chạy quanh mãi mới vào được nhà đậu xe. Ông bà Gary cũng đi lạc, và đến sau tôi. Tuyết rơi quá dày, nên máy bay cũng đến trể. Ông Gary cầm cái bảng lớn, đề tên người chủ gia đình là Phan Ly, đưa lên cao trước cỗng đi ra của hành khách. Gặp dáng người Á Đông nào, tôi cũng chăm chắm dòm kỹ. Cho đến khi hành khách không còn ai cả, thì ông bà Gary bối rối. Ông chạy đi hỏi hãng máy bay, họ bay xác nhận là có gia đình anh Phàn trên chuyến máy bay vừa rồi. Hai vợ chồng ông Gary và tôi, cầm cái bảng đề tên anh Phàn đi quanh các ghế chờ trên phi trường, thấy gia đình Á Đông nào, cũng chìa cái bảng tên ra trước mặt họ, để dò hỏi. Đi quanh ba vòng, mà không tìm được, ông Gary nhờ loa kêu, hỏi gia đình anh Phàn ở đâu, cho biết để người bảo trợ đón về. Cũng vô hiệu. Đi tìm gia đình anh Phàn cả tiếng đồng hồ mà không kết quả, cả ba người chúng tôi ngồi xuống ghế nghỉ một chốc với lòng vô cùng chán nãn. Tôi bảo hai ông bà Gary ngồi chờ, tôi cầm cái bảng tên đi tìm một lần nữa. Tôi đi dò tìm tên từng gia đình trên cái túi ni lông mà họ xách trên tay, của cơ quan ICM phát, khi họ cho mượn tiền máy bay. Tôi đến gần một anh mang cà vạt đỏ, áo vét ba mảnh bên trong, bên ngoài khoác áo bành tô bằng dạ. Tôi nhìn tận cái túi, và thấy loáng thoáng tên Phàn, tôi đánh bạo hỏi:

    "Anh là Phàn phải không”

    "Vâng. Tôi tên là Phàn, anh là ai?”

    "Tôi đi theo hai ông bà bảo trợ người Mỹ đến đón gia đình anh. Sao nãy giờ chúng tôi đi qua đây nhiều lần, đưa cái bảng tên anh ra, mà anh lại ngồi im?” - Tôi nói với giọng hơi mất kiên nhẫn.

    Anh Phàn chỉ vào cái bảng và nói:

    "Cái bảng nầy ấy à? Thấy ông Mỹ chìa ra trước mặt tôi ba lần, nhưng đâu phải tên tôi mà nhận. Tên ông Ly nào đó mà. Tôi là Phàn.”

    Tôi cười, nói nhỏ nhẹ:

    "Đây là tên anh. Theo lối Mỹ, ghi tên trước, họ sau.”

    "Ngược ngạo thế thì ‘bố giời’ mới biết được”.

    "Thế thì loa kêu tên anh nhiều lần, sao anh cũng chẵng trả lời?”

    "Nghe được cái quái gì đâu?”

    Tôi chợt nghĩ ra, nếu người ta có gọi tên tôi trên loa, chưa chắc tôi đã nghe kịp, huống chi anh Phàn là người mới đến. Tôi quay lại báo tin cho hai ông bà Gary, và giải thích tại sao không tìm ra. Ông bà Gary mừng, và tôi đọc được sự kiên nhẫn, chịu đựng của hai ông bà, khi đêm khuya không ngủ, tuyết đổ, lái xe cả trăm đặm, đi đón một gia đình ngoại quốc, khác màu da, khác chủng tộc, không hề bà con, không hề quen biết. Và trước đó nữa, phải làm bao nhiêu giấy tờ, mất bao nhiêu bao nhiêu thì giờ, tốn kém đủ thứ. Chỉ vì trái tim biết thương người mà thôi.

    Gia đình anh Phàn có hai vợ chồng, năm đứa con, đứa đầu mười bốn tuổi, đứa út còn ẵm trên tay. Anh Phàn người da sậm, gầy ốm, cái má thóp, răng cỏ đen điu vì khói thuốc. Vợ anh thấp, trắng hơn, có bề ngang. Chị mang váy đầm dạ xám, áo vét, ngoài khoác áo bành tô cứng ngắt. Gia đình anh còn có một bà già mù, mang váy nâu, đầu quấn khăn mỏ quạ, răng nhuộm đen, trên mắt có che miếng vải đen, gợi tôi nhớ rõ hình vẽ trong cuốn sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ngày còn bé tôi hay đọc. Bà cụ y hệt cái hình vẽ bà già mù trong sách. Trang phục của vợ chồng anh Phàn có vẽ sang trọng hơn cả ông bà bảo trợ nhiều, nhưng cũng không dấu được vẻ quê mùa.

    Hành lý được chất lên cao trên bốn chiếc xe đẩy. Ông Gary , tôi, vợ anh Phàn, và cháu bé gái mười bốn tuổi, mỗi người đẩy một chiếc xe. Anh Phàn đi tay không thong thả, rút thuốc lá châm mồi và hút trong hành lang, nhả khói mù làm bà Eva ho sặc ( dạo nầy, chưa có luật gắt gao cấm hút thuốc nơi công cộng). Bà Eva đi dang xa ra khỏi anh Phàn, và ghé lại chiếc xe của cháu bé gái, phụ đẩy. Thấy đi mãi trong hành lang dài, anh Phàn hất đầu hỏi tôi:

    "Sao không kêu tài xế lái xe vào gần đây, mà phải đi xa quá vậy?”

    Tôi cười và trả lời:

    "Tài xế? Tài xế là ông Gary và tôi đây. Xe đậu trong ga-ra là nơi gần nhất rồi, không có nơi nào gần hơn nữa”.

    Anh Phàn hỏi tôi:

    "Anh làm tài xế cho ông bà Mỹ nầy? Lương trả có khá không?”

    "Không, tôi làm việc cho công ty cố vấn. Ông bà Mỹ nầy nhờ tôi đi đón, phụ đưa gia đình anh về. Đường xa, anh có mệt lắm không?”

    "Cũng mệt, nhưng chẵng can gì cả.”

    "Có lẽ anh nên đẩy xe giúp cho cháu bé thì hơn”- Tôi nói.

    "Kệ nó, để nó làm việc cho quen”

    Hành lý quá nhiều, hai chiếc xe hơi không đủ chở. May mắn ông Gary gặp người quen, ông gởi bạn mang về nhà, hẹn ngày sau sẽ đến lấy.

    Vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của anh chị Phàn trên đất Mỹ, chúng tôi tổ chức một bữa tiệc lớn để chào mừng và đãi đồng hương. Anh Hy và tôi, mỗi gia đình đóng bảy mươi lăm đồng làm chi phí. Chị Hy và vợ tôi trổ tài nấu ăn, rộn ràng nấu nướng từ sáng sớm tinh sương. Anh Hy kê thêm thùng giấy làm bàn, mượn thêm ghế của các gia đình bên cạnh. Chai rượu nho hồng đậm đặt trên bàn bên cạnh bình hoa giả. Anh Hy và tôi lái xe đến tận nhà anh Phàn đón tất cả mọi người, cả cháu bé còn bế trên tay. Ba gia đình vui vẻ nhập tiệc. Anh Phàn kêu bà cụ già mù bằng dì. Tôi cảm phục cái tình gia đình của anh Phàn, khi đem bà dì mù lòa di vượt biển.

    Anh Phàn uống rượu rượu nho như uống nước ngọt, tu một hơi hết nữa li lớn. Anh nói:

    “Rượu nầy nhạt lắm. Có đế trắng hoặc rượu Tây mới đã miệng.

    Anh Hy nghe vậy, vào bên trong lục tủ, lôi ra nữa chai Vodka, rót vào ly anh Phàn. Anh Phàn uống một hớp nói:

    "Cái nầy mới thật là rượu.”

    Khi đã ngà ngà, anh Phàn hăng say kể về cuộc chiến anh hùng chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Hạ máy bay Con Ma, bắt giặc lái. Máy bay của ta núp trong mây, chờ máy bay Mỹ đến thì bắn hạ rụng như sung chín. Anh kể công ơn bác, đảng, văn minh tiên tiến. Những chuyện nầy, tôi đã nghe nhiều lần khi còn ở bên nhà. Chị vợ anh Hy giận, nói lớn, hỏi sao anh không ở lại với bác đảng anh hùng của anh, mà lại đi qua Mỹ làm chi. Anh trả lời là sống với bọn đó không được, sống không nỗi, đời sống thua con chó, khoai sắn còn không có mà ăn, chứ đừng nói đến cơm.

    Khi vợ anh Phàn khoe cái hay của ông chồng, chị nói:

    "Ông nhà tôi thế chứ khảnh ăn lắm. Chỉ thích ăn quà, chứ không thích ăn cơm.”

    Chị vợ anh Hy nói:

    "Sống với bác đảng, đói cho rã họng ra, ở đó mà thích quà không thích cơm. Nói làm sao mà tôi không hiểu chi cả.”

    Mỗi tuần, các bà trong hội nhà thờ đến đưa vợ anh Phàn đi chợ hai lần. Họ nhờ chị Hy đi theo để hướng dẫn và thông dịch. Mỗi lần đi chợ về, thì chị vợ anh Hy cũng kêu điện thoại cho vợ tôi để than vãn:

    “Chị biết không, lần nào em xấu hổ muốn độn thổ quách. Chị ấy lựa những tảng thịt bò đắt tiền nhất, lấy hai ba tảng to tướng. Lựa các thức ăn ngon nhất, đắt nhất trong chợ, chất đầy một xe cao nghệu. Em đoan chắc với chị rằng, cái bà bảo trợ chưa bao giờ dàm đụng đến các thứ thịt đắt tiền đó. Bà bảo trợ cứ chỉ vào thịt gà, thịt heo, mà chị ấy lờ đi. Em thấy cái mặt bà bảo trợ nhăn như cái bị rách. Khi trả tiền, mặt mấy bà tái ngắt vì số tiền phải trả.”

    Có lần vợ anh Hy khuyên vợ anh Phàn rằng, nên chọn các thức ăn có giá trung bình hoặc rẽ mà mua, vì chính ngay các bà bảo trợ, cũng rất ít khi dám ăn các thứ đắt tiền đó. Vợ anh Phàn lắc đầu mà nói rằng, mình không trả tiền, tội gì không lựa món ngon mà ăn. Từ đó , vợ anh Hy sinh ra có thành kiến với gia đình anh Phàn.

    Các ông bà bảo trợ trong nhà thờ rất chu đáo. Mua cho các cháu bé áo quần, giày vớ, áo lót chống lạnh, áo khoác đi tuyết, sách vở, viết chì, viết màu, túi xách mang lưng để đi học, ghi tên cho các cháu đến trường. Khi họ đến thông báo cho gia đình anh Phàn, để hẹn ngày đem các cháu đến trường, thì anh Phàn phản đối, nhất quyết không cho cháu gái đầu mười bốn tuổi đi học. Anh lấy lý do là nhà đông con dại, cháu nầy đã lớn, cần ở nhà giữ em, làm việc vặt, giúp mẹ nấu nướng. Ba bà bảo trợ cố gắng giải thích, qua sự thông dịch lỏm bỏm của vợ anh Hy, rằng luật pháp ở Mỹ bắt buộc trẻ con dưới mười tám tuổi phải đi học. Nếu không được đi học, thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chị vợ anh Hy cũng chỉ hiểu lơ mơ lời các bà, và thông dịch cho anh Phàn. Anh Phàn cứ lắc đầu, nhất quyết không chấp nhận lời khẩn cầu của các bà Mỹ, cho cháu lớn đi học. Các bà cứ thuyết phục mãi làm anh Phàn nỗi giận nói gằn với chị vợ anh Hy :

    "Con của tôi sinh ra, tôi muốn cho nó đi học hay không là quyền của tôi. Sao các bà ấy cứ muốn xía vào chuyện riêng của chúng tôi mãi thế.”

    "Pháp luật bắt buộc cho trẻ con đi học. Không phải các bà muốn đâu”

    "Pháp luật nào mà lạ thế? Tùy hoàn cảnh gia đình mỗi người, mà cho con đi học. Nhà nước nào mà can thiệp vào? Đây là xứ tự do mà.”

    "Đúng, xứ tự do, nhưng không phải cha mẹ muốn làm gì thì làm. Pháp luật bảo vệ con trẻ dưới tuổi trưởng thành.”

    "Thôi, chị đừng nói nữa, tôi đã nhất quyết rồi. Tôi đã có phương án riêng cho gia đình tôi. Vô ích. Chị đừng giở giọng tuyên truyền với tôi nữa.”

    Vợ anh Hy tức cành hông, muốn khóc vì không phá vỡ được cái vỏ cứng rắn của anh Phàn. Chị cùng ba bà Mỹ chán nản ra về. Tối hôm đó, bà Eva điện thoại cho tôi, nhờ giải thích cho anh Phàn hiểu luật pháp Mỹ .

    Tôi chưa kịp kêu cho anh Phàn để giải thích, thì điện thoại reo. Anh Phàn ở đầu dây bên kia. Anh than phiền là các bà Mỹ, và vợ anh Hy cứ ép anh, buộc phải cho đứa con gái đầu đi học. Anh nói là họ làm áp lực anh, họ vô lý. Còn bày đặt ra là luật lệ bắt buộc để dọa anh. Nghe giọng nói của anh, tôi cũng phải chùn lại, vì biết rất khó thuyết phục anh trong lúc nầy. Tôi chỉ ừ è cho qua chuyện, và giả vờ theo phe anh, mà nói:

    "Anh nói đúng, mỗi gia đình có hoàn cảnh riêng, giải quyết theo cách riêng. Không ai có quyền ép ai cả. Về luật lệ xứ nầy, thì tôi cũng không được rõ lắm. Hay là anh thử kêu điện thoại qua Oklahoma hỏi những người anh quen biết từ ngoài Bắc, mà họ đã đến xứ nầy từ lâu rồi, để biết thêm cho rõ. Biết chắc luật lệ, mà thi hành. Không ai có quyền ép mình theo ý họ, nhưng mình cũng không nên làm trái luật. Có gì thì anh cho tôi biết với.”

    Không biết anh có kêu điện thoại cho người quen ở Oklahoma hay không, nhưng sau cùng, anh Phàn cũng phải nhượng bộ yêu sách của nhà thờ, để cho cháu gái mười bốn tuổi đi học. Anh nói rằng : “Thôi, thì tôi cũng tạm thời lui một bước, mình mới đến đây mà căng quá cũng không nên. “

    Các ông bà bảo trợ để anh chị Phàn nghỉ ngơi cho hoàn hồn trong hai tháng. Trời tuyết đổ bên ngoài, trong nhà đóng cửa kín mít, lò sưởi mở tối đa, anh chị và bà cụ bó gối ngồi trên ghế bành. Cái máy truyền hình nhấp nhem, nói tiếng Mỹ ồn ào. Anh Phàn bảo rằng, không đi tù, mà cũng giống như bị giam lỏng, bị quản chế. Ra ngoài thì trời lạnh, tuyết ngập, đi gần cũng không biết đi đâu, đi xa thì không có xe cộ.

    Khi hội nhà thờ muốn kiếm việc cho anh chị làm, thì anh gạt ngang. Anh nói với ông bà bảo trợ, qua thông dịch của vợ tôi:

    "Chưa biết nghe, biết nói chi cả chưa thể đi làm được.”

    Bà bảo trợ thuyết phục:

    "Công việc cần làm, không cần nói, cũng không cần nghe.”

    "Khi nào chúng tôi nói và nghe giỏi như các bà, chúng tôi sẽ đi làm việc. Gấp làm chi. Tôi cần đi học tiếng Anh cho giỏi.”

    Vợ tôi bảo rằng, dù anh học thêm năm ba chục năm nữa, cũng không thể nói và nghe bằng họ được. Đi làm việc, chỉ cần cố gắng làm. Còn nghe và nói, thì ai cũng lơ mơ, nghe một phần, đoán một phần. Mình không lớn lên tại Mỹ, thì hiếm hoi lắm mới nghe và nói giỏi tiếng Mỹ. Phải vừa làm, vừa học. Nhưng anh Phàn nhất quyết rằng, chưa nghe, chưa nói giỏi thì chưa chịu đi làm. Nghe vậy, mấy bà trong họ đạo, ngày nào cũng thay phiên nhau đến nhà anh Phàn dạy tiếng Mỹ. Mỗi ngày dạy bốn giờ liên tiếp. Các ông bà Mỹ tin tưởng rằng, trong vòng ít tháng, thì cả nhà sẽ giỏi tiếng Mỹ, không giỏi bằng họ, thì cũng một tám một mười. Trong những buổi học tiếng Mỹ, anh Phàn và vợ thấy buồn ngủ khủng khiếp, cứ rán chống mắt lên, mà cái đầu cứ gục lia lịa. Anh chị uống trà đậm chống cơn buồn ngủ cũng không hiệu quả. Anh chị thấy những buổi học nầy, như cực hình, như tra tấn, và nản lòng vô cùng. Học được phút trước, thì phút sau quên béng đi. Không nhớ gì cả. Anh chị kết luận, là cái óc của anh chị đã hư rồi, không thể học được gì nữa. Sau một tháng dạy liên tục, các bà Mỹ cũng nản lòng, bỏ lớp dần dần, và không đến dạy nữa. Kết quả vượt bực. Anh Phàn thì chỉ ấp úng nói được hai chữ “yes” và “no” , vợ anh giỏi hơn, nói được rất ngọng thêm chữ "thank you”. Vợ tôi cho rằng, các bà Mỹ không có phương pháp sư phạm, nên dạy không kết quả.

    Từ đó, anh Phàn mới chấp nhận là không thể học nói học nghe cho giỏi bằng các ông bà Mỹ được, và anh chị cắn răng để cho nhà thờ thu xếp việc làm cho anh chị.

    Mỗi buổi sáng tinh sương, anh Hy đến chở anh Phàn đi làm, buổi chiều chở về tận nhà. Có những buổi chiều, khi tan sở, xe anh Hy là một đống tuyết khổng lồ, anh phải vất vả đào tuyết moi xe ra. Trong khi anh Hy quần thảo với đống tuyết, với nước mãng nước đá đông cứng trên kiếng xe, thì anh Phàn đứng hút thuốc lạnh lùng nhìn. Anh Hy bất bình, nhưng không nói. Một lần, mệt quá, anh Hy không nín được, quay qua hỏi anh Phàn:

    "Anh không giúp tôi một tay dọn tuyết cho mau mà ra về?”

    "Xe anh chứ có phải xe tôi đâu!”

    "Nhưng... anh có đi trên xe nầy không?”

    "Anh lái xe mà, đâu phải việc của tôi”

    Anh Hy giận lắm, im lặng, và không nói với anh Phàn trong nhiều ngày liên tiếp. Anh Hy nói với tôi rằng, vì đã lỡ nhận lời gởi gắm của bà Mỹ bảo trợ, nếu không, thì anh chẵng chở anh Phàn đi làm nữa. Tôi an ủi anh Hy, khuyên anh đừng giận anh Phàn, vì đồng hương còn có ai đâu, giận nhau nữa thì còn ai. Nhiều khi anh Phàn cự nự anh Hy vì đã đến đón sớm hơn giờ quy định. Những khi nầy, anh Phàn rề rà cho anh Hy phải ngồi chờ thật lâu trong xe dưới tuyết đổ. Có lần anh Phàn ngần ngừ hỏi:

    "Tôi hỏi thật, anh đừng dấu nhé. Nhà thờ trả cho anh mỗi tháng bao nhiêu, để anh đưa đón tôi đi làm ?”

    Anh Hy nghe mà buồn cười, hỏi lại:

    "Anh hỏi làm chi vậy?”

    "Hỏi cho biết bao nhiêu, nếu số tiền đó khá, thì tôi xin lảnh tiền, và kiếm chiếc xe đạp đi làm cũng được.”

    "Không có xu nào cả. Tôi chở anh miễn phí, vì anh là đồng hương, và vì tôi cũng đã từng qua thời kỳ mới đến định cư như anh. Đáng ra anh phải chia tiền xăng, tiền hao mòn xe với tôi mới phải lẽ.”

    "Tôi không tin.”

    "Không tin thì anh thử hỏi mấy ông bà bảo trợ xem.”

    Anh Phàn cười mũi:

    "Có hỏi mấy ông bà Mỹ, thì vợ anh hay anh phiên dịch. Anh chị muốn nói chi mà không được. Thà đừng hỏi.”

    Anh Hy buồn lắm, nhưng không nỡ nói nặng lời, anh chỉ thở dài:

    "Năm ba năm nữa, nếu nhớ lại chuyện nầy, anh sẽ biết rõ sự thực.”

    Mỗi ngày, có xe nhà trường đến tận nhà chở ba cháu bé đi học. Cháu lớn học ở trường xa hơn, hai cháu nhỏ học trường tiểu học gần nhà. Anh Phàn nói rằng, nhờ đấu tranh gay gắt với nhà thờ về vụ cho đứa con lớn đi học, mà nhà thờ phải nhượng bộ, bằng cách đem xe đón tận nhà, đưa luôn ba đứa đi học. Chị vợ anh Hy giải thích rằng, trẻ con ở thành phố nầy, em nào cũng được vậy, không riêng gì các cháu con anh Phàn. Anh Phàn không tin và chỉ cười ruồi đáp lại.

    Mùa đông miền Trung Bắc nước Mỹ, như mọi ngày đông khác, tuyết đổ ngập đường trắng xóa. Xe cào và thổi tuyết hoạt động liên miên. Muối được rải ra những con đường chính cho xe chạy. Một cháu trai nhỏ con anh Phàn đang ngồi trong lớp học, bỗng đứng dậy ôm sách vở ra về. Cô giáo cản lại. Hai bên trao đổi vài câu. Không ai hiểu ai . Cô giáo chỉ ra sân đầy tuyết trắng chất thành đống cao, như muốn nói cho em hiểu rằng không thể đi được, và dắt em về lại chỗ ngồi. Em rươm rướm nước mắt, và đứng dậy, nhất định ra về. Cản mãi không được, cô giáo kêu bà hiệu trưởng. Bà xuống lớp, khuyên bảo em. Hai bên cũng không hiểu nhau. Bà không thể để em bé bảy tuổi ra về một mình trong gió hú, trong tuyết cao chất đầy như thế. Bà cầm tay giữ em bé lại. Em khóc lớn. Hai bà giáo nhìn nhau thất vọng, không biết phải làm gì. Bỗng bà hiệu trưởng nhớ là em bé có con chị học trên nó hai lớp. Bà cho người đi kêu chị nó xuống. Con chị xuống gặp đứa em, nói vài câu.

    Xong, con chị nắm tay thằng em dẫn nó ra về. Hai bà giáo vội cản lại. Kéo hai em vào bên trong lớp. Cả hai đứa đều khóc ròng. Bà hiệu trưởng dẫn hai chị em đứa bé về phòng, và kêu điện thoại cho bà Mỹ trong gia đình bảo trợ, nhờ giúp đở. Bà bảo trợ vào trường ngay. Bà dắt hai chị em về lớp, hai đứa không chịu đi, mà nhất định kéo nhau ra sân, để đi bộ về nhà. Ba bốn cô giáo họp lại bàn cãi. Một hồi sau, bà bảo trợ theo yêu cầu của các cô giáo, chạy xe đến công ty anh Phàn đang làm, xin cho anh được tạm nghỉ, đến trường giải quyết việc học của hai cháu. Anh Hy phiên dịch cho anh Phàn biết, là hai cháu không chịu học, mà đòi đi bộ giữa mưa tuyết, để về nhà. Anh Phàn giận hầm hầm và nói với anh Hy : "Con cái mất dạy. Đề tôi dến cho chúng vài bạt tai, cho bớt biếng nhác.” Anh Hy vội vã níu anh Phàn lại, đặn dò: "Không được, đánh trẻ con thì cảnh sát còng tay đó . Đừng dại dột.” Anh Phàn hất tay anh Hy ra, và chưa dứt cơn giận: "Vợ chồng anh được cái giỏi là hay hù họa tôi mà thôi. Con cái mà không đánh cho sợ, thì thành hư đốn. Dạy con từ thuỡ nên ba.” Anh Hy biết khó thuyết phục anh Phàn, bèn nói vọng theo: "Bớt nóng giận. Đừng đánh con, tội nghiệp. Có chi thì từ tốn, dạy bảo.” Anh Hy sợ anh Phàn bị cảnh sát còng tay. Khi xe đến trường, anh Phàn hùng hổ, xăm xăm đi theo bà Mỹ đến gặp hai đứa con. Hai đứa bé mặt xám ngắt, trên mắt còn ướt sũng lệ. Anh lớn giọng gằn hai đứa bé. Sau vài câu trao đổi giữa ba cha con, mặt anh Phàn dịu xuống, đến nắm tay hai đứa con, dắt chúng ra về. Tuyết ngập trời, tuyết cao nghệu, các bà giáo cản cha con anh lại không cho đi. Không ai cho anh dắt trẻ con đi trong mưa tuyết lạnh lẽo nầy. Anh kéo con đi, nhưng một ông giáo to lớn như hộ pháp đang giữ tay hai em bé lại. Các bà giáo đang vây quanh thì líu lường xôn xao. Anh Phàn nhìn đám thầy cô người Mỹ với ánh mắt tuyệt vọng, với nét mặt anh nhăn nhúm đầy đau khổ, anh vội cúi xuống, banh quần thằng bé ra, và òa khóc lớn. Cả ba cha con cùng khóc vang thảm thiết. Mùi thối tha bốc lên làm ngát mũi. Mấy ông bà giáo người Mỹ cùng ồ lên một tiếng lớn, và cùng cười. Họ hiểu, em bé đã phóng uế ra cả quần. Em đã không biết nói sao để xin cô giáo đi ra phòng vệ sinh, và cũng không biết phòng vệ sinh ở đâu, rán sức cầm cự, và khi hết chịu nỗi, thì phóng ra quần.

    Mỗi buổi chiều, sau khi anh Phàn đi làm về chừng một tiếng, thì có bà Mỹ đến chở vợ anh đi làm. Mấy ông bà Mỹ xin cho chị được chân rửa bát tại một khách sạn sang nhất trong tỉnh nhà. Khoảng mười giờ rưỡi đêm, thì mấy bà Mỹ trong họ đạo chia phiên nhau, lái xe trong tuyết lạnh, đến chở vợ anh Phàn về nhà. Mùa đông tỉnh lẻ, họ ngủ sớm, mười giờ đêm là đã say giấc, họ phải để đồng hồ báo thức. Vợ tôi thường biểu lộ sự cảm phục lòng tốt của các bà trong họ đạo. Khuya lạnh, ai mà không muốn thẳng giấc, phải thức dậy đội tuyết ra đi là một cực hình. Có nhiều đêm, vì lý do bất khả kháng, các bà kêu tôi, nhờ đến đón chị Phàn về. Thời đó, dù sáng phải dậy lúc năm giờ, để kịp năm giờ rưỡi khởi hành, đi làm, nhưng tôi vui vẻ nhận lời ngay, để cám ơn cái lòng tốt của các bà Mỹ, đã giúp cho người đồng hương của tôi. Có lần tôi bị cảm mạo, chóng mặt, mà không dám từ chối, sợ các bà cho là tôi không có lòng. Mỗi lần đi đón, thì tôi phải cào tuyết trên xe hơn mười lăm phút, chờ máy nóng mới đi được. Bỡi thế, nên thường đến trể. Chi vợ anh Phàn giận, không vui, ngồi trên xe mà không nói một lời nào. Cả không một lời cám ơn, một lời chào khi được đón và khi về thấu nhà. Có lần chị nói:

    "Nếu đón tôi, thì đừng đến trể. Ngồi chờ rất nản.”

    "Tôi được các bà Mỹ kêu, nhờ đi đón chị, thì tôi đi ngay. Phải mang áo, phải cào tuyết, phải chờ xe ấm máy, nên hơi trể, chị đừng buồn. Các bà người Mỹ tử tế quá, đêm nào cũng đi đón chị trong lạnh lẽo, mưa, tuyết.”

    "Tôi có nhờ các bà đâu. Họ bắt tôi phải đi làm việc đấy chứ. Hừ, tử tế!”

    Tôi không buồn mà thương cho chị. Có lẽ anh chị Phàn hiểu lầm rất nhiều về lòng tốt của những người chung quanh.

    Một hôm, anh chị Phàn mời vợ chồng tôi, và vợ chồng anh Hy đến nhà, để nhờ chúng tôi một việc quan trọng. Hỏi anh chuyện gì, anh nói sẽ cho biết sau. Anh Hy cười nói với tôi rằng, sao cái lối nói nầy giống hệt cách thức của công an nhà nước Cộng Sản hồi trước. Buổi chiều đi làm việc về, có “giấy mời” tối nay ra trụ sở công an, lý do "Cho biết sau”. Cứ thế mà run, mà thắc mắc, không biết có chuyện gì, không biết có bị nhốt luôn hay không. Ra đi mà hồi hộp, mà dặn dò vợ con phải làm gì để sinh sống, nếu bị nhốt tù. Chúng tôi rủ nhau cùng qua nhà anh Phàn mà không phải hồi hộp, không phải lo lắng. Anh Chị Phàn cùng bà cụ đã ngồi sẵn trong phòng khách. Họ rót nước trà mời chúng tôi, xem bộ trịnh trọng, không lạt lẽo như thường ngày. Sau một hồi thăm hỏi xả giao, anh Phàn tằng hắng nói:

    "Tôi mời các anh chị đến đây, vì không còn ai có thể giúp cho chúng tôi được trong hoàn cảnh câm điếc này. Nhà thờ đã ăn chận của gia đình tôi mỗi tháng hơn hai ngàn đô. Tôi van xin các anh chị, nói với các ông, các bà trong nhà thờ, cho chúng tôi lại số tiền đó, để tôi làm vốn, ra làm ăn buôn bán, kiếm sống, chứ đi làm cu-li cho hãng sửa tàu, cho khách sạn, thì biết bao giờ mới ngóc đầu lên nỗi? Chúng tôi van lạy các anh chị, xin giúp chúng tôi, và vì thương các cháu nhỏ ...”

    Cả bốn người chúng tôi bàng hoàng, không tin vào lổ tai mình. Chị vợ anh Hy ấp úng hỏi lại:

    "Nhà thờ ăn chận tiền của anh chị? Mỗi tháng hơn hai ngàn ? Sao? Anh nói rõ hơn được không?”

    Anh Phàn gằn giọng, nói lớn, rõ ràng:

    "Đừng vờ vĩnh. Gia đình tôi có tám người, nhà nước Mỹ cấp cho, ít nhất cũng trên ba ngàn bạc mỗi tháng. Cứ cho tiền chợ, tiền nhà mà mấy ông bà bảo trợ chi cho chúng tôi, chừng mấy trăm là cùng, thì cũng còn hơn hai ngàn đồng mỗi tháng, chứ có ít đâu. Nếu không ăn chận, thì tiền đó để đâu, vào túi ai?”

    Chị vợ anh Hy tái mặt, hỏi:

    “Ai nói với anh điều đó? “

    "Chúng tôi biết rõ lắm, không cần ai nói cả.”

    Anh Hy ôn tồn giải thích rằng, anh cũng đã đến đây trước. Anh rõ thủ tục. Ban đầu hội nhà thờ thuê giúp nhà, cho tiền chợ, mua cho đủ các thứ cần dùng hàng tháng. Rồi họ kiếm việc cho mình làm. Khi đã có lương tiền, thì mình phải tự túc lấy. Đó là chính sách của nhà thờ.”

    Mặt anh chị Phàn và cả cụ già đều sậm lại. Giọng chị Phàn chua ngoét:

    "Chúng tôi đâu có ngu. Tôi biết rõ hai ông bà Hy nầy là những con cò mồi của nhà thờ. Biết rõ đến mười mươi.”

    Anh Hy run lên vì giận, chị Hy thì mặt đỏ bừng, thét lên the thé:

    “Làm cò mồi để được cái gì? Ăn nói như những kẻ vô ân bạc nghĩa. Nói như vậy mà không biết tự xấu hổ sao? Giao thiệp với hạng người nầy thêm xấu hổ, thêm nhục nhã cho cái giống nòi mình mà thôi.”

    Chị Hy kéo anh chồng đứng dậy, giận dữ ra về. Anh Hy quay lại nói với anh Phàn:

    "Tuần tới, ông tự kiếm lấy phương tiện mà đi làm. Tôi không muốn làm mọi cho ông nữa.”

    Vợ tôi cũng giận và muốn ra về theo vợ chồng anh Hy. Tôi làm dấu, bảo ngồi yên. Anh Phàn phân trần tiếp:

    “Chuyện trợ cấp cho người mới định cư là luật của nhà nước Mỹ. Rõ ràng, không ai chối được. Chúng tôi đã biết rõ từ hồi còn ở trại tị nạn Hồng Kông. Nay nhà thờ ăn chận tiền, rõ ràng thế, mà còn chối loanh quanh.”

    Tôi thấy tội nghiệp cho vợ chồng anh Phàn, vì hiểu lầm, nên có nhiều suy nghĩ và hành động đáng tiếc. Tôi cũng không dám nói thẳng là anh đã hiểu lầm luật lệ.

    Biết là khó mà giải thích cho gia đình anh Phàn hiểu, không chừng càng giải thích, thì càng gây thêm nhiều ngộ nhận khác. Tôi ngồi im một lúc suy nghĩ. Anh Phàn nói tiếp:

    "Bây giờ chỉ còn hai anh chị. Tôi nhờ anh chị ‘báo cáo’ lại cho nhà thờ những đòi hỏi chính đáng của gia đình chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng.”

    Vợ tôi nghe cái giọng điệu giống hệt những anh cán bộ trong các buổi học tập chính trị bên nhà, thì phì cười, hết giận. Vợ tôi nói:

    "Xem bộ mấy ông mấy bà trong họ đạo nầy dư công rỗi nghề gớm nhỉ. Mình ở xa ngàn dặm, không bà con, không quen biết, không ân nghĩa, không nợ nần, lại nai lưng ra bảo lảnh mình vào đây, cho nhà ở, cho cơm ăn, cho áo mặc, lo cho đủ thứ. Lại bị ghét bỏ, thật đáng đời. Của nợ giữa đường mà mang cõng lên lưng. Anh chị xem, không biết họ bảo lảnh cho mình, thì được lợi lộc gì nhĩ ? “

    Hai vợ chồng anh Phàn cùng nói lớn một lúc, với giọng chắc nịch:

    "Để lập thành tích chứ để làm gì. Ai mà không biết.”

    Vợ tôi bật cười ha hả và nói tiếp:

    "Đúng. Lập thành tích dâng lên đảng !”

    Tôi ôn tồn bảo vợ tôi đừng đùa nghịch. Tôi hứa sẽ cố gắng giúp hai anh chị Phàn và gia đình. Chữ hứa của tôi, trong thâm tâm, là hứa cố gắng giúp anh chị giải tỏa những hiểu lầm đáng tiếc, nhưng có lẽ anh chị Phàn tưởng là tôi sẽ đến nhà thờ đòi tiền “ăn quỵt” giúp cho anh chị.

    Chúng tôi về, ghé lại nhà anh chị Hy. Anh chị Hy chưa nguôi giận. Chị vợ anh Hy nói:

    "Chúng nó là thứ vô ân bạc nghĩa, không biết đạo lý làm người. Khi nào cũng ngoác miệng ra nói lời dóc lác, đao to búa lớn, nào là đấu tranh, nào là thắng lợi, kiên quyết. Nghe mà ngứa lỗ tai, chịu không nỗi.”

    Vợ tôi nói:

    "Họ còn cho rằng, nhà thờ muốn lập thành tích nên bảo lảnh họ đến đây.”

    Anh Hy phì cười, nói:

    "Mấy ông bà trong họ đạo mà nghe câu nầy, chắc tức mà hộc máu chết hết không còn một mống. Thôi, anh chị cũng nên tránh xa gia đình anh Phàn, để tránh bực mình và rắc rối về sau. Những hạng người nầy, không chơi được.”

    Tôi nói:

    "Thôi, anh chị bớt giận. Tất cả cũng do hiểu lầm. Người ngoài, không cùng màu da, không cùng dòng giống, mà họ còn tận tình giúp đở. Mình không giúp nhau, thì làm sao cho lòng yên ổn được.”

    "Nhưng họ nói cái giọng khó nghe của ‘bọn dân tộc anh hùng’, ngứa tai chịu không nỗi.”

    Tôi dịu giọng:

    "Họ cũng là nạn nhân dài hạn của chế độ. Họ còn đáng thương hơn chúng ta nữa, vì chịu đã chịu đựng chế độ lâu dài hơn hai mươi mấy năm. Nếu chúng ta sống trong hoàn cảnh đó, được giáo dục theo lối đó, thì không chừng chúng ta tệ hại hơn anh chị Phàn bây giờ. Anh chị đừng buồn nữa. Thứ hai nầy, anh cứ đến chở anh Phàn đi làm như thường nhé. Chúng ta không thương nhau, thì ai thương chúng ta được?”

    Anh Hy im lặng. Chúng tôi ra về. Không biết nghĩ sao, vào tối Chủ Nhật, anh Hy nhờ tôi điện thoại báo cho anh Phàn biết là sáng thứ Hai, sẽ đến đón anh Phàn đi làm như thường lệ. Tôi nghe mà mừng. Nhưng anh Hy và anh Phàn vẫn còn buồn nhau. Cùng đi cùng về mà giữ im lặng, không nói một lời. Sau nầy, anh Phàn nói với tôi rằng: “Bố bảo, thằng Hy cũng không dám thôi đưa rước tôi đi làm. Nó còn phải rình mò, dò xét tôi, để báo cáo cho nhà thờ nữa chứ.”

    Mỗi sáng Chủ Nhật, các ông bà Mỹ đến chở toàn gia đình anh Phàn đi nhà thờ xem lễ. Với ý nghĩa làm ơn, làm phước, cứu vớt linh hồn của một gia đình ngoại đạo tội nghiệp, chưa biết đến danh Chùa Trời, đem ơn phước đến cho họ. Nhưng gia đình anh Phàn cắn răng chịu đi nhà thờ, là để làm ơn cho các ông bà Mỹ, làm họ vui lòng, may ra họ nghĩ lại mà trả lui số tiền họ đã ăn chận. Chứ đến nhà thờ, theo anh Phàn nói, chỉ nghe xi-lô xi-la không biết họ nói gì, buồn ngủ lắm, ngồi lâu mỏi lưng, tê chân. Anh Phàn nói với tôi rằng: "Mấy ông bà Mỹ sang trọng, giàu có nầy, nhưng keo kiệt không ai bằng. Mỗi khi lễ xong, có người cầm cái vợt đi thu tiền, tôi thấy họ chỉ cúng vào vợt tờ bạc một đồng thôi. Để cho họ xấu hổ, nhục nhã, khi nào tôi cũng bỏ vào vợt mười đồng.” Tôi chỉ cười, không dám có ý kiến.

    Một hôm anh Phàn lội tuyết qua nhà tôi vào buổi tối, đem tặng một gói trà Tàu bèo nhèo mà anh đã mua từ Hồng Kông. Sau một vài câu chuyện vu vơ, anh lôi trong túi ra một xấp điện tín có mười bốn tờ, đưa cho tôi xem, và hỏi những món hàng ghi trong điện tín có thể mua ở đâu, làm sao tìm ra tiệm bán giá rẻ. Tôi lật từng trang điện tín từ Hải Phòng, Hà Nội, Móng Cáy điện qua, do nhiều người khác nhau đành đi, yêu cầu gởi những món đồ gia dụng như máy nghe nhạc, máy chụp hình, xe đạp đua, vải vóc, bột ngọt, thuốc trụ sinh và những món linh tinh khác nữa. Anh nói:

    “Bên nhà tưởng tôi qua đây đi ăn cướp tiền của thiên hạ anh ạ. Tiền đâu mà đòi hỏi đủ thứ như thế nầy? Tôi cũng nhức đầu về mấy cái điện tín và thơ từ liệt kê dài lòng thòng các món hàng họ đòi hỏi. Điên lên được đấy chứ.”

    Tôi an ủi anh:

    "Bên nhà họ khổ quá, mình giúp đở được ít nhiều chi, thì giúp trong khả năng của mình. Anh lo buồn làm chi cho khổ tâm vô ích.”

    "Người ta tưởng qua đến Mỹ là hốt tiền thiên hạ như hốt lá vàng. Mỹ nó ngu cả hay sao? “

    Tôi hứa khi nào rảnh, sẽ lái xe đưa anh lên Chicago, tìm các tiệm bán hàng cần thiết để anh dò hỏi giá cả. Anh hỏi vay tôi năm trăm đồng, có tiền lời mười phân, và sẽ hoàn trả lại khi lảnh được tiền trợ cấp. Tôi cười bảo anh:

    "Để tôi bàn lại với vợ tôi, thuyết phục vợ cho anh vay. Vì hầu bao trong gia đình do các bà nắm giữ, và giữ chặt lắm. Mỗi ngày tôi phải ngữa tay xin tiền quà, tiền xăng. Và nếu có cho anh vay, thì cũng không dám lấy lời. Ở Mỹ mà cho vay cắt cổ, thì cũng dễ vác chiếu ra tòa lắm.”

    "Tiền lời là do tôi đề xuất, và bằng lòng, chứ anh có ép tôi đâu? Anh tự quyết định cho tôi vay không được sao? Các anh yếu đuối quá, anh Hy cũng vậy, để cho vợ lấn lướt, qua mặt. ”

    Tôi cười, nói đùa:

    "Đàn ông miền Nam chúng tôi không được dũng cảm như các anh. Mà khi ở trên đất Mỹ nữa, thì chúng tôi càng xìu như sợi bún thiu.”

    Làm việc được bốn tháng, anh Phàn bỏ việc mà không thông báo cho công ty, nên anh bị sa thải. Mấy người bảo trợ trong nhà thờ đến nhà anh tìm hiểu sự việc để giúp đở. Họ kêu vợ chồng anh chị Hy đi thông dịch, nhưng anh chị Hy từ chối. Họ đến nhờ vợ tôi. Nhóm nhà thờ gồm năm ông bà, đi hai xe. Họ hỏi lý do thôi việc. Anh Phàn lừng khừng đáp:
    "Không muốn làm việc nữa, thì nghỉ.”

    "Thế anh đã kiếm ra việc làm khác chưa ?”

    "Chưa”

    "Không có việc làm, lấy tiền đâu chi tiêu, thuê nhà, ăn uống?”

    "Tôi không biết!”

    "Tại sao anh không muốn làm việc đó nữa? Có vấn đề gì không? “

    "Không có vấn đề chi cả. “

    "Anh có muốn nhà thờ tìm việc khác cho anh không?”

    "Chưa muốn. Khoan đã.”

    Mấy ông bà trong nhà thờ lắc đầu, nhìn nhau, rồi nhìn anh Phàn với ánh mắt thương hại. Các ông bà hỏi, bây giờ anh muốn gì không? Anh nhờ vợ tôi nói, là muốn nhà thờ trả lại cho anh số tiền hơn hai mươi ngàn mà họ đang giữ giúp, để anh tính kế làm ăn. Vợ tôi tái mặt, không biết phải nói làm sao, để hội nhà thờ không bất bình. Ngập ngừng, vợ tôi nói trại ra rằng, anh Phàn tha thiết muốn biết những chi phí của nhà thờ đã chi tiêu cho anh, và ai đã đóng góp bao nhiêu, quỷ nhà thờ bao nhiêu, và nhà nước cho bao nhiêu, để anh tri ân họ. Các ông bà khoát tay, bảo là không cần thiết, đừng nghĩ đến, đừng thắc mắc. Vợ tôi năn nỉ, nói rằng, nếu không được biết những điều đó, thì anh Phàn cứ thắc mắc mãi, không yên tâm để làm ăn. Các ông bà cười sung sướng, thoải mái.

    Cuộc đấu tranh kiên cường của anh Phàn gần thành công mà anh không biết. Khi nhà thờ thấy anh chị đều thôi việc, không chịu đi làm nữa, họ cũng quýnh lên, lo lắng lắm. Họ đạo cũng nghèo, tín hữu cũng không giàu có chi, không thể đài thọ dài ngày cho cái gia đình đông đảo nầy được. Các ông bà bảo trợ chịu thua, định ngày đem gia đình anh Phàn lên Sở Xã Hội xin trợ cấp của quận hạt. Nhưng anh Phàn loan báo rằng, anh sẽ dời nhà về Oklahoma City. Cả họ đạo thở phào. Anh Phàn có nhiều bạn bè quen biết trong trại tị nạn cũ, họ đã định cư ở Oklahoma, và biết rành mạch cách xin trợ cấp xã hội.

    Anh Phàn nhờ tôi mua vé máy bay cho cả gia đình về Oklahoma City, đồng thời dàn xếp xe cộ để chở anh chị ra phi trường. Ông Gary và bà Eve hứa thuê một chiếc xe có thùng sau lớn, để chở hành lý cồng kềnh của gia đình anh. Tôi và anh Hy, hai xe sẽ chở người trong gia đình. Anh Phàn nói nhỏ với tôi rằng, trước khi đi anh sẽ đốt căn nhà để trừ vào số tiền nhà thờ đã ăn quỵt của anh. Ăn của ai thì được, ăn của anh thì nuốt không trôi đâu. Tôi can gián, và dọa anh rằng FBI của Mỹ giỏi lắm, thế nào họ cũng điều tra ra. Và tội chi đi tù cho khổ thân, con cái không ai nuôi. Mình đến đây, đời sống còn dài, còn sức thì còn làm ra tiền. Vã lại, có đốt căn nhà, mình cũng không được đồng xu nào, chưa chắc đã hả được cái tức tối, mà mua thêm lo lắng vào thân. Lỡ cháy lan qua nhà lân cận, thì thêm tội nghiệp những người láng giềng tốt của anh. Anh nói rằng, nếu không đốt được nhà, thì trước giờ đi, anh sẽ phá cho tan tành, đập vỡ bồn cầu, nhà tắm, bẻ ống nước, phá tủ lạnh, đập bếp. Tôi cười bảo rằng, anh cứ lo đi trước, sau khi anh đến Oklahoma rồi, tôi sẽ thay anh làm các việc đó. Đừng làm sớm, mà họ giữ anh lại, không đi được, mất toi tiền máy bay.

    Ngày anh Phàn ra phi trường, tôi và anh Hy xin nghỉ việc, thay phiên nhau đến nhà anh, lấy cớ là phụ soạn hành lý, nhưng thật tâm là để ngăn cản anh phá hoại căn nhà. Khi cả nhà lên xe hết, anh Hy chạy vào một vòng bên trong nhà, xem có gì hư hại không. Anh Hy ra xe và đưa hai ngón tay lên làm một vòng tròn, cho tôi biết là mọi sự tốt đẹp. Tôi thở phào.

    Trong khi chờ máy bay, anh Phàn nhờ tôi nói với ông Gary và bà Eva rằng, qua Oklahoma, anh sẽ gời tiền, mua vé máy bay, mời cả họ đạo của ông bà qua chơi, anh sẽ bao tiền săn ở, bao tất. Tôi dịch khác đi, nói là anh biết ơn hai ông bà lắm, và không bao giờ quên cái ơn bảo bọc lúc ban đầu nầy. Hai ông bà nghe xong cảm động, ôm chầm lấy anh chị mà nói cám ơn rối rít. Anh Phàn thì tưởng hai ông bà mừng vì được anh hứa cho vé máy bay, cả họ đạo sẽ được đi chơi.

    Khi đưa gia đình anh ra máy bay, chúng tôi ôm nhau thân thiết, và mắt anh Phàn cũng rươm rướm, nói nhỏ với tôi, giọng run run rằng, thôi đừng phá căn nhà nữa. Tôi gật đầu.

    Đưa gia đình anh Phàn đi rồi, anh Hy nói với tôi rằng: "Thế mà tôi cũng thấy buồn, trống trải, như mất mát một cái gì đó. Bây giờ chỉ cỏn hai gia đình mình trong thành phố nầy thôi.”. Trong lòng tôi cũng thấy buồn.

    ****

    Mười sáu năm sau, kể từ khi đưa gia đình anh Phàn về Oklahoma, tôi tình cờ gặp lại anh trong một tiệc cưới tại Houston, Texas. Anh nhận ra tôi, mà tôi không nhận ra anh. Vì bây giờ anh mập mạp, trắng hồng, ăn mặc chững chạc, không còn dáng quê mùa như xưa. Chị vợ anh thì sang trọng trong bộ áo kim tuyến lóng lánh, như cô ca sĩ. Anh ôm chầm lấy tôi, hỏi có còn nhớ ra anh là ai không. Anh nói: “Phàn đây, Phàn ở Morris, Illinois đây mà.” Tôi cũng mừng vui gặp lại người quen biết xưa. Anh xin chuyển bàn, để vợ chồng anh ngồi cạnh chúng tôi mà hàn huyên. Anh cho biết ở Oklahoma được hai năm, thì dọn về Houston, bây giờ cả hai vợ chồng đều làm việc cho một hãng sản xuất đồ nhựa. Suốt hơn mười mấy năm anh làm hai việc toàn thời gian, mỗi đêm chỉ ngủ năm sáu giờ thôi. Ngày nghỉ thì đi sửa chửa nhà cửa, ống nước. Hai cháu gái lớn đã có gia đình. Cháu trai kế thì vừa tốt nghiệp đại học. Bây giờ anh chị Phàn có ba căn nhà, một căn để ở, hai căn cho thuê.

    Tôi mừng cho anh. Anh nói với giọng thành thật:

    "Hồi mới qua, chắc anh chị buồn chúng tôi lắm. Nhiều năm sau tôi còn ân hận, và xấu hổ vì chuyện xưa. Bị tin tức sai lạc, tôi hiểu lầm, làm nhiều chuyện lố lăng, kỳ cục, bậy bạ. Lại ăn nói ngang ngược. Tôi nhớ ơn anh chị, và cả vợ chồng anh Hy, chịu đựng được chúng tôi, mà không đấm cho vỡ mồm, hộc máu mũi. Càng lâu, tôi càng thấm thía cái câu ‘Bầu bí một giàn’ của anh Hy nói ngày xưa.”

    Chị vợ anh Phàn cười vui vẻ, nói tiếp:

    "Ông nhà tôi thay đổi nhiều lắm rồi. Nhưng không bỏ được cái phét lác đã ăn sâu vào máu. Cứ một tấc thấu trời.”

    Chúng tôi cùng cười với nhau. Tôi nói đùa:

    "Nếu phét lác mà không hại đến ai, thì cứ để anh phét lác cho sướng cái miệng. “

    Anh Phàn ôm lấy vai tôi và lắc lắc, cười vui vẻ.
  4. Sự hiểu lầm có thể làm cho con người ta mất đi vĩnh viễn 1 thứ gì đó mà ta rất yêu quý, để rồi, khi nhận ra thì đã quá muộn...

    Có một chàng trai đã gấp 1.000 con hạc giấy tặng người anh yêu. Mặc dù lúc đó anh chỉ là một nhân viên quèn trong công ty, tương lai chẳng có vẻ gì sáng lạng nhưng họ vẫn luôn rất hạnh phúc bên nhau.

    Rồi cho đến một hôm người yêu của anh nói rằng nàng sẽ đi Paris, sẽ không bao giờ còn có dịp gặp lại anh nữa. Nàng rất lấy làm tiếc về điều này và an ủi chàng rằng rồi nỗi đau của chàng cũng sẽ trở thành dĩ vãng. Hãy để cho nó ngủ yên trong ký ức của mỗi người.

    Chàng trai đồng ý nhưng trái tim tan nát. Anh lao vào làm việc quên cả ngày đêm, cuối cùng anh đã thành lập được công ty của riêng mình. Nó không chỉ giúp anh vươn đến những điều mà trước đây vì thiếu nó mà ngưới yêu đã rời bỏ anh, nó còn giúp anh xua đuổi khỏi tâm trí mình một điều gì đó của những tháng ngày xưa cũ.

    Một ngày mưa tầm tã, trong lúc lái xe, chàng trai tình cờ trông thấy một đôi vợ chồng già cùng che chung một chiếc ô đi trên hè phố. Chiếc ô không đủ sức che cho họ giữa trời mưa gió. Chàng trai nhận ngay ra đó là cha mẹ của cô gái ngày xưa. Tình cảm trước đây anh dành cho họ dường như sống lại.

    Anh chạy xe cạnh đôi vợ chồng già với mong muốn họ nhận ra anh. Anh muốn họ thấy rằng anh bây giờ không còn như xưa, rằng anh bây giờ đã có thể tự mình tạo dựng một công ty riêng, đã có thể ngồi trong một chiếc xe hơi sang trọng. Vâng, chính anh, chính người mà trước đây con gái họ chối từ đã làm được điều đó.

    Đôi vợ chồng già cứ lầm lũi bước chậm rãi về phía nghĩa trang. Vội vàng, anh bước ra khỏi xe và đuổi theo họ. Và anh đã gặp lại người yêu xưa của mình, vẫn với nụ cười dịu dàng, đằm thắm nàng từng đem đến cho anh, đang dịu dàng nhìn anh từ bức chân dung trên bia mộ.

    Cạnh cô là món quà của anh, những con hạc giấy ngày nào, đến lúc này anh mới biết một sự thật: Nàng đã không hề đi Paris. Nàng đã mắc phải căn bệnh ung thư và không thể qua khỏi.

    Nàng đã luôn tin rằng một ngày nào đó anh sẽ làm được nhiều việc, anh sẽ còn tiến rất xa trên bước đường công danh. Và nàng không muốn là vật cản bước chân anh đến tương lai của mình. Nàng mong ước cha mẹ sẽ đặt những con hạc giấy lên mộ nàng, để một ngày nào đó khi số phận đưa anh đến gặp nàng một lần nữa, anh có thể đem chúng về bầu bạn.

    Chàng trai bật khóc.

    Chúng ta cũng vậy, như chàng trai kia, cũng chỉ nhận ra giá trị lớn lao về sự có mặt của một người mà cuộc đời đã ban tặng cho cuộc sống của chúng ta khi một sáng mai thức giấc, người ấy đã không còn ở bên ta nữa. Có thể họ đã chẳng yêu bạn như cách mà bạn mong đợi ở họ nhưng điều này không có nghĩa rằng họ không dâng hiến tình yêu của họ cho bạn bằng tất cả những gì họ có.

    Một khi bạn đã yêu, bạn sẽ mãi mãi yêu. Những gì trong tâm trí bạn có thể sẽ ra đi, nhưng những gì trong tim bạn thì mãi mãi ở lại.

    Sưu tầm
  5. Triết lý.....

    Trước miếu Quan Âm mỗi ngày có vô số người tới thắp hương lễ Phật, khói hương nghi ngút.

    Trên cây xà ngang trước miếu có con nhện giăng tơ, mỗi ngày đều ngập trong khói hương và những lời cầu đảo, nhện dần có Phật tính. Trải nghìn năm tu luyện, nhện đã linh.

    Một ngày, bỗng Phật dạo đến ngôi miếu nọ, thấy khói hương rất vượng, hài lòng lắm. Lúc rời miếu, ngài vô tình ngẩng đầu lên, nhìn thấy nhện trên xà.

    Phật dừng lại, hỏi nhện:

    "Ta gặp ngươi hẳn là có duyên, ta hỏi ngươi một câu, xem ngươi tu luyện một nghìn năm nay có thật thông tuệ chăng. Ðược không?"

    Nhện gặp được Phật rất mừng rỡ, vội vàng đồng ý. Phật hỏi:

    "Thế gian cái gì quý giá nhất?"

    Nhện suy ngẫm, rồi đáp:

    "Thế gian quý nhất là những gì không có được và những gì đã mất đi!".

    Phật gật đầu, đi khỏi.

    Lại một nghìn năm nữa trôi qua, nhện vẫn tu luyện trên thanh xà trước miếu Quan Âm, Phật tính của nhện đã mạnh hơn.

    Một ngày, Phật đến trước miếu, hỏi nhện:

    "Ngươi có nhớ câu hỏi một nghìn năm trước của ta không, giờ ngươi đã hiểu nó sâu sắc hơn chăng?"

    Nhện nói:

    "Con cảm thấy trong nhân gian quý nhất vẫn là "không có được" và "đã mất đi" ạ!"

    Phật bảo:

    "Ngươi cứ nghĩ nữa đi, ta sẽ lại tìm ngươi."

    Một nghìn năm nữa lại qua, có một hôm, nổi gió lớn, gió cuốn một hạt sương đọng lên lưới nhện. Nhện nhìn giọt sương, thấy nó long lanh trong suốt sáng lấp lánh, đẹp đẽ quá, nhện có ý yêu thích. Ngày này nhìn thấy giọt sương nhện cũng vui, nó thấy là ngày vui sướng nhất trong suốt ba nghìn năm qua. Bỗng dưng, gió lớn lại nổi, cuốn giọt sương đi. Nhện giây khắc thấy mất mát, thấy cô đơn, thấy đớn đau.

    Lúc đó Phật tới, ngài hỏi:

    "Nhện, một nghìn năm qua, ngươi đã suy nghĩ thêm chưa: Thế gian này cái gì quý giá nhất?"

    Nhện nghĩ tới giọt sương, đáp với Phật:

    "Thế gian này cái quý giá nhất chính là cái không có được và cái đã mất đi."

    Phật nói:

    "Tốt, nếu ngươi đã nhận thức như thế, ta cho ngươi một lần vào sống cõi người nhé!"

    Và thế, nhện đầu thai vào một nhà quan lại, thành tiểu thư đài các, bố mẹ đặt tên cho nàng là Châu Nhi.

    Thoáng chốc Châu Nhi đã mười sáu, thành thiếu nữ xinh đẹp yểu điệu, duyên dáng. Hôm đó, tân Trạng Nguyên Cam Lộc đỗ đầu khoa, nhà vua quyết định mở tiệc mừng sau vườn ngự uyển.

    Rất nhiều người đẹp tới yến tiệc, trong đó có Châu Nhi và Trường Phong công chúa.

    Trạng Nguyên trổ tài thi ca trên tiệc, nhiều tài nghệ khiến mọi thiếu nữ trong bữa tiệc đều phải lòng. Nhưng Châu Nhi không hề lo âu cũng không ghen, bởi nàng biết, chàng là mối nhân duyên mà Phật đã đưa tới dành cho nàng.

    Qua vài ngày, tình cờ Châu Nhi theo mẹ lên miếu lễ Phật, cũng lúc Cam Lộc đưa mẹ tới miếu. Sau khi lễ Phật, hai vị mẫu thân ngồi nói chuyện. Châu Nhi và Cam Lộc thì tới hành lang tâm sự, Châu Nhi vui lắm, cuối cùng nàng đã có thể ở bên người nàng yêu, nhưng Cam Lộc dường như quá khách sáo.

    Châu Nhi nói với Cam Lộc:

    "Chàng còn nhớ việc mười sáu năm trước, của con nhện trên xà miếu Quan Âm chăng?"

    Cam Lộc kinh ngạc, hỏi:

    "Châu Nhi cô nương, cô thật xinh đẹp, ai cũng hâm mộ, nên trí tưởng tượng của cô cũng hơi quá nhiều chăng?". Nói đoạn, chàng cùng mẹ chàng đi khỏi đó.

    Châu Nhi về nhà, nghĩ, Phật đã an bài mối nhân duyên này, vì sao không để cho chàng nhớ ra chuyện cũ, Cam Lộc vì sao lại không hề có cảm tình với ta? Vài ngày sau, vua có chiếu ban cho Trạng Nguyên Cam Lộc sánh duyên cùng Công Chúa Trường Phong, Châu Nhi được sánh duyên với Thái Tử Chi Thụ.

    Tin như sấm động giữa trời quang, nàng không hiểu vì sao Phật tàn nhẫn với nàng thế.

    Châu Nhi bỏ ăn uống, nằm khô nhắm mắt nghĩ ngợi đau đớn, vài ngày sau linh hồn nàng sắp thoát khỏi thân xác, sinh mệnh thoi thóp.

    Thái Tử Chi Thụ biết tin, vội vàng tới, phục xuống bên giường nói với nàng:

    "Hôm đó, trong những cô gái giữa bữa tiệc sau vườn thượng uyển, ta vừa gặp nàng đã thấy yêu thương, ta đã khốn khổ cầu xin phụ vương để cha ta cho phép cưới nàng. Nếu như nàng chết, thì ta còn sống làm chi."

    Nói đoạn rút gươm tự sát.

    Và giây khắc ấy Phật xuất hiện, Phật nói với linh hồn sắp lìa thể xác Châu Nhi:

    "Nhện, ngươi đã từng nghĩ ra, giọt sương (Cam Lộc) là do ai mang đến bên ngươi chăng? Là gió (Trường Phong) mang tới đấy, rồi gió lại mang nó đi. Cam Lộc thuộc về Công Chúa Trường Phong, anh ta chỉ là một khúc nhạc thêm ngắn ngủi vào sinh mệnh ngươi mà thôi.

    Còn Thái Tử Chi Thụ chính là cái cây nhỏ trước cửa miếu Quan Âm đó, anh ta đã ngắm ngươi ba nghìn năm, yêu ngươi ba nghìn năm, nhưng ngươi chưa hề cúi xuống nhìn anh ta. Nhện, ta lại đến hỏi ngươi, thế gian này cái gì là quý giá nhất?"

    Nhện nghe ra sự thật, chợt tỉnh ngộ, nàng nói với Phật:

    "Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ!"

    Vừa nói xong, Phật đã đi mất, linh hồn Châu Nhi quay lại thân xác, mở mắt ra, thấy thái tử Chi Thụ định tự sát, nàng vội đỡ lấy thanh kiếm...

    Câu chuyện đến đây là hết, bạn có hiểu câu cuối cùng mà nàng Châu Nhi nói không?

    "Thế gian này cái quý nhất không phải là thứ không có được và đã mất đi, mà là hạnh phúc hiện đang nắm giữ !"

    Trong suốt đời ta sẽ gặp hàng nghìn hàng vạn loại người.

    Ðể yêu một người thì không cần cố gắng, chỉ cần có "duyên" là đủ.

    Nhưng để tiếp tục yêu một người thì phải cố gắng.

    Tình yêu như sợi dây, hai người cùng kéo hai đầu, chỉ cần một người kéo căng hoặc bỏ lơi, tình yêu ấy sẽ căng thẳng hoặc chùng xuống.

    --- Có muốn nghe tôi kể câu chuyện ấy lần nữa không…
    Ngày xưa, trước miếu Quan Âm ...
  6. Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ
    Bắc gọi Lọ, Nam kêu Chai
    Bắc Mang Thai, Nam Có Chửa
    Nam Xẻ Nửa, Bắc Bổ Đôi
    Ôi! Bắc quở Gầy, Nam than Ốm
    Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
    Bắc định Đến Muộn, Nam liền la Trễ
    Nam mần Sơ Sơ, Bắc nàm Nấy Nệ
    Bắc Lệ Tuôn Trào, Nam Chảy Nước Mắt
    Nam Bắc Vạc Tre, Bắc Kê Lều Chõng
    Bắc nói trổng Thế Thôi, Nam bâng quơ Vậy Đó
    Bắc đan Cái Rọ, Nam làm Giỏ Tre,
    Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
    Nam Cãi bai bãi, Bắc Lý Sự ào ào
    Bắc vào Ô Tô, Nam vô Xế Hộp
    Hồi hộp Bắc Hãm Phanh, trợn tròng Nam Đạp Thắng
    Khi nắng Nam Mở Dù, Bắc lại Xoè Ô
    Điên rồ Nam Đi Trốn, nguy khốn Bắc Lánh Mặt
    Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm Lại
    Bắc là Quá Dại, Nam thì Ngu Ghê
    Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá
    Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy U
    Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng
    Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh
    Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
    Bắc thích cứ Vồ, Nam ưng là Chụp
    Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vy
    Nam nói: Mày Đi! Bắc hô: Cút Xéo.
    Bắc bảo: Cứ Véo! Nam: Ngắt nó đi.
    Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
    Nam kêu: Muốn Ói, Bắc bảo: Buồn Nôn !
    Bắc gọi Tiền Đồn, Nam kêu Chòi Gác
    Bắc mà Khoác Lác, Nam bảo Xạo Ke
    Mưa đến Nam Che, gió ngang Bắc Chắn
    Bắc khen Giỏi Mắng, Nam nói Chửi Hay.
    Bắc nấu thịt Cầy, Nam thui thịt Chó.
    Bắc Vén Búi Tó, Nam Bới Tóc Lên
    Anh Cả Bắc Quên, anh Hai Nam Lú
    Nam: Ăn đi chú, Bắc: Mời anh Xơi!
    Bắc mới Tập Bơi, Nam thời Đi Lội
    Bắc đi Phó Hội, Nam tới Chia Vui
    Thui thủi Bắc kéo Xe Lôi, một mình Xích Lô Nam đạp
    Nam thời Mập Mạp, Bắc cho là Béo
    Khi Nam khen Béo, Bắc bảo là Ngậy
    Bắc quậy Sướng Phê, Năm rên Đã Quá !
    Bắc khoái đi Phà, Nam thường qua Bắc
    Bắc nhắc Môi Giới, Nam liền Giới Thiệu
    Nam ít khi Điệu, Bắc hay Làm Dáng
    Tán mà Không Thật, Bắc bảo là Điêu
    Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là Xạo
    Bắc nạo bằng Gươm, Nam thọt bằng Kiếm
    Nam mê Phiếm, Bắc thích Đùa
    Bắc vua Bia Bọt, Nam chúa La-De
    Bắc khoe Bùi Bùi Lạc rang, Nam: Thơm Thơm Đậu Phọng
    Bắc xơi Na vướng họng, Nam ăn Mãng Cầu mắc cổ
    Khi khổ Nam tròm trèm Ăn Vụng, Bắc len lén Ăn Vèn
    Nam toe toét Hổng Chịu Đèn, Bắc vặn mình Em Chả
    Bắc giấm chua Cái Ả, Nam bặm trợn Con Kia
    Nam mỉa Tên Cà Chua, Bắc rủa Đồ Phải Gió
    Nam Nhậu Nhẹt thịt Chó, Bắc Đánh Chén Cầy tơ
    Bắc vờ vịt Lá Mơ, Nam kêu Lá Thúi Địt
    Đến khi Nam Địt, Bắc hô Đánh Rấm
    Khi thấm, Nam Xách Thùng thì Bắc Bê Sô
    Nam bỏ trong Rương, Bắc tuôn vào Hòm
    Nam lết vô Hòm, Bắc mặc Áo Quan
    Bắc xuýt xoa "Cái Lan Xinh Cực!",
    Nam một mực "Con Lan Đẹp Hết Chê!"
    Phủ phê Bắc Trùm Chăn, no đủ Nam Đắp Mền
  7. Bài diễn văn của ông Steven Jobs đọc trong buổi lễ ra trường của Đại Học Standford.

    Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học.

    Nói một cách trung thực nhất thì thực ra, tôi chưa bao giờ học đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra trong cuộc đời tôi. Chỉ như vậy thôi, không có gì to lớn, chỉ đơn giản là ba câu truyện.

    Câu chuyện thứ nhất là về việc kết nối những dấu chấm

    (Connecting the dots – nối những dấu chấm từ hàng vạn cái chấm hỗn độn - để thấy con đường mình sẽ phải đi)

    Tôi đã bỏ học chỉ sau sáu tháng theo học trường cao đẳng Reed, tôi lưu lại đó tạm thời trong vòng 18 tháng nữa trước khi tôi chính thức rời trường Reed.

    Tại sao tôi lại bỏ học?

    Tôi đã bắt đầu điều đó khi tôi mới được sinh ra. Mẹ ruột của tôi là một nữ sinh viên trẻ, độc thân và bà đã quyết định cho tôi đi làm con nuôi. Bà thực sự muốn tôi được làm con nuôi của những người đã tốt nghiệp đại học. Vì thế, tất cả mọi chuyện đã được sắp đặt để tôi trở thành con nuôi của một cặp vợ chồng luật sư. Tuy nhiên, tất cả chuyện đó đã bị thay đổi ở phút cuối cùng khi tôi vừa cất tiếng khóc chào đời, họ đã đổi ý và muốn nhận một đứa bé gái làm con nuôi chứ không phải tôi.

    Chính vì thế, bố mẹ nuôi của tôi hiện giờ đã nhận được một cú điện thoại vào lúc nửa đêm hỏi có muốn nhận tôi, một đứa bé trai được sinh ra không mong đợi, làm con nuôi hay không. Bố mẹ tôi đã trả lời rằng tất nhiên rồi. Tuy nhiên, sau đó, mẹ ruột của tôi biết được mẹ nuôi tương lai của tôi chưa tốt nghiệp đại học và bố nuôi của tôi chưa tốt nghiệp trung học, bà đã từ chối ký vào giấy tờ giao nhận con nuôi. Một vài tháng sau bà mới đồng ý khi bố mẹ nuôi của tôi hứa sẽ cho tôi đi học đại học.

    17 năm sau, tôi cũng vào đại học, nhưng tôi đã rất ngây thơ khi chọn một trường đại học danh giá ngang hàng với Stanford. Tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi đã phải dành để đóng học phí cho tôi. Sau sáu tháng, tôi chẳng thấy được ích lợi gì của việc học đại học. Tôi chẳng có một câu trả lời nào về việc tôi sẽ làm gì với cuộc đời của mình và cũng chẳng tin rằng trường đại học có thể giúp tôi trả lời câu hỏi đó. Tôi đã tiêu tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi dành dụm phòng khi về hưu vào trường đại học. Vì vậy tôi đã quyết định bỏ học và tin tưởng rằng rồi mọi chuyện cũng sẽ tốt đẹp thôi. Tại thời điểm đó, mọi việc dường như có vẻ rất khó khăn nhưng khi nhìn lại, tôi lại thấy rằng đó là một quyết định đúng đắn nhất của tôi. Giây phút mà tôi bỏ học, tôi đã từ bỏ những môn học mà tôi không hề thích, thay vào đó, tôi bắt đầu tìm hiểu những môn học khác có vẻ như thú vị hơn rất nhiều.

    Mọi chuyện không diễn ra nhẹ nhàng một chút nào. Tôi không có phòng trọ vì thế, tôi phải ngủ nhờ dưới sàn nhà trong phòng trọ của các bạn tôi. Tôi kiếm tiền mua đồ ăn bằng 5$, tiền công trả lại các chai Coca-cola và mối tuần tôi đi bộ 7 dặm qua phía bên kia thành phố để có được một bữa ăn ngon ở trại Hare Krishna. Tôi rất thích những món ăn ở đó. Sau này, tôi mới biết được rằng những gì mà tôi đã phải trải qua khi cố gắng theo đuổi niềm đam mê của mình là vô giá.

    Tôi sẽ lấy một ví dụ cho các bạn:

    Có lẽ ở thời điểm đó, trường Reed là trường duy nhất của cả nước giới thiệu nghệ thuật viết chữ đẹp. Ở tất các các khu học xá, tất cả các poster, tiêu đề của tất cả các tranh vẽ đều được viết tay rất đẹp. Vì tôi đã thôi học và không phải tham gia vào những khóa học bắt buộc thông thường nên tôi đã quyết định tham gia khóa học nghệ thuật viết chữ đẹp. Tôi học cách viết các chữ có nét ở chân, những biến đổi về khoảng cách giữa các nét chữ, học cách trình bầy một bản in lớn sao cho đẹp. Tôi nhận thấy rằng đây là một môn học mang tính nghệ thuật, lịch sử và đẹp một cách tinh vi mà khoa học không thể làm được.

    Những thứ đó dường như chẳng có ý nghĩa thực tế gì cho cuộc sống của tôi. Tuy nhiên, 10 năm sau này, khi chúng tôi đang thiết kế thế hệ đầu tiên của máy điện toán Machintosh, tất cả những điều đó dường như lại trở lại với tôi và chúng tôi đã thiết kế để cài đặt tất cả những mẫu chữ đó vào máy tính, Machintosh là máy điện toán đầu tiên có những mẫu chữ nghệ thuật rất đẹp. Nếu như tôi không tham gia vào khóa học đó ở trường thì Mac sẽ chẳng bao giờ có nhiều phông chữ như vậy. Kể từ khi Windows copy những mẫu chữ đó của Mac thì không có một máy điện toán cá nhân nào không có những phông chữ đó. Nếu tôi không bỏ học và không tham gia vào khóa học viết chữ đẹp thì tất cả các máy điện toán cá nhân bây giờ có thể chẳng có được chúng.

    Tất nhiên là khi tôi đang ở trường đại học thì tôi không thể kết nối những điểm mốc đó khi nó còn đang ở tương lai phía trước. Nhưng 10 năm sau thì những điều đó trở nên rất, rất rõ ràng.

    Một lần nữa tôi muốn nói với các bạn rằng, chúng ta không thể biết những điểm mốc có nối kết với nhau trong tương lai không, các bạn chỉ có thể biết những điều đó khi nhìn lại mà thôi. Vì thế, các bạn hãy tin tưởng rằng, theo một cách nào nó, những điểm mốc sẽ nối kết với nhau trong tương lai của bạn. Các bạn cũng cần phải tin vào một số thứ khác như: Sự quyết tâm, vận mệnh, cuộc sống, nhân quả hoặc bất cứ cái gì. Phương pháp đó chưa bao giờ làm tôi thất vọng và nó đã tạo ra những thay đổi trong cuộc sống của tôi.

    Câu chuyện thứ hai của tôi là về tình yêu và sự mất mát.

    Tôi đã rất may mắn khi tôi đã muốn bắt đầu làm việc từ rất sớm. Woz và tôi đã bắt đầu những trang đầu tiên cho lịch sử của Apple trong nhà xe của bố mẹ tôi khi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi đã làm việc rất chăm chỉ để sau 10 năm, từ chỗ chỉ có 2 người, trong cái nhà xe bé nhỏ, Apple đã phát triển thành một công ty trị giá 2 tỷ đô la Mỹ với hơn 4000 nhân viên. Một năm trước đây, chúng tôi vừa mới bỏ đi sáng tạo đầu tiên của mình, máy điện toán Macintosh và tôi vừa mới bước sang tuổi 30. Sau đó, tôi bị sa thải. Làm sao mà bạn lại có thể bị sa thải bởi một công ty mà bạn đã sáng lập ra nó ? Ồ, khi mà Apple đã phát triển lớn hơn, tôi đã thuê một người mà tôi đánh giá là có khả năng cùng tôi lãnh đạo công ty.

    Khoảng một năm gì đó, tình hình có vẻ rất khả quan. Nhưng sau đó, quan điểm của chúng tôi về tương lai bắt đầu khác nhau, thậm chí chúng tôi còn trở nên bất hòa. Khi có mối bất hòa đó xẩy ra giữa chúng tôi, hội đồng quản trị đã đứng về phía anh ta, và tôi, ở tuổi 30, đã bị sa thải một cách rất rõ ràng. Những điều mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc đời đã biến mất, chúng đã bị phá hủy.

    Trong một vài tháng, tôi đã thực sự chẳng biết phải làm cái gì. Tôi cảm giác rằng mình đã làm cho những thế hệ đi trước tôi thất vọng và rằng tôi đã đánh rơi lá cờ khi nó đã được chuyền đến tay tôi. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce, cố gắng xin lỗi cho việc cư xử không hay của mình. Tôi đã thua một cách rõ ràng và thậm chí, tôi đã có ý định bỏ cuộc. Nhưng có một cái gì đó bắt đầu chầm chậm sáng lên trong tôi. Tôi vẫn rất yêu quý những gì tôi đã tạo ra. Sự việc xẩy ra ở Apple có thay đổi tình yêu đó một chút nhưng trong tôi, tình yêu ấy vẫn còn. Chính vì thế, tôi đã quyết định bắt đầu lại.

    Ngay lúc đó tôi không nhận thấy, nhưng sau này, tôi mới biết rằng việc tôi bị Apple sa thải hóa ra lại là một việc tốt đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Gánh nặng của sự thành công đã được thay thế bằng ánh sáng của sự bắt đầu mới tuy không có điều gì chắc chắn. Tôi đã để cho mình tự do bước vào một quãng đời đầy những sáng tạo của cuộc đời mình.

    Trong khoảng 5 năm sau đó, tôi đã bắt đầu xây dựng công ty NeXT và một công ty khác tên là Pixar. Tôi gặp và đã yêu một người phụ nữ tuyệt vời, chính là vợ tôi sau này. Pixar đã sáng tạo ra phim truyện hoạt họa máy tính đầu tiên trên thế giới, Câu Chuyện Đồ Chơi. Hiện tại, nó đã trở thành xưởng phim hoạt họa thành công nhất trên thế giới. Một sự kiện thay đổi đáng ghi nhớ đã xẩy ra khi Apple mua NeXT, tôi trở lại Apple, những kỹ thuật mà NeXT đã phát triển trở thành nguồn sinh khí cho thời kỳ phục hồi của Apple.

    Tôi và Laurene cũng có một gia đình hạnh phúc.

    Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tất cả những điều đó sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu tôi không bị Apple sa thải. Đó là một viên thuốc đắng nhưng tôi chắc bệnh nhân sẽ rất cần đến nó.

    Đôi khi cuộc sống dường như muốn cố tình đánh ngã bạn. Nhưng hãy đừng mất lòng tin. Tôi biết chắc chắn rằng, điều duy nhất đã giúp tôi tiếp tục bước đi chính là tình yêu của tôi dành cho những gì tôi đã làm. Các bạn phải tìm ra được cái các bạn yêu quý. Điều đó luôn đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc sẽ chiếm phấn lớn cuộc đời bạn và cách duy nhất để thành công một cách thực sự là hãy làm những việc mà bạn tin rằng đó là những việc tuyệt vời. Và cách để tạo ra những công việc tuyệt vời là bạn hãy yêu việc mình làm. Nếu như các bạn chưa tìm thấy nó, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng bỏ cuộc bởi vì bằng trái tim bạn, bạn sẽ biết khi bạn tìm thấy nó. Và cũng sẽ giống như bất kỳ một mối quan hệ nào, nó sẽ trở nên tốt dần lên khi năm tháng qua đi. Vì vậy hãy cố gắng tìm kiếm cho đến khi nào bạn tìm ra được tình yêu của mình, đừng từ bỏ.

    Câu chuyện thứ ba của tôi là về cái chết.

    Khi tôi 17 tuổi, tôi đã đọc được một câu châm ngôn như sau: Nếu bạn sống mỗi ngày đều như ngày cuối cùng của cuộc đời mình, một ngày nào đó bạn sẽ hoàn toàn tin tưởng rằng bạn đã đúng. Câu châm ngôn đó đã để lại ấn tượng rất sâu trong tôi và kể từ đó, trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương mỗi buổi sáng và tự hỏi mình: Nếu ngày hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời tôi, tôi sẽ muốn làm gì và tôi chuẩn bị làm gì hôm nay? Và nếu trong nhiều ngày, câu trả lời vẫn là “không” thì tôi biết, tôi cần phải thay đổi điều gì đó.

    Suy nghĩ rằng mình sắp chết chính là điều quan trọng đã động viên tôi tạo ra cơ hội lớn cho cuộc đời mình. Bởi vì tất cả mọi điều từ sự kỳ vọng của mọi người vào bạn, tất cả mọi niềm tự hào cho đến nỗi sợ phải đổi mặt với sự xấu hổ hay thất bại, tất cả sẽ biến mất khi bạn phải đổi mặt với cái chết. Khi đó, chỉ còn lại điều gì thực sự quan trọng.Ý nghĩ rằng chúng ta đang đối mặt với cái chết, khi chúng ta sắp chẳng còn gì nữa, là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh khỏiviệc chúng ta cảm thấy sợ hãi khi sắp đánh mất đi thứ gì đó.

    Chẳng có lý do gì để bạn không lắng nghe sự mách bảo của trái tim mình.

    Khoảng một năm trước đây tôi đã bị chẩn đoán là bị ung thư. Tôi đã chụp cắt lớp lúc 7:30 sáng và trên phim hiện rõ ràng một khối u trong tuyến tụy. Thậm chí tôi chẳng biết tuyến tụy là cái gì. Các bác sĩ nói với tôi rằng đây là một dạng của ung thư và bệnh này không chữa được, rằng tôi nên chuẩn bị tinh thần mình sẽ
    chỉ sống được từ 3 đến 6 tháng nữa thôi. Bác sĩ của tôi khuyên tôi về nhà và sắp xếp lại các công việc của mình, đó là cách họ nói khi khuyên bệnh nhân chuẩn bị cho cái chết. Điều đó có nghĩa là hãy về và sử dụng mấy tháng còn lại để nói với các con bạn những gì mà bạn dự định sẽ nói với chúng trong khoảng mười năm tới.

    Điều đó cũng có nghĩa là hãy cố gắng kín đáo để gia đình bạn có thể chấp nhận điều này một cách dễ dàng hơn. Điều đó có nghĩa là bạn hãy nói lời vĩnh biệt.

    Tất cả mọi ngày tôi đều sống với sự chẩn đoán đó. Sau đó, vào một buổi tối, tôi tiến hành kiểm tra sinh thiết, họ đút một cái ống qua cổ họng tôi, luồn sâu xuống dạ dày, sâu xuống ruột, ấn một cái kim vào tuyến tụy của tôi để lấy mẫu một số tế bào của khối u. Khi đó, tôi rất bình thản, nhưng vợ tôi, người có mặt lúc đó đã kể với tôi rằng khi các bác sĩ phân tích những tế bào đó dưới kính hiển vi, họ đã reo lên khi phát hiện ra rằng đây là một trường hợp ung thư tuyến tụy hiếm hoi có thể chữa được bằng cách phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và bây giờ tôi đã khỏe lại.

    Đó là cảm giác mà tôi đã có khi phải đối mặt với cái chết và tôi cũng hy vọng tôi sẽ còn cái cảm giác đó một vài thập kỹ nữa. Khi đã từng trải qua điều đó, tôi có thể nói với các bạn một cách chắn chắn hơn là chỉ đơn thuần nhắc đến cái chết như là một điều hữu ích nhưng chỉ hoàn toàn là một nội dung mang tính trí tuệ mà thôi.

    Không ai muốn chết. Thâm chí những người muốn được lên thiên đàng cũng không muốn chết chỉ vì muốn được lên đó. Và cái chết là cái đích mà tất cả chúng ta đều phải đến, không ai trong chúng ta thoát khỏi nó. Và đó là cách mà nó phải diễn ra bởi lẽ cái chết chính là sáng tạo tuyệt vời nhất của cuộc sống. Đó chính là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại đi những người già để mở đường cho những người trẻ. Ngay lúc này, các bạn đang là những người trẻ tuổi, nhưng sẽ không lâu nữa, khi các bạn tốt nghiệp, rồi trở nên già đi, và sẽ bị loại bỏ.

    Tôi xin lỗi vì có vẻ như tôi hơi xúc động nhưng điều đó là sự thật.

    Thời gian của các bạn là có hạn, vì thế đứng lãng phí để sống cho một cuộc đời ai đó. Đừng nhốt mình trong những tín điều nào đó, sống như vậy là sống bằng suy nghĩ của những người khác. Đừng để quan điểm của những người khác làm mờ nhạt đi quan điểm của chính bản thân bạn.

    Điều quan trọng nhất là bạn hãy dũng cảm đi theo sự mách bảo của trái tim và trực giác của mình. Bằng cách nào đó, chúng biết rõ bạn thực sự muốn trở thành cái gì. Những điều khác chỉ là thứ yếu.

    Khi tôi còn trẻ, có một cuốn sách kỳ lạ được xuất bản với cái tên Cẩm Nang Toàn Thế Giới, cuốn sách này giống như kinh thánh của thế hệ chúng tôi. Người sáng tạo ra cuốn sách này là Steward Brand, một nghiên cứu sinh ở Menlo Park, cách đây không xa. Anh ta đã tạo ra nó bằng cảm giác đầy tính thi sĩ của mình. Thời điểm đó là vào cuối thập kỷ 60, trước khi có máy tính cá nhân và máy điện toán xách tay. Tất cả cuốn sách được đánh bằng máy chữ, cắt bằng kéo và bằng máy ảnh. Nó giống như trang Google trên giấy vậy, 35 năm trước khi có trang Google. Nó thực sự mang tính duy tâm, được tạo ra từ những công cụ tinh xảo và những ý tưởng vĩ đại. Steward và các đồng sự của ông đã xuất bản một số tập của Cẩm Nang Toàn Thế Giới và sau đó, họ xuất bản tập cuối cùng. Thời gian đó vào khoảng giữa những năm 70 và tôi chỉ bằng tuổi các bạn bây giờ. Ở trang bìa sau của cuốn sách có in ảnh một con đường vùng nông thôn trong ánh bình minh, điều mà bạn có thể tìm thấy sự an bình nếu bạn là người ưa mạo hiểm. Bên dưới tấm ảnh có dòng chữ: “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ“. Đó là lời tạm biệt của họ khi kết thúc cuốn sách. “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ”. Và tôi luôn cầu chúc điều đó cho chính mình. Ngày hôm nay, các bạn đã tốt nghiệp và chuẩn bị bước vào con đường mới, tôi cầu chúc điều đó cho các bạn.

    Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ.

    Cảm ơn các bạn rất nhiều.
  8. Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò yêu của Khổng Tử.

    Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ … Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.

    May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo … Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm.

    Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi - một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất - phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.

    Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

    Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống … thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …

    Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài … ngửa mặt lên trời mà than rằng:

    “Học trò nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”


    Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về … Nhan Hồi lại luộc rau … Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ …

    Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

    Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng:

    “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước …

    Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa com đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy … cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?


    Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa:

    “Dạ thưa thầy, nên ạ!”


    Khổng Tử lại nói:

    “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”

    Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa:

    “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”

    Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”

    Nhan Hồi thưa:

    “Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: Cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình chung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em …

    Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!"


    Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử than rằng:

    “Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”
  9. Bạch Thư Của Bộ Ngoại Giao Cộng Sản Việt Nam Tố Cáo Trung Cộng Là Kẻ Thù Của Nhân Dân Việt Nam (tháng 10.1979) [Bài 1]

    Xuất xứ: Tinparis

    CSVN thay phiên nhau từng lúc để làm tay sai cho Đế Quốc Sô Viết chống lại Trung Cộng, hoặc ngược lại. Chúng là đệ tử trung thành của "chủ nghĩa Quốc Tế đấu tranh giai cấp" với mục đích chính là "cướp lấy quyền lực" cho Đảng CSVN để cai trị và bóc lột người dân Việt Nam, chứ không phải là phục vụ "Quốc Gia Dân Tộc". Chúng cũng không ngượng mồm đặt điều "vu cáo, bán đứng" Thầy của chúng là Trung Cộng huống chi là đối với cái đám "ngụy hòa" "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam", bọn "Hòa Hợp Hòa Giải", bọn "Dân Chủ Dỏm", v.v... Những điều chúng viết trong Quyển Bạch Thư nầy cốt để tuyên truyền cho chúng thôi, xin quý đọc giả cẩn trọng.

    Quyển Bạch Thư nầy gồm có 5 phần.



    Phần I. VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC CỦATRUNG HOA

    Bản dịch từ Pháp Ngữ: Nhữ Đình Hùng



    Những hành vi công khai thù nghịch của giới lãnh đạo Trung Hoa nhắm vào Việt Nam,mà cuộc chiến gây hấn do bọn chúng tung ra vào ngày 17 tháng hai 1979 đã trở thành một điểm tột đỉnh, đã tạo ra sự kinh ngạc trong công luận thế giới bất ngờ về sư thay đổi đột ngột về chánh sách của Bắc Kinh đối với nước láng giềng phương Nam.

    Thế nhưng chẳng có gì đáng để kinh ngạc. Những thay đổi chợt đến chỉ là một chuỗi lô gích về chiến lược bành trướng đại quốc và bá quyền đại cường được các giới lãnh đạo Trung Hoa theo đuổi trong suốt ba mươi năm qua.

    Người ta không tìm thấy trong một nước nào trên thế giới những nhà lãnh đạo tự xưng "cách mạng" và "xã hội" và có một ngôn ngữ "cực tả" trong khi lại áp dụng một chiến lược cực kỳ phản động và phản cách mạng như giới lãnh đạo Trung Hoa đã làm.

    Không có một nước nào trên thế giới trên bình diện chiến lược mà giới lãnh đạo đã lật ngược liên minh và biến bạn thành thù và đổi thù ra bạn một cách nhanh chóng và triệt để như ở Trung Hoa.

    Giới lãnh đạo Trung Hoa đã coi Liên Bang Sô Viết như kẻ thù nguy hiểm nhất, trước kia là đồng minh to lớn nhất.

    Cố tình quên đi những luận đề của chính họ về chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù nguy hiểm nhất mà bản chất không bao giờ thay đổi, bọn chúng ngày nay đã coi đó như một đồng minh đáng tin cậy và toa rập với nó, đi cả đến chỗ tuyên bố không ngượng ngùng rằng Trung Hoa là OTAN ở phương Đông.

    Hoàn toàn quên lãng lý thuyết của họ ngày hôm qua theo đó phong trào giải phóng quốc gia ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh tác động như một "bão tố cách mạng" đánh trực tiếp vào chủ nghĩa đế quốc và sự thành công cho lý tưởng cách mạng vô sản thế giới tùy thuộc hoàn toàn vào các cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân những lục địa này *,bọn chúng đã nhập vào chủ nghĩa đế quốc trong những hoạt động phá hoại nhắm vào các phong trào giải phóng quốc gia,dành sự yểm trợ cho các lực lượng phản động như nhà độc tài Chí Lợi Pinochet, FNLA và UNITA ở Angola, nhà vua Pahlavi nước Iran vân vân..,và duy trì tập đoàn Pol Pot và Ieng Sary,tác giả diệt chủng chính nhân dân họ. Bọn chúng bóp méo một cách vô liêm sỉ nguồn gốc và bản chất những cuộc đấu tranh giải phóng quốc gia, trình bày những điều đó như hậu quả những cạnh tranh bá quyền giữa những đại cường và không phải là công trình cách mạng của những dân tộc.

    Việc đảo ngược liên minh trên bình diện quốc tế đi đôi với việc thanh trừng tàn bạo và đẫm máu trong đất nước, những cuộc đàn áp những người chống đối, lật đổ từng loạt vai trò giới lãnh đạo. Người nào đó hôm nay được coi như một lãnh tụ cách mạng đích thực ngày hôm sau trở thành kẻ phản bội, kẻ thù của cách mạng Trung Hoa. Có người bị lật đổ rồi được tái lập hai hay ba lần trong khoảng vài năm.

    Chiến lược của giới lãnh đạo Trung Hoa đã có những thay đổi đáng kể,nhưng có một điểm bất di bất dịch: Mục tiêu chiến lược của họ là nhanh chóng làm nước Trung Hoa thành một cường quốc thế giới hàng đầu và thực hiện mục tiêu bành trướng và bá quyền đại quốc đối với những nước khác.

    Trong một khoá họp của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa năm 1956, Chủ Tịch Mao Trạch Đông đã nói: "Chúng ta phải bằng mọi giá trở nên một cường quốc thế giới hàng đầu trong các lãnh vực văn hoá,khoa học kỹ thuật và kỹ nghệ.. Từ đây đến vài thập niên nữa,nếu nước chúng ta không đạt đến đó thì là điều không thể chấp nhận được!".

    Vào tháng Chín 1953, trong một khóa họp của Quân Ủy Đảng, Chủ Tịch Mao Trạch Đông còn nói: "Chúng ta phải chinh phục địa cầu. Đó là mục tiêu của chúng ta."

    Ngay sau khi thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (01 tháng mười 1949), giới lãnh đạo Trung Hoa đã đem ra thực hiện các mục tiêu chiến lược của họ. Mặc dù trì trệ kinh tế của Trung Hoa, ngay từ những năm cuối của (thập niên) năm mươi, họ đã hướng nỗ lực vào việc tạo lập một lực lượng nguyên tử chiến lược và vào giờ đây, họ theo đuổi một cách cuồng nhiệt việc "hiện đại hoá" các lực lượng quân sự,tăng tốc sản xuất và tồn trữ vũ khí nguyên tử. Trên bình diện kinh tế, "bước tiến nhảy vọt tới trước" của năm 1958 và "bốn hiện đại hoá" loan báo cách đây vài năm trình bày một điểm chung: Việc thực hiện mục tiêu chiến lược bành trướng và bá quyền của giới lãnh đạo Trung Hoa.

    * I. VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA TRUNG HOA.

    Trong chiến lược toàn cầu của họ, nếu giới lãnh đạo Trung Hoa coi Liên Bang Sô Viết và Hiệp Chúng Quốc Mỹ như là các đối thủ chính cần phải chiến thắng, Việt Nam bị coi như một đối thủ quan trọng cần phải đè bẹp và xáp nhập để phục vụ các lợi ích chiến lược của họ.

    Ở vào ngưỡng cửa những năm năm mươi, khi mà giới lãnh đạo Trung Hoa thực hiện công trình tái thiết để Trung Hoa nhanh chóng thành một cường quốc thế giới, họ đã phải đối phó ở phiá Bắc cuộc chiến gây hấn của Hoa Kỳ tại Triều Tiên, và ở phía Nam một đe dọa cho sự an ninh của Trung Hoa do cuộc chiến gây hấn của thực dân Pháp tại Việt Nam. Trong lúc đó,bọn đế quốc Mỹ, đầu xỏ bọn đế quốc và sen đầm quốc tế, thi hành một chính sách thù nghịch đối với Trung Hoa mà bọn chúng tìm cách bao vây và cô lập.

    Các cuộc kháng chiến thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Lào và Cam bốt chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp đã đem lại Hội Nghị Genève năm 1954 về Đông Dương. Nước Pháp e ngại một chiến thắng hoàn toàn của nhân dân Việt Nam sẽ đem đến sự sụp đổ của đế quốc thuộc địa. Trung Hoa đã là một nguồn tiếp tế võ khí quan trọng cho Việt Nam trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống lại bọn thực dân Pháp. Giới lãnh đạo Trung Hoa, lợi dụng tình trạng này, tự coi là thương thuyết gia chính với bọn đế quốc Pháp, đi đến chỗ đồng mưu với bọn chúng để, trên cơ sở một thoả hiệp, đạt tới một giải pháp cho cuộc tranh chấp thuận lợi cho Trung Hoa và Pháp, và bất lợi cho nhân dân Việt Nam, Lào và Cam bốt. Bọn họ đã hy sinh quyền lợi của ba dân tộc Đông Dương để bảo đảm an ninh của vùng Nam Trung Hoa, nhằm khống chế với Việt Nam và Đông Dương, cùng lúc thủ vai trò đại cường trong việc giải quyết các vấn đề thế giới nhất là ở Á Châu.

    Tại Hội Nghị Genève năm 1954 mà phần đầu dành cho vấn đề Triều Tiên, Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, đã xuất hiện lần đầu tiên được coi ngang hàng với bốn đại cường, thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ. Đối với giới lãnh đạo Trung Hoa, đây là cơ hội tốt để mở rộng ảnh hưởng ở Châu Á và Châu Phi. Cùng lúc, bọn chúng tìm cách liên lạc với bọn đế quốc Mỹ xuyên qua các cuộc thương thuyết trực tiếp thực hiện lúc đầu ở Genève, sau đó ở Varsovie.

    Sau khi ký kết Hiệp Định Genève năm 1954, đế quốc Mỹ can thiệp càng ngày càng nhiều vào Việt Nam trong mục tiêu biến Nam Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á. Giới lãnh đạo Bắc Kinh muốn duy trì vô hạn định sự phân chia Việt Nam. Nhưng nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên chống Mỹ gây hấn để cứu nước và đã đạt những chiến thắng càng ngày càng nhiều.

    Vào cuối những năm sáu mươi, đế quốc Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến gây hấn ở Việt Nam, đã làm trầm trọng cuộc khủng hoảng kinh tế, chánh trị và xã hội của Hoa Kỳ và làm yếu vị thế của chúng trên thế giới. Tình trạng này tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các nước theo xã hội chủ nghĩa và của phong trào cách mạng thế giới; nó đã cho phép các nước Tây Âu và Nhật Bản trở thành các cường quốc cạnh tranh với Hoa Kỳ. Đối diện với tình trạng tuyệt vọng gia tăng này, Tổng Thống Nixon đã đề ra việc Việt Nam Hoá chiến tranh và, lập lại kinh nghiệm của đế quốc Pháp năm 1954, dùng lá bài Trung Hoa để giải quyết vấn đề Việt Nam theo các điều kiện thuận lợi cho đế quốc Mỹ: Rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam mà vẫn duy trì chế độ ngụy Nguyễn Văn Thiệu ở Nam Việt Nam, làm áp lực với Liên Bang Sô Viết và đối kháng với phong trào cách mạng thế giới.
    Giới lãnh đạo Trung Hoa, lợi dụng sự suy yếu của Hoa Kỳ và định hướng chánh trị của Nixon, đã gia tăng việc bài Sô Viết, tìm cách thoả hiệp với Hoa Kỳ và giúp nước này giải quyết vấn đề Việt Nam. Mục tiêu của họ là thiết lập "tình trạng tay ba" theo như công thức "thế giới đa cực" của Kissinger trong đó Trung Hoa là một trong "ba đại cực", hủy bỏ "tình trạng tay đôi" Liên Sô và Hoa Kỳ đã hiện hữu sau khi đệ nhị thế chiến chấm dứt. Cùng lúc, giới lãnh đạo Trung Hoa định dùng vấn đề Việt Nam như thứ tiền trao đổi để đạt tới sự triệt thoái của Hoa Kỳ ở Đài Loan. Đó là chánh sách đảo nghịch đồng minh, đánh dấu bằng sự thù nghịch công khai đối với Liên Sô từ nay bị chánh thức coi như kẻ thù chánh và cuộc tranh chấp biên giới với nước sau này, vào năm 1969 và tiếp nối bằng sự phản bội lần thứ hai đối với Việt Nam khi họ âm mưu với Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam, hy vọng nhờ thế ngăn cản một cuộc chiến thắng trọn vẹn của nhân dân Việt Nam.

    Vào năm 1971,giới lãnh đạo Trung Hoa làm ra "nền ngoại giao bóng bàn" và tiếp đón Kissinger ở Bắc Kinh. Tiếp theo sau đó là sự trao trả lại cho Trung Hoa chỗ của họ ở Liên Hiệp Quốc, và nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trở thành một trong năm thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An. Tột điểm được đạt tới với việc viếng thăm Trung Hoa của Tổng Thống Mỹ Nixon* và việc ấn hành Thông Cáo Thượng Hải vào tháng Hai 1972. Đối với giới lãnh đạo Trung Hoa, sự toa rập với đế quốc Mỹ tạo ra một bước quyết định trong việc thiết lập chánh sách toàn cầu.

    Cũng như sau Hiệp Định Genève 1954 về Đông Dương, giới lãnh đạo Trung Hoa, sau khi ký Hiệp Định Ba Lê về Việt Nam năm 1973, đã mong muốn duy trì nguyên trạng ở Nam Việt Nam. Chiến thắng của nhân dân Việt Nam năm 1975 đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chánh quyền do Hoa Kỳ trả lương, việc giải phóng Nam Việt Nam tiếp theo sự thống nhất quốc gia trở thành một thất bại lớn không những cho đế quốc Mỹ mà cho cả giới lãnh đạo ở Bắc Kinh trong việc thực hiện chính sách toàn cầu và cho đích nhắm bành trướng và bá quyền. Vì thế có chánh sách thù nghịch công khai chống lại Việt Nam, kể cả các phương tiện quân sự.

    Thế nên trong vòng ba mươi năm qua, Việt Nam đã là yếu tố quan trọng nhất trong chánh sách toàn cầu của Trung Hoa, như nó đã giữ một vị thế trọng yếu trong chiến lược của Pháp vào giữa những năm năm mươi cũng như trong chiến lược của Mỹ vào đầu những năm sáu mươi, các nhà lãnh đạo Trung Hoa đã dùng "quân bài" Việt Nam để đi đến chỗ toa rập với bọn đế quốc và để phục vụ cho mục tiêu chính bành trướng và bá quyền đại quốc. Vì cuộc kháng chiến ái quốc của nhân dân Việt Nam chống lại bọn gây hấn Mỹ trở thành đề tài chính trong cuộc sống chính trị thế giới bấy giờ,bọn chúng muốn độc quyền vấn đề Việt Nam để giương chiêu bài chống đế quốc Mỹ, đoạt lấy sự "lãnh đạo cách mạng thế giới" và hạ thấp Liên Bang Sô Viết.

    * II. NƯỚC VIỆT NAM TRONG CHÁNH SÁCH CỦA TRUNG HOA ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM Á


    Đông Nam Á, trong lịch sử, đã là một mục tiêu truyền thống của chủ nghĩa bành trướng Trung Hoa, đã là một vùng mà các giới cầm quyền Trung Hoa mơ ước thôn tính từ lâu.

    Vào năm 1936, Chủ Tịch Mao Trạch Đông, đã kể cho ký giả người Mỹ Edgar Snow **về thời trai trẻ của ông, đã cho thấy những suy nghĩ sau khi đọc quyển sách nói về sự chiếm đóng Nhật ở Cao Ly và Đài Loan,về sự mất "chủ quyền" của Trung Hoa tại Đông Dương,tại Miến Điện và những nơi khác: "Sau khi đọc xong,tôi cảm thấy buồn nản cho tương lai của nước tôi, và tôi bắt đầu nhận ra đó là bổn phận của mọi người phải đóng góp vào việc cứu quốc".

    Trong một tài liệu của Đảng Cộng Sản Trung Hoa, ấn hành năm 1939 dưới tiêu đề "Cách Mạng Trung Hoa Và Đảng Cộng Sản Trung Hoa", ông ta đã viết:

    "Các nước đế quốc, đã chiến thắng Trung Hoa, đã chiếm các nước đặt dưới sự lệ thuộc của nó: Nhật Bản đã chiếm Cao Ly, Đài Loan, Ryu Kyu, các quần đảo Pescadores và Port Arthur; Nước Anh chiếm Miến Điện, Bhutan, Hồng Kông, nước Pháp chiếm An Nam..."

    Tác phẩm "Sử Đại Cương Về Trung Hoa Thời Kỳ Gần Đây" do Bắc Kinh ấn hành năm 1954 có một bản đồ cho thấy lãnh thổ Trung Hoa bao gồm nhiều nước phụ cận, kể cả những nước Đông Nam Á và vùng biển Đông.

    Mục đích bành trướng của giới lãnh đạo Trung Hoa hiện ra rõ ràng một cách đặc biệt qua câu nói này của Chủ Tịch Mao Trạch Đông trong một cuộc đàm thảo với các đại biểu đảng Lao Động Việt Nam tại Vũ Hán vào năm 1963: "Tôi sẽ là vị chủ tịch của 500 triệu nông dân nghèo gửi quân đội của họ sang Đông Nam Á. »

    Cũng trong dịp đó, khi so sánh Thái Lan với tỉnh Szechwan, Chủ Tịch Mao đã thấy chúng có diện tích gần bằng nhau nhưng dân Szechwan đông gấp hai lần dân Thái và ông ta nói nước Trung Hoa phải đưa dân sang Thái Lan. Ông ta cũng phát biểu cùng một ý đối với nước Lào, một quốc gia đất rộng dân thưa.

    Chủ Tịch Mao Trạch Đông, trong một buổi họp Chánh Trị Bộ của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa đã xác nhận như sau:

    "Chúng ta bằng mọi giá phải đặt tay lên Đông Nam Á bao gồm Nam Việt Nam,Thai Lan,Miến Điện, Mã Lai và Tân Gia Ba... Đông Nam Á rất giàu về khoáng sản, nó đáng được người ta trả một giá để chinh phục...Một khi nó lọt vào tay chúng ta, chúng ta có thể gia tăng thế lực của chúng ta trong vùng, lúc đó chúng có thể đối đầu cả với Liên Bang Sô Viết Đông Âu, gió Đông sẽ thắng gió Tây."

    So với những vùng khác trên thế giới, Đông Nam Á là một vùng mà Trung Hoa có những điều kiện thuận lợi cũng như những phương tiện và sự khả hữu lớn lao nhất (hơn 20 triệu Hoa Kiều, những đảng chánh trị tùy thuộc đảng cộng sản Trung Hoa, những đường lộ đi từ Trung Hoa đến những quốc gia chính ở Đông Nam Á) để thực hiện chánh sách bành trướng và bá quyền. Cho nên giới cầm quyền Trung Hoa đã dùng đến, trong vòng ba mươi năm qua,rất nhiều vận động để áp dụng tại đó chánh sách bành trướng và tạo những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược phản cách mạng toàn cầu.

    Giới cầm quyền Trung Hoa tự tạo ra một lực lượng nguyên tử chiến lược và phát triển những tiềm năng kinh tế của họ nhắm dùng toàn bộ trọng lượng của một nước lớn, và dùng việc đe dọa quân sự hay hứa hẹn viện trợ tùy theo từng nước ở trong phần đất này của thế giới để lôi kéo họ vào quỹ đạo Trung Hoa. Họ xâm phạm lãnh thổ các nước khác, tạo ra các tranh chấp ở biên giới, tung ra các cuộc gây hấn, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thế lực trung gian lĩnh tiền của họ, nhắm làm suy yếu và khuất phục nhiều nước khác trong vùng. Họ không từ chối bất kỳ phương cách nào dù có tàn bạo đi chăng nữa: Bởi thế họ đã dùng bè lũ Pol Pot Ieng Sary để gây tội diệt chủng ở Cam Bốt. Ở Đông Nam Á, luôn luôn theo mục tiêu bành trướng và bá quyền,bọn họ đã xử dụng nhiều công cụ: "Đạo quân thứ năm" gồm những kiều dân Trung Hoa, các tổ chức gọi là "Cộng Sản" theo Bắc Kinh và các nhóm sắc tộc thiểu số đang sống trong vùng có gốc gác dính líu ít nhiều đến Trung Hoa. Về việc xử dụng các hoa kiều hải ngoại, ý đồ của Bắc Kinh đã biểu lộ rất rõ ràng qua lời của Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Chen Yi:

    "Hơn 90% dân số Tân Gia Ba là Trung Hoa (1.000.000 người trên dân số một triệu người). Chính vì thế, Tân Gia Ba trở thành một quốc gia hoàn toàn do người Trung Hoa ở địa phương tổ chức " ***

    Lợi dụng các mâu thuẩn đối chọi nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác ở Đông Nam Á, bọn chúng gieo rắc sự chia rẽ giữa những quốc gia khối ASEAN và ba nước thuộc bán đảo Đông Dương,giữa các nước thuộc khối ASEAN với nhau như chúng đã làm giữa Mã Lai Á và Indonésie, giữa Miến Điện và Thái Lan... Nhằm mục tiêu bành trướng, chúng đặc biệt lợi dụng tình hình ở Đông Nam Á, một trong những vùng mà phong trào cách mạng sôi sục nhất, nơi mà phong trào quốc gia độc lập đang phát triển mạnh mẽ và là nơi mà chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc càng lúc càng suy sụp. Vào lúc mà thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam năm 1954, bọn chúng muốn duy trì sự hiện diện của Pháp, thế lực đế quốc bị suy yếu, ở miền Nam Việt Nam, ở Lào và Cam Bốt để ngăn trở việc can dự vào Đông Dương của Hoa Kỳ, đầu xỏ của bọn đế quốc, và làm giãm thiểu chiến thắng toàn diện của cách mạng ba nước Đông Dương. Khi mà đến lượt Hoa Kỳ bị suy yếu và thất bại Bắc kinh muốn duy trì sự hiện diện của Mỹ để chinh phục các nước trong vùng.

    Khi làm việc này, chúng hy vọng có thể dựa trên chủ nghĩa để quốc để chống lại sự tiến triển của cách mạng, từng bước điền khuyết vào "chỗ trống" ở Đông Nam Á và giữ độc quyền ở vùng này sau khi đã từng bậc loại dần đồng minh đế quốc. Để che dấu những mưu đồ đen tối, chúng tung ra khẩu hiệu dối trá ngăn chặn ảnh hưởng Sô viết.

    Nước Việt Nam chiếm một vị thế chiến lược trong vùng này. Trong lịch sử, bọn bành trướng phong kiến Trung Hoa đã, qua nhiều lượt, gây hấn với Việt Nam trong mục tiêu sát nhập nước này và sau đó xử dụng như đầu cầu để gây hấn các nước khác ở Đông Nam Á.

    Sau đệ nhị thế chiến, đảng Cộng Sản Việt Nam đã là đảng duy nhất trong các đảng Cộng Sản trong vùng đã chiếm được quyền hành và xây dựng Quốc Gia đầu tiên của công nhân và nông dân. Cách mạng Việt Nam có ảnh hưởng rộng lớn vì đã chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Hoa Kỳ gây hấn.

    Giới cầm quyền Trung Hoa đã tìm cách cưỡng chế Việt Nam để kiểm soát toàn bán đảo Đông Dương. Trong cuộc gặp gỡ với các đại biểu bốn đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Hoa, Indonésie và Lào ở Kouang Tung vào tháng Chín 1963, Thủ Tướng Chu Ân Lai đã nói:

    "Nước của chúng tôi lớn, nhưng không có lối thoát, vì thế chúng tôi hết sức mong muốn là Đảng Lao Động Việt Nam vạch cho chúng tôi một con đường mới hướng về Đông Nam Á"

    Để làm suy yếu Việt Nam và cưỡng chế nó, giới cầm quyền Trung Hoa đã tìm cách phá hủy sự liên đới giữa ba nước Đông Dương, làm chia rẽ những nước này, và nhất là gieo rắc sự bất hoà giữa Việt Nam với Lào và Cam Bốt. Đồng thời, bọn chúng tìm cách xúi dục các nước khác ở Đông Nam Á chống lại Việt Nam, vu cáo và làm mất danh dự của Việt Nam để cô lập nước này với các nước khác trên thế giới. Giới cầm quyền Bắc Kinh tuyên cáo cái gọi là chủ quyền “tự phong” của họ trên các quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratly).

    Đầu năm 1974, Trung Hoa chiếm quần đảo Hoàng Sa với sự đồng tình của Hoa Kỳ. Đó là sự thực hiện một kế hoạch nhắm việc kiểm soát Đông Hải, trấn áp Việt Nam cũng như toàn bộ Đông Nam Á, để khai thác các tài nguyên thiên nhiên phong phú của vùng Đông Hải.

    Giới cầm quyền Trung Hoa hy vọng tập hợp các thế lực ở Đông Nam Á để để đạt tới việc tập hợp các thế lực toàn thế giới trong khuôn khổ chiến lược toàn cầu của chúng. Trong những năm sáu mươi, họ đã dùng việc tập hợp các thế lực ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh nhằm chiếm lấy việc "lãnh đạo cách mạng thế giới“ và chống lại Liên Bang Sô Viết. Trong mục tiêu này, từ năm 1963, bọn chúng đã đưa ra một chiến dịch cuồng nhiệt để triệu tập một cuộc hội đàm của mười một đảng Cộng Sản trong đó có tám ở Đông Nam Á trong mục đích dựng ra một tân quốc tế Cộng Sản đặt dưới quyền kiểm soát của chúng, việc lập ra trục Bắc Kinh Djakarta PhnomPenh Pyongyang Hà Nội, việc triệu tập bởi trung gian Indonésie cuộc "Hội đàm của những thế lực mới trỗi dậy" (CONEFO) nhằm mục tiêu lập ra một tổ chức quốc tế đối lập với LHQ; cùng lúc bọn chúng thực hiện chiến dịch để họp hội nghị Á Phi lần thứ hai (dự trù năm 1965 ở Algérie). Nhưng những kế hoạch mờ ám này đã thất bại, bởi vì đã đi ngược lại quyền lợi của nhân dân thế giới khao khát một sự đoàn kết các thế lực chống đế quốc cũng như quyền lợi của cách mạng thế giới nhắm vào việc tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc,dân chủ và vì rằng giới cầm quyền Trung Hoa đã chạm phải chánh sách độc lập và chủ quyền mà Việt Nam thường xuyên theo đuổi.

    Trong vòng ba mươi năm qua, giới cầm quyền Trung Hoa đã coi Việt Nam như một yếu tố quan trọng hàng đầu cho chiến lược của chúng, trên đó chúng tìm đủ mọi cách để áp đặt. Việc thực hiện kế hoạch này đòi hỏ inước sau này phải không mạnh, phải bị chia rẽ,không có độc lập nhưng tùy thuộc vào Trung Hoa. Một Việt Nam độc lập, thống nhất và phú cường có một đường lối độc lập, chủ quyền và một chánh sách quốc tế chánh đáng, tạo ra một trở ngại lớn cho chiến lược toàn cầu của Trung Hoa, nhất là cho chủ nghĩa bành trướng của chúng ở Đông Nam Á. Điều này giải thích vì sao trong quá khứ giới cầm quyền Trung Hoa đưa ra một chánh sách hai mặt đối với cuộc cách mạng Việt Nam: Vừa giúp đỡ vừa ngăn chặn, vì sao, sau mỗi chiến thắng của Việt Nam đối với đế quốc, bọn chúng đã bắt đầu và làm những thoả hiệp trên lưng của nhân dân Việt Nam, vì sao bọn chúng đã đi từ chỗ thù nghịch che dấu đến thù nghịch công khai chống lại Việt Nam, kể cả cuộc chiến trận trơ trẽn gây hấn chống Việt Nam.

    Chánh sách của giới cầm quyền Trung Hoa nhằm vào việc thôn tính Việt Nam nằm trong chánh sách tổng quát của bọn chúng đối với các nước Đông Nam Á và những nước láng giềng. Bọn chúng thèm thuồng đất đai của Ấn Độ và trên thực tế đã chiếm một phần trong cuộc chiến Hoa Ấn năm 1962; họ không có con mắt thiện cảm về viễn tượng một nước Ấn Độ hùng mạnh mà bọn chúng lượng định có khả năng tranh giành quyền lãnh đạo ở Á Châu và Phi Châu. Bọn chúng đã luôn luôn tìm cách chiếm Cộng Hoà Nhân Dân Mông Cổ mà chính bọn chúng cũng đã thừa nhận như một quốc gia độc lập. Bọn chúng muốn chiếm đóng một phần lãnh thổ Sô Viết. Sự hiện hữu một Liên Bang Sô Viết mạnh bên cạnh nước Trung Hoa đã đặc biệt làm phiền lòng các giới cầm quyền Trung Hoa; thế nên bọn chúng tìm đủ mọi cách để làm mất uy tín nước này, thúc dục các nước đế quốc tấn công nước này và tạo dựng sự chống đối lại nước này ở những nước khác nhau ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh.

    Bọn chúng tập trung nỗ lực để dựng ra một cuộc "quốc tế trường chinh" của các lực lượng đế quốc và phản động chống lại Liên Sô dưới ngọn cờ tranh đấu chống "bá quyền" theo như công thức của chủ tịch Mao Trạch Đông "ở trên núi cao coi bầy cọp cắn xé nhau". Thế nên người ta ghi nhận được nơi các chánh khách và ký giả Tây Phương, Trung Hoa quyết định "chống Liên Bang Sô Viết cho tới người Âu Châu cuối cùng" cùng một cách mà họ quyết định "chống lại Hoa Kỳ tới người Việt cuối cùng".

    Chiến lược quốc tế hiện nay của giới cầm quyền Trung Hoa, dù dưới nhãn hiệu nào đi chăng nữa, đã hé lộ đặc tính cực kỳ phản cách mạng và giới cầm quyền Trung Hoa cho thấy rõ bộ mặt "ái quốc cực đoan của nước lớn, của người quốc gia trưởng giả".

    Chánh sách hiện nay của giới cầm quyền Trung Hoa đối với Việt Nam, dù che dấu thế nào đi chăng nữa, vẫn giống y như chánh sách của những người tiền nhiệm từ hằng ngàn năm trước các hoàng đế của "thiên triều", một chánh sách mà mục tiêu là thôn tính và biến Việt Nam thành chư hầu và để “đè đầu “ nhân dân của nó.


    (tháng Mười 1979)


    * Cũng nên nhắc lại là tại hội nghị các đại biểu đảng Cộng Sản và công nhân vào tháng mười một 1960 phái đoàn Đảng Cộng Sản Trung Hoa đã đề ra ý tưởng rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới là một yếu tố quyết định trong việc phát triển xã hội nhân loại.

    ** EdgarSnowin" Red Star over China", Ed Penguin, Londres 1972. trang 159.

    *** nhân cuộc gặp gỡ với các đại biểu người Hoa ở Việt Nam đến chào phái đoàn của đảng và chánh quyền Trung Hoa do thủ tướng Chou En lai hướng dẫn đến thăm Việt Nam vào tháng năm 1960.


    * Bản văn Pháp ngữ


    Première partie

    LE VIETNAM DANS LA STRATEGIE CHINOISE


    Les actes d'hostilité ouverte des dirigeants chinois à l'encontre du Vietnam, dont la guerre d'agression qu'ils ont déclenchée le 17 février 1979 constitue le point culminant, ont provoqué l'étonnement de l'opinion mondiale surprise par le changement soudain de la politique de Pékin à l'égard de son voisin du Sud.

    Il n'y a pourtant guère lieu de s'étonner. Les changements inter*venus ne sont qu'une suite logique de la stratégie d'expansion de grande nation et d'hégémonie de grande puissance poursuivie parles dirigeants chinois au cours des trente dernières années.

    On ne trouve dans aucun autre pays du monde des dirigeants qui se disent "révolutionnaires" et "socialistes" et tiennent un langage "d'extrême gauche" tout en pratiquant une stratégie extrêmement réactionnaire et contre révolutionnai re comme le font les diri*geants chinois.

    Il n'y a aucun pays au monde où sur le plan stratégique les diri*geants renversent les alliances et font de l'ami l'ennemi et inverse*ment d'une façon aussi rapide et radicale qu'en Chine.

    Les dirigeants chinois montrent du doigt comme leur ennemi le plus dangereux l'Union soviétique, naguère leur plus grand allié.

    Oubliant systématiquement leurs propres thèses sur l'impérialisme américain, l'ennemi le plus dangereux dont la nature ne changera jamais, ils le considèrent maintenant comme un allié digne de confiance et entrent en collusion avec lui, allant même jusqu'à déclarer impudemment que la Chine est l'OTAN de l'Orient.

    Ignorant complètement leur théorie d'hier selon laquelle le mouvement de libération nationale en Asie, Afrique et Amérique latine agit comme une "tempête révolutionnaire" frappant directement l'impérialisme et que le succès de la cause révolutionnaire du prolétariat international dépendra en définitive de la lutte révolutionnaire des peuples de ces continents *, ils se joignent à l'impérialisme dans des activités de sape dirigées contre le mouvement de libération nationale, accordent leur soutien aux forces réactionnaires comme le dictateur chilien Pinochet, le FNLA et l'UNITA en Angola, organisations manipulées par le CIA, le chah d'Iran Pahlavi, etc., et entretiennent la clique de Pol Pot et Ieng Sary, auteurs du génocide de leur propre peuple. Ils déforment cynique*ment l'origine et la nature des luttes de libération nationale, les présentant comme les conséquences des rivalités hégémoniques entre grandes puissances et non comme l'œuvre révolutionnaire des peuples.

    Le renversement des alliances au plan international va de pair avec des purges cruelles et sanglantes dans le pays, des répressions contre les opposants, amenant coup sur coup le renversement des rôles des dirigeants. Tel prôné aujourd'hui comme leader révo*lutionnaire authentique devient le lendemain traître, ennemi de la révolution chinoise. Il en est qui ont été renversés et réinstallés deux ou trois fois en l'espace de quelques années.

    La stratégie des dirigeants chinois a connu des changements considérables, mais un point reste inchangé: leuro bjectif stratégique de faire rapidement de la Chine une puissance mondiale de premier ordre et de réaliser leurs visées expansionnistes et hégémoniques de grande nation vis à vis d'autres pays.

    A une session du Comité Central du Parti communiste chinois en 1956, le président Mao Tso Tong a dit: "Nous devons à tout prix devenir une puissance mondiale de premier ordre dans les domaines culturel, scientifico technique et industriel.. . Il est inacceptable que notre pays ne le soit pas d'ici quelques décennies!".

    En septembre 1959, à une session du Comité du Parti dans l'armée, le président Mao Tso Tong a dit encore: "Nous devons con*quérir la planète. Tel est notre objectif."

    Immédiatement après la fondation de la République populaire de Chine (1er octobre 1949), les dirigeants chinois se sont mis à la réalisation de leur objectif stratégique. Malgré le retard écono*mique de la Chine, dès les dernières années cinquante, ils ont axé leurs efforts sur la création d'une force nucléaire stratégique et, à l'heure actuelle, ils poursuivent fébrilement la "modernisation »* des forces armées, accélèrent la production et le stockage d'armes nucléaires. Sur le plan économique, le "grand bond en avant" de 1958 et les "quatre modernisations" annoncées il y a quelques années présentent un point commun: la réalisation de l'objectif stratégique d'expansion et d'hégémonie des dirigeants chinois.

    * I. LE VIETNAM DANS LA STRATEGIE GLOBALE DE LA CHINE


    Dans leur stratégie globale, si les dirigeants chinois considèrent l'Union soviétique et les Etats Unis. d'Amérique comme adversaires principaux qu'il leur faut vaincre, le Vietnam est considéré comme adversaire important qu'il faut subjuguer et annexer pour servir leurs intérêts stratégiques.

    Au seuil des années cinquante, lorsque les dirigeants chinois entreprirent l'œuvre de reconstruction appelée à faire rapidement de la Chine une puissance mondiale, ils avaient à faire face dans le Nord à la guerre d'agression U.S. en Corée, et dans le Sud à une menace à la sécurité de la Chine suscitée par la guerre d'agression des colonialistes français au Vietnam. Pendant ce temps, les impé*rialistes américains, chef de file des impérialistes et gendarme international, pratiquaient une politique d'hostilité envers la Chine qu'ils cherchaient à encercler et à isoler.

    Les victorieuses résistances des peuples du Vietnam, du Laos et du Cambodge contre le colonialisme français ont conduit à la Conférence de Genève de 1954 sur l'Indochine. La France craignait que la victoire totale du peuple vietnamien ne conduisît à un écroulement de son empire colonial. La Chine constituait la plus importante source de ravitaillement en armes pour le Viet nam durant les dernières années de sa résistance contre les colonialistes français. Les dirigeants chinois, mettant à profit cette situation, se posaient en négociateurs principaux avec les impé*rialistes français, entraient en collusion avec eux pour, sur la base d'un compromis, arriver à une solution du conflit avantageuse pour la Chine et la France, et désavantageuse pour les peuples du Vietnam, du Laos et du Cambodge. Ils ont sacrifié les intérêts des trois peuples Indochinois pour assurer la sécurité de la Chine au Sud, réaliser leurs visées de mainmise sur le Vietnam et l'Indochine, et jouer en même temps le rôle d'une grande puissance dans le règle*ment des problèmes internationaux, notamment ceux de l'Asie.

    A la Conférence de Genève de 1954 dont la première partie était consacrée au problème coréen, la République populaire de Chine, a fait pour la première fois, son apparition sur un pied d'égalité avec quatre grandes puissances, membres permanents du Conseil de Sécurité de l'ONU. Pour les dirigeants chinois, c'était une bonne occasion d'élargir leur influence en Asie et en Afrique. En même temps ils cherchaient à prendre contact avec les impérialistes amé*ricains à travers les négociations directes menées d'abord à Genève, ensuite à Varsovie.

    Après la signature des Accords de Genève de 1954, l'impé*rialisme américain intervenait de plus en plus au Vietnam dans le but de transformer le Sud Vietnam en une colonie de type nouveau, une base militaire U.S. en Asie de Sud Est. Les dirigeants de Pékin voulaient maintenir indéfiniment la division du Vietnam. Mais le peuple vietnamien s'est héroïquement dressé contre l'agression américaine pour sauver son pays et a remporté des victoires chaque jour plus nombreuses.

    A la fin des années soixante, l'impérialisme américain s'enlisait dans la guerre d'agression au Vietnam, qui avait aggravé la crise économique, politique et sociale aux Etats Unis et affaibli leur position dans le monde. Cette situation a créé des conditions favorisant un essor vigoureux des pays socialistes et du mouvement révolutionnaire mondial; elle a permis aux pays de l'Europe occidentale et au Japon de devenir de puissants concurrents des Etats Unis. Face à cette situation de désespoir croissant, le président Nixon avança alors le plan de vietnamisation de la guerre et, répétant l'expérience des impérialistes français en 1954, jouait la carte chinoise pour résoudre le problème vietnamien à des condition avantageuses pour l'impérialisme américain: retirer les troupes américaines du Vietnam tout en maintenant le régime fantoche Nguyen Van Thiêu au Sud Vietnam, faire pression sur l'Union soviétique et s'opposer au mouvement révolutionnaire mondial.

    Les dirigeants chinois, mettant à profit l'affaiblissement des Etats Unis et l'orientation de la politique nixonienne, ont.accéléré leur anti soviétisme, cherché à faire des compromis avec les Etats Unis en aidant ces derniers à résoudre le problème vietnamien. Leur objectif est d'instaurer "l'état tripolaire" suivant la formule de Kissinger d'un "monde multipolaire" avec la Chine comme l'un des "trois grand pôles", d'abolir "l'état bipolaire", l'Union so*viétique et les Etats Unis, qui a existé depuis la fin de la Deuxième guerre mondiale. En même temps, les dirigeants chinois ont tenté de se servir du problème vietnamien comme monnaie d'échange pour obtenir le retrait des Etats Unis de Taiwan. D'où leur politique de renversement des alliances, marquée par l'hostilité ouverte vis à vis de l'Union soviétique considérée désormais officiellement comme ennemi principal et le conflit frontalier avec cette dernière, en mars 1969 et suivie de la deuxième trahison envers le Vietnam quand ils maquignonnaient avec les Etats Unis sur le problème du Vietnam, espérant empêcher ainsi une victoire complète du peuple vietnamien.

    En 1971, les dirigeants chinois mettaient en oeuvre la "diplomatie du ping pong" et recevaient Henry Kissinger à Pékin. Ce fut ensuite la restitution à la Chine de sa place aux Nations Unies, et la République populaire de Chine devint l'un des cinq membres permanents du Conseil de Sécurité. Le point culminant fut atteint avec la visite du président américain Nixon en Chine et la publication du Communiqué de Shanghai en février 1972. Pour les dirigeants de Pékin, la collusion avec l'impérialisme américain constitue un pas décisif dans la mise en œuvre de leur politique globale.

    Tout comme après les Accords de Genève de 1954 sur L'Indochine, les dirigeants chinois, après la signature des Accords de Paris sur le Vietnam en janvier 1973, voulaient maintenir le statu quo au Sud Vietnam. La victoire du peuple vietnamien en 1975 marquant l'effondrement total de l'administration à la solde des Etats Unis, la libération du Sud Vietnam suivie ensuite de la réunification nationale constituent une grande défaite non seulement pour l'impérialisme américain mais aussi pour les dirigeants de Pékin dans la réalisation de leur stratégie globale et de leurs visées expansionnistes et hégémoniques. D'où leur politique d'hostilité ouverte contre le Vietnam, jusque et y compris les moyens mili*taires.

    Ainsi au cours des trente dernières années, le Vietnam constitue l'un des facteurs les plus importants dans la stratégie globale de la Chine. Comme il occupait une position d'importance majeure dans la stratégie française du milieu des années cinquante ainsi que dans la stratégie américaine du début des années soixante dix, les dirigeants chinois se sont servi de la "carte" vietnamienne pour entrer en collusion avec les impérialistes et servir leurs propres visées stratégiques d'expansionnisme et d'hégémonie de grande nation. Et étant donné que la résistance patriotique du peuple vietnamien contre l'agression américaine devenait le thème central dans la vie politique internationale d'alors, ils ont voulu monopoliser le problème vietnamien pour brandir l'enseigne anti impé*rialiste, s'adjuger la "direction de la révolution mondiale" et abaisser l'Union soviétique.

    * II. LE VIETNAM DANS LA POLITIQUE DE LA CHINE VIS A VIS DE L'ASIE DU SUD EST.


    L'Asie du Sud Est, qui a été dans l'histoire un objectif tradition*nel de l'expansionnisme chinois, constitue une zone que depuis longtemps les dirigeants de la République populaire de Chine ont rêvé d'annexer.

    En 1936, le président Mao Tsö Tong, faisant au journaliste amé*ricain Edgar Snow à Yenan le récit de sa jeunesse, a révélé ses réflexions après la lecture d'une brochure parlant de l'occupation par le Japon de la Corée et de Taiwan, de la perte de la "souveraineté " chinoise en Indochine, en Birmanie et ailleurs:

    "Après lecture, je me suis senti déprimé quant à l'avenir de mon pays, et j 'ai commencé à réaliser qu 'il est du devoir de tout le monde de contribuer à son salut."

    Dans un document du Parti communiste chinois, publié en 1939 sous le titre "la révolution chinoise et le Parti communiste chinois", il est écrit:

    "Les pays impérialistes, ayant vaincu la Chine, ont occupé les pays sous sa dépendance: le Japon a occupé la Corée, Taiwan, Ryu kyu, les îles Pescadores et Port Athur; la Grande Bretagne a occupé la Birmanie, le Bhutan, Hongkong; la France a occupé l'Annam... " L'ouvrage "Histoire sommaire de la Chine contemporaine" édité à Pékin en 1954 comportait une carte montrant que le territoire chinois englobait plusieurs pays environnants, y compris des pays de l'Asie du Sud Est et la région de la mer de l'Est.

    Les visées expansionnistes des dirigeants chinois sont apparues avec une clarté particulière dans cette phrase du président Mao Tsô Tong au cours d'un entretien avec les délégués du Parti des Travailleurs du Vietnam à Wu Han en 1963:

    "Je serai le président de 500 millions de paysans pauvres envoyant ** leurs troupes en Asie du Sud Est. "

    A la même occasion, comparant la Thaïlande à la province chinoise de Szechwan, le président Mao Tso Tong a trouvé qu'elles ont à peu près la même superficie, mais la population de Szechwan est deux fois plus nombreuse et il a dit qu'il fallait que la Chine implante ses habitants en Thaïlande. Il a exprimé la même idée vis à vis du Laos, pays vaste à population clairsemée.

    Le président Mao Tso Tong, lors d'une réunion du Bureau politique du C.C. du Parti communiste chinois en août 1965, a affirmé ce qui suit:

    "Il nous faut à tout prix mettre la main sur l'Asie du Sud Est englobant le Sud Vietnam, la Thaïlande, la Birmanie, la Malaysia et Singapour... L'Asie du Sud Est est si riche en minéraux, elle mérite qu'on y mette le prix pour la conquérir... Une fois qu'elle est entre nos mains, nous pourrons accroître nos forces dans cette zone, nous serons alors à même de tenir tête au bloc Union soviétique — Europe de l'Est, le vent d'Est l'emportera sur le vent d'Ouest."

    En comparaison avec les autres régions du monde, l'Asie du Sud Est est une zone où la Chine dispose des conditions les plus favorables ainsi que des plus grands moyens et possibilités (plus de 20 millions de ressortissants chinois, des partis politiques dépendant du Parti communiste chinois, des routes menant de la Chine à maints pays de l'Asie du Sud Est) pour la mise en oeuvre de sa politique expansionniste et hégémoniste. Aussi les dirigeants de la République populaire de Chine ont ils recouru, au cours des trente dernières années, à de nombreuses manœuvres pour y appliquer leur politique expansionniste et créer des conditions favorables pour la réalisation de leur stratégie contre révolutionnai re globale.

    Les dirigeants chinois se créent une force nucléaire stratégique et développent leur potentiel économique en vue d'user de tout le poids d'une grande nation et de recourir à la menace militaire ou aux promesses d'aide selon les pays de cette partie du monde pour les entraîner dans l'orbite chinoise. Ils violent le territoire d'autres pays, provoquent des conflits frontaliers, se livrent à des agressions, soit directement soit par l'intermédiaire de forces à leur solde, en vue d'affaiblir et d'assujettir différents pays de la région. Ils ne renoncent à aucun procédé si cruel soit il: ainsi ils se sont servi de la clique Pol Pot — Ieng Sary pour perpétrer leur entreprise de génocide au Cambodge. En Asie du Sud Est, toujours aux fins d'expansionnisme et d'hégémonisme, ils utilisent plusieurs instruments: la "cinquième colonne" constituée par les ressortissants chi*nois, les organisations dites "communistes" d'obédience pékinoise et les minorités ethniques d'origine plus ou moins chinoise vivant dans la région.

    S'agissant de l'utilisation des Chinois d'outre mer, l'intention de Pékin s'est manifestée le plus clairement dans les paroles du ministre
    des Affaires étrangères Chen Yi:

    "Plus de 90 % de la population de Singapour sont des Chinois (900.000 personnes sur une population d'un million d'habitants). C'est pourquoi, Singapour est devenu un Etat totalement organisé par les Chinois locaux. "***

    Tirant parti des contradictions opposant les uns aux autres les peuples de l'Asie du Sud Est, ils sèment la division entre les pays de l'ASEAN et les trois pays de la péninsule indochinoise, entre les pays du SEA eux mêmes comme ils l'ont déjà fait entre la Malaysia et l'Indonésie, entre la Birmanie et la Thailande ... Aux fins d'expansionnisme ils mettent en particulier à profit la situation en Asie du Sud Est, une des régions où le mouvement révolutionnaire est le plus effervescent, où le mouvement d'indépendance nationale est en plein essor et où le colonialisme et l'impérialisme s'affaiblissent de plus en plus. Au moment de la défaite des colonialistes français au Vietnam en 1954, ils voulaient maintenir la présence de la France, puissance impérialiste affaiblie au Sud Vietnam, au 'Laos et au Cambodge pour empêcher l'implantation en Indochine des Etats Unis, le chef de file des impérialistes, et minimiser la victoire totale de la révolution des trois pays d'Indochine. Lorsque les Etats Unis se sont trouvés à leur tour affaiblis et vaincus, Pékin a voulu maintenir la présence américaine pour subjuguer les pays de la région.

    Ce faisant, il espère pouvoir s'appuyer sur l'impérialisme pour contrecarrer l'essor de la révolution, combler pas à pas le "vide" en Asie du Sud Est et monopoliser cette région après y avoir graduellement évincé leurs alliés impérialistes. Pour camoufler ses visées ténébreuses, il lance le mot d'ordre fallacieux d'endiguement de l'influence soviétique.

    Le Vietnam occupe une position stratégique dans cette région. Dans l'histoire, les expansionnistes féodaux chinois ont, à plusieurs reprises, agressé le Vietnam dans le but de l'annexer et de l'utiliser ensuite comme tremplin pour agresser d'autres pays de l'Asie du Sud Est.

    Après la Seconde Guerre mondiale, le Parti communiste du Vietnam fut le seul des partis communistes de la région à conquérir le pouvoir et à fonder le premier Etat des ouvriers et des paysans. La révolution vietnamienne exerce une grande influence pour avoir vaincu les colonialistes français et les impérialistes U.S. agresseurs.

    Les dirigeants chinois ont tenté de mettre la main sur le Vietnam pour contrôler toute la péninsule indochinoise, ouvrant ainsi la voie vers l'Asie du Sud Est. Lors d'une rencontre des représentants des quatre partis communistes du Vietnam, de Chine, d'Indonésie, et du Laos à Kouang toung en septembre 1963, le premier ministre Chou En Lai a dit:

    "Notre pays est grand, mais n'a pas d'issue, c'est pourquoi nous souhaitons vivement que le Parti des Travailleurs du Vietnam nous fraie 'une nouvelle voie vers l'Asie du Sud Est. "

    Pour affaiblir le Vietnam et mettre la main sur lui, les dirigeants chinois ont cherché à détruire la solidarité des trois pays indochinois, à les diviser, à semer surtout la discorde entre le Vietnam et le Laos et le Cambodge. En même temps, ils ont tenté de dresser les autres pays de l'Asie du Sud Est contre le Vietnam, de calomnier et de déshonorer le Vietnam pour l'isoler des autres pays du monde. ' Les dirigeants de Pékin proclament leur prétendue souveraineté sur les archipels HoangSa (Paracels) et Truong Sa (Spratly). Début 1974, la Chine occupe avec l'assentiment des Etats Unis l'archipel vietnamien Hoang'Sa. C'est la mise en oeuvre d'un plan visant à contrôler progressivement la mer de l'Est, subjuguer le Vietnam ainsi que toute l'Asie du Sud Est, à exploiter les abondantes richesses naturelles de la région de la mer de l'Est.

    Les dirigeants chinois espèrent rassembler des forces en Asie du Sud Est pour arriver à un rassemblement mondial des forces dans le cadre de leur stratégie globale. Dans les années soixante, ils se sont employés à rassembler des forces en Asie, Afrique et Amérique latine en vue de s'emparer de la "direction de la révolution mondiale" et de s'opposer à l'Union soviétique. A cette fin, ils ont mené à partir de 1963 une campagne fiévreuse pour la convocation d'une conférence de onze partis communistes dont huit en Asie du Sud Est dans le but de fonder une nouvelle internationale communiste placée sous leur contrôle, la création d'un axe Pékin Djakarta PhnomPenh Pyongyang Hanoi, la convocation parle truchement de l'Indonésie d'une "Conférence des forces nouvellement émergentes" (CONEFO) afin de mettre sur pied une organisation internationale en opposition à l'ONU; en même temps, ils faisaient campagne pour la réunion de la deuxième Conférence afro asiati*que (prévue pour 1965 en Algérie). Mais ces sombres plans ont échoué, parce qu'ils vont à l'encontre des intérêts des peuples du monde qui aspirent à une union des forces anti impérialistes comme des intérêts de la révolution mondiale qui vise à renforcer le système socialiste et le mouvement d'indépendence nationale, de démocratie et parce que les dirigeants chinois se sont heurtés à la politique d'indépendance et de souveraineté constamment poursuivie par le Vietnam.

    Au cours des trente dernières années, les dirigeants chinois ont considéré le Vietnam comme l'un des facteurs d'importance primordiale pour leur stratégie, sur lequel ils ont cherché par tous les moyens à mettre la main. La réalisation de ce plan exige que ce dernier ne soit pas fort, qu'il soit divisé, non pas indépendant, mais dépendant de la Chine. Un Vietnam indépendant, unifié et prospère ayant une ligne d'indépendance, de souveraineté et une juste politique internationale, constitue un grand obstacle à la stratégie globale chinoise, notamment à leur expansionnisme en direction de l'Asie du Sud Est. Cela explique pourquoi hier les dirigeants chinois ont mis en oeuvre une politique à double face vis à vis de la révolution vietnamienne: à la fois aider et contenir, pourquoi après chaque victoire vietnamienne sur l'impérialisme, ils ont commencé et fait des compromis avec celui ci sur le dos du peuple vietnamien; pourquoi ils sont passés de l'hostilité voilée à l'hosti*lité ouverte contre le Vietnam, voire à une impudente guerre d'agression contre le Vietnam.

    La politique des dirigeants chinois qui consiste à vouloir annexer le Vietnam fait partie de leur politique générale vis à vis des pays du Sud Est asiatique et des autres pays voisins. Ils convoitaient le territoire de l'Inde et en ont déjà occupé en fait une partie dans la guerre sino indienne de 1962; ils ne voient pas d'un bon oeil la perspective d'une Inde puissante qu'ils estiment capable de leur disputer le leadership en Asie et en Afrique. Ils sont toujours tentés d'occuper la Rép. populaire de Mongolie qu'ils ont eux mêmes reconnue comme Etat indépendant. Ils veulent occuper une partie du territoire soviétique. L'existence d'une Union soviétique puissante aux côtés de la Chine déplaît particulièrement aux dirigeants chinois; aussi ont ils cherché par tous les moyens à rabattre son prestige, à inciter les pays impérialistes à l'attaquer et à dresser contre elle différents pays d'Asie, d'Afrique et d'Amérique latine. Ils ont concentré leurs efforts pour lever une "croisade internationale" des forces impérialistes et réactionnaires contre l'Union soviétique sous le drapeau de la lutte contre "l'hégémonie" selon la formule du président Mao Tsô Tong: "Du haut de la montagne suivre le combat des tigres". Ainsi que l'ont noté de nombreux hommes politiques et journalistes d'Occident, la Chine est déterminée à "combattre l'Union soviétique jusqu'au dernier Européen de l'Ouest" de la même façon qu'elle était déterminée à "combattre les Etats Unis jusqu'au dernier Vietnamien".

    L'actuelle stratégie internationale des dirigeants chinois, quelle que soit son étiquette, a dévoilé son caractère extrêmement contre révolutionnai re et les dirigeants chinois se sont montrés sous leur vrai visage de" chauvins de grande nation, de nationalistes bourgeois!
    La politique actuelle des dirigeants chinois vis à vis du Vietnam, sous quel camouflage que ce soit, reste la même que celle de leurs prédécesseurs des millénaires passés, les empereurs de "l'empire céleste", une politique dont l'objectif est d'annexer et de vassaliser le Vietnam et de subjuguer son peuple.


    * Il convient de rappeler qu'à la Conférence des représentants des Partis communistes et ouvriers de novembre 1960 la délégation du Paru communiste chinois a souscrit à l'idée que le système socialiste mondial constitue un facteur déterminant dans le développement de la société humaine.

    ** EdgarSnowin" Red Star over China", Ed Penguin, Londres 1972. page 159.

    *** Lors de sa rencontre avec les délégués Hoa du Vietnam venant saluer la délégation du Parti et du gouvernement chinois conduite par le premier ministre Chou En Lai en visite au Vietnam en mai 1960.
  10. Nhà văn Alexandre Solzenitsym: "Khi thấy thằng Cộng Sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu ta không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi không ở lại nghe nó nói láo. Nếu ta không can đảm bỏ đi mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại những lời nó nói láo với người khác".

    Hôm qua đọc báo biết nhà văn Alexandre Solzenitsym qua đời, tôi buồn vì tiếc cho thế giới mất đi một nhà văn kiệt xuất. Ngoài ra, tôi bồi hồi thương cảm cho số phận của đất nước tôi vô cùng!!

    Đất nước tôi còn bất hạnh, có lẻ bởi vì số đông những người Việt Nam lưu vong trên những xứ sở tự do, sống bằng cây bút, sống với văn học nghệ thuật còn thiếu một nhân cách can đảm như ông Alexandre Solzenitsym. Một nhân cách bất chấp mọi nguy hiểm để nói lên sự thật, nói lên cái sai trái, cái độc tài, cái giảo quyệt của chế độ Cộng Sản. Một nhân cách bất chấp mọi quyền lực bè phái, dám bất bình vạch trần sự thật trước dư luận về một số người lưu vong hèn hạ vô ơn cái chính thể đã nuôi dưỡng họ được sống còn cho đến ngày hôm nay. Một nhân cách biết đau xót trước những khủng bố tù đày của những người đấu tranh không mệt mỏi cho một Việt Nam tự do dân chủ và nhân quyền.

    Trước năm 1975, ông Mai Thảo, một trong những nhà văn lớn trên đất nước tôi, một người suốt đời sống bằng chử nghĩa. Chữ nghĩa của ông sặc mùi rượu mạnh đêm đêm phòng trà, chử nghĩa của ông trau chuốt óng ả sống thời thượng nhảy đầm trên những xác chết của vô số người lính ngoài trận. Nửa đời còn lại, ông tiếp tục sống ngất ngưởng phong lưu tị nạn, chử nghĩa của ông bây giờ nói lên khát vọng tự tôn: "Ta thấy hình ta những miếu đền.... Đời ta sử chép cả nghìn chương...."

    Đọc những lời thơ thần thánh hóa một cách bệnh hoạn của một nhà văn già một đời nát rượu này, tôi thấy thương cho ông. Tôi tôn trọng những gì gọi là văn học, nhưng ca tụng những dòng thơ huyễn tưởng của ông thì không. Thế mà một số người lưu vong sống bằng chử nghĩa, họ lãng quên rồi những người Việt Nam Cộng Hòa anh hùng đã chết thật anh hùng cho đất nước. Họ dấy động chữ nghĩa tâng bốc thơ ông là những dòng trác tuyệt, ông là bậc vĩ nhân, ông là cây đại thụ, là Nguyễn Du thời đại.... Tôi ngán ngẫm vô cùng, mường tượng thấy trước mắt mình đang diễn lại hoạt cảnh điếu đóm xưng tụng, tự chia nhau chiếu trên chiếu dưới, tự phong mỗi người thống lãnh mỗi cỏi Thái Sơn Bắc Đẩu như ngày xưa ở văn đàn nước tôi.

    Có người cho ông Trịnh Công Sơn dùng chữ dễ dàng như lấy từ trong túi áo. Vâng đúng vậy, không ai phủ nhận điều này. Chữ nghĩa của ông đẹp lắm, vì những chữ nghĩa đó được cưu mang, được thấm đẫm bởi máu, nước mắt và mồ hôi của hàng triệu người đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước để bảo vệ hai chữ Tự Do.

    Sau năm 1975, ông sống hèn hơn tôi tưởng. Chữ nghĩa đẹp của ông sợ hãi ngó lơ trước hàng hàng lớp lớp xác người trôi dạt khắp biễn Đông. Chữ nghĩa đẹp của ông sợ hãi ngó lơ trước hàng hàng lớp lớp những trại tập trung cải tạo. Chữ nghĩa đẹp của ông sợ hãi ngó lơ trước hàng hàng lớp lớp những thân phận tù đày khổ sai trên khắp cùng rừng núi. Mỗi ngày TCS nhâm nhi rượu Tây rượu Mỹ, TCS đem những chữ nghĩa đẹp của ông để ngất ngây say đắm ca ngợi cái xã hội ông đang sống mà mỗi ngày chung quanh TCS có hàng triệu người đói cơm thiếu mặc. TCS đem những chữ nghĩa đẹp của ông để thiết tha ca tụng cái xã hội ông đang sống mà mỗi ngày chung quanh TCS có hàng triệu người bị đòn thù bách hại.

    Ông chết, bạn bè ông trong nước, người nặn tượng, kẻ vẽ tranh sùng bái ông (tôi cũng vẽ một bức, vẽ chính con người của ông: Mặt mày lơ láo, tóc tay dựng đứng. Bức vẽ này tôi gởi về địa chỉ nhà ông).

    Nực cười thay, tại hải ngoại có một số cây bút mà ngày trước họ đã sợ hãi trốn chạy chế độ phi nhân phi lý phi pháp qua đây sống kiếp lưu vong. Nghe TCS chết, họ vội vã vấy động chữ nghĩa khóc ông....!? (tôi nghe ra những lời thống thiết trơ trẽn đó có khác gì với cái trơ trẽn của Tố Hữu khóc Stalin). Nước mắt tôi không đổ cho loại người như TCS, loại người có tấm lòng chỉ để.... gió thổi bay đi. Không bao giờ.