Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. .
    upload_2015-9-17_18-42-9.jpeg


    “I may not know much, but I know chicken shit from chicken salad.”

    36th US President Lyndon B. Johnson.

    *

    Câu hỏi là “Cái nào sinh ra trước? Con gà hay quả trứng?


    Giả thử con gà sinh ra trước.
    Câu hỏi: Con gà sinh ra từ đâu?
    Trả lời: Từ quả trứng.


    Giả thử quả trứng sinh ra trước.
    Câu hỏi: Quả trứng sinh ra từ đâu?
    Trả lời: Từ con gà.


    Câu hỏi “Cái nào sinh ra trước?” này đã nổi tiếng từ 3-4 thế kỷ trước công nguyên; và cũng là câu hỏi đươc rộng rãi công nhận là khó trả lời nhất. Triết gia cỡ đại cổ thụ cố giải thích lòng vòng lung tung rồi cũng đành chào thua; Khoa học gia nặng ký liên tục đưa ra rất nhiều kết quả thí nghiệm, bằng chứng hẳn hòi mà vẫn không được đa số quần chúng chấp nhận thỏa đáng; Lãnh đạo tôn giáo tích cực rao giảng, trích dẫn vô số tài liệu thần học, thánh kinh rồi cuối cùng cũng thuyết phục tín hữu là “phải” tin như vậy, đó là “phép lạ” không giải thích được!..

    Một phó thường dân như tôi thì chỉ nghe qua câu hỏi thôi, đã thấy đầu dường như quay mòng mòng trên cổ, muốn khai bệnh nhức đầu chóng mặt tức thời. Giải thích bằng cách nào bây giờ – Quả trứng sinh ra con gà; Con gà sinh ra quả trứng; Quả trứng sinh ra con gà… - thì cuối cùng cũng trở lại chỗ mới bắt đầu. Tuy vậy, thiệt tình mà nói, tôi vẫn thường thấy "Con gà" và "Quả trứng" cùng một lúc trên bàn nhậu, hay trong quán phở gà...

    Nói ngắn lại, chưa có lời giải nào gọi là thắng cuộc hay làm hài lòng mọi người. Mọi sinh vật phải có một sinh vật nguyên thủy (first origin of the spicies). Đúng như vậy! Nhưng làm cách nào chúng ta có thể biết hay ít ra hiểu được sự bắt đầu này như thế nào? Từ đâu? Khi nào?

    Bây giờ, nếu quý vị quởn không có việc gì quan trọng để làm, xin hãy cùng tôi lần lượt xem qua các lời giải trên các lãnh vực to tát hơn đời thường; hy vọng cùng nhau rút ra được một lời giải riêng cho chính bản thân mình cho đỡ ấm ức.


    Triết học

    Từ thời cổ đại, câu hỏi nhức đầu này đã được các thầy triết gia và toán học cổ Hy Lạp. La Mã loại nặng cân chiếu cố bàn tới bàn lui, mặc dù không hề thấy họ đưa ra một bằng chứng nào cụ thể.

    Plato (424-348? BC) triết gia đầu tiên đã lên tiếng về câu hỏi này, nhưng âm điệu của Plato nghe tương tự như của một nhà thần học, không phải là một triết gia. Plato nói: “Tất cả mọi sinh vật (all species) xuất hiện lần đầu tiên trên quả đất từ một sự thiêng liêng” (that everything before it appeared on earth had first its being in “spirit.”)

    Aristotle (384-322 BC) có vẻ lúng túng với câu hỏi. Aristotle cho là con gà đầu tiên và quả trứng đầu tiên có lẽ (?) xuất hiện cùng một lúc. Nếu phóng đại ra, con người đầu tiên sinh (xuất hiện) ra không có cha mẹ. Vào lúc đó, ý kiến này bị đả kích là chẳng giải thích được cái quái gì, nghịch với lẽ tự nhiên… (?)

    Plutarch (46-120? AD) nói về “con gà mái” hơn là nói chung chung về “con gà.” Plutarch đưa ra một số lời bàn loạn qua bài viết “Con gà mái hay là quả trứng có trước,” (Whether the hen or the egg came first). Nội dung bài viết này cũng tương tự như ý kiến của Aristotle ngày trước: Gà mái và quả trứng xuất hiện cùng một lúc (?)

    Macrobius (Đầu thế kỷ thứ 5), một triết gia La mã – không phải Hy Lạp, cho là câu hỏi rất thú vị nhưng câu trả lời của triết gia lại thuộc loại “huề vốn” là: Cái nào ra trước cũng được; tùy theo cách nhìn, kinh nghiệm và sở thích của cá nhân..


    Khoa học

    Đối với Khoa học, trước khi tin, mọi sự việc cần phải được chứng minh. Khoa học gia cho rằng chúng ta nhìn, ngửi và cảm thấy thứ gì thì chúng ta cũng có các phương pháp khoa học với khả năng cân, đo hay làm cho nó lập lại (re-producing) được. Khoa học gia không dễ nhắm mắt khơi khơi tin vào một cái gì bí ẩn! Ậy! Thế mà với câu hỏi này, Khoa học gia từng đưa ra bằng chứng khoa học với hai lời giải trái ngược chiều với nhau: Khi thì Con Gà có trước; Khi thì Quả Trừng có trước. Thật lẩm cẩm !

    Stephen Hawking, một bác học về vật lý vũ trụ (astrophysicist) được xem như người bác học kế tiếp thay thế cho Albert Einstein, và Christopher Langan từng bàn và cãi là Quả Trứng, nói chung chứ không riêng trứng gà, đến trước Con gà theo luật tiến hóa và đào thải. Tất cả bắt đầu từ một tế bào đơn giản nhất (single cell ameba)… Tế bào phân hóa (mutations), biến giải qua hàng triệu năm,… như vậy trứng phải thành hình (từ một tế bào) trước con gà. Một động vật không thế biến dạng thành một động vật khác trong suốt đời sống thực của nó. Sự phân hóa chỉ có thể xẩy ra ở trong lúc động vật thụ thai, hay trong giai đoạn còn trứng nước của động vật. Như vậy trên phương diện sinh lý học, quả trứng muốn thay đổi, phải đến trước và kết quả sinh trứng ra con gà.

    Đến tháng 7 năm 2013, Bác sĩ Colin Freeman của Sheffield University, và sau đó 2 bác sĩ Mark Rodger và David Quigley của Warwick University cùng tại Anh Quốc qua thử nghiệm nhận thấy là buồng trứng (ovary) của gà mái có một loại “Protein Gà Mái” gọi là Ovocleidin-17 (OC-17) đã tạo ra (crystallization) và làm tăng trưởng vỏ trứng gà bên trong cơ thể con gà mái… Protein OC-17 này cũng làm cho lòng đỏ trứng gà hình thành và cuối cùng toàn thiện quả trứng gà. Bác sĩ Colin Freeman kết luận là:

    “Từ lâu rồi chúng ta vẫn cho là quả trứng sinh ra trước, bây giờ tôi mới chứng minh được là phài là con gà sinh ra trước vì chỉ có gà mới tạo ra được vỏ trứng.”

    Tin này được tất cả các hãng truyền thông quốc tế lớn như NBC, CBS và FoxNews đăng tải cùng một lượt với hàng “tít” lớn:

    “Câu hỏi Con Gà và Quả trứng đã có lời giải…”

    Tuy nhiên còn rất nhiều người vẫn ngờ vực. Họ xem lời tuyên bố của Dr. Colin Freeman như là một sự diễn đạt một cách sai lạc sự kiện khoa học (misrepresentation of sciences, a bad science). Câu hỏi “Cái nào đến trước…” này có lẽ phải cần một thêm vài trăm năm nữa mới được chứng minh một cách thích đáng.


    Tôn giáo

    Tôn giáo không cần “bằng chứng” (evidences). Tôn giáo chỉ cần “niềm tin” (belief / faith) hay là “phép lạ” (miracles). Để đi từ điểm A và điểm B cần phải có một cái gì cụ thể có thể giải thích được?! Khoa học cần có thời gian, sự học hỏi, thí nghiệm và đo lường. Tôn giáo chỉ cần “Thượng đế.” Thượng đế có phép lạ làm được mọi chuyện trên đời. Theo thiển ý của tôi, nếu “smartphone” xuất hiện trên quả đất cách đây 200 năm, nó có thể được xem là một “Phép lạ.” Hôm nay, tất cả chúng ta đều hiểu là sự tiến bộ của khoa học điện toán làm ra “smartphone” chứ không phải phép lạ. Như vậy “Phép lạ” có thể cũng chỉ là một lời giải thuận tiện, tạm thời khi chưa tìm ra được có lời giải thực, rõ ràng…

    Thiên Chúa giáo

    Giáo lý Thiên Chúa giáo ghi là :

    “Khởi đầu, Đức Chúa Trời lập ra Thiên đàng và Quả đất…” (In the beginning God created the heavens and the earth.)-- Genesis1:1.



    “Thế rồi Đức Chúa Trời nói là: Hãy để cho trái đất sinh ra các loài, mỗi loài sẽ sinh sản ra con cái đồng loại …” (Then God said, "Let the earth bring forth living creatures after their kind: cattle and creeping things and beasts of the earth after their kind") – Genesis 1:24.

    Như thế, theo kinh thánh thì con gà phải được sinh (lập) ra trước và con gà sẽ đẻ trứng đề tiếp tục duy trì nòi giống gà.

    Nếu chúng ta nói đời sống nào cũng vậy, phải có một điểm bắt đầu (starting point) và trước điểm bắt đầu đó không (chưa) có đời sống thì chỉ có thượng đế mới có khả năng tạo nên đời sống từ chỗ không có đời sống. Nói cách khác, nhìn từ chỗ nguyên thủy của đời sống, rồi đến khi chúng ta nhìn lại cái kết quả ngày hôm nay thì phải hỏi “ai xuất hiện trước?” Cha mẹ hay con cái? Hay là Con gà hay quả trứng? Tín hữu Thiên Chúa giáo tin là cha mẹ phải sinh ra trước. Đời sống của cha mẹ là cần thiết. Hiểu như vậy Thiên Chúa giáo đã chứng tỏ và công nhận là “Thượng đế” có thực; và tất nhiên “Con gà phải có trước quả trứng.”

    Cái nào đến trước, Con gà hay Quả trứng? Những ai tin vào thượng đế thì không cần bằng chứng; với những ai không tin vào thượng đế thì chưa có bằng chứng nào được chấp nhận !

    Phật giáo (và cả Ấn Độ giáo)

    Phật Giáo tin vào thuyết Luân Hồi: Mọi sự sẽ trở lại trong một vòng tròn vô định – không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm đến. Như vậy “Cái nào đến trước…” không phải là vấn đề của Phật giáo.


    Lời cuối

    Vấn đề “Con gà và quả trứng” không còn đơn thuần là vấn đề tìm hiểu một lời giải sinh học mà bây giờ đã trở thành vấn đề của triết học, xã hội và kinh tế. Nó tiêu biểu cho các tình trạng khó khăn, lưỡng nan, không tìm ra được câu trả lời cho thỏa đáng. Luân lý mà chúng ta học được từ câu hỏi này là:

    Trong đời sống, chúng ta bằng mọi cách nên cố tránh các trường hợp nan giải này xẩy đến cho mình là thượng sách.

    Khôn ngoan chưa đủ để sống mạnh giỏi, cần phải biết (qua sự học hỏi, giáo dục) nữa mới sống nổi trên quả đất chật chội mà mọi thứ đều “made in china” này.



    Trần Văn Giang
    Ngày 18 tháng 9 năm 2015
  2. .

    upload_2015-9-2_22-27-46.jpeg


    Chưa nói mà mọi người đều biết cả rồi. Mua xổ số là mua một hy vọng, mua một giấc mơ… Kể cũng không khó hiểu lắm, đời sống mà không có hy vọng, hết mơ ước thì sống còn ý nghĩa gì nữa, sống thêm vài ngày làm quái gì cho tốn cơm áo. Ngay chính người viết, thay vì cho tiền hội từ thiện hay bố thí cho ăn mày, cũng thỉnh thoảng mua vài đồng xổ số cầu may. Who knows!

    Trong thực tế, xổ số, mua xổ số và trúng xổ số có nhiều vấn đề xã hội và kinh tế cần phải bàn thêm.

    Kinh tế tư bản, Hoa kỳ chẳng hạn, luôn luôn có hệ thống thuế má rất quy mô đi kè kè một bên. Ngay cả bác học Albert Einstein lúc sinh thời đã phải than van kêu trời là:

    “Có một thứ tôi không bao giờ hiểu nổi là cái phiếu khai thuế”
    (There is only one thing that I have never understood is the US tax form).

    Thuế ở Mỹ tuy đánh cao thật nhưng phải thẳng thắn mà nói là nó khá công bằng: Thuế đánh lũy tiến theo lợi tức kiếm được; càng giàu đóng thuế càng nhiều; nghèo đóng ít hay không phải đóng một xu nào cả… Ậy! Mấy anh nhà nghèo tuy đã được chính phủ cho miễn đóng thuế, nhưng lại tự ý, tình nguyện (không có ai bắt buộc) thích, xin được đóng thuế bằng cách mua xổ số - Nhiều người gọi xổ số là “Thuế đánh trên nhà nghèo” (Tiếng Anh gọi là: “Tax on the poor” or “Tax on the stupid”). Có người nghèo nào mà chẳng muốn trở thành giàu có, chẳng muốn có cơ hội làm những chuyện mà chỉ có người giàu có tiền của mới làm được như: mua nhà cao to rộng, xe luxury, du thuyền (yatch) hào nhoáng, máy bay riêng, vàng vòng đeo đỏ người, kim cương to tướng ném chó vỡ đầu, tiền cho con cái đi học đại học đắt tiền… bởi vì người nghèo bần cố nông đa số ít học, kém tài, không biết đầu tư, không có quen biết ai làm lớn để chạy áp-phe… Mua xổ số dường như là một lời giải thuận tiện cho người nghèo. Mấy anh giàu có quá thì biết gì về người nghèo mà chê bai, mà dè bửu chuyện mua xổ số ?!

    Nhưng mà (chuyện lớn hay bé gì cũng có cái “nhưng” này), nghiện xổ số hay đánh xổ số cố sát quá đều có gây thiệt hại từ chết đến bị thương.

    Nhiều người, trong đó có tôi, không tin là chỉ có người nghèo mới mua xổ số mà tỉ lệ người mua phân phối đồng đều cho tất cả các loại dân số từ nghèo đến giàu. Mỗi ngày đều có người trúng số; đại đa số không muốn chường mặt ra (vì nhiều lý do riêng) mà chỉ âm thầm sống đời bình thường… Đừng có vội lên tiếng chỉ trích chê bai, đánh vỡ những giấc mơ của người khác.

    Tôi thấy chơi xổ số có lợi mọi đàng: Cơ hội để thắng lớn và tiền vé số đươc chính phủ dùng tài trợ các chương trình giáo dục như xây trường, mướn thêm thầy giáo… Chương trình hoàn hảo nào cũng có vài hòn sạn khó nuốt: mới đây, trên báo chí có phanh phui vài chuyện như là chính phủ kẹt tiền quá (financial trap), phải lấy bớt tiền của quỹ xổ số để xây nhà tù, mướn thêm cai tù. Hết biết! (Cũng khó tin, nhưng có thật, y như chuyện Thống Đốc California đẹp giai giàu có Arnold Schwarzenegger có con riêng với mụ Mễ lau nhà nhan sắc nhìn phát ớn "bacon" và đậu!)

    Bớt uống 1-2 chai bia trong quán nhậu , hay nhịn một ly “Frappuccino” ở quán cà phê Starbucks để mua vài tờ xổ số thì đâu có đến nỗi chết thằng tây nào.

    Những người bài bác xổ số thường nêu ra ý nghĩa của vấn đề cần tiết kiệm để đầu tư (? Nhưng ngay cả đầu tư cũng có vấn đề. Không phải cứ đầu tư là sẽ thành công); Làm mọi cách để học hỏi, khôn ngoan hơn trong việc dùng tiền. Tiết kiệm và đầu tư cũng không có nghĩa là sẽ trở thành giàu có. Giàu có lẽ phải có duyên số; chứ không phải vì không mua xổ số, biết để dành tiền đầu tư, hay vì tài giỏi. Mỗi năm hệ thống giáo dục Hoa kỳ đào tạo trên 40,000 Tiến sĩ (thí dụ riêng năm 2008 có 48,802 Ph. D.) đâu có nghĩa là học cao (có Ph. D.) là sẽ giàu có. Tôi quen vài ông Tiến sĩ thất nghiệp dài dài và có vài ông Tiến sĩ đi bán xe cũ (used car dealers) kiếm cũng chỉ đủ sống qua ngày. Có sẽ cũng có vài chục ngàn Tiến sĩ (mỗi năm) mua xổ số chờ thời vận.

    Chi 100-200 đô la mỗi năm mua xổ số thì không thề “bankrupted” được. Có nhiều tay không hề mua xổ số nhưng lại tiêu xài vung vít phí của qua các mục đi xem thể thao, Las Vegas trips, tiệc nhậu liền tù tì… thì cũng thế thôi! Mua vé số là để hy vọng thắng một số tiền. Nếu không có cái hy vọng này thì chẳng có ma nào dại đóng hụi chết cho sở xổ số mỗi tuần. Đối với người nghèo số phận họ đen như mõm chó thì họ không cần tình thương và sự thông cảm. Họ chỉ cần được trúng số! Cái tuyệt vời của xổ số là không phải sổ chỉ một lần rồi xong phim dẹp tiệm mà ngày nào, tuần nào cũng có xổ số cho nên hy vọng không bao giờ cần phải dừng lại một lát để nghỉ xả hơi…

    Riêng cá nhân tôi, nhờ trời, tạm coi là đủ ăn đủ mặc nhưng cũng muốn trúng số. Không hiểu người khác sẽ có những dự tính, chương trình thơ mộng gì sau khi trúng số. Tôi mà trúng số thì việc đầu tiên phải làm là sẽ cho từ thiện ¼ số tiền trúng và việc thứ hai là sẽ điều đình mua cho bằng được công ty “Thúy Nga Paris” để rồi ngay sau đó biếu cho cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên một số tiền để cô ta tự ý nghỉ không phải làm MC thêm một kỳ DVD nào nữa… Giời ạ! She is the real pain in the you-know-what! Nhiều người đã sẵn bị di ứng cái cười có 102 của cô KD sẽ may ra sống hạnh phúc và sống lâu hơn chút đỉnh sau khi cô ta hết làm Em-xi.

    Tiền (trúng số) thì vẵn là tiền. Ở đâu, lúc nào thì cũng có sẵn người khôn và người ngu. Báo chí Hoa kỳ gần đây nêu ra tên tuổi trong một cái danh sách rất dài những anh chàng trúng độc đắc với số bạc lớn vài chục triệu đô la chỉ vài năm sau thì banh càng: khai khánh tận, ăn mày hoặc chết vì ma túy qua liều… Chuyện này đâu có gì là lạ. Vài anh chàng “đần độn” không biết cách dùng, quản trị một số tiền kếch xù để tiêu tán đường hết trong một thời gian ngắn đâu có nghĩa là mọi người đầu đần độn như họ. Tiền trúng số không thể biến người đần độn thành khôn ngoan ngay được. Có nhiều người trúng số độc đắc và sống đời thật hạnh phúc sung sướng sau khi trúng số thì không thấy báo chí nói đến vì những cái “good news” như vậy không lôi cuốn người đọc. Ngay cả cái hệ thống giáo dục khá hoàn hảo của Hoa kỳ cũng không hề chú tâm đến việc dạy dỗ công dân Hoa kỳ, từ bậc tiểu học cho đến hết trung học, cách quản trị tiền bạc (money management) cho hiệu quả; Bỗng nhiên lại có một số tiền lớn chưa từng có bao giờ, họ có khuynh hướng xài tiền như ăn cơm – tức là ăn cho tới hết thì thôi. Trước khi trúng độc đắc, một người từng sống cẩu thả về tiền bạc thì sau khi trúng độc đắc họ sẽ sống cũng y như vậy. Người thành công trong đời sống vốn dĩ họ không phung phí tiền bạc thì sau khi trúng số họ đã biết cách dùng tiền như thế nào để có hạnh phúc lâu dài.

    Tôi chưa biết nên tự xếp loại chính bản thân mình là người thuộc về nhóm nào: khôn ngoan hay đần độn; nhưng tôi vẫn luôn cầu trời cho tôi “bị” trúng số độc đắc (“unlucky to win!?”) một lần để xem tôi có biết cách dùng tiền hay không?! Tôi tự hứa với thượng đế trên cao là tôi vẫn sống cuộc sống thầm lặng bình thường; sẽ tiếp tục giữ cái công việc hàng ngày (daytime job) của tôi khi mà tôi chưa đủ tuổi về hưu; sẽ trả hết các nợ cũ (mortgages, credit cards, car loans, college loans…); mở các “trust funds” sẵn sàng cho con cái vào đại học; sẽ mua một căn nhà khiêm nhường nhưng khang trang hơn căn nhà cũ chật hẹp đang cư ngụ, sẽ mua 1-2 cái xe mới thực dụng cho vợ con, mỗi ngày sẽ ăn những bưa ăn với thức ăn uống bổ khỏe; Nhưng chắc chắn là tôi sẽ không nghiền rượu, không nghiền ma túy; sẽ không cờ bạc; không mua máy bay riêng, không mua xe sport, du thuyền đắt tiền… Đó là chưa kể ở thế giới tự do này, tiền tự nó lại sinh ra tiền qua Savings, CD’s, Bonds (không phải loại “junk bonds” của anh Do thái Madoff)… Nói tóm lại, tôi sẽ không sống như tỷ phú, sẽ không sống như đang sống ngày cuối cùng của cuộc đời… Vẫn tiếp tục sống thoải mái trên ¼ tổng số tiền (trúng số độc đắc) cộng với số tiền lời (interest) của 3/4 tổng số còn lại… Cứ theo như cái phương trình đơn giản này thì làm sao mà xài hết tiền bạc triệu cho được. Dù không (chưa) trúng số nhưng tôi cảm thấy cũng đã tự làm được việc này rồi chứ đâu phải chờ đến lúc đó.

    Ai cũng hiểu là tiền trúng xổ số khác hẳn tiền dành dụm mồ hôi nước mắt. Cái khó ở chỗ làm sao mình xem tiền trúng số cũng y như tiền dành dụm mồ hôi nước mắt thì mọi chuyện yên ổn. Ờ! Nói thì dễ. Làm mới khó. Nhưng cứ chờ đến lúc trúng số thì mới biết “vàng đá.”

    “Thà xài vài phút huy hoàng rồi chợt tắt.
    Còn hơn tiêu lẻ tẻ bạc cắc suốt trăm năm.”


    Cuôc hành trình ngàn dặm phải bắt đầu từ một cái vé số trúng số độc đắc.

    “Con quỳ lạy chúa trên trời.
    Sao cho con trúng độc đắc một lần. Chúa ơi…”


    Trúng số hay không thì cũng không bao giờ nên để tiền nó hủy diệt mình, biến mình thành nô lệ. Một chân lý không ai có thể chối cãi được là: “Cuộc đời đầy rẫy những đau khổ nhưng sống nghèo thì còn khổ hơn nhiều.” - Cho nên chữ “nghèo” thường đi đôi với chữ “khổ” là vậy. Nghèo thì khổ đã đành; giàu cũng có cái khổ riêng của giàu. Nhưng cũng đừng vội nghe lời rao giảng của những nhà đạo đức là “tiền không mua được tình yêu (?)” bởi vì thực tế không phải như vậy. Ít ra, tiền giúp mình trả hết các món nợ (“bills”) cũng đỡ khổ rồi. Đỡ phải gây gỗ với bà xã vì thiếu tiền này tiền nọ…

    Ở Hoa kỳ, người giàu muốn sống thoải mái không lo lắng thì phải cần phải có một lúc 3 người cố vấn tốt: Cố vấn pháp luật (Luật sư), Cố vấn thuế vụ (Accountant, người giữ sổ sách khai thuế), và Cố vấn tài chánh (Financial Advisor)… Mấy anh da đen chơi thể thao vừa ra khỏi trường học, có ký hợp đồng vài chục triệu trong vài năm để chơi thể thao chuyên nghiệp cho một hội bóng nào đó; ngay sau khi phải về hưu non (có thể vì bị thương nhiều quá hay đã thực sự hết “xíu quách” ở tuổi 30-40) là cũng là lúc sạt nghiệp chỉ vì mấy anh đen có đầu óc y chang như dân nghèo bần cố nông trúng xổ số: thứ nhất họ thiếu hẳn 3 ông cố vấn quan trọng vừa mới kể ở trên; thứ hai họ lại bị các em gái chân dài da trắng tóc vàng mắt xanh và các Manager / Sport Agent (thường là dân da trắng / Do thái) lừa rút hết tiền hồi nào không hay!!!

    Trúng một số tiền lớn dễ làm thay đổi cá tính cách sống (lifestyle) của mình. Thành ra thấy mấy cảnh nhà giàu có gia đình, hôn nhân đổ vỡ, con cái hưu hỏng, chết vì nghiện rượu ma túy không phải là chuyên lạ. Tuy vậy, không nên trách chuyện có nhiều tiền, mà nên trách các cá nhân đã cho phép tiền làm thay đổi cá tính và cách sống của mình.

    Nhiều người không mua vé số vì vẫn tin là “tôi chẳng bao giờ trúng cái giải gì, dù lớn hay nhỏ,” “chỉ phí tiền…” Cuộc đời vốn dĩ tự nó đã là một canh bạc lớn rồi. Mọi người cứ vui vẻ mua vài đồng vé số mỗi tuần. Chẳng chết thằng Tây nào. Đến khi “bị” may mắn trúng số thì sẽ hạ hồi phân giải chưa muộn.

    Đời là vô thường. Chúng ta thực ra không để ý cho lắm những lời chúc tụng máy móc nghe qua quá nhiều lần đã mất hết “ép-phê” như: Have a Good Thanksgiving, a Merry Xmas and Happy New Year, Happy B-day… mà chỉ cần trúng số.

    (Life is so impermanent! You actually do not care to pay attention to the business-as-usual greetings such as “Have a Good Thanksgiving, a Merry X’mas and Happy New Year, a Happy B-day… Only thing you really need today is to win a lottery. Just win one dude!

    Better be cursed with lots of money than cursed and poor…
    Who said that?
    )

    Vài lời thô thiển. Nếu đọc nghe không vô thì cũng vui lòng làm phước bỏ qua dùm; nhưng dù gì đi nữa cũng nhớ mua xổ số cho tuần này nghe quý vị !


    Trần Văn Giang

  3. .

    “Cứ giữ im lặng để mọi người nghĩ là minh đần độn thì tốt hơn; vì một khi mình mở miệng ra thì mọi người không còn hoài nghi nữa.”

    (Nguyên văn: “Better to remain silent and be thought a fool than to speak out and remove all doubt.”)

    - Abraham Lincoln.


    Đần độn là một tĩnh từ chỉ một trạng thái của con người hay sự việc ở bên ngoài cái nghĩa bình thường đã được đa số chấp nhận (norm). Nghĩa tiếng Việt của “Đần Độn” là “Thiếu khôn ngoan.” Chữ Anh ngữ tương đương là “Stupid” (“xì-tú-bịch”), “Ignorant” hoặc “Foolish.”

    Người đần độn làm, hoặc nói ra những điều đần độn vì bản tính đần độn hoặc có chủ đích làm người khác phải chú ý đến mình… Cũng như trẻ con hay làm “chuyện trẻ con” để được chú ý. Chúng ta, người lớn biết suy nghĩ thì không nên làm những chuyện “thiếu khôn ngoan.”

    Trong số các con vật ngu đần. Theo tôi, con heo là con vật ngu nhất vì suốt đời sống nó chỉ biết ăn, ngủ và phóng uế; mà lại phóng uế ngay tại chỗ nó đang ăn đang nằm mới gọi là ngu.

    Đời sống trần tục, không có ai là hoàn hảo vì chúng ta không phải là Thần thánh, là Phật… cho nên đôi khi cũng phạm phải những lỗi lầm (mistakes); Tuy là “Lỗi lầm” thôi, nhưng người chung quanh cũng có thể xếp “chuyện lỗi lầm” đồng hạng với “chuyện đần độn.” Một khi mình cứ tiếp tục làm mà không quan tâm đến, hoặc không sẵn lòng muốn sửa sai, thì mình là kẻ ngu đần thật. Người làm chuyện đần độn có lẽ chưa hiểu hết ý nghĩa của chữ “trò hề”; hoặc vì họ có quyền cao chức rộng nên không cần biết ảnh hưởng, thiệt hại của trò hề sẽ như thế nào, sẽ đi đến đâu… Cứ “vô tư” chổng mông vào mặt thiên hạ nói hoặc làm “lấy được.” Lãnh đạo csvn và đảng csvn là bằng chứng của bản tính đần độn trong cái chủ nghĩa đần độn “quá đát.”

    Lãnh đạo cao cấp csvn tự tiện thoải mái phát ngôn những suy nghĩ, nhận định trước mặt dân chúng, quan sát thế giới giữa ban ngày trời sáng mà không cần quan tâm chuyện phải nói năng cho cẩn thận, giữ mồm giữ miệng. Chỉ vài dòng ngắn ngủi nghe rất thô thiển, dung tục, ấu trĩ, thiếu hẳn “logic” (đó là sự gắn bó chặt chẽ của các ý, các điều đã được nói và chấp nhận từ trước), nghe lố bịch không xuôi tai. Sự lố bịch đã thể hiện đầy đủ các ác tính điển hình của con người cộng sản; phô bày bản chất vi-xi là một con bệnh luôn luôn “tự sướng” (có cảm giác tự tâm đắc) với việc làm của chính mình, đến mức không thể tự kiềm chế được. Họ thừa hiểu những lời vô nghĩa, “nói cho lấy được” là chuyện quá quen thuộc với nhiều người trong hàng ngũ lãnh đạo thiếu nhân tính và trí tuệ tối thiểu như họ. Tuy nhiên, từ những ngày đầu của cuộc cách mạng vô sản, sự “vô tư, thoải mái” đó đã nói lên cái truyền thống bệnh hoạn về tư tưởng, cách suy nghĩ sinh ra (còn gọi là di sản?) từ những con người tự xem mình là “cách mạng” là thành trì của xã hội chủ nghĩa vô sản này.

    Thật không may cho dân Việt, số lượng con bệnh đó ở ngay trong hàng ngũ lãnh đạo ngày càng nhiều, càng trầm trọng. Ở phần dưới, người viết sẽ chưng ra một số bằng chứng, nhân vật lãnh đạo csvn đã và đang sử dụng loại ngôn ngữ đần độn, nghe muốn chết liền, để quý vị thấy rõ hơn bịnh lý, kích thước của thứ “u bướu đần độn” này trầm trọng như thế nào.

    Xã hội Việt Nam bây giờ chỉ là chỗ đầy rẫy khổ đau, nhục nhằn, uất hận, loại đấm ngực bức tóc kêu trời, cởi áo lót tụt quần xì đưa chỗ kín đáo nhất của cơ thể ra kêu oan vẫn không thấu… Dân Việt đang trả cái nợ vì đã lỡ dại mù lòa, nhẹ dạ đi hùa theo sự dối trá và tàn bạo của lãnh đạo cs, chứ đâu có phải là chỗ vinh quang, ấm no, tự do, văn hóa gì đâu?

    Điểm mặt lại những thành phần lãnh đạo csvn hiện nay, chúng ta thấy chúng chỉ thuộc quanh quẩn một trong 3 cái “Ệ, Ệ, Ệ” như sau:

    Hâu duệ - Con cháu dòng giống thế hệ thứ 2, 3 của trùm cộng sản.
    Quan hệ - Có quan hệ bà con gần xa gần, là bạn bè của trùm cộng sản.
    Tiền tệ- Hạng giầu có sẵn tiền của, đã hối lộ để mua các chức cao cấp trong chính quyền cộng sản.

    Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao cán bộ các cấp lãnh đạo csvn lại hay có kiểu phát ngôn đần độn giống y chang như nhau?

    Chẳng riêng gì người viết, nhiều người trong bàng dân cũng nhận ra có hai nguyên nhân khiến lãnh đạo cũng như cán bộ đảng các cấp tại Việt Nam hay tự tiện phát ngôn một cách đần độn.

    Nguyên nhân thứ nhất: Sự ngu dốt cố hữu thiên phú. Nói cách khác là họ đần độn thật chứ không phải họ giả vờ. Đại đa số các bộ csvn tiên khởi như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn, Đỗ Mười,… đều xuất thân bần cố nông, thất học hoặc có trình độ học thức rất thấp, lang bạt kỳ hồ, du thử du thực, làm những nghề tay chân khiêm nhường như bồi tầu, thợ thiến heo, phu cạo mủ cao su, phu đường sắt, cướp cạn… Nhờ tính quỷ quyệt, luồn lọt phục vụ khá đắc lực cho các thế lực cs quốc tế; họ được các lực lượng võ trang, phong trào cộng sản quốc tế có chủ tâm bành trướng chủ thuyết cộng sản giúp đỡ để có cơ hội “cướp chính quyền” và độc quyền lãnh đạo dân tộc Việt… Rồi qua những bài bản tuyên truyền loại “quy luật muôn đời” của cộng sản hoặc vì qua thói quen mặc cảm bần nông, họ đã tự đề cao và đánh bóng nhau gần tới trời. Họ cứ tưởng thật họ là thành phần ưu tú, là đỉnh cao của trí tệ (?) trong xã hội cho nên hay nói năng lên lớp để răn giảng người khác, nhưng lại không hiểu là chính mình đang nói gì. Nếu họ biết xấu hổ thì có lẽ cũng đở đần hơn rồi!

    Nguyên nhân thứ hai: Sự ngu dốt cố tình. Họ không ngu mà chỉ cố tình giả đần độn. Đây là trường hợp của một số lãnh đạo csvn hậu duệ (thế hệ thứ 2, 3) hoặc lớp lãnh đạo sản phẩm của tiền hối lộ (lãnh đạo mua chức quan cách mạng). Họ có ăn có học hơn lớp cộng sản cha anh tiên khởi. Họ có cơ hội sống tiếp cận và nhìn đọc thấy đời sống văn minh của thế giới tự do không cộng sản; nhưng họ cũng làm y như thế; tức là cũng phát ngôn đần độn chịu không nổi, để chứng tỏ là họ có truyền thống cách mạng, đang hiên ngang đứng cùng hàng ngũ đỉnh cao trí tệ (?) với lớp cs tiền bối. Có như vậy mới tỏ là mình là người của “đảng ta,” biết cách giữ đúng cương lĩnh đần độn của đảng cs. Đây là loại đần độn trá hình nhưng gian ác gấp bội.

    Nhìn vào cấu trúc và ý nghĩa của một số câu nói đần độn chúng ta sẽ thấy cùng một sự lủng củng đến độ phải buồn cười. Một sản phẩm như thế có lẽ chỉ có thể xuất phát từ một thứ óc heo không có khả năng sắp xếp những ý nghĩ đơn giản thành một câu đơn giản rõ ràng. Đôi khi có những tâm sự cuội, loại lấy nước ốc đánh bóng xã hội chủ nghĩa, được điểm thêm vào cái ngôn ngữ ngớ ngẩn. Thấy mà tội nghiệp cho sự cố gắng “động não” của mấy anh vi-xi. Tất cả nhìn giống như một nồi cháo heo có lẫn một mớ lông (hair!) heo nuốt không vô. Tất cả rất xứng đáng là những đỉnh cao của sự ngu dốt.

    Cái oái oăm của sự đần độn này là lãnh đạo cs thường không bao giờ chỉ lên tiếng 1, 2 lần để lấy đủ tiếng ngu. Họ như loại bò ăn cỏ, nhai đi nhai lại nhiều lần, ngày này qua ngày khác; và nếu chẳng may gặp được những câu triết lý ngu xuẩn vô tiền khoáng hậu (chẳng hạn như câu “Cuộc chiến thắng thần thánh…” – Cs vô thần làm quái gì mà có thần với thánh! Đồ đểu!) về hoàn cảnh đất nước, thanh niên, về tình yêu đảng, chủ thuyết Mác Lê… như nói ở trên được đồng loạt các truyền thông lề phải phụ họa phóng đại thêm, kéo theo thêm 1 loạt những bài viết thiếu hẳn cái thông minh tối thiểu, hoặc để cố tình sỉ nhục sự thông minh của người dân Việt; chỉ tổ làm cho cái ngu bi đát của lãnh đạo cs đi đến chỗ hết thuốc chữa. Nói cách khác, triệu chứng ung thư tư tưởng ngu này là thứ bệnh lý nguy hiểm. Đối tượng mắc phải thứ loạn ngôn này thường đã có đủ sẵn trong người các loại nan y có trên hành tinh.

    Nếu thấy cần phải xả bớt tâm sự ngu đần của bản thân, điều đó không ai cấm, nhưng đừng biến nó thành một phim bộ dài lê thê mà tập nào cũng như tập nào và bắt dân vô tội phải nghe. Ngu vừa phải sẽ được quần chúng dễ dãi thông cảm. Ngu mạn tính mà lại là xuất phát từ cấp lãnh đạo thì sẽ trở thành“thảm họa.” Lãnh đạo loại này trước hay sau cũng sẽ đưa đất nước xuống hàng chó ngựa (xhcn)… Mà đất nước hình như đang ở ngang hang với chó ngựa rồi còn gì!?

    Người Việt ta có câu “Thà làm đầy tớ thằng khôn hơn làm thầy thằng dại,” nhưng trong cái hoàn cảnh chính trị đần độn này, dân Việt đành phải nhắm mắt đưa chân chịu làm đầy tớ mấy thằng ngu mới châm! Đau hơn bị thiến…

    Phát ngôn đần độn của lãnh đạo csvn thì có nhiều lắm; nhưng người viết chỉ dẫn chứng một số trường hợp tiêu biểu từ các quan “cực” lớn cách mạng như sau.


    1- Hồ Chí Minh

    Ngày 17-7-1966 (cách đây 49 năm), qua “Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam,” Hồ Chí Minh đã lần đầu tiên gởi đi lời kêu gọi “Chống Mĩ cứu nước.” Cũng trong lời kêu gọi này, còn có kèm cả câu nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do.” Hai câu nói này đã trở thành khẩu hiệu gian trá thôi thúc cả dân tộc bước vào cuộc chiến tranh nóng hoàn toàn vô nghĩa và như thực tế của ngày hôm nay đã chứng minh 2 thực tại rõ như ban ngày: 1- Đánh là đánh cho Liên sô và Trung quốc; 2- Có ai sáng mắt để dám nói là đã thấy quyền tự do trong một đất nước đã độc lập…

    Phải chống Mỹ vì “Mĩ đã xâm lược Việt Nam!” Có phải thật như vậy không? Nhìn lại, trước khi đến Việt Nam (1965), Mỹ đã có mặt tại các nước Đức, Nhật, Nam Hàn và Đài loan. Mỹ đã giúp các quốc gia này trở thành độc lập, tự do, và phú cường thật sự chứ không phải tuyên truyền dối trá. Không thấy quốc tế hay dân Đức, Nhật, Nam hàn và Đài loan lên án Mỹ xử sự như là đội quân chiến thắng, đã bóc lột hay xâm lược lãnh thổ của kẻ chiến bại hoặc quốc gia được”giải phóng” nào. Trong khi đó, Liên sô “vĩ đại” cũng lấy danh nghĩa “cách mạng vô sản anh em,” “giải phóng dân tộc” y như csvn đã cóp-pi để chiếm hàng loạt các quốc gia nhỏ xung quanh làm thành Liên bang Sô Viết; đồng thời dùng sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị để uy hiếp, cộng sản hóa các quốc gia nhỏ, yếu kém ở Đông âu. Ở Á châu, cũng vậy, Trung cộng ngay sau khi củng cố bạo quyền ở lục địa, đã nhanh tay chiếm đóng Tây Tạng, lấn chiếm biên giới với Ấn Độ và Liên Sô. Như vậy, thì người Mỹ mới đặt chân đến miền Nam Việt Nam năm 1965 liệu có phải là những bước chân “xâm lược” như csvn hô hào?

    Hôm nay, dưới áp lực mỗi ngày một nặng thêm về chủ trương thôn tính biển đảo của Trung cộng; csvn càng ra sức o bế, ve vãn, lấy lòng Mỹ bao nhiêu thì càng chỉ tổ phô trương cái đường lối chính trị đần độn mà Hồ chí minh và csvn đã ra rả cổ võ. Qua các diễn biến của thời cuộc, có lẽ csvn chưa đủ can đảm “tự chửi bố mình” bằng cách thay bốn chữ “Chống Mĩ Cứu Nước” thành “Rước Mĩ Cứu nước” mới phải, mới thật chính xác. Cả một lũ hề diễu dở csvn ngu còn hơn lợn làm sao có đủ đởm lược để thẳng thắn sửa sai.

    Nên để ý là các câu nói mà chính HCM tự chế ra như “Chống Mĩ Cứu nước” thì sai bét (sai cả từ chính tả!)… nhưng một số câu HCM nói nghe có luận lý (logic), có thông minh một chút thì khi nhìn kỹ lại chỉ toàn là đồ ăn cắp. Thí dụ:


    - Cóp-pi từ Bản Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ

    “Chính sử của đảng cộng sản và nhà nước XHCN Việt Nam” đã khẳng định là “Bác Hồ” đã “tự ý soạn thảo” ra và đọc “Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” trên lễ đài sáng 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội như sau:

    “Hỡi đồng bào cả nước,

    Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…"
    (Trích “Hồ Chí Minh toàn tập”)

    Trong khi bản “Tuyên ngôn độc lập của Hoa kỳ” công bố năm 1776 đã được viết là:

    “All the peoples on the earth are equal from birth, all the peoples have a right to live, to be happy and free.”
    (Declaration of Independence of the United States of America 1776)


    - Cóp-pi của lời của TT Kennedy đọc trong buổi nhậm chức Tổng thống Hoa kỳ ngày 20 tháng Giêng năm 1961.

    Bác Hồ đã dạy: Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã làm gì cho mình; mà ngược lại, phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà?

    (Trích nguyên văn bài diễn văn Nguyễn Phú Trọng đọc trong Ngày Đại hội Liên Hiệp Thanh niên tại Hà nội ngày 29 tháng 12 năm 2014).

    Trong khi bài diễn văn của Tổng Thống John Kenny đọc trong ngày nhậm chức có đoạn:

    “And so, my fellow Americans: ask not what your country can do for you — ask what you can do for your country.”

    (John F. Kennedy's Inaugural Address, January 20, 1961.”


    2- Nguyễn Phú Trọng

    Cứ nói đến Nguyễn Phú Trọng là người dân trong nước phải nhắc ngay hai chữ “Trọng Lú.” Tôi chưa biết có “lú” thật hay không? Đọc lý lịch của Nguyễn Phú Trọng thì thấy là hắn một Tổng bí thư TƯ đảng csvn có bằng cấp cao nhất trong số các cựu Tổng bí thư đảng csvn từ trước – Đó là “Bằng Tiến sĩ Chính trị học” (chuyên ngành xây dựng Ðảng). Voila! Bằng cấp thuộc loại “chuyên ngành xây dựng đảng” thì “có cũng như không!” (ý nghĩa ngược hẳn với “Có còn hơn không!”) Cái “Chứng chỉ đẩy rác ra đầu ngõ” coi bộ còn có tính cách xây dựng thực tiễn hơn.

    Qua lịch sử cận đại, các đảng cs quốc tế cũng xây dựng và bành trướng y như đảng csvn cứ lần lượt rụng tùng, ra đi không có trật tự. Hôm nay đếm lạ chỉ còn có 4 nước theo xhcn tên hành tinh này.

    Theo kế hoạch, Nguyễn Phú Trọng với tư cách nguyên thủ quốc

    gia (?) sẽ đến thăm hai nước Nam Mỹ là Cuba (ngày 11 và 12 tháng 4, 2014) và Brazil (ngày 13–15 tháng 4, năm 2014). Tuy nhiên, Nguyễn Phú Trọng đã từ Havana Cuba bay thẳng về Việt Nam. Quan sát viên quốc tế phải ngạc nhiên, thắc mắc tại sao lại có chuyện thay đổi Chương trình đột ngột kỳ cục như vậy? Hay là Nguyễn Phú Trọng ăn nhằm cơm gạo hẩm do Raul Castro của Cuba nấu rồi bị tướt, đứng cầm quần lâu không được!

    Nhất định phải có cái gì “đột xuất” trong chuyến thăm Cuba này của Trọng lú: Trong tuyên bố chung Việt Nam–Cuba được đưa ra vào ngày 12/4/2014, TBT Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Cuba Raul Castro cùng nhau ca ngợi “sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội (?)” đối với chủ nghĩa tư bản và khẳng định tình đoàn kết của hai nước Việt Nam–Cuba; và Nguyễn Phú Trọng còn vớt thêm một chiêu sau kẻng là “khẳng định với Fidel Castro rằng hình ảnh của ông luôn ‘là biểu tượng cao đẹp’ trong trái tim ‘mỗi người Việt Nam!’ (sic) Có lẽ vì 2 vấn đề lỗi thời (quá xá ‘quá đát!’) này (“Sự Siêu Việt của Xã hội chủ nghĩa” và “Fidel là biểu tượng cao đẹp”) làm cho Tổng thống Brasil là Bà Dilma Roussef hú vía; phải vội vàng thông báo “nóng” xin hủy bỏ cuộc gặp gỡ, tiếp đón Nguyễn Phú Trọng. Kết quả, Nguyễn Phú Trọng phải cuốn cờ đỏ sao vàng đi về từ Havana. Dù sao cũng bớt đi được một bản thông cáo chung Việt Nam–Brasil khập khiễng.

    Ngay sau khi trở về Việt Nam, Trọng Lú vội vàng xin yết kiến Tập Cận Bình để đàn em được “trải lòng” với đàn anh về vụ Biển đông qua vụ giàn khoan Hải Dương-981 ("HD-981"); thì lập tức Tập Cân Bình chê Nguyễn Phú Trọng đần, từ chối không tiếp. Nhục thật!

    Tổng Bí thư T.Ư. Đảng csvn Nguyễn Phú Trọng lại tìm cách khác để lú tiếp chẳng hạn Trọng phát biểu tại “Đại hội VII Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam” tại Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2014 có đoạn:

    (nguyên văn)

    “… Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam cần tiếp tục cùng với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm tốt công tác giáo dục, định hướng thanh niên, góp phần xây dựng một lớp thanh niên mới có tâm, có trí, có tài, có tính tự trọng và tự chủ.. Có "tâm" là có lòng yêu nước, yêu chế độ; yêu thương bản thân, gia đình…”

    (ngưng trích)

    Hay thật. Trọng Lú ngay giữa ban ngày phô trương cái bản tính gian lận của csvn, của một tay giang hồ tráo bài ba lá qua câu:


    “Thanh niên có ‘TÂM’ là có lòng yêu chế độ?” C’mon! WTF!

    Chữ “Tâm” mang sắc thái tôn giáo rất đậm. Chẳng hạn, Đạo Phật nói về “Tâm” rất nhiều. Tâm là “cái lòng” trong sạch, cái ý muốn hướng thiện (nhận thức lẽ thiện và nỗ lực thực hành điều thiện). Nguyễn Du cũng đã diễn giải quan niệm về cuộc đời trong “Truyện Kiều” qua những bước đi tuần tự của tài năng và số phần đố kỵ. Sau cùng, theo Nguyễn Du, chỉ có sự “Tu Tâm” mới cải hóa được số phận đã được định sẵn:

    “Thiện căn ở tại lòng ta
    Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI.”


    Đằng này, chữ “Tâm” bị Trọng lú trơ trẽn hấp diêm là “lòng yêu chế độ” - cái chế độ cs vô thần đã cổ xúy việc “Giết. Giết nữa. Bàn tay không ngớt nghỉ” mới làm cho dân thấy thôn thốn cái bộ phận to đùng nằm ở chính giữa hai ngón chân cái…

    Dân Việt bây giờ còn có mấy ai quan tâm đến những gì Trọng lú nói. Không cần phải nghe cũng biết Trọng lú sẽ nói gì trước hội nghị, phiên họp, ra mắt, đại hội… vì hầu hết chỉ là bổn cũ soạn lại.


    3- Phùng Quang Thanh / aka Phành Quang Thung

    Anh Phành nhà ta từ tên tuổi cho đến hình dáng, ngôn ngữ y chang một anh tầu bán hủ tíu mì gõ. Nhiều người thắc mắc làm sao mà xì thẩu béo phị cổ rụt này có thể có cơ hội trèo cao miết lên tới tận Tướng 4 sao, kiêm Tổng trưởng quốc phòng, kiêm Tổng Tư lệnh Quân độn nhân rân, kiêm lung tung… ngang háng với Võ Nguyên Giáp. Hay là xì thẩu Phàng Quang Thung chạy mua chức Tướng này?

    Chuyện Trung cộng uy hiếp các nước láng giềng như Việt Nam, Nhật, Phi Luật Tân, Đài loan… ở biển đông làm công luận thế giới phải lên tiếng bất bình; và Hải quân cùng với ngư dân Việt Nam đã điêu đứng; mất mạng, tài sản, biển đảo… Thế mà ngày ngày 1 tháng 6 năm 2014, đại diện cho Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Phùng Quang Thanh phát biểu tại diễn đàn đối thoại Shangri La lần thứ 13 tại Singapore như sau:

    "Quan hệ của Việt Nam và nước bạn Trung Quôc vẫn tốt đẹp?!"

    Trước đó, vào năm 2010, Phùng Quang Thanh cũng có gây “chấn động” trong và ngoài nước qua lời phát biểu ngu không chịu nổi là:

    "Trên biển Đông là yên tĩnh, tôi chỉ huy quân đội hằng ngày, hằng giờ, tôi nắm tình hình hoạt động của chúng ta hết sức bình thường. Vẫn làm, vẫn hoạt động kinh tế bình thường, hàng hải bình thường, du lịch bình thường, làm ăn bình thường và không có vấn đề gì trở ngại cả."

    Và:

    "... các nhà báo cũng phải chú ý không để cho các nước khác kích động vấn đề này, người ta sử dụng vấn đề biển Đông để kích động, chia rẽ quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, chia rẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân chúng ta."

    (Nguồn: http://laodong.com.vn/…/khong-nen-lam-nong-tinh-hinh-bien-d…)

    Mẹ kiếp! Mặc dù đã nghe qua lời phản đối của Thủ tướng Nhật (Thủ tướng Shinzo Abe lên án Trung cộng cố y đe dọa an ninh và lãnh thổ các nước láng giềng) và nhân viên chính quyền Nhật; Tổng thống Phi Luật Tân (Tổng thống Benigno Aquino so sánh sự hiếu chiến của Trung cộng ở Á châu với Hitler ngày trước ở Âu châu) và nhân viên chính quyền Phi luật tân. Ngay cả người ngoài cuộc tranh chấp ở biển Đông, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã đưa ra những lời chỉ trích mạnh mẽ nhằm vào Bắc Kinh vì các hành động "đơn phương, gây mất ổn định" của nước này để khẳng định các về các vấn đề tranh chấp với Trung cộng trên biển Đông, về các tuyên bố của Trung cộng về chủ quyền ở Biển Đông. Trong các bình luận thẳng thắn khác thường, ông Hagel đã cảnh cáo rằng Washington sẽ không ngồi yên nếu các nguyên tắc cơ bản của trật tự quốc tế bị thách thức.

    Vậy mà một vị đần tướng tổng trưởng quốc phòng, chỉ huy quân đội nhân rân anh hùng loại khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng của csvn lại phát ngôn đần độn không khác gì một con heo. Con chó còn biết sủa vài tiếng khi thấy trộm vào nhà; còn con chó đần tướng béo phị, cổ rụt này thì chỉ biết vẫy đuôi mừng ăn trộm. Con chó dại Phành Quang Thung này không biết xấu hổ. Hắn còn đi xa hơn, tự nhận mình là anh em một nhà với bọn ăn cướp tầu cộng mới nhục chứ... Có lẽ các lính Hải quân của vi-xi không có chuyện gì quan trọng để làm ở Gạc-ma cho nên xếp hàng rồi tự lăn ra chết hàng loạt ở đảo; hoặc ngư dân đánh không được cá cho nên chán nản tự đâm chém vào người, tự đập chìm tầu cá cho đỡ giận… Dưới con mắt của lãnh đạo csvn, đó cũng là “chuyện bình thường” thôi có gì mà phải ồn ào.

    Ngoài ra, báo “Thanh Tra” còn trích nguyên văn lời phát biểu của Phùng Quang Thanh hôm 29/12/2014 tại cái gọi là “Hội nghị của Chính phủ với địa phương “triển khai” Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2015.” Trong đó, Phùng Quanh Thanh bày tỏ sự quan ngại trước xu thế người Việt Nam càng ngày càng ghét Trung cộng, điều mà người đứng đầu lực lượng quân đội nhân dân anh hùng cho rằng sẽ là “chuyện nguy hiểm cho dân tộc”:

    “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc.”

    Chà chà! Đần tướng Phùng Quang Thanh tiếp tục “ní nuận” theo cái ‘tư duy” của chủ “nghĩa đần độn” là khi có sự xung đột giữa hai nước cs xảy ra thì cần phải “hết sức bình tĩnh, tin tưởng tuyệt đối vào Bộ Chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ”:

    “Chúng ta tăng cường hợp tác để hạn chế mặt phải đấu tranh, nhưng đấu tranh cũng để hợp tác. Đấu tranh không thể để đỗ vỡ, xung đột.”

    Thật đúng là cái “quy luật muôn đời” nghịch lý của cs. Thay vì Phùng Quang Thanh bày tỏ sự lo lắng trước dã tâm xâm lăng thâm độc của Trung Cộng, lo lắng cho sự tồn vong của đất nước thì đồng chí Thanh lại rụt cổ “cảm thấy lo lắng” khi người thấy dân Việt Nam càng ngày càng tỏ ra ghét Trung cộng. Hay là đồng chí Thanh béo quá cổ rụt, không quay được cho nên không còn thấy phải trái là gì? Thành thật bái phục dại tướng rụt cổ… Dại tướng đã có công kéo cả một hàng ngũ quân đội nhân dân anh hùng rụt cổ theo. Còn tinh thần đâu? Có thấy địch đâu? Mà đánh với đấm… Có lẽ nghề ngỗng thứ nhất thích hợp với phong cách của Phùng Quang Thanh là cai ngục vì nghề này không cần phải biết nói chuyện cho văn hoa, thuyết phục; hay nghề thứ hai là tài tử đóng phim 8mm hoạt họa thú vật vì hắn không cần phải tốn công hóa trang nhiều để thành heo nọc.

    Một lần nữa, bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã lộ rõ bộ mặt hèn nhát, nâng bi, nịnh bợ của một kẻ hèn hạ thân Tầu. Bởi lẽ chỉ có Tầu cộng mới cảm thấy lo lắng khi bị người khác ghét. Chuyện dân Việt ghét Tầu cộng cũng đủ khiến bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh lo sợ, thì không hiểu đến khi lâm trận thực sự với Tầu thì ông đại tướng rụt cổ sẽ cầm quần như thế nào đây? Đại chướng gì mà tư cách kém cỏi quá. Phát ngôn đần độn của hắn làm cả một quân đội, một dân tộc bị nhục lây. Có phải Phành Quang Thung là một gián điệp của Tầu cộng trồng ngay tại chính quyền csvn… Dân Việt còn trông cậy gì vào cái gọi là quân đội nhân dân chỉ huy bởi tên gián điệp Tầu này nữa hở trời?


    3- Nguyễn Thị Doan

    Mới đọc và nhìn qua hình ảnh của chị Nguyễn Thị Doan, phó chủ tịt nhà nước csvn, tôi cứ tưởng lầm chị chính là nhân vật “Chị Doãn” như đoạn văn của Vũ Trọng Phụng viết trong tiểu thuyết “Lấy vợ xấu” mô tả dưới đây: .

    “Chị Doãn là một người đàn bà, có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai…”

    Chị tuy xấu người nhưng lại rất can đảm. Xem ra, chị Doan còn to gan hơn cả Lê Văn Luyện, dám “chém gió” ào ạt, coi nhân dân, trí thức Việt nam chỉ to bằng củ… khoai lang luộc, với lời phát ngôn đáng ghi vào lịch sử loài vật. Chị Doan Phó chủ tịch nước viết trên báo “Nhân dân điện tử” hôm 5/11/2011 như sau:

    (nguyên văn)

    “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, biết kế thừa những tinh hoa dân chủ của các Nhà nước pháp quyền trong lịch sử và đã, đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”… .

    (ngưng trích)

    Có thật là "(Dân chủ ở nước ta) cao hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản?!"


    Chị Doan cho cả nhà cháu nhờ tí ! Xin hỏi nhỏ là hôm đó chị có bị ấm đầu hay đau trĩ gì hông mà chị “phát cuồng” đến thế? Tôi xem “lý lịch trích ngang” của chị thấy chị từng lấy bằng Tiến sĩ kinh tế (PhD in Economics) từ xứ xa xôi diệu vợi Bún-Gà-Ri (Bulgaria) nhưng tôi thấy chị sao lại tối dạ, ngu dốt đến thế! Không biết óc ở trong sọ của chị có lẫn với phân xanh hay cám bèo lợn hay không mà chị nói liều và đần như vậy.

    Chị Doan là ví dụ điển hình cho thành ngữ dân gian: “Nói Lấy Được!” Cá mè một lứa. Chuyện của chị chỉ có thể xẩy ra ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, định hướng kinh tế thị trường!

    Chỉ mong trong những năm sắp tới, nếu lãnh đạo csvn đần độn chưa bị dân chúng đưa hết cả lũ vào ống cống có xông sẵn thuốc chuột, người dân có thể thoải mái bàn luận về chính trị và than phiền về những cái sái trái của chính phủ như dân các nước các nước tư bản đang làm bây giờ là hạnh phúc rồi; Còn chuyện “dân chủ gấp vạn lần” đúng là.... vãi thật. Chị Doan "bệnh" đến như thế này mà câu nói của chị được in phát rộng rải trên báo lề phải thì dân đã hiểu rõ báo lề phải là loại báo gì rồi.


    5- Nguyễn Sinh Hùng

    Có dư luận cho rằng Nguyễn Sinh Hùng là con cháu (hậu duệ) dòng họ Nguyễn Sinh ở Nam Đàn Nghệ an, dòng họ trên khai sinh của Hồ Chí Minh. Cũng có thể có lý vì Hồ Chí Minh thuở nhỏ có tên cúng cơm là Nguyễn Sinh Cung con của ông Nguyễn Sinh Sắc. Nhưng theo Hoàng Cầm (ngày 21 tháng 11 năm 2006) Nam Đàn Nghệ an là cả một vùng lớn có rất nhiều người mang họ Nguyễn Sinh; thì chưa chắc gì Sinh Hùng và Sinh Cung đã là họ hàng… Hoàng cầm nói gì thì nói, thực tế cho thấy me-xừ Sinh Hùng này được đảng csvn cất nhắc lên chức rất nhanh.

    Nguyễn Sinh Hùng hiện giữ chức Chủ tịch quốc hội csvn, chức vị cao nhất trong ngành lập pháp cs (nếu ngành này có thật sự lập ra pháp luật cs).

    Theo như báo chí ghi lại, trong một buổi chất vấn của Quốc hội sáng ngày 12 tháng 6 năm 2010 về vấn đề phải “xử lý các cán bộ tham ô, sai trái” Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố:

    “… Cách chức đi, kỷ luật đi, thì lấy ai mà làm việc các đồng chí?”

    Báo “Pháp luật” có lời thanh minh cho Nguyễn Sinh Hùng, phản biện là báo chí đã không đăng đúng nguyên văn và đăng không đầy đủ lời nói của Nguyễn Sinh Hùng. Nguyên văn phải là:

    "Thủ tướng đã có chỉ đạo rồi, ai sai sẽ bị xử lý trách nhiệm. Tuy nhiên, mức kỷ luật còn tùy thuộc vào kết quả kiểm tra. Nếu luật pháp còn kẽ hở, phải bịt lại... Cán bộ sai thì phải sửa nhưng phải cân lên đặt xuống. Nếu cách chức ngay, lấy ai làm việc. Pháp luật cũng có đạo lý, nếu cứ sai là dẹp thì chúng ta bầu cán bộ không kịp."

    Hay thật. Tôi thấy lời nói ngắn và nói dài có cùng ý nghĩa như nhau chứ có khác nhau chỗ nào? Có khác là chỗ cán bộ cs thối ít hay thối nhiều thôi…


    Lời kết

    Tôi thật ra không kỳ thị hay dị ứng gì về các tuyên bố của lãnh đạo csvn. Đần độn, Ngu là việc và chuyện riêng tư của cs. Tôi sống ở xứ tự do, đôi khi chẳng may đọc nhằm những lời tuyên bố loại này cũng xem như đọc chuyện vui giải trí, để xả “stress.” Riêng người dân Việt trong nước có lẽ đã quá chán ngán vì phải nghe, đọc hàng ngày cái thứ tuyên bố tuyên mẹ bệnh hoạn, đần độn như vậy. Tôi có một lời khuyên “hữu nghị” là quý vị lãnh đạo csvn hãy cứ âm thầm ngu xuẩn, chớ nên ồn ào bố láo quá nhiều. Điều đó không mang lại ích lợi gì cho đất nước và ngay cả đối với bản thân mình.

    Hãy suy nghĩ vài phút trước khi phát biểu một câu nói nào đó. Sự đần độn dù vô tình hay cố ý đều biến mình thành kẻ ngu đi truyền bá cái “ngu học” đến những người chung quanh. Dần dà biến cả một khối dân Việt thành một dân tộc đại ngu.

    Những luận điệu dối trá như “Chủ Nghĩa Xã hội là thiên đường,” “Chủ nghĩa Tư bản bóc lột, thối nát đang đứng bên bờ vực thẳm…” dân miền Nam ai cũng biết thừa là chuyện vớ vỉn, bố láo; nhưng thực ra nhiều người, ngay cả người có học sống ngoài Bắc, vẫn tin tưởng là cs nói thật; kể cả chuyện “Mỹ đã lên mặt trăng” chỉ là sản phẩm tưởng tượng của Hollywood. Bây giờ lãnh đạo csvn gởi con cháu sang du học ở Hoa kỳ mới thấy sự thật không phải như thế.

    Thật tội nghiệp cho dân Việt. Bây giờ dân ở trong nước mở truyền hình, Internet, Báo, đài… ra thì chỉ nghe những phát ngôn đần độn loại này; ngoài ra có thêm một số “thông tin” về các cuộc thi Hoa hậu, chuyện Lê Văn Luyên sát thủ hay Ngọc Trinh cởi truồng là hết.

    Hàng ngày phải đụng đầu với những cái chính trị đần độn này thì sống cũng như là chết mà biết thở!



    Trần Văn Giang
  4. “Cứ yên chí. Sẽ không có em (dê cái) nào bị bỏ quên đâu!”



    “Mặc dù bạn xấu xí thế nào đi nữa, vẫn luôn luôn có người yêu bạn, muốn kết hôn với bạn.”

    (No matter how ugly you are, there is always someone who falls in love with you; someone wants to marry you).
    - David Letterman – CBS‘s “Late Night Talk Show” host.

    *

    Ai cũng biết rồi. “Dê” là một động vật mà con đực rất mạnh giỏi trong công việc “giao lưu” với Dê cái… Thường thường, một chuồng nuôi Dê có 10 Dê cái chỉ cần một anh Dê đực là đủ phục vụ ngày đêm rất tươm tất; không có Dê cái nào than van thiếu thốn, hay đòi hỏi thêm cái gì cả. Dê chẳng cần dùng đến “Minh Mạng hoàng đế thang”; phải nấu sắc củi lửa rất lỉnh kỉnh. Dê (đực), qua thành tích luôn luôn vượt chỉ tiêu và được công nhận khắp nơi như vậy, trở thành biểu tượng của tình dục. Có lẽ vì thế mà hai chữ “Máu Dê” phát xuất từ đó (!)

    Tính “Dê” (không phải con Dê) không hẳn là chuyện xấu. Dê là bản năng tự nhiên của con người. Không có gì lạ. Nếu không Dê, không đề xướng được, không chuyển đạt được một sự ưa chuộng, ham muốn, tình cảm, lưu luyến của mình đến một người khác giới tính với mình thì sống cũng như chết mà biết thở thôi: không có hôn nhân, không có sinh sản, nhân loại có lẽ đi đến tuyệt chủng cũng chẳng mấy chốc.

    Các nhà tâm lý học còn cho là Dê là nền tảng của văn minh nhân loại mà chúng ta đang sống. Họ lý luận rằng con người vì có bộ óc lớn (so với trong lượng cơ thể) cho nên sự thông minh, và khả năng linh động uyển chuyển của ngôn ngữ qua mặt tất cả muôn thú vể phương diện “Dê gái (?)” Con công mặc dù có sẵn cái đuôi đẹp, đầy mầu sắc lộng lẫy thì cũng chỉ biết xòe cho rộng ra rồi kêu “ục ục” vài tiếng nghe rất nản; rồi đi qua đi lại lờn vờn trước mặt con công cái là hết chiêu! Đứng trước mặt gái đẹp mà chỉ biết dương cờ ra rồi kêu “ục ục” thì dễ bị phạng guốc bể trán.

    Dê không hẳn là xấu nếu biết cách Dê theo “quy trình:” Dê vào lúc nào, Dê ai và Dê trong hoàn cảnh nào! Các anh thường chỉ thả Dê theo bản năng: nói (lạng quạng) và hành động (quờ quạng) chỉ làm mất lòng thay vì được lòng người đẹp mình chiếu cố; đôi khi Dê còn ăn nhằm cỏ độc xùi bọt mép… Không phải vì các anh này đần độn hay ngớ ngẩn, chỉ vì quá lệ thuộc vào bản năng, có nghĩa là mỗi khi nhìn người đẹp là thấy có bóng dáng cái giường ở phía sau lưng cô nàng. Đôi khi, nhiều anh chàng còn có thói quen rơi vào hoàn cảnh hiểu nhầm rất đáng tiếc: người đẹp chỉ có ý thân thiện chứ không (chưa) phải là đã có dấu hiệu yêu mến hay thương yêu gì mình cả. Những anh chàng loại thiếu bản lĩnh này làm cho “Dê” trở thành một động từ có nghĩa xấu; cử chỉ và ngôn ngữ ngờ nghệch làm cho đối tượng gài số de ngay từ phút đầu; làm mất cả các cơ hội để Dê thiệt tình trong các lần gặp sắp tới…. Phải nên biết về vấn đề nhận định hoàn cảnh giao tế xã hội, ngoại trừ vài con nhạn cái là đà còn mơ ngủ, phần lớn phụ nữ tinh tường và mạch lạc hơn đàn ông. Họ chỉ quan sát cử chỉ của các anh là có thể có thể đọc ra ngay các ý định gian ác của các anh… Đừng tưởng bở!

    Hủ tục “Tảo hôn” chỉ còn đọc thấy trong sách sử. Ngày nay, “Dê” còn là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn người phối ngẫu. Dê để có ý định xây dựng lâu dài khác với Dê cho vui qua ngày qua tháng. Thành ra có vấn đề phải lựa chọn đối tượng để Dê chứ không bạ đâu Dê đó có ngày mang đầu máu, tiền mất tật mang…

    Muốn Dê cho có kết quả, ngọai trừ vài trường hợp ngoại lệ - không cần phải ra sức Dê nhiều mà vưỡn có bồ đẹp / vợ đẹp, giỏi dang - người viết đề nghị phe ta nên chú ý hai việc cơ bản:


    - Đối tượng đại khái phải ở củng tần số với mình


    Tôn tử đã nói “Biết người biết ta trăm trận trăm thắng” cũng không qua cái quy luật số 1 này… Chưa học hết lớp ba trường làng, đến tuổi cần lấy vợ rồi mà vẫn còn làm lương tối thiểu thì không thể mơ lấy được vợ tốt nghiệp Bác sĩ, đoạt giải Hoa hậu áo dài áo cụt, làm Người mẫu đồ lót… Cứ nhắm cái đám đông phụ nữ cũng làm lương tối thiểu mà Dê thì ăn chắc. Nên biết, có nhiều cô dù làm lương tối thiểu nhưng vẫn có nhan sắc mặn mà, tài quán xuyến gia đình như thường… Ngoài ra, phụ nữ vẫn thường muốn người phối ngẫu dáng dấp cao ráo, học giỏi thông minh, ăn nói hoạt bát hơn mình, thành ra Dê những đối tượng ở tần số thấp hơn mình dù gì cũng “làm việc” đỡ vất vả hơn.


    - Không tiếp tục Dê nếu đối tượng (có ý) tỏ ra không màng gì đến mình


    Tục ngữ dân gian nói là “Nhất lì, nhì đẹp trai.” Thời buổi này, cái gì cũng phải làm cho mau lẹ mới ăn tiền: Drive through, Fast foods, Fast Cars, Fash Check-out, Fast Check-in, Fast lane… bởi vì thời giờ là tiền bạc. Ngoại trừ xấu trai mà có thật nhiều tiền, còn lại, đại đa số lá bài “Lì” chỉ làm phí thời giờ vô ích chẳng đi đến đâu cả. Thấy đối tượng không quan tâm một vài nghĩa cử đẹp của mình thì tốt nhất tìm xem có cái cửa “Exit” ở gần đó để rút êm. Muốn nán lại chút đỉnh để cầu may thì phải thay thế “Lì” bằng “Tự tin” và “có duyên” thì may ra thay được thế cờ. “Tự tin” thì có thể rèn luyện được chứ “có duyên” phải nhờ vào bản chất tự nhiên của mình; không học hay mua món này ở đâu được. Cũng nên để ý là dò thấy đối tượng ở cùng tần số rồi mà không thấy đối tượng tỏ sự thân mật, thì phải xem lại mấy cái “điều kiện ắt có và đủ” mà đương sự đã chính thức hay bán chính liệt kê đâu đó để thi hành, thử lại.

    Dê không phải là tự khoe khoang những cái hay cái tốt mình đang có để gây sự chú ý. Mình phải kín đáo làm thế nào để những cái tốt của mình được đối tượng biết đến một cách gián tiếp; từ cô bạn của đối tượng chẳng hạn. Khi giáp mặt đối tượng, có hai vấn đề gây sự chú ý mau chóng là “Lời nói” và “vóc dáng cử chỉ” – Tôi tạm gọi “vóc dáng cử chỉ” là “phong cách” - “Lời nói” phát ra từ miệng; còn “phong cách” biểu hiện từ thân thể. Các nhà tâm lý cho biết khi hai người gặp nhau lần đầu tiên, phái nữ bị lôi cuốn bởi phong cách đến 55%; chỉ có 38% là từ cách nói chuyện; sau cùng chỉ có 7% để ý đến các trự đang nói cái gì… Nói cách khác, ở giây phút gặp gỡ đầu tiên phái nữ để ý đến phong cách nhiều hơn là lời nói.

    Để Dê cho hữu hiệu, không thể bỏ qua một yếu tố quan trọng khác nằm trong “tiểu mục” phong cách (Non-verbal / Body language) là con mắt, là cách nhìn. Ánh mắt chất chứa tình cảm và sự diễn đạt. Một cái nhìn đắm đuối (không nên dài hơn một phút đồng hồ) tỏ một tình cảm sâu xa. Có nhiều con dế mèn lạnh cẳng tránh nhìn thẳng vào mắt đối tượng của mình mà chỉ tìm cách nhìn len lén. Uh! “Nhìn” là con dao hai lưỡi bởi vì nhìn lâu hơn hai phút thì lại có vẻ “đầy đe dọa?!” Làm đối tượng sợ! Nếu đối tượng bị Dê tránh cái nhìn của mình – nhìn đi chỗ khác chẳng hạn – thì tạm thời xem đó như dấu hiệu của sự từ chối. Tôi nói “tạm thời” bởi vì có thể đối tượng lúc đầu còn giữ vẻ e dè, thẹn thùng. Mình có thể thử (nhìn) lại trong một cơ hội khác cho rõ hiện trường hơn.

    Oái oăm ở chỗ lần đầu lấy được cảm tình của đối tượng phần lớn nhờ phong cách (còn nhớ 55%?) nhưng muốn cho chuyện Dê hoàn toàn thành công trên đường dài (long run) phải nhờ đến lời nói (good conversation). Ăn nói trôi chảy, mạch lạc và duyên dáng thì ăn chắc như bắp. Người thông minh, có kiến thức, thành công trên trường đời thường không có trở ngại gì trong việc ăn nói. Nếu đối tượng đáp lại lời nói của mình bằng những câu dài, chứ không trả lời cộc lốc nhát gừng, thì mình hiểu là Dê đã có kết quả sơ khởi!

    Với nhiều thành kiến có ý châm biếm, “Máu Dê” còn được dùng để gán cho hình tượng của sự dâm đãng và thô tục; để chỉ những người đàn ông hay gạ gẫm, lường gạt phụ nữ nhẹ dạ loại con nai vàng ngơ ngác; để chỉ những người không kìm hãm được được sự ham muốn chinh phục người khác giới. Các tên gọi trong dân gian như Dê cụ, Dê xồm là những biểu tượng xấu từ con Dê. Kẻ dâm đãng thấy đàn bà là ngồi không yên, nói be be; hay quờ quạng, nắm níu không xin phép trước; Máu Dê loại này còn được dân gian gọi là “Máu 35” (vì số 35 trong số đề sổ số mang hình con Dê). Chữ “Ba mươi lăm” (“35”) là một đặc trù văn hóa thuần túy Việt Nam. Chỉ Việt Nam mới có và dùng con số độc đáo này trong ngôn ngữ giao tế.

    Về phần mấy anh chàng “35” thì họ lại nói ngược lại:

    “Dê” (máu xấu) cũng một phần do chị em phụ nữ khiêu khích chứ bộ! Bây giờ phụ nữ ăn mặc táo bạo, khiêu gợi quá: Những chỗ “nóng” đều phô ra để khoe hàng cho bằng được.

    Mà thiệt! Chẳng riêng gì ca sỡi, người mẫu mới khoe háng (typo?) Mà cả các cô gái choai choai mới lớn hàng họ còn rất khiêm nhường cũng ráng khoe. Rồi đến mấy bà đã có gia đình, thậm chí đứng tuổi xồn xồn sắp đủ điều kiện vào viện dưỡng lão cũng bon chen bày hàng họ ra khoe tứ tung thiên địa. Hàng bé thì đi bơm, thổi, độn, chích to to lên. Hàng “quá đát” thì nâng cấp lại cho mướt hơn. Cứ miễn sao hàng họ đập vào mắt thiên hạ cho thật sexy. Đàn ông có sẵn “Máu Dê” nhìn chịu sao thấu? Mà lỡ có giả vờ không nhìn thì bị nói móc là “có mắt như mù?” hay bị chê là “gay,” “cù lần bỏ mẹ !” mới chết. Miễn được mấy anh “Máu Dê” nhìn thấy sexy, thèm chảy nước miếng là ăn tiền.

    Máu Dê sàm sở chút đỉnh còn có thể được bỏ qua; chớ “Dê quá tải” thì có thể bị phụ nữ bạt tai; tệ hơn là vô phước bị anh kép hay anh chồng nóng tính lụi sảng một vài dao thì có đường húp cháo cũng phải vài tuần… Tôi có một anh bạn đồng nghiệp người Mễ về thăm nhà bên đất Mễ. Anh ta đi dự một “party” nhẩy đầm. Vì có ít đô la trong túi, anh ta được một em Mễ nóng bỏng ôm sát nhẩy rất tình tứ . Anh ta không để ý là em muchacha này có anh chồng loại băng đảng cũng tham gia buổi tiệc nhẩy đầm này. Anh bạn bị anh chồng ghen phập cho vài dao trên lưng, cổ phải vào nằm nhà thương trên đất Mễ hết vài tuần lễ. Khi trở lại Mỹ suýt mất việc vì vắng mặt lâu quá.

    Phải cẩn thận. Một khi anh nào đó lỡ bị gắn cho cái nhãn “35” thì kể như con đường tình ái bị chết dí trong ngõ hẹp. Nghe tới tên chàng “35” là phụ nữ chạy dạt như gián bò thục mạng trong bếp tối khi bị bật đèn sáng bất thình lình… Làm sao còn có cơ hội để thả Dê nữa nè trời!!

    Tóm lại, dù có nói tới nói lui, phải công nhận Dê là cả một nghệ thuật và người có máu Dê phải là một “nghệ sỡi ưu tú.” Đã bỏ công ra Dê thì phải Dê gái đẹp; chứ Dê gái xấu (“đẹp xấu còn tùy người đối diện?) mần chi cho uổng đạn… Đàn ông không có máu Dê bị coi là đàn ông bất bình thường; Không có “Máu Dê” thì không có “đêm tân hôn.” Nhưng mà “Dê xồm” thì lại hỏng hết mọi chuyện: không bị đánh bể mặt thì cũng có ngày vô ấp nằm bóc vài cuốn lịch.

    “Khôn cũng chết. Dại thì chết là chuyện dễ hiểu. Chỉ có Biết là sống.”



    Trần Văn Giang
    Orange County – California, USA
    Xuân Ất Dậu 2015.
    p324530 likes this.
  5. .

    (“The art of hot sauce”)

    “Ớt nào mà ớt chẳng cay…”
    - Ca dao


    View attachment 2693

    Chai Tương Ớt Con Gà Trống Sriracha


    Lời mở đầu

    Không có gì lạ: Mọi người (trên 8 tuổi) trong chúng ta đều thích ăn cay – vấn đề là cay ít hay cay nhiều thôi. Cứ tưởng tượng hương vị của Cà-ri Ấn độ, món xào “Kung pao” Tứ Xuyên (Szechuan) Trung hoa, và Bún bò (Huế) của Việt Nam sẽ ra thế nào nếu không có ớt… Vị cay của ớt có thể làm đau mình đau mẩy: trán toát mồ hôi hột, máu chạy rần rần, tim đập rầm rầm, lưỡi tê dại, bao tử ruột già quằn quại xót xa… Nhưng cái thú đau thương ít tốn kém này lại làm con người thích thú (!) mới chết. Nhiều người còn thành thật thú nhận là họ “ghiền” ăn cay: Bữa ăn lớn, hay nhỏ vẫn không thể nào thiếu món ớt hay tương ớt ở ngay bên cạnh.

    TVG

    *

    1- Ớt

    Nguồn gốc của ớt (tên nguyên thủy là “Chile,” nhưng chính tả Anh Ngữ có khi viết Chili, Chilli, hoặc Chili Pepper mà theo thổ ngữ Nahuatil của dân Nam Mỹ thì Chili có nghĩa là đỏ - Red) đã được ghi nhận từ thời tiền sử. Từ các tài liệu do kết quả của các công trình đào xới, khảo cổ, người ta tin rằng ớt dại xuất phát từ miền núi của các xứ Brazil và Bolivia của Nam Mỹ khoảng 7500 trước Công nguyên (TCN) - Nên biết, một quốc gia Nam Mỹ có tên là Chile tức “Chí Lợi,” tên nước này lại không có dây mơ rễ má gì với chữ “Ớt / Chile” cả. Theo tiếng thổ ngữ “Quechua,” tên nước Chile bắt nguồn từ 2 chữ chin (lạnh)tchili (tuyết). Ở đất nước Chile, ớt được gọi là ají.

    Qua vài ngàn năm sau, ớt đã được phân tán, di chuyển tràn lan khắp Châu Mỹ một cách tự nhiên nhờ chim muông; bởi vì màu đỏ sặc sỡ của trái ớt đã thu hút sự chú ý của chim. Cũng nên biết thêm là bộ phận tiêu hóa của chim hoàn toàn khác hẳn với bộ phận tiêu hóa của các động vật có vú… Không thấy có chữ “Ớt” ở dây thần kinh của chim. Nói cách khác, vị cay của ớt hoàn toàn không có tác dụng gì đối với chim (Chú ý! Xin nói cho rõ là chim bay trên trời chứ loại chim bay trong quần mà đụng phải ớt thì có mà chết giấc!) Chim ăn ớt y như con người ăn chuối vậy thôi! Quý vị nếu đã có dịp xem nhòng ăn ớt thì rõ!?

    Ớt thấy được trồng (domestication) và được dùng trong các món ăn tiền sử (ancient foods). Các nhà khảo cổ học tìm thấy dấu vết của hột ớt nằm lẫn trong đồ dùng trong nhà (như đồ đất nung, đồ sành…) ở vùng khảo cổ Tây-Nam Ecuador khoảng 6100 năm TCN.

    Ớt được ông Kha Luân Bố (Christopher Columbus) khám phá năm 1493. Ngoài việc Kha Luân Bố đã lầm người thổ dân da đỏ châu Mỹ là người Ấn độ (Indians); ông ta lại lầm Ớt (Chili) là Tiêu (Black pepper) cho nên đầu tiên ông gọi ớt là “Chili Pepper.” Kha Luân Bố đem ớt về Tây Ban Nha và ớt trở thành một gia vị được ưa chuộng ở Tây Ban Nha và Âu châu.


    2- Cay

    Vị cay của ớt gây ra bởi một chất hóa học chính trong trái ớt gọi là “Capsaicin” (công thức C18H27NO3) - một chất hóa học tính kiềm - và 4 loại hóa chất phụ khác. Tất cả các hóa chất này được gọi chung là “Capsaicinoids.” Capsaicinoids phần lớn tập trung ở hột và phần ruột / lõi trái ớt (phần thịt nằm giữa vỏ trái ớt). Mỗi vị cay của mỗi Capsaicinoids gây ra các phản ứng khác nhau khi tiếp xúc với các đầu dây thần kinh ngoài da, da trong khoang miệng, lưỡi, màng ruột… gây ra cảm giác kích thích tương tự như bị đau đớn (pain) và làm cho phần cơ thể tiếp xúc với Capsaicinoids bị xưng đỏ tấy lên trong một thời gian… Qua ngày tháng, thói ăn cay dần dần tạo cho não bộ quen với sức chịu đựng (tương tự như sức chống đau) là cho con người ăn cay thêm… Kể ra thì dù sao cũng tiện lợi, tiết kiệm được vô số giấy vệ sinh vì ăn cay quá sẽ làm cho bị táo bón kinh niên. Capsaicinoids còn được dùng ở “Súng Cay Ớt” (Pepper spray) của cảnh sát.

    Độ cay có thể được đo một cách tương đối bằng Đơn vị cay Scoville (Scoville Heat Unit - viết tắt là SHU). Chỉ số SHU cho biết đại khái bao nhiêu đơn vị nước phải được dùng để hòa tan với 1 đơn vị ớt cho đến khi chất cay (“Capsaicin”) không còn tác dụng nữa (có nghĩa là “chuyên viên nếm” nếm lại không còn thấy cay nữa? sự nêm nếm này coi bộ rất chủ quan!) Độ cay SHU thay đổi tùy theo các loại cây ớt và trái ớt khác nhau… Thấp nhất là “zero SHU” của “Ớt Quả Chuông” (Bell pepper); còn ớt cay nhất trước đây là giống ớt Red Savina Habanero, trồng ở vùng Walnut California USA, có độ cay 550,000 SHU. Red Savina Habanero giữ ngôi vị cay vô địch từ năm 1994 cho đến năm 2006 trong Guinness Book of Records, tức là cay gấp 200 lần một trái ớt thường ngày Jalapeno chúng ta vẫn ăn. Gần đây, khoa học gia Ấn độ khám phá ra một loại ớt mới, có độ cay kỷ lục mới, đó là ớt Naga Jolokiai (còn gọi là Bih Jolokia - Bih = Poison, Jolokia = Chile pepper) ở tỉnh Assam nằm về phía Đông bắc nước Ấn độ. Ớt Naga Jolokiai có độ cay 1,041,427 SHU; có nghĩa là cay gần gấp đôi ớt Red Savina Habanero.

    Thói quen chung của chúng ta là một khi ăn nhằm phải ớt cay quá là cứ quơ vội vàng nước ở gần đâu đó để uống lấy uống để chữa lửa. Tuy nhiên, theo các thử nghiệm khoa học, đối với cơ thể con người, uống nước không phải là biện pháp hữu hiệu để chữa cay; bởi vì chất “capsaicinoids” khó hòa tan trong nước hơn là trong các thực phẩm có chất béo như sữa, yogurt, dầu… Vị cay tự nó từ từ rồi sẽ giảm đi; nhưng sữa và sản phẩm từ sữa (dairy products) có một chất đạm tên là “Casein” có thể trung hòa chất cay của ớt mau chóng hơn.


    3- Tương ớt

    Hoa kỳ, chưa / không có con số chính xác về bao nhiêu chai tương ớt, và bao nhiêu nhãn hiệu tương ớt được bán ra mỗi năm; nhưng con số thương vụ của tương ớt được ước lượng vào khoảng 500 triệu đô-la một năm.

    Công thức làm tương ớt thì vô vàn, đếm cho hết phải mất vài ngày; nhưng vật dụng chính / căn bản vẫn là ớt trái. Còn lại là các món phụ như dầu, muối, dấm, trái cây (xoài, sim), nước trái cây, rau (cà-rốt, cà chua, cà, bí), nước rau và các gia vị phụ (added spices) làm gia tăng thêm độ cay, độ đặc… Hương vị và màu sắc còn được làm gia tăng và độc đáo thêm qua các giai đoạn lên men (fermenting, tương tự như cách làm rượu, bia), ủ (aging) và nấu (cooking) rất tinh vi và được đặc biệt giữ kín (bí mật, không tiết lộ cho công chúng biết)...

    Hiện nay có độ 50 nhãn hiệu tương ớt thịnh hành khác nhau đang được bày bán trên thị trường. Tất cả các hãng tương ớt được giới tiêu thụ biết đến phần lớn nhờ truyền miệng (words of mouth), người này dùng qua rồi bảo người kia, chứ vấn đề quảng cáo tương ớt trên truyền hình coi bộ rất tốn kém mà không có hiệu quả. Các thương vụ của các công ty lớn như Disney, McDonald… ở xã hội tư bản Tây phương phần lớn nhắm vào trẻ con và phụ nữ, mà nhất là trẻ con. Ông Ray Kroc, người đứng ra mua lại gian hàng Hamburger của Richard và Maurice McDonald năm 1955 rồi từ đó thành lập ra công ty McDonald rất thành công, đã có lần nói là:

    - “Nếu trẻ con chúng thích các quảng cáo của McDonald, chúng sẽ mang cha mẹ và cả ông bà theo chúng ra tiệm McDonald. Như vậy đứa trẻ có thể làm cho McDonald có thêm một lúc 3-4 khách hàng như chơi…”

    Ậy! Cách quảng cáo này (nghĩa là nhắm vào trẻ con) hoàn toàn không hợp với loại quảng cáo cho tương ớt… Lý do tại sao thì không cần nói thêm quý vị cũng hiểu rồi.

    Vì thị trường giới hạn mà lại cạnh tranh ráo riết, các hãng làm tương ớt phần lớn không tiết lộ loại ớt nào nào họ đang sử dụng. Giá trị dinh dưỡng (Nutrition Facts), mặc dù theo luật lệ ấn định buộc phải liệt kê và in rõ ràng trên chai tương, gần như là con số không, vô giá trị (không mỡ, không chất đạm, không vitamins, không carbohydrates…) nếu chưa muốn nói là tương ớt gây ra độc hại lớn cho sức khỏe vì hầu kết chứa mực độ muối (sodium) rất cao; và nhất là các chất hóa học độc địa (additives / preservative) cũng ở độ cao để giữ sản phẩm tương ớt lâu, năm này qua năm nọ, không hư thối trên kệ hàng ở các chợ?! Mà thiệt tình có ai quởn ngồi đọc cái “Nutrition Facts” của mấy chai tương ớt rồi lo cho việc hại sức khỏe bao giờ hà?

    Chai tương ớt đầu tiên xuất hiện trên thị trường Hoa kỳ vào năm 1807 ở Massachusetts. Hầu hết những nhãn tương ớt đầu tiên vào thời điểm 1800’s không còn tồn tại nữa. Riêng tương ớt Tabasco là loại tương được ưa chuộng rất rộng rãi trên đất Mỹ xuất hiện lần đầu vào năm 1869. Danh từ “Tabasco” đôi khi được dùng đồng nghĩa và thay thế cho 2 chữ “tương ớt” y như ở quê ta, người ta gọi chung cho xe gắn máy là xe “Honda” vậy!


    4- Tương Ớt phở nhãn hiệu “Con Gà Trống” (“Rooster Sauce” Sriracha) Việt Nam


    View attachment 2694

    Xì thẩu David Tran Và Tương ớt Con Gà


    Ngộ thiệt! Trong cái thị trường tương ớt nhỏ, chật hẹp này đặc biệt có chai tương ớt Phở của Việt Nam quậy, thao túng tứ tung ngũ hoành mới có chuyện đáng đề cập trong bài viết nhạt nhẽo nảy.

    Chủ nhân của chai tương ớt đang mạnh tiến từng bước một trên con đường tự do ăn cay, định hướng xã hội tương ớt này là Xì thẩu David Tran. Nên biết qua, mặc dù Xì thẩu chẳng may có cùng tên họ Trần với người viết, nhưng rất tiếc người viết (Trần Văn Giang) chỉ thích ăn nước mắm thôi. No soy sauce please!

    Xì thẩu David Tran và gia đình trước đây sống ở Việt Nam đã có sẵn nghề làm tương ớt chui theo kiểu thủ công, tiểu công nghệ. Có nghĩa là tương ớt họ Trần này chỉ được chế từng chai một, cho vào mấy cái lọ đồ ăn trẻ con đã phế thải (loại Gerber Baby Food jars) và giao bằng tay cho các chợ, hoặc bán cho vài tiệm phở loanh quanh địa phương. Năm 1979, Xì thầu chịu không thấu sự chèn ép của boác và đảng đối với người Việt gốc củ cải muối cho nên xì thẩu cùng với gia đình vượt biển tị nạn cộng sản và được may mắn định cư trên đất Mỹ vào tháng Giêng năm 1980. Tháng Hai năm 1980 Xì thẩu đã bắt đầu lại nghề làm tương ớt. Như vậy, thấy rõ là con đường sự nghiệp tương ớt vinh quang đã được thượng đế an bài hẳn hòi…

    Xì thẩu với một số vốn khiêm nhường đem theo từ Việt Nam, mua lại một hãng tương ớt nhỏ xíu hiệu “Sriracha” của một người Mỹ gồc Thái Lan ở Rosemead California trong lúc hãng này sắp xập tiệm vì tương ớt Thái Sriracha của cha nội này coi bộ đang tiến thoái lưỡng nan không giống con giáp nào. Tuy vậy, cũng còn có nhiều người Mỹ gốc Thái Lan cắc cớ, ghen tị với sự thành công cua Xì thẩu David Tran, lập luận vớt vát rằng:

    - “Sriracha là thương hiệu tương ớt của Thái Lan chứ đâu phải của Việt Nam?”

    Thực tế cho thấy, chỉ có cái vỏ chai tương ớt là còn dính dáng cái địa danh Thái khó phát âm thôi; còn lại nội dung (tương) và chữ nghĩa (in trên vỏ chai) đều hoàn toàn Việt Nam ta – Nên biết thêm, “Si Racha” là tên một thành phố có khoảng 20 ngàn dân thuộc tỉnh Chon Buri nằm cách Bangkok Thái Lan độ 120 cây số về Đông nam, gần vịnh Thái Lan.

    Xì thẩu đã có lần hào sảng tuyên bố một câu xanh rờn với truyền thông Mỹ để vô hiệu hóa các với các tiếng kêu ồn ào về vấn đề “Sriracha là tương ớt Thái” là:

    - “Đây không phải là tương Sriracha Thái. Đây là tương Sriracha của tui.” (I know it is not a Thai Sriracha. It’s my Sriracha).”

    Xì thẩu khởi sự dùng cơ sở của hãng tương ớt cũ của người gốc Thái Lan này để sản xuất tương ớt phở thuần túy Việt Nam theo công thức riêng của mình. Xì thẩu đặt tên cho công ty tương ớt là “Huy Fong” Foods Company - Huy Fong là tên của con tầu thứ tư (chứ không phải con tầu thứ ba mà tổ tiên Xì thẩu đã quá giang từ Hải nàm Trung quắc đến Việt Nam trước đây) đưa Xì thẩu, gia đình và sự nghiệp tương ớt vượt biên đến bến bờ tự do. Ngoài ra, để đơn giản cho tiện việc thương mại, Xì thẩu dùng ngay con giáp “Quý Dậu – Con gà trống” (Chinese Zodiac) của mình cho nhãn hiệu (Logo) trên chai tương ớt. Theo thói quen, người Mỹ luôn luôn muốn làm cho mọi chuyện thành đơn giản hơn, đỡ mất thời giờ, muốn tránh đọc, phát âm đến mức trẹo mỏ chữ “Sriracha;” họ gọi cho vắn tắt lọ tương của Xì thẩu là “Tương Ớt Con Gà Trống” (Rooster / Cock sauce). Kể cũng tiện cho cả đàng bán và đàng tiêu thụ.

    Ngay từ lúc bắt đầu, Xì thẩu chỉ có một mơ ước nhỏ là tiếp tục sự nghiệp làm tương ớt để cung cấp cho các tiệm phở Việt Nam loanh quanh vùng Los Angeles; để sống qua giai đoạn tạm dung trên đất Mỹ chứ đâu có biết rằng từ năm 1996 hãng Huy Fong ở Rosemead sản xuất trên 10 triệu chai tương ớt hiệu con gà mỗi năm. Không chỉ riêng ở các tiệm phở Việt Nam, “Tương Ớt Con Gà” với giá cả phải chăng, ngon miệng còn được thấy ở khắp mọi nơi. Từ các quán đồ ăn tầu ăn nhanh (“Chinese fast foods”) cho đến nhà hàng Á châu lớn bé (Vietnamese, Chinese, Japanese, Korean restaurants), quán Hot dogs, Hamburgers, Pizzas, BBQ… đều có sẵn một chai Tương Ớt Con Gà bằng plastic to tổ bố với nút chai màu xanh lá cây quen thuộc nằm chình ình ngay giữa bàn.

    Trong số báo tháng 12 năm 2009, báo (magazine) “Bon Appétit” đã phong cho “Tương Ớt Con Gà” là “tương ớt ngon nhất trong năm 2010” (The sauce Ingredient of the year 2010). Nhờ vậy “Tương Ớt Con Gà” xem như được quảng cáo miễn phí, bán chạy như tôm tươi.

    Cuối năm 2012, vì sự đòi hỏi (demands) lên rất cao, Huy Fong phải dời nhà máy sản xuất tương ớt từ Rosemead khiêm nhường ra cơ sở sản xuất qui mô, rộng lớn hơn (650,000 square-foot) ở thành phố Irwindale (population 1422, nằm cạnh thành phố Los Angeles, thuộc quận Los Angeles Cailornia). Ở đây, từ năm 2012, Huy Fong bắt đầu sản xuất trên 20 triệu chai tương ớt mỗi năm (3000 chai mỗi giờ / 200 tấn tương mỗi tuần) với gần 100 triệu đô la thương vụ. Mức sản xuất và tiêu thụ cũng tiếp tục gia tăng độ 15-20% mỗi năm.

    Không kể sự hợp khẩu của người Việt đối với tường ớt quen thuộc vẫn được dùng cho phở và các loại gỏi cuốn, tôm thịt nướng; hương thơm quyến rũ mùi tỏi và vị ngọt đậm đà của “Tương Ớt Con Gà” (với độ SHU chừng 2200 – cay tương đương với tương Tabasco) làm người Mỹ gốc La tinh vốn dĩ thích ăn cay và dân Mỹ ở miền Nam (American South) thích ăn gà chiên, BBQ thịt bò và BBQ sườn heo mê như điếu đổ.

    Có vài thực khách ghiền Tương Ớt Con Gà quá khích còn lên Youtube lấy tiếng ngu, nốc biểu diễn một lúc cạn láng liên tiếp ba (03) chai Tương Ớt Con Gà trước máy camera cho bà con coi giải trí cuối tuần! OMG.

    Xin mở cái “link” dưới đây để xem; nếu không tản thần không lấy tiền:


    https://www.youtube.com/watch?v=toJDo046mm4


    Bây giờ dân Mỹ còn nhận ra là các loại tương ớt mà họ vẫn thích từ trước, tương Tabasco chẳng hạn, chỉ có thuần túy vị cay chứ không thể có cái hương vị đậm đậm đà (after taste) như “Tương Ớt Con Gà” của Xì thẩu David Tran.

    Hôm nay, không những ở trên toàn quốc Hoa kỳ, chai “Tương Ớt Con Gà” còn có mặt ở cả ở Canada, Âu châu… Xì thẩu thú thật là Xi thẩu không biết rõ các chai tương ớt của Xì thẩu đã đi đến nơi nào? và được bày bán như thế nào? Lý do vì Xì thẩu chỉ giao tương ớt cho 10 nhà phân phối rồi để họ tùy ý họ phân phối lấy. Một điểm đặc biệt khác là Xì thầu vẫn còn dùng cách thương mại cổ điển rất nhà qué theo kiểu Tầu Chợ lớn đó là: Không dùng salesmen và hoàn toàn không bao giờ làm quảng cáo tương ớt.

    Ba dòng thác tương ớt (Ớt Phở, Ớt Tỏi dầu và Ớt Sa tế Sambal Oelek) của xì thẩu hanh thông rất mạnh giỏi… hẩu leng, hẩu leng… Năm 2012 các công nghiệp tên tuổi như P.F. Chang (nhà hàng Tàu loại sang trọng, có 240 nhà hàng trên toàn quốc), Applebee’s (có trên 1900 nhà hàng trên toàn quốc), Jack-In-The-Box (2200 tiệm Hamburger trên 19 Tiểu bang), Lays Potatoes chips Company… đều có các sản phẩm hoặc thực đơn với Tương Ớt Con Gà của Xì thẩu.

    Đến cuối tháng 10 năm 2013, hội đồng thành phố Irwindale bắt đầu có vẻ ganh tị về sự phát triển phi mã của “Tương Ớt Con Gà” và họ đã thảo một Thỉnh Nguyện Thư (“petition”) lên tiếng phản đối mùi cay của tương ớt bay tỏa trong phạm vi thành phố. Họ cho là mùi cay làm tổn thương đến sức khỏe của 1422 công dân (phần lớn đang thất nghiệp) của thành phố. Thỉnh nguyện thư về vấn đề hơi cay này được nộp cho tòa án Los Angeles. Tôi tạm thời dùng chữ “họ ganh tị” là vì cũng trong thành phố nhỏ bé này, chỉ cách có vài “blocks,” đã có nhà máy sản xuất Bia MillerCoors (Miller Brewing Company and Coors Brewing) to gấp 10 lần Huy Fong Foods Co, đã bắt đầu hoạt động từ năm 1980, sản xuất 10 triệu thùng bia (barrels - 1 barrel of beer có 15.5 gallons beer) mỗi năm; xả hơi bia nồng nặc vào không khí đã từ khuya, rất lâu trước khi “Tương Ớt Con Gà” mở xưởng sản xuất ở đây mà có ma nào trụ trì trong hội đồng thành phố lên tiếng phàn nàn cái quái gì đâu?

    Cũng vào cuối tháng 10/2013, bác Chánh án Robert O’Brien của Tòa Thượng thẩm Los Angeles đồng ý với Hội đồng thành phố Irwindale, ra án lệnh dọa sẽ đóng của Huy Fong Foods sau một thời gian hạn định nếu Huy Fong Foods không khống chế được mùi cay trong không khí.

    Voila! Từ tháng 4 năm 2014, Thống đốc Tiểu bang Texas Rick Perry và cả Nghị sĩ đảng Cộng Hòa Jason Villalba của thành phố Dallas tìm mọi cách liên lạc thẳng với Xì thẩu.

    Ngày 5/12/2014 Thống đốc Perry đã chánh thức lên tiếng, qua truyền thông thương mại – báo Business Week, mời Xì thẩu dọn ngay hãng tương ớt Huy Fong về Texas càng sớm càng tốt; Thống đốc Rick Perry còn hứa sẽ cho miễn cả thuế má Tiểu bang cho Xì thẩu vì cái lợi trước mắt là Texas sẽ có sẵn tương ớt ngay bên cạnh nhà để ăn mệt nghỉ (đỡ phải tốn kém chuyên chở) và giúp Texas giải tỏa phần nào nạn thất nghiệp.

    Không thể để trì hoãn lâu hơn, Thống đốc California Jerry Brown nhận thấy ngay mình đâu có ngu gì! Một tuần sau, ngày 5/19/2014, Jerry Brown phải bay vội xuống Nam California để ngăn chặn quyết định của tòa án Los Angeles cũng như bịt miệng mấy anh Hội viên tâm thần, dớ dẩn, vô công rỗi nghề thuộc Hội đồng thành phố Irwindale. Lệnh được Thống đốc Jerry Brown phát ra là:

    - Tất cả hãy ngừng quấy nhiễu nhà máy tương ớt Huy Fong nhe mấy cha nội! Give them a break.

    Thế là Tương Ớt Phở Việt Nam thắng lợi hoàn toàn trên hai mặt trận thương mại và tư pháp mà không phải bắn một phát súng nào (?) Tương Ớt Phở Việt Nam vô địch… Lảnh thổ kế tiếp mà Tương Ớt Phở Việt Nam sẽ chinh phục là Hoàng Trường Sa… (Nên biết Hoa Kỳ đã chinh phục thế giới rất ngoạn mục bằng Coca-Cola).


    5- Lời cuối

    Trước năm 1975, vào thời kỳ tôi còn theo học trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài gòn, trong giờ đầu tiên của môn “Nông học Đại cương,” ông Thầy tôi có hỏi tất cả chúng tôi câu hỏi là:

    - “Tôi đố các em, trong ngành canh nông, trồng cây gì thì sẽ có lời cao nhất? Và dĩ nhiên sẽ giàu mau nhất?”

    Tất cả các câu trả lời của đám học trò chúng tôi đều sai bét. Sau cùng, Thầy tôi ôn tồn trả lời là:

    - “Trồng cây thuốc phiện là lời nhanh và cao nhất. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Canh nông còn có một khía cạnh khác rất quan trọng mà chúng ta phải quan tâm. Vấn đề đó tôi gọi là “xã hội canh nông.” Chúng ta không thể trồng, sản xuất một hoa mầu lấy lợi mà làm cho người tiêu thụ bị tổn thương… như đem đến cho người tiêu thụ bịnh ghiền ma túy chẳng hạn. Đây là một vấn đề xã hội mà tôi muốn nói…”

    Xì thẩu David Tran với Tương Ớt Con Gà và Mr. Howard Schultz với Cà phê Starbucks dường như, ít hay nhiều, cũng đã trở thành giàu có nhanh chóng vì đem sản phẩm cay và đắng (có vấn đề “xã hội canh nông” ở đây không nhỉ?) của họ đến với quần chúng thế giới và làm cho họ phải nghiện (addicted, get hooked).

    Nhưng mà nhờ trời, vị cay của ớt và vị đắng của cà phê dù sao cũng còn rẻ, vừa túi tiền và không đến nỗi nguy hiểm cho xã hội và sức khỏe như là thuốc phiện, thuốc lá, và rượu…

    Vài “lời quê góp nhặt dông dài” ở bên trên chỉ có mục đích giúp vui cho quý vị vào cuối tuần. Người viết không hề dám múa rìu qua mắt thợ.

    Thân mến.



    Trần Văn Giang
    Orange County
    07 tháng 11 năm 2014
  6. :



    View attachment 2681


    “Trong cuộc sống vật chất này, nếu chỉ có một vật được coi là thiêng liêng thôi, thì đó phải là thân thể cha sinh mẹ đẻ của mình.”
    - Khuyết danh


    Lời rào trước

    Xâm (hay xăm) mình đang trở thành một hiện tượng nóng của thời đại. Nhìn phía trước phía sau, bên phải bên trái, chúng ta đều thấy có vài người với vết xâm trên thân thể dưới mọi hình dạng, mầu sắc, thông điệp khác nhau. Tôi thú thật chẳng có thẩm quyền gì để phán xét vấn đề đúng sai của việc xâm mình. Tôi chỉ mạo muội trình bày với tính cách quan sát kèm theo vài lời bàn “xây dựng” với cố gắng càng khách quan càng tốt. E rằng còn rất phiến diện và không thể tránh khỏi việc sẽ bị chỉ trích, cho là hẹp hòi…

    Tôi nhận thấy vấn đề xâm mình không thể gọi là chuyện nhỏ, là chuyện nhảm nhí, vô nghĩa cho nên cố gom chút can đảm bàn loạn trước giúp vui sau làm nghĩa (!)

    TVG

    *

    Phong trào “xâm mình” (Tattooing) đang nở rộ nhưng đây không phải là chuyện mới mẻ. Các nhà khảo cổ đã thấy các vết xâm đầu tiên, khoảng 4000 năm trước Công Nguyên, trên một xác đông lạnh ở Áo (Austria). “Nghệ thuật Xâm mình” trở thành một phần của sự phát triển con người, Đây là một phong tục có trên mặt đất đã vài ngàn năm. Các triều đại cổ hùng mạnh ở Ai cập, La mã, Trung hoa, Nhật bản, Trung đông thường có lệ xâm trên người, nhất là trên mặt, các tù nhân chiến tranh, tội phạm hình sự và nô lệ. Vết xâm có các hình dạng riêng, khác biệt cho các loại tội phạm hay nô lệ. Tiếp theo, vài trăm năm, các văn hóa trên thế giới dùng xâm mình để phân loại nhiều hạng người trong xã hội không riêng gì giới thường dân, tội phạm: Các cấp bậc của giới tăng lữ, phẩm trật của viên chức triều đình, các giai cấp cao thấp của xã hội … Xâm mình được dùng vì nó ghi dấu một cách khá “vĩnh viễn, dài hạn” trên thân thể, không dễ gì bị tẩy xóa. Cũng vì ích lợi của sự “vĩnh viễn” này, xâm mình dần dà sau này cũng được dùng để bày tỏ, biểu hiệu sự trung thành, ý chí quyết tâm, lòng can đảm của các cá nhân hay phe nhóm đối với một đối tượng (chẳng hạn như quốc gia, vua chúa, chủ nhân, người đáng kính, người yêu, băng đảng) hay mục đích nào đó. Xâm mình không còn là bản án trên mặt tội phạm, dấu ấn của sự hạ cấp, giang hồ băng đảng thấp kém; ngược lại cũng là cách dùng trân trọng bày tỏ một thông điệp (message), một nghệ thuật tinh vi tương tự như hội họa, âm nhạc, trang trí, sân khấu….

    Thuật xâm mình của dân Việt mình cũng có lịch sử rất rõ ràng vể nguồn gốc, nguyên nhân và diễn tiến qua thời gian. Sách “Lĩnh Nam Chích Quái Liệt Truyện” trong phần “Hồng Bàng thị truyện” ở mục số 7 có viết:

    (Nguyên văn)

    7. Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên bạch với vua. Vua bảo rằng:

    “Ở núi là loài rồng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng và ghét dị cho nên mới xâm hại.”

    Bèn khiến lấy mực châm hình trạng thủy quái ở thân thể, từ đó tránh được nạn giao long cắn hại; cái tục văn thân của Bách Việt khởi thủy từ đây.

    (ngưng trích)

    ________
    Chú thích:

    - Giao long: (Còn gọi là thuồng luồng) có lẽ là Cá sấu (?)
    - Ưa đồng ghét dị: Ưa cái gì giống mình và ghét cái gì khác mình.
    - Thủy quái: Rồng rắn (?)
    - Tục văn thân: Tục vẽ mình, tục xâm mình.

    ________

    Như vậy, người Việt cổ đã có thuật xâm mình từ 2000-3000 năm trước. Từ đời Lý-Trần, nhất là đời Trần, từ vua quan đến dân đều thích xâm hình vào người. Riêng người thuộc Hoàng tộc và kẻ phục dịch trong triều thì bắt buộc phải có hình xâm, xem như một luật lệ - một loại thẻ căn cước thời bấy giờ. Mãi cho đến thời vua Trần Anh Tông (1293-1314) thì việc xâm hình này không còn bị bắt buộc nữa. Nguyên nhân cũng chỉ vì vua Trần Anh Tông chết nhát, rất sợ bị kim chích vào da thịt khi xâm; và từ đó ai thích xâm thì tùy ý, không còn bị bắt buộc nữa.

    Cũng đời nhà Trần, năm, 1285, toàn thể quan quân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Đức Trần Hưng Đạo đều xăm lên cánh tay 2 chữ “Sát Thát” (nghĩa là “Giết quân Thát đát” – quân Mông cổ) để bày tỏ ý chí quyết tâm ngăn chặn sự xâm lăng bờ cõi của quân Mông cổ. Việc xâm mình không chỉ riêng cho vấn đề chống xâm lăng, các thành viên của đội quân Thánh Dực (còn gọi là “Ngự lâm quân”) phải xâm trên trán 3 chữ “Thiên Từ Quân” (Đội quân của vua) là một điều vô cùng hãnh diện.

    Như vậy ở Việt Nam ta, vấn đề xâm mình không chỉ riêng với mục đích hòa mình cùng thiên nhiên để (bắt cá) sinh tồn mà còn mang ý nghĩa cao cả như tỏ tình đoàn kết dân tộc chống xâm lăng, trung thành với vua…

    Trở về vấn đề xâm mình ngày hôm nay, chúng ta thấy không còn có giới hạn nào rõ rệt cả. Riêng nước Mỹ, theo thống kê (?) có khoảng trên 45 triệu người có xâm mình, trong số đó 36% còn trong tuổi 20’s. Càng ngày các vết xâm càng tăng về số lượng, kích thước và màu sắc…

    Mãi đến năm 1950, xâm mình vẫn được xem như là dấu hiệu riêng chỉ dành cho giới thủy thủ, thành phần thấp kém, cặn bã của xã hội (low-life) như tội phạm, băng đảng, đĩ điếm, ma cô. Phụ nữ “đàng hoàng” của 50’s và 60’s gần như hoàn toàn không có xâm mình. Quan niệm này chưa hoàn toàn mất đi hẳn, nhưng trong 1-2 thập niên vừa qua, xâm mình dường như được xã hội “chấp nhận” và nhanh chóng biến thành một thời trang đương đại mới chết người! Con người hình như không còn biết sợ đau là gì nữa hà trời !?

    Hôm nay, người có xâm mình đưa ra rất nhiều lý do tại sao họ quyết định việc xâm mình. Chẳng hạn như để bày tỏ sự trung thành, niềm hy vọng, sự bất mãn… hay khoe khoang khả năng tình dục, chỉ làm cho vui thôi (khi say rượu?) vì không có gì mục đích gì quan trọng (?)… Nhưng tôi nhận thấy có một điểm chung mà thấy rất ít người có xâm mình nói đến: Đó là họ muốn những người chung quanh để ý đến họ; y chang như những anh chàng băng đảng của các “xóm nhà lá” (ghetto) đi sơn vẽ hằng hà “graffiti” trên các vách tường, nơi công cộng. Tất cả đều có mục đích muốn nói là: “Hãy nhìn. Tôi đang ở đây nè bà con!” (Look. We are here !) Bằng mọi giá, họ cần sự chú ý của đám đông.

    Không phải tôi có ý kỳ thị, nhưng mấy anh Mỹ da đen thì cũng chẳng nên xâm (màu chàm xanh đậm trên làn da đen!) làm gì cho nó tốn tiền vô ích. Bố ai mà biết mấy anh đen xâm cái hình quái gì trên lớp da đen thui? Thử mở TV ra xem một “game” bóng rổ NBA là rõ. Thống kê (?) cho thấy 85% cầu thủ bóng rổ có xâm mình (Đội bóng Nuggets của Denver có tỉ số xâm mình cao nhất). Mà mọi người đều biết cầu thủ da đen chiếm đại đa số cầu thủ bóng rổ. Mỗi lần một cầu thủ bóng rổ da đen ném “free throw” thì tất cả máy ảnh TV đều chiếu gần (zooming) vào anh chàng cầu thủ này… Ôi thôi, số hình xâm trên cổ, hai cánh tay, trên ngực nhiều vô số kể. Nhưng chúng ta không tài nào nhận ra là họ xâm cái gì! Thiệt là chuyện tiền mất tật mang ở môn Basketball chuyên nghiệp.

    Với sự dè dặt, tôi muốn viết thêm ở đây câu chuyện Mỹ đen “gái” xâm mình. Có một chị giang hồ người da đen muốn khoe với anh khách hàng về hai cái hình xâm hai anh cầu thủ bóng rổ da đen nổi tiếng ở 2 cái đùi đen của nàng… Cô ta hãnh diện vừa khoe vừa đố có giải với anh khách hàng:

    “Tôi đố anh nhận diện ra hai cầu thủ bóng rổ nổi tiếng mà tôi xâm ở hai bên đùi. Nếu anh trả lời đúng thì tôi cho anh… miễn phí hôm nay.”

    Anh khách nghe có giải thưởng “miễn phí” thì rất hí hửng, nhưng anh ta nhận thấy tất cả đều nhìn đen thủi đen thui, không nhận ra ai vào ai! Tuy vậy, chưa chịu thua cuộc, anh ta cũng ráng vớt vát thêm một chút, may ra được em đen cho giải an ủi:

    “Tôi không biết hai thằng khốn (these two bastards) này là ai; nhưng tôi biết chắc cái thằng ở giữa có môi dầy có xỏ vòng (big fat lips with rings) và tóc quăn tít (short curly hair) phải là Dennis Rodman!”

    Kết quả trao giải thưởng như thế nào thì tôi không rõ, xin dành để quý vị tự tìm hiểu thêm.

    “Sau mỗi cái hình xâm trên người đều có một câu chuyện” người ta bảo như vậy. Tôi chưa biết câu chuyện sau hình xăm sẽ đi đến thế giới nào, nhưng tôi thấy một điều đáng buồn là da thịt con người có cảm giác biết đau, nhột… chứ không phải giấy trắng hay khung vải vô tri. Một khi đã chịu đau đớn, tốn kém để xâm xong thì sự sai lầm, hối tiếc lỡ dại nhận ra sau này phải đi xóa xâm thì còn đoạn trường, đau và tốn kém hơn gấp bội. Quý vị trước khi định đi xâm tên của người yêu lên tay, lên cổ thì nên ráng mở làm phước vài “YouTube / Tattoo removals” ra xem các cách xóa hình xâm trên da bằng tia Laser. Laser chiếu đến đâu, da người nổ như bắp rang tới đó. Má ơi! Nhìn thấy tản thần luôn!

    Nhiều hình xâm có chữ (wordings), chỉ nhìn qua cũng có thể đoán, một là người mang hình xâm đã từng bỏ học ngang (dropped out of middle school), hai là Anh ngữ không phải là ngôn ngữ chính trong gia đình vì chính tả viết sai bét. Thí dụ:

    “God will juge me,”
    “Keep smileing,”
    “Belive in mysel
    f.”


    Nhiều hình xâm có khả năng gởi ra thông điệp (messages?) thẳng đến người chẳng may phải nhìn thấy chúng. Thông điệp chính ra muốn bày tỏ cho công chúng là họ rất hãnh diện là một người nào đó hay một “niềm tin” nào đáo mà họ sẵn sàng hy sinh ngay cả mạng sống… Ối giời! Hãnh diện đâu chưa kịp thấy, tôi lại thấy ngay các phản ứng ngược; chẳng hạn như “Thông diệp” để thông báo cho mọi người là”

    “Tôi hiện đang thất nghiệp,”
    “Tôi không thể làm nghề coi trẻ em được,”
    “Tôi vẫn còn đang sống với bố mẹ,”
    “Tôi mới ở tù ra,”
    “Đừng đến gần tôi. Coi chừng sẽ bị hiếp dâm…”


    Qua các hình xâm với các dòng chữ đại khái như sau:

    “F… the police,”
    “Shit happens,”
    “F… the systsem,” (Chính tả?)
    “Bad bitch,”
    “P… Eater…” (Không dám viết ra nguyên chữ !)


    Các hình xâm để tỏ tình, tỏ sự trung thành với người yêu lần đầu (hay lần giữa) nhiều khi cũng gây nhiều cái nhức đầu lảng xẹc khi mối tình đầu đổ vỡ (mà tình đầu hay đổ vỡ lắm nghe!) hay không thành tựu như ý muốn. Sau khi lấy vợ (hay lấy chồng), phải tốn công tốn sức giải thích đến trẹo mỏ cái tên thơ mộng nào đó đã mình đã trót xâm trên tay, ngực, mông, háng… Trường hợp cô đào quả bưởi Pam Anderson của chương trình TV “Bay Watch,” sau khi ly dị với anh chồng là tay trống nhạc Rock Tommy Lee, đã phải vội vàng trở lại tiệm xâm đề sửa cái xâm có chữ “Tommy” trên cánh tay thành ra chữ “Mommy.” Cũng còn may là còn có cơ hội sửa được dễ dàng!

    Một anh chàng trẻ tuối muốn cho mình nhìn có vẻ “ngầu” và thông thái đi xâm cả một hàng chữ tầu dài lê thê trên cánh tay mà chẳng hiểu nghĩa của chữ tầu này là cái “son-mother” gì cả. Sau cùng, may gặp được người hiểu biết chữ tầu giải nghĩa hàng chữ đó là: “Tôi không biết chữ tầu. Xin đừng hỏi tôi làm gì nha.”

    Tuổi tác nhiều khi cũng làm cho các hình xâm trước đây có vẻ công phu, đẹp đẽ bị tổ trác. Có hai vợ chồng già lúc còn trẻ mới bồ bịch với nhau chưa cưới hỏi; Nàng có xâm hình một con cá heo (cá Dolphin) rất dễ thương trên da bụng; còn chàng xâm hình một con chim sẻ xinh xắn đậu trên cành cây ở cánh tay phải… 25 năm sau, con cá heo của bà vợ biến thành con cá voi (whale) và con chim sẻ biến thành con gà mái dầu trông thiệt nản…

    Một anh bạn thời niên thiếu của tôi vì chỉ thích đánh đáo, cờ bịch cho nên bị bố mẹ chửi mắng hoài. Giận đời quá, bỏ học ngang rồi gia nhập lính Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) VNCH cho bõ ghét (!) Anh ta gặp lại tôi sau này ở Orange County có kể lại câu chuyện sau:

    “Trong trại huấn luyện tân binh TQLC, các cán bộ huấn luyện chơi đòn rất độc. Họ cho in trên hai cánh tay các lính mới nhập ngũ hàng chữ ‘TQLC’ và ‘Sát Cộng’ rồi phát cho mỗi người một cây kim là lọ mực xanh, bắt buộc về trại tự xâm lấy một mình! Đến khi vi-xi chiếm được miền Nam, anh em tụi tôi phải tìm mọi cách để cạo, xóa mấy chữ xâm này rất đau đớn… Tôi chịu đau không nổi chỉ xóa được 2 chữ ‘Sát Cộng’ trên cánh tay trái, và để lại nguyên chữ ‘TQLC’ trên cánh tay phải. Sau này vi-xi cắc cớ hỏi tôi ‘TQLC’ nghĩa là gì vậy? Tôi trả lời là: Chữ viết tắt của bốn chữ ‘Thuyền Qua Lối Cũ!’ ”

    Nói đến xâm mình thì không thể nào bỏ qua vấn đề xâm mình của các anh chàng băng đảng, xã hội đen (Gangsters). Thời cổ và nhiều xã hội đương thời xâm trên mặt tội nhân để tách rời họ ra khỏi đám đông dân chúng bình thường (không có xâm). Từ cái nguồn gốc thuộc loại u ám này, xâm mình là biểu tượng không thể thiếu trong thế giới hạ lưu băng đảng, mang tiền án. Trong tù, các thành viên băng đảng có cùng hình xâm để tỏ ra cho biết họ là thành viên cùng một băng với nhau. Các hình xâm của băng đảng còn có thêm nhiều hình ảnh, chữ viết khác để cho mọi người biết thứ hạng của họ trong băng đảng. Kết cuộc anh nào cũng nhìn xanh lè xanh lét với các hình xâm đậm và to trên mặt và khắp cơ thể. Họ không cần biết quần chúng sẽ nghĩ thế nào về họ; và đồng thời họ cũng sẵn sàng chấp nhận các hậu quả như bị băng đảng phe đối nghịch mần thịt khi nhận ra họ, không thể xin việc làm, dễ bị cảnh sát làm phiền, quấy nhiễu…

    Thêm nữa, anh bạn đồng môn có kể câu chuyện sau đây trên bàn nhậu để hầu quý vị:

    “Một anh bạn làm Trưởng Ban Thẩm Vấn ở Bộ Chỉ Huy CSQG tỉnh… Có một lần hỏi cung một tên du đãng cướp giật vừa mới bị Cảnh Sát bắt. Vì hắn măc áo không cài 2-3 nút trên ngực cho nên anh bạn nhìn tôi thấy ngực hắn có loáng thoáng xâm chữ gì đó, bảo hắn cởi áo ra thì thấy dòng chữ:

    "CƯƠNG QUYẾT KHÔNG KHAI BÁO"

    Anh bạn tôi nói:

    - À thằng nầy ngon, để tao xem mày có khai với tao hay không nhe?"

    Tên du đãng vội nói:

    - Khoan khoan Đại úy. Xin Đại úy xem đằng sau lưng của em đây nè."

    Hắn quay lưng lại thì thấy trên lưng có xâm dòng chữ:

    "NHƯNG ĐAU QUÁ NÊN PHẢI KHAI "

    Anh bạn tôi phải bật cười và không đập cho tên du đãng này một trận như đã dự tính.”


    Cho đến thế kỷ thứ 19, xâm mình chỉ đặc biệt được dùng giới hạn cho băng đảng, tội hình sự trong hầu hết các quốc gia văn minh (non-third world countries). Băng đảng sắt máu nhiều khi còn đi xa hơn thông lệ xâm mình. Họ dùng dao cắt bỏ một phần thân thể, như thành viên của băng đảng Yakasu (Gang / Mafia) ở Nhật bản phải chặt bỏ vài ngón tay; hay băng đảng mafia Mễ dùng sắt nung nóng đốt để dấu trên da (branding) như người ta làm dấu trâu bò vì sợ bị mất trộm. Sự cố ý làm gia tăng sự đau đớn để chứng tỏ mình là thuộc loại băng đảng rất “ngầu.” Nếu quý vị có con nhỏ, vị thành niên mà muốn có các hình xâm ngầu cho vui, đỡ chán thì cũng nên nhắn nhủ là con cháu không khéo sau này sẽ gặp các khó khăn trong đời sống y như mấy anh chàng băng đảng phải đối phó hàng này.


    Lời đón sau

    Câu chuyện xâm mình tôi trình bày ở trên mà quý vị vừa đọc qua có lẽ cũng thấy ớn xương sống rồi; tôi chỉ xin kết thúc bài viết một cách vắn tắt bằng cách mượn câu nói gọi là “Stevenson’s law” (?) để quý vị cùng suy gẫm:

    “Sự khôn ngoan khác với ngu xuẩn ở chỗ khôn ngoan có giới hạn”
    (The difference between genius and stupidity is that genius has its limit).


    View attachment 2682


    Vài lời thô thiển múa rìu không thể qua được mắt thợ…


    Thân mến,



    Trần Văn Giang
    Orange County
    Ngày 22 tháng 8 năm 2014
  7. .


    View attachment 2677
    University of California at Los Angeles



    “If you think education is expensive, try ignorance.”
    - Derek Bok.

    *

    Gần đây có nhiều bài báo in cũng như điện báo (Anh ngữ), có ghi lại những diễn tiến chính trị khởi xướng bởi đại biểu của các giống dân thiểu số với chủ đích giới hạn tỉ số số học sinh Á Châu đồng thời yêu cầu, đề nghị thiết lập các “quota” (tỉ số ấn định trước) cho các giống dân thiểu số đặc biệt là học sinh Mỹ gốc da đen và Châu Mỹ La Tinh (Hispanic) được nhận vào các trường đại học lớn, nổi tiếng trên đất Mỹ. Họ chưng ra bằng chứng là vì, tại các trường học nổi tiếng, tỉ số học sinh Mỹ gốc Á Châu quá cao so với số học sinh thuộc các giống dân khác (chẳng hạn, nhìn vào chương trình 4-năm của một số trường lớn trong năm 2010 như UC Berkly 42%, UCLA 38%, UC San Diego 44%... là dân Mỹ gốc Á Châu).

    Đã có rất nhiều tranh luận xoay quanh các vấn đề bình đẳng, cơ hội, di truyền, văn hóa, kinh tế… gây ra sự chênh lệch về sỉ số học trò Á Châu trong các trường tốt trên đất Mỹ.

    Nhận xét chung cho là gia đình người Á Châu coi trọng vấn đề giáo dục con cái. Bố mẹ người Á Châu không hề coi trường học như là nơi giữ trẻ để họ còn có thời giờ để làm chuyện khác. Tôi có nhận xét qua kinh nghiệm nuôi con của chính gia đình tôi: Hình như bố mẹ học trò Á Châu thường là người bố và mẹ duy nhất trong các giống dân, mỗi ngày, ngồi xuống bàn học cùng với con cái sau giờ tan trường để giúp con cái học và làm các bài tập đem từ trường học về. Họ luôn luôn muốn biết chắc chắn là con cái phải đi học đúng giờ, làm xong các bài tập và theo dõi, để tâm vào sự dạy dỗ của Thầy Cô. Bố mẹ người Á Châu cũng là người duy nhất không quản chi phí tốn kém cho con đi học thêm các chương trình giáo dục khác sau giờ tan học như âm nhạc, võ thuật, bơi lội, học hè, học luyện thi SAT, MCAD… Trong lớp của con tôi trong một trường huấn luyện bơi lội (swimming school) do người Mỹ làm chủ ở Orange County, có 8 học trò thì 7 đứa trẻ là người Việt Nam và duy nhất một học trò người Mỹ trắng. Ông chủ trường học (bơi lội) nói với tôi là:

    Chỉ có Bố Mẹ người Á Châu (Việt Nam nói riêng) mới sẵn lòng trả tiền và bỏ thời giờ đi theo con cái họ đến lớp học như vầy…

    Đó là lý do tại sao học trò Á Châu đi học có điểm cao trong lớp. Công thức để học giỏi kể ra cũng dễ hiểu: Sự tận tâm, quyết tâm làm việc của từng người trong gia đình và cha mẹ sẵn sàng hy sinh các thú vui riêng cho tương lai của con cái. Phần thưởng không thể đến nếu mình chẳng làm gì cả. Làm việc tận lực, chịu khó, chịu tốn kém mọi mặt để đạt được những gì mình mơ ước chứ không phải chỉ đứng xếp hàng là có người hay cơ quan nào đó đưa quà tận tay cho mình.

    Bây giờ cũng đang có sự kêu gọi định đặt một “quota” (Một con số hay tỉ số ấn định trước) cho dân thiểu số không phải người Á Châu vào các trường đại học. Tôi thấy vần đề “quota” không thể là lời giải cho vấn đề mất quân bình, hay bất công xã hội. Thứ nhất, đặt “quota” cho sỉ số học trò Mỹ gốc da đen, hoặc La Tinh, vào các đại học tốt thì sẽ làm cho trường đại học tốt không còn được gọi là “tốt” nữa vỉ cái “low standard” mà học trò học kém đem vào trường; Thứ hai, giả thử cũng đặt “quota” cho học trò Á Châu phải được tuyển chọn vào các đội banh chuyên nghiệp như NBA, hay NFL thay vì tuyển chọn dựa trên khả năng ghi điểm (scoring) của cầu thủ thì giá trị của các đội banh chuyên nghiệp này sẽ như thế nào? Có ai phản đối hay không? Hỏi là trả lời. Vấn đề “quota” hiển nhiên không công bằng và không thực tế, không cần thiết phải bàn thêm.

    Vấn đề đặt ra bây giờ là: Ai (hay cơ quan nào) là người có lỗi trong cái sỉ số bất quân bình trong các trường đại học tốt hiện nay? Rõ ràng không phải là trường học. Trường tốt dĩ nhiên phải có chương trình tuyển chọn gắt gao (“high standard, high scores”) của họ. Nếu một học trò bị từ chối không cho nhập học, theo tôi, đó không phải là lỗi của nhà trường. Sự học hỏi cho ra trò, đạt điểm cao đòi hỏi sự tận tâm và chăm chỉ. Gia đình của những ứng viên (applicants) không hề muốn con cái họ (ứng viên) làm việc chăm chỉ nhưng lại sẵn sàng lên tiếng than phiền về sự bất công thì ngay từ sự than phiền này chúng ta thấy đã có sự thiếu công bình rồi…

    Đất nước Hoa Kỳ sẽ đi về đâu nếu cái gọi là “quota” được chấp thuận? Đồng ý là các đường lối cải thiện xã hội xưa nay vẫn chủ trương “nâng đỡ” các học sinh thuộc gia đình nghèo (underprivileged) để tạo sự công bằng xã hội nhưng không có nghĩa là cứ tự nhiên chấp nhận hàng loạt các học trò ngu đần, lười biếng vào các trường tốt bởi vì họ là học trò thiểu số. Chủ trương đặt “quota” này sẽ có hậu quả/phản ứng “ngược”. Tại các trường tốt, học trò Mỹ gốc da đen và La Tinh sẽ tiếp tục học kém, không thể nào tranh đua kịp học trò gốc Á Châu; trong khi “trường tốt” sẽ không còn là trường tốt nếu “standard” trở thành thấp kém. Mọi người chúng ta, ở nơi đâu? Làm chuyên gì? Cũng cần phải cố gắng vươn lên để thành công. Những sự lười biếng và ganh tị không giúp ích được gì cho sự phát triển.

    Ngoài ra, tôi cũng nhận thấy học trò Mỹ gốc Á Châu không nhất thiết thông minh hơn học trò Mỹ da đen, hay La Tinh, hay da trắng. Trẻ con Á Châu chú tâm học hành và chăm chỉ hơn bởi vì cha mẹ Á Châu không đồng ý hay chấp nhận với các duyên cớ do trẻ con nêu ra để làm cho việc học hành bị đình trệ. Học trò Mỹ gốc Á Châu không phải tìm ở đâu xa, chúng chỉ việc nhìn vào ngay chính bố mẹ chúng là đã thấy những gương công dân tốt (role models); trong khi trẻ con da đen hay La Tinh phải nhìn vào những anh chàng băng đảng cướp bóc tàn bạo, những ca sĩ vô học đeo vô số vòng vàng dây chuyền, hay cầu thủ thể thao nghiện ngập có hợp đồng bạc triệu là người gương mẫu… Đã đến lúc phải cần có sự thay đổi về sự nhận thức gọi là “tiêu chuân / gương mẫu;” y như TT Obama vẫn thường nói (“Time for change”). Nói thì dễ nhưng thực hành là chuyện khác.

    Theo học một trường học tốt đồng nghĩa với sẽ có việc làm tốt và tương lai tươi sáng. Các chỗ ngồi trong các trường học tốt luôn luôn có sẵn; nhưng các ứng viên cần có một cách gì chứng tỏ mình xứng đứng được nhà trường nhận vào; chứ không phải chẳng cần làm gì nhiều (thí dụ như chỉ cần có một giấy giới thiệu của một mục sư nào đó chẳng hạn), đứng chờ một lúc sẽ có người đem đến đưa cho mình… Trường học và cả bố mẹ nữa không gặp khó khăn gì khi nói với con cái là chúng có thể lớn lên và trở thành tổng thống Hoa Kỳ; nhưng mà hình như ít bố mẹ (ngoại trừ Á Châu) luôn luôn căn dặn con cái là việc đầu tiên phải tìm mọi cơ hội để đạt lấy một giáo dục cơ bản để làm hành trang; phải học và làm việc chăm chỉ thì mới có thể biến mong ước thành sự thật được. Tôi phải lấy làm ngạc nhiên, khi mới qua Mỹ, nhìn thấy là học trò ở Mỹ ăn mừng tốt nghiệp, học xong bậc trung học; và còn ngạc nhiên hơn khi thấy thằng con trai bé tí phải mua thuê áo mão để mặc vào trong lễ “tốt nghiệp” trường mẫu giáo ?!

    Rất tiếc phải nói là hệ thống “an sinh xã hội” cho không (Welfare) đã làm tàn lụi, hủy hoại đời sống cũng như ý chí thăng tiến của bao nhiêu dân thiểu số Mỹ da đen và La Tinh. Sự tận tụy chăm chỉ cất tiếng cao hơn lời nói. Dân Á Châu nói chung tận tụy hơn là nói than thở suông vô nghĩa vì biết rõ là sẽ không có ai quởn để nghe họ phàn nàn… Tiếng nói chính trị của dân Á Châu dầu sao cũng còn quá nhỏ bé!

    Nhìn qua lịch sử di dân đến đến đất Mỹ của các giống dân thiểu số. Từ khi bắt đầu, sự nhọc nhằn, khó khăn nói chung rất gần với nhau: Dân da đen là những món hàng rẻ mạt qua sự trao đổi nô lệ từ Phi Châu của các con buôn nô lệ người da trắng; Dân Nam Mỹ La Tinh đi bộ bằng chân, đã vượt leo qua hàng rào, chèo lội qua sông qua bờ biển, lạc lõng giữa sa mạc nóng cháy; Dân Tầu được tuyển mộ làm lao công giá rẻ mạt để xây dựng đường sắt, cầu cống, hầm mỏ; Dân Việt hy sinh bỏ hết tài sản ruộng vườn, vượt biên, vượt biển tị nạn cộng sản trong đói khát, chết chóc… Sau đó, tại đất Mỹ, chỉ một vài chục năm, hay một hai thế hệ sau, sự cách biệt về kinh tế cũng như xã hội của di dân Á Châu và các giống dân thiểu số khác đã sống lâu năm trên đất Mỹ thấy có cách xa rõ ràng. Tại sao? Chỉ vì mỗi giống dân đến Mỹ dù đều là tay không nhưng họ mang trong người những di sản văn hóa khác nhau. Dân da đen và Nam Mỹ La Tinh chỉ than thở, tìm cách chống đối cái hệ thống chính quyền cai trị của Mỹ nhưng lại không làm gì cho bản thân để thăng tiến. Trong khi dân Á Châu cứ âm thầm im lặng làm việc, học hỏi và thành công?!

    Tài tử Mỹ da đen nổi tiếng (đã từng đoạt giải Oscar năm 2004 ) là ông Morgan Freeman trong một buổi phỏng vấn năm 2005 của chương trình “60 Minutes” của hệ thống CBS đã mạnh dạn nhận xét về văn hóa của dân da đen trên đất Mỹ, nghe qua thấy lạ, chua chát, nhưng nghĩ lại rất có lý như sau:

    Cho đến ngày dân Mỹ da đen dẹp bỏ cái tháng gọi là “Black History Month” (tháng Hai mỗi năm) thì dân Mỹ da đen mới mở mắt ra và khá hơn… Người Mỹ trắng họ đâu có “White History Month”…”

    Morgan Freeman giải nghĩa, thứ nhất, là lịch sử dân da đen trên đất Mỹ không phải chỉ có 1 tháng. Lịch sử dân Mỹ đa đen phải là một phần của lịch sử Hoa Kỳ, không thể tách riêng ra; và thứ hai, cứ nhìn vào một tháng này, dân Mỹ da đen thấy mình bây giờ không còn là nô lệ nữa, họ thấy mình đã tự do, hạnh phúc, chẳng cần phải làm thêm gì cả vì chương trình “welfare” đã có sẵn; chỉ việc nộp đơn xin là nhận được một số tiền tạm đủ sống, không cần phấn đấu…

    Về phân dân Mỹ La Tinh đến được đất Mỹ thì kể như họ đã thành công, đã đạt được mục đích tối hậu, đã hạnh phúc, đã đi gần đến thiên đàng, cũng tà tà thoải mái ăn nhậu vui chơi… không cần phải cố gắng học hành thêm làm gì cho mất công?! Tận hưởng cho xong ngày hôm nay đã vì “mình chỉ sống có một lần!”

    Trong khi đó, dân Mỹ gốc Á Châu thì ngược lại, họ xem việc đến được đất Mỹ hôm nay chỉ là bước đầu tiên của cuộc hành trình dài chứ không phải là đã đi xong hết con đường… Họ tin là trên đất lạ này, chỉ có giáo dục mới thay đổi được tương lai của họ và con cháu họ. Sự khác biệt về tâm thức đã đưa các giống dân thiểu số đến các thành đạt khác nhau là như vậy.


    Trần Văn Giang
    Orange County
    (Ngày 12 tháng 8 năm 2014)
  8. .

    View attachment 2654


    “Mẹ” trong tiếng Việt là một chữ ngắn, đơn giản nhưng kỳ diệu.

    Mẹ không riêng để chỉ một người đàn bà đã sinh ra chúng ta, cho chúng ta đời sống mà còn là những gì cao cả thiêng liêng mà thơ, văn, sách báo, phim ảnh… không thể nào diễn tả cho đầy đủ ý nghĩa.

    Mẹ là tình cảm dạt dào, là sự hy sinh vô bờ bến cho các con qua bao ngày tháng. Con có thể quên đi thù hận, ân huệ, hạnh phúc, bất hạnh, nhục nhằn, đói khát, cay đắng… của cuộc đời; nhưng con không thể quên Mẹ. Bởi vì Mẹ là biểu tượng của gia đình, của tổ tiên dòng họ, của quê hương, của lịch sử, của dân tộc… là tất cả những gì quý giá nhất của con.

    Mẹ là sự kiên nhẫn, là bài học của sự chịu đựng, của sự hy sinh.

    Mẹ là nguồn an ủi khi con thất vọng, là sự nâng đỡ khi con vấp ngã, thất bại.

    Mẹ luôn luôn xứng đáng là người được tôn trọng và biết ơn không phải chỉ trong ngày “Mother’s Day” mà cả 365 ngày một năm.

    Con không hiểu tại sao Mẹ lại có nhiều nghị lực và tài quán xuyến để làm tất cả các vai trò, các công việc to tát cùng một lúc: Mẹ là vú em, là đầu bếp, là thầy giáo, là bác sĩ, là y tá, là cố vấn, là tài xế, là lao công dọn dẹp… Con chỉ cố gắng làm một công việc của Mẹ mà cũng cũng không xong? Mẹ chẳng những đã làm trọn bổn phận mà còn thu xếp được thời giờ để chơi đùa với con? Ngay cả khi con cần có sự giúp đỡ của Mẹ, con chỉ gọi là có Mẹ đến bên cạnh ngay lập tức!!!

    Hôm nay, con đã lớn khôn rồi, có gia đình, có con cái, con nhìn lại thời thơ ấu thì con mới và hiểu được công lao, sự tận tụy hy sinh, tình thương bao la và… nước mắt của Mẹ; Con mới thấy rõ hình dáng bộ óc, trái tim, ý chí và tâm hồn… mà Mẹ đem ra hết để cho con trong những ngày tháng con lớn lên một cách vô tình. Mẹ đã cho con sức mạnh, sự bảo vệ cho đến khi con thực sự bước vào cuộc đời thật của con. Mẹ luôn luôn sẵn sàng thức trắng đêm đứng chờ con trước cửa để xoa dịu vết đau hay lau khô nước mắt của con khi cuộc đời đối xử không tốt đẹp với con.

    Không có Mẹ, thì hiển nhiên không có con. Tình thương, sự săn sóc và hướng dẫn của Mẹ đã làm cho con thành một người tốt hơn mỗi này. Không có Mẹ, có lẽ con đã đi lạc đường, hay đã đi dọ dẫm không mục đích giữa cuộc đời đầy cạm bẫy… Mẹ đã chỉ cho con con đường phải đi tới. Không có Mẹ, trước mặt con chỉ là một khoảng không vô nghĩa; dù có cố gắng, con cũng không dễ gì tìm thấy hạnh phúc và sự bình yên.

    Đôi khi con gặp sự khó khăn, con nhìn lại hình ảnh Mẹ, con thấy có sự nhiệm mầu, sự an ủi, sự khuyến khích, sự tha thứ, sự khôn ngoan, sự can đảm … Những lúc có Mẹ còn sống ở ngay bên cạnh mà con vẫn cứ vô tâm không biết giá trị của một món quà vô giá thượng đế đã ban cho… Hôm nay không có mẹ, nhưng con vẫn biết là tình thương và sự che chở của Mẹ vẫn theo chân con cho đến hết con đường…

    Con không muốn có người Mẹ nào khác hơn là Mẹ của con.


    Cám ơn Mẹ.
    Cám ơn sự nhiệm mầu.
    Cám ơn ngàn lần…
    Mẹ mãi mãi là người Mẹ mà con vẫn hằng mong ước.


    Trần Văn Giang
    (Ngày “Mother’s Day”)
  9. .

    View attachment 2500

    Hình bìa sách “Ðề Nghị Thống Nhất Cách Viết Chữ Quốc Ngữ.”



    Lời giới thiệu:

    Dưới đây là phần tóm lược bài nói chuyện của Trần Văn Giang trong buổi ra mắt cuốn sách "Đề Nghị Thống Nhất Cách Viết Chữ Quốc Ngữ" vào 2 giờ chiều ngày Chủ Nhật 12/15/2013 tại Thư Viện Việt Nam - Little Saigon, thành phố Westminster, California - USA


    *


    Kính thưa quý vị, kính thưa quý Thầy Cô.


    Đây là một vinh dự lớn cho cá nhân tôi; bởi vì phần đóng góp của tôi trong cuốn sách nhỏ được ra mắt hôm nay kể ra cũng rất nhỏ - Chỉ vọn vẹn trong khuôn khổ 1 bài tham khảo nhằm đem lại một số chữ thông dụng đã có sẵn để quý vị đối chiếu mà tùy ý lựa chọn sử dụng; hoàn toàn không có mục đích chỉ dẫn gì về cách viết của các chữ sao cho chuẩn như tựa cuốn sách đề nghị.

    Đời sống biến chuyển và thay đổi theo văn minh nhân loại. Ngôn ngữ cũng dần dần tự nó tìm cách thay đổi theo cho phù hợp. Những chữ gắn liền với lối sống cũ không còn thích hợp sẽ ít hoặc không được sử dụng. Nhiều người còn cho là những chữ (ít sử dụng) này rồi sẽ bị biến mất.

    Trong ngôn ngữ, sự thay đổi là cần thiết. Thay đổi để làm cho chữ nghĩa linh động và phong phú hơn. Nhưng thực tế cho thấy trường hợp Việt ngữ (văn chương chữ nghiã Việt) từ sau 1975, riêng ở miền Bắc thì phải nói rõ hơn là từ sau ngày cộng sản cướp chính quyền – tháng 8 năm 1945, đến nay, không thay đổi theo cái chiều hướng tốt và đẹp đó. Phải nói mỗi lúc một tệ hại hơn. Sau 1975 những chữ nghĩa quái lạ đã thấy xuất hiện đầu tiên ở miền Bắc lan tràn vào miền Nam; và bây giờ lan tràn ra hải ngoại.

    Bây giờ, ở trong nước Việt Nam, đối với những người nông dân ít học thì không nói làm gì; ngay cả 600-700 tờ báo in, bao nhiêu diễn đàn, đài phát thanh, đài truyền hình... đều đồng loạt sử dụng thứ chữ nghiã quái đản, kỳ cục, ngây ngô, buồn cười mà người ta còn gọi là văn hoá Đồ Đểu. Thiệt tình! CS đi tới đâu là băng hoại, là phá hủy tàn hại đến đó: từ tâm linh, tình cảm, văn học, tình người... Tất cả những cái tốt, cái đẹp, cái lịch thiệp, cái hòa nhã dường như đã mất hết sạch. Cộng sản Việt Nam rất thích “tự sướng” về cái mục “phá kỷ lục”; nhưng họ quên ghi lại thành tích là chỉ trong một thời gian ngắn (kỷ lục) 38 năm (kể từ 1975) họ đã hoàn toàn hủy hoại một nền văn hóa mà tổ tiên ta khổ công gầy dựng trên 4000 năm (!)


    View attachment 2501


    Nhìn lại một số chữ tiêu biểu của loại văn chương vi-xi này:


    1- Thay chữ Hán Việt

    - Hán Việt thay cho Hán Việt với nghĩa xa lạ khác (khả năng, triều cường, hoàn cảnh, chất lượng, thông tin, liên hệ…)
    - Hán Việt thay bằng nửa Hán nửa Nôm không giống con giáp nào (nữ nhà báo, Lính Thủy Đánh Bộ, tốp ca…)
    - Thay chữ Hán bằng chữ Nôm nghe rất buồn cười (tài xế -> lái xe, hợp ca -> Tốp ca…)

    2- Thay chữ Nôm

    - Đảo lộn chữ một cách ngây ngô, không cần thiết mà không đổi nghĩa. (Loại này rất nhiều: Đảm bảo, triển khai, giản đơn, nhóm trưởng, lớp trưởng, kiếm tìm, lược tóm…)
    - Thay chữ cũng rất ngây ngô, không cần thiết mà không đổi nghĩa gì cả (dạy học -> đứng lớp…)

    3- Làm chữ mới:

    - Những chữ dung tục, xấu xí được đem dùng rộng rãi (xưởng đẻ, nhà ỉa…)
    - Dùng ngoại ngữ phiên âm cẩu thả, tùy hứng, không có quy luật gì cả (Ốt-tra-lia – Nước Úc / Australia; Cu-dơ bê – Coos Bay, vịnh Coos ở tiểu bang Oregon USA…)
    - Ghép Hán Nôm một cách kỳ lạ (siêu sao, siêu rẻ, siêu lạ, siêu nhanh…)
    - Ghép Hán Việt với Hán Việt vô tiền khoáng hậu (siêu mẫu, kích cầu, giao hợp…)
    - Chữ mới vô nghĩa nghe rất nhức nhối (sự cố, bức xúc…)

    Sau đây, tôi xin nhắc lại một vài nhận định đáng lưu tâm với những lời giải thích khá đầy đủ chi tiết về sự thoái hóa của chữ Việt từ một số tác giả tiêu biểu theo các mốc thời gian:

    * Ở trong nước, có ông Chu Đậu, vào cuối năm 2005, trong bài Nỗi Buồn Tiếng Việt” đã phân tách rất tỉ mỉ sự sử dụng rất sai lầm của 42 chữ Việt và 11 chữ ngoại ngữ thông dụng đã được dịch ra chữ Việt rất ngớ ngẩn ở trong nước Việt Nam.

    * Ở hải ngoại, ông Đào Văn Bình, năm 2013 trong bài "Có Nên Dùng Ngôn Ngữ Của VC?” nối tiếp theo chân ông Đào Văn Bình đã phân tích 55 chữ rời và một số câu văn ông cho là tối nghĩa mà một số báo in, báo điện tử, truyền thanh và truyền hình trong cũng như ngoài nước đang sử dụng.

    * Trường hợp của tôi, vào khoảng đầu năm 2007, sau khi đọc bài “Cái Chết Của Một Ngôn Ngữ: Tiếng Việt Sài Gòn Cũ” của Bà Trịnh Thanh Thủy viết vào cuối năm 2006 thì tôi đã viết bài “Bảng Đối Chiếu Từ Ngữ” (bài này được dùng làm tài liệu tham khảo - ở trang 169 - trong cuốn sách ra mắt với quý vị hôm nay), trong đó tôi mở đầu bài viết với một nhận định là không đồng ý với Bà Trịnh Thanh Thủy về việc “Tiếng Sài Gòn Sẽ chết.” Qua bài này, tuy còn rất phiến diện, tôi sưu tập khoảng trên 300 chữ thông dụng trước và sau 1975 để đọc giả tùy ý lựa chọn và sử dụng cho chữ Việt khi viết cũng như khi nói được đơn giản, sáng sủa hơn; để tránh các hiểu lầm không cần thiết.

    Ngoài ra còn có một số tác giả khác (như Diệu Tần, Tâm Thanh, Triều Giang…) cũng cùng lên tiếng, phân tách rất chi tiết về vấn đề thoái hóa này nhưng vì giới hạn thời gian của mỗi diễn giả trong buổi ra mắt sách này, tôi không thể liệt kê ra hết cho trọn vẹn, đầy đủ…

    Xin thành thật cám ơn sự hiện diện và lưu tâm của quý vị ngày hôm nay. Vì tiền đồ của đất nước, xin rất mong mỗi người trong chúng ta cố gắng đóng góp một chút ít cho tương lai và sự trong sáng của Tiếng Việt.


    Trần Văn Giang
    12/22/2013
  10. .

    View attachment 2480
    Quả Chuối


    Hình như khẩu nghiệp của tôi không hợp với khẩu nghiệp của cô Kỳ Duyên (KD) làm sao đó? Tôi viết lách lăng nhăng chẳng ra thể thống gì! và cũng viết có được bao nhiêu đâu? Nhưng đây là lần thứ hai (02) tôi trực tiếp bàn loạn giải mã lời lẽ vàng ngọc của cô KD khi cô ta mới khơi mào trên Facebook vấn đề đang còn nóng (vì có rất nhiều lời "phản hồi") mà cô KD “trải lòng” là “không ngần ngại chia sẻ cái mùi vị ‘văn hóa chỉ trích’ ” của người Việt mình…

    Trước tiên cô KD đưa ra một câu nói nghe rất “nghẹn” của MC tài hoa Nguyễn Ngọc Ngạn (NNN) mà cô đã tự ý, ngay từ những dòng mở đầu, tung và hứng rất ngoạn mục, gọi là “rất tâm đắc”:

    “Văn hóa Tây thiên về khuyến khích (?) còn văn hóa Việt thiên về chỉ trích (?)”

    Tôi có dịp đọc qua lý lịch của cô KD đã được phổ biến rộng rãi trên các trang mạng Việt ngữ, trong đó có ghi là cô KD học Luật (?) ở trường của Mỹ cho nên tôi đoán là cô phải đọc luật lệ, thời sự, văn chương Mỹ rất nhiều…

    Người Tây phương, từ lâu rồi chứ chẳng riêng gì lúc này, với kỹ thuật truyền thông tiến bộ (vượt bực) và tự do ngôn luận (quá trớn) chơi trội hơn hẳn dân các giống dân chậm tiến khác trong vấn đề chỉ trích, bươi móc những cái sai, cái xấu (có khi thật và có khi không có thật), những cái gian lận, giả dối, những hèn hạ (low life) một cách tinh vi, siêu đẳng về cá nhân và gia đình của những nhân vật nổi tiếng của thời cuộc. Cái mà cô KD gọi là “Văn hóa chỉ trích” của Việt Nam mình chỉ đáng xem là chuyện nhỏ so với cái kích thước chỉ trích của văn hóa Tây. Đặc biệt ở trong nước Việt Nam, qua mấy chục năm nay tuyệt nhiên không thấy có “văn hóa chỉ trích” bởi vì “văn hóa chỉ trích” đã bị coi là đồng nghĩa với “phản động, đồi trụy, chống đối chế độ” rất nặng tội hình sự; và đây cũng là loại văn hóa bị nhà nước tuyệt đối cấm.

    Trong khi đó, văn hóa Tây phương luôn luôn có hàng trăm các số báo lá cải định kỳ phát hành toàn quốc và bán cả vài triệu số mỗi kỳ. Điển hình như: Ở Pháp có Closer, Jasmin, Voici; Ý có Chi, Oggi; Đức có Bild, Anh quốc có Sun, Star; Riêng ở Mỹ thì ở chung quanh ta, bên trái cũng như bên phải, lúc trả tiền tại các quầy tính tiền của các siêu thị, chỉ cần liếc qua hàng báo lá cải là đủ thấy chóng mặt… National Inquirer, National Examiner, Globe, OK!, US!, People, Closer (bản Anh ngữ)… đồng loạt chỉ trích bới móc có kèm theo đầy đủ hình ảnh đầy “ấn tượng” các vấn đề cá nhân riêng tư, thầm kín, các “scandal” của các nhân vật chính trị cũng như của kỹ nghệ điện ảnh, ca nhạc, giải trí, thể thao v..v..

    Chẳng riêng gì báo lá cải, mà ngay những tờ báo lớn dòng chính (mainstream media) như Wasingting Post, Los Angeles Times, Time, Newsweeks… và các hệ thống truyền hình quốc gia (National Networks) như ABC, NBC, CBS, CNN, FOX… đứng đắn cũng nhắm vào các vấn đề chỉ trích cá nhân đến mức độ tàn nhẫn vô lương tâm. Rất đơn giản, các đề tài chỉ trích bới móc mới lôi cuốn được thị hiếu người đọc và người xem và quảng cáo. Tin thật hàng ngày nghe rất chán (Good news are simply boring!) Chẳng hạn như: “Mỗi ngày có trên 2000 máy bay đáp an toàn trên phi trường quốc tế Los Angeles.” Ai mà muốn nghe? Chúng ta đã thấy truyền thông toàn quốc nước Mỹ (kể cả báo lá cải lẫn báo đứng đắn) qua nhiều ngày tháng, đã khai thác tận mạng các sai lầm của Tổng thống Mỹ để cố tình hạ bệ (impeach) họ như TT Nixon và vụ Watergate; TT Clinton và vụ Monica Lewinski (Clinton may mắn thoát khỏi impeachment chứ không phải vì văn hóa Tây phương thiên về khuyến khích gì đâu nè!) Thống Đốc Arnold Schwarzenegger và vụ người đàn bà Mễ dọn dẹp trong nhà (Mexican house maid)…

    Chỉ trích không phải chỉ nhắm vào chuyện quốc gia trọng đại, "sex scandal" nóng nẩy lửa, mà ngay những giây phút ngắn ngủi lỡ lời như trường hợp ông Ross Perot trong cuộc tuyển cử tống thống Mỹ năm 1992. Ông Ross Perot đang dẫn đầu trên hầu hết các “bảng thăm dư dò dư luận” ("popular polls") gần 10 điểm so với các đối thủ khác (tháng 6 năm 1992, Perot dẫn đầu các bảng thăm dò với tỷ số 39% so với Bush 31% và Clinton 25%). Vậy mà chỉ một phút lơ đễnh trong cuộc phỏng vấn ngắn trên TV về vấn đề dân thiểu số da đen Mỹ cần sự giúp đỡ an sinh (Welfare) của chính phủ, thì ông Perot đã lỡ lời gọi một cách ám chỉ dân đa đen là “you, people…” Ông Ross Perot bị truyền thông Mỹ chỉ trích là chính trị gia vô tâm không biết quan tâm gì đến đời sống dân da đen, không dám can đảm coi dân da đen Mỹ như đồng bào của ông… Ngay sau đó “poll” của Ross Perot tụt thang với tốc độ phi mả; và rốt cục ông ta phải rút tên ra khỏi cuộc vận động tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 1993-1996.

    Những bằng chứng nêu ra ở trên cho thấy cha nội NNN nói lúc đang nghẹn, không phải là lúc tỉnh táo. Văn hóa Tây phương chẳng có khuyến khích cái “son-mother” gì ráo… Nói cho rõ hơn (vào lúc tỉnh táo không nghẹn) là:

    “Văn hóa Tây phương là văn hóa lấy thịt đè người - The survival of the fittest…”

    Cứ nhìn các sinh hoạt hàng ngày chung quanh chúng ta trên đất Mỹ từ trường học, trên sân thể thao cho đến các hoạt động trong các ngành nghề thuộc lãnh vực kỹ nghệ thương mại. Chỉ toàn thấy cảnh anh nào lớn hơn, mạnh hơn là đè bẹp, dứt điểm anh nhỏ không nương tay, không thương tiếc bằng cách mọi cách hợp pháp hay bất hợp pháp như: shut out, buy out, wipe out, kick out, push out, leave out… chứ chẳng có ai tử tế khuyến khích ai vào đây hết cha nội hà! Có nghĩa là nếu “mày mà sắp chết, tao sẽ làm (hay giúp) mày chết thế nào cho nhanh hơn để tao còn bớt đi một đối thủ; dầu sao cũng dễ thở hơn một chút.” Đơn giản có vậy thôi. Ở xứ Mỹ, ai có thời giờ, công sức, của cải đâu sẵn mà đi khuyến với khích…

    Nhưng không phải bất cứ ai cũng bị chỉ trích, bị bới móc. Tôi là dân ngu thứ thiệt và luôn luôn có sẵn cái khu rất đen cũng muốn gọi truyền thông Việt ngữ đến chụp ảnh đăng báo (cái khu?) Có lẽ làng báo chí sẽ cho là tôi đang bị khùng. Báo chí, nhất là loại báo chí “Paparazzi” có trả lương cho hàng trăm phóng viên chuyên trị săn (stalking), quấy nhiễu (harass) chụp ảnh các nhân vật nổi tiếng trong lãnh vực thể thao, chính trị, điện ảnh, ca nhạc… trong khi họ đang sống đời sống bình thường của họ như đi tắm biển, đi nghỉ hè, đi ăn nhà hàng, đi dự dạ hội… và rồi bán những hình ảnh ốt dột này cho báo chí, truyền thông lá cải và dòng chính. Các tấm ảnh của các Công nương Anh quốc cởi truồng với mông đùi bụng có vẩn mỡ béo phì (Cellulite); các nữ tài tử ca sĩ xinh đẹp lúc lên xuống xe mặc váy mà lại quên mặc quần lót; các bộ ngực “nâng cấp,” giả căng silicon mà vết sẹo giải phẫu bơm ngực còn được chụp rồi phóng đại lên cho đọc giả thấy rõ ràng hơn; những vấn đề kín đáo như đồng tính, HIV, Aids, ung thư sắp chết… được phơi bày nhan nhản.

    Tại sao “Văn hóa bêu xấu” này lại phổ biến, quảng bá rộng rãi như vậy? Cũng dễ hiếu. Người được bêu xấu thường là người của công chúng (public figures), nổi tiếng (celebrities) mà công chúng luôn tò mò, khao khát muốn tìm hiểu thêm; chứ loại dân ngu khu đen thì khu có đen cách mấy cũng chẳng có ai hưởn mà để ý làm gỉ… Cô KD (hay ông NNN) cũng nên biết (hoặc đã biết rồi mà vẫn vờ vĩn) là mình nhờ ơn thầy phước chủ, không nhất thiết phải giỏi, rất may mắn nổi tiếng cho nên mới có nhiều hoàn cảnh bị mọi người xa gần tìm cách chỉ trích, quấy nhiễu. Như trường hợp cô KD, trong một chương trình với chủ đề khiêu vũ của PBN mới đây, khiêu vũ với một ông Tây trẻ nào đó (huke?). Ông ta nhấc KD lên làm sao không biết mà làm cho KD gặp vấn đề “wardrobe malfunction” (cái này vi-xi gọi với “cụm từ” nghe rất nản, rất cầu kỳ tối nghĩa là “thảm họa nội y”). Kết quả là một nửa cái đĩa được chăm sóc khá nhẵn nhụi của cô KD được phơi ra lộ thiên hoàn toàn miễn phí… có đến trên vài chục trang mạng Việt ngữ phát tán tấm ảnh “nửa cái đĩa” này chứ không ít. Tôi nói thật chứ chẳng dám phóng đại chuyện vớ vìn này. Kể ra, nổi tiếng cũng sung sướng thật đấy chứ: Hàng độc được đem ra khoe mà không phải trả lệ phí đồng bạc nào.

    Trở lại vấn đề tréo cẳng ngỗng thứ hai là việc cô KD nói về “Quả chuối” (banana):

    (trích nguyên văn)

    “… thật sự tôi và những bạn bè sống và lớn lên ở hải ngoại có bao giờ thực thụ được trải nghiệm văn hóa Việt Nam đâu? Bên ngoài chúng tôi là người Việt nhưng bên trong, từ cách suy nghĩ đến cách ứng xử thì phải nói chúng tôi hoàn toàn là những đứa Mỹ con. Thế hệ Việt Kiều nửa nạc nửa mỡ như tôi thường được gọi đùa là 'banana' (quả chuối) vì ở ngoài vàng nhưng ở trong lại trắng."

    (hết trích)


    Quả chuối (banana) có vỏ mầu vàng, ruột màu trắng mà cô KD ví von cho cái cách “hành xử nửa nạc nửa mỡ” cô ta thật là trái quẻ. Trên đất Mỹ, người Mỹ trắng (Caucasian / American majority), cũng như mọi dân tộc khác, đã có sẵn máu kỳ thị chủng tộc. Họ gọi các cuộc hôn nhân dị chủng (biracial) và con cái do kết quả của các cuộc hôn nhân này, một cách tượng hình qua màu sắc như sau:

    - Oreo (cookies): Ruột kem màu trắng, hai lớp vỏ kèm bên ngoài màu đen; hay là Zebra (ngưa vằn) con ngựa có vằn trắng và vằn đen lẫn lộn xen kẽ nhau: Các cô da trắng lấy chồng Mỹ đen, và ngược lại.

    - Coconut (quả dừa khô): Ruột màu trắng ngoài vỏ màu nâu: Các cô Mễ lấy chồng Mỹ trắng, và ngược lại,

    - Banana (quả chuối tiêu): Ruột màu trắng, vỏ màu vàng. Các cô Á châu lấy chồng Mỹ trắng, và ngược lại.

    “Banana” được người Mỹ dùng là để mô tả, tượng trưng cho các cuộc hôn nhân dị chủng và con cái của họ (biracial) giữa da vàng và da trắng; chứ không phải để chỉ văn hóa (tức là culture / cách hành xử) của dân da vàng cư xử như dân da trắng. Nếu da vàng mà cách sống và cư xử như da trắng thì tôi thấy hình ảnh bãi “Kít gà” (chicken poo-poo, với quang cảnh một mẻ màu vàng có lổn nhổn vết trắng trong đó – Quý vị hãy tìm cách thử quan sát một bãi kít gà, hay kít chim cũng được, thì thấy cái chuyện tôi muốn mô tả này như thế nào) có lẽ có “ấn tượng” nhiều hơn (?!) Như vậy hoàn cảnh của Bố Kỳ (tôi xin lỗi đã phải nhắc đến Bố vào lúc nhang tàn khói lạnh này) có lẽ hợp nghĩa với chữ “Banana” hơn là hoàn cảnh của cô KD. Bởi vì Bố Kỳ hoàn toàn là một người dân a-na-mít (Á Châu) lấy một mợ Đầm trắng. Riêng cô KD dù đã lên xe bông 2-3 lần (multiple marriages) nhưng không phải là “banana” mà quanh quẩn vẫn là vàng… chưa được cứng (?) từ trong ra đến ngoài…

    Vài lời thô thiển.

    TB: Tôi phân vân không biết nên đặt cái tựa bài này là “Quả chuối” hay “kít gà” (chicken poo-poo)? Thôi tạm thời cứ gọi là “Quả chuối” rồi lần lữa sẽ tính sau vậy.


    Trần Văn Giang
    11/7/2013
  11. .

    View attachment 2478


    Lời rào trước:

    Đây không phải là một bài phê bình văn học hay tranh luận nghệ thuật. Đây chỉ là một bài phiếm luận “bỏ túi” đọc để cho vui cuối tuần.

    TVG


    *

    Tôi không hiểu tại sao phe ta cứ nhắm mắt nhắm mũi ca ngợi một số thi ca nhạc cận đại loại khơi khơi trích dẫn điển tích Tàu, rồi lại cất công công kênh các bài này lên thành “thi / nhạc phẩm bất hủ" của dân Mít. Vấn đề thương vay khóc mượn được thể hiện qua sự vô tình hay cố ý sử dụng các chữ xúc phạm (derogative wordings) đến cả danh dự dân tộc mình gồm những chữ Hán, điển tích Tàu, địa danh Tàu, nhân vật Tàu. Nói cách khác là tự mình chửi bố mình – self-humiliation!

    Trong thời kỳ Bắc thuộc trên ngàn năm; và cũng ngay sau kỳ Bắc thuộc, vì văn hóa của dân tộc Việt bị Tàu vùi dập triền miên, khi bắt đầu chập chững tìm một lối đi trong giai đoạn mới dành độc lập... cho nên không trách được, vì còn ở tình trạng sơ khai, mới khởi đầu thì vấn đề cần phải vay mượn (y hệt như nhà nghèo muốn đi buôn phải tìm cách mượn vốn) từ Tàu cũng dễ hiểu. Chẳng hạn, nhìn qua một số tác phẩm văn chương cổ của Việt Nam như Bích câu kỳ ngộ, Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm, Đoạn trường tân thanh... đều thuần túy vay mượn nội dung và hình thức văn hóa Tàu. Nhưng mà ngày nay, thế kỷ 21 rồi, “tự lo độc lập…” kể cũng đã hơi lâu rồi, vậy mà thơ văn nghệ sĩ vẫn còn ráng tiếp tục thương vay khóc mượn thì nghe thật bẽ bàng, thấy ngán ngẩm chè đậu...

    Tôi xin nêu ra đây vài thí dụ điển hình.


    1- Bài "Hòn Vọng Phu" của Lê Thương.

    Tôi chẳng ưa gì cs, nhưng tôi thấy việc cs cấm bài "Hòn Vọng Phu 1" (qua lời phê bình thơ nô Chế Lan Viên) cũng có chuyện để nói.

    Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng.
    Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nuối ngàn trùng.
    Người không rời khỏi kiếp gian nan,
    người biến thành tượng đá ôm con…”


    Nói về "Bên Man Khê" là ca ngợi việc Mã Viện đánh dẹp “mọi” ở phương Bắc (Tàu gọi các dân tộc kém văn minh sinh sống ở phương Bắc là “rợ” Hồ). “Chinh Phụ Ngâm khúc” có câu :

    “Tiếu hướng Man Khê đàm Mã Viện.”

    Bà Đoàn Thị Điểm dịch là:

    “Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.”

    Chính chú ba “Phục Ba” tướng quân Mã Viện này của nhà Hán đã tiêu diệt cuộc nổi dậy dành độc lập của Hai Bà Trưng (Tàu cũng gọi dân Ta là “mọi” - "Nam Man") ở phương Nam. Nhắc đến, hoặc ca ngợi sự chiến thắng vẻ vang của chú ba Mã Viện là một quốc sỉ, không có gì là hay cả…

    "Bên Tiêu Tương" ở đây cũng lại chỉ về đất, địa danh bên nước Tàu, không phải là đất nước Ta, vì trong bài thơ của “Chinh Phụ ngâm khúc” bản tiếng Nôm của Đoàn Thị Điểm có đoạn:

    “Đoái trông theo đã cách ngăn,
    Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.
    Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương...


    Lịch sử chiến đấu chống xâm lăng của Tàu, hay “sự nghiệp mở mang bờ cõi” lấn đất của dân Chàm, Cao miên... của dân tộc Việt Nam ta làm gì mà có chuyện lệnh vua cho xuất quân tuốt luốt ở sông Tiêu Tương (Hàm Dương) mãi tận bên Tàu?! Bác Lê Thương kể ra hơi vung tay quá đà.


    2- Bài "Hương Xưa" của Cung Tiến.

    Bài này được ca ngợi không hết lời là một bài hát bất hủ của nền tân nhạc Việt Nam cận đại. Thử đọc lại một vài dòng trong bài hát này:

    Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
    Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô


    Xin nói cho rõ. "Nhị Hồ" ở đây không phải là địa danh “Nhị hồ” ở gần Huế mà là một loại đàn Nhị 2 dây của Tàu. Đàn này xuất xứ từ "rợ Hồ" (mọi phương Bắc nước Tàu) có âm thanh ai oán (loại mất nước). Đàn Nhị Hồ đối với người Trung Hoa cũng giống như đàn vĩ cầm đối với người Tây phương.

    “Cung Nguyệt Cầm” - Nghĩa đen là tiếng đàn Nguyệt. Đàn Nguyệt (From Chinese 月琴, literally "moon[-shaped] string instrument") là đàn cổ có hình tròn, cũng của mấy chú Ba. Mấy em xẩm được vẽ trong tranh cổ của Tàu thường âu yếm ôm đàn này coi rất lãng moạng.

    Cũng tương tự cá mè một lứa như “Nhị Hồ,” hai chữ "Cô Tô" này hoàn toàn không phải là đảo Cô Tô ở Quảng Ninh Bắc Việt mà là Cô Tô Thành (hay Cô Tô Đài) cứ điểm cuối cùng, trận đánh cuối cùng mà Câu Tiễn và Phạm Lãi đã đánh để dứt điểm vua Ngô Phù sai Ngô Phù Sai (chữ Hán: 吳夫差 trị vì nước Ngô: 495-473 TCN) còn gọi là Ngô Vương Phù Sai (吳王夫差), tên thật là Cơ Phù Sai, là vị vua thứ 25 nước Ngô thời Đông Chu trong lịch sử Trung Quốc. Sau chiến thắng Cô Tô Thành này, Câu Tiễn thì lấy lại ngôi vua, còn Phạm Lãi thì lấy lại người đẹp Tây Thi. Đâu có cái quái gì ăn nhậu với lịch sử vẻ vang của dân Việt.


    3- Bài "Ai về sông Tương" của Thông Đạt.

    Phe ta nên biết là bản nhạc "Ai về sông Tương” là bài nhạc Việt được dân Việt ưa chuộng nhất hoàn cầu (căn cứ trên thống kê các lần yêu cầu bài hát này so với các bài hát khác trên tất cả các trang nhạc Việt online).

    “..Ai có về bên bến sông Tương,
    nhắn người duyên dáng tôi thương,
    bao ngày ôm mối tơ vương...”


    Sông Tương (tiếng Trung Hoa là: 湘江 hay "湘水", theo chữ viết loại Pinyin là: Xiāng Jiāng, Xiāng Shǔi; Wade-Giles: "hsiāng chiāng" hay "hsiāng shuǐ") này cũng là Tương Giang hay Tương Thuỷ hay sông là một con sông, chi lưu chính của sông Trường Giang, chảy qua tỉnh Hồ Nam, Trung Cộng lục địa. Sông này có diện tích lưu vực 94.600 km², tổng chiều dài 856 km, lưu lượng bình quân 72,2 tỷ m³ một năm. Tương Giang bắt nguồn từ huyện Lâm Quý của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Hoa và chảy vào Hồ Nam,

    Dân Việt ăn nước mắm, khác với dân Tàu ăn xì-dầu (nước tương, tàu vị yểu), đâu có ai hưởn, dư tiền mà mua vé xe đò, xe lửa đi đến tận Sông Tương xì dầu ở tỉnh Quảng Tây Trung Hoa để mà trả lời dùm ông cái Thông Đạt mơ ngủ ban ngày này?!


    4- Bài "Thu hát cho người" của Vũ Đức Sao Biển:


    Ông Sao Biển (tên thất là Vũ Hợi) có cái bút hiệu và tên tên cúng cơm cả hai nghe rất "Nôm" nhưng lại thích chơi điển tích Trung Hoa, thích chơi chữ "Hán" của "Đường Thi / Thôi Hộ."

    Hãy nghe lời hát bài "Thu hát cho người":

    “Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt.
    Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa.
    Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ…”

    Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió.
    Sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ.


    Hai chữ “Nguyệt cầm” tôi đã bàn ở trên qua bài hát “Hương xưa” của Cung tiến rồi, ở đây ông Sao Biển muốn dung hai chu84 “Hoàng hạc” để ví von với một cảnh khác, cũng lại ở mãi bên Tàu; Cho chính xác hơn, ông Sao quả tạ nhà ta muốn noái về "Hoàng hạc lầu" trong thơ Thôi Hộ đời Đường.

    Hoàng Hạc Lâu

    Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
    Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

    ...


    Lầu Hoàng Hạc

    Người xưa cưỡi hạc đã cao bay
    Lầu hạc còn suông với chốn này

    (Bản dịch của Ngô Tất Tố)

    *

    Lời đón sau:

    Tại sao văn chương thi nhạc Việt Nam cứ cần phải câu nệ vay mượn như vậy mới có cơ hội trở thanh “bất hủ?”

    Tôi cam đoan đất nước Tàu có cái gì thì đất nước mình cũng có cái đó không thua không kém thì cần gì phải vay mượn khi mình đã có đầy đủ… Thí dụ:

    Về sông, tại sao cứ phải hát sông Dịch, sông Vị, sông Tương, sông Dương Tử… mà không dùng sông Bạch Đằng, sông Hồng, sông Cửu Long, sông Vàm Cỏ Đông, sông Cầu Ông Lãnh…

    Về núi, tại sao phải dùng sự to lớn hung vĩ để so với núi Thái sơn, Thái Hành, Thái Tỏi, Ngọa Long cương, Nga mi…. mà không xài núi Hoàng Liên sơn, Ba Vì, Tam Điệp, Cẩm Thạch, Bà Đen, Thất Sơn.

    Người đẹp thì lại ca ngợi sắc đẹp Tây Thi, Đắc Kỷ, Dương Quý Phi… mà không dám ca ngợi Hai Bà Trưng, Trần Huyền Trân, Lê Ngọc Hân, Bùi Thị Xuân.



    Cái tâm lý thích “hàng ngoại” truyền thống 4000 năm này, nhất là thích “hàng Tàu,” cần phải được dừng bước giang hồ ở đây… Nếu cứ tiếp tục thích hàng Tàu và để Tàu lấn chiếm đất biên giới phía Bắc dần dà như tằm ăn dâu, hàng ngày đe dọa cưỡng chiếm bỉển đảo ở phía Đông, và cho đám thợ Tàu, thương gia Tàu, mai phục ngay trong nội địa Việt Nam thì chẳng mấy chốc nữa dân ta phải nói trực tiếp tiếng Tàu chứ chẳng phải vay mượn chi nữa chi cho toát mồ hôi… trán.

    Quý vị có còn nhớ 2 câu thơ loại “núi liền núi, sông liền sông, chim liền chim, lồng liền lồng.…” từng bị hiểu lầm là do thi sĩ thượng đẳng “ass-kissing” vĩ đại Tố Hữu sáng tác (kể cũng hơi oan cho “ass-kisser” này)…

    “… Bên kia biên giới là nhà
    Bên ni biên giới cũng là quê hương….”

    (Bài thơ “Cho uống thuốc” của Chế Lan Viên – 1954)

    Thực ra, hai câu thơ “bất hủ” này do chính tay thơ nô Chế Lan Viên làm ra. Chế Lan Viên nghịch lý y như cái biện chứng cs. Xin nhắc lại, Chế Lan Viên là người đã phê bình, chỉ trích bài hát “Hòn Vong Phu 1” của nhạc sĩ Lê Thương là có lời ca đã ca ngợi Mã Viện và câu chuyện “người vợ trông chồng hóa đá” của bài hát là một câu chuyện “phản động;” không thích hợp với biện chứng cộng sản. Bởi vì dù rằng chồng mợ có đi vào Nam lạc đường ở Trường Sơn mất tích không biết đường về, hay là có lỡ bị quân VNCH cho sinh Bắc tử Nam hẳn hòi rồi thì vợ ở nhà vẫn phải “tuân thủ” 3-Đảm-Đang thì mới là tiêu biểu “phụ nữ cách mạng.” Chứ còn trông chồng hóa đá thì làm sao mà làm cách mạng được nè trời…

    Vài lời thô thiển múa rìu qua mắt thợ.


    Trần Văn Giang
    (Ngày 10/4/2013)
  12. .


    View attachment 2410
    (Trái và Hạt Lựu)


    Lời giới thiệu:

    Dành một chút thời giờ, thử tìm hiểu ý nghĩa của 2 câu thơ nghe rất quen thuộc sau đây (như trích trong ‘tuyệt tác’) “Truyện Kiều” của văn hào Nguyễn Du:

    “Này con thuộc lấy làm lòng
    Vành ngoài BẢY CHỮ, vành trong TÁM NGHỀ"

    (Truyện Kiều - Câu thứ 1209 và 1210 v/v Tú Bà dạy Kiều nghề chơi)

    * Xin đặc biệt lưu ý.

    Đây là chuyện văn chương người lớn. Loại chuyện cấm trẻ em dưới 18 tuổi. Nếu quý vị thấy nội dung không thích hợp thì xin dừng ngay ở đây, không nên đọc những dòng kế tiếp. Đa tạ.

    TVG

    *

    Tưởng chuyện đại sự, to lớn… Ai dè đây là những mánh khoé của gái làng chơi, các chị em ta, cư xử với khách, từ bề ngoài cũng như trong lúc hành lạc. Thiệt tình!!!

    Theo truyện “Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân (bên Tàu) thì Tú Bà, trong sự nghiệp “đưa người cửa trước, rước người cửa sau” vì muốn thủ lợi tới mức tối đa, có nghĩa là làm mọi cách để lấy hết tiền bạc, tài sản cơ nghiệp của khách làng chơi, đã truyền những mánh khóe, bí quyết, thủ đoạn cho các nàng Kiều khi còn làm việc cho mụ ở lầu xanh nằm tuốt luốt sâu trong phố đèn đỏ.

    Theo giọng điệu của Tú Bà thì “Vành Ngoài” là cách ứng xử “bên ngoài” qua lời nói, lời hát, cử chỉ (cái liếc mắt, cái nũng nịu…) để gây và giữ cảm tình của khách đến chơi.

    "Bảy Chữ" gồm lần lượt từng chữ là:

    1. Khấp: tức là khóc giả bộ thương yêu, quyến luyến làm khách không muốn rời. Tuy là khóc giả nhưng phải khóc có nước mắt như thật… Chiêu này xem ra rất dễ (các em ta già trẻ nào làm cũng được!) vả lại khách đàn ông dù gan dạ lì lợm cách mấy cũng phải mềm lòng trước nước mắt đàn bà. Các em chỉ việc lau mắt bằng khăn có thấm nước gừng thì nước mắt cứ thế tuôn xối xả như thác, lau không kịp.

    2. Tiện: cắt một ít tóc của mình và một ít tóc của khách; trộn chung lại rồi chia hai; mỗi người buộc vào cánh tay để tỏ ý muốn kết tóc se tơ (duyên) cho bền chặt. Cách này hơi xưa. Nhiều lúc không (hay rất khó) áp dụng, khó thực hiện được vì làm không khéo coi ra có vẻ hơi vô duyên. Các em có thể tùy hoàn cảnh “cải tiến” đôi chút… Chẳng hạn như mua sẵn một số hàng kỷ niệm thường đi cặp đôi với nhau như hai chiếc áo giống nhau, cặp nhẫn, đôi vòng đeo tay… rồi tặng cho khách một cái, còn phần mình đeo / giữ 1 cái để nhắc nhở khách phải luôn luôn nhớ đến mình mà trở lại.

    3. Thích: dùng mực xạ xâm tên người khách vào bắp tay hoặc bắp đùi mình để khách trông thấy cho là mình chung tình. Cách này hơi châm nhe (ouchie!)…. Bởi vì mỗi ngày em tiếp độ 10-15 khách mà cứ gặp khách là xâm vài vố trên mình thì chỉ độ một tháng thì hết, không còn chỗ trên người để xâm! Tốt nhất là khi gặp cỡ “đại gia” thì xâm OK; chứ khách xoàng xoàng thì chẳng nên. Ngay cả với khách đại gia cũng cần cân nhắc cho kỹ; lý do là không dại gì nuôi mãi một khứa. Hôm nay Đại gia, ngày mai buôn bán thua lỗ thành Tiểu tiện thì chỉ thiệt thân. Vả lại xóa xâm (de-tat) trên da làm lại cũng không phải là chuyện dễ như lấy đồ trong túi ra! Tốn kém và đau đớn lắm giời ạ!

    4. Thiêu: đốt hương (nhang) giả bộ thề nguyền rồi chích hương nóng vào đầu, bụng và tứ chi mình và đầu, bụng, tứ chi của khách để tỏ dạ chung tình. Các em thuộc loại cao thủ mới dám chơi chiêu đau đớn đốt da thành thẹo này… Cách “Thiêu” này cũng phải nên “tuyển lựa tài tử” cẩn thận y như cách “Xâm.” Không phải đụng đâu thiêu đó, xấu xí lắm… Có sáu vị trí, còn gọi là sáu huyệt, được đề nghị để thiêu:

    a)- Bụng kề bụng gọi là “chính nguyện đồng tâm.”
    b)- Đầu chụm đầu gọi là “chính nguyện kết tóc.”
    c)- Tay tả mình khít với tay tả khách gọi là “hứa nguyện liên tình bên tả.”
    d)- Tay hữu mình liền với tay hữu khách gọi là “hứa nguyện liên tình bên hữu.”
    e)- Đùi tả mình khít với đùi hữu khách gọi là “hứa nguyện giao đùi bên tả.”
    f)- Đùi hữu mình khít với đùi tả khách gọi là “hứa nguyện giao đùi bên hữu.”


    5. Giá: hứa lấy khách làm chồng, giả đò thề hẹn, bàn cách lấy nhau (như thật). Cách này cũng dễ và hữu hiệu. Ngay cả với khách đã có vợ con rồi cũng cứ hứa bừa xin làm vợ lẽ cũng chẳng chết thằng Tây nào… Nhưng mà chớ dại dột có con với khách vì chả có anh hùng hào kiệt nào vào đây mà lại muốn có “trách nhiệm dài hạn” với gái… Anh nào đến chơi cũng là tài tử, đủ điều kiện để đóng phim Hàn quốc với cái tên thơm như kim chi "Choi Xong Djong" hết ráo... Get real!

    6. Tẩu: rủ khách cùng đi trốn. Khi khách chơi đã hết tiền nhưng còn quyến luyến mình không nỡ rời, phải giả cách rủ khách cùng đi trốn; đó là một cách “tống cổ” khách êm thắm (khách không có tiền đâu dám đi trốn… Đi trốn thì chỉ có ăn mày!) Kiểu này coi dễ mà khó. Trường hợp khách thuộc loại “điếc không sợ súng,” có nghĩa là đã hết tiền hết của nhưng vì em đã làm cho mê mẩn, khách vẫn thực tình muốn đi trốn với em thì em phải xử làm sao? Dễ ẹc! Hẹn khách đến một chỗ nào đó, rồi ngầm báo (nhờ Tú bà đưa trước phong bì) cho công an bắt về tôi ăn trộm là xong phim! (Công an cs sẽ sáng tác bản cáo trạng rất đẹp “in no time!” – Nghề của chàng mà.)

    7. Tử: đòi chết để tỏ ra chung tình với khách. Giả bộ chết chứ không phải chết thật đâu mà tưởng bở. Thề thốt là “nếu không tin thì sẽ xin chết ngay trước mắt.” Cao kế hơn là làm bộ rủ khách cùng chết với mình. Bố bảo! Vào chơi gái đã sợ bị lính bắt rồi muốn chết rồi; nói chi đến chuyện xa xôi sẵn lòng cùng chết lảng xẹc với gái!

    Bảy Chữ” như ghi trên đây chỉ là mánh khoé giữ khách mà các em nhà nghề (của cái nghề cũ nhất trên hành tinh) cư xử ở bên ngoài.

    Còn “Tám Nghề” là cách hành lạc, nghệ thuật làm tình (lovemaking technics, trên giường). Có nhiều nguồn cho rằng “Tám nghề” này chẳng qua là tám vị thế căn bản làm tình (sexual positions) trích từ “Tố Nữ Kinh,” một dâm thư nổi tiếng của Trung Hoa - một pho dâm thư, chỉ dành riêng cho tầng lớp thuợng lưu, trưởng giả phong kiến của Trung Hoa lúc trước; ngày nay “Tố Nữ Kinh,” đã được bạch hóa để dân ngu khu đen có thể dễ tìm đọc, để hiểu, suy gẫm và áp dụng. Tôi ráng tìm đọc cho bằng được “Tố Nữ Kinh,” thì thấy cuốn “Kinh” này( bắt đầu từ trang 30) có liệt kê tổng cộng 12 vị thế chứ không phải chỉ có 8 như Truyện Kiều đã nói qua:

    Lưu Ý:

    Phần trích “Tố Nữ Kinh” dưới đây (phần in nghiêng) tôi thấy quá “graphic.” Tuy nhiên tôi phải nêu ra đây vì muốn làm cho trọn vẹn câu chuyện…. Đề nghị quý nữ đọc giả nên bỏ, đừng đọc đoạn trích lục này.

    However, it is all up to you!!! TVG


    (Trích “Tố Nữ Kinh”)


    (Bốn thế nằm của Nam giới / Nam Thượng vị)


    1- Chính Thường Vị (Vị thế cơ bản)

    Nữ nằm ngữa, hai chân dang ra, không cần bẹt lắm. Nam nhân nằm sấp bên trên. Hai đầu gối và hai cùi chỏ chống lên giường để nâng đỡ sức nặng khỏi đè lên bạn ngọc. Vị thế này căn bản là hai đùi nam nhân ở giữa hai đùi của nữ nhân.

    Vị thế phía trên của nam nhân là vị thế nắm quyền chủ động thỏa mãn lòng tự tôn và cảm thức ưu việt của nam nhân. Vị thế này cũng thỏa mãn lòng khao khát được vỗ về ôm ấp, bảo vệ của người nữ.

    Đây là kiểu phổ biến nhất, chính thức từ đó biến thái thành nhiều kiểu khác nhau. Tư thế này tự nhiên nhất vì khi đến tuyệt đỉnh của sự thống khoái thì nam nữ ai cũng có khuynh hướng ôm choàng xiết mạnh người bạn mình. Vị thế này thích hợp nhất cho sự cho sự ôm xiết đó.


    2- Thân Triển Vị (Chân kéo thẳng)

    Dùng vị thế cơ bản nói trên, sau đó đến nửa chừng cuộc tình, nữ nhân khép hai đùi lại, duỗi thẳng chân. Hai đùi nam nhân kẹp hai đùi nữ nhân ở giữa. Cách này làm cho âm đạo khép lại, kẹp sát bóp dương vật, cọ sát nhiều, tăng thêm khoái cảm cho nam nhân. Về mặt nữ sự cọ sát này cũng là cho dương vật cọ sát thành âm đạo, kích thích mạnh âm hạch tạo nên trạng thái khoái cảm tuyệt vời mà những vị thế khác ít khi có.
    Vị thế này không phù hợp với nữ nhân nào có âm đạo quá nhỏ hoặc tử cung không phát triển toàn vẹn.

    Ưu điểm quan trọng của vị thế Thân Triển Vị là kích thích được nam nhân trong trường hợp tinh lực kém, dương cụ căng giương lên không hết sức cũng giao hợp được dễ dàng vì âm hộ kẹp nó lại, da qui đầu bị tiếp xúc nhiều làm cho sự kích tăng lên thêm.


    3- Cao Yêu Vị (Vị thế lưng cao)

    Đây cũng là biến thế của Chính Thượng Vị (vị thế căn bản), trong đó nữ nhân kê gối phía dưới mông để phù hợp với tình trạng của nam nhân. Nam nhân ở vị thế quỳ thay vì nằm ở giữa hai đùi của nữ. Vị thế này khiến cho dương vật nằm ngang và vì không có trở ngại nên độ kết hợp sâu hơn hai vị trí nói trên.

    Đêm tân hôn vị thế này là tốt nhất vì dương vật đi theo đường của âm đạo – không kiểu cọ, không đâm ngang, đâm chếch – khiến cho sự đau đớn của lần kết hợp ban đầu được giảm đến mức tối đa. Sau đêm tân hôn một hai ngày cũng nên dùng vị thế này vì cái đau đớn của khoái lạc đầu đời chưa lành hẳn hoặc vì âm hạch có thể bị đỏ, sưng sau lần màng trinh bị bị phá rách.

    Khuyết điểm của vị thề này là cuộc tiếp xúc không mang đến khoái cảm cực đại cho nữ nhân vì dương cụ đi thẳng đường quá, không chếch không cọ vào thành của âm đạo.

    Bị kê gối nên nữ nhân cũng không được thoải mái, dễ mệt nên vị thế này không nên sử dụng khi nữ nhân ốm yếu hay đang mệt nhọc. Lúc có mang càng không nên sử dụng.


    4- Khuất Khúc Vị (Vị thế thu mình)

    Nữ nhân nằm ngửa, hai đùi co rút lại vào phía thân mình, đầu gối chạm vào ngực, hai chân cách một gốc vừa phải, độ 135 độ là vừa. Nam nhân theo tư thế của Chính Thượng Vị (vị thế cơ bản) nghĩa là nằm úp lên trên mình bạn vàng, hai tay chống xuống giường, đâm chênh chếch từ sau tới.

    Vị thế này kết hợp hai cơ quan sinh dục được sâu vì đâm thẳng đường của âm đạo. Đó là một vị thế rất dễ thụ thai, tinh trùng được bắn thẳng vào cổ tử cung, để tồn tại ở đây một thời gian, để kết hợp với trứng.
    Tư thế này người nam có thể tự do lay chuyển, tự do ôm sát hay cách xa nữ nhân để quan sát loã thể của nàng nên có thêm khoái cảm về thị nhục, kích thêm sướng khoái. Nữ nhân trái lại thành âm đạo không được cọ sát nên không được vui sướng lắm. Đêm tân hôn tuyệt đối không dùng lối này. Cũng vậy không nên dùng đối vơí nữ nhân có âm đạo quá cạn.



    (Bốn thế nằm của Phụ nữ / Nữ Thượng Vị)


    5- Nằm ngược (Phản Vị)

    Phản Vị là vị thế giao hợp ngược với Chánh Thường Vị ở đoạn trước. Phản Vị chủ yếu là nam nhân nằm ngửa hai đùi dang ra giao phần chủ động cho nữ nhân, nữ nhân quỳ ở hai đùi của nam nhân, rồi nằm sấp lên trên.

    Cách này dương vật không chủ động đươc sự đâm vô rút ra của mình nên dễ trợt ra ngoài. Ta có thể chữa cách này bằng cách kê gối phía eo vừa giữ cho thằng nhỏ khỏi đi lạc vừa tăng thêm kích thích cho nữ nhân vì không vướng đùi nên thằng nhỏ như là được vươn mình dài ra hơn. Khoái lạc nam giới tăng thêm vì được quan sát và sờ mó sự lòng thòng của đôi nhũ hoa nhiều khi rung chuyển lắc lư theo nhịp điệu dao động của nữ nhân.

    Nữ nhân dễ đạt được cao trào hứng thú, vì nửa thân trên phải cố thẳng làm cho âm đạo đổi vị thế, tử cung gò lên, qui đầu của dương vật để tiếp xúc và kích thích. Sự gợi cảm sinh ra là do sự kích thích này. Mặt khác cũng là do tâm lý "làm chủ cuộc tình" của nữ nhân.

    Thường dùng Chánh Thường Vị, thỉnh thoảng vợ chồng cũng nên đổi món qua Phản Vị để tạo mới mẻ tìm thêm hứng thú.


    6- Nằm nghiêng 1 (Nghiêng mặt đối)

    Thay vì nằm ngửa lên, vị thế này hai bên nam nữ nằm nghiêng trên giường, đối mặt nhau. Nam nhân dùng tay vỗ về, sờ mó loã thể của nữ nhân, hai đùi nam nhân nằm giữa hai đùi nữ, hai đùi nữ nhân co ôm chặt eo của nam nhân. Tư thế này ít hoạt chuyển nên ít mệt cho cả hai. Khuyết điểm là nam nhân không được tự do, trong việc tấn thúc còn nữ nhân cả đùi bên duới phải chịu cả sức nặng của hạ bán thể của nam nhân (hai đùi) nên cảm độ khoái lạc không thể lên được tới mức tối đa.
    Vị thế không thuận lợi nên kiểu nằm nghiêng thằng nhỏ không đi sâu vào tuyệt cùng của âm đạo.

    Tuy nhiên ưu điểm của thế này là không ồn ào, ít tiếng động. Nhiều người ngủ chung phòng, nhà chật cha mẹ ngủ mà có con cái ngủ gần tư thế này lý tưởng không tư thế nào bằng. Mình vui mà không gây sự chú ý và không làm phiền người khác.


    7- Nằm nghiêng 2 (Nghiêng mặt lưng)

    Như cái tên của nó, hai đàng nằm nghiêng trên giường như hai cái thìa xếp sát với nhau. Nam nhân nằm phía sau ôm nữ nhân, bắp vế sát mông nữ. Nhưng nếu nam nhân để ngực mình chạm với lưng nữ nhân thì phía thằng nhỏ khó vào, bởi vậy ngực phải dang ra lưng để hạ bán thân tiếp xúc mà thôi. Nữ nhân cần phải co chân lại để nam nhân dễ xâm nhập.
    Nam nhân dùng tay tự do (phía trên) sờ mó vỗ về nữ nhân. Nam nhân chân trên có thể gác lên đùi nữ nhân hoặc xếp vế bên đùi nữ nhân ở trên giường.

    Thế này nam nhân hưởng nhiểu khoái lạc hơn nữ nhân vì ở vị thế tấn công và hưởng thêm cảm giác ở bắp vế trong khi đó nữ nhân chỉ kích thích ở âm đạo mà không được kích thích ở đầu tử cung nên tuyệt đỉnh khoái lạc có cường độ không cao. Để giải trừ khuyết điểm đó nam nhân nên sờ mó thêm âm hộ của nữ nhân và se se đầu nhũ hoa của bạn mình.

    Tư thế này thích hợp cho thời điểm nữ nhân đang hoài thai vì bụng không bị đè. Mặt khác khoa lâm sàng cho biết khi phụ nữ mang thai thì tử cung dần dần tới sát xương chậu và âm đạo ngắn hơn lúc bình thường, thể vị giao hợp này dương cụ giao hợp không sâu nên rất thích hợp vì không sợ bị xẩy thai.

    Mức khoái cảm do vị thế này đem lại không cao nên không tạo được tuyệt độ khoái lạc cho nên lúc có kinh cũng có thể áp dụng được. Đối với nữ nhân bị bệnh bất cảm (cảm ứng không được nhiều) đây là vị thế rất phù hợp.


    8- Nằm úp chồng (Vị thế lưng)

    Giống như cách Thường Vị, nhưng ở đây nữ nhân nằm sấp, nam nhân nằm lên trên lưng. Hai đùi nữ nhân có thể bẹt ra hay khép lại. Nan nhân cũng dựa theo đùi của nữ nhân mà hành động, nàng khép haiv đùi, mình ở ngoài ; nàng banh hai đùi, mình ở giữa.

    Vị thế này mông của nữ nhân có tác dụng như một cái gối êm xốp cho nam. Trường hợp người nữ gầy ốm, xương xẩu, kiểu thường và kiểu cởi, làm cho nam nhân mất bớt hứng thú vì chạm các khớp xương, kiểu nằm sấp này tránh những khuyết điểm đó.

    Trong trường hợp nữ nhân mập mạp nhiều thịt, mông to vị thế này không thích hợp vì "trái độn" đã ngăn trận sự xâm ngập của dương cụ khiến sự tiến vào không được sâu.

    Khi có mang dĩ nhiên là tuyệt đối cấm dùng vị thế này. Khuyết điểm quan trọng của vị thế này là sự sút ra của dương cụ, khi kích vì miệng âm đạo mở, từ trên xuống dưới (như một cái cổ giếng) trong khi dương vật tấn kích xuyên về phía trước. Nữ nhân không thích vị thế này vì bị đè, khoái cảm ít, xung kích xâm nhập ngắn, đâm cạn sợt không đến đâu, vận động không đuợc tự do. Nam nhân trái lại thích dùng vị thế này vì có sự thỏa mãn về thị giác, kích thích nhiều, hai tay lại được tự do choàng qua mình bạn mân mê mấy thứ đồ phụ tùng.


    (Bốn thế hỗn hợp – Không nằm / mixed - Nam Nữ)


    9- Thế quỳ

    Nữ nhân nằm sấp trên giường, nhưng cong hai đầu gối lên về phía ngực, phía mông hơi chỏng lên cao, phía đầu hơi cúi xuống thấp hơn. Nam nhân quỳ ở chỗ mông của bạn, lưng thẳng hai tay ôm lấy chỗ eo của nàng để điều chỉnh độ kết hợp.

    Khi giao hợp bằng vị thế này, qui đầu tiếp xúc với âm đạo mãnh liệt. Dương vật được cọ sát nhiều, nên khoái cảm có cường độ rất lớn. Nếu muốn tăng thêm khoái cảm thì nên dùng gối kê đầu gối của nàng để mông chỏng lên cao hơn nữa làm cho độ nghiêng sau trước được nhiều. Cách này là cho cổ tử cung đưa ra hứng tất cả tinh dịch cho nên là vị thế rất dễ bị thụ thai. Muốn tránh mang bầu không nên dùng thế này.
    Đặc biệt, nữ nhân khỏi làm gì cả, tất cả điều do nam nhân chủ động, nữ nhân chỉ cần xoay xoay hậu bộ của mình, hoăc làm những động tác gì khác tỏ ra mình cũng có khoái cảm, để kích thích thêm nhục tình cho nam giới.

    Vị thế này thường phát những tiềng động "nhẹp nhẹp" nhiều người không ưa thích, điều này không có hại gì, đừng nên chú ý mất vui. Tiếng động phát ra do âm đạo bị đè nén mà mở ra chứa không khí, vận động giao hợp làm cho không khí bị bung ra, tiếng động phát sinh từ đó.


    10- Thế ngồi (Tọa Vị) 1 - Ngồi đằng trước.

    Nam nhân ngồi trên giường. Nữ nhân ngồi trên đùi nam nhân, trở ngược lại... Hai người ôm lấy nhau: nữ nhân ôm cổ nam nhân ôm eo. Nữ nhân phải dạng đùi ra choàng qua mình nam nhân nên miệng âm đạo hở, dương cụ dễ tiến vào. Khi đến cực điểm của khoái lạc, nam nhân nên bỏ eo ôm mông nữ để tăng cường thêm. Vị thế ngồi này khiến cho âm hộ hơi co rút lại, dương vật có cảm giác như bị bóp lại nên càng cương cứng thêm. Khuôn ngực của nữ trình bày trước mặt nam, đặt sát vào hay bú núm vú cũng là điều cần thiết.

    Nam nhân rung động hai đùi của mình để kéo theo sự rung chuyển mông của người đẹp. Sự rung chuyển này một mặt kích thích cuộc giao hợp làm cho xương chậu của nàng thay đổi vị thêá khiến cho cuộc kết hợp được lâu hơn, thằng bé đi vào tận cùng trong thâm cung bí sử.

    Tư thế này rất thích hợp khi nữ nhân có thai.

    Nếu nam nhân không ngồi mà quỳ trên đâu các ngón chân và đầu gối mình thì sự xâm nhập cạn hơn vị thế đã nói trên, sự kích thích khoái lạc vì vậy cũng ở mức độ vừa phải, rất an toàn cho người nữ có mang.
    Nếu nữ nhân mập béo mà nam nhân cũng muốn áp dụng tư thế này thì nên cho nữ nhân ngã về sau, hai tay chống xuống giường, vì ngồi thẳng như người bình thường thì dương vật không thể đâm lút vào. Nếu nam nhân mập phệ thì vị thế này cũng phải được cải tiến như trên (ngã về sau).


    11- Thế ngồi (Tọa Vị) 2 - Ngồi đằng sau lưng.

    Nam nhân ngồi thẳng, hai đùi duỗi ra song song. Nữ nhân ngồi trên đùi chàng, đưa lưng về phía nam nhân, hai chân để bẹt ra để bên ngoài đùi của bạn. Nam nhân hai tay, hoặc ôm eo của nữ để làm cử chỉ kích thích và xung động, hoặc chồm tới trước tới vuốt nựng đôi nhũ hoa. Phối hợp nhịp nhàng giữa sự lắc đùi của nam và sự đu đưa mông của nữ thì thời gian giao hợp đuợc kéo dài lâu hơn.

    Trong vị thê này người nữ có vẻ như chủ động : ngồi sâu, nhỏm lên, quay tròn rút lui. .. Nư tính phát triển tối đa ở vị thế này. Cũng là một cách thay đổi món ăn vốn dễ chán ngấy nếu luôn dùng các món cũ.
    Muốn đô kết hợp lâu hơn, đậm hơn, lút hơn nữa nữ nhân nên cong lưng về phía trước và xoạc hai chân rộng ra để âm đạo được nở nhiều. Nam nhân khi dùng vị thế này nên nhớ sờ mó nhũ hoa và khám phá bằng tay âm hạch của nữ để tăng cường cường độ kích thích…


    12- Thế đứng (Lập Vị)

    Nam nhân đứng ở sau lưng nữ, cho vào từ phía sau. Cách này chỉ thực hiện dễ dàng khi nữ nhân hơi cong đầu gối và đưa mông về phía sau một chút. Để đứng vững, nữ nhân chống hai tay lên đầu gối, nam nhân hơi cúi xuống mới cho vào được. Hai đùi của nữ nhân cũng nên banh ra để đứng được vững đồng thời âm đạo cũng mỡ rộng hơn, trình ra con đường dễ dàng cho dương vật xông pha. Cho được tối đa sướng khoái, nam nhân luồn đùi mình vào giữa hai đùi nữ nhân, hai tay luồn lên nắm cập nhũ hoa hoặc ôm lấy bụng của nàng.

    (Hết trích “Tố Nữ Kinh”)



    Ngoài ra, phần lớn các nguồn khác được chấp nhận nhiều hơn, đã giải thích “Tám Nghề” của Tú Bà như sau:

    1- Kích Cổ Thôi Hoa (dùng phép “Đánh trống giục hoa”) đối với người có “súng”... bé, hay loại súng ngắn (nòng).
    2 - Kim Liên Song Tỏa (dùng phép “Sen vàng khóa xiết chặt hai vế”) đối với người có “súng”... to, dài (thuộc loại Top gun! Tảng thần!)
    3- Đại Triển Kỳ Cô (dùng phép “Mở tung cờ đánh trống”) đối với người tính nhanh (high frequency, nhịp giã gạo cứ như trống dồn).
    4- Màn Đã Khinh Sao (dùng phép “Đánh chậm rung nhẹ”) đối với người tính khoan (low frequency, nhịp giã chầm chậm, khoan thai nhát một).
    5- Khẩn Soan Tam Trật (dùng phép “Ôm chặt ba chân - Ba bậc đổi thế.”) đối với người mới “vỡ lòng” (loại súng mới ra lò được bắn thử lần đầu, súng mới mở mắt).
    6- Tả Chi Hữu Trì (dùng phép “Tay trái giữ, tay phải ôm - Đỡ dần buộc chặt”) đối với người không dai sức (hết tiền trước khi vào chợ!)
    7- Tả Tâm Truy Hồn (dùng phép “Khóa lấy tâm, theo dõi thần hồn”) đối với người dai sức (đã hết kẻng 2-3 lần rồi mà vẫn còn tà tà làm “overtime” y như cái quảng cáo bán pin “Energizer” – It goes on and on and on…)
    8- Nhiếp Thần Siếm Tỏa (dùng phép “Thu hết tinh thần, dềnh dàng cướp vía”) đối với người mê sắc (có phải là mê mẩn sắc dục?!)


    Riêng chuyện “cái ngàn vàng thiệt” và “ngàn vàng giả” qua 2 câu:

    “Nước vỏ lựu, máu mào gà
    Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên.”

    (Truyện Kiếu - Câu thứ 836 và 837 v/v Tú Bà dạy Kiều nghề chơi theo kiểu “đánh lận con đen”)

    Thì xin mời quý vị vui lòng đọc thêm để rõ hơn qua cái “link” ngay bên dưới đây:


    http://ykhoa.net/tinhduc_gioitinh/tinhduc/87-12.htm


    Với nghệ thuật đi khách phối hợp cả trong lẫn ngoài: quyến rũ đam mê và kỹ thuật tinh vi; Tú Bà thật sự là một sư mẫu, một cao thủ vô địch trong ngành nghề thương mại tình dục (commercial sex)… Mà chẳng riêng gì ngành thương mại (Commercial) mà ngay cả chuyện “hạnh phúc gia đình” (home making) có nhiều điều rất thực tế có thể tham khảo từ các bài bản mà Tú Bà đã dùng để huấn luyện nhân viên của “Kiều Company” này! Có nhiều quảng cáo trên TV mà khi phát hình, người làm quảng cáo đã phải nhắn trước là “Do not try to do this at home!” Lời “cảnh báo” này không cần thiết trong lời dạy nghề của Tú Bà vì chỉ dẫn của Mụ đã quá đầy đủ chi tiết…



    Lời kết:


    Như vậy câu hỏi được TVG đặt ra là:

    “ ‘Truyện Kiều’ của ta có phải là ‘dâm thư’ hay không?”


    Nếu câu trả lời là “Yeah! Cha nội còn phải hỏi!” thì học giả Phạm Quỳnh kể ra cũng đã đi hơi quá đà khi ông đọc “Bài diễn thuyết về Truyện Kiều” nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai Trí Tiến Đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại trên Tạp chí Nam Phong số 86. Trong đoạn kết của bài này, ông nói một câu “bất hủ?!” (và còn gây tranh luận cho đến ngày nay!) là:

    “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn…”

    Mà thiệt hôn nè??? Tiếng ta và cả Nước ta đã có và còn từ lâu, từ khuya rồi trước khi “Truyện Kiều” được Nguyễn Du sao chép dịch sang tiếng Nôm từ chú Ba Thanh Tâm Tài Nhân (bên Tàu) cơ mà?! Tại sao phải chờ mãi đến năm 1924 thì ông Phạm Quỳnh mới nhắc tuồng rất trái quẻ Tam Tông Miếu như vậy?

    Đến ngay Văn Hào Nguyễn Du có lẽ cũng chỉ có chủ tâm soạn “Truyện Kiều” dùng cho việc ngâm nga giải trí qua các dịp trà dư từu hậu của các cụ đồ Nho chưa hề biết đến "Viagra" là gì (cực chẳng đã mấy cái thang thuốc Bắc và thuốc Nam rất mất công nấu đi nấu lại mà công hiệu quá chậm chẳng đi đến đâu?! Đến lúc nấu xong thì em Kiều đã đi đâu mất đất rồi, đâu có hưởn mà ngồi chờ cụ kéo cờ!) vì trong hai câu kết thúc Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhắn nhủ cái chủ tâm của mình rất nhẹ nhàng, giản dị:

    “Lời quê góp nhặt dông dài,
    Mua vui cũng được một vài trống canh.”



    Trong khi đó “Truyện Kiều” lại được Bộ Giáo Dục VNCH chọn lựa, đem dạy cho đám học trò 13-16 tuổi trung học?! Kể cũng hơi ốt dột… Không hiểu các cô giáo Việt Văn còn tay mơ phải giải đáp các câu hỏi tinh nghịch của cái lũ “nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò” cách nào cho êm thắm…


    Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!… Đây chỉ là một vài câu chuyện nhỏ thô thiển, đậm tính “dung tục…” Một loại văn chương bình dân giáo dục nước ta. Nếu nghe không dzô, xin quý vị thức giả… thật (không phải thức giả giả!) tiện tay xóa dùm làm phước.


    Trần Văn Giang
    Orange County
    (Ngày 10/15/2013 - Revised từ bản chính)
  13. .
    .
    View attachment 2389


    Gần đây có rất nhiều lời bàn loạn về các dòng nhạc với đủ màu sắc (?) mà quý vị có thể tưởng tượng xuất hiện trên mạng ngay sau khi bài phỏng vấn nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 về việc “mổ xẻ” các hót / hét sĩ của làng âm nhạc Việt trong nước vừa mới được phổ biến. Tôi thật sự cũng hơi hoang mang khi đọc thấy và tự hỏi làm sao nhạc lại có nhiều màu như vậy (?). Lý do là vì từ trước tới bây giờ tôi (sinh ra ở miền Bắc, lớn lên ở miền Nam, và rồi tỵ nạn cs từ năm 1975) chỉ biết vỏn vẹn có hai dòng nhạc đơn giản: Nhạc Sến và Nhạc Không Sến… Chả thấy có màu mè nào cả (!)

    Trong “sự nghiệp tay trái” của tôi, tôi đã học được một bài học khá thú vị từ nhà bình luận thời cuộc nổi tiếng Andy Rooney (đã mất năm 2011 - Chương trình “60 Minutes” của CBS News):

    “Nếu bạn không biết rõ về một vấn đề gì thì cứ viết về vấn đế đó”
    (If you do not know very well about something, write about it.)

    Thành ra, xin nói trước là bài viết này được viết ra từ cái ý tưởng “nếu muốn biết cái gì?” của ông Andy Rooney.


    Nhạc Vàng


    Để bắt đầu, không có gì thuận lý hơn là phải kể “Nhạc Vàng” trước, vì qua thời gian và không gian, nhạc Vàng vẫn luôn luôn là loại nhạc của “bên thực sự thắng cuộc” trên mặt trận văn hóa. Tôi sẽ chứng minh điều này ở các dòng sau.

    Riêng hai chữ “Nhạc Vàng” được dùng lần đầu tiên vào những năm cuối của thập niên 60 ở miền Nam Việt Nam khi Ban “Nhạc Vàng” của nhạc sĩ Phó Quốc Lân ra mắt và trình tấu định kỳ trên đài truyền hình Sài Gòn. Sau đó, nhiều hãng phát hành băng nhạc, đĩa nhạc như hãng Hương Giang, Dạ Lan, Shotguns… cũng có ra những sản phẩm âm nhạc với danh hiệu “Nhạc Vàng.” Tuy vậy, đối với ngay cả những người sống ở miền Nam trước năm 1975 (như tôi) cũng không bao giờ để ý đến hai chữ “nhạc Vàng” cho đến khi cs cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975.

    Nhạc Vàng thật ra bao gồm rất nhiều thể loại nhạc khác nhau. Được đại chúng (không phải mấy bố cảnh sát, công an cs) hiểu rộng rãi với nhiều tên gọi khác nhau như: Nhạc tiền chiến, nhạc lãng mạn, nhạc tình, nhạc êm dịu… và gần đây tôi thấy có thêm 2 chữ nữa là “nhạc Nhẹ?!” (có nhạc “Nặng” đâu hà?) Nhạc Vàng có tình quê hương, tình yêu lứa đôi, hoặc chỉ là nỗi niềm riêng tư, cá nhân về thiên nhiên, cuộc sống và cuộc chiến…

    Mặc dầu còn có rất nhiều tranh cãi về vấn đề: Ai là nhạc sĩ đầu tiên? Bài hát nào là bài hát đầu tiên? của nền tân nhạc Việt Nam; nhưng cho tới nay hầu hết những nhà phê bình âm nhạc đã công nhận nền tân nhạc Việt Nam chỉ thực sự thành hình vào khoảng năm 1938. Năm này được đánh dấu bởi buổi biểu diễn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên ở Hà nội. Ông trình bày chính tác phẩm, những bài hát đầu tiên của ông khi đó qua 3 bài “Kiếp hoa,” “Bông cúc vàng,” và “Anh hùng ca.” Rất tiếc, những bài hát này chưa có giá trị nghệ thuật cao cho nên đã dễ bị đi vào quên lãng…


    Nhạc Tiền chiến (1938-45) / Nhạc Tình Lãng Mạn (? ~ 1954)

    Ngay sau thời kỳ phát khởi, nền âm nhạc Việt đã phát triển ở mức cao độ. Ở thời kỳ ban đầu (từ cuối thập niên 30 cho đến chiến tranh Việt Pháp bùng nổ - 1945), hầu hết các ca khúc đều là các bài mang tính chất lãng mạn trữ tình, giàu màu sắc văn học, trở thành bất hủ… có ảnh hưởng sâu đậm đến các sáng tác của nhiều nhạc sĩ của các thế hệ sau này. Các bài tiêu biểu là: Con thuyền không bến, Giọt mưa Thu, (Đặng Thế Phong); Thiên Thai, Trương Chi (Văn Cao); Biệt Ly (Doãn Mẫn); Khúc yêu đương (Thẩm Oánh); Bóng ai qua thềm (Văn Chung); Lá thư (Đoàn Chuẩn); Trường ca Hòn Vọng Phu (Lê Thương – Trường ca gồm 3 bài được Lê Thương sáng tác trong nhiều năm khác nhau).

    Dòng nhạc gọi là “Tiền chiến” không kết thúc vào năm 1945. Nó còn bao gồm cả những bài nhạc sáng tác sau 1945 (Tôi không biết có nên gọi nhạc sau 1945 là nhạc “Hậu chiến?” hay nhạc “Hội tề?” – tức là thời kỳ Việt Minh đang hoạt động mạnh?) như: Dư Âm (Nguyễn Văn Tý); Sơn Nữ Ca (Trần Hoàn); Trăng mờ bên suối (Lê Mộng Nguyên); Làng tôi (Chung Quân), Gửi gió cho mây ngàn bay (Đoàn Chuẩn); Ngày về (Hoàng Giác)…

    Tôi lấy làm lạ là có nhiều bài sáng tác mãi sau năm 1954 cũng được liệt vào loại nhạc tiền chiến như: Thuở ban đầu (Phạm Đình Chương); Hương Xưa (Cung Tiến) v..v..


    Nhạc Tình / Tình ca (1954-1975)

    Sau năm 1954, csvn khai tử loại nhạc trữ tình ở miền Bắc. May mắn thay, dòng nhạc lãng mạn này theo nhạc sĩ di cư vào định cư ở miền Nam Việt Nam và được tiếp tay bởi các nhạc sĩ tài hoa miền Nam tự do. Họ đã soạn ra những sáng tác âm nhạc giá trị chưa từng thấy như (*): Hoài Cảm (Cung Tiến), Mộng dưới hoa (Phạm đình Chương), Gọi người yêu dấu (Vũ Đức Nghiêm); Ngàn thu áo tím (Hoàng Trọng); Chiều tím (Đan thọ); Duyên Thề (Thanh Trang); Hoa soan bên thềm cũ (Tuấn Khanh);Suối tóc (Văn Phụng); Giấc mơ hồi hương (Vũ Thành); Thu sầu (Lam Phương); Tuổi 13 (Ngô Thụy Miên); Các bài không tên (Vũ Thành An); Giọt lệ cho ngàn sau (Từ Công Phụng); Yêu nhau khi còn thơ (Lê Uyên Phương); Trên đỉnh mùa đông (Trần Thiện Thanh); Chiều mưa biên giới (Nguyễn Văn Đông); Xin còn gọi tên nhau (Trường Sa); Nỗi lòng người đi (Anh Bằng), Mưa trên phố Huế (Lê Dinh, Minh Kỳ), Hà nội ngày tháng cũ (Song Ngọc)… Danh sách nhạc này dài vô tận, tôi không thể liệt kê ra hết trên mấy trang giấy này. Đây là một kho tàng văn hóa vô cùng quý báu của Việt Nam.

    ------------------
    (*) Người viết chỉ đủ giấy và thời giờ nêu ra một số các bài nhạc, tập nhạc (albums) tiêu biểu của một số nhạc sĩ tiêu biểu…



    Thời kỳ cấm Nhạc vàng sau năm 1975

    Sau năm 1975, danh từ “nhạc Vàng” được csvn dùng để chỉ bao gồm tất cả những tác phẩm âm nhạc ở miền Nam ra đời trong thời kỳ đất nước chia đôi và dòng nhạc này bị cấm tuyệt đối trên các phương tiện truyền thông trong nước kiểm soát bởi chính quyền cs. Cũng như những đề mục văn hóa khác ở miền Nam, âm nhạc Miền Nam bị gán thêm các nhãn hiệu chính trị là “nhạc phản động” hoặc “đồi trụy” vì theo cs nhạc Vàng chỉ “ru ngủ,” không thể hiện được “con người xã hội chủ nghĩa lý tưởng (?)” Kết quả là nhiều sản phẩm văn hóa trong đó có băng cassette, đĩa nhạc cùng những bài vở tài liệu ghi chép liên quan đến nhạc Vàng bị đốt, tiêu hủy không thương tiếc, không nương tay. Dầu gì đi nữa, trong thâm tâm của người dân (đôi khi có cả cán bộ chính quyền cs) trong Nam lẫn ngoài Bắc vẫn ưa thích nhạc Vàng; vì nhạc Vàng, và chỉ có nhạc Vàng, mới nói lên được tình cảm cá nhân không bị bó buộc vào tập thể. Nhạc Vàng do đó còn hàm ý “Vàng,” một quý kim thật. Người nghe muốn nghe phải nghe lén lút vì nó luôn luôn nói lên được cái tâm trạng “riêng tư” của con người; trong khi xã hội chủ nghĩa chỉ cho phép nói lên cái ý thức hệ chung của tập thể. Dù phải nghe trộm qua những buổi phát thanh của VOA, hoặc BBC từ hải ngoại, người trong nước vẫn cố gắng tìm nghe bất chấp hình phạt của luật pháp cs. Có thể nói nhạc Vàng vẫn tiếp tục chiếm địa vị quan trọng trên thị trường âm nhạc và được dân chúng ngày càng ưa chuộng hơn. (vắn tắt theo Wikipedia).

    Ngoài Bắc Việt Nam trong thời kỳ chia đôi đất nước, có ông Nguyễn Văn Lộc ở Hà Nội, thiên hạ tặng ông biệt danh “Lộc Vàng,” chỉ vì sự đam mê của ông Lộc thích ca hát nhạc Vàng tới “quên cả cái chết.” Nhạc Vàng khi ấy đang bị “cấm” và bị coi là “văn hóa đồi trụy.” Nhưng vì quá mê nhạc Vàng, ông Lộc Vàng đêm đêm tụ tập với bạn bè ở nhà để hát. Ông bị chính quyền cs bắt giam vì tội “tuyên truyền văn hóa đồi trụy,” bị khép án 10 năm tù và 4 năm quản thúc (tổng cộng 14 năm), sau được giảm án xuống 8 năm tù và 4 năm quản thúc (12 năm).

    Từ sau khi miền Nam Việt Nam bị cs cưỡng chiếm năm 1975, dòng nhạc Vàng (nhạc Tình) một lần nữa theo người dân tỵ nạn cs ra hải ngoại. Đối với người Việt hải ngoại thì nhạc Vàng trở thành một dòng nhạc chính trong thị hiếu người nghe nhạc.

    Cho mãi đến năm 1982, sau khi thấy nền kinh tế tập trung bao cấp không giống con giáp nào. Nói cách khác, kinh tế chỉ huy của cs vẫn còn “tụt hậu” xa lắc xa lơ so với nền kinh tế tư bản; mặc dù qua loa phường cs vẫn luôn tuyên truyền (mà chẳng có ai tin) là kinh tế tư bản đang đứng bên bờ vực thẳm; Csvn đành phải gượng gạo, tự mình chửi bố mình, định hướng lại nền kinh tế xhcn thối hoắc để cùng chạy về cái hướng “vực thẳm” mà tư bản đang đứng bên bờ (?) – cs gọi sự “đổi mới” (hay đổi cũ?) này là “kinh tế thị trường” - Tuy nhiên, nhờ Mỹ hết cấm vận và định hướng lại đường lối kinh tế mà nền nhạc Vàng bùng phát trở lại như sóng vỡ bờ. Csvn lúc này bó tay, vô phương ngăn chặn.


    Nhạc Vàng của bên thắng cuộc!?


    Thật oái oăm, bẽ mặt cs về cái danh từ “tự sướng” gọi là “bên thắng cuộc.” Năm 2005 tôi có dịp phải trở về Bắc Việt Nam để thăm quê đất tổ kể từ 1954, có nghĩa là sau 49 vừa di cư vừa tỵ nạn cs. Trong chuyến đi này, tôi bất đắc dĩ phải tạm trú vài ngày (booking at the last minutes) tại Khách sạn “Lakeside” ở quận Ba Đình (địa chỉ khách sạn này nằm gần sát ngay bên lăng boác!) Buổi sáng, thức dậy, đi xuống nhà hàng ăn ở tầng dưới đất của để ăn sáng - cũng nên biết thực khách chỉ toàn là người Đại hàn, Đài loan và Việt kiều; và dĩ nhiên nhân viên phục vụ là người Việt - tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nhà hàng, qua dàn âm thanh “speakers” rất “cơ khí” gắn trên trần nhà, chơi toàn nhạc lính VNCH (instrumental / nhạc hòa tấu không có lời hát) trước năm 1975. Một vài bài rất quen thuộc mà tôi đã nghe và thích ngày trước như “Người ở lại Charlie,” “Anh không chết đâu anh…” Tôi lập lại, khách sạn này nằm trong quận Ba đình, chỉ cách lăng boác một cú xe ôm thật ngắn.

    Cho mãi đến năm 2012 Huy Đức mới xuất bản cuốn “Bên thắng cuộc;” nhưng xem ra, ngay năm 2005, và ngay tại Ba đình nơi mà boác đang có cái “freak show” lộng kiếng, tôi đã rõ biết “bên thắng cuộc” là bên nào rồi. Nếu quý vị nếu phải về Việt Nam vì một lý do nào đó (hy vọng không phải vì lý do làm từ thiện hay đáp lời mời của chú lùn Nguyễn Minh Triết về Việt Nam để giao hợp – chữ nghĩa lỉnh kỉnh của vi-xi thay cho “cụm từ” “giao lưu và hợp tác”) thì quý vị sẽ thấy bây giờ, hôm nay, nhạc Vàng VNCH được trình bày công khai sống (live) hay qua DVD (video) tứ phía: Concerts, khách sạn, quán ăn, trên xe đò… Công an cs cũng “vô tư” đứng thưởng thức một cách thích thú mới chết người!


    Một thí dụ điển hình khác là “Live show” của ca sĩ cắc kè Chế Linh tại Hà Nội vào cuối năm 2011.


    View attachment 2387
    Ảnh Quảng cáo đêm nhạc “Huyền Thoại Dòng Nhạc Tình”
    của Chế Linh ở Mỹ Đình – Hà Nội, ngày 12/11/2011.



    View attachment 2388
    Ảnh Chế Linh với áo lính trận QLVNCH và dáng 3 chiếc
    trực thăng UH1 phía hậu cảnh (bên tay phải Chế Linh).



    Quý vị sau khi đã xem qua tấm ảnh quảng cáo “live show” “Huyền Thoại Dòng Nhạc Tình (nhạc Vàng)” của Chế Linh tại Mỹ Đình – Hà Nội vào cuối năm 2011 để thấy tận mắt (A picture truly says 1000 words here) sự kiện nhạc “Vàng” đã ngang nhiên đi vào giữa thủ đô csvn Hà Nội và đè bẹp nhạc “Đỏ” của “bên thắng cuộc?” một cách rất ngoạn mục.

    Chế Linh, và một số ca sĩ hải ngoại về hát ở Việt Nam, không ít thì nhiều cũng đã làm chính quyền cs đau hơn đau trĩ… Nhạc Vàng qua thời gian đã đi sâu vào tâm trí của người dân già, trẻ, trai, gái Việt Nam; kể cả dân miền Bắc và nhất là đám “bộ đội cụ hồ?” Nhạc vàng, và tiếng hát Chế Linh, đã luôn luôn có sẵn trong nhà dân và ngay cả nhà cán bộ cs mới chết! Có người sống ở trong nước dám quả quyết là một “ủy viên trung ương đảng, trước là đảng viên thành ủy Tuy Hòa” ngồi trong xe lúc nào cũng yêu cầu tài xế mở nhạc Chế Linh và phải là bài hát “Trên 4 vùng chiến thuật” mới bằng lòng. Cs thì làm quái gì mà có “4 vùng chiến thuật” (cs chỉ có “liền đít” / Liên khu!) Mặc dù con cắc kè Chế Linh trước đây từng tham gia biểu tình ở Canada, đóng vai người tù ngồi trong cũi của csvn, thế mà năm 2011 về nước định hát kiếm chút tiền còm cuối đời, lại có can đảm như ông Lộc Vàng Hà nội, không sợ bị vào tù thật của cs thì tôi phải cho con cắc kè này một ít “credit” đại loại như một cái bằng tưởng lục “nghệ sĩ ưu tú” gì đó mới đáng đồng tiền bát gạo.


    Nhạc Đỏ

    “Nhạc Đỏ” còn gọi Nhạc cách mạng (hay nhạc cắt mạng) là những ca khúc hát về “cách mạng” thực ra đây là một loạt các bài ca sắt máu nặc mùi sát nhân, cắt mạng người của csvn, sáng tác để ca tụng bác (chẳng những ca ngợi sự nghiệp kíu lước của boác mà con ca ngợi cả nhan sắc, cái áo, đôi dép, chòm râu không giống ai của boác – hình như giống lông gì mọc lộn chỗ - ca tụng đảng cướp ngày csvn, giải phóng miền Nam, và chủ nghĩa cs khát máu…

    Ngoài ra, cs còn gán ghép cho nhạc Đỏ này với nhiều chữ nghĩa đặc trưng văn hóa xhcn dài long thòng, kêu rất to nhưng hoàn toàn rỗng tuếch vô nghĩa hoặc tối nghĩa như: Chống Mĩ kíu nước, chủ nghĩa mác-lê vô địch, bần cố nông vô sản thành đồng cách mạng, ba dòng thác cách mạng, mục tiêu giải phóng đất nước sáng ngời, đấu tranh giai cấp và ngoài ra còn dư chút hơi để ca ngợi cả các lãnh tụ khát máu cs quốc té nữa mới ly kỳ…

    Các bài hát tiêu biểu của nhạc đỏ là: “Cây chông tre,” “Cô gái vót chông,” “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn,” “Tiếng chày trên Sóc Bom bo,” “Trường sơn Đông, Trường sơn Tây,” “Rừng xanh vang tiếng Ta lư,” “Như có Boác Hồ trong ngày dzui đại thắng,” “Hồ chí minh đẹp nhất tên người,” “Boác đang cùng chúng cháu hành quân,” “Lời boác dặn trước lúc đi xa,” “Đêm nghe tiếng đò đưa nhớ boác,” “Năm anh em trên một chiếc xe tăng,” “Hò kéo pháo…” Nhịp điệu thì phần lớn loại quân hành dồn dập, lời hát thì líu lo - nghe phớt qua tưởng là đang nghe hát tiếng tàu… Nếu quý vị nào đang bị ị chảy (unstoppable diarrhea) thì chỉ cần nghe qua loa loại nhạc Đỏ man rợ này thì có “khả năng” chuyển qua táo bón cấp tính; khỏi cần dùng thuốc thang chi cả. Kể cũng tiện cho thời kỳ bao cấp thiếu thốn đủ thứ. Còn nhớ thời kỳ sau năm 1975 cũng là thời kỳ nghe nhạc Đỏ, nhai bobo sái quai hàm, và táo bón kinh niên. Đến nhạc sĩ Văn vĩ mà con thấy cái gọi là thiên đường cộng sản loại này chứ nói chi người sáng mắt! Thiệt tình!!!

    Nhờ vào sự giúp đỡ tuyệt vời có một không hai của hệ thống truyền thông loa phường, nhạc Đỏ đã dần dần biến đa số dân Việt Nam thành một khối người gần như mất cả nhân tính, man rợ của thời đồ đá bán khai, khát máu một cách lạ lùng loại “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,” hay là “Thề phanh thây uống máu quân thù ... ” Điển hình là cả làng hơn 800 dân cư cùng nhận tội giết 2 tên trộm chó ở thôn Danh Thượng 2, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang… Trong khi dân bị chính quyên, công an cs cướp hết tài sản ruộng vườn vào ngay giữa ban ngày thì lại chỉ biết kêu oan…

    Sau năm 1982 (sau khi Mỹ hết cấm vận và bắt đầu thời kỳ “đổi mới”) thì nhạc Đỏ có vẻ đang từ từ xếp hàng cả ngày đi thẳng vào viện bảo tàng tội ác cs… Có cho thêm tiền thì dân cũng không muốn nghe nhạc Đỏ táo bón phi nhân làm gì; trong khi dân chúng (và cán bộ cs) có thể dám bỏ tiền hàng trăm đô la mua vé để đi nghe nghe các ca sĩ “phản động” hát nhạc “đồi trụy.” Như nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã nói: “… rồi sẽ tự động chết bởi vì ‘những gì’ không hay sẽ không thể tồn tại… Tôi tin tưởng như vậy. Đời tôi không thấy, nhưng đời con đời chau tôi sẽ thấy điều này…”


    Nhạc Xanh (hay Nâu?)

    Sau khi đã viết tạm xong hai mục nhạc Vàng nhạc Đỏ, tôi đã định dừng bút nghỉ cho khỏe thì anh bạn đồng môn của tôi, anh Trần Trung Chính, có thân mến nhắc nhở tôi thêm là “ “Này. Vi-xi, ngoài nhạc Đỏ (nhạc cách miệng) còn có một loại nhạc nữa gọi là nhạc “Xanh.” Anh bạn đồng môn cũng cho biết thêm loại “nhạc Xanh” này cùng nằm chung với mảng “Nhạc Đỏ” cách mạng của vi-xi; và nó không phải là nhạc trẻ hay nhạc thiếu niên mà là loại nhạc Xanh cộng sản gồm những bài ca kêu gọi toàn dân tăng gia sản xuất (!) chứ cũng không phải loại nhạc dạy con người biết yêu thiên nhiên, biết bảo tồn môi sinh. Chúng ta thấy các bài nhạc xanh tiêu biểu như: “Mùa Xuân trên nông trường Lê Minh Xuân,” “Hát trên nông trường xanh,” “Bài Ca 5 Tấn (**),” “Chị Tư 3 Đảm Đang,” “Con Kênh Xanh Xanh...” Những bài nhạc Xanh hấp dẫn đến nỗi chỉ sau 3-5 năm không còn thấy ai hát nữa và chính tác giả còn không nhớ là anh ta đã có những "đứa con tinh thần xanh lè" như vậy để kêu gọi, thúc đẩy sản xuất phân bắc, phân xanh…

    Nhờ giời, qua thời gian tra cứu lỉnh kỉnh về các loại nhạc Vàng, nhạc Đỏ, nhạc Xanh này tôi có dịp được học hỏi thêm một ít về kỹ thuật pha mầu của ngành họa (painting). Màu xanh (màu kít ngựa) mà đem trộn với màu đỏ (màu cách mạng / cs) thì mùi thối sẽ tăng gấp đôi chỉ vì kết quả sự pha trộn này sẽ cho ra mầu Nâu (màu kít bò – bullsh.. color). Thành ra nghiễm nhiên nhạc Xanh ca ngợi sản xuất - phân bắc phân xanh - trong dòng nhạc Đỏ của cs (nhạc cách mạng) có thể coi như là đồng nghĩa với “nhạc Nâu” hay “nhạc kít bò” (cũng màu nâu) sau sự pha trộn… Xanh với Đỏ!

    -----------
    Ghi chú:

    (**) Vào đầu thập niên 70, chương phát triển lúa Thần nông của miền Nam của Bộ Canh Nông VNCH (hướng dẫn bởi Giáo sư / Tổng trưởng Canh Nông Tôn Thất Trình) đã đưa năng xuất lúa Thần Nông lên mức thu hoạch trung bình 8 tấn / một Hecta (có nhiều chỗ lên đến 12 tấn) mà không hề thấy nhạc sĩ miền Nam nào làm lấy một bài “nhạc Xanh” để ca ngợi thu hoạch 8 tấn… Csvn phải chờ đến cuối thập niên 70 (nghĩa là gần 10 năm sau), vài năm sau khi chiếm miền Nam, mới có bài “Bài ca 5 tấn” ca ngợi mức thu hoạch 5 tấn / Hecta. Xem ra, thì cách mạng đi thụt lùi chớ có thấy gì là vinh quang?


    Nhạc Da Cam (!?)

    Tôi cam đoan sẽ có nhiều đọc giả lắc đầu, thắc mắc ngay:

    “Cái gì? Màu da cam? Làm quái gì có nhạc màu Da Cam? Cha nội đừng có viết láo viết lếu quá nghe!”

    Dạ thưa quý vị, tôi chỉ đã mơ mộng giữa ban ngày, tiên đoán vẩn vơ theo loại chó ngáp phải ruồi là sẽ có loại nhạc với màu “Da cam” (do màu Vàng trộn chung với màu Đỏ) còn có thể được “phe ta” gọi là “Âm nhạc hòa hợp hòa giải dân tộc!” quái đản xuất hiện trong những ngày sắp tới vì bọn vi-xi xảo quyệt và các tay sai Việt kiều trở cờ mù lòa đang cổ võ các phong trào “kiều vận” ve vãn, qua các bản nghị quyết mồi chài rất trơ trẽn v..v.. kêu gọi “xóa bỏ hận thù,” “hòa hợp hòa giải dân tộc,” “trở về góp sức xây dựng quê hương,” “quê hương là chùm khế ngọt…”

    Mà thật! Chuyện gì có thể xẩy ra, đã xẩy ra. Ác mộng đã và đang biến thành hiện thực (Đấy! Tôi đoán có sai đâu!) Nhạc "Da Cam" bây giờ đang bắt đầu thâm nhập, mọc rễ rất sâu và trổ hoa tươi rói như hoa cứt lợn, rồi cứ thế mà “phất phơ triên đỉnh bình yên," khắp nơi trên các cộng đồng trước nay vẫn được gọi là cộng đồng “tị nạn cộng sản!" Điển hình có các bài “Về đây đi em” (Trần Quang Lộc) ru ngủ và kêu gọi kiểu “… Để hận thù người người lắng xuống …” Gần đây, một vài hội đoàn đã mang danh nghĩa “chống cộng” ở hải ngoại (thí dụ như Hội Cựu Học sinh Võ Tánh – Nha Trang) đã tổ chức đại hội toàn Thế giới tại Orange County, California Hoa Kỳ đã có đánh du kích, xen kẽ trong chương trình văn nghệ bài “Quê hương” / hay là “Quê hương là chùm khế ngọt” (Nhạc Giáp Văn Thạch, thơ Đỗ Trung Quân). Có khi còn ngang nhiên lấy ngay chủ đề của ngày họp mặt, của đêm văn nghệ là “Quê hương là chùm khế ngọt” mới ngon!

    Không biết âm nhạc sẽ còn mang thêm màu sắc gì nữa từ cái cầu vòng màu sắc (Rainbow)? Chờ xem.

    ________
    Phụ chú:

    1- Nhạc sĩ Nguyễn Anh 9 trong bài phỏng vấn “mổ xẻ” các hót sĩ trong nước… có đề cập đến hai chữ “Thanh nhạc.” Chữ “Thanh” (trong “Thanh nhạc”) ở đây không có gì dính dáng gì đến màu sắc. Thanh chỉ có nghĩa là “âm thanh” (Vocal / Human Instruments) do thanh quản (nói nôm na là cuống phổi / hay cuống họng cũng được) phát ra. Thanh nhạc là cách, là kỹ thuật trình bày chứ không phải là một loại nhạc.

    Thanh nhạc là kiểu nhạc với yếu tố chủ chốt nhất là giọng hát của ca sĩ. Ở đây, giọng hát của ca sĩ được xem là nhạc cụ chính của bản nhạc. Thanh nhạc có thể được một hoặc nhiều ca sĩ trình bày, chỉ dùng giọng hát hoặc có phần đệm đại khái của nhạc cụ. Cũng cần phân biệt với thể loại “a cappella” (loại hát hoàn toàn không có nhạc đệm) trong đó giọng hát vẫn được xem là tiêu điểm nhưng các ca sĩ còn dùng giọng hát để thay thế cho toàn bộ nhạc cụ đệm. Các ca sĩ hát thanh nhạc đôi khi được gọi là “vocalist.”

    Chúng ta thấy các ca sĩ miền Bắc Việt Nam hay sử dụng kỹ thuật thanh nhạc. Tại sao vậy? Vì trước đây các văn công ngành ca hát (thợ hát) của vi-xi đi theo bộ đội vượt Trường Sơn, vì không có, hay không thể mang theo những dàn âm thanh tốt nặng nề… phải chú trọng và tùy thuộc nhiều về phần cuống họng có sẵn trong cổ, khỏi phải đeo nhạc cụ lủng lẳng theo người chi cho mệt xác! (vì còn dành chỗ để đeo gạo, muối và AK47).

    Trái lại, các ca sĩ miền Nam Việt Nam (VNCH) không có ai quan tâm về việc hát thanh nhạc vì khi phải hát, họ luôn luôn được hát với các dàn âm thanh và khí cụ tân tiến. Chẳng hạn như dàn âm thanh vĩ đại của các phòng trà ca nhạc, các buổi đại nhạc hội, hay của các Tiểu Đoàn Chiến Tranh Chính Trị của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị; Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương trực thuộc Bộ Thông Tin Dân Vận…


    2- Vì lập trường chính trị riêng, người viết đã chủ ý tránh, hoàn toàn không đề cập gì đến các sáng tác của Phạm Duy và Trịnh Công Sơn mặc dù sự sáng tác của hai nhân vật này rất dồi dào và phong phú về cả lượng lẫn phẩm. Nhiều đọc giả sẽ cho là nếu không có nói đến nhạc của Phạm Duy và Trịnh Công Sơn thì đây là một thiếu sót lớn khi bàn về âm nhạc Việt Nam… Tôi thì lại không nghĩ như vậy. Câu hỏi của tôi là “Nhạc sĩ có cần phải có đạo đức (chính trị) hay không?” Câu trả lời của chính cá nhân tôi đã thúc đẩy tôi lấy các sáng tác của Phạm Duy và Trịnh Công Sơn ra khỏi bài viết nhỏ này. Dù không có nhạc Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, nhưng quý vị cũng đã có quá đủ bài hát để hát cho đến mệt nghỉ rồi.



    Trần Văn Giang
    Orange County
    (Ngày 9/27/2013)
  14. View attachment 2333

    Sơ lược về nguồn gốc của chó

    Tuy đã có nhiều giả thuyết, nhưng trong thực tế người ta cũng chưa biết chính xác lúc nào có chó và từ đâu chó bắt đầu sống chung với con người. Chỉ biết là tổ tiên của chó nhà (“domestic dogs”) là chó sói (“wolf”). Tất cả chó nhà, chó sói, các loại chồn… đều xuất xứ từ chung một gia đình: Họ “Canidae.”

    Qua nhiều giai đoạn, chó nhà biến thể từ chó sói có lẽ nguyên thủy xuất phát từ vùng Trung đông, Đông á hay Siberian (?) Các nhà nhân chủng và khảo cổ học ước chừng chó nhà đã có mặt khoảng 12,000 đến 18,000 năm rồi… Nghĩa là ngay sau khi con người bắt đầu biết sống định cư một cách thường trực chứ không thích sống lối du mục lang bạt như trước. Tuy vậy, không có nghĩa trước đó không có chó. Một tài liệu khảo cứu mới đây xuất bản đầu năm 2013 nói là chó sói và chó nguyên thủy đã được tìm thấy trong “Siberian fossil” cỡ 36,000 năm rồi; căn cứ trên các thử nghiệm DNA.

    Nhìn hình dạng các loại chó German Shepherd (chó Bẹc-giê Đức), Huskies, chó Eskimo… chúng có khuôn mặt giống y như chó sói; mặc dù tính tình và cách sống của chúng (chó nhà) không có gì giống chó sói nữa…

    Không thể phủ nhận được là chó có nhiều khả năng rất đặc biệt và chó đã giúp đở con người qua rất nhiều phương diện khác nhau: từ vấn đề săn bắn, chăn lùa gia súc (cừu, bò, gà, vịt, ngỗng…); cho đến nghiệp vụ cảnh sát (ngửi / đánh hơi tìm phát giác chất nổ, ma túy, xác chết…); giải trí (đua chó, tranh đua thi chó đẹp, chó xấu, chó kiểng…); kéo xe (chó Eskimo); dẫn dắt người mù lòa; bắt cả chuột (chó Phú quốc)…

    Chó là con vật có nghĩa nhất so với tất cả động vật sống chung quanh con người. Chó biết phục tùng và phục vụ chủ rất tận tình mà vẫn bị người (chủ) đem ra quạt chả chó dài dài… Đã vậy con chó còn bị con người dùng tên “chó” để chửi con người khác rất thậm tệ. Chẳng hạn như:

    “Đồ chó!”
    “Đồ chó chết!”
    “Đồ chó đẻ!”
    “Đồ chó dại!”
    “Đồ chó ghẻ!”
    “Đồ chó điên!”




    Chó Ta

    Chó sống ở Đông phương, Á châu nói chung, hẳn là loại chó xấu số, xui xẻo tận cùng bằng số…. Trên mảnh đất phía Đông quả địa cầu, chó bị con người bạc đãi hết chỗ để nói, không còn đủ chữ nghĩa để diễn tả… Thiệt tình! Con người đối xử tệ với chó còn tệ hơn là… chó.

    Ở thế kỷ 21, nếu quý vị có may mắn sống ở nước ngoài lâu rồi, và không phải là một tay ăn thịt chó mà có dịp thấy một mảng thịt chó to tổ bố, hay nguyên cả một con chó đã thui nhe hai hàm răng trắng, treo lủng lẳng trong tủ kiếng trước các quán nhậu, hay bày biện trên bàn, các thớt thịt ở chợ; thịt chó 7-8 món thơm phức đã nấu sẵn bày trên bàn nhậu từ Đại hàn, Trung quốc, Việt nam, Thái lan… không thể không khỏi lắc đầu ngao ngán. Còn nếu quý vị là tay thích ăn thịt chó (có lẽ quý vị cũng chẳng nên đọc bài này làm gì!) hãy dành một chút ít thì giờ quan sát cái quang cảnh chó bị giết làm thịt (chó đang sống mạnh giỏi bị đập đầu bằng củi tạ rồi trấn nước cho chết, thọc huyết, thui bằng lửa rơm khói um cho đến khi nhăn răng…) hay lúc chó đang say sưa “măng-giê ca-ca” bên lề đường; thì có lẽ cũng sẽ nuốt thịt chó không nổi nữa… Đã đến lúc quý vị phải tìm cách cai thịt chó; y như cai thuốc lá, thuốc lào, thuốc phiện,…

    Dù quý vị có tin hay không tin, tôi là dân Bắc kỳ 54 không hề ăn thịt chó, nhưng tôi có nhận xét là dân Bắc kỳ đại đa số thích ăn thịt chó (!) Họ thích ăn chó đến một mức độ khó hiểu. Quang cảnh bộ đội bắc Việt đi dép lốp, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ trong rừng rậm xếp hàng đi ra, nhìn thấy con chó còn sống chạy ngang qua mặt là thèm đến chẩy nước miếng rồi. Nếu cho “bộ đội cụ hồ” họ lựa chọn giữa thịt heo và thịt chó; chắc chắn họ sẽ chọn thịt chó vì có lẽ tổ tiên của chó và tổ tiên cụ hồ 500 năm về trước ở cùng chung một nhà, cùng bú chung một con chó cái…

    Không có sẵn chó ở nhà để làm thịt, thì cứ “tự nhiên như người Hà lội” chỉ việc đi qua hàng xóm trộm chó là xong. Dân trộm chó nhà nghề thường hay đi cặp đôi. Chở nhau trên một xe gắn máy với đồ nghề gồm một cái búa (hay một thanh sắt to cứng) và một cái bao tải. Khi có con chó xấu số nào đó đang đi lơn tơn trên đường “marking territories” chẳng hạn, bọn trộm chó chạy xe lại gần. Tên ngồi phía sau xe phạng thật mạnh một búa mạnh vào đầu con chó. Sau đó chúng hốt thật lẹ con chó đã đang ngất ngư con tầu đi vào bao tải và chở đi. Cũng nên biết thêm, ở Việt Nam thời buổi này, làm lao động cật lực một ngày 8-10 tiếng chỉ kiếm được giỏi lắm vào khoảng 2-3 đô la. Trong khi một con chó sống hay chó chết có thể bán trên 100 đô la cho quán nhậu dễ dàng…

    Nhưng nghề nào cũng có tai nạn nghề nghiệp của nó. Nhiều vụ ăn trộm chó bị dân làng phát giác, chặn bắt. Họ đập chết tại chỗ mấy tên trộm chó, rồi sau đó đổ xăng đốt cháy rụi xác chết các tên trộm cùng với xe gắn máy… Thật rùng rợn. Cảnh chết cháy này là đặc thù của chỉ có ở xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Vì ăn trộm một con chó mà bị đánh và đốt xác chết nhục nhã như một con chó thui. Kinh thật.

    Đầu thế kỷ 20, Vì quá yếu, Trung hoa phải theo một chính sách hòa dịu, nhượng bộ các liệt cường Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào nha, Nhật bản… hết biết – đại khái là các liệt cường muốn yêu sách cái gì thì Trung hoa tặng liệt cường nguyên con cái đó để cho mọi chuyện êm thắm… y như nhà nước csvn hiện nay nhượng bộ yêu sách của Trung cộng. Miễn sao giới cầm quyền vẫn được yên ổn để ngồi vơ vét tài sản đất đai của dân mình là chuyện tốt rồi.

    Liệt cường đưa quân tràn vào Trung hoa chiếm đất làm tô giới, thuộc địa… Họ đặt tòa đại sứ tại Bắc Kinh cho có lệ; mục đích chính là để để tiện điều hành các tô giới đã chiếm, và đưa thêm yêu sách quân sự, ngoại giao xử ép triều đình Mãn Thanh.

    Một hôm, ông Đại sứ Anh quốc ở Bắc kinh đem biếu Từ Hi Thái Hậu một con chó nhỏ loại “Toy Pooddle” làm quà. Vài hôm sau vị Đại sứ này gặp lại bà Từ Hi trong cung điện, và nhân tiện hỏi thăm về con chó:

    “Thưa Mẫu hậu. Mẫu hậu có thích con chó tôi biếu hay không?”
    (“How do you like the dog, Your Majesty?”

    Mụ Từ Hi trả lời:

    “Cảm ơn Ông nhiều. Con chó mà ông cho tôi, ngon hết xẩy. Hẩu xực lớ!”

    (“Oh! Thank you very much. It was delicious.”)

    Ông Đại sứ Anh quốc hết hồn khi được thông báo về số phận của con chó được đem làm quà tặng. Không thể ngờ rằng con chó nhỏ quí phái dễ thương đã bị mụ Từ hi Thái hậu đem làm phá lấu, tiềm thuốc bắc và dùng cơm tối mất đất rồi!

    Năm 2005 khi tôi có chuyện gia đình phải về quê cha đất tổ ở ngoài Bắc Việt Nam. Nhân chuyến đi đó, tôi đã làm một cái “tour” Hà nội - Chùa Hương cho biết sự tình. Đường xe hơi chạy chạy từ Hà nội đến Bến Đục (Bến đò ở suối Yên cách chùa Hương 3 cây số) dài khoảng 60 cây số. Trên quãng đường 60 cây số này, tôi nhìn thấy bên đường cứ khoảng 2-3 cây số là có một cột khói đen cao ngút lên trời… Lấy làm lạ, tôi hỏi anh hướng dẫn du lịch (tour guide) là khói gì vậy hà? Anh ta trả lời là khói thui chó!!! Trời đất thiên địa ơi! Hèn gì không khí hít thở của cả Bắc phần Việt Nam lúc nào cũng có thoang thoảng mùi thịt chó (thui) và mắm tôm… Ngay trong thiên đường csvn, chó cũng sống không yên ổn!


    Chó Tây

    Chó có lẽ đã có tu nhiều kiếp cho nên mới được sinh ra ở Tây phương. Ở đây, chó được đối xử như “người bạn tốt” của con người (The man’s best friend!) Người Tây phương văn minh họ không ăn thịt “bạn tốt” của họ. Tôi tưởng tượng ra một mẩu đối thoại của hai tay bợm nhậu ăn thịt “người bạn tốt” (man’s best friend) nào đó của người mình như sau:

    - Thịt này ngon quá. Mà thịt nào vậy?

    - Thịt người bạn tốt của mình (our best friend) đấy.

    - Tao thích (thịt) nó lắm…


    Chỉ nghe qua đã thấy không ổn rồi… Đó có lẽ là lý do mà người Tây phương họ không bao giờ ăn thịt chó (?)

    Thực tế, chó Tây được đi cắt tóc, được ăn uống thực phẩm vệ sinh dinh dưỡng, được đi bác sĩ (thú ý) để chích phòng bệnh, và được săn sóc y tế thỏa đáng khi đau ốm… Mấy bà già nhà giầu cô đơn của Mỹ còn để lại cả gia tài bạc triệu đô la cho chó trong di chúc của họ (“Will”).

    Ông Bác sĩ Mỹ của gia đình tôi có khuyên tôi là:

    “Anh nên cho con cái của anh học làm Bác sĩ Thú y (Vet - Veterinarian) thì tốt hơn. Bác sĩ “chó” bây giờ còn làm nhiều tiền hơn Bác sĩ “người” mà lại đóng ít tiền bảo hiểm (cho ba cái vụ malpractice) và ít bị kiện tụng rắc rối (vì chó không biết nói láo).”

    Theo báo cáo vào tháng 10/2012 của nghiệp đoàn các công ty thực phẩm dành cho chó thì ở Hoa kỳ, chưa kể các thú vật khác nuôi trong nhà, có 74 triệu con chó. Mỗi gia đình Mỹ chi tiêu / mua trung bình khoảng $US165.00 tiền thực phẩm chó mỗi năm cho 1 con chó. Kỹ nghệ “đồ ăn chó” (Dog Food Industries) là một “big business” trị giá trên 10 tỷ đô la mỗi năm. Mỗi siêu thị của Mỹ đều có một hai dãy quầy dành riêng cho đủ các loại “đồ ăn chó.”

    Cuối tháng 9 năm 1975, sau khi được phép ra khỏi trại tị nạn “Camp Pendleton” ở Oceanside, California, tôi tạm thời định cư ở San Diego. Đầu năm 1976, tôi tình cờ gặp lại một thằng bạn thời niên thiếu khi hai đưa còn cởi truồng tắm mưa ở Việt Nam. Hắn vốn là Trung úy Hải Quân VNCH, được gởi qua Mỹ học ở căn cứ Hải Quân Coronado - San Diego về “Thủy bộ (học tập cho tầu đổ bộ lính từ sông biển vào đất liền).” Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì tình trạng “stateless” của các sinh viên du học và người đi tu nghiệp, Hải quân Mỹ cho anh ta xuất trại Huấn luyện Thủy bộ vĩnh viễn. Anh ta sinh sống bình thường như các thường dân tị nạn cs khác ở quanh vùng San Diego. Trong câu chuyện trao đổi, anh bạn cho tôi biết khóa học Thủy bộ của anh ta gồm có một số đông sĩ quan hải quân Việt Nam cấp bậc từ Trung úy đến Trung tá tham dự. Anh kể có một câu chuyện xẩy ra làm mất mặt bầu cua, thể diện QLVNCH như sau:

    Trong trại lính (training camps / barracks) Hải quân Mỹ họ cấm nuôi chó (“pets”). Không hiểu tại sao quân cảnh Mỹ cứ thấy trong thùng rác có các lon (cans) đồ ăn chó vất vào đó?… Sau khi cho điều tra, theo dõi thì quân cảnh Mỹ phát giác, bắt tại trận một bố Hải Quân Thiếu tá “a-na-mít.” Me-xừ quan tư này thèm thịt chó quá; Ông ta đi chợ Mỹ thấy họ có bán “đồ ăn chó.” Bố này tưởng lầm là chợ Mỹ có bán thịt chó đóng hộp cho nên bố ta mua một sẵn một lố hộp “dog foods” đem về trại để lén ăn dần cho đỡ thèm… Thiệt tình! Đến nước được đi du học tu nghiệp ở Hoa kỳ mà vẫn chưa bỏ tật thèm thịt chó!?

    Vì “áp lực” của vợ con, tôi đành phải mua một con chó “Poodle” về nuôi trong nhà gọi là cho vui cửa vui nhà (!)… Tính về sức lao động phải bỏ ra, gia đình tôi vất vả với con chó nhỏ xíu này còn hơn là lúc săn sóc bà nội tôi khi còn sống… Tôi đã phải đóng học phí cho nó đi học hết 4 khóa “dog obedience trainings.” Hoàn tất xong mấy khóa học, con chó của tôi được cấp 4 giấy chứng chỉ tốt nghiệp có đóng dấu ký tên đàng hoàng tử tế! Không phải loại bằng giả như ở Việt Nam? Nhờ mấy khóa học này mà nó biết cách đi ị đi đái đúng cách chứ không làm bậy tùm lum tá lạ trên mặt thảm trong nhà như lúc trước. Chó còn phải có “lai sờn” hợp lệ (License chó / sau khi đóng một số tiền lệ phí hàng năm không nhỏ) và thẻ bài cấp bởi cơ quan thẩm quyền về chó của thành phố. Chó có lịch trình chích phòng ngừa đủ các thứ bệnh chó mà tôi phải triệt để tuân hành. Cứ vài tháng phải đem chó đi “clean” răng một lần tốn mỗi lần cũng vài trăm bạc (vì phải đánh thuốc mê chó trước khi “clean” răng!) Nhưng mà vấn đề đau đầu nhất phải là cái dịch vụ cắt tóc chó: Cứ 4 tuần con Poodle khốn lịn này cưa của tôi mất $25.00 tiền cắt tóc (cộng tiền “tips”) trong khi tôi, khổ chủ của nó, chỉ tốn $8.00 cho mỗi lần cắt tóc. Thật là bất công! Con chó này nhỏ; nhưng nó này ăn khỏe hết biết. Nó chỉ ăn thức ăn đặc biệt dành cho chó nhỏ; không thôi nó cho “bonus” ra đầy nhà ráng mà chịu… hốt!!!

    Hồi còn sống trong các trại tị nạn do Mỹ dựng lên từ Phi luật tân cũng như trên lục địa Hoa kỳ, tôi đã nghe người ta nói chuyện với nhau đại khái là ở ngoài đời sống thật của xã hội Mỹ, có cả cái nghề gọi nôm na là “Dẫn cho đi chơi” (Walk the dogs) có trả tiền theo giờ. Lúc ấy tôi còn lạc hậu chưa biết trời trăng gì, cứ tưởng đây là loại chuyện khôi hài, nói nghe cho vui rồi bỏ. Ai dè sau này mới hiểu đó là chuyện có thật chăm phần chăm. No Joking.

    Vốn là khi cả nhà tôi cần đi Las Vegas vài ngày “vacation” nghỉ xả hơi, thì phải gởi con chó “Poodle” vào “Dog Kennels” (một loại “motel” dành riêng cho chó !) chứ chẳng có thân nhân yêu quý nào tình nguyện hảo tâm giữ nó dùm cho vài ngày. Trong phần “services” có trả tiền mà bà chủ “Dog Kennel” cho tôi biết là mỗi ngày nhân viên của “kennel” có thời khóa biểu dẫn chó đi dạo 1-2 tiếng đồng hồ cho chó giãn gân cốt… Chứ chó Mỹ không thể nhốt nó như tù cải tạo cs 3-4 ngày liền mới cho ra khỏi chuồng… Hết ý kiến. Chưa hết. Mỗi làn trở về nhà (sau chuyến “vacation”) lãnh chó ra khỏi “kennel” là phải lái xe chạy thẳng ngay đến nhà thương chó vì nó ỉa chảy, nôn mửa loạn lên… Tôi hỏi cô Vet (veterenian – Bác sĩ súc vật / chó) ở Dog hospital là lý do tại sao cứ mỗi lần tôi gởi chó vào “kennel” là nó bị ốm kịch liệt như vậy? Cô Bác sĩ chó đẹp thơ mộng giải thích cho biết là chó đã quen sống với chủ mỗi ngày rồi. Bây giờ gởi nó vào “motel” chó, nó bị “stressed?!” Thiệt tình. Chó mà cũng có chuyện bị “stressed?” Còn chó bị thọc huyết rồi đem quạt chả chó thì bị “stressed” cỡ nào? Nhiều khi tôi chỉ muốn đóng thùng gởi thẳng nó về cho mấy bố Việt cộng “xử ní” (hay giải phóng cũng được!) cho rảnh nợ…

    Cái “văn hóa đối xử tốt với chó” của Tây phương nói chung và Hoa kỳ nói riêng không phải là hoàn mỹ… Lấy cái chuyện dắt chó đi dạo (“walking the dogs”) làm thí dụ. Nếu một người ở hành tinh khác nhìn vào việc “dắt chó đi dạo” ở Mỹ qua viễn vọng kính (“telescope”) chắc chắn sẽ họ nghĩ lầm là chó mới chính là con vật lãnh đạo ở quả đất này chứ không phải con người (!)… Thử phân tách cái hình ảnh người “chủ” chó đi lẽo đẽo đằng sau con chó, một tay cầm một bịch “plastic” đựng “kít chó” thì, con chó mới đúng là “chủ” chứ không phải con người là “chủ”… Áp dụng cho chính mình cũng vậy: Nếu mình đi dạo trong công viên mà có đệ tử nào đó phải đi phía sau mình, tay cầm một bich “kít” cho mình thi người ta sẽ nghĩ ai là chủ ai?


    Lời kết

    Trước đây, tôi cứ ngỡ chữ “Chó Má” là một chữ kép dùng để chửi. Nhưng thực ra chữ “Má” còn có nhiều nghĩa khác nhau như tôi đã tìm hiểu như sau:

    - “Má” là một chữ tượng thanh được đọc kèm theo sau chữ “Chó” để làm chữ kép “chó má” có một âm vang gây thêm sự chú ý; chứ thực sự nó không có nghiã gì cả. Tương tự như chử “chóc” của “Chim chóc,” hay chữ “búa” của “Chợ búa…”

    - Một vài dân tộc miền thượng du Bắc phần cũng gọi con chó là “Má.” Tiếng Thái cũng gọi con chó là “Tu má.”

    Nhiều cao nhân còn cố gắng giải thích chữ “Chó Má” một cách bác học hơn: “Chó” và “Má” là hai loại chó khác biệt với nhau. Con “Chó” không gặm xương chó; còn con “Má” là con chó cứ “vô tư” gặm xương đồng loại rất “nhiệt liệt”…


    View attachment 2334

    (CSCĐ : Chính sách Chó Điên / Cộng Sản Chó Điên)


    Con chó “Má” (loại chó gặm xương chó) ở Việt Nam bây giờ chỉ đi có hai chân và đông đảo lắm… Ra đến đầu ngõ là đã gặp loại này chó má này rồi. Có hơn 3 triệu con chó má đang tự ngắm mình qua viễn vọng kính và hiểu lầm là chính chúng mới là chủ nhân của đất nước Việt Nam; chứ không phải chủ đất nước là 90 triệu dân đi đàng sau chúng nó… Qua chuyện Chó Má vừa rồi, nếu phải nói Việt Nam đang ở trong thời buổi nhiễu nhương thì cũng không có gì quá đáng.…


    Trần Văn Giang
    05/03/2013
  15. (Fermeture / Zipper)


    View attachment 2331



    Nội cái tựa đề cũng là nhiều quý vị phải nhăn mặt?! Chuyện nhảm? Bộ hết chuyện nói rồi sao mà cha này rớ vô cái vật tầm thường, vô duyên lảng xẹc này???

    Tôi lại không nghĩ như vậy. Chúng ta thường có thói quen không để ý đến những cái tầm thường, những cái nhỏ bé mà chính chúng ta cần phải dùng mỗi ngày vài lần; chẳng hạn như: Đôi đũa, giấy vệ sinh, cái phẹc-mơ-tuya… Cho đến khi chúng ta cần mà không có nó trong tầm tay. Khi đó mới trắng mắt ra.

    Trước tiên, xin nói vài dòng qua loa về giấy vệ sinh. Sáng nay sau khi ăn một tô bún ốc với mắm tôm, bụng cứ kêu rào rào phát ra âm thanh rùng rợn như như quân Pháp bắn súng mút-cà-tông vào thành Hà Nội… Quýnh quáng, chạy vội vào một cái phòng tắm của một tiệm ăn nhanh bên đường. Sau khi thi hành phận sự công dân xong mới phát giác ra là cuộn giấy vệ sinh trong cái hộp gắn trên tường chỉ còn trơ cái lõi “carton” (Má ơi! No paper?)… không cần nói dài dòng cũng biết là quân ta phải chịu trận (suffered) như thế nào. Đó là vấn đề của ngày hôm nay, thế kỷ 21. Nhìn lại lịch sử thì Giấy mặc dù được Trung Hoa phát minh từ năm 105 thời Đông Hán; nhưng giấy chỉ được mấy chú Ba dùng chút ít đại khái trong cung đình. Chưa có ai biết cách để sản xuất quy mô với số lượng lớn cho đại chúng cùng sử dụng. Cho mãi đến thế kỷ thứ 7, giấy mới được Nhật bản biết đến và cũng chỉ dùng rất giới hạn cho kinh điển Phật Giáo. Vào thế kỷ thứ 8 thì giấy truyền đến Trung Đông (Middle East). Thế kỷ thứ 10, văn minh Tây phương mới biết là trên quả đất này có người đã phát minh một thứ khác rất to tát, quan trong cho nhân loại chỉ sau cái phát minh ra Bánh Xe; Đó là giấy. Phải đợi đến thế kỷ 13 giấy mới được dùng rộng rãi ở Âu Châu (trên văn kiện, sách báo và giấy vệ sinh…)

    Nóí dài dòng văn tự như vậy để thấy giấy vệ sinh không hề bao giờ, và không thể coi là chuyện nhỏ… Chẳng hạn, các chiến sĩ anh hùng của “Huyện Giao Chỉ” ta theo Hai Bà Trưng đánh quân Mã Viện, thì sau bữa ăn phải dùng lá cây khô (?) Chứ moi đâu ra giấy cuộn lúc bấy giờ? Dân quân ta vẫn tiếp tục hàng ngày dùng lá cây dài dài cho đến khi Tây đến đánh thành Hà nội ở thế kỷ 19…

    Trở lại cái phẹc-mơ-tuya (trước khi bị lạc đề!) Nó không có cái lịch sử huy hoàng tráng lệ xuất phát từ cung đình, hoàng gia như giấy; nhưng nó cũng có lịch sử đoàng hoàng. Điểm đặc biệt là nó chỉ mới có mặt trên hành tinh này trong vòng 100 năm nay thôi ạ. Có lẽ đã có nhiều nhà bác học đã nghĩ ra nó từ năm Ất Dậu nào đó; nhưng chỉ có Ông Whitcom Judson, một kỹ sư cơ khí ở Chicago, cầu chứng lấy bằng sáng chế (“Patent”) cái phẹc-mơ-tuya ngày 29 tháng 8 năm 1893. Lúc đầu, trong văn bản tài liệu nộp cho tòa sáng chế để lấy “Patent” ông gọi tên nó một cách rất tượng hình là “Fastener” (vật dùng để cột). Phẹc-mơ-tuya gồm có hai hàng móc, dài ngắn tùy ý, khóa lại với nhau (và mở rời nhau ra) bằng một cái khóa trượt theo chiều dọc của hai hàng khóa này. Mục đích sơ khởi của cái phẹc-mơ-tuya là dùng để cột, để đóng cái giầy “boot” lại, không cần dùng dây giầy…

    Ông Judson đem cái sang chế phẹc-mơ-tuya ra trình diện ở Hội Chợ Thế Giới tại Chicago năm 1893. Với số người tham dự hội chợ khá đông đảo, có đến hàng triệu… vậy mà chẳng có ma nào thèm để ý cái “sáng chế thần kỳ” này (nên biết thêm ông Judson còn có khoảng trên 30 sáng chế khác tất cả đều được dùng trong kỹ nghệ xe hơi. Sau này con cháu ông lãnh hàng triệu dollars tiền royalties). Thử hỏi với số đông người đi thăm hội chợ như vậy, ông Judson đã bán được bao nhiêu cái phẹc-mơ-tuya? Có bao nhiêu người mua? Con số không biết nói dối. Ông Judson bán được vỏn vẹn 20 cái phẹc-mơ-tuya cho duy nhất một khách hàng: Một sở bưu điện địa phương ở Chicago mua để là làm khóa / đóng các bao chứa thơ. Sau đó không bao giờ thấy sở bưu điện này mua thêm lần thứ hai! Rõ ràng sở bưu điện này cũng không bằng lòng về 20 cái phẹc-mơ-tuya quá mới mẻ này…

    Trong 5 năm kế tiếp, ông Judson nhận thấy rằng không thề trông cậy vào cái sáng chế phẹc-mơ-tuya này để hốt đủ tiền và xin về hưu non. Ông Judson đành bỏ cái chuyện phẹc-mơ-tuya vào một xó; chú tâm vào các sáng chế khác cho kỹ nghệ xe hơi. Năm 1905, ông Judson có sáng kiến đưa cái phát minh phẹc-mơ-tuya vào kỹ nghệ sản xuất quần áo. Ông Judson mở một công ty sản xuất tên là “Universal Fastener” chuyên chế tạo loại phẹc-mơ-tuya dùng cho quần áo tên là “C-Curity Fastener.” Tên gọi là “security” mà phẩm chất chẳng có gì là “security” hết ráo trọi: Phụ nữ mặc áo, quần có phẹc-mơ-tuya của hãng “Universal Fastener” mà cúi xuống một cái là nó bung ra cái “phẹc,” mở toang ra phơi trọn bộ hàng độc, đôi khi còn có thể làm hàng độc bị trúng gió nữa không chừng… Đó là chưa kể phẹc-mơ-tuya bị rỉ sét khi sau vài lần đem giặt và mắc kẹt (“jammed”) vĩnh viễn? Cũng nên biết, quần áo mới có dùng phẹc-mơ-tuya của Universal Fastener đem ra bán trên thị trường thời đó còn có kèm theo một cái “chỉ dẫn” (instruction) rất tượng hình là:

    “Nhớ là nhét chim vào chỗ an toàn trước khi đóng phẹc-mơ-tuya” (nguyên văn: “Make sure your private parts are NOT hanging out before pulling up.” Chời đất! Phẹc-mơ-tuya còn ảnh hưởng đến cả vấn đề truyền giống nữa a! Xin xem phần “Kẹt phẹc-mơ-tuya” ở phía dưới).

    Điểm đáng chú ý là không hề thấy hãng Universal Fastener có kèm thêm chỉ dẫn nào về “sự cố’ kéo phẹc-mơ-tuya xuống (pulling down!) Riêng cá nhân tôi, tôi thấy còn thiếu một cái “nhắc nhở” (reminder) quan trọng khác là: “Nhớ đừng quên đóng phẹc-mơ-tuya nghe cha nội” (“Remember to zip up;”) bởi vì người viết thường bị vợ con nhắc nhở hà rầm là: “Bố đóng cái ‘fly’ lại.” Chẳng những vậy, tại sở làm, tôi thấy nhiều đồng nghiệp nam cũng như nữ cứ “vô tư” đi diễn hành vòng vòng trong sở mà vẫn để cửa sổ quần mở tang hoác, nhìn liếc thấy cả đủ các loại “cartoons” người lớn cũng như trẻ con. Hãi thật!

    Dường như chuyện ngắn Phẹc-mơ-tuya sắp “phẹc-mê” (đóng / fermer) ở đây rồi… Nhưng chuyện không phải đơn giản như vậy… bởi vì thực tế hôm nay, thế kỷ 21, chỗ nào cũng có Phẹc-mơ-tuya mới chết người: Quần áo, ví xách, bao, bị, bịch, giầy dép….

    Câu chuyện diễn biến như thế này…

    Năm 1906, công ty “Universal Fastener” mướn anh chàng kỹ sư tài hoa gốc Đức sinh ở Thụy sĩ tên là Gideon Sundback vừa mới di cư đến Hoa Kỳ vài năm trời. Vài Bác biết chuyện sẽ có théc méc là tại sao Gideon Sundback bỏ một cái “job” rất thơm tại một công ty lớn, vững vàng là Westinghouse để đến làm việc cho hãng Universial Fastener đang trên con đường xập tiệm? Câu trả lời là Gideon chạy theo tiếng gọi của con tim (!) Anh chàng ta yêu mê mệt cô con gái của một kỹ sư thiết kế trưởng (Main Design Engineer) của hãng “Universial Fastener.” Hèn gì!

    “Project” sáng chế đầu tiên của Gideon Sundback tại Universal Fastener có tên là “Plako” ra đời năm 1908. Gideon Sundback đã sửa chữa và làm cho hoàn hảo hơn (improved) cái mẫu “design model”cũ của Judson: Giải quyết ngay tức thì là vấn đề rỉ sét mà Judson đã gặp phải. Gideon Sundback đặt tên cho cái “design” mới là “Hookless #2 Fastener” (cái Phẹc-mơ-tuya nguyên thủy của Judson có “code name” tên là “Hookless Fastener!”) Đây là cái Zipper (công ty B.F. Goodrich gọi cái “fastener” là Zipper; và cái tên Zipper giữ cho đến bây giờ. Xin phép được gọi Phẹc-mơ-tuya là Zipper bắt đầu từ chỗ này trong bài viết) mà chúng ta thấy hôm nay, hay sáng hôm nay cho rõ hơn… Câu chuyên Zipper xem như đã tạm ổn?

    Lại thêm một lần nữa, không phải như vậy…

    Vì sự bất tín nhiệm của khách hàng về cái zipper nguyên thủy (khách hàng vẫn còn nhớ những trở ngại mà họ đã gặp phải), và giá cả khá cao của cái zipper mới – Cho nên Zipper mới bán không chạy. Công ty Universal Fastener phải đổi tên là “Hookless Fastener Company” để xem phong thủy có hên hơn không!

    Đến Đệ Nhất Thế Chiến (1914), một nhà vẽ kiểu quần áo thời trang (Fashion designer) ở New York City tên là Robert J. Ewig vẽ ra cái áo da phi công (Airmen Waistcoat) và đặt tên là “Zip.” Áo có nhiều hàng zippers; từ đây số bán zippers mới bắt đầu khấm khá (có lẽ chữ Zipper bắt nguồn từ tên cái áo da phi công này mà ra!)… Sau thế chiến, số áo da phi công này bán chậm hẳn lại.

    Năm 1919, hãng thuốc lá Locktite sản xuất cái túi (pouch) đựng thuốc lá rời (thuốc lá dùng cho ống vố và thuốc vấn) có một cái zipper để đóng miệng túi lại. Không rõ vì lý do nào đó, cái túi đựng thuốc lá này bán chạy như tôm tươi. Bắt đầu vào giữa năm 1920, hãng Locktite sản xuất 200,000 túi đựng thuốc lá có zipper mỗi năm. Sau đó zipper mở rộng thị trường sang nhiều lãnh vực khác nhau… Nghĩa là sau 30 năm, zipper mới có được chỗ đứng mạnh mẽ trên thị trường như ngày hôm nay.

    Năm 1921 có một thay đổi lớn. Một kỹ sư từ hãng cao su, vỏ xe hơi B.F. Goodrich tên là Frederick H. Martin sáng chế ra đôi giầy cao su tên là “Mystic Boot” có dùng cái “fastener” mà B.F. Goodrich goi là “Zipper” (Oái oăm! Chữ “Zipper” được B.F. Goodrich cầu chứng tại tòa cho cái giầy “boot,” chứ không phải cho cái đồ để cột – fastener). Loại giầy “boot” này bán rất chạy. Đến năm 1930 thì nhu cầu cho lại “boot” này không còn nữa; nhưng chữ “Zipper” tồn tại cho đến hôm nay.

    Con số sản xuất zipper gia tăng thật ngoạn mục. Năm 1920 chỉ có độ 110,000 cái zipper được làm ra. Đến năm 1929, con số sản xuất là 17 triệu cái mỗi năm (?) Thế giới dù đang bị khủng hoảng kinh tế nặng nề (năm 1929) nhưng việc sản xuất zippers vẫn gia tăng vùn vụt như không có chuyện gì xẩy ra.

    Một khi zippers ăn khách rồi, mọi người nhào vô làm hàng nhái, hàng cạnh tranh như nấm dại mọc sau cơn mưa. Ngày nay không thể biết có bao nhiêu công ty làm zipper trên thế giới?


    YKK?

    Nhìn mỗi cái khóa của zipper là thấy ngay 3 mẫu tự “YKK.” YKK là cái quái gì vậy?

    Năm 1934, một ông Nhật lùn tên là Tadao Yashida mở hãng làm zippers ở Nhật. Cơ xưởng của ông ta bị máy bay đồng minh phá hủy trong các cuộc oanh kích năm 1945. Năm 1948, ông Yashida dựng lại cơ xưởng làm zipper từ đống tro tàn. Ông gọi sản phẩm của ông ta là “Zippers YKK,” chữ viết ngắn của “Yoshida Kygyo Kabushiki Kaisha” (dịch sang Anh Ngữ là Yoshida Company Limited). Ông ta chỉ có đủ chỗ cho 3 chữ tắt “YKK” in khắc trên cái khoá zipper nhỏ xíu. YKK là công ty làm zipper lớn nhất trên thế giới.


    Kẹt zipper!

    Chuyện đời thật. Người viết không hề dám giỡn mặt quý vị, bà con cao niên, phịa chuyên nhảm nhí nói láo. Vả lại ngay chính người viết bài này cũng bị kẹt zippers vài lần; tuy có kêu trời, nhưng không có gì nghiêm trọng quá đáng… (Thành thật mà nói, ngay chính quý vị có lẽ cũng đã có vài lần kẹt / dập... chim vì zippers rồi không chừng!)

    Theo Báo Cáo Y Tế xuất bản trong “British Journal of Urology International” từ University Of California San Francisco (UCSF) Urology ký tên Herman Singh Bagga tháng 3/2013 đã có khoảng 17,616 người ở Hoa kỳ phải vào ER (Emergency Rooms) trong vòng 10 năm (2002 cho đến 2012) vì bị “dập chim” gây ra bởi Zippers (!) Tức là tính trung bình có 1700 người kẹt zipper trầm trọng mỗi năm – một con số đáng kể! Mr. Bagga nhấn mạnh là “dập chim” (Chim xanh / blue birds) là trường hợp tiêu biểu nhất cho người lớn thuộc nam giới phải đến phòng cấp cứu vì “kẹt zippers” (nguyên văn: single most common cause of penile injury in adult men reporting to emergency rooms). Mr. Bagga khuyên là nếu có lỡ bị kẹt chim giữa hai hàng khóa của zipper thì hãy bình tĩnh từ từ mà gỡ ra, không nên vội vàng làm gì… Nếu thấy tình thế không ổn thì nhờ vợ (hay gọi 911 / xe ambulance) chở thẳng vào ER của bệnh viện gần nhà nhất. Đừng có dại cố gắng gỡ ra (vì sợ quê!) làm tình huống sẽ thê thảm hơn. Riêng trẻ con dập chim phần lớn vì ngã xe đạp và đi tiểu không đúng cách – Thiệt tình! Mấy đấng nhi đồng lười biếng, tiện tay cứ kê súng nước ngay trên miệng / riềm của cái “toilet…” Rồi chẳng may cái nắp toilet rơi xập xuống! Ối giời đất thiên địa ơi! Ouchie!


    Lời cuối

    Chúng ta đã lần lượt ôn qua lịch sử của Phẹc-mơ-tuya / Zipper. Phẹc-mơ-tuya / Zipper quả là một phần căn bản không thể thiếu của quần áo / y phục thời trang hiện đại mà chúng ta mặc hàng ngày. Chẳng những vậy, Phẹc-mơ-tuya / Zipper còn là một danh từ phồ thông được dùng trong nhiều hoàn cảnh của đời sống.

    Thực vậy. Bây giờ đã đến lúc “đóng (zipper) lại.”

    Nội dung bài viết này có bàn chuyện nhảm hay không? Câu trả lời xin để dành cho quý vị thẩm định.


    Trần Văn Giang
    Orange County
    4/29/2013