Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. [​IMG]





    Viêm Khớp Xương
    *


    Viêm khớp xương có hai loại, osteoarthritis (OA) và rheumatoid arthritis (RA). Dù do nguyên nhân khác nhau, cả hai đều gây đau đớn, khó cử động tại các khớp xương bị viêm.

    A. Osteoarthritis (OA)

    Osteoarthritis (OA), còn gọi là degenerative joint disease (DJD) hay chứng thoái hóa khớp xương, là loại viêm khớp xương thông thường nhất. OA xảy ra khi lớp sụn bọc đầu xương bị mòn qua thời gian.

    [​IMG]

    (a): Khớp xương bình thường, (b): Khớp xương bị viêm

    *Hình ảnh của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ


    OA có thể xuất hiện tại bất cứ khớp xương nào trong cơ thể, nhưng thường thấy ở các khớp xương ở bàn tay, hông, đầu gối và xương sống. Trừ khi bị chấn thương, OA hiếm khi xuất hiện tại quai hàm, vai, khuỷu tay, cổ tay hoặc cổ chân. OA thường xuất hiện tại 1 khớp xương, đôi khi cũng xuất hiện tại nhiều khớp xương, như các khớp xương ngón tay.

    Chứng bệnh này diễn tiến từ từ, mỗi ngày một nặng, và Y học ngày nay chưa có cách chữa trị dứt bệnh, chỉ có cách giảm đau và giúp bệnh nhân duy trì phần nào các cử động của khớp xương.

    Viêm khớp xương, thời kỳ cuối:

    [​IMG]

    *Hình ảnh của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ

    Hiệu đính tiếng Việt:

    - Osteoarthritis (late stage) = Viêm khớp xương OA (giai đoạn cuối)
    - Fusiform swelling of joints = Sưng khớp xương
    - Heberden's nodes = Khối u Heberden


    I. Dấu hiệu và triệu chứng: các triệu chứng xuất hiện từ từ, mỗi ngày một nặng, và bao gồm:

    - Đau tại khớp xương trong khi cử động hoặc sau khi cử động
    - Đau tại khớp xương khi sờ nắn
    - Khớp xương “đông cứng” (stiff), nhất là khi thức giấc vào buổi sáng hoặc sau một thời gian không cử động
    - Giảm bớt sự chuyển dịch của khớp xương, khó co duỗi.
    - Đôi khi, khớp xương sưng tấy.

    II. Nguyên nhân

    OA xuất hiện khi sụn bọc đầu xương bị bào mòn qua thời gian. Mặt sụn thường nhẵn (giảm bớt sự ma sát) khi thoái hóa sẽ trở nên nhám, tạo ra sự ma sát khi cử động. Khi lớp sụn này mỏng dần và mất hẳn, hai đầu xương cọ vào nhau khi cử động, tạo ra sự đau đớn, khó chịu tại khớp xương.

    Tại sao sụn bị bào mòn với thời gian thì ta chưa có câu trả lời. Các chuyên gia phỏng đoán rằng việc bào mòn lớp sụn bọc đầu xương là do nhiều yếu tố kể cả chứng mập phì (xương phải chịu một sức nặng hơn mức bình thường nên hao mòn nhanh hơn), tuổi tác, bị chấn thương tại khớp xương, di truyền tính và cả khi cơ yếu (sức).

    III. Những yếu tố gia tăng tỷ lệ của chứng OA:

    • Tuổi tác: OA ít khi xuất hiện ở tuổi dưới 40
    • Phái tính: Phụ nữ thường bị OA nhiều hơn nam phái, lý do tại sao thì ta chưa rõ
    • Sự biến dạng của xương: Đôi khi vì di tính, các khớp xương biến dạng hoặc thiếu sụn bọc đưa đến việc bị OA sớm hơn
    • Chấn thương tại khớp xương: Những thương tích qua tai nạn có thể gia tăng tỷ lệ OA
    • Chứng mập phì: Càng nặng nề, các khớp xương càng chịu một trọng lượng cao hơn, như đầu gối, hông, dễ bị OA hơn
    • Những chứng bệnh khác ảnh hưởng đến xương và khớp xương: Những chứng bệnh như thống phong (gout), rheumatoid arthritis, bệnh Paget gia tăng tỷ lệ bị OA

    IV. Cần tìm cách chữa trị:

    • Khi khớp xương sưng, “đông cứng”, triệu chứng này kéo dài cả 2 tuần lễ mà không thuyên giảm.

    • Nếu đang dùng thuốc chữa viêm khớp xương, báo cho bác sĩ biết những phản ứng phụ như: buồn nôn, đau bụng, phân đen hoặc tím thẫm, táo bón hoặc ngầy ngật.

    V. Chẩn bệnh

    Nếu bác sĩ thấy dấu hiệu và triệu chứng của OA, sẽ truy tìm để chẩn đoán qua nhiều cách sau khi khám nghiệm các khớp xương viêm:

    • Chụp X-ray: ta sẽ thấy khoảng cách giữa 2 đầu xương (joint space) thu hẹp lại, có nghĩa là sụn đã mòn. Ngoài ra ta có thể thấy những “gai” (spur) xương mọc tại khớp.

    • Thử máu: tìm các nguyên nhân khác gây viêm khớp như rheumatoid arthritis (RA).

    • Thử nghiệm chất lỏng từ khớp xương (synovial fluid): Bác sĩ có thể dùng kim rút ra một ít chất lỏng từ khớp xương để thử nghiệm, truy tìm nguyên nhân của phản ứng viêm như nhiễm trùng hoặc thống phong (tinh thể của uric acid).

    • Quan sát khớp xương qua hình thức nội soi (arthroscopy): Để tìm nguyên nhân của việc viêm khớp, bác sĩ có thể dùng dụng cụ nội soi, cắt một lỗ hổng nhỏ ở da và đặt “máy chụp ảnh” vào khớp xương để quan sát các cấu trúc của khớp từ sụn, xương, dây chằng…

    Viêm khớp xương sống:

    [​IMG]

    *Hình ảnh của Mayo Clinic, chỉ được phép sử dụng giới hạn cho mục đích giáo dục, không vụ lợi (only educational and non-profit use is permitted)

    Hiệu đính tiếng Việt:

    - Bone spur = Gai xương
    - Facet = Bề mặt
    - Narrowed disk = Khoảng cách bị thu hẹp


    VI. Biến chứng:

    OA là chứng thoái hóa của khớp xương, sẽ diễn tiến qua thời gian. Khoảng 30% bệnh nhân sẽ chịu tàn tật. Khớp xương đau và đông cứng khiến các cử động trong sinh hoạt hàng ngày trở nên bất khả. Một số bệnh nhân không thể làm việc được nữa. Khi khớp xương đau đến mức độ này, bác sĩ thường tìm cách thay khớp, dù khớp nhân tạo không phục hồi các cử động hoàn toàn nhưng bệnh nhân sẽ không còn đau đớn khi cử động, di chuyển. Với những bệnh nhân không thể chịu một cuộc giải phẫu, sẽ cần dùng thuốc men và các dụng cụ trợ giúp việc sinh hoạt hàng ngày, chẳng hạn như vật dụng để mở hộp, để “nắm”… khi các khớp xương tại bàn tay đã bị đông cứng.

    VII. Chữa trị: Y học không có cách chữa dứt chứng OA, nhưng việc trị liệu sẽ giảm đau đớn và duy trì phần nào các chức năng của khớp xương để bệnh nhân có thể tiếp tục sống theo sinh hoạt hàng ngày mà không trở thành tàn phế. Thuốc men và giải phẫu là hai cách chữa trị sau khi đã dùng các phương cách chữa trị khác mà sự đau đớn tại khớp xương không thuyên giảm.

    1) Cách chữa trị khởi đầu cho chứng OA “nhẹ”:

    • Ngưng sử dụng: Khi khớp xương đau hoặc viêm (sưng, đỏ, nóng và đau), ngưng sử dụng khớp xương ấy 12-24 tiếng. Tìm cách thay thế các cử động để tránh việc dùng khớp xương đau.

    • Thể dục: Với sự chấp thuận của bác sĩ, vận động thân thể khi muốn; dùng những cách thể dục “nhẹ” như đi bộ, đạp xe đạp hoặc bơi lội. Sự vận động có thể gia tăng sức mạnh của bắp thịt quanh khớp xương, giúp khớp xương “vững chắc” (stable) hơn.

    • Giảm cân: Chứng mập phì khiến các khớp xương “chịu” trọng lượng của cơ thể như đầu gối, hông bị bào mòn nhanh hơn. Khi giảm cân, dù chỉ một lượng nhỏ cũng đủ để các khớp xương kể trên bớt ma sát và đau đớn khi di chuyển.

    • Dùng “nhiệt” và “hàn” để giảm đau: cả nhiệt và hàn đều có thể giảm đau tại khớp xương. Túi nước ấm có thể giảm sự “đông cứng” tại khớp xương, và túi nước đá có thể giảm sự co thắt của bắp thịt quanh khớp xương. Dùng nhiệt chườm khớp xương khoảng 20 phút, nhiều lần trong ngày. Dùng hàn để giảm đau và sưng nhiều lần trong ngày. Đừng dùng túi nước đá nếu ta bị tê (mất cảm giác) hoặc tứ chi kém máu lưu thông (poor circulation).

    • Dùng vật lý trị liệu: Các chuyên viên có thể giúp ta tạo một chương trình thể dục thích hợp cho tình trạng sức khỏe toàn diện và sự giới hạn của các khớp xương. Những bài thể dục này có thể giúp duy trì phần nào cử động của khớp và giảm đau.

    • Tìm cách tránh hay thay thế các cử động khiến ta phải dùng các khớp xương đau, nếu cần, tham khảo với các chuyên viên trị liệu như Occupational Therapist về những phương cách này.

    • Dùng các loại kem ngoài da mua tự do: Các sản phẩm này tạo ra “nhiệt” hoặc “hàn” trên da, và có thể giảm đau. Nhớ đọc kỹ nhãn hiệu để biết ta sử dụng loại thuốc gì để sau đó còn gia giảm theo ý muốn.

    • Dùng những vật dụng như những miếng “đệm” gót chân, bọc đầu gối (knee braces)… để giảm sự ma sát, giảm cử động giúp khớp xương bớt đau đớn.

    • Qua các lớp huấn luyện, học cách chịu đựng sự đau đớn (dùng ý nghĩ "điều khiển" phản ứng của cơ thể khi cơn đau xuất hiện). Tại Hoa Kỳ, ta có thể theo các lớp học giới thiệu bởi the Arthritis Foundation.

    2. Trị liệu chứng OA, thời kỳ kế tiếp: Khi sự thoái hóa khớp xương tiếp diễn và các cách trị liệu kể trên không hiệu quả, ta sẽ cần dùng thêm thuốc men. Nhưng thuốc men không cũng chưa đủ, bệnh nhân sẽ cần tiếp tục những động tác thể dục khi có thể và ngưng cử động khớp xương đau khi cần thiết. Nếu bị chứng mập phì, cần tiếp tục xuống cân.

    Những loại thuốc có thể dùng để chữa trị:

    • Acetaminophen (paracetamol hay Tylenol®) giảm đau nhưng không giảm phản ứng viêm, dùng để giảm đau, mức đau nhẹ đến “vừa vừa”. Khi dùng quá liều, có thể đưa đến hư gan, nhất là những người người uống rượu thường xuyên (3-4 ly rượu mỗi ngày). Cần tham khảo với bác sĩ khi dùng acetaminophen với các loại thuốc men khác.

    • NSAID (Non-steroidal anti-inflammatory drug) bán tự do như ibuprofen (Advil®, Motrin®,…), naproxen sodium (Aleve®) giảm đau và giảm viêm. Những loại NSAID khác bán qua toa bác sĩ tác dụng hiệu quả hơn nhưng cũng có thể gây nhiều phản ứng phụ hơn, nhất là khi dùng lâu dài và dùng một lượng thuốc cao. Phản ứng phụ gồm có tiếng kêu trong tai (ù tai), lở dạ dày, xuất huyết dạ dày, suy gan và suy thận. Dùng NSAID cùng với rượu và corticosteroid dễ bị xuất huyết dạ dày.

    • Tramadol (Ultram®): một loại thuốc giảm đau tác dụng tại não bộ (centrally acting analgesic) bán theo toa bác sĩ. Tramadol không giảm viêm nhưng giảm cảm giác đau đớn. Tuy ít phản ưng phụ (so với NSAID) nhưng Tramadol có thể gây táo bón và buồn nôn. Chỉ nên dùng Tramadol trong một thời gian ngắn, và có thể dùng chung với Tylenol®.

    3. Trị liệu chứng OA, thời kỳ cuối, có thể bao gồm:

    • Những loại thuốc giảm đau khác (cần toa bác sĩ) như codeine và propoxyphene (Darvon) có thể giảm những cơn đau trầm trọng. Tuy nhiên loại thuốc này sẽ gây “nghiện” khi dùng lâu dài. Phản ứng phụ gồm có buồn nôn, táo bón và buồn ngủ (kém minh mẫn).

    • Chích cortisone tại khớp xương sẽ giảm đau đớn dù Y học chưa hiểu rõ tại sao cortisone giảm đau ngoài việc giảm viêm. Bác sĩ có thể giới hạn việc dùng cortisone ở một lượng nào đó, quá nhiều cortisone có thể hủy hoại khớp xương.

    • Chích chất hyaluronic acid (Hyalgan®, Synvisc®) hay còn gọi là “visco-supplementation” vào khớp xương sẽ giảm đau qua việc thêm chất nhờn (“đệm” hay cushioning) vào khớp xương, giảm lực ma sát. Việc sử dụng “visco-supplementation” tại khớp đầu gối được Hội Đồng Giám Định Y Khoa chứng nhận, chưa được chứng nhận khi dùng ở các khớp xương khác. Bác sĩ chích “visco-supplementation” mỗi tuần trong vài tuần, và có thể giảm đau vài tháng. Biến chứng có thể là nhiễm trùng, sưng khớp xương và đau. Những bệnh nhân dị ứng với lông hay trứng gia cầm không nên sử dụng.

    Giải phẫu: Đây là giải pháp cuối cùng sau khi đã sử dụng các cách chữa trị kể trên, và dành cho những bệnh nhân sẽ bị tàn phế nếu không giải phẫu.

    • Thay khớp (arthroplasty): Bác sĩ tháo bỏ khớp xương đã hỏng và thay thế bằng khớp xương nhân tạo (prostheses). Khớp xương hông và đầu gối là những khớp xương thường được thay thế; ngày nay việc thay khớp xương vai, khuỷu tay, ngón tay và cổ chân trở nên thông dụng hơn. Những khớp xương nhân tạo có thể giúp bệnh nhân sống bình thường cả 20 năm. Biến chứng có thể là nhiễm trùng và xuất huyết dù tỷ lệ này rất nhỏ và tùy thuộc vào tài năng của bác sĩ giải phẫu.

    • Lấy ra những mảnh sụn, xương (debridement) để giảm đau khi cử động. Bác sĩ dùng dụng cụ nội soi và lấy ra mảnh vụn trong khớp qua một lỗ hổng nhỏ tại khớp xương (arthroscopically).

    • Chỉnh hình: Khi đặt lại các đầu xương đúng chỗ (re-alignment) có thể giảm đau khi cử động. Bác sĩ mở một lỗ hổng trên xương (bên dưới hoặc trên đầu gối) gọi là “osteotomy” và điều chỉnh xương chân hoặc xương đùi.

    • “Fusing bone” còn gọi là “arthrodesis” có nghĩa là khớp xương được “đông cứng” để giảm đau và có thể chịu sức nặng của cơ thể dù khớp xương mất đi phần nào cử động bình thường. Cách chữa trị này để giảm đau khi bệnh nhân không thể chịu cuộc giải phẫu thay khớp.

    Thay khớp xương vai:

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Mayo Clinic, chỉ được phép sử dụng với mục đích giáo dục và không vụ lợi.

    Hiệu đính tiếng Việt:

    - Glenoid prosthesis = Khớp xương vai nhân tạo
    - Humeral prosthesis = Đầu xương cánh tay nhân tạo


    Thay khớp đầu gối:

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Mayo Clinic, chỉ được phép sử dụng với mục đích giáo dục và không vụ lợi.


    Hiệu đính tiếng Việt:

    a/ Healthy knee = Đầu gối bình thường
    - Cartilage = Sụn
    b/ Osteoarthritic knee = Đầu gối bị viêm khớp (OA)
    - Eroded cartilage = Sụn bị ăn mòn
    c/ Artificial knee = Đầu gối nhân tạo
    - Prosthesis = Khớp nhân tạo


    Thay khớp xương hông:

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Mayo Clinic, chỉ được phép sử dụng với mục đích giáo dục và không vụ lợi.

    Hiệu đính tiếng Việt:

    - Normal hip joint = Khớp xương hông bình thường
    - Hip joint affected by osteoarthritis = Khớp xương hông bị viêm khớp xương (OA)
    - Artificial joint = Khớp nối nhân tạo


    VIII. Những cách tự chăm sóc:

    Khi viêm khớp tái phát, ta có thể áp dụng một hoặc nhiều phương cách sau đây để duy trì sinh hoạt hàng ngày:

    • Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng như trái cây, rau và hạt ngũ cốc để duy trì trọng lượng cơ thể (không lên cân) và sức khỏe toàn diện. Không có cách dinh dưỡng đặc biệt nào riêng cho OA. Chưa có loại thực phẩm được chứng minh là hiệu quả trong việc giảm đau hoặc giảm phản ứng viêm.

    • Dùng thuốc men theo lời chỉ dẫn của bác sĩ, đừng chờ đến khi cơn đau bắt đầu mới dùng thuốc.

    • Dùng các vật dụng được chế tạo để giúp ta “nắm”, “mở hộp”… giảm các cử động tại khớp xương đau. Chống gậy khi di chuyển để bớt sức nặng của thân hình, giảm “áp lực” tại khớp đầu gối hoặc hông.

    • Chọn những món đồ không cần dùng đến các cử động của khớp xương: Một cái giỏ sách đeo trên vai thay cho một cái ví cầm tay. Chọn dụng cụ mở hộp thay cho việc dùng sức của cơ tay và các khớp xương bàn tay.

    • “Chia” sức nặng của một vật đến nhiều khớp xương, như khi khiêng một vật nặng, dùng cả hai tay, dùng gậy chống khi di chuyển…

    • Duy trì dáng bộ khi đứng ngồi để sức nặng của cơ thể được chia đều cho các khớp xương. Khi khom lưng, nghiêng vai quá lâu, sức nặng của cơ thể không được san sẻ đồng đều, tạo ra áp lực tại khớp xương, dây chằng, cơ tại nơi chịu sức nặng quá mức. Đi bộ và bơi là hai cách thể dục duy trì dáng bộ tốt nhất.

    • Dùng các cơ khỏe nhất và giữ gìn các khớp xương lớn: cúi nhặt một vật bằng cách gập đầu gối thay vì khom lưng, giữ lưng thẳng.

    • Chọn loại giày dép có đệm, chiều cao vừa phải để giảm áp lực tại cổ chân nhất là khi bị viêm khớp tại đầu gối hay xương sống.

    IX. Tự luyện cách đối phó với bệnh tật:


    Thuốc men và các cách trị liệu để giảm đau và để duy trì phần nào chức năng của khớp xương hư nhưng tinh thần người bệnh giữ phần quan trọng không kém trong việc đối phó với bệnh tật. Một cái nhìn khách quan tươi sáng về đời sống sẽ giúp ta chịu đựng sự đau đớn, và chấp nhận sự giới hạn của mình dễ dàng hơn khi bị bệnh tật.

    • Những người chấp nhận bệnh tật và có cái nhìn tươi sáng về đời sống duy trì sinh hoạt hàng ngày dễ dàng hơn so với những người bi quan yếm thế.

    • Nên tập luyện những cách giúp tâm thần thơ thới nhẹ nhàng như thôi miên, điều khiển tư tưởng và ảo giác để cảm nhận những hình ảnh đẹp (“guided imagery” hay “ngồi Thiền”), cách thở sâu và cách “dưỡng cơ” (muscle relaxation).

    • Biết mức giới hạn của mình. Nghỉ ngơi khi mệt mỏi. Viêm khớp sẽ đưa đến việc dễ mệt mỏi và mất sức, làm việc khi mệt mỏi sẽ hao tổn sức lực nhiều hơn so với khi khỏe mạnh.

    X. Những cách chữa trị khác với Y học Âu Mỹ (Complementary and alternative medicine)

    Bệnh nhân sẽ tìm kiếm các cách chữa trị khác khi cách chữa trị theo Y học Âu Mỹ không đem lại hiệu quả mong muốn. Nói chung, những cách trị liệu này phần lớn chưa được thử nghiệm và chứng minh về sự hiệu nghiệm cũng như sự an toàn cho bệnh nhân. Khi dùng những môn trị liệu này, bệnh nhân nên tham khảo với bác sĩ của mình xem các món dược liệu có tương tác hoặc ảnh hưởng lẫn nhau hay không.

    Một vài cách trị liệu bên ngoài Y học Âu Mỹ đang được tìm hiểu bao gồm:

    • Châm cứu: Những người hành nghề châm cứu tin rằng kim châm vào huyệt đạo sẽ đưa năng lượng của cơ thể đến nơi đau đớn và giảm đau. Những cuộc khảo nghiệm dùng châm cứu để chữa OA không đem lại hiệu quả rõ rệt nào ngoài việc giảm đau tạm thời (temporary relief of pain): Các khớp xương qua hình quang tuyến không có dấu hiệu thay đổi sau khi châm cứu. Biến chứng có thể bao gồm nhiễm trùng, bầm tím nơi da bị châm kim.

    • Gừng: Người ta tin rằng gừng có công hiệu giảm đau. Những cuộc khảo nghiệm dùng gừng để chữa đau đã cho thấy rằng gừng không hiệu nghiệm. Phản ứng phụ bao gồm ăn khó tiêu và tiêu chảy; ngoài ra gừng có thể tương tác với loại thuốc dùng làm loãng máu như warfarin (Coumadin®). Cần thảo luận với bác sĩ của mình khi ta đang uống Coumadin® và muốn dùng thêm gừng.

    • Glucosamine và Chondroitin: Kết quả của các cuộc thử nghiệm về hai chất này chưa có kết luận, phần lớn cho thấy là việc dùng 2 dược chất này không có kết quả. Không nên dùng glucosamine nếu dị ứng với các loại hải sản có vỏ (shellfish) như tôm cua. Chondroitin sulfate có thể tương tác với warfarin, cần thảo luận với bác sĩ.

    • Nam châm (từ trường): Một số bệnh nhân cho rằng đặt nam châm tại khớp xương hư sẽ giảm đau. Một vài bài tường trình cho rằng nam châm giảm đau và một số bài tường trình khác có kết quả trái ngược, có nghĩa là việc sử dụng nam châm chưa được chứng minh là có hiệu quả. Tuy nhiên, nam châm không gây hại gì cho cơ thể.

    • Thái Cực và Yoga: Những động tác này giúp các khớp xương chuyển động nhẹ nhàng, giúp bắp thịt co giãn nhẹ nhàng nên có lợi cho việc gia tăng sức khỏe. Tuy nhiên giới hạn các động tác ảnh hưởng đến các khớp xương hư.

    So sánh sự khác biệt giữa các loại viêm khớp:

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Mayo Clinic, chỉ được phép sử dụng với mục đích giáo dục và không vụ lợi.

    Hiệu đính tiếng Việt:

    a) Khớp bình thường (Normal joint):
    - Bone = xương
    - Fibrous sheath = màng (bọc) sợi
    - Synovial membrane = màng bọc khớp xương
    - Cartilage = sụn
    b) Viêm khớp RA (Rheumatoid arthritis):
    - Bone loss = xương bị huỷ hoại và mất dần
    - Thickened synovial membrane = màng bọc khớp dầy lên
    - Eroded cartilage = sụn bị hủy hoại (mòn từ từ)
    c) Viêm khớp OA (Osteoarthritis):
    - Bone spur = gai (xương)
    - Synovial change = sự thay đổi tại màng bọc
    - Degenerated cartilage = sụn (bị) thoái hóa)



    B. Rheumatoid arthritis (RA)

    RA là một chứng viêm khớp gây đau đớn và hư hại khớp xương. Phản ứng viêm xảy ra tại màng bọc (synovium) khiến khớp xương sưng tấy gây đau đớn và đưa đến hoại khớp, khớp xương biến dạng và không còn hoạt đông. Đôi khi RA ở mức nhẹ nhất cũng ảnh hưởng nặng nề đến đời sống hàng ngày như việc bệnh nhân không thể xoay nắm đấm để mở cửa.

    RA xuất hiện ở phụ nữ nhiều hơn là nam giới (2-3 lần), ở tuổi 40-60, nhưng đôi khi RA cũng xuất hiện với trẻ em và ở tuổi vàng.

    Viêm khớp RA, thời kỳ cuối:

    [​IMG]
    * Sự biến dạng các khớp xương ngón tay

    *Hình ảnh của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ


    Hiệu đính tiếng Việt:


    - Rheumatoid arthrits = Viêm khớp xương (RA)

    Y học ngày nay chưa có cách chữa dứt bệnh RA. Với việc trị liệu đúng mức và chịu thích nghi với sự giới hạn của cơ thể, bệnh nhân có thể duy trì một đời sống tương đối bình thường rất lâu trong khi bị bệnh RA.

    I. Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm:

    • Đau nhức khớp xương
    • Sưng khớp xương
    • Khớp xương nhức nhối khi sờ nắn
    • Bàn tay đỏ và sưng phồng
    • Những cục u dưới da tại cánh tay (rheumatoid nodule)
    • Mệt mỏi
    • Khớp xương đông cứng, không thể co duỗi ít nhất 30 phút khi thức giấc (morning stiffness)
    • Sốt
    • Xuống cân

    Dấu hiệu và triệu chứng kể trên xuất hiện đầu tiên tại các khớp xương nhỏ, có thể nhiều khớp xương cùng lúc, như khớp xương cổ tay, ngón tay, cổ chân và bàn chân. Sau đó chứng bệnh sẽ xuất hiện tại khớp xương vai, khuỷu tay, đầu gối, hông, quai hàm và cổ.

    Những dấu hiệu và triệu chứng kể trên có thể lúc hiện, lúc biến với cường độ khác nhau, thời kỳ triệu chứng xuất hiện, gọi là “flare-up”, xen lẫn với những lúc triệu chứng thuyên giảm hoặc biến mất hoàn toàn.

    II. Nguyên nhân

    RA xuất hiện khi bạch cầu tấn công màng bọc khớp xương (synovium). Bạch cầu khởi đầu phản ứng viêm tại khớp xương. Phản ứng viêm khiến một số protein xuất hiện, sau một thời gian từ nhiều tháng đến nhiều năm, màng bọc khớp xương dầy lên. Những protein này gây hư hại sụn, xương, gân, và cả dây chằng quanh khớp xương. Dần dần, khớp xương biến dạng và các đầu xương trở nên lệch lạc, không còn ăn khớp với nhau nữa, cho đến khi khớp xương bị hủy hoại.

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Mayo Clinic, chỉ được phép sử dụng với mục đích giáo dục và không vụ lợi.

    Hiệu đính tiếng Việt:

    - Blood vesel = mạch máu
    - Dendritic cell = tế bào có tua (giống hình ngôi sao)
    - Lymph node = hạch bạch huyết
    - Activated T-cell = một loại bạch cầu có tên là T-cell, loại bạch cầu này bị tác động trong phản ứng viêm
    - Immunomodulator = tế bào hay chất có thể thay đổi sức đề kháng
    - p38 inhibitor = chất ức chế p38
    - ICE inhibitor = chất ức chế ICE
    - Artery = động mạch
    - Cartilage = sụn
    - Synovium = màng bọc khớp
    - Macrophage = một loại tế bào máu, xuất hiện khi cơ thể có phản ứng viêm hoặc nhiễm trùng
    - B-cell = một loại bạch cầu có tên là B-cell, tạo ra kháng thể (antibody)
    - Những protein xuất hiện trong phản ứng viêm: IL-1 beta, IL-18...


    Y học chưa hiểu rõ những hiện tượng hay biến cố nào tạo ra chứng RA nhưng các chuyên gia tin rằng RA xảy ra do nhiều yếu tố bao gồm cả di truyền tính, cách sinh sống như hút thuốc lá thuốc lào, nơi sinh sống và cả siêu vi khuẩn.

    III. Những yếu tố gia tăng tỷ lệ bị RA:

    • Phái tính: phụ nữ có tỷ lệ bị RA cao hơn nam giới
    • Tuổi tác: xuất hiện trong tuồi 40-60; đôi khi xuất hiện trong tuổi vàng và cả tuổi thơ (juvenile RA)
    • Di tính: Nếu có thân nhân bị RA, tỷ lệ bị RA sẽ gia tăng.
    • Hút thuốc lá, thuốc lào gia tăng tỷ lệ bị RA

    IV. Tìm cách chữa trị khi:

    • Nhiều khớp xương trên cơ thể sưng tấy, đau đớn cùng lúc trong nhiều ngày không thuyên giảm
    • Đã bị RA, và chịu phản ứng phụ khi dùng thuốc men như buồn nôn, đau bụng, phân đen hay tím sẫm, táo bón, và ngầy ngật.

    V. Chẩn bệnh:

    Bác sĩ tìm kiếm dấu hiệu của RA qua việc khám bệnh và qua các cách thử nghiệm sau đây:

    • Thử máu: Bệnh nhân bị chứng RA thường có những kết quả bất thường về “erythrocyte sedimentation rate” (ESR hay sed rate, có nghĩa là cơ thể chịu phản ứng viêm, sed rate càng cao, phản ứng viêm càng trầm trọng); các loại kháng thể (antibody) như “rheumatoid factor” (RF), “anti-cyclic citrullinated peptide antibody (anti-CCP ab)” xuất hiện trong máu. Tuy nhiên, RF cũng như anti-CCP ab có thể không xuất hiện trong máu của tất cả mọi bệnh nhân bị RA. Khi RA mới phát, sự hiện diện của RF và anti-CCP ab báo trước việc hư hại của khớp xương. Ngoài RA, RF và anti-CCP ab cũng hiện diện trong máu của những bệnh nhân bị nhiễm trùng kinh niên như lao phổi, những bệnh tự kháng (autoimmune disease) khác như Lupus và Sjogren.

    • Thử nghiệm chất lỏng từ khớp xương (synovial fluid)

    • Chụp X-ray: Bác sĩ có thể chụp quang tuyến khớp xương đau nhiều lần qua thời gian để theo dõi sự diễn tiến của bệnh trạng.

    VI. Biến chứng:

    RA hủy hoại khớp xương qua thời gian, trong quá trình này, bệnh nhân mất dần khả năng hoạt động và cuối cùng, khớp xương hoàn toàn biến thể đưa đến tàn phế. Những loại trị liệu mới có thể làm chậm lại tốc độ của sự hư hại khớp xương.

    VII. Trị liệu

    Y học ngày nay chưa chữa dứt bệnh RA, chỉ duy trì các cử động của khớp xương hư qua việc ngăn phản ứng viêm và giảm đau, và giảm tốc độ của việc hủy hoại khớp xương. Vì thế việc trị liệu cần áp dụng càng sớm càng tốt; lúc đầu qua thuốc men, sau đó có thể giải phẫu.

    1) Các loại thuốc men:
    Bác sĩ dùng thuốc để giảm đau và giảm tốc độ của sự hủy hoại khớp xương. Tùy mức độ trẩm trọng của RA, các loại thuốc men dùng để chữa trị gồm có:

    • NSAID (Non-steroidal anti-inflammatory drug) bán tự do như ibuprofen (Advil®, Motrin®,…), naproxen sodium (Aleve®) giảm đau và giảm viêm. Những loại NSAID khác bán qua toa bác sĩ tác dụng hiệu quả hơn nhưng cũng có thể gây nhiều phản ứng phụ hơn, nhất là khi dùng lâu dài và dùng một lượng thuốc cao. Phản ứng phụ gồm có tiếng kêu trong tai (ù tai), lở dạ dày, xuất huyết dạ dày, suy gan và suy thận. Dùng NSAID cùng với rượu và corticosteroid dễ bị xuất huyết dạ dày.

    • Steroid: corticosteroid là một nhóm thuốc giảm viêm, prednisone và methylprednisolone (Medrol®), và do đó giảm đau. Steroid giúp bệnh nhân dễ chịu rất nhanh, vài giờ sau khi sử dụng thuốc nhất là khi chích vào khớp xương. Nhưng khi sử dụng lâu, nhiều tháng hoặc nhiều năm, steroid trở nên mất hiệu quả và tạo ra phản ứng phụ khá trầm trọng. Phản ứng phụ có thể bao gồm dễ bầm tím (mà bệnh nhân thường cho là “mỏng da”), loãng xương, đục thủy tinh thể (cataract), lên cân, khuôn mặt trở nên tròn và phệ (moon facie), và tiểu đường. Bác sĩ dùng steroid với mục đích giảm viêm và giảm đau trong một thời gian ngắn và giảm lượng thuốc từ từ qua nhiều ngày trước khi ngưng hẳn.

    • “Disease-modifying antirhumatic drugs, DMARDs” là một nhóm thuốc dùng để ngăn sự diễn tiến của RA, do đó giảm sự hư hại của khớp xương, và bớt mức độ tàn phế. Loại thuốc này được dùng dài hạn, nhiều tuần lễ đến nhiều tháng trước khi nhìn thấy kết quả cụ thể. Vì vậy, nhóm thuốc này thường được dùng chung với những loại thuốc giảm đau, giảm viêm như NSAID để giúp bệnh nhân dễ chịu nhanh chóng. Các loại DMARDs thường được sử dụng gồm có hydroxychloroquine (Plaquenil®), hợp chất auranofin vàng (Ridaura®), sulfasalazine (Azulfidine®), minocycline (Dynacin®, Minocin®) và methotrexate (Rhumatrex®).

    • Thuốc ngăn đề kháng (immunosuppressant): Loại thuốc này ngăn sự đề kháng của cơ thể; trong bệnh RA, cơ thể tạo sức đề kháng rất mạnh, nhưng sức đề kháng này lại nhắm vào chính mình, tự kháng, tại khớp xương. Nhóm thuốc này ngăn các phản ứng đề kháng kể trên. Loại thuốc thường dùng gồm có leflunomide (Arava®), azathioprine (Imuran®), cyclosporine (Neoral®, Sandimmune®). Phản ứng phụ của loại thuốc này khá trầm trọng: dễ nhiễm trùng vì cơ thể mất sức đề kháng.

    • Tumor necrosis factor-alpha (TNF-alpha) là một protein do tế bào tạo ra khi gặp phản ứng viêm của RA. Chất “TNF-alpha inhibitor” ức chế TNF-alpha, do đó ức chế thành phần chính của phản ứng viêm nên giảm đau, giảm sưng tấy tại khớp xương; sử dụng khoảng 1-2 tuần sẽ thấy hiệu quả. TNF-alpha inhibitor có thể ngưng sự diễn tiến của RA, và được dùng chung với methotrexate. Nhóm thuốc TNF inhibitor được dùng bao gồm etanercept (Enbrel®), infliximab (Remicade®), và adalimumab (Humira®). Phản ứng phụ gồm sưng tấy tại nơi chích thuốc, gia tăng mức trầm trọng của chứng suy tim (bệnh nhân bị suy tim không nên dùng), những chứng bệnh về máu, lymphoma, dễ nhiễm trùng. Tóm lại là phản ứng phụ của nhóm thuốc này khá trầm trọng, nên thuốc chỉ được sử dụng như cách trị liệu sau cùng.

    • Anakinra (Kineret®) là một chất tựa như interleukin-1 receptor agonist, (IL-1Ra) do cơ thể tạo ra; Anakinra ngăn ngừa chất khởi đầu của phản ứng viêm. Khi nhóm DMARD không hiệu quả, bác sĩ có thể cần dùng đến Anakinra. Đây là loại thuốc chích hàng ngày, dùng chung với methotrexate. Phản ứng phụ bao gồm sự sút giảm bạch cầu, nhức đầu và dễ nhiễm trùng đường hô hấp. Những người bị suyễn sẽ dễ bị nhiễm trùng hơn nữa. Ngưng dùng Anakinra khi bị nhiễm trùng.

    • Abatacept (Orencia®) ức chế sự tác động của T-cell, do đó ngăn phản ứng viêm và ngừa sự hủy hoại của khớp xương. Abatacept là thuốc chích qua tĩnh mạch, dùng hàng tháng; phản ứng phụ gồm nhức đầu, buồn nôn, và dễ nhiễm trùng.

    • Rituxumab (Rituxan®) giảm lượng B-cell, B-cell ảnh hưởng đến phản ứng viêm. Khi các loại TNF-alpha không hiệu quả, bác sĩ có thể dùng đến Rituxumab, và dùng chung với methotrexate. Rituxumab là thuốc truyền vào cơ thể qua tĩnh mạch, phản ứng phụ gồm sốt, nóng lạnh, và buồn nôn; đôi khi cả dị ứng gây ngạt thở và trụy tim.

    2) Giải phẫu: Khi thuốc men không đủ tác dụng trong việc ngăn ngừa sự hủy hoại của khớp xương, ta sẽ cần đến giải phẫu. Giải phẫu có thể phuc hồi chức năng của khớp xương cũng như giảm đau và tái tạo hình dạng của phần khớp hư. Bác sĩ có thể dùng những cách giải phẫu sau:

    • Thay khớp (total joint replacement, arthroplasty): Bác sĩ thay thế khớp xương hư bằng một khớp nhân tạo, có thể bằng plastic hay bằng kim loại.

    • Sửa chữa gân: Viêm khớp có thể hủy hoại các mô liên kết chung quanh như dây chằng (ligament) hoặc gân (tendon) cần sửa chữa.

    • Cắt bỏ màng bọc quanh khớp (synovectomy): Khi màng bọc (synovium) sưng tấy gây đau đớn, bác sĩ có thể cắt bỏ màng bọc này.
    Biến chứng chính bao gồm xuất huyết trong khớp xương, nhiễm trùng và đau. Bệnh nhân cần thảo luận với bác sĩ của mình trước khi mổ.

    3) Tự chăm sóc: Có những phương cách tự chăm sóc để giúp bệnh nhân dễ chịu hơn và duy trì các sinh hoạt hàng ngày hữu hiệu hơn. Những cách trị liệu này bao gồm:

    • Thể dục: những cách vận động nhẹ nhàng sẽ giúp tăng sức mạnh cho bắp thịt, cần thảo luận với bác sĩ trước khi tập thể dục. Ta có thể bắt đầu bằng cách đi bộ hoặc bơi và thử các cử động trong hồ bơi, nước giảm bớt trọng lực nên khớp xương và cơ hoạt động dễ dàng hơn. Tránh dùng các khớp xương đang sưng tấy. Ngưng các động tác tạo sự đau đớn. Khi cơn đau kéo dài trên 2 tiếng sau khi tập thể dục, điều này có nghĩa là là ta đã hoạt động quá mức chịu đựng của cơ thể.

    • Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để duy trì trọng lượng cần thiết hoặc giảm cân. Không có loại dinh dưỡng đặc biệt nào riêng cho bệnh nhân bị RA. Cũng chưa có loại thực phẩm nào được chứng minh là tốt hoặc xấu cho khớp xương.

    • Bảo vệ các khớp xương đau: Chọn cách hoạt động để giảm áp lực và bảo vệ các khớp xương đau, như dùng những vật dụng để nắm thay cho việc dùng sức tại các ngón tay. Chống gậy khi di chuyển, gậy chịu bớt sức nặng của cơ thể thay cho hông và đầu gối. Xem các “catalog” để tìm những vật dụng thích hợp.

    • Dùng nhiệt: Hơi nóng (vừa vừa) có thể giảm đau tại cơ, tắm nước ấm là một cách “dưỡng cơ”, hoặc dùng túi nước ấm, heating pad. Khi da mất cảm giác hoặc tuần hoàn kém, không nên dùng nhiệt.

    • Dùng đá: đá lạnh giảm cảm giác đau đớn, gây tê và giảm sự co thắt của cơ; dùng túi nước đá hoặc bồn nước lạnh. Khi da mất cảm giác hoặc tuần hoàn kém, không nên dùng đá lạnh.

    • Dưỡng sức qua sự nghỉ ngơi, thân xác cũng như tâm thần. Những kỹ thuật như “biofeedback”, thôi miên, thở sâu và dưỡng cơ đều giúp cơ thể nghỉ ngơi.

    • Tự luyện cách đối phó với bệnh tật: Thuốc men và các cách trị liệu để giảm đau và để duy trì phần nào chức năng của khớp xương hư nhưng tinh thần người bệnh giữ phần quan trọng không kém trong việc đối phó với bệnh tật. Một cái nhìn khách quan tươi sáng về đời sống sẽ giúp ta chịu đựng sự đau đớn, và chấp nhận sự giới hạn của mình dễ dàng hơn khi bị bệnh tật.

    • Những người chấp nhận bệnh tật và có cái nhìn tươi sáng về đời sống duy trì sinh hoạt hàng ngày dễ dàng hơn so với những người bi quan yếm thế.

    • Biết mức giới hạn của mình. Nghỉ ngơi khi mệt mỏi. Viêm khớp sẽ đưa đến việc dễ mệt mỏi và mất sức, làm việc khi mệt mỏi sẽ hao tổn sức lực nhiều hơn so với khi khỏe mạnh.

    VIII. Những cách chữa trị khác với Y học Âu Mỹ (Complementary and alternative medicine)

    Bệnh nhân sẽ tìm kiếm các cách chữa trị khác khi cách chữa trị theo Y học Âu Mỹ không đem lại hiệu quả mong muốn. Nói chung, những cách trị liệu này phần lớn chưa được thử nghiệm và chứng minh về sự hiệu nghiệm cũng như sự an toàn cho bệnh nhân. Khi dùng những môn trị liệu này, bệnh nhân nên tham khảo với bác sĩ của mình xem các món dược liệu có tương tác hoặc ảnh hưởng lẫn nhau hay không.

    Một vài cách trị liệu bên ngoài Y học Âu Mỹ đang được tìm hiểu bao gồm:

    • Gamma-linolenic acid (GLA): là một loại omega-6 fatty acid từ cây cỏ như cây báo xuân (evening primrose), borage và black currant. Chưa có tài liệu nào chứng minh được rằng loại chất béo này ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến RA. Các phản ứng phụ gồm có buồn nôn, tiêu chảy và khó tiêu. Một số dầu thực vật có thể làm hư gan hoặc tương tác với các Âu dược, cần thảo luận với bác sĩ trước khi dùng.

    • Dầu cá chứa eicosapentaenoic acid (EPA) hoặc ocosahexaenoic acid (DHA): Cả hai loại dầu cá này đều thuộc nhóm omega-3-fatty acid. Chưa có tài liệu nào chứng mình rằng chất béo này ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến RA. Phản ứng phụ gồm có buồn nôn, khó tiêu và có mùi tamh của cá trong hơi thở, đôi khi bị nhiễm độc thủy ngân và xuất huyết. Cần tham khảo với bác sĩ vì dầu cá có thể tương tác với thuốc men đang dùng.

    • Thái Cực: Những động tác này giúp các khớp xương chuyển động nhẹ nhàng, giúp bắp thịt co giãn nhẹ nhàng nên có lợi cho việc gia tăng sức khỏe. Tuy nhiên giới hạn các động tác ảnh hưởng đến các khớp xương hư.

    *Hình minh họa cho trang bìa là hình ảnh của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ




    Tài Liệu Tham Khảo:

    • Arthritis (Osteoarthritis)(Food and Drug Administration) - hxxp://www.fda.gov/womens/getthefacts/arthritis.html
    • Arthritis Advice (National Institute on Aging) -hxxp://www.niapublications.org/agepages/arthritis.asp
    • Study Suggests Glucosamine Won't Ease Hip Arthritis(02/18/2008, HealthDay) – h**p://www.nlm.nih.gov/medlineplus/news/fullstory_61289.html
    • Genes Linked to Height Also Tied to Osteoarthritis Risk(01/18/2008, HealthDay) – h**p://www.nlm.nih.gov/medlineplus/news/fullstory_60212.html
    • Bone X-Ray (Radiography)(American College of Radiology, Radiological Society of North America) – h**p://www.radiologyinfo.org/en/info.cfm?pg=bonerad&bhcp=1
    • Osteoarthritis(American Association for Clinical Chemistry) – h**p://www.labtestsonline.org/understanding/conditions/osteo-2.html
    • Arthritis Today's Drug Guide(Arthritis Foundation) - Arthritis Today Magazine l Drug Guide l Arthritis Treatments
    • Choosing Pain Medicine for Osteoarthritis(Agency for Healthcare Research and Quality) - h**p://effectivehealthcare.ahrq.gov/repFiles/Osteoarthritis_Consumer_Guide.pdf
    • Helpful Treatments Keep People with Arthritis Moving(Food and Drug Administration) – h**p://www.fda.gov/fdac/features/2005/205_pain.html
    • Joint Replacement Surgery and You (National Institute of Arthritis and Musculoskeletal and Skin Diseases) – h**p://www.niams.nih.gov/Health_Info/Joint_Replacement/default.asp
    • Joint Surgery Center(Arthritis Foundation) – h**p://www.arthritis.org/surgery-center.php
    • Osteoarthritis of the Knee(American Academy of Family Physicians) – h**p://familydoctor.org/online/famdocen/home/common/pain/disorders/616.printerview.html
    • Shoulder Osteoarthritis Treatment(UpToDate) – h**p://patients.uptodate.com/topic.asp?file=bone_joi/8530
    • Total Knee Replacement(American Academy of Orthopaedic Surgeons) – h**p://orthoinfo.aaos.org/fact/thr_report.cfm?Thread_ID=513&topcategory=Knee
    • Arthritis and Pain: The Non-Steroidal Anti-Inflammatory Drugs(Consumers Union of U.S.) – h**p://www.crbestbuydrugs.org/drugreport_DR_Nsaids2.shtml
    • Types of Surgery(Arthritis Foundation) – h**p://www.arthritis.org/types-surgery.php
    • Viscosupplementation Treatment for Arthritis(American Academy of Orthopaedic Surgeons) – h**p://orthoinfo.aaos.org/topic.cfm?topic=A00217
    • Arthritis Today Supplement Guide(Arthritis Foundation) – h**p://www.arthritis.org/at-supplement-guide.php
    • Therapies to Consider(Arthritis Foundation) – h**p://www.arthritis.org/common-therapies-to-consider.php
    • Rheumatoid Arthritis(American Academy of Family Physicians) – h**p://familydoctor.org/online/famdocen/home/articles/876.printerview.html
    • What Is Rheumatoid Arthritis? (National Institute of Arthritis and Musculoskeletal and Skin Diseases) – h**p://www.niams.nih.gov/Health_Info/Rheumatic_Disease/rheumatoid_arthritis_ff.asp
    • Guide to Lab Tests(Arthritis Foundation) – h**p://www.arthritis.org/guide-lab-tests.php
    • Rheumatoid Factor(American Association for Clinical Chemistry) – h**p://www.labtestsonline.org/understanding/analytes/rheumatoid/test.html
    • Arthritis Today's Drug Guide(Arthritis Foundation) – h**p://www.arthritis.org/drug-guide.php
    • Disease Modifying Antirheumatic Drugs (DMARDs)(UpToDate) – h**p://patients.uptodate.com/topic.asp?file=arth_rhe/5016
    • Helpful Treatments Keep People with Arthritis Moving(Food and Drug Administration) – h**p://www.fda.gov/fdac/features/2005/205_pain.html
    • Joint Injection/Aspiration(American College of Rheumatology) – h**p://www.rheumatology.org/public/factsheets/injection_new.asp?aud=pat
    • Joint Replacement Surgery and You (National Institute of Arthritis and Musculoskeletal and Skin Diseases) – h**p://www.niams.nih.gov/Health_Info/Joint_Replacement/default.asp
    • TNF-Alpha Inhibitors: Treatment for Inflammatory Diseases(Mayo Foundation for Medical Education and Research) – h**p://www.mayoclinic.com/print/rheumatoid-arthritis/AR00039/METHOD=print
    • What Drugs Are Used to Treat Rheumatoid Arthritis?(Cleveland Clinic Foundation) – h**p://www.clevelandclinic.org/health/health-info/docs/0200/0211.asp?index=4750
    • Acupuncture(Arthritis Foundation) – h**p://ww2.arthritis.org/resources/arthritistoday/2000_archives/2000_05_06_acupuncture.asp
    • Ayurvedic Herbs(Arthritis Foundation) – h**p://ww2.arthritis.org/resources/arthritistoday/1999_archives/1999_05_06explorations.asp
    • Common Therapies to Consider(Arthritis Foundation) – h**p://www.arthritis.org/common-therapies-to-consider.php
    • Homeopathy(Arthritis Foundation) – h**p://ww2.arthritis.org/resources/arthritistoday/2000_archives/2000_03_04_homeopathy.asp
    • Medical Oils(Arthritis Foundation) – h**p://ww2.arthritis.org/resources/arthritistoday/1999_archives/1999_07_08explorations.asp
    • Meditation(Arthritis Foundation) – h**p://ww2.arthritis.org/resources/arthritistoday/2001_archives/2001_01_02_meditation.asp
    • Rheumatoid Arthritis and Complementary and Alternative Medicine (National Center for Complementary and Alternative Medicine) – h**p://nccam.nih.gov/health/RA/
  2. [​IMG]


    Viêm Da và Bắp Thịt


    Mở đầu: Trước khi trình bày về chứng dermatomyositis, chúng tôi tóm tắt về sự hoạt động của hệ thống đề kháng (hay hệ đề kháng) của cơ thể. Y lý về dermatomyositis dựa trên căn bản của sự hoạt động bất thường của hệ đề kháng.

    Khái niệm về hệ đề kháng:

    Hệ đề kháng có nhiệm vụ giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của những vật lạ, từ vi sinh (vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nấm…) đến tế bào ung thư (đã biến thái và hư hoại nên cơ thể “nhận diện” như vật lạ), gọi chung là kháng sinh (antigen, Ag).

    Tế bào chính yếu của hệ đề kháng là bạch cầu, loại lymphocyte có tên "tế bào B" (B cell) và "tế bào T" (T cell). Cả hai loại tế bào này xuất phát từ tủy xương (bone marrow). Tế bào T di chuyển đến thymus, phát triển tại đó, trở thành những tế bào trưởng thành (mature) và hoạt động. Tất cả mọi tế bào của hệ đề kháng đều tích tụ tại các hạch bạch huyết (lymph node) và lá lách (spleen). Khi cơ thể bị vật lạ xâm nhập, các phản ứng sau đây xảy ra (xem hình vẽ):

    [​IMG]

    * Hình ảnh của Mayo Clinic, chỉ được phép sử dụng với mục đích giáo dục và không vụ lợi.

    Hiệu đính tiếng Việt:
    - Plasma cell = Tế bào plasma
    - B cell = Tế bào B
    - Memory T-cell = Tế bào T-ghi nhớ
    - Helper T-cell = Tế bào T- phụ trợ
    - Cytotoxic T-cell = Tế bào T-tiêu diệt các tế bào khác
    - Lymph nodes = Các hạch bạch huyết
    - Thymus = ?
    - Spleen = Lá lách
    - Long bone = Xương dài; Marrow = Tủy xương
    - Macrophage = Đại thực bào


    Kháng sinh (hình tam giác) bị “nuốt” một phần (1), bị “nuốt” gọn (2) bởi macrophage và “đem tới” trước tế bào T (3). Quá trình này tác động tế bào T-helper tiết ra nội tiết tố có tên lymphokine (4); nội tiết tố này giúp tế bào B phát triển. Những nội tiết tố kể trên và các kháng sinh biến tế bào B thành những tế bào tạo ra kháng thể (antibody, Ab) có tên là “plasma cell”.

    Kháng thể (hình Y) có nhiều loại: IgG, IgM, IgA, IgE và IgD. Kháng thể và kháng sinh kết hợp chặt chẽ, vừa khít như ổ và chìa khóa. Khi liên kết (binding) với kháng thể, kháng sinh trở nên vô hiệu, không tác hại nữa.Tế bào T-helper cũng giúp phát triển một loại tế bào khác, tế bào T-cytotoxic, có khả năng diệt trừ (trực tiếp) kháng sinh. Quá trình này cũng tạo ra loại tế bào T-memory, ghi nhận các đặc tính của kháng sinh, khi kháng sinh này xâm nhập cơ thể lần sau, hệ đề kháng sẽ tạo ra kháng thể nhanh hơn và hiệu quả hơn.

    Dermatomyositis là một chứng bệnh khá hiếm, bắp thịt suy yếu dần và da nổi mẩn, một loại mẩn riêng biệt cho chứng bệnh này; do phản ứng viêm xảy ra tại các bắp thịt (myo-) và da (derma-).

    Chứng bệnh dermatomyositis có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào, thường thấy trong tuổi 40+ đến 60+ hoặc trẻ em giữa 5-10 tuổi. Phụ nữ bị chứng bệnh này nhiều hơn phái nam. Dermatomyositis xuất hiện từ từ qua nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng.

    Giữa những cơn viêm là những giai đoạn “bình thường”, remission, các triệu chứng tự dưng thuyên giảm. Việc chữa trị có thể giảm mẩn đỏ trên da và duy trì sức mạnh của bắp thịt.

    Triệu chứng

    Thường thấy nhất là những dấu hiệu và triệu chứng sau:

    • Mẩn đỏ tím trên da, nhất là trên da mặt, mí mắt da chung quanh móng tay và chân, ngón tay, khuỷu tay, đầu gối, ngực và lưng. Những vùng da này thường dễ nổi mẩn khi ra nắng.

    • Bắp thịt yếu dần dần, nhất là các bắp thịt trên ngực, lưng, hông, đùi, vai, tay và cổ. Việc yếu bắp thịt xuất hiện đồng dều (symmetrical) trên hai bên của cơ thể.

    Những triệu chứng khác như:

    • Nuốt thức ăn rất khó khăn (dysphagia)
    • Bắp thịt đau và sưng tấy
    • Mệt mỏi, mất sức, lên cơn sốt và xuống ký
    • Những “cục” calcium (calcinosis) tích tụ dưới da, nhất là trong trẻ em
    • Bộ tiêu hóa bị lở loét và nhiễm trùng, nhất là trong trẻ em
    • Biến chứng tại phổi

    Vết mẩn đỏ trên da xuất hiện cùng lúc với việc suy yếu bắp thịt, nhưng có thể xuất hiện trước vài tuần lễ. Đôi khi các vết mẩn trên da giúp xác định căn bệnh. Trong trẻ em, vết mẩn thường trở nên khô cứng, từa tựa như da do chứng scleroderma (chứng da xơ cứng) gây ra, khi triệu chứng này xuất hiện, gọi là sclerodermatomyositis.

    Suy yếu bắp thịt, như bắp thịt hông và vai, có thể khiến người bệnh không thể vươn mình đứng dậy từ thế ngồi, leo cầu thang, chải tóc hoặc làm các cử động đưa tay lên quá đầu. Yếu bắp thịt cổ khiến người bệnh khó nhấc đầu nhìn thẳng.

    Nguyên nhân

    Dermatomyositis là một trong nhóm bệnh có tên “inflammatory myopathy”. Myopathy là chứng bệnh hoặc sự bất thường của các bắp thịt. Y học chưa rõ nguyên nhân của nhóm bệnh này.

    Một trong những chứng bệnh từa tựa như dermatomyositis là polymyositis. Polymyositis tạo ra nhiều triệu chứng giống như dermatomyositis nhưng không gây mẩn đỏ trên da.

    Các chứng bệnh khác trong nhóm bệnh kể trên bao gồm “inclusion body myositis”, diễn tiến rất chậm so với các chứng bệnh khác trong nhóm; “myositis” cùng với các chứng bệnh về mô liên kết như lupus hoặc scleroderma, và loại “myositis” liên quan đến ung thư.

    Vai trò của hệ đề kháng trong chứng dermatomyositis

    Hiện nay, giả thuyết được nhiều chuyên gia ủng hộ là “autoimmune”, dermatomyositis là một chứng bênh do hệ đề kháng chống lại các tế bào mạnh khỏe trong cơ thể. Nhiễm trùng có thể tạo ra viêm bắp thịt, nhưng các chuyên gia hầu như không tìm thấy dấu vết của nhiễm trùng trong các bệnh nhân này.

    Bình thường, hệ đề kháng hoạt động để bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập (và hủy hoại) của kháng sinh. Khi bị dermatomyositis, nguyên nhân từ đâu thì ta không rõ, hệ đề kháng bị tác động và tạo phản ứng dây chuyền: Cơ thể nhận diện tế bào da và bắp thịt bình thường như “vật lạ" hay kháng sinh, và tạo ra kháng thể chống lại các tế bào khỏe mạnh. Các kháng thể này có tên là “auto-antibody” tạm dịch là kháng thể “tự kháng”.

    Những mạch máu nhỏ trong các mô bắp thịt (cơ) bị ảnh hưởng nhiều nhất. Những tế bào viêm bao quanh các mạch máu và dẫn đến sự thoái hóa của những sợi cơ. Trong các bệnh nhân này thường có kháng thể “tự kháng”.

    Khi nào thì cần đi khám bệnh?

    Khi các triệu chứng suy yếu bắp thịt và mẩn đỏ trên da xuất hiện. Chẩn đoán càng sớm thì việc chữa trị thường hiệu quả hơn.

    Nếu bệnh nhân khó nuốt thức ăn, hoặc ngộp thở (những bắp thịt tạo sự giãn nở lồng ngực bị suy yếu), cần gọi cho bác sĩ ngay. Đây có thể là dấu hiệu của bệnh trạng diễn tiến nhanh chóng và sẽ cần chữa trị gấp.

    Chẩn đoán và thử nghiệm

    Dermatomyositis được nhận diện qua đặc tính của mẩn đỏ trên da. Đôi khi da mẩn đỏ nhưng không có dấu hiệu của suy yếu bắp thịt, tình trạng này được gọi là amyopathic dermatomyositis.

    Việc khám bệnh bao gồm bệnh sử, khám toàn khoa và sự thử nghiệm sức mạnh của các bắp thịt, bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều các thử nghiệm sau:

    • Electromyography: Bác sĩ châm kim điện cực vào bắp thịt cần thử nghiệm. Điện lực được nghi nhận khi bắp thịt co thắt và giãn nghỉ. Sự thay đổi của mẫu điện đồ có thể xác nhận sự bất thường trong hoạt động của bắp thịt (cơ) và chẩn đoán căn bệnh. Khi thử nghiệm nhiều bắp thịt khác nhau, bác sĩ có thể nhận ra dấu vết của căn bệnh và xác quyết dermatomyositis ảnh hưởng đến những bắp thịt nào.

    • Thử máu: Lượng các phân hóa tố của bắp thịt gia tăng, như creatine kinase (CK) và aldolase. Lượng các phân hóa tố này càng lên cao có nghĩa là sự hư hoại bắp thịt càng trầm trọng.

    Sự hiện diện của các kháng thể “tự kháng” trong máu giúp chẩn đoán căn bệnh. Một số các kháng thể “tự kháng” đặc biệt khi xuất hiện sẽ là dấu hiệu của sự hoại của da, hoặc của phổi, và có thể dùng để theo dõi tác dụng của thuốc men, loại thuốc sử dụng có hiệu quả hay không. Những kháng thể thể này giúp bác sĩ chọn cách chữa thích hợp nhất.

    • Trích mô (sinh thiết) bắp thịt: Bác sĩ lấy ra một mảnh bắp thịt để thử nghiệm và tìm kiếm sự bất thường của bắp thịt như bị viêm, hư hoại hoặc nhiễm trùng. Các chi tiết khác từ sinh thiết có thể là sự hiện diện của các protein bất thường cũng như lượng phân hóa tố thấp.

    • Trích mô da: Bác sĩ cũng có thể lấy một mảnh da để thử nghiệm và xác quyết căn bệnh: dermatomyositis hay lupus (mỗi chứng bệnh mang các đặc tính riêng biệt). Khi sinh thiết da xác quyết căn bệnh, bác sĩ không cần trích mô bắp thịt.

    • Magnetic resonance imaging (MRI): Những hình ảnh này giúp bác sĩ nhận diện các bắp thịt bị viêm.

    Cần theo dõi dấu hiệu của nhiễm trùng


    Bệnh nhân bị dermatomyositis dễ nhiễm trùng, nhất là đường hô hấp và tiêu hóa. Vì thế bác sĩ cần theo dõi tình trạng sức khỏe kỹ lưỡng để tránh nhiễm trùng. Việc chẩn đoán sớm sẽ giúp chữa trị hiệu quả các chứng nhiễm trùng.

    Biến chứng

    Bệnh nhân có thể gặp một hoặc nhiều các biến chứng sau:

    • Khó nuốt thức ăn: Khi bắp thịt tại thực quản bị suy yếu, sẽ khó nuốt thức ăn (dysphagia) và đưa đến việc suy dinh dưỡng và xuống ký

    • Thức ăn vào phổi sau khi bị sặc: Suy yếu các bắp thịt thực quản đưa đến việc khó nuốt, bị sặc khi ăn uống, và do đó thức ăn, nước miếng xuống khí quản, xuống phổi gây sưng phổi (pneumonia).

    • Khó thở: Suy yếu các bắp thịt tại ngực khiến lồng ngực không thể giãn nở, hít hơi do đó bị ngộp thở

    • Tích tụ calcium: Trong các giai đoạn cuối, calcium tích tụ (đóng cục, calcinosis) tại bắp thịt, da và các mô liên kết

    Dermatomyositis có thể liên quan đến một số chứng bệnh khác:

    • Raynaud's phenomenon: Khi gặp lạnh, mạch máu tại đầu ngón chân tay, má, tai, mũi co thắt, thiếu máu dẫn đến những nơi này nên da xanh tím, đau đớn.

    • Những chứng bệnh về mô liên kết khác: Như lupus, rheumatoid arthritis, scleroderma và Sjogren's syndrome có thể xuất hiện chung với dermatomyositis.

    • Bệnh tim mạch: bắp thịt tim có thể bị viêm (myocarditis), gây ra suy tim và loạn nhịp.

    • Bệnh phổi: Chứng “interstitial” có thể xảy ra cùng với dermatomyositis. Đây là các chứng bệnh gây xơ phế nang, phổi thành xơ nên không đàn hồi co giãn khi thở nữa. Dấu hiệu là ho khan và ngộp thở (vì thiếu dưỡng khí).

    • Ung thư: Dermatomyositis trong người lớn thường liên quan đến ung thư, loại phổi, vú, buồng trứng và đường tiêu hoá. Tỷ lệ ung thư gia tăng theo tuổi tác

    Trong khi mang thai

    Mang thai khiến tình trạng bệnh tật trầm trọng hơn. Dermatomyositis trong giai đoạn này có thể dẫn đến hư thai hoặc sinh thiếu tháng

    Chữa trị


    Chưa có cách để chữa trị dứt bệnh dermatomyositis, nhưng việc chữa trị sẽ giảm các triệu chứng mẩn da và suy yếu bắp thịt. Chữa trị càng sớm, hiệu quả càng cao vì giảm được biến chứng. Các loại trị liệu bao gồm:

    • Corticosteroids: Loại thuốc này ức chế hệ đề kháng, giảm việc tạo ra kháng thể, giảm viêm tại da và bắp thịt. Prednisone là loại thông dụng nhất và là loại thuốc được sử dụng đầu tiên.

    Bác sĩ có thể bắt đầu với một lượng thuốc rất cao, sau đó giảm lượng thuốc dần khi triệu chứng thuyên giảm. Trung bình khoảng 2-4 tuần là thấy tác dụng thuốc. Bác sĩ có thể dùng loại kem bôi trên da, hiệu quả xuất hiện sau 3-6 tháng chữa trị, nhưng thường cần dùng thuốc bôi nhiều năm.

    Dùng corticosteroid lâu năm sẽ gặp nhiều biến chứng như loãng xương, lên ký, tiểu đường, dễ nhiễm trùng, tâm tính thay đổi bất chợt, đục thủy tinh thể, cao huyết áp, và suy yếu bắp thịt. Bác sĩ có thể dùng thêm calcium và sinh tố D để giúp duy trì xương và có thể dùng thêm bisphosphonates, như alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel).

    • Ức chế hệ đề kháng: Nhóm thuốc này được sử dụng khi bệnh tình không khả quan với corticosteroid. Bác sĩ có thể dùng một trong những thuốc như azathioprine (Imuran) hoặc methotrexate (Rheumatrex). Những loại thuốc này có thể dùng riêng biệt hoặc dùng chung corticosteroids.

    Khi dùng chung, loại thuốc ức chế hệ đề kháng có thể giảm lượng corticosteroids và giảm các biến chứng. Loại cyclophosphamide (Cytoxan) và cyclosporine (Neoral, Sandimmune) có thể được dùng để chữa triệu chứng của phổi xơ (interstitial lung disease).

    • Thuốc chữa sốt rét: Khi mẩn đỏ trên da vẫn xuất hiện, bác sĩ có thể dùng một loại thuốc chữa sốt rét (antimalarial) như hydroxychloroquine (Plaquenil) hoặc chloroquine phosphate (Aralen).

    • Vật lý trị liệu: Vật lý trị liệu có thể giúp cơ thể duy trì sức mạnh của bắp thịt và thích nghi với mức hoạt động của cơ thể. Chương trình thể dục sẽ thay đổi qua thời gian và với tình trạng bệnh lý. Điều quan trọng là duy trì sự vận động của cơ thể.

    • Giải phẫu: Những “cục” calcium dưới da có thể gây đau đớn và cần cắt bỏ qua giải phẫu.

    • Thuốc giảm đau: Có thể dùng các loại thuốc bán tự do như aspirin, ibuprofen (Advil, Motrin, others) và acetaminophen (Tylenol). Khi cần, bác sĩ có thể cho các loại thuốc khác như codeine.

    Các cách chữa trị Dermatomyositis còn đang được tìm hiểu và thử nghiệm bao gồm (có nghĩa chưa được nhìn nhận là hữu ích):

    • Lọc huyết thanh (Plasmapheresis): cách chữa trị này còn gọi là “plasma exchange”, là một cách “lọc” phần chất lỏng (không có các tế bào) trong máu để loại bỏ những kháng thể bị hủy hoại.

    • Xạ trị (Radiation therapy): Bác sĩ dùng tia phóng xạ tại các hạch bạch huyết (lymph nodes) để ức chế hệ đề kháng.

    • Truyền kháng thể qua tĩnh mạch (Intravenous immunoglobulin, IVIg): Dùng kháng thể của người tặng truyền vào cơ thể bệnh nhân trong 2-5 ngày. Cách chữa trị này rất đắt tiền nhưng có thể là một phương pháp trị liệu khi các cách chữa trị khác vô hiệu.

    • Fludarabine (Fludara). Loại thuốc này ngăn ngừa sự phát triển của các tế bào ung hoại.

    • Tacrolimus (Prograf): Đây là một loại thuốc dùng trong các trường hợp ghép bộ phận, ức chế hệ đề kháng của cơ thể giúp chữa trị các chứng nổi mẩn, xơ cứng của da do việc “tự đề kháng”.

    • Monoclonal antibodies: Đây là những kháng thể nhân tạo được sử dụng để truy tìm và hủy hoại những tế bào được lựa chọn. Những cuộc thử nghiệm lâm sàng đang diễn tiến để thử nghiệm tác dụng của infliximab (Remicade) và rituximab (Rituxan) trong việc chữa trị chứng polymyositis và dermatomyositis. Ngoài ra, etanercept (Enbrel) cũng đang được thử nghiệm để xác định hiệu quả trong việc chữa trị dermatomyositis.

    Bệnh nhân có thể tự giúp mình qua các cách sau:

    Đây là một chứng bệnh kinh niên, chịu đựng triền miên một thân thể không được khỏe mạnh khiến người bệnh dễ ngã lòng, buồn nản. Để thích nghi và tìm ra con đường sống cho chính mình, ngoài việc chăm sóc sức khỏe, bệnh nhân có thể thử các phương cách sau:

    • Hiểu rõ về bệnh trạng: Tìm đọc mọi dữ kiện về dermatomyositis và các chứng bệnh viêm bắp thịt khác cũng như chứng “tự đề kháng”. Nói chuyện với những bệnh nhân khác. Đừng ngại việc đặt câu hỏi với các chuyên viên chăm sóc sức khỏe.

    • Tích cực tham dự vào cuộc thảo luận việc chăm sóc cho chính mình: Ta, bác sĩ và các chuyên viên khác là một nhóm người có cùng mục đích: chữa trị căn bệnh của mình. Theo đúng chương trình chữa trị mà ta đã chấp nhận và đồng ý. Nói cho bác sĩ biết những diễn tiến của căn bệnh, ghi chép những dữ kiện xảy ra cho mình, sự thay đổi của các triệu chứng mới, cũ... Theo đúng các chương trình thể dục đã đặt ra. Chuyên viên dạy nói (speech therapist) có thể chỉ dẫn các kỹ thuật tập luyện bắp thịt tại cổ khi khó nuốt thức ăn. Chuyên viên về dinh dưỡng có thể chỉ dẫn cách ăn uống để giữ sức khỏe.

    • Tự giữ gìn sức khỏe: Đừng chờ đến khi hoàn toàn kiệt sức, tự lượng sức mình mà nghỉ ngơi đầy đủ và bằng lòng với thành quả đạt được. Đừng cố gắng quá sức mình, tập nói “không” để từ chối những việc quá sức.

    • Dùng sản phảm chống nắng (sunscreen): Những nơi nổi mẩn trên da là những nơi dễ bắt nắng và hư hoại, nên dùng sản phẩm chống nắng để bảo vệ da khi ra ngoài trời.

    • Dùng các dụng cụ giúp ta sinh hoạt dễ dàng hơn trong đời sống hằng ngày kể cả gậy chống, xe lăn.

    • Nhìn nhận những cảm xúc của mình: Chối bỏ, uất ức, giận dữ, buồn nản và trầm cảm... là những phản ứng tự nhiên trước nghịch cảnh khi đối mặt với căn bệnh ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống. Thượng Đế dường như không công bằng và các biến cố xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát của ta. Cảm giác sợ hãi và cô lập là những cảm tính thường xảy ra, vì vậy nên duy trì mối thân tình với người thân, gia đình và bạn hữu. Cố gắng duy trì những hoạt động hàng ngày, và đừng bỏ qua những những việc đem lại niềm vui, khiến ta thích thú, vui vẻ.


    * Tài liệu của Mayo Clinic, cập nhật ngày 12 tháng Bảy, 2007, The National Institute of Neurological Disorders and Stroke (NINDS) và bộ Y Tế Hoa Kỳ (the National Institutes of Health, NIH) cập nhật ngày 28 tháng Mười, 2008.
    * Hình minh họa cho trang bià là hình ảnh của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ

    Các chương trình thử nghiệm lâm sàng về dermatomyositis

    Tài liệu của ClinicalTrials.gov (tháng Mười, 2008)

    1 Recruiting Combined Treatment of Methotrexate + Glucocorticoids Versus Glucocorticoids Alone in Patients With Polymyositis and Dermatomyositis
    Conditions: Polymyositis; Dermatomyositis
    Interventions: Drug: Prednisone; Drug: Methotrexate

    2 Completed Safety and Effectiveness of h5G1.1-mAb for Dermatomyositis
    Condition: Dermatomyositis
    Intervention: Drug: h5G1.1-mAb

    3 Completed Methimazole to Treat Polymyositis and Dermatomyositis
    Conditions: Dermatomyositis; Polymyositis
    Intervention: Drug: methimazole

    4 Recruiting Efficacy and Safety Study of GB-0998 for Treatment of Steroid-Resistant Polymyositis and Dermatomyositis (PM/DM)
    Conditions: Polymyositis; Dermatomyositis
    Interventions: Drug: GB-0998; Drug: Placebo of GB-0998

    5 Active, not recruiting Infliximab (Remicade® (Registered Trademark)) to Treat Dermatomyositis and Polymyositis
    Conditions: Dermatomyositis; Polymyositis
    Intervention: Drug: Infliximab

    6 Recruiting A Pilot Study of Etanercept in Dermatomyositis
    Condition: Dermatomyositis
    Interventions: Drug: etanercept; Other: placebo

    7 Terminated Understanding the Pathogenesis and Treatment of Childhood Onset Dermatomyositis
    Condition: Dermatomyositis
    Interventions: Drug: Prednisone; Drug: Methotrexate; Drug: Etanercept

    8 Recruiting Five-Year Actively Controlled Clinical Trial in New Onset Juvenile Dermatomyositis
    Condition: Juvenile Dermatomyositis
    Interventions: Drug: Prednisone; Drug: Cyclosporine A; Drug: Methotrexate

    9 Recruiting Rituximab for the Treatment of Refractory Adult and Juvenile Dermatomyositis (DM) and Adult Polymyositis (PM)
    Conditions: Myositis; Dermatomyositis; Polymyositis; Juvenile Dermatomyositis
    Interventions: Drug: Rituximab; Drug: Placebo

    10 Recruiting Absorption of Corticosteroids in Children With Juvenile Dermatomyositis
    Conditions: Vasculitis, Hypersensitivity; Connective Tissue Diseases; Dermatomyositis; Vasculitis
    Interventions: Drug: Methylprednisolone; Drug: Prednisolone

    11 Recruiting Study and Treatment of Inflammatory Muscle Diseases
    Conditions: Autoimmune Disease; Dermatomyositis; Inclusion Body Myositis; Myositis; Polymyositis
    Intervention:

    12 Recruiting Investigation in Myositis-Associated Pneumonitis of Prednisolone And Concomitant Tacrolimus
    Conditions: Interstitial Pneumonitis; Polymyositis; Dermatomyositis
    Intervention: Drug: Tacrolimus

    13 Recruiting A Study to Evaluate Safety of Multi-Dose MEDI-545 in Adult Patients With Dermatomyositis or Polymyositis
    Condition: Dermatomyositis or Polymyositis
    Intervention: Biological: MEDI-545

    14 Recruiting Adult and Juvenile Myositis
    Conditions: Dermatomyositis; Polymyositis; Idiopathic Inflammatory Myopathy; Healthy
    Intervention:

    15 Recruiting Study of Families With Twins or Siblings Discordant for Rheumatic Disorders
    Conditions: Rheumatic Diseases; Rheumatoid Arthritis; Systemic Lupus Erythematosus; Scleroderma; Dermatomyositis; Myositis
    Intervention:

    16 Completed Intravenousimmunoglobulin (IVIg) for the Treatment of Inflammatory Myopathies
    Conditions: Dermatomyositis; Inclusion Body Myositis; Polymyositis
    Intervention: Drug: Gamma Globulin

    17 Recruiting Pilot Study of Total Body Irradiation in Combination With Cyclophosphamide, Anti-Thymocyte Globulin, and Autologous CD34-Selected Peripheral Blood Stem Cell Transplantation in Children With Refractory Autoimmune Disorders
    Conditions: Systemic Sclerosis; Systemic Lupus Erythematosus; Dermatomyositis; Juvenile Rheumatoid Arthritis; Autoimmune Diseases
    Intervention: Procedure: Stem Cell Transplantation

    18 Recruiting myoARRAY and TcLandscape Analysis for the Diagnosis of Inflammatory Myopathies
    Conditions: Polymyositis; Dermatomyositis
    Interventions: Procedure: transcriptome analysis from muscle biopsy; Procedure: blood T cell repertoire analysis

    19 Active, not recruiting Alendronate Osteoporosis Study
    Condition: Glucocorticoid-Associated Osteopenia and Osteoporosis
    Intervention: Drug: Alendronate

    20 Recruiting Studies on Abnormal Bone From Patients With Polyostotic Fibrous Dysplasia and McCune Albright Syndrome
    Condition: Polyostotic Fibrous Dysplasia
    Intervention:

    21 Completed Genetic and Family Studies of Inherited Muscle Diseases
    Conditions: Dermatomyositis; Glycogen Storage Disease Type II; Glycogen Storage Disease Type VII; Myositis; Polymyositis
    Intervention:

    22 Completed Treatment With TNF Blockade, Infliximab, in Patients With Myositis
    Condition: Refractory Myositis
    Intervention: Drug: Infliximab

    23 Completed Resistance Exercise Reduces the Expression of Inflammation and Fibrosis Associated Genes in Autoimmune Myositis Patients
    Conditions: Myositis; Exercise
    Intervention: Other: exercise

    24 Completed Studies of the Natural History and Pathogenesis of Autoimmune/Connective Tissue Diseases
    Conditions: Autoimmune/Connective Tissue Diseases; Idiopathic Inflammatory Myopathies; IIM
    Intervention:

    25 Recruiting Mycophenolate Mofetil in Systemic Sclerosis
    Condition: Diffuse Cutaneous Systemic Sclerosis
    Intervention: Drug: Mycophenolate Mofetil

    _____________

    * Với những cuộc thử nghiệm lâm sàng đã hoàn tất (completed) hoặc ngưng hoạt động, khi kết quả được công bố, chúng tôi sẽ đem tài liệu về Thư Viện để tiện việc tham khảo thêm.
  3. [​IMG]




    Liệt Một Bên Mặt


    Định nghĩa: Các bắp thịt (cơ) ở 1 bên mặt không cử động theo ý muốn

    Nguyên nhân chính (75%) của sự liệt cơ mặt là do chứng Bell’s palsy, xảy ra khi thần kinh mặt bị viêm. Những nguyên nhân khác bao gồm:

    1. Đột quỵ (stroke) trong trường hợp này ngoài cơ mặt bị tê liệt (mí mắt không khép chặt, khóe miệng bị sụp nên chảy nước dãi, nụ cười bị méo…), những bắp thịt khác trên thân thể như tay chân cũng bị liệt.

    2. Bướu não (brain tumor): những triệu chứng xuất hiện từ từ qua nhiều ngày, thêm cả nhức đầu, làm kinh, hoặc giảm thính giác (nghe không rõ hoặc điếc một bên tai)

    3. Sarcoidosis

    4. Bệnh Lyme

    5. Nhiễm trùng

    6. Chấn thương khi sanh (trẻ sơ sinh)

    Gọi cho bác sĩ khi sự tê liệt cơ mặt xuất hiện.

    Gọi xe cứu thương khi sự tê liệt cơ mặt xuất hiện cùng lúc với nhức đầu, làm kinh hoặc mắt không nhìn thấy nữa ("mù" một bên mắt).

    Cách chữa trị tùy thuộc vào nguyên nhân.

    Để tìm kiếm nguyên nhân, bác sĩ có thể dùng các cách thử nghiệm sau:
    - Thử máu, đo đường huyết, ESR và Lyme test
    - MRI hay CT scan (một loại hình ảnh về cấu trúc của não bộ)
    - Electromyography (EMG)

    Bell’s Palsy
    (còn gọi là Idiopathic peripheral facial palsy)

    Định nghĩa: Bell’s palsy là một loại liệt cơ mặt có tính cách giai đoạn, xảy ra do thần kinh điều khiển các cơ mặt bị thương tổn.

    Nguyên nhân: Thần kinh não bộ VII bị thương tổn (cranial mononeuropathy VII), tỷ lệ của chứng Bell’s palsy là 2/10,000 người. Chứng tiểu đường, Sarcoidosis, và bệnh Lyme thưởng gây ra Bell’s palsy.

    Triệu chứng:

    - Cơ mặt co giật
    - Cơ mặt yếu, không cử động theo ý muốn
    - Sụp mí mắt, sụp khóe miệng
    - Ứa nước dãi vì môi không thể khép kín
    - Khô mắt và miệng
    - Mất hoặc giảm vị giác
    - Ăn uống khó khăn
    - Nhức đầu

    Dấu hiệu:


    Cơ mặt bị yếu tại 1 bên mặt, có thể ảnh hưởng đến trán, mí mắt, hoặc miệng. Áp huyết bình thường.

    Bác sĩ cần thử máu để tìm nguyên nhân và chữa trị cho chính xác. Khi triệu chứng kéo dài nhiều tuần lễ, bác sĩ sẽ cần thử EMG để đo mức thương tổn của thần kinh.

    Chữa trị:
    chứng Bell’s palsy sẽ tự thuyên giảm không cần chữa trị. Tuy nhiên để giảm triệu chứng, bác sĩ có thể dùng:

    - Corticosteroid (prednisolone, prednisone) được dùng để giảm phản ứng viêm, hiệu nghiệm nếu dùng trong vòng 24 tiếng khi triệu chứng xuất hiện.
    - Thuốc nhỏ mắt (natural tears) hoặc băng kín mắt giúp mắt bớt khô

    Khoảng 60-80% các bệnh nhân sẽ bình phục hoàn toàn trong vài tuần lễ đến 3 tháng. Một số khác, các triệu chứng trở nên kinh niên gây bực bội khó chịu cho bệnh nhân dù chứng Bell’s palsy không ảnh hưởng đến tính mạng.

    Biến chứng:

    - Méo mặt do việc mất cử động của các cơ mặt
    - Hư hại giác mạc (do lở giác mạc hoặc nhiễm trùng)
    - Cơ mắt hoặc mí mắt co giật kinh niên
    - Mất vị giác
    - Synkinesis (mất sự phối hợp của cơ mặt theo cảm tính như ứa nước mắt khi cười hoặc ứa nước miếng bất chợt)

    Đi khám bệnh ngay khi các triệu chứng của Bell’s palsy xuất hiên để bác sĩ kịp thời thử nghiệm, tìm kiếm các nguyên nhân trầm trọng hơn như đột quy. Sau khi chẩn đoán chính xác, Bell’s palsy được theo dõi và chữa trị tại nhà.


    Bệnh Lyme


    Bệnh Lyme được cộng đồng Y học tường trình lần đầu tiên năm 1975, xuất phát từ Old Lyme, tiểu bang Connecticut, Hoa Kỳ. Ngày nay, bệnh Lyme xuất hiện trên toàn thế giới, thường vào cuối mùa Xuân, mùa Hè và đầu Thu.

    Định nghĩa: Bệnh Lyme là một chứng viêm xuất phát từ vết cắn của rệp, tick bite.

    Nguyên nhân: Bệnh Lyme gây ra bởi vi khuẩn Borrelia burgdorferi (B. burgdorferi); một số chủng rệp “chứa” (carrier) loại vi khuẩn này. Rệp nhiễm trùng khi hút máu chuột hoặc nai bị nhiễm trùng. Rệp cắn người và gây bệnh. Chủng rệp (hút máu thú rừng) rất nhỏ nên nhiều khi bị cắn người ta chỉ thấy vệt cắn mà không nhìn thấy con rệp.

    Có 3 thời kỳ: Bệnh Lyme thời kỳ thứ nhất (primary), thứ nhì (secondary) và thứ ba (tertiary).

    Triệu chứng: Bắt đầu là những triệu chứng như sốt, nhức đầu, nóng lạnh, đau bắp thịt và ngầy ngật; tương tự như khi bị cảm cúm. Trên da có thể nổi mẩn đỏ (rash) có dạng “bulls-eye”, vệt cắn sưng đỏ với một vòng tròn chung quanh, khoảng 1-3 phân Anh đường kính.

    Vào thời kỳ thứ ba, bệnh nhân có thể bị cứng cổ, đau nhiều khớp xương, ngứa ngáy khắp cơ thể, loạn nhịp tim và thay đổi tâm tính.

    Dấu hiệu: sưng khớp xương, loạn nhịp tim và dấu hiệu thương tổn của não bộ. Bác sĩ cần thử máu để tìm bệnh Lyme (đo lượng kháng thể chống lại vi khuẩn B. burgdorferi).

    Chữa trị: Dùng trụ sinh để diệt trùng; loại trụ sinh được chọn tùy thuộc vào thời kỳ và mức trầm trọng của bệnh Lyme.

    Khi chẩn bệnh trong thời kỳ thứ nhất, bệnh Lyme được chữa trị bằng thuốc trụ sinh, và bệnh nhân sẽ khỏi bệnh. Vào thời kỳ sau cùng, dù được chữa trị, bệnh Lyme vẫn để lại những biến chứng kinh niên. Các biến chứng này bao gồm viêm khớp xương kinh niên (Lyme arthritis), loạn nhịp tim và thương tổn thần kinh não bộ như:
    • Mất khả năng tập trung ý nghĩ
    • Mất trí nhớ
    • Mất cảm giác trên thân thể
    • Đau nhức các bắp thịt
    • Liệt cơ mặt
    • Mất ngủ
    • Thị giác sút giảm

    Phòng ngừa bệnh Lyme: Khi đi dạo chơi trong rừng, nên mặc quần áo dài che kín chân tay, ống quần bỏ trong vớ và đi giày che kín bàn chân. Xịt các loại thuốc chống côn trùng trên quần áo.
  4. [​IMG]





    Nhiễm Trùng Đường Hô Hấp

    [​IMG]


    Bài viết này chỉ đề cập đến phần trên của bộ phận hô hấp (upper respiratory tract); phần này bao gồm: mũi, miệng, cổ họng kể cả thanh quản (larynx), pharynx (yết hầu).

    Nhiễm trùng phần trên của đường hô hấp là loại nhiễm trùng thông thường nhất, gây ra bởi siêu vi khuẩn, vi khuẩn hoặc các loại vi sinh khác. Hầu hết những sự nhiễm trùng này dẫn đến cảm lạnh, hoặc cúm nhẹ; ngắn hạn và không nguy hại đến sức khỏe. Đôi khi, trận cúm có thể trầm trọng, việc nhiễm trùng dẫn đến viêm phổi (pneumonia).

    Các vi sinh gây nhiễm trùng đường hô hấp thường lan tràn qua:
    • Tiếp xúc trực tiếp (từ tay-đến-miệng)
    • Gián tiếp qua không khí (airborn): Ho hoặc hắt hơi (những nước mũi, nước miếng bắn ra ngoài

    Chứng cảm lạnh (common cold)


    Chứng cảm lạnh, danh từ y khoa gọi là “infectious nasopharyngitis”, là chứng nhiễm trùng đường hô hấp thường thấy nhất. Trên 200 loại siêu vi khuẩn có thể gây chứng cảm lạnh. Loại siêu vi khuẩn thường thấy nhất là rhinovirus. Triệu chứng bắt đầu trong thời gian 1-3 ngày sau khi nhiễm trùng.

    Cơn cảm lạnh thường diễn tiến như sau:

    • Bắt đầu là ngứa cổ và ngạt mũi
    • Sau vài giờ, các triệu chứng khác xuất hiện: hắt hơi, rát cổ, lên cơn sốt, nhức đầu, ê ẩm bắp thịt và ho.
    • Sốt nhẹ hoặc không bị sốt; nhưng với trẻ em cơn sốt có thể lên đến 103 độ F trong 1-2 ngày liền. Sau đó, cơn sốt hạ và trở lại bình thường trong ngày thứ 5.
    • Nước mũi thường trong và loãng trong ngày 1-3, sau đó đặc dần và có màu vàng hoặc xanh.
    • Rát cổ thường nhẹ, kéo dài 1-2 ngày. Ngạt mũi thường kéo dài 2-7 ngày mặc dù ho và chảy nước mũi có thể kéo dài đến 2 tuần.

    Năm 2006, một chủng nguy hiểm của siêu vi khuẩn adenovirus xuất hiện tại Hoa Kỳ. Chủng adenovirus này gây nhiễm trùng đường hô hấp và cũng gây viêm phổi, viêm mắt và những chứng bệnh khác. Chủng adenovirus 14 gây nhiễm trùng đường hô hấp trầm trọng đưa đến tử vong. Một số bệnh nhân cần được chữa trị tại bệnh viện, và ngay cả khu chữa trị các cơn bệnh trầm kha (intensive care unit)

    Chứng cúm (flu, influenza)

    Mỗi năm, có vài triệu người trên thế giới bị cúm. Dịch cúm trở nên nguy hại khi cơn nhiễm trùng gây ra bởi một chủng siêu vi khuẩn mới, và hầu như chưa ai có kháng thể để đề kháng một cách hữu hiệu. Những trận dịch toàn cầu (pandemic) này có thể ảnh hưởng đến cả trăm triệu người. Như trận dịch Spanish flu năm 1918, giết hại 20 triệu người Hoa Kỳ và Âu Châu, 17 triệu người Ấn Độ. Ngày nay, việc di chuyển bằng máy bay, tàu bè rất dễ dàng nên hiểm hoạ của một trận dịch toàn cầu còn dễ dàng xảy ra.

    Siêu vi khuẩn influenza biến thái rất nhanh khi lan tràn từ sinh vật này sang sinh vật khác. Hầu hết chủng influenza loại A thường khởi đầu từ các loại di điểu. Trong khi hầu hết các loại siêu vi khuẩn gây cúm gia cầm (bird flu) tương đối vô hại, một vài chủng siêu vi khuẩn này trở nên vô cùng nguy hiểm, và gây tử vong cho gia cầm cũng như con người. Con người dễ dàng nhiễm trùng siêu vi khuẩn gây cúm gia cầm khi tiếp xúc với các thú vật nhiễm trùng như gà heo. Chủng H5N1 gây nhiễm trùng và tử vong cho con người tại nhiều nơi trên thế giới.

    Triệu chứng của cúm: Bệnh nhân thường ngã bệnh từ 1-4 ngày sau khi nhiễm trùng, và trận cúm thường diễn tiến như sau:

    • Triệu chứng xuất hiện thình lình, gồm nhức đầu, ê ẩm bắp thịt, mệt mỏi và lên cơn sốt cao độ (103 độ F)
    • Ho (khan nhưng dữ dội), đôi khi ngạt mũi và rát cổ
    • Trẻ em thường ói mửa, tiêu chảy, nhiễm trùng tai và các triệu chứng cúm khác
    • Triệu chứng kéo dài 4-5 ngày, có thể đến 2 tuần lễ. Đôi khi trận cúm có thể trở nên trầm trọng hoặc khiến các chứng bệnh (có sẵn) khác trầm trọng hơn

    Dẫn truyền siêu vi khuẩn

    Siêu vi khuẩn cúm truyền từ người nọ sang người kia qua các hạt nước mũi, miệng từ việc ho đến hắt hơi. Người lớn truyền bệnh cho người lân cận trong thời gian ngày -1 (1 ngày trước khi chính người bệnh đầu tiên có triệu chứng của cúm) đến ngày 5 (sau khi đã có triệu chứng), nghĩa là người bệnh dễ truyền bệnh cho kẻ khác trong vòng 6 ngày đầu tiên của cơn cúm. Trẻ em có thể truyền bệnh sớm hơn nữa, khoảng 6 ngày trước khi chính chúng có triệu chứng của cúm. Những người suy hệ miễn nhiễm như tiểu đường, suy thận… có thể truyền siêu vi khuẩn nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng sau khi chính họ bị nhiễm trùng.

    Những chủng siêu vi khuẩn flu

    Một siêu vi khuẩn bao gồm nhiều di thể “gói” trong một màng protein. Màng này được bọc bởi một lớp chất béo chứa các phân tử có tên “glycoprotein”. Chủng loại siêu vi khuẩn được nhận diện, rồi đặt tên qua số màng protein và loại glycoprotein.

    Hai loại siêu vi khuẩn flu chính được đặt tên là A và B:

    • Influenza A lan tràn mạnh mẽ nhất, gây nhiễm trùng cho cả thú vật lẫn con người. Influenza A là nguyên nhân của những trận dịch cúm toàn cầu mà ta biết đến. Chủng siêu vi khuẩn này còn được phân loại theo 2 chất hiện diện trên màng protein: hemagglutinin (H) và neuraminidase (N).

    • Influenza B gây nhiễm trùng trong con người, không thường thấy như Influenza A, nhưng thấy trong các trường hợp đặc biệt như tại trung tâm chăm sóc người già (nursing home)

    Hầu hết các cơn cúm đều do Influenza A; loại này gây nhiễm trùng trầm trọng hơn so với B. Tuy nhiên vì loại B ít gây nhiễm trùng nên ít người có kháng thể để đề kháng, do đó khi trận dịch xảy ra, có thể gây nhiễm trùng nặng hơn.
    Cúm gia cầm (Avian influenza, bird flu)

    Mặc dù sự nguy hại của cúm gia cầm khá thấp, các chuyên gia vẫn lo ngại về chủng cúm gia cầm H5N1. Từ năm 1997, H5N1 đã tạo nhiều trận dịch gà toi trên nhiều quốc gia Á Châu. Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tính đến ngày 15 tháng Giêng năm 2008, 350 người đã bị nhiễm trùng do H5N1 gây ra, trong số này 217 người đã chết. Chưa có trường hợp nhiễm trùng nào tại Hoa Kỳ.

    Loại nhiễm trùng này truyền từ thú vật sang con người, chưa có trường hợp truyền nhiễm giữa người và người. Tuy nhiên các chuyên gia vẫn theo dõi và tìm cách chặn đứng sự nhiễm trùng do H5N1 gây ra. Các phương cách này bao gồm việc giết bỏ các gia cầm nhiễm trùng, chế tạo thuốc chủng ngừa và dự trữ kháng sinh như oselfarmivir. Những quốc gia đang phát triển đã chịu gánh nặng HIV-AIDS, nếu H5N1 biến thái và trận dịch bùng vỡ, hậu quả khó có thể lường.

    Tháng Tư 2007, cơ quan FDA của Hoa Kỳ cho phép bán loại thuốc chủng ngừa cúm gia cầm nhưng đây là một thứ thuốc chủng ngừa chỉ dùng trong trường hợp đặc biệt, khi cúm gia cầm có thể lan truyền giữa con người.

    Chẩn đoán

    Sự khác biệt giữa cảm lạnh và cúm khó có thể phân biệt rõ ràng, nhưng nói chung, triệu chứng của cảm lạnh thường nhẹ hơn cúm.

    [​IMG]

    *Theo National Institute of Allergy and Infectious Disease

    Chẩn đoán cúm

    Ta có thể dùng nhiều loại thử nghiệm để chẩn đoán chứng cúm nhưng thường không cần thiết vì các triệu chứng khá rõ ràng. Tuy nhiên khi cần, bác sĩ vẫn có thể xác nhận bệnh trạng qua việc thử nghiệm nước mũi (dùng bông gòn thấm nước mũi hoặc màng nhày cổ họng (nose hoặc throat swab) và gửi đến phòng thí nghiệm.

    Việc cấy chất lỏng từ mũi-họng (Nasopharyngeal culture) sẽ nhận dạng vi sinh gây nhiễm trùng và thường dùng để tìm loại vi khuẩn Bordetella pertussis và Neisseria meningitidis. Kết quả thử nghiệm giúp bác sĩ chọn chính xác loại kháng sinh để chữa trị.

    Một số loại thử nghiệm có thể cho kết quả trong vòng 90 phút, nhưng chỉ có thể nhận diện một vài chủng siêu vi khuẩn. Cấy siêu vi khuẩn có kết quả chính xác hơn nhưng cần từ 3-10 ngày. Thử máu cũng giúp bác sĩ chẩn đoán căn bệnh.

    Chẩn đoán cúm gia cầm

    Tháng 2 năm 2006, cơ quan FDA cho phép bán một loại thử nghiệm cúm gia cầm có tên “Influenza A/H5 Virus Real-time “, TR-PCR Primer & Probe Set. Loại thử nghiệm này cho kết quả trong vòng 4 tiếng. Những loại thử nghiệm khác cho kết quả trong 2-3 ngày. Các loại thử nghiệm này nhận dạng siêu vi khuẩn Influenza A, loại H5. Nếu hiện diện, bác sĩ sẽ cần dùng các loại thử nghiệm khác để xác quyết chi tiết hơn về chủng loại, như H5N1

    Những nguyên nhân khác gây ngạt mũi

    Viêm màng mũi do dị ứng (Allergic rhinitis): Triệu chứng bao gồm mũi ứ nước, khó thở, tương tự như khi bị cảm lạnh. Tuy nhiên khi bị dị ứng, sẽ có những triệu chứng khác như:

    • Nước mũi trong, loãng
    • Ngứa ngáy trong mắt, mũi và cổ họng
    • Hắt hơi liên tục

    Có hai loại viêm mũi dị ứng:

    • Triệu chứng xuất hiện theo thời tiết, có tên là seasonal allergic rhinitis (hay fever hoặc rose fever)
    • Triệu chứng xuất hiện quanh năm vì dị ứng với môi trường sống như bụi, nấm, mốc, lông chó mèo… loại này có tên là “perennial allergic rhinitis”.

    Không nên lầm lẫn với viêm xoang (sinusitis), triệu chứng của viêm xoang gồm có:

    • Ứ nước trong mũi sau khi cơn cảm lạnh đã dứt
    • Nước mũi đục, đặc
    • Không bớt ngạt mũi sau khi dùng các loại thuốc “thông” như “decongestant” và antihistamine
    • Đau trên hàm răng hoặc một bên mặt
    • Đau ở hốc mắt khi cúi đầu

    Trẻ em thường không cảm thấy đau trên mặt hoặc nhức đầu nhưng lên cơn sốt cao và ho liên miên cả chục ngày với những triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp.

    Những nguyên nhân khác gây ho


    Viêm khí quản cấp tính (acute bronchitis): thường do siêu vi khuẩn gây ra và tự khỏi bệnh. Cơn ho kéo dài 7-10 ngày, nhưng trong 50% người bệnh, cơn ho có thể kéo dài đến 3 tuần, 25% trong số này, cơn ho kéo dài đến cả tháng.

    Sưng phổi (atypical pneumonia): do loại vi khuẩn khác thường như Mycoplasma pneumonia, Chlamydia, Legionella, gây triệu chứng tương tự như bị cúm. Cần thử nghiệm để chẩn bệnh chính xác.

    Những chứng nhiễm trùng siêu vi khuẩn trầm trọng do siêu vi khuẩn Respiratory syncytial virus (RSV) và human parainfluenza viruse là những siêu vi khuẩn gây nhiễm trùng trầm trọng trong trẻ em, người già và những người suy hệ đề kháng. RSV gây triệu chứng tương tự như cúm.

    Pertussis hay “whooping cough” (bạch hầu) là căn bệnh thường thấy trong trẻ em vào thế kỷ trước. Việc chủng ngừa đã giảm nguy cơ bị bạch hầu rất nhiều. Năm 1980 tại Hoa Kỳ chỉ có 180 trường hợp bạch hầu nhưng tỷ lệ chứng bệnh này gia tăng rất cao, 30,000 trường hợp, trong những năm 1997-2000 và 17 trẻ em tử vong. Trên thế giới tỷ lệ bạch hầu cũng gia tăng, lý do tại sao thì ta chưa rõ.

    Hiện nay, khoảng 50% các ca bệnh thấy trong bệnh nhân 10 tuổi trở lên, có thể do kháng thể đã sút giảm (từ khi được chủng ngừa). Khoảng 25% người lớn bị ho không dứt do chứng bạch hầu, và thường không được ghi nhận vì người lớn thường không bị ho với tiếng ho "nghẹn gió" như trẻ em. Dù người lớn không đau nặng khi bị bạch hầu nhưng có thể truyền bệnh cho trẻ em, nhất là những đứa trẻ không được chủng ngừa hoặc đã chủng ngừa nhưng không đủ kháng thể.

    Những nguyên nhân khác gây rát cổ

    • Strep throat: viêm cổ họng do streptococcus gây ra
    • Nhiễm trùng từ thực phẩm hay nguồn nước (do Streptococcus C và G)
    • Vi khuẩn Arcanobacterium haemolyticum: hiếm thấy nhưng khi nhiễm trùng gây rát cổ và nổi ban trên da
    • Infectious mononucleosis (“mono”)

    Viêm cổ họng do Streptococcus (strep throat) là gì?

    Vi khuẩn nhóm A Streptococcus là loại vi khuẩn gây viêm cổ họng trầm trọng. Thường thấy trong trẻ em đến tuổi đi học. Triệu chứng gồm có:

    • Cổ đau rát thình lình
    • Nuốt một cách khó khăn
    • Lên cơn sốt cao
    • Nhức đầu
    • Đau bụng
    • Ói mửa

    Khoảng 50% bệnh nhân có triệu chứng rõ rệt, ngược lại 50% những người bị rát cổ không bị viêm cổ họng do Streptococcus.

    Chẩn đoán

    Hầu hết triệu chứng rát cổ do bị cảm lạnh thường không cần chữa trị, cổ đau rát 1-2 ngày rồi hết. Khi cổ họng sưng tấy nhiều ngày, bác sĩ sẽ cần tìm kiếm và chẩn đoán bệnh trạng.

    • Bác sĩ tìm kiếm dấu hiệu sưng đỏ trên hạch trong cổ, có bệt trắng quanh hạch. Tuy nhiên, tonsil (amydal) nở lớn không hẳn do viêm cổ họng do Streptococcus.
    • Hạch bạch huyết trên cổ sưng lớn, nếu các hạch bạch huyết này bình thường, thì tỷ lệ viêm cổ họng do Streptococcus rất thấp
    • Cấy vi khuẩn (bacterial culture) từ cổ họng sẽ xác nhận bệnh trạng

    Cấy vi khuẩn là cách xác nhận bệnh trạng chính xác nhất, và cần 24-48 tiếng.
    Cách thử nghiệm khác là tìm kháng sinh của vi khuẩn “strep”, loại thử nghiệm này có tên “rapid strep antigen test”, dùng hóa chất để nhận diện kháng sinh trong vòng mươi phút. Một kết quả (+) luôn luôn xác nhận sự nhiễm trùng. Nhưng loại thử nghiệm này “bỏ qua” khoảng 10-20% trường hợp nhiễm trùng, nghĩa là bệnh nhân bị nhiễm trùng nhưng kết quả thử nghiệm là (-). Do đó, việc cấy vi khuẩn vẫn cần thiết để xác nhận bệnh trạng.

    Viêm cổ họng do Streptococcus nguy hại như thế nào?

    Việc dùng kháng sinh đã giảm thiểu sự nguy hại của hầu hết các biến chứng từ việc nhiễm trùng do Streptococcus gây ra. Tuy nhiên khi không chữa trị hoặc chữa trị không đầy đủ, bệnh nhân sẽ chịu một hoặc nhiều biến chứng sau:

    • Bọc mủ (abcess) trong tonsil (amidal)
    • Scarlet fever
    • Rheumatic fever (hiếm thấy tại Hoa Kỳ)

    Viêm cổ họng do Streptococcus được chữa trị ra sao?

    Cần dùng thuốc kháng sinh.

    Thuốc kháng sinh ngăn ngừa biến chứng nguy hại nhất của nhiễm trùng vi khuẩn Streptococcus là rheumatic fever, có thể hủy hoại van tim. Khi chữa trị sớm, kháng sinh hoàn toàn ngăn ngừa biến chứng kể trên. Ngoài ra, thuốc kháng sinh khiến cơ thể hồi phục nhanh hơn từ cơn nhiễm trùng.

    • Nhóm Penicillin là loại kháng sinh thông dụng nhất trừ khi bị dị ứng. Cần dùng thuốc đủ 10 ngày . Amoxicillin, là một loại Penicillin, rất hiệu quả khi dùng đủ 10 ngày, mỗi ngày 1 lần.
    • Nhóm Macrolide: Erythromycin là loại thông dụng nhất trong nhóm thuốc này, và là loại thuốc được chọn khi bệnh nhân dị ứng với Penicillin. Cần dùng thuốc đủ 10 ngày. Một loại macrolide khác, azithromycin có thể dùng trong 5 ngày, mỗi ngày 1 lần.
    • Nhóm Cephalosporin cũng rất hiệu quả.

    Thuốc kháng sinh thường bị sử dụng một cách lầm lẫn hoặc bừa bãi cho những trường hợp nhiễm trùng cổ họng không do Streptococcus gây ra. Một cuộc quan sát của chính phủ đã ghi nhận rằng trong thời gian 1989-1999, 6.7 triệu người Hoa Kỳ đi khám bệnh vì bị viêm cổ họng và 73% bệnh nhân được cho thuốc kháng sinh. Nhiều cuộc quán sát cũng ghi nhận rằng người lớn và cả trẻ em với triệu chứng viêm cổ họng không bị viêm cổ họng do Streptococcus và các chuyên viên Y Tế lo ngại rằng thuốc kháng sinh bị lạm dụng.

    Phụ huynh nên an tâm chờ đợi: hoãn dùng thuốc kháng sinh trong khi chờ đợi kết quả thử nghiệm không tạo hậu quả nào cho con em, kể cả các biến chứng lâu dài như rheumatic fever. Trừ khi bệnh nhân đau nặng, có thể dùng kháng sinh trong khi chờ đợi kết quả thử nghiệm. Nếu thử nghiệm cấy vi khuẩn cho thấy không nhiễm trùng, bác sĩ có thể ngưng thuốc kháng sinh.

    Trẻ em bị rhumatic fever trong quá khứ khi bị viêm cổ họng cần dùng thuốc kháng sinh ngay lập tức, trước khi có kết quả thử nghiệm. Trẻ bị viêm cổ họng và có thân nhân bị viêm cổ họng do Streptococcus cũng cần bắt đầu thuốc kháng sinh ngay.

    Ngăn ngừa

    Cảm lạnh và cúm dễ truyền nhiễm, tất cả mọi người cần rửa tay trước khi ăn uống và sau khi ra ngoài trời. Rửa tay với xà bông thông thường là đủ. Các loại sản phẩm dùng để rửa tay có chứa alcohol cũng hiệu quả.

    Những sản phẩm chống vi khuẩn (antibacterial products)

    Những sản phẩm này không mấy hiệu quả trong việc ngăn ngừa siêu vi khuẩn. Loại xà bông thông dụng hiệu quả hơn trong việc ngừa siêu vi khuẩn so với các sản phẩm chống vi khuẩn RSV. Lau rửa các mặt bàn, quầy với hợp chất chứa nước pha thuốc tẩy (1 phần thuốc tẩy như chlorine hòa tan trong 10 phần nước) rất hiệu quả trong việc diệt siêu vi khuẩn.

    Cảm lạnh không do việc mặc quần áo không đủ ấm hoặc ra ngoài trời lạnh trong khi tóc còn ướt.

    Các yếu tố về dinh dưỡng

    Thực phẩm chứa Lactobacilli: Các chuyên gia khảo cứu đang tìm hiểu về tác dụng của lactobacilli giống vi khuẩn tìm thấy trong ruột, đặc biệt chủng acidophilus dùng để làm sữa chua (yogurt). Theo một bài tường trình từ Phần Lan, trẻ em ở nhà giữ trẻ ăn uống sữa chứa lactobcacilli GG từ 10-20% ít bị nhiễm trùng hơn so với các đứa trẻ khác.

    Sinh tố: Kết quả về sinh tố dùng trong việc chữa trị cảm cúm rất mâu thuẫn. Sinh tố C được xem như thu ngắn thời gian bị cảm cúm, trong khi cũng sinh tố này không ngăn ngừa được sự nhiễm trùng. Tuy nhiên các chuyên gia tạm kết luận rằng ở người thiếu dinh dưỡng, sinh tố C hữu ích.

    Chữa trị

    Những cách ăn uống sau đây không chữa được chứng cảm cúm nhưng có thể giúp người bệnh dễ chịu hơn

    • Uống nhiều nước và nghỉ ngơi đầy đủ. Nước lạnh là chất tốt nhất để giữ màng nhày trong mũi miệng ẩm ướt. Không có chứng cớ nào xác định rằng uống sữa sẽ tăng hay giảm đờm dãi.
    • Súp gà giảm ngạt mũi, cũng như tất cả mọi thức ăn uống bốc hơi nóng như trà nóng, sữa nóng
    • Những món ăn cay nồng sẽ giúp "mở" các xoang bị ngạt nước
    • Thực phẩm chứa sinh tố A và C có thể giúp cơ thể: cam, kiwi và cà chua chứa nhiều sinh tố C; khoai lang, rau dền, broccoli chứa nhiều sinh tố A.

    Sinh tố: Một số tài liệu cho rằng dùng nhiều sinh tố C sẽ giúp trận cúm qua nhanh. Tuy nhiên, cần nhớ rằng khi dùng quá nhiều sinh tố C, có thể chịu những phản ứng phụ sau:

    • Nhức đầu, tiêu chảy và cả sạn thận
    • Sinh tố C gia tăng sự hấp thụ của sắt. Những người bị những chứng bệnh về máu như hemochromatosis, thalassemia, hoặc sideroblastic anemia cần tránh dùng một lượng sinh tố C quá cao.
    • Sinh tố C có thể tương tác với các loại thuốc làm “loãng máu, các loại thử nghiệm đường huyết và thử phân, nghĩa là có thể tạo ra kết quả thử nghiệm sai lạc.
    • Sinh tố E hoặc hỗn hợp nhiều sinh tố không giúp gì cho cơ thể khi bị cảm cúm

    Zinc (kẽm) rất quan trọng cho hệ đề kháng và có thể có tác dụng trên siêu vi khuẩn.Tuy nhiên chưa có tài liệu nào nói về cách hoạt động của Zinc. Zinc được bán dưới dạng thuốc ngậm và thuuốc nhỏ mũi để chữa cảm cúm. Các thử nghiệm về Zinc dùng trong khi cảm cúm có kết quả mâu thuẫn. Tóm lại là một người khỏe mạnh với đầy đủ dinh dưỡng không cần dùng thêm Zinc khi bị cảm cúm.

    Phản ứng phụ: nhất là dưới dạng thuốc ngậm, gồm có:

    • Khô miệng
    • Táo bón
    • Buồn nôn
    • Ói mửa dữ dội, mất nước, bứt rứt bất an (đây là dấu hiệu của uống thuốc quá độ, cần đi khám bệnh)
    • Dị ứng

    Tương tác với thực phẩm và dược phẩm: Zinc có thể tương tác với dược phẩm và thực phẩm:

    • Giảm sự hấp thụ của một số thuốc kháng sinh
    • Thực pphẩm chứa nhiều calcium hoặc phosphorus có thể giảm sự hấp thụ của Zinc
    • Ở lượng cao và dùng lâu dài, Zinc có thể gây thiếu copper.

    Thuốc men dùng giảm cơn sốt và ê ẩm: Hầu hết mọi người dùng Aspirin, Ibuprofen hoặc Acetaminophen. Với trẻ em, phụ huynh cần để ý những điều sau:

    • Dùng Acetaminophen hoặc Ibuprofen để làm hạ cơn sốt 101° F.
    • Tránh Aspirin hoàn toàn. Trẻ bị cúm hoặc chicken pox (thủy đậu) có thể bị chứng Reye khi cho uống aspirin.

    Vật dụng kẹp mũi: (như Breathe Right) giúp kéo lỗ mũi mở lớn, được bán để giúp dễ thở khi bị ngạt mũi. Tuy nhiên không có tài liệu nào xác định tác dụng của các vật dụng kể trên.

    Súc mũi: Súc mũi bằng nước ấm pha muối (1 thìa cà phê muối trong nửa lít nước) có thể giúp rửa sạch đờm nhớt. Loại nước pha sẵn bán tự do có thể chứa chất benzalkonium chloride (preservative) có thể gây dị ứng và thêm ngạt mũi.

    Súc mũi bằng cách sau:

    • Cúi đầu trên chậu
    • Đổ một ít nước muối vào lòng bàn tay và hít nước vào mũi
    • Hỉ mũi cho sạch

    Hoặc có thể dùng vật dụng bơm mũi để súc mũi.

    Những loại thuốc trị ngạt mũi (bơm vào mũi): Loại thuốc này tác dụng nhanh chóng hơn so với thuốc uống, và cũng ít phản ứng phụ hơn. Món thuốc này được bán tự do và bao gồm những loại sau:

    Tác dụng lâu dài: Tác dụng bắt đầu trong vòng vài phút và kéo dài từ 6-8 tiếng; các nguyên liệu chính gồm có:

    • Oxymetazoline: như Vicks Sinex, Afrin, Dristan
    • Xylometazoline: Inspire, Otrivin, Natru-vent

    Tác dụng ngắn hạn: tác dụng kéo dài khoảng 4 tiếng, các nguyên liệu chính gồm có:
    • Phenylephrine: Neo-Synephrine, 4-W
    Những điều nên biết khi dùng thuốc chữa ngạt mũi:

    • Khi dùng thuốc bơm, bơm vào lỗ mũi một lần, chờ khoảng 1 phút để thuốc ngấm qua màng mũi, rồi hãy bơm thuốc lần thứ nhì.
    • Giữ màng mũi ẩm. Tất cả mọi sản phẩm chữa ngạt mũi đều gây ngứa ngáy và rát màng mũi, cũng có thể gây khô và hư hại màng mũi.
    • Không dùng chung các sản phẩm này với người khác, bất cứ ai
    • Chỉ dùng thuốc chữa ngạt mũi cho những chứng bệnh cần dùng thuốc ngắn hạn, như trước khi lên máy bay hoặc bị dị ứng. Không nên dùng quá 3 ngày liên tiếp. Dùng thuốc lâu ngày sẽ bị quen thuốc, thuốc mất dần hiệu quả và trở nên “ghiền” thuốc.
    • Vứt bỏ các sản phẩm sau khi sử dụng và không còn cần thiết nữa. Đừng giữ lại để xài lần sau vì khi thuốc đã mở vỏ bọc, sử dụng, và tiếp xúc với da tay, mặt, mũi, có thể trở thành nơi vi khuẩn sinh sản.
    • Vứt bỏ sản phẩm khi thuốc trở nên đục (không còn trong suốt).

    Thuốc uống trị ngạt mũi: Gồm có nhiều loại và mỗi loại chứa các nguyên liệu khác nhau. Loại nguyên liệu thông dụng nhất là pseudoephedrine (Sudafed, Actifed, Drixoral)

    Phản ứng phụ: Thường thấy với loại thuốc uống hơn là loại thuốc nhỏ mũi, bơm vào mũi:
    • Bứt rứt, đứng ngồi không yên
    • Ngầy ngật (nhất là loại thuốc uống pha chế trong alcohol)
    • Thay đổi (↑↓) huyết áp và nhịp tim

    Tránh những loại thuốc pha chế chung với alcohol và các dược liệu khác, kể cả monoamine oxidase inhibitor (MAOI) và các loại thuốc an thần gây buồn ngủ (sedative).

    Biến chứng có thể xảy ra khi dùng chung nhiều loại thuốc men khác nhau (các thứ thuốc bán theo toa bác sĩ, thuốc bán tự do và cả dược thảo, chất dinh dưỡng phụ), nhất là khi người dùng bị những chứng tim mạch như:
    • Bệnh tim
    • Cao huyết áp
    • Nhiễu tuyến giáp trạng
    • Tiểu đường
    • Sưng trướng tuyến nhiếp hộ (tiền liệt)
    • Chứng nhức đầu migraine
    • Chứng Raynaud (các mạch máu nhỏ tại đầu ngón tay co thắt không dẫn máu đến da thịt. Các đầu ngón tay bị xanh tím, đau đớn, nếu tình trạng mạch máu co thắt kéo dài, phần da thịt mất máu sẽ chết, và sình thối, đưa đến việc cắt bỏ ngón tay).
    • Không chịu được lạnh
    • Phổi trướng và chứng viêm cuống phổi kinh niên

    Những bệnh nhân kể trên cần dùng thuốc trị ngạt mũi với sự theo dõi của bác sĩ. Những bệnh nhân dùng các loại thuốc (hoặc dược thảo) làm gia tăng lượng serotonin như các loại thuốc chữa trầm cảm, chữa nhức đầu migraine, thuốc, trà giảm sự thèm ăn (diet pill, diet tea), St John’s wort và metamphetamine đều nên tránh dùng các loại thuốc chữa ngạt mũi. Các dược liệu này khi dùng chung với nhau sẽ khiến mạch máu (kể cả mạch máu não) co thắt bất ngờ gây nhức đầu dữ dội và có thể gây đột quỵ (stroke).

    Những người khác cần dùng thuốc trị ngạt mũi một cách cẩn thận:
    • Phụ nữ mang thai
    • Trẻ em: trẻ em biến hóa các nguyên liệu chữa ngạt mũi khác với người lớn. Không được dùng các loại thuốc này cho trẻ em dưới 2 tuổi. Những trẻ em này có nguy cơ bị phản ứng phụ rất cao, não bộ ngừng hoạt động hoặc hoạt động chậm chạp gây ra ngầy ngật, ngủ li bì, và đôi khi hôn mê. Đã có khá nhiều tài liệu chứng minh rằng các sản phẩm chữa cảm, ho thường không hiệu nghiệm với trẻ em dưới 6 tuổi.

    Sản phẩm trị ho: Khá nhiều tài liệu thử nghiệm cho thấy việc dùng thuốc ho không có hiệu quả, dù không nguy hại cho sức khỏe.
    • Khi bị đờm dãi khô đặc, có thể dùng các sản phẩm chứa guaifenesin (Robitissin, Scot-Tussin Expectorant) để làm loãng đờm dãi. Không nên dùng các sản phẩm ngăn ngừa các cơn ho "ướt" (tạo ra đờm dãi). Để làm loãng đờm khô đặc, nên uống đủ nước và dùng máy làm ẩm không khí (humidifier, steamer)
    • Khi cơn ho khô nên dùng các sản phẩm ngăn ho (cough suppressant) như thuốc men dược thảo chứa dextromethorphan.

    Những sản phẩm chứa cả hai loại dược liệu ngăn ho (cough suppressant) và tạo cơn ho (expectorant) là những sản phẩm không hiệu quả, và do đó không nên dùng. Các loại kẹo ho chứa dextromethorphan thường không hiệu quả, các loại kẹo ngậm khác cũng có tác dụng tương tự.

    Thuốc bán theo toa bác sĩ chứa một lượng "narcotic” nhỏ có thể dùng để trị cơn ho, và chỉ dùng trong những trường hợp viêm phổi và ho dữ dội.

    Sản phẩm chữa rát cổ do cảm lạnh

    Rát cổ do cảm lạnh thường rất nhẹ, và có thể giảm rất nhanh khi dùng:
    • Kẹo ho, thuốc bơm vào cổ họng, hoặc súc miệng với nước muối có thể giảm ho và rát cổ
    • Các loại thuốc bơm vào cổ họng thường chứa phenol (Vicks Chloraseptic) có thể hữu dụng. Phenol có tính sát trùng (ngăn vi khuẩn). Các sản phẩm này giúp bệnh nhân dễ chịu hơn, bớt ho, bớt rát cổ.
    • Thuốc ho chứa menthol và thuốc tê loại nhẹ như benzocaine, hexylrescorincol, phenol, và dyclonine chữa rát cổ rất nhanh và công hiệu

    Khi rát cổ dữ dội và không thuyên giảm với cách cách chữa thông dụng kể trên, cần đi khám bệnh để tìm dấu hiệu của viêm cổ họng do Streptococcus.

    Hợp chất chữa cảm và cúm và “antihistamine”

    Các loại thuốc chứa những hợp chất chữa nhiều triệu chứng của cảm cúm. Nói chung, các sản phẩm này không nguy hại nhưng có thể tạo ra những phản ứng phụ gây khó chịu và khó gia giảm lượng dược liệu tùy theo triệu chứng.

    Antihistamine là nhóm thuốc dùng chữa dị ứng và không nên dùng để chữa trị cảm cúm.
    Một vài loại antihistamine như Benadryl, Tavist... khi dùng gây ngầy ngật, dễ ngủ khiến người bị cảm dễ ngủ hơn
    • Dristan Mist, Naphazoiline; Privine, Naphcon Forte

    Quen thuốc và “ghiền”: Dùng loại thuốc kể trên lâu ngày có thể dẫn đến việc quen thuốc và “ghiền”, nhất là loại có tác dụng lâu dài. Lý do:

    • Khi dùng thuốc trên 5 ngày, thuốc mất dần hiệu nghiệm và gây sưng màng mũi
    • Người dùng gia tăng liều thuốc bằng cách dùng nhiều lần hơn, mũi càng ngạt, và người dùng tiếp tục dùng thêm
    • Từ đó trở thành “ghiền”, không dùng thuốc thì bị ngạt mũi

    Dược thảo và chất dinh dưỡng phụ

    Dược thảo và chất dinh dưỡng phụ không chịu sự kiểm soát của FDA, do đó các hãng sản xuất không cần phải xin FDA chứng nhận sản phẩm trước khi bán ra thị trường. Tuy nhiên, bất cứ sản phẩm nào thay đổi sinh hóa của cơ thể, như một dược phẩm, đều có thể gây phản ứng phụ tai hại. Đã có khá nhiều bản tường trình về phản ứng phụ trầm trọng, và trong một số trường hợp, dẫn đến tử vong từ việc dùng dược thảo.

    Những điều cần lưu ý khi dùng cây cỏ để chữa trị cảm, cúm:

    • Echinacea thường được sử dụng để ngăn trận cảm cúm bắt đầu. Trong một cuộc nghiên cứu quy mô, tài liệu công bố trên tạp chí New England Journal of Medicine năm 2005, kết quả cho thấy rằng cây cỏ, dược thảo không giúp ích gì cho cơn cảm cúm. Ngoài ra, một số người tiêu thụ bị dị ứng với Echinacea. Những người bị chứng tự đề kháng hoặc bị dị ứng với cây cỏ cần tránh dùng sản phẩm chứa echinacea. Người bị dị ứng nổi mẩn đỏ và những cục u nhỏ, sưng tấy, đỏ dưới da (erythema nodosum).

    • Những sản phẩm xuất phát từ Trung Hoa được rao bán để chữa cảm cúm thường chứa một lượng rất nhỏ chất aristolochic acid, chất này gây bại thận và ung thư. Rất nhiều cây cỏ nhập cảng từ Á Châu vào Hoa kỳ chứa dược liệu như phenacetin, steroid, và những kim loại nặng (toxic metal).

    Biến chứng của cảm lạnh

    Cảm lạnh rất hiếm khi gây biến chứng. Khoảng 1% các trường hợp cảm lạnh chịu biến chứng như nhiễm trùng xoang (sinus) hoặc tai. Cảm lạnh cũng khiến cơn suyễn nặng hơn, và gia tăng nguy cơ bị sưng phổi.

    Nhiễm trùng tai: rhinovirus gây cảm lạnh và đưa đến nhiễm trùng tai trong trẻ em. Nguyên nhân có thể do nghẽn Eustachian tube, ống dẫn từ tai giữa (middle ear) đến bên trong miệng.

    Viêm xoang: Khoảng 0.5-5% những người bị cảm bị viêm xoang hay nhiễm trùng xoang trên mặt, mũi. Nhiễm trùng thường nhẹ nhưng khi trở nặng, có thể dùng thuốc kháng sinh để chữa trị.

    Nhiễm trùng phần dưới đường hô hấp (lower respiratory tract): Cảm lạnh có thể đưa đến việc nhiễm trùng phần dưới của đường hô hấp như viêm khí quản và sưng phổi trong những vị cao niên sống tại viện dưỡng lão.

    Cơn suyễn trở nên nặng hơn: rhinovirus gây cảm lạnh và khiến cơn suyện nặng hơn cho cả trẻ em và người lớn. Nguyên nhân có thể là do sự dị ứng của khí quản, do đó cơn suyễn nặng hơn và kéo dài nhiều ngày.

    Biến chứng của cúm

    Cúm thường tự thuyên giảm và không trầm trọng. Tuy nhiên, hàng năm tại Hoa Kỳ, có hơn 200 ngàn người cần chữa trị tại bệnh viện và khoảng 36 ngàn người chết vì những biến chứng từ cúm. Những người trong tuổi vàng (65 trở lên) và những người bị suy hệ đề kháng như AIDS, tiểu đường, suy thận... là những người chịu biến chứng của cúm nhiều nhất.

    Cúm dẫn đến sưng phổi trong những bệnh nhân sau đây:
    • Suy hệ đề kháng
    • Tuổi vàng sống trong viện dưỡng lão
    • Trẻ em (dưới 2 tuổi)
    • Bệnh kinh niên như viêm khí quản, tim mạch, tiểu đuòng
    • Nghiện ma túy và dùng kim chích

    Khi nhiều yếu tố kể trên cộng lại với nhau, tỷ lệ sưng phổi càng cao.

    Biến chứng về hệ thần kinh trong trẻ em: Cúm gia tăng các biến chứng này trong trẻ em, làm kinh do cơn sốt lên cao là biến chứng thường thấy, nhất là trong những hài nhi dưới 1 tuổi, biến chứng này cũng xảy ra cho trẻ em dưới 5 tuổi.

    Dược phẩm chữa cúm

    1. Thuốc chủng ngừa (xin xem phần sau)

    2. Thuốc bán tự do để giảm các triệu chứng như ho, ngạt mũi… (tương tự như cảm lạnh)

    3. Thuốc kháng sinh chống siêu vi khuẩn: có hai loại chính để chữa cúm là neuraminidase inhibitor và M2 inhibitor

    a) Neuraminidase Inhibitor:

    Có hai dược phẩm trong nhóm này, Zanamivir (relenza) và Oseltamivir (tamiflu). Tác dụng chính là ức chế phân hóa tố (enzyme) neuraminidase, protein chính trong việc sinh trưởng (replication) của siêu vi khuẩn flu. Các loại thuốc này hiệu nghiệm trong 60% bệnh nhân.

    Những điều cần biết về nhóm thuốc này:

    • Neuraminidase Inhibitor hiệu nghiệm trong việc chữa trị cúm do cả hai loại siêu vi khuẩn Influenza A và B. Tuy nhiên lợi ích trong việc dùng loại dược phẩm này rất giới hạn: a) lành bệnh sớm hơn khoảng 1-2 ngày, và b) phải bắt đầu thuốc trong vòng 48 tiếng khi cơn cúm bắt đầu mới có hiệu quả.
    • Có thể giảm sự lan truyền của siêu vi khuẩn
    • Có thể trở nên “quen thuốc” nghĩa là siêu vi khuẩn biến thái và thuốc không còn hiệu nghiệm nữa
    • Oseltamivir có thể ngừa cúm trong người từ 13 tuổi trở lên
    • Oseltamivir có tác dụng chữa trị cúm gia cầm trong thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, chưa có thử nghiệm trong con người để biết rõ tác dụng
    Phản ứng phụ: nhóm thuốc này rất đắt, và phải dùng trong vòng 48 tiếng khi cơn cúm bắt đầu mới có tác dụng.

    Cách sử dụng có phần khác biệt giữa hai sản phẩm kể trên, và sự khác biệt có thể ảnh hưởng đến tác dụng:

    • Zanamivir dùng như loại thuốc bơm hoặc hít vào mũi. Những người bị suyễn hoặc bị bệnh phổi kinh niên có thể bị co thắt và nghẽn khí quản trong giây lát, vì thế sẽ phải rất cẩn thận khi sử dụng. Phản ứng phụ thường không đáng kể
    • Oseltamivir bán dưới dạng thuốc viên và thuốc nước. Phản ứng phụ thường không đáng kể, nhưng khoảng 15% bệnh nhân bị buồn nôn và ói mửa.

    Người suy thận cần dùng một lượng thuốc thấp hơn bình thường.

    Cách sử dụng tùy theo tuổi tác và tình trạng sức khỏe:
    • Người lớn: có thể dùng một trong hai dược phẩm kể trên
    • Trẻ em: Oseltamivir được phép bán theo toa bác sĩ cho trẻ em tuổi từ 1 trở lên. Dùng thuốc này có thể ngăn ngừa nhiễm trùng tai giữa. Zanamivir có thể dùng trong trẻ em tuổi từ 7 trở lên.
    • Có thể dùng loại thuốc này trong những bệnh nhân đau nặng để ngăn ngừa biến chứng của cúm.

    b) M2 Inhibitor: tên gọi của một nhóm thuốc kháng sinh chống siêu vi khuẩn, nhóm thuốc này bao gồm amantadine (Symmetrel) và rimantadine (Flumadine). Đây là loại kháng sinh khá xưa cũ, tác dụng chỉ giới hạn trong một vài chủng loại siêu vi khuẩn influenza A (các loại khác đã biến thái [mutated]):

    • Cả hai loại thuốc đều ngăn Influenza A, và chỉ hiệu nghiệm khi dùng trong vòng 48 tiếng khi cơn cúm bắt đầu
    • Có thể rút ngắn cơn cúm và giảm sự trầm trọng

    Sự giới hạn của nhóm M2 Inhibitor:

    • Siêu vi khuẩn tạo sự đề kháng qua việc biến thái di thể, do đó càng ngày nhóm thuốc này càng giảm công hiệu. Mùa cúm 2007-2008, CDC không còn khuyến khích việc sử dụng nhóm thuốc này để chữa cúm.
    • Không có tác chống siêu vi khuẩn Influenza B
    • Cả hai loại thuốc đều không có tác dụng ngăn ngừa biến chứng của cúm như viêm khí quản hoặc sưng phổi.

    Phản ứng phụ: Cả hai loại thuốc đều gây ói mửa, buồn nôn, đầy hơi, mất ngủ và tạo ảo giác (hallucination). Amantadine ảnh hưởng đến hệ thần kinh trong 10% bệnh nhân, tạo sự bất an, trầm cảm, hoảng loạn, khó tập trung ý nghĩ và chóng mặt. Đôi khi, gây làm kinh và nhất là trong tuổi cao niên, gây lẫn lộn, dễ quên.

    Amantadine được dùng để chữa Parkinson, bệnh nhân bị chứng bệnh này cần tiếp tục theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

    Thuốc chủng ngừa siêu vi khuẩn

    1. Thuốc chích ngừa (flu shot): Dùng loại siêu vi khuẩn đã bị hủy diệt (inactivated). Loại thuốc này nhằm kích thích hệ đề kháng tạo ra kháng thể chống lại kháng sinh trên vỏ bọc của siêu vi khuẩn. (Kháng sinh là “vật lạ” bị cơ thể nhận diện và tạo ra kháng thể để chống lại).

    Tuy nhiên, kháng sinh của các loại siêu vi khuẩn tiếp tục thay đổi, biến thái, qua thời gian nên thường đề kháng những thuốc chủng ngừa sử dùng từ 1-2 năm trước đó. Vì thế thuốc chủng ngừa cần thay đổi để thích ứng với các siêu vi khuẩn biến thái mới.

    • Influenza A: Loại siêu vi khuẩn này được nhận diện qua 2 kháng sinh chính hemaglutinin (H) và neuraminidase (N), và là tâm điểm của sự tạo kháng thể. Influenza A là mối lo của chuyên viên y tế vì siêu vi khuẩn này có thể gây nhiễm trùng trong nhiều loài động vật từ người đến súc vật.
    • Influenza B cũng biến thái nhưng không thường xuyên và nhanh chóng như chủng Influenza A. Chủng ngừa siêu vi khuẩn này rất lợi ích cho trẻ em vì chúng không có sức đề kháng và khi nhiễm trùng sẽ bị cúm nặng.

    2. Thuốc chủng ngừa dùng trong (màng) mũi (intranasal): Dùng siêu vi khuẩn còn sống nhưng không đủ khả năng gây nhiễm trùng để làm thuốc chủng ngừa. Loại thuốc này rất hiệu quả cho người từ 2-49 tuổi, và phụ nữ không mang thai; điển hình là Flumist vừa được FDA cho phép bán ra thị trường. Thuốc ngừa này được chế tạo qua việc giữ siêu vi khuẩn tăng trưởng trong môi trường “mát” của lỗ mũi, không ấm như phổi hoặc đường hô hấp. Tại mũi, kháng thể được tạo ra để chống lại sự xâm nhập của siêu vi khuẩn. Flumist là một loại thuốc bơm vào mũi.

    Thời điểm và sự hiệu nghiệm của thuốc ngừa: Thời điểm tốt nhất là tháng Mười – Mười Một, tuy nhiên có thể cần một thời gian lâu hơn để thuốc chủng có mặt tại những thành phố xa xôi hẻo lánh, khi ấy, những người trong tình trạng sức khỏe suy yếu dễ nhiễm cúm cần được ưu tiên chủng ngừa.

    Kháng thể xuất hiện khoảng 2 tuần lễ sau khi dùng thuốc và sức đề kháng lên cao nhất trong vòng 4-6 tuần lễ, sau đó giảm dần.

    • Trẻ em dưới 8 tuổi thường không tạo kháng thể một cách hiệu quả với 1 lần dùng nên CDC khuyến cáo rằng nên dùng thuốc chủng ngừa 2 lần, mỗi lần cách nhau 1 tháng
    • Nếu thân nhân (sống chung nhà) bị cúm, những người khác trong gia đình ấy cần chủng ngừa trong vòng 36-48 tiếng.

    Với những người khỏe mạnh, chủng ngừa sẽ bảo vệ sức khỏe 70-90%. Thuốc chủng ngừa giảm hiệu quả khi sức khỏe suy yếu hoặc bị bệnh kinh niên. Tuy nhiên thuốc chủng ngừa vẫn giúp cơ thể ngăn ngừa biến chứng như sưng phổi.

    Những trẻ em cần chủng ngừa: Trẻ em trên 6 tháng cần dùng thuốc ngừa, loại chích hoặc loại bơm vào mũi:

    • Hội Hàn Lâm Y Học Nhi Khoa (the American Academy of Pediatrics, AAP) và CDC khuyến cáo rằng trẻ em từ 6 tháng-18 tuổi cần dùng thuốc ngừa
    • Trẻ em trên 2 tuổi, bị bệnh kinh niên, có thể dùng loại thuốc chứa một lượng thimerosal thấp, cha mẹ có thể hỏi bác sĩ về điều này.
    • Trẻ em gần gũi người bị cúm cần được chủng ngừa
    • Trẻ em dùng Aspirin lâu ngày cần được chủng ngừa vì khi nhiễm trùng dễ bị chứng Reye.
    • Trẻ em trên 5 tuổi bị bệnh hiểm nghèo cần được chủng ngừa.

    Những người lớn cần được chủng ngừa hàng năm:


    • Tuổi 50 trở lên. Người được chủng ngừa khi nhiễm trùng rất hiếm khi phải vào bệnh viện chữa trị so với những người không chủng ngừa
    • Những người bị bệnh kinh niên, suy yếu hệ đề kháng cần được chủng ngừa bất kể tuổi tác
    • Những chuyên viên chăm sóc sức khỏe cần được chủng ngừa bất kể tuổi tác
    • Thân nhân của người bị cúm nên chủng ngừa, kể cả phụ nữ đang cho con bú sữa.

    Những người khác:

    • Những người di chuyển từ nơi này sang nơi khác, mùa cúm có thể thay đổi, cần được chủng ngừa
    • Phụ nữ mang thai hoặc sẽ mang thai trong mùa cúm cần chủng ngừa
    • Những người làm việc trong môi trường công cộng như cảnh sát, sở cứu hỏa…

    Phản ứng phụ có thể xảy ra:

    • Dị ứng: các loại thuốc mới chứa một lượng nhỏ protein từ trứng nhưng vẫn có thể bị dị ứng nếu người dùng bị dị ứng với trứng.
    • Ê ẩm tại nơi chích thuốc: 2/3 số người chủng ngừa bị ê ẩm bắp thịt nơi chủng ngừa
    • Triệu chứng của cúm: một số người chủng ngừa bị hắt hơi, ho khan, rát cổ tương tự như các triệu chứng từ cúm, các triệu chứng này kéo dài khoảng 2 ngày. Đây không phải là bị cúm mà là phản ứng của cơ thể trước kháng sinh từ thuốc chủng ngừa.
    • Hội chứng Guillian-Barre: có một vài trường hợp bệnh nhân bị hội chứng kể trên (tê liệt nửa thân mình từ chân lên bụng) sau khi chủng ngừa năm 1976, dùng thuốc chủng ngừa bào chế từ serum của heo (swine-flu vaccine).

    Chủng ngừa cúm gia cầm

    Tháng Tư, 2007, lần đầu tiên FDA cho phép bán thuốc chủng ngừa siêu vi khuẩn H5N1 gây cúm gia cầm trong con người. Loại thuốc này, bào chế bằng một loại siêu vi khuẩn từ con người, có thể dùng trong những người tuổi từ 18-65 để ngăn việc truyền nhiễm của loài siêu vi khuẩn kể trên giữa người và người. Ta cần 2 liều, mỗi liều cách nhau 1 tháng. Thuốc chủng ngừa này không bán trên thị trường mà chỉ bán cho chính phủ Hoa Kỳ để lưu trữ và chỉ sử dụng khi cần thiết trong trường hợp dịch cúm gia cầm bùng vỡ.

    Trong một cuộc thử nghiệm, group A gồm 103 người tình nguyện khỏe mạnh được chủng hai lần, cách nhau 28 ngày. Một nhóm 300 người khác (group B) được chích một lượng thuốc thấp hơn, trong khi 48 người khác đuợc chích giả dược (group C). Trong nhóm A, 45% số người tạo ra kháng thể có thể ngăn sự nhiễm trùng loại siêu vi khuẩn này. Phản ứng phụ thường thấy nhất là đau tại nơi chích thuốc, nhức đầu, đau bắp thịt. Các cuộc khảo nghiệm thuốc chủng ngừa vẫn đang được tiếp tục.

    Đề kháng thuốc kháng sinh


    Việc sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi đưa đến sự đề kháng chống lại các loại thuốc này khắp nơi trên địa cầu. Việc lạm dụng các loại thuốc kháng sinh chống vi khuẩn có tính bao quát (broad spectrum) để chữa cảm cúm dẫn đến tính đề kháng trong vi khuẩn. Điều này có nghĩa là thuốc kháng sinh mất hiệu quả khi sử dụng để chữa trị nhiễm trùng cho loại vi khuẩn kia. Thí dụ, những trường hợp đề kháng methicillin của vi khuẩn Staphylococcus aureus (methicillin-resistant Staphylococcus aureus hay MRSR) gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây. Loại vi khuẩn MRSR gây tử vong khi nhiễm trùng. Năm 2006, ta có dấu hiệu của vi khuẩn Neisseria gonorrhea tạo sức đề kháng chống loại nhóm thuốc fluoroquinolone. CDC không còn khuyến cáo việc dùng fluoroquinolone để chữa nhiễm trùng N.gonooorrhea.

    Khi nào thì dùng thuốc kháng sinh chống vi khuẩn (antibacterial/antibiotic) khi bị nhiễm trùng phần trên của đường hô hấp?

    Thuốc kháng sinh chống vi khuẩn (antibacterial/antibiotic) không có tác dụng gì đối với siêu vi khuẩn, và trong những người khỏe mạnh, các loại thuốc này không cần thiết hoặc hữu dụng khi bị cảm cúm, ngay cả khi bị cơn ho dai dẳng với đờm đông đặc.

    Thuốc kháng sinh chống vi khuẩn (antibacterial/antibiotic) chỉ cần thiết trong vài trường hợp sau đây:

    • Bệnh nhân, trẻ em và người già, cũng như những người bị các chứng bệnh kinh niên khiến họ dễ gặp biến chứng từ việc nhiễm trùng đường hô hấp
    • Bệnh nhân bị viêm xoang nặng và không thuyên giảm trong vòng 7 ngày, với những triệu chứng như nước mũi đặc có màu xanh hoặc vàng của mủ, đau trên mặt, trên răng
    • Trẻ em bị nhiễm trùng tai giữa, và chỉ chữa các trẻ em dưới 2 tuổi.
    • Những người bị viêm cổ họng cùng việc lên cơn sốt, hạch bạch huyết ở cổ sưng tấy, và không bị ho.
    • Những người bị ho do sưng phổi.

    Những bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng với các loại vi khuẩn có sức đề kháng thuốc kháng sinh: Bình thường, những người mạnh khỏe thường không bị các loại nhiễm trùng này. Một số bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng vì các yếu tố sau:

    • Rất lớn tuổi hoặc rất nhỏ tuổi
    • Sống chung với bệnh nhân bị nhiễm trùng từ các loại vi khuẩn kể trên
    • Bệnh viện, khu chữa trị bệnh trầm trọng (Intensive care unit)
    • Bị bệnh và chữa trị tại bệnh viện
    • Dùng thuốc kháng sinh chống vi khuẩn (antibacterial/antibiotic) quá lâu
    • Bị những vết thương nặng
    • Bệnh nhân có những ống trong cơ thể như ống thở, ống, dây kim tại tĩnh mạch
    • Bị suy yếu hệ đề kháng

    Trẻ em tại nhà giữ trẻ, ngửi khói thuốc lá, bú sữa bình và có anh chị em bị nhiễm trùng tai giữa thường xuyên… có nguy cơ bị nhiễm trùng từ các loại vi khuẩn có sức đề kháng thuốc kháng sinh.

    Chuyên viên chăm sóc sức khỏe cần làm gì? Cần cẩn thận khi dùng thuốc kháng sinh, và chỉ dùng loại thuốc cần thiết.

    Bệnh nhân và phụ huynh cần làm gì?

    • Dùng các loại thuốc bán tự do để chữa trị triệu chứng của cảm cúm
    • Hãy nhớ rằng thuốc kháng sinh chống vi khuẩn (antibacterial/antibiotic) không giúp lành bệnh nhanh hơn, cơn cảm cúm sẽ tự thuyên giảm. Dùng thuốc không cẩn thận không có lợi mà còn tạo biến chứng hoặc phản ứng phụ
    • Đừng o ép bác sĩ/y tá cho mình toa thuốc kháng sinh chống vi khuẩn (antibacterial/antibiotic) để mua “để dành lỡ khi cần” hoặc “bác sĩ xyz luôn luôn cho tôi toa thuốc kia”.
    • Khi cần, bác sĩ có thể dùng một lượng thuốc cao và ngắn hạn để tránh việc tạo đề kháng của vi khuẩn
    • Khi bác sĩ cho toa, cần dùng trọn số thuốc, ngay cả khi đã cảm thấy hồi phục.

    * Hình minh họa trang bià là hình của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ





    Tài Liệu Tham Khảo

    American Academy of Pediatrics Committee on Infectious Diseases.

    Recommended childhood and adolescent immunization schedule: United States, 2005. Pediatrics. 2005 Jan;115(1):182.

    Caruso TJ, Prober CG, Gwaltney JM Jr. Treatment of naturally acquired common colds with zinc: a structured review. Clin Infect Dis. 2007;45(5):569-74.

    Centers for Disease Control and Prevention. Key Facts About Seasonal Influenza (Flu). Available online.

    Centers for Disease Control and Prevention. 2007-08 Influenza Prevention & Control Recommendations: Vaccination of Specific Populations. Available online.
    Centers for Disease Control and Prevention. Acute Respiratory Disease Associated with Adenovirus Serotype 14 -- Four States, 2006-2007. MMWR. 2007;56(45):1181-84.

    Centers for Disease Control and Prevention. FDA Approves New Laboratory Test To Detect Human Infections With Avian Influenza A/H5 Viruses. February 3, 2006.
    Harper SA, Fukuda K, Uyeki TM, Cox NJ, Bridges CB. Prevention and Control of Influenza: Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP). MMWR Recomm Rep. 2005 Jul 29;54(RR-8):1-40.

    Hayden GF, Turner RB. Acute Pharyngitis. In: Behrman RE, Kliegman RM, Jenson HB, eds. Behrman: Nelson Textbook of Pediatrics, 17th ed. Philadelphia, Pa: Saunders; 2004.

    Interagency Task Force on Antimicrobial Resistance. Executive Summary: 2006 Annual Report on Progress on "A Public Health Action Plan to Combat Antimicrobial Resistance." Draft release, June 2007. Available online.
    Jefferson T, Demichelli V, Rivetti D, Jones M, Di Pietrantonj C, Rivetti A. Antivirals for influenza in healthy adults: systematic review. Lancet 2006 Jan 28;367(9507):303-13.

    Recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP), 2008. MMWR. July 17, 2008/57(Early Release);1-60.

    Taverner D, Latte J. Nasal decongestants for the common cold. Cochrane Database Syst Rev. 2007 Jan 24;(1):CD001953.

    U.S. Food and Drug Administration: Nonprescription Drugs and Pediatric Advisory Committee Meeting. Joint Meeting of the Nonprescription Drugs Advisory Committee and the Pediatric Advisory Committee October 18-19, 2007. Available online.

    World Health Organization. Cumulative Number of Confirmed Human Cases of Avian Influenza A/(H5N1) Reported to WHO. January 15, 2008.
  5. [​IMG]



    Sạn mật - Gallstones

    [​IMG]


    Định nghĩa

    Sạn mật là sự kết tinh của muối cholesterol hoặc muối calcium trong túi mật hoặc trong các ống dẫn mật. Bình thường sạn mật không gây triệu chứng và do đó không cần chữa trị. Một số bệnh nhân lên cơn đau cấp tính (gallbladder attack) đi kèm với buồn nôn, ói mửa. Cơn đau dữ dội tại bụng trên phía bên phải có thể kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Đây là những triệu chứng của sạn mật và cần được chữa trị đúng mức.

    Những yếu tố dẫn đến sạn mật gồm có tuổi tác (60+), phụ nữ, mập phì, có thân nhân bị sạn mật, chủng tộc (gốc người da đỏ, gốc Mễ Tây Cơ), xuống ký quá nhanh qua việc ăn uống kiêng khem.

    Những biến chứng của sạn mật có thể trầm trọng và đưa đến tử vong nếu không chữa trị đúng mức. Sạn mật, tự nó, là một chứng bệnh tương đối dễ chữa trị, và kỹ thuật tân tiến ngày nay giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng.

    Triệu chứng

    Sạn mật thường không gây triệu chứng, bác sĩ tìm thấy sạn thận tình cờ khi thử nghiệm tìm kiếm những chứng bệnh khác. Tuy nhiên, sạn mật có thể tạo một số triệu chứng và dấu hiệu sau:

    • Khó tiêu kinh niên: sạn mật gây những triệu chứng không rõ rệt như buồn nôn, đầy hơi và đôi khi đau bụng từng cơn. Những triệu chứng này xuất hiện khi ăn uống nhiều chất béo. Ngay cả khi bị sạn mật, những triệu chứng kể trên có thể đến từ nguyên nhân khác như thức ăn dội ngược từ dạ dày lên thực quản (gastroesophageal reflux disease, GERD), lở dạ dày hoặc lở ruột non, và hội chứng nhiễu loạn đường tiêu hóa (irritable bowel syndrome). Vì vậy nên ghi chép các triệu chứng kỹ lưỡng và thảo luận chi tiết với bác sĩ.

    • Đau bụng trên: Cơn đau xuất hiện thình lình và dữ dội tại bụng trên phía bên phải có thể là dấu hiệu của đau túi mật cấp tính. Cơn đau thường bắt đầu khoảng 2 tiếng sau khi ăn nhưng có thể xuất hiện vào thời điểm khác. Cơn đau kéo dài từ 30 phút đến nhiều giờ; đôi khi cơn đau lan đến sau lưng hoặc lên bả vai. Khi cơn đau ngưng, cơ thể có thể sẽ ê ẩm cả 1-2 ngày sau đó. Nếu đã bị một trận đau túi mật thì xác suất của những cơn đau tương tự lên đến 70%.

    • Buồn nôn và ói mửa

    • Sốt: đôi khi sạn mắc kẹt tại cổ túi mật và gây đau đớn dữ dội trong nhiều giờ, sau đó bệnh nhân lên cơn sốt. Đây là lúc cần được chăm sóc ngay.

    Triệu chứng nghẽn ống dẫn mật

    Đôi khi, sạn mật vào ống dẫn mật từ gan, ống dẫn mật đến ruột non và ngay cả ống dẫn của tụy tạng. Khi sạn mật vào ống dẫn của tụy tạng sẽ gây tắc nghẽn và viêm tụy tạng (pancreatitis). Chứng viêm này gây tử vong nếu không được chữa trị kịp thời. Khi ống dẫn mật bị nghẽn, bệnh nhân sẽ chịu đau đớn dữ dội và cả những triệu chứng khác như:

    • Vàng da, vàng mắt
    • Phân nâu đỏ như đất sét
    • Sốt

    Nếu những triệu chứng này xuất hiện, cần được chăm sóc ngay. Đôi khi bệnh nhân chỉ bị vàng da, vàng mắt và phân thay màu mà không đau đớn.

    Nguyên nhân

    Gan tạo ra mật. Mật là một hợp chất bao gồm bile salt, chất béo, cholesterol và những chất khác. Mật chảy vào túi mật, đậm đặc và dự trữ tại đây cho đến khi cần (sau bữa ăn nhiều chất béo). Mật theo ống dẫn (cystic duct --> common bile duct) vào ruột non để tiêu hóa chất béo trong thức ăn, uống. Khi sự mất cân bằng của các hợp chất tại túi mật xảy ra, mật kết tinh và đóng cục tạo thành sạn, tương tự như những viên sạn trong cát.

    Sạn mật có nhiều kích thước lớn nhỏ, từ hạt cát đến trái chanh, có thể nhẵn nhụi hoặc sần sùi, tròn hoặc méo; có thể có 1 hoặc cả trăm viên sạn lớn nhỏ tại túi mật.

    Các loại sạn mật

    Bất kể kích thước hoặc hình thể, sạn mật thường được xếp loại như sau:

    • Sạn cholesterol: Loại sạn mật này thường có màu vàng, do muối cholesterol tạo thành, đôi khi chứa bilirubin và calcium, thành chất của tế bào hồng cầu. Khoảng 80% sạn mật là loại cholesterol.

    • Sạn màu: Loại sạn mật này có nâu đậm hoặc đen khi mật chứa quá nhiều bilirubin. Loại sạn mật này xuất hiện cùng với các chứng bệnh như xơ gan (cirrhosis), nhiễm trùng ống dẫn mật và sickle cell anemia, một chứng thiếu máu do hồng cầu bất thường, tạo ra nhiều bilirubin.

    Những yếu tố dẫn đến sạn mật

    Nhiều yếu tố khác, phần lớn ta chưa rõ tại sao, dẫn đến việc hình thành sạn mật như:

    • Quá nhiều cholesterol; Bình thường mật chứa đủ lượng bile salt và lecithin để hóa tán cholesterol tiết ra từ gan. Khi gan tạo ra nhiều cholesterol hơn khả năng hóa tán, lượng cholesterol thặng dư kết tinh và đóng cục thành sạn. Cholesterol trong mật không liên quan đến lượng cholesterol trong máu, và các loại thuốc dùng để chữa cao cholesterol không có ảnh hưởng gì với cholesterol trong mật.

    • Sự bất thường trong việc co thắt của túi mật: Khi túi mật co thắt không đủ mạnh hoặc co thắt ít đều dẫn đến việc túi mật không “tháo” hết lượng mật ở đó. Mật trở nên đậm đặc và dễ kết tinh, đóng cục. Hiện tượng này thường xảy ra trong phụ nữ mang thai. Ăn quá ít chất béo hoặc nhịn ăn quá lâu cũng đưa đến việc túi mật ít hoạt động. Khi túi mật không co thắt nhiều sẽ gây đậm đặc mật, dẫn đến hình thành sạn mật.

    Các yếu tố gia tăng tỷ lệ bị sạn mật


    Sạn mật xuất hiện trong gia tộc, và những yếu tố khác như:

    • Phái tính: Phụ nữ tuổi 20-60 thường bị sạn mật (gấp 3 lần) phái nam. Estrogen khiến nhiều cholesterol được tạo ra tại gan và vào mật. Thai nghén gia tăng lượng estrogen trong cơ thể. Thêm vào đó, thuốc ngừa thai và nội tiết tố (dùng sau khi mãn kinh) gia tăng lượng cholesterol và giảm sự co thắt của túi mật.

    • Trọng lượng cơ thể: Dùng “body mass index” (BMI) để ước lượng phần mỡ của cơ thể qua tỷ lệ của chiều cao và trọng lượng. Khi BMI gia tăng, tỷ lệ bị chứng sạn mật gia tăng. Khi bị chứng mập phì, lượng cholesterol gia tăng trong mật; cholesterol làm giảm lượng bile salt và giảm cả việc co thắt của túi mật.

    • Cách ăn uống: ít calorie, xuống ký nhanh chóng thường tạo sự rối loạn của các thành phần hóa học trong mật. Khi xuống trên 3 cân Anh trong một tuần lễ sẽ gia tăng tỷ lệ hình thành của sạn mật.

    Những bệnh nhân mập phì chịu giải phẫu cắt giảm một phần của bộ tiêu hóa để xuống ký nhanh chóng cũng dễ bị sạn mật. Tỷ lệ bị sạn mật trong những bệnh nhân này là 33% vài tháng sau khi giải phẫu.

    • Tuổi tác: tỷ lệ bị sạn mật gia tăng theo tuổi tác, tuổi 60+

    • Chủng tộc: Người Hoa Kỳ gốc da đỏ, gốc Mễ Tây Cơ là nhóm dân có tỷ lệ sạn mật cao nhất.

    Khi cần đi khám bệnh

    Gọi bác sĩ khi cơn đau bụng xuất hiện thình lình và dữ dội, nhất là đi kèm với buồn nôn, ói mửa hoặc lên cơn sốt.

    Đến bệnh viện ngay khi có triệu chứng của nghẽn ống dẫn mật như:

    • Đau bụng
    • Vàng da và vàng mắt
    • Nước tiểu đậm màu
    • Sốt cao độ, nóng lạnh

    Chẩn đoán và thử nghiệm

    Nhiều trường hợp sạn mật không gây triệu chứng nào, và thường tìm thấy một cách ngẫu nhiên, như khi làm siêu âm hoặc CT scan vùng bụng để chẩn đoán các chứng bệnh khác.

    Khi có triệu chứng bị sạn mật, ngoài việc khám tổng quát, bác sĩ thường hỏi bệnh sử và thử nghiệm máu để tìm kiếm dấu vết của nhiễm trùng, sự gia tăng của các phân hóa tố của gan, tụy tạng, hoặc sự gia tăng của bilirubin.

    Ngoài ra bác sĩ còn có thể dùng một hoặc nhiều các thử nghiệm sau để tìm dấu vết của sạn mật, dấu vết của nghẽn ống dẫn mật và vị trí của sạn mật nếu có:

    - Siêu âm: Loại thử nghiệm thường được sử dụng nhất.

    - CT scan

    - Radionuclide scan (cholescintigraphy, HIDA): Bác sĩ chích một lượng nhỏ chất phóng xạ vào tĩnh mạch bệnh nhân, sau đó dùng một dụng cụ dò dấu vết của chất phóng xạ, chất phóng xạ có đến túi mật không, nếu không, có nghĩa là viên sạn mật đã làm tắc nghẹn dòng mật tại cổ túi mật hay tại ống dẫn mật.

    - Endoscopic retrograde cholangiopancreatography (ERCP): Bác sĩ dùng phương cách này để tìm vị trí của viên sạn và lấy viên sạn ra. Bác sĩ chuyển dụng cụ nội soi (một ống nhỏ) qua miệng, vào dạ dày, ruột non. Đầu ống là một kính hiển vi, phóng đại hình thể các các cấu trúc. Một ít không khí được bơm vào dạ dày để giúp bác sĩ tìm miệng ống dẫn mật và ống dẫn từ tụy tạng trong ruột non. Sau đó một ít “phẩm màu” (contrast) được bơm vào ống dẫn và chụp hình quang tuyến của hệ thống ống dẫn. Contrast sẽ cho thấy hình dạng và tình trạng “mở” hay “nghẽn” của các ống dẫn.

    Khi viên sạn mật làm nghẽn ống dẫn, dụng cụ (có thể cắt như dao) rất nhỏ được chuyển qua ống và “gắp” viên sạn ra.

    - Một phương cách tìm vị trí tắc nghẽn của ống dẫn khác có tên magnetic resonance cholangiopancreatography, dùng kỹ thuật từ trường để chụp hình ảnh, nhưng kỹ thuật này không thể dùng để gắp viên sạn ra ngoài.

    - Endoscopic ultrasound (EUS): Qua dụng cụ nội soi, bác sĩ chuyển bộ phận “transducer” của máy siêu âm vào dạ dày và ruột non. Tranducer ngay bên cạnh túi mật nên hình ảnh rõ ràng hơn loại siêu âm đặt trên bụng (bên ngoài cơ thể).

    Biến chứng của sạn mật có thể bao gồm

    • Nghẽn ống dẫn mật chính: sạn mật có thể làm tắc nghẽn các ống dẫn từ túi mật, gan, hoặc tụy tạng đến ruột non. Triệu chứng và dấu hiệu của nghẽn ống dẫn mật là vàng da, vàng mắt, nước tiểu sậm màu, và đau bụng trên, phía tay phải. Khi lên cơn sốt, có nghĩa là nhiễm trùng túi mật (cholecystitis) hoặc nhiễm trùng ống dẫn mật (cholangitis) đã xảy ra.

    • Viêm tụy tạng: Khi ống dẫn từ tụy tạng bị tắc nghẽn có thể gây viêm tụy tạng (acute pancreatitis). Trong nhiều người, ống dẫn từ tụy tạng và ống dẫn mật vào ruột non có chung một miệng.

    Viêm tụy tạng gây đau đớn dữ dội tại vùng bụng, cơn đau truyền ra sau lưng hoặc lên ngực. Cơn đau dữ dội hơn khi nằm thẳng, và dễ chịu hơn trong vị trí co quắp, hoặc ngồi. Bụng căng và đau khi sờ nắn. Đôi khi đi kèm ói mửa và sốt. Trong những trường hợp nhẹ, triệu chứng giảm trong vài ngày hoặc một tuần. Cơn viêm nặng có thể gây tử vong.

    • Ung thư túi mật: Những bệnh nhân bị sạn mật có tỷ lệ ung thư túi mật cao hơn những người khác. Loại ung thư này rất hiếm, và hầu hết những người bị sạn mật không bị ung thư.

    Chữa trị


    Hầu hết sạn mật không tạo triệu chứng, và khi bác sĩ tình cờ khám phá ra những viên sạn mật, cũng thường theo dõi bệnh nhân chứ không chữa trị. Khi sạn mật gây triệu chứng, lúc ấy mới cần chữa trị, và có nhiều cách chữa trị:

    Giải phẫu

    Cắt bỏ túi mật là cách chữa trị hữu hiệu cho hầu hết các trường hợp sạn mật. Cắt bỏ túi mật (cholecystectomy) là cuộc giải phẫu thông thường nhất tại Hoa Kỳ. Giải phẫu cắt bỏ túi mật có hai loại:

    • Laparoscopic surgery: Thông thường, cắt bỏ túi mật qua cách dùng dụng cụ nội soi, laparoscope, chuyển dụng cụ vào khoang bụng qua một vết cắt nhỏ, đầu ống là một máy quay phim, phát hình trên màn ảnh. Bác sĩ có thể thấy hình ảnh của túi mật và chuyển vào khoang bụng những dụng cụ khác để cắt bỏ túi mật.

    Cuộc giải phẫu dùng những vết cắt nhỏ nên bệnh nhân chóng hồi phục, ít đau đớn và có thể trở lại đời sống bình thường sau vài ngày.

    • Open surgery: cuộc giải phẫu mở khoang bụng, túi mật được cắt bỏ. Cách giải phẫu này được áp dụng trong những trường hợp đặc biệt, khi túi mật bị nhiễm trùng, hoặc những mô liên kết đóng thẹo từ những cuộc giải phẫu trước. Cách giải phẫu này cần nhiều ngày để phục hồi.

    Khi bệnh nhân bị sạn mật trong ống dẫn và cả túi mật, bác sĩ có thể cần cắt bỏ túi mật và ống dẫn. Đôi khi bác sĩ có thể lấy sạn từ ống dẫn qua phương cách ERCP kể trên.

    Hậu giải phẫu


    Gan vẫn tiếp tục tạo ra mật giúp cơ thể tiêu hóa chất béo. Tuy nhiên bữa ăn quá nhiều chất béo sẽ gây khó tiêu hóa. Phân trở nên lỏng hơn bình thường; khoảng 1% bệnh nhân bị tiêu chảy kinh niên sau khi chịu giải phẫu bỏ túi mật.

    Cách chữa trị không dùng giải phẫu

    Sạn mật thường tái phát. Nhưng khi bệnh nhân không thể chịu một cuộc giải phẫu, bác sĩ cần chọn cách chữa trị khác bao gồm:

    • Bile salt: loại chính là ursodiol, dược phẩm này hóa tán sạn cholesterol qua thời gian. Cách chữa trị này hữu hiệu với các viên sạn nhỏ, và hiệu quả khoảng 50% các trường hợp sạn mật. Để ngừa sạn tái phát, bệnh nhân cần dùng thuốc nhiều năm.

    • Sóng âm thanh (extracorporeal shock wave lithotripsy): Bác sĩ dùng sóng âm thanh để đập vỡ sạn thành từng mảnh nhỏ. Sau đó bệnh nhân dùng dược phẩm để hóa tán sạn. Cách chữa trị này chỉ có thể áp dụng cho một số ít trường hợp. Khi bệnh nhân có nhiều sạn, sạn lớn hoặc bị nhiễm trùng… bác sĩ không thể dùng cách chữa trị này.

    • Percutaneou electrohydraulic lithotripsy: Bác sĩ chuyển một ống rỗng vào túi mật nhiều tuần lễ trước cuộc giải phẫu, một dụng cụ chuyển qua ống rỗng truyền sóng điện để đập vỡ viên sạn. Đây là cách chữa trị có thể áp dụng cho mọi loại sạn mật. Tuy nhiên, cách chữa này cần nhiều thời gian, không được sử dụng tại nhiều trung tâm y khoa, và chỉ dùng trong những trường hợp khó khăn như khi bệnh nhân bị suy tim, không chịu đựng được một cuộc giải phẫu.

    • Topical gallstone dissolution: Bác sĩ chuyển ống rỗng vào túi mật, chuyển hóa chất hòa tan sạn mật vào túi mật qua nhiều giờ. Cách chữa trị này còn nằm trong vòng thử nghiệm, chưa được chứng minh hiệu quả lâu dài.

    Phòng ngừa

    Để tránh sạn mật, ta có thể áp dụng những cách sau:
    • Giữ trọng lượng cơ thể ở mức trung bình. Nếu cần xuống ký, nên xuống ký từ từ, ½ đến 2 cân Anh mỗi tuần.
    • Tránh dùng những cách ăn uống để xuống ký nhanh chóng như ăn uống rất ít calorie (<800 calorie/ngày)
    • Chọn những thức ăn ít chất béo, nhiều xơ qua trái cây, rau và hạt. Giảm các loại chất béo từ thịt, bơa

    *Tài liệu của Mayo Clinic, viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ, cập nhật tháng Chín, năm 2008
  6. Ung thư thực quản

    Thực quản nằm trong lồng ngực, dài khoảng 10 phân Anh hay 25 cm. Bộ phận này là một phận của hệ thống tiêu hóa. Thực phẩm di chuyển từ miệng qua thực quản xuống dạ dày (bao tử).

    Thực quản là một cấu trúc hình ống, bao bọc bởi cơ trơn. Thành thực quản có nhiều lớp:
    • Lớp trong cùng hay màng lót (mucosa): Màng lót thực quản trơn ướt nên thực phẩm đi qua dễ dàng
    • Submucosa: Những tuyến tạo ra chất nhày. Chất nhày giúp thực quản ẩm ướt.
    • Lớp cơ trơn: Cơ co thắt đẩy thực phẩm xuống dạ dày.
    • Lớp ngoài cùng: bao bọc thực quản.

    [​IMG]

    Hiểu biết căn bản về ung thư

    Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô, mô tạo thành bộ phận.
    Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng trưởng tạo ra những tế bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già lão hoặc bị hư hoại, chúng chết, và các tế bào mới thay thế.
    Đôi khi, quá trình sinh-tử trật tự kể trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất hiện trong khi cơ thể không cần đến, hoặc tế bào già lão, hư hoại không chết như đã định, sự tích tụ của các tế bào mới và cũ tạo thành khối gọi là "khối u“, bướu hay "tumor“.
    Khối u (bướu) có thể "lành“ (benign) hoặc "độc“ (malignant). Bướu lành thường không độc hại như bướu độc.

    Bướu lành:
    • Ít khi gây tử vong
    • Thường không cần giải phẫu để cắt bỏ
    • Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
    • Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể

    Bướu độc:
    • Có thể gây tử vong
    • Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
    • Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
    • Lan ra các bộ phận khác

    Tế bào ung thư lan rộng bằng cách tách rời từ khối u đầu tiên hay khối ung thư nguyên phát (primary tumor). Các tế bào này theo mạch máu (blood vessel) hoặc mạch bạch huyết (lymph vessel) đến mọi bộ phận trong cơ thể. Tế bào ung thư có thể “bám“ vào các bộ phận và sinh sản, tạo nên một khối u mới hay khối ung thư thứ phát (secondary tumor), có thể gây hư hoại các bộ phận này. Sự lan tràn của tế bào ung thư gọi là “metastasis”.
    Ung thư thực quản khởi đầu từ những tế bào tại màng lót (lớp trong cùng) của thực quản. Vối thời gian, ung thư có thể ăn lậm đến các lớp mô khác tại thực quản hay lan đến các mô lân cận.

    Các loại ung thư thực quản

    Có hai loại ung thư thực quản chính, cả hai loại ung thư đều được chẩn đoán và chữa trị như nhau. Ung thư thực quản được đặt tên theo thể loại tế bào ung thư khảo sát qua kính hiển vi. Cả hai đều bắt đầu từ tế bào tại màng lót thực quản:
    • Adenocarcinoma: Loại ung thư này thường xuất hiện tại phần dưới của thực quản, gần dạ dày. Tại Hoa Kỳ, đây là loại ung thư thực quản thường thấy nhất. Tỷ lệ ung thư thực quản gia tăng từ những năm 70.
    • Squamous cell carcinoma: Loại ung thư này thường xuất hiện tại phần trên của thực quản, tỷ lệ ung thư này giảm dần trong những người Hoa Kỳ. Tuy nhiên trên thế giới, loại ung thư này trở nên phổ thông hơn.

    Các yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư thực quản:

    Khi ung thư được chẩn đoán, người bệnh thường đặt câu hỏi về nguyên nhân. Y học chưa biết rõ nguyên nhân của ung thư thực quản và cũng không thể giải thích tại sao người này bị ung thư mà người khác không bị ung thư. Tuy nhiên Y học đã dùng thống kê để nhận định một số yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư thực quản. Các yếu tố này bao gồm:

    • Tuổi 65 trở lên: Tuổi tác là yếu tố nguy hại chính, tuổi càng cao tỷ lệ ung thư thực quản càng gia tăng. Tại Hoa Kỳ, bệnh nhân bị ung thư thực quản thường là những người tuổi 65 trở lên.
    • Nam giới: Tại Hoa Kỳ, nam phái có tỷ lệ ung thư thực quản cao gấp ba lần nữ phái.
    • Hút thuốc lả thuốc lào: Người hút thuốc có nguy cơ bị ung thư cao hơn người không hút.
    • Uống nhiều rượu: Người uống nhiều hơn ba ly rượu mỗi ngày có nguy cơ bị ung thư thực quản loại squamous. Người uống rượu và hút thuốc có tỷ lệ ung thư cao hơn nữa. Nghĩa là các yếu tố hợp chung gây nguy cơ ung thư cao hơn nữa.
    • Cách ăn uống: Cách ăn uống có ít rau trái có thể gia tăng nguy cơ bị ung thư.
    • Bệnh mập phì: Bị mập phì gia tăng nguy cơ bị ung thư thực quản loại adenocarcinoma.
    • Acid dội ngược (reflux): Acid dội ngược từ dạ dày lên thực quản thường xảy ra, triệu chứng bao gồm đau rát lồng ngực. Acid có thể gây hư hoại các mô tại thực quản. Sau nhiều năm, sự hoại này có thể dẫn đến ung thư thực quản loại adenocarcinoma trong một số người.
    • Barrett esophagus: Acid dội ngược có thể gây hư hoại thực quản và tạo thành chứng Barrett esophagus. Những tế bào tại phần dưới thực quản trở nên bất thường. Những người bị Barrett esophagus thường không hay biết. Barrett esophagus gia tăng nguy cơ bị ung thư thực quản loại adenocarcinoma.
    Các chuyên gia tiếp tục tìm kiếm các yếu tố gây nguy cơ bị ung thư thực quản khác.
    Có một hoặc nhiều các yếu tố kể trên không có nghĩa là sẽ bị ung thư thực quản.

    Triệu chứng

    Khi mới phát, ung thư thực quản thường không gây triệu chứng. Khi khối ung thư lớn đủ, có thể gây các triệu chứng sau:
    • Thức phẩm kẹt trong thực quản, và thức ăn dội ngược lên miệng
    • Khi nuốt thường đau đớn
    • Đau tại vùng ngực
    • Xuống ký
    • Ợ chua
    • Khan tiếng không thuyên giảm sau 2 tuần lễ.
    Những triệu chứng này có thể gây ra bởi ung thư thực quản hoặc do những chứng bệnh khác. Khi triệu chứng xuất hiện, cần đi khám bệnh để bác sĩ có thể chẩn bệnh và chữa trị chính xác và nhanh chóng.

    Chẩn bệnh

    Nếu có triệu chứng kể trên, bác sĩ cần tìm kiếm nguyên nhân. Bác sĩ có thể khám bệnh, hỏi về bệnh sử của người bệnh và cả thân nhân. Ngoài thử nghiệm máu, bác sĩ cũng có thể dùng các loại thử nghiệm khác như:
    • Nuốt Barium: Bệnh nhân uống một dung dịch có tên là barium, rồi chụp quang tuyến (X-ray) của thực quản và dạ dày. Barium giúp hình ảnh của các cấu trúc này rõ ràng hơn. Loại thử nghiệm này cũng có tên là upper GI series.
    • Endoscopy: Bác sĩ dùng một ống nhỏ, mềm, dễ uốn, đầu ống có đèn và kính hiển vi đưa vào miệng, xuống thực quản để quan sát. Trước khi chuyển ống, bác sĩ làm tê cổ họng bệnh nhân hoặc bệnh nhân được ngủ. Việc quan sát này cũng có tên là upper endoscopy, EGD, hoặc esophagoscopy.
    • Trích mô (Biopsy): Bác sĩ dùng đầu ống endoscope để lấy một mảnh mô từ thực quản. Bác sĩ bệnh lý sẽ xem xét các tế bào để tìm kiếm dấu vết ung thư. Loại thử nghiệm này sẽ cho biết kết quả chính xác.
    Trước khi làm sinh thiết (trích mô, biopsy), quý vị nên hỏi bác sĩ các câu hỏi sau:
    • Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
    • Tôi có phải ở lại bệnh viện không? Nếu có, thì bao nhiêu lâu?
    • Tôi có phải làm gì để sửa soạn không?
    • Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh thiết? Có đau đớn lắm không?
    • Làm sinh thiết có rủi ro không? Tôi có bị xuất huyết không? Nhiễm trùng?
    • Bao nhiêu lâu thì tôi sẽ hồi phục? Bao giờ thì tôi có thể ăn uống như thường?
    • Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho tôi hiểu?
    • Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước sắp tới? Và bao giờ?

    Định kỳ ung thư
    Nếu kết quả sinh thiết xác nhận ung thư, bác sĩ sẽ cần tìm kiếm xem ung thư đang ở giai đoạn nào hay thời kỳ nào để có thể định bệnh và giúp bệnh nhân chọn cách trị liệu thích hợp:

    • Ung thư đã ăn sâu đến đâu trên thành thực quản
    • Ung thư đã lan đến các cấu trúc lân cận chưa
    • Ung thư đã lan xa chưa, nếu có, đã lan đến bộ phận nào

    Khi ung thư thực quản lan tràn, dấu vết ung thư thường xuất hiện tại các hạch bạch huyết lân cận. Khi ung thư lan đến các hạch này, thì cũng có thể lan đến các hạch huyết xa hơn, xương hoặc các cấu trúc khác. ung thư cũng có thể lan đến gan và phổi.

    Bác sĩ có thể dùng những loại thử nghiệm sau đây để định kỳ ung thư:
    • Siêu âm qua nội soi (Endoscopic ultrasound): Tại đầu ống nội soi có gắn dụng cụ dò siêu âm. Âm thanh dội lại từ các mô thực quản và các cấu trúc lân cận. Hình ảnh được cấu tạo từ những song âm thanh và trình bày trên màn ảnh. Hình ảnh này cho thấy độ sâu của khối ung thư; bác sĩ có thể cần làm sinh thiết trong khi nội soi.
    • CT scan: Hình ảnh của thực quản và khoang bụng được chụp bằng CT scan. Bs có thể tìm thấy hạch bạch huyết sưng trướng và cũng có thể dùng “contrast”, hóa chất giúp hình ảnh rõ ràng hơn.
    • MRI: Hình ảnh của thực quản và khoang bụng được chụp bằng MRI. Bác sĩ có thể tìm thấy hạch bạch huyết sưng trướng và cũng có thể dùng “contrast”, hóa chất giúp hình ảnh rõ ràng hơn.
    • PET scan: bệnh nhân có thể được thử nghiệm bằng PET scan, dung dịch chứa đường phóng xạ (radioactive sugar) được chích vào mạch máu. Các tế bào ung thư thu nhận đường, do đó, khôi ung thư chứa các tế bào thu nhận đường phóng xạ được chiếu rõ trên màn ảnh.
    • Bone scan: bệnh nhân được chích một dung dịch phóng xạ,chất phóng xạ theo máu luân lưu khắp cơ thể và tích tụ trong xương. Hình ảnh cho thấy những phần xương bị ung thư.
    • Tiểu phẫu nội soi (Laparoscopy): bệnh nhân được đánh thuốc mê, bác sĩ cắt một vệt nhỏ trên bụng chuyển ống nội soi quan sát khoang bụng và trích mô hạch bạch huyết để thử nghiệm tìm dấu vết ung thư.
    Đôi khi việc định kỳ chỉ hoàn tất sau khi mổ cắt bỏ khối u và các hạch bạch huyết lân cận.

    Khi ung thư lan từ khối u nguyên thủy đến những bộ phận khác Khi đén các bổ phận kể trên, khôi u mới cũng bao gồm các tế bào ung thư thực quản. Thí dụ như khi ung thư thực quản lan đến gan vẫn được gọi là ung thư thực quản và chữa trị như ung thư thực quản (không phải ung thư gan), và còn được gọi là “metastatic disease”.

    Ung thư thực quản có ba giai đoạn:
    • Thời kỳ 0: Tế bào bất thường được tìm thấy tại lớp màng lót của thực quản. Giai đoạn này có tên “carcinoma in situ”.
    • Thời kỳ I: Tế bào ung thư ăn lậm qua màng lót, đến lớp submucosa. (Xem hình vẽ).

    • Thời kỳ II: Một trong những tình trạng sau:
    -Tế bào ung thư ăn lậm qua màng lót, qua lớp submucosa và đã lan đến hạch bạch huyết.
    -Hoặc, ung thư lậm sâu đến lớp cơ trơn, lan đến hạch bạch huyết.
    -Hoặc, ung thư ăn lậm qua thành thực quản, lớp ngoài cùng.

    • Thời kỳ III: Một trong những tình trạng sau:
    -Ung thư ăn lậm qua thành thực quản, lớp ngoài cùng, và lan đến hạch bạch huyết.
    -Hoặc, ung thư đã lan đến các bộ phận lân cận như khí quản. ung thư có thể lan đến hạch bạch huyết.

    • Thời kỳ IV: Ung thư đã lan đến các bộ phận xa hơn như gan.

    Chữa trị: Giải phẫu, Xạ Trị và Hóa Chất

    Có nhiều cách chữa trị chứng ung thư thực quản: giải phẫu, xạ trị và / hoặc hóa chất. Bác sĩ có thể dùng một, hai, hoặc cả ba cách chữa trị kể trên. Thí dụ: Xạ trị dùng chung với hóa chất sau khi giải phẫu. Cách chữa trị được xem là thích hợp cho bệnh nhân tùy thuộc những yếu tố sau:

    • Vị trí của khối u tại thực quản
    • Mức lan tràn của khối u
    • Khối u đã lan đến hạch bạch huyết hoặc đến các bộ phận khác
    • Triệu chứng
    • Tình trạng sức khỏe toàn diện của bệnh nhân

    Ung thư thực quản còn là một chứng nan y, khó chữa trị. Do đó, bác sĩ có thể khuyến khích bệnh nhân tham dự một cuộc thử nghiệm lâm sàng, tìm kiếm và thí nghiệm những cách trị liệu mới. Thử nghiệm lâm sàng quan trọng cho bệnh nhân trong mọi giai đoạn của ung thư thực quản. Xin xem thêm tiết mục Tham Gia Thử Nghiệm Lâm Sàng

    Quý vị có thể nhờ bác sĩ giới thiệu một chuyên viên trong ngành trị liệu này như bác sĩ chuyên môn về bệnh tiêu hóa (gastroenterologist), bác sĩ chuyên môn chữa trị ung thư thực quản như bác sĩ giải phẫu lồng ngực (thoracic (chest) surgeons), bác sĩ giải phẫu ung thư (thoracic surgical oncologists), bác sĩ chữa trị ung thư (medical oncologists) hoặc bác sĩ chuyên về xạ trị (radiation oncologists). Những chuyên viên khác có thể bao gồm điều dưỡng chuyên về ung thư hoặc cả chuyên viên về dinh dưỡng. Nếu bộ phận hô hấp bị nghẽn vì khối ung thư, bệnh nhân có thể cần chuyên viên về hô hấp (respiratory therapist). Nếu thực quản bị nghẽn gây khó khăn khi nuốt thức ăn hoặc nước miếng, bệnh nhân sẽ cần chuyên viên về phát âm (speech pathologist).

    Nhóm chuyên viên trị liệu có thể bàn thảo cách chữa trị thích hợp, kết quả mong đợi, và biến chứng nếu có. Cách trị liệu ung thư thường gây hư hoại những tế bào và mô bình thường nên bệnh nhân thường chịu phản ứng phụ. Trước khi bắt đầu cuộc trị liệu, bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về phản ứng phụ và cách trị liệu ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày ra sao. Bác sĩ và bệnh nhân có thể thẩm định và lựa chọn cách chữa trị thích hợp nhất.

    Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu cuộc trị liệu:

    • Tôi bị ung thư ở thời kỳ nào? Ung thư đã lan chưa? Có lan đến hạch bạch huyết chưa?
    • Có những cách chữa trị nào cho căn bệnh của tôi? Bác sĩ nghĩ rằng cách trị liệu nào thích hợp nhất? Lý do?
    • Tôi có được chữa trị bằng nhiều phương cách hay không?
    • Lợi ích của mỗi cách chữa trị này là những gì?
    • Phản ứng phụ và những rủi ro của mỗi cách chữa trị này bao gồm những gì? Ta có thể giảm thiểu phản ứng phụ hay không?
    • Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
    • Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao nhiêu lâu?
    • Việc chữa trị có tốn kém lắm không? Bảo hiểm của tôi có trang trải những phí tổn này không?
    • Bác sĩ có thể giới thiệu một bác sĩ chuyên môn khác cho tôi xin ý kiến thứ nhì không? Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị cho tôi không?
    • Sau khi trị liệu, tôi có phải khám bệnh đình kỳ thường xuyên không?

    Giải phẫu

    Có nhiều loại giải phẫu để chữa trị ung thư thực quản. Phương pháp giải phẫu tùy thuộc về trí của khối ung thư. Bác sĩ có thể cắt bộ một phận hoặc toàn thể thực quản. Thông thường, bác sĩ cắt bộ phận ung thư tại thực quản, hạch bạch huyết và những mô lân cận. Một phần dạ dày hoặc cả dạ dày cũng có thể bị cắt bỏ. Bệnh nhân và bác sĩ có thể thảo luận và quyết định cách chữa trị thích hợp nhất.

    Bác sĩ mở lồng ngực và khoang bụng để cắt bỏ khối ung thư. Trong hầu hết mọi trường hợp, bác sĩ nối dạ dày với phần còn lại của thực quản hoặc dùng một đoạn ruột non (hoặc ruột già) có thể được dùng để nối dạ dày và phần còn lại của thực quản. Bác sĩ cũng có thể nối ruột non với phần còn lại của thực quản nếu dạ dày bị cắt bỏ.

    Trong khi mổ, bác sĩ có thể đặt một ống truyền thức ăn vào ruột non; ống này giúp chuyển chất nuôi cơ thể trong khi vết cắt lành lặn. Đọc thêm ở phần Dinh Dưỡng về cách ăn uống hậu giải phẫu.

    Bệnh nhân có thể đau đớn vài ngày hậu giải phẫu và có thể dùng thuốc giảm đau. Trước khi giải phẫu, bệnh nhân nên thảo luận với bác sĩ về cách giảm đau. Hậu giải phẫu, bác sĩ có thể gia giảm thuốc giảm đau để giúp bệnh nhân dễ chịu hơn.

    Các chuyên viên chăm sóc sức khỏe sẽ tìm kiếm dấu vết của việc thức ăn thoát ra từ đường tiêu hóa, nơi vừa được cắt vá; dấu vết của viêm phổi hoặc nhiễm trùng, khó thở, xuất huyết hoặc những biến chứng khác cần được chữa trị kịp thời.

    Thời gian cần thiết để phục hồi tùy thuộc vào cá nhân và tùy theo loại giải phẫu. Bệnh nhân có thể nằm bệnh viện khoảng 1 tuần lễ.

    Quý vị có thể hỏi bác sĩ của mình về cuộc giải phẫu:
    • Bác sĩ sẽ thực hiện cách giải phẫu nào cho tôi?
    • Bác sĩ có cắt bỏ hạch bạch huyết không? Cắt bỏ những mô khác? Cắt bỏ dạ dày? Lý do tại sao?
    • Tôi sẽ ra sao sau khi mổ?
    • Tôi có cần ăn uống kiêng khem gì không?
    • Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
    • Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
    • Toi có gặp trở ngại trong việc ăn uống không? Có cần ăn uống qua ống dẫn không? Nếu cần thì phải dùng ống dẫn bao nhiêu lâu? Làm thế nào để chăm sóc ống dẫn thức ăn? Ai sẽ là người giúp đỡ khi tôi gặp trở ngại?
    • Tôi có bị phản ứng phụ lâu dài hay không?
    • Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?

    Xạ Trị

    Xạ trị (Radiation therapy hoặc radiotherapy) là việc dùng quang tuyến cao năng lượng để diệt tế bào ung thư và chỉ ảnh hưởng đến tế bào tại nơi chữa trị.

    Xạ trị có thể được dùng trước hoặc sau khi giải phẫu, hoặc thay cho giải phẫu. Xạ trị thường được dùng chung với hoá chất trị liệu để chữa ung thư thực quản.

    Bác sĩ dùng 2 loại xạ trị, một số bệnh nhân cần cả hai loại xạ trị:
    • Ngoại xạ trị (External radiation therapy): Tia phóng xạ xuất phát từ máy phát xạ bên ngoài cơ thể, nhắm đến khối ung thư. bệnh nhân có thể đến bệnh viện hoặc trung tâm Y khoa để chữa trị. Việc ccữa trị thường kéo dài 5 ngày mỗi tuần trong nhiều tuần lễ.

    • Nội xạ trị (Internal radiation therapy hoặc brachytherapy): Bác sĩ gây tê tại cuống họng ben và dùng thuốc an thần để giúp bệnh nhân dễ chịu; sau đó chuyển một ống vào thực quản. Phóng xạ đến từ ống này. Khi bác sĩ lấy ống phóng xạ ra khỏi cơ thể, việc chữa trị hoàn tất.

    Phản ứng phụ tùy thuộc vào lượng và loại xạ trị. Ngoại xạ trị đến ngực và bụng thường gây rát cổ, khó nuốt hoặc đau đớn tại vùng bụng. bệnh nhân có thể buồn nôn và ói mửa. Bác sĩ có thể dùng thuốc men để làm giảm các triệu chứng kể trên.

    Vùng da nơi chiếu xạ trị sẽ đỏ rát, khó chịu. Hiếm khi xạ trị tại ngực gây hư hoại phổi, tim hoặc cột sống.

    Bệnh nhân thường rất mệt mỏi trong khi xạ trị, nhất là những tuần lễ sau chót của cuộc chữa trị. Sự mệt mỏi mất sức sẽ kéo dài nhiều tuần lễ sau đó. Nghỉ ngơi, dưỡng sức là việc quan trọng nhưng bác sĩ thường cổ võ việc vận động cơ thể càng nhiều càng tốt.

    Xạ trị có thể dẫn đến việc khó nuốt. Thí dụ, đôi khi xạ trị có thể hủy hoại thực quản và gây khó nuốt, hoạt xạ trị có thể làm thu nhỏ thực quản. Trước khi chữa trị, bác sĩ có thể đặt một ống plastic vào thực quản để ngăn sự thu hẹp thực quản. Nếu xạ trị gây khó nuốt, sẽ ảnh hưởng đến sự dinh dưỡng. Bệnh nhân nên thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng và xem thêm phần Dinh Dưỡng.

    Quý vị có thể tìm đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Radiation Therapy and You của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.

    Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu cuộc xạ trị:
    • Tại sao tôi cần loại chữa trị này?
    • Bác sĩ chọn loại xạ trị nào cho tôi? Cả hai loại xạ trị có cần thiết không?
    • Khi nào thì việc chữa trị bắt đầu? Khi nào thì xong? Chữa trị bao nhiêu lần?
    • Tôi sẽ bị ảnh hưởng ra sao? Tôi có cần vào bệnh viện không? Tôi cần làm gì để tự chăm sóc trong khi và sau khi chữa trị?
    • Tôi có thể tự đến nơi chữa trị hay không?
    • Làm thế nào để biết là xạ trị có hiệu quả hay không?
    • Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không?

    Hóa chất trị liệu

    Hầu như mọi bệnh nhân bị ung thư thực quản đều dùng hóa chất trị liệu. Đây là cách chữa dùng hóa chất để diệt tế bào ung thư. Loại hóa chất trị liệu dùng để chữa ung thư thực quản thường được chuyển vào tĩnh mạch (intravenous). Bệnh nhân có thể được chữa trị tại bệnh viện, trung tâm y khoa, phòng mạch bác sĩ hoặc tại nhà. Một vài bệnh nhân cần được chữa trị tại bệnh viện.

    Hóa chất trị liệu được dùng theo chu kỳ, mỗi chu kỳ là một thời gian chữa trị theo sau là thời gian nghỉ ngơi.

    Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại thuốc và lượng thuốc. Hóa chất trị liệu diệt các tế bào tăng trưởng nhanh nhưng cũng có thể gây hư hoại những tế bào khỏe mạnh có chu kỳ tăng trưởng nhanh:
    • Tế bào máu: Khi hóa chất trị liệu hạ thấp lượng tế bào khỏe mạnh, cơ thể dễ bị nhiễm trùng, bầm tím hoặc xuất huyết dễ dàng, mệt mỏi và mất sức. Bác sĩ cần theo dõi số lượng tế bào máu, khi lượng tế bào máu xuống qúa thấp, bác sĩ có thể ngưng hóa chất trị liệu một thời gian hoạt giảm lượng thuốc. Đôi khi bác sĩ dùng các loại thuốc gia tăng lượng tế bào máu.

    • Tế bào tại chân tóc: Hóa chất trị liệu có thể gây rụng tóc. Nếu tóc rụng, sẽ mọc trở lại nhưng tóc mới có thể khác màu và khác thể chất so với tóc cũ.

    • Tế bào lót bộ phận tiêu hóa: Hóa chất trị liệu gây biếng ăn, buồn nôn và ói mửa, tiêu chảy, lở miệng môi. Bác sĩ có thể dùng thuốc men hoặc những phương cách giúp bệnh nhân dễ chịu hơn.

    Những phản ứng phụ khác có thể bao gồm nổi mề đay trên da, đau khớp xương, cảm giác kim châm hoặc tê dại tại chân tay, giảm thính giác, sưng phù chân cẳng. Bác sĩ có thể dùng vài phương cách giúp bệnh nhân dễ chịu hơn. Hầu hết những tc này sẽ chấm dứt khi việc chữa trị hoàn tất.

    Quý vị có thể đọc thêm chi tiết về hóa chất trị liệu trong tập tài liệu Chemotherapy and You do Viện Ung Thư Quốc Gia ấn hành.

    Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu hóa chất trị liệu:
    • Tôi sẽ được chữa trị bằng những thứ thuốc nào?
    • Khi nào thì bắt đầu? Khi nào thì xong? Bao nhiều lần chữa trị?
    • Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
    • Có phản ứng phụ nào lâu dài hay không? Triệu chứng nào thì tôi cần báo tin với bác sĩ? Tôi có thể phòng ngừa những phản ứng phụ này không?

    Ý kiến thứ nhì

    Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tìm một trung tâm y khoa dày kinh nghiệm chữa trị ung thư thực quản; tham khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu.

    Quý vị nên tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia về các cách chữa trị khác nhau, phản ứng phụ và kết quả. Nhiều người cho rằng việc tham khảo ý kiến thứ nhì làm phật lòng bác sĩ của mình, sự e ngại này không thực tế.

    Khi thu nhận ý kiến thứ nhì, có thể cũng tương tự như ý kiến thứ nhất hoặc khác biệt với ý kiến thứ nhất; bất kể trường hợp nào, bệnh nhân cũng thu góp nhiều dữ kiện hơn, chọn lựa và tự quyết định việc chữa trị.

    Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.

    Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình, hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa. Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ qua dịch vụ NCI's Cancer Information Service (số điện thoại miễn phí 1-800-4-CANCER) có thể cung cấp tin tức, dữ kiện về một trung tâm Y Khoa gần nơi quý vị cư ngụ.

    Supportive Care

    Supportive Care (tạm dịch là “chữa trị phụ” nhằm giúp bệnh nhân duy trì sức khỏe, chịu đựng những phản ứng phụ, biến chứng từ việc chữa trị chính).

    Ung thư thực quản và việc chữa trị có thể dẫn đến nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân. Bác sĩ có thể dùng “suportive care” hay “chữa trị phụ” trước khi, trong khi hoặc cả sau khi chữa trị ung thư (việc chính).

    Chữa trị phụ bao gồm việc ngăn ngừa hoặc chữa trị nhiễm trùng, giảm đau đớn và những phản ứng phụ khác. Cách chữa trị này giúp bệnh nhân dễ chịu hơn.

    Khi khối ung thư làm nghẽn thực quản

    bệnh nhân khó nuốt thức ăn khi khối ung thư làm nghẽn thực quản và do đó khiến việc ăn uống trở nên khó khăn. Ngoài ra, thức ăn có thể trôi xuống khí quản dẫn đến nhiễm trùng đường hô hấp như sưng phổi. Khi khó nuốt, nước miếng có thể chảy nhễu xuống cằm khiến bệnh nhân khó chịu và xấu hổ khi phải giao tiếp với người chung quanh.

    Chuyên viên trị liệu có thể đề nghị một trong những cách chữa trị sau:
    • Stent: Bác sĩ đặt ống ống rỗng bằng plastic hoặc bằng sắt mỏng vào thực quản. Thức ăn được chuyển qua ống này. Tuy nhiên, thức ăn cần được nhai kỹ trước khi nuốt. Nuốt một khối thức ăn lớn có thể gây nghẽn ống dẫn.

    • Laser therapy: Laser là một nguồn ánh sáng rất mạnh tạo nhiệt để diệt tế bào. Bác sĩ dùng tia laser để hủy những tế bào ung thư làm nghẽn thực quản. Cách chữa trị này có thể giúp bệnh nhân nuốt thức ăn dễ dàng hơn trong một thời gian ngắn, và cần trị liệu nhiều lần.

    • Photodynamic therapy: bệnh nhân được chích thuốc và thuốc tích tụ tại khối u. Hai ngày sau khi chích, bác sĩ dùng dụng cụ nội soi chiếu một loại ánh sáng đặc biệt (như laser) vào khối u. Ánh sáng tác động thuốc hoạt động. Hai hoặc ba ngày sau, bác sĩ có thể thử nghiệm xem tế bào ung thư đã bị hủy diệt hay chưa. bệnh nhân cần tránh ánh sáng mặt trời trong ít nhất 1-2 tháng. Loại trị liệu này cần được tiếp tục.

    Bệnh nhân có thể tìm đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Photodynamic Therapy for Cancer: Questions and Answers của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.

    • Xạ trị (Radiation therapy): Xạ trị giúp thu nhỏ khối u. Khi khối u làm nghẽn thực quản, nội xạ trị hoặc đôi khi ngoại xạ trị có thể được sử dụng để giúp bệnh nhân nuốt dễ dàng hơn.

    • Nong rộng thực quản bằng bóng (Balloon dilation): Bác sĩ chuyển một ống qua nơi nghẽn tại thực quản, trái bóng giúp nong rộng phần thực quản bị tắc nghẽn. Cách chữa trị này giúp bệnh nhân nuốt dễ dàng hơn trong vài ngày.

    • Những phương cách duy trì sự dinh dưỡng: Xin đọc thêm phần Dinh Dưỡng khi ăn uống trở nên khó khăn.

    Sự đau đớn

    ung thư và cách chữa trị thường gây đau đớn, đau đớn khi nuốt, đau tại ngực do khối u hoặc do ống dẫn (stent). Chuyên viên trị liệu hoặc một chuyên viên trị đau đớn có thể đề nghị một số phương cách để giảm đau. Quý vị có thể đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Pain Control của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.

    Buồn rầu hoặc bất an

    Khi bị bệnh nan y, điều dễ hiểu là bệnh nhân sẽ buồn rầu, lo lắng bất an... Một số bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn khi có thể diễn tả cảm giác của mình. Xin đọc thêm phần Sources of Support.

    Dinh dưỡng

    Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.

    Tuy nhiên, khi ung thư thực quản, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. bệnh nhân cũng có thể chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.

    Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, vitamins, và minerals:
    • Chuyên viên dinh dưỡng có thể đề nghị thay đổi loại thực phẩm. Đôi khi thay đổi loại thực phẩm, thể chất hoặc lượng mỡ có thể khiến bệnh nhân dễ chịu hơn. Đôi khi sự thay đổi về số lượng thực phẩm hoặc giờ ăn uống có thể giảm sự khó chịu.

    • Chuyên viên dinh dưỡng cũng có thể đề nghị ăn thức ăn lỏng như những thức uống đóng hộp, sữa trái cây, sinh tố...

    • Khi việc nuốt trở nên quá khó khăn, chuyên viên dinh dưỡng và bác sĩ cũng có thể dùng ống dẫn đưa thức ăn xuống dạ dày hoặc ruột non.

    • Đôi khi, chất dinh dưỡng đuọc truyền qua tĩnh mạch.

    Quý vị có thể đọc thêm chi tiết trong tập tài liệu Eating Hints for Cancer Patients của Viện Ung Thư Quốc Gia.

    Dinh dưỡng hậu giải phẫu

    Một chuyên viên dinh duõng có thể giúp quý vị chọn lựa cách ăn uống đủ chất bồi bổ cơ thể, một chương trình chi tiết cụ thể bao gồm loại và lượng thức phẩm cần thiết cho mỗi bữa để ngăn ngừa việc xuống ký hoặc khó ăn uống.

    Khi dạ dày bị cắt bỏ, bệnh nhân có thể chứng "dumping syndrome", thức ăn chưa tiêu hóa đổ vào ruột non quá nhanh gây đau bụng, trướng bụng, tiêu chảy và chóng mặt. Bệnh nhân có thể giảm triệu chứng bằng cách:
     Ăn từng bữa nhỏ
     Uống trước và sau khi ăn thức ăn đặc.
     Giảm bớt các món ngọt như bánh kẹo nước đường, nước trái cây.
     Hậu giải phẫu, bệnh nhân có thể cần dùng sinh tố và khoáng chất như calcium và chích sinh tố B12

    Quý vị có thể đặt câu hỏi với chuyên viên dinh dưỡng:
     Làm thế nào để duy trì trọng lượng cơ thể
     Cần ăn những món gì trong bữa để bồi bổ cơ thể?
     Tôi có thể ăn những món ưa thích mà không bị khó tiêu?
     Tôi cần tránh những thức gì?
     Tôi cần sinh tố hoặc khoáng chất gì thêm?

    Thăm bệnh định kỳ

    Sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần được khám bệnh định kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể.

    Khám bệnh định kỳ giúp bác sĩ kiểm soát theo dõi diễn tiến của bệnh trạng, các loại thử nghiệm như thử máu, chụp hình phổi, CT scan, nội soi hoặc những loại thử nghiệm khác. .

    Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ.

    Những nguồn hỗ trợ

    Chứng bệnh nan y như ung thư thực quản có thể thay đổi cuộc sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.

    Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.

    Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.

    Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm:

    • Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng.

    • Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…

    • Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc qua internet.

    • Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.

    Quý vị có thể tìm đọc thêm chi tiết qua tập tài liệu Taking Time: Support for People With Cancer của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.

    Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư

    Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất.

    Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp chữa trị ung thư thực quản như hóa chất, xạ trị và dùng chung các cách trị liệu này với nhau xem cách trị liệu nào hiệu quả hơn.

    Thử nghiệm lâm sàng là cách tìm kiếm câu trả lời về cách chữa trị hữu hiệu và an toàn hơn. Bệnh nhân tham dự có thể là những người đầu tiên được chữa trị với một phương pháp mới. Các bác sĩ đang tìm cách chữa trị ung thư thức quản một cách hiệu quả hơn:

    • Giải phẫu: Bác sĩ đang tìm hiểu việc sử dụng vết cắt nhỏ thay cho cho những vết cắt lớn. Bác sĩ cắt những vết nhỏ tại cổ, ngực, và bụng để quan sát lồng ngực qua dụng cụ nội soi và cắt bỏ phần ung thư tại thực quản.

    • Hóa chất trị liệu và sinh hóa tố trị liệu: Viện Ung Thư Quốc Gia tài trợ cuộc thử nghiệm dùng sinh hóa tố (một loại kháng thể monoclonal antibody) chung với hóa chất.

    • Trị liệu phụ: Bác sĩ cũng thử nghiệm những cách tiết giảm biến chứng từ việc trị liệu và từ căn bệnh ung thư.

    Nếu quý vị muốn tham gia cuộc thử nghiệm lâm sàng, hãy nói chuyện với bác sĩ của mình. Những người tình nguyện tham dự các cuộc khảo cứu này đã đóng góp rất nhiều cho nhân loại trong việc tìm hiểu chứng ung thư thực quản và cách chữa trị hiệu quả hơn. Thử nghiệm lâm sàng có thể mang lại ít nhiều rủi ro, chuyên gia khảo cứu tận lực để bảo vệ bệnh nhân trong các cuộc khảo cứu này.

    Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần thử nghiệm lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials . Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư thực quản.

    Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ

    Quý vị có thể lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
    Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
    Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615

    Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.

    Trang nhà: h*tp://cancer.gov
    Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng “gov”)

    Tài liệu

    Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.
    Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình.

    Thư từ:

    Publications Ordering Service
    National Cancer Institute
    Suite 3035A
    6116 Executive Boulevard, MSC 8322
    Bethesda, MD 20892-8322

    Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)

    Hóa chất trị liệu và bạn (Chemotherapy and You)

    Xạ trị và bạn (Radiation Therapy and You)

    Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu bạn bị ung thư (How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)

    Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies: Questions and Answers)

    Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic Therapy for Cancer: Questions and Answers)

    Sống với ung thư (Living With Cancer)

    Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)

    Giảm đau đớn (Pain Control)

    Thích nghi với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)

    Những ngày sắp tới: Cuộc sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward Series: Life After Cancer Treatment)

    Những ngày sắp tới: Những điều bạn có thể làm để đóng góp (Facing Forward Series: Ways You Can Make a Difference in Cancer)

    Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking Time: Support for People with Cancer)

    Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)

    Những tổ chức hỗ trợ người bệnh và thân nhân (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and Their Families)

    Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)

    Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research Studies)

    * Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (NCI), NIH Publication No. 08-1557), ấn bản tháng Mười Một, 2008
  7. Morocco, vào nơi gió cát​


    Dế mèn viết lại chuyến đi thăm Maroc (Morocco theo tiếng Anh) năm xưa. Sa mạc Sahara là hình ảnh đẹp nhất và là kỷ niệm sâu đậm nhất về chuyến đi, chỉ có gió và cát, nên mượn đỡ mấy chữ từ Chinh Phụ Ngâm ... Chàng từ đi vào nơi gió cát, Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao... Gió và cát thì nhiều vô kể, cả trăng sáng nữa, trăng vằng vặc trong bầu trời đen, nhưng đêm sa mạc thì lạnh khô, phải nói là rất lạnh, quấn mấy tấm da cũng không đủ ấm! Xin đừng mắng mỏ Dế Mèn tiểu thư nắng không ưa mưa không chịu , và độc giả nào dấn bước sang bên ấy, thì nhớ vác theo quần áo ấm kẻo lạnh chịu hổng thấu!

    Morocco là một trong những quốc gia vùng Bắc Phi; Morocco, Tunisia và Algeria được gọi chung là vùng Maghreb (phía Tây theo tiếng Arabic). Vùng đất này có một lịch sử trên hai ngàn năm với những cuộc chiến tranh giành đất, giành dân giữa những nhóm người khác nhau, Morocco luôn bị cai trị bởi ngoại bang, mãi cho đến năm 1956 khi người Pháp chính thức trả lại chủ quyền quốc gia, mới độc lập.

    Người Berber hay Imazighen đã sinh sống tại Morocco từ nhiều ngàn năm, và đã có một thời, người Berber thống trị cả vùng đất từ Morocco đến Ai Cập. Rồi người Phoenician, Roman, Ả Rập, Almoravid, Almohad và cuối cùng là người Pháp (sau khi đẩy được Đức và Tây Ban Nha ra rìa) thay nhau làm chủ vùng đất này, vì vậy điều dễ hiểu là văn hóa của Morocco chịu ảnh hưởng của Phi châu, Islam, Ả Rập, Berber và cả Âu Châu. Tuy nhiên, Tây Ban Nha vẫn giữ được một mảnh của Morocco, Tangier, cho đến ngày nay, ngay cả sau những cuộc nổi dậy đẫm máu của dân địa phương (Khi thăm những thành phố lớn của Tây Ban Nha, bạn sẽ thấy đài Chiến Sĩ Trận Vong tuyên dương những người tử trận tại Tangier). Vị Sultan cuối cùng Mohammed đệ ngũ lên ngôi vua năm 1957, sau đó nhường ngôi cho con là Vua Hassan II, rất nhiều con đường, đài kỷ niệm tại Morocco mang tên hai vị này. Vị vua đương triều, Mohammed VI lên ngôi năm 1999.

    Morocco nằm trong Châu Phi, nhưng lại muốn trở nên một thành phần của cộng đồng Âu Châu (European Union) ở bên kia biển, và cộng đồng Âu Châu cũng chẳng mấy hăm hở đón nhận người anh em ruột dư này vì Morocco nghèo quá xá, "lợi tức trung bình" (Gross National Income per capita) khoảng 1,500 mỹ kim một năm cho mỗi đầu người (theo World Bank 2005).

    Từ Nữu Ước, sáu giờ bay qua Đại Tây Dương bằng chuyến bay của Royal Air Maroc là ta đến Casablanca, thành phố lớn nhất của Morocco. Dế Mèn chuyển máy bay nội địa để đến Marrakesh, khoảng 1 giờ bay. Marrakesh là kinh đô của Morocco ngày trước; bây giờ thủ đô là Rabat. Dế mMèn đi chơi 10 ngày, ở lại Marrakesh, Fès, và Casablanca. Đến nơi thì vào giữa trưa. Buổi trưa tháng Ba, sau lễ Ramadan, nắng hừng hực, thành phố ngủ trưa nên hàng quán đóng cửa. Dế Mèn nghỉ trưa một lúc rồi theo bạn bè thả bộ quanh thành phố, những tòa nhà có kiến trúc Arabic, tường dát gạch men theo hình kỷ hà (mosaic) màu sắc rất tươi, rất đẹp mắt. Vào những con đường nhỏ, những khúc quanh, nhìn ngắm người địa phương sống quấy quần trong những ngôi nhà lụp xụp. Đây là một trong những ngôi nhà khá khá trong:

    [​IMG]

    Người địa phương, những người không quàng khăn che mặt, có đôi mắt sâu thẳm, màu nâu từ nhạt đến thẫm (nhất định là mắt không "huyền" như mắt người Á Châu), mũi cao, nước da từ trắng đến không không trắng mấy, nhưng "undertone" có màu xám xám, Dế Mèn đọc đâu đó là màu "nhuôm nhuôm"? Ôi chao là đôi mắt, sâu thẳm! Nhìn tới nhìn lui mà Dế Mèn "đọc" không ra, "cửa sổ" này hẳn rất bao la, thầm kín? Từ đôi mắt người dẫn đường là một cô sinh viên đi làm thêm đến những đứa trẻ gặp trên đường đi. Cứ nhìn chú bé này là Dế Mèn muốn bưng về nhà để nâng niu!

    [​IMG]

    Morocco là vùng đất Hồi Giáo, năm 2000 vẫn còn tồn cổ, khi ta (dám) nhìn thẳng vào mặt quý ông, họ sẽ cho là "mời gọi" nếu người nhìn là phụ nữ, và "thách thức" nếu người nhìn thuộc phái nam. Lúc mới đến, Dế Mèn chưa quen rất là khó chịu khi phải nhìn xuống đất lúc nói chuyện. Một lần, ngay buổi chiều hôm mới đến, trước khi đi ăn tối với bạn bè, Dế Mèn đi dạo một mình trên những con đường quanh khách sạn Le Méridien, chưa đi bao xa đã bị một nhóm con trai mới lớn bao quanh chọc ghẹo. Tụi con nít dù chưa sỗ sàng đến độ nắm áo nhưng cũng đến sát người, dí mặt mà gọi "petite gazelle". Dế Mèn ít khi sợ hãi trong những chuyến du lịch, lần đó hoảng vía nên quay trở lại khách sạn liền. Thì ra phụ nữ cần có vệ sĩ đi theo, vệ sĩ là đàn ông thì tốt nhất, vì người chung quanh sẽ "hiểu" là ta đã có người lãnh ("you are claimed", chữ của người dẫn đường) và sẽ không quấy rầy mình. Lạ lắm, không biết vì đâu mà quý ông Berber nghĩ rằng những người đàn bà ra đường một mình không che mặt là "của chung", nên có quyền tự do quấy nhiễu?!

    Marrakesh ...

    Marrakesh nằm trong vùng High Atlas, dựa lưng vào dãy núi Atlas quanh năm tuyết phủ, nếu bạn là người thích leo núi hoặc đi bộ ngắm thiên nhiên (trekking), vùng đất này khá lý tưởng. Thành phố không lớn như Casablanca, vừa vừa, đủ để bạn đi bộ quanh, chừng ba tiếng là thấy gần hết những điểm chính.
    Tâm điểm của Marrakesh là Djemaa el Fna, là một khu đất rộng nằm trong phố cũ (old town square), lúc nào cũng bận rộn nhất là vào buổi chiều tối, hình như tất cả mọi người đều đổ về đây. Hàng quán bán thức ăn đủ màu sắc mùi vị, tiếng rao hàng chào mời, đủ mọi loại tiếng động, những người biểu diễn từ juggler nhanh tay lẹ mắt vừa quăng vừa đỡ 4, 5 trái banh trong không khí, chân đá liên tục những cái vòng, đến người thổi kèn điều khiển những con rắn lớn bằng cổ tay (snake charmer), những con rắn đầu nhỏng lên trời lúc lắc theo tiếng kèn, lưỡi thè ra ngoài... Những người sống về đêm đều ra đây để gặp gỡ?

    Dế Mèn theo bạn bè đi xem, buổi tối quá nhiều màu sắc và tiếng động nên lúc về đến quán trọ hai tai còn lùng bùng, đầu óc váng vất. Đêm đầu tiên ở Marrakesh, Dế Mèn thức gần hết đêm, nằm nghe gà gáy sáng lúc hừng đông giữa thành phố rất lạ. Thì ra người thành phố nuôi gà trong nhà!

    Djemaa el Fna:

    [​IMG]

    Gần Djemaa el Fna là Koutoubia, ngồi đền Muslim xây từ thế kỷ 12, là di tích chính của Marrakesh. Ngôi đền này được xem là một trong ba ngôi đền Muslim cổ nhất với đỉnh tháp (minaret) còn tồn tại trên thế giới (Tour Hassan tại Rabat và Giralda tại Seville, Tây Ban Nha là hai di tích còn lại). Tại Morocco, những người ngoại đạo không được phép vào đền thờ (Mosque) cũng như tu viện Muslim (medersa), phái nữ chỉ được phép vào đền thờ qua một cửa phụ bên hông, và thờ phụng riêng rẽ cách biệt với quý ông, Allah không cho quỳ chung chiếu! Tường bên ngoài Koutoubia dát gạch men rất tỉ mỉ, nhiều màu xanh, từ xanh lục turqoise đến xanh cobalt ...

    Koutoubia:

    [​IMG]

    Souks là những cửa tiệm nằm trong lồng chợ, như chợ Bến Thành của mình, giữa những cửa tiệm là những lối đi rồng rắn lòng vòng, chẳng có cái bản đồ nào có thể giúp bạn ra khỏi mê hồn trận nếu không có người dẫn đường. Mà bạn cũng chẳng thể nào vào khu chợ mà không có người đi theo níu áo đòi làm người dẫn đường cho bạn, hết người này đến người khác, vậy thì hãy nhờ khách sạn điều đình dùm 1 người dẫn dường, giá cả thỏa thuận trước cho đỡ mỏi cổ vì cứ phải lắc đầu hoài hủy, bạn nhé! Trong souks, bạn có thể mua bất cứ thứ gì, thượng vàng hạ cám, và trả giá hình như là điều bắt buộc. Dế Mèn ngại khênh nên không muốn mua bất cứ thứ gì từ những vật dụng bằng đồng như bình đựng nước hoa, đúng nghĩa của chữ nước hoa: Hoa vò nát và ngâm nước, mùi ngai ngái cho đến những bình trà bằng bạc (giả?). Bạn đừng quên dừng chân ở những cửa tiệm bán gia vị, đủ mùi vị và màu sắc... Họ bán ít nhất 20 thứ paprika khác nhau, từ màu vàng đến màu cam, màu đỏ thẫm và bột cà ri thì khoảng 50 thứ, không hiểu nấu thành nồi cà ri thì mùi vị khác nhau ra sao, và biết bao món gia vị khác. Có những thứ mà dế mèn chưa nghe tên bao giờ và nghe xong, ngửi xong và cả nếm xong rồi quên béng luôn đến hôm nay!

    Moroccan ăn món tajine, một món thịt (gà, bò hoặc cừu) hầm chung với quế, hồi, mận khô (plum) và nho khô. Món ăn nấu trong một cái thố cạn bằng đất có cái nắp hình chóp nón rất cao lạ mắt. Dế Mèn ấm ớ hỏi thăm thì đầu bếp bảo rằng để giữ hơi nước, giúp thịt hầm mềm nhanh hơn. Tajine ăn với bánh mì baguette khá ngon. Món couscous là một loại lúa mạch xay sơ thành semolina, một loại bột không mịn, couscous nấu chung với thịt và người địa phương ăn bằng tay. Dế Mèn được mời ăn trưa với gia đình người dẫn đường, quý ông ở phòng ngoài, còn mấy bà mấy cô rút hết vào một phòng phía sau. Món couscous dọn ra trên một cái đĩa lớn, đặt trên mâm đồng, mọi người ăn chung một đĩa. Họ viên couscous thành từng nắm nhỏ và bẻ một miếng thịt hoặc chấm với nước. Dế Mèn loay hoay mãi, nên chủ nhà ái ngại đưa cho một cái muỗng! Nói nhỏ với bạn couscous hổng ngon, hổng ngon! Sau bữa ăn trưa, uống trà bạc hà, trà nóng bỏ đường rất ngọt và một vốc lớn lá bạc hà (hình như bên mình gọi là Húng Chó? Mùi bạc hà rất gắt), trà rót từ trên cao (cho có nhiều oxygen, họ bảo vậy) vào những cái ly, ta vừa thổi phù phù vừa uống.

    Từ Marrakesh, dế mèn theo nhóm bạn bè qua sa mạc, chuyến đi thành hình khi một anh bạn người Đức tập nói tiếng Pháp hỏi thăm cô dẫn đường về sa mạc Sahara. Cô ấy bèn tổ chức dùm chuyến đi không định trước, thế là ngày hôm sau, thức ăn, nước uống chất đầy xe, một nhóm 5 người hiên ngang đi qua sa mạc, lịch trình do mình định, người lái xe, cô dẫn đường đi theo, và thuê dùm lừa, lạc đà, lều da.

    Taourirt kasbah trên đường đến Tazarine:

    [​IMG]

    Xe dừng ở bình nguyên Tazarine, ông chủ đàn gia súc và gia đình đã chờ sẵn từ bao giờ, và phe ta bằt đầu đúm túm, buộc vật dụng lên lừa, và lạc đà. Ông chủ đàn lạc đà và lừa (6 con lạc đà và 3 con lừa) là người du mục chính cống (Berber nomad) có bà vợ và hai đứa con trai, dế mèn không được gặp mặt bà vợ trong suốt hai ngày đi lang thang qua sa mạc với gia đình này. Lạc đà ở sa mạc Sahara là loại một bướu (Arabian camel) khá to lớn, chủ chăn nuôi để thồ vật dụng, và lấy da, lấy thịt... Dế mèn ngồi lênh khênh trên lưng lạc đà cứ túm chặt lấy cái bướu mỡ của con vật, sợ té. Ông chủ chăn ngó thấy lấy làm ái ngại nên đổi cho con lừa, cưỡi lừa cũng gần gần như cưỡi ngựa nên dế mèn quen thuộc hơn, Marie-Laurence cũng cưỡi lừa. Phe ta trùm khăn từ đầu đến chân, mặt mũi che kín để phòng những cơn gió cát, hai mắt đeo kính mát...Và như thế ta đi, buổi sáng 10 giờ trời đã nóng lắm rồi nhưng cái nóng khô nên không khó chịu lắm. Bạn ơi, khát nước, uống bao nhiêu nước hình như cũng không đủ! Cứ hai tiếng là xuống lừa nghỉ 15 phút, quả là dân thành phố có quá nhiều nhu cầu. Đời sống đô thị với bao nhiêu thứ tiện nghi khiến ta khó lòng sống chung với thiên nhiên trong cảnh sơ khai. Qua chuyến đi, dế mèn hiểu ra rằng mình dở, kém chịu đựng quá!

    Chiều xuống, mặt trời như một quả cầu đỏ ối từ từ lặn, ráng chiều đổi từ sắc đỏ đến màu cam, màu vàng rồi tím, đẹp vô cùng, dế mèn chụp hình dở nên không có ảnh cho bạn xem, nhưng cái máy ảnh của trí nhớ thì còn mãi mãi. Phe ta dừng chân, và ông chủ lạc đà quây nhóm gia súc lại, cắm lều da và bà vợ nấu bữa ăn tối cho cả nhóm, có... couscous (dế mèn ăn couscous mấy lần, lần nào cũng không ngon!), cà tím hầm nát với dầu ô liu, một loại đậu (chickpeas) nấu nhuyễn với hành tây và dầu ô liu và thịt gà ướp quế, paprika nướng. Bữa ăn rất "vương giả" theo tiêu chuẩn của người du mục. Đói nên ăn gì cũng thấy ngon, ăn xong họ chỉ ra một góc trời che bằng một tấm da thú, đó là nhà vệ sinh dã chiến!

    Trước khi tắt lửa vào lều đi ngủ, dế mèn nằm gần đống lửa cho ấm, mấy con lừa cũng mò lại gần nên phe ta lợi dụng liền, dựa lưng lừa ngửa mặt ngắm trời ngắm đất. Đêm sa mạc lạnh khô, bầu trời cao thăm thẳm đầy sao, mỗi ngôi sao là một linh hồn? Ta có thể nhìn rõ từng chùm sao lơ lửng, những vì sao lấp lánh lúc tỏ lúc mờ, tiếc rằng dế mèn không biết xem thiên văn, không thì cũng mò mẫm xem ngôi sao nào là chủ tinh của mình? Venus sáng lắm, sáng lắm bạn à! Nhiều năm rồi, dế mèn vẫn nhớ bầu trời đêm ấy và cảm giác bé nhỏ của mình trước thiên nhiên kỳ bí bao la. Chỉ có ta và vũ trụ mênh mông... Bây giờ đọc lại nhật ký và chép những giòng này dế mèn vẫn còn thấy bồi hồi xúc động như mới vừa hôm qua.

    Khi lửa tàn mọi người chui vào lều da, gia đình ông chủ chăn một lều, dế mèn cùng hai người bạn, cô dẫn đường và ông tài xế ở chung một lều. Dế mèn cẩn thận gói mình trong tấm khăn trải giường đem theo từ khách sạn, rồi quấn da thú ra ngoài mà vẫn lạnh run. Da thú thuộc sơ sơ nên có mùi rất lạ vả lại đã được dùng bởi rất nhiều người khác nhau nên dế mèn không tài nào dỗ giấc. Sáng ra mới biết là Marie-Laurence cũng thức suốt đêm, phe ta vừa hớp cà phê đen buổi sáng vừa nhìn nhau cười thông cảm. Hôm sau đi qua những oasis (ốc đảo?) có nước và cây cối, lũ thú vật được uống nước ăn cỏ trong khi đoàn người kéo nhau đi dòm những ngôi làng Berber trong vùng, những kasbah (thành quách đền thờ?) bây giờ chỉ còn gạch vụn. Những người Berber trong vùng sống bằng nghề dệt thảm, chăn nuôi. Những tấm thảm đủ màu nhưng rất nặng vì họ dùng len từ lông cừu và dệt chặt tay, dế mèn ngại khênh nên không mua món nào!

    Một ngôi làng Berber:

    [​IMG]

    Người Berber cưỡi lạc đà có "cương" (những sợi giây cột quanh miệng và cổ để điều khiển con vật) mà không dùng yên, chỉ dùng những tấm da hoặc mền lót bằng vải đặt trên lưng con vật. Dế mèn loay hoay mãi mới quen vì hồi nhỏ cưỡi ngựa thường dùng yên ngựa giống giống loại "English saddle", người bên Mỹ cưỡi ngựa phần đông dùng loại "Western saddle". Con lừa quả in như trong sách vở "thân lừa ưa nặng", dế mèn vỗ vỗ cái bờm dụ nó bước cho lẹ, con vật cứ đứng ì một chỗ cho đến khi người chủ quất mấy roi thật đau mới chịu cất bước, aah!

    Buổi sáng lang thang qua những thôn làng nằm rải rác trong sa mạc, hình như đời sống ở đó không mấy thay đổi từ nhiều trăm năm. Những người đàn bà, những đứa trẻ gò lưng thồ những hũ nước trên lưng, họ lấy tay níu những tảng đá trên sườn đồi khi leo dốc thấy mà ái ngại, mình đi tà tà mà còn nắng cháy mặt phát ớn nữa là! Dế mèn ghé thăm những ngôi nhà trong núi, được bà chủ nhà mời uống nước trà bạc hà và tháo khăn che mặt cho chụp hình, bạn bè đùa rằng trông cái mặt dế mèn hiền lành nên có vẻ tin cậy được? Nào biết đâu dung nhan mình nhiều năm sau được đem trình diện bạn đọc Thư Viện Việt Nam, thiệt là duyên trao nhằm tướng cướp?

    Người miền núi:

    [​IMG]

    Trên đường về, phe ta ghé làng Ouarzazate, đầy là một thôn làng "chế tạo" bởi người Pháp, để đặt một đơn vị hành chánh, hổng có gì để xem chỉ có..."Club Med". Ngoài bìa làng có một kasbah, được trùng tu và gìn giữ cẩn thận để quay phim (những cảnh trong phim Laurence of Arabia và Jésus Nazareth quay ở đây), Ait Ben Haddou, khá đẹp. Dế mèn leo lên bệ đá dành cho sultan ngày trước ngồi chễm chệ chụp hình, Marie-Laurence chế diễu là đáng được bỏ vô...harem (cung cấm của người Ả Rập)!

    Fes

    Từ Marrakesh, bạn có thể dùng đường bay nội địa để đến Fès, một trong những cố đố của Morocco (imperial city). Fès nẳm trong vùng Mid-Atlas, là một thành phố lâu đời nhất của quốc gia này, nên có những di tích về lịch sử và văn hóa Ả Rập rất rõ nét.

    Fès là một thành phố cổ nên còn giữ được phần lớn những ngôi đền cũng như tu viện Muslim, Medersa Bou Inania, Bab Bou Jeloud... đàn bà và người ngoại đạo không được phép vào nên dế mèn chỉ đứng nhìn bên ngoài. Tường vách dát gạch men màu sắc rất tươi rất lạ. Lúc đầu dế mèn lấy làm lạ không biết tại sao chẳng thấy hình ảnh con người, hình thể hay mặt mũi, hoặc thú vật... Sau hỏi han và đọc sách thêm mới biết là nghệ thuật Islamic chỉ cho phép dùng hình thể của cây cối hoa lá mà thôi. Họ cũng có những bức cổ tự về bút pháp, những bút tự rất sắc sảo, phóng khoáng, nhìn là thấy nét bay bướm dù không hiểu chữ viết! Viện bảo tàng Moroccan Arts tại Fès hình như là một trong những viện bảo tàng có giá nhất trong vùng Ả Rập, dế mèn chỉ có hai tiếng nên cũng không xem xét ngắm nghía được lâu những cổ ngoạn trưng bày ở đó.

    Tại Fès-al-Bali (Old Fès), khu thương mại (medina) nơi ngày trước người ta họp chợ, buôn bán đổi chác với cả trăm cửa hàng bé xíu chen chúc nhau, đủ màu sắc, mùi vị và âm thanh, len giữa những của hàng là các lối đi rồng rắn. Ngày nay, những khu medina trong thế giới Ả Rập dường như vẫn còn giữ bản sắc này. Khu medina ở Casablanca, ở Istanbul, dế mèn thấy cũng có cách sắp xếp (rất thiếu trật tự và ầm ĩ) in như vậy. Cung cách sống có vẻ gần gũi với người Á châu và khác xa người Âu Mỹ, không biết vì nghèo hay vì nền văn hóa cách biệt, chắc cả hai? Cái nghèo khó, thiếu thốn khiến con người sống túm tụm, chen vai thích cánh, ăn to nói lớn, tranh giành với nhau? Lạ một điều là khi ra chợ, thấy toàn mấy ông, cả người mua lẫn kẻ bán, chắc mấy bà ở nhà leo đồi thồ nước, làm việc nhà? Việc buôn bán là việc của mấy ông? Dế mèn vui mắt mải nhìn ngắm những vật dụng nấu ăn nắn bằng đất, màu sắc sặc sỡ. Quay qua quay lại lạc mất đám bạn. Mách với bạn, đừng bao giờ nhìn ngắm và tỏ ra thích thú mất cứ món hàng nào cả! Mèng ơi, quả là một sự lầm lẫn tai hại lắm lắm! Không biết tự lúc nào, mà khi dế mèn ngước mặt lên đã thấy ba bốn ông đã bao chung quanh vừa lôi vừa kéo, chỉ trỏ vào món hàng của họ. Hình như ở đó không có danh từ "khoảng cách riêng tư" (personal space) hoặc có mà không ai sử dụng. Họ không ngần ngại dí mặt sát sạt mà chào mời, còn lúng túng không biết làm sao để thoát thân, dế mèn nhìn quanh, chắc cái mặt trông tội nghiệp lắm, thì bắt gặp cái nhìn của một người đi cùng chuyến xe. Thế là ông ta rẽ đám đông, tiến tới và nắm khuỷu tay dế mèn dắt đi. Mấy ông Berber chung quanh thấy dế mèn có người ...lãnh, họ dãn ra. Hú vía, thoát nạn! Sau lần đó thì chừa, dế mèn không dám tự ý đi lang thang.

    Chợ lộ thiên bên ngoài Fès:

    [​IMG]

    Sinh hoạt hàng ngày tại một thôn làng gần Fès, buổi sáng sương mù, người ta che bạt họp chợ. Cũng quán cóc đầu đường, bán trà bạc hà và cà phê. Người làng cưỡi lừa đi chợ, thay vì những chỗ đậu xe, người địa phương có chỗ cột lừa, cả trăm con lừa ... Không hiểu bằng cách nào họ nhận ra con lừa của mình? Con nào cũng hí cũng dậm chân in như nhau. Người địa phương có lối cưỡi lừa đặc biệt, họ ngồi khép hai chân một bên trên lưng con lừa (side ride) và quất liên tục lên đầu con vật dù nó có cất bước hay không.

    Casablanca
    Casablanca là thành phố lớn nhất tại Morocco, nằm trên bờ biển, từ Great Mosque, bạn có thể nhìn ra biển Đại Tây Dương. Casablanca có cái không khí nhộn nhịp của những thành phố lớn, cũng quán rượu, cũng trường đại học, khác hẳn với Fès và Marrakesh. Nhưng sau những ngày lang thang qua núi, qua suối, qua sa mạc. Casablanca đưa ta về gần với nếp sống đô thị hơn.

    Casblanca hổng có gì để xem ngoài Great Mosque, ta chỉ có thể đi lanh quanh bên ngoài mà thôi vì đền thờ Muslim tại Morocco không cho người ngoại đạo vô dòm. Dế mèn chụp được vài tấm ảnh ở đây.

    Trên đường phố Casablanca năm 2000, bạn vẫn có thể tìm thấy những người bán nước dạo, họ mặc quần áo đỏ, quanh người đeo những túi nước (hình như làm bằng dạ dày lạc đà), những cái bát bằng đồng, và những quả chuông, vừa đi vừa rung chuông. Có người mua nước uống, họ đổ nước vào một cái bát và bán với giá 1 Dirham (1 đô la Mỹ đổi được 8 Dirham). Uổng quá, trời hôm ấy mù mù xám xịt nên hình ảnh chẳng ra làm sao!

    Từ Casablanca, bạn có thể đi xe lửa, khoảng 1 tiếng, để đến Rabat, thủ đô của Morocco. Người Pháp đặt cơ sở hành chánh bảo hộ tại tỉnh lỵ này vì Rabat chẳng dính dáng chi đến những triều đại Sultan trước, không có lịch sử như Marrakesh, Meknes, hay Fes... Rabat nhỏ, đi quanh khoảng một ngày là bạn có thể xem hết những di tích. Khu phố cũ (medina, cũng có tường thành bao bọc nhưng không có gì để nhìn ngắm).

    Di tích chính của Rabat là tháp Hassan, được xây cất (dang dở) từ thế kỷ thứ XII, và thành quách bị hư hại rất nhiều sau cuộc động đất năm 1755. Đỉnh tháp (minaret) còn sót lại được xem như kỳ tích của Muslim. Cũng như đỉnh tháp tại Marrakesh, dế mèn ngỏng cổ nhìn mãi mà không biết hai di tích này "nó" đẹp ở chỗ nào, thật là phí của Giời, con mắt trần tục!

    Một di tích đáng kể khác là Kasbah des Oudaias, cánh cửa chính xây từ thế kỷ XII, bởi những người Muslim từ Tây Ban Nha chạy trốn sự bức hại của vua quan Tây Ban Nha ngày ấy. Di dân vượt biển đến Rabat và sinh sống tại đây, nhà cửa xây theo kiến trúc Ả Rập nhưng vẫn có những đường nét Âu châu mà ta thấy trong những thôn làng ở Tây Ban Nha.

    Đi quanh thành phố, ngoài những tòa nhà hành chánh, sứ quán ngoại giao chẳng có gì để dòm, bạn sẽ tìm thấy những di tích La Mã (Roman ruins), thành phố Sala ngày trước, từ thế kỷ thứ X0. Ở Rabat, dế mèn tìm thấy những tổ "stork", một loại cò hay sếu của mình? chân dài lỏng khỏng, lông trắng, làm tổ trên những ngọn cây quanh thành phố...

    Tòa nhà lớn nhất, Mohammed V mausoleum, là nơi vua đương triều xây cất để thờ phượng vua cha. Muốn vô dòm bạn phải quần chùng áo dài chỉnh tề, quý ông mặc quần xà lỏn không được vô:

    [​IMG]

    Nhiều năm rồi Dế Mèn chưa trở lại Morocco nhưng hình ảnh đêm sa mạc dưới bầu trời đầy sao thăm thẳm dạo ấy Dế Mèn vẫn mang theo trong tâm khảm. Vũ trụ quả là bao la không cùng, chỉ có ta và gió cát!
  8. Những mảnh trời Âu

    Trong tập bút ký này, Dế Mèn ghi lại những hình ảnh và ý nghĩ vụn vặt của mình khi lang thang qua những thành phố Âu châu, bắt đầu từ Thụy Sĩ nơi Dế Mèn tiêu xài khá nhiều thời gian.

    Thuỵ Sĩ, một nửa đời sống bên kia đại dương


    Ta biết Thụy Sĩ qua cái tên gọi tắt CH (Confederation Helvetica), một thứ international code, của liên bang Thụy Sĩ. Người Thụy Sĩ hãnh diện về sự liên kết của họ,nhóm người "hợp chủng" đầu tiên trong lịch sử lập quốc của thế giới đã tự tom góp và liên kết thành một khối người để sống còn từ năm 1291 mặc dù Thụy Sĩ mới chính thức trở thành quốc gia từ năm 1848. Tổ tiên họ là những nhóm người khác nhau, thành thử khi hỏi về dòng giống, người Thụy Sĩ sẽ cười cười mà bảo rằng chúng tôi cũng hiệp chủng quốc như bạn vậy đó!

    Người Celtic Helvetier đã có mặt ở đây từ cả trăm năm trước Tây lịch, mảnh đất nhỏ xíu này cũng là một phần lãnh thổ của triều đại La Mã, rồi người Đức cũng lang thang đến đây. Vì thế mà bạn thấy một quốc gia không lớn hơn tiểu bang Rhode Island của Hoa Kỳ mà có 4 thứ tiếng chính thức, Swiss German (Schwyzerdutch), Pháp, Ý và Romansch. Hầu như trong những thành phố lớn, người ta nói tiếng Anh với khách lạ như dế mèn đây, chỉ khi nào bạn về miền quê thì hơi vất vả chút xíu.

    Thuỵ Sĩ nằm giữa lòng Âu châu, rộng khoảng 41 ngàn cây số vuông, giáp biên giới Ý, Pháp, Đức, Áo và Liechtenstein, chỉ cần 4 giờ lái xe là ta có thể đi hết chiều dài của quốc gia này. Dân số (năm 2006) là 7.5 triệu người với khoảng 20% là người ngoại quốc sinh sống tại những thành phố lớn của Thuỵ Sĩ. Đây là một quốc gia nhỏ xíu nhưng có sức mạnh kinh tế ngang ngửa với những cường quốc trên thế giới. Lợi tức trung bình cho mỗi đầu người là 49 ngàn mỹ kim một năm. Người Thuỵ Sĩ rất hãnh diện về sức mạnh kinh tế của quốc gia họ. Đời sống tại Thụy Sĩ khá cao, và quả là đắt đỏ so với những nước Âu Châu khác.

    Miền đất này bao gồm những vùng rừng núi, sông hồ và kỹ nghệ: Vùng Mittelland, Jurassic, và Alpine. Hai phần ba dân số Thuỵ Sĩ sống tại vùng Mittelland (30% diện tích) nơi có sông hồ và những thành phố kỹ nghệ. Vùng Jurassic (10% diện tích) bao gồm sông hồ và thung lũng. Vùng Alpine (60% diện tích) là những đồi núi nổi tiếng thế giới về trượt tuyết. Những thành phố hầu như được tổ chức theo một ngành chuyên môn, Zurich là trung tâm thương mại và tài chính, Geneva là nơi các tổ chức quốc tế đặt cơ sở; một thứ "làng quốc tế", Basel (Basle, Bâle) là trung tâm kỹ nghệ, hoá chất và dược phẩm, và Bern là thủ đô của quốc gia này, trung tâm hành chánh.

    Thụy Sĩ có tất cả 26 canton, các canton này tự trị như những tiểu bang Mỹ và chính phủ liên bang tổ chức gần như chính phủ liên bang của hợp chủng quốc, điều này không lạ lùng chi vì hiến pháp của họ dựa theo hiến pháp của Hoa Kỳ.

    Người Thụy Sĩ cũng có những huyền thoại để kể cho người ngoại quốc nghe (chẳng mấy đứa trẻ sinh trưởng tại đây biết câu chuyện này) về những tổ tiên anh hùng trừ gian diệt bạo của họ. Chẳng hạn như chuyện Wilhelm Tel, một nông dân có tài cung tên thuộc loại bắn đâu trúng đó. Khi Lãnh Chúa Gessler thăm viếng vùng Altdorf, ông Tel nhất định không chịu ra chào hỏi nên bị lính bắt. Để thử tài, Lãnh Chúa ra lệnh cho ông Tel phải bắn một quả táo đặt trên đầu người con trai ông ta. Mũi tên rời cung, cắt đôi quả táo; đám lính sắp sửa thả ông Tel thì Lãnh Chúa... chợt nhòm thấy ông Tel đã lắp đến 2 mũi tên, và cuộc hỏi cung bắt đầu. Ông Tel cuối cùng thú nhận rằng nếu mũi tên đầu hổng trúng, thì mũi tên thứ nhì đã sẵn cho Lãnh Chúa. Ông nông dân bị bắt giam, sau đó vượt ngục và trở lại giết bạo chúa. Nếu bạn đi lang thang thỉnh thoảng sẽ thấy hình ảnh một người đàn ông trẻ tuổi cung tên trong trang phục thời Trung Cổ, 99% là hình ảnh về ông Tel này đó, bạn à!

    Người Thụy Sĩ còn hãnh diện mà kể rằng họ có một tỷ lệ đoạt giải Nobel cao nhất thế giới, số người đoạt giải trên tổng số dân, cũng như những danh nhân thế giới không nhiều thì ít đều dính dáng đến Thụy Sĩ. Ra cái điều dân tui ít nhưng toàn là người tài giỏi không hà!

    Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại của thế giới cận kim (1879-1955) gốc Đức đã nhập tịch Thụy Sĩ năm 1901. Dù rất giỏi toán, ông Einstein không phải là một người học hành chăm chỉ, năm 1895 ông rớt đài trong kỳ thi tuyển vào trường Kỹ Sư Điện, sau đó nhờ giỏi toán, ông được vào học trường Bách Khoa (Polytech) tại Zurich, và tốt nghiệp môn Toán & Vật Lý. Ông Einstein... trốn lính vì lý do sức khoẻ, ông ta nêu lý do bàn chân phẳng (đi giày saut hổng được) và chứng nở tĩnh mạch (varicose vein). Hẳn bạn đã rõ, phe nam tử tuổi 18 trở lên ở quốc gia này ai cũng phải đi lính một thời gian, sau đó mới được về đời sống dân sự muốn làm chi thì làm. Nhà khoa học chẳng theo nghề dạy học (không trường nào mướn) nên năm 1902 đi làm việc cho Văn Phòng Tác Quyền tại Berne (thủ đô của Thụy Sĩ), ông làm việc ở đây cho đến năm 1909, sau khi đăng tải nhiều tài liệu về Toán Học, ông lấy bằng Tiến Sĩ Toán tại đại học Zurich. Năm 1915, thuyết General Theory of Relativity ra đời; năm 1921, ông được trao giải Nobel và bao nhiêu đại học bắt đầu gõ cửa. Năm 1932, nhà bác học qua Mỹ để dạy học tại đại học Princeton (New Jersey) và lấy quốc tịch Hoa Kỳ nhưng vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ.

    Người Thụy Sĩ nổi tiếng không kém (không nhất thiết là thứ nhì, đâu có ai xếp hạng những vĩ nhân bạn nhỉ?) là ông Henry Dunant, sinh quán tại Geneva, thành phố lớn thứ ba của Thụy Sĩ. Ông này là một doanh nhân, lúc thành lúc bại, nhưng người thế giới nhớ đến ông qua tấm lòng nhân ái. Sau khi chứng kiến cảnh máu đổ thịt rơi trong trận chiến Solferino do vua Napoleon đệ tam chủ soái tại miền Bắc nước Ý năm 1859, chỉ trong một ngày 40 ngàn người thương vong, ông Dunan viết và xuất bản một cuốn sách có tên "A memory of Solferino" kể lại trận chiến khủng khiếp và sự mất mát của mấy chục ngàn con người vì không có cách chữa trị. Trong cuốn sách, ông Dunant đề xướng một bản Hiệp Ước Quốc Tế cho phép một tổ chức nào đó chữa trị các thương binh chiến tranh và ông đi khắp Âu Châu vận động cho lý tưởng này. Năm 1864, Hiệp Ước Geneva ra đời cùng với Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. Năm 1901 ông Dunant đoạt giải Nobel Hòa Bình (cùng với Frédéric Passy, chủ tịch Hội Hòa Bình Pháp). Ông Dunant mất năm 1910 trong nghèo khó, sau những thất bại trong thương trường đưa đến việc phá sản.

    Hẳn bạn cũng như dế mèn, cứ nghĩ là mấy ông Ford, Chevrolet.. là người xứ Huê Kỳ, vùng Detroit? Không, không bạn ơi, ông Chevrolet là người... Thụy Sĩ, mình mà nhận nhầm là người Thụy Sĩ họ sửa liền! Ông Chevrolet sinh quán tại La Chaux de-Fonds, ổng sống ở đó cho đến năm 1900 (21 tuổi) mới di dân qua miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Là người yêu thích tốc độ, năm 1905 ông Chevrolet thắng cuộc đua đầu tiên, ăn đứt tay đua lừng lẫy Barney Oldfield, tại Bronx, New York... Thế là ngôi sao đua xe mới keng ra đời và tiếp tục lấp lánh, sáng đến nỗi ông WC Durant, cha già của General Motors, phải chú ý. Năm 1909, ông Chevrolet và ông Durant hợp tác, và ông Chevrolet được mời để vẽ một kiểu xe mới cho hãng chế tạo xe hơi này. Ông Chevrolet tạo lập công ty Chevrolet Motor Company vào năm 1911, lúc ông này 32 tuổi. Thủa ấy, không mấy ai tạo nổi một công ty ở số tuổi 30 nếu không do vốn liếng của cải của gia tộc để lại, có thể nói ông Chevrolet là một di dân tay trắng, như những người Việt chịu đựng, cần cù và quả cảm khắp năm châu, lập nên sự nghiệp! Dù không có vốn liếng về kỹ thuật, máy móc, ông Chevrolet vẽ kiểu và chế tạo chiếc xe đầu tiên mà ông Durant đặt tên "Chevrolet", tên tuổi của Louis Chevrolet đã gắn liền với xe đua và vận tốc, kiểu xe này bán chạy như tôm tươi! Ông Chevrolet đã đoạt 10 giải Indy (những cuộc xe đua tại Indianapolis, Indiana) trong sự nghiêp đua xe của ông!

    Người Thụy Sĩ rất lịch sự nhưng xa cách, khó có thể kết thân. Bạn bè dế mèn, có người đã sống và làm việc ở Thụy Sĩ 5-10 năm, vẫn bị xem là khách, là "người ngoài" ("Auslander"). Họ tôn trọng kỷ luật và rất dân chủ. Bất cứ sự thay đổi nào ảnh hưởng ít nhiều đến quần chúng là "trưng cầu dân ý" qua cách bỏ phiếu. Từ việc cho phép cửa hàng mở cửa đến 9 giờ tối (thuận tiện cho người mua, thêm lợi tức cho chủ tiệm, nhưng bất tiện cho nhân viên (người được thuê bán hàng, phải làm việc trái giờ với những người khác) cho đến việc cho phép rửa xe ngày chủ nhật, dân ta đều bỏ phiếu! Mỗi canton tương đối tự trị và có luật pháp riêng, về bầu cử cũng như những việc hành chánh nội bộ, có nhiều canton mới cho phép phụ nữ đi bầu khỏang 10 năm trở lại đây (bỏ phiếu, còn những loại "bầu" khác thì quý bà quý cô cứ tự nhiên như từ ngàn năm trước, chính phủ Thụy Sĩ không có cấm đoán như chính phủ Tàu hay Việt Nam). Về tiền tệ, quốc phòng, quân đội...thì theo chính phủ liên bang. Dân trí rất cao, người bán hàng, lái taxi đều nói thông thạo ít nhất 2 thứ tiếng, và họ có thể bàn chuyện quốc tế từ việc ông Clinton với khúc xì gà cho đến việc ông Bush và cuộc chiến tranh Iraq.

    Phụ nữ phần đông không đi làm sau khi lập gia đình và có con cái, vào công sở, văn phòng bạn sẽ thấy rất ít bóng hồng. Thành ra, quý bà quý cô qua đây làm việc, cảnh hoa lạc giữa rừng gươm cứ tái diễn.

    Người Thụy Sĩ đa số đông theo đạo Tin Lành và cả nước nghỉ lễ trong những ngày lễ Thiên Chúa giáo như Đức Mẹ thăng thiên vào tháng Năm, quanh năm lễ lạc lu bù. Điều lạ là Catholic không phải là tôn giáo phổ thông ở đây, nhưng họ vẫn lấy ngày lễ theo tôn giáo này. Hẳn là mùa xuân, tốt trời, ta nghỉ làm việc để dạo chơi, theo lễ lạc tôn giáo nào cũng xong?

    Geneva

    Bắt đầu từ Geneva, thành phố có cái hồ lớn nơi thiên hạ cắt đất nước mình thành 2 mảnh năm xưa, hồ Geneva (Lac Léman, tiếng địa phương), thành phố nàylà phần theo Tây, nói tiếng Pháp (French region). Geneva cũng có river gauche, river droit như bên Tây, nhưng sông này là sông Rhône và mấy cây cầu bắc qua sông, cũng hai bên bờ sông nhưng đường phố không đẹp như bờ sông Seine của Paris.

    Lake Geneva:


    [​IMG]

    Nhà thờ chính là St. Peter's church (Cathédrale de St Pierre), xây từ thế kỷ thứ XIV, kiểu pha trộn giữa Gothic và Romanesque, trông đơn giản so với những nhà thờ cùng thời ở bên Tây.Nhìn từ bên ngoài, giữa những tòa nhà khác:

    [​IMG]

    Trong thành phố có viện bảo tàng trưng bày đồng hồ (Horology Museum), đi xem mới thấy sự quan trọng về kinh tế của nghề chế tạo đồng hồ của Geneva, đủ mọi hình thể, đủ mọi quý kim đem ra để chế tạo đồng hồ.

    Geneva thiên về Tây và rất là quốc tế, bạn có thể tìm được những tiệm ăn Tàu, Thái, cả Việt Nam (vùng Old town) và món ăn cũng đậm vẻ Tây hơn là Đức. Ở đây có trụ sở của Liên Hiệp Quốc, mua vé vào xem thì chẳng có gì.

    The United Nation:


    [​IMG]

    Từ Geneva bạn có thể đi xe lửa đến xem Chateau de Chillon, lâu đài lớn nhất ở vùng này, nằm bên bờ hồ Geneva, xây từ thế kỷ thứ XI. Không hiểu sao, lâu đài, nhà thờ bên Thuỵ Sĩ không tráng lệ nguy nga như bên Pháp, cách xây cất, trần thiết biểu lộ sự đơn giản nhưng vững bền, như cá tính của người Thuỵ Sĩ?

    Ngoài phong cảnh chung quanh, núi đá và hồ nước, lâu đài Chillon là một vị thế chiến lược, vách núi đá rơi thẳng xuống hồ. Hồ rất sâu, 300 thước nên nước hồ lạnh, thời tiết trong vùng rừng núi lại lúc vui lúc buồn nên việc tấn công tòa lâu đài không phải là việc dễ dàng. Muốn đi qua vùng đất này người ta không có cách nào khác hơn là đi qua toà lâu đài. Chủ nhân tòa lâu đài tha hồ thu tiền mãi lộ! Gia tộc Savoy, từ thế kỷ thứ XI đã biến nơi thu thuế thành tòa lâu đài Chillon.

    Dường như lâu đài Chillon nổi tiếng nhờ nhà ngục (dungeon) nơi giam giữ tù nhân tên tuổi như Francois Bonivard, huyền thoại kể rằng nhà Tư Tưởng khắc những giòng chữ lên tường nhà giam. Người ta kêu la rằng nhà ngục của lâu đài Chillon sâu dưới nước nên ẩm thấp, thật ra căn ngục thất nằm trên mặt nước và khá thoáng khí. Khi mua vé vào thăm, từ quầy bán vé, bạn sẽ đi thẳng tới nhà ngục là những phòng đầu tiên của toà lâu đài. Dế mèn mò tới nơi, dòm quanh nhà ngục mà chẳng thấy thơ phú chữ nghĩa gì ráo, hẳn vì lâu ngày chày tháng chữ nghĩa mòn đi?

    Những phòng ốc khác, ngoài phong cảnh thiên nhiên của núi đồi, sông nước từ những cửa sổ mở, không còn chi để nhìn ngắm vì lâu đài trống không!

    Lâu đài Chillon khoảng 1 giờ xe lửa từ Lausanne, và ta cần khoảng 1 tiếng để nhìn ngắm mọi phòng ốc, phong cảnh ở đây. Tòa nhà kiên cố, có hình ảnh của một căn cứ quân sự hơn là nơi ăn ở của vua chúa so với những tòa lâu đài cùng thời khác tại Âu châu.

    [​IMG]

    Lausanne

    Từ Geneva, đi 1 giờ xe lửa là đến Lausanne. Lausanne được mệnh danh là San Francisco của Thuỵ Sĩ, bên trong những kiến trúc Gothic cổ là sức sống trẻ trung của thành phố, những toà nhà nằm thoai thoải trên sườn đồi nhìn ra hồ, nhìn ra rặng Alps quanh năm tuyết phủ trên đỉnh núi, nhìn xuống những con đường ngang dọc của thành phố. Lausanne nằm bên bờ hồ, mùa đông nước hồ đóng băng và là nơi trượt băng của người thành phố. Hầu như tháng nào cũng có một cuộc trình diễn về nghệ thuật, không hoà nhạc thì cũng triển lãm tranh ảnh, tượng ..., khiến Lausanne có hình ảnh của một thành phố yêu chuộng nghệ thuật. Dường như Hội Đồng thành phố muốn như thế nên họ tài trợ rất nhiều các chương trình triển lãm này dù thành phố vẻn vẹn khoảng 300 ngàn dân trú ngụ.

    Tại Lausanne, Đại Học Lausanne và Viện Kỹ Thuật Liên Bang Thuỵ Sĩ là hai trung tâm giáo dục dùng tiếng Pháp lớn nhất của Thuỵ Sĩ. Ngoài ra, thành phố êm đềm này còn được gọi là "Thủ Đô Olympic" (Olympic Capital) vì Hội Đồng (Tổ Chức) Olympic đặt trụ sở ở đây.

    Nhà thờ chính tòa (Cathédrale de Lausanne) xây từ thời Trung cổ, có lẽ là nhà thờ cổ nhất, nhiều lịch sử nhất của Thụy Sĩ. Phần phố cũ, Place de St. Francois là nơi họp chợ (open air market) một vài buổi sáng trong tuần, không nhớ rõ ngày nào.

    Điều dế mèn nhớ rõ nhất về Lausanne,một thành phố (có vẻ) tồn cổ, là viện bảo tàng "Raw Art" (Musée de l'Art Brut), phòng Triển Lãm Nghệ Thuật Trần Trụi (Collection de l'Art Brut) nằm trên đường Bergière do ông Jean Dubuffet tổ chức. Như tên gọi, viện bảo tàng trưng bày những tác phẩm hầu hết của nghệ sĩ không có tên tuổi, tác phẩm của họ trần trụi như cảm xúc. Nếu bạn chấp nhận rằng nghệ thuật là một phương cách giải bày cảm nghĩ hoặc nét nhìn của tác giả (a mode of expression) thì bạn sẽ nhìn thấy sự phẫn nộ, đau khổ, dằn vặt, bất an, "unconventional", hoặc... méo mó của họ. Hình thể, màu sắc của những tác phẩm này không theo một quy chế, bố cục nào nhất định. Bạn tha hồ phỏng đoán về tác giả; chỉ khi đọc đến phần tiểu sử, ta mới hiểu rằng "nghệ sĩ" không hề được huấn luyện, có người hoàn toàn không thể giao cảm hoặc tiếp xúc được với thế giới bên ngoài. Những "nghệ sĩ" này là người sống trong viện Tâm Thần, hoặc ở tù vì tội giết người, đốt nhà, hiếp dâm...

    Theo ý riêng, nghệ sĩ là những người được ân sủng đặc biệt của thượng đế, tạo ra những tặng phẩm cho nhân gian. Đọc một bài thơ, nghe một bản nhạc làm ta xao xuyến rung động hoặc ngây ngất khi ngắm một bức tranh... là ta nhận được một món quà của thượng đế. Nhìn ngắm những tác phẩm ở viện bảo tàng này (chắc nên dịch là "phòng triển lãm", gallery, mới chính xác?) dế mèn tần ngần cả buổi, phần thì bàng hoàng, phần thì thương xót (bức tranh "Tra Tấn", Tormented, lộ rõ sự đau đớn của người vẽ) xen lẫn ái ngại, con người không hòa nhập được với hoàn cảnh sống xã hội chung quanh. Viết đến đây dế mèn hình dung ra những bức tranh pastel màu sắc hài hòa vẽ những bé gái mặc áo đầm hoa bướm sặc sỡ, tóc thắt nơ, chân đi giày có cả vớ, mặt tươi cười xinh xắn. Cô bé nào cũng đẹp mắt, nhưng xoè váy, không mặc quần áo lót và có bộ phận sinh dục của bé trai.

    Phòng Triển Lãm này chỉ có 2 tầng lầu, ta cần chừng 3 tiếng đồng hồ là có thể xem hết những tác phẩm ở đây.

    Vevey, tỉnh nhỏ, nằm trên đường xe lửa giữa Geneva và Lausanne, ngòai trụ sở chính của Nestlé (thành phố không thơm mùi chocolat) và tượng cụ Charlie Chaplin đứng chống baton ngoài công viên ngắm người qua lại. Đi khỏang 1 tiếng đã về chốn cũ.

    Nói tóm lại, khi ghé Geneva, ta cần chừng 3 ngày, 1 ngày tại Geneva, 2 ngày còn lại dùng xe lửa đi quanh ngắm nhìn lâu đài Chillon, Vevey, Lausanne.

    Basel

    Basel là một thành phố lớn thứ nhì, thành phố lớn nhất của Thụy Sĩ là Zurich, vùng nói tiếng Đức nhưng không phải tiếng Đức chính thức, loại tiếng Đức (High German) chỉ có người Thụy Sĩ hiểu với nhau. Basel giáp ranh Pháp (vùng Alsace) và Đức (vùng Freiburg). Phi trường phần của Thụy Sĩ được gọi là Basel, phần của Pháp có tên Mulhouse. Những ngày ở Basel, thỉnh thoảng dế mèn vượt biên giới (nói cho oai chứ khoảng 45 phút lái xe) đi ăn cơm Tây bên Alsace, thức ăn ngon hơn nhiều và còn rẻ hơn nữa chứ.

    Ngày xửa, ngày không xưa lắm, khoảng đầu thế kỷ thứ 20, có 4 công ty hóa chất được thành lập ở đây (Hoffmann LaRoche, Ciba, Geigy, và Sandoz), bây giờ chỉ còn có 2, Novartis và Roche cùng nằm một bên giòng sông Rhine, cả hai đều là công ty bào chế dược phẩm, vừa cạnh tranh trong thương trường, vừa tranh hơi. Chuyện bên lề (loại thâm cung bí sử) của Roche được lồng trong truyện "Blood Line" và quay thành phim cùng tên, có bà Audrey Hepburn đóng vai chính.

    Basel là một thành phố xây theo kiểu Gothic, trung tâm thành phố còn giữ được một cái vòi nước (fountain) ở Fischmarkt, khoảng*100 thước từ tòa thị chính (Rathaus); tòa nhà này sơn màu đỏ với hình vẽ (fresco) rực rỡ.

    [​IMG]

    Khoảng đầu thế kỷ thứ 20, Basel bị động đất, nên một số công thự bị hư hại, cả nhà thờ cũng được xây lại một phần. Khi trùng tu, phần chính vẫn giữ kiểu Gothic, nhưng cửa nhà thờ bị đổi qua kiến trúc Romanesque. Bảo tàng viện (Museum of Fine Arts) trưng bày tác phẩm của họa sĩ thời 1900, Holbein và Paul Klee, cũng có một số họa phẩm của Picasso. Thức ăn có khẩu vị Đức, Schnitzel (thịt heo cán mỏng, tẩm bột chiên bơ) rất phổ thông, và raclette (phô mát nướng) ăn với khoai tây.

    Ngày hội lớn nhất của Basel là Fastnacht, Shrove Tuesday, một tuần trước mùa Chay (Lent), hội hè lần chót trước khi chay tịnh? Cả thành phố sửa soạn rầm rộ cả tháng cho ngày hội hóa trang này. Fastnacht kéo dài cả tuần, con nít được nghỉ học và cha mẹ cũng nghỉ theo, gần như “springbreak” ở Mỹ.

    [​IMG]

    Tháng Hai năm 2006, Basel khá lạnh, hôm nào cũng tuyết lất phất và hàn độ xuống khoảng -2 độ bách phân. Fasnacht bắt đầu từ 4 giờ sáng ngày thứ Hai, đèn đuốc tắt hết trọi, người ta đổ ra từ khắp nẻo đường và họ dùng đèn bọc trong những khung hình sặc sỡ (lantern). Dế mèn cũng mắt nhắm mắt mở vừa đi vừa nhâm nhi sữa chocolat nóng để xem hội hóa trang. Người ta mặc trang phục đủ màu đủ kiểu, mỗi nhóm mặc một loại trang phục khác nhau, đeo mặt nạ khác nhau; nhiều kiểu trang phục rất đẹp mắt nhưng trời tối mù, chụp ảnh tấm nào cũng đen thui, không thấy gì, uổng quá! Họ dùng nhiều loại nhạc cụ, nhiều nhóm hóa trang dùng sáo, kèn và trống.

    Người Basel gọi những nhóm hóa trang này là "Clique", mỗi Clique dùng một kiểu lồng đèn (Ladarne, chữ a thứ nhì có hai cái chấm) trang trí vối tiêu đề của nhóm. Vào tối thứ Hai sau một ngày trình diễn, họ đem tất cả đèn lồng trưng bày tại Munsterplatz. Đúng 4 giờ sáng thứ Hai, từ mọi ngõ ngách, họ đổ ra đường chính, tất cả ban nhạc cùng hòa tấu một hợp khúc, cả trăm Clique như thế, bạn có thể tưởng tượng thời giờ họ bỏ ra để tập dượt cho bằng ấy con người để cùng trình tấu nhịp nhàng hòa hợp. Dế mèn đi theo ban nhạc mà le lưỡi phục thầm.

    Theo cổ tục, người ta, phần đông là mấy ông, hóa trang thành những Bà Cô (Old Aunt, Alti Tante) mũi khoằm, bộ ngực vĩ đại đội khăn hay*mũ rộng vành. Những người khác, hóa trang (Waggis costume) từ đầu đến chân: guốc gỗ sơn màu rực rỡ, tất vằn xanh đỏ cao đến đầu gối, quần trắng ngắn cũn cỡn, áo choàng và mặt nạ (dùng riêng cho Fasnacht gọi là Larve, dế mèn lỡ lời gọi là mask, họ sửa liền, không hiểu sự quan trọng của việc phân biệt này?) với cái mũi thiệt bự và tóc lù xù vàng đỏ… Người thành phố ăn súp hành và phó mát (Basler Mehlsuppe) nóng hổi vừa thổi vừa ăn, và Ziibelewaie, một loại bánh phó mát và hành gần gần như Quiche Lorraine của Tây, món ăn chính của Basel trong dịp Fasnacht.

    Mỗi nhóm hầu như gửi gấm một thông điệp, hội Bảo Vệ Sức Khoẻ Trẻ Em, hội Chữa Lửa, nhóm Quân Đội (Swiss Army)...Có những thông điệp về chính trị, mặt nạ của Bin Laden, của ông Bush bị đem ra bêu riếu. Cuộc diễn hành của một nhóm hóa trang ra quân đội Mỹ với một số người hóa trang thành tù nhân, tay đeo còng đi giữa những khung sắt biểu hiệu của nhà tù Guantanamo phản kháng việc chính phủ Mỹ giam giữ tù nhân Afghanistan. Từ trên xe hoa, họ ném kẹo, cam, khoai tây cho trẻ em, confetti đủ màu và hoa cho mấy bà mấy cô. Dế mèn cũng được một bó Mimosa và 3 nhánh hoa hồng vàng đem về cắm trong phòng ở khách sạn! Cả thành phố đều thức. Rồi dế mèn nhâm nhi hạt dẻ nướng vừa thơm vừa bùi, ủ trong hai bàn tay đeo găng lạnh giá, đi khắp thành phố đến 7 giờ sáng mới chịu đầu bù tóc rối về đi cày!

    Cuộc vui của Basel rất lành mạnh không có hình ảnh nhếch nhác khiêu dâm và hỗn loạn như Mardi Gras của New Orleans. Hội hóa trang kéo dài cho đến hôm nay, thứ Tư, người Basel quả là có tổ chức, cả đêm xả rác vậy mà sáng hôm sau đường sắt xe lửa vẫn sạch bong.

    Basel là một thành phố kỹ nghệ, có công viên và có cả sở thú, nhưng sở thú bây giờ vắng hoe. Người Basel chủ trương rằng trả thú vật về môi trường thiên nhiên của chúng, đại khái là thả cọp về rừng chứ không nên giữ ở thành phố, và voi Phi Châu nên để ở Phi Châu. Công viên cũng bị mất phần sống động (không thấy trẻ con chơi đùa) vì nhóm người trẻ tuổi nghiện thuốc tụ tập ở đây, kim đã dùng quăng bừa bãi trên cỏ. Như đã kể với bạn, người Thụy Sĩ chuộng kỷ luật, nhóm trẻ bất cần đời này là nỗi bận tâm và sự khó chịu của dân thành phố. Cách đây vài năm, cảnh sát còn chịu khó khênh những người say rượu, say thuốc nằm vất vưởng trong công viên vào bệnh viện, để tại một nơi gọi nôm na là "Dry Tank", khi tỉnh dậy, họ tự động ra về. Bây giờ cảnh sát nhắm mắt lại nhìn ra chỗ khác khi bắt gặp cảnh này chắc vì làm không xuể mà cũng vì chán ngấy mấy cái mặt nghiện ngập chăng?

    Dân Basel theo kỷ luật tối đa. Mỗi thành phố có luật định riêng, Basel có luật định mỗi thứ rác chứa riêng trong một loại túi của nó, đánh dấu đàng hoàng, rác của nhà nào chính phủ cũng phân biệt được! Hồi dế mèn còn ở Basel, có lần bị phạt 100 quan vì bỏ rác vào cái túi chứa những thứ được tái dụng, recycle. Chừa cái tật xớn xác, mắt nhắm mắt mở không đọc nhãn hiệu túi đựng rác!Đời sống Basel thầm lặng, dế mèn thỉnh thoảng vượt biên giới qua Colmar (Pháp) đi ăn và mua sắm, Colmar tỉnh nhỏ êm đềm và dễ chịu. Không hiểu sao có 50 dặm đường mà dân tình khác nhau quá xá?!

    Tháng Tám 2006, dế mèn trở lại, Basel mưa rả rích, trời xám mây mù, mới cuối tháng Tám mà hình như đã sang mùa, nhiệt độ nhúc nhích ở 55 độ F. Đang ngủ mơ màng thì điện thoại reo nhưng chẳng có người bên kia. Không biết tại sao, mấy hôm nay dế mèn đi ra, đi vào đứng ngồi không yên, cứ bần thần lo lắng mà không biết mình loay hoay bất an về việc gì. Lúc xắp vali lại tần ngần muốn hủy bỏ chuyến đi, lạ quá!


    Basle trời mưa hạt nhỏ, dế mèn theo tàu điện xuống phố, Marketplatz, trung tâm của thành phố là tòa thị chánh, Rathaus. Toà thị chính (Rathaus) nằm ở trung tâm thành phố (old town), từ bên kia đường. Dế mèn vào một quán ăn nằm trên con đường khuất đằng sau. Bữa ăn dở chừng, 4 giờ chiều đã quá trễ giờ ăn trưa và quá sớm cho bữa ăn tối nên dế mèn gọi một dĩa nhỏ nhỏ, món thịt bê (veal) thái nhỏ nấu chung với nấm tươi và fromage, theo kiểu Zurich, dế mèn hổng biết người Zurich ăn uống làm sao nên cứ thử cho biết, mơi mốt qua Zurich sẽ thử lại xem có đúng không. Nước sốt fromage thơm nhưng thịt thì dai ngoách, chắc con bê này đã sớm lao động triền miên?

    Basle có một quán cà phê nằm trong một ngõ cụt, giữa những tòa nhà là một sân trống, cây cối rậm mát và người ta bày bàn ghế để khách nhàn du có thể dừng chân uống cà phê, ăn bánh ngọt. Dế mèn hẹn một người bạn ở đây, ngồi nhâm nhi hết cả ly cà phê, qua đến ly thứ nhì mà bóng chim tăm cá vẫn biền biêt. Chiều thứ Ba mà quán cà phê đông người kín chỗ. Hẹn em quán nhỏ, dế mèn bị cho leo cây bưởi ở đây, thực ra hổng có cây bưởi cây bòng nào ráo, có một vòi nước đặt tượng Hầu Nhi (dế mèn mượn chữ của Chú Quới Tam Kỳ) ngồi ăn nho ngắm ông đi qua bà đi lại, café zum Roten Engel:

    [​IMG]

    Quán cà phê có những con chim sẻ rất dạn, đậu sát ly cà phê của dế mèn để quẹt mỏ ăn nốt những vụn bánh vương vãi trên bàn, nếu ở Saigon mấy con se sẻ này chắc biến thành chim quay hết ráo?

    Đằng sau con đường chính của Marktplatz là những con đường dẫn lên đồi, quanh co hai bên là những con hẻm nhỏ, quán rượu dế mèn có lần theo bạn bè đến uống bia ở Beer Hall. Từ Marktplatz, phe ta đi tèng tèng ra bờ sông, nhà thờ chính tòa nằm bên tả ngạn (phía Bắc của thành phố) đỉnh tháp chỉ còn là một cái chấm nhỏ, sông Rhine nước chảy xuôi một dòng, cầu có mấy nhịp?

    Bên kia cầu là Kleinbasel (Lower Basel), chữ "klein" ngày trước được người địa phương sử dụng với hàm ý coi thường, ra cái điều Xóm Dưới (hổng phải xóm quý tộc).

    Trong xóm quý tộc, cũng có những đường hẻm quanh co dẫn lên đồi, viện đại học Basel nằm trên con đường đồi này, đây là ngôi nhà cổ nhất của thành phố còn tồn tại (xây trong thế kỷ thứ 17, năm 1634):

    [​IMG]

    Dọc theo con đường chính của phố cổ (old town), đây là Viện Bảo Tàng Lịch Sử, trông giống một ngôi nhà thờ nhiều hơn là một viện bào tàng, phải không bạn? Thứ Tư mỗi tuần, người ta họp chợ bày bán rau tươi, hoa quả, phó mát, xúc xích...

    Đi lang thang một lúc rồi dế mèn đến Munsterplatz, Church Square, nơi nhà thờ chính tòa của thành phố tọa lạc, nhà thờ nằm trên đồi bên bờ sông Rhine. Gió lồng lộng và mưa bay như bụi. Dế mèn gửi theo đây một ít mưa hạt mỏng lúc Basle sang mùa. Dòng sông Rhine cắt thành phố thành hai mảnh, Great Basle (Grossbasel) nằm ở tả ngạn, là trung tâm thương mại của thành phố, hữu ngạn là Lower Basle (Kleinbasel) nơi những quán rượu, quán ăn nhỏ bán món raclette (một loại "lẩu" nấu với 3 loại fromage và rượu, đặt trong một nồi có đốt lửa giữ nhiệt, bạn tha hồ nhúng bánh mì, rau tươi... vào nồi fromage nóng chảy tan trong rượu), và những phòng triển lãm. Thành phố nhỏ xíu thế này mà có cả trăm phòng triển lãm và 5, 6 viện bảo tàng. Viện bảo tàng Kunstmuseum basel (viện bảo tàng nghệ thuật) có mấy tấm Picasso, và những tác phẩm của Hans Holbein the Younger, Konrad Witz và Arnold Boecklin, những nghệ sĩ sống và tạo nên tác phẩm ngay tại địa phương (bên mình gọi là cây nhà lá vườn).

    Viện đại học Basle là viện đại học đầu tiên của Thụy Sĩ, và người địa phương ưỡn ngực bảo rằng nơi đây đã cho thế giới 9 Nobel Laureats gồm những trí thức địa phương nổi tiếng thế giới như Desiderius Erasmus (tên ông cụ này được đặt cho viện đại học của thành phố Rotterdam bên Hòa Lan, chẳng biết duyên cớ làm sao mà cụ lại đến đây dạy học?) và cả nhà tư tưởng Friedrich Nietzsche. Dế mèn chẳng biết chi mấy về tư tưởng của ông cụ này!

    Đứng trên đồi giơ tay hứng mưa và nhìn ngắm chán rồi dế mèn qua cầu, bắc ngang sông Rhine là 6 cái cầu nằm rải rác trong thành phố. Leo đồi xuống dốc một lúc nữa thì trời sập tối, Basle trời mưa thì buồn không thể tả, nhất là lúc trời nhá nhem thế này, những con hẻm khuất mình nhìn từ xa không thể nào thấy, lúc chiều rơi thì hẳn sẽ mất đường về nên dế mèn đành khăn gói trở lại quán trọ, sửa soạn cho buổi cày ngày mai.

    Dế mèn đến Basel nhiều lần, tiêu xài khá nhiều phần đời sống của mình ở thành phố này, quen như thế mà vẫn lạ, chưa biết hết các hang cùng ngõ hẻm. Mỗi lần trở lại đều nhìn ra một hình ảnh mới nên túi hành trang Basel chưa bao giờ đầy? Có lẽ mãi mãi Basel vẫn chỉ là nơi... đến?
  9. Thái Lan, Xiêm La một thủa

    Bangkok (Vọng Các) là thủ đô của Xiêm La như tên ông bà mình gọi nước Thái Lan. Nguồn gốc của “Siam” bắt đầu từ Nam Chao (640- 1250), vùng đất này trở thành vùng đất Vân Nam và Tế Xuyên của Tàu, người Thái cũng Nam tiến và trưởng thành trong vùng đất được gọi Xiêm La từ 1300's, và bây giờ, Thái Lan. Như thế lịch sử lập quốc của Thái chỉ trên dưới 700 năm, và Thái là một quốc gia tương đối "trẻ" so với những quốc gia láng giềng với cả ngàn năm lịch sử. Quốc gia Thái trải qua nhiều thời đại, Sukhothai, Lan na Thai, Ayuthaya và Chakri triều đại đương thời. Hoàng gia Thái Lan truyền từ đời vua Chulakok (năm 1782) cho đến nay. Lịch sử, và văn hóa Thái chịu ảnh hưởng Khmer và Ấn Độ, chữ viết và tiếng nói của người Thái là sự thoát thai của Sanskrit và Pali (?)...

    Thái theo chính thể quân chủ lập hiến, có vua, thủ tướng và Quốc Hội. Hoàng gia đương thời (vua Bhumibol) được dân Thái quý mến, họ ngưỡng vọng và gần như thờ kính nhà vua, dù theo hiến pháp Thái, nhà vua không có thực quyền. Khi quốc gia trải qua những cuộc đảo chính tranh dành quyền hành, dân Thái trông về nhà vua chờ sự lãnh đạo. Khi không được nhà vua ủng hộ, những vị thủ tướng gốc quân đội phải từ nhiệm. Nhìn khái quát về những biến cố lịch sử này, hẳn bạn tự hỏi, Vua Bhumidol có cái gì mà dân chúng theo như thế? Nhà vua sinh tại Hoa Kỳ (khi ông bố theo học Y khoa trường Harvard), đi học tại Vọng Các và Thụy Sĩ, lên ngôi vua năm 19 tuổi và tại vị từ dạo ấy. Như thế, hẳn là tài (lãnh đạo) không đợi tuổi và cũng chằng cần kinh nghiệm? Hay nhà vua có những quân sư đắc lực mà ta không thấy tên trong sử sách Thái? Quanh thành phố, nhất là con đường Ratchademnoen và bùng binh, treo nhiều tấm hình bà vợ (Queen Sirikit) chụp ngày bà còn trẻ tuổi, trong nhiều kiểu quần áo tây ta, nữ trang đầy người. Bây giờ nghe nói bà hoàng đã vào tuổi 70+, phát tướng, và dù kéo da mặt nhiều lần, vẫn không cho phép chụp hình nữa, "mỹ nhân tự cổ như danh tướng" chăng?

    Người Thái được mô tả là đáng yêu, hiếu khách và hiền lành, lúc nào cũng tươi cười và chào hỏi bằng cách chắp tay (hoa) vái lạy (wai). Người Thái (nam) phần đông vào chùa lúc còn thơ ấu để học chữ từ bi, cách xử thế..., sau năm ba năm mới trở về đời sống cũ. Vậy mà khi đọc báo địa phương, xem TV, ta đọc thấy những bản tin rùng rợn. Người Thái trừng phạt, trả thù nhau bằng những cách tra tấn tàn bạo, khủng khiếp, có nạn nhân gần bị băm vằm (50-60 nhát dao đâm vì quỵt nợ) hoặc bị tưới dầu sôi (ghen kiểu thị Quờn) cho đến chết. Không hiểu sự thù hận của họ thâm sâu đến mực độ nào, và sự dã man của họ vẫn còn được ghi nhận qua những thảm cảnh hải tặc ngày dân ta ra biển.

    Kỹ nghệ du lịch là một phần quan trọng về mặt kinh tế cho Thái Lan, nên dễ dãi với du khách là quốc sách. Khách sạn rất nhiều, tiệm ăn cũng rất nhiều, và tiếng Anh khá phổ thông. Trong thành phố, bạn có thể dùng taxi, tuk tuk (một loại xe ba bánh gắn máy như xe lam bên nhà nhưng nhỏ hơn, đủ chỗ cho 2-3 người ngồi) để di chuyển, chỉ phiền một nỗi là tài xế luôn luôn đưa ta đi mua sắm, tới những tiệm hàng hóa để lấy hoa hồng dù ta nhất định lắc đầu quầy quậy không muốn! Taxi dù có đồng hồ nhưng ít khi thấy dùng, vì vậy ta nên ngã giá trước khi lên xe; tuk tuk thì tha hồ mặc cả! Nếu khách sạn bạn ở nằm trên đường xe điện, xe điện rất sạch, dễ xử dụng và rất rẻ. Bạn có thể đi thăm một phần lớn của thành phố bằng xe điện và phà trên sông Chao Phraya vì những địa điểm chính (chùa, Palace...) của thành phố đều nằm hai bên bờ con sông này.

    Hàng hóa tại Vọng Các rất rẻ, và thành phố có rất nhiều thương xá cũng như chợ (market). Những thương xá lớn (Oriental Plaza, Siam, World Trade Center, Amari) với sự đầu tư của Nhật và Nam Hàn, có nhiều cửa hàng quốc tế, hàng hóa phần đông nhập cảng nhưng giá cả tương đối rẻ so với Mỹ. Vào chợ ta sẽ thấy hàng địa phương, hàng Tàu và những nước lân cận. Chợ Chatuchak chỉ mở cửa những ngày cuối tuần (được gọi là Weekend Market), bạn tha hồ rảo cẳng, cơ man nào là hàng hóa, quần áo, hoa lá, cây cỏ, vải vóc, kể cả chim chóc và những thú vật hiếm (extinct animals, và luật pháp Thái cấm mua bán những con thú này). Ở Thái, những vật dụng làm bằng gỗ phần nhiều là teak, bình cắm hoa, bát đĩa, muỗng..., rất đẹp, nhưng khá nặng khi phải khênh về. Chợ đêm (night market) Bo-Be dành cho bạn nào không ngủ được hoặc muốn thử một vài đêm không ngủ. Người đi chợ tha hồ dòm hoa thật lẫn hoa biết nói. Chợ ngày thì ta ghé Chinatown, một lần Dế Mèn ghé Vọng Các gần Trung Thu, nên có ăn bánh nướng ở phố Tàu, ngon như bánh nướng ngày xưa của Tân Tân và Đông Hưng Viên (bánh nướng phố Tàu New York và San Francisco thì theo vị Mỹ, ăn ngọt lự, mau ngán). Cả chục cái chợ khác, nhất là vùng Banglamphu, thượng vàng hạ cám, cái gì cũng thấy bầy bán, ta tha hồ nhìn ngắm, shop til' drop, bạn à! Và khi bạn đi lanh quanh, sẽ có chàng "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao", sinh dziên ban Anh ngữ, ngỏ lời muốn học Anh văn đàm thoại, rủ bạn đi shopping cho vui nhà vui cửa, và đi ăn cơm Thái quán đặc biệt... Chớ chớ, đói mấy thì đói, bạn nhé? Tiệm ăn vô số kể, loại thức ăn nào cũng có! Món Tàu, ta vào phố Tàu, tha hồ xì xụp hủ tíu. Tiệm ăn Nhật (khá phổ thông), nhất là cái món giống như món cù lao bên nhà, nhà hàng dọn ra một cái nồi nước dùng sôi ùng ục, bạn muốn ăn rau, tôm, mực, thịt heo, thịt bò... cứ chọn, rồi nấu lấy tại bàn của mình. Quán ăn hải sản lớn nhất ở Vọng Các có tên Anh (Seafood House), là một tiệm ăn vĩ đại cả ngàn chỗ ngồi, ta vào chỗ chọn thức ăn (bày trên quầy hàng như chợ), giá treo sẵn bán theo kí lô, thích ăn thứ hải sản nào, cứ chỉ tay, người cắp giỏ đi theo sẽ chọn, cân và theo bạn ra trả tiền. Mang về bàn, sẽ có người nấu theo ý muốn!

    Vọng Các bận rộn và nóng như Sài Gòn, vật giá rẻ so với bên Tàu. Nếu không thấy mấy cái tháp thếp vàng khắp nơi, ta có thể tưởng mình đang ở bên nhà. Trời, trái cây tươi đủ mọi loại, thấy mà mê tơi! Dế Mèn bỏ cơm 2 ngày ăn toàn trái cây, từ chôm chôm, măng cầu, măng cụt, tới na, mít, ổi xá lị giòn rụm. Nếu bạn ít thì giờ, chỉ có dịp ghé Vọng Các vài ngày và muốn mua lụa Thái, mời bạn đến Jim Thompson's house, nằm trên đường xe điện, không phải tần ngần vì ngại tuk tuk chở bạn đi shopping. Jim Thompson là một kiến trúc sư người Mỹ, làm việc tại Thái Lan trong thế chiến thứ II, sau đó ông này trở lại và sinh sống tại Vọng Các cho đến ngày mất tích (1967). Ngôi nhà gỗ kiểu Lanai, nằm bên bờ sông Saen Saep (Khlong Saen Saep) có bến đỗ thuyền, được ông Thompson lúc sinh tiền mang vật liệu cũ từ central Thái về dựng lại tại Vọng Các, rường cột, cửa bằng gỗ teak nên không bị mối mọt (xứ nhiệt đới khí hậu ẩm ướt) và trang hoàng bằng cổ ngoạn của Thái Lan. Ngôi nhà này trở thành viện bảo tàng, bạn sẽ thấy những bức tranh cổ, tượng gỗ và tượng đất quanh nhà cũng như tiệm bán vật dụng bằng lụa Thái (áo, khăn ăn, ví tay...) Jim Thompson là người cổ võ, xây dựng lại nghề dệt lụa của Thái Lan. Lụa Thái mịn nhưng cứng tay may âu phục rất đẹp dù hơi dày, màu sắc rực rỡ tươi tắn, nhà Jim Thompson có bán cả lụa để may màn cửa (drapery), bao gối, khăn trải giường. Bạn có thể mua vải và đưa thợ may tại Vọng Các, âu phục may khá khá dù không khéo bằng Hồng Kông, nhưng giá khoảng một nửa.

    Lần đầu Dế Mèn đến Vọng Các (năm 1993) theo chương trình "Save Our Children", bảo trợ một phần bởi World Health Organization, một phần do công ty Dế Mèn đang làm việc lúc đó. Vào thời điểm ấy, AIDS còn là một sự đe dọa về y tế công cộng (public health) và mối bận tâm cho nhiều quốc gia; Vọng Các có tỷ lệ nhiễm trùng AIDS cao nhất Á châu và hàng thứ tư trên thế giới. Cùng lúc ấy, Vọng Các được xem như là một nơi nghỉ mát và mua hoa (kể cả hoa non) rẻ tiền nhất từ Âu Châu và Nhật Bản. Trên máy bay và phi trường, có những tấm quảng cáo cho thuê "toàn bộ - trọn gói" (package) gồm phòng ngủ, motorcycle, và một cô bạn gái "dẫn đường". Những tập quảng cáo này in tiếng Nhật, Đức và Anh, nên ta có thể đoán những mục "nghỉ mát" này phổ thông ở quốc gia nào.

    Theo chân nhóm y sĩ địa phương đến chốn lầu hồng (có giấy phép Đấm Bóp), Dế Mèn thấy hoa bị bầy bán, mỗi cô đeo 1 cái bảng có số, khách mua hoa đi lòng vòng điểm mặt đặt tiền. Có những đóa hoa còn rất non, chỉ 13, 14 tuổi, chưa nổi nhũ hoa. Hỏi đến, các em đều khai đã 18 tuổi. Tương tự như tình trạng ta thấy bây giờ với các em nhỏ Việt Nam bên Nam Vang. Mười năm, cùng cái cảnh thương tâm ấy, chuyển từ một miền đất nghèo này sang một miền đất khổ khác. Vọng Các bây giờ tỷ lệ AIDS đã giảm rất nhiều, xã hội Thái mở lòng rộng rãi với những người đồng tính, người bệnh AIDS từ Hoa Kỳ, Âu Châu đến Thái để sống những ngày cuối cuộc đời rất đông vào thập niên vừa qua, nhất là vùng Chiang Mai, bây giờ vẫn còn những nơi săn sóc người bệnh trầm kha chờ chết (AIDS hospice). Người Thái đã thành công trong việc giảm bệnh truyền nhiễm, nhờ có những người can đảm, nhìn (thẳng) và (chấp) nhận sự thật xấu xí, kêu gọi sự giúp đỡ của thế giới mà không mặc cảm lằng nhằng. Ngày ấy, nhờ sự thẳng thắn của Bộ Y Tế Thái, chính phủ Đức đã ban hành đạo luật cấm dân Đức mua hoa non ngay cả ở ngoại quốc và những quốc gia Âu Châu khác cũng theo gót. Đến năm 2004, ta mới thấy chính phủ Hoa Kỳ ban hành đạo luật này!

    Bắt đầu từ Tha Phibun Songkhram (mỗi bến đỗ bắt dầu bằng chữ "Tha", mỗi ngôi chùa "Wat", con sông "khlong"), cũng là trạm chót của xe điện đi ra từ trung tâm thành phố, "water taxi" (có lẽ gọi là "water bus" thì đúng hơn vì hành khách lên xuống liên tục) đưa ta đi dọc bờ sông cho đến Wat Ratchasingkhon, trạm chót, khoảng 2 tiếng và giá cỡ 25 xu (1/4 mỹ kim). Bạn tha hồ nhìn ngắm sinh hoạt của người Thái sống dọc bờ sông, từ những khách sạn lớn (Oriental, Sangri La, Marriott, Royal Orchid..) có thuyền riêng đưa khách vãn cảnh sông nước cho đến Wat Pra Kaew (Grand Palace), Wat Arun, Wat Pho (Tha Tien), phố Tàu (Tha Ratchawong). Lên bờ ở Tha Tien, bạn có thể đổi thuyền theo dòng sông Mon (khlong Mon) xem những trại hoa lan dọc bờ sông này. Ồ, hoa lan đủ mọi loại, đủ mọi màu sắc, lớn, nhỏ, hình thể. Mắt Dế Mèn bị bội thực vì sau khoảng 1 tiếng, không thể thu nhận gì thêm. Nhìn hoa nào cũng thấy giống nhau là hỏng rồi phải không bạn?

    Đến bến Tha Chang, mời bạn lên bờ, ta đi thăm hoàng cung (Grand Palace), trời nóng lắm nóng lắm, nhưng ta vẫn phải quần chùng áo dài. Người Thái tôn trọng vua và nhà của vua cũng như chùa chiền, du kháck, quý ông cũng như quý bà và quý em nhỏ, mặc áo thung quần xà loỏng, thò chân thò tay ra là bất kính, họ không cho vô mấy chỗ này đâu, tương tự như nhà thờ bên Ý và mosque bên Thổ vậy! Tốt nhất là ta thủ sẵn một cái xà rông (mua vội ở chợ nào đó để quấn thân dưới) và một cái khăn rằn để che thân trên, ra khỏi chùa thì cứ việc tháo khăn bỏ giỏ cho tiện, bằng không thì quần dài áo dài tay cho chắc ăn? Dế Mèn thấy nhiều du khách phải mướn mượn khăn áo, mà quần áo công cộng chắc trăm năm chưa thấy nước và xà bông nên mùi hương cứ bay đầy không gian! Lại có ông "vai ba thước rộng, thân mười thước cao" phải quấn cái váy hồng thiếu vải nhỏ xíu cộng với cái khăn xanh để che đôi vai vạm vỡ, tiếu lâm vô cùng!

    Grand Palace:

    [​IMG]

    Hoàng cung (hoàng gia bây giờ không ở đó nữa) là một khu đất rộng cỡ 950 cây số vuông bao gồm khoảng 100 toà nhà, có cả vài ngôi chùa, lớn nhất là Wat Phra Kaew (còn được gọi là Temple of the Emerald Buddha).

    Hoàng cung được xây từ 1700's, bởi triều đại Chakri đương thời, phần đông theo kiến trúc "Bangkok" cổ. Ngôi chùa Pra Kaew rất nhiều màu tươi sáng, sặc sỡ, mái lợp bằng gốm men xanh lục và cam (khác với gốm men vàng của Tử Cấm Thành bên Tàu). Những ngọn tháp (chedi) trong chùa được thếp vàng lấp lánh nhức mắt; những ngôi tháp trong chùa bên Thái được gọi là chedi hoặc stupa, Dế Mèn không rõ sự khác biệt, nếu có, giữa chedi và stupa, vì hình thể? Kích thước? Cách sử dụng? Cột kèo trong chùa cẩn vụn đá hoa cương tỉ mỉ, nhiều màu sắc rực rỡ như ở thánh địa Cao Đài. Trong chùa là pho tượng Emerald Buddha, cao hơn nửa thước, đặt trong lồng kính và trên bệ cao nên dòm gần không được. Có rất nhiều truyền thuyết về pho tượng này, bị tranh cướp từ người Lào người Miến, di chuyển qua nhiều nơi, mãi sau cùng "châu về hợp phố". Pho tượng có màu xanh đục, xậm, tuy gọi là bích ngọc nhưng thật ra được tạc bằng jasper (một loại đá) hoặc cẩm thạch (nephrite/jade), nhìn màu sắc, Dế Mèn đoán mò là jasper. Bên ngoài, tường chùa có những bức hoạ (được vẽ lên tường, mural) kể di tích Ramakian, tất cả là 178 bức hoạ được tu sửa nhiều lần qua 200 năm.

    Ngoài chùa Phra Kaew, bạn có có thể đi lòng vòng trong sân hoàng cung, nhìn ngắm (bên ngoài) những toà nhà khác. Grand Palace Hall (Chakri Mahaprasat) mặt tiền là kiểu kiến trúc Thái pha lẫn với Ý, bên trong lâu đài là tam cung lục viện nơi nhốt phi tần cung nữ, nghe nói ngày xửa ngày xưa, người Thái dùng nữ binh thiện chiến để canh cung cấm, không thấy nói đến thái giám, cái mục này, người Thái có vẻ hiện đại hơn người Tàu chăng? Borobiman Hall mặt tiền có vị Tây, là nơi trú ngụ của vua Rama VI lúc sinh tiền. Những ngôi chùa nhỏ trong hoàng cung là nơi gửi hài cốt của hoàng gia, và cũng không mở cửa cho du khách xem.

    Từ Wat Phra Kaew, đi bộ một quãng ngắn trên đường Thanon Maharat, ta sẽ đến Wat Pho, nếu bạn đi đò thì ghé bến Tha Tien. Chùa Pho là một ngôi chùa cổ nhất, lớn nhất và có một tượng Phật nằm (Reclining Buddha, theo sự tích Phật nhập Niết Bàn) to nhất trong vùng. Tượng Phật nằm chiếm hầu hết diện tích của chính điện, hẳn là tượng được xây (bằng gạch bên trong, đắp thạch cao bên ngoài và thếp vàng rực rỡ) và chùa được xây sau đó, bao bọc pho tượng? Chứ không thì cách chi mà khiêng vào chùa? Chùa còn giữ được hai tượng Phật cổ từ thời đại Sukhothai, tượng Phra Jinnarat và Phra Jinachi.

    Wat Pho:

    [​IMG]

    Trường học đầu tiên cũng như môn đấm bóp cổ truyền của Thái được giảng dạy bắt đầu từ Chùa Pho. Những bức tranh (temple rubbing) bán ngoài thị trường là phó bản của những mặt đá cẩm thạch tạc cảnh Ramakian tại chùa này (đem về từ cố đô Ayuthaya).

    Từ bến Tha Tien, ta đón thuyền để sang sông, tiền đò ngang là 5 xu, vì Wat Arun (theo cổ tích Ấn Độ, thần Aruna, hoàng hôn? Bóng tối?) nằm bên kia sông, vùng Thonburi. Chùa Arun xây theo kiểu Khmer, khác hẳn những ngôi chùa Thái mà bạn đã thấy. Chùa cao hơn 80 thước, xây bằng gạch bên trong, bên ngoài dát mảnh sứ đủ màu sặc sỡ. Trong chùa tối om, vất vả lắm Dế Mèn mới nhìn thấy những họa phẩm (mural) trên tường vẽ cảnh Đức Phật vào vòng luân hồi tử sinh. Sân chùa vắng vẻ, có cây bồ đề xum xuê tàn lá che rợp một góc sân. Nhìn từ xa, chùa trông rất đẹp, nhất là buổi chiều khi mặt trời xuống trên sông.

    Wat Arun:

    [​IMG]

    Vọng Các còn cả chục những ngôi chùa khác rải rác trong thành phố, bạn ở chơi lâu lại thích vãn cảnh chùa, thì tha hồ. Nhưng ta sẽ cần một ngày trời để thăm viện bảo tàng Quốc Gia. Người Thái cho rằng viện bảo tàng này lớn nhất vùng Đông Nam Á, Dế Mèn đoán là khoa trương vì tự ái dân tộc, chứ không thì viện bảo tàng Thượng Hải và viện bảo tàng Đài Loan bỏ đi đâu? Có thể là khu đất dành cho viện bảo tàng này rộng nhất chăng? Tượng Phật quý nhất, Phra Put Shihing, đặt trong chùa Buddhaisawan, tạc từ thế kỷ 13, thời Sukhothai. Viện bảo tàng có nguyên một căn phòng trưng bày nhạc cụ cổ từ Lào, Nam Dương, Cam Bốt và Thái; có những nhạc cụ nhìn giống như đàn bầu và đàn tranh của mình, chắc cũng bà con chi đây từ thủa ông sơ? Đồ gốm trưng bày ở đây cũng có những nét mài mại nhưng bản gỗ tạc thì nét trạm trổ khác hẳn những cổ vật có gốc gác Việt! Trong viện bảo tàng có nguyên một gian dành riêng cho thần Ganesha, con của Vishnu và Paprati, tượng trưng cho nghệ thuật và kiến thức. Thần Ganesha đầu voi mình người, cái bụng vĩ đại, cưỡi chuột làm phương tiện di chuyển. Có mấy bực tượng nhỏ, khoảng 1 gang tay, xuất xứ từ Quy Nhơn và Quảng Nam, Việt Nam, không hiểu họ mua hay cầm nhầm bỏ giỏ tự nhiên đem về bầy ở đây, không thấy nói? Gian nhà này là do Công Chúa Sirindhorn bảo trợ, bà này có hình chưng tại kinh thành Huế khi bà ấy thăm cố đô.

    Ở đây còn có nơi dành riêng trưng bày Royal Barge, những con thuyền thiệt bự, dài 40-50 thước, đầu rồng dùng cho việc lễ lạc trên sông.

    Bạn cũng nhớ ghé Vimanmek Teak Mansion, toà nhà gỗ teak lớn nhất thế giới (?) với 80 phòng, xây từ cuối thế kỷ thứ 17, trong Dusit Palace. Toà nhà này là nơi vua Rama V sống lúc sinh tiền, cổ ngoạn của hoàng gia, súng, bát đĩa, ngà voi (một điều lạ là vì người Thái xem voi như thần vật, sùng kính, không hiểu sao lại cưa vòi đem chưng như thế này?) kể cả cái "ngai" dùng lúc phóng uế! Chỗ nhà vua ở nên phòng ốc rất đẹp, nhưng có vẻ Âu nhiều hơn Á. Chắc ông vua này sính vật dụng ngoại quốc như vua Khải Định bên ta?!

    Vimanmek Mansion:

    [​IMG]

    Vọng Các còn có “chợ nổi”, dọc hai bên sông, các con thuyền qua lại bày bán thức ăn, vật dụng và các bến đậu là những tiệm bàn quà lưu niệm.

    Ayuthaya

    Từ Bangkok, ta có thể đáp xe lửa (khoảng 1 giờ rưỡi) đi Ayuthaya, cố đô (1350-1767), tên đặt theo tiếng Phạn, Ayodhya, đại khái là "không thể chiếm được", "undefeatable". Đời sống quả là vô thường và luôn luôn thay đổi, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Bốn trăm năm sau, cái tên chắc như bắp ấy chứng minh sự vô thường của trời đất, cố đô bị chiếm đánh và huỷ hoại hoàn toàn bởi quân đội Miến Điện. Nghĩa là thủa ấy, Miến Điện là một quốc gia khá hùng mạnh, lấn áp các nước láng giềng, không hiểu sao tổ tiên người Miến oai hùng như thế mà con cháu lại lúi xúi như ngày nay? Câu hỏi này Dế Mèn lẩm bẩm khi thăm Ayuthaya, nhìn sự tàn phá của kinh thành mà nể mặt người Miến, gần như "không hòn đá nào chồng lên hòn đá nào" đúng nghĩa của chữ "san thành bình địa". Câu hỏi này lại xăm xăm trở về trong ý nghĩ khi Dế Mèn đến Angkor Wat...Nhìn cảnh cũ mà cảm khái về người xưa...

    Sử sách Thái cho rằng thời đại này là thời đại rực rỡ nhất của lịch sử Thái Lan khi ảnh hưởng chính trị của họ bao gồm cả những quốc gia lân bang như Lào, Cam Bốt, và Miến Điện. Vào thế kỷ thứ XVII, vùng đất này là nơi buôn bán nhộn nhịp, vẫn còn dấu vết của Hoà Lan, Anh, Nhật, Pháp, Bồ Đào Nha...trong những cổ ngoạn trưng bày tại viện bảo tàng địa phương, Chao Sam Phraya National Museum và Chan Kasem Palace cũng như những khu phố rải rác trong thành phố như Portugese Village, Yamada (Japanese Memorial)... Ngoài những toà thành đổ nát và viện bảo tàng, Ayuthaya chẳng có mấy để dòm. Thành phố nằm gọn trong lòng 2 con sông chia nhánh, Chao Phraya và Lopburi, bạn có thể đến Ayuthaya bằng thuyền bè từ Vọng Các, chắc phải mất ba bốn tiếng đồng hồ!

    Từ bến xe lửa bạn có thể đi bộ (khoảng 20 phút) hoặc dùng tuk tuk để tới kinh thành. Những toà nhà này kề cận nhau trong một khu vực, bạn có thể đi bộ 5-10 phút từ kinh thành (Grand Palace) đến những ngôi chùa. Phe ta dùng bản đồ và đi bộ, rất tiện lợi. Cố đô Ayuthaya được bảo quản bởi Unesco. Bắt đầu từ Wat Phra Si Samphet, ngôi đền lớn nhất cũng là kinh thành, xây từ thế kỷ XIII, dưới triều đại vua Ramathibodi đệ nhất, những đời vua kế tiếp trùng tu và xây thêm những chedi nhỏ hơn để giữ hài cốt những vị vua tiền nhiệm. Toà nhà này có 3 bảo tháp (chedi) chính xây theo kiểu kiến trúc Ayuthaya, biểu tượng của nghệ thuật xây cất Thái. Ngôi chùa có một tượng Phật (cùng tên) cao 16 thước, toàn thân dát vàng, 250 kí lô vàng ròng, đặt trong hoàng cung nơi hoàng gia thờ phượng. Năm 1767, hoàng cung bị chiếm đóng, quân đội Miến phá tượng, đốt vàng cho chảy khiêng về Miến Điện, cái cảnh nước mất nhà tan!. Từ kinh thành, ta qua đền Wat Mahathat, cũng được xây trong thế kỷ XIII. Bảo tháp chính xây theo kiểu Khmer (đỉnh và thân tháp bầu chứ không nhọn hoắt như kiểu Ayuthaya), nên gọi là "prang"? Ngôi đền này là nơi tu tâm của hoàng gia. Sau vài lần bị tàn phá vì chiến tranh và vì bão lụt (tháp đổ), ngôi đền được trùng tu nhiều lần, bây giờ còn lại một đầu tượng Phật, nằm gọn trong một hốc cây. Không hiểu là "tác phẩm" thời cận đại hay tự thiên nhiên (bão lụt, tượng đổ, vỡ và nước cuốn đầu tượng đến hốc cây đại thụ này thì vướng lại)? Người Thái đặt bàn thờ đầu tượng Phật ngay tại gốc cây này.

    Wat Mahathat:

    [​IMG]

    Chiang Mai
    Từ Vọng Các, ta qua Chiang Mai bằng máy bay, khoảng 1 giờ. Chiang Mai là một thành phố miền bắc của Thái Lan, cũng là nơi lập quốc, xây hoàng thành của những triều đại Lanna, Sukhothai, Nan, Chiang Mai...từ thế kỷXI. Chiang Mai được xem như như thành phố dễ sinh sống nhất của Thái và của những quốc gia lân cận (theo thống kê của Asiaweek, 2000, dựa theo tuổi thọ, môi sinh, giá sinh hoạt...).

    Xuống phi trường là bạn sẽ thấy ngay được cái thong thả chậm rãi của Chiang Mai, từ cửa Di Trú đến nơi lấy hành lý, ai cũng tà tà, thủng thỉnh chẳng đi đâu mà vội vã. Ta có thể xếp hàng chờ tuk tuk, phần lớn là xe ba bánh như xe lam bên mình nhưng chỉ có 2 chỗ ngồi, Dế Mèn không thấy taxi 4 bánh như ở Vọng Các, hoặc lên đại một xe bốn bánh mà tài xế mời mọc là limosine (không có giấy phép)! Xe nào thì xe, ta cũng cần phải ngã giá trước khi theo chàng về dinh. Hình như phái nam độc quyền chạy tuk tuk hay lái taxi ở Thái, không thấy mấy bà mấy cô làm nghề này.

    Chiang Mai là một thành phố nhỏ, ta có thể dùng hai chân để cuốc bộ hoặc đạp xe đạp nếu ngại cù cưa giá cả với tài xế và luôn luôn được họ tỉnh bơ tự động đưa bạn đến một khu mua bán nào đó để lấy hoa hồng. Hôm đầu tiên đến đây phe ta leo lên tuk tuk định đi thăm chùa. Chưa thấy mái chùa nào đã bị khênh tới làng chế tạo dù giấy! Trời, sức đâu mà Dế Mèn tha mấy cái dù giấy kềnh càng, khổ quá, từ chối thế nào cũng không xong, họ kỳ kèo, chắc tại mấy hôm ấy hàng ế? Thế là mất toi một buổi chiều vàng! Hôm sau phe ta kinh nghiệm xương máu, nhất định cuốc bộ quanh thành phố. Đi khoảng 2 tiếng đã về chốn cũ mà không có bâng khuâng chút nào!

    Trường thành (bây giờ chỉ còn lại một phần) và hào bao bọc phố cổ của Chiang Mai, một khu đất nhỏ và vuông vắn. Bên trong phố Cổ, ngôi chùa cổ nhất của thành phố là Wat Chiang Mun, xây từ năm 1296 thời vua Mengrai. Trong chùa có nhiều phẩm vật quý giá, nhất là hai tượng Phật, tượng Phra Sila, cao khoảng 30 phân tây, nghe nói tạc từ 2000 năm trước. Tượng Phật thứ nhì là tượng Phra Satang Man, tượng Phật ngồi xếp bằng nhỏ xíu. Cả hai tượng đều được đặt trong bảo tháp (santuary, vùng này gọi là sĩm) bằng gỗ teak dầy cui, khóa chặt, chỉ được đứng từ xa mà dòm. Đèn lù mù, Dế Mèn nhìn muốn nổ con mắt mà chỉ thấy lờ mờ không rõ nét, lại càng không được dung ống nhòm hay chụp hình chụp ảnh gì ráo! Nghe nói cả hai tượng đều bị di tản từ vùng này qua vùng khác trong những cuộc chiến tranh vì cả ba nước Lào, Thái, Miến đều nhận là tượng của họ, in như câu chuyện của Emerald Buddha ở Wat Phra Keow ở Vọng Các!

    Wat Chiang Mun:

    [​IMG]

    Ngôi chùa được bảo trì bởi Unesco là Wat Chedi Luang, xây theo kiểu Lannai từ thế kỷ thứ 15, đã bị hư hại nặng không hiểu vì bão lụt hay vì chiến tranh (Vua Taskin và người Miến Điện). Bảo tháp trong chùa nghe nói là nơi đầu tiên đặt tượng Emerald Buddha (pho tượng này hiện đặt tại Wat Phrakeow, Grand Palce, Vọng Các).

    Wat Chedi Luang:

    [​IMG]

    Ta có thể đi quanh sân chùa mà không được leo lên tháp, có hàng rào bao quanh chùa. Lan can cầu thang leo lên tháp chùa tạc hình rắn naga, phía nam của chùa còn sót lại mấy tượng voi nguyên thủy (cụt tai và cụt vòi). Theo ý riêng, đây là ngôi chùa đẹp nhất ở Chiang Mai.

    Đâu lưng với chùa Chedi Luang là chùa Phan Tao, đi qua một cái cổng nhỏ là đến sân chùa này. Ngày nay vẫn còn là nơi tu hành và có rất nhiều chú tiểu ngồi rải rác dưới những bóng cây quanh sân chùa. Có chú bạo dạn ra hỏi thăm phe ta, chú nói tiếng Anh khá rõ ràng. Bên trong chùa có những cột gỗ teak cao và những tượng rắn naga.

    Từ chùa Phan Tao, ta đi một quãng ngắn trong phố Cổ là đến Wat Phra Singh. Mái chùa tiêu biểu cho kiến trúc Lanna của miền Bắc Thái Lan, nghe nói những ngôi chùa ở Luang Prabang (Lào) đều xây theo kiểu này. Người Thái bảo rằng người Lào bắt chước họ, sự thật ai theo ai thì Dế Mèn không biết, mai mốt đi Lào sẽ hỏi thăm tiếp?! Bên trong chùa thờ hai pho tượng cổ của Tích Lan, nghe nói cũng đã chu du nhiều nơi bây giờ mới châu về hiệp phố, tượng thật hay giả thì Dế Mèn không biết vì bên trong điện thiếu ánh sáng, mà dù có sáng rõ đi nữa, Dế Mèn cũng chịu thua vì chưa biết nhận diện sự khác biệt giữa nét điêu khắc của Lannai và của Tích Lan. Thôi thì Phật nào cũng là Phật, có tượng để nhìn ngắm là quý rồi, mè nheo chi nữa, phải không bạn?

    Chiang Mai vẫn là nơi nghỉ mát của hoàng gia Thái trong mùa hè. Hoàng cung cũ mở cửa cho du khách nhìn ngắm để thu tiền bảo trì. Đây là một khu vườn rộng, có cả một rừng trúc. Dế Mèn nghe nói một trong mấy bà công chúa, có bà Sirindhorn học hành đến nơi đến chốn, theo ngành Nhân Chủng Học và thích sưu tầm cổ ngoạn cũng như thảo mộc. Rừng trúc là do bà công chúa này gầy dựng.

    Thành phố miền núi nên chiều xuống trời sương mù, Chiang Mai cũng có có chợ đêm, bán đủ thứ thượng vàng hạ cám dù không nhiều mặt hàng như Vọng Các!

    Chiang Rai

    Dế Mèn thuê xe đi thăm Chiang Rai, thành phố miền núi nhưng được thăm viếng khá kỹ lưỡng, mọi dịch vụ đều xoay quanh khách du lịch. Đi vào bản thôn xa xa, khoảng 9 cây số, để ghé vùng đất mệnh danh “tam giác vàng” (vàng đây là vàng đen hay á phiện), golden triangle, biên giới của Thái, Lào và Miến.

    [​IMG]

    Ở đây tương đối sơ khai, nhà sàn vách đất; những người miền núi còn quấn xà rông đeo gùi và đang được UNESCO huấn nghệ. Họ được huấn luyện một nghề để sinh sống thay vì tiếp tục cha truyền con nối nghề trồng anh túc để lấy nhựa á phiện. Bộ tộc nổi tiếng ở đây là “cổ cao”, long neck, phụ nữ dùng những vòng sắt để kéo cổ cho cao, hình ảnh của cái đẹp miền núi.

    [​IMG]

    Phe ta chỉ lang thang ở thôn làng trong ngày chứ không ở qua đêm. Có cái chi bất an trong không khí miền núi, quán trọ cửa nẻo thô sơ hay hình ảnh những người lính quấn khố vác súng trên vai đi lang thang trong thôn làng miền biên giới? Người dẫn đường biểu rằng đó là quân đội Pathet Lào, vậy thì quân đội Thái ở đâu, ngay trên đất Thái mà không thấy ai? Nghĩ như thế nhưng Dế Mèn không dám hỏi.

    Chiang Rai không có chi, có ngôi chùa mới có tên “White Temple”, Dế Mèn không biết theo kiểu kiến trúc nào, chắc tân thời?

    White temple:

    [​IMG]

    Nếu phải so sánh giữa các quốc gia Đông Dương, Thái, Lào và Cam Bốt có lẽ Dế Mèn sẽ nói rằng Cam Bốt là nơi đẹp nhất vì Angkor Wat. Lịch sử của vùng đất này hình như thu gọn ở đó, từ Pali, Hindu đến cả Phật Giáo Tiểu Thừa?
  10. Biển chờ, núi đợi

    Tháng Bảy mùa hè năm nay, Dế Mèn lang thang qua vùng Tây Bắc, lên núi ngó thông reo và ra biển nhìn sóng vỗ. Lâu lâu phe ta lại có dịp làm thân với đất trời.

    Bắt đầu từ Portland, Oregon; gia đình hai người anh của Dế Mèn sinh sống tại đây, những thành phố nhỏ vùng ngoại ô. Từ phi trường phe ta ghé quán Bún Bò Huế trên đường 82 trước khi về nhà người thân. Hình như đây là quán bún bò ngon nhất trong vùng, chuyên "trị" Bún Bò Huế như bảng hiệu. Chủ quán nói tiếng miền Nam vùng Hậu Giang mà sao nấu bún bò Huế ngon quá xá?! Ổng nhìn cái mặt Dế Mèn nên hỏi trước, ít cay phải hông chị? Phe ta gật đầu liền chớ không thôi vừa ăn vừa khóc sướt mướt!

    Dế Mèn ăn được hơn nửa tô bún thì nghỉ việc, khá ngon, ngon gần bằng bún bò của O Thụi hôm nào. Trên mặt tô bún ở đây là những miếng chả Huế và những miếng huyết ngoài thịt bò và chân giò heo. Không biết tự bao giờ người ta bỏ huyết luộc vào bún bò? Lâu lắm rồi Dế Mèn mới thử lại món huyết kia, miếng huyết luộc chín tím bầm hình vuông cỡ hai ngón tay, dai dai không có mùi vị chi. Phe ta cứ tưởng miếng huyết sẽ có mùi tanh của máu, chẳng biết có phải vì mùi sả át hết các mùi vị khác hay là huyết không tanh vì con heo kia thiếu chất sắt? Cứ ngẫm nghĩ đến những giòng máu chảy ra từ cổ con vật bị chọc tiết là Dế Mèn hết muốn nuốt, thức ăn cứ nằm trong miệng. Từ nay chắc phe ta chấm dứt cái mục ăn huyết kia, huyết con chi cũng bỏ chạy!

    Tháng Bảy mà ở đây mát mẻ quá, khoảng 80 độ, Dế Mèn ra ngoài trời ngó quanh, xa xa là đỉnh núi tuyết phủ. Nhà anh H. nằm trên đồi, sân sau nhìn ra Mount Hood. Vùng Tây Bắc mưa nhiều nên cây cỏ mượt mà một màu xanh ngọc thạch, nhìn đâu cũng thấy những thảm hoa tươi đủ màu, thiên nhiên ở đây yêu kiều quá. Dế Mèn nói ra ý nghĩ của mình, bà chị dâu phì cười biểu cô cứ ở đây vài tuần cho biết mùi mưa dầm, mưa ngày này sang ngày khác, cả tuần không thấy mặt trời! Không biết mưa dầm dề ủ ê thế nào chứ nhìn ngắm những thảm cỏ dầy như nhung, hoa lá đủ màu sắc, bụi hydrangea tím hồng, mấy bụi hoa hồng có cây màu tím nhạt, có cây màu hồng thẫm, mấy bụi hoa mười giờ đủ màu… Lòng ta cũng nở như bông mười giờ... Hình như hoa mười giờ nở vào buổi ban mai, đâu cần chờ đến 10 giờ mới nở? Hay là cái tên “Mười Giờ” kia bắt nguồn từ một nguyên nhân khác?

    Chị L. lấy kéo cắt mấy bông hoa vườn nhà đem cắm trong phòng. Dế Mèn hợp tính với bà chị dâu nên thân thiết từ thủa chị mới về với gia đình, tự nhiên như chị em gái mà săm soi từ mái tóc, đôi môi đến quần áo giày dép. Chị lại hiền lành đảm đang nên Dế Mèn quý chị, quả anh H. là người may mắn!

    Quanh quẩn một lúc, Dế Mèn phụ một tay xiên thịt ướp mai quế lộ vào những que tre để tí nữa đem nướng. Hôm nay gia đình Dế Mèn ăn cơm tối ngoài trời, anh Hưng và gánh hát cũng sẽ qua chơi. Hơn năm rồi từ khi VA lấy chồng, Dế Mèn mới trở lại đây. Ôi chao mới ngày nào, cô dâu năm xưa đã tay bế con thơ, và chú rể trong hình đã thành bố trẻ em! Đám con nít Dế Mèn gặp năm ngoái đã nhổ giò, bây giờ thì chẳng còn ẵm được đứa nào nữa rồi! Thời gian quả là gió thoảng, mau quá xá là mau!

    Dế Mèn đọc sách vở thấy ghi chép rằng tổ tiên người Hoa Kỳ lập quốc bắt đầu từ miền Đông Bắc, “port land” thủa ấy thực sự là một miền đất “cửa biển” nơi tàu bè từ Âu Châu ghé bến, và là tên của một thành phố trong tiểu bang Maine. Hai người Hoa Kỳ từ miền Đông Bắc lang thang đên đây năm 1844, mua luôn một mạch 640 dặm vuông trên bờ Tây của vùng Willamette. Rồi họ gieo một đồng tiền để chọn giữa hai cái tên của miền Đông Bắc, Portland và Boston. Kết quả là Portland có mặt trên bản đồ, và trở thành một thành phố chính của Oregon, thủ phủ Salem không biết có trẻ trung rộn ràng như Portland không nhỉ? Thôi thì Đông Tây đề huề, mỗi vùng có một Portland cho tương xứng?

    Portland của Oregon nằm giữa hai con sông Willamette và Columbia. Willamette cắt thành phố làm hai mảnh đông tây, và con đường Burnside chia thành phố thành hai hàng nam bắc, nghĩa là 4 góc đàng hoàng: Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam. Dế Mèn mò mẫm cái địa chỉ mà quên béng đi là mình đang ở góc nào trên cái bản đồ bốn góc kia, thế là đi tìm đỏ con mắt! Tìm được rồi nên chắc sẽ không bao giờ quên!

    Ngày xa xưa, Portland sinh sống bằng kỹ nghệ đốn cây làm gỗ, timber, dùng tài nguyên thiên nhiên để sinh sống và sau đó thành phố phát triển qua kỹ nghệ vận chuyển khi công ty xe lửa Northern Pacific Railroad bắt đầu mở đường rầy nối liền miền Tây Bắc với các thành phố khác. Portland bây giờ không còn hẻo lánh như ngày trước, nửa triệu người sinh sống tại đây và những thành phố phụ cận. Intel và Tektronic đem lại cho Portland một chút “hi-tech” để ganh đua với Seatle, thành phố láng giềng kề cận và cũng là “nhà” của Microsoft.

    Portland đang vươn mình, thành phố có vẻ trẻ trung hơn, hình như những hàng quán trang trí buôn bán theo thị hướng của những người trong tuổi 30 hay thế hệ X, thế hệ đang tạo ra khuynh hướng mẫu mực của họ, những người đang bắt đầu tham dự những hoạt động xã hội, bắt đầu trưởng thành để nắm những chức vụ điều hành trong công sở. Nói một cách khác, thế hệ X đang tạo mô hình xã hội theo cách nghĩ hoặc cái nhìn của họ, và Portland mang theo hình ảnh tươi trẻ ấy. Những quán cà phê bàn ghế bày trên vỉa hè, những quán rượu, phòng triển lãm tranh… Portland gần gũi với những thành phố hăm hở ham sống khác như Seatle, một chút thân thiện của San Francisco chứ không khinh khỉnh như New York và Paris!

    Phe ta đi quanh trung tâm thành phố, hổng có chỗ đậu xe như những thành phố lớn khác, và người ta đang kiến thiết những đường xe điện ngang dọc trên những con đường huyết mạch của trung tâm thương mại. Hình như tòa nhà đồ sộ mới nhất, Portland Building, là cơn nhức đầu vì kiểu kiến trúc không mấy thân thiện dễ dàng cho việc sử dụng như văn phòng làm việc. Những khung cửa sổ nhỏ xíu nên người làm việc trong tòa nhà không được nhìn Trời xanh mây trắng của thiên nhiên ngoài kia.

    Trước tòa nhà bày pho tượng Thần Thương Mại, Portlandia, thần nữ đem lại sự buôn may bán đắt cho thành phố, Goddess of Commerce. Pho tượng quá khổ, cao 36 bộ Anh, trong thế ngồi lom khom trông hổng đẹp mắt chút nào; đây là pho tượng đồng lớn thứ nhì tại Hoa Kỳ, Nữ Thần Tự Do là pho tượng đồng lớn nhất.

    Portlandia:

    [​IMG]

    Đi ngang Phố Tàu của thành phố, ngoài cái cổng sơn đỏ, Dế Mèn không thấy người Trung Hoa nào ở đó ngoài những cửa tiệm có bảng hiệu chữ Hán. Nơi này chắc là nơi lập nghiệp của người Trung Hoa từ đầu thế kỷ, đến bây giờ thì con cháu ăn nên làm ra nên chẳng còn sống quây quần quanh vùng này nữa?

    Những năm cuối thế kỷ thứ XIX, những tàu vận chuyển thường thuê người địa phương để vận chuyển hàng hóa, rời bến và thuê người rỡ hàng tại những bến đậu. Portland là nơi những phu tàu được thuê mướn và Chinatown là nơi xuất phát của phu khuân vác tại bến tàu, những người làm việc với số lương dưới mức tối thiểu và không có một thứ giấy tờ tùy thân nào, một loại buôn người bất hợp pháp. Và danh từ "shanghaiing" bắt nguồn từ thứ tội ác, cướp bóc sức lực này.

    Sáng thứ Hai, phe ta đi thăm thung lũng Columbia, Columbia River Gorge, dòng sông này cũng là biên giới thiên nhiên giữa Oregon và Washington. Hai bên bờ là những rừng thông xanh ngút mắt, nước sông trong vắt, Dế Mèn thấy rõ từng tảng đá dưới lòng sông. Không khí mát rượi, ước gì ta đóng hộp được hơi sương mát lạnh kia mà mang về miền Đông Bắc?

    Con đường Historic Columbia River Highway ngoòng ngoèo quanh núi, một lối đi, một lối về hoàn tất năm 1915, nối liền Troutdale và Dalles. Con đường này còn có tên là US 30, quốc lộ 30. Dế Mèn đoán là ở đây chắc nhiều cá “trout” nhưng bà chị dâu biểu rằng mình chả thấy con cá trout nào, lần trước đi câu ngồi cả ngày như Khương Tử Nha rồi về tay không; tôm cá biến đâu hết ráo! Hai bên đường là những đồi thông xanh lá, sau rặng thông là giòng Columbia lặng lờ, mặt nước trông hiền lành như thế nhưng năm nào cũng có người đi tắm chết đuối vì những xoáy nước ngầm, hẳn đây là câu chuyện của “ma da rút chân” tại quê nhà những ngày tuổi nhỏ?!

    Sách vở ghi lại rằng con đường này do ông Samuel Hill chịu trách nhiệm trong việc xây cất, ông này nói một câu để đời mà Dế Mèn tạm dịch như thế này… Thiên nhiên hùng vĩ quá khiến tôi phải cầu nguyện, cầu nguyện để biết xây cất đường xá mà không hủy hoại thiên nhiên…

    Đài kỷ niệm ghi nhớ công ông Samuel Hill:

    [​IMG]

    Từ Women’s Forum Park, ta có thể nhìn xuống thung lũng, con sông Columbia như bay lượn giữa rừng thông.

    Con đường 10 dặm có những ngả rẽ vào các thác nước. Thác Latourell ngay bên đường đi, bụi nước bay như mưa phùn từ độ cao 250 bộ Anh, phe ta đứng ngó một chút rồi đi chớ không leo núi để đến đỉnh thác nước. Thác Bridal Veil (Voan Cô Dâu?) phải đi một quãng ngắn vào rừng mới thấy mặt. Thác không cao lắm nhưng ở đây sương mờ mờ, giòng nước đổ phía sau màn sương, hẳn vì sương mù nên mặt “cô dâu” mới mờ mờ ảo ảo? Người đặt tên thác hẳn có tâm tình khá nghệ sĩ và một trí óc tưởng tượng phong phú vô cùng?

    Phe ta bỏ qua thác Wahkeena và lái xe đến Multnomah, ngọn thác chính cao 642 bộ Anh.

    Thác Multnomah:

    [​IMG]

    Đây là ngọn thác cao nhất của Oregon, Dế Mèn leo khoảng 1 dặm và đứng trên cầu ngó thác đổ, nước từ trên núi chảy ào ạt… Như tình yêu thác đổ mạnh đổ liều…Thác nước mà cũng biết liều lĩnh, bất cần và bất cẩn? Vì cuối cùng nước cũng ra sông ra biển?

    Thác Đuôi Ngựa (Horse Tail) đổ với giòng nước tỏa ra nhiều nhánh có hình ảnh của chùm đuôi ngựa nên thành tên?! Sau thác Đuôi Ngựa, phe ta đi một mạch đến Hood River, chỉ ngoảnh lại ngó qua Bonneville Dam, đập nước xi măng được xây năm xưa để ngăn nước sông. Thôn làng Hood River nhỏ xíu, có vài con đường và quán ăn, những của tiệm bán các món thổ sản như đèn cầy chế tạo bằng sáp ong, mứt trái cây nhất là một vài loại dâu như raspberry, blueberry.

    Dế Mèn ngừng ở một Bistro nhỏ trên đường số Sáu, ngoài cửa có một bụi artichaud, búp lá có những nụ hoa tím nhạt, hình như người ta trồng làm kiểng thay vì thức ăn? Bữa ăn trưa trong quán vắng, Dế Mèn vừa ăn vừa ngó ra mặt sông loang loáng ánh nắng. Hood River có hình ảnh của một thôn làng miền biển, những con tàu nằm san sát trên bến. Không thấy mấy ai giỡn sóng ngoài kia. Mùa hè thường là những ngày bận rộn với du khách, không hiểu sao nơi này vắng vẻ như thế? Cơn sốt xăng dầu và nền kinh tế mệt mỏi đã ảnh hưởng đến những ngày mùa hè rong chơi và người ta không còn bình thản đủ để rong chơi nữa trước viễn ảnh không mấy tươi sáng của những ngày sắp tới?

    Phe ta theo đường 35 để đến Mt. Hood, trên bản đồ Troutdale, Hood River, Mt Hood là một con đường hình tam giác. Nhìn từ xa, đỉnh Mt Hood tuyết phủ trắng xóa, giữa mùa hè trời trong mây cao, đỉnh núi kia trông hiên ngang nhưng quạnh quẽ cô độc làm sao!

    Từ xa lộ chiếc xe ì ạch đưa phe ta lên núi, đúng là mấy dặm sơn khê, không biết ông nhạc sĩ năm xưa muốn gửi gấm cái chi qua tựa đề của bài hát kia, nhưng leo núi thế này thì Dế Mèn thấy khá … nhiêu khê (?).

    [​IMG]

    Đến chân núi thì ta thấy khách sạn lớn nhất trong vùng, Timberline Lodge nằm ở độ cao 6,000 bộ Anh. Quán trọ xây từ năm 1930 sau cuộc khủng hoảng kinh tế, nhằm mục đích tạo công việc làm. Toà nhà xây bằng đá và những tảng gỗ rất lớn, bên trong trang trí bằng những đồ vật có khuynh hướng “Art-and-Craft” nghĩa là những món đồ vật do nghệ sĩ địa phương chế tạo, cái bàn cái ghế bằng thân cây sần sùi, trông khá lạ mắt. Đây cũng là một nơi dừng chân để thuê mướn các dụng cụ trượt tuyết, từ giày đến ski đến snow board… Nếu bạn yêu hình ảnh ngọn núi tuyết phủ và thích những món thể thao trượt tuyết, Timberline Lodge là chốn nghỉ chân lý tưởng.

    Dế Mèn ghé tiệm bán quà kỷ niêm mua cái kính mát, hôm rời nhà quên không mang theo, ánh nắng phản chiếu trên mặt tuyết nhức nhối hai con mắt, chẳng lẽ cứ nhắm tịt mắt lại? Gió lồng lộng, phe ta da nổi gai mỗi lần gió nổi.

    Từ chân núi, phe ta nhìn quanh, những đồi cỏ trọc trổ vài bụi hoa tím trơ trọi, Dế Mèn không biết tên nhưng đoán là loại hoa này khá cứng cỏi, chịu được cái lạnh khô của miền núi, lại chẳng có nước nôi chi ráo, chỉ có ánh nắng mặt trời chói chang trên đầu.

    Đến chân núi, Dế Mèn mới thấy một đám người trẻ tuổi đang xuống núi bằng những tấm bảng trượt tuyết, snow board. Không biết họ có leo đến đỉnh núi 11,235 bộ Anh kia không? Dế Mèn không thấy những chiếc xe kéo (ski lift) nhúc nhích chi cả nên cứ hỏi thầm, chẳng lẽ mấy cô cậu kia đi bộ lên núi với bây nhiêu đó thứ dụng cụ trên mình? Nội đôi giày không đã cả gần chục cân Anh!

    Dế Mèn cũng… đứng núi này trông núi nọ, từ Mt Hood phe ta quay lưng để ngó Mt Jefferson, đỉnh núi bên kia cũng tuyết phủ trắng xóa, không biết đi bao nhiêu xa mới đến nơi? Tầm mắt có thể lang thang không mỏi mệt chứ hai cái chân mà lang thang thì cứ đi hoài đi hoài, thấm thía nỗi bao la mà chưa chắc đã đến?

    Quay qua quay lại, một vòng Columbia River Gorge – Mt Hood là hết một ngày nắng óng ả, về lại thành phố là vừa tàn buổi chiều. Dế Mèn ăn tối, vừa ăn vừa xem DVD của Asia, Những Lá Thư Từ Chiến Trường, những lá thư ấp ủ bởi người tình, người vợ, theo nhau đường dài cả nửa thế kỷ, mối tình của họ hẳn là rất đẹp, như lá thư của Thiếu Úy Lê Minh Đảo từ Fort Benning tại Georgia, Hoa Kỳ gửi "Mademoiselle Mộng Huyền". Dế Mèn nhìn ngắm Xướng Ngôn Viên Thùy Dương với chiếc răng khểnh xinh quá xá là xinh, người đẹp nói tiếng Anh theo giọng Úc.

    Đêm về giấc ngủ có vài cơn mơ ngắn, trong cơn mơ Dế Mèn đi xem đại nhạc hội đâu đó ở Saigon, ca sĩ Lệ Thu hát Biển Nhớ… biển nhớ tên em gọi về…, biển nhớ chứ không phải ta nhớ? Hay tác giả muốn kể lể nỗi nhớ mênh mông vô bờ như biển cả?

    Buổi sáng phe ta thức sớm để ra phi trường đi Vancouver, ly cà phê Starbucks khiến Dế Mèn tỉnh như sáo sậu, vừa đọc điện thư vừa lượn sóng trên mạng ảo. Chuyến bay ngắn 55 phút từ Portland đến Vancouver, nhưng thời giờ chờ đợi thì thêm 2 tiếng nữa!

    Từ phi trường phe ta ra bến phà để qua đảo Victoria, tên gọi đầy đủ là Victoria BC hay British Columbia. Đến đây thì Dế Mèn lại tò mò, hổng biết cái danh tự “Columbia” kia có cái chi quan trọng mà người ta túm chặt lấy nó? Washington DC, District of Columbia, và đến đây lại có “BC”. Ông Colombos được đặt tên để ghi nhận công thám hiểm? Hay còn lý do nào khác?

    Dế Mèn mầy mò tìm tài liệu xem tại sao chữ “Columbia” phổ thông như thế, bây giờ mách lại với bạn đây. Từ những năm lập quốc, 1776, tổ tiên người Hoa Kỳ đã muốn dùng danh tự này làm quốc hiệu thay cho cái tên dài thoòng mà ta biết ngày nay, the United States of America.

    Phe ủng hộ cho rằng “Columbia” vừa ngắn gọn vừa nên thơ (poetic?). Danh tự Columbia bắt nguồn từ tên họ “Colombos” của nhà thám hiểm Christopher Columbus (viết theo Anh ngữ), và chuyển theo mẫu hệ là “Columbia”, danh từ giống cái. Thủa ấy, hầu hết mọi quốc gia Âu Châu đều có tên theo hệ thống danh tự La Mã, “tổ quốc” (trừu tượng?) có hình ảnh người cha, “đất” là hình ảnh “mẹ”, dùng chữ gốc La Tinh cho một cái tên thứ nhì, sử dụng một cách trang trọng và trong văn chương để nói đến một quốc gia. Pháp (France) còn có tên La Tinh là Gallia; Thụy Sĩ (Switzerland) là Helvetia; Ái Nhĩ Lan (Scotland) là Caledonia…và là những cái tên đầy nữ tính. Với tổ tiên người Hoa Kỳ, danh tự Columbia cũng nằm trong truyền thống này.

    Phe chống đối chọn danh tự "United States" để chỉ sự liên hợp giữa các tiểu bang trong thời lập quốc, phần khác ngầm nhìn nhận hai ông John và Sebastian Cabot là hai nhà thám hiểm tìm ra châu Mỹ thay cho ông Christopher Columbus. Ông Columbus gốc Ý, đi lang thang tìm đất mới dưới sự bảo trợ của hoàng gia Tây Ban Nha, nên đất đai tìm thấy đều mang danh hiệu của Tây Ban Nha. Khi người Hoa Kỳ nổi dậy dành độc lập, những gì dính dáng đến hoàng gia Anh như hai ông Cabot đều là hình ảnh đối nghịch, nên tên tuổi không được nhắc nhở đến.

    Thế rồi Hiến Pháp Hoa Kỳ ra đời, và quốc hiệu của vùng đất mới này là the United States. Tuy thế, nhưng người Mỹ vẫn dùng danh tự Columbia trong văn chương để chỉ những gì từ Hoa Kỳ (from the USA) và ngay cả thủ đô Washington cũng được gọi là “đất của Columbia” (hay “District of Columbia”). Tên Columbia cũng được sử dụng rất nhiều: Columbia River ở miền Tây Bắc, thủ phủ Columbia của tiểu bang South Carolina, Đại Học Columbia tại New York (đổi tên từ King’s College dưới thời thuộc địa cuả Anh).

    Năm 1858, bà Victoria, Nữ Hoàng Anh, chọn cái tên “British Columbia” để đặt cho vùng đất phía Tây của Canada, hẳn là có ý “vơ vào” nhưng thòng thêm chữ “British” cho chắc ăn? Đến khi “Republic of Columbia” trở thành quốc hiệu của một quốc gia Nam Mỹ thành hình năm 1886, thì người Hoa Kỳ hầu như ngưng dùng danh tự này để chỉ quốc gia họ.

    Bây giờ thì Dế Mèn hết tò mò về chữ "Columbia"!

    Victoria, Canada

    Trở lại với British Columbia. Phà lênh đênh trên mặt biển gần 2 tiếng, rồi cặp bờ. Phe ta vào thành phố, con đường chính Douglas dài thòng, hai bên phố xá hổng có chi. Khách sạn nằm trước bờ biển, inner harbor, chỉ cách một con đường trước mặt, giữa khu phố thương mại. Chung quanh là viện bảo tàng BC, tòa nhà Quốc Hội (Legislative Building, còn có tên là Parliament Building) nằm xéo bên đường, công viên Thunderbird, những ngôi nhà lịch sử của thành phố, St Ann’s School, Helmcken’s House, công viên Beacon Hill… đều đi bộ trong vòng năm, mười phút là đến nơi.

    Quán trọ:

    [​IMG]

    Đêm đầu ở Victoria, Dế Mèn ngủ trên tàu để sáng sớm ra biển xem cá voi giỡn sóng. Phe ta mở hé cửa sổ để ngửi mùi rong mùi muối. Biển êm những lượn sóng vỗ nhẹ hai bên sườn tàu, tiếng sóng vỗ đều đều một nhịp nhỏ nhẹ nên cơn buồn ngủ đến khá nhanh.

    Đêm dài những cơn mơ đứt quãng ngắn ngủi nối tiếp nhau; có cơn mơ bồng bềnh theo nhịp sóng, lúc cao lúc thấp, biển đưa những nhịp võng nhịp nhàng nên giấc mơ cũng…đong đưa như thế, lúc gần lúc xa? Dế Mèn chưa biết cách bắt nhịp nên chưa níu được giấc mơ của mình, sáng dậy cứ tiếc ngẩn ngơ.

    Buổi mai biển thức sớm, nắng chan hòa ngoài khung cửa, nước xanh ngắt một màu trời. Hôm nay trời không có mây phe ta chỉ thấy mặt trời cau có những mảng nắng gắt gỏng. Dế Mèn nằm ườn trên giường mãi mới chịu mở mắt nhìn đồng hồ, sáu giờ sáng ở Thái Bình Dương! Nửa trời Tây mặt trời thức giấc muộn 3 tiếng, giờ này khi ở nhà Dế Mèn đã uống xong cà phê và sửa soạn đi làm.

    Con tàu ra khơi, và phe ta chờ ngắm cá voi giỡn sóng, ngóng mãi mới thấy một con cá quẫy mình, đuôi đưa lên trời như cái rẽ quạt, người ta bảo là chữ V “Victoria” chiến thắng. Một vài người đồng hành bình phẩm, sao không thấy cá voi từng đàn như trong… quảng cáo?! Mấy con cá voi chắc mải chơi đi vắng chốn nào nên hổng chịu trình diện. Mèng ơi, chim trời cá nước, làm sao mà biểu tôm cá chạy về múa hát cho ta xem nếu muốn đi tìm thiên nhiên? May quá ít ra công ty du thuyền này không dùng cái trò thả cá mới giết xuống biển, mùi máu sẽ rủ những con cá voi tụ tập chung quanh cho khách thưởng ngoạn. Một hình thức dùng mồi ăn để dụ dỗ nhưng cũng tạo cho những con cá voi kia cái thói quen thấy tàu bè là tưởng thức ăn nên sẽ tấn công con người!

    Ngắm biển cả một lúc thì phe ta chạy về phòng, Dế Mèn yêu biển cả từ xa, đến gần để giỡn sóng chớ lên tàu là say sóng, chịu không đặng cảm giác chòng chành, bấp bênh và gan ruột cứ chạy tuốt lên miệng! Ôi chao là khó chịu. Trong bụng có cái chi là chạy hết ra ngoài, từ cà phê rồi đến nước chua. Thế là hết chuyện ngắm cá voi. Phe ta nằm bẹp trong phòng cho đến khi tàu cặp bờ, về đến khách sạn mới hết chóng mặt quay cuồng, thân thể Dế Mèn mềm oặt như cái mền rách!

    Tỉnh táo một chút là Dế Mèn bò dậy đi bộ ngắm phố xá. Bây giờ đang là mùa du ngoạn mà không thấy Victoria bận rộn cho mấy.

    Khu thương mại của thành phố nằm trên mấy block đường, trước mặt bờ biển là đường … Bờ Biển (Wharf Road), song song là đường Gouvernment, tiếng Anh viết theo kiểu Ăng Lê, và đường Douglas. Hầu hết hàng quán đều nằm trên hai con đường chính này. Đi bộ chừng 1 tiếng là ta có thể nhìn thấy gần hết phố xá của Victoria. Nhìn chung chung, thành phố rất sạch sẽ, cái ngăn nắp sạch sẽ vén khéo của người Thụy Sĩ, người Đức. Tòa nhà nào cũng vườn tược thẳng tắp, hoa từng thảm khắp nơi, và những lá phong đỏ trên cờ hiệu và cờ Ăng Lê phất phới. Victoria có hình ảnh của một thành phố Âu Châu tân thời với những ngôi nhà xây đầu thế kỷ thứ 20, theo kiến trúc kiểu Victoria, nhìn bên ngoài rất đẹp mắt, những vòm tròn (tourret, gable), mái nhọn và hiên nhà (porch) bao quanh sân trước. Bên trong phòng ốc thường bị cắt thành từng mảnh nhỏ nên không thực dụng cho lắm theo ý riêng; ít ra theo cách sống ngày nay, và Dế Mèn lại thích kiểu nhà “open floorplan”, nghĩa ít tường vách bên trong.

    Theo lịch sử, Thuyền Trưởng James Cook của Hải Quân Hoàng Gia Anh là người đầu tiên đặt chân đến vùng đất này năm 1778. Từ đó, từng nhóm người Anh di dân đến đây theo chân ngành săn thú lột da (fur trade). Năm 1843, ông James Douglas và linh mục công giáo JBZ Bolduc chính thức đậu thuyền tại Clover Point, mở đầu việc xây cất một cơ sở trú chân và buôn bán, và được đặt tên Fort Victoria theo Nữ Hoàng Anh đương thời. Ông James Douglas là chủ công ty Hudson’s Bay Company và được xem như người "cha" của thành phố.

    Victoria phát triển theo cơn sốt tìm vàng năm 1858, và trở thành hải cảng chính của các vùng đất thuộc địa Vancouver Island và British Columbia. Khi các vùng đất được gom chung, British Columbia trở thành một phần của Canadian Confederation năm 1871, thành phố trở thành thủ phủ (provincial capital) của Vancouver Island. Trong suốt thế kỷ thứ XIX, Victoria giữ vai trò quan trọng về thương mại hàng đầu và là thành phố lớn nhất của British Columbia, cho đến khi đường xe lửa Trans-continental bắt đầu hoạt động thì việc chuyên chở bằng đường thuỷ không còn quan trọng nữa, Victoria bị Vancouver qua mặt cái vèo.

    Nhường chỗ làm ăn buôn bán cho Vancouver, Victoria trở thành một thành phố du lịch, và là một địa danh thu hút những người quen thuộc với văn hóa Ăng Lê, từ Úc, Tân Tây Lan, Hồng Kông đến người Anh chính gốc từ Âu Châu. Thành phố có khoảng 326 ngàn dân cư, và vô số quán ăn, quán rượu, phần lớn là những quán bia (pub) nặng hơi hướng của Ăng Lê.

    Từ quán trọ, Dế Mèn ra phố, bên kia đường là tượng Thuyền Trưởng James Cook đứng quay lưng ra biển.

    [​IMG]

    Nhìn qua bên tay phải xa xa là toà nhà Quốc Hội. Quán trọ Empress và tòa nhà Quốc Hội là hai kiến trúc lớn nhất của thành phố và cũng là nơi để du khách đến dòm! Dế Mèn ngó quanh hổng thấy có chi đặc biệt vì lỡ so sánh với các kiến trúc khác của Âu Châu, cổ hơn và nguyên thủy hơn. Phe ta chỉ dám nói riêng với bạn và nói lén ở đây chớ hổng dám nói cho người Victoria nghe, e rằng họ sẽ buồn lòng, bạn à!

    Parliament Building:

    [​IMG]

    Quán trọ có phòng ăn cứ mỗi chiều là có bữa Trà, không phải chỉ uống trà, dĩ nhiên là các loại hồng trà mà người ta gọi là English tea, mà còn có bánh ngọt đủ loại, phần lớn là cookie, loại bánh từng tấm bằng nửa bàn tay, mỏng và giòn. Muốn uống trà ta phải lên quần lên áo đàng hoàng chớ hổng được diện quần jeans áo thun vô phòng ăn. Dế Mèn thấy nhiêu khê quá nên bỏ qua luôn. Mèng ơi, uống trà mà phải khăn đóng áo dài, trịnh trọng như đi lễ? Chẳng biết trà và bánh ngon cỡ nào mà mất công quá nên Dế Mèn lắc đầu hổng ham!

    Ngay trong quán trọ còn có phòng triển lãm vật dụng thu nhỏ, miniature, từ người đến cảnh đều là những vật tí hon, đường rầy xe lửa, phòng ăn, phòng khách, hầm bà lằng đủ mọi thứ. Xem khoảng nửa tiếng là đủ, và người ta bán vé 12 tiền Canada!

    Cũng bên tay phải của quán trọ là viện bảo tàng Royal British Columbia, ở đây có một bộ sưu tập hình ảnh và một số cổ vật về người địa phương, những người da đỏ có mặt trước khi Thuyền Trưởng James Cook cặp tàu và đánh dấu xí chỗ cho hoàng gia Anh.

    Bên ngoài viện bảo tàng là Thunderbird Park, một số những Totem Poles, những thân cây cao cả chục thước, chạm trổ những hình nhân và Thunderbird, một loại chim trong huyền thoại của thổ dân địa phương.

    Thunderbird Park:

    [​IMG]

    Cạnh những cây cột gỗ là hai di tích của thành phố, di tích thứ nhất là Helmcken’s House. Đây là căn nhà của Bác Sĩ Helmcken, thày lang đầu tiên của thành phố, từ Anh theo tàu sang xứ thuộc địa để mở phòng mạch chữa bệnh. Căn nhà bắt đầu là một phòng nhỏ khoảng chục thước vuông, sau đó nới rộng dần dần, đến lần thứ ba thì ngưng. Bên trong trưng bày văn bằng của ông bác sĩ cấp phát từ Craig Hospital bên Luân Đôn cuối thế kỷ thứ XVIII; có cả một tủ kính đặt những dụng cụ Y khoa, từ cái cưa, cái kềm đến dao mổ và nguyên cả một rương thuốc men!

    Di tích thứ nhì là trường học đầu tiên của vùng đất phía Tây Canada, St Ann School, có hai cửa, một bên dành cho con gái, một bên dành cho con trai! Ngôi trường là một căn nhà chút xíu với chừng chục hàng bàn ghế! Vào những năm trong thế kỷ thứ XVIII mà con gái được đi học là điều làm Dế Mèn khá ngạc nhiên.

    Victoria cũng có phố Tàu, những người phu được tuyển mộ để làm đường xe lửa. Phố chính là hai bên đường Fisgard, chừng chục cửa tiệm, tiệm ăn và tiệm bán quà lưu niệm và cả chợ. Dế Mèn mua một ít trái cây đem về khách sạn, chôm chôm khá ngọt. Lần đầu Dế Mèn thử loại vải “không hột”, seedless King’s lychee, cơm dày và mọng nước rất ngọt, thực ra cũng có hột nhưng hột nhỏ xíu! Phe ta ăn tối ở phố Tàu, thử món cá hấp gừng và nước tương. Cá tươi nên ngọt thịt và không tanh.

    Butchart Garden nắm bên ngoài thành phố, khoảng 15 dặm, đây là một khu vườn khá lớn do bà Jennie Butchart vợ tài phiệt James Butchart làm giàu bằng xưởng chế tạo xi măng. Khu đất rộng được chia thành nhiều khu vườn khác nhau, khu vườn nào cũng được chăm sóc tỉ mỉ cẩn thận. Đây là một bức tranh nhiều màu sắc của hoa cỏ. Tuy cây cỏ ở đây không là những loại hoa hiếm có, kỳ hoa dị thảo, nhưng sự vén khéo khiến những khu vườn mát mắt, nhất là hoa lá to gấp ba bốn lần hoa lá đồng chủng ở những nơi khác. Phe ta cứ ngẫm nghĩ không biết người ta có dùng loại phân bón đặc biệt nào không, một thứ nội tiết tố tăng trưởng?

    [​IMG]

    Khi núi đá bị phá để làm xi măng, lỗ hổng khổng lồ được bà Butchart biến hình đổi dạng thành khu vườn ngày nay có tên là “Sunken Garden”.
    Japanese garden có một cái hồ con con, một loại “wishing well”, Dế Mèn liệng xuống một đồng tiền mới keng và hỏi có thành công không. Đồng tiền rơi xuống hồ có mặt Nữ Hoàng Elizabeth, phản chiếu ánh nắng lấp lánh như hy vọng!

    Phe ta lang thang ở đó khoảng 2 tiếng rồi trở lại thành phố, đi lanh quanh là hết buổi sáng. Buổi chiều phe ta ra phố, dừng chân ở quán cà phê tại Bastion Square ngó người qua lại, rồi ghé Market Place. Hàng quán vắng vẻ.

    Trong thành phố ở góc đường Langley có quán Little Saigon, bán cơm Việt Nam, Dế Mèn đọc bài quảng cáo thấy nói đây là quán ăn Việt đoạt giải Nhất năm năm liền từ 2003. Dế Mèn gọi món hủ tíu Nam Vang, sợi hủ tíu trong và dai như hủ tíu Mỹ Tho nhưng nước dùng là nước phở; ăn là lạ! Thịt và tôm kho tộ ăn với cơm trắng, trên mặt tô cơm rải hành lá và hành khô chiên.

    Buổi sáng, phe ta đi bộ khoảng 20 block đường để xem Craigdarroch Castle. Trên đường Fort, còn có tên là Antique Road, có rất nhiều tiệm bán đồ "cũ" chứ không phải đồ "cổ", Dế Mèn đếm được ít nhất là 3 quán ăn Việt Nam, Phở Vy, Phở Hòa đối mặt nhau, xa thêm vài block là quán Saigon Night, chủ quán Thủy Nguyễn treo bảng thông báo nghỉ hè một tháng! Dế Mèn đoán là quán ăn này đắt khách địa phương nên đóng cửa nghỉ hè cả tháng giữa mùa du lịch bận rộn.

    Lâu đài Craigdarroch, có nghĩa là tòa nhà gỗ sồi (oak) và đá theo tiếng cổ Ái Nhĩ Lan hay Gaelic, xây năm 1890, một vùng đất rộng 28 mẫu đất trên ngọn đồi cao nhất của Victoria. Tòa nhà bốn tầng, bên ngoài là đá, bên trong tường vách bọc gỗ sồi (wood paneling) chạm trổ của tài phiệt Robert Dunsmuir, làm giàu qua kỹ nghệ than đá, một trong những người giàu có nhất Canada thủa ấy. Ông Dunsmuir mất trước khi tòa nhà hoàn tất, bà vợ sống trong tòa nhà cho đến khi qua đời năm 1908. Gia đình này không mấy êm ấm, ông con là Thủ Tướng của Canada nhưng bị bà mẹ đưa ra tòa trong việc tranh chấp tài sản. Sau khi bà Dunsmuir mất, con cái chẳng ai muốn giữ tòa nhà nên đem bán đấu giá. Chỉ có những người mua đồ đạc trong nhà chứ chẳng ai muốn cáng đáng tòa nhà này nên gia tộc đem tặng cho thành phố. Từ đó tòa nhà trở thành một nhà thương quân đội, trường đại học, văn phòng của hội đồng giáo dục của thành phố, sân khấu âm nhạc và sau cùng, một viện bảo tàng như ngày nay.

    Craigdarroch Castle:

    [​IMG]

    Tòa nhà bề thế, tường vách lát gỗ từ nền nhà đến trần nhà nên tối tăm và có vẻ nặng nề. Dế Mèn đứng ở chân thang, ngỏng cổ ngó lên trần nhà và chụp được tấm ảnh này, chỗ nào cũng thấy ...gỗ!

    Dế Mèn dòm quanh cho biết ngày trước các tài phiệt tiêu xài tiền bạc ra sao, tò mò một chút rồi thôi, rồi ra về hổng mấy hăm hở về tòa nhà ấy. Từ tầng cao nhất, cửa sổ nhìn ra rặng Olympic tuyết phủ, khá đẹp, mây mù bao quanh đỉnh núi tựa lưng nền trời xanh thẳm một màu.

    Trên đường về Dế Mèn ghé phở Vy ăn phở cho biết mùi phở Victoria, cô bé dọn bàn nói tiếng Việt giọng miền Nam vui vẻ dễ chịu, mời phe ta ăn thử món gỏi đu đủ. Mèng ơi, gỏi đu đủ thì có chi đặc biệt mà mời hay là ở Victoria, người ta không ăn đu đủ nên món này lạ miệng? Dế Mèn định hỏi thêm mà thấy cô bé bận bịu quá nên thôi. Giờ ăn trưa nên quán ăn đông khách. Phe ta ngồi ở cửa sổ ngó ra đường, vừa ăn vừa nhìn ông đi qua bà đi lại. Không biết quán Phở Hòa bên kia đường có dính dáng chi đến công ty Phở Hòa ở Hoa Kỳ không?

    Buổi chiều Dế Mèn ra biển ngó quanh, thuyền nằm trên bến không nhúc nhích, mùa hè mà sao ở đây hổng rộn ràng chút nào, hẳn tại kinh tế ảm đạm chứ chẳng lẽ chỗ nghỉ mát mà lại vắng như chùa bà Đanh thế này thì buôn bán làm sao? Nhất là cả ngàn quán ăn quán rượu trong thành phố? Người Victoria quảng cáo rằng họ có rất nhiều quán ăn, ở mật độ cứ khoảng chục người dân là có một quán ăn. Dế Mèn không đi quanh mà đếm nên không biết chắc là có bao nhiêu hàng quán, nhưng Victoria có nhiều nhà thờ lắm bạn à, cứ vài góc phố là một nhà thờ, từ Thiên Chúa giáo đến các nhà thờ Tin Lành.

    Beacon Hill không xa quán trọ mấy, phe ta ra công viên tìm cái cột Totem Pole cao nhất thế giới, 127.5 bộ Anh dựng năm 1956 và cái cột gỗ đàn hương ấy trông như thế này, Dế Mèn đứng dưới chân cột dang tay chụp hình.

    Quán cà phê ở đây thường thấy là quán Blenz, Starbucks cũng có mặt, và cà phê Starbucks quả là có phần thơm hơn và đậm đà hơn. Cái món cà phê này thì hình như người Canada uống theo mùi vị (nhạt thếch) của Hoa Kỳ, hổng phải mùi vị Âu Châu, bạn ạ! Dế Mèn tìm ra một lò bánh mì, boulangerie & patisserie, treo cờ tam tài của Tây, croissant và pain au chôcolat nhẹ phần bơ nên khô và không sốp như những cái bánh bên Tây, cả bánh mì baguette cũng không thơm bột mì với vỏ cứng bên ngoài. Tây di dân sang đến Victoria cũng phải đổi mùi vị chăng?

    Thế là hết ba ngày ở Victoria, hôm sau phe ta lên phà trở lại Vancouver. Thành phố hiền lành yên tĩnh, mang cá tính của Anh, một mảnh Ăng Lê ở một nơi xa xôi, rất rõ ràng khó mà nhầm lẫn về ảnh hưởng của những ngày thuộc địa xưa cũ.

    Buổi sáng từ giã Victoria trời mát lạnh âm u mây mù. Mấy hôm lang thang từ Portland đến bây giờ hôm nào trời cũng đẹp, đi chơi gặp những ngày đẹp trời, ai cũng biểu Dế Mèn “hên” quá xá, chứ lặn lội qua đến đây, trời lại mưa hiu hắt chẳng đi đâu được thì chán lắm!
  11. [​IMG]






    ::: Đỉnh Núi Sương Mù :::

    Dế mèn đến đây đêm thứ Năm, chuyến bay chật cứng hành khách rời miền Đông Bắc trễ hơn 1 tiếng. Sao bây giờ đi đâu cũng trễ nải, lần nào lên máy bay cũng phải tính thêm vài tiếng trừ hao. Một ngày làm việc như kéo dài thêm vài tiếng nữa. Và sự chờ đợi nào cũng bứt rứt bất an kể cả chờ giờ cất cánh của một chuyến bay đêm. Hình như sự chờ đợi làm ta mỏi mòn và mệt mỏi?

    Đến nơi, lại... chờ, lần này thì chờ hành lý vì ta chẳng mang được thứ gì trong hành lý xách tay. Trên những chuyến bay nội địa, hãng hàng không chẳng cung cấp những lọ kem dưỡng da nho nhỏ, những tube kem đánh răng... như những chuyến tàu viễn liên, dù ta cũng nhàu nhĩ như nhau sau 5-6 giờ bay. Không khí trong thân tàu lạnh và khô, tay và môi dế mèn khô cứng, viền môi có những kẽ nứt khó chịu. Trong bóng tối nhá nhem cuối ngày, dế mèn không nhận ra cảnh vật hai bên đường, Portland xa lạ như tất cả mọi thành phố chỉ ghé một lần, dù trên bản đồ ở bàn giấy, dế mèn vẽ một khoanh tròn đánh dấu những nơi đã đến. Mười bảy năm rồi còn gì, thành phố thay dạng đổi hình khá nhiều. Những trụ đèn hắt ánh sáng vàng vọt đủ để nhìn ra những sợi mưa lất phất. Gió heo hút lạnh, mưa lúc đi, mưa khi đến. Mưa Đông Bắc ào ào giận dữ, mùa xuân mà ở đó còn khá lạnh, cái lạnh khô se sắt. Mưa Tây Bắc nhỏ nhẹ nhẫn nhịn, nhưng cái lạnh như thấm sâu đến xương, trời ẩm ướt khó chịu. Dế mèn khoác 2 cái áo mà vẫn run trong khi MC đi đón chỉ phong phanh một cái áo lạnh mỏng. Con bé hỏi dế mèn có lạnh không, thay vì trả lời dế mèn xoa hai bàn tay lạnh giá lên má MC, con bé ré lên cười chê dân miền Đông Bắc dở như hạch!

    Mới có 2 năm mà MC đã khác, con bé lớn hẳn lên, nói năng đĩnh đạc như người lớn, những mẩu chuyện trên xe làm dế mèn bùi ngùi. Không hiểu sao trẻ con bây giờ lớn nhanh quá, sự ngây thơ biến lẹ như bóng mây. Ngày bằng tuổi nó, dế mèn còn thích mấy thứ "lẩm cẩm" gấu bông, hoa khô, lá khô... MC muốn đi học xa nhà cả một chiều ngang nước Mỹ, còn hơn 2 năm nữa mà con bé đã tính toán đến phiếu điểm SAT, đã nghĩ đến những trường học ở Boston. Dế mèn đùa với MC rằng hai cô cháu cắp cặp đi học cùng lúc nên sẽ kiếm cách vào trong ký túc xá chung phòng với nó mỗi lần dế mèn qua Boston! Con bé hào sảng ừ liền, có lẽ dế mèn "cool" hơn ba má nó chăng?

    Đêm đầu ở Portland, dế mèn trằn trọc mãi đến gần sáng mới chợp mắt. Ngủ được hơn một tiếng thì văn phòng đi tìm. Từ đó, cơn nhức đầu kéo dài đến trưa. Dạo này dế mèn hay nhức đầu, cứ phải dùng Tylenol liên miên, mua cổ phần của hãng bào chế thuốc nhức đầu coi bộ có lý!

    Buổi sáng thứ Sáu, người ta dự đoán là sẽ có nắng, thế mà mây cứ âm u xám xịt một màu chì, trời nặng như sắp sửa bắt đầu một cơn khóc lớn. Nhà anh Huy nằm trên đồi, cửa sau mở ra một sân thượng nhỏ, xa xa là những đồi thông chập chùng, và cả đỉnh núi, ngọn Mount Hood. Đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa, hơi khói mờ mờ, có hình ảnh của ngọn Phú Sĩ trong sương, nhưng ngọn Mount Hood có vẻ nhọn hơn. MC chụp cho dế mèn mấy tấm ảnh, chuyến đi này dế mèn sửa soạn 2 mùa quần áo, lại thêm áo dài áo ngắn lỉnh kỉnh nên bỏ quên khá nhiều thứ kể cả máy ảnh, thật là vô duyên. Dế mèn phải chờ phó nhòm gửi hình mới được xem Mount Hood trong sương mù qua ống kính, chẳng biết có đẹp như hình ảnh trong trí nhớ của mình không.

    Ăn sáng xong, phe ta rủ nhau đi quanh. Portland thay đổi quá xá, hình ảnh thầm lặng năm nào bây giờ hoàn toàn biến dạng, cũng những tòa nhà nhiều tầng dọc hai bên xa lộ như những thành phố bận rộn khác. Rồi phe ta "xuống phố", Portland đã có xe điện, và người ta đang đặt những đoạn đường rầy ngang dọc, sửa soạn cho những chuyến metro như một phương tiện di chuyển như những thành phố Âu châu để mai này khi dân cư đông đúc hơn, nhà cửa nằm khít bên nhau, thì xe hơi không còn chỗ để nhúc nhích nữa. Ít ra người ta cũng dự tính và sửa soạn cho ngày mai, và Portland hình như có những nhà thiết kế đô thị biết tính toán, không tiện đâu xây cất đó, bừa bãi lộn xộn như một vài thành phố khác.

    Phe ta ghé thăm Vườn Hồng, người ta nói rằng, ở đây trồng hầu hết mọi loại hoa hồng có mặt trên thế giới, cỡ 600 chủng loại khác nhau (?). Dế mèn đến đây sớm quá, vườn hoa chỉ mới là những bụi lá nõn, chưa cây nào kết nụ. Dế mèn quả là vô duyên với hoa lá, đi tìm hoa nở vào mùa, lần nào cũng lỡ chuyến! Tuần trước thì lỡ mùa hoa đào ở Washington DC, trễ đâu mất 3 ngày, trời lạnh quá, lại mưa gió nữa nên khi đến nơi, dù lịch sách vẫn bảo là mùa hoa nở (Cherry Blossom Festival) thành phố lại còn tổ chức cả một buổi hoa đăng nữa, vậy mà chẳng còn mấy cánh hoa đào! Nhắc chuyện hoa đào, dế mèn nhớ năm ngoái cũng tính ngày để đi ngắm hoa đào Phù Tang, đến nơi mùa hoa cũng vừa sang! Mèng ơi, mùa hoa nào cũng... lỡ, chắc phải có Duyên chi với đất trời mới được ngắm nhìn vẻ đẹp của Đất Trời vào lúc mãn khai? Cứ phải đuổi bắt thế này thì hoa mới thêm phần quyến rũ? Hay là dế mèn cứ bỏ quách cái ý muốn xem hoa thì mùa nào ta cũng an nhiên tự tại? Có hoa gì thưởng thức hoa đó, khỏi tìm khỏi kiếm mất công lăn lội lại chẳng lỡ làng thế này chăng? Hạnh phúc hình như cũng lúc ẩn lúc hiện như thế, chẳng tìm kiếm mà có Duyên thì nó cũng lù lù xuất hiện?

    Đến giữa trưa mặt trời mới chịu ra mặt, nắng vàng tươi. Cỏ cây ở đây xanh ngắt, chị L., bà chị dâu của dế mèn bảo rằng ở đây có những ngày mưa tối trời, dai dẳng không dứt, lúc nào đất trời cũng sướt mướt lem nhem. Chị bảo thành phố chung quanh Portland rất hiền nhưng buồn quá, trời mưa hoài nên hổng mấy vui. Mà dế mèn cũng thấy Troutdale, Gresham rất hiền, những khu vườn xanh mướt mắt, những sông những hồ. Tháng Tư nên trời ở đây còn lạnh, đất chưa khô nên vào thăm hồ cứ phải lội bùn nhão nhoẹt. Không khí trong lành hình như không vướng một hạt bụi.

    Buổi chiều dế mèn ghé thăm gia đình TA, nhà treo lưng núi, sân thượng mở ra thung lũng, Happy Valley, xa xa là thành phố. TA chọn cho mình và gia đình một tổ ấm xa thành phố để lúc cuối ngày có thể ngắm hoàng hôn cô tịch. Mấy cô cháu thử rượu vang địa phương, TA bảo rằng Portland trồng được những loại nho của vùng Burgundy bên Tây, nên rượu vang có vị rất gần gũi với rượu vang xứ Phú Lãng Sa. Pinot Noir địa phương của vườn nho Ken Wright khá ngon, đủ nồng (full body).TA mách cho dế mèn mấy vườn nho khác và hẹn khi trở lại, phe ta sẽ dành một ngày đi thử rượu vang như ở Napa Valley.

    Tối thứ Sáu, đại gia đình sum họp, dế mèn gặp lại những anh chị bà con của mình sau mấy chục năm, hình như chỉ có những dịp đám ma đám cưới mới đưa người ta đến gặp gỡ nhau? Mấy anh chị bà con không còn nhận ra dế mèn, bảo rằng khác lạ quá. Gia tộc đông người, lại xa cách về tuổi tác nên dế mèn không biết rõ những người thân của mình. Gặp lại chỉ biết cúi đầu chào hỏi mà không biết là ai, ông anh họ lớn tuổi bây giờ đã có dấu hiệu của bệnh mất trí nhớ. Anh T. ngồi một góc, cầm tay dế mèn mà hỏi cháu là con ai thế...Chao ôi là thời gian!

    Sáng thứ Bảy trời mưa tầm tã, vậy mà mấy ông thần thời tiết trên đài truyền hình dám bảo rằng trời sẽ nắng! Mấy chị em dế mèn kéo nhau đi thăm Mount Hood, MC và dế mèn lội bùn còn bà chị dâu và MU ngồi lại dưới chân núi, chờ xem hai cô cháu lội được bao xa. Leo núi chừng một tiếng thì phe ta bỏ cuộc, những màn mưa bay ngược khiến dế mèn leo núi mà cứ phải cúi mặt xuống đất, chẳng thấy gì trong màn nườc mù trời, gió lạnh quá xá. Mount Hood, đỉnh núi còn xa vời vợi, và sương dày như một tấm màn, dế mèn đi tìm đỉnh núi nhưng chẳng đến nơi, đường đi lại mưa mù không thấy cả chính mình, quả là vô duyên lắm. Xem hoa không được mà ngắm núi cũng chẳng xong. Đất Trời vô tình với dế mèn thế này thì cũng chẳng nên gượng ép nữa, phải không bạn?

    Dế mèn và gia đình đến đây dự đám cưới VA, cô út của anh H. Khi nhà trai đón dâu, dế mèn được trưng dụng vào việc vụ bưng nước. Mèng ơi, chắc dế mèn cái mặt bơ bơ nên bà chị dâu lớn dặn đi dặn lại, em nhớ tiếp đãi gia đình bà sui gia giùm anh chị. Biết mình dở nhưng anh chị đã giao việc, dế mèn hổng dám cãi. Trời, nhờ ai hổng nhờ, nhè cái người không thích nói mà bảo đi ngoại giao, trao trứng cho ác thế này chắc hư bột hư đường hết ráo! Nhà trai đón dâu, ra nhà thờ làm lễ cưới, bài giảng của buổi lễ làm dế mèn phì cười mà cắn môi không dám cười ra tiếng. Mấy ông cố đạo dặn dò cô dâu phải nhỏ nhẹ, nhường nhịn và giúp đỡ đức ông chồng, và nhắn nhủ chú rể phải thương yêu vợ mình (khoẻ re?) để có một gia đình hạnh phúc!

    Buổi tối ở nhà hàng ăn, giữa tiếng cười tiếng nói, dế mèn gặp lại thêm một số bà con họ hàng xa và bạn hữu của gia đình, dế mèn hẳn thay đổi quá nhiều nên không mấy ai nhận ra? Ai cũng lạ lẫm nên dế mèn không biết mở lời thế nào để thu nhỏ khoảng cách xa lạ ấy. Quê hương tạm dung rộng lớn quá, mỗi người tản mác một phương, khoảng cách không gian nối liền với khoảng cách thời gian nên tình thân cũng mòn mỏi theo năm tháng.

    Anh TCP mở đầu với bài Bây Giờ Tháng Mấy anh viết năm 18 tuổi, mấy chục năm rồi nghe lại, bài hát bỗng dưng tha thiết không ngờ. Dế mèn nhìn anh đứng hát hai con mắt nhắm hờ say sưa. Anh ấy hẳn sống lại một thủa hoa niên nồng nàn khi ngân nga những dòng nhạc xưa cũ. Anh H. nháy mắt với dế mèn trước khi nói lời yêu cầu anh TCP hát cái bài gì có con dế mèn. Ông nhạc sĩ phì cười bảo rằng biết rồi, Trên Ngọn Tình Sầu, có con dế buồn tự tử giữa đêm khuya. Ôi chao, con dế tự tử chắc phải cắn râu? Anh TCP hát tặng cô dâu chú rể bài Mãi Mãi Bên Em và bảo rằng lời hát tình tứ tha thiết, hai cháu chắc sẽ hát cho nhau nghe mỗi ngày và đến suốt đời... Nếu có điều gì vĩnh cửu được thì em ơi đó là tình yêu chúng ta...

    Sáng Chủ Nhật, dế mèn rời Portland qua LA cày cuốc, chuyến bay ngắn 1 tiếng 45 phút. Ngồi trong lòng tàu, dế mèn mơ màng ngủ gật, mơ thấy mình nắm áo bạn hiền hỏi có điều gì vĩnh cửu trong đời sống vô thường biến động? Đi tìm sự vĩnh cửu cũng phiêu lưu như khi leo núi, đỉnh núi sương mù mây phủ, mây phủ rồi mây tan, sự vĩnh cửu duy nhất là sự thay đổi theo đất trời bốn mùa mưa nắng? Ngay trong vĩnh cửu đã có biến động, và sự biến động là sự vĩnh cửu duy nhất?

    Mở mắt dậy đầu óc còn lơ mơ máy bay đã xuống LAX, dế mèn nghĩ đến cơ mơ ngắn mà phì cười, quả là lẩn thẩn lắm những câu hỏi vòng quanh vô nghĩa!
  12. [​IMG]




    Tụy Tạng và Các Chứng Bệnh

    Tụy tạng (pancreas) là một bộ phận trong hệ thống tiêu hóa (digestive system); tụy tạng*có hai*nhiệm vụ*chính:
    Ngoại tiết (exocrine): tụy tạng tiết ra những chất lỏng (pancreatic juice) chứa phân hóa tố (enzyme) trong việc tiêu hóa
    Nội tiết (endocrine): tụy tạng tiết ra nhiều kích thích tố quan trọng: insulin, glucagon, somatostatin, gastrin, và Vasoactive Intestinal Peptide (VIP).

    Tụy tạng nằm trong khoang bụng,*sau dạ dày và cạnh ruột non. Tụy tạng*dài khoảng 15-25 centi mét, chia ra ba phần: đầu, thân và đuôi; phần đầu của tụy tạng nằm cạnh duodenum (phần đầu của ruột non) và đuôi tụy tạng nằm cạnh lá lách (spleen). Những chất lỏng tiết ra bởi tụy tạng theo ống dẫn, pancreatic duct, nằm dọc theo chiều dài của tụy tạng, vào duodenum, miệng ống dẫn có tên riêng là ampulla of Vater.


    [​IMG]
    Tụy tạng: màu cam
    Duodenum: màu đỏ
    Ống dẫn từ tụy tạng: màu vàng
    Ống dẫn mật (bile duct): màu xanh lá cây

    Hình mượn của Endocrine Society - Trang Pancreatic Endocrine

    Tụy tạng được nuôi dưỡng bởi hệ thống tuần hoàn bao gồm nhiều động mạch có tên chung là nhóm pancreaticoduodenal;*và nhóm tĩnh mạch có cùng tên đưa máu từ tụy tạng trở về tim.

    I. Về ngoại tiết: 90% tụy tạng là những tế bào ngoại tiết, nhiều tế bào gom lại thành mô, *những mô tụy tạng được gói trong một màng bọc (capsule), màng bọc này chia tụy tạng*ra nhiều phần gọi là tiểu thùy (lobule). Ngang dọc giữa những mô tụy tạng là những ống dẫn lớn nhỏ, những ống dẫn sắp xếp mô tụy tạng thành từng nhóm gọi là acini. Tế bào tụy tạng tạo ra những hạt nhỏ li ti chứa "tiền phân hóa tố" tiêu hóa [những chất chưa có tác dụng, sau khi được tác động (activated) mới trở thành phân hóa tố và có công dụng trong việc tiêu hóa] như trypsinogen, chymotripsinogen, pancreatic lipase, và amylase. Những hạt tiền phân hóa tố (gọi chung là zymogen) này*theo ống dẫn vào duodenum. *Khi ăn uống, dạ dày và ruột non sẽ căng ra và các tế bào tại dạ dày và ruột non bị kích thích để*tiết ra các kích thích tố*gastrin, cholecystokinin, và secretin; những kích thích tố này sẽ khiến tụy tạng sẽ tiết ra những chất lỏng, một loại phản xạ dây chuyền sau khi ăn uống.

    Tiền phân hóa tố*trypsinogen và chymotripsinogen theo chất lỏng từ tụy tạng vào duodenum, phân hóa tố enterokinase tại ruột non sẽ*tác động (activate) khiến trypsinogen trở thành trypsin và chymotripsinogen trở thành chymotripsin, hai phân hóa tố có tác dụng trong việc tiêu*hóa chất đạm và chất béo, biến những chất này thành những phân tử dinh dưỡng nhỏ dễ dàng ngấm vào máu.

    Tóm lại, công dụng chính*của tụy tạng về ngoại tiết là tiêu hóa, tiêu hóa thức ăn và tiêu hóa cả những tế bào chứa chất đạm chất*béo của chính cơ thể (auto-digestion), vì vậy khi bị thương tích hay giải phẫu, các bác sĩ sẽ phải rất cẩn thận trong việc làm bể màng bọc (capsule) tụy tạng, khi màng tụy tạng bị rách, các chất tiêu hóa sẽ chảy vào khoang bụng và hủy hoại các mô lân cận, gây ra nhiều biến chứng trầm trọng.

    II. Về nội tiết (endocrine): Khoảng 5% tế bào tụy tạng còn lại là những tế bào nội tiết;*có tên là islet of Langerhans, gọi tắt là tế bào islet. Những tế bào nội tiết gom lại thành những nhóm nhỏ nằm rải rác khắp tụy tạng, cạnh những acini. Tế bào islet có*nhiều loại:
    Loại beta tiết ra insulin (50-80% của tế bào islet)
    Loại alpha tiết ra glucagon (15-20%)
    Loại delta tiết ra somatostatin (3-10%)
    Loại PP (pancreatic peptide) tiết ra các peptide như VIP nói trên

    Các tế bào islet hợp thành mô, những mô tụy tạng có nhiệm vụ nội tiết nằm rải rác khắp tụy tạng, quanh những mô này là các mạch máu li ti. Khi cần thiết, tụy tạng tiết ra kích thích tố, các kích thích tố này vào thẳng mạch máu, (không qua hệ thống ống dẫn như các phân hóa tố nói trên), theo máu luân lưu khắp cơ thể (đến mọi tế bào có receptor) và vì thế có tác dụng*rất nhanh.*

    Sau đây là phần tóm tắt về công dụng của kích thích tố tiết ra từ tụy tạng:

    A. Insulin: Có nhiệm vụ điều tiết lượng đường trong máu (dưới dạng glucose), giữ đường ở mức bình thường (khi nhịn ăn uống qua đêm hoặc*ít nhất 3 tiếng, lượng đường bình thường là*60 -90mg/dL). Khi lượng đường trong máu lên cao,*sau bữa ăn, tụy tạng tiết ra insulin, kích thích tố này khiến các tế bào trong cơ thể thẩm thấu (absorb) và sử dụng (utilize) đường, vì thế lượng đường giảm xuống và trở lại mức*bình thường. Ngược lại, khi lượng đường trong máu xuống thấp, tụy tạng ngừng tiết insulin và tiết ra glucagon (sẽ bàn về glucagon*ở phần sau).*Khi*tụy tạng*không còn tiết ra đủ insulin (loại I),*hoặc insulin không còn hoạt động bình thường (loại II), lượng đường huyết*trong*cơ thể*lên cao, người ta bị chứng tiểu đường (diabetes mellitus), loại I hoặc II.

    A.1. Khi tụy tạng tiết ra quá nhiều insulin,*lượng đường trong máu xuống thấp gọi là hypoglycemia. Những triệu chứng của thấp đường huyết là chóng mặt, tháo mồ hôi, đói, run rẩy, lẫn (confusion), và bất tỉnh. Bệnh nhân có thể rơi vào cơn hôn mê vĩnh viễn nếu không được cấp cứu kịp thời. Hầu hết chứng thấp đường huyết là do bướu tụy tạng từ tế bào islet, loại bướu này có tên là Insulinoma, gồm bướu lành (tumor)*và cả bướu độc (malignant tumor, cancer). Bướu lành nằm ngay tại tụy tạng, không tăng trưởng hoặc tăng trưởng rất chậm (không gây biến chứng), bướu độc tăng trưởng nhanh, lan ra và hủy hoại những bộ phận khác trong cơ thể. Dù lành hay độc, bướu Insulinoma cũng gây thấp đường huyết trầm trọng.

    A.1.1. Chẩn bệnh: Khi bác sĩ*nghi ngại rằng bệnh nhân bị**Insulinoma, cách chẩn bệnh gồm đo mức insulin khi đường huyết xuống rất thấp, glucose khoảng 30mg/dL, khi lượng insulin và glucose ở*tỷ lệ*0.3, chứng Insulinoma được xác nhận. Cách chẩn bệnh này tương đối nguy hiểm, bệnh nhân cần được theo dõi và cấp cứu để ngừa*hôn mê*(coma); tại Hoa Kỳ và Âu Châu, cách chẩn bệnh này thực hiện tại bệnh viện dưới sự quan sát trực tiếp của các bác sĩ. Ngoài ra, bác sĩ có thể dùng CAT scan hoặc MRI để tìm bướu tại tụy tạng, khi khối u dưới 1 centi mét khối, CAT scan và MRI thường khó tìm ra. Khi tìm ra bướu tại tụy tạng cộng với lượng Insulin rất cao, chứng Insulinoma được xác nhận.

    A.1.2. Cách chữa trị tạm thời (bướu lành, non-metastatic Insulinoma) là ăn uống nhiều bữa với các loại thức ăn chứa nhiều tinh bột (carbohydrate) hoặc chích vào tĩnh mạch (vein) các loại dung dịch chứa đường từ 5%, 10% đến 50%*khi cần thiết. Hiện nay, tại một vài quốc gia Âu châu, loại thuốc Sandostatin được sử dụng để chữa Insulinoma. Một cách chữa khác còn nằm trong vòng thử nghiệm là việc sử dụng chất phóng xạ Ytrium-Sandostatin (gắn chất phóng xạ vào thuốc Sandostatin, một*cách chữa tổng hợp)*bởi*các bác sĩ tại Đại Học Y Khoa Basel tại Basel, Thụy Sĩ*và Đại Học Y Khoa Erasmus tại Rotterdam, Hòa Lan.

    A.1.3 Cách chữa trị bướu độc: Giải phẫu là cách chữa trị thông thường nhất, cuộc giải phẫu thường được xem là rất khó khăn, tỷ số bệnh nhân bị biến chứng cao hơn so với các loại giải phẫu khác.***Xem "Ung Thư Tụy Tạng" tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia (National Cancer Institute, NCI), Hoa Kỳ.

    B. Glucagon: Có nhiệm vụ diều tiết lượng đường trong máu,*công dụng đối ngược với insulin để giữ lượng đường trong máu ở mức bình thường. Khi lượng đường trong máu xuống thấp, tụy tạng tiết ra glucagon, glucagon khiến tế bào dự trữ đưa đường vào máu, hoặc khiến tế bào chế tạo ra đường và đưa đường vào máu; kết quả là lượng đường trong máu tăng lên cho đến khi trở lại mức bình thường. Khi lượng đường lên cao (sau bữa ăn), tụy tạng ngưng tiết ra glucagon. Như thế, lượng đường trong máu được điều tiết và giữ ở mức bình thường bởi hai kích thích tố chính, insulin và glucagon.

    B.1. Khi tụy tạng tiết ra quá nhiều glucagon, người ta bị chứng cao đường huyết hay hyperglycemia (không gọi là diabetes mellitus), và thường do bướu xuất phát từ tế bào tụy tạng loại alpha. Loại bướu này được gọi là Glucagonoma. Triệu chứng của*glucagonoma cũng tương tự như triệu chứng của bệnh tiểu đường: khát nước, đi tiểu nhiều, mệt mỏi, lở miệng và lưỡi... Nhưng*triệu chứng rõ ràng nhất (phân biệt bệnh tiểu đường với glucagonoma) là một loại vết lở trên da có tên necrolytic migratory erythema, xuất hiện trên mặt, bụng, mông, chân tay.***Phần đông (75%) loại bướu glucagonoma là bướu độc, và thường lan đến gan.

    B.1.1 Chẩn bệnh: Khi*nghi ngại rằng bệnh nhận bị bướu glucagonoma, các bác sĩ thường đo lượng đường, lượng glucagon trong máu, chụp CAT scan hoặc MRI và*thử Glucose tolerance test (một loại thử nghiệm xem bệnh nhân có thể tự hạ đường huyết sau khi uống 75 gram đường. Bình thường, sau 2 tiếng, lượng đường trong máu sẽ trở lại mức bình thường. Khi lượng đường trong máu vẫn cao,*bệnh nhân được xem như*bị chứng "glucose intolerance", do nhiều lý do).

    B.1.2. Chữa trị:**Thông thường nhất là giải phẫu, hoặc quang tuyến; loại bướu này không thể chữa trị bằng hóa chất. Xem "Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Tụy Tạng" tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia (National Cancer Institute, NCI), Hoa Kỳ.

    C. Somatostatin: Có tác dụng trong việc tạo ra và*tiết ra các kích thích tố khác, *làm giảm sự tạo ra insulin, glucagon, gastrin. Bướu tiết ra somatostatin khởi thủy từ*tế bào islet delta tại tụy tạng có tên là Somatostatinoma. Loại bướu này gây ra tiểu đường (làm giảm insulin), sạn tại túi mật và khó tiêu hóa chất béo. Bướu somatostatin rất hiếm và khó tìm. *

    D. Gastrin: Có nhiệm vụ tiêu hóa tại dạ dày. Thức ăn làm căng dạ dày kích thích tụy tạng tiết ra gastrin, gastrin*kích thích nhũng tế bào tạo ra acid trong dạ dày tiết ra acid giúp trong việc tiêu hóa thức ăn. Sau khi thức ăn tiêu hóa và đi qua phàn dưới của ruột non, tụy tạng ngừng tiết ra gastrin. Bướu tiết ra gastrin khởi thủy tại tụy tạng có tên là Gastrinoma (còn gọi là Zollinger-Ellison Syndrome); loại bướu này sẽ khiến dạ dày tiết ra rất nhiều acid, và hậu quả là lở loét dạ dày.

    E. Vasoactive Instestinal Peptide (VIP): Có tác dụng trong việc tiết ra nước và thẩm thấu nước từ ruột non. Kích thích tố VIP khiến tế bào lót ruột non tiết ra nước và muối tại đây, giúp việc tiêu hóa thức ăn và thẩm thấu chất dinh dưỡng (absorption of nutrients). Bướu*tiết ra VIP khởi thủy từ tế bào PP tại tuỵ tạng có tên là VIPoma; loại bướu này*gây tiêu chảy trầm trọng khiến bệnh nhân mất nước và muối.

    Ngoài các loại bướu tụy tạng, những chứng bệnh khác về tụy tạng bao gồm cystic fibrosis, tiểu đường (đã đề cập đến), bệnh tụy tạng về ngoại tiết, viêm tụy tạng và chứng pseudocyst tại tụy tạng.

    F. Bệnh tụy tạng về ngoại tiết (Pancreatic Insufficiency): Tụy tạng tiết ra những phân hóa tố có tác dụng trong việc tiêu hóa, biến các chất béo, chất đạm, chất tinh bột trong thức ăn thành những chất dinh dưỡng nuôi cơ thể. Khi tụy tạng không tiết ra đủ những phân hóa tố*như Trypsin, Chymotrypsin...*(đã đề cập ở phần trên), bệnh nhân bị chứng thiếu dinh dưỡng (malnutrition) gây xuống cân, thiếu sinh tố, và cả tiêu chảy (với loại phân lẫn nhiều chất béo...) vì thức ăn không được tiêu hóa.*

    F.1. Chẩn bệnh: Bác sĩ đo lượng Trypsin , chemotrypsin...*trong máu và chữa trị bằng cách dùng những phân hóa tố này.

    G. Cystic fibrosis: Là một chứng bệnh ảnh hưởng đến việc ngoại tiết tại tụy tạng.

    H. Viêm tụy tang (kinh niên và cấp tính, chronic & acute pancreatitis): Thường do rượu hoặc sạn mật và nhiễm trùng gây ra. Cách chữa trị tùy theo nguyên nhân, và giúp bệnh nhân bớt đau đớn bằng các loại thuốc giảm đau (supportive care).

    H.1. Sau cơn viêm tụy tạng, thường là viêm cấp tính, bệnh nhân có thể bị chứng "pseudocyst":*Các tế bào chết, máu, phân hóa tố... tích tụ*tạo thành một "bọc" trong khoang bụng. Bệnh nhân tiếp tục đau bụng dữ dội, lên cơn sốt như khi bị viêm tụy tạng.**"Bọc" này xuất hiện như một khối vừa chất lỏng vừa tế bào trên CAT scan hoặc MRI. Bác sĩ khi không thể chờ (6-8 tuần), thường đặt ống thoát*(drainage tube) để giảm nguy cơ*nhiễm trùng.*
  13. [​IMG]




    Mụn (Mụt, Acne)



    Mụn là một vết nổi trên da, bao gồm nhiều loại, mụn cám (kích thước nhỏ), mụn cóc, đến mụn nhọt (sưng đỏ, bọc mủ), tiếng Anh là acne, hay nôm na là zits, pimples, blemishes. Mụn trên da mặt thường làm quý bà khó chịu, và quý cô bực bội, buồn rầu. Vết mụn lành rất chậm, đôi khi một vệt mụn bắt đầu lành thì trên da lại xuất hiện những mụn khác nên mụn có vẻ như dai dẳng khó chữa.

    Nội tiết tố giữ vai trò chính trong việc da nổi mụn, thường xuất hiện trong tuổi dậy thì khi các tuyến nôi tiết tố hoạt động mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, mụn có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào. Quý bà trong khi hoài thai, kinh nguyệt, hoặc lúc bắt đầu dùng và khi ngưng thuốc ngừa thai cũng nổi mụn vì sự thay đổi của nội tiết tố trong cơ thể.

    Mụn xuất hiện trong tuổi dậy thì hoặc trưởng thành có thể cần nhiều tháng hoặc cả năm mới chữa lành. Tùy theo mức nặng nhẹ, mụn trên da có thể tạo ra khá nhiều khó khăn về mặt tâm thần và để lại những vết thẹo sâu trên da mặt.

    Mụn loại nhẹ ta có thể tự chữa bằng cách rửa mặt hàng ngày với các loại kem rửa mặt nhẹ (gentle cleanser) chứa ít surfactant (nguyên liệu chính của xà bông) nên không làm khô da và một vài loại kem thoa mụn bán tự do (over-the-counter). Mụn loại ung nhọt cần các loại thuốc bán theo toa bác sĩ. Khi mụn được chữa lành, ta có thể dùng những phương cách phòng ngừa để tránh mụn tái phát.

    Dấu hiệu & triệu chứng của mụn

    Mụn thường xuất hiện trên da mặt, cổ, ngực, lưng và vai nơi da có nhiều các tuyến sebum.

    Có nhiều loại mụn:

    1. Mụn cám, loại đầu trắng hay đầu đen (comedone, whitehead, blackhead): xuất hiện khi lỗ chân lông bị bịt kín bời sebum, tế bào chết và đôi khi vi khuẩn (bacteria). Khi mụn cám “mở” trên da, ta gọi là “blackhead” vì đầu mụn có màu đen. Khi mụn cám khép kín, chỉ là một vệt nổi cùng màu với da hoặc đôi khi có màu trắng đục, ta gọi là “whitehead”.

    2. Mụn cóc (papule): một vệt nổi lớn hơn, đỏ và đôi khi đau, dấu hiệu của phản ứng viêm hay nhiễm trùng tại lỗ chân lông.

    3. Mụn nhọt (pustule): tương tự như mụn cóc, vệt nổi trên da, sưng tấy, đỏ, và đông mủ trắng đục.

    [​IMG]

    4. Ung nhọt (nodule, mụn lớn hơn 1cm đường kính), đỏ và đau do sebum đọng tại lỗ chân lông dưới da, da bị viêm và nhiễm trùng.

    5. Nhọt (cyst): mụn lớn, mưng mủ, có thể tạo ra thẹo.

    [​IMG]

    Nguyên nhân

    Có ba lý do chính:
    • Tuyến dầu tạo ra quá nhiều sebum
    • Da “bong” ra quá nhanh nên đau rát
    • Vi khuẩn trên da quá nhiều

    Mụn xuất hiện khi lỗ chân lông bị đóng cứng bởi dầu và tế bào chết. Ở mỗi chân lông có những tuyến dầu; những tuyến dầu này tiết ra sebum làm óng tóc, mịn da (giữ độ ẩm). Sebum chảy theo lông, tóc và ra ngoài da. Khi ta có quá nhiều dầu và tế bào chết, hai thứ này trộn lẫn tạo nên một cái “nút chặn” tại lỗ chân lông. Tùy theo kích thước của “nút chặn” mà mụn cám xuất hiện. Khi các nút chặn này bị nhiễm trùng, mụn cóc hay nhọt xuất hiện.

    [​IMG]

    Tuyến dầu gia tăng hoạt động do một số yếu tố: nội tiết tố, vi khuẩn, một vài loại thuốc và di tính.

    Thức ăn không ảnh hưởng đến mụn nhọt trên da. Bụi đất cũng không không gây mụn nhọt. Chà sát mạnh tay khi rửa mặt, hoặc dùng các loại xà bông nhiều surfactant khiến da mặt khô rát gây “bong” da và do đó có thêm mụn.

    Những yếu tố gia tăng mụn nhọt:

    1) Sự thay đổi nội tiết tố có thể gây mụn hoặc khiến mụn xuất hiện nhiều hơn. Những thay đổi này thường thấy trong những trường hợp sau:
    • Tuổi dậy thì
    • Phụ nữ trong chu kỳ kinh nguyệt (2-7 ngày trước khi có kinh)
    • Phụ nữ mang thai
    • Những người dùng thuốc men kể cả cortisol

    2) Da chịu quá nhiều dầu, hoặc do một vài loại mỹ phẩm

    3) Di tính từ cha mẹ thân nhân

    4) Da bị chà sát liên tục nên tróc da thường xuyên

    Khi nào thỉ cần gặp bác sĩ khám da?

    Mụn trên da không phải là một chứng bệnh trầm trọng, nhưng ta có thể vẫn muốn gặp bác sĩ để chữa những mụn nhọt có thể để thẹo trên da. Khi da mặt sần sùi vì mụn hoặc chịu nhiều vết thẹo gây buồn rầu, mất tự tin, ảnh hưởng đến sự giao tiếp ngoài xã hội, ta nên tìm bác sĩ chuyên khoa về da để tìm cách chữa trị hoặc làm mờ bớt vết thẹo.

    Cách chữa trị

    Bác sĩ chữa mụn bằng cách dùng thuốc giảm sự hoạt động của tuyến dầu, gia tăng việc bong da, chữa nhiễm trùng, giảm phản ứng viêm hoạt cả 4 công việc. Với hầu hết các loại thuốc sử dụng theo tao bác sĩ, kết quả đến chậm, khoảng 6-8 tuần lễ, và da có thể xuất hiện nhiều mụn hơn trước khi lành lặn.

    Bác sĩ có thể dùng các loại thuốc khác nhau, thuốc bôi trên da, thuốc uống, hoặc cả hai thứ. Các loại thuốc uống KHÔNG nên dùng khi mang thai, nhất là trong 3 tháng đầu tiên.

    Các loại thuốc men chữa mụn gồm có:

    Thuốc bôi trên da:
    thứ thuốc này có thể làm khô dầu, diệt trùng và gia tăng sự tróc da, các tế bào chết bong ra sớm hơn. Các loại thuốc bán tự do thường là loại nhẹ, chứa các nguyên liệu như benzoyl peroxide, sulfur, resorcinol, salicylic acid hoặc lactic acid. Khi dùng các loại thuốc này mà vẫn có mụn, ta có thể sẽ cần đến các loại thuốc sử dụng theo toa bác sĩ. Tretinoin (Avita, Retin-A, Renova) và adapalene (Differin) là các loại thuốc bôi xuất phát từ sinh tố A. Các loại thuốc này có tác dụng làm bong da và ngăn việc “kết nút” tại lỗ chân lông. Một số các loại trụ sinh cũng được dùng để diệt vi khuẩn trên da. Thông thường, ta sẽ cần sử dụng các loại thuốc này cùng lúc để tăng hiệu quả.

    Thuốc trụ sinh: với loại mụn nhọt và ung, ta sẽ cần uống trụ sinh, cần dùng cả tháng trường, và dùng chung với các loại thuốc bôi trên da.

    Isotretinoin: Với các loại ung nhọt (cyst), trụ sinh có thể chưa đủ, ta cần sử dụng thêm loại thuốc khác. Isotretinoin (Accutane) là loại thuốc được sử dụng để ngăn mụn nhọt làm thẹo mặt; loại thuốc này chỉ dùng cho những trường hợp da bị ung nhọt trầm trọng. Isotretinoin rất hiệu nghiệm, nhưng gây khá nhiều phản ứng phụ và có cả những phản ứng phụ trầm trọng, người dùng thuốc CẦN được theo dõi kỹ lưỡng và đều đặn. Isotretinoin có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, và tạo ra những bào thai hoặc trẻ sơ sinh bất bình thường về hình dạng cũng như tâm trí (birth defects, malformation). Vì thế phụ nữ mang thai KHÔNG nên dùng loại thuốc này, và phụ nữ CẦN dùng các phương pháp ngừa thai để tránh thụ thai khi dùng isotretinoin. Tại Hoa Kỳ, khi muốn dùng Isotretinoin, các phụ nữ sẽ phải ghi danh theo một chương trình theo dõi của chính phủ qua cơ quan Kiểm Soát Thực Phẩm và Dược Phẩm, the FDA. Ngoài ra, Isotretinoin gia tăng lượng chất béo, lipid và cholesterol, trong máu và gia tăng cả những phân hóa tố từ gan (liver enzymes).

    Thuốc (uống) ngừa thai: các loại thuốc (uống) để ngừa thai kể cả norgestimate và ethinyl estradiol (Ortho-Cyclen, Ortho Tri-Cyclen), đã được chứng minh có hiệu quả trong việc chữa trị mụn nhọt. Tuy nhiên ta sẽ cần cân nhắc kỹ lưỡng các phản ứng phụ của thuốc ngừa thai trước khi sử dụng.

    Laser và chữa trị bằng ánh sáng (laser & light therapy): Ánh sáng và tia laser sẽ đi sâu vào da, qua lớp biểu bì, nhưng không hủy hoại lớp da bên ngoài. Tuy nhiên, laser có thể gây hư hại tuyến dầu (sebaceous gland) khiến da trở nên khô. Ánh sáng có tác dụng diệt trùng, loại vi khuẩn gây mụn nhọt và viêm trên da. Hai cách chữa trị này có thể làm mịn da, giảm độ sâu của thẹo nên các bác sĩ sử dụng để chữa loại mụn ung nhọt và chữa các vết thẹo do ung nhọt tạo ra.

    Những phương pháp thẩm mỹ: Lột da bằng hóa chất và bằng cách “chà da mặt” (dermabrasion) có thể hiệu nghiệm trong việc giảm mụn nhọt. Những phương pháp này, thường được dùng để giảm nếp nhăn cạn (fine lines), vết phỏng nắng và những vết thẹo cạn, nên dùng chung với thuốc men để chữa ung nhọt.

    Chữa trị thẹo từ ung nhọt

    Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều cách sau đây để giảm thẹo do ung nhot gây ra: “filler” (chất dùng để lấp đầy những rãnh sâu trên da), “chà da mặt”, ánh sáng và laser.

    1. “Filler”: Collagen hoặc mỡ được dùng để “lấp” các rãnh thẹo trên da khiến thẹo bớt rõ. Cách chữa trị này có tính cách giai đoạn, một vài tháng, nên sẽ phải tiếp tục chữa trị đều đặn theo định kỳ.

    2. “Chà da mặt” (dermabrasion): Bác sĩ dùng dụng cụ để “chà” da, lớp da ngoài cùng “bong” ra nên da “phẳng hơn, các rãnh sâu bớt sâu, nên thẹo mờ bớt. Tuy nhiên cách chữa trị này có thể khiến da đổi màu (pigmentation change) nhất là những người da sậm (da đen và da vàng).

    3. “Mài da mặt” (microdermabrasion): Cách chữa trị này “nhẹ nhàng” hơn cách “chà da”, những mảnh sạn li ti (microcystal) được “thổi”, và “brush” quét nhẹ lên da. Khi “hút bụi” sẽ mang theo những lớp da chết. Cách chữa này mang lại kết quả khó thấy, dù thẹo có phần mờ hơn. Nói một cách khác, kết quả không mấy khả quan, mắt thường khó nhận ra sự thay đổi sau khi chữa trị.

    4. Laser, ánh sáng, và sự rung động từ âm thanh (radiofrequency): Khi dùng laser, các tia laser hủy hoại lớp da ngoài cùng (epidermis) và hâm nóng lớp biểu bì bên dưới (dermis). Khi vết thương lành, da non xuất hiện nên da mịn màng tươi mát hơn. Các loại laser khác (nonablative) phối hợp ánh sáng và sự rung động của âm thanh không hủy họai epidermis mà chỉ hâm nóng lớp dermis bên dưới. Khi da lành, sẽ tươi mịn hơn. Các cách chữa trị này cần lập lại nhiều lần trước khi thấy kết quả.

    5. Giải phẫu: Bác sĩ dùng dụng cụ để “cắt” (punch excision) những vết thẹo, nếp da được khâu liền với nhau, sau đó dùng lớp da khác để vá (graft) các lỗ hổng của kim.

    Phòng ngừa mụn nhọt
    Khi mụn nhọt đã bớt hoặc lành hẳn, ta có thể sẽ cần tiếp tục các cách chữa trị một thời gian khá dài sau đó để ngăn ngừa mụn nhọt xuất hiện trở lại. Đôi khi, ta sẽ cần dùng các loại thuốc thoa trên vùng da thường bị mụn nhọt, tiếp tục loại thuốc ngừa thai, hoặc tiếp tục các cách chữa bằng ánh sáng để phòng ngừa. Cần thảo luận với bác sĩ về cách phòng ngừa mụn nhọt.

    Ta có thể ngăn những vết mụn mới bằng cách rửa mặt với các loại kem nhẹ (mild cleanser) và TRÁNH sờ mó da mặt hay nặn mụn nhọt. Ngoài ra, ta nên tiêp tục các cách phòng ngừa sau đây:

    1) Rửa các vùng da dễ bị mụn nhọt tối đa là 2 lần / mỗi ngày . Việc rửa mặt sẽ lấy đi bớt dầu, nhưng rửa mặt quá nhiều lần sẽ khiến da khô và đỏ rát, nhất là những vùng da ít tuyến dầu. Cần dùng các loại kem rửa mặt nhẹ, chứa nước (water-based product), không chứa alcohol hay dầu.

    2) Dùng các loại thuốc thoa bán tự do để thấm bớt dầu, các sản phẩm chứa benzoyl peroxide hay salicylic acid là nguyên liệu chính.

    3) TRÁNH các loại mỹ phẩm “nặng” như kem đặc, nên dùng các loại phấn (powder)

    4) Rửa mặt cho sạch mỹ phẩm trước khi đi ngủ, mỹ phẩm có thể trở thành các nút chặn ở lỗ chân lông. Hãy vứt bỏ các mỹ phẩm cũ (6-12 tháng), và giặt rửa các loại chổi (brush) dùng trong việc trang điểm thường xuyên (mỗi tháng) bằng xà bông và nước ấm.

    5) Mặc quần áo rộng rãi, tránh cho da bị cọ sát thường xuyên gây khô rát da

    6) Tắm rửa sau khi vận động hoặc tập thể dục, mồ hôi và dầu trên da sẽ giữ bụi và vi khuẩn.

    Các sản phẩm nên dùng để săn sóc da:


    • Thuốc rửa mặt là loại “nhẹ": tránh các món “facial scrub”, "astringent" và "mask" vì các thứ này làm da khô rát. TRÁNH rửa mặt, chà mặt nhiều lần trong ngày, 1-2 lần là đủ.

    • Nếu mụn nhọt xuất hiện ở chân tóc, gội đầu hằng ngày.

    • Dùng các sản phẩm chứa benzoyl peroxide hay salicylic acid trên vùng da dễ nổi mụn.

    • Tránh những thứ làm da khô rát như mỹ phẩm nhiều dầu, kem chống nắng, concealer. Chọn những sản phẩm “water-based” dù ta sẽ phải dùng nhiều lần.

    • Tránh ra nắng nhất là khi dùng những loại thuốc men, cần thảo luận với bác sĩ về những loại thuốc này.

    • Chú ý đến những thứ đụng chạm đến da mặt như khăn quàng, dải mũ nón, điện thoại… nhất là khi ta đổ mồ hôi; mồ hôi, bụi và dầu là những thứ dễ gây mụn nhọt.

    • ĐỪNG nặn mụn nhọt, sẽ gây nhiễm trùng và để thẹo!!!



    Tài liệu tham khảo:

    • What Is Acne? (National Institute of Arthritis and Musculoskeletal and Skin Diseases) - Fast Facts Acne

    • JAMA Patient Page: Acne(American Medical Association) - hxxp://jama.ama-assn.org/cgi/reprint/292/6/764.pdf
    • What Is Acne?(American Academy of Dermatology) - What is Acne?
    • 7 Tips for Getting the Most Out of Your Acne Treatment(American Academy of Dermatology) - 7 Tips for Getting the Most Out of Your Acne Treatment
    • Acne and Isotretinoin: Using Isotretinoin the Right Way(American Academy of Family Physicians) - hxxp://familydoctor.org/online/famdo...interview.html
    • Acne Products: Find a Solution for Your Acne Flare-Ups(Mayo Foundation for Medical Education and Research) - Acne products: Find a solution for your acne flare-ups - MayoClinic.com
    • Acne Treatments: Promising Therapies for Clearer Skin(Mayo Foundation for Medical Education and Research) - Acne treatments: Promising therapies for clearer skin - MayoClinic.com
    • FDA Warning: Risks of Buying Accutane (Isotretinoin) over the Internet(Food and Drug Administration) - FDA Warning: Buying Accutane (isotretinoin) over the internet
    • Physical Procedures for Treating Acne(American Academy of Dermatology) - Physical Procedures for Treating Acne
    • Prescription Medications for Treating Acne(American Academy of Dermatology) - Prescription Medications for Treating Acne
    • Topical Acne Medication Can Clear Acne(American Academy of Dermatology) - AcneNet Article - Topical Acne Medication Can Clear Acne
    • Treating Acne in Skin of Color(American Academy of Dermatology) - AcneNet Article - Treating Acne in Skin of Color
    • Treating Mild Acne(American Academy of Dermatology) - Treating Mild Acne
    • Treating Moderate to Moderately Severe Acne(American Academy of Dermatology) - Treating Moderate to Moderately Severe Acne
    • Treating Severe Acne(American Academy of Dermatology) - Treating Severe Acne
    • What Is the Best Treatment for Mild to Moderate Acne?(Family Physicians Inquiries Network) - Links to PDF - hxxp://resources.fpin.org/EBP/Patien...ndout_0207.pdf
    • Can I Prevent Acne?(Nemours Foundation) - Can I Prevent Acne?
    • Early Acne Often Predicts Severe Acne(American Academy of Dermatology) - AcneNet Article
  14. Khảo cứu về tế bào gốc (Stem Cell Research) nơi xung đột của khoa học, tôn giáo và luật pháp

    Ngành khảo cứu Y học mỗi ngày một tiến bộ, tuy nhiên, vẫn còn những chứng nan y mà khoa học đành bó tay như bệnh mất trí nhớ (Alzheimer's disease), bệnh tiểu đường với biến chứng, tê liệt...Người ta đã thử và thành công một cách giới hạn trong việc ghép xương, ghép thận, ghép tim ghép tủy xương... Những biến chứng (quả thận ghép bị loại trừ, nhiễm trùng...) và cần thiết về chuyên khoa (bác sĩ chuyên môn, điều dưỡng chuyên về hậu giải phẫu...) giới hạn những môn trị liệu này. Hai tuần trước, tập san Khoa Học (Science) công bố kết quả rực rỡ của Tiến Sĩ Shin Yong Moon và Tiến Sĩ Woo Suk Hwang từ Đại Học Hán Thành (Seoul National University), Nam Hàn.

    Căn bản, mỗi tế bào có một hạt nhân (nucleus, nơi chứa những di thể). Từ 5 năm nay, các nhà di thể học đã tìm ra cách lấy nhân (N) từ tế bào A và cấy vào tế bào trứng B (đã lấy nhân ra), trứng B bây giờ chứa N với di thể A và khi sinh sôi nảy nở sẽ mang tính chất của A, kỹ thuật này được gọi là "chuyển nhân" (nuclear transfer technique). Trong khoảng 5 ngày, trứng (phôi) B (cloned embryo) tăng trưởng thành một khối cầu cỡ 1/3 mili mét, chứa khoảng 100 tế bào. Người ta gọi khối phôi này, khi được nuôi trong phòng thí nghiệm là "embryonic stem cells".

    Từ đó những nhà khoa học tiếp tục tìm cách để "nuôi" (culture) những tế bào lấy ra từ những khối phôi tương tự (khi lấy tế bào, khối phôi sẽ bị hủy hoại) và cho đến nay, nhóm chuyên viên tại Nam Hàn đã thành công trong việc cấy (cloning) những tế bào gốc (stem cell) thành những tế bào có khả năng sinh tồn (tế bào mẹ đẻ ra tế bào con, tiếp tuc và trở thành chuỗi tế bào, cell lines). Hai ông Shin Yong Moon và Woo Suk Hwang đã dùng những tế bào của một số bệnh nhân, người bị hoại cột sống (spinal cord injuries), kẻ bị tiểu đường trầm trọng, tuổi từ 2-56...và cấy vào những trái trứng chưa nở với kỹ thuật "chuyển nhân".

    Năm ngoái, một phụ nữ Nam Hàn đã tặng 242 quả trứng của bà và chỉ có mỗi một khối phôi sinh trưởng thành một chuỗi tế bào (cell line). Năm nay, từ 185 quả trứng, chuyên gia Nam Hàn đã cấy dược 31 khối phôi, và từ 31 khối phôi này, người ta đã "nuôi" được 11 cell lines, quả là một sự thành công vượt bực! Từ khi công bố kết quả, những nhà Di Thể Học khắp trên thế giới lũ lượt kéo nhau xin tu nghiệp tại viện đại học Hán Thành.

    Bạn hẳn sẽ tự hỏi vài tế bào, mấy cái trứng...thì làm nên cái gì mà họ ầm ĩ thế? Bạn ơi, sự thành công này có thể sẽ là nền móng của những cách trị liệu mới, chẳng hạn như bệnh hoại cột sống. Nếu những nhà khoa học có thể cấy tế bào thần kinh (neuron) của bệnh nhân và nuôi thành một chuỗi tế bào có di thể của chính bệnh nhân đó và "trồng" trở lại vào tủy sống của bệnh nhân mà không lo lắng việc cơ thể phản ứng bằng cách loại trừ những tế bào "lạ", những tế bào thần kinh mới có thể giúp bệnh nhân cử động trở lại? Hoặc như bệnh tiểu đường, ta có thể dùng những khối phôi sinh trưởng thành tụy tạng và giúp bệnh nhân tạo ra Insulin trong chính cơ thể mình? Nói chung, sự áp dụng embryonic stem cell vào việc chữa trị bệnh tật nhất là những chứng nan y là lý do thúc đẩy những nhà khảo cứu Y học.

    Trong khi giới khoa học hãnh diện, hân hoan về những thành quả khảo cứu lớn lao như thế thì những nhà đạo đức, những vị lãnh đạo tôn giáo lại đăm chiêu lo lắng và vận đông ráo riết để những công cuộc khảo cứu tương tự ...không xảy ra tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức và một số quốc gia khác. Sao lại có những việc tréo ngoe như thế?

    Theo tin tức mới nhất, hôm qua, ngày 24 tháng 5, quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật tài trợ những chương trình khảo cứu tế bào gốc dù Tổng Thống Bush đã doạ dẫm rằng ông sẽ phủ quyết. Tưởng cũng nên nhắc lại, 7 tiểu bang tại Mỹ đã ban hành luật cấm mọi chương trình khảo cứu liên hệ đến "human cloning" ("cấy người" trong ống nghiệm?) và 11 tiểu bang có luật cấm các chương trình khảo cứu tế bào gốc xuất xứ từ những khối phôi (embryonic stem cell).

    Từ năm 2001, chính phủ liên bang Mỹ chỉ tài trợ những chương trình khảo cứu tế bào gốc có xuất xứ từ những cell lines (chuỗi tế bào) mà chính phủ đã cho phép; và một vài phòng thí nghiệm tại Mỹ đã tường trình rằng những chuỗi tế bào này cũ và khó "nuôi". Nói rõ ràng hơn, những cuộc thử nghiệm sử dụng những chuỗi tế bào "có giấy phép" đã thất bại. Những chuỗi tế bào "có giấy phép" đã được lấy ra từ những khối phôi không dùng đến (và sẽ bị hủy bỏ) trong những lần thử nghiệm thụ thai nhân tạo (in vitro fertilization, IVF). Như thế, có phải "xuất xứ" của những chuỗi tế bào này là nguyên nhân của sự băn khoăn, tranh cãi? Thưa bạn, "xuất xứ" chỉ là một trong nhiều mối khổ tâm của các nhà đạo đức (Bioethicists).

    Theo những hãng thống kê, tùy theo danh từ được sử dụng mà người ta có những phản ứng khác nhau. Với chữ "cloning embryos": chỉ có 38% người Mỹ bỏ phiếu thuận về việc cho phép khảo cứu, với chữ " somatic cell nuclear transfer, SCNF" (chuyển nhân tế bào?): 72% dân Mỹ đồng ý. Trong tập san Khoa Học (Science), bài của Tiến Sĩ Hwang đã dùng chữ "S.C.N.F" để mô tả chương trình khảo cứu của nhóm chuyên gia Nam Hàn do ông dẫn đầu.

    Tại Hoa Kỳ, Tiến Sĩ Leon Kass, chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn về Đạo Đức (The President's Council on Bioethics), đã lên tiếng "dù khoa học kỹ thuật tiến bộ nhanh thế nào đi nữa, ngành khảo cứu tế bào gốc vẫn là một mối nguy cơ cho chúng ta về luân lý và đạo đức, họ chế tạo một "mầm sống con người" (human embryos) với mục đích chỉ để khảo cứu, chỉ để cấu tạo trẻ em, và xử dụng phụ nữ như người chế tạo trứng dù việc khảo cứu không có lợi gì cho những phụ nữ này." Một nhà đạo đức khác, Tiến Sĩ Ruth Faden (Johns Hopkins) lại cho rằng những cuộc tranh luận về luân lý đạo đức sẽ xoay chiều nếu những cuộc khảo cứu này thực sự đem đến môn trị liệu mới và chữa lành các bệnh nan y. Dù có lợi ích thế nào cho bệnh nhân, ông Richard Lane (Southern Baptist Convention) vẫn cho rằng khảo cứu tế bào gốc là một việc làm tội lỗi, ông và nhóm của ông sẽ chống đối đến cùng. Ông ấy tin rằng khối phôi là một "con người" và ta không thể sử dụng một "mầm sống" li ti đễ cứu chữa những con người lớn hơn.

    Cuộc tranh luận về luân lý đạo đức này dựa trên nguyên tắc "trái trứng là một mầm sống và mầm sống là con người". Trên căn bản khoa học, một khối phôi (embryo) chỉ có thể trở thành thai nhi khi "bám" (implant) vào tử cung, và việc "bám" vào tử cung không thể nào xảy ra trong những ống nghiệm. Hơn nữa, trong cơ thể của phụ nữ có kinh nguyệt, trứng vẫn rụng theo định kỳ và không phải quả trứng nào cũng tự nó trở thành một mầm sống!

    Ngoài Nam Hàn, Anh, Thụy Điển, Bỉ, Tây Ban Nha, Nhật Bản và Do Thái là những quốc gia cho phép cũng như tài trợ những chương trình khảo cứu tế bào gốc nhưng luật pháp của những quốc gia này cấm hẳn việc xử dụng embryonic stem cell vào việc cấu tạo thai nhi (reproduction) và rõ ràng hơn, cấm hẳn việc cấy tế bào gốc vào tử cung. Pháp, Ý thì nhất định không, Đức tuy cấm việc khảo cứu phôi học nhưng sẽ cho phép việc áp dụng những kỹ thuật phát minh từ nơi khác vào việc giúp thụ thai. Mỹ còn ...lộn xộn hơn nữa, ngoài những tiểu bang cấm việc khảo cứu về phôi học và việc cấm xử dụng tiền bạc từ chính phủ liên bang để tài trợ việc khảo cứu về phôi học, những tiểu bang khác cứ việc tự do, những chương trình khảo cứu do tư nhân tài trợ vẫn âm thầm tiếp diễn. Riêng tại tiểu bang California, một nhóm chuyên gia đã góp được 3 triệu đô la từ tư nhân để dùng vào chương trình này.

    Phải chăng sự thành công của Nam Hàn đã làm cho chuyên gia Mỹ ..nóng mặt?
  15. Cúm Gia Cầm (avian flu)

    Tháng Mười, 2005, Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush đã tiếp xúc với những nhà bào chế dược phẩm để hối thúc họ gia tăng năng xuất trong việc chế tạo thuốc chích ngừa bệnh cúm gia cầm, và ông Michael Leavitt, Tổng Trưởng Y Tế (Secretary, Health and Human Services), đã bắt đầu chuyến công du mười ngày qua 4 quốc gia Á Châu để bàn định những phương pháp đối phố với dịch cúm gia cầm đang hoành hành tại các quốc gia này. Câu hỏi lớn nhất mà mọi người đang băn khoăn lo ngại là liệu dịch cúm gia cầm có thể trở thành một hiểm họa toàn cầu (pandemic) hay không?

    Giới Y học và những chuyên gia khảo cứu vẫn tin rằng việc cúm gia cầm lan tràn khắp nơi trên thế giới là một đe dọa thật sự, nhưng không hẳn là sự đe dọa sẽ đến ngay trước mắt (immediate threat) và không hẳn là một hiểm họa chắc chắn sẽ xảy ra (imminent threat)... Những cuộc hội thảo đã diễn ra trong nhiều ngày tại cơ quan Khảo Cứu Bệnh Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm, viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ (National Institute of Allergy & Infectious Diseases, National Institute of Health), và các chuyên gia đã đồng ý rằng ta nên sửa soạn đối phó với cúm gia cầm như một bệnh dịch, nhưng không hẳn là một hiểm họa toàn cầu! Họ đưa ra một số lý do để giải thích những ý kiến này. Giống siêu siêu vi khuẩn H5N1, dù bình thường không gây nhiễm trùng cho con người, nhưng có thể gây bệnh (khi biến thể, mutated), và khi gây bệnh thường có tỷ lệ tử vong cao, 60 người chết tại vùng Đông Nam Á trong số 116 người bị nhiễm trùng (đã kiểm chứng được). Điều dễ hiểu là những người bị cúm nhẹ, hết bệnh trong vài ngày thường không được đưa vào bệnh viện, vì vậy rất khó kiểm chứng là bao nhiêu người thực sự bị nhiễm trùng do H5N1 cho đến nay.

    Người ta nhớ đến trận dịch cúm năm 1918 khi siêu vi khuẩn cúm gây tử vong cho 50 triệu người khắp thế giới, và loại siêu vi khuẩn đó cũng là một loại siêu vi khuẩn cúm gia cầm, từ gia cầm lan sang con người. Tuy nhiên, một sự khác biệt rất quan trọng là dịch cúm năm 1918 do loại siêu vi khuẩn truyền nhiễm rất mạnh (virulent): từ gia cầm sang loài người và từ người này sang người khác. Loại H5N1 ngày nay có mức truyền nhiễm thấp từ người này sang người khác, mặc dù sự biến thể (về sau) có thể gây hiểm họa toàn cầu. Giới khảo cứu cho rằng dù đã có mặt từ năm 1997, H5N1 vẫn chưa gây hiểm họa khắp nơi (pandemic) có thể vì giống siêu vi khuẩn này chưa biến thể (mutation) đủ để gây mức truyền nhiễm mà người ta lo ngại. Điều này không có nghĩa là loại H5N1 (sẽ) không biến thể và (sẽ) không gây họa trong những năm sắp tới, vì giới Y học chưa đoán biết được là H5N1 có biến thể hay không và sẽ biến thể đến mức độ nào. Khi một siêu vi khuẩn lan tràn (transmissible), giống siêu vi khuẩn này trở nên bớt độc hại (less lethal) vì "chủ nhân" (host) phải sống sót để có thể truyền bệnh. Một loại siêu vi khuẩn giết nhanh chóng chính "chủ nhân" của nó (host, người hoặc súc vật) không lan tràn nhanh như những loại siêu vi khuẩn khác. Điều khác biệt quan trọng khác là ngày nay, Y học đã tiến rất xa so với năm 1918, những phương tiện chẩn bệnh và chữa trị những biến chứng do nhiễm trùng lần thứ nhì với các loại vi khuẩn (secondary bacterial infection) khác đã được tìm ra và chữa trị kịp thời, nhất là tại những quốc gia giàu có tân tiến như Singapore và Taiwan. Hơn nữa, ngày nay, người ta không sống chen chúc chật chội như những năm đầu thế kỷ 20. Nói một cách khác, bệnh truyền nhiễm nói chung và cúm gia cầm nói riêng là một vấn nạn lớn tại những nơi có điều kiện sinh sống khó khăn, nghèo khổ.

    Điều đáng ngại là là giống H5N1 đã theo những loại chim di (migratory birds) để mang bệnh cúm sang ít nhất 11 quốc gia trên thế giới, gần đây, người ta đã tìm ra chứng cúm gia cầm tại Romania. Ngoài gà, vịt, giống H5N1 cũng gây bệnh cho những gia súc khác như mèo và heo; nghĩa là loại siêu vi khuẩn này có khả năng biến thể (mutation) để có thể xâm nhập DNA của nhiều loại vật khác nhau. Câu hỏi nhức đầu nhất cho nhóm chuyên gia là loại siêu vi khuẩn này có thể biến thể đến đâu? và sự biến thể, nếu có, sẽ ảnh hưởng như thế nào trong việc truyền bệnh?

    Trong khi các chuyên gia tiếp tục công việc tìm kiếm, tại Hoa Kỳ, quốc hội đã đặt riêng một ngân khoản khá lớn để dự trữ Tamiflu, một loại kháng sinh (antiviral) chữa chứng cúm dù không chắc rằng Tamiflu sẽ là một loại thuốc hiệu quả trong việc trừ cúm gia cầm. Các chuyên gia Hoa Kỳ cho rằng việc sửa soạn đối phó với dịch gia cầm là việc cần thiết, nhất là nỗ lực trong việc tìm kiếm thuốc chủng ngừa cũng như giúp các nhà thương sẵn sàng trong việc chẩn bệnh và khi chứng cúm gia cầm bị nghi là nguyên nhân, kịp thời cách ly bệnh nhân để ngừa bệnh.

    Cúm Gia Cầm và Siêu vi khuẩn Avian Influenza A (H5N1)

    Cúm gia cầm (bird flu) là một loại nhiễm trùng do (nhiều giống) siêu vi khuẩn avian influenza viruses. Những loại siêu vi khuẩn này thường thấy trong loài thú có cánh như chim, gà vịt, tài liệu Y học gọi chung chung là "avian" (birds). Những loại chim hoang thường "mang" (carry) những loại siêu vi khuẩn này trong ruột, nhưng không bị bệnh tật gì do những siêu vi khuẩn này. Khi bị bệnh, chứng cúm thường lan rất nhanh trong loài chim hoang, đôi khi gây nhiễm trùng cho những loài gia cầm (domesticated birds) như gà vịt ngan ngỗng nuôi trong trang trại và gây tử vong. Siêu vi khuẩn avian influenza thường không gây nhiễm trùng cho con người. Tuy nhiên, từ năm 1997, đã có những người bị bệnh cúm do loại siêu vi khuẩn này gây ra.

    Có rất nhiều loại siêu vi khuẩn (gây ra) cúm. Những loài siêu vi khuẩn này khác nhau từ những protein trên màng siêu vi khuẩn (surface proteins): hemagglutinin A (HA) và neuraminidase (NA), có tất cả 16 loại HA và 9 loại NA khác nhau, và bất cứ sự kết hợp nào giữa 2 thứ protein này cũng có thể xảy ra, từ H1N1 đến H1N9, H2N1...H16N9. Mỗi kết hợp là một giống siêu vi khuẩn mới. Những giống siêu vi khuẩn gây cúm cho con người được gọi là human flu viruses, gồm 3 siêu vi khuẩn chính: H1N1, H1N2, H3N2. Những giống siêu vi khuẩn gây cúm cho loài chim được gọi là avian flu viruses. Những giống siêu vi khuẩn này có chung một nhóm di thể (gene), và chúng biến thể khá nhanh. Siêu vi khuẩn influenza A, giống H5N1, gọi tắt là siêu vi khuẩn H5N1 gây cúm cho loài chim, tìm thấy đầu tiên từ năm 1961 tại Nam Phi (South Africa). Cũng như những giống siêu vi khuẩn khác gây cúm cho loài chim, H5N1 cũng gây bệnh truyền nhiễm cho loài chim. Không hiểu vì lý do gì, sau nhiều năm không thấy tăm hơi, giống H5N1 lại xuất hiện và gây bệnh truyền nhiễm mạnh mẽ trong các loại gia cầm vào những năm 1990.

    Trường hợp lây bệnh đầu tiên từ gia cầm sang con người xảy ra năm 1997 tại Hồng Kông. Từ đó cơ quan Y Tế Công Cộng bắt đầu ghi nhận những trận dịch cúm gia cầm do giống H5N1, mới nhất là dịch cúm năm 2003 tại vùng Đông Nam Á kéo dài cho đến nay.

    Những gia cầm bị nhiễm trùng truyền bệnh qua nước miếng (nước dãi), nước mũi (nasal secretion) và phân. Loài gia cầm và cả con người bị nhiễm trùng qua sự va chạm, tiếp xúc với những chất ô uế này.

    Triệu chứng của bệnh cúm gia cầm cũng giống như những triệu chứng cúm do các giống siêu vi khuẩn cúm khác gây ra: sốt, ho, rát cổ, đau bắp thịt, đỏ mắt (conjunctivitis), và đôi khi, sưng phổi (pneumonia) và cả chứng "acute respiratory distress syndrome, ARDS".

    Mùa cúm & những câu hỏi

    Trong khuôn khổ của quán KT, xin góp ý với quý bạn đọc thêm về cúm (người) và cúm gia cầm:

    Hỏi: cúm (người) hay human flu và cúm gia cầm khác nhau ra sao?

    Có 3 loại siêu vi khuẩn gây cúm, gọi là influenza loại A, B, và C.
    1. Siêu vi khuẩn influenza A gây cúm cho con người và các loài vật khác như chim, gà vịt, heo, ngựa...nhưng chim hoang (wild birds) là "chủ" (host) của loại siêu vi khuẩn này. Siêu vi khuẩn influenza A có nhiều giống, dựa trên sự khác biết giữa hai protein chình trên màng tế bào (surface protein), hemagglutinin (HA) và neuraminidase (NA); có 15 loại HA và 9 loại NA; bất cứ sự kết hợp (combination) giữa hai protein này cũng có thể xảy ra, và mỗi kết hợp tạo nên một giống siêu vi khuẩn.

    Giống siêu vi khuẩn H1N1, H1N2, và H3N2 gây cúm cho con người, gọi chung là nhóm "human flu viruses". Những giống siêu vi khuẩn khác gây cúm cho súc vật, thí dụ, giống H7N7 và H3N7 gây cúm cho chim hoang và ngựa...Giống H1N1 có protein HA 1 và protein NA 1, giống H5N1 có protein HA 5 và NA 1 ...

    2. Siêu vi khuẩn influenza B thường gây cúm cho con người, và đã có những dịch cúm (epidemic) do loại siêu vi khuẩn này gây nên nhưng chưa có trận dịch nào có ảnh hưởng lớn như một hiểm họa toàn cầu (pandemic). Siêu vi khuẩn influenza B không được phân loại theo "giống" (subtype) như siêu vi khuẩn inflenza A.

    3. Siêu vi khuẩn influenza C chỉ gây "cảm" (common cold), một hình thức cúm nhẹ, và không gây những trận dịch. Siêu vi khuẩn influenza C không được phân loại theo "giống" (subtype) như siêu vi khuẩn inflenza A.

    Trở lại với câu hỏi "cúm (người) hay human flu và cúm gia cầm khác nhau ra sao?", sự khác biệt nằm tại những protein trên màng tế bào trên căn bản sinh hóa học. Thông thường, những loài siêu vi khuẩn gây cúm cho súc vật không gây cúm cho con người và ngược lại. Đôi khi, siêu vi khuẩn biến thể (mutation) và có thể gây bệnh cho con người, trường hợp của siêu vi khuẩn H5N1 từ năm 1997. Cho đến nay, 60 trong số 119 người bị nhiễm trùng (kiểm chứng được) do giống H5N1 đã thiệt mạng. Nhìn theo khía cạnh Dịch Tễ học (epidemiology), và so sánh với những chứng bệnh khác như sốt rét, cúm gia cầm không hẳn là một thảm họa kinh hoàng.

    Hỏi: Có chữa được bệnh cúm (người) không? chữa ra sao?

    Chứng cúm thông thường không cần chữa trị ngoài việc nghỉ ngơi cho đến khi cơ thể tự tạo ra kháng thể chống lại siêu vi khuẩn và ta sẽ lành bệnh trong thời gian khoảng 10- 14 ngày. Với những vị cao niên, tuổi già, sức yếu, hoặc những vị bị những bệnh kinh niên như tiểu đường, viêm đường hô hấp kinh niên ...cơ thể không tạo đủ kháng thể để chống lại bệnh tật, chứng cúm có thể kéo dài, gây biến chứng và đôi khi tử vong.

    Cho đến nay, có 4 loại thuốc kháng sinh (antiviral) được cho phép bán tại Hoa Kỳ, amantadine, rimantadine, zanamivir và oseltamivir, để chữa bệnh cúm (làm thời gian nhiễm trùng ngắn lại, mau lành bệnh). Cả 4 loại kháng sinh đều ngăn nhiễm trùng do siêu vi khuẩn influenza A gây nên, tuy nhiên, amantadine và rimantidine khi được thử nghiệm (trong phòng thí nghiệm, laboratoty testing) với siêu vi khuẩn H5N1, thì không có hiệu lực. Điều này có nghĩa là zanamivir và oseltamivir (Tamiflu) khi được thử nghiệm (trong phòng thí nghiệm, laboratoty testing) có hiệu lực với siêu vi khuẩn H5N1. Xin nhắc với bạn rằng, trong những cuộc thử nghiệm y tế (với bệnh nhân), các loại thuốc kể trên đều hữu hiệu trong việc chống lại các siêu vi khuẩn cúm gây bệnh cho con người như H1N1, H1N2, và H3N2.

    Mùa cúm bắt đầu từ tháng Mười và kéo dài đến tháng Năm năm tới, cách phòng ngừa cúm hữu hiệu nhất là chủng ngừa Có hai loại thuốc ngừa cúm:

    1. Thuốc chích ngừa (flu shot) dùng loại siêu vi khuẩn đã khử hoạt (inactivated virus, killed virus) cho tất cả mọi người tuổi trên 6 tháng kể cả những người với những bệnh kinh niên.

    2. Thuốc ngừa hít qua màng mũi (nasal-spray flu vaccine) dùng loại siêu vi khuẩn còn sống nhưng đã giảm tính nhiễm trùng (live attenuated influenza vaccine", LAIV) cho những người ở tuổi 5-49 và không mang thai.
    Khoảng 2 tuần lễ sau khi dùng thuốc ngừa, cơ thể tạo ra kháng thể (antibody) chống lại siêu vi khuẩn cúm và trở nên miễn nhiễm. Những loại thuốc ngừa hiện nay hữu hiệu trong việc ngừa nhiễm trùng do các giống siêu vi khuẩn H1N1, H1N2, và H3N2 và không hữu hiệu trong việc ngừa những giống siêu vi khuẩn khác kể cả H5N1.

    Hỏi: Ai cần dùng thuốc chủng ngừa?

    Những người được xem như "dễ nhiễm trùng" và khi nhiễm trùng, thường bị nhiều biến chứng:

    - Tuổi 65 trở lên
    - Sống trong viện dưỡng lão hoặc những nhà thương chữa bệnh kinh niên (long-term care facilities)
    - Những người bị bệnh tim, phổi kinh niên kể cả suyễn
    - Những người bị những chứng kinh niên như tiểu đường, bại thận, liệt kháng (HIV/AIDS)
    - Những người cần uống aspirin kinh niên
    - Trẻ em tuổi từ 6-23 tháng
    - Những người bị bệnh kinh niên cần máy móc trợ giúp vì không thể tự thở, nuốt, di động..

    Hỏi: Có cách chữa cúm gia cầm?

    Hiện nay, chưa có loại kháng sinh nào hữu hiệu trong việc chữa trị cúm gia cầm, bác sĩ sử dụng những phương tiện trợ giúp (supportive care) làm giảm biến chứng.

    Hỏi: Có thuốc chủng ngừa cúm gia cầm không?

    Hiện nay chưa có thuốc chủng ngừa chứng cúm gia cầm. Khi tìm thấy gia súc bị cúm gia cầm, người ta dùng phương pháp cách ly (isolation), và giết những gia cầm tại nơi bị nhiễm trùng để phòng ngừa.

    *Tài liệu của Centers for Diseases Control and Prevention, CDC.