Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Nhận xét chung:

    Sau khi chiếm miền Nam tháng Tư/ 1975, gom hết số sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cũng như các cán bộ hành chánh cao cấp, các thành phần an ninh tình báo, v.v... Cộng Sản thấy yên tâm. Những người có khả năng chỉ huy và chiến đấu bằng vũ lực, nay đã “vào tròng một cách dễ dàng” bằng những thông cáo học tập mươi, mười lăm ngày. Bấy giờ chính quyền Cộng Sản tính sổ tới “những tên biệt kích văn nghệ”, có nghĩa là những người chống Cộng không phải bằng bạo lực, bằng vũ khí, mà chính là những người, như Hồ Chí Minh đã từng nói đến “Nay ở trong thơ nên có thép”, là những người chống Cộng bằng “bút thép”, những người chống Cộng dai dẵng, kiên trì, từ sự kiện cụ Huỳnh Thúc Kháng gọi là “đảng tranh”, sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 cho tới ngày miền Nam sụp đổ.

    Việc “đảng tranh” đó, đẩy những người cầm bút về phía đối kháng với Cộng Sản, sự chống đối càng ngàu càng quyết liệt dai dẳng, tạo nên một thời kỳ mới trong văn học Việt Nam, mà người ta từng gọi là “Thời kỳ Văn học Chống Cọng”, từ những tác giả tiên phong như Nhị Lang (cuốn Tương Tàn), như Khái Hưng (trên báo “Việt Nam” ). Văn học chống Cộng phát triển mạnh nhứt là thời gian sau hiệp định Genève về Đông Dương. Cả triệu người di cư vào Nam, mang theo họ một hành trang văn học mới, có ranh giới giữa Quốc Gia và Cộng Sản, giữa Độc Tài và Dân chủ.

    Nền văn học nầy phát triển trong suốt hai nền Cộng Hòa của miền Nam VN, và khởi sắc hơn nữa, di sâu vào triết học, văn học sau khi văn học miền Nam cởi bỏ môt số ràng buộc cực đoan do tình hình tôn giáo lúc bấy giờ.

    Nói chung, trong suốt quá trình văn học chữ Nôm và chữ quốc ngữ, chưa bao giờ văn học Việt Nam phát triển và khởi sắc đến như vậy. Càng so sánh với văn học miền Bắc duới chế độc tài Cộng Sản, rõ ràng văn học miền Nam tự do hơn, sinh động hơn, sau sắc và đa dạng hơn, bao gồm hết nhiều phương diện gần như đối chọi nhau: Bên cạnh những nhà văn chống Cộng là một số ít nhà văn và triết gia thiên Cộng, bên cạnh những người có khuynh hướng chạy theo những trào lưu mới của Tây phuơng, là những nhà văn có khuynh hướng trở về với bản sắc dân tộc, bên cạnh các khuynh hướng tích cực thì có những tác phẩm tiêu cực, v.v...

    Dĩ nhiên, trong trào lưu chống độc tài đảng trị Cộng Sản, không ít nhà văn có lập trường chống Cộng vững chắc, cương quyết. Những nhà văn thuộc khuynh hướng nầy, xuất hiện trong nhiều lãnh vực sinh hoạt văn nghệ của miền Nam Việt Nam, có nghĩa là có những nhà văn trong Quân Đội, trong chính quyền, trong các phong trào chính trị ở miền Nam, trong các hiệp hội, các cơ quan báo chí, văn học văn nghệ tư. Cũng qua đó, bên cạnh những cơ sở sản xuất sách báo của Quân đội, chính quyền gồm những người làm việc cho các cơ quan nầy, còn có các phong trào chính trị có cơ quan báo chí xuất bản riêng của họ, phần nhiều là các cơ quan thông tin, báo chí tư nhân - cũng có thể có những cơ quan được sự tài trợ của chín quyền, - hay của phòng Thông tin Hoa Kỳ -, thì phần động là các cơ sở xuất bản và báo chí tự do và tự túc.

    Các văn nghệ sĩ, nói chung, một số đông nhà văn nhà thơ, một số ít người “viết theo đơn đặt hàng, đếm số trang tính tiền nhuận bút” thì hầu hết, hơn tám, chín mươi phần trăm văn nghệ sĩ viết theo cảm hứng, theo sự xúc động, theo kinh nghiệm và theo cảm nhận về những đau khổ, vui mừng, thương ghét do cuộc sống đem lại.

    Những tác phẩm được coi là “thuần túy” nhất, theo ý nghĩa vừa nói trên, từ những tác phẩm đầu tiên, trước khi có phong trào di cư năm 1954, là những tiểu thuyết như “Tương Tàn” của Nhị Lang, “Truyện Năm Người Thanh Niên” của Phạm Thái, “Cô Mài” của Úy Trân, v.v... Sau khi vào ở miền Nam, một số đông định cư ở Sài Gòn thì “Văn học chống Cộng” nở rộ như hoa xuân. Bài nầy không phải là một bài nghiên cứu văn học miền Nam nên không đi sâu vào từng tác giả, tác phẩm, từng cơ sở tư nhân hay có chính quyền hỗ trợ.

    Trong số văn nghệ sĩ đông đảo của miền Nam trước 1975, không ít là sĩ quan quân đội, ngoài một số ít người bị bắt, hầu như tất cả đều “trình diện học tập cải tạo” theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài Gòn cũ. Còn lại một số ít hơn, không tham gia quân đội, chính quyền Cộng Sản, trong vài tháng đầu sau 30 tháng Tư, chưa “đụng chạm” tới.

    Sau khi đã giam giữ hầu hết những người phục vụ trong quân đội và chính quyền, bấy giờ, yên tâm hơn, chính quyền Cộng Sản bắt đầu “gom bi” thành phần văn nghệ sĩ hoạt động tự do, không phải là nhân viên cao cấp trong chính quyền. Họ gọi thành phần nầy là “những tên biệt kích văn nghệ.”

    Biết rằng họ là những có ít nhiều uy tín trong dân chúng, là những nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, kịch sĩ, tài tử ciné, được nhiều người yêu mến, ngưỡng mộ, một mặt, họ “lăng xê” trở lại một vài văn nghệ sĩ thiên Cộng, Việt cộng nằm vùng ở miền Nam Việt Nam, mặt khác, chính quyền Cộng Sản phát động trên báo chí, trên đài phát thanh truyền hình, hạch tội các “tên biệt kích văn nghệ” như đã nói ở trên. Dĩ nhiên những người bị “hạch tội chống Cộng” là những người đã bị bắt, vừa bị bắt, hay sắp sửa bắt. Số 4 Phan Đăng Lưu là nơi “hội ngộ” của họ. Gần như hầu hết gặp nhau ở đây để “thành thật khai báo với cách mạng” trước khi chuyển qua khám Chí Hòa rồi “đi lao động sản xuất”. Tôi may mắn gặp Uyên Thao, Nguyễn Thụy Long ở Trại Đá (A) Z-30 A Xuân lộc, Đồng Nai.

    Những “nhà văn chống Cộng” đã di tản trước khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn, tên của họ cũng không thoát khỏi trên “bảng phong thần.”

    Bấy giờ tờ “Tin Sáng” của ông Ngô Công Đức đã tự ý đóng cửa. Cũng may mắn, tôi đã đọc trên tờ báo ấy, gần hết những bài viết của Cộng Sản kết án nặng nề “những tên biệt kích văn nghệ” nói trên (sau đó những bài viết nầy được in thành sách, mang cùng tên).

    Càng thấy Dziệt cộng cay cú khi phê phán về họ, chúng tôi, là những người “tù cải tạo”, từng là độc giả của các nhà văn chống Cộng nói trên lại càng thấy thích thú. Con ong nọc càng độc, chích càng đau. Chúng tôi trao nhau đọc những bài viết ấy. Để tránh bọn công an lưu ý, chúng tôi gọi lóng những bài viết ấy là “ong chích”, do kinh nghiệm bị ong chích khi đi phá rừng.

    Tôi thích thú nhứt là bài viết về nhà văn Võ Phiến. Thấy chúng cay cú khi viết về Võ Phién, anh em tù chúng tôi nói đùa: “Võ Phiến bây giờ ở Mỹ, “làm gì được nhau?!”

    Vài chuyện về Võ Phiến:

    Tôi không viết về tiểu sử của ông. Tôi nhắc lại, có thể coi như là kỷ niệm về một vài lần tôi gặp ông:

    Trong khi Sài Gòn nở rộ lên với một nền văn học mới, như tôi đã gọi là “văn học chống Cộng” thì Huế cũng đứng lên góp tiếng nói của mình. Năm 1956, 57 ở có ba tờ báo cùng khuynh hướng: Tờ Lửa Thiêng của Đệ Nhi Quân Khu, chủ bút là ông Nguyễn Đình Hòe, thường “hoa hòe” trên túi áo tấm bảng nhỏ: “Phóng viên chiến trường”, mặc dầu bấy giờ đang lúc hòa bình, đánh chác gì đâu?! Tờ báo nầy là “cơ quan ngôn luận” của quân đội miền Trung. Thứ hai là tờ Ý Dân của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia miền Trung, chủ tịch phong trào là ông Hồ Giống. Tổng thư ký báo Ý Dân là nhà văn Phan Du (em sử gia Phan Khoang, bấy giờ ông Phan Khoang còn làm việc ở Nha Thông Tin Trung Việt - thỉnh thoảng tôi cũng có bài đăng ở tờ báo nầy và cũng được ông Phan Du trả cho chút ít tiền nhuận bút đủ để thay cái vỏ hay sợi “sên” xe đạp). Ông Phan Du ít khi đăng truyện ngắn của ông ở báo “Ý Dân” nhưng lại gởi đăng trên báo “Mùa Lúa Mới”. “Mùa Lúa Mới” là tờ báo văn nghệ, của Nha Thông tin Trung Việt. Chủ nhiệm là ông Võ Thu Tịnh, giám đốc. Tổng thư ký là ông Đỗ Tấn Xuân (nhà thơ Đỗ Tấn), những cộng tác viên tôi gặp ở đây là ông Kỳ Quang (Lê Mạnh Kỳ), Quang Đạo (Hoàng Hữu Pha), Tường Phong (giáo sư dạy ở Quảng Điền - Sịa), Vũ Hân (giáo sư trường Bồ Đề Huế), Lưu Kỳ Linh (em nhà thơ Lưu Trọng Lư), Nguyễn Quốc Dân (trưởng ty Thông tin Đà Nẵng), Trần Thanh Nguyên (Trưởng ty Thông Tin Thừa Thiên - Huế), nhạc sĩ Dương Minh Ninh (tác giả bản Rừng Chiều), Nguyễn Đình Hòe, và người có truyện ngắn đăng thường xuyên nhất là các ông Phan Du, ông Võ Phiến, trưởng ty Thông tin Bình Định. Nam 1957, 58, tôi không nhớ chắc, ông Võ Phiến từ Qui Nhơn về Huế thi vào ngạch Biên Tập viên (ngạch của ngành Thông tin). Khi ra Huế, ông Võ Phiến ở lại nhà ông Đỗ Tấn, số 3 đường Đinh Công Tráng, thành nội Huế. Do vợ chồng ông Đỗ Tấn tổ chức họp mặt thân hữu, tôi cũng được đến dự, mặc dù lúc ấy tôi là “mầm non văn nghệ” của Huế, các ông nhà văn nhà thơ khác đã được văn giới Saigon chú ý tới, nhất là ông Võ Phiến.

    Các truyện ngắn của ông Võ Phiến được ông gom lại in thành sách. Đầu tiên là cuốn “Người Tù” được xuất bản.

    Cuốn sách in bằng máy in cũ của Ty Thông tin Bình Định (hình như là máy in của Dziệt Cộng tâp kết chôn dấu được tìm lại, chữ chì đã mòn nên chữ không rõ, rất khó đọc.

    Sau đó ông Võ Thu Tịnh cũng như ông Võ Phiến đều vào Sài Gòn. Giới cầm bút ở Huế “bàn tán” rằng hai ông nầy gốc là Việt Nam Quốc Dân Đảng, từng bị Dziệt Cộng bỏ tù về tôi “chống Việt Minh” thì ở lại Huế thế nào được với “đám Cần Lao” của “cậu”.

    Sau khi vào Sài Gòn, mặc dầu là người miền Trung, chưa “hội nhập” được văn giới Sài Gòn bấy giờ phần đông là người Bắc, thuộc các nhóm Tự Do, Sáng Tạo, v.v... ông Võ Phiến được nhiều độc giả hoan nghênh sau nhiều truyện ngắn của ông đang trên Bách Khoa, sau đó trên báo Tự Do (số Tết) ...

    So với nhiều nhà văn chống Cộng thời bấy giờ, văn giới Sài Gòn ít người có thể so sánh với Võ Phiến được. Ông đúng là người thiên tài, có những nhận xét sâu sắc và chi li về tâm lý nhân vật của ông mà bấy giờ người ta gọi cái văn tài ấy là “chẻ sợi tóc làm tư”. Bên cạnh đó, ông có lối viết hóm hỉnh, đem lại cho độc giả những nụ cười, cái vui thâm trầm khi đọc văn ông. Người ta khó quên được hình ảnh cái ghế nhỏ bay vào mặt người chồng khi người chồng thấy vợ cầm cái ghế lên mà chưa kịp hiểu ý nghĩa hành động của vợ trong truyện ngắn “Mụ Đế quốc”. Té ra vì Cộng Sản hô hào nam nữ bình quyền, tuyên truyền, vận động người phụ nữ đứng lên đòi quyền bình đẳng. Theo cách hiểu nào đó, thì bình đẳng có nghĩa là người vợ có thể đánh lại người chồng sau hàng trăm năm người đàn bà Việt Nam phải sống trong cảnh “chồng chúa vợ tôi.”

    Vào dịp tết Canh Tý năm 1960, tôi đi cùng cô em gái của một người bạn thân vào nhà sách Tinh Hoa ở Huế và mua tặng cô cuốn truyện “Đêm Xuân Trăng Sáng” của Võ Phiến vừa mới xuất bản. Hầu hết các truyện ngắn của ông in trong tập sách nầy tôi đã đọc hết, ngoại trừ truyện ngắn “Thác Đổ Sau Nhà.”

    Thế rồi tôi cũng... quên luôn cái truyện ngắn đó.

    Năm 1980, khi ở tù tại trại Xuân Lộc Đồng Nai, đọc loạt bài Dziệt Cộng lên án “Bọn Biệt Kích Văn Nghệ”, tôi thích thú khi thấy ông cán bộ văn hóa Cộng Sản lên án nặng nề ông Võ Phiến. Tôi đưa bài báo ấy cho các bạn “đồng tù” cùng đọc chơi. Một hôm chủ nhựt, khỏi đi “lao động là vinh quang” anh em tù chúng tôi ngồi uống cà phê lại bàn với nhau về bài báo ấy. Chúng tôi cười và nói với nhau: May mà ông Võ Phién đã kịp di tản hồi 30 tháng Tư, nếu không bây giờ còn ở lại với Dziệt Cộng, có cắt da xẻo thịt ông Võ Phiến ra chúng cũng chưa vừa lòng.

    Về cách viết chống Cộng, ông Võ Phiến khác với các nhà văn hồi ấy ở Sài Gòn. Ông không dùng những danh từ “dao to búa lớn”, cũng không có thái độ thù hằn hung dữ, mặc dù thời gian Dziệt Cộng bỏ tù ông cũng không ngắn. Khi được nhà văn Nguyễn Ngu Í phỏng vấn sau cái chết của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 năm 1969, câu trả lời của ông Võ Phiến có hai ý chính:

    - Thứ nhứt, nếu năm 1945, sau khi Việt Minh cướp chính quyền, họ chịu hợp lực với các đảng phái Quốc gia chống Pháp giành độc lập và xây dựng đất nước, thì nước ta đã giàu mạnh không thua kém gì Nhựt Bản. Chính vì Cộng Sản muốn độc quyền, độc tài nên nước ta mới bị chia cắt và chiến tranh triền miền như bây giờ.

    - Sau khi được Cộng Sản cho ra khỏi tù, ông thù Cộng Sản lắm, không hẵn chỉ là thù mà ông còn gọi là thâm thù.

    Người ta cho rằng, chỉ những ai từng sống dưới chế độ Cộng Sản, từng bị Cộng Sản đày đọa mới có những nhận xét sâu sắc như thế.

    Sau khi đi tù về, dù có muốn tìm truyện ngắn “Thác đổ sau nhà” của ông mà đọc thì cũng chẳng có cách chi tìm được.

    Qua Mỹ ít lâu, nhất là từ sau khi, như người ta bảo tôi “Cứ tìm trên internet, cái gì cũng có” nên tôi nghe theo, và tìm được truyện ngắn “Thác Đổ Sau Nhà” (TĐSN) của ông và dĩ nhiên là... đọc nhiều lần. Càng đọc càng thích thú, và nhận ra rằng, truyện ngắn TĐSN của ông nó không tầm thường như ông cán bộ văn nghệ Cộng Sản hiểu.

    Ông ta, người Cộng Sản, hay phần đông họ đều như thế, có những cái nhìn lệch lạc, định kiến, - như con ngựa mang dàm - nên không thấy được, không nghe được những cái gì người khác nói, người khác viết, như bài nhận xét về truyện ngắn nói trên của ông Võ Phiến là một.

    Ông cán bộ đánh giá ông Võ Phiến như một người “thiếu văn hóa”, đem chuyện tình dục mà đưa vào văn chương, thấp kém khi nhận xét về người đàn bà trong truyện. Ấy là việc khi ăn nằm với chồng, một đảng viên Cộng Sản thì người đàn bà thương chồng nhưng không thấy khoái lạc như khi ăn nằm với ông cán bộ phe Quốc gia. Vì sao? Vì người Cộng Sản thì bao giờ cũng trăn trở, suy nghĩ mà quên đi cái khoái lạc khi giao hợp với vợ. Còn “ông Quốc gia” thì chẳng suy nghĩ gì nhiều, chẳng có gì phải thắc mắc, trăn trở, bao giờ cũng thoải mái, vui cười nên khi giao hợp, làm cho người đàn bà khoái lạc hơn. Từ sự so sánh đó, ông cán bộ văn hóa Cộng Sản lên án ông Võ Phiến một cách nặng nề, gay gắt, khiến ai đọc bài viết ấy, cũng thấy “may” cho ông Võ Phiến đã kịp thời di tản hồi ấy, còn nếu không thì ông Võ Phiến, “nói xấu” cán bộ như thế, sẽ ở tù cho tới “mục trại”, ở tù không có ngày về, và sự đày đọa (bây giờ) có lẽ kinh khủng hơn thời gian ở tù trước kia của ông.

    Người đọc xác nhận tính cách chống cộng một cách kín đáo mà thâm trầm, bền bỉ trong tất cả các truyện ngắn của Võ Phiến, và việc ấy lại càng sâu sắc, tinh tế hơn trong truyện ngắn TĐSN của ông. Hầu như trong tất cả những truyện ngắn của ông, dù có nói đến việc trai gái, việc ăn nằm giữa đàn ông, đàn bà, thì ông Võ Phiến nhắm vào việc mô tả cái tâm trạng của các nhân vật trong truyện, chứ không phải thiên về nhục cảm như trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng như “Số Đỏ”, “Cơm Thầy Cơm Cô” hay “Làm Đĩ”.

    Điều ông Võ Phiến viết, là tâm lý của nhân vật, mà ông Võ Phiến lại nhận xét, viết một cách chi li, tình tiết, kiểu như “sợi tóc chẻ làm tư”. Điều ấy, như trong TĐSN, làm cho Dziệt cộng cay cú là phải lắm.

    Độc giả bình thường đọc truyện của ông, không thấy cái dục tính như ông cán bộ Cộng Sản nói, chưa hẵn là đôi khi người ta lại còn thấy buồn cười bởi cái dí dỏm của ông. Chẳng qua, ngưòi Cộng Sản bao giờ cũng định kiến nặng nề.

    Truyện ngắn TĐSN của ông, qua Hạnh, người đàn bà là nhân vât chính trong truyện, ông Võ Phiến mô tả ra những hạng người của thời đại ấy, là thời gian trước và sau hiệp định Genève 1954, ở một vùng từng bị Cộng Sản cai trị khá lâu, suốt 9 năm (1945-54), mãi đến sau khi “Quốc Gia” tiếp thu Nam Ngãi Bình Phú.

    Những hạng người đó là những ai? Họ như thế nào?

    Đó là hoạt cảnh của một gia đình gồm người Hạnh là vai chính của câu chuyện, có quan hệ tình cảm và tình dục với ba người đàn ông. Người thứ nhứt là Thọ, chồng trước của bà ta. Người chồng sau là Kha, bạn của Thọ, sau khi Thọ tập kết ra Bắc. Thứ ba là một người đàn ông, quận Toàn, chỉ gặp một lần trong một hoàn cảnh đặc biệt.

    Ông Võ Phiến nhập vai người đàn bà để nhận xét về ba người đàn ông nói trên:

    a) Hạnh biết rõ Thọ, người chồng thứ nhứt vì một điều rất dễ hiểu: Thọ là chồng bà ta. Ngoài ra, Thọ còn là thầy giáo của Hạnh.

    Có thể hiểu một cách khái quát về Thọ như sau:

    Thọ, gốc gác là một người thuộc giai cấp tiểu tư sản (hay trung nông?), có học vấn - học vấn thời gian trước 1945 - bố là môt nhà Nho khá đặc biệt, tuy nhát gan nhưng bao giờ cũng sống đúng theo lời dạy của Khổng tử. Ví dụ:
    ...
    “Gia đình của Thọ là một gia đình nhà nho, Thọ lại là đảng viên Cộng Sản. Từ ngày về nhà chồng tôi (người đàn bà – tg) càng tự cảm thấy bé bỏng, không đáng kể, giữa cái sinh hoạt tinh thần luôn luôn thao thức trong gia đình ấy. Cha chồng tôi nghiêm khắc, đường hoàng, khiến bọn con cháu chúng tôi ở trong nhà ít khi dám gần người. Tuy vậy dần dà tôi lại biết rằng tính người hay sợ hãi: tất cả những người Âu từ tên lính lê-dương đến tên tây đoan đều làm cho người khiếp sợ, tất cả những tai họa rắc rối xảy đến cho gia đình đều khiến người bối rối lo hãi, người sợ những con ngựa có chứng và không dám đến gần những con bò hung dữ... Nhiều khi sự hoảng hốt của người trước một đe dọa quá tầm thường làm cho đàn bà trong nhà phải nấp sau cửa bụm miệng cười rúc rích. Khi chiếc phi cơ oanh tạc đầu tiên đến bay quanh vùng chúng tôi thì cả nhà đang ngồi ăn cơm vùng bỏ chạy tán loạn. Mọi người đã nằm nấp ngoài vườn xong mà mãi không thấy cha chồng tôi đâu cả, anh Thọ đánh liều trở vào nhà. Vào đến nơi, thấy người đã mặc xong áo dài và đội khăn đóng chỉnh tề, ngồi ngay ngắn trước bàn, hai tay đặt lên mặt bàn, run lẩy bẩy, hai mắt nhắm tít. Anh Thọ gọi, người mở mắt ra nói:

    - Người quân tử dù đến chết cũng khăn áo chỉnh tề.

    Rồi người lại nhắm mắt ngồi chờ chết, hai bàn tay run trên mép bàn. Lần ấy chiếc phi cơ không bắn một viên đạn nào và không thả trái bom nào. Từ đó người mới chạy trốn bom.”

    Bà ngoại Thọ là địa chủ, bị Cộng Sản đấu tố. Khi bà ngoại qua đời, Thọ không về dự đám tang của ngoại. Theo đúng chính sách của đảng, Thọ không muốn “dây dưa” với thành phần bóc lột mà Cộng Sản đã lên án. Thọ muốn anh ta là một người “Cộng Sản chân chính” (1 NK Điềm).

    Thọ đang tự đấu tranh với chính mình để trở thành một “người Cộng sản lý tưởng”, theo đúng chủ nghĩa Cộng Sản.” Việc đó làm cho Thọ gặp nhiều khó khăn trong đời sống tinh thần. Thọ lấy một người vợ không thuộc gia cấp vô sản. Bà ấy có đi học và như đã nói, từng là học trò của Thọ. Do đó, sự cách biệt về tuổi tác giữa hai người khá xa. Điều ấy làm cho Thọ nghĩ rằng Thọ thuộc thế hệ già hơn. Có vợ trẻ, Thọ ghen. Đó là tâm lý thường tình. Nhưng với một người Cộng Sản lý tưởng, ghen còn là cục bộ, ích kỷ, chủ nghĩa tư hữu (vợ là của riêng). Còn muốn tư hữu thì không thể là người Cộng sản chân chính cho nên:

    “Thọ ghen, nhưng anh lại cố gắng chối từ sự ghen tuông đó. Anh tự bảo mình không có quyền dung thứ một tình cảm ích kỷ. Anh khuyến khích tôi mạnh dạn tham gia công tác, tiếp xúc với cán bộ. Sự ghen tuông không những Thọ giấu tôi mà kỳ thực anh còn cố tâm trấn áp nơi anh, cố tiêu diệt đi. Tôi biết Thọ đau khổ, nhưng tôi chỉ có thể làm một chứng nhân, một kẻ bàng quan không can thiệp được.

    Những cố gắng chân thành và thiện chí của Thọ để trở thành một “đảng viên lý tưởng” chỉ đem lại cho Thọ sự đau đớn, dày vò, bứt rứt:

    “Tôi sống bên cạnh Thọ, đêm đêm nằm sát bên Thọ, tôi yêu Thọ, tôi theo dõi và thấy rõ những cố gắng đau đớn, những dày vò, bứt rứt bên trong của người đảng viên đầy thiện chí và chân thành cố hết sức để tự thắng mình ấy.”

    Thọ cố gắng một cách âm thầm, “như một ngọn đèn chong” trong cõi “yên lặng thâm u”, tuân thủ khuôn phép, kỷ luật, v.v... triệt tiêu cá nhân trong chủ nghĩa tập thể:

    “Còn ánh mắt của chồng tôi như chiếc đèn con chong suốt đêm, âm thầm cháy mãi, trong chỗ yên lặng thâm u. Chồng tôi kiên trì và trung thực, chịu làm một phần tử ngoan ngoãn sống trong kỷ luật tinh thần của đoàn thể, khuôn ép tư tưởng và tình cảm theo lý thuyết, anh nhất định sống đúng vai trò một tế bào trong kỷ luật sinh hoạt của cơ thể xã hội.

    Tất cả những cố gắng của Thọ không đạt được gì như Thọ muốn. Nó đối nghịch với bản tính tự nhiên của con người. Nó chỉ là những lý thuyết, những ảo tưởng mà con người không thể thực hiện được. Người ta không thể triệt tiêu cá nhân. Chỉ được một điều: Người thấy thương chồng hơn trước những đấu tranh, dằn vặt, đau khổ của chồng.

    “ Duy có điều cái tế bào đặc biệt này tuy vẫn ở trong vị trí kỷ luật của nó mà cứ long lanh những suy tưởng bí ẩn. Trời ơi! đôi mắt long lanh thao thức ấy, nét mặt mệt mỏi nhọc nhằn ấy, vóc người gầy yếu ấy! tôi thương hại cho tình trạng của chồng tôi vô cùng!

    Vợ của Thọ, cũng như Kha, bạn của Thọ nhận xét về con người “Cộng Sản lý tưởng”:

    “Họ cố gắng biến thành những con người hoàn toàn khác chúng ta. Họ luôn luôn hướng về tương lai. Nhai một miếng thịt, gặt một bó lúa, đánh vảy một con cá..., ở mỗi việc họ đều đánh hơi thấy một ý nghĩa, một báo hiệu tốt đẹp về tương lai. Họ bương bả chạy tới, không quan tâm gì đến những cái mà họ đang giày xéo dưới bàn chân hấp tấp, họ không kịp ngó đến người xung quanh...

    Đọc xong truyện ngắn nầy, tôi vẫn còn vái suy nghĩ nhưng chưa có dịp trình bày với ông Võ Phiến. Tôi đến Mỹ trễ, mà ông thì cũng đã già:

    Một người Cộng Sản lý tưởng phải thuần nhứt nhều yếu tố: Trước hết là thành phần giai cấp, phải là thành phần vô sản, nói nôm na, nếu ở thôn quê thì phải lá tá điền, hoặc không có nghề nghiệp nhứt định chắc chắn. Võ văn Kiệt, Đỗ Mười là thí dụ. Người Cộng sản lý tưởng là người không có quan hệ chút nào với chế độ quân chủ (họ thường gọi là phong kiến phản động), với chế độ thực dân (Thọ đi học dưới thời Pháp thuộc), không quan hệ tới “đế quốc” đặc biệt là “đế quốc Mỹ”. Thọ suy nghĩ như thế nào về cá nhân Thọ, gia đình Thọ, nhà trường Thọ được đào tạo để hy vọng trở thành môt người “Cộng Sản lý tưởng”.

    Đấy là nói theo lý thuyết, theo sách vở đầy ảo tưởng. Ngày nay, ở nước ta cũng như nhiều nước Cộng Sản trên thế giới, người ta thấy không thể nào có con người “Cộng Sản lý tưởng”, chỉ có những người “Cộng Sản thực dụng”. Đã thực dụng mà lại thiếu văn hóa. Đó là 3 triệu đảng viên ở Việt Nam hiện nay.

    b)- Người thứ hai là Kha, bạn học với Thọ khi hai người còn nhỏ. Sau khi Thọ tập kết ra Bắc, Kha là chồng kế của người đàn bà.

    Kha là người như thế nào?

    Kha là bạn của Thọ, họ sống với nhau dưới thời kỳ Việt Minh giành được chính quyền. Kha đi theo một con đường khác với Thọ.

    Kha cho rằng con người sống tự nhiên trong xã hội loài người mà vẫn phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, không cần phải tự biến mình thành một con người khác. Ông Võ Phiến viết về Kha:

    Kha cũng vẫn còn giữ được bản tính hồn nhiên, sống những tình cảm quen thuộc. Anh không phải luôn luôn đăm chiêu thắc mắc, tự biến mình thành một con người khác như Thọ. Người ta làm được mọi chuyện quái gở, nhưng tốt nhất nên buồn vui thương ghét như lối cũ xưa nay, vẫn giận cái gì xưa nay người đời thường giận, cảm phục cái gì xưa nay thường được cảm phục. Làm ra con người mới là một chuyện khó khăn và kỳ cục.

    Kha chống lại người Cộng Sản:

    Con người tự bày ra những tình cảm mới cho mình và đặt tên huyên thiên cho nó thì thực là ngông nghênh.
    Kha nhận xét về sự đồng nhứt và khác biệt giữa con người bình thường và con người Cộng Sản như sau:

    Về sự tương đồng:

    Thí dụ... Ta lấy một cái thí dụ: Gặp một người đói khổ nào đó, đối diện một người nghèo nào đó cụ thể, một ông A bà B nghèo, cậu với tôi không chắc ai động lòng thương hơn ai. Bình sinh hai đứa không hay nhường cơm xẻ áo cho kẻ nghèo khổ nào. Cậu với tôi như nhau, coi như ngang nhau thôi.

    Về sự khác biệt:

    Nhưng lòng thù hận, thù kẻ giàu, thì lúc này cậu vượt tôi... vượt... không thể nói. Tại sao vậy? Trước không có thế, đột nhiên cậu đổi khác hẳn. Cậu không nghĩ là lúc này đang cần đến sự thù hận, chính sách thấy cần sử dụng đến sự thù hận, thì tình cảm ấy được gây ra. Không phải vậy sao? Đó không phải là tình cảm hồn nhiên. Cái đó là được tạo ra, kích thích, là tình cảm ngụy tạo...

    Về phương cách cai trị xã hội, đất nước, Kha chủ trương công bình, không cần xúi giục sự chém giết như Cộng Sản:

    Ở ta, cách mạng đã thành công, đã nắm quyền trong tay. Tha hồ dựng lên chế độ tốt. Trong khung cảnh xã hội tốt, trong khuôn khổ chính sách tiến bộ, ai nấy sinh sống đúng đường lối, đúng lẽ công bình thôi. Nhà nước cần gì dạy bảo thúc giục người này căm thù người kia nữa, cần gì phải xúi ai giết ai nữa? Làm kinh hoàng cả nước... Làm cho...

    c)- Con người dưới chế độ thực dân:

    Ông Võ Phiến viết không ít về quận Toàn, nhân vật thứ ba. Quận Toàn sinh ra, lớn lên và đã đi làm việc khi chế độ thực dân đang còn cai trị ở nước ta. Ông ta là một công chức cũ, một ông phán, ông thông, và một thời, có thể khi vùng Nam Ngãi Bình Phú mới tiếp thu, ông làm quận trưởng, nên người ta gọi ông là “quận” (quận trưởng) Toàn. Ông ta làm công chức môt cách tự nhiên, một nghề sinh nhai, như một nghề nghiệp nào đó, tuy không chuyên môn, và chẳng suy nghĩ xa xôi gì về đất nước, về dân tộc. Khi còn là công chức thời Pháp thuộc, biến cố ngày 9 tháng 3, Nhựt đảo chánh Pháp là một sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc: Giang sơn đổi chủ sau gần 100 năm thuộc Pháp, ông ta đang đi săn ở trên núi, không biết gì cả. Đến khi ông về tới nhà, biết rồi thì ông vẫn dửng dưng như không có chuyện gì. Tây lo phần, Nhựt lo phần Nhựt, còn ông lo chuyện vui chơi của ông, lại xách súng đi săn. Giang sơn đất nước nầy của ông mà ông coi như là của ai vậy, coi như không dính dáng gì tới ông ta cả.

    Quận Toàn sống theo ý thích của mình: Đi săn, rất thành tạo, khôn ngoan và tài giỏi trong cái công việc ông ta thích đó. Quận Toàn sống như một bản năng: đói ăn, khát uống, và làm tình với một người đàn bà nào đó, một cách tự nhiên. Xong rồi thì ông ta vui vẻ, thỏa mãn, không còn lại một chút tình cảm thương nhớ, lưu luyến, thắc mắc, suy nghĩ gì trong lòng ông cả.

    Trong câu chuyện, một đem quận Toàn đi săn, chút nữa thì bắn lầm người đàn bà trong truyện khi bà lên núi giữ đàn bò của gia đình, khi người chăn bò bị bệnh phải về.

    Trong cái đêm tình cờ đó, Quận Toàn đã ân ái với người đàn bà. SAu đó, quận Toàn đã quên béng người đàn bà đã cho ông những cảm giác khoái lạc, nhưng người đàn thì không thể quên ông, không phải những khoái lạc do quận Toàn đem lại. Cô ta lo ngại, sợ hãi việc ấy lộ ra, người khác biệt.

    Hạnh nhớ lại:

    Vả lại quận Toàn không có chủ tâm. Việc ông ta gặp tôi chẳng qua là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn. Người khác ở vào hoàn cảnh đó vị tất đã hành động khác ông ta. Nhưng cái gì làm cho tôi đau nhói trong lòng, vừa xót xa, vừa khinh bỉ, cái gì xô gấp tôi tới quyết định chọn lựa anh Kha, ấy là thái độ hành động của ông ta.

    Quận Toàn thật ích kỷ. Sau khi thỏa mãn, ông ta chỉ nghĩ đến những dư “vị” của cái khoái cảm đó và hình như bực mình vì sự có mặt của Hạnh, người đã cho ông những khoái cảm đó:

    Tôi nhớ lại hồi khuya, lúc ông ta vừa buông tôi ra, nằm ngửa bên cạnh tôi, ông ta cũng im lặng, nhích tránh ra xa tôi, nét mặt ông ta trân lại, sắt lại, trầm ngâm. Không phải ông ta theo đuổi một tư tưởng gì, mà chính là ông cần yên tĩnh để lắng xuống nghe cảm giác khoái lạc thấm lần thấm lần vào cơ thể. Trông như một con trăn nuốt rất chậm, rất cẩn thận, vừa nuốt vừa đề phòng con mồi, như một người hít xong khói thuốc phiện nằm lơ mơ tê mê. Lúc đó sự hiện diện của tôi, những cử động của tôi bên cạnh chỉ làm cho ông ta khó chịu.

    Cách sống của quận Toàn làm cho Hạnh cảm thấy có một sự xa cách giữa Hạnh và quận Toàn, và hối hận về những gì Hạnh đã làm:

    Ông ta lắc đầu, cười hề hề. Tôi cảm thấy một cách biệt vô cùng tận giữa ông ta và tôi. Tôi vừa ngồi dậy, ngửa đầu ra sau gỡ mái tóc rối, vừa liếc trông theo những cử chỉ của ông ta, trong lòng lấy làm hối hận hết sức về những lạc thú mà tôi đã cho ông ta hưởng và đã cùng hưởng với ông ta trong đêm qua. Giữa tôi với con người đó không thể có một lý do gì đưa đến sự chung đụng thân mật như thế được.

    Dĩ nhiên, tác phong ích kỷ, lạnh lùng và tàn nhẫn của quận Toàn làm cho Hạnh cảm thấy tủi nhục.

    Khi ông ta dứt tiếng cười hề hề thì cử chỉ của ông ta lại khiến tôi nghĩ đến những người vừa ăn xong một bữa thật ngon lành thỏa thuê rồi ngồi nhìn lơ đãng, dềnh dàng, xỉa răng rất lâu, những người không có việc gì quan trọng hơn, để hết tinh thần lắng theo dõi các khoái cảm thấm chầm chậm vào thật sâu. Họ có thì giờ để nghe tiêu hóa các khoái cảm. Sự im lặng của ông ta cũng làm cho ông ta cách biệt tôi, và có một ý nghĩa tàn nhẫn làm tôi tủi nhục.

    Thật ra, không phải Hạnh không có phản ứng, nhưng phản ứng đó rất yếu ớt trước sự khéo léo và rành rẻ trong việc ăn nằm với đàn bà của quận Toàn:

    Tôi nhớ lại thái độ hành động của ông ta trong đêm vừa rồi, tự nhiên căm tức. Khi tôi khép hai đùi lại, dùng dằng, ông ta không hấp tấp vội vàng. Ông đặt một bàn tay lên bắp đùi trần của tôi làm tôi rùng mình; ông ngừng lại một chút, rồi vỗ nhè nhẹ vào phía trong bắp vế, nói nho nhỏ: “Em! Em!” Giọng ông ta nửa như than phiền trách móc, nửa như dỗ dành nài nỉ. Ông ta lại đặt yên bàn tay, ngừng lại, và chờ đợi. Tôi dạo ấy mới hăm hai hăm ba tuổi... Vắng đàn ông lâu ngày... Đêm khuya vắng vẻ... Chậc!

    Kết quả về sự khôn ngoan và khéo léo đó của quân Toàn chỉ làm cho Hạnh vừa xấu hổ vừa tức giận. Người đàn bà, nói chung, nhiều khi bị khuất phục trước một người đàn ông, không phải vì sức mạnh mà chính vì sự khéo léo và dịu dàng đó:

    Ông ta bình tĩnh và hành động chắc chắn. Ông ta đã hiểu tôi một cách giản dị quá, thực tế quá. Và hiểu đúng tâm lý đến nỗi ngẫm nghĩ lại tôi không khỏi vừa xấu hổ, vừa tức giận.

    d)- Về người đàn bà, tên Hạnh

    Hạnh rất yêu chồng, ngay khi người chồng chưa tập kết ra Bắc, còn sống chung với vợ và sau đó, khi người chồng đã ra đi rồi, Hạnh vẫn vậy. Trong khi người chồng của Hạnh thao thức, trằn trọc, Hạnh nằm yên, im lặng bên chồng vì tôn trọng những suy tư, trăn trở của chồng.

    Điều ám ảnh Hạnh nhứt, từ khi về nhà chồng là tiếng thác đổ sau nhà:

    Từ lúc tôi về nhà chồng đến nay, lúc tôi nghĩ đến chuyện phải rời đi, những đêm vắng vẻ thao thức nghĩ ngợi tôi lại để ý đến thác nước ồ ồ bên nhà. Suốt năm sáu năm trời tiếng thác ồ ồ đó luôn luôn đuổi theo tôi, lúc nào cũng sẵn sàng hiện đến như một nhân chứng vào những giờ bối rối khó khăn nhất. Tiếng ồ ồ dồn dồn liên tiếp lại đuổi theo tôi như một sự thôi thúc xôn xao vô cớ.

    Tiếng thác đổ không như tiến chuông nhà chùa hay tiếng chuông nhà thờ. Tiếng chuông vang lên, một chặp, một hồi, trong bao nhiêu phút, bao nhiêu giờ rồi im hẵn. Tiếng dế mèn kêu trong đêm cũng làm cho người ta dễ gợi nhớ. Nhưng tiếng dế mèn thì nhỏ hơn, rền rĩ hơn, chậm chậm mà buồn, không có gì hối thúc, nhắc nhở, gọi dậy, biểu đi... Và tiếng dế cũng chỉ vang lên trong đêm, bên cạnh sự vắng lặng. Khi trời bắt đầu sáng, cuộc sống một ngày mới bắt đầu trở lại với nhiều âm thanh sống động thì tiếng dế cũng dứt.

    Tiếng thác đổ sau nhà thì khác. Nó vang lên suốt ngày đêm, không chút nào ngừng nghỉ, “thiếng thác ồ ồ như đuổi theo tôi”. Tiếng thác ấy như “một nhân chứng vào những giờ bối rối khó khăn nhứt”, “đuổi theo tôi như một sự thôi thúc xôn xao vô cớ”.

    Âm thanh đi vào lòng người qua cái thính giác của người. Nó đi sâu vào tâm hồn con người ta. Vào tới đó, nó không biến mất. Tiếng thác ồ ồ đi vào lòng Hạnh, rồi dừng lại ở đó, làm một nhân chứng, một sự thôi thúc, đánh thức người ta dậy. Rồi nó có cùng đi với người ta?

    Đọc đoạn nầy tôi nhớ tới Văn Cao. Văn Cao ở quê, con nhà nghèo nên phải lên ở nhờ với ông anh, nuôi cho ăn học. Ông anh Văn Cao làm gác gian, hay lao công gì đấy tại nhà máy điện Hải Phòng, ăn ngủ tại chỗ. Ông anh kê một tấm ván, một đầu gác vào một chỗ nào đó của cái máy điện, làm chỗ cho Văn Cao ngủ. Ông Hoàng Văn Chì, trong cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” viết rằng chính cái âm thanh của cái mấy điện chạy ù ù suốt ngày đêm đã ảnh hưởng đến thiên tài âm nhạc của Văn Cao. Máy điện hồi Tây thuộc, chạy bằng máy hơi nước nên ồn ào lắm. Tôi không nghĩ ông Hoàng Văn Chì nói đùa hay nói mỉa Văn Cao mà đó chính là sự thực đấy.

    Dĩ nhiên, tiếng thác chảy ồ ồ sau nhà của Hạnh không “dữ dội” như tiếng máy điện nơi Văn Cao ở. Có thể tiếng động đều đều làm cho người ta ngủ ngon, dù nó là tiếng thác đổ hay tiếng máy điện, nhưng trong đêm khuya, bỗng có một lúc nào đó thức dậy, cái âm thanh đều đều ấy, vài khi cũng làm cho người ta khó ngủ lại. Từ cái khó ngủ ấy, người ta nhớ lại nhiều điều, nhứt là với một người đàn bà còn trẻ như Hạnh, chồng đi xa. Cái tâm trạng ấy, chúng ta đã học, đã đọc, đã biết trong “Chinh Phụ Ngâm”.

    Có thể Hạnh thấy tuyệt vọng khi xa chồng đã mấy năm. Trước khi tập kết, “người ta” nói hay lắm, tin tưởng lắm, lạc quan lắm. Chỉ hai năm, hai bên ký “hiệp thương thống nhứt”, vợ chồng, cha con, anh em, gia đình lại sum họp. Hai năm mà, chỉ hai năm thôi, nó sẽ qua như một giấc mơ. Người ta phải biết hy sinh, phải hy sinh. Người xưa đi đánh giặc thì sao? Ông Địch Nhân Kiệt đi đánh Hung nô tới 70 tuổi mới về. Rồi cũng về, đâu có phải “kỷ kiến hữu nhân hồi.”

    Sau hai năm, người ta mới biết việc thống nhứt là không có. Hai bên, miền Bắc và miền Nam, bên nào cũng chuẩn bị cả rồi. Việc chia cắt sẽ kéo dài mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa, và tốn hao không ít xương máu để “thống nhất” đất nước.

    Bấy giờ những người có chồng đi tập kết như Hạnh mới thấy ngày về của chồng xa lắc, xa lơ, mới chợt thấy mình là người cô phụ, mới tiếc “Dương liễu giang đầu dương liễu xuân” (1), mới thông cảm nhiều hơn cho người đàn bà trong Chinh Phụ Ngâm.

    Trong viễn tượng đó, “Tiếng thác đổ ồ ồ liên miên sau nhà như thôi thúc xô đẩy tới một quyết định. Tôi tự thấy mình đang bị đưa dồn tới một hoàn cảnh mới. Tôi bồn chồn, nôn nao.”

    Ông Võ Phiến mô tả “thực” hơn về cuộc sống của con người thời đại ngày nay. “Đêm nay lại vẫn tiếng thác đổ ồ ồ. Và ngoài trời lại vẫn ánh trăng sáng mông lung gọi dậy những rạo rực khó tả.”

    Tôi nghiệp cho Hạnh. Nỗi “đau khổ” của người đàn bà, không chỉ là vì sống bên cạnh một người chồng luôn luôn muốn tự từ chối cái bản thể của mình, muốn triệt tiêu cái bản thể đó, mà còn nhiều điều dị biệt khác nữa, không thích hợp với Hạnh. Tuy vậy, Hạnh vẫn cố âm thâm chịu đựng, với những thao thức, trăn trở, ngoài sự “xung khắc” giữa Hạnh với người chồng mà còn cả với gia đình chồng, giữa sự giằng co của những dòng tư tưởng khác biệt trong gia đình chồng, tạo ra những “căng thẳng trong vô số gia đình, trong khắp xã hội.”

    Những đau khổ ấy, bắt nguồn từ cuộc cách mạng vô sản mà ra ở nước ta hồi năm 1945 và kéo dài cho tới tận bây giờ, không chỉ ở trong nước mà còn lan ra ở hải ngoại nầy vậy!

    Từ ngày về nằm ở gian buồng này, đêm đêm tôi nằm bên cạnh một cố gắng thường xuyên thao thức, tôi nghe tiếng cựa mình ở nhà ngoài tiếng trăn trở ở buồng trong, tôi nép mình lặng lẽ sống bên cạnh những quằn quại đau đớn mà âm thầm của một gia đình giữa sự giằng co của hai dòng tư tưởng. Cho tới bây giờ sự chuyển mình lớn lao của một thời đại vẫn còn gây ra bầu không khí căng thẳng trong vô số gia đình, trong khắp xã hội

    Phần kết:

    Hôm về nam Cali, tôi gặp lại mấy anh em bạn “đồng tù cải tạo”. Nói chuyện “kỷ niệm đông tây” một hồi, chúng tôi lại nhắc đến bài báo của ông nhà văn Cộng Sản phê phán nặng nề ông Võ Phiến mà chúng tôi đã chuyền cho nhau đọc hồi đó, khi còn trong tù. Tôi nói với mấy anh em rằng hồi còn trẻ, khoảng 20 tuổi, tôi may mắn gặp ông Võ Phiến vài lần. Vậy mà nay đã hơn nửa thế kỷ rồi đấy. Khi vượt biên, tôi bị kẹt thanh lọc ở tại tỵ nạn, qua yêu cầu của con gái tôi, ông Võ Phiến có viết một lá thư xác nhận tôi là người có hoạt động văn nghệ chống Cộng. Nay tôi vẫn còn nhớ ơn. Ông không thể viết chính thức, như là người có thẩm quyền của tờ báo, việc ấy phải là của người làm chủ bút, như ông Võ Thu Tịnh (người trước) hay giáo sư Lê Hữu Mục (người sau), còn ông Võ Phiến, theo thư ông nói, cũng chỉ là một cộng tác viên với tờ tuần báo Mùa Lúa Mới như ông Phan Du, Quang Đạo hay... tôi. Lá thư xác nhận của ông Võ Phiến cùng với thư của giáo sư Lê Hữu Mục làm cho tôi vui, dễ dàng cho việc thanh lọc của tôi hơn. Nhưng điều làm cho tôi vui hơn nữa là khi soạn hồ sơ cho tôi, người thông dịch viên của Cao Ủy Tị Nạn, cô Mai, hỏi tôi về lá thư của ông Võ Phiến. Cô ta nói với tôi cô là một độc giả của nhà văn nầy và rất ngưỡng mộ ông.

    Tiếc rằng tôi đã về Cali mấy lần mà chưa lần nào đến thăm hai ông bà Võ Phiến. Dĩ nhiên, tôi không quên ông ta bao giờ, nhưng sự gặp gỡ trở lại sau hơn nửa thế kỷ làm cho tôi rất ngại ngùng.

    Và chúng tôi lại nói chuyện về cuốn “Đêm Xuân Trăng Sáng” và “Thác Đổ Sau Nhà”

    Về người cán bộ văn hóa viết về ông Võ Phiến trong bài báo như đã trình bày ở trên, thì một là ông không có trình độ nhận xét và phê bình văn học gì cả, hai là ông ta không đọc hết các tác phẩm của ông Võ Phiến, ba là ông ta mang sẵn định kiến vế giới văn nghệ sĩ miền Nam, nên viết bậy và viết sai về Võ Phiến khá nhiều. Thứ nhứt, ông ta nhầm lẫn giữa quận Toàn và một ông xã trưởng nào đó, như trong bài viết, cho là người đã ăn nằm với Hạnh. Thật ra, thời kỳ đó, chức vụ và học vấn, thông thường trình độ giữa hai viên chức nầy cách nhau khá xa, ngoại trừ các trường hợp “đặc cách”. Thứ hai, ông Võ Phiến không đã kích “một con người có lý tưởng”, nói chung. Cái phẩm giá giữa một người sống có lý tưởng và một người sống không có lý tưởng là khá xa. Võ Phiến không phê phán việc Thọ sống có lý tưởng, mà ông phê phán về cái lý tưởng của người Cộng Sản mà Thọ đã theo. “Họ cố gắng biến thành những con người hoàn toàn khác chúng ta. Họ luôn luôn hướng về tương lai. Nhai một miếng thịt, gặt một bó lúa, đánh vảy một con cá..., ở mỗi việc họ đều đánh hơi thấy một ý nghĩa, một báo hiệu tốt đẹp về tương lai. Họ bương bả chạy tới, không quan tâm gì đến những cái mà họ đang giày xéo dưới bàn chân hấp tấp, họ không kịp ngó đến người xung quanh...

    Hơn thế nữa, người Cộng Sản sống bằng thù hận, tạo ra thù hận trong xã hội, tạo ra đấu tranh giai cấp, thù ghét và chém giết lẫn nhau, v .v... Đó là những điều mọi người đều biết và đều lên án cả. Nhưng người Cộng Sản thì cố làm như không biết vì họ mê muội, vì ăn “cháo lú”. Cái ảo tưởng của họ đã xô đẩy dân tộc vào một cuộc tranh giành vô bổ mà không xây dựng được gì cho đất nước cả. Người cán bộ văn hóa khi viết về Võ Phiến, ông ta không biết cá điều đó, u muội nên không biết hay cố tình không biết?

    Điều đáng buồn, giới báo chí, văn học Sài Gòn thời kỳ ấy thường sinh hoạt nặng tính cục bộ, nhóm Tự Do, nhóm Sáng Tạo, nhóm Khởi Hành, v.v... và nhiều khi còn nặng cả tính địa phương và lập trường chính trị. Thiên tả, thiên Cộng thì có nhóm Nhân Loại (2), nhóm Trình Bày... Một người từ miền Trung vào Saigon, - mà phần đông sinh hoạt báo chí, văn học ở đó là do người Bắc “thống lĩnh” - hình như, tôi nói hình như, lúc ban đầu, ông Võ Phiến không thể gia nhập vào nhóm nào được cả. Cũng có thể ông ta muốn đứng riêng? Cho đến khi người ta không thể phủ nhận văn tài của ông, thì sinh hoạt báo chí văn học của ông có phần dễ dàng hơn. Các tác phẩm đầu tiên của ông in ở Saigon, tôi được đọc là trên Bách Khoa, tờ báo của ông Huỳnh Văn Lang, đảng viên Cần Lao cao cấp, nhưng tác phẩm của ông Võ Phiến lại không có “mùi” Cần Lao chút nào cả. May thật!

    Do không thuộc hẵn vào một nhóm nào, ngay từ lúc đầu, khi có bài đăng trên Mùa Lúa Mới, ông Võ Phiến viết truyện chống cộng một cách âm thầm, bền bỉ. Có thể khi từ miền Trung vào Saigon, ông đã rời xa vài người cùng chí hướng, như nhà thơ Đỗ Tấn. Điều nầy, có lần Đỗ Tấn nói với tôi như vậy, khi Đỗ Tấn ra dạy ở trường Bồ Đề, Quảng Trị, niên khóa 1958-59.

    Khi còn sống với nhau trong trại tù cải tạo, Trần Phú Trắc, Phạm Quang Chiểu, Trần Hữu Bảo, Phạm Ngọc Hiền... không ai nghĩ rằng tôi là người viết văn. Có một thời tôi “đi theo” mấy ông nhà văn, nhà thơ hồi ấy đã được nhiều người biết như Võ Phiến, Phan Du, Đỗ Tấn, Quang Đạo, Kỳ Quang và giáo sư chủ báo Lê Hữu Mục,... để tôi được đăng bài của mình trên báo Mùa Lúa Mới, Rạng Đông. Đến khi các tờ báo nầy dẹp tiệm, tôi lại mon men đăng bài trên tờ Gió Mới ở Sài Gòn.

    Một tối, thời gian sau khi đã đi dạy được ít năm, ngồi uống “càphê Lạc Sơn” với các bạn đồng nghiệp, tôi định từ giã họ để về viết bài đăng báo. Biết vậy, một người bạn rất thân nói: “Đang vui mà về chi! Ngồi chơi đã. Mi mà cũng háo danh.” Tôi giật mình. Viết văn, làm thơ là háo danh? Cùng tuổi với tôi, có ông thi sĩ Tường Phong, dạy ở trường Trung Học Quảng Phước, mới ra một tập thơ, hay nhỏ tuổi hơn tôi, có ông thi sĩ Kiêm Thêm vừa xuất bản tập thơ “Kiêm Thêm trước cửa trường Đồng Khánh” bị các bạn tôi nói đùa “Chắc là nó đứng đó để lượm guốc của mấy con nhỏ Đồng Khánh đánh rớt.”

    Vậy là tôi bỏ viết. Tôi không muốn bị bạn bè gọi tôi là kẻ háo danh. Với lại, so với các ông Võ Phiến, ông Phan Du, v.v... không những tôi là “mầm non văn nghệ” mà tôi thấy tôi còn kém cõi quá! Nghỉ viết đi mười năm, - tôi tự nói với tôi như vậy -, học cho xong, đọc sách thật nhiều, và tìm kiếm thêm kinh nghiệm sống, như kinh nghiệm của các ông Võ Phiến, Đỗ Tấn từng sống gần 10 năm dưới chế độ Cộng Sản tại Bình Định. Họ kinh nghiệm “đầy mình”. Tôi có kinh nghiệm chi đâu!

    Vậy là tôi bỏ viết, không phải 10 năm, mà tới 20 năm sau tôi cũng chưa cầm bút trở lại.

    Ở tù cải tạo, cũng như nhiều bạn tù, có những điều mắt thấy tai nghe mà không viết thì không được: Dược sĩ Hoan bị bắn chét bên cạnh cái conex giam ông ta vì ông cứ la mãi câu “Đã đảo Hồ Chí Minh”, hay việc Ngô Nghĩa bị xử bắn ở phi trường Trảng Lớn, cái chết đói của ông Âu Văn Minh (chồng trước của bà Bích Vân, chị bà Bích Ngọc thẩm mỹ viện), cái chết của cụ Niệm, “một Bắc kỳ già chịu chơi” như chúng tôi thường gọi cụ, v.v... đã diễn ra trước mắt tôi. Chung quanh chúng ta có rất nhiều điều để viết, phải viết. Tại sao tôi lại không viết để nguôi ngoai môt chút lòng tôi thương nhớ họ, để cho người ta “biết Cộng Sản là cái gì” chứ. Vậy là tôi cặm cụi viết, từ chuyện cũ ở Huế, (Viết về Huế 1 và 2), chuyện tôi đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng (Hương Tràm Trà Tiên), chuyện tù cải tạo (Vết Nám), chuyện thảm cảnh ở trại tị nạn (Bèo Giạt).

    Trần Phú Trắc nói với tôi và các bạn tù cũ: “Tui thích cái cách viết của anh Hải, văn phong nhẹ nhàng, đôi khi dí dỏm, hóm hỉnh mà thâm trầm. Bây giờ người ta ít viết chống cộng như mười năm trước, nhưng anh Hải thì vẫn cứ âm thầm, kiên trì, bền bỉ... với công việc ấy”

    Có anh em bảo tôi có cái âm thầm như ông Võ Phiến như khi ông mới về vùng Quốc Gia. Tôi thích thú và kính trọng cái âm thầm và bền bỉ ấy của ông Võ Phiến. Tuy nhiên, tôi vẫn không nhận tôi là nhà văn. Nhà văn, được như ông Võ Phiến là khó lắm. Dù vậy, tôi có con đường đi của tôi. Tôi viết những gì tôi thấy, nghe, biết khi sống dưới chế độ Dziệt Cộng, bằng những xúc cảm chân thật trong lòng tôi.

    Trắc cười và nói: “Âm thầm như anh, tụi Dziệt Cộng nắm được đầu anh, cho anh “mập mình”, chúng nó cũng chưa vừa lòng.”

    Tôi cải: “Tui có nói cái chi hung dữ đâu?”

    - “Vâng! không hung dữ”, một người bạn tù cải tạo nói. “Anh thấy cái “Vết Nám” ở cái chỗ ấy của vợ rồi anh kêu Dziệt Cộng ra mà “tố khổ”, viết như thế là thâm lắm. Anh trả “nợ” sao cho vừa với cái thâm của anh?!

    Thành ra, buổi gặp mặt hôm đó ở Cali vui thật!

    Hoàng Long Hải (Tuệ Chương)


    (1) HOÀI THƯỢNG BIỆT CỐ NHÂN
    Dương Tử giang đầu, dương liễu xuân
    Dương hoa sầu sát độ giang nhân
    Sổ thanh phong địch ly đình vãn
    Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần

    Trịnh Cốc

    TỪ BIỆT BẠN CŨ NƠI BẾN HOÀI

    I. Dương Tử bên bờ, dương liễu xuân
    Hoa dương súc động khách sang sông
    Sáo chiều chợt vẳng ly đình quán
    Kẻ hướng Tiêu Tương, kẻ hướng Tần

    II. Ngày xuân, dương liễu xanh xanh
    Bóng in Dương Tử đầu ghềnh sông sâu
    Qua sông, người đã u sầu
    Hoa dương còn muốn giết bầu tâm can
    Ly đình dưới bóng chiều tàn
    Thoảng nghe tiếng địch mơ màng đâu đây…
    Đường Tần lầm lũi bóng gầy
    Tiêu Tương lủi thủi, vơi đầy biệt ly.


    (2) Nhân Loại là tờ báo của nhóm Thiên tả xuất hiện vài năm ở Saigon (57, 58), sau đó không thấy nữa. Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa là các cây bút của nhóm nầy. Ông Lê Vĩnh Hòa tên thật là Đoàn Thế Hối, em ông Đoàn Thế Nhơn, tức Võ Phiến. Ông Đoàn Thế Hối vô bưng và bị bắn chết tại Giồng Riềng (quận Kiên Bình) vào khoảng đầu thập niên 60, tôi không biết chắc. Nhân vật Hải, trong TĐSN có vài nét về hoạt động giống như ông Hối vậy.

    Ghi Chú: Vài người bạn tôi cũng như tôi cố tìm những tập truyện ngắn như “Chữ Tình”, “Người Tù”, “Đêm Xuân Trăng Sáng”, v.v... của ông Võ Phiến để đọc nhưng tìm không ra. Trên mạng lưới nhện cũng không có. Quý vị nào biết ở đâu có, xin chỉ giùm.
  2. Khi bà Sarah Pailin đứng chung liên danh với ông John McCain để tranh cử tổng thống, thì bà thống đốc của xứ tuyết xa xôi “khỉ ho cò gáy” phải về thủ đô Wasington để vận động, v v... bà Bùi Bích Hà trên Radio VNCR gọi đùa bà Pailin là “dân tỉnh lẻ”.

    Câu nói đùa ấy ám ảnh tôi không ít, nhất là thời gian mới rồi, tôi từ một thành phố nhỏ ở tiểu bang Massachusetts về Little Saigon thăm viếng bạn bè. Bà Hà gọi bà Pailin dân tỉnh lẻ là gọi đùa, - tôi đoán chừng như thế - nhưng trường hợp tôi về Little Saigon, khi tôi nói với bạn bè rằng “Tui là dân tỉnh lẻ về thủ đô” là tôi nói thiệt.

    Thật vậy, Little Saigon, như người ta thường gọi là “thủ đô tị nạn”. Tôi, từ một thành phố xa xôi về đó, tôi không phải là dân tỉnh lẻ thì còn là cái gì chứ? Mặc dù, khi tôi nói tôi là dân tỉnh lẻ, các bạn bè cứ nhìn tôi mà cười. Dân tỉnh lẻ là dân còn quê, không văn minh như dân thủ đô. Họ cười tôi là dân tỉnh lẻ là dân quê hay chỉ cười vì họ cho rằng tôi chỉ nói đùa.

    Nói cho đúng, dân tỉnh lẻ về thủ đô sẽ học được nhiều cái hay cái đẹp hơn, thậm chí cố bắt chước dân thủ đô để rửa, để che dấu một ít “phèn” của người tỉnh lẻ. Điều ấy, tôi đã từng thấy, từng gặp, hơn nửa thế kỷ trước, khi tôi còn ở Huế. Sài Gòn lúc ấy là thủ đô Việt Nam Cộng Hòa.

    Có lần, ông anh tôi đi Sài Gòn về, cho tôi mấy cái áo “sơ mi carô” là thứ ở Huế tôi chưa từng mặc bao giờ. Một cô gái trẻ, học trò cũ của tôi, đến thăm nhà tôi, nói: “Thưa cô, em mới đi Xè-goòng về”, khiến tôi cũng suy nghĩ. Sao lại “Xè-goòng” mà không phải Sài Gòn như người Huế thường nói? Cô ta muốn nói cho ra giọng dân Sài Gòn đấy. Bớt đi một chút phèn, cho nó “văn minh hơn” mặc dù cô ta là người Huế, cựu kinh đô. Nhưng có ai chê dân Huế quê bao giờ đâu!

    Tuy nhiên, những món quà mang từ Sài Gòn về, những món quà không thấy bán ở Huế, dù ở nhà hàng Morin sang trọng, cũng chứng tỏ Huế, cựu kinh đô, không bằng kinh đô miền Nam hiện tại được.

    Huống chi tôi hiện đang cư ngụ tại một thành phố cũ, mấy chục năm không thấy xây thêm dinh thự mới, chỉ toàn là những ngôi nhà có số tuổi trăm năm, gạch đỏ, tường loang. Nhiều hãng xưởng bỏ hoang vì phá sản hay dời ra những town chung quanh, khiến tôi gọi đùa thành phố tôi ở là “Phố cổ Hội An” của Mỹ. Sinh sống ở một thành phố như thế, không những đã quê mà lại còn buồn nữa, cái buồn của sự tàn phai, của hoang hóa, của thời gian, cứ như hiển hiện ra trước mắt mỗi ngày, mỗi khi ra phố. Nếu như Trịnh Công Sơn viết “Chiều nay em ra phố về, thấy đời là con nước trôi” thì tôi phải sửa lại cho đúng hoàn cảnh của tôi là “Chiều nay tôi ra phố về, thấy đời là con phố... hoang”.

    Sự hưng thịnh của thành phố nầy đã qua rồi, không có cách chi níu kéo lại được.

    Độc giả có thể tìm trong Wikipedia để biết rõ thêm về thành phố Worcester nầy nếu quí vị muốn. Phần tôi, tôi chỉ viết lại vài nét đặc biệt thành phố tôi ở mà thôi, những câu chuyện, những sự kiện, những hình ảnh đập vào mắt tôi, kể từ trước khi tôi rời Việt Nam.

    Nhờ một người quen thân làm linh mục từ trước 1975, nên con gái thứ hai (kể theo ngoài trung) của tôi “giã từ Cali” lên học hành, định cư ờ thành phố nầy sau khi con gái tôi tới Mỹ không lâu.

    Trong lịch sử, sinh hoạt tôn giáo ở thành phố nầy khá mạnh, kể từ sau 3 lần nơi nầy “chết đi sống lại” vì chiến tranh, trước khi Chiến tranh giành Độc lập của Cách Mạng Mỹ xảy ra. Nó có nghĩa rằng nơi đây, di dân Mỹ định cư từ lâu lắm: Năm 1673. trên con đường người ta gọi bằng nhiều tên khác nhau. Tên thường gọi nhất là “Boston Post Road”, “Route 9”. Route 9 là con đường tổ tiên người Mỹ dùng để đi về phía Tây, nhất là sau khi có sự kiện “Gold Rush” trong lịch sử đi tìm vàng của di dân Mỹ. Trên Route 9 đi từ Đông sang Tây có nhiều thành phố, nhiều town có lịch sử xưa lắm, cùng với lịch sử Tây Tiến (West Ward). Lịch sử Tây Tiến của Mỹ không lâu dài như lịch sử Nam Tiến của ta nhưng nó đẫm máu hơn với những cuộc tàn sát người mọi da đỏ, như độc giả từng thấy trong phim cao bồi.

    Không biết có phải người Việt không “hiếu sát” như người Mỹ, nên cuộc Nam Tiến của cha ông chúng ta không có nhiều máu, nhưng về mặt tàn ác, ông ta chúng ta có nhân đạo hơn chăng, khi dân tộc Chàm bị đàn áp và nước Chiêm Thành tiêu diệt, biến mất trên bản đồ? Mấy năm còn hòa bình, có lần đi chấm thi trung học, tôi cùng mấy người bạn rủ nhau đi xe đò từ Quảng Ngãi vào Nha Trang, xe chạy theo con đường Nam Tiến của cha ông ngày xưa, không hiểu sao tôi thấy lòng tôi sao buồn quá vậy?!

    Người ta có thể thấy con đường Nam Tiến của tổ tiên ngay trong ca dao: “Chiều gió thổi Ải Vân, Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn.” hoặc “Tiếng ai trên núi véo von, Hỏi thăm chú lính trên hòn Cù Mông. Xa xa em đứng em trông, hỏi chàng lính mộ thử chồng em đâu?” Vô tới Nam bộ người ta còn buồn cho thân phận của mình đấy: “Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai. Nước sông xanh sao lại chảy hoài, Thương người xa xứ lạc loài đến đây” (1).
    Tôi từng đi xe hơi dọc con đường số 9 (Route 9) nầy, ít ra là đoạn đường nằm gọn trong chiều ngang của tiểu bang Massachusetts, nhưng quả tình tôi không thấy buồn như khi đi “Dọc đường số 1” (cũng là tên một tác phẩm của Phan Nhật Nam). Có phải vì cuộc Tây Tiến là của tổ tiên người Mỹ mà không phải là cuộc Nam Tiến của ông cha chúng ta?! Vì nơi nầy không phải là quê hương cha sinh mẹ đẻ của tôi. Tuy vậy, mỗi khi lái xe qua cây cầu trên hồ Quincigamond, (cũng là tên cũ của thành phố Worcester), hồ nằm giữa thành phố nầy và town Shrewsbury, chỗ nầy hồ hẹp nhứt và bờ không dốc đứng, tôi thường nghĩ tới những chiếc xe ngựa của người Mỹ đi về phía Tây hồi mấy trăm năm trước, như thường thấy trong loại phim Western, như “Convoi des femmes”, như “Rio Bravo”, “The river of no return” chẳng hạn. Trong cuộc Tây tiến, người Mỹ gian khổ không kém gì cha ông chúng ta hay còn hơn thế nữa?! Và trong những nỗi gian khổ của kiếp người, nhất là những kiếp người “đi tìm đất sống” thì ai cũng như ai, dân tộc nào cũng như dân tộc nào, có ai khác ai?

    Ai có đọc “The Red Pony” của John Steibeck sẽ ngạc nhiên khi thấy cậu bé Jody đòi đóng tầu đi nữa, vượt Thái Bình Dương, tiếp tục cuộc Tây tiến của cha ông cậu bé.

    Người Việt cũng vậy, mặc dù trẻ con người Việt không có ai có ý nghĩ như cậu bé Jody, muốn đóng thuyền đi nữa, khi cha ông chúng ta đã tiến tới mũi Ông Trang ở Cà Mau, nhưng quả thật sau 1975, người Việt đã vượt biển ra đi nữa, tiếp nối cuộc Nam tiến mà cha ông đã bỏ dở ngày trước.

    Thành phố tôi ở nằm trên con đường Tây Tiến của người Mỹ, quanh quẩn trên 7 ngọn đồi nên có khi người ta còn gọi là “thành phố Seven Hills” như một cái tên nào đó trong lịch sử châu Âu. Di dân Mỹ, cũng như người Việt chúng ta vậy, họ đem cái tên cũ nơi quê hương cũ của họ mà đặt tên cho vùng đất mới.

    Ngoài tính cách tôn giáo, nằm trên đường giao thông Đông - Tây, thành phố nầy một thời là thành phố công nghiệp phát triển.

    Hai mươi năm trước, khi mới tới đây, tôi cư ngụ ở town Barre, một town nhỏ của người Mỹ gốc Ý, cách không xa lắm nơi tôi ở hiện nay. Nơi cũ không có một gia đình Việt Nam nào, ngoài gia đình tôi, một thời kỷ nghệ dệt ở cái town nầy rất phát triển. Nhà tôi nằm trên một sườn đồi toàn là thông. Phía dưới chân đồi là một cái hồ rộng, chung quanh hồ cũng là những cây thông cao có hàng chục tuổi. Nước hồ trong vắt, xanh ngắt, tưởng như đáy hồ sâu lắm, thấy mà sợ! Cuối hồ là một cái thác, nơi ấy có một nhà máy dệt, đóng cửa gần trăm năm nay. Nhà máy nầy chuyên dệt thứ vải dày, có thứ để làm mui xe. Không rõ khi ông Levi dùng vải mui xe may quần jean để bán cho thợ đào vàng Cali, ông ta có dùng thứ vải sản xuất ở nhà máy dệt nầy hay không?

    Tuy nhiên, rõ ràng hơn, ông Clark đã mua cuốc xẻng sản xuất thành phố nầy, đem bán cho người đào vàng ở Cali mà trở nên giàu có, giàu hơn cả người đi đào vàng.

    Sau khi thực dân Pháp trở lại xâm lăng nước ta sau Thế chiến thứ 2, chúng ta thấy quân đội Pháp đã dùng “giây kẽm gai” để rào đồn bót. “Barber Wire”, người ta thường gọi là “giây kẽm gai” là sản phẩm “ngày xưa”, xuất hiện đầu tiên từ thành phố nầy đấy. Nói cách khác, đây là “quê hương bản quán” của giây kẽm gai. Nó được sản xuất ở đây trước tiên, trước khi “lan tràn” ra nhiều nơi khác trên nước Mỹ, và dĩ nhiên, cũng trước cả ông Hoàng Kim Qui, ông “vua kẽm gai” của miền Nam Việt Nam.

    Nói như thế, nó có nghĩa rằng một thời, thành phố nầy có kỹ nghệ luyện kim. Nói một thời, có nghĩa rằng nơi nầy, nay không còn là thành phố luyện kim nữa. Hầu hết những nhà máy luyện kim đều bị bỏ hoang, sập tiệm hay dời đi đâu đó cả. Nhưng viện đại học Clark ở đây, khá nổi tiếng, là một viện đại học do việc bán cuốc xẻng của ngành luyện kim ở thành phố nầy mà ra.

    Trên Main St, dĩ nhiên, như nhiều thành phố Mỹ khác, là con đường đi qua trung tâm thành phố, viện đại học Clark nằm chình ình ở đó, khá đẹp, khá rộng, với nhiều du học sinh Âu Mỹ cũng có, da vàng mũi tẹt Nhật Bản, Đài Loan, Tầu lục địa hay từ Việt Nam sang cũng không thiếu chi.

    Ngay trong sân trường, trước của chính, tại bồn hoa, tượng đồng ông Sigmund Freud (2), nhà phân tâm học người Đức, ngồi dựa lưng đọc sách, còn uy nghi ở đó. Người ta dựng tượng kỷ niệm một thời ông triết gia nầy, được mời từ Đức sang dạy cho sinh viên ở đây.

    Clark là một viện đại học nổi tiếng vùng Đông Bắc Mỹ, cùng số tuổi với các đại học danh tiếng khác như Havard và Yale, được thành lập năm 1887, sáng lập viên là thương gia Jonas Gilman Clark. Gọi là thương gia cho văn vẻ chứ thật ra ông là người buôn xẻng cuốc.

    Trong thời kỳ Gold Rush, người Mỹ đổ xô về Cali đào vàng, người ta đi nườm nượp, từng người, từng nhóm, từng đoàn xe nối đuôi nhau như người ta thấy trong phim cao bồi. Ông Clark không đi đào vàng. Ông buôn xẻng cuốc bán cho người đào vàng vì không lý người ta đào vàng bằng tay? Nếu như ông Levi bán quần jean cho dân đào vàng mà giàu, thì ông Clark bán xẻng cho dân đào vàng, giàu cũng chẳng kém chi. (3)

    Thôi học từ khi còn trẻ, sau khi tốt nghiệp trung học, cái mộng học vấn ám ảnh và đeo đuổi ông ta nhiều năm, sau khi ông làm đủ nghề để sinh nhai. Trước hết, nói như cách của người Việt Nam chúng ta, là ông làm nghề đóng xe thổ mộ, rồi qua nghề đóng bàn ghế gia dụng, bán bàn ghế, địa ốc và đi dần vào nghề luyện kim. Chính vì cái nghề nầy mà ông dấn thân vào việc buôn xẻng, bán cho người Mỹ đào vàng ở San Francisco. Rồi ông ta trở lại Mass năm 1881, cùng vợ và bạn thân mua đất dựng nên ngôi trường đại học nầy, sau khi ông ta đã đi một vòng châu Âu, tìm hiểu về các viện đại học bên ấy.

    Có hai điều khiến tôi quí trọng ông Clark nầy. Một là công lao của ông trong việc giáo dục ở xứ nầy và hai là cả ông và vợ đều tham gia “phong trào chống nô lệ” (anti-slavery movement). Dĩ nhiên, trong cuộc nội chiến Mỹ, hai vợ chồng ông đứng về phía ông tổng thống Lincoln.

    Đến Mỹ, tôi không ghi tên học ở trường nầy được mà phải học ở Cambridge College, xa nhà những 30 dặm. Tuy nhiên, ông cựu viện trưởng đại học nầy, ông Jackson, một giáo sư về sử học (có bằng cấp và học vị đàng hoàng đấy nhé!, không phải tự phong như vài ông Việt Nam), lại là thầy ESL của tôi khi tôi mới định cư, học tại thư viện ngôi trường nầy.

    Học với ông nầy “vui lắm”. Ban đầu thì ông dạy đúng bài bản: Lật sách, đọc, nghe, văn phạm... Dần dần, các buổi học trở thành việc “đấu láo” giữa tôi và ông, đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Ông ta khoe với tôi: “Năm 1968, khi (tao) làm president ở trường nầy, 50 ngàn sinh viên toàn khắp nước Mỹ, tụ họp về đây để biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. (Tao) đã “gave a speech” (tôi viết lại đúng câu ông ta nói), cùng với 2 ông president khác nữa là 3.” Tôi hỏi: “Ông nói cái gì?” Ông ta bảo: “Đã đến lúc phải chấm dứt chiến tranh VN.” Tôi lại hỏi ông ta: “Ông không nghĩ rằng chiến tranh VN đã góp phần đánh bại khối Cộng Sản, đưa nước Mỹ lên vị trí hàng đầu như ngày nay hay sao?”. “Việc ấy thì đã như vậy rồi!” Ông ta cười khi nói câu ấy với tôi. Có lần tôi lại nói với ông: “Kennedy là một anh chàng (tôi dùng chữ guy) hết sức ẩu tả. Đang làm tổng thống mà lén mọi người đi gặp Marilyn Monroe. Lỡ thằng Krutchov nó bấm hỏa tiển thì sao?”. “Thì chết chứ sao?” Ông ta vừa nói vừa cười (4). Bữa đó, tôi lại nói với ông thầy: “Dòng họ nhà Kennedy dâm lắm. Ông nào cũng có chuyện sex, kể cả ông “Rô bợt”, phải không?”. (Tao) cũng nghĩa vậy!” Ông ta nói. Tôi lại nói: “Tôi nghĩ trên đời nầy, gần như hầu hết đàn ông, dù đã có vợ rồi, vẫn còn có bồ! Đúng không?” “(Mày) nói gần đúng đấy!” Ông ta trả lời. Tôi lại nói: “Ông có biết đạo Phật phân biệt hai cái dâm không? Dâm là sex đấy!” Ông thầy hỏi: “Phân như thế nào?”. Tôi giải thích: “Chính dâm và tà dâm. Vợ chồng ăn nằm với nhau là chính dâm. Người nào “nhảy dù”, sex với người ngoài chồng, ngoài vợ mình là tà dâm.”. “Vâng, đạo Phật nói đúng đấy.” Ông ta bảo. “Tuy nhiên,” tôi lại nói: “Trong việc sex, vợ chồng càng thương yêu nhau, càng khoái lạc đẻ con càng thông minh. Những người say rượu mà ngủ với vợ là không đạt được cái đó, sinh con thường ngu đần.” Ông thầy tôi cười: “Lần đầu tiên (tao) nghe nói tới cái khoái lạc đó. (Tao) cũng cho là có lý.” Tôi cười: “Vậy thì bây giờ y khoa người ta có một ngành học mới. Thay vì tâm sinh lý (psycho-physiology) thì bây giờ có một ngành mới: sex-tâm lý (sex-psychology). Đúng không?” Cả ông ta và tôi đều cười. Đại loại là những câu chuyện như thế, nhưng có hôm ông ta bảo tôi: “(Mày) thấy không, các tòa nhà của viện đại học nầy không phải để làm trường học. Nó là kiểu kiến trúc của một cái hãng gì đó, sau mới mở viện đại học.”

    Ở Việt Nam thì bây giờ “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”. Cha mẹ cố làm giàu, dù phi pháp cũng được, để có tài sản để lại cho con thụ hưởng, ăn chơi. Xứ Mỹ thì khác. Con cái ít khi muốn thừa hưởng tài sản cha mẹ để lại bởi chúng có tinh thần độc lập, tự lập. Cha mẹ cứ làm giàu thật nhiều, khi chết thì đem cho từ thiện. Trường hợp ông Clark cũng không lạ ở cái xứ Mỹ nầy.

    Mặc dù định cư ở đây đã lâu, tôi thấy ít gắn bó với nó. Càng đi Cali nhiều lần, tôi càng thấy rõ điều đó.

    Tại sao vậy?

    Tại vì người Việt ở đây khác người Việt Cali? Dĩ nhiên. Không có người Việt ở nơi nào, trên đất Mỹ, giống người Việt ở nơi nào! Người Việt ở San José khác với người Việt ở Orange County, cả hai nơi nầy cũng khác với người Việt ở Houston, và lại khác với người Việt ở xứ tôi.

    Xóm tôi ở “toàn là Mẽo”, như tôi thường nói đùa. Nhà bên phải là của một ông già gốc Nga, theo cha mẹ chạy sang đây từ cái gọi là “Cách mạng tháng Mười”. Bên trái là nhà một ông Ba-Lan, chạy qua Mỹ từ sau vụ nổi loạn ở cảng Poznan, và xa hơn nữa, bên phải cũng như bên trái đều “mắt xanh mũi lõ”. Người Mỹ lịch sự, nhưng “vô tình”, nói theo văn hóa người Việt!

    Nhưng liệu người Việt ở với nhau có tình chăng?

    Một người quen than với tôi: “Nó (Nó là anh hàng xóm, gốc ở hòn Tre, hòn Đầm, hòn Heo gì đó...) sau 5 ngày làm lụng vất vả, tới chiều thứ sáu, ra khỏi hãng là dong chạy xe tuốt xuống Connecticut (chỗ có sòng bài). Khuya thứ Bảy mới về. Sáng chủ nhựt, sáu bảy đứa họp nhau lại nhậu, hát caraoke um sùm, tới đêm mới chịu đi ngủ để sáng hôm sau bắt đầu lại “một tuần như mọi tuần. Ông (tức là hỏi tôi) có chịu nỗi không?”

    Người Mỹ ở xóm tôi, phần đông gốc gác ở Ái Nhĩ Lan, Nga hay Ba Lan, v.v... Có người qua Mỹ đã mấy đời, có người mới qua một hai đời, nhưng không ai còn nói tiếng mẹ đẻ của họ, nhất là những người thế hệ thứ hai, chẳng biết mô tê gì về bản quán của họ cả. Như vậy là không nên. Biết thêm một sinh ngữ là thêm nhiều điều bổ ích. Đó là nói tới thực tế của cuộc sống. Còn như ai không nói được tiếng mẹ đẻ, là coi như đã mất hết một nửa mẹ của mình rồi đó. Ít ai nghĩ như vậy phải không, bởi vì người ta không nghĩ tới cái tình cảm thiêng liêng của người mẹ thương con hay chăng? Hay người ta mang cái mặc cảm dân Mít. Mới thế hệ thứ 1 rưởi, thứ 2 mà nhiều người không nói được tiếng Việt, vậy mà vẫn cứ nghĩ mai kia về lại Việt Nam làm ăn? Làm ăn cái gì nhỉ? Mấy người con ông bà Nhu không nói được tiếng Việt. Trong nhà vợ chồng, cha mẹ, con cái chỉ nói với nhau bằng tiếng Pháp. Vậy khi nhà Ngô còn thịnh thời, họ có nghĩ đến việc cha tuyền con nối không nhỉ? Không lý trao quyền lãnh đạo dân tộc Việt Nam cho một người không biết tiếng Việt?

    Cái cảm tưởng của tôi khi rời Little Saigon về lại đây, sao không thấy xúc động một chút nào cả. Khác với ngày trước, mỗi lần từ Saigon về Huế, chưa bước chân lên máy bay là “lòng đã thấy nôn nao khó ngủ”. Khi phi cơ hạ cánh xuống phi trường Phú Bài, lòng tôi sao rộn ràng thế?! Rõ ràng cái cảm tưởng của tôi là “Trở về”, là “về Huế”, về miền Trung, là về lại cố hương. Trong trí tưởng của tôi, không hẵn chỉ có sông Hương hay sông Thạch Hãn, không hẵn chỉ có núi Ngự hay núi Mai Lĩnh, mà còn lũy tre làng trải dài, là bãi cát vàng nằm im ở bên kia sông. Cái náo nức của người trở về, khi thấy lũy tre làng hiện ra phía xa xa, thường được mô tả trong văn chương, sao hiện ra rõ ràng trong lòng tôi lúc đó vậy?

    Mai đây, khi tuyết xuống che trắng những đồi thông, che trắng những con đường ngang dọc, thì tôi lại ngồi bên lò sưởi để nhớ lại những hình ảnh, những bè bạn, những người thân quen ở Little Saigon hay ở một nơi chân trời góc bể nào đó, và niềm hoài vọng xa xôi lại hiện về trong tâm khảm, như những cuốn phim nối tiếp nhau, với những hình ảnh, những con người, những tiếng nói, tiếng cười tiếp nối nhau, chẳng bao giờ dứt.

    Tôi không có niềm vui như Anatole trong Pensée d’ Automne rằng “tôi ngồi bên lò sưởi để sưởi cho khô những vệt bùn lành của con đường, giọng mưa buồn buồn đã giữ tư tưởng tôi trong một giấc mơ buồn và tôi suy nghĩ: “Thế nào cũng phải lên đường.”

    Cái buồn khi mùa đông giá đang tới đâu có phải chỉ một mình Anatole mới có. Khi “mùa thu rung đôi cánh dưới bầu trời chập chùng” thì nhìn cảnh thu, ai cũng buồn cả. Mỗi người có một nỗi buồn riêng, và một nỗi buồn chung: Sự đổi thay của cảnh vật!

    Vậy, ngoài nỗi buồn riêng, tôi cũng có một nỗi buồn chung với thiên hạ, và những cái chung - riêng khác nữa. Khi mới định cư ở xứ người, ai cũng mang nỗi buồn tha hương như ai, nỗi buồn của những kẻ cô đơn nơi xứ người, không có ai tâm sự, không có ai, như bà Huyện Thanh Quan: “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?!” Cũng có kẻ ra đi một thân một mình, để lại vợ con hay người yêu “bên ấy” và cũng buồn, cũng lo như Hàn Hủ rằng: “Chương Đài liễu, Chương Đài liễu, Tích nhật thanh thanh kim tại thủ, Túng sử trường điều tự cửu thùy! Dã ưng phan chiết tha nhân thủ” hay đã bị Dziệt Cộng làm cho héo rủ ra rồi. (5). Nỗi buồn riêng của tôi là nỗi buồn chung với bà con, anh em, bạn bè còn lại ở Little Saigon. Nơi đây là xứ người, mà “xứ người thì biết hát với ai? Hát với trăng ư? Trăng lặn rồi.” Và khi trở về đây, không như khi tôi ở Sài Gòn trở về miền Trung, về với quê hương mà về nơi xứ người. Về “xứ người thì biết hát với ai?” như Hương Lan hát vậy!

    Anatole bảo “Thế nào cũng phải lên đường!” Có nghĩa là ông ta sẽ rời bỏ vùng quê để lên thủ đô Paris. Tôi thì làm ngược lại. “Khi mùa thu rung đôi cánh dưới bầu trời chập chùng” thì tôi lại bỏ thủ đô để về lại một vùng xa xôi, một vùng quê, không phải là quê hương bản quán của tôi.

    Suy cho cùng thì dù ở Little Saigon hay nơi nào đó trên địa cầu nầy, kẻ đã “tha hương” là đã mất quê hương bản quán. Ước vọng trở về cố hương là ước vọng chung của nhiều người, điều người ta thấy rõ trong truyện Kiều “Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.” Chính cái ước vọng đó đã khiến cô Kiều trở thành người phản bội Từ Hải, khi cô Kiều khuyên Từ Hải ra hàng.

    Về ước vọng nầy, tôi cũng đã thưa cùng bạn bè khi tôi đến thăm Little Saigon, khi nói tới việc ông Kỳ về Việt Nam.

    Tôi không rõ ông Kỳ là người như thế nào nên tôi không biết ông Kỳ yêu nước yêu nôi như thế nào! Yêu nước thì ai chẳng yêu. Thằng bé ăn xin người Ý trong “Grand Coeur” của De Amicis cũng rất yêu tổ quốc của nó nữa là, huống chi ông Kỳ, tổ quốc đó cho ông ta rất nhiều mà ông ta yêu nước được bao nhiêu? Cái ông Kỳ được lớn hơn cái đóng góp của ông quá nhiều. Và tôi cũng không nói chi tới tư cách của ông Kỳ vì tôi có hồ nghi cái “thế giới tị nạn” nầy, không ít người ưa cầm cọ sơn đen người khác để cho mình sáng lên, do cái “bệnh lãnh tụ” mà ra. Tôi không bênh ông Kỳ trong việc ông bỏ bà nầy, lấy bà kia, hay “chôm” tiền người nọ.

    Nhưng cái “miệng mồm” của ông Kỳ khiến ông ta được khen cũng nhiều, mà chê cũng không ít. Oan nghiệt là do ở cái miệng hay nói trong khi óc não không chịu làm việc, như tục ngữ thường nói “Thần khẩu hại xác phàm”. Miệng ông Kỳ thì không có thần mà xác ông thì phàm tục lắm.

    Sau khi hai anh em ông Diệm Nhu bị giết, đạo Phật lại mạnh lên. Và thế là người Mỹ sợ! Tài chánh của chính quyền miền Nam do Mỹ viện trợ, chấm dứt viện trợ thì chính quyền miền Nam coi như “sập tiệm”. Mỹ nắm mấy ông tướng đương quyền là coi như nắm lấy quân đội. Còn nhân dân? Tín đồ Phật Giáo là đa số, Bắc - Nam - Trung thống nhất một mối. Liệu người Mỹ có để yên, để “khó nắm” chính quyền miền Nam? Chia rẽ là chính sách cai trị đã có từ muôn đời: Phe chùa Xá Lợi “vô can”, phe Việt Nam Quốc Tự có chùa Vĩnh Nghiêm sợ Dziệt Cộng mà di cư, và phe Ấn Quang. Hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang chống nhau, thậm chí vác cả dao gậy đánh nhau trối chết! Phe Ấn Quang lui về Huế “cố thủ”, thậm chí có cả tướng lãnh, quân đội tham gia chống chính quyền trung ương. Ai dẹp được vụ nầy? Phải có một người “điếc không sợ súng”, hay nói theo Tổng Thống Thiệu, phải có “con người của thời cuộc” ra làm việc ấy.

    Đối với giới trí thức Huế, nhất là với sinh viên học sinh, họ không “mặn nồng” lắm với “Hội đồng Nhân dân Cứu quốc” và họ cũng đã hoan hô tướng Kỳ khi ông ta nói chuyện với họ tại rạp Hưng Đạo: “Xưa Kinh Kha sang Tần không về. Ngay hôm nay, khi rời khỏi nơi nầy, Kinh Kha sẽ lái máy bay sang oanh tạc đất Tần và Kinh Kha sẽ trở về!” (Hội trường vỗ tay hoan hô).

    Nói cho thật lòng, không phải ông Kỳ không làm được việc: Nền “Kinh tế cao bồi” bắt thăm trúng tên Tạ Vinh đem xử bắn ở chợ Bến Thành làm cho giá gạo xuống ngay. Hữu sản hóa xe Taxi cho người lái Taxi, bán xe Lam cho người lái xe Lam, công chức quân nhân mua góp xe gắn máy, v.v...

    Những người cộng tác trong chính phủ ông Kỳ phần đông là người giỏi: Giáo Sư Âu Trường Thanh, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ, Giáo Sư Nguyễn Hữu Hanh, v.v... và khác với ông Thiệu, ông Kỳ rất chịu nghe lời các cố vấn.

    Nhưng, như người ta có nói: “Cái đầu của ông Kỳ là ông Loan.” (6) nên khi ông Kỳ họp ở Hội Đồng Quân Lực, không có ông Loan ngồi bên cạnh, và khi thấy Tướng Lãm gở “loon” bỏ xuống bàn, tuyên bố quân đội chia rẽ thì ông Kỳ hoảng vía. “Người điếc” bỗng nghe được “tiếng súng” nên chịu đứng chung liên danh 9 với ông Thiệu. Vậy thì cho rằng ông Kỳ là người có bản lãnh, can đảm, cương quyết sao đươc? Ông Kỳ trượt chân xuống dốc từ đó cho đến ngay ông qua đời.

    Thành ra những gì ông Kỳ nói sau đó, sau khi tướng Loan bị “bay” cái đầu gối trong tết Mậu Thân, phần nhiều là nói... bậy, ai nghe mà chịu được! Mối quan hệ giữa Kỳ và Loan cũng không thấy nối lại, sau khi cả hai người đều lưu vong. Cũng vì vậy, suốt bao nhiêu năm ở Mỹ, ông Kỳ vẫn là người không có cái... đầu.

    Cái tư cách của ông Kỳ khi ở Mỹ bị người ta phê phán nhiều. Tuy nhiên, cũng không thể căn cứ trên những phê phán đó để phê phán ông Kỳ. Dư luận mà, nhất là “dư luận ở hải ngoại” nầy biết đúng sai như thế nào mà tin được. Và chuyện ông Kỳ về Việt Nam để “kiếm ăn”, để làm cò mồi cho tư bản Mỹ, ai mà biết chắc, biết rõ được để lên án. Tư bản thì cái gì có lợi mà không làm, biến ông Kỳ thành tay sai cũng là việc bình thường. Nhưng ông Kỳ nói ông vì đất nước mà về, người ta có tin được không? Ông ta khoe rằng ông đã “cứu” được nghĩa trang quân đội Biên Hòa, ai tin thì tin, nhưng thực tế, thì thân nhân người chết bây giờ có thể vào đó thắp nhang, sửa sang phần mộ cho tử sĩ được rồi đấy. Việc đó nhờ ai mà có? Có phải nhờ ông Kỳ không? Nếu ông Kỳ làm được việc ấy thật thì so với ông Mai Thanh Lương ở Cali, cho rằng dẹp bỏ nghĩa trang QĐ Biên Hòa đi là đúng vì “nó chiếm đất nhiều quá”. Người ta nên lên án ai cho đúng đây?!

    Ông “Cung củ đậu” kể rằng lần đầu tiên ông Kỳ về Việt Nam, trong khi ông Kỳ đứng nói chuyện với người đưa tiễn thì có một anh chàng Mẽo đến hỏi ông Kỳ hành lý ở đâu để người nầy đem gởi ở quầy?

    Ý ông “Cung củ đậu” muốn nói ông Kỳ về VN là do Mỹ sai hay sao? Mỹ nào sai? Mỹ CIA hay Mỹ tư bản? Mỹ nào cũng vậy thôi, cũng chỉ là tay sai!

    Trên bình diện nào đó, người ta vẫn phải suy nghĩ về việc ông Kỳ về Việt Nam, nếu người ta không hoàn toàn định kiến ông Kỳ chỉ là người làm “cò mồi” cho mấy tay tư bản bỏ tiền ra kinh doanh tại VN. Không lý ông Kỳ tệ đến như thế sao?

    Có khi người ta cũng đặt câu hỏi về ông Nguyễn Xuân Oánh, ông Nguyễn Văn Hảo ở lại VN sau 30 tháng tư. Sau 10 năm ngất ngư sắp chết, Dziệt Cộng vội vàng “đổi mới.” Anh Nguyễn xuân Quỳnh, sui gia với anh chị tôi, qua cái sui gia đó, gọi “Cậu Hải tới chơi” và hỏi tôi có biết gì về “Chương trình Stanley - Thúc”. Vì lý do cá nhân, tôi từng gặp giáo sư Vũ Quốc Thúc, và tôi có biết gì về cái “Chương trình phát triển kinh tế hậu chiến” ấy chút chút! Và vì tò mò, tôi có đọc một số tài liệu về chương trình ấy, như việc phát triển khu tam giác kinh tế thương mại giao thông Vũng Tầu – Biên Hòa - Saigon, chương trình xây dựng đường xe lửa Dăk Nông – Vũng Tầu (để chở quặng Bô-Xít – Mõ nhôm nầy phát hiện từ thời Tây thực dân) hay phát triển ga xe lửa Saigon thành 5 tầng lầu, từ Bình Lợi vào Saigon, tới tận kho Tân Thuận, xe lửa chạy theo hai đường vào ra ở trên tầng cao, v.v...

    Anh Quỳnh biểu tôi viết lại những cái ấy, nhớ chừng nào viết chừng đó vì ông ấy cần, vì “có sự hợp tác với ngoại quốc”. Tôi cũng được anh Quỳnh cho biết thêm: “Ông Oánh đã tập họp được một số giáo sư và sinh viên Luật của Saigon cũ” để làm chi? Để vẽ đường cho hươu chạy? Để chửa cháy cho Dziệt Cộng?, để đi cho “đúng đường đi của Đế quốc Mỹ.” Anh Quỳnh xuất thân từ Haute Commerce bên Tây về, từng làm cố vấn cho tổng thống, từng làm Tổng Giám đốc Viễn Đông ngân hàng. Họ đang làm gì đây, làm như các sinh viên cũ của họ, đang giúp Bà Ba Thi, cứu dân Saigon khỏi nạm đói năm 1985, sau “Mười năm giải phóng”, Saigon đang đứng trước nguy cơ “Saigon đói to” như người ta từng dự kiến?

    Thành ra chuyện ông Kỳ về đúng hay sai? Nên hay không nên?

    Thật ra, trước ông Kỳ, cũng đã có “nhiều ông chế độ cũ” đã về rồi. Ông Phó Bá Long, ông Nguyễn Hữu Hanh. Có người bị phê phán “theo đuôi Dziệt Cộng”, có ông không! Tại vì sao?

    Ông Nguyễn Hữu Hanh về Việt Nam nhiều lần mà có ai phê phán gì đâu? (7). Ấy là tại sao? Tại vì ông Hanh thì mang theo cái đầu, còn ông Kỳ thì mang theo cái miệng. Cái miệng buộc cái thân, tạo ra cái “Khẩu nghiệp!”

    Người xưa nói “Cái quan định luận”. Đóng nắp quan tài lại thì mới phê phán người ta. Quan tài ông Kỳ đóng lại rồi nhưng chưa định luận được. Nói theo nhà Phật thì cái khẩu nghiệp của ông chưa dứt! Nói theo thời thượng chính trị thì ông Kỳ còn mang một vài bí ẩn chính trị nào đó, cái đó chưa rõ thì luận định thế nào được chứ?!

    Điều đang buồn chính là ông Kỳ tự xưng ông là “con Phật”, nôm na là con cầu tự. Mẹ ông “cầu tự” mà sinh ra ông. Không rõ ông ta đã làm gì cho mẹ ông vui lòng. Tuy nhiên, cửa chùa (tôi không gọi là cửa Phật) đã không rộng mở cho ông, nên con cái ông phải đưa (bài vị) ông ra... vườn hoa. Ông Kỳ đâu còn nhỏ dại gì nữa mà hát bài “Ra vườn hoa em chơi...” Chẳng qua, cũng vì sợ cái thùng phước sương bị lưng đi mà ông Kỳ không được vào chùa. (8)

    Việc ông Kỳ về VN rồi tuyên bố vung vít làm cho không ít người phải suy nghĩ và cũng có người đau lòng nữa đấy. Một miền Nam chiến đấu kiên cường hai mươi năm để bảo vệ tự do, mà lại có một nhà lãnh đạo tư cách và trình độ như thế, có phải đó là điều đau lòng chăng? Những người đã chiến đấu và hy sinh một cách can trường và anh dũng, liệu họ và chúng ta nữa, có đau lòng chăng khi chúng ta một nhà lãnh đạo tư cách và ý chí như thế?
    Nhưng mà về? Có nên về không? Về để làm gì?

    Khi “giết” Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt cấu kết, gây áp lực với Mỹ để VNCH chết như thế nào có lợi nhứt cho chúng! Cái lợi đó là gì? Bớt hao tốn xương máu vì nếu quân đội VNCH chống tới cùng thì sao? Làm sao Saigon còn nguyên vẹn với tất cả công nghiệp, thương nghiệp, giao thông không bị phá hủy, (không như quân Tầu Cộng đánh dọc 6 tỉnh biên giới thì tất cả thành bình địa), v.v... Mỹ đã “ép” miền Nam làm sao cho thỏa mãn đòi hỏi của Bắc Việt: Ông Khiêm thôi làm thủ tướng, ông Thiệu từ chức, ông Hương cũng phải từ chức, để “cái chức tổng thống đâu có phải là cái khăn mù-soa” trong túi mà muốn đưa cho ai thì đưa?” (Lời cụ Trần Văn Hương). Cuối cùng cái “mù-soa” ấy phải trao cho ông Minh để ông Minh đem “lau mũi” cho Dziệt Cộng. Nhìn chung, VNCH đã đi vào một cái chết đúng như ý Bắc Việt muốn.

    Vậy thì bây giờ Dziệt Cộng sắp chết chưa? Có nên để nó tự chết một mình, không ai sắp đặt, can dự tới, để nó trở thành một cái xác thối và làm ung nhọt khắp nước VN, từ Bắc chí Nam hay sao? Người ta phải sửa soạn cho nó một cái chết như thế nào đó để nó bớt thối, bớt ghê tởm, bớt kinh hoàng, bớt gây ung thối xã hội VN?

    Vậy thì phải có người về chứ? Về ồn ào như ông Kỳ hay lặng lẽ như ông Hanh? Về bằng cách nào có lợi cho đất nưóc nhứt, cho dân tộc nhứt. Nói như thế thì phải có người về, nên về, chuẩn bị một cái chết Dziệt Cộng và xây dựng một sức sống mới cho dân tộc. Điều đó, người ta có muốn tránh cũng không tránh được, có muốn trốn cũng không trốn được. Đó là trách nhiệm vậy.

    Tôi nói “đùa” với một người bạn thân là cháu ông tổng thống Thiệu: “Giả tỉ như ông Thiệu còn sống, ông cũng phải nghĩ đến cái chết sắp tới của Dziệt Cộng, ông muốn sắp đặt một cái chết cho tụi nó làm sao ít tệ hại nhứt. Và ông Thiệu nói với anh, ổng chưa về được. Anh hãy về trước đi mà lo công việc. Anh từ chối được không? Vậy là anh phải về. Thiên hạ sẽ chưởi um lên rằng anh là tên phản bội, tên thiên cộng, tên tù cải tạo quên mình từng là tù. Anh sẽ nói gì, hay không nói được gì, đành ngậm miệng mà về. Phải không?” Người bạn tôi chỉ cười.

    Ngay từ lúc nầy, ai có tấm lòng với đất nước, với đồng bào, không vì danh vọng, tư lợi cá nhân, cũng phải về thôi. Đứng ngoài nầy mà la lối ích lợi sẽ không được bao nhiêu?!

    Nhưng về Việt Nam là về với ai?

    Dĩ nhiên là về với Dziệt Cộng.

    Về với Dziệt Cộng sẽ không làm được cái gì đâu. “Tụi nó” ngoan cố lắm. Quyền lợi mà! Ba mươi năm chiến tranh, Dziệt Cộng tốn hao biết bao nhiêu xương máu mới giành được chính quyền, cai trị từ bắc chí nam, là nắm lấy cái quyền lợi cai trị đất nước, là làm vua, làm quan, bước lên hàng giai cấp thống trị, là nắm lấy “tiền rừng bạc biển”, liệu “tụi nó” có chịu buông hay không?

    Về với Dziệt Cộng không hẵn là nói chuyện, “làm việc” với bọn chóp bu ở Hà Nội: “Nay các anh ngất ngư rồi, hấp hối rồi, các anh phải chọn cái chết như thế nầy, chết như thế kia.” Không có con đường nào sống, không còn cách chi cứu đảng, chỉ có chết mà thôi. Phải chết như vầy, chết như kia. “Tụi nó” có tin không? có nghe không? “Chúng nó” vẫn tin rằng chúng nó sẽ sống mãi, chưa chết, sẽ không chết, bởi vì “chúng nó” tin “chúng nó” còn Tầu, còn Mỹ, còn thế giới tư bản. “Chúng” sẽ đánh xiệc, đu giây để tồn tại, tự tin ở khả năng, tài ba của “tụi nó”. Tầu không muốn “tụi nó” chết, để “tụi nó” sống mà làm tay sai cho Tầu. Mỹ không muốn “tụi nó” chết để làm cục đá cản đường Tầu bành trướng về phương nam.

    Nhưng trào lưu thế giới hiện nay là Tự Do, Dân Chủ... Dân chúng Bắc Phi, dân chúng Trung Đông đã đứng lên rồi. Các chế độ độc tài bên đó lần lượt sụp đổ như đê vỡ. Ngọn gió cách mạng thế giới đang thổi tới Việt Nam. Nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên.

    Dziệt Cộng biết việc đó, và “tụi nó” đã chuẩn bị từ... nửa thế kỷ trước.

    Năm 1946, “toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập”. Cộng Sản tạm dùng các phần tử tiểu tư sản, tư sản để làm cán bộ trung cấp, cao cấp cho cuộc kháng chiến. Sau bốn năm năm đánh nhau với Pháp, Dziệt Cộng đã đào tạo được nhiều cán bộ từ giai cấp vô sản. Khi đã có được cán bộ từ “thành phần cốt cán”, Dziệt Cộng dần dần loại trừ những cán bộ không thuộc giai cấp vô sản, cho biên chế, đuổi về, bỏ tù, giết...

    Quan trọng nhứt là thành phần vô sản theo đảng, theo cách mạng bao nhiêu năm, hy sinh bao nhiêu xương máu, để được cái gì? Dễ lắm, chia cho chúng tài sản của người giàu: Cải cách ruộng đất, tiêu diệt giai cấp địa chủ. Thực chất của Cải Cách Ruộng Đất là cướp của. Lấy của nhà giàu đem cho người nghèo theo đảng. Bọn Chí Phèo, thị Nở, bọn Bối - Đình - Cự và chuỗi của của chúng (9 –Ba Người Khác), chia nhau từng cái áo, cái quần, cái chén, cái bát, cái giường, chiếc chiếu, con trâu, con gà, ruộng đất của địa chủ.

    Sau Hiệp Định 1954, dân Hà Nội, dân Nam Định, Hải Phòng,v.v... bỏ đi Nam đông lắm. Vậy là bọn vô sản theo đảng, phần đông (không phải là dân Hà Nội hay các thành phố lớn ngoài Bắc), - kéo nhau vô Hà Nội và các thành phố lớn mà ở.

    Làm gì còn “dân Hà Nội của đất nghìn năm văn vật”, làm gì còn “dân Hà Nội thanh lịch”. Người ta đi Nam hết rồi. Nhà của họ để lại, bọn vô sản theo đảng vô đó mà ở. Thiếu nhà? Dễ thôi: Đánh tư sản, đày đi vùng kinh tế mới, đày dân tư sản không đi Nam lên vùng mạn ngược để biết thế nào “Lao đông là vinh quang”..

    Bọn vô sản nầy số lượng là bao nhiêu?

    “Cải Cách Ruộng Đất” đã “giải phóng” 2 triệu "hộ" gia đình. Đó là theo thống kê của Dziệt Cộng. Hai triệu "hộ" tính ra là bao nhiêu người (nhân khẩu)? Nếu tính mỗi hộ có 4 người (hai vợ chồng, hai đứa con) thì tất cả là hơn tám triệu người. Tám triệu người trên tổng số dân chúng Bắc vĩ tuyến 17 là 18 triệu người.

    Chính bọn nầy đã đóng góp người và của để “chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”. Vậy thì sau khi chiếm miền Nam xong, số người nầy phải được thưởng công chứ! Tức là chúng được “chi viện cho miền Nam” (trên danh nghĩa) nhưng thực tế là chiếm đoạt, hưởng thụ tài sản của dân chúng miền nam như chiếm nhà, chiếm xe, máy móc, đất ruộng... bằng ngụy danh tịch thu “tài sản của Mỹ Ngụy”, bằng “đánh tư sản”, tịch thu tài sản nhà cửa của “bọn phản động trốn ra nước ngoài” (như vượt biên...), cho vô trại cải tạo, v.v...

    Khoảng cuối năm 198, nữ nghệ sĩ Thúy Quỳnh gặp một bác sĩ “ngụy” còn ở lại làm việc tại bệnh viện Chỡ Rẫy, nói: “Sau năm 1954, dân Hà Nội đi Nam hết. Rồi đây, Sài Gòn của anh cũng sẽ giống như Hà Nội, dân Sài Gòn đi hết”.
    Sau 1975, có bao nhiêu dân Bắc kỳ 75 “chi viện” cho miền Nam. Có người bảo ít nhứt là 5 triệu, có người bảo đông lắm, tới 10 triệu! Bây giờ họ chiếm hết quận 1, quận 2 (cũ) Saigon. Khó tìm thấy “dân Saigon cũ” ở hai quận đó. Dân “Bắc kỳ 75” ở trong những ngôi nhà tịch thu của “Mỹ ngụy”, của dân di tản, dân vượt biên. Đuổi đi “kinh tế mới” chính là một phương cách cướp nhà của dân Saigon cũ. Thành phố Saigon thì còn đó, nhưng dân Saigon thì không còn, giống như Hà Nội sau 1954 vậy.

    Vậy thì bây giờ ở Sài Gòn, Hà Nội, ai sẽ đi biểu tình chống Trung Cộng, chống tham nhũng. Người dân Sài Gòn cũ, muốn cầm biểu ngữ đi biểu tình, chưa ra tới đầu hẽm thì đã bị dân Bắc kỳ 75 đè cổ cướp mất biểu ngữ rồi.
    Vì vây, việc biểu tình chống chính phủ, chống Tầu cộng phải phát xuất ngay từ trong nội bộ của giai cấp thống trị mới, phải từ mâu thuẫn nội bộ của chúng. Đó là mâu thuẫn quyền lợi, ăn nhiều, ăn ít, tham nhũng nhiều, tham nhũng ít, mâu thuẫn quyền lực, tranh nhau chức to, chức nhỏ. Còn mâu thuẫn lý tưởng? Mâu thuẫn giữa độc tài và tự do, giữa chủ nghĩa cộng sản và “chủ nghĩa tự do”, giữa “thế giới cộng sản” và “lý tưởng quốc gia”! Được bao nhiêu người có lý tưởng như vậy để có thể thành một phong trào, điều đó để độc giả suy đoán lấy.

    Mâu thuẫn căn bản bao giờ cũng là kinh tế: Giàu nghèo, sang trọng no nê, phè phởn và nghèo hèn, đói rách. Cộng sản biết lợi dụng cái mâu thuẫn căn bản để cướp chính quyền. Rồi ra, cũng chính vì điều mâu thuẫn căn bản ấy mà Cộng Sản sẽ bị đánh đổ. Lịch sử cho chúng ta thấy điều đó không bao giờ sai!

    Biết nắm lấy nó để đánh đổ Cộng Sản là cách nhìn, cách làm của các nhà “Cách Mạng tương lai” của đất nước chúng ta.

    Thật ra không phải ai ai cũng về, nhặng xị lên mà có ích chi?! Chúng ta, sau bao nhiêu năm chiến đấu (thật sự), nay việc ấy đã qua rồi. Bây giờ là lúc chăm sóc con cái học hành đổ đạt, kỹ sư bác sĩ, chuyên viên, v.v... và dạy cho chúng có tinh thần, có trách nhiệm đối với tổ quốc, dân tộc, chớ không phải “chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu giàu bền, còn việc nước việc đời không can hệ gì tới mình cả. Như thế gọi là sống thừa.” (Mạo hiểm, Nguyễn Bá Học). Nếu được như thế con cháu chúng ta sẽ về. Đất nước rồi ra sẽ nghèo lắm, có bao nhiêu tài nguyên bán sạch rồi. Chất xám của con cái chúng ta sẽ là tài sản của đất nước, của dân tộc. Đó là tài sản duy nhất dân tộc ta có, sẽ làm cho đất nước giàu mạnh.

    &

    Nhưng việc tôi đi Cali lần nầy không phải để bàn ra tán vào những chuyện “vô bổ” như thế. Lịch sử rất vô tư, và những con người như thế, lãnh tụ như thế, lịch sử sẽ phán xét họ. Nó không phải là việc của tôi. Việc của tôi là việc đi thăm đồng hương, nó “tình nghĩa” hơn, thiết thực hơn.

    Cỡ gần một chục năm nay, sau khi nghĩ hưu, tôi có thì giờ nhiều hơn và đi thăm “đồng bào Quảng Trị tui” cũng nhiều hơn. Càng không thể về Việt Nam được, càng không về cố hương, chúng tôi (tôi và nhà tôi) càng đi thăm đồng hương hiện đang định cư ở hải ngoại nhiều hơn, bởi vì “đi thăm đồng hương Quảng Trị cũng có nghĩa là về thăm Quảng Trị”. Ông Trần Đạo Đông tổ chức “đồng hương Quảng Trị họp mặt” ở Phila, thế là chúng tôi đi, rủ bạn bè cùng đi. Ông Nguyễn Hứa Thảo, ông Ngô Ngọc Hồng tổ chức “họp mặt Liên trường Quảng Trị” ở Houston, chúng tôi cũng không thiếu mặt. Đi Houston như thế là 3 lần. Còn Cali thì không còn nhớ tới mấy lần, bạn bè xa cách từ bốn, năm chục năm, bây giờ thì “nhẵn mặt”. Không cần gởi thư mời hay thông báo, “tụi nó” - tụi nó là ban tổ chức, là mấy “đứa bạn thân thiết”, cũng biết chắc chúng tôi sẽ về.

    Lần nầy thì “Họp mặt Nguyễn Hoàng” trong nước và “thế giới”, không phải là “thế giới ta bà” mà họ từ Paris, từ Melbourn, từ Canada, từ các nơi trên thế giới nầy về. Điều đó là sự thật chớ không phải dùng chữ cho “nổ” đâu! Nhưng một vài bạn bè của tôi lại không chịu mấy chữ “Họp mặt Nguyễn Hoàng.” “Tui học ở đó, khi trường nầy chưa có tên Nguyễn Hoàng” cho nên “tui không muốn đi”. Sá chi ba cái lặt vặt đó. Tui cũng thuộc loại học trò “Nguyễn Hoàng chưa sinh”, và vợ tui thì không là Nguyễn Hoàng bao giờ. Nhưng đi thì cũng cứ đi, vì “Đi Cali tức là về thăm Quảng Trị”, bởi vì Cali có “rất nhiều Quảng Trị”, từ các ông bà “cụ lão”, rồi tới “ông bà lão”, tới “người già”, “người lớn tuổi”, “người trẻ”, và “con nít” cũng không thiếu chi.

    Về Cali để nghe người ta hát, người ta đọc thơ. Văn nhân thi sĩ, nhạc sĩ không thiếu chi vì Quảng Trị không thiếu chi người tài hoa, và cũng không ít người không phải Quảng Trị mà cũng mượn cái diễn đàn đó để trổ tài của mình. Với chúng tôi thì không hẵn vì thế, mà chỉ để thăm bạn bè, như vợ tôi nói: “Con nớ rứa mà đã bảy mươi rồi đó.” Con nớ tức là bạn của cô ấy khi tôi chưa gặp cô ấy, hay mấy “thằng bạn” của tôi, bạn từ thuở tuổi ấu thơ, gọi nó bằng “thằng”, bằng “mi tau” thì thấy dễ quá, “ngọt” quá, mà gọi “anh tôi” thì thấy miệng ngượng ngùng.

    Tôi vốn dĩ là một “thằng học trò” ham chơi hơn ham học, bị lũ bạn ngày ấy đã mắng là “thằng lãng tử”, từ đấu phố tới cuối chợ, từ Ga xe lửa tới chợ Sãi, từ làng Trí Bưu tới làng An Đôn, Nhan Biều, không nơi nào là tôi không có bạn chơi. Thì bây giờ “tụi nó” là một đám đông đúc ở Cali đấy, hoặc “chúng nó” nhân dịp nầy cũng về, có dịp không đi sao được. Cần chi có Nguyễn Hoàng với không Nguyễn Hoàng.
    Tôi nói đùa với lũ bạn ấy:

    Khi tao tới, Nguyễn Hoàng chưa sinh
    Khi tao đi, Nguyễn Hoàng chưa sinh.
    Khi tao về, Nguyễn Hoàng cũng chưa sinh
    Vậy tao là “đàn anh Nguyễn Hoàng”
    Nguyễn Hoàng là “hậu sinh...”
    Dù “...khả úy” hay “khả uế”,
    Gặp Nguyễn Hoàng tao cũng kinh

    Nói tới Nguyễn Hoàng là phải nói tới công lao các vị lập ra ngôi trường ấy, từ thuở ban đầu.

    Sau cái gọi là “toàn dân kháng chiến”, bội đội Việt Minh rút ra khỏi các thành phố, để cho Tây chiếm đóng một cách dễ dàng. Trước các hành động hung hãn và tàn ác của Tây, giết người, đốt nhà, lấy của, v.v... cụ Trần Văn Lý, quê ở Hải Lăng Quảng Trị, đứng ra lập “Hội đồng Chấp chánh Lâm thời” để giúp ổn định tình thế, ngăn chận bớt sự tàn ác của lính Tây. Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế-Thừa Thiên, Quảng Nam, Hội An lập chính quyền dân sự Việt Nam. Cụ Đốc Hoài, trước 1945, có thời làm “quan đốc học” tỉnh Quảng Trị, ra làm tỉnh trưởng. Không thể để cho “bọn trẻ” gián đoạn sự học, việc học hành được các cụ quan tâm và cho các trường tiểu học tái hoạt động. Cụ Tôn Thất Dương Thanh, nắm lại nhiệm vụ “quan đốc học”, bây giờ gọi là trưởng ty Tiểu học vụ. Cụ Cao Huy Hy trước là “ông đốc” trường tiểu học, nay là ông hiệu trưởng.

    Các năm 1948, 49, 50, học trò học xong cấp tiểu học, cũng thi bằng tốt nghiệp. Tốt nghiệp rồi thì học thêm ở đâu? Chỉ một số ít học sinh con nhà giàu có thì vô Huế học tiếp, còn số đông không có điều kiện tài chánh đi “du học”, đành thất học. Đó là cái lý do để trường trung học Quảng Trị hình thành. Năm học đầu tiên (1951-52), trường có tên là Trường Trung học Tư Thục Quảng trị, có thâu học phí. Trường ốc, bàn ghế do ty Tiểu học vụ cung cấp, “tiền thầy” thì trường “tự túc”. Ông Hồ Văn Hải, thường gọi là ông Tham Hải, nguyên cán sự công chánh, làm hiệu trưởng. Ông Hồ Duy Tình, nguyên là một thầy giáo làng ở Hội Yên, Hải Lăng, thủ quỹ. Số đông các vị thân hào nhân sĩ trong tỉnh, phần đông là các thầy giáo, không đồng ý việc học sinh phải đóng học phí. Các cụ muốn công lập hóa ngôi trường, không để cho hai ông họ Hồ nói trên, dùng trường sở nhà nước để lập trường tư, để kinh doanh.
    Cụ Phan Quang Đãi là người tích cực nhứt trong việc công lập hóa ngôi trường nầy. Thay mặt cho “thân hào nhân sĩ” cho “đồng bào Quảng Trị”, cụ Đãi vào Huế tích cực vận động với Thủ hiến Trung phần, bấy giờ là cụ Trần văn Lý, với giám đốc nha Học Chánh, bấy giờ là cụ Ưng Quả, nên niên khóa tiếp đó, trường không còn hai chữ tư thục, chỉ còn là “Trường Trung học Quảng Tri”. Điều tôi vẫn suy nghĩ và thấy buồn cười: Hai ông họ Hồ nói trên là con chiên nhà thờ Thạch Hãn, còn cụ Đãi và những người cùng cụ xin công lập hóa ngôi trường là các cụ thường đi Chùa Tỉnh Hội.

    Tôi bỏ trường mà đi sau năm thứ hai. Mãi đến khi tôi đã vào trường Khải Định, ngôi trường cũ của tôi mới có cái tên mới là trường Nguyễn Hoàng. “Nguyễn Hoàng là hậu sinh”, câu nói đùa của tôi có ý nghĩa như thế.

    Từ niên khóa đầu, và mãi về sau rất lâu, khoảng 10 năm, trường vẫn thiếu giáo sư. Số giáo sư có bằng tú tài 2, đủ tiêu chuẩn để làm “giáo sư trung học đệ nhất cấp” rất ít. Một số các vị thi hỏng tú tài 1 hay vài vị tốt nghiệp Quốc gia Sư phạm (có bằng trung học đệ nhất cấp, học sư phạm 3 năm ở Saigon, ngạch giáo viên tiểu học) được bổ dụng dạy đệ thất, đệ lục. Một số các vị có tú tài 1, được bổ dụng dạy đệ thất, đệ lục, đệ ngũ. Chỉ có các vị có tú tài 2 mới dạy tới lớp đệ tứ. Phải hơn 10 năm, sau khi viện đại học Huế đào tạo được một số đại học sư phạm ban cấp tốc (1 năm sư phạm), ban thường xuyên (3 năm sư phạm), đội ngũ giáo sư trường Nguyễn Hoàng mới hoàn chỉnh. Và cũng không ít là những giáo sư giỏi. Gặp môi trường “thầy hay bạn giỏi” trường Nguyễn Hoàng đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.

    Năm học đầu tiên (1951-52), trường chỉ có 2 lớp đệ thất (A và B), khoảng 50 học sinh mỗi lớp, một lớp đệ lục, sĩ số ít hơn. Tổng cộng chưa tới 150 “em” học sinh. “Em” nào có bằng tiểu học, vào đệ thất khỏi thi. Vào lớp đệ lục, các “em” phải có chứng chỉ đệ thất (do học ở Huế năm trước). Các “em” không có chứng chỉ đệ thất, phần đông học “lớp tiếp liên” của chị Cần ở trường Tê-rê-xa phải thi vô. (Chị Cần là hiệu trưởng trường tiểu học Tê-rê-xa của “nhà thờ Thạch Hãn”). Có thể có “em” nào đó học đệ thất ở vùng Việt Minh, nay về vùng Quốc gia học tiếp đệ lục, cũng phải thi vô đệ lục. Đó là trường hợp các “em” Lê Hữu Thăng, (quê Triệu phong), “em” Võ Thành Minh (quê Cam lộ) ...

    Ngôi trường cũ là gian nhà tranh ở sân cỏ phía trước đình làng Thạch Hãn, đối diện bên kia đường “Vườn bông”(sau nầy là đường Nguyễn Hoàng). Thời Ngô Đình Diệm, trường được xây mới, nhà lầu, ở khu đất sân vận động cũ. Học sinh bây giờ có hàng ngàn, thi vô khó đậu vì số thí sinh đông lắm.

    Các “em” học năm đầu tiên đó, phần đông là dân thị xã Quảng Trị, một số ít thuộc các làng chung quanh như Long Hưng (Văn Tần), An Thái (Hồ Tú), học sinh quê làng Thạch Hãn đông hơn, và một ít làng Trí Bưu như Lê Đình Cương, Lê Đình Học. Một ít từ Diên Sanh ra như Trịnh Ngọc Phòng, Trương Thúc Cổn, một ít từ Đông Hà vô như Trần Bích, Mai Chiếm Thanh, Lê Văn Bằng, từ Cam Lộ về như Trần Lữ Diện, Võ Thành Minh, từ Triệu Phong (làng Nại Cửu, làng Cổ Thành, v.v...) như Võ Cửu, Cao Tiến Tăng, Dương Đình Trọng, Nguyễn Văn Tưởng...

    Nhiều vị là bạn cũ của tôi từ năm đệ thất, sau nầy “làm lớn” (dĩ nhiên, ngoại trừ tôi là làm nhỏ). Về hành chánh, có người làm phó quận trưởng, quận trưởng, nhiều ông là sĩ quan cấp tá trong quận đội, không ít ông đậu cử nhơn, kỹ sư, tốt nghiệp đại học sư phạm, và bác sĩ nổi tiếng giỏi, như Văn Tần.

    Từ 150 “em” hồi niên khóa đầu mà được như thế. Còn các “em” về sau thì nhiều người thành công lắm, giỏi lắm, kể không hết. (Xin xem bài “Liên trường Quảng Trị”, cùng tác giả).

    Tôi yêu Quảng Trị của tôi là vì tôi sinh ra và lớn lên ở nơi ấy, dù ở đó cảnh sắc có đẹp hay không. Dù nó không đệp, nhưng vì nó là nơi tôi chôn nhau cắt rốn, nơi tôi lớn lên cùng với gia đình, cha mẹ, anh chị, bà con xóm làng, học hành vui chơi cùng bạn bè, thì dù không đẹp, quê hương tôi cũng đẹp vô ngần. Tôi yêu quê hương tôi là tôi yêu người dân ở nơi ấy, không cần biết ai giàu ai nghèo, ai bần cùng, ai sang trọng.

    Người dân quê tôi càng nghèo, tôi càng thấy yêu họ hơn, mà Quảng Trị tôi thì nghèo nhất trong các tỉnh nghèo của miền Trung. Miền Trung nghèo vì miền Trung chỉ là cái đòn gánh, oằn lên vai chị, vai mẹ. Hai đầu mới giàu, hai đầu là hai thúng gạo: “Gạo Nam, gạo Bắc, ấy đòn miền Trung”. Phạm Duy đã viết thế mà.

    Miền Trung nghèo vì “đất cày lên sỏi đá”. “Quê hương anh, nước mặn đồng chua, quê hương tôi đất cày lên sỏi đá”. Đất ấy chỉ có thể trồng khoai sắn. Dọc miền Trung, tỉnh nào cũng nhiều khoai sắn, ăn khoai sắn thay cơm. “Bên nồi khoai mới luộc, ngát thơm vườn ngâu thưa...” Phan Lạc Tuyên viết như thế khi Quân đội Quốc gia “tiếp thu” Bình Định năm 1954. Phạm Đình Chương cũng viết giống như thế về Thừa Thiên: “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm”.

    Quảng Trị có khá hơn không? Về Quảng Trị Phạm Duy cũng đã viết: “Đàn trẻ vui vì nồi cơm ngô đầy”. Cơm độn với ngô (bắp). Vậy mà bọn trẻ thấy vui vì được ăn no.

    Phạm Duy, cũng như nhiều nhà thơ, nhà văn khác, chưa ai thấy hết cái nghèo của Quảng Trị của tui đâu! Quảng Trị nghèo lắm, nghèo hơn ăn ngô, ăn khoai, ăn sắn nhiều.

    Hồi còn nhỏ, tôi đã từng nghe cầu hò (văn chương bình dân):

    Gió Nam non thổi lòn “hang cóc”,
    Phận em ngheo nên mồng đóc em khô”

    Sách địa lý gọi là Gió Lào, dân địa phương gọi là gió Nam. Đó là hiện tượng gió Foehn (“phơn”, gốc từ Fơn, tiếng Đức) ở miền Trung Việt Nam. Theo địa lý địa cầu, nói chung, nhiều châu lục, có hiện tượng gió Foehn. Khi ngọn gió được hình thành, vượt qua những vùng núi cao, làm gió tăng tốc và mất hết hơi nước, nên trở nên khô và nóng, có khi rất nóng, gây nên nạn cháy rừng. Nhờ có gió Foehn vượt qua dãy núi Alpes nên vùng Trung Âu về mùa đông được ấm hơn. Ở Mỹ và Canada, gió Foehn vượt qua vùng Rocky Mountains, có tên là gió Chinook.

    Vùng Đông Nam Á, theo sách địa lý của frère Jerôme Lê Văn Ba, và vài giáo sư dạy ở Khải Định, (tên trước 1956), gió Foehn phát xuất từ vịnh Thái Lan, thổi dọc theo sườn phía Tây dãy Trường Sơn. Càng lên hướng Đông-Bắc, gió càng mạnh và khô vì cây rừng Trường Sơn lấy hết nước. Từ đèo Lao Bảo trở ra Bắc, rặng Trường Sơn thấp xuống, nên gió quay ngược lại theo hướng Đông-Nam, thổi suốt vùng từ phía bắc Thừa Thiên ra tới Thanh Nghệ Tĩnh. Sách địa lý thường gọi là gió Lào vì gió từ Lào thổi xuống Việt Nam. Dân địa phương gọi là gió Nam, có lẽ người ta biết gió thổi từ vùng vịnh Thái Lan ở phía Nam mà lên.

    Gió Nam, như đã nói, khô và nóng. Các vùng Thanh Nghệ, lá chuối bị khô cháy vì hơi nóng của gió. Theo kinh nghiệm tôi khi còn nhỏ ở Quảng Trị, gió Nam thổi từ nửa đêm cho tới trưa hôm sau. Gió Nam thổi mạnh, nên buổi tối, trước khi đi ngủ, mùng đã chằn kín dưới chiếu, vẫn bị gió thổi tốc lên. Mùa gió bắt đầu từ tháng 5 Dương lịch cho đến tháng 9 (DL), mạnh nhất là vào khoảng tháng 7 tháng 8, khiến nhiệt độ nhiều khi lên đến trên 40 độ C. Cây cỏ đều khô cháy hết. Do đó, ở Quảng Trị có câu tục ngữ: “Nắng tháng 8, nám trái bưởi). Sau khi dứt gió Nam, mùa thu tới và sau đó là mùa gió Bấc, tức “Gió Mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải” như câu tiên đoán thời tiết trên đài Saigon trước 1975. (Có dịp sẽ nói thêm ở bài khác)

    Vì từ đèo Lao Bảo trở ra dãy Trường Sơn thấp xuống, gió quặt về phía Việt Nam, nên ngay ở đây, gió thổi mạnh lắm, ngang qua đèo. Dân địa phương gọi địa điểm gió vượt qua đó là Khe Gió hay Cửa Gió. Gần địa điểm nầy, có động Ông Đô là căn cứ của Việt Cộng xâm lược miền Nam, trên đường Trường Sơn. Các đơn vị tác chiến ở vùng nầy thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, các tiểu đoàn Biệt Động Quân 21 và 37, từng tham chiến ở Lang Vei và trận Khe Sanh với các đơn vị Thyủ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 1968, họ không lạ gì động Ông Đô. Kế Lang Vei có hai bản làng của người Thượng (người Vân Kiều hay người Stiêng, tôi không biết chắc). Hai bản đó tên là Bản Hoong và Bản Cóc. Đây là những làng du canh du cư, dân chúng rất nghèo.

    Theo tôi nghĩ, câu ca dao tôi trích dẫn ở trên, nói là “Gió Nam non thổi lòn hang Cóc...” là không đúng. Nếu nói tới Cửa Gió, Khe Gió thì có lẽ câu ca dao nói tới tên hai bản làng nói trên, có nghĩa là “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc”, là gió từ Lào thổi qua bản Hoong và Cóc rồi từ đó thổi về Quảng Trị. Tôi không tin có hang nào gọi là hang cóc. Hang cóc thì nhỏ, làm sao có gió thổi qua?

    Người xưa không mặc đồ lót, nhứt là các “nụ cười sơn cước”. Vậy thì có cái gì giữ “cái ấy” cho gió Nam khỏi làm cho khô. Cây lá còn phải khô nữa là!

    Nhưng trời ơi! Có cái xứ nào trên đời nầy nghèo đến nỗi làm cho khô cái ấy. Mà đó là vì “Phận nghèo” (Phận em nghèo nên...” Nghèo ăn khoai ăn sắn, ăn độn ngô khoai, có đâu mà nghèo đến cái độ phải khô cái ấy như vầy như ở quê tôi hỡi trời???!!!

    Nói phận nghèo là nói tại Trời. Không phải vì biếng nhác, ham chơi bời, cờ bạc, phá phách mà nghèo. Nghèo là tại Trời, “Trời làm cơn lụt mỗi năm” hay “trời làm gió thổi mỗi năm”. Thật vậy, dân Quảng Trị tôi không làm biếng, không ham chơi, không cờ bạc, chẳng qua vì Trời sinh tôi ra ở đấy, số phận tôi ở đấy, số phận đồng hương, đồng bào tôi ở đấy, khiến cô sơn nữ than phận nghèo nên cái ấy phải khô....

    Để kết thúc phần nầy, và để rõ hơn cái ý nghĩa tôi trình bày, xin nhắc lại câu ca dao một cách trọn vẹn và trung thực:

    Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc,
    Phận em nghèo nên mồng đóc em khô!”

    &

    Dù không phải là khách được mời, nhưng vì qua mối liên hệ thân tộc bên vợ tôi, tôi hoãn chuyến về một tuần lễ để đi thăm Chân Nguyên Thiền Viện, nhân dịp ngôi chùa nầy làm lễ khánh thành.
    Cách đây mấy năm, không lâu lắm, tôi về Cali, có nghe tin ông đại đức Đăng Pháp (khi ấy là đại đức, bây giờ là thượng tọa), mua một chỗ đất trên núi, kế trên đường từ nam Cali đi Las Vegas để dựng một ngôi chùa. Đây là vùng sa mạc, không chỉ “nắng bụi mưa bùn” mà đêm mùa đông thì lạnh như cắt, ngày mùa hè nắng như thiêu như đốt. Những người đồng hương của chúng tôi, - cả ông đại đức và gia đình chúng tôi, - đều than như vậy. Tôi cũng hơi ngạc nhiên. Bây giờ thì chùa chiền thiếu gì. Người Việt tỵ nạn bây giờ phần đông giàu có, không phải quá lo miếng ăn cái mặc như khi còn sống dưới chế độ Dziệt Cộng, bèn lo chăm sóc đời sống tinh thần. Nôm na thì cũng là “phú quí sinh lễ nghĩa”.

    Vã lại, đạo Phật có một sức sống mãnh liệt trong tinh thần người Việt, dù hoàn cảnh nào, thì sức sống vẫn còn đó, khi khó khăn thì tiềm ẩn trong lòng dân tộc, khi có cơ hội thì cái mầm đó nẩy nở, phát triển vươn thành cây trái, cành lá sum suê.

    Rõ nhất là mỗi khi chiến tranh chấm dứt.

    Sau cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), hiệp định Genève chia cắt nước Việt làm hai. Không rõ ở miền Bắc, dưới chế độ Cộng Sản vô thần, tình hình như thế nào, nhưng ở miền Nam, dưới chế độ Cộng Hòa, ngay những năm đầu của chế độ nầy, dù Phật giáo không được ưu đãi, việc đàn áp chưa gay gắt như sau khi ông Ngô Đình Thục về Huế làm tổng giám mục, sinh hoạt Phật giáo lại hồi sinh và phát triển mạnh lắm. Rõ ràng nhứt là việc hình thành các gia đình Phật tử, các khuôn hội, đơn vị hạ tầng cơ sở của đạo Phật, ở thôn quê làng nào cũng có, ở thành phố phường nào cũng có. Về sau, càng bị chính quyền đàn áp, đạo Phật càng mạnh hơn. Việc phản hồi ấy như sức bật một cai lò-xo, càng dùng sức mạnh ép nó lại, nó phản ứng mạnh mẽ hơn, cho đến khi chế độ không còn...

    Tâm lý đó, sau chiến tranh Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam, sau nhiều năm bị đàn áp dưới chế độ Dziệt Cộng, tinh thần Phật giáo hồi sinh ở quê người.

    Hôm lễ khánh thành, một vị đọc diễn văn có một câu rất hay. Xin nói đại ý: Sau bao nhiêu năm loạn lạc, Phật giáo như những cánh bèo trôi giạt và dừng lại ở nơi sa mạc nầy. Tôi nghĩ tiếp, một cánh bèo dừng lại nơi sa mạc nầy và đã nở thành một đóa hoa sen.

    Giữa cảnh sa mạc như thế nầy, dựng được một cảnh chùa như thế nầy, quả thật đây là một đóa sen giữa đất đá khô cằn.

    Những ngày đầu, ông đại đức sống trong một cái mobil home thuê, dĩ nhiên rất thiếu thốn, thiếu cả nước là cái không thể thiếu được. Dĩ nhiên, Phật tử đã đem nước lên tưới cho đóa sen ở trên sa mạc nầy. Thấy tình cảnh thiếu nước, một Phật tử đã cúng cho chùa một cái giếng nước, trị giá... một trăm ngàn đô la.

    Nếu “nước” là tượng trưng cho cái tinh thần của người Phật tử, thì cái tinh thần đó được đem đến đây quá nhiều. Nói theo cách nhà Phật thì đó là cái “duyên”, chưa hẵn là sự tính toán của ông đại đức dựng chùa. Như hiện nay ở Mỹ (tôi chỉ biết ở Mỹ), thường người ta dựng chùa ở chỗ đông người Việt, đông người lui tới, đông khách thập phương, thì thùng phước sương mới mau... đầy. Vậy mà các tăng ni (tôi không gọi là thầy (thầy chùa), cũng không gọi là ni cô, sư cô và cũng không “qui y tăng” như người ta thường làm) mỗi năm vài lần, tổ chức đại nhạc hội mùa xuân, mùa hè, dịp lễ Phật, “có mời ca sĩ Cali về trình diễn” (viết đúng như trong tờ quảng cáo của một vài chùa ở Massachusetts, rất “thèm” ca sĩ Cali) để lạc quyên “xây chánh điện” (không rõ có “tả điện” không?), xây nhà trai, xây trung tâm tu học, xây sân, xây bãi, xây vân vân và xây vân vân...

    Tôi không nghe Chân Nguyên Thiền Viện tổ chức nhạc hội lạc quyên, mà lại nghe đồng hương nói “Chùa xây xong rồi, to lắm, đẹp lắm”.

    Tôi vốn ít ngưỡng mộ danh lam thắng cảnh. Có lẽ tôi bị ám ảnh vì bài tập đọc trong sách “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” lớp Dự bị các anh chị tôi học khi tôi còn nhỏ lắm: “Chốn quê hương đẹp hơn cả.” Nói cho thật lòng, sông Thạch Hãn của tôi đẹp lắm, vì một lẽ rất dễ hiểu: Tôi sinh ra bên cạnh sông Thạch Hãn, nhà tôi bên bờ sông Thạch Hãn, trường tôi bên bờ sông Thạch Hãn, tôi tắm táp vui chơi trên giòng sông Thạch Hãn, tuổi thơ tôi trãi dài theo bờ sông Thạch Hãn. Nếu sông Thạch Hãn đối với tôi đẹp lắm thì cũng không có gì lạ, và xin quý độc giả thông cảm cho tôi, nếu tôi cũng là người như trong sách “Chốn quê hương đẹp hơn cả”.

    Nhưng tôi vẫn lên Chân Nguyên Thiền Viện, không phải vì cảnh sắc ở đây, cảnh sa mạc tôi đã từng xem hàng ngàn, ngàn lần trong...phim cao bồi Mỹ, không phải vì chùa to lắm, đẹp lắm như đồng hương và bà con khen ngợi, mà vì tôi tò mò. Tại sao một ông sư đi “đường ngược chiều” mà thành công như thế. Ông đại đức tu giữa sa mạc, sa mạc thì cái gì cũng thiếu, người tu thì không thiết tha gì lắm với cái ăn, nhưng điện nước thiếu thì tu làm sao được chứ? Ngày xưa, nguời đi tu không cần điện. Ngày nay, chỗ nào không có điện thì... khó sống. Còn nước thì xưa cũng như nay, dĩ nhiên không có nước thì không có sự sống.

    Nhưng chính “con đường ngược chiều” là con đường thành công của ông đại đức. Thay vì người ta về phố thị để tu thì ông lại lên rừng. Đồng bào Phật tử cũng có nhiều cái nhìn rất tinh tế. Người ta tin những ai tu ở “chỗ như thế nầy” mới chính là tu. “Mới chính là tu” nên Phật tử “tìm tới với thầy”. Rồi từ đó, một thầy, nhiều thầy, một vài Phật tử, hàng trăm rồi tới hàng ngàn Phật tử, cùng về đây, và cùng xây dựng, biến một cánh bèo trôi vào sa mạc, - như trong bài diễn văn nói trên - thành một đóa hoa sen, - như tôi đã nghĩ.

    Tôi không phải tán dương gì thêm về cảnh chùa ở đây. Dù có là Phật tử hay không, người ta cũng nên đến đây, để xem sức sống của người Việt, để xem sức sống của đạo Phật trong lòng người Việt, hiển hiện ra giữa một vùng sa mạc, sa mạc Névada nổi tiếng ở nước Mỹ.

    Nhưng tôi cứ mãi suy nghĩ về cảnh chùa nầy. Ngôi chùa to lớn và đẹp, dĩ nhiên, bàn ra tán vào chi cho vô ích. Tượng Phât Quan Âm cao, tưởng như Bà Phật có thể nhìn bao trùm khắp chung quanh, khắp thế giới ta bà. Tượng Phật nằm hùng vĩ. Tất cả những cái ấy, thường những ngôi chùa lớn đều có cả. Nhưng tượng 18 vị La Hán trên con đường vào chùa làm cho tôi thích thú không ít.

    Cảnh tượng nầy làm tôi nhớ tới sân nhà thờ La Vang, sau khi có cái tên mới là “Vương Cung Thánh Đường” (vừa là Cung vừa là Đường, vừa là Vương vừa là Thánh). Cái sân nầy có hai hàng tượng ở hai bên. Tượng ở trên cao, các ông thánh nào đó, của người Âu, trong lịch sử châu Âu hay lịch sử La Mã, có cái vẻ gì đó trông giống như trong phim Spartacus có Kirk Douglass đóng vai chính. Hình như lịch sử thời trung cổ bên châu Âu không có vẻ “hiền” nên tôi không mấy thích. Tôi là người, như bạn thời niên thiếu nhận xét: “ham chơi, hiền và lãng tử”. Hai hàng tượng ở sân “nhà thờ La-Vang” (như cách nói của chúng tôi khi còn nhỏ) đẹp thật, hùng vĩ thật nhưng quả tình tôi không thích vì nó lạ lùng quá!

    Dĩ nhiên, tượng mấy ông La Hán trước sân Chân Nguyên Thiền Viện “hiền” hơn, mặc dù có ông thì cởi nai, ông cởi rồng, lại có ông ngồi trên lưng cọp. Ông thì tay không múa võ, ông gác trượng ngang vai. Không thấy có nhiều ông gầy, ông nào cũng mập, bụng bự, đến nỗi khi chụp hình, vợ tôi tinh nghịch đưa tay thoa bụng ông La Hán bụng bự ấy.

    Khi còn nhỏ, tôi từng thấy trước hiên chùa có ông Thiện và ông Ác, như ở chùa “Phật Lồi” (10) mà tôi đã từng đi chùa ấy khi bốn năm tuổi. Người ta thường tạc tượng các vị La Hán và thờ trong chùa, chưa ai tạc tượng các vị bằng đá cẩm thạch trắng ở núi Non Nước (gần Đà Nẵng, hình như có tấm bảng ghi có một phật tử cúng 100 ngàn cho việc dựng tượng các vị La Hán. Tượng khắc ở Đà Nẵng, đem sang đây, giá thành chắc không rẻ), rồi sắp các vị thành hai hàng, đem “phơi nắng” các vị như ở đây. Nhờ vậy mà cảnh sắc chùa trở nên lạ, đẹp, lôi cuốn khách viếng chùa. Bày tỏ cái thích thú ấy, tôi chụp hình cho nhà tôi đứng bên cạnh 18 vị La Hán nầy. Đúng là một kỷ niệm hiếm quý vậy.

    Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc. Các vị La Hán nầy là La Hán Tầu hay La Hán ta, hay La Hán Ấn Độ? Ông sư Lỗ Trí Thâm trong truyện Thủy Hử là danh tăng, không thành La Hán nên không có tượng ở đây, mà sao tôi ngưỡng mộ ông quá vậy?

    Hôm lễ khánh thành đồng bào Phật tử đông quá, chưa xem kỹ, chắc phải lên chùa lại một lần nữa để xem có tượng ông Lỗ Trí Thâm đâu đây hay không, ông sư “thần tượng” thời niên thiếu của tôi, một thời “mê” truyện Tầu.
    Hình như đạo Phật “đi” tới đâu thì “sống” với dân tộc ấy. Có phải vì vậy nên ông thi sĩ Huy Cận thấy các ông La Hán Tầu mập và vui tươi hơn các vị La Hán ta? Ông ta có cái ý niệm so sánh ấy khi ông đến thăm chùa Tây Phương ở Hà Tây năm 1940. Khi ấy, Huy Cận thấy “Các vị La Hán chùa Tây Phuơng, nỗi đau khổ của cha ông.” Hai mươi năm sau, Huy Cận thấy điều đau khổ rõ hơn: “Tượng La Hầu La đúng là chân dung một cụ già Việt Nam, thân hình gầy gò, mặt dài, nhỏ, gò má cao, môi mỏng vừa phải. Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến như thế. Dáng điệu một tay cầm gậy, một tay để trên gối thoải mái, đôi bàn tay trông thấy rõ từng đốt xương bên trong.”

    Thật ra, ông Huy Cận rất chủ quan, hay có thể nói là “cuồng tín”, “mê muội” khi ông viết bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây phương” hồi tháng 12 năm 1960. Ngay khi đến thăm chùa Tây phương lần đầu, ông ta thấy “Nỗi đau khổ của cha ông...” Nỗi đau khổ đó là gì, là của chính các vị La Hán hay nỗi đau khổ của cha ông chúng ta, tức là của chúng ta, của dân tộc chúng ta. Tại sao cha ông chúng ta có nỗi đau khổ đó, thể hiện qua hình tượng các vị La Hán chùa Tây phương mà các vị La Hán người Tầu thì không?! Các tượng La Hán bên Tầu mang nét đặc trưng của dân tộc Tầu. Các vị La Hán ở ta thì mang nét đặc trưng của dân tộc ta! Trong ý nghĩa đó, đạo Phật ở nước ta “đi vào” dân tộc ta là như thế.

    Vậy thì nỗi đau khổ của cha ông chúng ta, mà Huy Cận thấy được khi ông đến thăm các vị La Hán năm 1940 là đau khổ gì, nếu không phải đó là cái thân phận một dân tộc nhược tiểu, nằm bên một nước lớn, luôn luôn bị đe dọa xâm lăng, luôn luôn phải chống xâm lăng và đã từng bị xâm lăng, “một ngàn năm nô lệ giặc Tầu, Một trăm năm đô hộ giặc Tây” như Trịnh Công Sơn từng nói vậy.

    Nếu nhìn vấn đề như thế thì các vị La Hán Tầu đâu có mang “Nỗi buồn nhược tiểu” như nhà thơ Sương Biên Thùy (Lê Mai Lĩnh) đã từng viết cách đây nửa thế kỷ. Các vị La Hán Tầu mang cái nét đặc trưng của dân tộc Tầu, đặc trưng của một dân tộc bành trướng, đại Hán và thủ tiêu 99 dân tộc Việt ở Hoa Nam, khi Hán hóa các tộc Việt ấy.

    “Trả lời Hà Minh Đức về bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”, Huy Cận nói:

    “La Hán là những vị tu gần thành Phật, nhưng tôi thấy đây là những hình ảnh của cha ông và toàn là những hình ảnh đau khổ; tất nhiên không phải tất cả đều đau khổ, nhưng ấn tượng chung là như vậy. Tôi về ghi trong sổ tay mấy câu: “Các vị La Hán chùa Tây Phương, nỗi đau khổ của cha ông” nhưng không làm được bài thơ mặc dầu đã có những ý thơ đó.”

    Ý tưởng về “nỗi đau khổ của cha ông” trong dòng lịch sử dân tộc, xuất hiện trong trí ông năm 1940, khi ông đi thăm chùa Tây phuơng lần đầu. Và mãi đến:

    “Ngày 28 - 2 -1960 tôi đi thăm chùa Tây Phương cùng mấy chuyên gia Trung Quốc. Bóng dáng của ông cha taítnhiều đã phản ánh được thời đại lúc đó. Các vị La Hán ở Trung Quốc cũng rất đẹp, công phu nhưng “khí thế đằng đằng” khác với các vị La Hán đau khổ, gầy guộc nhưng rất có thần của ta. Buổi tối về tôi viết một mạch 15 đoạn. Đây không phải là tác phẩm bàn luận về Phật giáo mà chỉ là sự thể hiện một cách cảm nhận và suy nghĩ về quá khứ của lịch sử dân tộc.”

    Cái “khí thế đằng đằng” là cái chi vậy?

    Điều đáng buồn là sau khi “mê muội” chủ nghĩa Mác, Huy Cận mơ một thế giới đại đồng, nên ông không còn thấy cái đặc trưng khác biệt giữa người Tầu và người Việt, không còn thấy sự khác biệt giữa các La Hán Tầu và La Hán Việt. Huy Cận tuy có thấy nỗi đau khổ, - không phải của dân tộc nữa, mà của nhân loại, - nỗi đau khổ mà theo ông, triết lý đạo Phật không giải quyết được, không giải thoát được cho nhân loại (cho nên đến bây giờ “mặt vẫn chau”):

    ...Các vị ngồi đây trong lặng yên
    Mà nghe giông bão nổ trăm miền
    Như từ vực thẳm đời nhân loại
    Bóng tối đùn ra trận gió đen...
    ...Mặt cúi, mặt nghiên g, mặt ngoảnh sau
    Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
    Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
    Cho đến bây giờ mặt vẫn chau...


    Vậy thì ai, người nào, chủ nghĩa nào, triết học nào giải quyết được vấn nạn nầy, nghĩa là nhân loại không còn khổ đau, không còn đói rách, mọi người đều hạnh phúc, đều bình đẵng. Đó là điều Huy Cận giải thích như sau:

    Các vị La Hán chùa Tây Phương!
    Hôm nay xã hội đã lên đường
    Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
    Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

    Cha ông yêu mến thời xưa cũ
    Trần trụi đau thương bỗng hoá gần!
    Những bước mất đi trong thớ gỗ
    Về đây tươi vạn dặm đường xuân


    Vấn nạn của nhân loại mà đạo Phật không giải quyết được, theo Huy Cận, chủ nghĩa Cộng Sản sẽ giải quyết xong, bởi vì Huy Cận nói: “Hôm nay xã hội đã lên đường...” Lên đường gì? Ấy là con đường tiến lên “Xã hội xã hội chủ nghĩa” mà chính quyền Cộng Sản Bắc Việt đã đem dân tộc nầy, quyết tâm xây dựng đấy.

    Nếu Huy Cận còn sống tới bây giờ, và đi thăm con trai ông – Cù Huy Hà Vũ – đang sống trong tù, thì Huy Cận có thấy rõ ra rằng, chính ông, “Chính Huy Cận đang “cận thị”, chỉ thấy những điều khoa trương trước mắt mà không thấy cái sai lầm, cái nguy hại ở đằng sau những lời khoa trương ấy.

    Dĩ nhiên bài thơ “Các Vị La Hán Chùa Tây Phương” là cái loa tuyên truyền của ông, đương thời là “bộ trưởng văn hóa... Dziệt Cộng” nên được cán bộ văn hóa Dziệt Cộng tán dương nhiều lắm. Xem phụ lục (11)

    Trở lại Chân Nguyên Thiền Viện, ra về mà lòng tôi còn vấn vương nhiều lắm, không phải tôi ưa đi tu theo đạo Phật. Tôi là người không có căn tu, không tin những điều huyền hoặc, ngay trong tất cả các tôn giáo mà trong đó, không ít người mê tín, rất mê tín là đằng khác, tin vào những điều không thực.

    Không bao giờ tôi có thể là một “phật tử thuần thành”, như những người chăm đi chùa và cầu nguyện, xin xỏ những việc mà chính họ biết rằng Phật hay Chúa cũng không thể cho được. Sự than vãn, rên xiết, cầu nguyện, xin xỏ là điều rất thường có ở một số tôn giáo mà điều buồn cười là ngay chính vị giáo chủ cũng không tự cứu được mình thì thử hỏi cứu được ai mà xin xỏ cho vô duyên.

    Tôi chỉ là một “phật tử truyền thống” bởi vì đạo Phật là một tôn giáo truyền thống của người Việt Nam, qua đó, người Việt Nam, từ kẻ bình dân ít học cho đến hàng trí thức, ai ai cũng biết rằng “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.” Cái đuốc tôi có là cái niềm tin tôn giáo do cha ông truyền thừa lại, còn ngọn lửa là tự tôi thắp lên. Lửa đó, do mẹ tôi cho, do họ hàng, bà con xóm làng cho tôi, do cái văn hóa của dân tộc truyền thụ lại cho tôi, qua nếp sống của họ, qua tục ngữ, ca dao, qua thần thoại, cổ tích, qua lịch sử dân tộc mà tôi học được. Đạo Phật của tôi là nhân quả mà ai ai cũng nói, là ác giả ác báo, là làm lành tranh dữ, là tội “nghiệp”, là vô “duyên”, là không sát sinh, là biết thương yêu mọi người, thương yêu đồng loại, là yêu thương loài vật, nhất là những loài vật có ích cho ta, như con trâu kéo cày, con bò kéo xe, con ngựa chở người ta đi lại, v.v... Dó đó, với tôi Phật là Mẹ. Phật là các ông, các cụ hiền lành trong làng tôi, là sư cụ, sư bác, sư thúc ở chùa, thậm chí cả những chú tiểu, chú điệu ở ngôi chùa cạnh nhà tôi. Họ là những người nghèo khó, mà khi tôi nghèo khó, tôi cũng từng nói đùa với bạn bè, rằng tôi cũng là một “bần” mà không “tăng” như họ. Tăng mà không “bần” thì sao gọi là tăng? Họ là những chiếc áo nâu bạc mầu, có miếng vá ở cùi tay, có đôi guốc mộc quai bằng võ xe hơi. Tôi yêu họ, gần họ, có khi chuyện trò với họ. Họ rất gần gủi thân quen. Vì vậy, khi mười hai, mười ba tuổi, lần đầu tiên vào chùa, - ở chùa bây giờ không có ông Thiện, ông Ác, cầm thanh long đao đứng ngay ở hiên chùa làm cho tôi rất sợ hãi khi ba bốn tuổi tôi bắt đầu đến chùa, - thì bây giờ, khi vào chánh điện lần đầu, thấy tượng ông Phật ngồi trên đài cao, tóc quăn, vai trần, áo mầu vàng, thì tôi nghĩ ngay rằng đó không phải là “Phật của tôi.” Phật của tôi giản dị hơn, mặc cái nâu là mầu dân tộc, mầu ruộng đồng cày sâu cuốc bẩm, không mập vì tương chao tu hành, phảng phất nỗi buồn bã đau khổ vì thân phận người, thân phận dân tộc... Khi đọc thơ Trần Tế Xương thấy “Công đức tu hành sư cũng lọng” thì tôi thấy buồn cười, thích thú với cái mai mỉa của nhà thơ. Đạo Phật của tôi trái ngược hẵn với ông cha Quý, cha Tư ở nhà thờ Thạch Hãn mà người vô ra nhà thờ lễ bái, gần như xa lạ với người chung quanh, với dân tộc, giống như những nhân vật mà giáo sư Lý Chánh Trung mô tả trong “Tìm về Dân tộc”:

    “Bải trường Nô-en”, về nhà, tôi đi xem lễ tại nhà thờ tỉnh, mặc dầu chưa “vô đạo” (thời đó nói “vô đạo” – “đi đạo”, theo tiếng Bắc - có nghĩa mặc nhiên là vô đạo Thiên Chúa, như thể không theo đạo Thiên Chúa thì không có đạo gì cả). Nhà thờ nhỏ, xinh xinh, không khác gì mấy cái nhà thờ bên Pháp mà sau nầy tôi có dịp đi lễ. Ở giữa, hai hàng ghế quì cá nhân có nệm, dành cho bổn đạo “hạng sang”. Hai bên là những chiếc băng cây dành cho bổn đạo “bình dân”. Nói “dành cho” là không đúng lắm, vì không có chỉ thị nào cấm những người bình dân chiếm hai hàng ghế giữa. Nhưng suốt mấy năm đi lễ ở đó, chưa bao giờ tôi thấy “xóm nhà lá” dám tràn qua “xóm nhà ngói”!
    “Ở mút phía trước, hai hàng ghế giữa, là những chỗ dành cho các ông quan Tây với những chiếc ghế bành to tướng. Lúc ấy, ông Chánh là người mộ đạo nên các quan lớn đều đi lễ với quí vị phu nhân và các cậu Tây Đầm con cũng “về quê” như tôi, trong dịp Nô-en.

    “Tôi quỳ ở hàng ghế giữa ngoài sau, với các gia đình “danh giá”. Nhìn mấy chú Tây con, tôi nhớ tới thằng Michel và cảm thấy gần chúng hơn là gần mấy thằng con nít An-Nam đang chen chút trên những chiếc băng cây bên cạnh.
    “Không bao giờ tôi quên được cảm giác nầy, cái cảm giác khoan khoái dễ chịu được thuộc vào một lớp người sang cả thơm tho đẹp đẽ, được quỳ trên một chiếc ghế riêng, êm ái, tách rời khỏi cái đám đông hôi hám lúc nhúc chung quanh.”

    Nói cho thật lòng, tôi từng đi nhà thờ nhiều hơn đi chùa, nhất là khi tôi tới tuổi thành niên, và trong thời kỳ ông Ngô Đình Diệm mới lên làm tổng thống, chủ nghĩa “Nhân vị” của ông Ngô Đình Nhu được tuyên truyền, quảng bá rộng rãi. Vâng, theo tôi nghĩ, chống Cộng cũng có nghĩa là phải có một học thuyết chống lại một học thuyết. Đó là một trong những nguyên tắc căn bản. Tôi thấy có một cái gì đó, làm cho lòng tôi yên ả một chút khi tôi quì một mình trước tượng Chúa trong nhà thờ. Tôi từng nghĩ đến các chết Spartacus trên cây chữ thập, khi cuộc khởi nghĩa của những người gladiateur do ông ta lãnh đạo bị thất bại. Spartacus sống và tranh đấu cho ông ta và cho những người bị áp bức. Khi sắp bị đóng đinh, Spartacus bình thản, không than khóc, đau đớn, van xin, quì lạy. Qua hình ảnh của Spartacus chiếu trên màn vải, tôi nghĩ tới cái chết của chúa Giê Su và Chúa cũng đã hy sinh cao cả như vậy. Tại sao tôi than phiền quá nhiều cho cuộc đời niên thiếu nghèo khổ của riêng tôi. Người ta phải biết sống cho người khác thì cuộc sống mới có ý nghĩa chứ! Khi còn trẻ, tôi từng được ông bà cha mẹ thầy cô dạy như vậy.
    Vậy rồi tôi được cho đi học khóa Nhân vị ở Vĩnh Long như phần đông các giáo sư, công chức khác, và tôi bỗng thấy “chán” đạo Thiên Chúa vì những điều tôi cho là không thực, những gì là “mộng mị” và cả những điều dị đoan. Tuy nhiên, cái cảm tưởng mạnh mẽ nhất đối với tôi, là cái gì đó “xa lạ”, không ở trong dân tộc tôi, không phải của người Việt. Tôi quen với những cái gì “bình dân”, nơi tôi sinh ra và lớn lên, hơn là những gì thuộc giai cấp thống trị sang giàu, tôi quen với ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích với Tấm Cám, với “Chum vàng bắt được”, với “Ăn khế trả vàng”, với Ông Phật dạy người thanh niên mấy chữ “Khắc xuất, khắc nhập”, và xa lạ với những câu chuyện trong Kinh Thánh. Tôi thấy gần gủi với các ông thầy tu, thầy chùa áo nâu sồng, đi chân đất, mang guốc mộc hơn với mấy ông cha áo đen nhiều quyền lực, từ những ông cha làm giám thị của Trung Tâm Nhân Vị Vĩnh Long, thường khiển trách, ngăn cấm “học viên” ban đêm trốn đi chơi, đi uống càphê, cho đến các ông cha “rất mạnh thế lực” ở quê tôi, Quảng Trị, khiến ông quận , ông tỉnh cũng nể sợ?

    Và điều đáng nói hơn hết, cái triết lý mà tôi bị ép buộc phải học đó, nó không giải quyết được những gì “ưa thắc mắc” của một thanh niên vừa qua tuổi thiếu niên. Vũ trụ do đâu mà có, con người từ đâu mà ra? Tạo hóa thì đầy quyền lực, huyền nhiệm nhưng lại rất bất công và vô trách nhiệm. Bao nhiêu cô đẹp “kẻ đón ngưòi đưa” còn bao nhiêu cô xấu “đi sớm về trưa một mình”. Đó là một sự “thử thách bất nhân” của Thượng đế, hay mọi việc trên đời nầy chỉ là “tình cờ” mà ra, sau khi Tạo hóa cho chúng ta một sự sống mầu nhiệm, rồi để mọi sinh vật tự cách kiếm sống, tự kiếm cách tồn tại, “khôn sống bống chết”, dù con ong, cái kiến, là “con giun ngước lên trời” hay cả chính con người, hay cả cái gọi là nhân loại nầy cũng vậy thôi.

    Tôi không còn đi nhà thờ, và cũng không đi chùa, nơi mấy bà “xanh xít đít đui” thường lui tới “dâng hoa quả lạy Phật” để được “mua may bán đắt” mà một người đàn bà nghèo, góa chồng sớm, tần tảo nuôi một đàn con như mẹ tôi, là nạn nhân của mấy bà.

    Tôi thường nghĩ rằng “cách chết” của nhà văn Tam Ích là có ý nghĩa nhất. Thay vì người ta treo cổ “đu giây đá ghế” thì ông Tam Ích “đu giây đá chồng sách” (thay cho cái ghế). Hành động tự tử đó có nghĩa rằng tất cả những tư tưởng của nhân loại, - qua kinh điển hay triết học, triết lý, học thuyết, v.v... - không giải quyết được những vấn nạn của nhân loại. Nhân loại vì những điều họ “cuồng tín” mà giết chóc lẫn nhau, từ xưa cho tới bây giờ, và mai sau cũng vậy, trước sau có khác gì nhau, mặc dù nhân loại ngày nay văn minh hơn và giết nhau cũng “tuyệt diệu” hơn. Và mai đây, nhân loại nầy sẽ tận diệt cũng chính vì những điều “cuồng tín” như thế, không mong gì thoát ra được đâu!!!

    Nhưng dù nhìn vấn đề theo mặt phải, mặt trái như thế nào, thì tôn giáo vẫn có mặt hữu dụng của nó. Dù có gióng giã như tiếng chuông nhà thờ, dù có trầm ngâm chậm rãi như tiếng chuông chùa, thì tiếng chuông bao giờ cũng để lại ít nhiều lắng đọng trong tâm tưởng người nghe. Nó làm cho người ta tự chìm sâu vào tâm hồn mình, để tìm trong đó những yên ả, suy tư, tìm lại mình, tìm lại cha mẹ, tìm lại mình khi mẹ về với cha, tìm lại cái nguyên thủy của cha ông, dòng họ, dân tộc, tìm lại Chân Nguyên của mỗi người như cái tên của thiền viện nầy vậy.

    Ngày nay người ta ít tin vào những điều huyền hoặc: Một thế giới khác gọi là thiên đường, địa ngục, niết bàn và lại càng không tin vào thiên đường của mấy ông Hồi Giáo cuồng tín, cứ giết người vô tội bằng cách tự mình mang bom cho nổ bậy để được lên thiên đường với thánh A-La, nơi có 40 hay 70 cô gái đồng trinh đang đón chờ???!!!

    Từ khi khoa học chứng minh được rằng vũ trụ nầy thì bao la mà những thế giới mộng mị đó không thấy ở nơi nào cả, thì các nhà tu hành lại “ngụy biện” rằng thiên đường là ở ngay đây, ngay trên cái gọi là “trần ai”, là bụi trần nầy.
    Tuy nhiên, không phải bàn về những cái mơ hồ huyễn hoặc đó, người ta cũng phải nhận ra được vai trò của tôn giáo trong đời sống của mỗi con người, của cộng đồng, của xã hội, của dân tộc và của nhân loại nữa. Vai trò đó của tôn giáo chính là đạo đức. Sống dưới chế độ vô thần bao nhiêu năm, lâu hoặc mau, người ta ai ai cũng nhận thấy rằng, tôn giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời. Dù nhìn vấn đề theo lăng kính chủ quan như thế nào đi nữa, người ta cũng phải xác định một điều, ngay từ trong nguyên thủy của nhân loại, từ trong cõi u mê của thời cổ sử, từ niềm tin hoang sơ vào quyền lực vô hình, vô minh cho đến ngày nay, có niềm tin vào một giáo chủ, một tôn giáo, thì trong ý nghĩa nào đó, mà không phải là tất cả, đã dạy cho con người phải có đạo đức, trau giồi đức hạnh, dù “tu thân” của ông Khổng hay từ bi hỷ xã của Phật, hay bác ái của Thiên Chúa. Trong ý nghĩa đó thì người ta thấy rõ, không có tôn giáo thì không có đạo đức. Dù không đi chùa, dù bỏ đi nhà thờ như tôi, thì tôi cũng đã có tôn giáo, cái tôn giáo ở trong văn hóa dân tộc mà tôi đã được truyền thụ dạy dỗ qua cha mẹ, bà con, anh em, làng nước vậy.

    Trong văn hóa dân tộc, người ta không dạy cho tôi những câu Phật dạy, rằng tôi phải như thế nầy hay như thế khác. Nếu như có một sự ràng buộc nào đó, dù là sự ràng buộc của kinh điển, cũng sẽ làm cho tôi bỏ mà đi, như tôi đã bỏ không còn đi nhà thờ nữa, sau khi học khóa Nhân Vị Vĩnh Long.

    Nhưng trong quá trình khôn lớn ở quê nhà, tôi biết triết lý đạo Phật qua những câu tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích... Và cũng qua đó, tôi biết Trời là Công Lý mà Phật là Tình Thương. Và như thế thì Trời và Phật bao giờ cũng đi đôi để gìn giữ làng nước, giữ gìn dân tộc nầy. Không có Trời, không có Phật, làng nước không thể tồn tại được. “Không Trời ai ở với ai” (tục ngữ)

    Ngày nay, nhiều tôn giáo “đi vào thực tế” nhiều hơn, bởi vì nhân loại văn minh hơn mà sự đau khổ cũng nhiều hơn, nhiều đói khổ hơn, nhiều tai họa hơn, và nhất là trẻ con mồ côi cũng nhiều hơn.

    Tôi đã từng say mê với câu nói của LaRochefoucault: “Mọi việc thiện đều do lòng ích kỷ...” Vậy thì chỉ ai làm việc thiện với lòng “vị tha” như trong đạo Phật thường nói mới không có lòng ích kỷ? Bà Soeur tận tình chăm sóc cho Hàn Mặc Tử ở nhà thương phung Qui Hòa là vì bà muốn được ơn Chúa để bà được cho về nước Chúa hay sao? Vậy bà làm việc thiện là vì cho chính bà hay vì Hàn Mặc Tử? Trong ý nghĩa đó thì Từ bi Hỉ xã là vị tha, là “cao” hơn Bác ái của đạo Thiên Chúa hay chữ “Nhân” của Khổng tử.

    Không phải vậy! Tôi đã từng chịu khó làm cái công việc “Tầm nguyên tự điển” nhưng qua bao nhiêu năm “giang hồ” từ nơi tôi sinh ra và lớn lên cách vĩ tuyến 17 chưa tới 30km, đến ngày 30 tháng Tư, tôi đang còn “lặn lội” ở Hà Tiên, thì đời dạy tôi một điều: “Thực tế của cuộc sống, của hành động...” chứ không “chìm sâu” vào lý thuyết. Mấy hôm trước ngày 30 tháng Tư, một máy bay C-5A của Mỹ chở một số em bé mồ côi di tản sang Mỹ, vừa cất cánh khỏi phi trường Tân Sơn Nhất thì bị rơi. Tất cả mọi người không ai sống sót.

    Người ta làm cái việc di tản nầy để làm gì? Nhân dân Mỹ nổi tiếng với những hành động bác ái, là truyền thống của họ. Họ đến cứu các em bé mồ côi vì tình thương hay như Dziệt Cộng tuyên truyền sau nầy: “Đem các em bé di tản, sẽ dạy cho chúng làm tình báo, mai kia, với cái lý do ngụy trang “thương nước, nhớ nòi” để trở lại Việt Nam làm tay sai cho đế quốc Mỹ.” Bà Yung Krall, người lo liệu việc di tản mấy chục em mồ côi ở một trại mồ côi Minh Trí Gò Vấp, hồi tháng Tư/ 1975, như bà thuật lại trong cuốn tự truyện “Ngàn giọt lệ rơi” của Bà, có em nào ngày nay trở về Việt Nam “với lòng nhớ nước thương nòi”, nhưng thực chất là làm tình báo cho Mỹ không nhỉ? Lòng nhân đạo của Bà, hay từ bi hỉ xã của gia tộc Bà có bị xúc phạm khi nghe Dziệt Cộng nói câu đó không nhỉ?

    Dễ sợ! Cái định kiến của con người thật dễ sợ! Khi đã có sẵn cái định kiến như thế rồi, người ta còn vô tư, trung thực, ngay thẳng được không? Có thể không làm những điều độc ác, bất nhân được không?

    Mấy năm nay, trên báo chí, người ta đã ca ngợi một số các em mồ côi di tản ngày ấy, nay thành đạt, có người là bác sĩ. Mai kia, nếu như các em có trở về thăm quê cũ, những định kiến của Dziệt Cộng như trên có làm nặng trĩu tâm hồn các em khi họ trở lại cố hương.

    &

    Thế nào rồi tôi cũng trở lại Chân nguyên Thiền viện một lần nữa. Trở lại Thiền viện ấy chứ không phải trở lại Chân Nguyên, bởi vì “trở về Chân nguyên” là con đường trở về trong tâm tưởng, là con đường dài nhất, gập ghềnh, cam go nhất của mỗi chúng ta. Cụ Võ Liêm Sơn gọi đó là “con đường đi về cõi vô sinh”:

    “Rồi có một ngày tôi trở bước
    Sang cõi vô sinh như kiếp trước
    Linh hồn dù với xác trầm tang
    Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước.”


    Đó là con đường “trở về Chân nguyên”, là con đường bắt đầu “từ cõi hồng hoang”, từ “cõi địa đàng”, từ trước khi bà Ê-và xúi ông A-đam ăn trái cấm, khiến loài người mắc “tội tổ tông”. Khi đã ăn “trái cấm” là con người bắt đầu xa rời Chân nguyên rồi vậy.

    Cái tên Chân nguyên nghe hay thật. Nó nhắc ta nhớ tới “tứ đại”, cát bụi, tới các chất hữu cơ tạo nên hình hài con người. Tuy nhiên, biết thì biết vậy nhưng thực hành được vậy thì khó biết bao nhiêu. Biết con người do cát bụi mà ra, chết là trở về với cát bụi, nhưng khi còn sống, người nhạc sĩ cứ hát “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi” mà vẫn cứ ham danh lợi, để đến nỗi mang tiếng là “kẻ phản bội.”

    Khi hạt bụi tan rã là con người hóa kiếp, thế nhưng tại sao tôi vẫn cứ đắn đo khi chết rồi thân xác nầy sẽ nằm ở nơi đâu? Trong một nghĩa địa lạ hoắc nào đó, hầu hết những hồn ma ở đó đều xa lạ, và như Trần Trung Đạo viết: “Trên mộ bia thêm một hàng chữ Mỹ. Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn.” Vâng, “đất lạ sẽ thêm buồn”, buồn lắm! Nhưng chắc chi khi đem thân xác về bên ấy, sẽ có người thân quen đón đợi?! (12) Hay sẽ rải tro trên biển? Cũng là cát bụi trở về với hư không! Có gì thắc mắc!

    Nhưng khi tới Thiền viện Chân nguyên, tôi nghĩ phải chi nơi đây có một nghĩa trang, để cho những người “cùng hội cùng thuyền”, những kẻ tha hương, những người vong quốc nằm lại bên nhau thì “lòng” cũng ấm thêm được một chút chớ sao!

    Tôi sẽ trở lại Chân nguyên Thiền viện, để một đêm nào đó, như lời thầy viện chủ nói với tôi, đêm sa mạc trời rất lạnh, rất sáng và trăng rất trong, đi thật chậm bên hàng tượng các vị La Hán, nhìn từng tượng một, những tượng vai trần chân đất, nhìn từng nét một, những nét vui, buồn, đau khổ... để thấm thía, để ngậm ngùi với nhân sinh và dân tộc. Đó là những giây phút tỉnh lặng đáng quí nhất, mà một đời người xuôi ngược, một đời xông pha vì cuộc sống, xông pha tên đạn vì đất nước, một đời lưu đầy nơi xứ người, đời không mấy khi lắng đọng để tâm hồn có được.

    Vậng, tôi sẽ nhìn từng pho tượng một, để thấy “Nỗi đau khổ của cha ông” trên từng pho tượng La Hán Việt Nam, để ngậm ngùi tưởng nhớ năm vị tướng tuẩn tiết ngày 30 tháng Tư nay đang thờ trong Chùa.

    Đang thờ trong Chùa?

    Vâng thờ trong Chùa. Điều ấy có nghĩa rằng Thiền viện nầy, ngôi chùa nầy, tôn giáo nầy gắn liền với số mệnh của dân tộc. Đạo Phật gắn liền với dân tộc, bởi vì dân tộc nầy có trước, dựng lên tổ quốc, dựng lên đất nước nầy trên lưu vực sông Nhị Hà trước khi đạo Phật phát triển đến đó, ở lại với dân tộc tại đó, rồi cùng với dân tộc ấy đi dần về phương Nam, trong cuộc Nam tiến dài lâu và quá nhiều gian nan trong lịch sử phát triển của dân tộc. “Dân tộc có trước tất cả và sẽ là nguồn gốc của tất cả.” (13). “Tất cả những gì chúng ta có đều thuộc về dân tộc, và khi cần, phải trả lại cho dân tộc.” Tất cả các tăng sĩ và tất cả các tín hữu của mọi tôn giáo đều phải biết như thế. Vượt ra khỏi dân tộc hay vượt lên trên dân tộc, tôn giáo tự nó sẽ hủy hoại bản thân nó vậy.

    Ý nghĩa việc thờ phượng 5 vị tướng tuẩn tiết ở trong Chùa cũng là như vậy. Các vị tu hành ở Thiền viện nầy, khi lập bài vị thờ 5 vị tướng ở trong Chùa là thấm nhuần triết lý hòa quyện giữa Dân tộc và Đạo pháp. Dân tộc sáng lên, đẹp đẽ hơn, thanh cao hơn là nhờ có Đạo pháp. Đạo pháp sẽ trường tồn mãi mãi khi biết hòa nhập vào Dân tộc.

    Mặc dù tôi cố tìm nguồn gốc của các vị La Hán. Có tất cả năm trăm vị, mười tám hay mười sáu vị? Tôi không kể số lượng. Làm sao tôi phải thấy đó là các vị La Hán Việt Nam. Có thể các tượng ở Chân Nguyên Thiền Viện là từ hình ảnh các vị La Hán chùa Tây Phương ở Hà Tây, như ngay chính Huy Cận, đi thăm chùa Tây phương lần đầu tiên năm 1940, ông thấy đó là các vị La Hán Việt Nam.

    Một đêm trăng huyền ảo nào đó, tôi sẽ lặng lẽ bước đi bên cạnh các vị La Hán của Chân nguyên Thiền viện, thực hiện một cuộc hành hương về cội nguồn của tôi hay của dân tộc tôi, để tìm cho được “Nỗi đau khổ của cha ông” như Huy Cận nói, để thấy các vị La Hán Việt Nam ngồi nơi nầy, tưởng như An Lạc mà mắt còn mở ra nhìn vào một cõi xa xăm nào đó, nơi biển luân hồi còn sóng lên cuồn cuộn, nơi dân tộc còn đắm chìm trong đau khổ. Đó là những tượng có linh hồn, không như “Ông phổng đá” trong thơ Nguyễn Khuyến. Tôi sẽ đứng nghiêm, trầm ngâm trước “tượng La Hầu La đúng là chân dung một cụ già Việt Nam, thân hình gầy gò, mặt dài, nhỏ, gò má cao, môi mỏng vừa phải. Chưa thấy pho tượng nào diễn tả y phục một cách hiện thực mà lại đẹp đến như thế. Dáng điệu một tay cầm gậy, một tay để trên gối rất thoải mái, đôi bàn tay trông thấy rõ từng đốt xương bên trong. Những người thợ mộc của làng nghề mộc truyền thống Chàng Sơn đã là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời ấy của nền mỹ thuật Việt Nam.”

    Đạo Phật, sau 1975, như một cánh bèo trôi giạt, dừng lại ở sa mạc Névada nầy, tự nó chuyển hóa thành một đóa sen. Cánh bèo dừng lại đó, không phải vì nơi đó là sa mạc mà vì nơi đó có một đám con cháu của người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Không có người Việt Nam ở nam Cali, cánh bèo sẽ không dừng lại trên sa mạc đó, không tự biến hóa từ cánh bèo thành một đóa sen. Sự kiện ấy hình thành là vì có người Việt Nam, do người Việt Nam, mặc dù sa mạc Névada là đất của người Mỹ. Dù người Mỹ ngày nay đang hướng về Thiền, đang tự mình tìm kiếm cho mình một đời sống tinh thần mới, tự đi tìm những phương pháp hóa giải những phiền muộn, u trầm đang đè nặng lên tâm hồn họ, mà không tìm một ân sủng ban phát từ một phép lạ hay huyền bí nào, cũng không thể tự họ biến một cánh bèo thành một đóa hoa sen.

    Tuy nhiên, ở đây, Chân Nguyên Thiền Viện mới chỉ là nơi tập họp một thành phần nhỏ dân tộc. Đại đa số còn lại bên quê nhà. Ở đó, liệu họ có làm gì được cho đạo Phật hay cho chính thân phận của một dân tộc.

    Sự phát triển của nhân loại, dĩ nhiên là do những mâu thuẫn nảy sinh tự trong bản thể của nó. Chính sự mâu thuẫn đó đã làm cho mỗi dân tộc, làm cho nhân loại đi lên phía trước. Xã hội Mỹ, dân tộc Mỹ là ví dụ điển hình. Sự mâu thuẫn về màu da, về giai cấp xã hội, về quan điểm chiến tranh, hòa bình đã đưa dân tộc Mỹ đến địa vị cao ngày nay.

    Nhân loại cũng vậy. Chính vì sự mâu thuẫn xảy ra trong cộng đồng của chính nó mà nhân loại có được cái tình thế ngày nay, nhất là từ sau khi chế độ và chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Sự kiện ấy đưa chủ nghĩa tư bản lên địa vị độc tôn, toàn thắng như ngày nay. Sự toàn thắng đó biểu hiện qua hình thái “toàn cầu hóa” đang phát triển khắp địa cầu của chủ nghĩa tư bản.

    Điều ấy có ích lợi gì cho dân tộc Việt Nam?

    Những quốc gia tham gia “vận hội kinh tế thế giới mới ngày nay”, ngoài những phát triển tiên tiến, có sẵn “tài và lực” - vốn và nhân lực - để chiếm những địa vị quan trọng, những nước nhỏ hơn, sau mấy chục năm giành độc lập, cũng đã biến thành những con rồng nhỏ, con rồng lớn để chen chân giữa “thị trường mới” hiện đang đông đúc nhiều món hàng sản xuất, kẻ bán người mua.

    So với họ có nhiều ưu thế về vốn (tư bản) cũng như chất xám thì Việt Nam có gì? Sau bao nhiêu tai họa do Cộng Sản đem lại, nước Việt Nam chúng ta đã đánh mất nhiều cơ hội để có thể tiến lên một quốc gia phát triển, ngang bằng với nhiều nước tiên tiến trên thế giới.

    Cơ hội đánh mất lần thứ nhất:

    Sau khi thế giới chiến tranh lần thứ hai kết thúc, Cộng Sản cướp đoạt quyền lãnh đạo đất nước, sau khi đã loại trừ, thủ tiêu hầu hết các đảng phái quốc gia. Nếu nước ta vào thời kỳ ấy, dân tộc đoàn kết, cùng nhau chống Pháp, thì chúng ta cũng có không thua kém Nhật bản hồi bấy giờ. Trong khi chúng ta lâm vào cuộc chiến tranh chống Pháp kéo dài 9 năm, với bao nhiêu tàn phá, tốn hao xương máu thì Nhật Bản đã vươn mình lên thành một nước giàu mạnh ở châu Á.

    Cơ hội đánh mất lần thứ hai:

    Sau hiệp địn Genève, miền Nam Việt Nam cố phục hưng kinh tế, nông nghiẹp cũng như công nghiệp. Bao nhiêu nhà máy được xây dựng ở khu công nghiệp Biên Hòa, nông nghiệp phát triển mạnh, điển hình là nắm trở lại vai trò xuất cảng gạo sang các nước Đông Nam Á, thì Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam, kéo dài 20 năm, tàn phá đất nước một cách khủng khiếp, trong khi các nước Đông Nam Á, kinh tế càng ngày càng phát triển.

    Cơ hội đánh mất lần thứ ba:

    Sau 1975, nếu biết xử dụng toàn bộ khả năng dân tộc và đất nước, không nằm “dưới ngọn cờ của chủ nghĩa xã hội” thì dân tộc ta cũng không đến nỗi quá muộn màng trong việc phát triển quốc gia.

    Qua gần 40 năm Cộng Sản cai trị toàn cõi đất nước, ngày nay, trước trào lưu toàn cầu hóa, trước “sự toàn thắng của chủ nghĩa tư bản”, nước Việt Nam có gì để tham gia vào “vận hội mới” nầy. Nước ta, dân ta không có vốn (tư bản), chỉ có việc “Bán”: Bán sức lao động với giá rẻ mạt và bán tài nguyên quốc gia cũng với giá rẻ mạt. Với một đường hướng phát triển kinh tế như vậy, dĩ nhiên, Việt Nam là nước cầm đèn đỏ trong suốt cuộc chạy đua nầy.

    &

    Khi máy bay nghiêng cánh để chuẩn bị đáp xuống phi trường Logan của thành phố Boston vào lúc gần nửa đêm, tôi có cảm tưởng như nỗi buồn trong lòng tôi đang nghiêng về cái cánh thấp của chiếc máy bay. Rất nhiều nỗi buồn gom chung nhau lại, đè nặng trong lòng tôi và cũng đè nặng lên cánh bay. Buồn vì xa lìa thủ đô, nơi đó có đông bạn bè, những bạn bè từ thuở ấu thơ, các bạn đồng nghiệp, các bạn đồng ngũ, các bạn đồng tù... nỗi buồn của người di dân, nỗi buồn đối với bà con, thân tộc và những người đang sống đời bần cùng cơ cực ở quê nhà, và nỗi buồn cô quạnh của người dân tỉnh lẽ.

    Tôi vốn không phải là người viết văn giỏi, chỉ ưa chôm lại những gì người ta đã nói mà tôi thấy hay.

    Thật ra, ngày trước tôi không ưa mấy tiếng hát rên rỉ của Chế Linh qua bài hát “Đêm Buồn Tỉnh Lẻ” của Tú Nhi, và đôi khi tôi cũng thấm thía với nỗi buồn của người dân tỉnh lẻ mà tôi là một thành phần nhỏ trong cái tỉnh lẻ ấy.
    Ngày nay, nơi xứ người, cũng nơi tỉnh lẻ, tôi thấm thía với tiếng hát của Chế Linh nhiều hơn. Nó không chỉ là những đêm buồn như tên của bài hát. Bây giờ, tôi ở đây, không chỉ là đêm buồn, mà còn là những ngày buồn, tháng buồn, năm buồn dài dàng dặc, nhất là những ngày tuyết xuống làm trắng cả hàng cây, cả rừng thông, trắng cả con đường và cả những ao hồ, những giòng sông.

    Vì vậy, tôi mượn cái ý ấy của nhạc sĩ Tú Nhi và giọng hát của Chế Linh mà sửa lại một chút để đặt tên cho bài viết nầy là “Nỗi Buồn Tỉnh Lẻ”.

    Hoàng Long Hải (Tuệ Chương)






    (1) Rồng chầu ngoài Huế,
    Ngựa tế Đồng Nai
    Nước sông xanh sao lại chảy hoài
    Thương người xa xứ lạc loài tới đây!

    Câu ca dao nầy xuất hiện sau khi Gia Long lên ngôi. Việc thiết lập triều đại mới đã xong (Rồng chầu ngoài Huế - Rồng tượng trưng cho vua), việc cai trị ở miền Nam cũng đã ổn định (Ngựa tế Đồng Nai - ngựa tượng trưng cho quan quân). Bấy giờ, nhiều người từng theo nhà Tây Sơn, sợ nhà Nguyễn trả thù bèn trốn vào Nam, lạc loài nơi xứ người. Hai câu sau diễn tả hoàn cảnh và lòng thương của người dân địa phương đối với họ.

    (2) Sigmund Freud (1858-1939) là một bác sĩ người Áo, bác sĩ thần kinh và tâm lý, người đặt nền tảng cho khoa “Phân tâm học” cho y khoa hiện đại.

    (3) Levi Srauss, người Đức gốc Do Thái (1829-1902), theo gia đình sang lập nghiệp ở New York, thường lái xe chở hàng qua Caifornia bán cho người đào vàng. Ông có sáng kiến dùng bạt xe (loại vải dày) để may quần jean bán cho người đào vàng, thường lặn lội trong khe suối, quần áo chóng rách. Vải bạt xe quần jean mặc bền hơn. Loại quần do ông sáng chế rất được ưa chuộng, sau phát triển thành công ty Levi’s Srauss Co., nổi tiếng cho tới bây giờ.


    (4) Ông có người con trai, sợ bị gọi đi quân dịch nên trốn qua Canada. Mãi sau chiến tranh VN, chính phủ Mỹ có lệnh ân xá người đã từng trốn quân dịch, ông nầy mới trở lại sinh sống ở Hoa Kỳ, làm giáo viên cấp 3.

    (5) Câu nầy có nghĩa là: “ Liễu Chương Đài, Liễu Chương Đài, Ngày trước xanh xanh nay còn không? Cho dù cành dài còn rủ xuống như ngày ấy, Có lẽ đã bẻ vào tay ai khác mất rồi.

    Chương Đài là tên một phố ở thủ đô Trường An bên Tầu. Hoành Hủ lấy một người kỹ nữ họ Liễu, để lại ở đó, khi Hoành Hủ đi làm quan xa. Gặp lúc loạn lạc, tướng Phiên bắt mất Liễu thị. Khi Hoành Hủ về lại Trường An, người cũ không còn. Sau nhờ Hứa Tuấn là tướng tài, đem quân đánh Phiên, giành lại Liễu thị cho Hoành Hủ.

    Về điển tích nầy, truyện Kiều có câu:

    “Ai về hỏi liễu Chương Đài
    Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay.” (Kiều- Nguyễn Du).

    Trăng thề vẫn đó chi chi
    Liễu Chương đài đó nay đi đâu rồi?” (Hoa Tiên truyện)

    Xanh xanh khóm liễu Chương Đài
    Tiếc thay đã để tay ai vin cành (Quan âm)


    (6) Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, có thời báo chí Sài Gòn gọi đùa là Sáu Lèo, là một người rất khôn ngoan, làm cố vấn thân cận của tướng Kỳ. Hai người đều “cao bồi” như nhau. Khi Hội Đồng Quân Lực họp, buộc ông Kỳ đứng chung liên danh (liên danh 9) với ông Thiệu, báo chí cho rằng vì không có ông Loan bên cạnh (giám đốc nha An Ninh Quân Đội, tổng giám đốc CSCA) không phải là thành phần Hội Đồng Quân Lực nên không được họp, ông Kỳ chịu đứng sau ông Thiệu làm phó tổng thống. Sau đó, trong biến cố Tết Mậu Thân, ông Loan bị thương “bay đầu gối” (như người ta bàn tán), ông Loan rời khỏi chính quyền. Đời ông Kỳ cũng đi xuống từ đó. Người ta từng nói ông Loan là cái đầu của ông Kỳ. Ở Mỹ, trước khi qua đời, ông Loan cũng như ông Kỳ, người ta không thấy hai ông nầy gặp nhau và tuyên bố gì.

    ( 7) Trích hồi ký của ông Nguyễn Hữu Hanh: “Tháng 11/1991 tôi bay về Sài Gòn và gặp Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đúng vào ngày cuối cùng trước khi ông đi Tân Gia Ba và tôi quay trở về Mỹ.

    Tôi trình bày những khó khăn kinh tế tài chánh của đất nước cho ông rất lâu, trong lúc hai phụ tá của ông Kiệt ngồi ghi chép. Ông nói với tôi là ông rất có ấn tượng về những gì tôi trình bày, và ông ngồi nghe rất chăm chú. Khi đến lúc ông phải đi để gặp Tổng Bí Thư Đỗ Mười lúc ấy đang ngồi chờ ông ở căn nhà kế cận hơn 45 phút, tôi chào từ giã nhưng ra tới cửa, ông nắm tay tôi thật chặt không muốn để tôi đi. Ông khẩn khoản yêu cầu tôi trở về lại để giúp đỡ, rõ ràng là ông rất quan tâm tới điều tôi trình bày và những giải pháp tôi đề nghị. Tôi nói với ông là tôi không thể quay về nhiều lần để giúp, bởi vì có một số các đầu nóng chống Cộng bên Mỹ chắc chắn sẽ không chịu hiểu lòng muốn giúp đỡ nhân dân của tôi, và chắc chắn sẽ làm hại tôi. Ông bèn đề nghị là nếu tôi không về Việt Nam để giúp ông, thì ông mong rằng bất cứ khi nào ông ra nước ngoài, ông sẽ báo tôi biết và tôi tới gặp ông để thảo luận những vấn đề cùng ông và những người phụ tá. Tôi nói rằng như vậy thì dễ bị người ta nhìn thấy quá nên tôi chỉ muốn là có dịp thỉnh thoảng về nước để nghiên cứu các vấn đề kinh tế tài chánh của đất nước và vạch chương trình phát triển kinh tế, nhằm giúp đỡ nhân dân Việt Nam vốn đã chịu quá nhiều đau khổ cơ cực.

    Nhưng khi tôi trở về lần thứ hai vào tháng 4/1992 tôi nhận thấy vị thủ tướng lạnh nhạt, thái độ hoàn toàn thay đổi. Tôi chán nản, nên tôi nói với Linh Mục Phan Khắc Từ là tôi sẽ không trở về nữa. Tôi hiểu rằng trong thời gian vừa qua, khi Thủ Tướng Kiệt trao đổi về chuyến viếng thăm của tôi với Nguyễn Xuân Oánh, thì Oánh với bao nhiêu nỗi ganh tức chồng chất trước kia, đã huỷ hoại tiếng tăm của tôi với Thủ Tướng Kiệt. Vì ganh ghét với những chức vụ tôi ở World Bank và IMF cao hơn chức vụ cuả Oánh ở IMF, vì ganh ghét với sự nghiệp ở Ngân Hàng Trung Ương Việt Nam lâu dài và thành công của tôi, so với sự nghiệp ngắn ngủi và thất bại của anh ta, sự dính líu của anh ta trong vụ tôi đưa Lederer ra toà v.v…, Oánh đã chôn vùi tên tuổi tôi với Thủ Tướng Kiệt. Nếu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thẩm tra lại những lời vu cáo này và biết được sự thật thì tôi đã có thể làm được rất nhiều để giúp đất nước và nhân dân, nhiều hơn những gì tôi đã làm giữa các năm 91 tới 94. Và tất cả những điều này bằng chi phí của chính tôi, không chút cầu mong đền bù từ phía chính phủ hay một cơ quan quốc tế nào: Tôi chỉ muốn phục vụ Tổ Quốc và Nhân Dân tôi. Thế thôi, không còn một lý do gì khác.

    Thật là tệ hại! Đôi khi một hình dong chải chuốt với một cái lưỡi rắn và một trái tim hổ rừng có thể gây rất nhiều tai hại cho rất nhiều người.

    Nhưng Linh Mục Từ cứ thuyết phục tôi về nghĩa vụ đối với đất nước và khẩn khoản yêu cầu tôi trở lại Sài Gòn, và tôi đã về thêm hai lần nữa trong năm 93 và 94. Từ năm 91 tới năm 94 tôi đã viết rất nhiều bài viết về các vấn đề kinh tế tài chánh Việt Nam và những phương án giải quyết mà tôi xuất bản ở Paris và luôn luôn gởi một bản sao cho Thủ tướng Kiệt qua linh mục Từ. Trong chuyến đi cuối cùng năm 94, tôi trao cho Thủ Tướng Kiệt, Phó Thủ Tướng Phan Văn Khải, các bộ trưởng có liên quan và thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước, một chương trình phát triển đặc biệt cho Việt Nam, trong đó tôi gói gọn những chương trình đặc điểm lúc đó đang giúp sự phát triển các quốc gia láng giềng, cũng như các nước khác đang phát triển rất nhanh trên thế giới; tôi đã làm việc này sau hai chuyến qua Paris và New York để nghiên cứu, tại đó tôi đã trao đổi rất nhiều với các chuyên gia đã làm việc tại những quốc gia này và với các ngân hàng đã tài trợ cho những biện pháp nói trên.

    Nhưng tôi vẫn không thấy có phản ứng thuận lợi từ các nhà chức trách Hà Nội và tôi nhận thấy bầu không khí lúc đó ở nước nhà không thích hợp cho việc thực hiện chương trình phát triển của tôi. Tôi rất buồn khi thấy sự hy sinh và lòng cố gắng cuả tôi không đem lại được những kết quả tôi mong muốn cho dân tôi, nên tôi đành bỏ cuộc nữa đường, không muốn tiếp tục nữa.

    Ngày nay tôi vẫn không biết chính quyền đã sử dụng những điều tôi đề nghị được bao nhiêu, và chương trình của tôi đã giúp đỡ được bao nhiêu cho nhân dân tôi, người dân Việt.

    (8) Có lần tôi nói với vị trú trì chùa LS ờ thành phố tôi ở là nên tiếp tục công việc của đại đức Thích Trí Đăng, trong chùa không có “xin xăm”. Tuy đó ít lâu, tôi lại thấy phật tử nam nữ lên chùa xin xăm. Không có in xăm thì Phật tử ít lui tới. Có phải có xin xăm là vì... thùng phước sương?

    (9) Ba Người Khác của Tô Hoài, viết về sự tàn ác của Cải cách Ruộng đất ở Bắc Kỳ. Bối, Đình Cự là những nhân vật chính

    (10) Khi Chế Mân dâng đất châu Ô và châu Rí để làm lễ cưới Huyền Trân Công chúa, dân Chàm ở Ái Tử di cư về phương nam. Họ cũng thờ Phật, có tượng Phật nhưng tượng nặng không mang đi được, bèn chôn xuống cát. Mùa hè, khi gió Nam thổi mạnh, cát bay, tượng Phật trồi (lồi) lên. Dân làng Nhan Biều thấy tượng Phật, đào lên, lập chùa thờ, nên chùa có tên nôm na là “Chùa Phật Lồi”.

    (11) Các vị La Hán chùa Tây Phương

    Huy Cận

    Các vị La Hán chùa Tây Phương
    Tôi đến thăm về lòng vấn vương.
    Há chẳng phải đây là xứ Phật,
    Mà sao ai nấy mặt đau thương?
    Đây vị xương trần chân với tay
    Có chi thiêu đốt tấm thân gầy
    Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
    Tự bấy ngồi y cho đến nay.
    Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
    Trán như nổi sóng biển luân hồi
    Môi cong chua chát, tâm hồn héo
    Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.
    Có vị chân tay co xếp lại
    Tròn xoe từa thể chiếc thai non
    Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
    Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn….
    Các vị ngồi đây trong lặng yên
    Mà nghe giông bão nổ trăm miền
    Như từ vực thẳm đời nhân loại
    Bóng tối đùn ra trận gió đen.
    Mỗi người một vẻ, mặt con người
    Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
    Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
    Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.
    Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau
    Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
    Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
    Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.
    Có thực trên đường tu đến Phật
    Trần gian tìm cởi áo trầm luân
    Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
    Các vị đau theo lòng chúng nhân?
    Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
    Sống lại cho tôi hỏi một câu:
    Bác tạc bấy nhiêu hình khô hạnh
    Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?
    Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
    Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
    Là cha ông đó bằng xương máu
    Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.
    Cha ông năm tháng đè lưng nặng
    Những bạn đương thời của Nguyễn Du
    Nung nấu tâm can vò võ trán
    Đau đời có cứu được đời đâu.
    Đứt ruột cha ông trong cái thuở
    Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ
    Bao nhiêu hy vọng thúc bên sườn
    Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.
    Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la
    Sờ soạng, cha ông tìm lối ra
    Có phải thế mà trên mặt tượng
    Nửa như khói ám, nửa sương tà.
    Các vị La Hán chùa Tây Phương!
    Hôm nay xã hội đã lên đường
    Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
    Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.
    Cha ông yêu mến thời xưa cũ
    Trần trụi đau thương bỗng hoá gần!
    Những bước mất đi trong thớ gỗ
    Về đây tươi vạn dặm đường xuân

    27-12-1960

    (12) Ông Du Tử Lê là đại úy phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Có lần người ta thấy ông ngồi uống cà phê ở La Pagode, ngậm ống vố như các văn hào Pháp, nói chuyện làm thơ gởi cho người yêu. Không rõ khi ông làm bài thơ nầy, ông có nhớ và tiếc cái cảnh ông sống ở Sài Gòn trước 1975 hay không?!

    Ông Trung Tá Phán, người họa bài thơ của ông Lê Du Tử thì ngược lại, chỉ nhớ những chiến trường mà Quân Đội VNCH đã chiến đấu anh dũng.

    Có phải đây là 2 con người, hai tâm trạng khác nhau?! Chỉ có những người chiến đấu hiên ngang mới làm được bài thơ hào khí như vầy!


    khi tôi chết hãy đem tôi ra biển

    khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    đời lưu vong không cả một ngôi mồ
    vùi đất lạ thịt xương e khó rã
    hồn không đi, sao trở lại quê nhà
    khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
    bên kia biển là quê hương tôi đó
    rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì
    khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
    cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
    biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi
    khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
    những năm trước bao người ngon miệng cá
    thì sá gì thêm một xác cong queo
    khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    cho tôi về gặp lại các con tôi
    cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
    từ những mắt đã buồn hơn bóng tối
    khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
    ôi lâu quá không còn ai hát nữa
    (bài hát giờ cũng như một hồn ma)
    khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
    đời lưu vong tận huyệt với linh hồn.
    .
    Cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phán họa lại:

    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
    Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
    Ôi ! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.
    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô
    Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ
    Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.
    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ
    Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
    Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.
    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
    Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
    Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.
    Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
    Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
    Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng
    Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.


    (13) “Tìm Về Dân Tộc” Lý Chánh Trung.

    “Tóm lại, như nhà cách mạng Pháp Sieyès đã viết: “Dân tộc có trước tất cả và sẽ là nguồn gốc của tất cả”. Tất cả những gì chúng ta có, đều thuộc về dân tộc và khi cần, phải trả lại cho dân tộc. Để cho dân tộc trường tồn, để con cháu chúng ta tiếp tục được tự xưng và được gọi là người Việt Nam.
  3. Bài 1:

    Tôn giáo của người Việt Nam

    1)- Thờ phụng danh nhân, danh vật lịch sử:

    Ông Xuân Hồng, phái viên của đài BBC, trong một lần phỏng vấn một người Việt Nam ở Hà Nội, về việc “cụ Rùa” ở hồ Hoàn Kiếm đang được chính quyền địa phương tìm cách vớt “cụ” lên để chữa bệnh cho “cụ”, gọi “cụ Rùa” ở cái hồ ấy là “con rùa” thì bị người được phỏng vấn trả lời ngay: Phải gọi là “cụ Rùa”, nếu ông gọi là “con rùa” thì tôi không nói chuyện với ông nữa.

    Dĩ nhiên, cuộc phỏng vấn được trót lọt, xong xuôi, sau khi ông Xuân Hồng đổi cách nói: “Cụ Rùa.”

    Gọi “con” là thiếu kính trọng rùa. Gọi là “Cụ” tức là tỏ sự kính trọng đấy.

    Theo phong tục Việt Nam xưa - không rõ ngày nay vì “văn hóa mới” mà người ta có gọi khác đi không!!! - những ai trên năm mươi, trong sự giao tiếp, họ được những người trẻ gọi bằng cụ. Rõ ràng nhất là các trường hợp “cụ Ngô”, “cụ Hồ”, mặc dù, khi hai ông nầy mới lên cầm quyền, một ông thì có râu, là ông Hồ, một ông không râu, là ông Ngô, ông nào cũng vừa mới quá 50 tuổi.

    Có lẽ phong tục nầy cũng có nguồn gốc từ trong câu nói của Khổng Tử: “Ngũ thập tri thiên mệnh”. Với người xưa, ai được bảy mươi tuổi đã gọi là hiếm (nhân sinh thất thập cổ lai hy), thì năm mươi tuổi thì “tri thiên mệnh” tức là biết cái mệnh trời cho về đâu, tức là đã già. Già thì được gọi là “cụ”: Cụ Ngô, cụ Hồ, cụ Huỳnh, cụ Phan, v.v...

    Được gọi bằng cụ, tức là gọi một cách kính trọng, thì người được gọi phải là người có tư cách, có đạo đức hay là người có danh tiếng. Các cụ tôi trích dẫn ở trên, đều là những “người làm cách mạng”, tức là những người có thành tích hay có tiếng là người chống Pháp giành độc lập. Cũng cần nói rõ thêm, cách gọi như thế về con người nào đó, ở một thời điểm nào đó, chớ không phải từ đầu chí cuối, cho đến khi qua đời, người ta vẫn kính trọng như thế cả đâu! Cụ Ngô có lúc rồi không được gọi là “cụ Ngô”, là “chí sĩ”, mà gọi là “nhà độc tài”, cũng như cụ Hồ sau nầy người ta gọi là “già Hồ”, “cáo Hồ”, v.v... “Cái quan định luận” về cá nhân các ông ấy, có dịp sẽ... nói sau!

    “Cụ Rùa” không phải là người đi hai chân như cụ Ngô, cụ Hồ, mà lại là một sinh vật có bốn chân, là động vật thuộc loài giáp sát (vì có cái mai rùa - có khi người ta gọi là mu rùa) thế tại sao người ta gọi một cách kính cẩn là “cụ Rùa”.

    Có phải vì rùa thuộc “tứ linh”. Tứ linh là bốn con vật được coi là “linh” (thiêng) gồm long, lân, quy, phụng. Long là rồng, lân là con kỳ lân, quy là rùa, phụng là chim phượng. Đó là bốn con vật, người xưa dùng tạc tượng làm vật trang trí trên bàn thờ hay nơi thờ phượng như đình chùa, miếu vũ, v.v... Long trang trí ở cột, trến, đòn tay. Phượng thì đứng trên mai rùa... Trên đầu phượng là chỗ cắm đèn cầy...

    Người ta không ai gọi “cụ Rồng”, hay “cụ Phượng”, nhưng lại gọi là “cụ Rùa” vì rùa sống lâu, có khi tới mấy trăm tuổi, nên người ta gọi rùa bằng cụ vì “kính lão đắc thọ” chăng?

    Không phải vậy. Gọi là “cụ” vì rùa có công với với lịch sử nước ta. Ấy là câu chuyện Hồ Hoàn Kiếm.

    Theo giả sử, khi ông Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa chống quân nhà Minh (Tầu) đang cai trị nước ta, một hôm “đi chơi” trên hồ Hoàn Kiếm thì được rùa dâng gươm. Theo sách thì khác.

    “Lam Sơn Thực Lục” của Nguyễn Trãi chép:

    Khi ấy Nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma Viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

    - “Sắt nào đây?”

    Thận nói:

    - “Đêm trước quăng chài bắt được.”

    Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”. Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

    - “Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!”

    Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra. Truyền thuyết kể tiếp rằng, sau Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua. Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:
    - “Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!”

    Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Tả Vọng được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.

    Dĩ nhiên, vua Lê Lợi không phải là “dân nhậu miền Nam”, bởi vì nếu là người như thế, chắc gì khi đã có gươm trong tay mà “cụ Rùa” sẽ không trở thành một món mồi rất bắt rượu, giống như cần đước, kỳ đà, ếch, rắn, v.v... là những món nhận bắt mồi của mấy ông “sáng xị, trưa xị, chiều xị”.

    Vậy thì dân Hà Nội hay dân Bắc Kỳ, - nếu nói rộng ra - tôi không nhắc tới dân Nam Kỳ, vì rõ ràng, sau khi bị “sửa lưng”, ông Xuân Hồng mới gọi “cụ Rùa”, còn trước đó, ông gọi là “con rùa”, mà Xuân Hồng nói giọng Nam, nên có lẽ ông ta là dân Nam Kỳ đấy! - là vì không chắc người ta “kính lão đắc thọ” mà vì “cụ Rùa” có công với lịch sử Việt Nam: “Cụ Rùa” đã giúp vua Lê chống lại giặc Minh, giành lại độc lập cho người Đại Việt.

    Độc giả cũng đừng quên câu chuyện nầy: “cụ Rùa” vừa được vớt lên để chữa bệnh. Lưng, chân “cụ” bị lở loét là vì nước hồ Gươm bây giờ bị nhiễm độc hay vì bị đám “rùa đỏ” tấn công. “Rùa đỏ” là chuyện có thật, nhưng người ta cũng có thể nghĩ rằng tiếng “đỏ” là ám chỉ Cộng Sản? Đã “đỏ” thì Tầu Cộng hay Dziệt Cộng cũng chỉ là một thứ mà thôi. Nói rộng ra, “rùa đỏ” đang tấn công “cụ Rùa” có nghĩa rằng bọn Cộng Sản đang tấn công vào dân tộc Việt Nam, - vì “cụ Rùa” có công trạng trong lịch sử Việt Nam, giúp Lê Lợi chống giặc Minh. Nói xa hơn nữa, câu chuyện nầy cũng có nghĩa là Việt Nam hiện đang đứng trước nguy cơ bị Tầu xâm lược, mà bọn đầu sỏ ở Hà Nội thì hèn nhát, tham sinh úy tử, chưa đánh đã vội đầu hàng. Cũng trong ý nghĩa đó, nếu “cụ Rùa” có mệnh hệ nào, thì đó cũng là “điềm gở” cho người Việt chúng ta, trong khi ở thời đại nầy, chúng ta không có ai đưa ra “Lời thề sông Hóa” như Hưng Đạo Vương đời nhà Trần.

    Ngựa là con vật người xưa thường dùng làm phương tiện di chuyển khi đi đánh giặc, cỡi hay kéo xe... ở Á cũng như Âu. Xích thố là con ngựa nổi tiếng của ông Quan Công. Napoléon khi đem quân đánh Nga cũng dùng ngựa. Một mùa đông, khi thất trận, Tướng Washington kéo quân về cố thủ ở White Mountain, tiểu bang New Hampshire bây giờ, thiếu lương thực, phải giết cả ngựa mà ăn thịt.

    Trong lịch sử nước ta, khi đi chinh chiến, tổ tiên dùng voi nhiều hơn ngựa. Bà Triệu Ẩu cỡi voi đem quân đi đánh quân Tầu. Ca dao nói về bà có câu “Muốn coi lên núi mà coi, coi bà Triệu tướng cỡi voi, đánh cồng.” Hai bà Trưng cũng cỡi voi:

    “Bà Trưng quê ở Châu Phong,
    Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên,
    Chị em nặng một lời nguyền,
    Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân”


    Học lịch sử, chúng ta biết “Lời thề sông Hóa” của Đức Trần Hưng Đạo. Khi quân Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai, Hưng Đạo Vương chỉ huy công cuộc kháng chiến. Bấy giờ Hưng Đạo Vương cắt đặt quân lính đâu đó rồi, bèn tự mình cầm quân đi đánh Ô Mã Nhi. Khi quân Ngài vượt qua sông Hóa, - một nhánh của sông Thái Bình - voi của Ngài bị sa lầy, không đi được nữa, phải bỏ voi lại. Sợ binh lính cho đó là điềm gở, để kích thích tinh thần họ, Hưng Đạo nói: “Nếu không thắng trận ta thề sẽ không trở lại bến sông này nữa.”

    Về sau, chỗ voi bị lầy có đền thờ. Tuy nhiên, người Việt sao không gọi “cụ Voi” mà có gọi “cụ Rùa”?

    Chuyện voi là chuyện thực. Chuyện rùa dâng gươm thì không chắc, vì những việc “linh thiêng”, thường không thiếu hoang đường.

    Hoang đường là tính chất thường xuất hiện trong lịch sử cổ đại loài người và rất “phong phú” trong lịch sử tôn giáo, nhằm mục đích tuyên truyền, vận động, mê hoặc cho một người, một tổ chức, và nhất là tín đồ tôn giáo...

    Để tuyên truyền dân chúng theo phò Lê Lợi, dã sử còn kể lại mưu mô của Nguyễn Trãi, mưu sĩ của Lê Lợi. Nguyễn Trãi sai người lên núi, viết vào những ngọn lá lớn mấy chữ “Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần”. Kiến ăn mở, làm cho 8 chữ nói trên hiện rõ ra. Những lá đó được thả xuống sông, được vớt lên và cho dân chúng đọc, rồi tin rằng đó là “điềm trời” báo trước sự nghiệp của Lê Lợi.

    Lê Lợi có mưu sĩ, và chuyện rùa hồ Hoàn Kiếm, chắc gì không phải là một “mưu thần” của Nguyễn Trãi, để tuyên truyền với dân chúng rằng, Trời đã giúp Lê Lợi chống giặc Minh.
    Thời đó dân trí chưa cao, người ta dễ tin vào “điềm trời”. Điều đó không có gì lạ. Còn như bây giờ, chuyện hoang đường huyền hoặc, phù phép còn mấy ai tin?! Cho nên, cụ Mỹ Tín, nguyên giáo sư trường Âm Nhạc Và Nghệ Thuật Sài Gòn trước 1975, mấy năm trước, trong một lần nói chuyện với tôi và vài anh em quen biết, phê phán việc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa chọn Nguyễn Trãi làm thánh tổ là sai lầm.

    Nếu tin và thờ “cụ Rùa” cũng như thờ các vị anh hùng liệt nữ thì đó là một tín ngưỡng hay tôn giáo? Khi đã có niềm tin, có tín ngưỡng và biến niềm tin thành sự sùng bái, cầu xin ban phước, xin hạnh phúc, trừ xui rủi, thì nó không còn tín ngưỡng mà lại là một tôn giáo.

    Trong ý nghĩa ấy, người ta có thể cho rằng tôn giáo của người Việt đa dạng và phức tạp.
    Cụ thể hơn, tôi trích một đoạn trong cuốn “Brother Enemy” (2) của Nayan Chanda, một nhà báo gốc Ấn Độ, làm việc và nổi tiếng ở Sài Gòn trước và sau 1975, và thử suy nghĩ một chút, về tôn giáo của người Việt chúng ta:

    “Cuộc chiến đấu chống lại ách đô hộ Trung Hoa trở thành một động lực cho chủ nghĩa quốc gia Việt Nam được tôn giáo nâng cao.”

    “Ngay trong cao điểm chiến tranh chống Mỹ, khi viện trợ Trung Hoa có tính cách quyết định cho sự sống còn của Việt Nam (Cộng Sản) thì tinh thần tôn giáo đó lại âm thầm đóng một vai trò thực tiễn. Trong thời gian thăm viếng Bắc Việt Nam hồi tháng 10/ 1972, học giả Mỹ George Kahin tò mò khám phá ra sự tự do tôn giáo có mức độ. Sau khi quan sát một đám đông người ngoan đạo ở nhà thờ chánh tòa Hà Nội, người tùy tùng Việt Nam của ông hỏi: “Ông có muốn xem vài điểm về tôn giáo của chúng tôi không?” Kahin nhận lời mời nên được đưa đi xem một ngôi đền giữa hồ Hoàn Kiếm. Tại đền này có ba bàn thờ: Một thờ Phật, một thờ Thủy Thần và giữa thì thờ Đức Trần Hưng Đạo, một vị tướng đánh bại (3 lần - nd) quân Mông cổ hồi thế kỷ thứ 13. Do yêu cầu, Kahin tìm thấy ở Hà Nội có khoảng 6 ngôi đền người Việt Nam dùng để thờ lạy các vị nam nữ anh hùng như Lê Lợi, hai bà Trưng, những người đã chống lại Trung Hoa xâm lược.

    “Trong khi chiến đấu để giành độc lập, người Việt Nam phát triển một kiểu mẫu chính trị pha trộn giữa hai tính bền vững và uyển chuyển. Sự bền vững bảo tồn tính khác biệt và độc lập, sự uyển chuyển là tính thỏa hiệp với Trung Hoa. Tính độc đáo này cũng phản ảnh quan điểm hai mặt với Trung Hoa, đánh dấu sự yêu mến và thù ghét, thua kém và tự hào, lòng can đảm anh dũng và sự tự đắc. Điều ấy lại được củng cố bởi tinh thần làm chủ của mình, luôn luôn được tài bồi bởi ý thức về sức mạnh Trung Hoa và lòng khâm phục của họ đối với quốc gia nầy. Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu rất rõ rằng ngay từ khi mới giành được độc lập, tinh thần anh dũng của dân tộc họ, đất đai thuận lợi, và chiến lược hay có thể đánh bại các cuộc xâm lược, nhưng Trung Hoa là một nước quá đông dân, và tiềm năng của họ rất phong phú. Việt Nam phải đối đầu với Trung Hoa biết tới bao giờ mới thôi. Chấp thuận bá quyền của Trung Hoa, các nhà lãnh đạo Việt Nam có thể tránh được sự can thiệp của quốc gia này. Có nhà viết sử Việt Nam nói rằng: “Nhượng bớt quyền hành cho Trung Hoa có lợi hơn cho các vị vua Việt Nam, có thể bảo đảm an toàn được trong khi loạn lạc có Trung Hoa che chở còn trong thời bình thì không bị Trung Hoa chiếm đóng hoặc cai trị trực tiếp.” Thông thường, sau khi đánh bại quân Trung Hoa xâm lược, vua Việt Nam thường phái sứ bộ sang Tàu xin lỗi và đem đồ cống sứ qua cho Thiên Tử. Thường thì việc ấy được vua Trung Hoa chuẩn nhận.”

    Thờ “cụ Rùa” vì “cụ Rùa” có công với dân tộc ta, do đó, việc thờ phượng các vị anh hùng liệt nữ dân tộc cũng không có gì lạ. Cho nên, suốt trên dãi đất hình chữ S, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, nước ta không thiếu những đền đài miếu vũ thờ phượng bà Trưng, bà Triệu, Lý Bôn, Lý Bí, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung cho đến các anh hùng dân tộc chống Pháp xâm lược gần đây như Nguyễn Trung Trực, Phó Cơ Điều, Thủ Khoa Huân... (3) của các thế kỷ 19, 20...

    Nếu có một ngày nào đó, số phận dân tộc Việt Nam xui tận mạng, bọn lãnh đạo Hà Nội rước quân Tầu vào cai trị, thì các đền đài thờ “cụ Rùa”, “cụ Voi”, cho đến các di tích lịch sử chống Tầu, chống Pháp sẽ bị phá thành bình địa. Làm như thế là các thái thú Tầu triệt tiêu tinh thần quật khởi, độc lập của người Lạc Việt, biến họ thành người Hán như Tôn Văn (4) và 99 Việt ở vùng Hoa Nam vậy.

    Tuy nói vậy, cũng có người nghĩ khác. Mã Viện dựng cột đồng, viết lên đó mấy chữ “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”. Vậy mà ngày nay, không ai biết đồng trụ nằm ở đâu, còn hai vị anh thư thì Hoàng Cao Khải lên tiếng ca ngợi chung cho đồng bào Việt Nam:

    “Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy
    Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương...”


    Trong sự tín ngưỡng và thờ phượng như nói trên, chúng ta thấy một sự kiện hết sức đặc biệt. Ấy là người Việt Nam chúng ta đã hòa nhập hai lãnh vực lịch sử dân tộc và tôn giáo làm một.
    Thờ phượng các anh hùng liệt nữ dân tộc với niềm tin tôn giáo rằng các vị được thờ phượng đó, có đủ quyền lực siêu nhiên giúp đỡ con cháu họ, tức là người Việt Nam, chống lại họa xâm lăng, nhứt là xâm lăng của người Tầu ở phương bắc. Con cháu và tổ tiên quá vãng, cùng nhau chống lại họa quân thù.

    Dã sử còn ghi:

    “Đời Lê Đại Hành, bọn quân Tầu do Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng xâm lăng nước ta. Vua Lê Đại Hành và tướng Phạm Cự Lượng kéo quân cự địch ở sông Đồ Lỗ.

    “Vua Lê Đại Hành mộng thấy hai anh thần nhân hiện ra trên sông, bèn vái xin phù trợ. Hai vị thần nói:

    “Anh em thần, một là Trương Hống, hai là Trương Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần về. Bọn thần vì nghĩa không thể theo được, uống thuốc độc tự tử. Trời thương anh em thần có công, lại khen trung nghĩa, mới phong làm quan tướng, thống lĩnh âm binh. Nay có quân Tống đến xâm lăng, hai anh em thần đến bái yết, nguyện cùng nhà vua đánh giặc để cứu sinh linh.”

    Vua tỉnh dậy, mừng rỡ bảo với quan binh: “Thế này là có thần nhân giúp ta rồi vậy”. Bèn lập tức cho đốt hương ở trước thuyền ngự mà khấn:

    “Nếu thần nhân có thể giúp ta làm nên công nghiệp này, thì hãy giết vật tế thần để được huyết thực muôn đời”.

    Đoạn giết súc vật tế lễ. Đêm ấy nhà vua lại mộng thấy hai thần nhân đến bái tạ. Đêm sau lại thấy một người dẫn đoàn âm binh áo trắng, tự phía Nam sông Bình Giang mà tới, một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía Bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư
    Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
    Như hà Bắc Lỗ lai xâm lược.
    Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
    (5)

    Quân Tống nghe thơ, xéo đạp vào nhau mà chạy, lầm giết lẫn nhau, ai lo chạy thoát thân người ấy, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống đại bại. Vua Lê Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân, một là Tinh Mẫn Đại vương, lập miếu thờ tại ngã ba sông Long Nhãn, sai dân ở Long Nhãn, sông Bình Giang phụng thờ, một là Khước Mẫn Đại vương lập miếu ở ngã ba sông Như Nguyệt, sai dân ở bờ sông Như Nguyệt phụng thờ, hưởng huyết thực đời đời, nay vẫn còn là phúc thần.
    (trích Lịch Sử Việt Nam)

    2)- Thờ phụng tổ tiên

    Trong quá trình thờ phụng các vị anh hùng liệt nữ có công với dân tộc, người Việt còn thờ phụng các vị thần gần gủi hơn, có công bành trướng lãnh thổ, khai phá đất đai như các thành hoàng, và thờ phụng ông bà tổ tiên như một tín ngưỡng tôn giáo, có thể ban phúc, giáng họa cho con cháu...

    Ông bà linh thiêng, có khả năng siêu hình giúp đỡ hay trừng phạt con cháu. Theo Đào Duy Anh trong “Việt Nam Văn hóa Sử cương thì:

    “Vong hồn đối với người sống là hai đường dương gian, âm phủ khác nhau, nhưng vẫn thường săn sóc đến con cháu luôn. Mỗi khi gia đình có điều vui, điều buồn, điều mừng, điều sợ thì linh hồn của tổ tiên thường cũng dự một phần. con cháu làm ăn tổ tiên thường phù hộ, khi có việc gì nguy hiểm sắp tới, tổ tiên thường báo mộng để con cháu tìm cách mà đề phòng. Bởi đối với gia đình, linh hồn tổ tiên có quan hệ mật thiết như thế, nên con cháu phải cúng cấp tổ tiên...”

    “... Con cháu muốn trọn đạo hiếu với tổ tiên thì những ngày kỵ chạp tết nhứt phải cúng cấp tử tế. Những người bỏ giỗ, bỏ tết là bất hiếu chi cực, cũng như những người vô hậu (bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại) để tổ tiên không có người tế tự mà phải trụy lạc thành những cô hồn đói rét thảm sầu...” (VNVHSC – trang 203)

    Theo Nho Giáo, hiếu trung là hai tiêu chuẩn sống của người thanh niên (Trai thời trung hiếu làm đầu - Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu). Hiếu là lòng hiếu thảo, tức là biết ơn, chung thủy, yêu mến, kính trọng, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, từ cha mẹ trở lên là ông bà tổ tiên... Trung là “tận trung” với vua, một lòng một dạ vì vua, vua biểu sao nghe vậy, làm đúng như vậy. (Quân khiến thần tử, thần bất tử bất trung - Vua khiến bầy tôi phải chết, bầy tôi không chết là bất trung). Tuy nhiên, theo cách nghĩ rộng, vua là nước, vua tượng trưng cho đất nước. Vì vậy, người xưa bảo “tận trung báo quốc”, hết lòng trung với vua là đền đáp công ơn đất nước... Cũng theo cách nghĩ như thế, trung với vua không có nghĩa là trung với một người, cá nhân ông vua, nhất là khi vua không có đức độ, thiếu phẩm cách, không biết thương dân. (6) Khổng Tử nói: Không nghe nói giết vua Kiệt, vua Trụ, chỉ có giết một người tên Kiệt, tên Trụ mà thôi. (7)

    Nhìn chung, tôn giáo của người Việt là Tam Giáo: Nho, Thích, Lão. Nho dạy thờ Trời, dạy hiếu trung, tam cương ngũ thường... Vì đạo Nho là tiêu chuẩn học vấn trong việc thi cử, nên ngày xưa, sĩ tử, muốn được ra làm quan cho no cơm ấm cật, hay giúp dân giúp nước... thì phải học kinh sách của đạo Nho... cũng do đó mà đạo Nho lan tỏa trong đời sống thường nhựt của dân chúng. Đạo Phật thì dạy về gieo nhân gặp quả, tu nhân tích đức, ăn hiền ở lành, “tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác” và đạo Lão chủ trương đạo đức, vô vi, lấy việc ở ẩn vô danh là chính. Tuy gọi rằng tam giáo đồng nguyên, nhưng ngoài một ít đạt nhân quân tử như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi là chính, tôn giáo nầy không được thịnh hành.

    Theo cách nhìn rộng rãi thì người Việt vốn không tín ngưỡng độc thần mà lại đa thần, từ những thần sông, thần núi, thần mưa thần gió thời dân tộc còn sơ khai, cái tính chất đa thần đó tồn tại mãi trong dân chúng, nên việc thờ ông bà được coi như một tôn giáo như Kahin nhận xét thấy ở Hà Nội cũng không có gì là lạ.

    Việc thờ Bà Chúa Liễu Hạnh cũng được coi như một tôn giáo. Người Huế thường gọi là “đạo lên đồng”. Chữ nghĩa thì gọi là Thiên Tiên Thánh Giáo.

    Vì tính cách tam giáo đồng nguyên, người Việt Nam vừa có thể đi chùa, vừa đến đền miếu lên đồng, vừa thờ thánh thần trong làng xã đất nước, và cũng có thể đặt bàn thờ thờ ông bà trong nhà. Không có việc thờ tự nào cản trở cho việc thờ tự nào cả. Người dân thờ lạy Khổng tử cũng có thể là một Phật tử, một tín đồ Thiên Tiên Thánh Giáo, một người thờ cúng ông bà tổ tiên trong nhà. Làng có đình thờ thành hoàng, thờ Khổng Tử. v.v... thì bên cạnh đình có chùa. Dân làng vừa quì lạy ở đình xong, có thể qua chùa thờ lạy Phật hay ngược lại.

    Sau khi nước ta có đạo Thiên Chúa, dân chúng được chia thành hai thành phần, gọi là Lương, Giáo. Lương là người theo tam giáo đồng nguyên như trong lịch sử dân tộc đã có sẵn, mà tôi đã nói trên kia. Và Giáo là người theo đạo Thiên Chúa. Người theo đạo Thiên Chúa chỉ có thờ lạy một mình Thiên Chúa mà thôi, là thờ độc thần, khác với tâm lý người Việt thờ đa thần.

    Người Lương sống bình thường, như trong đời sống dân tộc. Ngoài các chức sắc trong làng, người dân có thể đi cúng đình hay không cũng được. Trong khi những người giàu có đi chùa vào những ngày rằm hay mồng một mỗi tháng và những ngày vía lớn, là những “Phật tử thuần thành” thì người bình dân, vốn bận rộn vì đời sống buôn bán, ruộng rẫy, mỗi năm đi chùa vài lần mà thôi. Thậm chí có nhiều người đi chùa không hẵn vì lễ Phật mà chính vì những ngày hội chùa.

    Ca dao có câu:

    Dù ai đi đâu về đâu
    Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
    Dù ai buôn bán trăm nghề
    Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.


    Người ta đi chùa Dâu vì đó là một ngày lễ hội, chưa hẵn đi chùa để lễ Phật. Tính cách đó cũng rõ trong số nam nữ thanh niên, sinh viên học sinh Huế khi chiến tranh chưa lan tràn khốc liệt. Ngày Phật Đản, họ kéo nhau đi chơi những chùa rất xa, ở về phía tây Huế. Đó là những cuộc du ngoạn hơn là đi chùa lễ Phật. Tuy nhiên, điều ấy cũng nói lên tính cách tôn giáo của người Việt Nam. Họ cũng là Phật tử không thuần thành đấy. Phật tại tâm, không phải ở sự cúng lạy.

    Người Việt Nam theo đạo Phật không có nghĩa là đi chùa thường, là thuộc kinh, là biết hát những bài ca tôn giáo. Đạo Phật nằm ở trong tâm thức của họ, trong phong tục và văn hóa, trong triết lý căn bản của đạo Phật mà nó đã trở thành văn hóa, đạo đức của người Việt như nhân quả, ăn hiền ở lành v.v... Người tín đồ bình dân có thể không thuộc kinh kệ, không biết hát những bài đạo ca, mà chỉ biết những câu niệm thông thường như “Nam mô A di Đà Phật,” hoặc “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát” mà thậm chí họ chỉ biết Phật A Di Đà, Quán Thế Âm một cách chung chung, không rõ sự tích các ông Phật đó như thế nào! Tính cách phóng khoáng, không câu nệ kinh sách của đạo Phật đã tạo nên những tín đồ như thế.

    Thật ra, tín đồ Thiên Chúa giáo hay Tin Lành, Anh Quốc giáo cũng tương tự. Phim “Amour à Italienne” thuật chuyện hai thanh niên nam nữ yêu nhau, chở nhau đi dạo bằng xe Vespa dọc theo chiều dọc nước Ý. Tới đâu, có nhà thờ thì cô gái vô nhà thờ cầu nguyện, còn anh chàng thanh niên ngồi chờ bên ngoài, hút thuốc nhìn phong cảnh vẩn vơ. Anh ta cũng là tín đồ theo đạo Thiên Chúa nhưng không mấy khi đi lễ nhà thờ. Tính cách phóng khoáng ấy thể hiện rõ ở rất nhiều thanh niên khác.

    Ba tôn giáo: Phật, Lão, Nho và thứ Tư là thờ ông bà tổ tiên, với một người Việt Nam bình thường, có thể từ bỏ ba điều trước, nghĩa là có thể bỏ đi chùa, bỏ tới cúng tế ở đình làng hay miếu mạo, nhưng họ không thể bỏ việc thờ cúng ông bà. “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”. Hiểu một cách rộng rãi, bỏ thờ ông bà là tội bất hiếu. Tôi ấy nặng hơn tội bỏ Phật Thánh nhiều lắm.

    Nắm vững tâm lý đó, thời Ngô Dình Diệm, trong mục tôn giáo khi khai lý lịch, bỗng xuất hiện “Đạo thờ ông bà.”

    Đó là một âm mưu của chính quyền.

    Thứ nhứt, khi khai lý lịch, ở các nước văn minh, người ta không buộc phải khai theo tôn giáo nào. Trong thời gian sống ở Mỹ, tôi không thấy ai hỏi tôi theo đạo nào, khi tôi viết đơn xin việc, hay thậm chí, ngay cả khi lập hồ sơ xin nhập tịch. Ở những nước lạc hậu, như dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Sản ngày nay thì mục ấy được xem xét kỹ lắm.
    Âm mưu dưới thời Ngô Đình Diệm là muốn “kéo” người lương ra khỏi đạo Phật, làm cho tín đồ đạo Phật ít đi, bày đặt ra “đạo thờ ông bà” trong mục tôn giáo. Thời bấy giờ, đạo Phật đang bị chèn ép, khủng bố, bị kỳ thị nên người dân ít học, nhát gan cũng sợ bị “vạ lậy”, khai là theo “đạo thờ ông bà” cho được yên thân.

    Chính quyền Ngô Đình Diệm không phải không biết, nhưng chủ quan, cho rằng nếu ai không đi chùa thường xuyên thì không phải là tín đồ đạo Phật, nên mới có nhiều việc đàn áp xảy ra, mới có vụ Đài Phát Thanh Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963.

    Người Việt Nam bình thường không đi chùa thường xuyên, nhưng họ là tín đồ đạo Phật, đạo Phật ấy nằm ở trong lòng họ, trong tư tưởng tình cảm họ, trong văn hóa đạo đức sinh hoạt hằng ngày. Thành thử, khi bị đàn áp thì tinh thần ấy bùng dậy, thúc đẩy, khuyến khích họ tham gia các cuộc đấu tranh chống lại Ngô Triều.

    Những người Huế đấu tranh chống Ngô triều sau vụ đài Phát Thanh Huế năm 1963 là ai? Là dân lao động, thợ may, thợ hồ, làm ruộng, buôn bán, là tiểu thương chợ Đông Ba, là thanh niên, sinh viên, học sinh Huế. Họ là những Phật tử không thuần thành, là những người đi chùa mỗi tháng hai lần, vào ngày chủ nhựt, mà họ chỉ đi chùa vào những ngày vía lớn mà thôi. Đó là những người Phật ở trong tâm, mà nhà cầm quyền tưởng lầm rằng họ là người theo “đạo thờ ông bà” như chính quyền đã gợi ý.

    Tuệ Chương Hoàng Long Hải


    (1)- Tam thập nhi lập;
    Tứ thập nhi bất hoặc;
    Ngũ thập nhi tri thiên mệnh;
    Lục thập nhi nhĩ thuận;
    Thất thập nhi tòng tâm dục bất du củ.
    (Luận Ngữ)

    (2) Tác giả đã dịch cuốn sách nầy ra tiếng Việt.

    (3) Thủ tiêu xác tướng Ba Cụt. Sau khi chém chết tướng Ba Cụt ở Cần Thơ, chính quyền Ngô Đình Diệm bèn thủ tiêu xác Ba Cụt. Theo vài người thì vì hai lý do sau đây:

    Sợ dân chúng theo đạo Hòa Hảo tôn vinh tướng Ba Cụt thành Phật, thành thánh, biến nơi chôn cất ông thành “thánh địa”, hàng năm lui tới thờ lạy, tôn vinh, tạo nên những cuộc biểu tình chống chế độ.

    Theo phong tục, tin dị đoan, người “chết mất xác” là không còn hiển linh để báo hận. Đó là trường hợp Vua Gia Long thủ tiêu xác vua Quang Trung hay Nguyễn Thân đốt xác ông Phan Đình Phùng, trộn với thuốc súng, bắn xuống sông. Thủ tiêu xong rồi, vua Gia Long, ông Nguyễn Thân, thực dân Pháp và cả ông Ngô Đình Diệm, an tâm hơn khi ngồi trên cái ghế quyền lực.

    (4) Tổ tiên Tôn Văn là một trong các giống Bách Việt đã bị Hán hóa.

    (5)

    Nam Quốc Sơn Hà

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

    Sông núi nước Nam
    Sông núi nước Nam vua Nam ở,
    Rành rành định phận tại sách Trời.
    Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

    Dị bản:

    Nam Quốc Sơn Hà

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư
    Hoàng Thiên dĩ định tại Thiên thư
    Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
    Bạch nhận Thiên hành phá trúc dư

    Sông núi nước Nam
    Sông núi nước Nam, vua Nam ngự
    Sách Trời định phận rõ non sông
    Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm
    Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

    (6) Dziệt Cộng thay đổi mục tiêu trung hiếu. Thay vì “trung với vua” thì với Dziệt Cộng thì “Trung với đảng” vì đảng là vua. Thay vì hiếu với cha mẹ thì nay “hiếu với dân” vỉ Dziệt Cộng lý luận, không có dân, cha mẹ lấy gì nuôi ta. Dân nuôi ta chứ không phải cha mẹ nuôi, cứ đẻ con ra, giao cho đảng nuôi thì ta sẽ thành người có... đuôi.

    (7) “Giết một người tên Kiệt, một người tên Trụ”, nói như Khổng Tử, ông Kiệt, ông Trụ không đáng làm vua. Vậy thì việc ông Diệm lật đổ ông Bảo Đại có đáng hay không? Cũng trong cách suy nghĩ như thế, tại sao người ta lại trách ông Đỗ Mậu đảo chánh ông Diệm.
  4. Nhân ngày Phật Đản, nhắc lại câu chuyện 48 năm về trước: “Ba tiếng súng lệnh ở đài phát thanh Huế,”


    Hoàng Long Hải
    (nhân chứng trực tiếp)

    Phần I

    Tình cờ lịch sử

    Buổi chiều ngày 8 tháng 5 năm 1963, tôi không nhớ rõ giờ, lúc đó trời cũng đã chiều, tôi lấy xe gắn máy chở em gái tôi “đi coi” lễ Phật đản ở chùa Diệu Đế bên Gia Hội rồi vòng lên chùa Từ Đàm. Tôi nói là “đi coi” là vì gia đình tôi tuy theo đạo Phật nhưng ngoại trừ khi còn rất nhỏ, tôi chẳng đi chùa bao giờ. Các anh chị tôi đi chùa thường hơn, nhất là các ngày vía lớn. Bấy giờ, tôi đã có con đầu lòng, vợ tôi đang mang thai đứa thứ hai. Vợ tôi phải ở nhà giữ con, sau khi tôi đưa em gái tôi đi một vòng, tôi sẽ về đưa vợ tôi “đi coi” lễ một vòng như thế.

    Khi đi ngang Đài Phát Thanh Huế, tôi thấy đồng bào tụ tập ở đây đông lắm, không biết chuyện gì, tôi về nhà cất xe rồi dắt vợ và em gái ra đài phát thanh xem sao. Nhà tôi ở lúc đó là ngay trước rạp “Ciné Morin” cũ, cách đài phát thanh khoảng ba bốn trăm mét.

    Đài Phát Thanh Huế nằm bên chân cầu Trường Tiền, phía hữu ngạn, ngó mặt ra hướng cầu. Bên tay phải là đại lộ Lê Lợi, bên trái là sông Hương. Có một con đường nhỏ, tôi không nhớ tên, chạy trước mặt đài phát thanh, sát chân cầu, rồi vòng ra phía bờ sông, cặp theo đó, lên tới bến Trảng Hề, quẹo ra phía đường Lê Lợi. Mặt trước đài phát thanh là một cái nền “xi-măng” cao, nơi trước đây, khi còn nhỏ, nghỉ hè, tôi thường ngồi nhìn qua cửa kính phòng vi âm, xem Kim Tước, Minh Trang, Hương Thủy, Hà Thanh hát trong đó, cũng tương tự như đi nghe nhạc sống ở phòng trà sau này tại Saigon vậy. Ở đây, nghe “chùa”, khỏi tốn đồng xu nào. Trước nền ximăng nói trên là một cái sân rất rộng, có bồn hoa, cạnh các bồn hoa là các lối đi dạo trong sân. Sau lưng đài phát thanh là một tòa nhà lầu, trước kia là Nha Ngoại Viện, kế là Vườn Trẻ, Nha Công Chánh Trung Phần...

    Tôi dắt vợ và em gái băng ngã vườn trẻ, vòng ra phía bờ sông, đứng sát hàng rào, có hàng cây đoát (cọ tây) già, giữa sông và sân trước đài phát thanh. Bây giờ, đồng bào tập trung đã đông hơn, tràn lên cả đầu cầu Trường Tiền. Trên đài “xi-măng” cao, có người đang bắt loa và micro, chuẩn bị cho ai đó sẽ ra nói chuyện...

    Tôi nhớ thời gian ngắn trước đây, nhân dịp lễ ngân khánh “Đức” Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục, ngay dốc cầu Trường Tiền, trước mặt đài phát thanh này, có làm một cái cổng chào lớn lắm, treo nhiều cờ đạo Thiên Chúa La Mã trên cổng. Cổng này gây trở ngại cho người đi xe đạp và xe gắn máy khi lên xuống cầu, ngay chính tôi cũng than phiền thầm trong lòng. Có một lần chở người bạn đồng nghiệp phía sau xe, thấy tôi cực nhọc khi cho xe lên cầu, anh buột miệng chưởi “địt mẹ”, - dĩ nhiên không chưởi tôi mà chưởi người dựng cổng chào -, mặc dù anh ấy là thầy giáo, không mấy khi chưởi tục.

    Ở Huế, lâu nay, việc trang hoàng lễ tết ở nhà, chùa, nhà thờ, v.v.. thuộc vào loại “tự do”, thả giàn, muốn làm sao thì làm, chẳng ai can thiệp. Còn như “nhà cầm quyền” mà làm thì coi như quyền hạn tuyệt đối. Nhiều khi đạo kỳ - Phật hay Chúa cũng thế thôi - thì to và mới, còn cờ quốc gia thì nhỏ bé, cũ xì, nằm thu lu một bên cờ đạo, cờ đảng (dĩ nhiên là đảng hay tổ chức ngoại vi đảng của ông Nhu, các đảng khác bị “dẹp tiệm” hết rồi) rất đáng tội nghiệp. Người ta coi đạo của mình, đảng của mình to hơn, lớn hơn quốc gia. Vã lại, cờ quốc gia đó, gốc gác từ cờ quẻ ly khi ông Bảo Đại còn làm vua, biến thành cờ ba sọc - mà bọn Cọng Sản bôi bác xuyên tạc là “cờ ba que” - “Cờ vàng một lá xỏ ba que” - Không chắc việc tuyên truyền bôi bác của Cộng Sản sẽ không có ảnh hưởng ít nhiều đến người dân Huế, nhất là người Thừa Thiên –

    Thời Pháp thuộc tôi không rành nhưng thời ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng, Huế được coi là Vùng Quốc Gia nhưng có lẽ người ta chán ông Bảo Đại, chán Phe Quốc Gia nên chẳng mấy ai quan tâm tới việc cờ quạt này, miễn đừng làm Việt Minh thì thôi. Thời “cụ” mới về, người ta bày bàn ra choán cả lề đường, kết hoa, chưng hình “cụ” thì “phe cụ” dại gì biểu dân dẹp vô nhà. Hồi Đệ Nhất Cộng Hòa, Quốc Hội có bàn việc thay đổi quốc kỳ, quốc ca vì hai cái nầy phát sinh từ thời “Quốc Trưởng hồi loan” mà bây giờ Quốc Trưởng đã bị phe “cụ Ngô” bôi bác thành một tên đàng điếm ăn chơi, người ta tính cho cả “3 Quốc” (Quốc Trưởng, Quốc Kỳ, Quốc Ca) đi chung một bè, đem chôn sống cho xong chuyện. Hiềm nỗi khi việc trình lên “cụ”, “cụ” hỏi: “Rứa mấy người chết vì lá cờ ni, bài hát ni thì răng?” Thế là Quốc Hội im re, cho chìm xuồng vụ thay quốc kỳ quốc ca luôn.

    Việc người ta làm “Lễ Ngân khánh” cho ông Thục thiệt lớn, dân Huế, nói chung, chẳng ai thắc mắc. Người ta quá quen với việc cái gì thuộc gia đình họ Ngô cũng là “cha thiên hạ” cả. Hồi xưa thì người ta kính trọng ông “chí sĩ”, ngày nay thì người ta sợ ông “Tổng thống”. Ông “chí sĩ” khác ông “tổng thống” nhiều lắm, có thể nói là trái ngược nhau. Ngay như con đường Nguyễn Trường Tộ, con đường nối từ đường Lê Lợi lên tới nhà thờ Phú Cam, chạy ngang qua nhà “cậu”, con đường này là con đường “cậu” và các ông lớn thường đi, đoạn giữa trường Đồng Khánh và trường Khải Định (Quốc Học), ngày trước cách một khoảng xa mới có một bóng đèn đường tù mù, chẳng soi rõ mặt người, rất thuận lợi cho các em “Ma-ri sến” và lính tráng hẹn hò nhau ở đây. Thế mà giờ thì bóng đèn cao áp thủy ngân sáng trưng, đi trong đêm mà tưởng như đi giữa ban ngày, khiến “người xưa” hết đất dụng võ. Đám ma cải táng mộ hai cha con ông Ngô Đình Khôi không thua gì đám ma ông vua nào đó của nhà Nguyễn, mà ông Ngô Đình Khôi thì bị người dân Huế cũng như dân Quảng Nam, nơi ông làm tổng đốc, đánh giá là tay đại gian tham và độc ác. Người Huế cũng khá vô tư, việc làm xấu xa của ông anh tổng đốc không ảnh hưởng gì đến lòng tôn kính của họ đối với ông em chí sĩ, v.v... và v.v...
    Ngày trước, nhất là ở đoạn đường Trần Hưng Đạo, Gia Long (sau đổi là Phan Bội Châu) người dân Huế tự động đặt bàn trước nhà, kết hoa chưng đèn mừng “chí sĩ” Ngô Đình Diệm, “thủ tướng” Ngô Đình Diệm về chấp chánh, làm cách mạng cho dân cho nước được nhờ, ai vô ra nhà cụ Ngô thì kính trọng, coi như đó là người làm cách mạng thì ngày nay, họ hờ hững chuyện đi về của “Ngô Tổng Thống”, có thúc ép, dọa cho sợ thì họ mới đi biểu tình, còn không thì thôi. Ai vô ra nhà cụ Ngô bây giờ thì bị họ coi như là những đứa nịnh. Từ những thói quen như thế, bỗng nhiên có việc cấm treo cờ, khiến ai nấy bỗng đâm ra lạ lẫm, ngạc nhiên. Cái thói quen hàng chục năm nay bỗng nhiên bị đão ngược, vì vậy, người dân Huế phản ứng là chuyện đương nhiên. Đáng tiếc là những người đang có quyền lực, ngụp lặn trong quyền lực của mình, say sưa với cái mình đang có mà quên mất câu tục ngữ Pháp “Quyền lực là liều thuốc độc”. Sự ngu xuẩn đó làm cho họ không thấy rằng cần dịu dàng hòa nhã, giải thích cho người dân hiểu - và dân hiểu rất mau chóng - là cờ quốc gia cần phải trân trọng hơn nữa vì “Tổ Quốc Trên Hết” thì họ lại sai cảnh sát đi dẹp cờ Phật Giáo.

    Có người “Bảo hoàng hơn vua”, có người vì đạo của mình mà kỳ thị đạo của người ta, có người muốn làm mạnh tay để cho dân thêm ghét chính quyền, thành ra có hành vi rất ngang ngược. Họ căn cứ vào luật pháp vừa ra của tổng thống mà thi hành nhưng họ đâu biết rằng trong bất cứ chế độ độc tài nào, luật pháp là do giai cấp thống trị đặt ra, thường là để bảo vệ quyền lợi của giai cấp đó hơn là quyền lợi của nhân dân, của giai cấp bị thống trị mà người Phật Tử lúc bấy giờ hầu hết thuộc giai cấp bị trị.

    Ai cũng biết những người trước đây từng theo “cụ”, tận tụy với “cụ” khi “cụ” còn “lê gót” thì nay đều bị “cụ” cho ra rìa vì không chịu “rửa tội”. Ai lạ gì trò “hết chim bẻ ná, hết cá quăng nơm”, muôn đời vẫn thế thôi, dù với “cụ” là một người được dân Huế tôn vinh làm “chí sĩ”.

    Việc dân chúng tụ tập trước đài phát thanh mỗi lúc một đông là vì nhiều lý do khác nhau. Có người chuẩn bị nghe đài phát thanh Huế phát lại chương trình buổi lễ hồi sáng hôm đó ở chùa Từ Đàm, nhưng đến giờ phát như đài đã thông báo lại không thấy gì hết, chỉ nghe đài phát nhạc mà thôi. Vì vậy, họ thắc mắc, hỏi nhau - những người hàng xóm đều cùng theo Phật như nhau -, rồi cùng tới đài phát thanh để xem thử “chuyện chi xảy ra”. Cũng có người như tôi, đi ngang đài phát thanh thấy đông thì tò mò hỏi, rồi về nhà, rủ anh em, chòm xóm ra đài phát thanh coi thử... “chuyện chi”. Càng hỏi, người ta biết đài phát thanh không phát lại chương trình buổi lễ vì sáng nay, Thượng Tọa Trí Quang, trong bài diễn văn, có nói tới việc cấm treo cờ. Do đó, đã tò mò, người ta lại càng tò mò hơn, để coi Thượng Tọa nói chi. Không ai nghĩ đây là một cuộc biểu tình có tổ chức, có chuẩn bị trước.

    Chỗ tôi đứng hơi xa cái nền “xi-măng” cao trước đài phát thanh. Lại chếch qua phía bờ sông, có cây leo dọc theo giàn cây quanh cái nền cao nên không thấy rõ toàn bộ khung cảnh trên đó, nhưng phần ở giữa nền vẫn thấy được, tuy không rõ mặt người - xa, đèn không sáng lắm - Sau khi máy vi âm bắt xong, tôi thấy có mấy người đứng, hay đi lại trên ấy, không biết là ai.
    Đồng bào tập trung đã đông lắm, tràn ra tới đường Lê Lợi, lấn qua bên kia lề đường, sát vách tường Khách Sạn Morin cũ, nay là Viện Đại Học Huế, dãy lầu trường luật, xe đi lại trên đường Lê Lợi đã khó khăn. Có một anh Phật Tử - đoán thế vì anh này bận áo lam, quần xanh - trèo lên mái hiên đúc của lầu Morin, cầm một lá cờ Phật Giáo khá to, phất qua phất lại.

    Đồng bào thấy thế, hoan hô ấm ỉ! Bỗng có tiếng Thượng Tọa Trí Quang trên loa, ra lệnh cho anh Phật Tử đó dẹp cờ, leo xuống. Tôi còn nhớ câu nói của Thượng Tọa Trí Quang: “Anh nào ở bên phía Morin đó, cất cờ và xuống ngay, không được làm như thế!”

    Người cầm cờ đó thi hành ngay, không chần chờ.

    Đó là lần đầu tiên tôi nghe tiếng nói của Thượng Tọa Trí Quang. Trước đó mấy lần tôi có thoáng thấy ông khi ông ta đến gặp ông hiệu trưởng trường tôi dạy - ông hiệu trưởng này cũng là giám đốc nha Đại diện Giáo dục Trung phần, là “đệ tử ruột” của ông Trí Quang - Mỗi khi gặp nhau, họ kéo nhau lên phòng riêng ở trên lầu, đóng kín cửa, nội bất xuất, ngoại bất nhập, ai biết họ nói chuyện gì. Thượng Tọa Trí Quang ăn mặc đơn giản, áo nâu sồng, giày “sandalle” hay dép, tôi không nhớ, một mình lái chiếc xe Citroen 2 cheveaux tàng tàng.

    Một lúc sau, phía đường Duy Tân, đường thẳng từ cầu Trường Tiền đổ xuống, xuất hiện mấy chiếc xe vòi rồng. Vòi nước xịt lên trời rồi đổ xuống, không xịt thẳng vào dân. Người ta la ó, không dữ lắm. Xe vòi rồng ngưng, không xịt nước nữa, nhưng vẫn đậu tại chỗ.

    Trên đài “xi-măng” cao, lại thấy xuất hiện hai người. Một là TT Trí Quang, người kia, sau lời giới thiệu của Thượng Tọa, người ta mới biết đó là nhạc sĩ Ngô Ganh, trước kia là thầy dạy nhạc, dạy hát cho học sinh các trường tiểu học ở Huế, rất nhiều người Huế biết ông, nhất là học sinh, thầy cô giáo. Lúc này, ông Ngô Ganh là Quản Đốc Đài Phát Thanh Huế (sau này tôi được biết thêm, thời gian này, ông là bí thư đảng Cần Lao Tỉnh Đảng Bộ Thừa Thiên - Huế, cũng là người theo đạo Thiên Chúa La Mã). Ông Ngô Ganh, cũng giống một số người Huế, theo “cụ” Ngô từ lâu - khoảng thập niên 1940 - tính khí hơi giống ông Ông Ích Khiêm, mặc dù một người gốc Chàm, một người gốc Kinh, sống cách nhau gần cả 100 năm. Nhà ông Ngô Ganh ở trên đường Ông Ích Khiêm, nuôi hai con chó, một con ông đặt tên là “Nói trạng” (nói dốc) một con đặt tên là “Phách tấu” (phách lối). Hễ khách đến nhà, hai con chó chạy ra sủa, ông gọi tên chó, đuổi nó vào. Nghe ông gọi tên hai con chó, khách thấy ngại, không dám “nói giốc” hay “phách tấu” nữa.

    TT Trí Quang cầm micro nói với đồng bào là theo ông Ngô Ganh, việc không phát thanh lại chương trình lễ Phật Đản sáng ngày hôm đó là do lệnh cấp trên. Nay đồng bào yêu cầu được phát thì ông sẵn sàng, nhưng ông không có quyền làm việc đó. Ông phải xin lệnh cấp trên của ông là Ông Tỉnh Trưởng (Nguyễn Văn Đẳng). Chốc lát nữa đây, Ông Tỉnh Trưởng sẽ đến đài phát thanh, giải quyết tại chỗ cho đồng bào.

    Nghe thế, đồng bào vỗ tay hoan hô rần rần...

    Vừa lúc đó thì một đoàn xe thiết giáp chậm chậm bò vào sân trước đài phát thanh.

    Thấy xe tới, đồng bào chen nhau bước lên bồn hoa, dành lối cho xe vô.

    Đây là loại xe thiết giáp chạy bằng bánh cao su (4 bánh) tương đối nhỏ, tiếng bình dân thưòng gọi là “xe nồi đồng”, loại xe của Anh từ hồi Đệ Nhất hay đầu Đệ Nhị Thế Chiến, do Mã Lai viện trợ cho Việt Nam, dành cho lực lượng Bảo An (tên gọi hồi đó, sau nầy gọi là Địa Phương Quân), thuộc quyền chỉ huy của tiểu khu trưởng (lúc đó, Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Đẳng là dân sự, không kiêm chức Tiểu Khu Trưởng, thuộc quân sự. Chức này đang nằm trong tay Đặng Sĩ, thiếu tá). Các xe này không sơn màu “ôliu” của quân đội mà sơn màu đen. Chiếc dừng ngay trước mặt tôi, bên hông có hàng chữ “Ngô Đình Khôi”. Trước đây, tôi đã từng thấy các xe nầy đều có viết tên bên hông tên các danh nhân lịch sử như Nguyễn Trãi, Lê Lợi, v.v... Doanh trại của đơn vị này đóng gần đàn Nam Giao. Dù các ông Nguyễn Trãi, Lê Lợi là các vị anh hùng dân tộc, nhưng thời bấy giờ, Ngô Đình Khôi là một tên quan lại đại gian đại ác, cũng đang được nhà Ngô tô vẽ cho ra vĩ nhân - như tên đường dài nhất, lớn nhất ở Saigon bấy giờ là đại lộ Ngô Đình Khôi chẳng hạn. Vì vậy, xe có tên Ngô Đình Khôi phải là xe của cấp chỉ huy, người đứng trên xe đó là người chỉ huy cuộc đàn áp hôm đó. Người đó, sau nầy tôi mới biết là thiếu tá Đặng Sĩ, em Đặng Phong. Đặng Phong là trưởng ty Công An Thừa Thiên - Huế. Cả hai đều là “dân Phú Cam”, là người có đạo Thiên Chúa La Mã. Quân Đội và Công An, hai lực lượng bạo lực quan trọng nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế, có nhiệm vụ gọi là “bảo vệ dân chúng”, mà thực ra là bảo vệ chế độ, đều nằm trong tay hai anh em nhà này.

    Trên loa, TT Trí Quang thông báo là Ông Tỉnh Trưởng sắp đến, ra lệnh cho các em Gia Đình Phật Tử làm hàng rào danh dự để đón ông. Tức thì, đồng bào giang ra, các em Phật Tử đứng hai bên, dọn thành một đường dài, từ ngoài đường Lê Lợi vào tới bậc cấp thềm đài “ximăng”, chỗ TT Trí Quang và ông Ngô Ganh đang đứng. Ông Tỉnh Trưởng đi vào, các em và đồng bào vỗ tay hoan hô.

    Ông Tỉnh Trưởng bước lên thềm đài, ông Ngô Ganh và TT Trí Quang ra đón. Trên thềm cao, có tiếng loa gọi đem bàn ra, để Ông Tỉnh Trưởng và TT Trí Quang đứng lên đó cho cao, để đồng bào thấy rõ.

    Khi trên đài lục cục khiêng bàn ra xong, TT Trí Quang và Ông Tỉnh Trưởng đã đứng trên đó, chưa kịp nói gì, thì ngay trước mặt tôi, người chỉ huy đứng trên chiếc xe có tên Ngô Đình Khôi, đứng thẳng lên, người và xe đều hướng về phía đài phát thanh, rút súng Colt bắn lên trời ba phát.

    Tôi thấy lửa từ nòng súng lóe ra rất rõ ràng. Tiếp theo đó là một tiếng nổ lớn phát ra từ phía đài phát thanh. Xin nhớ là ba phát súng lệnh nổ trước, lựu đạn nổ sau. Ông tỉnh trưởng và TT Trí Quang đang đứng trên bàn cao, liền nhảy xuống chui vào gầm bàn. (Việc chui vào gầm bàn sau này tôi chỉ nghe nói lại). Thiên hạ chạy tán loạn. Tôi dắt vợ và em gái chạy ngược lại đường cũ, băng qua ngã Vườn Trẻ, về nhà.

    Về tới nhà xong, dặn vợ và em gái ở trong nhà, không được ra ngoài, tôi lại ra ngõ, ngóng ra ngoài đường, xem tình hình như thế nào. Đồng bào hoảng hốt chạy ra tứ hướng, xuống hướng Đập Đá (đường Lê Lợi), hướng An Cựu (đường Duy Tân) hướng ga Huế (cũng đường Lê Lợi). Có lẽ có một số hoảng hốt chạy lạc qua cầu Trường Tiền, bên kia sông Hương. Con đường trước mặt nhà tôi, đường Hoàng Hoa Thám, phía đầu đường, chỗ giáp với đường Lê Lợi, lố nhố một số người. Phía đường Lê Lợi, khoảng trước Nha Công chánh, có đông người đang ở đó, có tiếng nhiều người hô “Đả đảo Ngô Đình Diệm”. Đó là lần đầu tiên, tôi nghe đồng bào hô đả đảo “cụ” Ngô.

    Cứ lộn xộn như vậy mấy tiếng đồng hồ, lính tráng bây giờ đang án ngữ ngay đầu cầu Trường Tiền, cấm qua lại nên đồng bào không về nhà được.

    Khoảng sau 12 giờ đêm, một chiếc xe của Ty Thông Tin -xe trên mui có loa - từ hướng đài phát thanh chậm chậm đi lên, có tiếng TT Trí Quang từ trên loa phát ra, yêu cầu đồng bào Phật Tử “ai về nhà nấy”. Có nhiều tiếng la lên: “Lính ở đầu cầu, làm sao mà về”.
    Xe thông tin đi mất, khoảng nửa giờ sau, xe quay trở lại. TT Trí Quang nói: “Đồng bào đi theo thầy” - ông tự gọi là thầy, theo phong tục, tiếng đồng bào thường gọi các nhà sư một cách thân mật). “Xe thầy đi trước, đồng bào đi theo sau”. Nhờ đó mà đồng bào bên hữu ngạn về bên tả ngạn, hay ngược lại, ai về nhà nấy, mọi việc bình thường trở lại. Đêm đó, nếu không có TT Trí Quang làm việc đó, không biết tình thế sẽ như thế nào?!

    Khi thấy hơi êm, tôi bước ra xa cổng nhà một chút thì có ông Bàng, một người trước kia từng theo “cụ” Ngô, rất thân cận với “cậu”, nay đã về hưu, nhà đâu lưng với nhà tôi, đứng nói chuyện với tôi. Ông ta than phiền: “Làm chi rứa không biết. Mai mốt đài phát thanh ngoại quốc họ nói um lên, thiệt là kỳ cục”. Tới lúc đó, những ngưới quanh tôi cũng chưa ai biết rõ về việc lựu đạn nổ và có người chết.

    Sáng hôm sau - tôi không nhớ vì sao lúc đó chưa tới hè mà tôi không đi dạy, vì nếu đi dạy, thế nào vào trường cũng nghe học sinh nói rất nhiều về chuyện đàn áp đêm qua, học trò là chúa nhiều chuyện - em gái tôi đi phố về nói là có một số thanh thiếu niên, mang băng vàng chéo qua người, viết hàng chữ “Hãy giết chúng tôi”, vừa đi vừa hô khẩu hiệu, từ chợ Đông Ba lên chùa Từ Đàm và ngược lại. Cảnh Sát, Quân Đội chẳng ai đụng tới họ hết. Theo em tôi, tình hình Huế ngày hôm đó rất sôi động, đi đâu cũng nghe bàn tán vụ đàn áp ở đài phát thanh, người bị lựu đạn chết, lời oán trách chế độ.

    Lúc đó, không có ai nói tới việc xe “tăng” cán chết người ở sân đài phát thanh. Đêm đó, ở sân đài phát thanh chỉ có xe thiết giáp loại nhỏ, không có xe “tăng”, và việc xe “tăng” cán chết người có lẽ sau nầy người ta thêm thắt vào cho “lâm ly” mà thôi. Tuy nhiên, mấy ngày sau, đi ngang đài phát thanh, tôi còn thấy trước sân ngỗn ngang guốc dép, do đồng bào hốt hoảng bỏ lại, chạy chân không cho lẹ...

    Chiều hôm đó (ngày 9 tháng 5), người ta báo cho nhau hay có thông báo của chùa Từ Đàm, sáng mai, lúc 10 giờ, ngày 10 tháng 5, có biểu tình ở chùa Từ Đàm, về việc đàn áp tối hôm qua.

    Tôi và người bạn rũ nhau “đi coi” cuộc biểu tình đó. TT Trí Quang đứng trên sân khấu điều khiển, đọc diễn văn, đưa ra 5 nguyện vọng, v.v.. .

    Nhìn Thượng Tọa, tôi bỗng nhớ tới hình Hitler mà tôi đã thấy, mặc dù Thượng Tọa không có bộ râu đặc biệt như nhà độc tài Phát Xít, không đưa chân múa tay như Hitler, tôi vẫn thấy có nét gì đó rất khó nói, có thể là một sự khôn ngoan sắc sảo, khéo léo, rất mềm mỏng mà rất cương quyết, một cục đường rất ngọt nhưng lại rất khó nuốt đối với nhà cầm quyền, núp dưới chiếc áo mấu lam quê mùa, gian khó. Tôi và người bạn nói với nhau về những nhận xét về ông ta, - Người bạn đó sau nầy vào ngồi ở phủ đầu rồng, là linh hồn của đảng Dân Chủ - và anh ấy cùng đồng ý với tôi là tiếng nói của TT Trí Quang có vẽ như là một nhà cách mạng hơn là nhà tu hành và ông ta phải là một “tay” chiến lược.

    Dù sao, tình hình lúc đó cũng chưa có gì gọi là căng, 5 nguyện vọng đưa ra không có gì quá đáng. Phải chi chính quyền sáng suốt, thực tâm giải quyết ngay lúc đó thì hay biết bao nhiêu.

    Chỉ chừng đó thôi, cũng có thể coi như ông Ngô Đình Diệm đáp lại ân tình của người dân Huế đã nặng lòng với ông từ hàng chục năm nay, từ khi ông rủ áo từ quan, đâu thành chuyện lấy oán báo ân như sau nầy. Thành ra giữa nhà chí sĩ và những người từng ủng hộ ông chỉ còn hận thù mà thôi. Điều đó, đáng trách là ở ông Diệm, chính ông phản bội tấm lòng của người Huế đối với ông vậy.

    Sau này có một số sách báo, cũng như thông báo của chính quyền nói rằng đêm đó Việt Cọng lợi dụng cơ hội đồng bào tụ tập, ném lựu đạn làm chết người. Dĩ nhiên tôi không tin. Cách giải thích như thế khác chi “đổ dầu vào lửa”. Nhà cầm quyền nói lựu đạn nổ hôm đó là loại MK-3, loại tấn công, Việt Cộng mới có, quân đội VN lúc này không có thứ đó. Điều đó trẻ con và buồn cười. Người lính trên xe thiết giáp hôm đó có thể không có MK-3, nhưng người nhận lệnh từ ông Ngô Đình Thục, hay Ngô Đình Cẩn, hay từ một cơ quan nào đó dưới tay hai ông này, không thể không có MK-3. Những tổ chức đặc vụ, tình báo, ám sát, thủ tiêu thì có đủ loại vũ khí họ muốn.

    Như tôi đã nói (hàng chữ đậm, nghiêng và có gạch ở dưới), là ba phát súng lệnh nổ trước, lựu đạn nổ sau, điều đó có nghĩa là sau khi nghe súng lệnh, người quăng lựu đạn mới làm nhiệm vụ đã giao. Nếu Việt Cọng (như thông báo của chính quyền) hay một đại úy Mỹ nào đó, nói như trong sách của Cao Thế Dung (Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống) thì sao lại có sự ngẫu hợp nhịp nhàng đến độ vừa có súng lệnh của Đặng Sĩ thì bên kia lợi dụng tức thì cơ hội để ném lựu đạn.
    Vã lại, Mỹ hay Việt Cọng ném lựu đạn thì không cần súng lệnh. Vậy Đặng Sĩ bắn 3 phát súng lệnh để làm gì? Mấu chốt vấn đề ở đây là súng lệnh và lựu đạn nổ, cái nào trước, cái nào sau. Rõ ràng hôm đó, tôi thấy người chỉ huy trên chiếc xe thiết giáp mang tên Ngô Đình Khôi bắn ba phát súng lệnh trước, lựu đạn nổ sau.
    Tiếng lựu đạn nổ khá lớn. Thiên hạ, có tôi trong đó mới bỏ chạy. Ai cũng chạy vì tiếng lựu đạn nổ lớn làm cho hoảng hồn, chứ không chạy vì ba phát súng lệnh. Nếu lựu đạn nổ trước thì tôi đã hoảng hồn chạy trước, đâu còn đứng lại đó để thấy lửa từ nòng súng lệnh phụt ra. Tôi nhớ rõ hình ảnh nầy bởi vì ánh lửa đỏ trong đêm đen bao giờ cũng là hình ảnh rất dễ gây ấn tượng cho người nhìn thấy nó.
    Thêm vào đó, súng lệnh của Đặng Sĩ có ý nghĩa gì? Chắc chắn lệnh đó là lệnh đàn áp, lệnh tấn công. Đàn áp ai, tấn công ai? Không lý hôm đó Đặng Sĩ thấy tên Việt Cọng hay tên đại úy Mỹ ném lựu đạn mà ra lệnh tấn công chúng để bảo vệ dân? Hỏi như thế là có câu trả lời rồi.
    Thêm một điều nữa, như tôi đã nói, cuộc biểu tình hôm đó là tự phát, không chuẩn bị hay có thông báo trước, nên phía Việt Cọng hay Mỹ không thể chuẩn bị trước để quăng lựu đạn. Khi đồng bào tụ tập đông đảo, phía chính quyền muốn đàn áp thì cứ vạch kế hoạch rồi dàn cảnh ra như thế. Phát súng lệnh là lệnh chung cho cả hai phía: Phía binh lính trên xe thiết giáp và phía một (hay hai, ba người) được lệnh ném lựu đạn vào dân.
    Người nào ra lệnh đàn áp?
    Dĩ nhiên là chính quyền, nhưng chính quyền lúc đó nằm trong tay ai? Đại biểu chính phủ Hồ Đắc Khương? Tỉnh Trưởng Nguyễn Văn Đẳng, Tiểu khu trưởng Đặng Sĩ hay Cố Vấn Chỉ Đạo Ngô Đình Cẩn?
    Không!
    Tôi khẳng định như thế!
    Có lẽ Hồ Đắc Khương, Nguyễn Văn Đẳng chẳng biết mô tê gì! Đặng Sĩ là người nhận lệnh và chỉ huy trực tiếp cuộc đàn áp. Ngô Đình Cẩn thì đã bị “cướp chính quyền”.
    Từ khi Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục rời Vĩnh Long về “làm vua” ở Huế (địa phận Huế) thì ông ta giành mất quyền hành trước đây của ông em. Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo (trước nhà thờ Phú Cam) bị đóng cửa. Các ông Tỉnh, ông Quận, Tướng Tá thay vì ra vào “chầu” ở nhà “cậu” như trước kia thì nay thậm thụt ở tòa Tổng Giám Mục. Giữa anh em Thục - Cẩn nay đã có sự tranh giành, ganh ghét nhau, điều mà ông Ngô Đình Diệm nói với ông Võ Như Nguyện là “Bì oa trữ nhục”, không có gì hàn gắn lại được. Ông Nguyện là con cụ cử Võ Bá Hạp, đồng chí của cụ Phan Bội Châu. Ông Nguyện là “đại công thần”, theo “cụ” Ngô hồi đầu thập niên 1940, sau này cũng bị ra rìa.
    Nói thế là rõ Đặng Sĩ nhận lệnh từ AI rồi!
    Sau vụ Ba Lòng, vụ Bình Xuyên, Ba Cụt; việc đàn áp đảng phái, tôn giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm đã mất chính nghĩa. Chính sách độc tài đảng trị được đem ra áp dụng rất mất lòng dân. Tôi chỉ nói hai sự việc mà tôi thấy tận mắt.
    Mùa hè năm 1957, tôi về cửa Việt chơi, khi đạp xe đạp ngang qua làng Tường Vân, gần cửa Việt, tôi thấy một ông già ngồi kế hàng rào ngoài ngõ, mân mê mấy bát hương (nhang) mà khóc. Hỏi, mới biết chuyện như thế này:
    Ông già bị “tội” có 3 người con trai tập kết ngoài Bắc. Do đó, ông thường bị Chi Công An Quận Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị gọi lên điều tra, giam giữ đôi ba ngày. Lâu lâu, Công An lại gọi điều tra, giam giữ như thế. Ông linh mục ở làng Du Lý, cách làng Tường Vân không xa, cho người đến khuyên ông, hễ “rửa tội” đi, cha sẽ “giúp đỡ”, công an không làm khó dễ nữa. Ông già không chịu. “Tui khôông bỏ ôông bà được”. Thế là Công An lại bắt. Cha xứ lại khuyến dụ, “giúp đỡ”. Ai ai cũng nghĩ rằng giữa Công An và ông cha đạo hợp đồng chơi trò “xa luân chiến”. Cuối cùng ông già chịu thua, theo đạo, bưng bát nhang ông bà bỏ ra ngoài hàng rào, rước tượng chúa, tượng mẹ đặt lên bàn thờ. Tháng vài lần, ức tình, ông uống rượu, ra ngồi bên hàng rào ôm bát nhang ông bà mà khóc, mượn rượu mà chưởi chính quyền, chưởi ông cha đạo. Công An lại bắt, ông lại làm tờ cam kết, ông cha đạo lại “giúp đỡ”, ông lại được tha về. Tôi đoán là sau này, khi Việt Cọng mạnh lên, chiếm vùng này, chắc chắn ông ta là người hoan hô Cọng Sản hơn ai hết.
    Ai nói là Cọng Sản không “giải phóng” cho dân? Vậy đó, chung ra thì chính quyền và ông cha đạo đã xúi dân theo Việt Cọng.
    Cũng khoảng năm 1957, 58, có bầu cử quốc hội, ở thị xã Quảng Trị có hai người ra ứng cử. Một là ông Hồ Duy Tình, theo đạo Thiên Chúa La Mã, người làng Hội Yên, phủ Hải Lăng. Hải Lăng là phủ, nơi trước kia ông Diệm từng làm tri phủ. Chỗ quen biết của “cụ” hồi xưa, nên năm 1954, khi cụ mới về làm thủ tướng, lần đầu tiên về thăm Quảng Trị, “cụ” đã gắn cho ông Hồ Duy Tình “Bảo Quốc huân chương đệ tam đẳng”. Ông ta làm cái gì mà được thưởng Bảo Quốc Huân Chương? Ở thị xã Quảng Trị hồi đầu thập niên 1950, ai không biết ông ta làm nghề “xanh xít đít đui”. Làm nghề cho vay cắt cổ mà cũng được huân chương? Hề thiệt là hề!!! Thế cũng “tạm được” đi. Sau đó, ông Hồ Duy Tình làm dân biểu theo cung cách đầu phiếu như tôi sẽ kể sau đây.
    Năm đó, ông Hồ Duy Tình ra ứng cử lần 2, uy tín của ông xuống lắm vì trình độ ông đã thấp (hương sư - tức là thầy giáo làng), vào nghị trường không thấy nói năng gì cho ra lẽ, phim thời sự của Bộ Thông Tin thì chiếu hình ông đang “de” lúa. Người tranh cử với ông là bà Lê Thị Ngộ, vợ ông ông Tôn Thất Dương Thanh, Trưởng Ty Tiểu Học Vụ. Nhờ uy tín của chồng, nhờ là một Phật Tử thuần thành (rất chăm đi chùa Tỉnh Hội) bà có thể đắc cử dễ dàng.
    Tôi được gọi làm thư ký viết biên bản kiểm phiếu vì có chút chữ nghĩa. Hễ người kiểm phiếu đọc tên ai (Hồ Duy Tình hay Lê Thị Ngộ) thì gạch một gạch vào biên bản, lên ô có dấu chấm in sẵn. Người cùng làm thư ký như tôi là ông Hoành, thượng sĩ giải ngũ, (Sau này là bố vợ Trung Tá Lê Đức Khế). Ông Tống Viết Lệ ngồi kiểm phiếu. (Dân chúng thường gọi ông là thầy Lệ, tín đồ đạo Thiên Chúa La Mã, nguyên là y tá bệnh viện Quảng Trị trước 1945, cũng đang làm nghề “xanh xít đít đui” như ông Hội Tình. Thầy Lệ lúc đó là “xếp xòng” “Tập Đoàn Công Dân” ở phường tôi, phường Đệ Tứ, thị xã Quảng Trị).
    Thầy Lệ mở phong bì bầu phiếu, lôi phiếu ra, hễ phiếu ai thì ông đọc tên người đó.
    Chỉ được một lúc, một số người làm việc ở phòng phiếu, dĩ nhiên là phe “Tập Đoàn Công Dân” của thầy Lệ, kêu to: “Nóng quá, trong này nóng quá. Ra sân một chút cho mát”. Rồi tất cả kéo nhau ra sân. Cháo gà nấu sẵn bưng tới “giải lao”. Họ ăn uống vui vẻ chuyện trò với nhau.
    Trong phòng chỉ còn lại ba người, hai người thư ký là ông Hoành và tôi cắm cúi gạch cho đúng, sợ trật. Còn thầy Lệ, ngồi đối diện với chúng tôi, phiếu Lê Thị Ngộ hay phiếu Hồ Duy Tình, ông đều đọc là Hồ Duy Tình hết. Sợ chúng tôi thấy ông làm việc gian dối, thỉnh thoảng ông nhắc thư ký: “Rán gạch cho trúng để cuối cùng hai biên bản khớp nhau.” Thế là tôi ráng nghe ông đọc mà viết. Dĩ nhiên, ông Hồ Duy Tình đắc cử là chắc trăm phần trăm.
    Phiếu bầu, gom lại đem đốt, chỉ giữ 2 cọc phong bì, một bầu cho Lê Thị Ngộ và một cho Hồ Duy Tình. Phong bì có ghi số thứ tự giống như số thứ tự trên danh sách cử tri, nhìn số thứ tự đó, Công An biết ai bỏ phiếu cho ai, vào sổ đen, “trị” dễ như không!!!

    Cũng khoảng sau thời gian đó không lâu, một buổi sáng tôi đang trên đường đi dạy, vừa tới đầu cầu An Cựu thì bị Cảnh Sát cấm không cho bất cứ ai qua cầu. Xe tổng thống sắp tới. Tôi dừng lại bên đường như mọi người nhưng cũng không được phép, phải vào đứng trong sân nhà người ta, xa đường cái, Cảnh Sát mới chịu. Nửa giờ sau, xe tổng thống qua, tôi và mọi người mới được cho đi. -“Cụ” Diệm ơi là “cụ” Diệm, tôi cất công đi đón cụ về, hoan hô “cụ” đến khản cả tiếng, nay vì “cụ” mà tôi tới trường trễ, hiệu trưởng không rầy thì ít ra cũng không bằng lòng việc tôi đi trễ hôm đó. Không có thầy, học trò nghịch ầm ầm, ai thông cảm cho tôi”.
    Tôi nhớ tới một đoản văn của Hiếu Chân vừa viết trên mục “Nói Hay Đừng” của nhật báo “Tự Do” kể chuyện đi dự hội nghị văn bút quốc tế ở Brasilia, thủ đô mới của Brasil, có gặp ông Tổng Thống Quatros của nước này. Ông ta mặc một bộ đồ kaki màu xanh công nhân, đi chiếc xe Jeep tàng tàng tới thăm công nhân đang xây dinh tổng thống, bình thường như một người dân. Nước ta còn lâu lắm, rất lâu mới có dân chủ, dù ở bất cứ ở chế độ nào.


    &


    Thời gian tiếp theo sau đó là những cuộc đàn áp Phật Giáo đồ càng ngày càng khốc liệt. Tôi chẳng tham gia bất cứ cuộc đấu tranh nào. Đêm 20 tháng 8, đêm tấn công chùa Từ Đàm, tôi ngủ lại nhà một người bạn ở Ga Huế. Khi cuộc tấn công chùa Từ Đàm đã bắt đầu, tôi và người bạn đứng trên mui một toa xe lửa, ngóng về hướng chùa, nghe tiếng súng nổ, tiếng mõ, tiếng thùng thiếc đánh, tiếng cầu cứu, tiếng la thất thanh mà thấy kinh hoàng.
    Ông Ngô Đình Diệm, người mà dân Huế tôn vinh là “chí sĩ”, là “nhà Cách Mạng”, được hy vọng là vị cứu tinh của dân tộc, từ những ngày đầu khi ông mới về nước, người dân Huế lập bàn, kết hoa, chưng đèn, đốt trầm hương đón ông như đón một vị “Cha già của dân tộc”, một “Quốc phụ” như Tôn Văn của Trung Hoa thì nay ông Ngô Đình Diệm đối xử với người dân Huế như thế đấy, sau khi đã tròng lên đầu dân tộc chế độ độc tài, kỳ thị tôn giáo tàn tệ nhất trong lịch sử dân tộc. Ai phản bội ai? Người dân Huế không tự tay giết ông Diệm nhưng nếu có cơ hội, không chắc họ có đủ can đảm làm được việc đó, đối với một người họ đã từng yêu mến, kính trọng, nhưng hậu quả ông nhận sau ngày 1 tháng 11 năm đó há không phải là cái quả do những việc anh em ông cũng như đệ tử ông đã gây ra cho đồng bào Huế hay sao?!
    Xin hãy để cho ông Ngô Đình Diệm nằm yên dưới đáy mồ để ông suy nghiệm những gì ông đã làm cho dân Huế, những người dân vô tư, không mưu cầu lợi danh riêng cho họ, đã tích cực ủng hộ ông từ những ngày đầu ông mới từ chức thượng thư.





    Phần thứ II
    Không muốn nói,
    mà cũng phải nói!





    Trở lại việc ông Liên Thành, “hô hoán” lên rằng, những người đấu tranh ở Huế, trong đó có cả ông Trí Quang và một vài thầy ở chùa Từ Đàm là Cộng Sản. Nghe có được hay không? Hay đây cũng là một trường hợp “Hàm huyết phún nhơn”?
    Như tôi viết trong bài “Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự”, truyền thống Huế là truyền thống đấu tranh!

    Tại sao Huế có truyền thống đó?
    Xin nhìn lui lịch sử Huế xa hơn một chút, từ việc ông Trần Thúc Nhẫn, Lâm Hoành nhảy xuống biển tuẩn tiết vì không giữ được Thuận An mãi đến tận năm 1945, sau khi vua Bảo Đại thoái vị.
    Cảnh nước mất nhà tan không đâu rõ bằng Huế, chết chóc đau thương, tiêu điều, tang thương không đâu bằng Huế. Nước mất rồi, vua bị đày rồi, việc ấy không những “khô héo lá gan” cho bà mẹ các vua, vợ vua mà hầu như toàn thể dân chúng kinh đô nhà Nguyễn nữa đấy. Từ trước đến nay, không nơi nào có mồ chôn tập thể đông như ở Huế, nhiều như ở Huế. Vậy Huế mới có tên đường là “Đường Âm Hồn” chứ!
    Cũng từ những đau đớn ấy, uất ức, hận mất nước, nhà tan ấy mà các vua nhà Nguyễn, các quan nhà Nguyễn, dân Huế liên tục đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lăng nước ta, liên tục từ trước khi “Thất thủ kinh đô” cho đến lúc thực dân Pháp tái chiếm Huế sau Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946, toàn dân kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946.
    Một trong những người đấu tranh đó có “ông vua không ngai Cường Để”, nội tổ ông Liên Thành.
    Điều đáng buồn là ông Liên Thành không thấy được khí phách anh hùng của nội tổ ông để làm những gì cho xứng đáng với giòng máu anh hùng của tiên tổ.
    Trong lịch sử, Tầu cũng như ta, thường có cảnh “đầu rồng đuôi chuột”. Nói rõ hơn, ông Lê Lợi là bậc anh hùng cái thế, nhưng các vua cuối đời nhà Lê như vua Tương Dực, vua Uy Mục, thì sử gọi là những ông vua quỉ (Quỉ vương), vua có tướng heo.
    Bố ông Liên Thành, cụ Tráng Cử, tuy không giỏi giang gì, cũng chỉ là một người tầm thường, làm thư ký ở trường Quốc Học, sau nhờ ông Ngyễn Văn H., giám đốc Học Chánh, có vợ là con gái cụ Ưng Th., cũng hoàng phái nên chiếu cố cho ông Tráng Cử, từ chức thư ký ở trường Khải Định, (tên cũ) qua làm hiệu trưởng trường Sư phạm Cấp tốc, đóng chung tại trường tiểu học Trần Quốc Toản, phía trong cửa Thượng Tứ, thành nội Huế.
    Ông Liên Thành thi hỏng tú tài 1, nên thay vì ông được học sĩ quan trừ bị Thủ Đức thì ông đi “sĩ quan Bảo An”. (1)
    Năm 1966, Liên Thành phục vụ tại chi khu Nam Hòa. Sau năm 1963, khi chế độ nhà Ngô không còn, trong một buổi họp của đảng Đại Việt tại nhà ông Tráng Cử, (nhà trên đường đi lên chùa Linh Mụ, qua khỏi cầu Bạch Hổ một đoạn ngắn, bên phía bờ sông, nhà nầy trước đó là gia đình ông Đoàn Mộng Ngô, giáo sư trường Bán Công Huế ở). Các vị đang bàn nhau về việc đưa người vào nắm chính quyền. Trưởng ty Cảnh Sát (Cảnh sát Công an gom chung; Công an gọi là Cảnh sát Đặc biệt, tức mật vụ) đã có ông Đoàn Công Lập (Đại Việt) làm trưởng ty, phó ty cảnh sát thì có ông Hà Nguyên Chi, cũng đảng viên Đại Việt. Bây giờ, họ đang cố tìm cho ra một ông có khả năng làm phó ty, phụ trách Cảnh sát Đặc biệt nhưng chưa thấy có ai.
    Đang khi bàn bạc như thế thì Liên Thành đi vào nhà, tay dắt xe đạp. Thấy ông Liên Thành, các vị bèn bàn với nhau hay để Liên Thành làm phó ty đặc biệt cũng được vậy, tìm ai đâu cho xa. Ông Liên Thành đang mang loon thiếu úy. Bấy giờ là lúc nhà Ngô đã sụp đổ, thế lực các đảng phái rất mạnh, nhất là đất Trị Thiên coi như “lãnh thổ Đại Việt” nên việc Liên Thành đi phó ty không có khó khăn gì cả.
    Người Huế, nói chung, cho tới lúc ông Liên Thành lên làm trưởng ty, cũng không thấy ai khen chê gì, trừ một việc mà chính ông Liên Thành cũng không biết. (2)
    Điều đáng nói là ông Liên Thành không hiểu gì truyền thống đấu tranh của dân Huế cả. Truyền thống đó đã xô đẩy người Huế, gia đình của họ phải nhiều ly tán, mâu thuẫn và chống đối lẫn nhau.
    Có nhiều người Huế theo kháng chiến chống Pháp, nhưng vì những lý do nào đó, riêng tư hay vì thấy rõ mặt thật của Cộng Sản, hay vì “biên chế” sau đại hội đảng Lao Động (Cộng Sản trá hình) năm 1951, bỏ kháng chiến mà về. Có người theo kháng chiến luôn sau trở thành Dziệt Cộng. Có người đang đi học, ủng hộ, hoạt động cho Việt Minh, nhưng rồi bỏ việc ấy, theo Quốc gia, đi lính Quốc gia, chống Cộng, v.v... lên tới tướng, tá quân đội VNCH. Cũng không ít người vì tinh thần dân tộc, chống Pháp, không ưa Bảo Đại bù nhìn, định kiến với “phe Quốc gia”, ghét Mỹ, sinh ra thiên tả, từ thiên tả ra thiên Cộng, theo Cộng, v.v... và v.v...

    Tâm lý quần chúng, có lẽ không ở đâu phức tạp như ở Huế.
    Học với nhau chung một lớp, một trường, một khoa (đại học), mượn bài, mượn sách, vui chơi chuyện trò với nhau nhưng sau đó lại “xuống đường”, chống nhau, đả kích nhau, bôi lọ nhau, thậm chí, đánh nhau, giết nhau rất “tận tình”. Vì đảng của mình, vì đạo của mình, vì tham lam, háo danh, háo sắc, hám tiền... “bọn chúng” bôi mặt nhau không chút ngại ngùng, lương tâm.
    Số người vì tinh thần dân tộc độc lập, vì tinh thần tôn giáo bị đàn áp, vì quyền lợi, vì háo danh, háo chức phận... thiên tả, thiên Cộng, kinh tài cho Việt Cộng hay “Cộng Sản chính cống” không ít ở Huế. Những thành phần nầy núp bóng - tôi nói là núp bóng - nhà thờ, chùa, đông nhứt là bóng chùa Từ Đàm, chui vô cái gọi là “hội đồng nhân dân cứu quốc”, hàng ngũ công chức, giáo chức (dễ chui vô hơn hết), kể cả quân đội, vô hội đồng tỉnh, vô hội đồng thị xã, hội đồng xã, đông vô số kể... Tôi có thể kể “một đống” tên của họ. Ông Liên Thành, nếu làm việc giỏi, huơ tay một cái là nắm được “một đống” Dziệt Cộng, thiên Cộng hay thiên tả, kinh tài Dziệt Cộng cho đi ở tù, đâu chỉ riêng một mình Hoàng Kim Loan như ông khoe khoang. Thật ra, Liên Thành có biết đấy, biết nhiều tên Cộng Sản nằm vùng đấy, kinh tài đấy, những tên thiên Cộng, thiên tả đấy, nhưng ông không đụng đến chúng vì những lý do khác nhau, rất riêng tư, rất khó nói.
    Bỗng nhiên, bây giờ, ở hải ngoại, Liên Thành viết sách tố giác ông Trí Quang là Dziệt Công mà không trưng được bằng chứng nào xác thực cả.

    Ông Trí Quang là một khối bí mật. Không biết rõ, biết chắc thì không nên nói. Dù vậy, ở Huế, những người từng tiếp xúc với ông, những người dân thường, phần đông là Phật tử, không ai nói ông là Dziệt Cộng cả. Vì sao? Quí độc giả có thể đọc bài “Con người thật của hòa thượng Trí Quang” của ông Đào Văn Bình để biết một phần về ông.(3)
    Người ta gọi ông Trí Quang là Dziệt Cộng nhưng không có bằng chứng! Dễ hiểu vậy thôi. Ông Trí Quang từng bị tù một lần, thời Tây mới tái chiếm Huế, trước khi ông Ngô Đình Diệm chấp chánh. Một nhân vật cao cấp trong ngành Cảnh Sát, từng làm phụ tá cho Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia ở Saigon, trước năm 1960 là “Trưởng phòng Tình báo Tổng quát” của nha Cảnh Sát Công An Trung nguyên Trung phần, hiện định cư ở Texas, nói cho tôi biết rằng: “Không thấy có hồ sơ nào chứng tỏ ông Trí Quang là Dziệt Cộng. Hồ sơ ở ty Mật Thám Tây, lưu trữ cho tới thời Đệ nhứt, Đệ nhị Cộng Hòa, không có cái nào nói ông Trí Quang hoạt động cho Cộng Sản hay chính ông ta là Cộng Sản.”
    Vì việc thờ phượng ông bà họ Ngô Đình được gởi ở chùa Từ Đàm nên sự quan hệ giữa ông Ngô Đình Cẩn và thượng tọa Trí Quang khá thân thiết, dù sau đó, khi ông Ngô Đình Thục về Huế, ông Ngô Đình Cẩn “bị tước hết quyền hành” thì sự quan hệ giữa hai ông nầy vẫn thế!

    Cho nên khi nói ông Trí Quang là Cộng Sản, ông Liên Thành không trưng được bằng chứng nào cả, ngoài một bằng chứng rất “ấu trỉ.”
    Liên Thành viết rằng năm 1947, ông Trí Quang làm lễ tuyên thệ vào đảng ở một ngôi chùa nào đó, phía Tây Huế, do Tố Hữu chủ tọa.

    Nói như thế có rất nhiều cái sai.

    Cái sai thứ nhứt là:
    1)- Lễ tuyên thệ được tổ chức ở một ngôi chùa. Nếu Cộng Sản muốn, chùa nào mà chống lại đươc. Nhưng việc tuyên thệ vào đảng là việc bí mật, chỉ cần có một lá cờ búa liềm, to nhỏ cũng được. Một người giới thiệu đảng viên mới, tức là “đối tượng đảng” nay tuyên thệ vào đảng, một người chủ tọa, một người tuyên thệ, tất cả chỉ có 3 người, thế là xong.
    Đang hoạt động bí mật, sợ “địch” biết nên càng nhanh gọn, đơn giản, càng bí mật càng tốt, càng hay. Cách sinh hoạt như thế nầy chính là cách mà người ta từng đặt vấn đề về ông Lê Đức Anh. Ông ta vào đảng khi nào, tuyên thệ ở đâu, ai giới thiệu, ai chủ tọa? Đó là mối bòng bong, tối mò mò! Lê Đức Anh muốn chứng minh cũng dễ thôi. Thời kỳ hoạt động bí mật, ít ai biết ai, thì Lê Đức Anh khai ra những “đồng chí” nào đó, chết mất đất từ hồi nào, ai kiểm chứng được?
    Nếu hiểu theo cách bình thường thì trước khi vào đảng, ông Trí Quang phải là “đối tượng đảng” (tức là đối tượng chuẩn bị thành đảng viên). Trước khi thành “đối tượng đảng” thì ông Trí Quang phải là đoàn viên hay thành viên một tổ chức nào đó, một tổ chức ngoại vi của đảng, như đoàn Thanh niên Cộng sản hay nông hội, công đoàn, công hội gì gì đó.
    Không là đoàn viên Thanh niên (lúc ấy, 1947, ông Trí Quang cũng còn trẻ), không là “đối tượng đảng” mà ông Trí Quang được Tố Hữu chủ tọa lễ tuyên thệ gia nhập đảng thì ông Trí Quang phải được “đặc cách”, phải là một nhân vật gì đó, ghê gớm lắm. Không biết ông Liên Thành có biết việc ông Trí Quang được “đặc cách” như thế nào không?

    2)- Thứ hai là việc ông Tố Hữu chủ tọa buổi lễ tuyên thệ của ông Trí Quang.
    Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920. Năm 1945, ông làm bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên (mới có 25 tuổi). Ông là người lãnh đạo việc cướp chính quyền ở Huế hồi tháng 8 năm 1945. Lúc ấy, ông Nguyễn Chí Thanh, là bí thư kỳ bộ Trung Kỳ.
    Thật ra, người đứng đằng sau, “chỉ đạo” cho Tố Hữu là ông Tôn Quang Phiệt, là người khôn ngoan, già dặn, là bậc thầy của Tố Hữu. Tôn Quang Phiệt lúc ấy là giáo sư trường Khải Định Huế, hiệu trưởng trường Thuận Hóa ở Huế. Mưu lược, kế hoạch là do từ Tôn Quang Phiệt mà ra. Tôn Quang Phiệt cũng là người đạo diễn cho Phạm Khắc Hòe trong việc thúc đẩy, hù dọa để vua Bảo Đại sợ mà phải thoái vị.
    Sau khi cướp chính quyền, năm 1946, Tố Hữu rời Huế, ra Hà Nội làm việc với Hồ Chí Minh. Khi chiến tranh bùng nổ, Tố Hữu cùng lên Việt Bắc cùng với chính phủ của ông Hồ.
    Năm 1947, lúc ấy Tố Hữu đang ở chiến khu Việt Bắc, từ ngoài đó mà lặn lội về Huế chủ tọa buổi lễ tuyên thệ cho ông Trí Quang vô đảng thì việc ấy phải là cực kỳ quan trọng! Việc ấy, không ai tin có thể có được, không thể nào có được, chỉ là một chuyện bịa thiếu kiến thức, ấu trỉ.
    3)- Thực ra, nói không cần phải sợ mất lòng, năm 1947, vai trò của ông Trí Quang trong giới tu hành và Phật tử ở Huế chẳng là cái gì cả. Ông ta chỉ là một đại đức như ông Thiện Minh, Nhất Hạnh. Tố Hữu không cần phải cất công đi xa và nguy hiểm để chủ tọa lễ tuyên thệ vô đảng cho ông Trí Quang.

    Vậy thì ông Trí Quang nổi tiếng khi nào?
    Trong đại hội thống nhứt Phật giáo Việt Nam năm 1951.
    Độc giả có nghe câu hát “Phật giáo Việt Nam thống nhứt Bắc Nam Trung từ đây...” “Từ đây!” là năm 1951, qua đại hội Phật giáo ba miền như trong câu hát ở trên của nhạc sĩ Lê Cao Phan. Đại hội nầy được khởi xướng từ Huế, trưởng ban vận động là ông Trí Thủ, phụ tá là các thầy còn trẻ. Các thầy trẻ có tinh thần, có khả năng, có trình độ kiến thức, nắm bắt được tình hình dân chúng nước ta thời bấy giờ nên đã thay mặt “các sư già” mà vận động, kêu gọi, khuyến khích, đưa đại hội tới thành công.
    Thêm một điều nữa. Sau khi hồi cư (1947, 48, 49) người dân Huế tham gia sinh hoạt Phật giáo rất tích cực, đặc biệt là việc hình thành các gia đình Phật tử. Uy tín các ông Trí Quang, Thiện Minh, Nhất Hạnh lên cao là qua đại hội thống nhứt như nói ở trên và qua phong trào gia đình Phạt tử nầy. Ông Phan Cảnh Tuân, ông Lê Cao Phan, nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng, nhạc sĩ Lê Lừng,... là các huynh trưởng tích cực và được nhiều người kính trọng, yêu mến là từ trong phong trào nầy.

    Tình hình như thế thì làm gì có việc Tố Hữu từ Việt Bắc về Huế chủ tọa lễ tuyên thệ vào đảng của ông Trí Quang. Đó chỉ là sự tưởng tượng của một anh học trò chưa đậu tú tài 1, không thể là nhận định một ông sĩ quan cấp tá. Đem một người chỉ mới có uy tín từ năm 1951 mà đặt vào một hoàn cảnh năm 1947, trước thời kỳ đó 4 năm, khi người ấy chưa có uy tín gì cả là một việc làm ấu trỉ, chưa biết suy luận, non nớt. Trình độ của một sĩ quan cấp tá Quân đội Việt nam Công hòa có thể tệ đến như vậy sao!!!

    Cũng nhân đây, tôi muốn bày tỏ một vài ý kiến với Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng.
    Trong bài “Một nhân chứng bất đắc dĩ”, tôi thuật lại việc tôi thấy tận mắt như đã viết ở phần trên.

    Bài của Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết như sau:
    “... Tôi đã nhiều lần gặp Cựu Thiếu Tá Đặng Sỹ tại Hoa Kỳ và đã nghe ông kể lại: Mùa Lễ Phật Đản vào tháng 5/1963, khi Thượng Tọa Thích Trí Quang hô hào Phật tử đến bao vây Đài Phát Thanh Huế phản đối Ban Giám Đốc Đài không cho phát thanh cuốn băng thu lại lời của Thượng Tọa Thích Trí Quang phát biểu tại chùa Từ Đàm...
    Lúc đó, Thiếu Tá Đặng Sỹ đang có mặt tại sân Toà Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên trước sự hiện diện của hai ông Nguyễn Văn Đẳng (Tỉnh Trưởng Thừa Thiên) và ông Hồ Đắc Khương (Đại Biểu CP tại Trung Nguyên Trung Phần). Ông Nguyễn Văn Đẳng đã nói với Thiếu Tá Đặng Sỹ: “Tôi ra lệnh cho anh phải đem lính đến dẹp ngay bọn người đang làm loạn tại Đài Phát Thanh Huế”. Ông Đặng Sỹ trả lời: “Tôi là quân nhân, tôi phải trình việc nầy với Cấp Chỉ Huy của tôi để xin chỉ thị”. Lúc đó, ông Hồ Đắc Khương liền nói: “Nhân danh Đại Biểu Chính Phủ, tôi ra lệnh cho anh...” Tiếp đó, ông Nguyễn Văn Đẳng nói: “Cho tôi gặp ông Ngô Đình Thục”. Thiếu Tá Đặng Sỹ trả lời: “Bây giờ là ban đêm, phải đợi sáng mai mới gặp được. Theo tôi nghĩ, ông Ngô Đình Thục không dính dáng gì đến chuyện nầy.”

    Lực lượng được điều động đi dẹp biểu tình tối 8 tháng 5/1963 tại Huế gồm có:
    - Lực lượng Cảnh Sát Thừa Thiên
    - Lực Lượng Bảo An do Đại Úy Nguyễn Kinh Lược, Tỉnh Đoàn Trưởng Tỉnh Đoàn Bảo An Thừa Thiên chỉ huy
    - Một Đại đội Lôi Hổ do Thiếu Uý Phú chỉ huy dưới sự điều động của Đại Tá Nguyễn Văn Hiền, Tư Lệnh phó Khu 11 Chiến Thuật.
    - Hai Đại đội thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa (Phù Bài) do Đại Úy Vĩnh Biểu, Giám Đốc Trung Tâm Huấn Luyện chỉ huy. (Đại Úy Vĩnh Biểu sau nầy là Đại Tá, đã cho Nguyễn Lý-Tưởng biết: Ông được lệnh đem quân về Huế, phải kiểm soát trước, không cho lính mang đạn theo, nghĩa là lính mang súng không có đạn)
    - Chi Đội Tuần Thám do Trung Úy Nguyễn Kỳ gồm có 6 xe bọc sắt, bánh cao su do Mã Lai viện trợ (không phải xe Tank) do Đại Uý Nguyễn Kinh Lược điều động đến tăng cường.

    Trước khi xuất quân, Thiếu Tá Đặng Sỹ đã nhận được điện thoại của Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm (Quân Đoàn I, từ Đà Nẵng) ra lệnh “phải dẹp biểu tình gấp”.

    Thiếu Tá Đặng Sỹ ngồi trên xe cơ giới (vỏ xe bọc sắt, bánh xe bằng cao su) cùng với Trung Uý Nguyễn Kỳ. Khi đi tới ngã ba Pharmacy Lê Đình Phòng, Ty Công Chánh và Đại Học Văn Khoa (Morin cũ) gần Đài phát thanh Huế thì nghe tiếng nổ. (Xin nói thêm lúc đó, tôi là Nguyễn Lý-Tưởng cũng có mặt trước thềm Đại học Văn Khoa. “Tôi thấy rõ chiếc xe của Tiểu khu từ Toà Hành Chánh đường Lê Lợi chạy đến liền có tiếng nổ ở trước thềm Đài Phát Thanh Huế...Nhưng có một người tên là Hoàng Long Hải, cũng tự xưng là “nhân chứng” đã viết: Ông ta thấy Thiếu Tá Đặng Sỹ bắn ba phát súng ra lệnh...sau đó liền có tiếng nổ tại Đài Phát Thanh Huế... Các tài liệu của bên Phật Giáo nói rằng “xe tăng chạy cán lên xác Phật tử!” Làm sao xe tăng có thể leo lên thềm của Đài Phát Thanh được?

    Để trả lời, tôi nêu lên đây vài ý kiến:
    1)- Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết:
    “Thượng Tọa Thích Trí Quang hô hào Phật tử đến bao vây Đài Phát Thanh Huế phản đối Ban Giám Đốc Đài không cho phát thanh cuốn băng thu lại lời của Thượng Tọa Thích Trí Quang phát biểu tại chùa Từ Đàm... “
    Theo tôi nghĩ, Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết như thế là thiếu trung thực, chưa muốn nói là ông Giáo Sư Sử Học muốn vu cáo cho Thượng Tọa Trí Quang.
    Như tôi có nhận xét trong bài viết của tôi nói ở trên, xin trích lại vài đoạn cho rõ sự việc:

    Đoạn thứ nhứt:
    “... Khi đi ngang Đài Phát Thanh Huế, tôi thấy đồng bào tụ tập ở đây đông lắm, không biết chuyện gì, tôi về nhà cất xe rồi dắt vợ tôi và em gái ra đài phát thanh xem sao. Nhà tôi thuê ở lúc đó ngay phía trước rạp “Ciné Morin” cũ, cách đài phát thanh khoảng ba bốn trăm mét.”

    Đoạn thứ hai:
    Việc dân chúng tụ tập trước đài phát thanh mỗi lúc một đông là vì nhiều lý do khác nhau. Có người chuẩn bị nghe đài phát thanh Huế phát lại chương trình buổi lễ hồi sáng hôm đó ở chùa Từ Đàm, nhưng đến giờ phát như đài đã thông báo lại không thấy gì hết, chỉ nghe đài phát nhạc mà thôi. Vì vậy, họ thắc mắc, hỏi nhau - những người hàng xóm đều cùng theo Phật như nhau -, rồi cùng tới đài phát thanh để xem thử “chuyện gì xảy ra”, có người như tôi, đi ngang đài phát thanh thấy đông thì tò mò hỏi, rồi về nhà, rủ anh em, chòm xóm ra đài phát thanh coi thử... “chuyện chi”. Càng hỏi, người ta biết không phát lại thanh chương trình buổi lễ vì sáng nay, Thượng Tọa Trí Quang, trong bài diễn văn, có nói tới việc cấm treo cờ. Do đó, đã tò mò, người ta lại càng tò mò hơn, để coi Thượng Tọa nói chi. Không ai nghĩ đây là một cuộc biểu tình có tổ chức, có chuẩn bị trước.”
    Quả thật tôi không thấy ông Trí Quang có hô hào Phật tử đến bao vậy đài phát thanh, phản đối ban giám đốc, như Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết như trên.
    Nói cho đúng, khi đồng bào tụ họp đã đông tại đài phát thanh rồi thì ông Trí Quang mới tới đây.
    Động cơ nào đưa ông tới: Ông Ngô Ganh gọi lên chùa Từ Đàm hay ông tỉnh trưởng, ông đại biểu chính phủ được ông Ngô Ganh báo cáo rồi mấy ông nầy gọi lên chùa Từ Đàm hỏi duyên cớ và nhờ giúp đỡ giải quyết, hay ông Trí Quang biết đồng bào tụ họp đông đảo ở đó nên tự động tới, hay lý do nào khác. Tôi không phải là “đệ tử” của ông thầy chùa nào cả nên không rõ việc đó.
    Độc giả đọc lại các đoạn trích dẫn trên và toàn bài in trong cuốn Viết Về Huế 1, thì sẽ không thấy việc phản đối ban giám đốc đài như Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết.

    2)- Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết: “...cuốn băng thu lại lời của Thượng Tọa Thích Trí Quang phát biểu tại chùa Từ Đàm...”

    Nói như thế không sai nhưng không chính xác, nếu không muốn nói là có ác ý, hay viết thiếu cẩn thận. Tôi xin nhắc lại cho chính xác hơn:
    Không phải là cuốn băng thu lại lời thượng tọa Trí Quang mà chính đó là cuốn băng (thời sự) ghi lại buổi lễ Phật Đản diễn ra ở chùa Từ Đàm sáng hôm đó (8 tháng 5 năm 1963, nhằm ngày rằmg tháng Tư âm lịch). Trong cuốn băng nầy có lời phát biểu của ông Trí Quang về việc treo cờ. Tôi không đi dự lễ hôm đó, tôi không được nghe cuốn băng đó nên không rõ ông Trí Quang nói gì về việc cấm treo cờ.

    Có những mâu thuẫn khi Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết đoạn văn sau đây:

    “....Ông Nguyễn Văn Đẳng (Tỉnh Trưởng Thừa Thiên) và ông Hồ Đắc Khương (Đại Biểu CP tại Trung Nguyên Trung Phần). Ông Nguyễn Văn Đẳng đã nói với Thiếu Tá Đặng Sỹ: “Tôi ra lệnh cho anh phải đem lính đến dẹp ngay bọn người đang làm loạn tại Đài Phát Thanh Huế”. Ông Đặng Sỹ trả lời: “Tôi là quân nhân, tôi phải trình việc nầy với Cấp Chỉ Huy của tôi để xin chỉ thị”. Lúc đó, ông Hồ Đắc Khương liền nói: “Nhân danh Đại Biểu Chính Phủ, tôi ra lệnh cho anh...” Tiếp đó, ông Nguyễn Văn Đẳng nói: “Cho tôi gặp ông Ngô Đình Thục”. Thiếu Tá Đặng Sỹ trả lời: “Bây giờ là ban đêm, phải đợi sáng mai mới gặp được. Theo tôi nghĩ, ông Ngô Đình Thục không dính dáng gì đến chuyện nầy.”
    Thứ nhứt, cả hai ông đại biểu chính phủ Hồ Đắc Khương và tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng đều ra lệnh cho ông thiếu tá Đặng Sĩ “đem lính đến dẹp ngay bọn người đang làm loạn tại đài phát thanh Huế”.
    Xin lưu ý những danh từ hai ông này dùng: “dẹp ngay”, “bọn người đang làm loạn”. Đó là những danh từ biểu lộ sự tức giận, gay gắt, miệt thị (bọn)...
    Tôi xin hỏi: Ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng đã ra lệnh đem lính đến dẹp ngay có nghĩa là dùng biện pháp mạnh, cứng rắn thì ông tỉnh trưởng, sau khi ra lệnh, còn đến đài phát thanh làm gì. Theo lời ông Trí Quang nói trên loa hôm đó thì ông tỉnh trưởng đến đài để giải quyết, “giải quyết” có nghĩa là dùng biện pháp mềm mỏng chớ đem lính đến dẹp ngay gì nữa.
    Có thể ông tỉnh trưởng chơi trò hai mặt: Một mặt thì ra lệnh cho Đặng Sĩ “đem lính đến dẹp ngay”. Mặt khác thì giả bộ đến với thái độ hiểu biết, hòa nhã...
    Tôi không tin ông tỉnh trưởng chơi trò hai mặt. Có thể một mặt ông tỉnh trưởng được lệnh “ai đó” giả bộ đến đài phát thanh Huế giải quyết ôn hòa, mặt khác thì nhân lúc đó, đồng bào Phật tử đang tin tưởng ông tỉnh trưởng thì dùng biện pháp mạnh, cho nổ súng (chỉ thiên), nổ lựu đạn, làm cho đồng bào sợ hãi mà phải giải tán.
    Nói như thế thì ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng cũng chỉ là nạn nhân của ai đó mà thôi.

    Độc giả có thấy cái ác ý của Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng không?
    Theo ông Giáo sư viết như trên thì lệnh đàn áp được ban ra từ ba người: Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm (quân sự), ông đại biểu chính phủ Hồ Đắc Khương, ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng. Cả ba ông nầy đều không theo đạo Thiên Chúa La Mã. Tôi không gọi họ là Phật tử vì tôi không biết họ có đi chùa thường hay không! Nôm na tôi gọi ba ông nây là người lương. Người lương cũng có đi chùa nhưng không đi nhà thờ.
    Vậy thì việc đàn áp ở đài phát thanh hôm đó, có phải là từ ông tổng giám mục Ngô Đình Thục hay ông Ngô Đình Cẩn là những người theo đạo Thiên Chúa La Mã đâu?! Mấy ông “thờ Phật” đàn áp nhau, giết nhau đấy chớ, sao lại đổ tội cho mấy ông có đạo Thiên Chúa.

    Thật ra, theo tôi đoán chừng (đoán chừng thôi nhé), Ông Giáo sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng chẳng biết mô tê gì về việc đàn áp hôm 8 tháng 5 năm 1963 ở đài phát thanh Huế.

    Vì sao tôi nói như thế?
    Rõ lắm. Ngay từ đầu bài ông Giáo sư Sử học viết:
    “... Tôi đã nhiều lần gặp Cựu Thiếu Tá Đặng Sỹ tại Hoa Kỳ và đã nghe ông kể lại:
    Đấy! Ông Gáo sư Sử học nói rõ là “Nghe ông kể lại...”
    Ông Gáo sư Sử học Nguyễn Lý Tưởng còn viết:

    “Xin nói thêm lúc đó, tôi là Nguyễn Lý-Tưởng cũng có mặt trước thềm Đại học Văn Khoa.”
    Ông Giáo sư Sử học Nguyễn Lý Tưởng “Cũng có mặt truớc thềm Đại học Văn khoa” nhưng ông không rõ địa thế ở đó như thế nào, diễn tả sai lạc như tôi có phân tích ở đoạn sau.

    Nói cho đúng tình hình chính trị Huế hay toàn bộ miền Trung thời bấy giờ là thuộc quyền “Cụ Cố Trầu”, hay “Cố vấn chỉ đạo” hay gọi như báo chí bấy giờ là “lãnh chúa miền Trung”, tức ông Ngô Đình Cẩn. Với chức vụ nầy, ông Ngô Đình Cẩn có văn phòng đàng hoàng. Văn phòng ở phía trước nhà thờ Phú Cam, quay mặt vào nhà thờ có tấm bảng lớn, sơn trắng, viền xanh, chữ xanh, ghi là “Văn phòng Cố vấn Chỉ Đạo”. Tôi không nghĩ có ông Cẩn ngồi ở đây. Có một ông nào đó ngồi “giữ chùa”. Cậu vẫn ở nhà, có việc gì thì có người đến thưa, bẩm...
    Để phụ với ông anh làm tổng thống, cậu chọn lựa và sắp đặt các chức vụ quan trọng ở miền Trung, từ chức đại biểu chính phủ, các ông giám đốc các nha (Công chánh, giáo dục, y tế...), các ông tỉnh trưởng, quận trưởng, các ông trưởng ty Cảnh Sát, Công An,... Còn các ông hiệu trưởng trường tiểu học, trung học, trưởng ty các ngành khác, do các ông giám đốc đề nghị với “cậu”... Việc nầy ở Huế nhiều người cũng biết, khỏi nói dông dài.
    Sau năm 1960, bảng hiệu văn phòng của “cậu” bị hạ xuống. Có nghĩa là văn phòng bị dẹp bỏ.
    Tại sao?
    Tại vì sau khi ông Ngô Đình Thục về làm tổng giám mục ở Huế thì nhà “cậu” “vắng khách”. Người dân Huế bàn tán không ít về việc “dẹp bảng hiệu” nầy của ông Cố Trầu”. Họ cho là anh em nhà họ Ngô tranh quyền nhau.
    Tại vì thế lực của “cậu” hay tiếng nói của “cậu” không nặng ký bằng tiếng nói của “đức cha”. “Đức cha” muốn cho ai thay ghế ông phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ cũng được huống gì mấy chức đại biểu chính phủ, tỉnh trưởng, quận trưởng, giám đốc, trưởng ty “quèn”. Vậy là “anh hùng hào kiệt”, “tinh hoa miền Nam” không còn vào ra chầu ở nhà “cậu” nữa, “không còn thấy cái lỗ rún lồi” nữa, mà qua chầu bên tòa tổng giám mục Huế, nằm ở góc đường Phan Đình Phùng + Nguyễn Trường Tộ. Trên đường Nguyễn Trường Tộ, đối diện với dãy nhà hai tầng của ông Thục dựng nên cho thuê, xe mang bảng số chính quyền đậu dài dài.
    Độc giả không tin tôi?
    Điều ấy thì tùy nhưng xin vui lòng đọc đọan sau đây, tôi trích trong cuốn “Làm thế nào để giết một tổng thống” của Lương Khải Minh (bác sĩ Trần Kim Tuyến) và Cao Thế Dung thì sẽ hiểu rõ hơn:

    “.... Ông Cẩn cho là phải và rất đồng ý với Cha Luận nhưng ông Cẩn cho biết: “Từ ngày Đức Cha về đây, Đức Cha có coi tôi có ra cái gì đâu. Tôi làm sao nói được xin nhờ Cha vào Saigon gặp thẳng Tổng Thống để nói cho rõ sự lợi hại”. Hôm sau, cha Luận vào Saigon xin gặp ông Ngô Đình Nhu.
    . . . .
    “... Con đường Saigon - Vĩnh Long vẫn tấp nập khách công hầu. Ông Nhu thường phàn nàn với nhân chứng Lương Khải Minh “Bây giờ Nội Các và Quốc Hội họp ở Vĩnh Long mà!”

    Vậy thì lệnh ông đại biểu chính phủ, tỉnh trưởng có nghĩa lý gì. Tiếng nói của họ chỉ là cái loa phát lại tiếng nói từ đâu đó, ai đó? Cũng không khó trả lời.

    Ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng và ông Phó tỉnh trưởng Nội An kiêm tiểu khu trưởng Đặng Sĩ ai to hơn ai?
    Thông thường thì ông trưởng to hơn ông phó. Dưới chế độ Cộng Hòa của ông Diệm và dưới “cái bóng đen” của “đức cha” ở Huế thì ngược lại. Ông phó to hơn ông trưởng.

    Độc giả không tin tôi?
    Rõ lắm, xin đọc lại đoạn viết của ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng tôi vừa trích ở trên sẽ biết ngay.
    “... Tiếp đó, ông Nguyễn Văn Đẳng nói: “Cho tôi gặp ông Ngô Đình Thục”. Thiếu Tá Đặng Sỹ trả lời: “Bây giờ là ban đêm, phải đợi sáng mai mới gặp được. Theo tôi nghĩ, ông Ngô Đình Thục không dính dáng gì đến chuyện nầy.”

    Tôi có 2 nhận xét về đoạn nầy:
    1)- Tại sao muốn gặp ông Ngô Đình Thục mà ông tỉnh trưởng phải xin ông phó: “Cho tôi gặp ông Ngô Đình Thục.” Vậy thì ông “không phải là đệ tử ruột” muốn gặp “đức cha” thì phải “xin” ông “đệ tử ruột” của “đức cha” giúp cho. Vậy thì ông “đệ tử ruột” lớn hơn ông “không phải là đệ tử ruột”. Chỉ có thế mới có cái việc ngược đời trong thiên hạ là ông phó to hơn ông trưởng, giống như thời Dziệt Cộng thì “Thủ kho to hơn thủ trưởng” vậy!
    Ông tỉnh trưởng xin ông phó tỉnh trưởng cho gặp “đức cha” để làm gì?
    Độc giả thử đoán coi!

    Để xác nhận lại có phải “đức cha” ra cái lệnh như thế không? Cái lệnh ghê quá, khiến ông tỉnh trưởng e ngại. Có thể đó là lệnh đàn áp ở đài phát thanh hôm ấy. Trước cái lệnh ghê gớm đó, - cái lệnh nầy là gịot nước tràn ly, là nguyên nhân làm sụp đổ nhà Ngô - thì ông tỉnh trưởng phải xin gặp “đức cha” và hỏi lại cho chắc để sau nầy còn có người chịu trách nhiệm về cái lệnh ấy chứ.
    Cuối cùng, sau khi nhà Ngô bị lật đổ, không ai rõ cái lệnh đàn áp ấy do từ đâu ra. Ông Đặng Sĩ không khai, ông đại biểu chính phủ không nhận, ông tỉnh trưởng cũng lắc đầu “không phải tại tui.”
    Tới tận bây giờ, khi đã “tan hàng”, các ông lớn “cao chạy xa bay”, hầu như “tiêu diêu miền cực khổ” hay “Chúa gọi về” cả rồi, không ai còn sống nên ông Đặng Sĩ mới mạnh miệng nói rằng do lệnh ông nầy, ông kia, lệnh do ông Hồ Đắc Khương, Nguyễn Văn Đẳng ban ra. Không lý mấy ông nầy dưới âm phủ chui lên mà cải chánh? Tại sao hồi đó ra tòa, ông Đặng Sĩ lại câm như hến. Có phải hồi đó, ông Hồ Đắc Khương còn sống, ông Nguyễn Văn Đẳng còn sống, ông Đặng Sĩ không dám đổ thừa!
    Khi xưa, ông Đặng Sĩ một tiếng gọi “đức cha”, hai tiếng gọi “đức cha”, thậm chí không dám gọi tên tục của ông Ngô Đình Thục. Bây giờ, ông Đặng Sĩ gọi trổng, xách mé: “Theo tôi nghĩ, ông Ngô Đình Thục không dính dáng gì đến chuyện nầy.”
    Sao ông Đặng Sĩ ăn nói thiếu tôn kính “đức cha” như vậy là vì ông ta hận “đức cha” cái gì chăng?
    Giả thử như hồi đó ông Sĩ không phải là người nhận lệnh “đức cha” mà đàn áp Phật giáo đồ ở đài phát thanh Huế, hoặc là “đức cha” công khai chịu trách nhiệm về việc đàn áp ấy, không để chỉ riêng mình ông Sĩ “ngậm miệng ra tòa”, mà cũng là “ngậm cay nuốt đắng” một mình suốt đời thì ông có hận “đức cha” làm chi.
    Hoặc giả, nói xa hơn, ông không theo “đức cha”, cứ đời nhà binh mà tiến, thì đường binh nghiệp của ông cứ thế mà đi lên, có dở thì cũng sống lâu ra lão làng, thêm một hai bông mai trắng trên cổ áo nữa, biết đâu lên tướng không chừng. Vì theo “đức cha” mà thân ông tù tội, bị lột loon, lột chức, bị đuổi ra khỏi quân đội, đời ông đáng buồn biết bao nhiêu! Trong hoàn cảnh đó, y như “đem con bỏ chợ”, thì ai cũng oán “đức cha” chứ có riêng gì Đặng Sĩ, thì ông còn tôn kính “đức cha” được nữa chăng. Không gọi là “đức cha” mà gọi thẳng một cách thiếu tôn kính là “Ông Ngô Đình Thục” là một cách biểu lộ sự oán hận của ông ta đấy!
    Ba ông lớn của miền Trung, của Huế hôm ấy, gồm có ông Hồ Đắc Khương, đại biểu chính phủ, ông tỉnh trưởng Thừa Thiên Huế Nguyễn Văn Đẳng, ông phó tỉnh trưởng nội an kiêm tiểu khu trưởng Thừa Thiên Huế là những người chịu trách nhiệm về tình hình an ninh gặp nhau để bàn về việc bất an ở đài phát thanh Huế. Đúng ra là phải có thêm ông Đặng Phong, trưởng ty Công An nữa mới đúng, nhưng tại sao ông Đặng Sĩ không nhắc tên ông Đặng Phong ở đây. Có phải vì ông Đặng Phong là anh ruột ông Đặng Sĩ? Hai anh em nhà họ Đặng nầy, một người nắm quân đội, môt người nắm công an thì coi như trùm thiên hạ ở đây rồi. Ông Đặng Sĩ không muốn có tên ông Đặng Phong ở đây, chắc là ông cho cái đám nầy, chẳng vẻ vang gì, lịch sử sẽ nhắc nhở và phán xét, nên ông Đặng Sĩ cho rằng một mình ông em gánh chịu cũng được rồi, “tha” cho ông anh.
    Ba ông lớn nói trên, là những người có trách nhiệm thì lo giải quyết, mắc mớ chi mà ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng nhắc tới “đức cha”, một nhà tu, chỉ biết lo việc tu hành. “Cho tôi gặp ông Ngô Đình Thục.” Người ta có thể tự hỏi: “Ông Ngô đình Thục là cái gì nên ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng mới xin gặp chớ?”
    Một mặt thì ông thiếu tá Đặng Sĩ nói rằng “Ông Ngô Đình Thục không dính dáng gì đến chuyện nầy.” Mặt khác, thì ông thiếu tá Đặng Sĩ lại cho biết ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng yêu cầu “Cho tôi gặp ông Ngô Đình Thục”. Hai sự kiện nầy không phải là mâu thuẫn chăng?

    Mâu thuẫn gì đâu!
    Ông thiếu tá Đặng Sĩ muốn che dấu việc “đức cha” có dính dáng đến việc nầy”, mặt khác lại càng cố che dấu mà nói lộ ra. Việc làm như thế, thông thường người ta gọi là “Dấu đầu lòi đuôi” hay “Thượng bất thò lò thì hạ thò lò” như người ta đắp chiếc chiếu ngắn vậy. Sự khôn ngoan của ông thiếu tá Đặng Sĩ không cao nên “dấu đầu lòi đuôi.” Nếu hồi đó, khi ông thiếu tá Đặng Sĩ ra tòa, nếu ông quan tòa không nhận lệnh trước, hỏi cho tới thì ông thiếu tá Đặng Sĩ có chạy đằng trời.
    Bên cạnh đó, ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng cũng “thiệt thà” không kém, cứ nghe ông cựu thiếu tá Đặng Sĩ nói sao ghi lại y chang như vậy, nên mới có chuyện... buồn cười “dấu đầu lòi đuôi.”

    2)- Ông Thục không biết gì cả?
    Có thực ông Ngô Đình Thục không dính dáng gì đến việc nầy như ông cựu thiếu tá Đặng Sĩ kể và ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết lại không?
    Thật ra, sau vụ “đài phát thanh Huế” ít ngày, trong một buổi tập họp dân chúng Huế tại rạp Ciné Morin cũ, sau nầy là giảng đường trường Đại Học Khoa Học (Lớp SPCN đông sinh viên nên thường học ở giảng đường nầy) “đức cha” Ngô Đình Thục có xuất hiện nói chuyện với “đồng bào”. “Đức cha” Ngô Đình Thục khẳng định với mọi người rằng Dziệt Cộng đã quăng lựu đạn ở đài phát thanh. Đó là loại lựu đạn MK-3, một thứ vũ khí mà lúc đó, quân đội Việt Nam Cộng Hòa không có.
    Việc nầy dễ nhớ vì hôm đó có người nêu thắc mắc với “đức cha” là có chứng cớ gì cho thấy rằng việc quăng lựu dạn là do Dziệt Cộng không?
    Không thấy “đức cha” trả lời cho rõ ràng, nhưng cái ông “gan cùng mình” dám “vuốt râu cọp”, nêu thắc mắc với “đức cha” liền bị Công An “cặp cổ” đưa vô “cảnh đoạn trường” khi mới ra tới đường Trương Định, con đường bên hông rại ciné Morin nói trên.
    Độc giả có thấy buồn cười không?
    Ông cựu thiếu tá Đặng Sĩ nói “ông Ngô Đình Thục không dính dáng tới việc nầy” thì “đức cha” lên diễn đàn hôm đó, “thanh minh thanh nga” cho đám binh lính của ông cựu thiếu tá Đặng Sĩ làm gì?
    Về sau, khi tình hình càng lúc càng căng thẳng, chính quyền đàn áp thẳng tay, thì “đức cha” còn họp báo, tuyên bố nhiều lần nữa. Cứ mỗi lần như thế, đám bạn bè của tôi và tôi, cười nói với nhau rằng “Đức cha đang tự thú”.
    Sau vụ đàn áp ở đài phát thanh Huế, ông anh rể, chồng bà chị họ tôi, tên là Nguyễn Văn Qu., làm việc ở Nha Công Chánh Trung Nguyên Trung Phần, người thường hay ngồi ăn sáng ở càphê Lạc Sơn, chưởi đổng thiên hạ mà chơi. Ông ta gọi tôi tới, khi tôi cũng đi ăn sáng, gặp ông. Ông anh rể bảo:
    - “Mấy thằng nịnh bây giờ bỏ ông Cẩn mà bu áo đức cha. Thấy dân chúng tụ tập đông ở đài phát thanh, vô thưa với ông Thục: Đức cha yên tâm, tụi nầy để con làm một cái là xong. Không chừng xong luôn nhà họ Ngô.”
    Mấy người ngồi chung quanh nghe ông anh rể tôi nói mà lạnh mình. Nhà tù Diệm Nhu bây giờ chật như cá hộp. Công An đầy đường mà dám nói như thế là gan cùng mình. Hay ông ta làm cò mồi cho Công An?

    Xin độc giả đọc lại một đoạn do ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng như sau:
    “... Thiếu Tá Đặng Sỹ ngồi trên xe cơ giới (vỏ xe bọc sắt, bánh xe bằng cao su) cùng với Trung Uý Nguyễn Kỳ. Khi đi tới ngã ba Pharmacy Lê Đình Phòng, Ty Công Chánh và Đại Học Văn Khoa (Morin cũ) gần Đài phát thanh Huế thì nghe tiếng nổ. (Xin nói thêm lúc đó, tôi là Nguyễn Lý-Tưởng cũng có mặt trước thềm Đại học Văn Khoa. “Tôi thấy rõ chiếc xe của Tiểu khu từ Toà Hành Chánh đường Lê Lợi chạy đến liền có tiếng nổ ở trước thềm Đài Phát Thanh Huế.”
    Về đoạn văn nầy, tôi cũng xin bày tỏ vài ý kiến như sau:
    1)- Loại xe cơ giới (xe thiết giáp bánh cao su do Mã Lai viện trợ như tôi có nói ở trên. Tôi không hiểu sao, người ta không gọi là xe thiết giáp, để tránh hiểu lầm với binh chủng Thiết Giáp của quân chính qui VNCH, nên gọi là xe cơ giới chăng? Dân chúng thì gọi là “xe nồi đồng” vì cái pháo tháp trông giống như cái nồi đồng úp ngược) chở ông cựu thiếu tá Đặng Sĩ và ông cựu trung úy Bảo An Nguyễn Kỳ chỉ huy chi đội cơ giới tuần thám tới ngã ba đường Hoàng Hoa Thám và đường Lê Lợi (chỗ có nhà thuốc Tây Lê Đnìh Phòng) thì có tiếng nổ.

    Thực ra, tiếng nổ chỉ xảy ra sau khi:
    - Khi xe cơ giới đã vào vườn hoa (sân trước, ngó ra đầu cầu Trường Tiền) và dừng lại ở đó. Xin lưu ý một điều. Tại ngôi nhà làm đài phát thanh phía trước có một cái nền ximăng cao (cao ngang bụng người lớn tuổi), đi lên đó bằng mấy bậc cấp. Từ bậc cấp kéo dài ra gần tới chân cầu Trường Tiền (vườn hoa và đầu cầu cách nhau bằng một con đường rộng, xe hơi chạy hai chiều được) là vườn hoa.
    Vườn hoa xây dựng đâu từ thời Pháp thuộc, chung quanh là các đường đi bộ, đủ rộng để cho xe hơi chạy lọt vào được. Giữa là các đường cong để người ta có thể đi dạo chơi. Giữa các đường cong là các bồn hoa cũng không lớn lắm. Xe cơ giới chạy vào đậu ở các đường đi dạo nầy, không leo lên được nền ximăng cao trước đài phát thanh - chỗ đó có phòng vi âm.
    - Ông Ngô Ganh, quản đốc (đúng danh xưng là quản đốc) đài phát thanh và ông Trí Quang đã đón ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng tới. Trên cái nền ximăng, người ta đã đem ra một chiếc bàn gỗ, ông tỉnh trưởng và ông Trí Quang đã leo lên đứng trên bàn đó, chưa kịp nói gì thì lựu đạn nổ.

    Tôi có thắc mắc:
    - Ông cựu thiếu tá Đặng Sĩ và ông cựu trung úy Nguyễn Kỳ ngồi xe cơ giới mới tới ngang chỗ nhà thuốc Tây Lê Đình Phòng. Vậy thì người đứng trên chiếc xe cơ giới có chữ Ngô Đình Khôi viết bên hông xe là ai?
    Như tôi đã nói xe có chữ Ngô Đình Khôi bên hông phải là xe chỉ huy. Ông chỉ huy nầy không thể đi trên những chiếc xe có tên Lê Lợi, Quang Trung viết bên hông được. Hồi bấy giờ, nhà Ngô đang cố vẽ vời cái giòng họ Ngô đình là “cách mạng” mà ông anh cả Ngô Đình Khôi là hạng nhứt. Con đường lớn nhứt, dài nhứt, chạy ngang trước dinh Độc Lập được đặt tên là đại lộ Ngô Đình Khôi là vì vậy. (Sau khi nhà Ngô bị lật đổ, con đường nầy cũng bị đổi tên theo, gọi là đường Công Lý. Đoạn trước dinh Độc Lập, chỉ được chạy một chiều nên người ta gọi mỉa là “Công Lý một chiều”.
    Theo ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng, cựu thiếu tá Đặng Sĩ cũng ngồi trên xe cơ giới. Có lẽ ông Sĩ và ông Kỳ phải ngồi hai xe khác nhau mới đúng. Xe cơ giới, như đã nói là xe có bốn bánh cao-su, “xe nồi đồng”, trên đầu xe là pháo tháp, cũng là chỗ ngồi của trưởng xa. Trưởng xa có thể đứng thẳng lên, ngồi ló đầu lên hay ngồi thụp xuống để nắp pháo tháp có thể đóng lại được. Ở đây chỉ có 1 ghế. Nếu cựu trung úy Nguyễn Kỳ ngồi đây thì ông Đặng Sĩ ngồi ở đâu, không lý đeo tòn ten sau xe. Phía đầu xe là chỗ ngồi của tài xế và hiệu thính viên (truyền tin).
    Tiếc rằng ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng không nói rõ việc nầy, chỉ nói chung chung rằng “Thiếu Tá Đặng Sỹ ngồi trên xe cơ giới (vỏ xe bọc sắt, bánh xe bằng cao su) cùng với Trung Uý Nguyễn Kỳ.”
    Ông Sĩ ngồi trên xe cơ giới cùng với ông trung úy Nguyễn Kỳ, “ngồi cùng” như thế nào thì tôi xin chịu, không thể hiểu nổi.

    Nhập ngủ, ra trường Thủ Đức xong, tôi chọn binh chủng Thiết giáp, học khóa 25 Sĩ quan Căn bản Thiết giáp, biết chút ít về xe cơ giới, như các xe Mã Lai viện trợ như nói ở trên (xe nồi đồng), xe Scout-Car, xe Half-Track, Char (tăng) mobillée, Char (tăng) M-24 có Canon Beaufort, thiết vận xa M-113, M-114, tăng M-41, tăng M-48 (sau 1972, quân đội VNCH mới có M-48, do Mỹ rút về nước giao lại). Nếu hai ông Sĩ và Kỳ đi xe Scout-Car hay Half-Track hay xe Jeep thì còn hiểu được, còn đi chung xe cơ giới (có pháo tháp) thì tôi xin chịu, không hiểu ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng nói cái gì.

    Cũng còn một điều khó hiểu khác nữa:
    - Đối với tỉnh Thừa Thiên - Huế (thị xã Huế, nói gọn như thế), ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đẳng là người số một, hàng đầu, Ông cựu thiếu tá Đặng Sĩ, phó tỉnh trưởng nội an, và ông chi đội trưởng (thông thường mỗi chi đội có 5 xe) trung úy Nguyễn Kỳ là tay dưới, là thuộc cấp. Khi có chuyện gì quan trọng xảy ra, như việc ở đài phát thanh hôm đó, ông tỉnh trưởng thì đến trước, còn hai ông thuộc cấp thì đến sau. Đúng ra là phải ngược lại, các ông nhỏ đến trước, coi sóc an ninh trật tự đâu đó xong xuôi thì ông trưởng mới tới, tới sau chớ. Đằng nầy, ông lớn tới rồi, lựu đạn nổ rồi, hai ông nhỏ mới tàn tàn cho xe tới thì coi làm sao được. Làm gì có chuyện lạ đời như thế, ngoại trừ khi, hai ông thuộc cấp còn phải chờ nhận lệnh “ai đó”, nên có đến sau, ông tỉnh trưởng cũng không dám nói động chạm gì tới. Tục ngữ gọi trường hợp như thế là “Sợ cọp nên sợ cứt cọp.” Ở đời thiếu gì người sợ cứt, dù cứt cọp hay cứt người.

    Cũng xin đọc thêm một đoạn do ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết:
    (Xin nói thêm lúc đó, tôi là Nguyễn Lý-Tưởng cũng có mặt trước thềm Đại học Văn Khoa. Tôi thấy rõ chiếc xe của Tiểu khu từ Toà Hành Chánh đường Lê Lợi chạy đến liền có tiếng nổ ở trước thềm Đài Phát Thanh Huế.
    - (đoạn nầy có mở ngoặc {(} nhưng không thấy đóng ngoặc {)}. -
    Ông Giáo Sư Nguyễn Lý Tưởng “có mặt ở trước thềm Đại học Văn Khoa”, tức là Morin cũ, từ dó mà ngó lên tòa Hành chánh tỉnh là xa lắm (ngã ba Hoàng Hoa Thám + Lê Lợi, rồi tới ty Y tế, trường Bình Minh của “cậu” (tên hồi đó), Thư viện đại học, ngã ba Lý Thường Kiệt + Lê Lợi, ngôi nhà lầu tòa soạn báo Lành Mạnh của nha Y Tế, bệnh viện Trung Ương Huế, rồi mới tòa Hành Chánh tỉnh, nghĩa là xa ít nhứt phải khoảng hai cây số, vậy mà ông Giáo Sư Sử Học viết “Tôi thấy rõ chiếc xe của Tiểu khu từ Toà Hành Chánh đường Lê Lợi chạy đến...” thì quả mắt ông ta là “mắt thần”, “thiên lý nhãn” hay ít ra cũng là “mắt bồ câu” hay “mắt trừu”.

    Ông lại còn viết “tiếng nổ trước thềm đài phát thanh Huế.”
    Tôi xin vẽ đại khái khung cảnh ở khu vực đó như sau:
    - Ngã ba Hoàng Hoa Thám + Lê Đình Phòng, bên góc là nhà thuốc Tây Lê Đình Phòng. Bên kia đường Hoàng Hoa Thám là góc Morin, tức Đại học Văn khoa.
    Từ ngã ba nầy, đi dọc theo đường Lê Lợi:
    + Phía tay phải là toàn bộ khu Morin, kéo dài tới ngã tư Lê Lợi + Duy Tân. Đường Duy Tân, phía phải là đường đi An Cựu, phía trái là cái dốc thoai thoải, đi lên cầu Trường Tiền.
    + Phía tay trái là “Vườn trẻ”, kế là “nha Ngoại Viện”, rồi tới sân sau mà cũng là cửa sau đài phát thanh Huế. (Cửa trước ngó ra đầu cầu Trường tiền như tôi đã nói).
    Người lui tới đài thường đi ngã sân sau nầy, ngó ra đường Lê Lợi. Ở sân sau nầy, từ ngoài đường đi vào, dài khoảng hai chục mét, bên trái là hàng rào với nha Ngoại Viện, bên phải, sau khi qua một quãng vườn hoa dài khoảng 10 mét, thì kế tiếp là một gian phòng nhỏ, mỗi bề khoảng 4 hay 5 mét, chỉ có một cửa lớn trổ ra sân sau. Hai phía kia, phía đường Lê Lợi có sửa sổ bằng kính và đường Duy Tân (ngó ra sân trước). Phía trong liền vách với đài phát thanh, không có cửa nẻo gì cả.
    Khi đồng bào tập trung một lúc mỗi đông, có mấy em nhỏ, khoảng trên dưới 10 tuổi, có em thì thuộc gia đình Phật tử của khuôn hội nào đó, (khuôn hội tổ chức theo phường), có em không thuộc gia đình Phật tử nào cả, đến đài phát thanh, vì đông người, nên vào ngồi nghỉ trong cái phòng nhỏ nầy.
    Phòng nhỏ nầy cũng là phòng nghỉ chân của những người có liên hệ đến đài phát thanh Huế, như ca sĩ, xướng ngôn viên, hay chuyên viên, tới đài nhưng chưa lên phiên thì nghỉ ở đây. Vì vậy, việc vô ra phòng nầy, không bị giới hạn hay nghiêm cấm gì cả. Đó cũng là lý do tại sao các em nhỏ khi thấy đông người, bèn vào nghỉ ở phòng nầy. Ngồi nghỉ ở đây có 7 em, phần đông là gái.
    Khi có ba phát súng lệnh từ chiếc xe cơ giới mang tên Ngô Đình Khôi bắn ra, thì tiếp sau là tiếng nổ dữ dội phát ra từ căn phòng nói trên. Tất cả 7 em trong căn phòng nầy đều tử nạn. Các em nầy chết vì sức ép của lựu đạn M-K3 chớ không vì miểng lựu đạn. Loại lựu đạn tấn công nầy, là loại gây thương vong bằng sức ép của chất nổ, không có miểng. Sức ép làm cho các em chết không toàn thây.
    Xin đọc lại một đoạn tôi viết trong bài “Một nhân chứng bất đắc dĩ” in trong “Viết Về Huế”, tập 1:

    “... Khi trên đài lục cục khiêng bàn ra xong, TT Trí Quang và Ông Tỉnh Trưởng đã đứng trên đó, chưa kịp nói gì, thì ngay trước mặt tôi, người chỉ huy đứng trên chiếc xe có tên Ngô Đình Khôi, đứng thẳng lên, (người và xe đều hướng về phía đài phát thanh) rút súng Colt bắn lên trời ba phát. Tôi thấy lửa từ nòng súng lóe ra rất rõ ràng. Tiếp theo đó là một tiếng nổ lớn phát ra từ phía đài phát thanh. Xin nhớ là ba phát súng lệnh nổ trưóc, lựu đạn nổ sau. Ông tỉnh trưởng và TT Trí Quang đang đứng trên bàn cao, liền nhảy xuống chui vào gầm bàn (việc chui vào gầm bàn sau này tôi chỉ nghe nói lại). Thiên hạ chạy tán loạn. Tôi dắt vợ và em gái chạy ngược lại đường cũ, băng qua ngã Vườn Trẻ, về nhà....”
    “Tôi xin nói rõ thêm một điều mà những ai ở trong Quân đội hay Cảnh Sát, Công An đều biết, bao giờ cũng phải có lệnh trước mới thi hành. Thành thử, tôi xin nói rõ: Ba phát súng lệnh nổ trước, lựu đạn nổ sau.
    “Thiên hạ chỉ bỏ chạy sau khi có tiếng nổ lớn phát ra làm cho người ta hoảng hồn. Nếu lựu đạn nổ trước, tôi cũng dắt vợ và em gái bỏ chạy rồi, còn đâu đứng đó để nghe và thấy ba phát súng lệnh phát ra?!
    “Tôi thấy ba phát súng lệnh là rõ lắm, vì người chỉ huy đứng trên xe khi bắn súng, hình ảnh hiện rõ ra trước mắt tôi, cách chưa tới 5 mét. Tiếng nổ đã rõ mà lửa từ họng súng lóe ra trong đêm cũng rõ lắm, rất dễ gây ấn tượng cho người thấy nó.”
    Ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng viết “tiếng nổ ở trước thềm Đài Phát Thanh Huế.” là sai ghê lắm.
    Nổ ở trước thềm đài phát thanh là nổ ở đâu, chỗ cái nền cao có ba ông là ông tỉnh trưởng, Ngô Ganh và ông Trí Quang? Chỗ nầy mới gọi là thềm, phía ngoài thềm là vườn hoa. Nếu nổ ở thềm, thì ba ông nói trên, thế nào cũng có người bị thương hay chết.
    Theo tôi hiểu, lựu đạn sát hại bằng sức ép tầm sát hại không rộng, vì xa lựu đạn khoảng vài mét thì sức ép sẽ bị giảm bớt đi. Do đó, khi tấn công địch, dùng loại lựu đạn nầy đỡ nguy hiểm cho ta. Dùng loại lựu đạn có miểng mà tấn công, miểng có thể văng trúng ta dễ như chơi.
    Tuy nhiên, trong phòng kín, trong hầm núp, vì có vật cản thì sức ép càng tăng thêm, tầm sát hại càng mạnh, lớn.
    Trong cách nổ như thế, 7 em bé trong căn phòng nhỏ, không em nào sống sót và chết không toàn thây là vì vậy.
    Chỗ ông Giáo Sư Sử Học đứng, thềm Đại Học Văn Khoa ngó vô căn phòng lựu đạn nổ, đâu có bao xa. Tại sao ông ta không nghe thấy tiếng nổ phát ra ở đó mà nói sai là ở trước thềm đài phát thanh.
    Vậy thì chuyện gì xảy ra?
    Một là tuy ông ta có đứng đó, nhưng ông... không biết gì cả.
    Hai là hôm đó ông ta không có mặt ở đó nhưng nói mò, nói theo người ta kể lại, tam sao thất bổn. Người ghét Phật giáo, đệ tử ông “đức cha” Ngô Đình Thục thì nói theo kiểu “đức cha”. Ai dám có ý kiến ngược lại “đức cha” thì ngồi... tù. Ai dám có ý kiến ngược lại ông Đặng Sĩ, ông Giáo Sư Sử Học thì ít ra cũng bị... chưởi.
    Tôi cũng bị ông Giáo Sư Sư Học Nguyễn Lý Tưởng “chưởi cho một trận” rồi.
    Đầu đuôi như thế nầy:
    Cách đây hơn mười năm, do bà con và anh em Quảng Trị ở Nam Cali thúc đẩy, nhứt là do sự khuyến khích của cụ Nguyễn Văn Đãi, cựu giáo sư trường Đồng Khánh, cựu đại biểu chính phủ, cũng dân Quảng Trị, hậu duệ quan phụ chánh Nguyễn Văn Tường, tôi có viết một bài nhan đề là “Nguyễn Văn Tường, nỗi oan lịch sử”. Xin trích một đoạn trong bài tôi viết:

    Trong Việt Nam Sử Lược, ông Trần Trọng Kim viết: “Nguyễn văn Tường và Nguyễn hữu Độ không hợp ý nhau”
    .. .. .. .. .. .. .. .. ..
    “Vã bấy giờ ở Bắc Kỳ lại có nhiều người ghét Nguyễn Văn Tường xin thống tướng (De Courcy - tg) đem trị tội.”

    “Nhiều người ở Bắc kỳ này là ai?
    “Trị tội Nguyễn Văn Tường là tội gì?
    “Tội không trung thành với Pháp, tội không hoàn thành được việc ổn định tình hình do Pháp giao phó như Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình? Chắc chắn “nhiều người” này là mới là bọn Việt gian, theo Tây, mượn thế lực của Tây để trả thù những người yêu nước đã chống lại chúng. Có thể bọn chúng là kẻ trong giới quan trường, mà lại là quan trường có uy thế, cỡ Tổng Đốc, Khâm Sai, Kinh Lược mới nói với De Courcy được. Rõ ràng xưa nay làm việc nước không dễ. Người ta còn quanh quẩn trong những đố kỵ, hiềm thù, ganh ghét riêng tư mà quên đi đại nghĩa, lẽ phải, công tâm. Thay vì họ thấy vai trò Nguyễn Văn Tường được giao phó: “Lệnh truyền cho Nguyễn Văn Tường ở lại thu xếp mọi việc”, thì nên giúp ông sớm ổn định tình hình, đem lại yên vui cho trăm họ, thì họ đối xử với ông bằng lòng thù hận, ghét bỏ riêng tư. Thế của ông Nguyễn Văn Tường bấy giờ là thế yếu, không được người Pháp tin dùng như Nguyễn Hữu Độ (tín đồ Thiên Chúa Giáo), Phan Đình Bình là người được Pháp chọn từ ngoài Bắc đưa về. Họ lợi dụng sự tin dùng của người Pháp để hãm hại Nguyễn Văn Tường! Hơn nữa, người Pháp không dùng và cũng không muốn cái tài ngoại giao của Nguyễn Văn Tường. Thù trong, giặc ngoài như thế, bị lưu đày và chết thảm ngoài hải đảo xa xôi là điều đương nhiên. Dù biết hay không biết cái thế nguy của mình, vì việc nước, Nguyễn Văn Tường đành thúc thủ, âm thầm gánh chịu...”

    Sau khi bài nầy được đăng trên đặc san của hội Quảng Trị Nam Cali và được phát thanh ở đài nào đớ tôi không rõ, thì ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng gởi cho tôi một cái e-mail rầy rà tôi dữ lắm, bảo tôi rằng thì viết sử phải có tài liệu, có phương pháp, không nên viết ẩu viết tả, v.v... (4) Tại sao ông Nguyễn Hữu Độ, ông Nguyễn Trọng Hợp không phải là người theo đạo Thiên Chúa mà tôi lại viết như thế.
    Thật tình, đọc thư của ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng, tôi cũng hoảng hồn. Tôi không phải là nhà sử học, người viết sử mà chỉ là người dạy lịch sử cho học trò trung học. Suốt mười năm đi dạy, nói thiệt lòng, bài tôi giảng cho học trò nhiều khi cũng không soạn kĩ. Dạy nhiều giờ mới đủ tiền nuôi gia đình nên tôi thiếu thời giờ soạn bài, chấm bài. Cũng may, khi đọc sách, thích thì tôi gắng nhớ, thành ra đầu tôi như một cái tủ sách tạp nhạp. Khi vào lớp, hay trước khi vào lớp, tôi cố nhớ và sắp xếp trong trí những gì phải giảng cho học trò. Cứ mỗi bài giảng, tôi phải giảng cho 3 hay 4 lớp. Cứ thế mà nhân lên cho 10 năm đi dạy, thành ra mỗi bài giảng, tôi phải “nhai đi nhai lại” ít ra là ba bốn chục lần, không thuộc cũng phải thuộc, không nhớ cũng phải nhớ.
    Hôm tôi viết bài về cụ phụ chánh Nguyễn Văn Tường, tôi nhớ ông Nguyễn Hữu Độ là người theo đạo thiên chúa. Vậy là tôi cứ thế mà viết, có nghiên cứu hay xem lại sách cũ, tờ a, tờ b hay trang số mấy gì đâu!
    Ai ngờ, nay bị ông Giáo Sư Sử Học “xạc cà-rây”, tôi mới hoảng hồn.
    Trong bài viết, tôi chỉ có nói tới ông Nguyễn Hữu Độ, chứ có nói tới ông Nguyễn Trọng Hợp đâu. Tôi nhớ chừng vậy. Và để cầm chắc, tôi lục sách cũ ra tìm xem.
    Tôi tìm thấy rõ ràng trong sách của ông Vũ Ngự Chiêu, có nói ông Nguyễn Trọng Hợp là người theo đạo Thiên Chúa. Còn ông Nguyễn Hữu Độ ở Huế ai chẳng biết ông là người theo đạo, theo Tây và là người hãm hại đại thần Phan Đình Bính vì tranh chức nhau.
    Tìm được rồi, mừng quá! Tôi liền e-mail cho ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng bài viết của ông Vũ Ngự Chiêu, có đề nghị thêm, hai ông, một ông là Sử Gia, một ông là Giáo Sư Sử Học, ai đúng ai sai thì tranh luận với nhau, còn tôi, chỉ là một giáo sư dạy môn lịch sử cấp hai, cấp ba, xin đứng ngoài để nghe hai ông tranh luận cho vui, để mở mang kiến thức thêm.
    Thế rồi tôi thấy ông Giáo Sư Sử Học... im luôn.
    Ba năm trước đây, tôi về Cali thăm đồng hương, có cô Ngọc Quỳnh, con gái ông bà tú Phan mời ra nhà hàng. Mấy anh em Quảng Trị quen biết cứ sợ chừng, tôi và ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng có thể “đụng” nhau về bài viết cụ phụ chánh hay chăng. Biết vậy, tôi chỉ cười. Chuyện viết lách cửa tôi là chuyện... chơi. Có gì mà phải tranh cải với ai cho mất công. Thua hơn mà làm gì?
    Nghe tôi nói, anh bạn học cũ hồi đệ Thất ở trường Trung Học Quảng Trị niên khóa 1951-52, tên là Lê Trọng Ấn, cựu hiệu trưởng trường trung học Tây Lộc Huế, nói với tôi:
    - “Thằng ấy bây giờ làm giáo sư à? Nó học đệ thất với tao ở gian nhà phía trong, mày học đệ Thất ở gian nhà phía ngoài bờ sông. Hồi đó nó tên là Nguyễn Văn Tưởng chớ đâu phải Nguyễn Lý Tưởng.”
    Tôi cười, nói đùa với người bạn:
    - “Mấy chục năm nay, tao chẳng thấy có mấy người có lý tưởng. Nói hai chữ đó nghe quan trọng quá! Có lẽ sau năm học với mầy, ông ta vào học đệ lục trường Pellerin, ông tìm thấy lý tưởng nơi ông cố đạo Pellerin,“một trong những tên thực dân mặc áo thầy tu” nên mới đổi tên thành Nguyễn Lý Tưởng cũng nên.”
    Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng, tuy rầy rà tôi như vậy, nhưng đọc đoạn sử ông viết mà tôi trích dẫn ở trên, tôi thấy ông hình như xa trường học đã lâu ngày nên quên mất bài học cũ, quên “phương pháp sử”, bài dạy của ông linh mục Nguyễn Phương, (cha “linh hướng” của hoa khôi Nguyễn Thị Vĩnh Th.), không ít sai lầm, viết sai, thiếu trung thực và cũng thiệt thà, mà tục ngữ lại nói rằng “Thiệt thà là cha dại”.
    Theo tôi biết, ông Nguyễn Lý Tưởng thuộc gia đình cách mạng, hiểu theo nghĩa trước 1945, có người tham gia đảng phái chống thực dân Pháp. Thời ông Ngô Đình Diệm, vì vụ Ba Lòng, gia đình Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng, có người vì theo đảng phái Quốc Gia mà bị hại. Như vậy, có thể ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tuởng không mấy hoan hô tổng thống Diệm. Đó là về khuynh hướng chính trị. Tuy nhiên, về mặt tôn giáo, thì qua một ít tài liệu như bài trên của ông ta, có lẽ vì niềm tin tôn giáo hơi nặng, nên ông có vẻ muốn binh vực cho ông Ngô Đình Thục.
    Đối với người Huế, cho tới bây giờ, không ít người vẫn còn thương ông Ngô Đình Diệm. Chẳng qua, vì cả nể anh em, mà ông Ngô Đình Diệm bị hại. Ông bị hại là vì anh em ông. Người ta cho là như thế!
    Cụ Võ Như Nguyện, một đại công thần nhà Ngô, đã rời xa anh em nhà Ngô khi gia đình nầy mang tiếng độc tài, gia đình trị. Theo cụ Võ Như Nguyện kể lại, năm 1963, khi tình trạng chính trị miền Nam quá bết bát, cụ Võ Như Nguyện, nhân một dịp ông Diệm về Huế, đến gặp “cụ Ngô” bày tỏ những việc đáng than phiền.
    “Cụ” Ngô trả lời cụ Võ Như Nguyện như sau (nguyên văn):
    “Đức cha cũng có cái sai, thím Nhu cũng có cái sai, để rồi “đức cha”, thím Nhu sẽ lần lần sửa chữa. Làm mạnh ra, sợ thiên hạ ngưòi ta sẽ chê cười “bì oa trữ nhục”.
    Ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng là học trò - có thể là học trò cưng - của cụ Nguyện. Mới đây, khi cụ Nguyện từ Pháp qua Nam Cali, ông Tưởng có đến thăm thầy dạy cũ. Tôi hy vọng ông Tưởng có biết câu chuyện nầy.
    Biết như vậy mà ông Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng không biết “cái sai” của “đức cha” mà “cụ” Ngô nói hay sao?
    Theo tôi, “đức cha” chỉ có một cái sai duy nhứt nhưng mà lại rất quan trọng. Đó là “đức cha” hiểu sai rằng “dân tộc ở trong giáo hội” chứ không phải “giáo hội ở trong dân tộc” như lời giáo sư Lý Chánh Trung viết trong cuốn “Tìm về dân tộc” vậy.

    Cũng xin nói thêm một chuyện nầy!
    Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ rồi, có lẽ do đâu trên chùa Từ Đàm, một cái đài nhỏ được xây trước cổng đài phát thanh Huế, chỗ ngó ra chân cầu Trường Tiền, bên ngoài vườn hoa là chỗ Phật tử tụ tập hôm bị đàn áp, ngày 8 tháng 5 năm 1963. Đài nầy có ghi tên 7 em nhỏ bị giết hôm đó, để “phong thánh” cho các em.
    Đi bộ ngang đó với một người bạn thân, chúng tôi cùng dừng chân lại xem. Xem xong, ông bạn tôi nói: “Gì mà phong thánh! Ghi là đài kỷ niệm việc Phật giáo bị đàn áp là được rồi.”
    Tôi cũng nghĩ như người bạn thân.
    Hình như phong thánh là cái “mốt tôn giáo” của thời đại ngày nay, cứ ưa thích là phong lên... thánh thần mà thiếu thận trọng.
    Ngày xưa, những người có công với dân với nước thì được phong làm thánh, làm thần. Đức Thánh Trần, bà chúa Liễu Hạnh. Thần phải có sắc phong của... vua. Vua là “Thiên tử”, là con Trời, thay Trời mà phong Thần, phong Thánh cho Người, cũng có phần dị đoan.
    Vua là... Thiên tử, hay là... con Trời thì cũng chỉ là một cách nói, chớ vua Tầu hay vua ta cũng chỉ là người mà thôi, thậm chí nhiều ông vua mà chữ người không đáng để viết hoa chữ N (Người) nữa.
    Tôi nói với người bạn, cách nói thì là đùa, nhưng ý thì thật:
    - “Tui có thấy ai ở trên trời hiện xuống mà phong thánh, phong thần cho ai đâu. Chẳng qua đều là Người phong thánh cho người cả. Mai mốt tui phong thánh cho anh, không biết có ai bắt tui ra trị tội không?”
    Người bạn cũng vừa nói vừa cười:
    - “Nói như cậu, có khi người ta nọc cậu ra mà đánh vì tội phạm thượng.”
    Tôi cải:
    - Phạm thượng? Anh nên nhớ “thượng nào đó” mà đánh tui thì “thượng đó” cũng là người. “Trời nắng chang chang người trói người.” (5) Tui chỉ sợ Thiên lôi đánh, nhưng bây giờ thì người ta đã biết không phải Thiên lôi là do Trời sai xuống. Thiên hạ bày đặt ra cả! Thiệt ra, không phải tui không có niềm tin tôn giáo nhưng “Tận tín thư bất như vô thư”. Ông Khổng thì san định Tứ thư, Ngũ kinh. Ông Mạnh là học trò ông Khổng thì lại bảo “Tận tín thư bất như vô thư”. “Thế nà thế lào?” Có phải vậy là đừng hoàn tàn tin vào tứ thư. Kinh Phật, kinh Chúa cũng là thư vậy mà kinh Phật kinh Chúa thì tam sao thất bổn. Ngay chính các đại đệ tử của các ngài cũng giảng sai hay cố ý giảng sai. Họ cố làm cho tín đồ tin họ, có lợi cho họ, cố làm cho tín đồ cuồng tín. Có cuồng tín thì mới có Thập Tự Chinh. Cái đó mới đáng sợ!.

    hoànglonghải

    Bài kế:
    (“Tinh thần Ngô Đình Diệm là cái gì?”)

    (1) Thời Ngô Đình Diệm, quân đội có hai lực lượng chính. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa là “quân đội chính qui”. Lực lượng Bảo An là “quân đội bán chính qui”, quân đội địa phương. Mỗi tỉnh có một “Tỉnh Đoàn Bảo An” có Tỉnh Đoàn Trưởng chỉ huy, cấp trên là phó tỉnh trưởng nội an. Nếu tỉnh trưởng là quân nhân, ông ta kiêm luôn chức “Tiểu khu trưởng”. Trong trường hợp như Thừa Thiên Huế hồi xảy ra vụ đàn áp ở đài phát thanh Huế năm 1963, ông tỉnh trưởng dân sự Nguyễn Văn Đẳng không làm Tiểu khu trưởng. Chức đó thuộc về ông phó tỉnh trưởng, chức danh thường gọi là “Phó tỉnh trưởng nội an, kiêm tiểu khu khu trưởng.”
    Năm 1964, sau khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, lực lượng Bảo An không còn. Nha Tổng Giám Đốc Bảo An ở trung ương cũng bị dẹp bỏ. Lực lượng Bảo An được sát nhập vào quân đội, thống thuộc bộ Tổng Tham Mưu, có tên mới là Địa Phương Quân, cũng thuộc quyền chỉ huy của tiểu khu trưởng.
    Sĩ quan Bảo An cũng thụ huấn tại trường sĩ quan Thủ Đức (gởi học), nhưng khi thi vào, tiêu chuẩn học vấn, bằng cấp thấp hơn sĩ quan chính qui.
    (2) Ông Liên Thành thuộc hệ hoàng tử Cảnh, không làm vua. Anh Duệ là con hoàng tử Cảnh. Bài đế hệ thi của dòng nầy như sau:
    Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng
    Liên Huy Phát Bội Hương
    Linh Nghi Hàm Tốn Thuận
    Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang.

    Bố ông Liên Thành là cụ Tráng Cử, giáo viên, con của Kỳ ngoại hầu Cường Để. Liên Á, tôi không nhớ con ông Tráng Cử hay Tráng Liệt (anh ông Tráng Cử). Thời Ngô Đình Diệm, Liên Á có tham gia tờ “tuần báo Liên Á”, nhóm thân Nhựt. Tờ báo nầy, dĩ nhiên sống không bao lâu. Liên Á thường đến chuyện trò chơi với tôi năm tôi mới đi dạy. Liên Bằng, khi tôi học khóa sĩ quan Thiết Giáp thì ông mang loon trung úy, dạy tại quân trường nầy. Liên Bằng nói cho biết rằng tôi và anh ấy cùng học trường Quốc Học.
    Vì là cháu nội Kỳ Ngoại hầu Cường Để, (ngài lưu vong ở Nhựt, có vợ Nhựt, có một người con trai là đại tá trong quân đội Nhựt), nên mấy ông “họ” Liên nầy thường hay qua lại Nhựt Bổn, theo ngã Hồngkông. Theo đại tá Dương Qg T., giám đốc (cách gọi cũ) nha Cảnh Sát vùng 1, khi ông đi Hồngkông, có gặp một người anh của ông Liên Th. Ông Tiếp nói vì ông Liên Th. có nhờ giúp đỡ nên đã trao cho ông nầy mượn 70 ngàn (tiền VNCH), khi nào về tới Việt Nam, ông Liên Th. sẽ trả lại. Sau đó, ông Liên Th. không giữ lời hứa nên ông T. biên thư đòi nợ.
    Theo ông Liên Th. thì tờ giấy nợ đó chính là tờ “đòi hụi chết” của ông T. chớ không có nợ nần chi cả, nên ông Th. khiếu nại với bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Tướng Nguyễn Kh. B. có đem chuyện đó nói với vài người làm ở phủ Tổng Thống. Trong dịp đó, một người tôi quen thân có nói với tướng B. rằng ông Dương Qg T. làm sai. Ý chính của anh ấy là “người Huế bênh người Huế”. Ông T. mất tiền và mất luôn cái ghế giám đốc. Tuy nhiên, không ai nói lại với ông Liên Th. sự kiện nầy, ngay chính những người trong cuộc. Tôi có trách người bạn tôi vì tinh thần địa phương mà bênh như vậy là sai.
    Việc nầy tôi chỉ nghe nói lại như thế, trắng đen như thế nào, xin người trong cuộc lên tiếng để ai nấy cùng rõ!
    (3) Đào Văn Bình, tác giả “Con người thật của hòa thượng Trí Quang.”
    (4) “Phương pháp sử”, là bài giảng của linh mục Nguyễn Phương tại đại học Văn Khoa Huế. Theo tôi biết, linh mục Nguyễn Phương viết bài nầy để chê khéo đại tá Phạm Văn Sơn, sử gia, tác giả cuốn sách nổi tiếng hồi bấy giờ là “Việt Sử Tân Biên” là người viết sử không có phương pháp. Phương pháp đó, cũng tương tự như những gì Giáo Sư Sử Học Nguyễn Lý Tưởng đã lên lớp tôi như tôi trình bày trong bài nầy vậy. Cô Ng. th. V.T., một hoa khôi của Huế, học sinh trường Trung học Đệ nhị cấp Bán Công Huế, cùng quê vơi linh mục Nguyễn Phương, là người “biết rất rõ” ông linh mục ngầy
    (5) Nước trong leo lẻo, cá đớp cá
    Trời nắng chang chang, người trói người!
    (Giai thoại về Cao Bá Quát)


    Phụ lục:

    Con Người Thật Của
    Thượng Tọa
    Thích Trí Quang


    Đào Văn Bình



    Vào ngày 1-11-1963 khi quân đội đứng lên làm cuộc
    đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ô. Ngô Đình Diệm - mà Hội
    Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại Tướng Dương Văn Minh cầm
    đầu gọi đó là cuộc “Cách Mạng” thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa
    Năm Thứ Nhất, chuẩn bị thi lên Năm Thứ Hai của Đại Học Luật
    Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ
    ở xóm lao động cho nên Radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến
    dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của
    đài phát thanh. Hơn thế nữa khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của
    Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự
    động bãi khóa.
    Đại Học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng
    trường cũng phải đóng cửa một thời gian cho nên một số sinh viên
    rảnh rỗi, kéo nhau đi tham dự những cuộc biểu tình. Dĩ nhiên trong
    bối cảnh đó, tôi cũng như hầu hết số sinh viên cùng trang lứa hiểu
    biết khá nhiều về tình hình của đất nước lúc bấy giờ. Cái kỳ lạ của
    dân Sài Gòn là dù tiếng súng nổ ầm ầm, xe tăng, quân đội ào ào tấn
    công vào Dinh Độc Lập, Thành Cộng Hòa (căn cứ của Liên Minh
    Phòng Vệ Phủ Tống Thống) như thế, nhưng hễ lơi tiếng súng một
    chút là kéo nhau ra xem, chẳng sợ tên bay đạn lạc gì cả!
    Tôi cũng nằm ở trong số dân Sài Gòn, đám thanh niên, sinh viên
    “điếc không sợ súng” này. Chính vì thế mà tôi đã chứng kiến tận
    mắt cảnh đồng bào, bà con buôn bán ở Chợ Bến Thành đã đem
    cơm nước, trái cây ra tặng binh sĩ Nhảy Dù khi đài phát thanh loan
    báo anh em Ô. Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ. Đã chứng kiến cảnh,
    đồng bào, thanh niên Sài Gòn dùng giây kéo xập tượng Hai Bà
    Trưng dựng ở Bến Bạch Đằng. Chiếc tượng đổ gục, cổ tượng đứt lìa
    và được đám đông đưa lên chiếc xích-lô, đẩy quanh đường phố, reo
    hò như một đám rước. Sở dĩ có chuyện này là vì trước đó lâu lắm,
    người dân đã bàn tán, đây là tượng của hai chị em bà Ngô Đình Nhu
    chứ không phải tượng Hai Bà Trưng với tóc con trai (demi-garcon)
    chải tém và áo hở cổ (decolleté) - kiểu áo quen thuộc của bà Ngô
    Đình Nhu.
    Qúy vị, qúy bạn có thể nhìn lại tấm hình lịch sử này ở nơi trang 34
    của cuốn The Eyewittness History of the Vietnam War của
    George Esper and The Associated Press xuất bản Tháng 11,1983 tại
    Hoa Kỳ, và nơi trang 36&37: Hình ảnh một rừng thanh niên, sinh
    viên Sài Gòn bu quanh hàng rào Dinh Độc Lập, reo hò hoặc thò qua
    bắt tay binh sĩ VNCH là những đơn vị đầu tiên đã tấn công vào dinh
    và lật đổ chế độ.
    Sau những cuộc đảo chính, chỉnh lý, biểu dương lực lượng liên miên
    của các ông tướng và biến cố Miền Trung, năm 1967 Hiến Pháp Đệ
    Nhị Cộng Hòa ra đời, và sau khi liên danh hai Ô. Thiệu-Kỳ đắc cử
    tổng thống, cùng với sự rạn nứt giữa TT. Thích Tâm Châu và TT.
    Thích Trí Quang khiến Phật Giáo phải chia đôi… thì chuyện đấu
    tranh của Phật Giáo năm 1963, chuyện gia đình Ô. Diệm cũng đã
    trở thành dĩ vãng của lịch sử. Hơn thế nữa áp lực quân sự lúc này
    rất nặng, đời sống của dân chúng quá khó khăn, với sự hiện diện của
    hơn 500,000 quân đội Mỹ tại Miền Nam, không ai còn rảnh rỗi
    “hưởn” để đào sới lại lịch sử năm 1963 và hai anh em Ô. Ngô
    Đình Diệm cũng đã yên nghỉ ở Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi.
    Cho tới ngày 30-4-1975, thật tình tôi chưa hề đọc hoặc xem qua một
    tài liệu, một bài báo nào nói rằng TT. Thích Trí Quang là cán bộ
    hoặc đảng viên đảng CSVN. Rồi khi khối 1 triệu người Việt di tản
    rồi vượt biển tìm Tự Do tôi cứ nghĩ mọi người sẽ bỏ qua những
    đau thương của quá khứ, thành lập một mặt trận thống nhất để giành
    lại cơ đồ. Nhưng không! Sự yên bình, đòan kết và cảm thông ở hải
    ngọai chỉ có được một hai thập niên. Vào giữa thập niên 1990 đã
    có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như
    một thứ “cha già của dân tộc”. Rồi cả những cuốn sách, bài viết
    công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược
    nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng
    CSVN.
    Nếu quả thực TT. Thích Trí Quang là “cộng sản nằm vùng” thì
    điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh cho quyền bình đẳng tôn giáo
    năm 1963 của Phật Giáo hoàn toàn bịa đặt và do cộng sản giựt giây,
    lèo lái, hoặc chỉ đạo chứ thực ra dưới thời Ô. Ngô Đình Diệm không
    chuyện có kỳ thị tôn giáo. Vậy thì chính nghĩa của cuộc đấu tranh
    năm 1963 nằm ở chỗ tìm hiểu lý lịch của TT. Thích Trí Quang. Bản
    thân tôi, từ trước đến giờ chưa bao giờ nghĩ rằng TT. Thích Trí
    Quang là cán bộ cộng sản, nhưng nay thì thấy mình cần phải tìm hiểu
    lại xem con người thực của TT. Thích Trí Quang như thế nào.
    Với đà tiến bộ vượt bực của kỹ nghệ điện tử, với Google - bộ nhớ
    của nhân lọai - chúng ta dễ dàng tìm kiếm những dữ kiện liên quan
    đến TT. Thích Trí Quang. Trong tinh thần tìm hiểu sự thực, không
    thêm thắt ý kiến cá nhân, tôi xin dịch ra Việt Ngữ bốn tài liệu gửi
    kèm theo đây để quý vị, quý bạn suy nghĩ:
    1) Declassified CIA Documents on the Vietnam War/ Thích Tri
    Quang (Tài liệu giải mật của CIA về Chiến Tranh Việt Nam/
    Thích Trí Quang)
    Tài liệu này do Viện Đại Học Saskatchewan (Canada) sưu tầm và
    phổ biến. Tôi xin dịch phần Tóm Lược Chính (Abstract) trong báo
    cáo của CIA như sau:
    “Một cuộc phân tích để xem - liệu Thích Trí Quang có liên hệ/
    hoặc là cán bộ cộng sản, Con Người và Mục Tiêu Đấu Tranh: Báo
    cáo tình hình cho tới ngày 27-8-1964 đánh giá rằng Trí Quang không
    phải là cộng sản, ông ta chỉ muốn thiết lập một chính quyền do
    thần quyền/tôn giáo lãnh đạo ở Miền Nam. Tin tình báo gửi bằng
    cable, TDCS 314/02342-64. August 28, 1964. 8 trang. Mật/Không
    phổ biến. Bản sao đã được tẩy sạch. Giải tỏa ngày 24 Tháng 5, 1976”.

    2) “Only Religions Count in Vietnam”: Thich Tri Quang and
    the Vietnam War (Chỉ Có Tôn Giáo Là Đáng Kể Ở Việt Nam: Thích
    Trí Quang và Cuộc Chiến Tranh Việt Nam) biên khảo của
    James McAllister-
    Phân Khoa Chính Trị Học, Đại Học Williams, Williamstown,
    MA 01267, điện thư: jmcallis@williams.edu . Tôi xin dịch phần
    Tóm Lược Chính (abstract) như sau:
    “Đã từ lâu, Thích Trí Quang là một trong những nhân vật gây tranh
    cãi nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Các học giả
    cánh hữu cho rằng Trí Quang có thể/có nhiều khả năng là cán bộ
    cộng sản họat động dưới sự chỉ đạo của Hà Nội. Còn các học giả
    cánh tả lại cho rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo đấu tranh
    bất bạo động/hòa bình cho dân chủ và muốn sớm chấm dứt chiến
    tranh. Tài liệu biên khảo này cho thấy cả hai lập luận trên đều không
    có tính thuyết phục. Như các giới chức Hoa Kỳ đã công bằng/đứng
    đắn kết luận rằng không có bằng chứng khả tín nào cho thấy Trí
    Quang là một cán bộ cộng sản hoặc có thiện cảm với cuộc chiến của
    Hà Nội hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Rút ra từ những tài
    liệu rộng rãi còn lưu trữ qua những cuộc đàm luận giữa Trí Quang
    và các giới chức Hoa Kỳ, hiển nhiên Trí Quang thật sự chống
    cộng mạnh mẽ và hoàn tòan hiểu được/cảm nhận được việc xử
    dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Bắc Việt và Trung Hoa.
    Yếu tố chính gây mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh của Phật
    Giáo và bộ tham mưu của Johnson là Trí Quang cương quyết cho
    rằng những chế độ quân nhân sau Ngô Đình Diệm thù nghịch với
    Phật Giáo và không có khả năng đưa cuộc đấu tranh chống cộng
    sản tới thành công.”
    3) World: A Talk With Thich Tri Quang (Friday Apr.22,1966)
    TIME MAGAZINE
    Đây là cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề như cuộc bầu
    cử Quốc Hội Lập Hiến thiết lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa và việc ứng
    cử của hai Ô. Thiệu-Kỳ. Vì bài phỏng vấn dài cho nên tôi chỉ phiên
    dịch phần quan điểm của TT. Trí Quang liên quan tới cộng sản và
    sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam mà thôi.
    “ Trong một cuộc phỏng vấn riêng tư bất thường, tương đối hiếm
    hoi bởi vì Thượng Tọa ít khi dành cho báo giới Tây Phương những
    cuộc phỏng vấn như vậy, với các phóng viên của TIME như
    Frank McCullock và James Wilde tại nơi cư trú của Thượng Tọa tại
    Sài Gòn, trong căn phòng của một bệnh viện điều dưỡng. Thông
    dịch viên là Thân Trọng Huề, một cộng tác viên người Việt của
    báo TIME, người đã gọi Thượng Tọa là Venerable cho đúng với
    địa vị của Thượng Tọa trong Giáo Hội. Trí Quang mặc áo của
    bệnh viện, quần bà ba trắng và đi dép da.”
    Hỏi: Nếu tình hình ổn định trở lại với Việt Nam và cuộc chiến
    đấu chống cộng thành công, Thượng Tọa có nghĩ rằng cuối cùng ở
    một chừng mực nào đó sẽ có những cuộc thương thảo với Việt
    Cộng?
    Đáp: Dĩ nhiên, khi đưa ra câu hỏi như vậy là quý vị đã tự có câu trả
    lời - hiển nhiên bất cứ cuộc chiến nào rồi cũng kết thúc bằng
    thương lượng. Nhưng những cuộc thương lượng chỉ xứng đáng khi
    có lợi cho cả hai phe. Nếu qúy vị thương thảo mà không lợi ích gì cho lý tưởng và cuộc đấu tranh thì đó là sự đầu hàng ngụy trang bằng
    thương thảo. Chắc chắn tôi không đồng ý về bất cứ một cuộc đầu
    hàng nào như vậy.
    Hỏi: Thượng Tọa có tin rằng có những thành phần phi-cộng-sản ở
    trong hàng ngũ Việt Cộng không?
    Đáp: Nếu có những thành phần này thì họ bị lợi dụng và chỉ đạo
    bởi những người cộng sản, cho nên chúng ta chẳng hy vọng gì vào
    họ. Còn họ chỉ là những người chạy theo, thì họ cũng chẳng ích
    lợi gì cho chúng ta. Bị cộng sản lợi dụng hay bị cộng sản sai khiến
    thì cũng giống như cộng sản.
    Hỏi: Thượng Tọa nghĩ gì về bộ phận Việt Cộng?
    Đáp: Theo tôi, đây chỉ là cách chơi chữ. Người ta cố tách biệt Cộng
    Sản Bắc Việt và Cộng Sản Miền Nam. Thật ra không có sự phân
    biệt như vậy. Cả hai đều là cộng sản. Là một tu sĩ, điều tôi lo lắng là
    chủ thuyết trong đầu họ còn nguy hiểm hơn súng mà họ cầm trên tay.
    Hỏi: Thượng Tọa có ý kiến gì về những lời đồn đãi là việc đầu tiên
    mà quốc hội lập hiến làm là đòi người Mỹ rút khỏi Việt Nam?
    Đáp: Những lời đồn đãi như vậy hòan tòan có tính cách bôi lọ.
    Hoàn toàn không có cơ sở. Người ta không nên hỏi tại sao người
    Mỹ phải ở lại Việt Nam. Ai ai cũng đồng ý rằng cuộc chiến đấu
    chống cộng ở đây phải có sự trợ giúp của người Mỹ. Vậy thì trở
    ngại chính là làm thế nào để nâng cao giá trị của sự giúp đỡ đó. Cuộc
    trợ giúp của người Mỹ tại Việt Nam ngày hôm nay đã không được hỗ
    trợ đầy đủ bởi vì không có những vị đại diện của người dân làm
    công việc đó. Khi quốc hội được bầu ra, chính quốc hội sẽ làm
    công cuộc hỗ trợ tinh thần, nâng cao gía trị và chấp nhận sự trợ giúp
    của người Mỹ.
    4) From Wikipedia, the free encyclopedia
    “Thích Trí Quang (sinh năm 1924) là một tăng sĩ Phật Giáo Đại
    Thừa Việt Nam đã được biết tới qua vài trò lãnh đạo cuộc khủng
    hỏang Phật Giáo năm 1963 vốn chiếm đa số tại Nam Việt Nam.
    Trong cuộc đấu tranh, ông hô hào tín đồ noi gương cuộc đấu tranh
    bất bạo động của Gandhi, nhìn thấy cuộc chống đối lan rộng chống
    lại chính quyền Thiên Chúa Giáo của TT. Ngô Đình Diệm và chính
    sách thân Thiên Chúa Giáo, chống Phật Giáo của ông ta, do ảnh
    hưởng của người anh cả là Giám Mục Ngô Đình Thục ở Huế.
    Những cuộc đàn áp biểu tình liên tục của Diệm đã đưa tới sự bất
    mãn lan rộng trong dân chúng, và đưa tới cuộc đảo chính vào
    Tháng 11, 1963 lật đổ ông và gia đình ông.
    Trong những năm khởi đầu, Thích Trí Quang đi Tích Lan để để
    nghiên cứu thêm về Phật Giáo. Khi trở về ông tham gia phong
    trào kháng chiến chống Pháp để giành độc lập cho Việt Nam (*).
    Vào ngày 8 Tháng 5, 1963 nhân lễ Vesak, ngày đản sanh của Đức
    Phật Gotama, Phật tử tại Huế đã chuẩn bị, kể cả việc treo cờ Phật
    Giáo. Nhà cầm quyền đã dựa vào một nghị định ít khi thi hành để
    ngăn cấm việc treo cờ. Việc ngăn cấm này đã xảy ra cho dù trước
    đó một tháng nhân lễ ngân khánh thứ năm của Giám Mục Ngô
    Đình Thục cờ Thiên Chúa Giáo được treo mà không hề bị ngăn
    cản. Phật tử Huế không tuân theo chỉ thị và tổ chức một cuộc biểu
    tình, tụ họp tại đài phát thanh để hy vọng nghe tiếng nói của Thích
    Trí Quang trong chương trình phát thanh thường lệ. Chính quyền
    cho ngưng buổi phát thanh và nổ súng vào đám đông khiến 9 người
    thiệt mạng. Vào ngày 10 Tháng 5, Phật tử bắt đầu chiến dịch tranh
    đấu đòi bình đẳng tôn giáo, bồi thường cho nạn nhân và trừng
    phạt những người có trách nhiệm và quyền treo cờ Phật Giáo. Thích
    Trí Quang nhắc nhở khối người biểu tình không để cộng sản lợi
    dụng tình trạng bất ổn và chủ trương đấu tranh bất bạo động. Khi
    cuộc khủng hỏang trở nên sâu rộng, Thích Trí Quang vào Thủ Đô
    Sài Gòn để thương thuyết và chuẩn bị cho những cuộc xuống đường
    sau cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức vào ngày 11 Tháng 6.
    Trước cuộc tấn công của mật vụ và lực lượng đặc biệt của Ngô
    Đình Nhu vào Chùa Xá Lợi ngày 21 Tháng 8, ông đã trốn vào Tòa
    Đại Sứ Hoa Kỳ. Ông được Đại Sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge
    nhận và từ chối không giao ông cho mật vụ của Nhu sau khi lục
    sóat chùa, nổ súng và đánh đập tăng ni. Tại Huế, 30 người chết vì
    đã làm hàng rào ngăn cản người của Nhu tấn công vào các chùa.
    Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 lật đổ Diệm và Nhu, người ta
    đồn rằng nhóm quân nhân muốn Thích Trí Quang là một thành viên
    của nội các nhưng Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ bày tỏ chống đối.
    Sau cuộc chỉnh lý năm 1964 của Nguyễn Khánh lật đổ Dương
    Văn Minh, Khánh ra lệnh giết Đại Úy Nguyễn Văn Nhung là cận vệ
    của Minh và cũng là người đã giết hai anh em Diệm, Nhu. Điều này
    gây ra lời đồn đại là những chính trị gia thân Diệm sẽ phục hồi
    quyền lực khiến Trí Quang ngưng cuộc hành hương Ấn Độ để tố
    chức những cuộc phản đối (Khánh). Vào cuối năm 1964, Khánh thu
    hồi quyết định quản thúc các tướng ở Đà Lạt mà đứng đầu là Trần
    Văn Đôn.
    Vào năm 1965 những cuộc biểu tình lại tái xuất hiện khi người
    chống Diệm là tướng Nguyễn Chánh Thi - Tư Lệnh Quân Đòan I bị
    Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cất chức. Vào thời điểm này, Nguyễn
    Cao Kỳ bắt giữ Thích Trí Quang và ra lệnh quản thúc tại gia
    (chùa). Khi Sài Gòn xụp đổ và cộng sản tràn vào Nam Việt Nam
    thì Thích Trí Quang một lần nữa lại bị nhà cầm quyền cộng sản
    quản thúc tại gia (chùa).”

    Nhận Định:
    Tại các quốc gia văn minh Tây Phương, việc duyệt xét lại lịch sử,
    tìm hiểu sự thực của lịch sử diễn ra hằng ngày, hằng tháng và hằng
    năm bởi các nhà nghiên cứu sử học khi có thêm những dữ kiện
    mới. Thậm chí trong các lớp học về lịch sử của Hoa Kỳ, người ta
    còn cho học sinh tổ chức những tòa án giả để xét tội Tổng
    Thống Jackson, người đã giết hại dân Da Đỏ. Duyệt xét, tìm hiểu
    sự thực của lịch sử, thậm chí lập tòa án như đã nói ở trên không có
    nghĩa là các nhà giáo dục Hoa Kỳ dạy cho học sinh căm thù TT.
    Jackson mà chỉ muốn thế hệ sau tránh vết xe đổ của các thế hệ đi
    trước. Giả dụ việc làm của TT. Jackson không được các sử gia mổ
    xẻ, phân tích thì điều đó có nghĩa là TT. Jackson làm đúng và các thế
    hệ sau “cứ thế mà làm”, như thế tác hại cứ triền miên, không dứt. Do
    đó, trong tinh thần học hỏi, xây dựng đất nước và nhất là cho thế hệ
    mai sau, tôi hoan nghênh mọi nỗ lực khoa học, khách quan, đứng đắn
    để tìm hiểu về con người thực của TT. Thích Trí Quang. Tuy nhiên
    việc nghiên cứu lịch sử không phải chuyện dễ dàng. Các sử gia đã
    chỉ cho chúng ta có hai nguồn sử liệu để nghiện cứu:
    1) Tài liệu chính yếu (Primary Source) bao gồm các chỉ dụ, đạo luật,
    sắc lệnh, nghị định hành chánh, mệnh lệnh, biên bản các phiên họp
    nội các, các báo cáo, tờ trình, các tấm hình, băng ghi âm, các thước
    phim tài liệu, phỏng vấn có ghi âm/thu hình, công báo là những tài
    liệu chính xác của lịch sử.
    2) Tài liệu thứ yếu (Secondary Source) như thơ, kịch, tiểu thuyết,
    bài viết, những tâm tình, trao đổi giữa cá nhân, hồi ký liên quan đến
    một giai đọan lịch sử nào đó. Các tài liệu này mức độ khả tín rất thấp
    và có khi không đáng tin cậy vì nó có rất nhiều ý kiến cá nhân (yêu
    ghét, chủ quan) đưa vào đó. Những sử gia đứng đắn không bao giờ
    bằng cứ vào Secondary Source để viết lịch sử. Ngay cả những cuôc
    trao đổi riêng tư giữa các nhân vật lịch sử, hoặc những nhân vật có
    liên quan cũng cần được kiểm chứng qua báo chí, tài liệu lưu trữ,
    băng ghi âm, nhật ký, văn khố v.v…
    Do đó, nếu có vị nào không đồng ý với tài liệu đã giải mật của CIA
    và coi đó như tài liệu giả hoặc do nhóm thân cộng bịa đặt ra hoặc
    sự đánh giá của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ hòan tòan sai lạc, có
    thể viết thư đặt vấn đề với cơ quan CIA. Hoặc tài liệu nghiên cứu
    của James McAllister, Wikipedia và cuộc phỏng vấn của báo TIME là thiếu vô tư hoặc thân cộng, chúng ta có thể viết thư phản đối hoặc
    cung cấp cho họ những tài liệu chính xác hơn không ngòai mục đích
    làm sáng tỏ lịch sử, một nhu cầu cần thiết của một dân tộc muốn tiến lên.
    Sau hết, chúng ta nên nhớ rằng một dân tộc man di mọi rợ thì không
    có lịch sử. Một dân tộc nô lệ thì lịch sử bị ngọai bang bóp méo, cạo
    sửa, hoặc viết lại. Một dân tộc độc lập và hùng mạnh thì lịch sử
    phải được học hỏi, nghiên cứu, kế thừa và phê phán trong tinh
    thần khách quan và hướng về tương lai.

    Đào Văn Bình
    (Tháng 12, 2009)
    Ghi chú: Dấu (*) là trích dẫn trong Tiểu Truyện Tự Ghi của HT.
    Thích Trí Quang, nguyên là phần phụ lục trong cuốn Bồ Tát Giới
    của Hòa Thượng in sau năm 1975, do website Trang Nhà Quảng
    Đức phổ biến, có đọan nói về tham gia kháng chiến như sau: “Thọ
    Bồ tát giới rồi, không đầy một tháng sau Pháp đổ bộ Đồng Hới, tôi
    tham gia kháng chiến. Nhưng tháng 10 năm ấy, mẹ tôi bịnh nặng,
    bốn anh em tôi đều đi kháng chiến, người thứ ba tử trận một tuần
    sau ngày Pháp đổ bộ, hai người thứ nhất và thứ tư ở xa, tôi ở gần
    nhà nhất nên phải về nuôi mẹ.”

    Tài Liệu Đính Kèm

    1) Tài Liệu Thứ Nhất:
    University of Saskatchewan
    University Library
    Declassified CIA Documents on the Vietnam War
    We hereby acknowledge the permissions granted by the Gale
    Group to include in this Database the abstracts provided in
    the Declassified Documents Reference System CD-ROM and by
    the Texas Tech University's Virtual Vietnam Archive to provide
    the links for fulltext documents.
    Search:
    Advanced search...
    Title:
    An analysis of Thich Tri Quang's possible communist
    affiliations, personality and goals
    Date of Creation:
    August 28, 1964
    Date of Declassification:
    May 24, 1976
    Type of Document:
    Intelligence information cable
    Level of Classification:
    CONFIDENTIAL
    Status of Copy:
    SANITIZED
    Pagination, Illustration:
    8 p.
    Abstract:
    An Analysis of Thich Tri Quang's Possible Communist
    Affiliations, Personality and Goals: Situation Report as of 27
    August 1964 (assessment is that Tri Quang is not a Communist;
    he would like to establish a theocracy in South Vietnam).
    Intelligence Information Cable, TDCS 314/02342-64. Aug. 28,
    1964. 8 p. CONFIDENTIAL/NO FOREIGN DISSEM. SANITIZED
    copy. Released May 24, 1976.
    Indexing Terms:
    THICH TRI QUANG
    THICH DUC NGHIEP
    THICH GIAC DUC
    THICH MINH CHAU
    THICH THIEN MINH
    THICH TAM CHAU
    TON THAT XUNG
    Declassified Documents Reference System Location:
    1976-22E
    ________________________________________
    2) Tài Liệu Thứ Hai
    Modern Asian Studies (2008), 42:751-782 Cambridge University
    Press
    Copyright © Cambridge University Press 2007
    doi:10.1017/S0026749X07002855
    ________________________________________
    Research Article
    ‘Only Religions Count in Vietnam’: Thich Tri Quang and the
    Vietnam War
    ________________________________________
    JAMES McALLISTERa1
    a1 Department of Political Science, Williams College,
    Williamstown, MA 01267 Email: jmcallis@williams.edu
    Article author query
    mcallister j
    Abstract
    Thich Tri Quang has long been one of the most controversial
    actors in the history of the Vietnam War. Scholars on the right
    have argued that Tri Quang was in all likelihood a communist
    agent operating at the behest of Hanoi. Scholars on the left have
    argued that Tri Quang was a peaceful religious leader
    devoted to democracy and a rapid end to the war. This article argues
    that neither of these interpretations is persuasive. As American
    officials rightly concluded throughout the war, there was no
    compelling evidence to suggest that Tri Quang was a communist
    agent or in any way sympathetic to the goals of Hanoi or the
    NLF. Drawing on the extensive archival evidence of Tri
    Quang's conversations with American officials, it is apparent that
    Tri Quang was in fact strongly anti-communist and quite receptive to
    the use of American military power against North Vietnam and
    China. The main factor that led to conflict between the
    Buddhist movement and the Johnson administration was Tri
    Quang's insistence that the military regimes that followed Ngo
    Dinh Diem were hostile to Buddhism and incapable of leading
    the struggle against Communism to a successful conclusion.
    ________________________________________
    3) Tài Liệu Thứ Ba:
    World: A TALK WITH THICH TRI QUANG
    Friday, Apr. 22, 1966
    In an unusual private interview, one of the relatively few he has
    granted to Western newsmen, Thich Tri Quang talked for an hour
    last week with TIME Correspondents Frank McCulloch and
    James Wilde at his Saigon residence, a room in a maternity clinic.
    The interpreter was Than Trong Hue, a Vietnamese member of
    the TIME staff, who addressed the monk with the "venerable"
    title reserved for the Buddhist clergy. Tri Quang was clad in a
    hospital gown, white pantaloons, and brown leather sandals.
    Q. If stability returns to Viet Nam and the war against the
    Communists is waged successfully, do you believe that eventually
    some sort of negotiations must be held with the Viet Cong?
    A. Of course, in raising such a question you have really
    answered it yourself—obviously any war must be finally ended by
    some kind of negotiations. But negotiations are worthwhile
    only if conditions are favorable for them. If you negotiate
    without benefit to your cause and struggle, that is a surrender in
    the guise of negotiations. And I am certainly not in favor of any
    such surrender.
    Q. Do you believe there are non-Communist elements within the
    Viet Cong?
    A. If so, they are completely exploited and led by the Communists,
    so we can have no hope for them. Even if they are only followers,
    they can be of no use to us. Being led or directed by Communists is
    the same as being a Communist.
    Q. What do you think of the Viet Cong movement?
    A. This is mostly a matter of semantics to me. People try to
    separate North Vietnamese Communists from South
    Vietnamese Communists. No such separation exists. They are
    both Communists. And as far as I am concerned, as a religious man,
    the ideology they possess is much more dangerous than the guns
    they possess.
    Q. Can you comment on rumors that the first thing a
    legislative assembly might do would be to ask the Americans to
    leave Viet Nam?
    A. Rumors such as these are sheer libel. No proof or substantiation
    for them exists. One should not ask whether Americans should
    remain in Viet Nam. It is agreed by all that the struggle
    against Communism here must be made with the assistance of
    the Americans. So the problem is really how to enhance the value of
    that assistance. American assistance is not now fully supported in
    Viet Nam because there is no popular representation to give it
    such support. When an assembly is elected, it will, by giving its
    moral endorsement to such assistance, enhance its value and
    its acceptance.
    Read more:


    ________________________________________
    4) Tài Liệu Thứ Tư:

    From Wikipedia, the free encyclopedia
    Jump to navigation, search Thích Trí Quang (born 1924) is a Vietnamese Mahayana Buddhist monk best known for his role in leading South Vietnam’s Buddhist majority during the Buddhist crisis in 1963.
    His campaign, in which he exhorted followers to emulate the example of Mahatma Gandhi, saw widespread demonstrations against the Catholic government of President Ngo Dinh Diem, and its pro-Catholic and Anti-Buddhist policies, attributed to the influence of Diem’s elder brother Archibishop Ngo Dinh Thuc of Hue.

    Diem’s often violent suppression of the demonstrations lead to widespread dismay among the populace, and resulted in a military coup in November 1963 that removed Diem and his family from power.
    In his early days, Thich Tri Quang went to Ceylon to further his Buddhist studies. When he returned, he participated in anti-French activities, calling for the independence of Vietnam. In 1963, Vesak, the birthday of Gautama Buddha fell on May 8. The Buddhists of Hue had prepared celebrations for the occasion including the display of the Buddhist flag. The government cited a rarely enforced regulation prohibiting the display of religious flags, banning it. This occurred despite the non-enforcement of the regulation on a Catholic event celebrating the fifth anniversary of Ngo Dinh Thuc as Archbishop of Hue less than a month earlier.
    The Buddhists defied the ban and held a demonstration, and congregated at the radio station expecting to hear an address by Thich Tri Quang, as was routine for such a day. The authorities cancelled the speech and opened fire on the crowd, killing nine.
    On May 10, Buddhist campaigns for religious equality, compensation for the victims, punishment for those responsible, and the right to fly the Buddhist flag. Thich Tri Quang urged the demonstrators to not allow Vietcong to exploit the unrest, and exhorted a strategy of passive resistance. As the crisis deepened, he travelled to the capital Saigon for negotiations and further protests after the self immolation of Thich Quang Duc on June 11.
    Prior to the August 21 raids on the Xa Loi Pagoda by Ngo Dinh Nhu’s secret police and special forces, he sought refuge at the US embassy. He was accepted by the US ambassador Henry Cabot Lodge, who refused to hand him to Nhu’s forces after they had ransacked the pagodas, fired on and beat monks. In Hue, thirty people died as they attempted to blockade the pagodas from Nhu's men.
    Following the coup on November 1, 1963 which removed Diem and Nhu from power, it was reported that the military junta wanted Thich Tri Quang to be a part of the new cabinet, but the US State Department recommended against this.
    After the 1964 coup by General Nguyen Khanh which deposed the Duong Van Minh junta, Khanh had Captain Nguyen Van Nhung, the bodyguard of Minh and executioner of Diem and Nhu executed.
    This generated rumours that pro-Diem politicians would be restored to power and prompted Thich Tri Quang to cancel a planned pilgrimage to India in order to organise further demonstrations. In late 1964, Khanh revoked his decision to put the General lead by Tran Van Don from detention in Da Lat.
    In 1965, demonstrations occurred again when anti-Diem General Nguyen Chanh Thi, the commander of central Vietnam, was stripped of his position by Prime Minister Nguyen Cao Ky.
    This time Ky had Thich Tri Quang arrested and put him under house arrest in Saigon. When the communists overran South Vietnam in the Fall of Saigon, Thich Tri Quang was again put under house arrest.
    (Hết)
    Đào Văn Bình
  5. “Ngó lên Xã Tắc
    hai hàng mù u”

    Hoàng Long Hải

    (Kể chuyện mùa hè. Hai bài trước, tôi viết về Ve Sầu và Hoa Phượng. Mùa hè ở Huế, không thể không nói tới hoa mù u)


    Văn Thánh trồng thông
    Võ Thánh trồng bàng
    Ngó lên Xã Tắc hai hàng mù u

    Người ta chia hoa ra làm nhiều loại khác nhau. Thứ nhứt là hoa vương giả, thường trồng trong cung điện để vua và hoàng gia thưởng thức. Loại nầy gồm các thứ như phù dung, mẫu đơn, quỳnh hoa… Khi hoa nở, vua cùng hoàng hậu, phi tần mỹ nữ xúm lại xem hoa. Hoa đó đẹp lắm, chẳng hạn như hoa phù dung là loại hoa Lý Bạch đem ví với sắc đẹp Dương Quý Phi: “Phù dung như diện, liễu như mi.”

    Hoa hồng là loài hoa tình yêu. Ở Mỹ, không ít chàng hằng ngày, hằng tuần mua hoa hồng tặng cho bồ. Ở Việt Nam cũng vậy. Tuy vậy, ông Phan Khôi có bài thơ hoa hồng khá nổi tiếng thời Nhân Văn Giai Phẩm:

    Hồng nào mà chẳng có gai
    Hay là những thứ hồng dài không hoa
    Hồng nào mà chẳng có hoa
    Không hoa chỉ có gai mà ai chơi
    Ta yêu hồng lắm hồng ơi!

    Phan Khôi ví công cuộc khánh chiến chống Pháp giành độc lập như cái hoa, còn gai là Cộng Sản. Vì yêu kháng chiến mà người ta bị gai chích.

    Nhưng hoa hồng thường thấy tặng nhau trong giới có học. “Cô ấy đẹp như hoa hồng. Và chắc gì cô ấy không có gai?!

    Thế còn giới bình dân?

    Giới bình dân có nhiều loại hoa biểu tượng cho tình yêu. Trong thơ Nguyễn Bính chẳng hạn, đó là hoa mồng tơi. Khi mồng tơi trổ hoa, người ta tìm đến nhau, nhưng “Từ độ mồng tơi thôi trổ lá, Thì cô hàng xóm cũng thôi sang.” Đó là trong thơ! Còn trong văn? Trong “Quê Người” của Tô Hoài, Hời cũng có một người yêu. Tới khuya, khi vắng người, Hời đến nhà người yêu, ném qua cửa sổ một hoa bưởi. Đang dệt vải, ngửi thấy mùi hoa bưởi, cô thợ dệt vải biết người yêu của mình đang chờ ở bên ngoài. Trong cải lương, trước đây có vở tuồng “Hoa Tím Bằng Lăng.” Khi tôi còn ở trại cải tạo, có anh binh nhì địa phương quân, bị bắt về “tội” phục quốc. Khi trại có tổ chức văn nghệ, anh ta thường lên ca một bài cải lương nhan đề “Hoa Tím Bằng Lăng.” Ở tù hơi lâu mà không có án, không biết ngày về, đôi khi anh chàng bỗng sinh bệnh tâm thần, nằm lăn xuống đất la lối, nên bài ca anh ta thường ca được anh em đổi tên là “Hoa Tím Nằm Lăn.”

    Hoa biểu tượng cho lòng chung thủy của người vợ là hoa quỳ, tên chữ là hướng dương:

    Ca dao có câu:

    Lòng em như hoa hướng dương,
    Trăm nghìn đổ lại một phương mặt trời.

    Trong Chinh Phụ Ngâm, bà Đoàn Thị Điểm viết như sau:

    Tin thường lại, người không thấy lại,
    Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.

    Hoa hướng dương đã tàn mà chưa thấy người chồng về, ý nói người vợ đợi chờ đã lâu.

    Hướng dương lòng thiếp như hoa,
    Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.

    Lòng người đàn bà như hoa hướng dương, lúc nào cũng hướng về chồng, là nói tấm lòng của người chinh phụ với chinh phu đang đi đánh giặc ở xa.

    Việt Nam thuộc xứ nóng, có nhiều nắng nên cây cỏ dễ mọc, hoa cỏ cũng vậy. Ở nhà quê, người ta nhìn hoa, hái hoa để tặng nhau nên cũng có nhiều loại hoa tượng trưng cho tình của chàng đối với nàng hay ngược lại. Chẳng hạn như “Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân” để tặng cô hàng xóm bên kia hàng rào mà than rằng “Em có chồng anh tiếc lắm thay…”

    Có những hoa nghe tên rất hay. Hoa mơ chẳng hạn. Người nấu thịt chó phải dùng thêm lá mơ. Tôi chưa từng ăn thịt chó nên không rành. Ở xứ tôi người ta không gọi là hoa mơ, mà gọi là hoa thúi địt (Xin lỗi độc giả). Có một thứ mọc hoang bên bụi gọi là bông lẹo, tụi trẻ dặn nhau đừng hái bông đó mà chơi, dễ bị mụt lẹo nơi mắt. Một số loại hoa có tên bắt nguồn từ thực tế.

    Sau nầy, nhiều loại hoa được đưa vào văn chương, thi nhạc, chẳng hạn như hoa phượng để nói tới chuyện tình cảm đám học trò choai choai, hoa mắc cở. Người Nam gọi là mắc cở, người Bắc văn vẻ hơn, gọi là hoa trinh nữ. Trần thiện Thanh, trong bài hát của ông, biến hoa trinh nữ thành một thiên tình sử giữa một đấng quân vương và giai nhân.

    Loài hoa tôi nói ở đây, tên nghe cũng không văn vẻ gì, nôm na lắm, đó là hoa mù u. Ngày xưa, người ta trồng cây mù u vì hai lý do. Một là để lấy dầu thắp đèn, hai là có bóng mát. Cây mù u lá dày, tàng cây rậm, cho bóng mát rất tốt.

    Dĩ nhiên, ngày xưa không có ngọn đèn thắp ngược như lời tấu trình của chánh sứ Phan Thanh Giản với vua Tự Đức, khi ông ta đi Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Bộ về. Các loại đèn thường có hồi ấy là đèn thắp bằng mỡ, bằng dầu. Mỡ thì dùng mỡ heo, khi bấc cháy, có mùi khét. Dầu lạc không hôi nhưng mắc tiền, chỉ có dân hít-tô-phe mới dùng đèn dầu lạc. Ngoài ra còn có đèn dầu chai, dầu chai là dầu lấy ở câu dầu trong núi, đốt rất sáng. Ca dao có câu:

    Ai ơi chớ phụ đèn chai,
    Thắp trong nhà ngói, rạng ngoài nhà tranh

    Thông dụng là đèn dầu mu u, vừa rẻ, vừa ít khói mà lại sáng.
    Vì nhu cầu ánh sáng, người dân ta trồng nhiều mù u.

    Võ mù u cứng, bọn trẻ dùng làm bi để đánh chơi. Các bà cụ bán nước mắm, cắt vỏ mù u như cái gáo dừa, tra một cái cán để múc nước mắm trong hủ, bán cho khách hàng. Ngày xưa không có chai thủy tinh như ngày nay. Đồ nung bằng đất sét thì nhiều. Hủ làm bằng đất sét.

    Từ việc trồng mù u để lấy dầu, mới sinh ra sáng kiến đánh Tây bằng trái mù u. Năm 1857, Pháp và Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng, do tướng Regault De Genouilly chỉ huy. Pháp thì tàu sắt súng đồng, còn quân ta chỉ có gươm giáo, không tới gần quân Pháp và Y Pha Nho được. Quân ta bèn lấy trái mù u rải giữa đường, rồi phục binh hai bên. Quân địch mang giày sơn-đá (soldat), tới chỗ rải mù u, bị trơn trượt, té xuống đất. Quân ta bèn xông ra đánh giáp lá cà. Một phần vì quân ta gan dạ, một phần vì bị bệnh thời khí, vã lại ông cố đạo Pellerin có hứa rằng, hễ quân Tây Dương tấn công thì người có đạo trong nước sẽ nổi lên tiếp ứng, nhưng chờ lâu không thấy gì, bèn rút đi.

    Trong Đại Nội ngày xưa cũng dùng đèn mù u. Có phải vì vậy mà ở nền Xã Tắc trồng nhiều mu u để lấy dầu cung cấp cho triều đình. Huế có mấy câu ca dao:

    Văn Thánh trồng thông,
    Võ Thánh trồng bàng,
    Ngó lên xã tắc hai hàng mù u.

    Tại sao Văn Thánh trồng thông, Võ Thánh trồng bàng mà không trồng ngược lại?

    Tại vì cây thông gần với Văn hơn Võ. Nguyễn Công Trứ có câu thơ:

    Kiếp sau xin chớ làm người
    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
    Giữa trời vách đá cheo leo
    Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

    Đến đầu thế kỷ 20, Võ Liêm Sơn cũng viết:

    Bên mồ có mọc một cây thông
    Để cho xương thịt máu vun trồng
    Theo gió reo lên một khúc nhạc
    Kêu vang chín chín ngọn non Hồng.

    Sự gần gủi giữa cây thông với văn học, triết học (Lão giáo) không phải đến Nguyễn Công Trứ mới có tư tưởng ấy, có lẽ trước đó đã lâu.

    Còn trồng bàng?

    Bàng là loại cây cho nhiều bóng mát. Trồng bàng là để tạo nên bóng im cho các quan khi họ đến Võ Thánh vào những ngày lễ cúng.

    Bây giờ Võ Thánh không còn, mà thông Văn Thánh cũng bị đốn cả, khi Tây tái chiếm Huế và đóng đồn ở đây. Sau nầy là một trung tâm huấn luyện của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

    Ông Ngô Đình Diệm chủ trương chấn hưng Khổng Giáo tại sao lại không chỉnh đốn, tu sửa Văn Thánh là nơi thờ ông Khổng Tử và thất thập nhị hiền. Chấn hưng là chấn hưng cái văn hóa đó trong đời sống dân tộc, trong sự Trung-Hiếu (Trung với nước, Hiếu với cha mẹ). Cái Trung đó cũng có lợi cho cái ghế tổng thống của ông Ngô Đình Diệm ít nhiều, bớt lo bị đảo chánh; chớ còn việc dựng lại bàn thờ để cúng thờ ma quỉ thì đâu có hợp với một người theo đạo thiên Chúa. Bát nhang thờ ông bà còn ra nằm ngoài hàng rào thì sá chi một ông thánh mặt mày lạ hoắc đời xửa đời xưa nào đó ở tận bên Tàu?!

    Sau 1945, Xã Tắc không còn mù u. Người dân chặt làm củi hết rồi. Trong nội thành Huế, chỉ còn con đường trước Tam Tòa là còn hai dãy mù u trồng hai bên. Lá mù u lớn, chứa nhiều nước nên giọt nước trên lá mù u rớt xuống vừa to vừa nặng, tiếng kêu cũng lớn. Nhà thơ Đỗ Tấn tả cảnh đêm mưa ở Huế với cây mù u như sau:

    Đêm Huế mưa buồn như em không nói
    Những cây mù u gục đầu
    Lạnh về cắn xé đêm thâu.

    Về mùa xuân, mù u nở hoa. Hoa mù u xấu, nhỏ lại nở trên tàng cây cao và lớn, ít ai thấy, để ý. Ít ai dùng hoa mu u để biểu tượng cho con gái, tuổi trẻ, hạnh phúc. Vì vậy ca dao có câu:

    Bướm vàng đậu trái mu u
    Lấy chồng càng trẻ lời ru càng buồn.

    Người thì đẹp lấy người chồng không “xứng đôi vừa lứa” như con bướm vàng đậu trên cái bông mu u thì đời vui làm sao được. Vì vậy mà tiếng ru con nghe sao buồn lắm!

    Có một người từng học hành lớn lên ở Huế, cảm nhận được “Hồn Thu Thảo” của người xưa qua bóng cây mù u nên bày tỏ tấm lòng hoài cổ qua bài thơ như sau:


    DẤU HOÀNG CUNG

    Hoàng Thành lấp loáng ánh mù u
    Cảnh cũ người xưa dáng mịt mù
    Giọng hát liêu trai chiều nắng xế
    Tiếng đàn cung nữ buổi trăng lu
    Phấn hương ràng buộc đời nô lệ
    Kinh sử xua tan nỗi hận thù
    Xa giá xiêm y thời cổ tích
    Lâu đài soi bóng nước hồ thu.
    Lê Ngọc Phái

    "Bướm vàng đậu nhánh Mù U
    Đưa tay anh bắt...
    Đưa tay anh bắt... tặng em làm quà"

    Anh chờ em dưới bóng cây
    Mù U che mắt tình yêu chúng mình
    Ngày em tóc bỏ ngang vai
    Thương con bướm vàng đậu nhánh Mù U
    Em thường mơ ước đơn sơ
    Ngày anh đến cưới bằng Mù U bông vàng.

    ĐK:

    Ai ngờ trời đổ cơn mưa
    Mù U ướt áo làm đau bướm vàng
    Ngày em đã bỏ sang ngang
    Xa con bướm vàng trả hiếu Mẹ Cha
    Anh nhờ con bướm bay xa
    Mù u thương nhớ bông vàng đành rơi.

    Mù U ơi hỡi Mù U
    Mù U ơi hỡi Mù U
    Có con bướm vàng bỏ xứ đi xa
    Mù U ơi hỡi Mù U
    Mù U ơi hỡi Mù U
    Có con bướm vàng khóc duyên bẽ bàng.

    "Bướm vàng bỏ nhánh Mù U
    Chiều mưa lá rụng bay đầy bên sông
    Bìm bịp kêu em có buồn không
    Bông Mù U nở nhớ em cũng buồn"

    (quay lại từ đầu)

    Mù U ơi hỡi Mù U
    Mù U ơi hỡi Mù U
    Có con bướm vàng bỏ xứ đi xa
    Mù U ơi hỡi Mù U
    Mù U ơi hỡi Mù U
    Biết chăng bướm vàng thương tình dở dang

    Công Thành Như Quỳnh
  6. Trong bài Hoa Phượng tôi có nói rằng “cây bàng gỗ cứng, chịu đựng được sức nặng, lại có tàn rộng, che nắng cho người. Có phải đó là tính chất của các võ tướng.” vì vậy mà người xưa trồng bàng ở Võ Thánh.

    Nói như thế có “cương” quá chăng, chưa nói là cương ẩu?

    Thật sự, tôi không cương bậy. Tiếc là tôi chưa tìm ra được câu thơ nào, bài văn nào nói về cây bàng phù hợp với ý tưởng tôi trình bày ở trên.

    Khác với vùng Đông Bắc Mỹ là nơi tôi đang cư ngụ, về mùa thu lá cây vùng nầy thay màu rất đẹp. Ở Việt Nam, miền trung cũng như miền nam, tôi chưa từng thấy cảnh lá cây thay màu nhiều và rõ, ngoại trừ một vài cây như sầu đông thì chẳng còn chiếc lá nào khi đông đã tới - nên người ta mới gọi nó là sầu đông - Cây bàng tuy không rụng hết lá nhưng khi mùa lạnh bắt đầu thì lá bàng chuyển từ màu xanh sang mầu đỏ trước các cây khác. Lá bàng đã to mà lại thay màu trước, khi lá các cây khác còn xanh nên dễ gây ấn tượng cho mắt người, nhất là tại những công viên, những thành phố trồng nhiều bàng như Hà Nội. Đọc “Nhặt lá bàng” của Nhất Linh hay nghe hát “Cây bàng lá đỏ” trong Nhớ Mùa Thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn, người ta có thể đoán ra điều ấy.

    “Bàng được trồng trong khu vực nhiệt đới như là một loại cây cảnh hay để lấy bóng râm nhờ tán lá lớn và rậm. Quả ăn được và có vị hơi chua. Gỗ có màu đỏ, rắn chắc và chống thấm nước, khá tốt; tại Polynesia người ta dùng nó để đóng các loại xuồng.”

    Phần trên là tôi trích lại vài lời giải thích về cây trong “Việt Nam Toàn Thư”.

    Trong tính chất của cây bàng như nói ở trên, nếu tôi có cương, quý độc giả cũng không cho rằng tôi cương ẩu.
    Thật ra, trong văn chương, ngoài hoa thường được dùng để ví với giai nhân, với người đàn bà mà hoa thì bao giờ cũng là hoa đẹp, dù hoa đồng nội, không có hoa độc bao giờ, thì cây lại được dùng để ví với đàn ông.
    Bài thơ Vịnh Cây Vông (Đồng) của Nguyễn Công Trứ có mấy câu như sau:

    Biền, nam, khởi, tử chẳng vun trồng
    Cao lớn làm chi những thứ vông.
    Càng lớn càng già càng xốp xoáp,
    Ruột gan không có, có gai chông.

    Biền là một loài cây gỗ cứng, không rõ có phải là biến âm của chữ bàng hay không. Gỗ cây biền cứng nên thường dùng để làm cung. Cung bằng gỗ biền bắn mũi tên đi được xa và mạnh.
    Nam là cây chò, loại gỗ tốt, dùng để đóng bàn, ghế, giường, tủ… thường dùng trong nhà.
    Khởi hay khải là cây giai, tên chữ là hoàng liên, một loại gỗ tốt.
    Tử là cây tử, nôm na là cây thị. Cây kiều cao mà ngữa lên, tuợng trưng cho người cha. Cây tử thấp mà tàng cúi xuống, tuợng trưng cho người con. Hai cây nầy tượng trưng cho tình cha con. Vì vậy, trong truyện Kiều, đoạn cô Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhớ cha mẹ, có câu:

    Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

    Tất cả bốn thứ cây nói trên gỗ đều cứng cáp, mạnh khỏe, tượng trưng cho người đàn ông, con trai, có trung có hiếu, còn như cây vông là thứ cây gỗ chẳng ra gì, tượng trưng cho kẻ tiểu nhân. Kẻ tiểu nhân thì chẳng có giá trị, gỗ càng già càng xốp - như ông bình vôi trong Nhân Văn Giai Phẩm, càng già, ruột càng đặc - bụng chỉ toàn gai chông, chỉ muốn ám hại người khác.
    Tôi cũng đã trình bày trong bài Hoa Phượng, cây thông tượng trưng cho người quân tử. Trong bài cây thông, Nguyễn Công Trứ viết:

    Ngồi buồn mà trách ông xanh,
    Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
    Kiếp sau xin chớ làm người,
    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
    Giữa trời, vách đá cheo leo
    Ai mà chịu rét thời trèo với thông.

    Theo nhà Phật thì con người có nhiều kiếp. Kiếp sau xin làm cây thông, làm người buồn quá chăng? Nhưng làm cây thông đứng một mình cheo leo giữa trời mà ru với gió bằng một điệu nhạc u trầm thì có vui gì? Mùa đông trời lại rét, thông đứng một mình vừa cô đơn vừa rét mướt thì đời lại càng buồn hơn. Tuy vậy, dù cô đơn, dù buồn, cây thông vẫn đứng thẳng giữa đời như người quân tử. Ai muốn làm quân tử hãy chịu rét mà trèo với thông.

    Có lẽ người Tầu cũng như người Việt chúng ta ngày trước - Ngày trước là vì bây giờ quan điểm có khác đi không! - đều ví cây trúc, nôm na là tre, tượng trưng cho người quân tử. Truyện cổ tích kể rằng ngày xưa ông trạng Mạc Đỉnh Chi đi sứ bên Tầu. Khi vua Tầu tiếp ông trong điện, ông thấy có một bức tranh thêu đẹp lắm, hình một con chim sẻ đậu trên cành trúc. Tưởng là con chim sẻ thật, ông vói tay định bắt. Ai nấy cười ồ vì sự ngộ nhận của ông. Nhanh trí, Mạc Đỉnh Chi liền chụp bức tranh thêu xé mất. Ai nấy ngạc nhiên trước hành vi phạm thượng của ông, dám xé bức tranh trong điện vua Tầu. Ông trạng Mạc Đỉnh Chi giải thích:
    - “Muôn tâu! Chim sẻ tượng trưng cho tiểu nhân, cây trúc tượng trung cho quân tử. Tiểu nhân đứng trên quân tử sao được. Vì vậy nên hạ thần phải xé bức tranh nầy đi.”
    Biết ông ta chạy tội, nhưng ai nấy đều công nhận ông nói phải, là người thông minh, nhanh trí.
    Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, tất cả các khuôn dấu của cơ quan chính quyền, kể cả khuôn dấu của tổng thống đều có bình bụi trúc ở hình tròn nhỏ phía trong.
    Bụi trúc, nói theo cách Tầu là “Tiết trực tâm hư”, có nghĩa là tiết tháo (hoặc đoạn, khúc giữa hai mắt tre) ngay thẳng, vì dân vì nước, không xiên xẹo; tâm có nghĩa là lòng thì trống rỗng, không có gì riêng tư cho bản thân. “Tiết trực tâm hư” tượng trưng cho tấm lòng của người quân tử. Ông Ngô Đình Diệm cai trị nhân dân theo cung cách của một người quân tử nên ông lấy cây tre, bụi trúc làm biểu tượng, làm lời nhắc nhủ cho công chức, cán bộ.

    Cùng với ý nầy, thi sĩ Đông Hồ, có mấy câu thơ khí khái như sau:

    Cơn mưa vừa mới tạnh
    Cành trúc ngã bên đường
    Quân tử nghiêng mình xuống
    Đi qua ta cúi đầu
    Đông Hồ

    Khi còn trẻ, Tôn Thọ Tường cùng cắp sách đi học một thầy với Phan Văn Trị. Cả hai cùng thi đổ cử nhân, nhưng vì thời thế đổi thay, thực dân Pháp đô hộ miền Nam. Cử Trị không chịu ra làm quan với Pháp, lui về ở ẩn. Cử Tường ra hợp tác với chế độ mới, bị người đời chê là bất trung, không ai muốn giao thiệp.
    Trong cảnh sống cô đơn vì bạn bè xa lánh, ông làm bài thơ vịnh cây mai để bày tỏ tấm lòng của mình.
    Cây mai Tôn Thọ Tường ví von ở đây chính là cây Bạch Mai, trồng ở chùa Cây Mai, kế bên đường Hậu Giang, con đường từ Chợ Lớn đi về miền Tây.
    Sau khi đánh chiếm đồn Kỳ Hòa, thực dân Pháp đóng đồn ở chùa Cây Mai, nên chùa Cây Mai có tên mới là Đồn Cây Mai. Rồi từ trại lính Pháp, nơi nầy trở thành căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Có khi nơi nầy là trung tâm huấn luyện tình báo của quân đội, nên nó lại biến thành Trường Cây Mai, học viên ngành tình báo theo học các khóa Cây Mai (ngụy danh).
    Sau khi Pháp đóng đồn, sư sãi bị đuổi đi. Buổi chiều, thay vì tiếng kinh kệ thì lại là tiếng kèn Tây thổi báo giờ cho binh lính. Độc giả đọc bài thơ nầy, sẽ thấy Tôn Thọ Tường mô tả tiếng kèn lạ khi trời chiều ngã bóng:

    Cây Mai

    Cám cảnh Cây Mai cách dưới đèo
    Mười phần trong sạch phận cheo leo
    Sương in tuyết đóng cành thưa thớt
    Xuân tới thu về nỗi quạnh hiu
    Lặng lẽ chuông quen con bóng xế
    Tò le kèn lạ mặt trời chiều
    Những tay rượu thánh thơ thần cũ
    Trông cảnh bao nhiêu, tiếc bấy nhiêu!

    (1) Bạch Mai hay Mù u

    Nguyễn Công Trứ cũng có làm bài thơ vịnh cây cau, ví cau nhờ được ơn chúa vung trồng, vươn cao lên trời, chẳng kể sương gió, không ngại gió bão, vững chải, mở rộng tàn lá xanh che nắng, cho trái cau (kèm với trầu) để mời chào khách:

    Vịnh Cây Cau.
    Ơn chúa vun trồng kể xiết bao,
    Một ngày càng một rấn lên cao.
    Lưng đeo đai bạc sương nào nhuốm,
    Đầu đội tàn xanh nắng chẳng vào.
    Buồng chất cháu con khôn xiết kể,
    Nhà nhiều quan khách dễ khuyên chào.
    Kình thiên một cột giơ tay chống,
    Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao.
    Nguyễn Công Trứ
    Rất nhiều thi sĩ làm thơ vịnh hay mô tả một cái cây, ví nó như một cái gì đó, một hạng người, một tấm lòng. Ví dụ:

    Cây hoa gạo

    Cây hoa gạo đầu làng sao rồi em
    Chỗ em tiễn trời xanh trôi tới
    Anh sẽ về, còn em mãi đợi
    Bóng nắng tròn trong tay áo bà ba
    Tựa như máu dễ nào phai mất
    Đỏ khôn nguôi hoa ríu bàn chân
    Mỗi độ đường tháng ba vẫy gọi
    Gió qua làng thổi dọc đoàn quâ
    Hoa gạo ơi đừng vừa rơi vừa đợi
    Mỗi xuân đi gom nhặt sắc lặng im
    Em nghe thấu lời nhớ cây nhức nhối
    Rằng anh sẽ về như em đã tin...
    Lê Thị Mây

    Phùng Quán mô tả cây dứa, (người miền trung gọi cây thơm, người nam gọi là khóm), một loại cây lá có gai, trồng ở đất nào cũng được, ngay ở các bãi cát khô, trái chín ngọt, người ta thường dùng để giải khát:

    Cây dứa

    Cao Bá Quát
    Cả một đời chỉ cúi lạy hoa mai
    (Nhất sinh đê thủ bái mai hoa)
    Tôi, tôi nghiêng mình trước cây dứa.
    Bao giờ tôi cũng kinh ngạc
    Như đứng trước sức sáng tạo của thiên tài
    Ngắm cây dứa tốt xanh trên đất cằn sỏi đá
    Với những tầu lá dài màu cỏ dáng gươm.
    Và lấp lánh ở giữa, một bình vàng
    Ăm ắp mật dịu trăm cơn nắng lửa
    Dứa ơi!
    Người hãy dạy tôi
    Cách chắt lọc từ khô cằn sỏi đá
    Chất mật mát lành dịu nắng lửa trăm cơn
    Để từ cuộc sống gian lao, bất trắc khôn lường
    Tôi vẫn viết được,
    Dâng tặng đời
    Những trang văn đấy ắp mật
    Phùng Quán

    Cây vạn niên thanh là một loại cây lá lúc nào cũng xanh, sống bằng những dưỡng chất đạm bạc: nước lã, khí trời. Phùng Quán xem nó như một biểu tượng cho sức sống mãnh liệt:

    Vạn-niên-thanh
    Ơi cây Vạn-niên-thanh!
    Cả một đời tôi chỉ khiếp phục anh!
    Anh uống độc khí trời
    Anh xơi độc nước lã
    Anh vẫn tràn trề sức lực xanh tươi
    Vẫn tặng được cho đời chất thơ của sắc lá!
    Vạn-niên-thanh
    Ơi cây Vạn-niên-thanh
    Cả một đời tôi chỉ khiếp phục Anh
    Phùng Quán

    Cây xương rồng

    Cây chi cây lạ lùng
    Không cành cũng không lá
    Toàn những thân với thân!
    Mà thân thì dựng ngược
    Như gậy gộc nghĩa quân
    Toàn những góc với cạnh
    Lại tua tủa gai chông!
    Nhựa độc hơn bọ nẹt
    Gai buốt nhọn hơn gươm
    Người nghèo đem luộc kỹ
    Ăn lại lành thay cơm!
    Mọc lên từ cát lửa
    Hồn vẫn xanh mát trong
    Che chở người lương thiện
    Trộm cướp đều ngại ngùng
    Tên như một biểu tượng
    Đời gọi cây xương rồng...
    Xương Rồng ơi Xương Rồng!
    Anh có thật xương rồng?
    Hay xương người nghĩa khí
    Ngã xuống rồi hoá thân?...

    Sống trong chế độ độc tài Cộng Sản, lại từng là nạn nhân, bị đàn áp trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Phùng Quán vẫn tiếp tục nói lên tiếng nói “Chân thật! Chân thật trọn đời…” như ông xác định trong bài “Lời Mẹ Dặn”. Tuy nhiên, khôn khéo hơn, ông biểu thị chí khí đó qua hình ảnh những loại cây thanh đạm như vạn niên thanh, không xa hoa, phung phí, sang trọng nhờ tham nhũng, tâm hồn ông vẫn xanh tươi mãi ngàn vạn năm như Vạn niên Thanh, hay cứng cáp vững chắc như cây xương rồng.
    Tuệ Sĩ, đặc biệt hơn, con người tu hành ấy, nghèo khổ ấy vừa “Vá áo chép kinh” vừa làm thơ, mô tả ông như một loài cây khô:

    Cây Khô

    Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng
    Và cây khô mạch suối khóc thương nhau
    Ta cúi xuống trên môi cười chín mọng
    Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu.
    Tuệ Sĩ.

    Hoàng Cầm, vẫn lãng mạn như trong bài “Lá diêu Bông” nhưng ở đây, cây của ông không phải là một loại thực vật mà lại chính là một cây… bài. Cây bài Tam Cúc:

    Cỗ bài tam cúc mép cong cong
    Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
    Chị gọi đôi cây!
    Trầu cay má đỏ
    Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em
    Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
    Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
    Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
    Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì
    Đứa được
    chinh truyền xủng xoẻng
    Đứa thua
    Đáo gỡ ngoài thềm
    Em đi đêm tướng điều, sĩ đỏ
    Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em
    Năm sau giặc giã
    Quan Đốc đồng áo đen, nẹp đỏ
    Thả tịnh vàng cưới Chị
    võng mây trôi
    Em đứng nhìn theo, Em gọi đôi.

    Barre, Mass, ở một nơi có quá nhiều cây rừng

    hoànglonghải


    (1)- Khoảng sau tết Tý (năm 1960), ở Saì Gòn xuất hiện trên báo chí, một số bài tranh luận về hoàng mai và bạch mai. Thông thường, vào dịp tết, người Bắc ưa chưng trong nhà hoàng mai hay đào, người miền Nam ưa bạch mai. Có phải vì miền nam ít có hoàng mai? Người cực đoan thì cho rằng hoàng mai mới thật là mai, còn bạch mai không phải là mai.

    Do cuộc tranh luận đó, bài thơ Vịnh Cây Mai được đem ra bàn. Người ta xác nhận cây mai ông Tôn Thọ Tường vịnh trong bài thơ chính là cây mai ở trên chùa Cây Mai hay Đồn Cây Mai vậy. Cũng có một nhà vạn vật học, tới gặp trung tá (cấp bậc vào lúc ấy) Phạm Văn Sơn, sử gia, đang làm chỉ huy trưởng trường Cây Mai để quan sát cây mai ấy, rồi “phán” một câu rằng, cây mai ở đồn Cây Mai không phải là cây mai thật. Đúng ra, đó là cây mù u. Tội nghiệp ông Tôn Thọ Tường, tưởng là cây mai, ai ngờ lầm mà đem tâm sự gởi cho cây mù u. Ông Tôn đã lầm cây mai, cũng như ông cũng đã lầm khi theo phò Pháp Lang Sa, để cái tiếng xấu cho hậu thế!
  7. “Ta lắng nghe
    muôn cung đàn..."

    Tại Việt Nam, mỗi vùng có những thú vui âm nhạc khác nhau. Có thứ âm nhạc dành cho giới trí thức, có thứ cho giới bình dân. Ngoài Bắc thì có ca trù, hát chèo; miền Trung thì có ca Huế và hò Huế; dĩ nhiên Nam Bộ có cải lương. Các loại âm nhạc nầy, ban đầu phổ biến trong giới thượng lưu, trung lưu… dần dần phát triển trong giới bình dân. Ca trù, hát chèo đã vậy, cải lương, ở phía Nam cũng có tính chất chuyển biến như vậy.

    Huế thì khác! Ca Huế là thú chơi của giới trung lưu hay vua, quan, còn hò Huế như hò giả gạo, mái nhì, mái đẩy phổ biến trong giới bình dân.

    Nói chung, âm thanh Huế có nhiều hình thức đặc biệt khiến người Huế đi xa cũng khó quên.

    Tuy nhiên, trước hết, âm thanh quyện lấy tâm hồn người Huế là những tiếng chuông chùa. Người Việt Nam ai chẳng ít nhiều lần nghe tiếng chuông chùa. Làng nào chẳng có chùa. Người Việt Nam khi lập làng là lập chùa nên bên cạnh đình làng có chùa làng. Tiếng chuông chùa làng âm vang mỗi sáng sớm, mỗi chiều hôm, lắng đọng trong tâm hồn người dân làng. Do vậy, trong hành trang tâm hồn viễn xứ của người Việt Nam, bao giờ họ cũng mang theo tiếng chuông chùa.

    Ở Huế có nhiều chùa. Phía tây bắc Huế là một vùng đồi núi mênh mông, trãi dài bên bờ hữu sông Hương. Và trên những ngọn đồi đó, trong một khu vườn âm u, là những ngôi chùa vắng lặng bên cạnh lăng tẩm vua chúa và quan lại: Chùa Trà Am bên cạnh lăng cụ Kinh Tế, chùa Tường Vân bên cạnh lăng Tự Đức, v.v... Tiếng chuông chùa không chỉ ru hồn các bậc vua chúa nay còn lẩn khuất đâu đó trong lăng tẩm âm u, trong vườn nhãn sum suê hoa quả. Tiếng chuông chùa cũng đọng lại đó, trong tâm hồn người dân Huế.

    Những đêm thanh vắng, trời êm, không gió lộng, không mưa dầm rỉ rả hay mưa dông ầm ì, người dân Huế có thể nghe tiếng chuông chùa Linh Mụ từ trên đồi Hà Khê vọng về. Tiếng chuông ngân dài, tưởng chừng như cái đuôi của âm thanh kéo đi rất xa, tới cuối thiên nhai mù mịt, hay tận đáy tâm hồn của mỗi người.

    Tiếng chuông Linh Mụ không chỉ là tiếng nói “sắc không”, mà còn là tiếng gọi của hồn dân tộc. Nếu mai đây có mất đi tiếng chuông chùa Linh Mụ thì chính là mất đi tiếng hồn dân tộc đấy.

    Không, tôi không cường điệu khi viết như thế. Câu văn sau đây của linh mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu xa về một tiếng chuông chùa mang hồn dân tộc:

    “Tổ quốc ta, ta phải nghe trong tiếng chuông Linh Mụ”

    Đây là câu vỡ lòng cho bọn học sinh khi học những “Bài tập đọc” đầu tiên trong đời.

    Cả hàng trăm năm nay, tiếng chuông Linh Mụ vẫn âm vang mỗi sáng mỗi chiều, nhưng ca Huế thì hình như mỗi ngày bị lãng quên, cũng giống như tiếng ca của các cô đầu ở phố Khâm Thiên, Hà Nội.

    Một chế độ sụp đổ là kéo theo nhiều cảnh suy vi. Khi vị vua cuối cùng triều Nguyễn đọc chiếu thoái vị là một trang sử mới bắt đầu, với nhiều đau thương và máu lửa. Huế không còn cảnh thanh bình. Tiếng đàn, tiếng hát vang dậy mỗi đêm trên giòng sông Hương không còn nữa. Cảnh đó, người đó, tâm sự đó, có còn chăng cũng chỉ là tiếng than ngậm ngùi trong bài hát “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước. Triều đại đó, tiếng ca, tiếng đàn đó, còn lại chăng cũng chỉ trong cảnh “Đêm tàn”.

    Có lẽ tư tưởng trong các bài hát chèo, ca trù của Hà Nội, cải lương của Saigon, không sâu sắc lắng đọng trong tâm hồn người nghe bằng những lời ca trong Nam bình, Nam ai, Bình bán, Sa mạc, v.v… của ca Huế. Nó mang mác tính chất vô vi của Lão Trang, sắc không của nhà Phật, và nỗi đoạn trường của Huyền Trân Công Chúa trên bước đường lưu lạc hay trong cảnh lưu đày của vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân…

    Nếu Huyền Trân than thở “Cái tình chi đượm mùi son phấn, đền nợ Ô-Ly” thì vua Thành Thái đau lòng khi đặt câu ca Nam bình tả cảnh đi đày “Kéo neo tàu chạy…”

    Tàu chạy là tàu ra biển bắc, đưa vị vua bị truất ngôi đày qua châu Phi.

    Đó là khúc ca Nam ai, Nam bình sầu than, là tiếng khóc của biết bao nhiêu Thúy Kiều thời đại chỉ thấy “Đời vui chi trong sương gió”, là bến Tiêu Tương ly biệt, hay “Bến Cô Liêu” trên bờ sông Dịch Thủy, là “Tình đã lạt phai” khi đêm tàn, là tâm trạng bơ vơ của những người Việt mất nước, không định hướng, than rằng “Thuyền ơi! Đưa ta tới đâu?”

    Người ta hiểu tất cả những lời than của Dương Thiệu Tước viết ra trong bài hát của ông, nhưng tại sao các đấng vua quan trong triều, ngoài tỉnh vẫn nghe, vẫn hát khúc Bạc Tần Hoài mỗi đêm trên giòng sông Hương. Người ta vẫn biết, vẫn hát, vẫn than cho một triều đại suy tàn, cho vận nước điêu linh, cho một trăm năm Pháp đô hộ mà vẫn vô tình như “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”.

    Ai theo gương Lê Lợi, Quang Trung, ai vẫn mê con hát như vua Trần Hậu Chủ khi giặc đã tới bên lưng, khi giặc đè đầu cưởi cổ dân tộc. “Than ôi! Nhân tâm ly tán, thế sự đảo điên”, người ta không còn “phân biệt đâu là chính, đâu là tà” nữa chăng? Người ta vẫn phê phán vua Trần Hậu Chủ và vẫn cứ mê khúc hát Hậu Đình. Tâm tình người Huế thật phức tạp.

    Điều đáng buồn!!! Ca Huế, nhạc cung đình, những âm thanh đặc biệt và đặc sắc của Huế, ngày nay, tại Việt Nam, ngay tại Huế, trở thành một thứ hàng buôn bán, biến thành một thứ vật chất tầm thường, đem rao bán cho kẻ “người trần mắt thịt”, “trưởng giả học làm sang”. Cái được gọi là “cung đình” nay bị đem ra nơi “chợ búa”. Có thể đó là một cuộc “cách mạng văn hóa Huế” hay chăng?

    Có hàng trăm năm, Huế là thủ đô chính trị, văn hóa toàn quốc. Do đó, Huế là nơi sinh hoạt của vua, hoàng thân quốc thích và quan quyền các giới. Cũng thời kỳ đó, kinh tế Huế cũng có tính tự túc. Nhu cầu sinh hoạt của vua quan được các làng, xứ chung quanh cung cấp. Sinh hoạt đó thể hiện một cách sơ lược qua vài câu ca dao như “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu, Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh” hoặc “Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.” Ngoại trừ chợ Cầu là nơi xa nhứt, thuộc phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, các địa danh khác là những vùng rải rác quanh Huế. Việc chuyên chở hàng hóa đem về bán cho Huế hoặc ngược lại, thường bằng đò dọc. Từ Vĩnh Linh đến cầu Hai, ngang qua Huế hay không cũng được, có thể di chuyển bằng đò trên sông mà không phải ra biển. Thuyền đò chỉ phải qua phá Tam Giang là nơi to rộng nhất và chỉ đôi khi mới có sóng lớn.

    Những chiếc đò di chuyển trên sông, trong cảnh chiều hôm man mác, trong sương lam lạnh lùng mờ ảo, trong tâm trạng nhung nhớ những chuyến đi dài ngày, làm cho tâm hồn khách thương hồ ít nhiều xúc cảm. Tức cảnh sinh tình, những người chèo đò cất lên tiếng hò lanh lảnh, ít khi vui tươi và cũng không kém phần buồn bã. Có khi một chiếc thuyền đi trước, một chiếc thuyền đi sau, khoảng cách không quá gần để không thấy nhau rõ ràng, không quá xa để tiếng hò không nghe rõ. Tiếng hò đuổi bắt qua lại, trước sau trên sông tạo nên những niềm hứng khởi, những tình cảm lãng mạn, tha thiết của những nghệ sĩ nam nữ sông nước mênh mông:

    “Thuyền ai đi trước,
    Cho tôi lướt đến củng
    Chiều đã về trời đất mông lung
    Phải duyên thì xích lại
    Cho đỡ não nùng tiếng sương"


    Cách dùng chữ trong các câu hò nhiều khi súc tích, bóng bẩy, không thua kém gì văn chương bác học. “Não nùng tiếng sương”. Não nùng là tiếng thường thấy trong văn chương bác học. “Tiếng sương” cũng như “tiếng nhạn kêu sương” (Con nhạn lạc bầy kêu sương) chưa hẵn trong văn chương bác học đã có. Còn khung cảnh mênh mông sông nước trên sông dài trời rộng là một hình ảnh không kém chất trữ tình.

    Tôi từng cố tìm kiếm xem thử trong giới ca sĩ hiện tại có ai có thể thể hiện những câu hò mái nhì mái đẩy tôi đã từng được nghe khi còn trẻ. Người nghệ sĩ thuộc loại nầy cần có hai khả năng đặc biệt: Một là giọng, hai là hơi. Giọng hò thường trong, êm và thánh thót. Hơi phải mạnh khỏe và dài. Tài năng đó, vượt trội khả năng “Thằng mõ” của Lê Thánh Tôn: “Cả tiếng và dài hơi” (Mõ nầy cả tiếng lại dài hơi). Tiếng hay giọng và hơi và hai khả năng căn bản mà một ca sĩ cần có. Cả hai điều nầy, bây giờ, trong giới ca sĩ lại ít thấy!

    Phần thứ hai của dân ca Huế là hò giả gạo. Hò giả gạo xuất hiện ở những vùng quanh Huế, gần nhứt là An Cựu hay An Hòa, Bao Vinh, không phải ngay Huế nên xin khỏi bàn.

    Tuy phân biệt thành hai thứ âm nhạc cho giới vua quan và hàng dân dã, nhưng không phải không có sự tác động qua lại giữa hai hình thái âm nhạc nầy. Trong những đêm chơi đàn trên sông Hương, các ca kỹ Nam ai, Nam bình, cũng đôi khi cất cao giọng hò mái nhì mái đẩy. Ngược lại, trong giới bình dân, người ta cũng có khi tụ họp chơi đàn bầu, đàn nguyệt, tỳ bà và ca Nam ai, Nam bình, âm nhạc cung đình. Triều đình không độc quyền, không ngăn cấm thú chơi văn nghệ đó trong hàng dân dã.

    Bây giờ, xa Huế đã lâu, và tóc cũng đã nhiều sương muối, có lẽ không ít người quên rằng, mình, một thời từng là “khách hàng trung thành” (giống như độc giả trung thành của quí báo) của một chị, một o, một dì bán bún dạo, bán chè hay trứng vịt lộn nào đó.

    Các thành phố lớn đều có người đi bán dạo. Do đó, người Sài Gòn khó quên tiếng “xực tắc” của chiếc xe hủ tiếu, và người Huế cũng khó quên tiếng rao “bún bò”, rao “chè đậu xanh đậu ván” hay “trứng lộn đây” (1) của những người bán dạo.

    Khi đã là “khách hàng trung thành”, chỉ nghe tiếng rao, người ta có thể hình dung ra gánh bún bò, rổ chén bát và xách chè của người bán, và cả hình ảnh quen thuộc của họ. Hình ảnh ấy, thường là những người đàn bà mặc áo vá vai.

    Áo vá vai là một hình ảnh đặc biệt, chỉ ở Quảng Trị, Huế mới có. Tôi đã “thường đi đó đây” trên khắp bốn vùng chiến thuật, không thấy đâu có hình ảnh người đán bà mặc áo vá vai như Trị-Thiên và Huế. Hình ảnh các mẹ, các o, các chị mặc áo vá vai đó gây cho tôi không ít xúc động về “quê hương tôi nghèo lắm ai ơi” nên tôi đã từng viết về chiếc áo vá vai nầy.

    Buổi sáng mùa hè, dậy muộn, bụng đói, nhưng chưa chịu ăn sáng, còn chờ tiếng rao “bún bò” của người bán hàng quen thuộc. Hoặc khi học bài thi vào khuya, bụng trống đi đã nhiều, các cô chú học trò còn chờ tiếng rao chè, rao trứng vịt lộn của “người quen.” Người Huế cầu kỳ, phải chờ cho đúng người nấu hợp khẩu vị của mình mới chịu ăn. Ít ai “thực bất tri kỳ vị.”

    Trong một khung cảnh sinh hoạt như thế, Huế không thiếu những tiếng rao hàng vào buổi sáng hoặc vào buổi khuya. Có tiếng rao lanh lãnh, từ đầu xóm vang tới cuối xóm. Người rao đang ở bên đường Bộ Thị, khách ở bên đường Bộ Tham hoặc trên “Thượng Thành” nghe vẫn rõ lắm.

    Rồi bất chợt, một hôm nào đó, đang ngồi nhớ Huế, kể chuyện Huế, không ít người nhớ lại tiếng rao hàng mình đã nghe mấy chục năm trước. Âm thanh ấy, không phải là bài hát, không phải tiếng hò, không phải tiếng ca mà nghe như tiếng hò, tiếng hát, tiếng ca, “cũng khó mà quên được.”

    Tiếng rao phát ra từ miệng, có ai đã từng nghe tiếng rao ấy phát ra từ những sợi giây đồng. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đứng giữa lớp, đưa cây vĩ cầm lên kẹp vào hàm, đặt archet lên mấy sợi giây đồng. Và tay ông thầy dạy nhạc kéo qua lại một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Bỗng cả lớp phì cười vì tiếng đàn phát ra, y hệt như tiếng rao: “chè đậu xanh đậu ván.” Kỷ niệm ấy, dù muốn quên cũng không tài nào quên được.

    Bài nầy viết ra, không nhằm mục đích khảo cứu âm nhạc, nhất là ca Huế, nét đặc sắc nhất của âm thanh Huế, nhưng có lẽ người viết cũng không quên thưa với độc giả rằng, ca Huế không phải tự dưng mà có.
    Trong hành trang “Về phương nam” của các lưu dân thời chúa Nguyễn, trước hay sau năm 1558, là năm Nguyễn Hoàng mở cuộc Nam tiến vĩ đại của người Đại Việt về phương Nam, không thiếu những nét nhạc của người dân sinh sống lâu đời ở lưu vực sông Nhị. Có người căn cứ vào tên gọi như điệu “Sa Mạc” mà cho rằng ca Huế mang âm hưởng của nhạc Mông Cổ; hoặc căn cứ vào những âm thanh não nuột, rên rỉ, than oán của Nam ai, Nam bình, để cho rằng, nhạc ấy chịu ảnh hưởng thanh âm của một dân tộc, người Chàm, trên đường diệt vong.

    Vì vậy, khi nghe ca Huế, ít khi người ta thấy vui. Có phải đó là tiếng than của những người mất nước, là khúc Tây Thiên (2) của người Chiêm Thành, là khúc Hậu Đình (3) của các thương nữ trên sông Hoài, khi vua Trần Hậu Chủ sắp mất ngôi, hay tiếng than của một dân tộc đang bị dày xéo dưới gót chân người Pháp xâm lược, của bốn ông vua chịu kiếp lưu đày (4)

    Tuệ Chương Hoàng Long Hải


    (1) Người Huế gọi “trứng vịt lộn”; người Nam gọi là “hột vịt lộn”
    (2) Năm 1044, vua Lý Thái Tông đánh vào kinh đô Phật Thệ, bắt cung nữ Chiêm biết múa hát khúc Tây Thiên đưa về Bắc.
    (3) Bạc Tần Hoài

    Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
    Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
    Thương nữ bất tri vương quốc hận
    Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa

    (Đỗ Mục)

    -------

    Khói nhòa trên sông lạnh
    Bãi cát phủ trăng vàng
    Tần Hoài thuyền cập bến
    Đêm về quán rượu gần
    Thương nữ nào hay vong quốc hận
    Hậu Đình Hoa khúc cứ ngâm vang

    (Thinh Quang dịch)

    (4) Kể từ Gia Long, triều Nguyễn có 14 đời vua (kể cả Cường Để). Bốn vua lưu vong là: Hàm Nghi, Thành Thái (cha) Duy Tân (con) và Cường Để.
  8. Nói chung, xã hội nào cũng có hai giai cấp: Thống trị và bị trị. Một cách cụ thể, đó là những người cầm quyền cai trị (thống trị) và những người bị cai trị (những người không có quyền hành gì hết).

    Mỗi giai cấp, không chỉ thuần những người cầm quyền mà thôi. Những người cầm quyền có những quyền lợi liên hệ với nhau mà còn bao gồm luôn cả những người tuy không cầm quyền, nhưng có quyền lợi liên hệ đến những người cầm quyền, hay quyền lợi của họ có liên hệ, có khi rất chặt chẽ cùng với nhau.

    Dĩ nhiên, để bảo vệ quyền lợi của chính mình, hay bảo vệ quyền lợi của những người có liên hệ đến người cầm quyền, thì người ta đặt ra những luật lệ, những biện pháp, thậm chí cả hiến pháp để giành độc quyền cai trị và bóc lột người bị thống trị.

    Có thể xem một vài ví dụ:

    - Để bảo vệ “quyền lợi của đảng” hay nói đúng hơn là quyền lợi của đảng viên, hay người ta còn gọi là “giai cấp đảng viên” thì phải có cái gọi là “Điều 4 hiến pháp”. Ai cũng biết đó là điều khoản trong hiến pháp, dành cho đảng Cộng Sản Việt Nam nhiều độc quyền:

    - Độc quyền hoạt động. Nghĩa là ở Việt Nam không thể có một đảng chính trị nào khác ngoài đảng Cộng Sản.

    - Độc quyền hoạt động đưa tới độc quyền cai trị. Không có đảng phái nào cùng cầm quyền, tranh quyền, bất hợp pháp hay hợp pháp, với đảng Cộng Sản VN.

    Khi độc quyền cai trị, đảng CSVN đặt ra những luật lệ để bảo vệ quyền lợi của đảng hay quyền lợi “giai cấp đảng viên” hay cho chính đảng viên.

    Ví dụ: Ngân sách quốc gia, tài sản quốc gia, kinh tế tài chánh quốc gia được dùng để phục vụ đảng, “giai cấp đảng viên” hay cho chính đảng viên.

    Ngân sách quốc gia không thể có điều khoản nào dành cho đảng xử dụng. Nói rõ hơn là đảng viên, nếu không làm việc cho chính phủ, chính quyền thì không được lảnh lương do “nhà nước” trả. Lương trả cho người làm việc cho chính quyền, không phải trả cho đảng viên.
    Đảng Cộng Sản muốn có cơ sở để sinh hoạt, hoạt động, muốn có phương tiện di chuyển, v.v... phải tự lo liệu lấy, không thể lấy công ốc, xe cộ, tàu bè, giao cho đảng hay đảng viên xử dụng. Các phương tiên kinh doanh, thuộc quốc doanh hoặc tư doanh. Các công ty, xí nghiệp quốc doanh không có nghĩa là đảng sở hữu nó hay đảng hưởng lợi do nó đem lại. Nếu đảng có cơ sở kinh doanh, cơ sở đó coi như thuộc về tư nhân, đoàn thể.

    Nói cho đúng với thực tế lịch sử, cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam đã giải phóng một số người. Những người được giải phóng là ai, số lượng là bao nhiêu người.

    Sau khi “Việt Minh cướp chính quyền” (danh từ thường dùng trong sách báo thời kỳ ấy) năm 1945, ban đầu, vì tình hình chính trị phức tạp, thế lực Cộng Sản Việt Nam (CSVN) còn yếu, các đảng phái Quốc Gia còn nguyên vẹn lực lượng, chưa bị CSVN đánh phá, thủ tiêu, giết chóc... quân Tầu Tưởng chiếm đóng phía Bắc vĩ tuyến 16, quân Pháp theo chân Anh trở lại miền Nam VN, dân chúng Nam bộ đứng lên chống Pháp (Nam bộ Kháng chiến), nên CSVN không dám ngang nhiên tự xưng họ là Cộng Sản. Họ núp dưới chiêu bài “giải phóng dân tộc”, dưới cái áo kháng chiến chống Pháp gọi là Việt Minh và cuộc xung đột giữa Việt Minh và Pháp xảy ra trên toàn bộ đất nước ngày 19 tháng 12 năm 1946.

    Cuộc chiến đấu nầy gồm nhiều thành phần dân tộc: Trí thức, tư sản, tiểu tư sản thành thị, địa chủ, phú nông, trung nông, tiểu nông, vô sản thành thị và vô sản thôn quê...

    Sau cái gọi là “chuẩn bị tổng phản công”, sau đại hội đảng CSVN lần thứ 2 tại Việt Bắc, bấy giờ thế lực đảng CSVN đã mạnh hơn, dần dà họ loại ra khỏi hàng ngũ Việt Minh những thành phần dân chúng mà CSVN không thể chấp nhận sự có mặt của họ trong hàng ngũ Việt Minh. Sau bốn, năm năm chiến đấu, CSVN đã đào tạo được một tầng lớp cán bộ chỉ huy lãnh đạo mới, gốc từ thành phần vô sản.

    Những ai thuộc trí thức, tiểu tư sản thành thị, phú nông, trung nông thậm chí cả tiểu nông đều bị “biên chế”. Trong hàng ngũ Việt Minh chỉ còn lại thành phần vô sản thành thị, vô sản thôn quê, tức bần nông, cố nông, v.v...

    “Biên chế” là một hành động của CSVN nhằm loại trừ thành phần không phải là vô sản ra khỏi hàng ngũ Việt Minh, kiện toàn và phát triển tổ chức đảng của họ.

    Trong đường hướng đó, cái gọi là “Cải Cách Ruộng Đất” đã được CSVN cho thi hành.
    Cải cách ruộng đất là cái gì?

    Là xóa bỏ văn hóa phong kiến, triệt tiêu các thành phần “phản quốc, phản động, bóc lột”, gồm Việt gian, cường hào các bá, đảng phái đối lập, địa chủ, phú nông...

    Chiến dịch nầy do đảng CSVN thực hiện vào các năm 1953, 54 nhằm tịch thu tài sản, ruộng đất của các thành phần nói trên để chia cho bần nông, cố nông. Hoạt động nầy có sự cố vấn trực tiếp của cán bộ Tầu Cộng, nhằm mục đích tiến lên xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
    Trong quá trình phát động chương trình nầy, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ”.

    Sự thực, “chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ” chỉ là một cách nói với mục đích tuyên truyền của Hồ Chí Minh mà thôi.

    Chỉ với miền Bắc, có 810.000 hécta ruộng, 106.448 trầu bò, 1.846.000 nông cụ, 148.565 ngôi nhà được chia cho hơn 2 triệu hộ nông dân, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc.
    Giai cấp địa chủ hoàn toàn bị tiêu diệt.

    Theo Bernard Fall thì không thể biết chính xác con số, nhưng ít nhất khoảng 50.000 người bị giết và 100.000 người bị bắt giam. Đây là những người bị xếp vào loại “kẻ thù của nhân dân”, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ”.

    Nhà văn Trần Mạnh Hảo ở Hà Nội phát biểu: “Tôi nhận ra cái điều này cũng lâu rồi, mà nhận từ từ, bởi vì tôi đã đựơc chứng kiến cụôc Cải cách Ruộng đất ở ngoài miền Bắc mà gia đình tôi là nạn nhân. Tôi thấy nó rất là khủng khiếp. Tôi không hiểu cái chủ nghĩa gì mà nó chỉ có một biện pháp duy nhất là trấn áp người ta, mang người ta ra đấu tố và bắn bỏ người ta, mà không có xét xử công minh, cũng không có bằng cớ gì cả.”

    Sau đó, Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo CSVN đưa ra chính sách sửa sai.

    Mao Trạch Đông từng nói: Khi muốn uốn cong một thanh sắt, ta phải uốn cho nó quá đà một chút. Khi thanh sắt đàn hồi, thì vừa đúng tầm ta muốn uốn. Cái sai của CSVN chỉ là việc uốn quá tầm một thanh sắt mà thôi. Việc quá tầm ấy là có chủ ý, không phải sai.

    Việc cải cách ruộng đất, thực chất là “xóa bỏ văn hóa phong kiến”, đánh đổ giai cấp thống trị, và thành lập “giai cấp thống trị mới” với một nền “văn hóa mới”.

    Có ba vấn đề cần phải tìm hiểu:

    1)- Văn hóa phong kiến là cái gì?
    2)- Giai cấp thống trị mới là những ai?
    3)- Văn hóa mới là cái gì?

    Giải thích:

    1)- “Văn hóa phong kiến”:

    Khi dùng danh từ “văn hóa phong kiến” là nói chung chung. Phong kiến có nghĩa là “phong tước kiến địa”. Chế độ “phong kiến” (phong tước kiến địa) xuất phát từ thời Tây Chu bên Tầu. Vua Chu phong đất đai cho bà con để thành lập các nước chư hầu. Chế độ này gần giống chế độ phong đất cho bồi thần bên châu Âu nên người ta đã dùng chữ “phong kiến” để dịch chữ féodalité từ tiếng Pháp. Thông thường chế độ phong kiến châu Âu là cha truyền con nối.

    Các địa chủ phong kiến nắm quyền sở hữu phần lớn ruộng đất (gồm cả sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước) và tiến hành bóc lột địa tô.

    Từ nền kinh tế đó, xã hội bị phân hóa thành những giai cấp và đẳng cấp khác nhau. Về chính trị có thể là phân quyền cát cứ và tập quyền. Phong kiến phản ánh hình thức truyền nối và chiếm hữu đất đai của chế độ quân chủ chuyên chế. Chế độ phong kiến phản ánh một thời kỳ của chế độ quân chủ.

    Một số nhà sử học tỏ ý nghi ngờ hoặc phủ nhận sự hiện hữu của chế độ phong kiến phương Đông.

    Theo nhận xét như vừa trình bày ở trên, nước ta không thể có chế độ phong kiến. Đời Trần, chỉ vài quốc thích hay đại công thần như Đức Trần Hưng Đạo, được phong ấp, không phải lãnh địa như các lãnh chúa bên Châu Âu. Đức Trần Hưng đạo có đất ruộng và binh lính riêng của ngài, số binh lính nầy lập công lớn trong ba lần đại phá quân Nguyên.

    Khi ông Ngô Đình Cẩn cầm toàn quyền ở miền Trung, người dân gọi mỉa ông là lãnh chúa, với ý nghĩa tương tự như lãnh chúa bên Châu Âu. Nước ta chưa bao giờ có lãnh chúa như kiểu Ngô Đình Cẩn.

    Đã không có chế độ phong kiến, làm sao có “văn hóa phong kiến” như CSVN chủ trương.
    Nước ta, trước khi bị Tây đô hộ, từ thời nhà Nguyễn trở về trước, chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế. Các chế độ quân chủ chuyên chế, dựa trên Nho Giáo để cầm quyền. Nhà Nguyễn thì ứng dụng Tống Nho tích cực hơn, để bảo vệ ngai vàng.

    Trong viễn tượng đó, văn hóa xã hội Việt Nam, nhìn chung, từ trước khi giành được độc lập là “văn hóa Nho giáo”, giao hòa với đạo Phật, đạo Lão, thành ra “Tam Giáo”.

    Điều CSVN gọi là văn hóa phong kiến, thực chất nó là văn hóa tam giáo của người dân nước ta. Đó là cái CSVN triệt tiêu kể từ khi thực hiện cải cách ruộng đất.

    2)- “Giai Cấp Mới” thống trị xã hội là những ai?

    Xin đưa ra một ví dụ điển hình:

    Nhà văn Tô Hoài (năm 1954-1955, ông mới 34 - 35 tuổi), tác giả “Ba Người Khác” là một tiểu thuyết rất sinh động, làm người đọc tin vào những điều trần trụi, khốc liệt được lần lượt phơi bày trong tác phẩm.

    Tấn đại bi kịch hãi hùng về cải cách ruộng đất ở một xã đồng bằng Bắc bộ đã được nhà văn vẽ ra. Một vùng quê đang yên lành, bỗng chốc chìm ngập trong các cuộc đấu tố, tranh giành, oan khốc, đen tối và đẫm máu...

    Bối, đội phó Đội cải cách ruộng đất, kiêm chánh án. Hai người khác là Cự (đội trưởng) và Đình (cán bộ đội), cả ba không hiểu biết gì về nông thôn, nông dân, nhưng “được tiếng là đánh địch (địa chủ, phản động) giỏi, có thành tích” trong ba đợt cải cách ở Thanh Hóa, được cấp trên tin cậy, điều về “cải thổ” một xã ở Hải Dương, mới tiếp quản sau khi quân Pháp rút.
    Bối, Cự, Đình thực sự là ba gã bản chất lưu manh theo ba kiểu khác nhau. Khi về địa phương, họ bắt mối và tập hợp quanh mình các “rễ”, “chuỗi” u tối, toàn đui, què, mẻ, sứt, vô học và đầy lòng thù hận...

    Cả ba ông Đội tuy cùng trình độ văn hóa thấp, nhưng đủ khôn ranh để biết việc nào đúng, sai, tốt, xấu, lợi, hại. Vì sức ép thành tích, vô trách nhiệm, tham vọng quyền lực cá nhân, ham muốn thỏa mãn dục vọng, biết sai, xấu vẫn làm; biết dối trá, tội ác vẫn “vô tư” lăn xả… gây ra bao nhiêu bi thương, tang tóc cho làng xóm.

    Không bao giờ họ tỏ ra đau khổ hay sám hối. Mầm mống nhân tính đã bị chính những người như họ tiêu diệt

    Chuyện tình dục tội lỗi được kể bằng thứ ngôn ngữ chính xác, khoái cảm hả hê, tâm đắc. Chỉ với 250 trang sách mỏng, những cảnh hoang dâm, quần dâm diễn ra thường xuyên, mọi lúc mọi nơi: Ba anh Đội: Cự, Bối, Đình thay nhau, nhường nhau làm tình các nữ dân quân, bần cố nông “rễ, chuỗi”: Đơm, Duyên… bất kể ban đêm, ban ngày, trước, sau lúc hội họp, lúc đấu tố; làm tình ngay bụi cây bên đường làng, bên đống rạ trong sân; làm tình cô Đơm trước người mẹ tàn tật, làm tình cô Duyên bên ông bố điếc; Đội Bối quần dâm với nhiều nữ dân quân trong một đêm ở lán gác…

    Bọn vô sản nầy, bất cứ hoàn cảnh nào, cũng như lũ cuồng dâm vồ nhau làm tình, không hề từ tình cảm mà chỉ từ động dục, đổi chác, lợi dụng nhau... giữa làng xã tiêu điều, đói khát, oan khốc, đấu tố tùy tiện. Viết về tình dục và dâm đãng để tạo ra sự rùng rợn về một loài kinh tởm hơn cầm thú và man di mọi rợ chưa từng có trong xã hội loài người.

    Bọn họ là những nhân vật tội đồ hoàn hảo nhất từ trước tới nay trong văn chương Việt Nam. (theo Trúc Anh)

    Tuy nhiên bọn họ, sau cải cách, sau sửa sai, vẫn tiếp tục được thăng quan tiến chức, hưởng ngập mặt những bổng lộc, quyền lợi, nhờ cải cách ruộng đất, và đến tận cuối đời, chứng khôn ranh vẫn nguyên vẹn, vẫn thu hút được quanh mình đủ loại “chuỗi, rễ” đời mới, là chưa hiểu hết cái sâu xa, cái vô cùng của tác phẩm.

    Căn cứ vào những số liệu ghi trên, có thể chúng ta có một con số như sau:

    Hơn hai triệu nông dân được chia 810.000 hécta ruộng 106.448 trầu bò, 1.846.000 nông cụ, 148.565 ngôi nhà.

    Nếu tính trung bình mỗi gia đình có 4 người (hai vợ chồng, hai con) thì có 8 triệu người được “giải phóng” khỏi ách thống trị của địa chủ và “giai cấp bóc lột”.

    8 triệu người được giải phóng trên tổng số dân Bắc Việt Nam hồi đó là bao nhiêu? Hai mươi triệu là cao nhất.

    Con số đó không nhỏ.

    Sau khi được “giải phóng”, bước lên “giai cấp thống trị”. Họ cầm quyền từ thôn ấp, lên tới quận tỉnh và trung ương. Thôn ấp tỉnh quận thì có những người như trong “Ba người khác” như Bối, Đình, Cự, những nhân vật điển hình khác như thị Mịch, thị Nở, thị Dậu, chí Phèo. Trung ương thì có Đoàn Duy Thành, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, v.v...

    8 triệu người đó, sinh con đẻ cháu, v.v... bây giờ lên tới con số là bao nhiêu triệu người? Cha mẹ thuộc giai cấp thống trị, con cái có thuộc giai cấp bị trị được hay không?

    Sau 1975, bao nhiêu người trong số “đảng viên, cán bộ vô sản” nầy được CSVN “chi viện” cho miền Nam. Số “chi viện” nầy hiện ở đâu? Saigon, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang và các tỉnh, quận khác?...

    Thử tính nhẩm, con số chi viện nầy là bao nhiêu? 5 triệu, 7 triệu. Có người quen nói với tôi là 10 triệu. Vào Nam, bọn nầy sinh đẻ thêm bao nhiêu nữa?

    Tính chung, từ Bắc chí Nam, tầng lớp gốc vô sản nầy cũng như “rễ”, “chuổi” của nó cầm quyền cai trị khắp nước.

    Đặc điểm của “giai cấp mới” là “văn hóa mới”, “văn hóa xã hội xã hội chủ nghĩa”, là “đạo đức chủ nghĩa xã hội”, là “đạo đức cách mạng.”

    Nói thì nhiều văn hóa, đạo đức như thế nhưng trong thực tế, bọn chúng không có gì hết. Hồ Chí Minh nói: “Muốn có đạo đức xã hội chủ nghĩa thì phải có xã hội chủ nghĩa.”

    Ta thấy có hai vế trong câu nói của Hồ Chí Minh.

    Một là xã hội chủ nghĩa phải có trước.

    Sau mới có đạo đức xã hội chủ nghĩa.

    Nếu không có xã hội chủ nghĩa thì sẽ không có đạo đức xã hội chủ nghĩa. Bao giờ thì có xã hội chủ nghĩa để có đạo đức xã hội chủ nghĩa? Bây giờ thì chưa có xã hội chủ nghĩa nên đạo đức xã hội chủ nghĩa cũng chưa có. Có nghĩa là xã hội VN bây giờ chưa xây dựng được xã hội chủ nghĩa nên chưa có đạo đức. Không bao giờ xây dựng được xã hội chủ nghĩa nên cũng không bao guờ có đạo đức xã hội chủ nghĩa.

    Hiện thời chúng ta thấy:

    Chủ nghĩa Cộng Sản là một chủ nghĩa “đấu tranh giai cấp”. Muốn có “đấu tranh giai cấp” phải có “hận thù giai cấp”. Nó có nghĩa là không có “hận thù giai cấp” thì không thể đấu tranh giai cấp được.

    Trong ý nghĩa đó, nói chung xã hội VN bây giờ là xã hội thù hận.

    Khi còn ở ngoài Bắc, “thù hận giai cấp”, có nghĩa là thù hận địa chủ, trung nông, phú nông. Ở thành thị thì “thù hận giai cấp” là thù hận tiểu tư sản thành thị, giai cấp tư bản, đại tư bản, trí thức, thù hận người thành thị, v.v...

    Sau 1975, ai là người miền Nam không bị người miền Bắc vào “chi viện” thù hận?

    Tư sản, tư bản, tiểu tư sản thành thị, nông dân miền nam có ai nghèo, có ai vô sản để khỏi bị thù hận?

    Trong hai mươi năm chiến tranh, miền Bắc xơ xác tiêu điều, đói ăn thiếu mặc... Ở miền Nam, có thấy “Mỹ Ngụy bóc lột” như “đảng và nhà nước tuyên truyền” đâu? Dân miền Nam, chúng nó có nhà cao cửa rộng, chúng nó có xe hơi nhà lầu, chúng nó cơm ngon, áo đẹp.... Ấy là đằng đằng thù hận lên cao!!!

    Đảng viên, cán bộ thấy mình là người có công với cách mạng, với đảng và nhà nước. Nếu không có giai cấp vô sản miền Bắc, làm sao có “giải phóng được miền Nam”?

    Đó là bệnh công thần, tức là đòi phải được đền bù, Thụ hưởng.

    Từ bệnh công thần, đẻ ra bao nhiêu bệnh khác nữa: Thù hận, tham lam, giành giật, ganh tỵ, ghen ghét...

    Thành ra, bây giờ có điều gì xấu mà đảng viên, cán bộ không làm, làm để thỏa mãn bệnh công thần, tính tham lam, lòng thù hận.

    Giàu có thì sinh ra hưởng thụ: Phải ăn ngon, ăn bổ, mặc đẹp, dâm dục, phải sang trọng, phải chứng tỏ sự giàu có,... Bây giờ, ở VN đừng nói tới lương tâm, bác ái, từ bi, hỉ xã, tu hiền, tu nhân tích đức. Tất là đều là “văn hóa phong kiến”, bị triệt tiêu sạch.

    Trong “nhật ký tháng 1-2009”, tạp chí Tân Văn số 28 tháng 11-2009, Hoàng Dược Thảo trích lại về thói xấu của “giai cấp mới” nầy như sau:

    “...

    “Xã hội Cộng Sản đã tạo ra rất nhiều “người khôn”, những cái khôn mà một người viết khác trong nước đã “nhận diện” ra làm bốn loại:

    - Thói gian lận:

    Từ điển tiếng Việt 1994 nhận định gian lận là “có hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc”. Dẫn từ điển cho chắc ăn thôi chứ nhắm mắt vào cũng thấy rõ người ta gian lận, dối trá thế nào, có khi còn thấy rõ hơn.

    Trong buôn bán, từ nửa lạng cà chua, dăm ba quả táo đến hàng tấn cá ba sa, hàng tấn xi măng sắt thép đều có thể bị cân điêu. Trong sản xuất thì bớt xén nguyên vật liệu, rút ruột công trình, làm hàng giả hàng nhái, gian lận giấy tờ sổ sách kế toán để moi tiền dự án bất chấp là dự án ODA hay dự án quốc gia, rút được tiền chia chác thì làm, không thì bỏ, bất kể chất lượng tốt xấu... Trong giáo dục thì trường trường lớp lớp đua nhau cho điểm vống lên, học sinh lên lớp hết để lấy thành tích, cán bộ có muốn có bằng thì có người đi học thay, dân tứ chiếng muốn có bằng thì mua, điểm thi thì tẩy xóa xin xỏ, giấy báo kết quả thì mạo điểm mạo danh, vào thi thì mang theo phao, cấm đoán thế nào cũng không xuể, cha mẹ thì chạy trường chạy lớp phờ cả người, nghĩ mà kinh... Về mặt xã hội thì kể không biết bao nhiêu ví dụ cho xuể. Trong văn hóa tư tưởng thì đạo văn đạo nhạc, đạo thơ đạo họa đủ cả, cũng chạy giải thưởng cho có danh, đánh bóng mạ kền cho sáng tên tuổi... Một phần không ít thanh niên học hành làm việc thì lười mà chỉ muốn có tiền nhanh, chỉ muốn tiêu xài xì tin, váy cộc chân dài tóc bờm dựng ngược, nay vũ trường mai nhà nghỉ.

    - Thói vô trách nhiệm

    Lại dẫn từ điển Việt 1994: Trách nhiệm: 1- phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả.

    Cứ theo như định nghĩa trên, cho tới bây giờ, hầu hết những kết quả không tốt đều chưa có đâu phải gánh chịu. Như thế là thói vô trách nhiệm.

    Nếu như trách nhiệm của mình chưa ba năm rõ mười thì ai ai cũng nghĩ rằng đó là trách nhiệm của người khác, ngành khác, của cơ quan khác. Phủi tay.

    Ngày trước, người ta bảo vệ cây ven đường bằng cách quét vôi quanh gốc. Lúc đầu người công nhân quét rất cẩn thận, nước vôi trắng vừa đủ, vôi không rớt xuống chung quanh. Càng về sau, nước vôi càng loảng, vôi tung tóe ra đường, cho tới một lúc họ gạch chéo vào gốc mấy cái, coi thế là xong.

    - Thói cơ hội chủ nghĩa. (diễn giải của SGN: Thói chụp thời cơ)

    Định nghĩa một cách đơn giản nhất, theo tự điển tiếng Việt 1994 là: 1- Quan điểm, chủ trương lợi dụng cơ hội, mưu cầu những lợi ích trước mắt và cục bộ, bất kể việc làm đúng hay sai. 2- Khuynh hướng tư tưởng-chính trị trong phong trào công nhân, chủ trương chính sách tùy thời, thỏa hiệp.

    Chủ nghĩa cơ hội là len lỏi, xâm nhập vào từng cá nhân, trở thành một thói xấu là thói cơ hội chủ nghĩa theo đó người ta bất chấp đúng sai, tùy thời thỏa hiệp, đón gió trở cờ để mưu cầu lợi ích cho riêng mình.

    Thói cơ hội chủ nghĩa đang biến dạng trái tim và tâm hồn tôi, anh, đang phá hoại niềm tin của chúng ta đối với những giá trị tinh thần cao đẹp.

    - Thói chí phèo

    Không cần phải dẫn định nghĩa, ai cũng hiểu thói chí phèo là gì. Chỉ nói thêm dân gian còn thêm một từ khác để chỉ thói xấu nầy, đó là từ “bầy hầy”.

    Thói chí phèo là do người ta nhờn với pháp luật và coi nhẹ một số những giá trị tinh thần, là thói xấu mà tôi, anh và chúng ta bây giờ có thể nhận rõ trong rất nhiều những hành xử hằng ngày. Dân gọi gọi những người mắc thói chí phèo; là những người đứt dây thần kinh xấu hổ, những dân ngụ cư ở phố hàng thớt.

    Thêm vào đó, để đạt được tham vọng, ham muốn, hưởng thụ, bọn giai cấp mới cấu kết với nhau, cấu kết với thành phần miền Nam cũ, tức là những kẻ bị gọi là “đấu hàng giai cấp”, với Việt Kiều hải ngoại về kinh doanh (tức là về kiếm ăn) điển hình như cha con Nguyễn Cao Kỳ, Kỳ Duyên... thì có một cuộc cách mạng hoa lài, hoa mẫu đơn, hoa hồng, v.v... nào có thể xảy ra?

    Bọn giai cấp mới “vô sản” không muốn có cách mạng. Bọn miền Nam “quì gối” trước CSVN, bọn Việt Kiều “về nước kiếm ăn” có muốn cách mạng xảy ra hay không? Để thiệt thòi quyền lợi chúng hay sao?

    Sau mấy chục năm bị “Giai cấp mới” cai trị, số địa chủ, phú nông, tiểu tư sản,... ở miền Bắc chẳng còn ai. Xã hội miền Bắc chỉ còn rặc một thứ vô sản là giai cấp mới mà thôi.

    Từ miền Bắc, sau 1975, “giai cấp mới” nầy vào “giải phóng” và thống trị xã hội miền Nam. Cũng tại miền Nam, “giai cấp mới” nầy nắm toàn bộ chính quyền từ xã ấp lên tới tỉnh, đô thị và Sài Gòn cũ.

    Trong tình hình đó, khi nào “cách mạng Hoa hồng” xảy ra ở Việt Nam?

    Khi mâu thuẫn xã hội hay chính xác hơn, mâu thuẫn của “giai cấp mới” trở nên sâu sắc!

    Mâu thuẫn đó, bao giờ cũng đặt căn bản về kinh tế. Người giàu giàu quá. Người nghèo nghèo quá! Người thừa thải, phung phí, người bới rác kiếm ăn không ra.

    Khi người nghèo quá nghèo. Khi người nghèo đông quá, nhiều quá, thì “bạo lực cách mạng” trở thành vô nghĩa. Người dân không còn biết sợ nữa, không còn sợ nữa. Nghèo đói quá, sẽ chết. Đứng lên đấu tranh, cũng chết. Đằng nào cũng chết, nên người ta phải đứng lên.

    Tuy nhiên, “mâu thuẫn giai cấp” như nói trên nảy sinh từ bọn chúng, từ bọn thống trị, từ “giai cấp mới” mà ra. Cách mạng từ chúng mà ra, từ những người nghèo khổ, bị bóc lột, bị đàn áp trong xã hội Việt Nam mà ra.

    Sự mâu thuẫn đó đã bắt đầu xuất hiện từ hiện tượng những người bất mãn với chế độ như Trần Độ, Huỳnh Minh Chính... từ những người đấu tranh cho dân chủ như Cù Huy Hà Vũ, Trương Hồng Sơn, Vi Đức Hồi, Lê Quốc Quân... từ giáo dân Cồn Dầu, Thái Hà, từ tín đồ Phật giáo Hòa Hảo... từ “dân oan khiếu kiện” từ công nhân biểu tình đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc...

    Cho tới bây giờ, những cá nhân, đoàn thể nầy chưa đoàn kết, chưa thống nhứt đường lối đấu tranh. Và nếu như so sánh với “giai cấp mới” lực lượng chống đối nầy chưa đông, chưa mạnh.

    Cách mạng chỉ có thể xảy ra khi những người bị áp bức, bóc lột, bị đày đọa phải đông hơn, nhiều hơn bọn thống trị.

    Cách mạng ở nước ta không thể phát xuất từ hải ngoại, khi họ đứng trên một nơi chốn an toàn để kêu gọi...

    Tuệ Chương Hoàng Long Hải
  9. Xin nói ngay, Ngô gia là dòng Ngô Đình, kể từ đời cha là ông Ngô Đình Khả kế đến các con ông. Hồ gia thì hơi rắc rối, kể từ đời ông Hồ Sĩ Tạo đến đời ông Nguyễn Sinh Huy, con ông Huy là Nguyễn Sinh Côn, tức Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, cho tới hiện nay là Vương Chí Nghĩa (con độc nhứt). Trong số 7 người con của Vương Chí Nghĩa có Vương Chí Việt hiện tu ở chùa Phật Quang vùng núi Dinh, Vũng Tầu, pháp danh là Thích Chân Quang.

    Họ Hồ sĩ nầy thiệt là lộn xộn, từ Hồ Sĩ Tạo đổi qua Nguyễn Sinh (Huy) rồi chia thành hai nhánh: Nhánh Vương Chí (Nghĩa) và nhánh Hồ Chí Minh, lại từ Hồ Chí mà sinh ra Nông Đức (Mạnh), con là Nông Quốc Tuấn, lại có Trần Phương, cũng là con Nông Đức Mạnh (1). Không rõ cái họ Hồ Sĩ nầy mai đây “biến thiên” ra cái họ gì nữa…

    Hồ Sĩ Tạo là ai?

    Hậu bán thế kỷ 19 có hai ông Hồ Sĩ Tạo, một ông quê ở Bình Định, một ông quê ở Nghệ An. Người đời gọi cả hai ông là “danh sĩ” (thứ thiệt). Hồ danh sĩ quê Bình Định không thấy người ta nói gì thêm, còn Hồ danh sĩ Nghệ An thì thật quả lắm trò ma quái. Nói cho thật là ma quái.

    Chuyện ma quái!

    Ônng Hồ Sĩ Tạo quê ở Nghệ An (2) đổ đầu thi hương, trường Nghệ. Đổ đầu thì gọi là đổ “giải nguyên”. Ông Tạo làm quan một thời gian ngắn thì cáo quan. Sau khi thực dân Pháp chiếm kinh đô, vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị) rồi Quảng Bình, xuống chiếu Cần Vương thì tình hình nước ta xáo trộn lắm. Người Pháp lần hồi chiếm đóng cả nước, giới sĩ phu nhiều người không chịu hợp tác với Pháp, không làm tay sai cho Tây, xin cáo quan. Dĩ nhiên, trong số sĩ phu đó, có cả hai ông danh sĩ họ Hồ.

    Trớ trêu là ông Tạo quê Nghệ An, tuy cáo quan nhưng lại là một người ăn chơi lịch lãm, ưa hát xướng. Xứ Nghệ có trò hát ví, ca trù rất nổi tiếng, là món giải trí của ông Hồ Sĩ Tạo. Ông làm gia sư cho nhà ông Hà Văn Cẩn, là cha cô Hà Thị Hy, và cũng vì môn giải trí đó mà ông có tư tình với cô Hy. Cô Hy đẹp, hát hay và múa đèn cũng rất giỏi, nên cô có tên tục là cô Đèn. Thế rồi cô Đèn có bầu. Cô Đèn lúc ấy đã 29 tuổi mà chưa có chồng. Ông Hồ Sĩ Tạo lúc ấy đã 23 hay 24 tuổi gì đó, đã có vợ, có con. Cô Đèn không thể làm bé ông Tạo được, không thấy nói lý do vì sao? Vì ông Tạo sợ vợ ghen? Vì gia thế ông Tạo không đủ sức cho ông nuôi thêm một bà vợ bé? Vì cô Đèn thuộc hàng “xướng ca vô loại”? (cũng có thể vì vậy mà lúc cô cặp với ông Tạo cô cũng chưa có chồng) hay vì cô lớn tuổi hơn ông Tạo, v.v… và v.v… không biết được!

    Nhưng tục lệ làng xã Việt Nam ngày xưa không khoan dung cho việc không chồng mà chửa, thường gọi là “chửa hoang” (không rõ cha thai nhi là ai?), nói lái “chửa hoang” là “hoảng chưa?”

    Ông Hồ Sĩ Tạo và cô Đèn không hoảng chưa mà hoảng thiệt, bèn tìm cho đứa bé trong bụng một người cha.

    Bấy giờ có ông già Nguyễn Sinh Nhậm, đã 70 tuổi, góa vợ, có một người con trai lớn, con của người vợ cũ, tên là Nguyễn Sinh Thuyết, đã có gia đình, ở riêng.

    Thế rồi có người đánh tiếng với ông Nhậm, ông “ừ” ngay. Ông già rồi, “nhân sinh thất thập cô lai hy”. Đỗ Phủ đã nói thế. Nay ông đang sống côn đơn. Nếu có người gần gủi, chăm sóc hôm sớm cũng đỡ cho ông lắm! Thế rồi họ làm một cái đám cưới nhỏ để che mắt dân làng, và cô Đèn mang cái bụng bầu, con của ông Hồ Sĩ Tạo mà về làm vợ ông già gần đất xa trời Nguyễn Sinh Nhậm. Ít lâu, cô Đèn sinh đứa bé trai, ông Nhậm đặt tên con là Nguyễn Sinh Sắc, là con trai của ông ta, như câu tục ngữ “Cá ai vô oi mình là cá của mình.” Con cá của ông Hồ Sĩ Tạo, vô tay ông Nhậm là cá của ông Nhậm.

    Chưa được bao lâu thì ông Nhậm qua đời. Khi cậu Nguyễn Sinh Sắc được 3 tuổi, cô Đèn cũng qua đời nốt. Mồ côi cả cha lẫn mẹ, Nguyễn Sinh Sắc về ở với anh là ông Nguyễn Sinh Thuyết.

    Khổ một nỗi là cái đám cưới nhỏ do ông Tạo, cô Đèn và ông già Nhậm bày ra để che mắt dân làng lại không che được ai! Cả làng có ai không biết là khi cô Đèn về với ông Nhậm, trong bụng đã mang sẵn cái bào thai con của ông Hồ Sĩ Tạo. Ông Thuyết cũng biết rất rõ giữa ông ta và đứa em cùng họ khác mẹ là không có bà con máu mũ gì hết. Nhất là vợ ông Thuyết, dĩ nhiên không vui gì khi chăm sóc và nuôi nấng một đứa gọi là em chồng lộn sòng như thế.

    May mắn cho đứa bé, là khi nó càng ngày càng lớn lên, học giỏi. Nó cũng được cha ruột của nó là ông Hồ Sĩ Tạo chăm nom, giúp đỡ.

    Ông Hồ Sĩ Tạo lo cho đứa con hoang của ông là có lý do: Các con của ông Hồ Sĩ Tạo hoang đàng, rượu chè, cờ bạc, chẳng ra cái gì cả, mặc dầu ông Hồ Sĩ Tạo thường tự hào về dòng dõi của ông: Hậu duệ ông Hồ Quý Ly. Khi Trương Phụ bên Tầu đem quân đánh dẹp nhà Hồ, dòng dõi họ Hồ có người chạy trốn vào Nghệ An, gốc gác của họ. Những người đó là tổ tiên ông Hồ Sĩ Tạo.

    Nếu cứ xét ngược lên như vậy thì ông Hồ Chí Minh cũng thuộc dòng dõi Hồ Quí Ly, mà tổ tiên ông Hồ Quý Ly thì gốc ở nước Ngu bên Tầu. Cũng bởi cái lý do đó mà khi lên làm vua, ông Hồ Quí Ly đặt tên nước là “Đại Ngu” (nước Ngu vĩ đại, không phải là “ngu lắm”).

    Người Tầu di dân có một cá tính đặc biệt. Định cư ở đâu, họ cho họ là người ở đó, không muốn liên hệ gì tới nước Tầu. Người Tầu Tân Gia Ba, họ cho họ là người Tân Gia Ba, thậm chí còn sợ liên hệ với nước Tầu lục địa. Người Tầu định cư ở Đài Loan tự cho họ là người Đài Loan, sợ “thống nhất” với Trung Hoa lục địa. Dòng dõi nhà Trần, nhà Hồ, và cả mấy ông Minh Hương sau nầy như Mạc Cửu, Phạm Phú Thứ, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản, Lý Văn Phức đều tự cho mình là người Việt Nam. Mặc Cửu, sau khi bình định và mở mang vùng Hà Tiên, bèn đem đất đó mà dâng cho chúa Nguyễn mà không dâng cho Bắc Kinh, nên ông được chúa Nguyễn phong làm khai quốc công thần.

    Tuy nhiên, những người Tầu Cộng Sản ở khắp thế giới thì lại khác. Hồi còn đi học ở Huế, năm1957, tôi từng ở chung nhà với một người Tầu, tên là Trần Cẩm Th., quê và sinh đẻ ở Hội An. Đêm đêm tôi thấy ông ngồi quay mặt vào tường mà không biết ông ta làm cái gì vậy. Sau nầy mới biết ông ta làm cái công việc Bắc Kinh dạy ông là “diện hướng tổ quốc”, tức là dạy không được quên tỏ quốc của mình. Đã là Cộng Sản thì ở đâu trên thế giới, không bao giờ được quên quê hương Tầu (Bắc Kinh) của mình.

    Nếu như đúng họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Nghệ An thuộc hậu duệ Hồ Quý Ly, thì ông Hồ Chí Minh là người gốc Tầu, Nông Đức Mạnh là người gốc Tầu, mà lại sinh sống khá lâu ở bên Tầu như ông Hồ Chí Minh, không biết hai cha con ông Hồ nầy có “diện hướng tổ quốc” như người Tầu từng ở chung một nhà với tôi như tôi đã nói trên kia hay không. Cái khác lạ của người Cộng Sản Tầu ở hải ngoại, tức là người Hoa kiều, tôi muốn nói ở trên chính là cái đó. Nó có nguy hiểm cho tương lai nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam hay không? Chắc là có chứ?

    1)- Trại Bò … Quan hệ lần thứ nhứt

    Ông Trần Đông Phong, tác giả “Việt Nam Cộng Hòa, Mười Ngày Cuối Cùng”, khi trả lời ông Tường Thắng, trên VNExodus, về Phạm Xuân Ẩn, tiết lộ rằng, nội tổ ông Phạm Xuân Ẩn làm nghề thợ bạc ở Hải Dương, được triều đình nhà Nguyễn gọi về Huế để phục vụ cho hoàng gia và vua quan.

    Kinh đô là nơi sinh hoạt của vua, hoàng gia và quan lại, thường có những nhu cầu đặc biệt, do đó, các thợ giỏi các nơi thường được triệu về kinh như trường hợp nội tổ ông Phạm Xuân Ẩn vậy.

    Cụ Vũ Văn Giáp, quê ở làng Phong Lâm, Hải Dương, làm nghề đóng giày, cũng được gọi về kinh để đóng giày ống, giày hạ và hia… Làng Phong Lâm có nghề thuộc da là nghề gia truyền của làng. Giày ống là loại giày như chúng ta thấy táo quân mang khi ông ta lên tấu trình trên thiên đình, còn giày hạ, thật ra chỉ là một loại giép da, mũi che kín nhưng gót thì bỏ trống.

    Để có phương tiện làm giày, hia… cụ Vũ Văn Giáp được vua Tự Đức ban cho một khu đất rộng ở làng Vạn Xuân, để nuôi trâu bò lấy da. Người Huế thường gọi nơi nầy là Trại Bò, - cũng có khi gọi là Trại Trâu – Trên Quốc Lộ 1, từ Huế ra Quảng Trị, sau khi qua khỏi cống Thủy Quan – có con sông nhỏ đưa nước vào thành nội -, gần tới cầu An Hòa, rẽ qua trái là tới Trại Bò.

    Cụ Vũ Văn Giáp là người quảng giao, trọng văn học, thường hay giúp đỡ những ai đến kinh đô nhưng gặp khó khăn. Trại Bò của cụ đông người lui tới. May mắn nhờ sẵn đất ruộng trồng cỏ là chính nhưng cũng trồng thêm lúa rau, có thịt trâu bò do mổ để lấy da nên cụ dễ giúp người khác. Trại bò cũng là nơi cụ sinh sống hằng ngày, đón tiếp các bậc sĩ phu, sĩ tử vào kinh đô để triều yết hay thi Hương, thi Hội, thi Đình.

    Do công việc của mình, cụ Vũ Văn Giáp quen biết hầu hết tầng lớp quan lại, từ vua cho đến hoàng thân quốc thích, cũng như các quan lớn, nhỏ trong triều.

    Tình hình hồi ấy, khi tới Huế, tìm được một nơi cư trú không dễ dàng gì. Phần đông tầng lớp sĩ tử, nếu không thuộc gia đình giàu có, không có thân thuộc để nhờ cậy, thường tìm đến Trại Bò của cụ Vũ Văn Giáp để xin giúp đỡ, tạm trú.

    Cụ Phan Bội Châu, sau khi đổ thủ khoa ở Trường Nghệ, vào Huế tìm đồng chí để hoạt động chống Pháp, đã từng lui tới và ở lại nhà cụ Vũ Văn Giáp nhiều lần. Do đó, cụ Phan Bội Châu và cụ Võ Bá Hạp, con trai của cụ Vũ Văn Giáp, trở thành đồng chí thân cận.

    Vậy mà có một điều, ít ai nói tới là khi cụ Nguyễn Sinh Sắc, từ Nghệ An, đậu cử nhân năm 1894 thi Hương ở trường Nghệ, sau vào kinh thi Hội thì cũng xin (1) “tạm trú” tại Trại Bò của cụ Vũ Văn Giáp.

    Vậy rồi cụ Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng chứ không đậu liền như những “sử da” Việt Cộng tán dốc.

    Với cụ Vũ Văn Giáp, việc thi hỏng nầy thật là đáng thương, và đáng tội nghiệp cho cụ Nguyễn Sinh Sắc, nhà nghèo, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhưng chăm học.

    Do đó, qua cụ Vũ Văn Giáp, với lòng hào hiệp, vã lại cũng ái mộ ông Hồ Sĩ Tạo là một danh sĩ nổi tiếng nên cụ xin với quan thượng thư bộ Lễ Ngô Đình Khả, và chánh chủ khảo Cao Xuân Dục xét lại cho ông Nguyễn Sinh Sắc.

    Cụ Ngô Đình Khả, nguyên là trưởng phòng thông sự cho tòa khâm sứ Pháp ở Huế, được Pháp đưa qua làm việc ở Nam Triều (Triều đình An-nam). Năm 1896 ông được phong Thái thường Tự khanh, chức Thương biện thuộc Cơ Mật Viện. Năm 1898 vua Thành Thái phong ông làm Thượng thư Phụ đạo Đại thần rồi đến năm 1902 thì thăng hàm Hiệp tá Đại học sĩ, coi như “quan đầu triều”, thế lực lớn lắm.

    Sau khi xét lại, không rõ cụ Ngô Đình Khả, cụ Cao Xuân Dục có bàn bạc với ai không mà cụ Nguyễn Sinh Sắc được đậu vớt. Tuy nhiên, có điều hơi rắc rối là có hai người cao điểm hơn cụ Sắc cũng rớt. Nếu vớt cụ Sắc thì phải vớt thêm hai người trước cụ. Một trong hai người trước cụ Sắc chính là cụ Phan Chu Trinh. Thành ra, thay vì hỏng, nhờ vớt cụ Sắc nên cụ Trinh cũng được vớt luôn trong kỳ thi Hội nầy.

    Để rõ hơn, xin độc giả xem đoạn trích dẫn sau đây:

    “Quốc triều khoa bảng lục là sách do Cao Xuân Dục, một quan đại thần của triều đình nhà Nguyễn, ghi lại tên họ, quê quán của tất cả những thí sinh thi đỗ các khoa thi Đình dưới thời nhà Nguyễn từ khoa Nhâm Ngọ (Minh Mạng thứ ba - 1822) đến khoa sau cùng năm Kỷ Mùi (Khải Định thứ bốn - 1919).”

    Sau đây tôi trich dẫn một số các tân đăng khoa:

    Chú thích:

    I - Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (thời nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng Nguyên, cao nhất là Bảng Nhãn, sau là Thám Hoa)

    II - Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân

    III- Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

    PB - Phó bảng

    Đời Thành Thái
    khoa Tân Sửu 1901

    Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân:

    1)- Nguyễn Đình Tuân
    2)- Ngô Đức Kế
    3)- Nguyễn Viết Thông
    4)- Nguyễn Đình Điển
    5)- Trần Văn Thống
    6)- Lê Ngãi
    7)- Nguyễn Duy Tích
    8)- Nguyễn Văn Tính
    9)- Nguyễn Văn Bân

    Phó Bảng:

    1)- Nghiêm Châu Tuệ
    2)- Vũ Tuân
    3)- Nguyễn Đình Hiến
    4)- Lê Đình Xản
    5)- Hoàng Đại Bỉnh
    6)- Đỗ Dương Thanh
    7)- Vũ Vĩ
    8)- Nguyễn Mậu Hoán
    9)- Phạm Ngọc Thụy
    10)- Nguyễn Xuân Thưởng
    11)- Nguyễn Sinh Sắc
    12)- Nguyễn Duy Thiện
    13)- Phan Chu Trinh

    Đời Thành Thái,
    khoa Giáp Thìn 1904

    II - Đệ nhị giáp tiến sĩ:

    1)- Đặng Văn Thụy

    III - Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân:

    2)- Trần Quý Cáp
    3)- Hoàng Kiêm
    4)- Huỳnh Thúc Kháng
    5)- Hồ Sĩ Tạo (quê Bình Định –tg)
    6)- Nguyễn Mai

    Phó Bảng:

    1)- Tạ Thúc Đĩnh
    2)- Hoàng Văn Cư
    3)- Nguyễn Đình Tiến
    4)- Nguyễn Tư Tái
    5)- Thân Trọng Ngật

    Ơn nghĩa thứ nhứt cụ Ngô Đình Khả ban cho cụ Nguyễn Sinh Sắc là vớt cho đậu phó bảng.

    Sau đó, cụ Nguyễn Sinh Sắc, sau khi thi đậu thì về quê để “phụng dưỡng mẹ cho tròn chữ hiếu.” Thật ra, các “sử da” Việt Cộng viết như vậy là viết ẩu vì khi bà Hà Thị Hy, tên tục là cô Đèn, lén lút ăn nằm với ông Hồ Sĩ Tạo có bầu, nhưng ông Tạo không cưới cô Đèn được bèn đem gả cho ông già Nguyễn Sinh Nhậm, góa vợ, đã 70 tuổi, lớn hơn cô Đèn 40 tuổi. Ông Nguyễn Sinh Sắc được 3 tuổi thì ông Nhậm qua đời, một năm sau, ông Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ.

    Tuy vậy, các “sử da” Việt Cộng nói rằng, sau khi thi đổ phó bảng năm 1901, cụ Sắc không chịu ra làm quan, về quê để phụng dưỡng mẹ. Mẹ cụ còn đâu mà phụng dưỡng?!!!

    Nói cho đúng, vào thời kỳ Tây mới đô hộ nước ta, nhiều người không chịu làm quan với Pháp, không chịu “theo Tây” nên cáo quan về hưu. Một số người khác, tuy thi đổ nhưng cũng không chịu “theo Tây”, không chịu ra làm quan. Đó là trường hợp các cụ Ngô Đức Kế, đệ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Tân Sửu (1901), cụ Phan Chu Trinh, phó bảng. Khoa nầy ông Nguyễn Sinh Sắc cũng như cụ Phan Chu Trinh đậu vớt phó bảng, cụ Huỳnh Thúc Kháng, đẹ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Giáp thìn 1904.

    Mãi bốn năm sau, có thể vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, cụ Nguyễn Sinh Sắc (bấy giờ đổi tên là Huy) xin triều đình bổ làm quan. Ông được bổ làm thừa biện bộ Lễ. Hai năm đi tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định. Sau khi làm thừa biện, ông được cấp nhà. Đó là ngôi nhà sát cạnh ty Thủy Lâm Huế, ngay ngã tư Anh Danh (ngã tư Mai Thúc Loan (ngang cửa Đông Ba) và Đinh Bộ Lĩnh (ngang cửa Thượng Tứ). Theo vài người bạn hiện ở Huế, ngôi nhà nầy vẫn còn.

    Khổ nỗi, cụ Nguyễn Sinh Sắc là một tay nát rượu, làm tri huyện chưa bao lâu thì chịu trách nhiệm về vụ đánh chết dân, trong khi say rượu. Nội vụ lại được bộ Lễ xét xử.

    Ngày xưa tội đánh chết người là nặng lắm, theo luật thì “đánh người thành thương, thương nhân trí mạng” phải đền mạng. Cụ Nguyễn Sinh Huy bị bộ Lễ điều tra, vua Thành Thái ra lệnh “trãm giam hậu”. Lại nhờ cụ Ngô Đình Khả giúp đỡ lần nữa nên chỉ bị cách chức và phạt 100 trượng, thay vì 100 roi. Phạt đánh bằng trượng thay vì roi là có hậu ý. Trượng là đánh bằng gậy, bằng côn. Người thi hành án đã được dặn trước, đánh sao cho đầu cây côn gõ xuống ván đánh cộp một tiếng, tưởng như là mạnh lắm, nhưng cây côn chẳng đụng vào đít người bị phạt. Nếu không dùng cách ấy mà đánh thẳng tay thì cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tan xương nát thịt rồi.

    Sau khi bị cách chức, cụ Nguyễn Sinh Sắc lưu lạc vào nam, có người con gái là bà Nguyễn Thị Thanh (hiệu Bạch Liên) đi theo chăm sóc cho cha một thời gian thì về quê. “Ngoài ra, theo ông Huỳnh Hữu Hiến kể cho anh em chúng tôi nghe thì sau khi tha, ông Nguyễn Sinh Huy gởi lại các con cho cụ Vũ Văn Giáp chăm sóc giùm. Các người con nầy, “tạm trú” ở Trại Bò những mấy năm, đến khi không còn hy vọng ông Nguyễn Sinh Huy quay trở lại đón họ nữa, thì họ bèn xin phép cụ Vũ Văn Giáp rời Trại Bò để về quê ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.” (Trích từ “Chuyện bên lề lịch sử”, cùng tác giả.)

    Cần nói thêm cho rõ sự việc nầy: Khi vào kinh đô thi Hội, ông Nguyễn Sinh Sắc đã 30 tuổi, có vợ và 3 con là bà Nguyễn Thị Thanh (hiệu Bạch Liên), Nguyễn Sinh Khiêm tức cả Khiêm (nói trại là cả Khơm. Ông còn có tên là Đạt) và cậu út là Nguyễn Sinh Côn, có khi gọi là Nguyễn Sinh Công, Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Sinh Cuông (theo thông tục, nói trại vì kỵ tên). Vợ ông Nguyễn Sinh Sắc là bà Hoàng Thị Loan, người làng Hoàng Trừu, thường gọi là làng Trừu, con cụ Hoàng Xuân Đường là thầy dạy ông Nguyễn Sinh Sắc mà cũng là cha nuôi ông Sắc khi ông còn đi học.

    Ông Nguyễn Sinh Sắc, như trên đã nói mang ơn cụ Vũ Văn Giáp rất nặng. Có khi ông cùng vợ con lưu trú ở Trại Bò. Chính vì ơn nghĩa đó nên sau khi vua Bảo Đại thoái vị, Việt Minh cướp chính quyền ở Huế năm 1945, bọn họ bắt giam cụ Võ Như Nguyện, là cháu nội cụ Vũ Văn Giáp và con cụ Võ Bá Hạp thì ông Cả Khiêm đến Huế yêu cầu Trần Hữu Dực, vừa thay ông Trần Công Khanh làm chủ tịch ủy ban hành chánh Trung Bộ, thả cụ Võ Như Nguyện ra. Sau đó, Việt Minh bắt giam cụ Võ Như Nguyện một lần nữa, sau khi ông Cả Khiêm đã về Nghệ An. Lần nầy, cụ Võ Như Nguyện phải trốn tù mới khỏi chết.

    Nếu gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc không mang ơn cụ Vũ Văn Giáp làm sao có việc can thiệp của ông cả Khiêm với cụ Võ Như Nguyện?!

    2)- Bỏ tù ông Ngô Đình Diệm, quan hệ lần thứ hai:

    Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông Ngô Đình Diệm bị Việt Minh bắt ở Quảng Ngãi, giải về Hà Nội. Theo ông Vũ Thư Hiên thì ông Diệm bị giam ở Bắc Bộ Phủ, ông Hồ Chí Minh giữ chìa khóa phòng giam vì ông Hồ sợ các đồng chí của ông “manh động” mà nguy hại tới tính mạng ông Diệm. Tới bữa, ông Vũ Đình Huỳnh, thư ký riêng của ông Hồ, lên phòng ông Hồ lấy chìa khóa đem cơm vô cho ông Diệm. Sau đó chìa khóa phải trả lại chỗ cũ. Ít lâu sau, ông Hồ nói với ông Huỳnh và ông Lê Giản, giám đốc sở Liêm phóng, phải thả ông Diệm ra vì uy tín nhà họ Ngô lớn lắm, và ông chứng minh bằng câu “Đày vua không Khả”. Mặc dù ông Huỳnh và ông Giản không nhứt trí, nhưng ông Diệm vẫn được trả tự do.

    Theo ông Hoa Nhật Khanh (Việt Cộng) thì câu chuyện ông Ngô Đình Diệm bị bắt ở Hà Nội như sau:

    “- Thưa anh, tôi được biết ông Ngô Đình Diệm đã bị cách mạng địa phương bắt, đưa ra Hà Nội và bị giam ở 44- Lê Thái Tổ, tức tòa soạn báo Hà Nội mới bây giờ. Thế rồi, như tôi nghe nói thì ông ta trốn thoát, khiến tôi nghi vấn. Làm sao có thể trốn thoát nổi, tôi ngờ rằng có thể ta ngầm thả?

    “Nhật Hoa Khanh nói ngay:

    “- Thả chính thức, cái này cụ Lê Giản - Giám đốc Sở Liêm phóng (đặt trong Bộ Nội Vụ, chứ không tách riêng như về sau) hồi bấy giờ, đã có nói rõ. Theo Lê Giản, Bác hỏi: Bác có nghe ông Diệm đã bị bắt, cho Bác đến thăm. Ông ta dẫu gì cũng là người Việt Nam, thân phụ ông ấy là Ngô Đình Khả, làm đến thượng thư triều đình Huế nhưng đã từ quan vì thấy rõ nó nát rữa. Thân phụ Bác cũng từ quan (???!!!), các cụ có biết nhau. Sau khi đưa Bác đến 44 Lê Thái Tổ, ông Giản ở ngoài. Chỉ nghe Bác dặn lúc chào tạm biệt: Ngô Đình Diệm làm đến quan đầu triều, chỉ vì đòi thống nhất Nam kỳ vào Bắc và Trung kỳ, nhằm thu hẹp quyền của 3 thống sứ Pháp vào 1 thống sứ tại Huế; đòi không được nên đã từ quan. Người như thế không thể đánh đồng với đám quan lại cũ thối nát. Vả lại, là quan lại cũ, nhưng đã từ quan, nên coi là dân thường. Mà dân thường thì mọi tầng lớp, mọi giới đều nằm trong Việt Minh, không phải là đối tượng của cách mạng nữa.”

    3)- Dời mộ ông Ngô Đình Khôi, quan hệ thứ ba.

    Ngô Đình Khôi (1885-1945) là con trai trưởng của ông Ngô Đình Khả. Nhờ là con quan phụ chính đại thần triều Thành Thái, ông Khôi được tập ấm khi còn nhỏ. Đời Duy Tân, ông được bổ nhậm làm việc ở Bộ Binh, sau làm rể thượng thư Nguyễn Hữu Bài, quê ở Quảng Trị. Năm 1930, ông được làm tổng đốc Quảng Nam.

    Sự quan hệ giữa cụ Phan Bội Châu, khi bị giam lỏng ở Bến Ngự với ông Ngô Đình Diệm, đưa tới việc ông Diệm là người được Kỳ Ngoại hầu Cường Để đang lưu vong bên Nhựt, chọn ông Diệm làm đại đại diện cho Kỳ Ngoại Hầu ở Huế. Từ điểm nầy, ông Ngô Đình Huân, con trai ông Ngô Đình Khôi có quan hệ với quân đội Nhựt khi quân đội Nhựt tới đóng ở Đông Dương. Ông Huân được chọn làm thư ký riêng và thông ngôn cho ông Yokoyama Masayuki, viện trưởng viện Văn hóa Nhựt tại Saigon. Cũng chính vì mối quan hệ nầy, năm 1943, thực dân Pháp đuổi ông Ngô Đình Khôi ra khỏi Nam triều, cho về hưu.

    Khi Việt Minh cướp chính quyền tháng Tám năm 1945, ông Phạm Khắc Hoè, tổng lý văn phòng “đức Kim Thượng” (tức vua Bảo Đại), nghe lời Tôn Quang Phiệt, đảng viên Cộng Sản, hiệu trưởng trường trung học Thuận Hóa, dạy học ở trường Khải Định, xúi vua Bảo Đại thoái vị để khỏi gây khó khăn cho Việt Minh. Ông Hòe đem chuyện vua Louis 14 trong cách mạng 1789 ở Pháp ra dọa, khiến ông Bảo Đại sợ hãi nên thoái vị. Một trong số những người chống thoái vị là ông Ngô Đình Khôi. Ông Khôi có chuẩn bị sẵn môt lực lượng là những người theo ông Ngô Đình Diệm và có Ngô Đình Huân, có thể yêu cầu Nhựt can thiệp, nếu cần.

    Vì lý do đó, cha con ông Ngô Đình Khôi cùng bị bắt với Phạm Quỳnh. Việt Minh giết cả ba người và chôn ở ga xe lửa Hiền Sĩ, trên sông Bồ, lấp bằng đất, không có mộ bia gì cả.

    Sau khi lên ngôi cửu ngũ, để bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên, anh em nhà Ngô cho chỉnh trang cái nghĩa trang gia đình nằm kế bên con đường đi lên Ngã ba Thánh giá, gần nhà ông bà Ấm, là nhà cha mẹ đức cha Nguyễn Văn Thuận, tên là đường Nguyễn Trường Tộ. Khu mộ nầy được sửa sang lại đẹp lắm.

    Bấy giờ thì anh em họ Ngô muốn đưa hài cốt anh cả là ông Ngô Đình Khôi và cháu đích tôn là ông Ngô Đình Huân về nghĩa trang nầy, cho sum họp một nhà. Biết bị giết ở ga Hiền Sĩ, nhưng đó là vùng đồi núi, biết chôn chỗ nào vì Việt Minh muốn mất dấu tích, không có mộ bia gì cả.

    Người Huế đồn rằng cụ Ngô có cho người liên lạc với chính quyền bên kia vĩ tuyến 17 bởi vì những người giết, người chôn đã tập kết ra ngoài đó. Chính quyền Cộng Sản Hà Nội tất biết ít nhiều việc ấy. Bấy giờ là lúc ban đầu, hiệp định Genève vừa mới thi hành, Hà Nội còn hy vọng chính quyền miền Nam cho tổng tuyển cử hiệp thương thống nhứt, hay gì khác nữa… Gạo đang được chở ra bán ngoài ấy, vụ gạo Ưng Bảo Toàn chưa đổ bể. Ngoài ấy liền trả lời, cho người hướng dẫn chỉ nơi chôn ba người vô một hố: Ông Ngô Đình Khôi, ông Ngô Đình Huân, ông Phạm Quỳnh.

    Nhờ việc tìm và bốc bộ cha con hai ông họ Ngô mà hài cốt ông Phạm Quỳnh cũng được bốc về luôn. Đúng ra, nếu nhạc sĩ Phạm Tuyên là người có hiếu thì nên làm bài hát ca ngợi cụ Ngô giúp đỡ trong việc bốc mộ nầy chớ sao lại làm bài hát ca ngợi “bác” Hồ, người chịu trách nhiệm trong việc giết học giả Phạm Quỳnh là bố đẻ nhạc sĩ Phạm Tuyên?

    Thế rồi đám ma to lắm, rước hài cốt cha con ông Ngô Đình Khôi về an táng tại nghĩa trang gia đình họ Ngô ở Phú Cam.

    Ông Ngô Đình Khôi, tuy chết rồi, nhưng các em cũng làm cho ông vui vẻ lắm, “ngậm cười nơi chín suối” như người ta thường nói. Nhưng “người” ngoài Bắc thì được đền đáp lại cái gì?

    Ông Nguyễn Sinh Huy trước khi chết, có sinh được một người con trai với một người vợ rất trẻ, trẻ hơn cả Hồ Chí Minh. Ở Huế ít ai biết chuyện nầy, không rõ ông cụ Sắc có số đào hoa, có con nhỏ như thế. Tuy nhiên, bỗng dưng có lệnh từ phủ tổng thống, biểu ông quận trưởng Cao Lãnh, tỉnh Sadec lo sửa sang phần mộ cụ Sắc, xây lăng, dựng bia đàng hoàng.

    Có lệnh trung ương thì ông quận trưởng thi hành, không dám thắc mắc, không cần tìm hiểu rằng đây là hành động “ơn trả nghĩa đền” của anh em họ Ngô đối với việc được chỉ ra nơi chôn dấu cha con ông Ngô Đình Khôi.

    4)- Cành đào, quan hệ thứ ba.

    Người Huế không biết chuyện Tết Nguyên Đán năm 1956, ở miền Bắc ông Hồ chí Minh có nhờ Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến mang một cành đào Nhật Tân khá lớn đem vào biếu ông Ngô đình Diệm. Chuyện Hiệp thương Thống nhứt Nam Bắc không thành nên người ta thấy quan hệ hai bên vĩ tuyến ngày thêm khó khắn. Lâu lâu, có người vượt tuyến vào Nam như ông Lã Huy Quý, có tới rạp ciné Morin nói chuyện với đồng bào, phê phán chế độ ngoài ấy.
    Sau tết Canh Tý năm 1960, có một tin đồn khác, là hôm tết vừa qua, “cụ” Hồ, qua ngã Hồngkông gởi biếu “cụ” Ngô một cành đào. Lý do, năm nay là năm tuổi “cụ” Ngô. “Cụ” sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901. Người ta suy nghĩ theo cách thông thường, các ông già ngày tết, năm tuổi thì mừng tuổi nhau. Chỉ có ai sâu sắc, không mấy tin người Cộng Sản mới nghĩ tới cái “âm mưu” đằng sau việc biếu cành đào đó của ông Hồ Chí Minh mà thôi.

    4)- Họp bí mật năm 1963, quan hệ thứ tư

    Những người làm chính trị (không phải làm cách mạng) thường lắm âm mưu. Làm việc với nhau, đi với nhau, liên minh với nhau nhưng không mấy khi tin tưởng nhau, e dè nhau và cũng có khi đâm lén nhau.

    Ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu biết như thế. Hai ông ấy có làm như thế không?

    Vậy nên khi liên minh với Mỹ, nhận viện trợ Mỹ, hai ông nầy có nghĩ tới việc một ngày nào đó, phải bắt tay với Cộng Sản, đâm sau lưng Mỹ. Các ông ấy có nắm sẵn những đầu mối giây để với tới Hà Nội?

    Có đấy, và vì thế nên họ “nuôi” Phạm Ngọc Thảo?

    Ban đầu, ở Huế ít ai biết hay để ý đến chuyện ông Phạm Ngọc Thảo. Ông ở tuốt trong Nam. Ông giám mục Ngô Đình Thục cũng ở tuốt Vĩnh Long. Việc “cha nuôi, con nuôi” của họ với nhau, có dính dáng gì tới người Huế đâu.

    Mãi đến khi ông Phạm Ngọc Thảo lên tiếng trên đài BBC, phê phán nhà Ngô, người ta mới trách cứ ông giám mục Ngô Đình Thục, “nuôi ong tay áo”, nuôi thằng Cộng Sản để nó nói bậy làm loạn. Ấy là lúc người ta còn cảm tình ít nhiều với nhà Ngô. Chỉ có vậy thôi. Ngoài việc ấy, khi chế độ nhà Ngô còn, ông Phạm Ngọc Thảo chưa tham gia đảo chánh, sinh hoạt chính trị, nên ngưòi ta cũng không biết đến ông ta nhiều.

    Hồi ấy người ta cũng không biết gì về Mã Tuyên, thủ lãnh Thanh niên Cọng hòa Quận 5. Chuyện Thanh Niên Cộng Hòa là việc gây phiền phức cho mọi người. Nhìn quanh Huế, người ta đã thấy mệt, chướng tai gai mắt, nhất là với “Thanh Nữ Cộng Hòa” kiểu mặc “áo hở cổ như người Hời” của bà Nhu, mấy ai biết gì tới Mã Tuyên, tuốt trong Chợ Lớn. Mãi đến khi bị đảo chánh, anh em nhà Ngô trốn vào nhà Mã Tuyên thì người ta cũng đặt nhiều câu hỏi về nhân vật nầy:

    - Y là kinh tài của nhà Ngô, thu tiền “cống hỉ” của các tay “đại xì thẩu” ở Quận 5 để “Xuân Thu nhị kỳ” cho anh em nhà họ Ngô?

    - Té ra y là đầu mối để bắt tay với Cộng Sản! Với Tầu lục địa hay với Bắc Việt?

    Nói cho ngay, khi “cậu Cẩn” làm “cố vấn chỉ đạo miền Trung” thì đám “Cần Lao Công Giáo” có tụ tập quanh “cậu”, cậy thế, cậy quyền nhưng chưa lộng hành như sau nầy.

    Khi ông đức cha Ngô Đình Thục về làm tổng giám mục địa phận Huế, tuy giữ chức đạo, nhưng ông làm hết việc đạo việc đời: Cho người nầy người kia giữ chức vụ nầy chức vụ nọ trong chính quyền, lo cho việc mở rộng “nước Chúa, dân Chúa”, cho nên đám khuyển mã cũng như mấy ông cha đạo lộng hành khắp nơi. Khuyến dụ, yêu cầu, bắt buộc người nầy người kia “rửa tội”, “theo đạo” như câu tục ngữ nói:

    “Theo cha có nhà mà ở,
    Theo đạo kiếm gạo mà ăn.”


    Đó là “ngàn năm bia miệng” đấy!
    Dân Huế bắt đầu chán ngán nhà Ngô
    . (2)

    Tham lam quyền lực làm cho anh em nhà Ngô thiếu lòng thủy chung. Khoảng năm 1956 hay 57 gì đó, tôi nhớ không chắc, Hồng Y Spellman đến thăm Huế. Bọn học trò Quốc Học và Đồng Khánh được lệnh ra đứng hai bên đường Lê Lợi cầm cờ quốc gia và cờ Công giáo (dù có theo đạo hay không, không cần biết, chờ khi xe hơi chở hồng y đi ngang qua thì phất cờ hoan hô. Do sự kiện nầy, người ta đồn đãi là chính nhờ thế lực ông hồng y nầy mà ông Ngô Đình Diệm được Mỹ chọn làm tổng thống. Thêm vào đó, năm 1957, khi ông Diệm qua thăm Mỹ, được ông Tổng Thống Mỹ Eishewnower đón tiếp rất trọng thể, nên nhiều người thấy khó hiểu khi biết anh em nhà Ngô nuôi dưỡng Cộng Sản để chờ khi bắt tay với ngoài kia. Làm như thế thì không những thiếu thủy chung, mà lỡ khi Mỹ cúp viện trợ thì lấy chi chống Cộng. Dù theo đạo nào, Phật Giáo hay Thiên Chúa, người ta đều sợ Cộng Sản Bắc Việt cả.

    Cũng vì vậy, khi vụ đàn áp Phật Giáo xảy ra kể từ biến cố đài Phát Thanh Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963, người ta truyền nhau câu đồng dao sau đây với nỗi lo sợ:

    Nguyễn đi thì Nguyễn lại về,
    Giặc đánh Bồ Đề thì giặc tự tan.
    Có người đủng đỉnh bên giang
    Bắt cầu đuôi chuột mà sang trị vì!


    Những người biết ít nhiều về lịch sử thì giải thích rằng bến Bồ Đề ở bên bờ sông Hồng, nơi Trần Cao nổi loạn rồi bị bắt. Bồ Đề cũng là bản doanh của Lê Lợi, nơi Nguyễn Trãi viết thư cho Vương Thông gọi Vương ra hàng. Tuy nhiên, nhiều người nghĩ rằng đánh Bồ Đề là đàn áp Phật giáo. Giặc là anh em nhà Ngô. Nhà Ngô sẽ tự sụp đổ. Nhưng Nguyễn đi thì Nguyễn lại về là ám chỉ ai? Có phải Tôn Thất Đính đang làm tư lệnh Quân Đoàn 3 kiêm tổng trấn Sài Gòn Gia Định, vừa xin nghỉ bệnh, lại trở về nắm quyền hành trở lại. Tuy nhiên, khi đọc câu 3 và 4 thì người ta lại sợ. Đủng đỉnh là dáng đi của Hồ Chí Minh. Cuối năm Tý (đuôi chuột) Hồ sẽ vượt qua cầu Bến Hải mà trị vì miền Nam Việt Nam. Chỉ có ai là Cộng Sản mới muốn như thế.

    Người ta cho đó là sấm, nhưng mấy câu đó không có trong sấm Trạng Trình. Vậy thì nó từ đâu ra? Không có câu trả lời!

    Đến khi việc ông Ngô Đình Nhu giả bộ đi săn để lén lút gặp đại diện của Hồ Chí Minh ở trụ sở Ủy Hội Quốc Tế Giám Sát Đình Chiến, ở Võ Đắt Võ Xu hay ở Đà Lạt đồn về tới Huế thì người ta biết như vậy là số phận nhà Ngô sắp xong. Người Huế, tâm lý chung, không ưa Mỹ vì người Mỹ cũng mắt xanh mũi lõ, trông không khác mấy với người Pháp đã cướp nước ta, đàn áp Phật Giáo là tôn giáo đa số người Huế, nhưng người ta cũng biết họ cần phải có người Mỹ vì không có Mỹ, không đủ sức chống Cộng. Họ cũng sợ Cộng Sản như bao nhiêu người miền Nam Việt Nam vậy.

    Sau ngày 20 tháng 8, tiếng la, tiếng thét, tiếng chuông, tiếng phèn la, tiếng thùng thiếc vang dội cả một vùng giốc Nam Giao, chung quanh chùa Từ Đàm khi chùa bị quân Diệm Nhu tấn công thì người ta biết màn kịch nhà Ngô đang hạ xuống từ từ.

    Kết quả:

    Dĩ nhiên, sự phản bội đồng minh của nhà Ngô là cái chết của ba anh em: Diệm, Nhu, Cẩn.

    Sự đam mê quyền lực làm cho anh em Diệm Nhu trở nên thiển cận, chỉ muốn bảo vệ quyền lực của mình mà quên đi cái vị thế miền Nam trong cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Thế giới Tự do và Cộng Sản. Anh em nhà Ngô không thể đi trước, nếu Mỹ chưa bắt tay với Trung Cộng, 9 năm sau nữa khi anh em nhà họ Ngô qua đời.

    (kỳ tới: Thần quyền, thế quyền hay tham vọng tôn giáo?)

    hoànglonghải


    (1) Đài Loan loan tin cháu nội Hồ Chí Minh thăm Đài Bắc

    Tin Đài Bắc - Hồ Chí Minh có vợ con, không phải là chuyện bí mật đối với các sở tình báo Trung Cộng, Đài Loan, Liên Xô. Điều này đã được viết trong nhiều sách và tài liệu, mặc dù còn bị bưng bít ở Việt Nam. Trong tuần qua tờ Công báo Đài Bắc đã loan một tin cho biết cháu nội của Hồ Chí Minh thăm viếng Đài Loan, khi cho rằng Trần Phương là con ruột của Nông Đức Mạnh hiện đang làm trưởng uỷ hội dân tộc thiểu số, xử lý thường vụ quốc tế đã đến thăm đảo quốc này, mà báo chí Đài Loan gọi họ Trần là cháu nội của lãnh tụ Hồ Chí Minh một cách rất bình thản.

    Báo chí Đài Loan không để ý hoặc cố ý nhấn mạnh chuyện Nông Đức Mạnh là con ngoại hôn của Hồ Chí Minh, chỉ nói Trần Phương tới thăm Huyện Phủ Đài Bắc quan sát sự phát triển thành thị, và đã được Phó Huyện Trưởng Tăng Tham Bảo tiếp đón và giới thiệu kinh nghiệm phát triển của huyện Đài Bắc. Bài báo viết rõ ông nội của họ Trần là Hồ Chí Minh, lãnh tụ của đảng Cộng sản Việt Nam. Họ Trần tuyên bố vài năm gần đây, người ngoại quốc đầu tư tại Việt Nam như thương nhân Đài Loan tỉ lệ rất cao, và nói nhà cầm quyền Việt Nam đặc biệt chú ý đến ba hạng sản nghiệp như cơ giới, điện tử và nông nghiệp.

    Đối với hoàn cảnh đầu tư tại Việt Nam, cần chính phủ Đài Loan có lòng tin, và Trần Phương còn có ý muốn mời thủ trưởng huyện phủ Đài Bắc đến viếng thăm Việt Nam. Trần Phương đến Đài Loan lần này là lần thứ hai. Mới đây một người con khác của Nông Đức Mạnh là Nông Quốc Tuấn đã được đưa lên làm bí thư tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang, phụ trách công tác xây dựng Đảng. Đây là khu vực đã diễn ra cuộc biểu tình của hàng chục ngàn người chống lại công an, khi chúng lợi dụng quyền lực đã đánh chết một thanh niên tại địa phương chỉ vì lái xe không đội nón an toàn

    (2) Vốn dĩ Huế, cả mấy trăm năm nay, cả trước khi ông Gia Long đặt kinh đô ở Huế. Lịch sử kể về chúa Tiên đi mở cõi phương Nam, cho xây ngôi chùa trên đồi Hà Khê gọi là chùa Thiên Mụ năm 1601, Nguyên trước là chùa Thiên Mẫu (?) của người Chàm. Ấy là sự tích tiên khởi về kinh đô Huế.

    Lại nữa, lịch sử xây dựng kinh đô Huế gắn liền với lịch sử xây dựng các ngôi chùa và phát triển đạo Phật ở Huế, trong tầng lớp vua quan cũng như dân dã. Nhìn vấn đề như thế, đạo Phật thấm nhuần cả chiều rộng lẫn chiều sâu trong hàng vua quan và dân chúng Huế.

    Đạo Thiên Chúa đến Huế chậm hơn, ban đầu là lẻ tẻ một số cố đạo ngạo quốc, phần đông là người Bồ. Dần dần, việc truyền giáo mạnh mẽ và rộng hơn, nhất là vì mối quan hệ giữa vua Gia Long va giám mục Bá Đa Lộc, (Pignau de Behaine) và từ ảnh hưởng qua số linh mục và người người Pháp đã giúp đỡ và làm quan dưới triều Gia Long.

    Ở Huế, trong số những người lớn tuổi, người ta thường nhắc đến ông Bá Đa Lộc, các ông Tây làm quan triều Gia Long như ông Tín, tên Tây là Oliver de Puymanuel. Ông nầy qua đời trước khi Nguyễn Ánh lên ngôi. Ông Nguyễn Văn Chấn, tên Tây là Philippe Vannier. Ông Nguyễn Văn Trí, tên Tây là Marie Dayot. Ông Jean Baptiste Guillon, không có tên Việt (?). Ông Forcant, tên Việt là Lê Văn Lang. Ông Nguyễn Văn Mân, tên Tây là Laurent Basisy. Ông Nguyễn Văn Thắng, tên Tây là Jean Baptiste Chaigneau. Ông nầy có vợ Việt Nam. Ông làm quan qua đời Minh Mạng, nhưng thấy vua mới lạt lẽo nên xin trở về mẫu quốc, đem vợ con theo.
  10. Nguồn gốc ở đâu?

    Nguồn gốc của dân tộc Hán là ở phía Bắc Trung Hoa, thường gọi là vùng Hoa Bắc, phía trên sông Dương Tử. Dân tộc nầy có thể có liên hệ nòi giống đến các giống dân Mãn Châu hay Triều Tiên, không liên hệ gì đến Bách Việt, tức một trăm giống Việt ở Hoa Nam, vùng Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ.

    Vùng Bách Việt, trước khi Tần Thủy Hoàng tóm thâu lục quốc (220 tr. Tây Lịch), lập nên đế quốc Trung Hoa đầu tiên, không liên hệ gì đến Hán tộc cả.

    Năm 214 trước Tây Lịch, Tần Thủy Hoàng sai quân đánh chiếm Bách Việt nhưng thất bại, phải rút về.

    Năm 208 trước Tây Lịch, Triệu Đà đánh bại Thục Phán, chiếm đất Âu Lạc mà lập ra nước Nam Việt, gồm các tỉnh vùng Hoa Nam nói trên và vùng châu thổ sông Nhị Hà ngày nay.

    Đến đời vua Cao Tổ nhà Hán, sau khi đánh bại nhà Tần bèn muốn tóm thâu đất Nam Việt của Triệu Đà. Nhà Triệu kháng cự. Mãi đến đời vua cuối cùng nhà Triệu là Triệu Dương Vương mới bị Phục Ba Tướng Quân là Lộ Bác Đức của nhà Hán đánh thua chạy. Cuối cùng vua Triệu Dương Vương cùng với quan thái phó là Lữ Gia bị bắt và bị giết hại cả. Người Lạc Việt bị Bắc thuộc lần thứ nhứt từ đó, năm 111 trước Tây Lịch.

    Sau khi nước Tầu thống nhứt cả hai vùng Hoa Bắc và Hoa Nam, họ không chịu ở yên trong cương giới của họ. Các triều đại tiếp nối về sau thường đem quân “chinh tây, nam phạt” tức là xâm lăng các nước phía tây và nước ta ở phía nam.

    Chỉ cần đọc văn chương nước ta, chúng ta cũng có thể thấy điều đó.

    Mạnh được yếu thua!

    Lịch sử nhân loại cho ta thấy những nước lớn, những nước mạnh thường ăn hiếp, xâm lăng, chiếm đoạt đất đai tài sản những nước yếu, nước nhỏ. Việc hiếp đáp đó không chỉ xảy ra một lần mà nhiều lần, hết đời nầy tới đời khác, tạo nên những mối thù truyền kiếp. Các dân tộc nhỏ yếu bị hiếp đáp không bao giờ quên.

    Đó là trường hợp nước Nga với các nước chung quanh như Ba Lan, Ukraine, các nước trung Á như Uzbekistan, Kazakstan, v.v... Nước Tầu với các dân tộc chung quanh như Tân Cương, Tây Tạng, Mãn Châu, Triều Tiên, Việt Nam, v.v...

    Sau khi Liên Xô sụp đổ, người Ba Lan lật đổ chế độ Công Sản bù nhìn của Liên Xô, người Ba Lan đập phá khu nghĩa địa dành cho Hồng Quân Liên Xô làm “nghĩa vụ quốc tế” đã “hy sinh” ở Ba Lan. Ấy là cách người ta muốn nói lên mối thù truyền kiếp của người dân Ba Lan với nước Nga.

    Liệu người Việt Nam có mối thù đó với nước Tầu hay không, mối thù “một ngàn năm nô lệ giặc Tầu,...” như trong bài hát “Gia Tài của Mẹ” của Trịnh Công Sơn!

    Cũng như các nước lớn khác, người Tầu không bao giờ chịu “ở yên” trong cương giới của họ, có nghĩa là họ đem quân xâm lăng các nước chung quanh. Phía tây thì họ đánh phá các dân tộc Tân Cương, Mông Cổ, Tây Tạng... phía bắc thì đánh phá Mãn Châu, Triều Tiên, phía nam thì đánh phá nước ta.

    Đọc Chinh Phụ Ngâm Khúc, độc giả thấy rõ việc đó.

    Chinh Phụ Ngâm, (Đặng Trần Côn – 1715-1745 viết bằng chữ Nho, bà Đoàn Thị Điểm – 1705- 1748 - dịch ra chữ Nôm) là một “khúc ngâm” mô tả tâm trạng của một người đàn bà có chồng đi đánh giặc xa, lâu ngày chưa về.

    Một nét chung là nhiều tác phẩm văn học nước ta lấy bối cảnh bên Tầu. Điều đó chứng tỏ văn học Việt Nam ngày trước chịu ảnh hưởng văn học Tầu. Chịu ảnh hưởng chớ không nô lệ, không cúi đầu vâng theo, làm theo mà không có ý thức gì cả. Đó là trường hợp truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, và... Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn. Có dịp, tôi sẽ nói rõ hơn về các tính cách văn học nầy.

    Vì lý do như đã nói trên, đọc Chinh Phụ Ngâm Khúc (trước 1975, tác phẩm nầy được đưa vào chương trình Việt Văn của các lớp trung học) người đọc sẽ thấy tác giả nói tới nhiều địa danh bên Tầu và cũng nói tới không ít các ông tướng Tầu.

    Xin dẫn chứng.

    Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
    Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây


    Trước khi Tần Thủy Hoàng “tóm thâu lục quốc”, dựng nên đế quốc đầu tiên trong lịch sử Tầu, thì nước Tầu gồm nhiều nước nhỏ, từng bị các giống “rợ” từ phương bắc xuống đánh phá, nên nhiều nước ở phía bắc đã dựng nên các trường thành để ngăn giặc. Đó là Triệu trường thành, Yên trường thành, Tề trường thành, v.v...

    Sau khi lên ngôi, Tần Thủy Hoàng cho nối liền các trường thành nầy lại, sử gọi là “Vạn Lý Trường Thành” (thành dài vạn dặm), từ Sơn Hải Quan thuộc tỉnh Hà Bắc tới bán đảo Sơn Đông, biển Bột Hải.

    Xin nói một chút về công lao của Tần Thủy Hoàng trong việc xây “Vạn lý trường thành” nầy. Việc xây thành làm cho dân chúng phải sưu dịch rất gian khổ. Bệnh dịch và chết chóc đếm không hết. Thay vì đào hố đem chôn người chết, người ta chôn vào trường thành luôn. Ngày sau, có nhiều tác phẩm và truyền thuyết về những nỗi gian khổ nầy.

    Tuy nhiên, việc xây trường thành ích lợi không ít. Có trường thành, các giống “rợ” phương bắc quấy phá nước Tầu ít đi. Nhờ đó nên kinh tế, thương mại, xã hội nước Tầu mới phát triển mạnh lên.

    Trường thành hiện nay du khách thường đến xem chỉ là trường thành được xây từ đời nhà Minh, khoảng một ngàn năm sau trường thành cũ.

    Ví dụ câu:

    Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
    Dạ chàng xa ngoài cõi thiên san.


    Thiên san là do câu: “Thiên san vạn thủy” nghĩa là cách xa “ngàn núi vạn sông”, nghĩa là xa lắm.

    Thiên Sơn cũng có nghĩa là tên một dãy núi ở về phía tây-bắc nước Tầu, thuộc khu vực các nước Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tân Cương. Theo người Duy Ngô Nhĩ, núi nầy có nghĩa là núi trời, núi của thần linh.

    Theo nghĩa trong Chinh Phụ Ngâm, đây là nơi người chồng đi đánh giặc.

    Ví dụ câu:

    “Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử”

    Lâu Lan là “rợ” Lâu Lan mà cũng có nghĩa là thành Lâu Lan, phía nam Tân Cương, vị trí quan trọng trên “Con Đường lụa” (Còn có tên là con đường hồ tiêu) thời Hán Quang Vũ. Thành nầy nay đã hoang tàn.

    Giới Tử là Phó Giới Tử, danh tướng đời nhà Đường, có công đánh dẹp các “rợ” vùng phía tây nước Tầu.

    Ví dụ:

    Tới Man Khê bàn sự Phục Ba

    Man khê là tên người Tầu gọi nước ta ngày trước.

    Theo sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thì Phục Ba tướng quân là Lộ Bác Đức, người đem quân đanh nhà Triệu mà cũng là Mã Viện, tức Phục Ba tướng quân, người đánh bại hai bà Trưng và đặt nền đô hộ nước ta năm 43 sau Tây lịch.

    Ví dụ:

    Quân trước đã gần ngoài Doanh Liễu*
    Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dươn
    g

    Doanh Liễu là Doanh Tế Liễu, chỗ đóng quân ở Tế Liễu. (Doanh: Nghĩa tương tự như doanh trại). Tràng Dương: Kinh đô của nhà Tần.

    Câu:

    Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
    Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng


    Hàm Dương thuộc tỉnh Thiểm Tây, kinh đô nuớc Tần thời Tần Thủy Hoàng, nơi xây cung A-Phòng, lăng Ly Sơn. Hạng Vũ đã đốt cháy toàn bộ kinh đô nầy.

    Sông Tiêu đổ nước vào sông Tương. Sông Tương lại đổ nước vào Động Đình hồ. Thường gọi chung là Tiêu Tương

    Ông Thuấn được vua Nghiêu truyền ngôi và gả cho con gái cho là Nga Hoàng và Nữ Anh làm vợ.

    Vua Thuấn đi tuần thú đất Thương Ngô ở miền sông Tương không may bị bệnh chết. Hai người vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh (con vua Nghiêu) đi tìm vua đến bến sông Tương, ngồi bên bờ sông khóc lóc rồi trầm mình tự tử. Do đó, “giọt Tương” hay “mạch Tương” có nghĩa là nước mắt.

    Ví dụ câu:

    Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại
    Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua


    Bạch Thành tức là Bạch Đế Thành, thuộc tỉnh Cát Lâm bên Tầu, giáp với Nội Mông (Cổ) và Hắc Long Giang. Hắc Long Giang là biên giới giữa Tầu và Liên Xô cũ. Tên được đặt theo nghĩa của tiếng Mông Cổ.

    Thanh Hải tức là hồ Thanh Hải ở phía tây nước Tầu, giáp với Cam Túc, Tứ Xuyên, Tân Cương và Tây Tạng. Theo ý nghĩa của Chinh Phị Ngâm thì đây là nơi chiến trường giữa người Hán và người Hồ (dân tộc ở phía tay nước Tầu)

    Ví dụ:

    Tưởng chàng giong ruổi mấy niên
    Chẳng nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan


    Hãn Hải là một nhóm các hố, hồ muối nhỏ nằm giữa sa mạc Taklamakan và sa mạc Kuruktag thuộc phía đông Tân Cương.

    Tiêu Quan tức là Cổ Tiêu Quan là một cửa ải được xây vào đời nhà Đường để chống lại người Thổ Phồn thường xâm lăng nước Tầu.

    Ví dụ:

    Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò


    Non Kỳ tức Kỳ Liên Sơn, nhà Chu khởi nghiệp ở đây. Kỳ Liên Sơn cũng là nơi Hoắc Khứ Bệnh, danh tướng thời Hán Vũ Đế, đánh bại quân Hung Nô ở đây.

    Bến Phì là bến trên sông Phì Thủy, còn gọi là sông Bồ Kiên. Đây là nơi Tần giết gần nửa triệu quân Tấn, thây chết chôn thành gò, đống.

    Ví dụ câu:

    Phận trai già ruổi chiến trường
    Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về


    Ban Siêu, danh tướng đời Hán, đem quân đánh phá các nước ở Tây vực (phía tây nước Tầu) 31 năm, đến khi về thì đã hơn 70 tuổi, tóc đã bạc.

    Độc giả, ai đã đọc “Dấu binh lửa” của Phan Nhật Nam, có lẽ sẽ nhớ tới mấy câu thơ sau đây trong Chinh Phụ Ngâm:

    Dấu binh lửa nước non như cũ,
    Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
    Phận trai già ruổi chiến trường
    Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.


    Chàng Siêu tức là Ban Siêu tôi nói ở trên đấy!

    Hán Dương không thuộc phía tây nước Tầu mà thuộc thành phố Vũ Hán, bên sông Trường Giang (Dương Tử), trên con đường chính đi về phía Tây,

    Khi bà Đoàn Thị Điểm dịch “Hẹn nơi nao Hán Dương cầu nọ”, bà biết ở Hán Dương có cây cầu, đúng như nguyên bản “Hán Dương kiều.” Cầu nầy bắt ngang sông nào? Có lẽ ở sông Hán Thủy, nhỏ hơn sông Dương Tử. Mãi đến năm 1957, người Tầu mới dựng được cây cầu đầu tiên bắt ngang sông Trường Giang, để nối liền hai miền Hoa Bắc - Hoa Nam.

    Tìm chàng thuở Dương Ðài lối cũ
    Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa


    Sở Tương Vương nằm mộng thấy thần Vu Sơn ở Dương Đài. Tương Phố: Bến trên sông Tương (Xem lại Tiêu Tương ở trên)

    Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
    Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan!


    Ngọc Môn Quan là tên cửa ải trên đường đi về phía tây nước Tầu. Trần Huyền Trang khi qua Tây phương thỉnh kinh, phải đi qua cửa ải nầy.

    Máu Thuyền Vu, Quắc nhục chi
    Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn.


    Thiền Vu hay còn gọi là Thuyền Vu tức Hồ Hàn Tà là vua xứ Hung Nô. Vua Hán phải đem mỹ nữ Vương Tường mà gả cho chúa Thuyền Vu để tránh chiến tranh với Hung Nô. Đây là một đề tài trong văn chương Tầu cũng như Việt. Đời Trần thi nhân mượn đề tài nầy để phê phán việc vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để lấy đất hai châu Ô và Rí.

    Những người đi chinh chiến sống bằng nhiều hận thù. Câu hát trong bài “quốc ca” của Dziệt Cộng cũng có ý tưởng giống vậy: “Thề phanh thây uống máu quân thù”. Dã man quá!!!

    Bách Việt, ngoại trừ Lạc Việt, đều bị Hán hóa.

    “Tây chinh, Nam Phạt”... Đông tiến?

    Việc “tây chinh, nam phạt” của người Tầu thông thường vì hai lý do chính:

    - Một là sau khi thống nhứt, giàu mạnh, nước Tầu cần mở rộng ảnh hưởng của họ sang các nước chung quanh.

    - Thứ hai là để giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ của họ.

    a)- Xin đơn cử trường hợp vua Quang Vũ và Hán Vũ Đế để nói về trường hợp thứ nhứt.
    Sau khi Quang Vũ lên ngôi, nhà vua cần chỉnh đốn việc nội trị chưa muốn xâm lăng các vùng phía tây. Vì vậy, chính sách của nhà vua với Hung Nô hòa bình là chính. Bấy giờ, nội bộ Hung Nô cũng phân ly làm hai vùng nam, bắc. Cả hai vùng đều xin thần phục nhà Hán.

    Sau khi nội chính đã vững, vua Quang Vũ âm mưu gây bất hòa giũa hai vùng nam, bắc, xây đồn lũy dọc theo vùng biên giới giữa Hung Nô và Tầu.

    Mặc dù các “rợ” Hung Nô thần phục, nhưng Quang Vũ ra lệnh đóng các cửa ải, không cho dân chúng hai xứ qua lại, vì nhà vua lúc đó chưa muốn dòm ngó ra phía tây.

    Đời Hán Vũ Đế, Trương Khiên là danh tướng, được lệnh đem quân đánh chiếm các vùng phía tây, ổn định Tây vực, tới đến vùng Trung Á, mở ra “Con đường lụa” bắt đầu từ Bắc Kinh, Phúc Châu, Hàng Châu vượt qua Tân Cương, Mông Cổ, phía Bắc Ấn Độ qua Afghanistan, Iran, Ai cập, Thổ Nhĩ Kỳ, qua tới Hy Lạp, Châu Âu. Hàng hóa giao thương giữa hai bên là tơ lụa, hồ tiêu và vàng bạc.

    Nhà Hán rất mạnh về quân sự. Ngoài việc xâm lăng hướng tây, nhà Hán còn sai Mã Viện đánh phá quân hai bà Trưng. Sau khi hai bà tự vẫn năm 43 sau Tây lịch, Nam Việt lại bị Bắc thuộc lần thứ hai.

    b)- Một lý do khác để người Tầu đem quân xâm lăng các nước khác là vì họ muốn giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ của họ.

    Đó cũng là lý do chính xảy ra chiến tranh giữa nhà Tống bên Tầu và nhà Lý nước ta hồi thế kỷ thứ 11.

    Theo sử Tầu thì năm 1075, lần thứ hai Vương An Thạch được vua nhà Tống gọi về triều làm tể tướng.

    Vương An Thạch là người có nhiều sáng kiến, đưa ra nhiều chính sách cai trị mới, nhưng những chính sách của ông bị các quan trong triều và dân chúng chống đối dữ dội.

    Để ổn định tình thế nhà Tống lúc đó, Vương An Thạch chủ trương xâm lăng Đại Việt.

    Nếu thắng lợi, nhờ đó, nội bộ nước Tầu sẽ yên, việc chống đối của các quan trong triều cũng như dân chúng đối với “Tân pháp” của Vương An Thạch sẽ bớt đi.

    Biết được ý đồ xâm lăng của Tầu, Lý Thường Kiệt đem quân đánh nước Tầu trước (Tiên hạ thủ vi cường)

    Năm 1075, Lý Thường Kiệt cùng Tôn Đản đem quân đánh chiếm Khâm Châu và Liêm Châu. Quan quân nhà Tống không chống lại được phải xin viện binh.

    Sau đó, quân nhà Lý tiến lên chiếm Ung Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết cố thủ.

    Cuối cùng thành đổ, Tô Giám tự tử, 58 ngàn người trong thành Ung Châu bị giết.

    Năm sau, 1076, vua Tống sai Quách Quỳ đem một trăm ngàn quân cùng voi ngựa sang xâm lăng Đại Việt để trả thù.

    Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến sông Như Nguyệt, chận được đường tiến của quân Tống.

    Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp viện. Quân Nam lại tập kích, Quân Tống 10 phần chết đến 6, 7.

    Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Nam bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin “nghị hoà” để quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân. Triều thần nhà Tống cho rằng “Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào”.

    Đời Minh, Trịnh Hòa được lệnh tuần thám phương Đông, Đông Nam, đến tận Ấn Độ và Úc châu. Theo sử, Trịnh Hòa vượt biển tới Malacca vào thế kỷ 15. Đời Minh Tuyên Tông Trịnh Hòa cũng đã thực hiện một chuyến đi nữa, nhưng sau đó những chuyến đi tìm của cải của người Tầu chấm dứt.

    Những khu vực ở châu Á và châu Phi mà Trịnh Hòa đã thám hiểm, bao gồm: Đông Nam Á, Sumatra, Java, Tích Lan, Ấn Độ, Ba Tư và bán đảo Ả-Rập, Hồng Hải và Ai Cập, Mozambique ở châu Phi, Đài Loan và bắc nước Úc.

    Quyền lợi

    Dĩ nhiên, khi đem quân xâm lăng các nước chung quanh, người Tầu vì quyền lợi của họ.

    Có 3 điều đáng nói:

    1) Thứ nhứt, họ muốn cai trị và bóc lột dân tộc các nước chung quanh, đem lợi về cho đất nước của họ như thu thuế: Thuế người (thuế thân), thuế đất ruộng, thuế dâu tằm, lụa là vải vóc, thuế muối, thuế ao hồ sông biển, v.v... Việc sưu dịch, theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thì “Phàm những chỗ nào có mỏ vàng, mỏ bạc, thì đặt quan ra để đốc dân phu đi khai mỏ. Những chỗ rừng núi thì bắt dân phu đi tìm ngà voi, sừng tê; ở chỗ gần bể thì bắt dân phu đi mò ngọc trai. Còn những thổ sản như hồ tiêu, hương liệu cũng bắt cống nộp,. Đến những hươu, voi, rùa, chim, vượn rắn, cái gì cũng vơ vét đem về Tầu.”

    Trên là nói cách bóc lột của nhà Minh, trước khi Lê Lợi khởi nghĩa. Ngày nay, tình hình sẽ khác đi chăng?

    Những sự kiện như ngư phủ Việt Nam bị đánh phá, giết chóc ngoài biển Đông, việc bán đất bán rừng cho Tầu, hay vụ Bô-xít ở Cao nguyên làm cho chúng ta thấy người Tầu ngày nay cũng tham lam và độc ác như người Tầu ngày xưa.

    Người Tầu ngày xưa phong kiến tham lam và độc ác. Người Tầu ngày nay Cộng Sản không những cũng tham lam độc ác mà còn triệt để hơn. Tham lam cũng triệt để, độc ác cũng triệt để nên người Việt nào còn sống sót được thì cũng chỉ còn cái khố che thân mà thôi.

    Nước Tầu bây giờ đang phát triển nên họ cần nhiều thứ: Dầu lửa là trước nhứt. Không những họ khai thác dầu lửa và than đá ở lục địa mà còn dòm ngó sang các mỏ dầu hỏa ở Trung Á. Ở Kazakstan chẳng hạn, người Tầu đang lấy dầu rất mạnh ở đây. Người Tầu, xe cộ của Tầu xuất hiện nhiều nơi, thậm chí ở đó, các bảng chỉ đường phải viết bằng hai thứ tiếng: Tiếng địa phương và tiếng Tầu.

    Vùng Trung Á là đất của Tầu thời Vũ Đế nhà Hán. Đó là theo cách nghĩ của họ, vì thời đó, chính Trương Khiên đã đem quân đánh phá vùng nầy, mở rộng và giữ an toàn cho con đường lụa. Trong những năm Liên Xô vững mạnh, người Tầu đành chịu mất vùng nầy. Nay họ cố giành lại quyền lợi đã mất, nhứt là các mỏ dầu lửa ở đây. Người Tầu còn cần nhiều tài nguyên của các nước khác, kể cả đất đai để trồng trọt như hợp tác sản xuất nông phẩm ở Argentia và một số nước ở châu Phi. Ở châu lục nầy, người Tầu đang khai thác cả nông nghiệp lẫn dầu lửa.

    2)- Thứ hai, nói cho đúng thì việc mở rộng của người Tầu, nếu không xét bình diện cai trị và bóc lột thì cũng có lợi cho việc giao thương của thế giới, như sự ích lợi của “Con đường lụa” ngày trước vậy.

    Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, chính sách ngoại giao của nước Tầu không có gì tốt đẹp cả. Người ta từng gọi chính sách của Tầu bây giờ là “hung hăng trong ngoại giao”, chậm chạp và vụng về vì không phản ứng kịp với những biến chuyển của thế giới vì người Tầu quá thực dụng, chỉ nhắm vào lợi ích trước mắt!

    3)- Thứ ba, tương đối tốt là muốn mở rộng việc giao thương, “hai bên cùng có lợi” như họ thường “hô khẩu hiệu”. Đã hô khẩu hiện thì không mấy khi thực lòng. Trong chiều hướng thứ ba nầy, người Tầu cũng dùng nhiều thủ đoạn về tiền tệ, về hàng hóa giá rẻ, thiếu phẩm chất để kiếm lợi. Cung cách giao thiệp như vậy khó có thể tồn tại lâu dài. Đó là cái khó khăn trong tương lai của họ.

    Con cóc muốn to bằng con bò

    Sau mấy chục năm dưới thời Mao, người Tầu ứng dụng chủ nghĩa xã hội để xây dựng đất nước họ nhưng thất bại (Ngược lại, Dziệt Cộng dùng đất nước để xây dựng xã hội chủ nghĩa - lời Tổng Thống Nixon). Nước Tầu, do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo, đã quay sang chủ nghĩa tư bản. Nhờ đó mới giàu có lên. Nay người Tầu đã vượt qua khỏi Nhựt, giành ngôi vị thứ hai, sau Mỹ. Dĩ nhiên, hiện giờ người Tầu đâu có bỏ giấc mộng làm bá chủ thế giới, về kinh tế cũng như quân sự, v.v... để trở thành “Trung Quốc” của toàn thể địa cầu.

    Liệu người Tầu có thành công?

    Nếu không thành công thì nước Tầu tan rã chăng?

    1)- Nói chung, về tổng sản lượng quốc gia, tính tới năm 2008, người ta thấy, tính theo ngàn tỷ đô la Mỹ thì Mỹ là 14, Tầu chỉ có phân nửa Mỹ là 7, Nhựt 4 ngàn, Đức gần 4 ngàn tỷ, v.v... Nếu tính theo sự giàu có, thì nước Tầu chỉ mới bằng ¼ cái giàu của Mỹ, trong khi Tầu có 1 tỷ 400 triệu dân mà Mỹ chỉ có 300 triệu dân.

    Lịch sử các đế quốc cho thấy, càng bành trướng, càng dễ sụp đổ, chính yếu là vì không cai trị, kiểm soát được hết, không nắm giữ được hết. Rõ ràng nhứt là trường hợp các đế quốc như La Mã, đế quốc Ottoman, đế quốc Tây Ban Nha. Nước Tây Ban Nha thì nhỏ, lãnh địa của họ kéo dài từ châu Á tới Nam Mỹ. Nam Mỹ xa quá, quyền lực của hoàng đế Tây Ban Nha không với tới được.

    2)- Thứ hai nữa, nhân loại càng văn minh, tiến bộ. Tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền, v.v... càng bành trướng, phát triển, lan tràn, nên dân tộc các nước bị cai trị thức tỉnh, giành lại độc lập cho chính dân tộc họ. Đó là phong trào giải thực sau Thế giới Chiến tranh thứ Hai, đưa tới sự sụp đổ của các đế quốc Anh, đế quốc Pháp...

    Chính sách bành trướng của Tầu đi ngược lại chiều hướng tiến bộ đó. Chính phủ Tầu yễm trợ tối đa cho các chính phủ độc tài ở Châu Phi, để cả hai bên cùng nhau khai thác, cướp đoạt tài nguyên của các nước Châu Phi.
    Một mặt thì dùng sức mạnh đàn áp, một mặt dùng tiền bạc mua chuộc các nước mà Tầu muốn bành trướng thế lực tới. Muốn thực hiện những điều đó, người Tầu càng phải bắt dân chúng trong nước thắt lưng buộc bụng, bóc lột dân chúng, làm cho mâu thuẫn nội bộ càng ngày càng thêm sâu sắc. Đó cũng là mối họa của người Tầu.

    3)- Người Tầu còn mang tâm lý phục hận. Hai trăm năm nay, khi các nước Âu Mỹ đã phát triển, khai thác không ít tài nguyên của các nước thuộc địa, các nước thứ ba. Dầu hỏa là một trường hợp điển hình. Anh Mỹ đã hưởng không biết bao nhiêu quyền lợi về dầu hỏa của các nước Á-Rập.

    Ngày nay, người Tầu cũng muốn làm như thế, làm nhiều hơn thế để bù lại những “thua thiệt” mà họ đã gánh chịu trong gần 200 năm qua. Trong giáo dục và tuyên truyền, nhà nước Tầu cố gây tâm lý thù hận và giành giựt với Tây phương trong tầng lớp trẻ ở nước họ, cố làm cho số người trẻ nầy cứ nghĩ rằng họ phải lấy những gì mà Âu-Mỹ đã lấy trước đây, ở trong nội địa nước Tầu hay trên khắp thế giới.

    Trong cách nhìn đó, trong cách làm đó, và trong mối hận thua thiệt đó, người Tầu cố gắng bành trướng, giống con cóc muốn to bằng con bò như trong truyện ngụ ngôn của LaFontaine. Bao giờ thì bụng con cóc sẽ nổ bùng, như mọi người đều suy nghĩ như thế!

    Người Tầu, nói và làm?

    Người Tây khác với người Tầu ở chỗ Nói và Làm. Người Tây có nói và có làm. Người Tầu thì nói nhưng làm thì ngược lại. Điều rõ nhứt là những quan điểm Tự Do, Dân Chủ, Bình Đẵng, Nhân Quyền, Bác Ái, v.v...

    Tôi xin dẫn chứng:

    Người Âu Mỹ có những tư tưởng tiến bộ về Tự Do, Bình Đẵng như vừa nói ở trên, rồi họ biến những tư tưởng ấy thành hiện thực trong đời sống chính trị, xã hội ở nước họ. Cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1776 là cuộc cách mạng thực hiện những tư tưởng đó nên nước Mỹ mới được như ngày nay. Điều buồn cười là những tư tưởng nói trên đơm hoa kết trái ở Pháp nhưng diễn ra ở Mỹ trước, và phải 13 năm sau (1789) cuộc Cách mạng Tư sản Dân quyền mới bùng nổ ở Pháp. Người Pháp thì nghĩ ra mà người Mỹ thì làm trước. Dù sao thì ngày nay, hầu hết các nước Âu Mỹ, dù là những nước Đông Âu từng bị Cộng Sản Nga cai trị lâu dài thì những nước đó cũng đã có Tự Do, Dân Chủ... rồi.

    Người Tầu thì “văn minh” trước người Tây Phương rất lâu. Thời Xuân Thu (722-481 trước Tây lịch), Khổng Tử (Tr. Tây Lịch 551-479) đã có những tư tưởng mà ngày nay Tây Phương rất khâm phục: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Giả dụ như khi mình không muốn bị ai bóc lột thì mình đừng bóc lột người khác. Mình không muốn bị ai khinh khi thì đừng khinh khi người khác. Mình không muốn bị tước đoạt tự do thì đừng tước đoạt tự do người khác... Cứ như thế mà suy thì rõ ràng trong câu nói của Khổng Tử có đủ những tư tưởng về Tự do, Bình đẳng, Bác ái mà người Tây phương thường tượng trưng bằng ba mầu Xanh, Trắng, Đỏ! Vậy thì từ trước Công Nguyên, tư tưởng của Khổng Tử (hay của văn minh Trung Hoa?) đã hay lắm. Bên cạnh Khổng Tử, còn có Mạnh Tử, Mặc Địch, v.v... đều có những thuyết “tính thiện” hay “kiêm ái” đều hay cả. Nhưng cho tới tận bây giờ, trong những bữa ăn nhậu của người Tầu giàu sang còn có cả thai nhi, thịt trẻ con, v.v... Sao mà kinh khiếp thế? Ấy là chưa kể ngay trong nước Tầu bây giờ có Tự do, Dân Chủ, Bác Ái hay không? Khó tìm thấy chữ Nhân của Khổng Tử trong xã hội Tầu. Năm 1935, khi Thụy Điển trao giải Nobel cho Carl von Ossietzky, Hitler phẫn nộ và cấm công dân Đức nhận bất kỳ giải Nobel nào. Gần một trăm năm sau, Lưu Hiểu Ba của Tầu cũng không được cho đi nhận giải Nobel. Việc ngăn cấm ấy chấm dứt ở Đức đã lâu. Bao giờ thì nước Tầu sẽ không còn sự cấm cản ấy, hay sẽ không bao giờ xảy ra cả.

    Con cóc bể bụng!

    Con cóc nếu cứ rán sức cho to bằng con bò, có ngày bể bụng. Bao giờ thì cái bụng nước lèo của chú Ba sẽ bể ra?

    Ấy là khi những mâu thuẫn trong, ngoài không có cách nào giải quyết được nữa.

    1)- Dĩ nhiên mâu thuẫn nội bộ là mâu thuẫn quan trọng nhứt, lý do chính là quyền lợi giàu nghèo, no đói.

    Giàu nghèo, no đói thường do địa lý kinh tế mà ra. Về mặt nầy, người ta thấy nước Tầu có 3 khu vực khác nhau: Khu đồng bằng phía đông là lưu vực các sông, nhất là sông Dương Tử, người Tầu thường gọi là phúc thần. So với thế giới, nhất là khi so với lưu vực đồng bằng sông Mississippi thì còn thua xa nhưng cũng tạm đủ cho người Tầu sản xuất được hơn 60 phần trăm sản lượng toàn nước Tầu. Dân chúng, phần đông được gọi là người Tầu mà Hán tộc là chính, tương đối có cơm ăn áo mặc, có thiếu thốn nhưng chưa quá tệ nhu khu vực thứ hai.

    Khu vực thứ hai bao gồm phần phía trong, thường gọi là nội địa, có nhiều sa mạc, thảo nguyên, đất khô cằn, khó trồng trọt, dân chúng nghèo đói... Vì nghèo đói nên trong lịch sử nước Tầu, các cuộc nổi loạn đều do từ vùng nầy mà ra. Khi thất thế, để tránh khỏi bị hoàn toàn tiêu diệt, các phe yếu kém cũng rút về cố thủ nơi đây. Đó là trường hợp Lưu Bị khi về đất Ba Thục, cũng như Mao chạy trốn về Diên An, thuộc Thiểm Tây.

    Các giống “rợ” (tiếng của người Tầu) là những dân tộc định cư ở phía Bắc, Tây Bắc của nước Tầu. Đó là các giống dân Triều Tiên, Mãn Châu, Hung Nô (nói chung là “rợ” Hồ, “rợ” Quắc...), ngày nay là các giống Mông Cổ (Ngoại Mông và Nội Mông), người Uyghur (Tầu gọi là Duy Ngô Nhĩ), người Tạng (Tây Tạng) các giống thiểu số ở Vân Nam, Nam Man (nói chung là Việt, Lào, Kampuchia, v.v...)

    Dĩ nhiên, người Duy Ngô Nhĩ, người Tạng, người Nội Mông, người Mãn đời sống nghèo nàn, gian khổ, thiếu ăn, thiếu học, v.v...

    Người Tầu gọi họ là “rợ” hay “man”. Gọi như thế rõ ràng người Tầu không cho các dân giống dân nầy bình đẵng với họ bao giờ. Không những thế, người Tầu còn muốn tiêu diệt các giống dân nầy bằng cách “Hán hóa”.

    2)- Chính sách “Hán hóa” không phải bây giờ mới có, mà cả mấy ngàn năm trước, người Tầu đã có chính sách ấy rồi. Họ đã thành công trong việc “Hán hóa” các giống Bách Việt, nhưng với người Tân Cương (Có nghĩa là vùng biên giới mới của người Tầu) với người Uyghur, người Tạng, với người Việt (Lạc Việt), người Mãn thì họ đã thất bại. Người Mãn (Thanh) chỉ bị “Hán hóa” khi họ vào cai trị người Tầu ở Bắc Kinh, chớ ngay tại nước Mãn Châu thì người Tầu không “Hán hóa” người Mãn châu được.

    Người Việt, nếu muốn chống lại người Tầu, không thể không liên minh với các giống dân bị người Tầu ức hiếp, đàn áp. bóc lột như người Tạng, người Mãn, người Uyghur. Một mình đức Đạtlai Lạtma lãnh đạo dân Tây Tạng chống lại ách cai trị của người Tầu thì khó thắng, nhưng nếu các dân tộc chung quanh nước Tầu hợp sức và có sự lãnh đạo chung thì người Tầu sẽ sợ lắm, không dám ức hiếp mạnh tay. Trong viễn tượng đó, người Tân Cương, người Tạng sẽ cứu người Việt hay ngược lại.

    Ngay trong nội bộ người Hán với nhau, mâu thuẫn về quyền lợi cũng không kém gay gắt. Đó là những mâu thuẫn giữa Nông thôn và Thành thị. Nông thôn thì nghèo đói, thành thị thì no ấm, nếu không muốn nói là giàu có hơn. Nông thôn thiếu tiện nghi về nhiều mặt, y tế, giáo thông, về cả giáo dục. “Ngành giáo dục, nông thôn chỉ nhận được 23% trong khi nông dân còn chiếm 61% dân số.”

    Nước Tầu có hơn 100 triệu héc-ta dành cho nông nghiệp với hơn 700 triệu nông dân, tức là nông dân chiếm gần 60% trên dân số 1 tỷ 3 trăm triệu người.

    Việc cải cách nông nghiệp ở bên Tầu thiếu hợp lý. Muốn tăng năng xuất, nông dân dùng nhiều phân bón, vẫn không đạt tới mức sản xuất 5 tấn một héc-ta, chỉ bằng 1/10 năng xuất nông nghiệp Âu-Mỹ.

    Tính chung, mỗi nông dân Tầu chỉ nuôi sống được 4 miệng ăn, trong khi con số ấy là 90 ở Mỹ và 160 ở Đan Mạch. Mặc dù nông dân Tầu xử dụng tối đa phân bón nhưng lối canh tác thô sơ, ruộng đất chia nhỏ sau khi hợp tác xã giải tán, không áp dụng được phương phái “đại nông canh tác” như ở Mỹ nên năng xuất không thể nào cao được, mặc dù số người tham gia nông nghiệp còn cao.

    Bên cạnh đó, ngay giữa các nông dân với nhau, khoảng cách lợi tức của họ cũng khá xa. Ở vùng phía đông, họ có lợi tức cao hơn gần 4 lần so với nông dân vùng nội địa và phía tây, tính ra không tới 1 đô la một ngày.

    Tình trạng nông nghiệp còn tệ hại hơn khi đất dành cho nông nghiệp càng ngày càng thu hẹp lại vì tình hình đô thị hóa các đặc khu kinh tế và sự bành trướng của đô thị.

    Đối với các nước độc tài, tình trạng tham nhũng đều giống nhau và “hết thuốc chửa.” Chính thức thì chính quyền địa phương tự ý đặt ra nhiều thứ thuế nặng nề. Mặt khác thì tham nhũng, hối lộ không thể nào tính hết được, áp bức và bóc lột còn thậm tệ hơn cả thời phong kiến và dưới chế độ cai trị của quân Nhựt.

    Trong chính sách đổi mới và phát triển kinh tế, nước Tầu dựng nên nhiều “Đặc khu kinh tế” như ở Hạ Môn, Chu Hải, Sán Đầu, Hải Nam, Thẩm Quyến và các thành phố lớn như Quảng Châu, Thượng Hải... Việc mở mang các đặc khu kinh tế và thành phố lớn, nhỏ làm cho số lượng nông dân giảm dần đi 12% mỗi năm.

    So với thôn quê thì thành thị có đời sống khá hơn, đầy đủ hơn. Ở bên Tầu bây giờ, người nông thôn đổ xô ra thành thị kiếm sống, kiếm công ăn việc làm. Điều ấy cho chúng ta thấy những mâu thuẫn trong nội bộ của Tầu.

    Nguy hiểm hơn, những mâu thuẫn đó càng ngày càng sâu sắc. Những người cầm quyền ở Bắc Kinh biết rất rõ điều đó. Sau thời kỳ Giang Trạch Dân với chủ trương tập trung phát triển vùng phía đông thì những người cầm quyền bên Tầu bây giờ chú tâm vào việc phát triển vùng nội địa và phía tây. Công việc nầy dĩ nhiên tạo ra phản ứng của lãnh đạo các đặc khu kinh tế và thành phố lớn, nhứt là Thượng Hải.

    Mâu thuẫn quyền lợi của các đặc khu kinh tế nảy sinh ra mâu thuẫn quyền lực.

    Tầu vốn là một nước phong kiến (Phong tước và kiến địa) nên từ căn bản, mâu thuẫn quyền lợi, quyền lực giữa trung ương và địa phương, giữa hoàng đế và chư hầu như thời Đông Châu là điều không thể tránh được. Gốc rễ của những mâu thuẫn đó là từ cơ chế, từ tâm lý (mỗi người Tầu là một ông vua, như người ta thường nói, “Được làm vua thua làm giặc”...) thì tránh được sự phân quyền, cát cứ, sứ quân... đã là điều may, nói chi tới thống nhứt, trên dưới một lòng.

    Tranh giành quyền lực, thậm chí ganh ghét, kình chống nhau, ngấm ngầm hay ra mặt, ngay dưới thời Mao trị vì cũng đã có huống gì ngày nay. Khi Đặng Tiểu Bình làm đảo chánh ở Bắc Kinh thất bại thì Đặng chạy trốn về Quảng Châu với Dương Thượng Côn vì ông tướng Dương nầy cũng không kính trọng Mao và sợ Mao cho lắm. Thời Mao còn sống, mỗi khi từ Quảng Châu về Bắc Kinh họp, Dương thường mang theo một tiểu đoan để “bảo vệ” ông ta.
    Ngày nay cũng vậy thôi, các đặc khu kinh tế giàu có không muốn có sưu cao thuế nặng, không muốn gánh gồng những vùng nông thôn hay nội địa có kinh tế thấp, chưa kể việc các lãnh chúa của những địa phương nầy muốn “đè nặng” lên quyền lực trung ương.

    Phản ứng của các tay lãnh đạo các đặc khu kinh tế và thành phố lớn là vì nông nghiệp đóng góp ít (15% cho tổng sản lượng quốc gia) trong khi lãnh vực công nghiệp thì đóng góp cao hơn.

    Vì lợi tức thấp nên mức tiêu dùng đồ tiêu dùng của nông dân không cao, giúp ích rất ít cho lãnh vực sản xuất công nghiệp.

    Các đặc khu kinh tế và các thành phố lớn có nền ngoại thương lớn với các nước Âu Mỹ, muốn xuất cảng được nhiều, muốn có lợi nhiều nên càng muốn ít lệ thuộc vào trung ương.

    Đó cũng là nguyên nhân mâu thuẫn trong chính sách đối ngoại.

    Mâu thuẫn bên ngoài

    Có thể nói người Tầu gây mâu thuẫn với toàn thế giới, với Mỹ, với cộng đồng Châu Âu, với Châu Á, với Đông Nam Á, với Châu Phi. Ngay cả với những chính quyền “đệ tử” của Tầu như ở Bình Nhưỡng, ở Naypyidaw (thủ đô mới của Miến Điện) hay Hà Nội, vẫn có nhiều mâu thuẫn khi sâu sắc, khi bình thường.

    Mâu thuẫn quan trọng nhứt là tiền tệ. Chính phủ Tầu cố giữ đồng nhân dân tệ giá thấp để giá hàng xuất cảng được hạ, tràn ngập khắp nơi. Mỹ và Cộng Đồng Châu Âu can thiệp, họp bàn với Bắc Kinh nhiều lần nhưng chưa có kết quả, và cũng khó có kết quả.

    Trung Quốc khăng khăng giữ tỷ giá 6,83 NDT đổi 1 USD để hỗ trợ xuất khẩu đã bị các nhà lập pháp Mỹ chỉ trích mạnh mẽ.

    Ông Yoshihiko Noda thứ trưởng Tài chính Nhật cảnh cáo Bắc Kinh: “Hiện có nhiều sự mong đợi, chứ không riêng từ phía Mỹ, về việc Trung Quốc sẽ nới lỏng chính sách kìm giữ giá nhân dân tệ”.

    Bên cạnh đó, nếu so sánh với các nước khác ở Đông Nam Á, việc nước Tầu giữ nguyên giá đồng tiền của họ giúp họ xuất khẩu được nhiều hàng hóa hơn. Tuy nhiên, lại có mâu thuẫn khác là khi các nước giàu như Nhựt Bản, Đại Hàn đầu tư sản xuất vào Tầu thì các công ty nầy cũng được hưởng lợi như chính nước Tầu vậy.

    Tầu vẫn chưa nhượng bộ, Mỹ tiếp tục gây sức ép, mặc dù phía Tầu đã tuyên bố việc gây sức ép sẽ không có hiệu quả gì cả.

    Thứ hai là mâu thuẫn về tài nguyên, nhứt là dầu lửa, thứ đến là mỏ kim loại. Như đã nói, dầu hỏa là máu của kinh tế thế giới, nhứt là với những nước đang phát triển như Tầu. Tầu đang cố giành cho được vùng lưỡi bò, chính yếu cũng vì đó là vùng có mỏ dầu lửa. Thiếu dầu, các nhà máy phải đóng cửa.

    Đòi nhiều! Có giữ được không?

    Tức tối và thù hận bấy lâu nay nước Tầu còn mê ngủ để cho các nước Âu Mỹ giành hết tài nguyên trên thế giới, ngày nay Tầu hung hăng đòi quyền lợi nầy, quyền lợi khác, đòi thật nhiều, cho thỏa mãn. Nhưng liệu có đòi được không, hoặc có đòi được thì có giữ được không? Việc đòi vùng lưỡi bò là một thí dụ. Tầu có đòi được vùng nầy không? Liệu các nước Đông Nam Á, Tây Âu và Mỹ có để cho Tầu tự tung tự tác như vậy được không? Đòi mà không được thì uy tín có bị sứt mẻ không? Lên thang thì dễ, xuống thang có khó không? Không lý họ cứ hung hăng mà không tính đến hậu quả, hay họ cứ làm như thế để tạm thời trấn an dân chúng trong nước, để cho những mâu thuẫn nội bộ tạm yên?

    Để bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình, người Tầu phải tăng cường sức mạnh quân sự, phát triển những loại vũ khí tối tân, đóng hàng không mẫu hạm, v.v... Việc tăng cường quân đội, bộ binh, thủy binh, hạm đội... đến bao giờ thì có thể cân bằng với lực lượng quân sự các nước Đông Nam Á, Châu Á, với Hạm Đội 7, với hải quân Mỹ. Đó là con đường dài, không ít tốn kém, là tạo ra chiến tranh lạnh. Càng tốn kém, dân Tầu càng thắt lưng buộc bụng, các mâu thuẫn, sự chống đối trong nước càng thêm mạnh.

    Dĩ nhiên, việc tăng cường sức mạnh quân sự làm cho các nước chung quanh, kể cả Nhựt Bản lo sợ. Càng lo sợ, các nước nầy càng phụ thuộc vào Mỹ. Vài ví dụ sau đây cho chúng ta thấy điều ấy. Thủ tướng Nhựt Yukio Hatoyama trước khi nhậm chức có hứa sẽ yêu cầu Mỹ bỏ căn cứ quân sự Futenma ra khỏi Okinawa nhưng ông không làm được nên phải từ chức. Trước tình hình bành trướng quân sự của Tầu, làm sao thủ tướng Nhựt có thể dời được căn cứ quân sự Mỹ ở Nhựt. Làm như thế, khác nào Nhựt tự cô lập mình về quân sự.

    Có phải Tầu bật đèn xanh cho Bắc Triều Tiên pháo kích vào hòn đảo Yeonpyeong của Nam Triều Tiên. Việc ấy chỉ có lợi cho Mỹ bởi vì khi tổng thống Obama đến Hán Thành, ông đã không đạt được thỏa ước thương mại với Nam Triều Tiên. Tuy nhiên, sau vụ tấn công đó, Mỹ và Nam Triều Tiên tập trận chung, thì Hán Thành vội vàng ký hiệp ước nói trên, thuận để Mỹ nhập cảng thịt bò và xe hơi vào quốc gia nầy.

    Nước Tầu bây giờ bên trong thì mâu thuẫn nội bộ. Hàng ngũ trí thức bị đàn áp trong vụ Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989 nay vẫn còn ngấm ngầm chống đối. Giới tài phiệt mới nổi ở các đặc khu kinh tế và thành phố lớn, kiểu như tài phiệt tập đoàn dầu mỏ Yukos Mikhail Khodorkovsky của Nga thì càng ngày càng đông, thế lực ngày càng mạnh. Liệu nhóm quyền lực trung ương Bắc Kinh có dám bắt họ bỏ tù như Putin đã làm ở Nga. Nếu không nắm được họ, thì họ sẽ nắm ngược trở lại. Tình hình tương tự như nước Mỹ ngày nay. Tổng thống Obama muốn làm một cuộc cải cách xã hội mà ông gọi khéo là change. Nhưng liệu cái change mang tính cách xã hội đó liệu có thành công ở một nước Mỹ giàu có? Cách mạng chỉ có thể tiến hành (chưa nói thành công hay không) ở những nước nghèo và có nhiều bất công xã hội mà không giải quyết được. Cách mạng xã hội chủ nghĩa một thời đã thất bại và gây nhiều đau khổ cho dân tộc Tầu, bây giờ có trương ra cái bảng hiệu cách mạng ấy, cũng khó ăn khách. Như vậy, đám tài phiệt càng ngày càng lớn mạnh hơn, thì tài phiệt quốc tế sẽ bắt tay nhau, chỉ làm cho người nghèo thêm gian khổ.

    Mâu thuẫn giàu nghèo, sướng khổ là cái mâu thuẫn muôn đời của nhân loại, ngày xưa đã vậy, mà sau nầy, sẽ không khác đi. Thành thử, vấn đề không phải là người Tầu sẽ giàu lên, mạnh thêm trong sự thua thiệt của những nước chung quanh và trên toàn thế giới. Cách làm như thế chỉ gây thêm mâu thuẫn nặng nề, có thể làm cho các nước khác lo sợ trong một khoảng thời gian nào đó, và các nước đó sẽ bình tâm hồi phục, và sẽ chống lại hay liên kết để chống lại. Liệu lúc đó người Tầu có đủ sức chống lại không?

    Thật ra, các nước tư bản Âu Mỹ, bề mặt là tư bản, có vua, như Anh, có tổng thống, như Mỹ, đại nghị như Pháp, Ý... Tuy nhiên, trong bản chất, đó là những quốc gia đã “xã hội hóa” vì tính cách dân chủ, tự do, bình đẵng trong cơ chế của đất nước họ. Điều ông Obama gọi là change chính là bước đầu cho một tiến trình xã hội hóa mạnh bạo hơn của đảng Dân Chủ Mỹ: làm cho người giàu bớt giàu đi, làm cho người nghèo khá giả hơn, đời sống dân chúng, về mọi mặt, ổn định hơn.

    Tầu thì đi theo con đường ngược lại. Họ từ bỏ xã hội chủ nghĩa để đi theo con đường tư bản, mà ngay trong bản chất chế độ lại không có tự do dân chủ. Trong viễn tượng đó, mâu thuẫn tư bản và vô sản càng sâu sắc hơn. Người giàu sẽ giàu hơn, người nghèo sẽ nghèo hơn, lại là một quốc gia không có tự do dân chủ để bảo vệ quyền lợi và quyền sống của người dân, thì rõ ràng, nước Tầu đang ở trên bờ vực thẳm.

    Sau khi Tầu qua mặt Nhựt về tổng sản lượng quốc gia, người ta hỏi liệu Tầu có thể tiếp tục cái đà phát triển ấy để qua mặt Mỹ. Tầu sẽ qua hay không dám qua. Mỹ sẽ để cho Tầu qua hay tìm cách ngăn chận?

    Phần đông, ai cũng nghĩ rằng Mỹ sẽ tìm cách ngăn chận. Nhưng ngăn chận bằng cách nào. Đánh vỡ nền kinh tế Tầu là cách hay nhứt! Nhưng đánh vỡ bằng cách nào?

    Trong tình hình bây giờ, Tầu và Mỹ phải níu nhau mà sống, bởi vì nước nầy chết thì nước kia cũng “le lưỡi”. Nhưng rồi, năm ba năm nữa, khi mâu thuẫn giữa hai bên lên tới tột đỉnh, liệu còn níu nhau hay giết nhau? Không gánh chịu nỗi bất lợi về tiền tệ và hàng Tầu tràn lan nước Mỹ thì Mỹ có thể nào vượt qua những cam kết trong WTO, tạo ra những cái cớ để tăng thuế nhập cảng lên hàng Tầu, có sự tiếp tay của Cộng Đồng Châu Âu. Nếu họ làm được vậy thì các hãng xưởng bên Tầu sẽ vỡ nợ và đóng cửa.

    Giả dụ như Tầu chịu tăng giá nhân dân tệ thì Mỹ sẽ tăng giá US đô la, cũng sẽ làm cho kinh tế Tầu gặp khủng hoảng như hồi năm 2008 vậy.

    Trong viễn tượng đó, với một nền công nghiệp chỉ sống nhờ vào xuất cảng, công ty xí nghiệp Tầu sẽ sụp đổ, thất nghiệp lan tràn, bạo động xảy ra.

    Đó là thời cơ vùng lên cho người Duy Ngô Nhĩ, cho dân chúng Tây Tạng, Mông Cổ... và những nước bị mất lãnh thổ như Ấn Độ, Việt Nam có cơ đòi lại đất đai, hải đảo bị mất của mình.

    Thật ra, Tầu có hai cái đáng sợ: Đông dân và chất xám.

    Đông dân là điều mà người Anh đã sợ cách đây hơn một trăm năm. Họ gọi đó là “con sư tử ngủ”.

    Nay thì con sư tử đó đã thức dậy.

    Ấn Độ dân cũng đông, tại sao người Anh không sợ đến như thế?

    Có phải người Ấn Độ tinh thần yếu hơn người Tầu? nói thế thì chúng ta lại quên mất nhận xét của Lỗ Tấn (1) về người dân nước ông: “Người Tầu tàn ác như sư tử, giảo hoạt như hồ ly, nhát gan như thỏ đế.” Như thỏ đế thì có chi đáng sợ, dù họ có đông!

    Người Tầu có câu: “Mãnh hổ nan địch quần hồ”. Hồ là những con chồn, coi như quần hồ là dân Tầu đông. Nhưng mãnh hổ đâu có phải chỉ là một nước mà thôi. Dù là Mỹ, khi hữu sự cũng sẽ có nhiều con hổ khác cùng xông ra với Mỹ.

    Nói cho cùng, nếu Tầu mạnh và chế ngự khắp thế giới là điều mà chúng ta thấy lo, rốt lại, cũng chẳng có gì phải lo cả. Con cóc không thể to bằng con bò.

    Vấn đề không phải là tranh chấp, chiến tranh lạnh hay chiến tranh nóng cũng đều chết cả.

    Khi ông Reagan lên làm tổng thống Mỹ, ông ta hỏi Liên Xô: “Đối đầu hay hợp tác?” Không hiểu ông Brezhnev chọn cách nào mà để cuối cùng, Liên Xô tan rã. Tuy hung hăng, nhưng người Tầu biết rõ họ phải làm gì qua kinh nghiệm cuộc chiến tranh lạnh kéo dài 35 năm giữa hai khối Cộng Sản và Tư Bản. Tầu nay chỉ có một mình, biết mình từng ỷ đông mà không làm gì được Nga- Mỹ. Họ phải tự liệu có cách nào hay hơn để tồn tại chứ!
    Trong cách nào đó của người Tầu thì con cháu chúng ta sẽ được bình yên!

    Yếu tố phân hóa trong nội bộ nước Tầu:

    1)- giàu nghèo

    2)- quyền lợi không quân bình giữa các vùng địa lý kinh tế, giữa các nông dân

    3)- mâu thuẫn nông thôn thành thị, giữa nông nghiệp và đặc khu kinh tế.

    4)- mâu thuẫn quyền lực giữa địa phương và trung ương

    5)- mâu thuẫn giữa các phe nhóm trong đảng.

    6)- mâu thuẫn giữa đảng và trí thức.

    7)- tình trạng tham nhũng

    8)- mau thuẫn giữa Tầu và các nước chung quanh, sự bành trướng quá lớn.

    9)- mâu thuẫn bên ngoài

    10)- Các nước độc tài ngày nay sợ nhứt là cái gì? Internet đấy. Nước độc tài cần phải bưng bít tin tức. Không bưng bít được thì dân chúng sẽ bất mãn, nổi loạn. Tình hình thế ngày nay chứng minh điều đó!!!!


    hoànglonghải


    (1) Lỗ Tấn (1881- 1936) tên khai sinh là Chu Chương Thọ, sau đổi tên là Chu Thụ Nhân, hiệu Dự Tài, quê ở Chiết Giang. Từ nhỏ Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng những chuyện cổ tích Tầu do bà mẹ ông thường kể cho nghe.

    Ông từng theo học ở Thủy Sư Học Đường ở Nam Kinh. Ông lại vào trường Khoáng Lộ Học Đường, du học Nhật Bản, tham gia Quang Phục Hội, của người Tầu. Ông lại vào học ngành y ở trường Đại Học Tiên Đài.

    Năm 1906, ông bắt đầu dịch và viết một số tiểu luận giới thiệu các tác phẩm văn học Châu Âu như thơ Puskin, tiểu thuyết Jules Verne. Năm 1909, Lỗ Tấn trở về Tầu, dạy ở trường trung học Thiệu Hưng và làm hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng. Từ 1920 đến 1925, Lỗ Tấn làm việc tại các trường Đại Học Bắc Kinh, Cao Đẳng Sư Phạm Bắc Kinh và Đại Học Nữ Sư Phạm Bắc Kinh. Năm 1926, ông tới Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến) và làm việc tại trường Đại học Hạ Môn. Đầu năm 1927, Lỗ Tấn đến Quảng Châu, làm trưởng phòng giáo vụ kiêm chủ nhiệm khoa văn của trường Đại Học Trung Sơn. Tháng 10 năm 1927, ông rời Quảng Châu tới Thượng Hải. Ông mất ngày 19 tháng 10 năm 1936.
    (theo Wikipedia)
  11. Viết nhân ngày Mother’ s Day của người Mỹ

    “Khi đất nước tôi không còn giết nhau.
    Mẹ già lên núi, tìm xương con mình…”
    Trịnh Công Sơn



    Sau Tết Đinh Hợi (1947), “mặt trận Quảng Trị” (1) vỡ. Ấy là Tây từ Huế đánh ra, chiếm thị xã, lính Vệ Quốc Đoàn thua, rút ra khỏi thành phố.

    Trước đó, dân chúng ở đây đã tản cư hết, theo lệnh của Việt Minh đưa ra hồi cuối năm 1946, trước ngày “toàn dân kháng chiến” (1). Mẹ tôi dẫn 8 người con, bốn trai bốn gái cùng ông anh rể đầu chạy về miền quê. Cậu (tức là thân phụ tôi), không theo gia đình, mà theo “cơ quan”. Cơ quan của cậu tôi là sở Học Chánh tỉnh.

    Sau khi mặt trận vỡ rồi, lệnh của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh yêu cầu tất cả các cơ quan hành chánh rút ra Thanh Hóa, thuộc Liên Khu Tư.

    Có lẽ nghĩ rằng cậu tôi sẽ ra Bắc theo cơ quan nên mẹ tôi cũng dẫn anh em chúng tôi rời Chợ Cạn, chạy tới làng An Cư rồi từ đó đi thuyền theo sông Hiếu Giang, rẽ qua sông Hiền Lương mà ra Vĩnh Linh. Từ đó gia đình tôi sẽ ra Thanh Hóa, hy vọng chúng tôi sẽ sum họp ở đó.

    Đến làng Huỳnh Công, toàn thể gia đình tôi tạm trú tại nhà một ông đảng viên Cộng Sản. Ông chủ nhà có bà con với ông Trần Công Khanh, chủ tịch Ủy ban Hành Chánh Trung Bộ đầu tiên.

    Làng An Tiêm và làng Huỳnh Công nổi tiếng là “hai làng Cộng Sản” (theo cách gọi hồi trước năm 1945). Làng Huỳnh Công nằm trên một ngọn đồi. Từ trong làng đi xuống hết con dốc đất đỏ là tới ngay chợ Phủ. Chợ nằm bên cạnh một con sông tôi không nhớ tên. Chợ là một khoảnh đất nhỏ, lèo tèo mấy cái quán lá, chẳng thấy ai buôn bán gì.

    Từ Huỳnh Công đi ra Bắc, người bộ hành phải qua một vùng có tiếng “dữ dằn” trong lịch sử. Đó là một cái truông cát rộng và hoang vắng, có chỗ cây cối um tùm, dân địa phương gọi nôm na cái truông ấy là Hạ Cờ (2). Sách sử thì gọi truông nhà Hồ.

    Truông nhà Hồ là phần cực Bắc tỉnh Quảng Trị, sát ranh giới tỉnh Quảng Bình.

    Ca dao có câu:

    Đường vô xứ Huế quanh quanh,
    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
    Thương anh em cũng muốn vô
    Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.


    Đang khi gia đình tôi trú ngụ tại Huỳnh Công thì có tin Tây đổ bộ lên Đồng Hới, con đường ra Thanh Hóa coi như bị cắt, không đi được. Bấy giờ lại có tin các “cơ quan” giải tán. Mẹ tôi cùng các con ở lại đó chờ tin cậu tôi.

    Thời gian gia đình sống ở Huỳnh Công không lâu, chỉ mấy tháng, nhưng tuổi thơ cua tôi có nhiều kỷ niệm với nó.

    Bấy giờ đã cuối xuân nhưng trời còn lạnh lắm. Mỗi khi muốn đi tắm, tôi phải xuống cái “giếng mội” ở dưới chân đồi. “Giếng mội” là loại giếng phun, nước nóng, vừa đủ ấm khi dội lên người. Nhưng khi dội nước xong rồi, gió bấc thổi đến lạnh cóng, tím da. Thứ hai là con đường đất đỏ từ làng xuống chợ Phủ, trơn trợt. Tôi cũng đã có lần té khi đi trên con đường dốc nầy.

    Dân làng Huỳnh Công nghèo lắm. Công việc tôi thường thấy người dân làm là vô rừng chặt những giây leo dài, to bằng ngón chân cái, đem về đập dập, đánh xoắn lại thành giây, bán cho dân chài. Nghề thứ hai là trồng sắn, tức là khoai mì. Khoai mì nhổ về, xắt lát phơi khô, cất vào lẫm. Nghề thứ ba là trồng mít và hồ tiêu. Trồng mít để lấy trái, lấy gỗ và trồng hồ tiêu bên cạnh gốc mít. Giây tiêu bám vào cây mít mà leo lên cao, trái rất sai.

    Bấy giờ hột tiêu đã lớn, nhưng chưa già lắm nên người ta chưa hái. Tuy nhiên, cũng đã có những hột tiêu già, võ từ màu xanh chuyển sang mầu vàng, mầu đỏ, đỏ sậm rồi rụng xuống đất.

    Mỗi sáng, tôi thường đi theo chị Miên, con bà chủ nhà ra vườn, lượm những hột tiêu già đã rụng xuống đất, cũng như hái những hột tiêu đỏ, vàng còn ở trên giây. Các hột tiêu nầy đem phơi khô, chà tróc võ, chỉ còn cái sọ của hột tiêu, gọi là tiêu sọ. Tiêu sọ dùng làm thuốc, hơn là để ăn.

    Gia đình chị Miên chỉ có ba mẹ con: Mẹ chị và một đứa em gái, khoảng sáu bảy tuổi. Cha của chị, là đảng viên đảng Cộng Sản đã theo ông Trần Công Khanh ra Thanh Hóa, trước khi “mặt trận Quảng Trị vỡ” ít lâu.

    Chị Miên khoảng 18 tuổi, cùng tuổi với anh cả tôi. Anh cả tôi nguyên là trưởng ban “thiếu niên liên lạc” của trung đoàn 95 Vệ Quốc Đoàn. Khi Tây đánh ra Quảng Trị, đơn vị tan tác, anh tôi tìm về với gia đình, cùng chạy tản cư.

    Có lẽ sự quan hệ giữa chị Miên và ông anh cả của tôi là do hai người cùng tuổi, đầu tiên là qua một tập thơ. Nhà chị Miên có một tập thơ chép tay thơ của Tố Hữu. Anh cả tôi mượn đọc và thuộc lòng một bài thơ tôi không nhớ tên, nhưng nhớ được mấy câu:

    “Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu.
    Dấn thân vô là phải chịu tù đày.
    Là gươm kề tận cổ súng kề tai.
    Là thân sống chỉ coi còn một nửa...”


    Sau khi hai người quen nhau, mỗi buổi sáng, tôi không còn đi lượm hột tiêu rụng với chị Miên nữa. Anh cả tôi và chị ấy cùng đi nhặt hội tiêu với nhau. Họ vừa đi vừa nói chuyện. Vườn tiêu rộng lắm, nhiều khi họ đi sâu vào vườn, mất hút, không thấy bóng dáng ở đâu, chỉ nghe hai người chuyện trò cười nói với nhau.

    Mẹ tôi cũng như bà chủ nhà nghĩ rằng hai người phải lòng nhau. Một hôm, mẹ tôi nói:

    - “Mai mốt yên rồi thì tui về tỉnh (tỉnh lỵ - tg). Chị cho con Miên về làm dâu tui.”

    Bà chủ nhà cười, nói:

    - “Con tui lớn lên ở chỗ quê mùa, không biết về thị xã có biết làm dâu hay không?”

    Mẹ tôi nói:

    - “Làm dâu chi! Nó có bằng “ri-me” (3) thì cậu mấy đứa xin cho đi dạy. Không ưng đi dạy thì ra chợ mở một cửa hàng mà buôn bán. Con gái tui lấy chồng, bắt thằng chồng đi theo vợ, chớ nó có đâu làm dâu!”

    Câu chuyện ấy đến tai hai người nên hai người tự do hơn, chuyện trò với nhau ngay trong nhà, không tránh né như trước đó.

    Vậy mà rồi cha chị Miên về bất thần, ở lại một đêm. Sáng ra, ông trở ra Thanh Hóa rất sớm, đem cả chị Miên đi theo. Anh tôi biết rằng ông chủ nhà bảo thanh niên phải ra hoạt động cách mạng, không được du dú ở nhà. Tuy nhiên, anh tôi cũng biết thêm rằng ông chủ nhà không muốn con gái ông kết hôn với người thành phố. “Người thành phố thường theo Tây”. Sau nầy lớn lên, nghĩ tới câu nói đó, tôi vẫn cho rằng cha chị Miên có cái nhìn sai lạc, nặng “giai cấp đấu tranh.”

    Dân tiểu tư sản thành thị ở quê tôi có rất nhiều người tham gia kháng chiến. Hồi “Nam Bộ Kháng chiến” đã có nhiều thanh niên tình nguyện vào Nam, như anh Khang, anh Mông, có người đi không về. Họ hy sinh đâu trong ấy. Khi Việt Minh nắm chính quyền, cũng có nhiều người hợp tác với họ, như anh Tú Mân (4) ra làm trưởng ty Thanh Niên, sau làm hiệu trưởng trường trung học. Em anh Tú Mân là anh Phạm Ngọc Hồng, làm trung đội trưởng Vệ Quốc Đoàn, bị Tây giết khi anh chỉ huy trung đội chặn đường đánh Tây ở cầu Nhùng. Anh Hồ Ứng Phùng cũng làm trung đội trưởng Vệ Quốc Đoàn. Anh Phùng bỏ Việt Minh sau khi “mặt trận Quảng Trị” vỡ. Các anh Bái, Phục, Tẩu... cũng theo Việt Minh và đi luôn, không thấy ai trở về.

    Việc chống Pháp giành độc lập là việc của toàn dân, đâu phải chỉ riêng ai.

    Thế rồi gia đình tôi, sau khi không ra Thanh Hóa nữa, bèn quay về làng An Mỹ, huyện Gio Linh. Các “cơ quan” giải tán, cậu tôi cũng tìm về làng nầy, hy vọng gặp gia đình. Được ít tháng, người chị cả tôi qua đời vì bệnh, gia đình tôi lại chạy về Chợ Thuận ở làng Đại Hào. Tại đây, theo lệnh Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh, cậu tôi lên Ba Lòng làm việc lại với cơ quan cũ của ông. Mẹ tôi cũng dắt các con lên theo. Cũng chỉ được một năm, cậu tôi lại qua đời vì bệnh. Đến giữa năm 1948, gia đình tôi hồi cư về lại thị xã.

    Bấy giờ ở thành phố, Tây khủng bố thanh niên rất gắt gao. Anh Nguyễn Ấu, anh của Nguyễn Châu, anh Đỗ Nho, em ông Đỗ Phước bị Tây bắt thủ tiêu, bằng cách đem ra vườn hoa thị xã, chỗ bờ sông dốc đứng, bắn chết rồi đạp xuống sông. Nổi tiếng tàn ác nhất thì có tên quan hai Tây (tiếng gọi hồi đó) tên là Chevalier, “xếp” Deuxième Bureau, và tên Tuilier, chánh sở Mật Thám Liên Bang.

    Anh cả tôi cùng theo gia đình từ chiến khu về, lại từng làm công an Việt Minh nên mẹ tôi rất sợ cho tính mạng ông.

    Ở lại quê nhà được ít tháng, anh cả tôi vào Huế, làm chủ nhiệm và chủ bút báo Ý Dân, một tờ báo chống Tây và chống ông thủ hiến Phan Văn Giáo.

    Nhân vụ tên Kock, lính Lê Dương ám sát ông Hà Văn Lang, đổng lý văn phòng phủ thủ hiến, Tây mở đợt truy quét, anh cả tôi bị bắt giam. Mẹ tôi, lúc đó gia đình ở Quảng Trị nhưng phải ở lại Huế thăm nuôi con. Hôm ông “quan một” Lê Nhữ Hùng đến khám tòa soạn tờ báo của ông anh tôi, tại số 11 Trần Thúc Nhẫn Huế, ông thu hết giấy tờ ở đó. Mẹ tôi khóc, xin ông cứu xét, ông ta nói:

    - “Con bà làm Việt Minh!”

    Tôi không bênh vực hay phê phán việc anh cả tôi “làm Việt Minh”. Thời kỳ năm 1949- 50, “làm Việt Minh” nghĩa là gì, không phải là vì yêu nước, muốn chống Pháp giành độc lập hay sao?

    Thế rồi anh cả tôi gị đưa đi giam ở nhiều nơi, ở Deuxièm Bureau, sau giao qua cho Nha Công an Trung Việt. Ở đây lại giao về cho Mật thám Tây. Cuối cùng, anh tôi bị giam tại lao Thừa Thiên, nơi sau nầy cơ sở viện đại học Huế. Mỗi khi bị chuyển nơi giam giữ, mẹ tôi phải đi tìm, xin thăm nuôi, gởi “đồ tiếp tế” tức là thức ăn, suốt mấy tháng ròng.

    Lao Thừa Thiên là nơi giam giữ cuối cùng anh tôi, được ít lâu, anh ấy bị thủ tiêu, không biết giết ở đâu, vào ngày tháng nào, cũng không rõ chôn ở đâu!

    Mẹ tôi lại đi hỏi thăm tin tức, hết cơ quan an ninh, qua Mật Thám, Công An, nơi nào cũng trả lời không biết.

    Cuối cùng thì mẹ tôi đi xem thầy bói. Thầy bói thì ở ngay đường Hậu Bổ (5), đi coi đồng thì tới “Nhà ông trạng” ở con đường xóm trên dốc Bến Ngự. Có khi mẹ tôi cũng rước đồng về nhà, cúng vái nhờ đồng lên chỉ giúp nơi chôn cất thi thể anh tôi vì mẹ tôi càng lúc càng không hy vọng anh tôi còn sống.

    Coi bói, bốc mu rùa, coi bài, thầy lên đồng cũng nhiều nhưng không ai chỉ được chỗ anh tôi nằm ở đâu!

    Ở Huế, người ta nói với mẹ tôi Tây thường thủ tiêu người ở Xóm Ruộng (sau nầy là đường Triệu Ẩu), mẹ tôi bèn tới đó hỏi thăm. Chỗ nầy có cây cầu bắc qua một con suối nhỏ, hai bên toàn là ruộng, có nhà cửa ai đâu để hỏi thăm! Có người lại nói Tây cũng thủ tiêu người Đập Đá, mẹ tôi cũng tới tìm. Hai bên đập cũng có nhà dân, nếu Tây có bắn người thủ tiêu rồi xô xuống sông thì cũng làm lúc nửa đêm, có ai dám ra khỏi nhà mà biết gì. Mẹ tôi cũng đành chịu. Lại nghe nhói Tây thủ tiêu người ở cầu ga xe lửa, hai bên đầu cầu chỉ có đồn lính gác, mẹ tôi có hỏi han gì ai được đâu!

    Thất vọng trở về, mẹ tôi khóc hằng đêm vì thương con, khóc đến nỗi hai mắt mẹ tôi đỏ hoe. Mắt mẹ tôi kèm nhèm thật, hai viền mắt hình như bị lở loét. Mẹ tôi cũng có dùng nhiều thuốc điểm mắt, nhưng không bao gờ lành được.

    Ấy là chuyện mẹ tôi đi tìm xác con!

    Sau tháng Tư- 75 được ít lâu, một người đàn bà mang dép râu, đội nón cối, áo sơ mi cụt tay, quần đen, đến tìm mẹ tôi ở Sài Gòn. Người đàn bà ấy nói:

    - “Con đi tìm mợ suốt từ Quảng Trị vô đây. Vô thị xã, thị xã tan hoang hết cả, vắng hoe, không còn ai ở đó cả, chỉ có mấy gia đình làng Thạch Hãn mới dọn về. Họ biết mợ, cho địa chỉ ở Huế. Con đi Huế, người ta nói mợ ở Saigon, cũng cho địa chỉ. Con đi Saigon.”

    Mẹ tôi hỏi:

    - “Chị là ai mà tìm tui?”

    Người đàn trả lời:

    - “Chắc mợ không quên hồi tản cư ra làng Huỳnh Công?”

    Mẹ tôi không quên thật. Mẹ tôi ôm người đàn bà ấy mà khóc:

    - “Miên! con là Miên?”

    Người đàn bà trả lời:

    - “Dạ! Con là Miên.”

    Mẹ tôi giữ người đàn bà ấy lại với mẹ tôi, chuyện trò với chị. Mẹ tôi hỏi:

    - “Hồi đó con ra Thanh Hóa rồi đi luôn?”

    - “Không mợ à. Ra ngoài đó con cũng không làm chi cả, Ít lâu, con bỏ cha con ngoài đó, về lại Huỳnh Công với mạ con. Mợ với gia đình đã hồi cư rồi. Sau hòa bình, con ở phía ngoài vĩ tuyến, con lấy chồng, vợ chồng con cũng làm rẫy như mạ con!”

    - “Được mấy con?” Mẹ tôi hỏi.

    - “Dạ hai, một gái một trai. Đứa con trai, năm 1971 bị bắt đi nghĩa vụ”. Chị Miên trả lời.

    - “Đã nghĩa vụ mà còn bị bắt gì nữa. Nói nghe buồn cười.” Anh kế tôi đang ngồi nghe chuyện, nói.

    - “Không chú à! Nghĩa vụ là người ta nói, còn như thanh niên, ít người tình nguyện, phần đông ai cũng phải đi, không đi cũng không được, ở không yên.” Chị Miên giải thích. “Nó đi bộ đội năm mới 16 tuổi.” Chị Miên nói thêm.

    - “Mới 16 tuổi mà đi chi?” Mẹ tôi hỏi.

    - “Năm đó, “đảng và nước” cần thanh niên đi Nam nên họ vay. Vay 2 tuổi.” Chị Miên trả lời.

    - “Tiền bạc chi mà vay. Vay khi mô trả?” Mẹ tôi nói.

    - “Thì họ nói cho có nói. Vay hay không vay, khi bị kêu tới thì phải đi.” Chị Miên nói.

    - “Thằng đó là con trai một, không được miễn?” Mẹ tôi lại hỏi.

    - “Nó có một chị gái. Trai gái như nhau, nên còn một con gái ở lại là được.” Chị Miên trả lời. Một lúc sau, chị nói:

    - “Nó đi được hơn một năm thì nghe người ta nói nó tử trận, đâu ở Long Khánh. Khi đó nó cũng chưa tới 18 tuổi.”

    Mẹ tôi thở dài, có vẻ buồn. Có lẽ mẹ tôi nghĩ tới mấy người con chết trẻ của mẹ tôi. Anh Thạnh tôi thì bị Tây thủ tiêu năm 21 tuổi. Hùng móm thì tử trận hồi năm 1972, khi nó 28 tuổi. Bỗng mẹ tôi hỏi:

    - “Người ta không báo tin?”

    Chị Miên trả lời, giọng nói buồn, như đang nghẹn khóc:

    - “Không báo tin chết, không có tin tức chi cả. Sau “giải phóng” mấy đứa bạn cùng quê với nó về nói lại mà thôi.”

    Mẹ tôi hỏi:

    - “Bây chừ con đi tìm con?”

    - “Dạ! nghe nói chết ở Long Khánh, cũng rán đi tìm cốt mà đem về!”

    Mẹ tôi nói như than:

    - “Chết trong núi, chôn trong rừng, biết chỗ mô mà tìm con ơi!”

    - “Cũng phải đi thôi mợ à! Thương con, lòng không nguôi được.”

    - “Đất khách quê người, thôi để mạ để mấy đứa chở con với mạ đi Long Khánh một chuyến coi thử.”

    Thấy mẹ tôi đổi cách xưng hô là mạ, có lẽ đó là do sự thông cảm giữa những người mẹ với nhau, chị Miên vui hơn một chút, nói:

    - “Phải chi con không đi Thanh Hóa, con đã làm dâu mạ rồi.”

    Mẹ tôi chỉ cười.

    Mấy bữa sau, ông anh tôi thuê chiếc xe hơi nhỏ, lên Long Khánh, vào Ủy Ban Nhân Dân hỏi thăm. Chẳng ai giúp đỡ gì cho chị Miên được.

    Anh kế tôi nói:

    - “Chị ăn mặc theo kiểu bộ đội mà cũng chẳng ai giúp đỡ chi!”

    Chị Miên nói:

    - “Ngoài đó kỳ cục lắm, ăn bận thường, không ai coi ra chi! Tưởng vô đây người ta “vị tình” mà cũng chẳng được chi!”
    Trên đường về, mẹ tôi nói: “Mấy ông “cách mạng” nầy, tình nghĩa gì đâu!”

    Hôm sau, anh tôi than với mẹ:

    - “Nhà có người mặc đồ bộ đội đi vô đi ra, hàng xóm người ta không ưa. Người ta tưởng mình lấy bộ đội ra mà hù dọa xóm làng. Họ tưởng mình theo đuôi Dziệt Cộng.”

    Mẹ tôi nói:

    - “Theo đuôi chi! Hắn cũng bị bắt con đi lính, chết không biết xác ở đâu! Một đời mạ gian khổ vì mấy đứa con, khóc cho mấy đứa con. Nghĩ tới mình nên mạ thương nó cũng khổ như mạ. Người làm mẹ dễ thông cảm người làm mẹ con à!”

    Thương chị Miên, mẹ tôi cùng đi với chị Miên lên Long Khánh mấy lần nữa, lần mò tới vùng núi Chứa Chan là nơi chị nghe mấy đứa bạn con chị kể lại chỗ đánh nhau và chết chôn ở đó, ở trong rừng. Cũng không có kết quả gì. Chị đành khóc mà về lại làng cũ.

    &


    Năm 1977, từ trại “tù cải tạo” Suối Máu, tôi bị đưa về trại “tù cải tạo” Xuân Lộc, Z30-A, trại B, là “trại cây”, cách đồi Phượng Vĩ khoảng hai cây số. Trại trên đồi gọi là trại A.
    Tôi ở đội 19, đội trưởng là cựu đại úy Trương Đình Gòn, quản giáo tên Chinh, tôi không biết họ.

    Suốt mùa hè năm đó, chúng tôi chặt cây, phá rừng, gom cây lại, đốt, chuẩn bị đất, chờ mưa tới thì trồng bắp.

    Khi dọn rừng, thấy khoảng hơn một chục chỗ đất hơi khác, anh em trong đội chúng tôi đoán là mộ. Chỗ nghi có mộ, mặt đất có lẫn lộn sỏi và đất đỏ. Có nghĩa đó là lớp đất ở dưới bị đào lên, khác với lớp đất trên mặt mịn hơn, không có sỏi, do lá cây rừng rụng xuống mà thành.

    Nhà thơ tá c giả “Nét Gầy và Mây” Nguyễn Hoàng Thu, người rất ít nói, có lẽ vì lòng bác ái (anh theo đạo Thiên Chúa) tự nhiên hôm đó “cóc mở miệng” về chuyện mấy ngôi mộ với Dương Tiến Đông. Đông, người năng nổ, hoạt bát, cũng hay thương người, tới nói với quản giáo Chinh:

    - “Tui nghĩ mấy chỗ nầy có chôn người ở dưới. Chắc là cán binh “cách mạng”, không phải lính Cộng Hòa. Trung đoàn đóng trên đồi Phượng Vĩ, cách chỗ nầy có bao xa, nên họ không bỏ xác lại đây đâu. Đây là lính “cách mạng”, tui nghĩ nên cải táng họ.”

    Cán bộ Chinh trả lời:

    - “Chết thì thôi, biết bao nhiêu người bỏ thây trên Trường Sơn, ai cải táng cho.”

    - “Vậy thì cứ cuốc đất lên, trồng bắp lên trên.” Đông hỏi, vẻ bực mình, bất mãn.

    - “Coi như không có gì hết, cứ thế mà làm!”

    Đông la to cho mấy anh em trong đội cùng nghe: “Cứ cuốc lên hết, trồng bắp cho mau tốt.”

    Xong, anh quay ra nói riêng với vài người bên cạnh:

    - “Tụi nầy chó má thật”

    Câu chuyện ở trại tù làm tôi nhớ tới chị Miên đì tìm xác con.
    Không cách nào để chị có thể tìm được xác con chị được, cũng giống như ngày trước mẹ tôi đi tìm xác anh tôi vậy. Trong khổ đau và lòng mẹ thương con thì ai cũng như ai!


    hoànglonghải





    (1) Nói theo danh từ thời ấy.

    (2) Hạ cờ là tên một thôn, cũng là tên truông nhà Hồ, thuộc làng Hồ Xá. Cả hai địa danh nầy đều thuộc phủ Vĩnh Linh. Tục truyền khi quân của vua Quang Trung, đi qua thôn nầy, theo con đường giữa hai hàng tre dày đặc nên phải “hạ cờ” xuống. Làng có tên Hạ Cờ là từ tích ấy. Lại có người bảo, khi quan nội tán Nguyễn Khoa Đăng đem quân ra đánh dẹp bọn cướp ở đây, cho quân “hạ kỳ” dừng chân ở đây, nên thôn nầy mới có tên Hạ Cờ. Nhờ công dẹp giặc cướp của quan Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng, nên tiếp bốn câu ca dao trên thì có lời đáp:

    Phá Tam giang ngày rày đã cạn
    Truông nhà Hồ nội tán dẹp yên


    Câu ca dao là “Đường vô xứ Huế...” Dziệt Cộng sửa là “Đường vô xứ Nghệ...” là do bọn “văn nô” bày đặt ra trong chủ trương “suy tôn lãnh tụ” đấy!

    (3) “Primaire Certificat, bằng tiểu học thời Pháp thuộc.
  12. Truyện 30 tháng Tư,

    Cuộc chiến đấu nầy vẫn chưa phân thắng phụ
    Ta vẫn còn đây và sắt thép còn kia
    Chết chóc thầm âm, cốt nhục chia lìa
    Ta vẫn sống và không hề lẩn lú

    (Thơ Vô Đề)


    § § § § § § §​




    Tùng thuộc một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đóng ở miền Trung. Đầu năm 1975, Tùng bị thương, được nghỉ “29 ngày tái khám”. Vết thương nặng, xương tay bị mẻ, Tùng có thể “giải ngũ theo đơn xin.”

    Tùng chưa tính tới việc xin giải ngũ. Anh về nhà mẹ nghỉ, chờ tái khám, rồi tính sau.

    Nhà Tùng nghèo, chỉ có hai mẹ con. Từ lâu, khi Tùng còn đi học, mẹ Tùng mở một cái quán bán tạp hóa nhỏ, phía ngoài phi trường Trà Nóc, trên con “đường quốc lộ” Cần Thơ đi Châu Đốc.

    Chiều chiều, ngồi buồn, Tùng thường uống cà phê trước mái hiên quán của mẹ,
    bâng quơ nhìn người đi đường qua lại, giết thì giờ.

    Thế rồi tin thất trận dồn dập đưa về, hết mất Ban Mê Thuột, tới Cao Nguyên, Trị Thiên... làm cho Tùng lo lắng, băn khoan. Không hiểu đơn vị của Tùng, các bạn của Tùng bây giờ như thế nào. Đơn vị đang đóng ngoài Trung, phía ngoài làng Gia Đẳng, bây giờ rút về đâu, có an toàn không, ai còn ai mất?

    Nhà Tùng không có ra-dzô, không có TiVi, Tùng phải mua báo để theo dõi tin tức vậy. Việc đọc báo giải trí, Tùng chỉ mới làm quen từ khi đi lính. Đời lính nhiều khi buồn, nhớ nhà, để giải khuây, người ta đọc báo. Một tờ báo có người mua về, cả bọn chia nhau đọc, lâu ngày cũng thành thói quen.

    Bây giờ thì Tùng đọc báo, theo dõi tin tức chiến sự, coi thử “quân mình” rút chạy ra sao, tới đâu rồi, hơn là đọc tin “Xe cán chó, chó cán xe” như ngày trước.

    Khi có tin Dziệt Cộng áp sát Saì Gòn, không còn báo cho Tùng đọc nữa. Quốc Lộ 4 bị cắt, báo Saigon không về Cần Thơ được. Tùng hỏi thăm tin tức ở mấy người hàng xóm, có nhiều gia đình là sĩ quan, công chức. Họ theo dõi tin tức qua đài phát thanh hay TiVi, Tùng hỏi lại. Tin tổng thống từ chức, tin hôm qua ông đại tướng đầu hàng làm cho Tùng tức tối, khó chịu. Thua sao? Thua được sao? Sao mà kỳ dzậy? Chưa đánh nhau mà? Chưa đánh sao đã thua? Bao nhiêu câu hỏi đầy ắp trong trí Tùng. Trời! đi lính đã 5 năm, đánh nhau với Dziệt Cộng biết bao nhiêu trận. “Đuổi tụi nó chạy có cờ”. Tùng nghĩ! Đâu có thể thua dễ dàng như dzậy được. Tùng hắc mắc, khẳng định. Sáng hôm nay, có tin buồn! Hai ông tướng ở Cần Thơ tự tử tối qua! Thiệt không? Tùng không tin! Tùng không tin!

    Lính bỏ đơn vị ra về, kéo nhau đi hàng dài ngoài đường. Sớm hơn thường lệ, Tùng cầm ly càphê đá, ra ngồi trước hiên quán của mẹ, nhìn ra đường.

    Thua thật rồi. Tùng cảm nhận một cách rõ ràng như vậy. Không còn nghi ngờ gì nữa. Chuyện thua trận, đọc trong báo, nghe nói lại, là việc xảy ra ở đâu đâu, còn mơ hồ, còn nghi ngờ. Hôm nay thì rõ ràng, việc thua trận rõ ràng diễn ra trước mắt Tùng.

    Lính đi hàng loạt bên đường. Họ cởi áo, chỉ còn mặc cái quần trận, không mang giày “xô”, không mang giày vải. Họ đi chân đất, mang dép Nhựt, đầu cúi xuống, đi lầm lủi, không ai nói với ai một lời. Người đi trước lầm lủi đi trước, người đi sau lầm lủi đi sau, thành hàng dài, không nhanh, không chậm, cứ im lặng như thế mà ra về.

    Từ hướng phi trường Trà Nóc, từ hướng Cần Thơ, họ cứ hướng về phía Tây, phía Long Xuyên mà đi. Họ đi đâu? Họ về nhà, bỏ đơn vị về nhà, bỏ đời lính, bỏ đơn vị, bỏ súng đạn, bỏ quần áo, lặng lẽ mà về.

    Thế là hết! Hết thật. Tùng thấy mình cũng hết như họ. Có nghĩa là Tùng không còn “29 ngày tái khám” để trở về đơn vị, về với “ông Thầy”, với cấp chỉ huy, với đồng ngũ, bạn bè... Không còn gì nữa để Tùng trở về. Vậy là không còn chinh chiến, không còn lội rừng lội suối, không còn cơm sấy, cá hộp, không còn lo lắng, hồi hộp chờ đợi trong những đêm phục kích, chờ “mấy thằng cùi” (1), chờ tiếng mìn claymore, chờ lựu đạn cài nổ, chờ tiếng súng lệnh...
    Và thế là hết. “Ông Thầy” cũng hết. Bạn bè cũng hết. Không mong gặp lại họ trong đời. Kẻ ở Nam về Nam. Kẻ ở Trung về Trung, kẻ về thanh phố, kẻ về miền quê. Ai cầm búa, cầm kềm sẽ lại cầm búa, cầm kềm. Ai cầm cày cầm cuốc, sẽ cầm cày cầm cuốc. Vậy là thua. Thua thật rồi. Thua một cách dễ dàng, thua dễ vậy sao? Tùng không tin, Tùng còn thắc mắc, băn khoăn.

    Đoàn lính thua trận bỏ đơn vị ra về vẫn còn lặng lẽ đi qua đường. Tùng cố tìm thử có ai quen. Thế nào cũng phải có người quen chứ! Và bỗng thấy một người. Tùng hướng về phía một người đi xa xa, phía bên kia đường, gọi:

    - “Ê! Tư Ếch. Mày về đó sao?”

    Người lính dừng lại, ngó về hướng Tùng, người gọi tên. Anh ta vừa chạy về phía Tùng, vừa la to:

    - “Tùng lì. Mày về hồi nào?”

    Hai người là bạn học cũ!

    Tư Ếch có hai con mắt hơi lồi, mắt ếch, nên được bạn học tặng cho cái danh hiệu Tư Ếch. Còn Tùng, đánh lộn rất lì đòn, nên cũng được một danh hiệu chứng tỏ cái tính lì của anh ta.

    Tùng đứng dậy, đón bạn học cũ, kiếm một cái ghế cho bạn ngồi, và làm cho bạn một ly càphê đá như Tùng.

    Tùng hỏi:
    - “Hình như mầy ở phi trường Trà Nóc?”

    - “Tao ở trong đơn vị an ninh phi trường.” Tư Ếch trả lời. Rồi anh ta nói thêm:

    - “Tức thiệt mầy ơi! Mới hai bữa trước, tao chỉ huy tiểu đội phục kích phía ngoài phi trường. Tình hình nầy thế nào tụi nó cũng tới quấy rối. Bị tao dần cho một trận, bỏ lại hai mạng. Mấy “thằng cùi” (1) còn lại chạy trối chết mới toàn thây. Vậy mà bữa nay mình đầu hàng. Kỳ cục quá!”

    - “Tao cũng không ngờ được. Bữa tao bị thương cũng là bữa tao dần cho tụi nó một trận. Vậy mà bây giờ...” Tùng bỏ lững câu nói.

    - “Như thường lệ, chiều hôm qua, nghe tin ông đại tướng đầu hàng, tao vẫn dẫn tiểu đội đi phục kích. Ông Tướng Vùng biểu mình còn đủ sức chơi, lấy sông Bến Lức làm ranh mà giữ Vùng Bốn. Ai cũng hoan hô tinh thần của ông, cũng sẵn sàng. Vậy mà sáng nay, khi tao dẫn lính về, cả doanh trại xôn xao. Hai ông tướng cùng tự tử. Tức không! Vậy rồi, như rắn mất đầu, mạnh ai nấy đi, về hết, lần lượt về hết.”

    - “Nhiều người về sớm lắm, sao giờ nầy mầy mới về?”

    - “Bữa kia tụi nó pháo kích, chết một binh nhì, đem qua quân y viện. Tao chờ gia đình cho biết nhận quan tài về chôn rồi, tao mới về, bỏ về sớm không được!”

    Hai người đang ngồi nói chuyện thì bỗng có một thanh niên đạp xe đạp vào quán. Anh ta dựng xe cạnh gốc cây. Tùng và Tư Ếch nhận ra đó là Nghi, bạn học cũ. Tùng hỏi:

    - “Người ta về hết rồi, mầy đi đâu đây?

    Nghi không nói gì, ngồi xuống cái ghế đòn dài, bên cạnh hai người, hỏi:

    - “Ông Tướng Vùng chết rồi phải không?”

    - “Tao cũng nghe nói!”

    - “Tao không tin!” Nghi nói. “Mấy ông ngụy trang, đánh lạc hướng tụi nó đó. Sáng nay, mấy ông ở xã tao bàn tán việc nầy dữ lắm. Có người còn dẫn chuyện ông Hít-Le. Khi phe Đồng Minh vô tới Bá-Linh, thấy những 7 ông Hít-Le. Cuối cùng, ông Hít-Le thật không tìm thấy đâu cả. Ông ta phải sống để chờ ngày phục thù chớ! Vậy nên mấy ông ở xã tao không tin ông Tướng Vùng tự tử. Mấy ổng yêu cầu tao đạp xe lên Cần Thơ tìm hiểu cho rõ, coi thử có phải ông Tướng Vùng tự tử thật không?”

    - “Để làm chi?” Tư Ếch hỏi.

    - “Để làm chi? Sấm của Đức Thầy nói không có chuyện đó. Hễ coi ông Tướng Vùng “khởi nghĩa” ở đâu thì người ta theo dzô.”

    - “Mày làm chi ở xã?” Tùng hỏi.

    - “Tao làm xã đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn An Thạnh Trung, Chợ Mới. Dân xứ tao không chịu thua đâu! Họ đang chờ coi quân mình rút đi đâu?” Nghi nói.

    Nghi cũng là bạn học với Tùng và Tư Ếch. Anh ta vô ngành Bình Định Nông Thôn sau khi thôi học như Tùng vậy.

    Tư Ếch nói:

    - “Tao cũng nghe nói chớ không thấy tận mắt. Sáng nay, người ta cũng nói ông trung úy Thuận đem mấy chục lính vô bưng, không chịu đầu hàng.”

    - “Trung úy Thuận nào?” Tùng hỏi.

    - “Ông làm sĩ quan an ninh phi trường, nổi tiếng chì.”

    Tư Ếch nói:

    - “Thấy người ta về, tao về theo nhưng trong lòng còn ấm ức lắm. Tụi bây nên nhớ tối hôm qua tao còn đi phục kích tụi nó. Tức ơi là tức! Làm sao bây giờ?”

    - “Để coi!” Tùng nói. Xong, anh ta quay sang hỏi Nghi:

    - “Ở xã mầy người ta chộn rộn lắm à?”

    - “Chộn rộn gì đâu! Dân chúng người ta tức. Dzậy mà thua! Người ta không chịu thua, còn tin vào quân đội mình, còn tin Đức Thầy, còn tin Sấm giảng. Không thua đâu! Đồng bào xã tao chưa chịu thua đâu!”

    - “Tao biết mà! Dân Long Xuyên, dân của Đức Thầy, của ông Năm, ông Ba (2), không chịu buông súng dễ dàng.” Tùng nói.

    - “Biết làm gì bây giờ?” Tư Ếch than.

    - “Đừng than! Đơn vị tao đánh nhau với tụi nó nhiều trận, cũng “tơi bời” lắm, nhứt là hồi đánh vô “cổ thành” (3). Tao nhớ hồi đó, ông Thầy tao đang làm trung đội trưởng, mỗi lần “hao” (4) là ông ta khuyến khích lính. Ổng hay đọc bài “Hồ Trường” cho cả bọn nghe, để lên tinh thần.

    - “Tao nhớ bài nầy. Năm đệ tứ ông thầy dạy Việt văn có dạy mà. Bài thơ hay mà tao không thuộc được.” Tư Ếch nói.

    - “Dzậy mầy mới thi hỏng. Tao cũng hỏng, nhưng tao nhớ hôm ông dạy bài thơ ấy. Đứng trên bục, ông hoa tay phía bên nầy, hoa tay phía bên kia mà đọc thơ, nghe vừa hay vừa thích mà vừa buồn cười.” Tùng nói.

    Nghi hỏi:

    - “Sao buồn cười mầy?”

    - “Tại vì ông thì nhỏ con, ốm nhom, ông làm điệu bộ, mà bài thơ thì hào hùng quá! trông ông như “gan cóc tía”, nên thấy buồn cười.” Tùng giải thích. “Ông Thầy” tao thì hào hùng hơn, khi đọc, ông cũng đứng thẳng dậy làm điệu bộ, nhưng ông lớn con, mặc đồ trận, trông không “sầu thảm” như ông thầy dạy Việt Văn. Ổng ngon lắm, ông học trường Chiến tranh Chính Trị ở Đà Lạt ra, nhưng khi về đơn vị, ông xin đi tác chiến, không chịu ngồi ở trung đoàn.”

    - “Tao cũng thích bài thơ đó. Bọn mình chẳng đứa nào nhớ, uổng thiệt!” Nghi nói.

    - “Để tao tìm lại coi.”

    Nói xong, Tùng đi vào nhà trong.

    Một lúc, Tùng bước ra, tay cầm gói giấy buộc giây bốn phía. Từng vừa mở giây, vừa nói:

    - “Bà già tao kỹ lắm. Tao đi lính rồi, sách vở cũ tao học, bà gom lại, buộc giây đem cất. Quần áo cũng vậy, xếp cất, chờ khi tao về phép, có mặc.”

    Tìm lần hồi một lúc, Tùng nói:

    - “Đây rồi, cuốn tập nầy Việt Văn lớp Đệ Tứ, có bài “Hồ Trường” trong nầy.”

    Tìm được bài thơ, Tùng, một tay cầm cuốn tập để đọc vì Tùng không thuộc, một tay làm điệu bộ giống như ông thầy dạy Việt Văn hồi ấy, đọc to cho cả bọn nghe:

    “Đại trượng phu không hay xẻ gan bẻ cật phù cương thường
    Hà tất tiêu dao bốn bể lưu lạc tha phương
    Trời Nam nghìn dặm thẳm
    Non nước một màu sương
    Chí chưa thành, danh chưa đạt
    Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc
    Trăm năm thân thế bóng tà dương
    Vỗ gươm mà hát
    Nghiêng bầu mà hỏi
    Trời đất mang mang ai người tri kỷ
    Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
    Hồ trường! Hồ trường!
    Ta biết rót về đâu?


    Tùng ngưng đọc thơ ở đó, hỏi bạn, mặt còn đỏ bừng, hai mắt sáng lên vì đọc thơ:

    - “Phù cương thường là cái gì tụi bây?”

    Nghi nói:

    - “Cương thường chắc là “tam cương ngũ thường?”

    Tư Ếch hỏi:

    - “Tam cương là “Quân Sư Phụ” có phải không? Còn ngũ thường là...”

    Nghi cướp lời:

    - “Là nhân nghĩa lễ trí tín đó mầy!”

    Tư Ếch nói:

    - “Quân sư phụ là xưa rồi mầy, còn phong kiến.”

    Nghi nói:

    - “Mầy nghe mấy thằng Dziệt Cộng tuyên truyền bậy bạ.

    Quân là vua. Bây giờ ai còn tin vua? “Bác” Hồ còn không tin được, nói chi vua. Người ta hiểu Quân là Tổ Quốc, Dân Tộc, Đất nước. Ngày xưa vua là tượng trưng cho Đất nước, nên trung với vua là trung với Đất nước. Bây giờ thì “trung với đảng”, đảng là đảng cướp nên trung với ăn cướp. Mầy muốn trung cứ trung, ai cấm.”

    Tư Ếch chưởi thề:

    - “Đ. mẹ. Nói móc họng không? Sao mầy không nói móc họng “hiếu với dân” thì khỏi hiếu với cha mẹ...”

    Tùng nói:

    - “Ngũ thường là cái gì? Tao thấy cứ như lời Đức Thầy dạy “tu hiền” là gồm đủ. Cứ “tu hiền” như dân Nam Bộ của Đức Thầy là “tam cương, ngũ thường” đều có cả.”

    Nói xong, Tùng đọc tiếp:

    Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn.
    Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan
    Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút cát chạy đá giương
    Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng....


    Tùng lại ngưng, nói:

    - “Đúng là như điên, như cuồng... Đầu hàng, đầu hàng là như điên, như cuồng...”

    Nghi nói:

    - “Không đầu hàng được đâu mày. Thế nào cũng không đầu hàng...”

    - “Bọn mình tính sao bây giờ?” Tùng hỏi.

    - “Tính sao đâu!” Nghi nói. “Đã đọc “Hồ Trường” mà còn chưa hiểu. Dân chúng không chịu dầu hàng, mình đầu hàng sao được. Để tao lên Cần Thơ xem sao! Vũ khí thì không thiếu đâu! Lính bỏ đồn mà về, bọn “cùi” tụi nó chưa dám tới, mình cứ vô đó mà lượm súng. Kiếm thêm một ít lựu đạn càng tốt. Cần là dân chúng ủng hộ mình.”

    Tư Ếch nói:

    - “Khi tao về, tụi nó cũng chưa dám vô phi trường. Hễ tụi nó có vô thì cũng lo kiểm soát mấy chiếc máy bay với kho bom. Tao biết trong đó có một hầm vũ khí dành riêng cho lực lượng an ninh phi trường. Tụi nó không biết đâu! Tao vô đó kiếm ít lựu đạn.”

    - “Làm sao mầy ra cổng?” Tùng hỏi.

    - “Mầy làm như tao không phải là thổ công trong đó. Tao đi đường tắt mà ra, khó gì!” Tư Ếch nói.

    Tùng nói:

    - “Đã chia công việc như vậy thì tao ở đây làm trạm liên lạc. Thằng Tư kiếm được cái gì, đem về đây, tao cất dấu. Thằng Nghi thì đi Cần Thơ, xong về xã, coi tình hình dân chúng như thế nào. Nếu thuận tiện, cần vô trỏng theo mấy ông Thầy thì bọn mình vô. Liên lạc với nhau ở đây, nhớ nghen.”

    Nói xong, Tùng lấy chai rượu đế trên cửa hàng của mẹ, chia nhau uống mỗi đứa một ly mà giữ hẹn. Xong, bọn chúng chia tay.

    &


    Khoảng mười ngày sau, Nghi đạp xe đến đón Tùng đi!

    Tùng nói với mẹ:

    - “Má à! Con không ở nhà được đâu! Con phải đi với anh em. Má đừng trông. Lâu lâu con nhắn tin về cho má yên tâm. Cũng có ngày mình giành lại được đất nước thôi. Má nghe!”

    Bà mẹ không nói một lời. Bà ngồi dưới mái hiên quán, ngó theo hướng con đi. Thở dài.

    Bà góa chồng khi còn trẻ, khi đứa con độc nhứt của bà chưa được một tuổi. Bà ở vậy, chờ chồng. Bà biết quá rõ đứa con trai của bà giống tính cha. Bà đã không cản được chồng nên bà cũng không cản con.

    Chồng bà đi lính “Ông Năm”. Năm “Ông Năm” về hợp tác với “ông cụ Ngô”, chồng bà không chịu. Họ phản ứng lại, nhưng không làm gì “Ông Năm” cả. Chồng bà bảo “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”. Vậy rồi gần hai trăm người bỏ không theo “Ông Năm” nữa. Họ ôm súng về Long Xuyên với “Ông Ba”. Vậy là chồng bà đi mất. “Ông Ba” bị bắt, bị chém ở Cần Thơ. Người ta khóc. Bà cũng khóc, vừa khóc cho “Ông Ba” vừa khóc vì chồng đi không về. Vậy rồi không bao giờ ông về. Bà nghĩ “có lẽ ông bỏ xác đâu đó rồi, trong bưng, biết đâu mà tìm!”

    Bây giờ thì đứa con trai của bà lại theo gương cha: “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”. Bà nghĩ đất đai xứ nầy là của người ở đây. Ai tới mà giành được?

    Mỗi chiều, bà bắt ghế ngồi trước hiên quán mà chờ tin con.

    Chẳng có tin tức gì cả.

    Người ta đồn ở miệt Trà Tiên có lực lượng chống đối của ông Ba Hà, của ông trung tá Thảo, có đánh nhau mấy trận, bất phân thắng bại. Rồi mấy ông rút vô bưng. Sau tháng Tư, trong bưng thì rút ra ngoài. Ngoài thì rút vô trong bưng. Hai bên đổi chỗ cho nhau.

    Sau khi đánh qua Cam-bốt, người ta không còn nghe tin tức gì về lực lượng Ba Hà hay trung tá Thảo nữa, nhưng bà mẹ vẫn ngồi chờ tin con.

    Mỗi chiều, khi mặt trời nghiêng xuống phía bên kia sông Hậu, mây giăng một mầu xám, như báo hiệu những cơn mưa sắp tới, hay khi mặt trời đỏ gay, xuống tới ngọn cây mà trời còn nóng gắt, bà vẫn ngồi dưới quán chiều chờ tin con.

    Quán thì mỗi ngày mỗi xiêu vẹo. Tóc bà bạc dần, lưng bà còng xuống, mắt bà kèm nhèm vì những đêm âm thầm nhớ con mà khóc, chân bà hơi yếu mỗi khi đi lại, nhưng bà vẫn ngồi đó, dưới mái quán chiều mà chờ tin đứa con yêu.

    hoànglonghải

    (1) “Cùi” ngụy danh truyền tin trong quân đội VNCH, thường dùng để chỉ Dziệt Cộng.
    (2) “Ông Năm, Ông Ba”: Tướng Năm Lửa và Ba Cụt, quân đội Hòa Hảo.
    (3) “Cổ thành” Quảng Trị
    (4) Hao: Hao hụt, quân số hao hụt vì thương vong.