Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. CPQGVNLT ĐƯỢC THÀNH LẬP 1990 - 2018 TẠI HẢI NGOẠI (qua trưng cầu dân ý) TỪ NAY ĐÃ CÓ TỔNG THỐNG TIẾP NỐI NỀN ĐỆ I, ĐỆ II KHAI SÁNG NỀN ĐỆ III VIỆT NAM CỘNG HÒA - LÃNH ĐẠO NGƯỜI VIỆT CỦA QGVN HIỆN SINH SỐNG TRÊN KHẮP THẾ GIỚI...

    Hiện nay có nhiều chính phủ của QGVN (xuất hiện) nhưng chính phủ nào HỢP PHÁP được quốc tế công nhận, có trách nhiệm - biết lo lắng và bảo vệ cho công dân VN; không tham nhũng, không phân biệt đối xử, không vắc chanh bỏ vỏ; có tình người và có tinh thần quốc gia, dân tộc; không gây áp lực lừa dối, không bắt công dân làm bia sống cho giặc bắn giết, không tuyên truyền dụ khị dân quên lịch sử của quốc gia, dân tộc mình; giáo dục dẫn dắc người dân biết lẻ phải, biết sự thật về lịch sử có CHÍNH NGHĨA và hợp pháp của QUỐC KỲ - QUỐC GIA dân tộc VIỆT NAM mình thì dân theo...

    Lãnh đạo một quốc gia trách nhiệm rất nặng nề được ví như cha mẹ, nếu lãnh đạo một quốc gia không phải là một minh quân, gây cảnh lầm than thì dân buồn khổ và người dân từ từ xa lánh mà thôi; ước muốn của người dân hiện nay là thái bình, no ấm, yên vui, hạnh phúc, tương lai tươi sáng cho thế hệ sau, có một quốc gia hợp pháp, dân tộc có chủ quyền và nhân quyền, công dân QGVN không bị phân biệt đối xử, là công dân của một quốc gia, ai ai cũng được quyền cầm súng chống giặc ngoại xăm để bảo vệ quốc gia dân tộc mình ok.

    Bầu phiếu Trưng cầu Dân Ỵ̣, Xin bấm vaâo: Trưng Cầu Dân Ý
  2. VIỆT NAM CỘNG HÒA
    Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Lâm Thời
    LẤY LẠI ĐẤT TỔ - KHÔNG LÀM KHỔ DÂN

    Văn Phòng Thường Trực
    PO Box 2807, Anaheim, CA. 92814
    TEL: 760-523-3011 và 949-529-0952​

    THÔNG BÁO

    v/v NHÀ và TÀI SẢN PHI PHÁP CỦA NGUYỄN XUÂN PHÚC ĐÃ BỊ SAI ÁP ("LIEN")

    Bộ Tư Pháp CPQGVNLT đã xác nhận, căn nhà số 636 South Halliday Street, Anaheim, CA. 92808 và những tài sản phi pháp của 2 tên đầu sỏ CSVN là Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Tấn Dũng đã bị CPQGVNLT sai áp (“LIEN”) theo luật pháp Hoa Kỳ.

    Căn cứ theo hồ sơ tại Quận Cam, tiểu bang California số: 55416320002
    Số danh bộ: 167528290222,
    Ngày vào sổ bộ: 31/05/2016

    Thì các tài sản phi pháp này đã bị CPQGVNLT sai áp và Bộ Tư Pháp đang truy tầm thêm những tài sản phi pháp khác của bọn đầu sỏ CSVN để xin lệnh sai áp.

    Những ai góp công chỉ điểm những tài sản/ngân khoản phi pháp của bọn đầu sỏ CSVN sẽ được tưởng thưởng 10% mà không cần khai báo tên thật. Có thể dùng ám số hay bí danh cũng được.

    Trân trọng thông báo
    Văn Phòng Thường Trực/CPQGVNLT
  3. Tường thuật của phóng viên Don Ortega về biến cố 3 thế hệ Việt Nam quyết định đứng ra thành lập CPQGVNLT và chỉ định ông Đào Minh Quân, Chủ Tịch Ban Chấp Hành Trung Ương Việt Nam Tân Dân Chủ nhận trọng nhiệm Thủ Tướng ngày 16/02/1991.

  4. Tường thuật của phóng viên Don Ortega về ngày Lễ Thượng Kỳ Quốc Gia Việt Nam tại San Jose ngày 23/6/1991 có hàng chục ngàn đồng bào Việt Nam tham dự cùng với Thủ Tướng Đào Minh Quân và phái đoàn CPQGVNLT. Đây là lần đầu tiên lá Quốc Kỳ Quốc Gia Việt Nam được chính thức và công khai treo ngang hàng với cờ Hoa Kỳ, sau khi ông Đào Minh Quân tuyên thệ nhận trọng nhiệm Thủ Tướng CPQGVNLT ngày 16/02/1991.

  5. ĐỪNG TƯỞNG
    *thơ Nguyễn Lân Thắng*

    Đừng tưởng hội nghị là xong
    Đừng tưởng đủ phiếu là mong ghế còn
    Đừng tưởng cả bố lẫn con
    Cướp hết tài sản nước non dễ dàng
    Đừng tưởng nước như cái làng
    Ra đình họp cái rồi mang phần về
    Đừng tưởng phê và tự phê
    Cả đời theo đảng bỏ về tay không
    Đừng tưởng cả nước mình ông
    Là người miền Bắc lại không dính chàm
    Đừng tưởng lý luận càm ràm
    Xã hội chủ nghĩa mà làm được đâu
    Đừng tưởng bạc cả mái đầu
    Là khôn là sáng, còn lâu, lú rồi
    Đợi xem vài bữa nữa thôi
    Nhìn lại cái ghế Ai ngồi Ai đi...
  6. Sàigon Network TV Chuong trinh “MẶT ĐỐI MẶT” với Thủ Tướng Đào Minh Quân tại Houston-Texas trong ngày đầu năm 3/1/2016:

    https://youtu.be/oRUKHTrZ4aE
  7. Tuyên cáo của Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam lưu vong.
    View attachment 2674


    PROCLAMATION​


    VIỆT NAM CỘNG HÒA
    Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Lâm Thời
    LẤY LẠI ĐẤT TỔ - KHÔNG LÀM KHỔ DÂN
    PO BOX 2807, ANAHEIM, CA. 92814, USA
    760-523-3011​


    TUYÊN CÁO​


    Trong thời gian vừa qua, Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã tự ý xây dựng các cơ sở dân sự và quân sự một cách trái phép trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Quốc Gia Việt Nam, lại còn đưa các giàn khoan vào Biển Đông của Việt Nam để cướp đoạt tài nguyên của nhân dân Việt Nam.

    Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Lâm Thời cực lực lên án các hành động phi pháp nói trên và yêu cầu Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa phải chấm dứt việc xây dựng và rút các giàn khoan ra khỏi lãnh hải của Việt Nam lập tức và vô điều kiện.

    Làm tại Hoa Kỳ, ngày 5 tháng 7 năm 2014

    Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam Lâm Thời

    Đào Minh Quân

    Bản sao kính gởi:

    - Tổng Thống Hoa Kỳ và các Chính Phủ trong Liên Hiệp Quốc.
    - Tổng Thư Ký Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
    - Các cơ quan truyền thông trên toàn thế giới.

    =================================================

    Bản Anh ngữ

    REPUBLIC OF VIETNAM
    THE PROVISIONAL NATIONAL GOVERNMENT OF VIETNAM
    PO Box 2807, Anaheim, CA. 92814 (USA)

    Phone: 760-523-3011

    Email: Mr.daominhquan@yahoo.com

    PROCLAMATION​


    Over the past years, the Government of the People’s Republic of China has arbitrarily built illegal civil infrastructure and military bases on the two Islands of Vietnam, Spratly and Paracel. Also, they recently set up oil rigs in Vietnamese waters to rob the natural resources of the Vietnamese people.

    The Provisional National Government of Viet Nam strongly condemns the unlawful acts mentioned above and requests the Government of the People's Republic of China to immediately and unconditionally stop building any infrastructure on the islands, and to remove all the oil rigs from Vietnam territorial waters.


    The United States on July 5th, 2014
    Prime Minister of the Provisional of Vietnam
    Đào Minh Quân​

    Copies respectfully sent to:

    - The President of the United States and Government Leaders in the United Nations
    - The Secretary General of the UN Security Council
    - Worldwide Communications Agencies.
  8. [video=youtube;YxJu6-niTKw]http://www.youtube.com/watch?v=YxJu6-niTKw&feature=share[/video]
  9. [video=youtube_share;P3-9tgqtNsA]http://youtu.be/P3-9tgqtNsA[/video]
    Trong ngày Chiến sĩ Trận Vong 26-5-2014
  10. View attachment 2661

    Công việc chính của công an là:
    - Dàn dựng.
    - Dàn dựng xong rồi vu khống - chụp mũ.
    - Chụp mũ xong rồi đánh đập và bắt.
    - Bắt xong rồi tra tấn
    - Tra tấn không khai rồi bị ép cung.
    - Sau đó tuyên truyền thành quả.

    fb Dong doi troi mai
  11. Tôi rất thích đoạn văn này của Thủ Tướng Đào Minh Quân, mong được mọi người xem qua và nghiền ngẫm:

    "...Chúng tôi có tấm lòng và hằng triệu đồng bào VN cũng có tấm lòng. Tuy khả năng, phương tiện và hoàn cảnh khác nhau. Nhưng giá trị mọi người trong mục đích phục vụ Tổ Quốc đều giống nhau.

    Đảng CSVN phải bị triệt tiêu và cái gọi là “nhà nước” CHXHCNVN cũng phải bị giải tán để toàn dân chọn lựa 1 chế độ tự do, dân chủ mới, thật sự phục vụ cho dân, biết tôn trọng nhân phẫm và giá trị đích thực của con người.

    Dưới chế độ CS và do sự tuyên truyền xảo trá của cái gọi là “nhà nước” CHXHCNVN, người dân bị khủng hoảng niềm tin. Sự sợ hãi, ngờ vực còn chưa hết. Do đó, những người đang xã thân giúp dân cứu nước, có hoài bảo và ước mơ hạnh phúc, phải là những anh thư, hào kiệt TÂN DÂN CHỦ vị tha đầy can đảm, biết phục vụ Tổ Quốc và nhân dân bằng 1 tấm lòng trong sáng, qủa cảm, với trí óc thông minh, sáng tạo khoa học, trung thực và ý chí bất khuất, kiên cường.

    Hãy cảm thông cho những anh chị em đã sống qúa lâu trong chế độ CS lạc hậu, tăm tối một chiều, có lời nói, cử chỉ thiếu văn hóa. Vì nếu không biết nói láo, nói bậy, không tàn bạo, không biết nhắm mắt, cúi đầu tuân theo “lệnh trên” thì đã không phải là đảng viên CS.

    Đảng CS Tầu rồi cũng như đảng CSVN. Thái độ dương oai, diệu võ của nhúm (nhóm) lãnh đạo Bắc Kinh hiện nay sẽ dễ dàng biến họ trở thành 1 bộ lạc đơn độc trong xã hội loài người, phải sa lầy, bị tan rã do chính tham vọng độc tài, độc ác, độc tôn của họ.
    View attachment 2660
  12. Việc đời có những khổ đau
    Có ai hiểu được tình ai thật lòng
    Thôi thì quên hết muộn phiền
    Không yêu, không nhớ đời mình thảnh thơi...

    Dù rằng có lúc đầy vơi
    Nhưng sao vẫn nhớ những lời yêu thương
    Để rồi khắc khoải vấn vương
    Bánh xe vẫn lại quay vòng thời gian...
  13. Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc
    Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn (Nguyễn Công Trứ)

    ƠN ĐỜI CHỨA CHAN
    Tràm Cà Mau


    Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!


    Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

    Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.


    Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già. Ông cứ nhớ mãi thời đi tù Cộng Sản, mỗi ngày chỉ có được một lon nước chừng một lít, để rửa ráy tắm giặt. Chừng đó thôi, mà cũng xong việc. Khi ấy, thấm cái khăn ướt lau khắp người, nghe mát rượi, đã đời, và khi còn lại một phần nước cặn đen ngòm dưới đáy lon, cầm đổ lên đỉnh đầu, sướng đến rên lên được.

    Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.


    Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm:“Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ :

    “Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.
    Ba nguồn thân thiết dạt dào thương”.

    Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

    Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gỗ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”


    Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.


    Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm.

    Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.


    Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

    Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

    “Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!” Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.” Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?” Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì? ” Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.


    Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

    Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan.

    Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.
    Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.


    Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.
    Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

    Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

    Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.


    Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

    Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.
    Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói : “Thà tự sướng hơn là tự khổ”


    Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau./.


    Tràm Cà Mau
  14. Thập giá của những ông chồng

    Chuyện phiếm của Gã Siêu

    Hình như trong cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng”, có một bài viết được bắt đầu bằng câu : Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu.

    Càng suy nghĩ về đờn ông con giai, gã càng nghiệm thấy thân phận phe ta thật là hẩm hiu, bẽ bàng và cay đắng. Chỉ nguyên những lễ hội trong năm mà thôi, cũng đã đủ cho phe ta tức hộc máu. Nào là ngày lễ tình nhân dành cho những người đang yêu, nào là ngày quốc tế phụ nữ vùng lên đòi quyền sống, nào là ngày tưởng nhớ công ơn mẹ hiền. Ấy là chưa kể tới ở Việt Nam còn có những ngày mừng kính những vị anh hùng…liệt nữ, như ngày Hai Bà Trưng. Tất cả những ngày này đều được tổ chức một cách long trọng và phe ta cứ việc móc hào bao, vui vẻ mua quà tặng cho cánh đờn bà con gái.

    Rất nhiều cố gắng đã được thực hiện để bàn dân thiên hạ vực ngày tưởng nhớ công ơn người cha lên để mừng vào trung tuần tháng sáu, nhưng xem ra chẳng có ma nào hưởng ứng, thành thử những cố gắng ấy chỉ là như một tiếng kêu trong sa mạc mà thôi :

    - Dã tràng xe cát biển Đông,
    Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.

    Đã tới lúc phe ta phải gào lên :
    - Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu.

    Hay hợp lời với nhà thơ Thế Lữ mà hét toáng :
    - Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ!

    Cám cảnh trước số mạng đen thủi đen thui ấy, một tác giả nào đó trong ngày tưởng nhớ công ơn người cha, tiếng Ăng Lê gọi là “Fathers’day”, đã viết một bài với tựa đề “Đền tội”, như để góp thêm một tiếng lẻ loi và cô đơn.

    Thế nhưng, khi đọc xong bài này, gã đã phải vỗ đùi đánh đét một cái và rất lấy làm tâm đồng ý hợp. Vì thế, gã xin mượn tạm một vài hình ảnh của tác giả, làm chất liệu để suy gẫm thêm về thập giá, về nỗi khổ đau của những ông chồng trong hoàn cảnh hiện nay.

    Có một câu chuyện vui kể lại rằng : Hôm đó vào lúc năm giờ chiều, thánh Phêrô đang chuẩn bị đóng cửa thiên đàng, thì bỗng từ xa nghe văng vẳng những tiếng kêu la thất thanh:

    - Lạy thánh cả, chờ con với, chờ con với.

    Thánh Phêrô giật mình quay lại. Không phải một người réo gọi, mà những hai người đang vội vã chạy tới, mồ hôi mồ kê toát ra nhễ nhại.

    Thấy vậy, thánh Phêrô bèn hỏi :
    - Hai anh đi đâu mà chạy cứ như Tào Tháo rượt vậy ?

    Cả hai vừa thở hổn hển, vừa trả lời :
    - Dạ, xin cho chúng con được vào thiên đàng.

    Thánh Phêrô nhìn hai người, rồi lên giọng :
    - Hai anh làm như thiên đàng là chỗ không người, muốn vào lúc nào là vào phải không ?

    Nói đoạn, thánh Phêrô quay lại nhìn chằm chặp như dò xét, rồi chỉ tay thẳng vào người đứng trước, tướng tá đẹp trai, vóc dáng hồng hào khỏe mạnh và hỏi :

    - Anh đã làm gì ở dưới thế ?
    - Dạ, con là linh mục đã bốn mươi năm và đang chuẩn bị mừng kim khánh.

    Nghe vậy, thánh Phêrô bèn bảo :
    - Anh đứng qua một bên. Còn anh kia, anh có gia đình, vợ con gì chưa ? Nếu có thì đã được bao nhiêu năm rồi ?
    - Dạ con đã có vợ được bốn mươi năm và đèo thêm bốn đứa con nữa.
    - Anh làm nghề gì ?
    - Dạ con là dân biểu.

    Vừa nghe nói tới hai chữ dân biểu, thánh Phêrô liền đùng đùng nổi giận :
    - Anh là đại diện dân mà không chịu khó làm việc vì dân, chỉ lo quơ tiền, vơ vét về cho đầy túi tham của mình, nên không xứng đáng vào thiên đàng chút nào.

    Anh ta vội vã giơ tay xin đính chính :
    - Dạ con không phải là dân biểu, nghị sĩ gì ráo cả. Con làm nghề đạp xe xích lô. Dân biểu cho chở đi đâu, thì con chở đi tới đó, nên ở dưới trần thế, cánh nhà báo ăn hại đái nát gọi chúng con là dân biểu.

    Thánh Phêrô nhìn kỹ anh dân biểu, thấy mặt mũi anh ta xanh lè, thân hình anh ta là một bộ xương cách trí biết đi, gầy ốm đong đưa như cây sậy, đứng ngồi không vững. Thánh cả bèn dang rộng hai tay ra ôm lấy con người khốn khổ ấy và nói :

    - Ngày hôm nay, con sẽ ở nơi vui vẻ cùng ta.
    Sau đó, thánh cả quay sang anh linh mục mà phán :
    - Anh phải xuống luyện ngục đền tội bốn mươi năm.
    Anh linh mục nghe vậy lấy làm tức tối, bèn khiếu nại :
    - Tại sao ngài cư xử quá bất công như vậy. Ở dưới đó, con đã thực hiện biết bao nhiêu công việc làm sáng danh Chúa và cứu vớt được biết bao nhiêu linh hồn.

    Không để cho anh linh mục nói hết, thánh Phêrô đã xua tay và ngắt lời :
    -Thôi. Biết rồi, khổ lắm nói mãi. Thế nhưng, anh đâu có hay anh dân biểu này đã đền tội bốn mươi năm rồi, còn anh thì chưa có đền tội một ngày nào hết.

    Nói xong, thánh cả dắt anh dân biểu vào thiên đàng và đóng sập cửa lại, mặc cho anh linh mục la lối om xòm.

    Câu chuyện trên đây muốn nói lên rằng : những anh đờn ông con giai nào đã lấy vợ và có gia đình, đều là những người đang đền tội cả đấy, nhưng mỗi người đền tội theo một cách thức khác nhau.

    Kinh nghiệm đời thường cho thấy : con người không thể nào sống cô độc lẻ loi như một pháo đài biệt lập, hay như một hòn đảo giữa biển khơi, nhưng sống là sống với người khác, nhất là với những người thân yêu trong cùng một gia đình.

    Tuy nhiên, trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội và những buồn phiền, bởi vì bá nhân bá tánh, mỗi người đều có một tính tình riêng, hơn nữa nhân vô thập toàn, ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình.

    Do đó, mỗi gia đình đều có những thập giá của mình. Con cái là thập giá của cha mẹ và cha mẹ cũng là thập giá của con cái. Vợ là thập giá của chồng và chồng cũng là thập giá của vợ. Cho nên Kinh Thánh đã khuyên :

    - Anh em hãy vác đỡ thập giá của nhau.
    Ngôn ngữ Việt Nam quả thực là tài tình và phong phú. Người phụ nữ khi còn là con gái thì dễ thương dễ mến làm sao. Sở dĩ như vậy bởi vì cái âm “ái” có nghĩa là yêu. Từ lời nói dịu dàng đến nhõng nhẽo, từ cử chỉ hiền hòa đến nũng nịu, tất tật đều làm cho trái tim phe đờn ông con giai bị lúc lắc.

    Thế nhưng, cũng người phụ nữ ấy một khi đã trở thành bà vợ, thì bỗng quay phắt 180 độ. Xưa rồi Diễm ơi, đâu còn nữa :
    - Một thương tóc bỏ đuôi gà,
    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
    Ba thương má lúm đồng tiền,
    Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua…

    Sở dĩ như vậy bởi vì cái âm “ợ” nghe chẳng êm tai chút nào, nó làn cho ta như nuốt chẳng trôi, chỉ muốn đưa lên cổ họng,rồi ói ra ngoài mà thôi.

    Đồng thời, cái âm “ợ” nhắc ta nhớ đến danh từ rợ nghĩa là cái dây, cái xích :
    - Trai có vợ như rợ buộc chân.

    Hơn thế nữa, cái âm “ợ” còn khiến ta liên tưởng tới danh từ nợ. Vợ là cái nợ phải mang và phải trả trong suốt đời mình. Chẳng thế mà người ta đã bảo :
    - Anh đờn ông con giai đi lấy vợ là tự ý ký vào bản án chung thân, bế mạc cuộc đời.

    Hay như một câu danh ngôn cũng đã nói :
    - Trong đời anh đờn ông con giai có hai ngày vui. Ngày vui thứ nhất là ngày cưới vợ, vì lúc ấy anh ta ngu ngơ ngớ ngẩn. Còn ngày vui thứ hai là ngày vợ chết, vì lúc ấy, anh ta được thoát khỏi…cái của nợ.

    Vậy đâu là những khổ đau âm thầm đã kết thành cây thập giá đời thường cho những anh chồng ? Dĩ nhiên là có nhiều, nhiều lắm. Nhưng trong khuôn khổ của bài viết, gã chỉ xin đưa ra hai cái tật mà thôi.

    Cái tật thứ nhất là nói dài, nói dẻo, nói dai.

    Tác giả bài “Đền tội” cho biết như sau :
    Các nhà tâm lý nghiên cứu về đời sống lứa đôi, đã đi tới kết luận như sau :
    - Đờn bà sau khi có chồng, thì nói nhiều hơn lúc chưa lấy chồng một trăm lần. Còn đờn ông thì ngược lại, nói ít đi một trăm lần sau khi có vợ.
    Chúng ta thử tưởng tượng xem khi các bà gặp nhau thì sẻ xảy ra những gì ?

    Trước hết là một cái chợ được hình thành. Tất cả những chuyện cà kê dê ngỗng đều được đem ra bày bán, còn hơn hàng cá hàng thịt. Hàng cá hàng thịt thì chỉ có một loại hay một món, có trả giá, có kỳ kèo. Còn đây thì không phải chỉ có một thứ, mà là đủ thứ…hầm bà lằng.

    Các nhà tâm lý còn cho biết : nơi nào có hai bà ngồi nói chuyện với nhau, thì sẽ có một người đờn ông bị đấu tố. Nhưng nơi nào có ba bà ngồi nói chuyện với nhau, thì sẽ có một người đờn ông bị đưa lên đoạn đầu đài, chết tức tưởi không kịp ngáp.

    Trong phạm vi gia đình, ngoài những tin tức lượm lặt từ vỉa hè hay xó bếp hàng xóm, thì điệp khúc buồn được phát đi phát lại nhiều lần trong ngày, đó là điệp khúc “cơm áo gạo tiền”. Thôi thì vật giá leo thang. Thôi thì học phí gia tăng. Thôi thì xăng dầu lên giá. Còn tiền lương khiêm tốn anh chồng đem về chỉ được có bằng ấy, làm sao mà chi dùng cho đủ ? Khốn khổ cho anh chồng làm thân trâu ngựa, hì hục kéo cày suốt năm suốt tháng, cốt tìm tiền kiếm bạc, mà đem về nộp cả cho bà xã.

    Tuy nhiên, không hiểu phe đờn ông con giai ta có nên nghe theo tất cả những lời nói dài, nói dẻo, nói dai ấy hay không ?

    Ngày xưa, trong vườn địa đàng, Thiên Chúa đã dựng nên ông Adong. Thấy ông buồn sầu vì cứ phải lặng lẽ sống cu ki một mình và âm thầm kéo lê những bước chân cô đơn, nên đã dựng nên bà Eva để ông có bạn. Ngài muốn Eva sẽ là người bạn đường đem lại nguồn vui cho ông trong suốt cả cuộc đời.

    Vì thế, Ngài đã ban tặng cho ông bà tất cả những gì tốt đẹp nhất, đặt ông bà lên làm chủ cá biển, chim trời cùng muôn loài muông thú. Ngài chỉ cấm không được ăn trái cây biết lành biết dữ mà thôi.

    Thế nhưng, bà Eva đã không vâng nghe lời Thiên Chúa truyền, giơ tay ngắt trái cấm mà ăn, lại còn xúi ông Adong cùng ăn. Từ đó, ông bà mất đi tất cả.

    Còn chúng ta là con cháu cũng đã bị lãnh đủ hậu quả thảm khốc của tội tổ tông truyền : sống một cuộc sống vất vả vì phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có cơm ăn, một cuộc sống khổ đau vì đất đai đã trổ sinh gai góc và cuối cùng kết thúc bằng cái chết vì là thân tro bụi, nên sẽ phải trở về cùng bụi tro.

    Giả như ông Adong phe lờ và bỏ ngoài tai những lời dụ dỗ đường mật của bà Eva, nhất định không thèm nếm thử trái cấm, thì chắc chắn thân phận của phe đờn ông con giai cũng như của toàn thể nhân loại đã sáng sủa và tốt đẹp hơn nhiều.

    Kinh nghiệm của ông Adong đưa ra cho chúng ta một vấn đề vừa cụ thể lại vừa nghiêm trọng, mà gã cũng vừa mới nêu lên, đó là :

    - Có nên nghe lời vợ hay không ?
    Thiết tưởng phe đờn ông con giai ta cần phải suy nghĩ thật kỹ càng và nghiêm chỉnh về vấn đề này, bởi vì kinh nghiệm ông Adong vẫn còn đó, sờ sờ trước mặt, rồi lịch sử cũng đã minh chứng :

    - Vua nghe vợ, mất nước.
    Thế mà trong phạm vi gia đình, biết bao nhiêu anh chồng vẫn còn mê muội cho rằng :

    - Lệnh vua thua lệnh bà.
    - Nhất vợ nhì giời.
    - Vợ muốn là trời muốn.
    Thành thử mèo vẫn hoàn mèo và chó đen vẫn giữ mực, không khá lên được !!!

    Cái tật thứ hai là vung tay quá trán.

    Lương ông xã thì ba cọc ba đồng, thu nhập chả được bao nhiêu, mà bà vợ thì lại có đam mê mua sắm, bóc ngắn mà lại cắn dài, con nhà lính nhưng tính lại nhà quan, thành thử sự thiếu hụt là như một căn bệnh mãn tính, khiến mọi người đều phải bó tay.

    Tại Việt Nam cũng như tại nhiều nơi trên thế giới, các siêu thị hiện giờ mọc lên như nấm sau cơn mưa và các “shop” liên tục phát triển vì ăn nên làm ra. Họ đã tung vào thị trường biết bao nhiêu “độc chiêu” để dụ dỗ các thượng đế : Nào là mua hàng có thưởng, nào là khuyến mãi giảm giá 50%, nào là mua trả góp…khiến cho các bà các cô, cứ như con nai vàng ngơ ngác, mê mẩn cả tâm thần và máu “shopping” bốc lên đùng đùng. Thấy cái lợi trước mắt mà quên mất cái hại sau lưng. Hiện tượng này phải chăng nên được gọi là “hội chứng shopping”!!!

    Thực vậy, tôi có một cô em thuộc loại ghiền siêu thị. Vào những ngày nghỉ, thì chương trình của cô nàng rất giản đơn : sáng đi siêu thị, chiều đi siêu thị và tối cũng đi siêu thị. Nhiều khi đi chỉ để mà ngắm các thứ hàng hiệu, rồi thèm rỏ rãi, vì tiền đâu mà mua, có nằm mơ cũng chả thấy.

    Có những bà vợ thuộc hàng chuyên viên, luôn nghiên cứu và sưu tầm những cửa hàng khuyến mãi. Hễ chỗ nào khuyến mãi là nhào vô ăn có, bởi vì các bà ấy lý luận :
    - Giá rẻ mạt, tội gì mà không mua.

    Và thế là các bà ấy lôi về nhà đủ mọi thứ lỉnh kỉnh. Thậm chí có thứ chẳng được xài tới một lần. Chỉ tội cho các ông chồng, cứ phải xì tiền ra, mà mặt thì nhăn như cái bị rách.

    Chuyện rằng :
    Trong phiên tòa xử một ông chồng về tội hành hung vợ. Quan tòa phán :
    - Anh không được quyền…đá vợ, làm như vậy là phạm tội. Tòa tuyên án anh ba tháng tù treo và không được tới gần vợ 3 mét trong suốt thời gian thụ án.

    Ông chồng đau khổ xin được hỏi lại :
    - Thưa quan tòa, nếu bà vợ trong gia đình cứ xài tiền lương của chồng một cách xả láng. Tối ngày shopping, tụ họp bài cào tứ sắc, chẳng lo lắng gì đến con cái, đã vậy khi bảo ban thì chẳng nghe, lại còn văng tục chửi thề. Trong trường hợp như thế thì phải làm sao bây giờ ?

    Quan tòa nghe nói, tức khí nổi xung, đập bàn cái rụp và tuyên bố hách xì xằng :
    - Đánh bỏ mẹ nó đi, cho chừa cái tật hỗn láo.

    Nói vậy thôi, chứ đa số đờn ông con giai ta đều hiền như ông…bụt, và nhất là mắc phải chứng bệnh sợ vợ :

    - Lời vợ dặn, phải lắng nghe,
    Mai sau “khôn lớn” mà khoe mọi người.
    Nói ra xin hãy chớ cười,
    Vợ ta ta sợ ! Vợ người…còn lâu.

    Chứng bệnh này dường như đã thấm sâu vào máu huyết con tim, ám vào lục phủ ngũ tạng nên không còn thuốc chữa. Thực vậy, rất nhiều lần phe đờn ông con giai muốn vùng lên, thoát khỏi cái “cồng” bà, mà liền thất bại ngay từ trong ý đồ, ngay từ trong trứng nước.

    Hôm ấy, trời đang nắng bỗng dưng có một cụm mây đen kéo tới và bất ngờ đổ xuống những giọt nước mưa, khiến cho áo quần đang phơi, không kịp chạy đều bị ướt hết trơn hết trọi. Và thế là ông chồng liền bị bà vợ xài xể cho một trận tơi bời hoa lá :

    - Anh thật là phường vô tích sự, chỉ mỗi việc chạy quần áo mà làm cũng không xong. Còn ra cái thể thống gì nữa, sao không chết đi cho rồi.
    Nghe vậy anh hàng xóm bèn góp ý với ông chồng :
    - Tại sao anh cứ để cho bà ấy xài xể và lên mặt như vậy. Phải tay tôi ấy à…

    Vừa phát ngôn tới đây, anh hàng xóm liền nghe thấy một giọng nói oang oang từ phía sau :
    - Gớm thật, phải tay tôi ấy à…
    Quay mặt lại, thấy bà xã đang hầm hầm tiến tới. Và thế là anh hàng xóm bèn cười toe toét:
    - Dạ thưa mình, phải tay tôi thì tôi đã chạy quần áo từ trước khi có những đám mây đen.

    Phe đàn ông con giai của một làng kia bị bàn dân thiên hạ chê là bọn sợ vợ. Nhân ngày các bà đi chợ hết, họ mới ngấm ngầm thông báo tổ chức đại hội. Phen này phe ta nhất định phải rửa nhục. Một là để cho các bà ấy biết tay ta. Hai là để những kẻ xấu bụng thối mồm làng khác không còn dí mũi vào mà khinh bỉ ta nữa.

    Họ đưa ra hết sáng kiến này tới tối kiến kia. Nhưng trước câu hỏi ai sẽ thực hiện, thì xem ra mọi người đều e dè sợ sệt. Cuối cùng, một vị cũng đã can đảm giơ tay xin lãnh nhận nhiệm vụ cao cả ấy. Anh ta nói :
    - Phen này nhất định phải vùng lên, cho các bà ấy lãnh đủ.

    Giữa lúc đang hăng tiết vịt như vậy, thì các bà đi chợ về. Nhìn thấy quang cảnh đại hội, các bà bèn vứt quang, vứt thúng…chỉ còn mỗi cái đòn gánh và xông vào chiến trận.

    Và thế là các ông bèn lỉnh mất tiêu, tìm chỗ nấp để xem sự việc xảy ra làm sao. Chỉ còn mỗi một anh tình nguyện là bám trụ ở lại để chống cự. Các ông mừng thầm vì từ nay mình có một nhà lãnh đạo thật xứng đáng.

    Nhưng sao cứ thấy anh ta quì gối mãi ? Té ra, khi các bà xông tới, anh ta liền bị nhồi máu cơ tim và chết bất đắc kỳ tử trong tư thế quì gối như vậy.

    Giai làng nọ cũng mang tiếng là phường râu quặp, nhưng họ lại có máu văn nghệ. Vì thế, thay vì bạo động, họ vận dụng lời ca tiếng hát để đấu tranh đòi quyền…sướng.

    Vào một đêm trăng sáng, họ tụ lại với nhau, rồi phệu lời ca và cùng nhau tập dượt :
    - Ta không chê vợ người, ta không khen vợ ta…

    Đang say mê với lời ca như vậy, bỗng có mấy bà xuất hiện, thế là họ bèn đổi tông, trước cứng như sắt, thì bây giờ lại mềm nhũn như con chi chi :
    - Nhưng dù sao đi nữa, ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
    Thế mà cũng đòi đấu với tranh, đấm với đá. Một hãy cúi đầu xuống như muông chim cho rồi.
    Mỗi khi gặp những người khổ đau, thiên hạ thường chia sẻ và khuyên nhủ :
    - Âu cũng là thập giá Chúa gửi đến, ráng vác đời này để được thưởng đời sau.

    Một người đờn ông mon men tới cửa thiên đàng. Thánh Phêrô bèn hỏi :
    - Trong cuộc sống nơi trần gian, anh đã làm được những gì để xứng đáng lãnh nhận phần thưởng Nước Trời.

    Anh đờn ông gãi đầu gãi tai mà chẳng thấy mình làm được một việc gì tốt lành cả. Cuối cùng, như sực nhớ ra điều gì, anh bèn nói :
    - Thưa thánh cả, con có vợ ạ.
    Nghe vậy, thánh cả Phêrô bèn vân vê chòm râu bạc và nói :
    - Ngươi cũng đã đau khổ và vác thập giá như ta. Thôi hãy vào thiên đàng mau đi.
    Và để kết luận, gã xin ghi lại mấy mấy câu thơ như một an ủi cho phe ta :
    - Mỗi lần em nổi tam bành,
    Vào phòng đóng cửa mình anh nguyện cầu.
    Nhìn anh, Chúa cũng lắc đầu.
    Thôi con ráng chịu, đời sau phúc lành.

    Chuyện phiếm của Gã Siêu - trích conggiaovietnam.net
  15. [​IMG]

    (Người HK cũng phải có người chân thật như người được kể trong câu chuyện dưới đây:)

    SALT LAKE CITY (AP) - Một gia đình ở Utah mới mua lại một căn nhà cũ, trong lúc xem xét, họ khám phá thấy $45,000 tiền mặt giấu dưới mái nhà. Sau khi bàn bạc, họ đi đến quyết định liên lạc với con của chủ cũ để hoàn trả tất cả.


    Hai vợ chồng Josh và Tara Ferrin (trái) trả lại cho các con trai chủ căn nhà họ mới mua được, $45,000 tiền mặt họ tìm thấy, kể cả mấy thùng đạn rỗng đựng số tiền này. (Hình: Salt Lake Tribune/Provo Daily Herald)

    Hồi đầu tuần, anh Josh Ferrin hoàn tất thủ tục mua căn nhà đầu tiên cho gia đình anh ở Bountiful thuộc ngoại ô Salt Lake City. Hí hửng vì rồi ra anh đã tìm được một nơi mà từ nay cả gia đình anh có thể xem như hoàn toàn thuộc về họ. Anh nhận chùm chìa khóa và quyết định đi xem một vòng.
    Lúc bước vào nhà để xe, một miếng vải từ trên gác lửng thòng xuống gây ngay sự chú ý của anh Ferrin. Trèo lên quan sát, rồi đem xuống một thùng đạn thời Thế Chiến 2, mở ra mới thấy bên trong đầy giấy bạc cuộn lại thành từng bó.

    Anh Ferrin, một họa sĩ làm việc cho báo Deseret News ở Salt Lake City, nói: “Tôi đê mê trước những gì trông thấy, liền gọi cho vợ tôi, kể rằng nàng sẽ không tin những gì tôi vừa khám phá.”
    Sau đó anh tìm thấy thêm 7 thùng nữa và mang tất cả về nhà của bố mẹ. Hai vợ chồng và con cái đổ ra trên bàn, cùng ngồi đếm mới biết tổng cộng có đến $45,000.

    Anh Ferrin nói: “Tôi không nghĩ tôi là người toàn hảo. Tuy biết chúng tôi phải trả lại số tiền này nhưng không có nghĩa là tôi không nghĩ đến chiếc xe đang cần sửa, nghĩ đến việc chúng tôi ao ước có một đứa con nuôi biết chừng nào mà hiện tại không đủ khả năng tài chánh để thực hiện, kể cả sửa sang căn nhà cũ mà chúng tôi mới tậu được. Tuy nhiên, số tiền này không phải của chúng tôi, hơn nữa suốt đời khó có được một cơ hội để làm điều đúng với lương tâm đạo đức. Ðây là bài học tôi hy vọng sẽ dạy được cho con cái.”

    Chủ nhà cũ là ông Arnold Bangerter, mua căn nhà này vào năm 1966, hai vợ chồng sống ở đây đến lúc ông qua đời hồi tháng 11, trong khi bà vợ mất trước đó vào năm 2005.

    Nghĩ về ông Bangerter, người trước đây làm nghiên cứu sinh học cho Cơ Quan Quản Trị về Câu Cá và Săn Bắn, anh Ferrin nói: “Nghĩ đến ông ta sống cặm cụi làm việc. Thỉnh thoảng dành dụm được $100, cột lại thành bó, mang lên gác và cất vào thùng sắt. Tôi biết đâu phải ông ấy để dành tiền cho tôi.”

    Nghĩ lại chủ trước phải tằn tiện suốt đời mới để dành được chừng ấy tiền, gia đình anh Ferrin quyết định mang trả lại tất cả cho mấy người con trai.

    Anh Kay Bangerter, người con trai lớn nhất trong 6 người con của ông chủ cũ, tâm sự, ông có biết ông cụ đem tiền đi giấu, vì có lần ông khám phá thấy một bó tiền dán vào bên dưới một ngăn kéo, nhưng ông chưa hề nghĩ cụ ông lại để dành được nhiều như vậy trong hằng mấy năm trời.

    Anh Kay tiếp: “Cụ ông lớn lên trong thời buổi khó khăn. Những người sống vào thời này nếu không lo dành dụm sẽ trở nên trắng tay một khi đã qua đi. Cụ ông là người chỉ biết để dành chứ không biết tiêu là gì.”

    Người con trai của cụ Bangerter tiếp rằng số tiền đem trả “là một câu chuyện sẽ được truyền tụng trong thế hệ chúng ta và có thể của cả thế hệ quí vị nữa.” (TP)