Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Nhân cái chết của Gadaphi, nhìn lại... chúng ta?!

    Không phải chỉ có những anh nhà văn nhà vẽ mới là những kẻ “Văn mình, vợ người.” Bọn làm chính trị đâu có thua chi. Sách của họ viết ra, không những là tư tưởng, đại tư thưởng, học thuyết, thuyết gia không những cho dân tộc họ mà cho cả nhân loại. Nhân loại cần phải nghe theo, noi theo, tin theo như người ta tin vào thánh kinh vậy, có khi còn hơn cả thánh kinh nữa.

    Không phải tôi nói quá!

    Vậy thì “Hồng Bảo Thư” của Mao không phải là một ví dụ sao? Sách in ra, được phát không, mỗi người dân Tầu, hoặc ít ra là đoàn viên Thanh Niên Cộng Sản, ai ai cũng có một cuốn như thế, Dziệt Cộng gọi là “Sách Đỏ của Mao Chủ Tịch”. Sách luôn luôn để sẵn trong túi, khi cần là lấy ra ngay mà xem, tìm trong có cách giải quyết, không khác chi “cẩm nang” khi sư phụ cho đệ tử “xuống núi” như trong truyện Tầu. Đó mới chỉ nói tới một cuốn. Mao còn bao nhiêu sách nữa, người Tầu phải đọc. Ai không đọc có thể bị khiển trách, trừng phạt, nhất là mấy cuốn như “Trì Cửu Chiến”, “Mâu thuẫn Luận”, “Thực Tiễn Luận”, v.v...

    Ông Hồ Chí Minh thì bảo “tôi không có tư tưởng gì cả”. Mao đã có sách rồi, ông Hồ đâu dám ra sách, soạn lý thuyết. Một là ông không có óc não chi cả, đã có “Mao chủ tịch” làm cái việc óc não ấy cho ông rồi. Hai là ông sợ Mao, có thể Mao cho rằng Hồ dám chơi leo, lên cho bằng “Mao chủ tịch”. Vậy là phạm thượng đấy. Ông Hồ sợ. Sau nầy, khi Mao và Hồ đều chết ra ma, đám đệ tự muốn “thờ Phật ăn oản” mới bày ra cái việc rởm đời: “Tư tưởng Hồ Chí Minh”.

    Ông Qaddafi (Ga-da-phi) bên xứ Bắc Phi cũng không chịu kém ông Mao Xếnh Xáng bên phía trời Đông. Sau khi đảo chánh, nắm chính quyền, Gadaphi làm vài việc cho thỏa mãn lòng “tự ái dân tộc”. Ông đổi lịch, đổi tên các tháng trong lịch và cho phổ biến cuốn “Sách Xanh” (Green Book – Không phải sách lượng giá xe cũ ở xứ Mẽo nầy). Sách xanh của “Hướng Dẫn Cách Mạng” (Guide of the Revolution), như ông ta tự xưng, không phải là những bài lý thuyết tràng giang đại hải mà chỉ là những bài ngăn ngắn, bàn về dân chủ, kinh tế, xã hội, v.v...

    Nghe đầu đề thì hay, nhưng chế độ chính trị kéo dài 42 năm cầm quyền của Gadaphi chỉ là một chế độ độc tài, “kinh tế gia đình” vì tất cả quyền lợi đất nước, hầu hết là các mỏ dầu lửa đều nằm trong tay gia đình ông, và xã hội thì “khố rách áo ôm”.

    Hai nước Iraq và Libya, một xứ ở Trung Đông, một ở Bắc Phi có nhiều cái rất giống nhau: Những nước có nhiều dầu lửa hàng đầu thế giới, và dân chúng thì nước nào cũng “nghèo cạnh tranh”, có nghĩa dân chúng đều nghèo như nhau, không nước nào chịu thua nước nào. Xem TV, thấy dân chúng ai ai cũng mang dép cao su kiểu Nhựt, tức là loại rẻ tiền, dành cho người nghèo. Không thấy ai mang giày da, dép da. Người Việt Nam bây giờ cũng “nghèo cạnh tranh” đấy, không chịu thua dân bên các xứ đó.

    Sách của Gadaphi cũng được in ra, phát không, dân chúng phải đọc.

    Người Việt Nam chúng ta có chịu thua không.

    Ở ngoài Bắc vĩ tuyến 17, ông Hồ sợ ông Mao nên “Tôi không có tư tưởng gì cả” như ông Hồ tự thú. Ở Nam vĩ tuyến 17, ông Nhu đâu có sợ ông Mao, nên ông cũng có chủ thuyết, làm “lý thuyết gia” cũng in sách, cho học tập. Công chức, quân nhân (sĩ quan, hạ sĩ quan Cần Lao Nhân Vị Đảng) phải kéo nhau về Vĩnh Long, học “Khóa Nhân Vị”, tập làm quen với không khí tôn giáo, “cầu xin ơn trên phù hộ chúng ta”, như câu cuối thường thấy trong “thông điệp của Ngô Tổng Thống”. Thiên hạ, nhà văn nhà vẽ, và cả ông thầy giáo dạy môn Việt Văn của tôi, cũng in sách “Chủ Nghĩa Nhân Vị” và đi nhà thờ chăm hơn, hàng tuần, thay vì như trước kia, khi ông Ngô Đình Thục chưa dựng ngai ở Huế, mỗi năm ông chỉ đi có vài lần mà thôi.

    Viết sách, in sách, phổ biến, bán, cho không, v.v... thì người viết sách hiểu cái gì, viết cái gì, dạy người ta cái gì? Họ đã hiểu họ chưa mà cho rằng mình hiểu cả dân tộc, hiểu cả nhân loại để viết sách dạy người, sống là phải thế nầy, thế nọ.

    Ngay chính họ và cái thân xác của họ, họ cũng chưa hiểu hết nữa là.

    Độc giả có tin tôi không?

    Để trả lời, xin kể một câu chuyện, dĩ nhiên là chuyện hay, vì nó không phải là chuyện tôi bày đặt ra.

    “Có một người lính, bị thương, đạp nhằm mìn Dziệt Cộng (Dziệt Cộng là tôi thêm vào, vì đó là cảnh tôi thường thấy khi tôi ở lính), mất một chân.

    “Anh được máy bay trực thăng (không phải máy bay lên thẳng “đơ” nói như Dziệt Cộng) đưa về Tổng Y viện Cộng Hòa. Mấy ông bác sĩ ở đó, lấy một cái chân của một người lính khác mới tử trận, ghép vào cái chân cụt của anh ta, sau khi thử nghiệm đâu đó cả rồi. Mấy tháng sau, người lính xuất viện, đi đứng bình thường.

    “Tuy nhiên, có một điều gì đó, không bình thường, nên một hôm, anh lính tìm tới một “thiền sư” (không phải ông NH), hỏi:

    - “Thưa thầy. Từ ngày con được ghép chân, mọi việc bình thường, không có chi trở ngại cả. Nhưng tại sao cứ đêm đêm, vài khi thức dậy, con có cảm tưởng cái chân ghép, không phải là cái chân chủa con.”

    “Thiền sư hỏi:

    - “Vậy hả? Cái chưn ghép không phải là cái chưn của con. Nhưng con có nghĩ rằng, cái chưn của con bị cắt bỏ đi, nó có phải là của con hay không?”

    Nghe tới đó, anh lính như “ngộ” ra, bèn đứng dậy, nói:

    - “Thưa thầy! Con hiểu ra rồi. Xin chào thầy, con về.”

    Vậy thì cái gì là của ta, và cái gì không phải là của ta? Cái chân ghép không phải của ta? Cái chân bỏ đi mới là của ta.

    Tại sao?

    Sách Minh Tâm Bảo Giám, Thiên thứ Tư, ghi lời Mạnh Tử như sau:

    (Mạnh tử viết thân thể phát phu thọ chi phụ mẫu
    bất cảm hủy thương hiếu cho thủy dã
    lập thân hành đạo dương danhhậu thế
    dĩ hiển phụ mẫu hiếu chi chung dã)

    Dịch:

    Thầy Mạnh Tử nói:

    “Mình vóc tóc da, chịu ơn cha mẹ chẳng dám phá hại là hiếu ban đầu
    Lập thân hành đạo giúp đời, để lại danh tiếng đời sau là hiếu trọn vẹn
    Chẳng dám hủy hoại thân thể là: Giận dữ nóng nảy cái gì đó, thề thốt chặt tay, nhảy lầu, tự vận là bất hiếu...”


    Ngạn ngữ ta thì nói: “Cái răng, cái tóc là góc con người”. Truyện Tam Quốc kể khi Hạ Hầu Đôn bị tên vào mắt, ông rút tên ra, có cả con mắt ông còn dính vào đấy. Ông liền cắn con mắt hư, nuốt vào bụng, nói: “Của cha mẹ cho, không bỏ đi được.”

    Theo tâm lý thông thường, cái chân được ghép là chân của người đã chết, cái chân của anh ta bị bỏ đi, mới là chân của của anh. Cái văn hóa “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu” đã ăn sâu vào dân tộc, vào con người anh mà anh có biết đâu. (Phát phu: Tóc và da)

    Bỏ đi cái thân thể của mình, là cái do cha mẹ ta mới có được, như thế, ông Mạnh Tử gọi là bất hiếu.

    Vậy thì khi ông Nhất Linh tự tử, ông có bất hiếu hay không?

    Giữ cái thân thể mà không giữ cái phẩm giá, coi có được không? Cái phẩm giá quí trọng hơn thân thể chứ! Ông Nhất Linh tự tử là hủy hoại cái thân thể để bảo tồn cái phẩm giá thì việc làm của ông ta đúng chớ không sai bao giờ.

    Khi nghe tin ông Nguyễn Tường Tam tự tử, Tổng Thống Ngô Đình Diệm nói: “Ra tòa rồi cũng tha, có chi mà phải làm vậy!”

    Nói vậy là ông Ngô Đình Diệm hiểu sai hai điều:

    1)- Thứ nhứt, những người đã đi làm cách mạng thì không sợ bị tù. Chết họ còn chưa sợ, huống chi tù. Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí của ông, những người bị lên đoạn đầu đài, có ai run sợ đâu mà họ còn hùng dũng hô to: “Viêt Nam vạn tuế”. Ông Diệm khi làm cách mạng (từ quan, hoạt động chống Pháp, ông cũng không sợ bị tù). Khi làm chính trị, giữ chức tổng thống, ông có khác đi chăng, ông sợ tù chăng, nên mới nói như thế?

    2)- Ông Nhất Linh là một nhà cách mạng, là một lãnh tụ đảng phái cách mạng, lại là một nhà văn nữa, lãnh tụ một nhóm văn hóa đi tiên phong trong làng báo chí và văn học nước ta, rất được người Việt Nam kính trọng về cả hai mặt chính trị và văn học, không lý ông ta sợ tù? Ông Nhất Linh tự tử vì sợ tù? Nếu là một người tầm thường, ông Nhất Linh sợ chết hơn sợ tù chứ. Tù còn có ngày về. Chết là coi như chấm dứt cuộc đời

    Ông Diệm nói như thế là ông ta không hiểu gì về ông Nhất Linh cả, hay ông Diệm “suy bụng ta ra bụng người”. Ông Diệm sợ ở tù nên nghĩ rằng người khác cũng sợ bị tù. Năm 1963, tôi còn đi dạy học. Nghe câu chuyện nầy, có người bạn đồng nghiệp của tôi nói: “Con chim sẻ làm thế nào hiểu được con chim đại bàng”. Còn nói như ông Nguyễn Văn Lục, thì ông Nhất Linh tự tử vì bị bệnh thần kinh. Nói vậy thì người Việt Nam ít ai biết giữ phẩm giá cả hay chăng, đều là những con chim sẻ cả hay chăng?

    Tổ tiên chúng ta, “tiến vi quan, thối vi sư” hay “thối vi dân, vi nông” là chuyện thường tình. Ông Chu Văn An, ông Trạng Trình, được thì làm quan, “xin chém đầu 7 nịnh thần mà vua không nghe” nên các ông cáo quan.

    Ông Bảo Đại cũng đã “cáo vương” thay vì “cáo quan”.

    Tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền. Ông Bảo Đại thoái vị. Người ta bảo Tôn Quang Phiệt, giáo sư trường Khải Định, hiệu trưởng trường Thuận Hóa ở Huế, tay tổ Cộng Sản ở Huế xúi Phạm Khắc Hòe, “tổng lý văn phòng đức kim thượng” vào gặp ông Bảo Đại, lấy cái gương vua Louis 16, bị giết trong cuộc cách mạng 1789 và cái gương vua Nicholas đệ nhị của Nga mà dọa, để ông Bảo Đại sợ mà thoái vị. Không rõ ông Bảo Đại có mắc mưu hai ông Phiệt và ông Hòe hay không, nhưng bấy giờ cũng có người khuyên ông Bảo Đại không nên thoái vị.

    Người thứ nhất là ông Ngô Đình Khôi, bấy giờ đã bị Pháp cất chức tổng đốc Quảng Nam. Ngô Đình Khôi cho người vào Đại Nội tâu với vua Bảo Đại rằng ông có người con trai, Ngô Đình Huân, là người “thân Nhựt”, hiện đang làm thông ngôn cho Yokoyama Masayuki, trưởng phòng Văn Hóa Nhựt tại Saigon, sẽ yêu cầu Nhựt giúp đỡ, bảo vệ ngai vàng cho nhà vua.

    Người thứ hai là một viên tướng Nhựt. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, viên tướng Nhựt đến Huế, xin gặp nhà vua, khuyên Bảo Đại không nên thoái vị. Quân đội Nhựt sẽ bảo vệ nhà vua và hoàng gia. Vua Bảo Đại hỏi lại, nếu làm như thế có đổ máu không. Người Nhựt bảo là không thể tránh khỏi, nên vua Bảo Đại từ chối. Ông không muốn dân tộc ông phải điêu linh thêm nữa, hãy để ông thoái vị.

    Còn một chuyện nữa: Sau khi vua Bảo Đại thoái vị, ông sai kiểm lại kho báu trong Đại nội để bàn giao cho cái gọi là “chính phủ cách mạng”.

    Phạm Khắc Hòe hỏi:

    “Thưa ngài, về “kim sách” và “ngân sách” (sách làm bằng vàng và bằng bạc) có giao cho họ không?”

    Bảo Đại bảo: “Cái gì sắt thép thì khỏi giao, còn lại thì giao hết cho họ, kẻo họ bảo rằng ta có lòng tham”.

    Ông Ngô Đình Diệm cũng dự tính từ chức hai lần, một là khi ông Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960, và lần thứ hai là ngày 1 tháng 11 năm 1963. Hai lần dự tính từ chức đều không thành vì sự ngăn cản của vợ chồng ông Nhu. Chuyện cản ông Diệm thành ra giết ông ta.

    Cũng xin nói thêm một chuyện đáng buồn trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Mấy năm nay, người ta bỗng nhiên tổ chức kỷ niệm ngày mất của “Ngô tổng thống” rình rang hơn trước, trống kèn cờ xí nhiều hơn trrước, trong khi ngày mất của ông Nhất Linh, 7 tháng 7 thì diễn ra một cách lặng lẽ, ít ai biết tới hoặc có năm không nghe thấy gì hết.

    Tại sao vậy nhỉ?

    Ông Nhất Linh, năm 1945, vì tình thế, hợp nhất đảng Dân Chính của ông với Việt Nam Quốc Đảng. Vì vậy, ông cũng là lãnh tụ VNQDĐ kể từ đó.

    Việt Nam Quốc Dân Đảng bị đánh phá, giết chóc tù đầy, ít nhất là 3 lần, mà lần nào cũng bị “đánh phá triệt để”, như Cộng Sản chủ trương. Lần thứ nhứt là sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, lần thứ hai là do Cộng Sản, từ “Vụ Ôn Như Hầu” kéo dài cho tới bây giờ. Một lần nữa là cuộc đánh phá của chính quyền Ngô Đình Diệm sau khi ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống được ít lâu.

    Trước tình cảnh như thế, số đảng viên VNQDĐ sống sót và ra hải ngoại đâu được bao nhiêu? Từ lực lượng không đông, sinh hoạt rời rạc vì phài trãi dài trên nhiều tiểu bang ở Mỹ, nên việc tổ chức ngày kỷ niệm Nhất Linh quyên sinh gặp nhiều trở ngại là đương nhiên.

    Trường hợp ông Diệm lại khác, và đáng thương cho ông!

    Ông là một người yêu nước, nhưng chính anh em nhà ông đã lợi dụng ông, mưu đồ quyền lực, quyền lợi. Chính vì họ mà ông Diệm bị chết thảm, chết “oan”..

    Bây giờ, người ta tưởng nhớ tới ông thật mà làm lễ rình rang như vậy, hay người ta muốn dựng cái thây ma của ông dậy mà mưu đồ gì đây?

    Việc dời mộ ông Ngô Đình Diệm, ông Nhu thực hiện nhiều lần. Đầu tiên người ta chôn hai ông trong khu vực bộ Tổng Tham Mưu/ QLVNCH. Năm sau mới dời ra “mả Tây”, về sau gọi là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Việt Cộng giải tỏa nghĩa trang nầy, xương cốt ông và ông Nhu bị dời về Lái Thiêu. Dziệt Cộng sợ dân chúng ngưỡng mộ ông mà tới lui thăm viếng, cầu nguyện nên không cho dựng bia có ghi tên mà chỉ ghi gọn là ông Huynh, ông Đệ. Ai về Lái Thiêu thăm mộ hai ông thì phải hỏi là “mộ ông Huynh, ông Đệ” người dân mới biết.

    Giờ đây, mộ hai ông vẫn lặng lẽ, vắng người thăm viếng, cô đơn ở Lái Thiêu!

    Điều ấy rất đáng buồn.

    “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Nhưng người ta có để cho ông Ngô Đình Diệm được yên đâu!!!

    &

    Không ưa làm quan, làm vua nữa thì cáo quan, thoái vị!

    Thoái vị, từ chức là về với làng quê của mình. Ông Đào Tiềm có bài “Qui khứ lai từ” rất nổi tiếng trong văn học Trung Hoa:

    “Đi về sao chẳng về đi,
    Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?
    Đem tâm để hình kia sai khiến,
    Còn ngậm ngùi than vãn với ai?
    Ăn năn thì sự đã rồi,
    Từ đây còn lại, biết thôi mới là.

    (xem phụ lục)


    Cái tư tưởng “về đi” ăn sâu vào lòng tổ tiên chúng ta. Vì vậy nên cụ Trạng Trình nói: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” hoặc Trần Tế Xương: “Khôn nơi cờ bạc là không dại”.

    Chính trị là một “trường cờ bạc”, ở đó, lòng tham của người ta thì vô hạn. Một triều đại Ngô Đình, tưởng như tài sản quốc gia là của riêng, khai thác gỗ, phố xá, khách sạn, đất đai, ruộng rẫy, không có cái gì có lợi mà anh em nhà Ngô không vơ vào, dù là anh nhà quê ít học như “cậu cố trầu”, một nhà tu hành như ông Ngô Đình Thục, hay đệ nhứt phu nhân. (Xem “Anh Em nhà họ Ngô”, trong Viết Về Huế - tập 3 - cùng tác giả Văn Mới xuất bản).

    Ngày nay, bên Trung Đông, Bắc Phi cũng vậy. Đất đai là sa mạc, tài sản lớn nhứt của đất nước là dầu lửa thì ông Saddam Hussein, ông Gadaphi vơ vết cho mình, cho gia đình mình.

    Bốn mươi hai năm cầm quyền của Gadaphi là 42 năm độc tài chuyên chế, dân chúng thiếu ăn, thiếu mặc. Có tiền, ông Gadaphi cũng như con cái ông sống vương giả, hoang phí. Họ cố ôm giữ lấy quyền lợi, đến chết mới buông, buông là vì không còn giữ được nữa. Họ cố giữ lấy tài sản, tưởng như có nó mới có hạnh phúc.

    Văn hóa Á Đông có khác. Tổ tiên chúng ta cũng khác nên người Việt chúng ta mới có câu “Tiến vi quan, thối vi dân, vi sư, vi nông...” Làm gì cũng được, miễn đừng làm quan.

    Từ những tấm gương đó, chúng ta nhận ra được rằng tổ tiên chúng ta có rất nhiều điều hay mà điều hay nhứt là họ tìm hạnh phúc ở chỗ cho đi chớ không phải lấy vào.

    Người Cộng Sản Việt Nam, học chủ nghĩa Mác Lê của người Âu Tây mà quên mất văn hóa của người Việt. Chìm đắm trong quyền lực và giàu có, họ cũng sẽ như Saddam, như Gadaphi, chỉ có đường đi mà không có đường về.


    Hoàng Long Hải

    Phụ lục

    Quy khứ lai từ

    Từ Long dịch thơ:

    Đi về sao chẳng về đi,
    Ruộng hoang vườn rậm còn chi không về?
    Đem tâm để hình kia sai khiến,
    Còn ngậm ngùi than vãn với ai?
    Ăn năn thì sự đã rồi,
    Từ đây còn lại, biết thôi mới là.
    Lối đi lạc chưa xa là mấy,
    Nay khôn rồi chẳng dại như xưa.
    Con thuyền thuận nẻo gió đưa,
    Gió hây hây áo thuyền lơ lửng chèo.
    Hỏi hành khách lối nào đi tới,
    Bóng mập mờ trời mới rạng đông.
    Miền quê nẻo trước xa trông,
    Chân hăm hở bước đường mong tới nhà.
    Chạy đón chủ năm ba đầy tớ,
    Đứng chờ ông mấy đứa trẻ con;
    Rậm rì bao xóm con con,
    Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa.
    Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ,
    Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò;
    Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ,
    Cười nom sân trước thấp tho mấy cành.
    Ngồi riễu cợt một mình trước sổ;
    Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi;
    Thăm vườn dạo thú hôm mai,
    Cửa dù có, vẫn then cài như không.
    Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ,
    Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên:
    Mây đùn mấy đám tự nhiên,
    Chim bay mỏi cánh đã quen lối về.
    Bóng chiều ngả bốn bề bát ngát,
    Quanh gốc tùng tựa mát thảnh thơi.
    Từ đây về thực về rồi,
    Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai.
    Vì ta đã với đời chẳng hiệp,
    Cần chi mà giao thiệp với ai.
    Chuyện trò thân thích mấy người,
    Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn.
    Người làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện,
    Tới xuân rồi sắp đến việc ta.
    Hoặc truyền sắm sửa câu xa,
    Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra coi đồng.
    Dưới khe nọ nước vòng uốn éo,
    Bên đường kia gò kéo gập ghềnh;
    Cỏ cây mơn mởn màu xanh,
    Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra.
    Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt,
    Ngán cho ta thôi trót già rồi.
    Thôi còn mấy nỗi ở đời,
    Khứ lưu sao chẳng phóng hoài tự nhiên,
    Cớ chi nghĩ thêm phiền tức dạ,
    Đi đâu mà tất tả vội chi?
    Giàu sang đã chẳng thiết gì,
    Cung tiên chưa dễ hẹn kỳ lên chơi.
    Chi bằng lúc chiều trời êm ả,
    Việc điền viên vất vả mà vui.
    Lên cao hát một tiếng dài,
    Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu.
    Hình thể này mặc dầu tạo hóa,
    Tới lúc nào hết cả thì thôi.
    Lòng ta phó với mệnh trời,
    Đừng ngờ chi nữa cứ vui vẻ hoài.
  2. A Phú Hãn, nhìn lại từ đầu



    Khoảng năm 100 trước Công Nguyên, khi vua Vũ Đế nhà Hán mở rộng thế lực về phía cực tây Trung Hoa thì “Con Đường Lụa” hay còn gọi là “Con Đường Hồ Tiêu” (SilkRoute hay SpiceRoute) hình thành, bằng cách nối những con đường đã có sẵn, từ Bắc kinh (Trung Hoa) về phía tây nước nầy, xuyên qua vùng sa mạc ở Nội Mông và Ngoại Mông, vượt cao nguyên Karakoram và Taklamakan ở Tân Cương, qua phía bắc Ấn Độ, qua các nước Trung Á rồi tới A Phú Hãn để qua Trung Đông (Iran, Iraq), các hải cảng lớn trên bờ biển phía nam Địa Trung Hải như Syri và Alxandri của Ai Cập. Tại các hải cảng nầy, hàng hóa sẽ được chuyển qua Ý và châu Âu. Hoặc hàng từ châu Âu đi ngược lại con đường ấy.

    Con đường lụa dài khoảng 7 ngàn cây số, vượt qua nhiều địa hình trắc trở, khó khăn và khí hậu khắc nghiệt. Nhưng những món hàng chuyên chở trên con đường nầy, như lụa và hồ tiêu của Trung Hoa đem bán cho Châu Âu và vàng, bạc, châu báu từ Châu Âu bán cho Trung Hoa là những món lợi lớn nên rất hấp dẫn các thương nhân thời ấy.

    “Con Đường Lụa” thịnh suy tùy thời kỳ. Sau khi nhà Hán suy tàn, con đường nầy không còn dùng được nữa vì rất nhiều giặc cướp. Đến cuối đời Tống, con đường lụa lại thịnh lên rồi tàn lụi rất nhanh. Chỉ đời nhà Nguyên, vì các vua là người Mông Cổ. Các ông vua nầy cũng đem quân qua tới Châu Âu, việc buôn bán trên “Con đường lụa” lại thịnh lên. Do đó, một người Ý tên là Marco Polo, theo bọn thương nhân mà qua Trung Hoa. Ông nầy làm quan ở Trung Hoa đời nhà Nguyên những 20 năm, rồi trở về Châu Âu theo đường biển (đi qua Việt Nam). Về tới châu Âu, Marco Polo xuất bản cuốn du ký giới thiệu nước Trung Hoa với Châu Âu. Bấy giờ người Châu Âu mới biết rõ thêm về nền văn minh Trung Hoa, mà trước đó, có lẽ cũng qua “Con đường lụa” mà người Châu Âu học thêm về thuốc súng, hỏa tiển, giấy, la bàn do người Tầu khám phá trước đó.

    Như trên đã nói, “Con Đường Lụa”, trước khi tiến vào vùng Trung Đông đã đi qua Afghanisan, bằng hai nhánh. Vị trí vùng nầy là huyết mạch của “Con Đường Lụa”, buộc phải đi qua đây để vào Trung Đông.

    Chỉ kể cuốn sách của Marco Polo mà thôi, cũng cho người ta thấy vai trò văn hóa của “Con Đường Lụa”. Trong khi mang hàng hóa buôn bán Đông Tây, “Con Đường Lụa” cũng đóng vai trò giao lưu văn hóa của các dân tộc trên con đường nầy.

    Dĩ nhiên, tôn giáo cũng theo con đường nầy, - cùng với thế lực của các đế quốc -, như đế quốc La Mã, Ottoman, nên tôn giáo đã phát triển thêm rộng ra: Đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Phật… Đạo Hồi, đạo Phật qua tới Mông Cổ và A Phú Hãn. Vì vậy, một thời đạo Phật rất thịnh ở A Phú Hãn.

    Vị trí A Phú Hãn là gạch nối giữa vùng Trung Á và Trung Đông. Từ Trung Á, đi về hướng Pakistan là vào vùng Nam Á. Cũng từ Trung Á, đi về hướng A Phú Hãn là vào Trung Đông. Trong lịch sử, văn minh Lưỡng Hà (sông Euphrate và sông Tigre - vùng Iraq) là cái nôi văn minh của nhân loại. Xa hơn nữa, tới Ai Cập, ai cũng biết nước nầy có một nền văn minh vĩ đại với các kim tự tháp, v.v… Quanh Địa Trung Hải là văn minh Địa Trung Hải. Xem thế, người thấy tính cách quan trọng trong sự giao tiếp của các nền văn minh của nhân loại. Cũng vì vị trí đó, A Phú Hãn có khi được coi là thuộc Trung Á, có khi thuộc Trung Đông.

    Cũng vì tính cách đó, lịch sử A Phú Hãn, trước khi hình thành quốc gia A Phú Hãn hồi giữa thế kỷ thứ 18 rất phức tạp.

    Tại vùng nầy, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những cổ vật cho thấy cách nay 50 ngàn năm, con người đã xuất hiện và sinh hoạt ở vùng nầy rồi.

    Như đã nói, A Phú Hãn là ngã tư đường của văn minh Ấn Âu, nơi sinh sống của nhiều sắc tộc. Đây cũng là nơi một thời mang lịch sử của Đế Quốc Ba-Tư, Đế Quốc Parthia… Đây cũng là nơi sinh sản một tôn giáo rất sớm của nhân loại, trước CN gần 2 ngàn năm. Đó là Đạo Thờ Thần Lửa (Bái Hỏa Giáo). Alexandre Đại Đế xâm lược A Phú Hãn và các nước lân cận và đã phát triển văn minh Hy-La ở đây. Cũng có môt thời gian dài, vùng đông-bắc A Phú Hãn bị sát nhập vào Ấn Độ, nên Phật giáo được truyền bá ở đây nữa. Hồi thế kỷ thứ nhứt sau CN, A Phú Hãn là trung tâm đế chế của người Kushan.

    Trong một thời gian dài khoảng hơn 1 ngàn năm, vùng nầy là nơi tranh chấp của nhiều đế chế. Tuy nhiên, quan trọng nhất là ở thế kỷ thứ 13, quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đã tàn phá A Phú Hãn.

    Người ta không lạ gì khi thấy sau khi quân Mỹ đánh đuổi quân Taliban hồi năm 2001, người dân A Phú Hãn đem bán rất nhiều cổ vật để kiếm sống. Nó chứng tỏ nhiều nền văn minh cổ xưa của nhân loại đã phát triển ở xứ nầy. Và qua đó, người ta cũng hiểu thêm, tại sao Afghnistan là một nước Hồi giáo mà lại có hai tượng Phật rất lớn, bị Taliban ra lệnh phá hủy, khiến nhiều nước cũng như Liên Hiệp Quốc lên tiếng phản đối.

    Quốc gia A Phú Hãn chỉ mới “tượng hình” hồi đầu thế kỷ thứ 18 khi Khan Hotak, một người thuộc bộ tộc Pashtun đánh bại người Ba Tư, là người chủ trương cải đạo Hồi của người Sunny sang Shi’a. Khan Hotak chiếm giữ vùng Kandahar. Con trai của Khan Hotak là Mahmud Hotaki lên nối ngôi, tấn công vào Iran rồi tự xưng là vua Ba-Tư. Cuối cùng Hotaki bị Nader Shah lật đổ.

    Năm 1738, Nader Shah và quân đội của ông, gồm bốn ngàn người Pashtun chinh phạt vùng Kandahar, Kabul. Sau khi Nader Shah qua đời, người Afghan đã tụ tập tại Kandahar chọn Ahmad Shah làm vua.

    Ahmad Shah thường được coi là người sáng lập nước A Phú Hãn hiện đại.

    Ahmad Shah mở rộng lãnh thổ, truyền ngôi lại cho con là Timur Shah. Timur dời đô về Kabul.

    Cùng trong phong trào chiếm thuộc địa của các nước châu Âu, Anh đem quân chiếm A Phú Hãn vào thế kỷ 19. Vua Amanullah Khan lên ngôi năm 1919, giành được quyền độc lập hoàn toàn trong lãnh vực ngoại giao từ tay người Anh.

    Việc phân chia ranh giới quốc gia giữa A Phú Hãn và Ấn Độ thuộc Anh cũ (nay là Pakistan) tạo ra sự căng thẳng giữa hai quốc gia nầy.

    Khi vua Zahir Shah cầm quyền (từ 1933 đến 1973), tình hình A Phú Hãn được ổn định. Tuy nhiên nhà vua đã bị em rể là Daouid Khan cướp ngôi. Nhà vua bị lưu đày qua Ý. Sau khi quân Mỹ chiếm đóng A Phú Hãn 2001, vua Zahir Shah được mời trở về nước. Vì tình hình đã thay đổi, và người Mỹ quyết tâm ủng hộ Hamid Karzai lên cầm quyền nên vua Shah không giữ một vị trí quan trọng nào, mặc dù, tuy đã già ông cũng còn muốn giúp nước. Ông có mặt và ủng hộ Hamid Karzai trong lễ tuyên thệ nhậm chức tổng thống của ông nầy. Vì bệnh, cựu hoàng Shah được đưa qua chửa trị ở Ấn Độ. Ông qua đời hồi tháng 7 năm 2007 tại Kabul.

    Daouid Khan, người cướp ngôi của vua Zahir Shah cùng với gia đình bị giết sau khi Cộng Sản lên cầm quyền ở A Phú Hãn.

    Trong chiến tranh lạnh, Liên Xô bị bao vây, hạm đội Hắc Hải của Liên Xô, muốn đi chuyển từ Hắc Hải ra Đại Tây Dương không thể tránh khỏi sự kiểm soát của phe tư bản ở eo biển Istambul thuộc Thổ Nhĩ Kỳ (phe Mỹ) và eo biển Gibraltar, ở bán đảo Tây Ban Nha.

    Vì vậy, Liên Xô, muốn mở con đường bộ đi xuống vịnh Ba-Tư thì phải chiếm lĩnh A Phú Hãn. Thực ra, việc làm nầy cũng chỉ lập lại mưu đồ của Nga Hoàng ngày xưa nhưng chưa thực hiện được mà thôi.

    Do Liên Xô đạo diễn, một cuộc cách mạng do đảng Dân Chủ Nhân Dân thực hiện đã xảy ra ở A Phú Hãn. Đây là một đảng Mác-xít do Liên Xô đẻ ra. Sau khi lật đổ chính quyền, đảng Cộng Sản A Phú Hãn thành lập nước Cộng Hòa Dân Chủ A Phú Hãn.

    Vốn là một vùng đất từng có nhiều phân ly, được kết hợp một cách phức tạp nên ngay trong nội bộ đảng Cộng Sản A Phú Hãn cũng chia nhiều phe phái chống đối nhau kịch liệt. Tuy vẫn dùng chính sách cai trị tàn ác và đẫm máu như các nước Cộng Sản khác, việc cai trị của Cộng Sản ở đây cũng không thể nào ổn định được, cuối cùng, năm 1979, Liên Xô phải đem hơn 150 ngàn quân, cùng 100 ngàn quân của chính phủ Cộng Sản A Phú Hãn do Babrac Karman làm tổng bí thư, lo tiểu trừ các lực lượng chống Cộng ở đây.

    Việc nầy được xem như là một cái bẫy sập của Brzezinski, cố vấn của Tổng Thống Jimmy Carter. Người Mỹ, qua chính quyền Pakistan, đã ngấm ngầm yễm trợ nhiều mặt cho Mujahideen. Mujahideen là lực lượng chống chính phủ Cộng Sản A Phú Hãn và quân đội Liên Xô.

    Mujahideen gồm những người Hồi giáo chống Cọng sản vô thần.

    Cuộc chiến tranh nầy khiến hơn 5 triệu người A Phú Hãn bỏ quê hương chạy loạn qua Pakistan, Iran và nhiều nước khác.

    Sau 10 năm đem quân vào A Phú Hãn mà không đạt được thắng lợi, với hơn 15 ngàn binh sĩ bị giết và vì áp lực quốc tế ngày càng nặng, năm 1988, Liên Xô rút quân đội về nước, chính phủ thân Cộng ở đây sụp đổ theo. (1)

    Hình như Hoa Kỳ đã “bỏ quên” A Phú Hãn trong vòng 10 năm, sau khi Liên Xô rút quân về, những phần tử tinh hoa của đất nước đã tìm mọi cách trốn ra ngoại quốc. Cuối cùng, A Phú Hãn chỉ còn lại những phần tử Mujahideen hiếu chiến và chia rẻ, chia ra từng phe phái chống đối lẫn nhau.

    Vốn dĩ đất nước nầy gồm nhiều phần sa mac và núi non hiểm trở, sự đa dạng trong sắc tộc và ngôn ngữ khiến dân tộc nầy khó có thể thống nhứt được, nhiều phe phái chống đối lẫn nhau, các lãnh chúa địa phương lại nổi lên tranh giành quyền lực. Nhóm dân đông nhứt là người Pashtun, ít hơn là các nhóm dân Tajik, Hazara….

    Nhóm Taliban thuộc chủng tộc Pashtun chiếm được 95% lãnh thổ, chiếm Kabul năm 1996. Chống lại Taliban chỉ còn nhóm gọi là “Liên Minh Bắc Afghan.”

    Chính quyền Taliban áp dụng chính sách cai trị hà khắc, và trở thành nơi nương thân cho bọn khủng bố Al Qaeda của bin Laden. Thủ lãnh Taliban là Mullah Omar là con rể (và nhận tài trợ) của bin Laden. Trong bảy năm cầm quyền của Taliban, đa số dân cư nước này phải sống trong tình trạng hạn chế đến cùng cực các quyền tự do và sự vi phạm vào quyền sống của họ. Phụ nữ bị cấm làm việc, trẻ em gái không được đi học. Những người chống đối bị trừng phạt ngay lập tức. Những người Cộng sản bị tiêu diệt một cách có hệ thống và trộm cắp bị trừng phạt bằng cách chặt chân chặt tay. Tuy nhiên, tới năm 2001 Taliban đã hầu như tiêu diệt được việc trồng cây thuốc phiện tại A Phú Hãn.

    Ngày 11 tháng 9/ 2001, sau khi cuộc khủng bố diễn ra ở Hoa Kỳ do Al Qaeda chủ trương chưa đầy 24 giờ đồng hồ, toàn bộ nước A Phú Hãn, chính quyền Taliban và Al Qaeda đốt pháo bông tổ chức mừng thắng lợi.

    Nước Mỹ, với gần 30 cơ quan tình báo không biết trước việc khủng bố sẽ xảy ra?

    Trong 8 năm cầm quyền của Bill Clinton, thì ở A Phú Hãn, bọn khủng bố Al Qaeda đã thành lập các trại huấn luyện, tổ chức các nhóm khủng bố, chuẩn bị tấn công nước Mỹ mà Tổng Thống Bill Clinton không biết gì hết? Hay tổng thống có biết mà không quan tâm, hay không cho nó là quan trọng, hay cố ý làm lơ? Thế rồi, William Bush ngồi ghế tổng thống chưa nóng chỗ, đã kinh hồn hoảng vía vì cuộc tấn công của Al Qaeda vào tòa tháp đôi, vào Ngũ Giác Đài?

    Thế rồi Tổng Thống Bush tung ra chiến dịch “Tự Do Bền Vững” Taliban và AlQaeda bị đánh bật ra khỏi A Phú Hãn một cách mau lẹ, dễ dàng. Tora Bora là vùng người ta nghi bọn thua trận sẽ chạy trốn ở đó. Nếu có như thế thì bọn chúng cũng chẳng sẽ được an toàn vì một người đàn bà Việt Nam, (1) tác giả loại bom áp nhiệt (Thermobaric Bomb) đã ngăn chận không cho chúng vào ẩn núp ở pháo đài thiên nhiên kiên cố đó.

    Tháng 12 năm 2001, các lãnh tụ của các nhóm đối lập ở A Phú Hãn gặp nhau ở Bonn, (Đức) để thành lập một chính phủ mới cho quốc gia nầy. Ông Hamid Karzai, một người thân Mỹ, gốc thuộc bộ tộc Pashtun lên cầm quyền. Tiếp đó là các cuộc bầu cử tổng thống, quốc hội. Hiến pháp được ban hành. Phụ nữ được hưởng các quyền bầu cử, ứng cử như ở các nước tiến bộ.

    Công cuộc khôi phục và xây dựng của A Phú Hãn gặp rất nhiều khó khăn vì sự nghèo đói, thiếu thốn của dân chúng. Các cơ sở giáo dục và y tế đều bị tàn phá và bỏ bê qua một thời gian lâu dài. Kinh tế khó khăn, nông nghiệp khôi phục chậm khiến dân chúng nhiều người đổ xô trồng cây anh túc - loại cây làm thuốc phiện - để kiếm sống. Thuốc phiện chiếm hơn 1 phần 3 tổng sản lượng quốc gia.

    Do tình trạng đó, bọn Taliban càng ngày càng phục hồi, chiếm cứ thêm nhiều vùng. Vã lại, sau chiến tranh Iraq, chính phủ Bush tập trung vào chiến trường nầy, việc hỗ trợ cho chính phủ A Phú Hãn càng ngày càng giảm sút làm cho chính quyền của Tổng Thống Hamid Karzai thêm yếu đi.

    Bây giờ, chính sách của tổng thống Obama tập trung vào A Phú Hãn hơn vào Iraq. Sau khi nhậm chức, Tổng Thống Obama liền cho điều 17 ngàn quân từ Iraq sang A Phú Hãn và mới đẩy, tăng cường thêm 4 ngàn quân nữa. Tổng Thống Obama cũng đưa ra một chiến lược mới, nhằm tấn công Taliban trên nhiều mặt khác nhau.

    Truớc hết, để lực lượng Taliban yếu đi, Mỹ sẽ đối thoại với các phần tử Taliban “không cực đoan”, kêu gọi về hợp tác với chính phủ Kabul và chia cho họ một ít quyền hành. Chính sách đó, bày tỏ sự khôn ngoan và uyển chuyển của tổng thống Mỹ.

    Kinh nghiệm cho thấy Liên Xô đã sa lầy ở A Phú Hãn, chịu thua trận và rút quân. Từ kinh nghiệm đó, người ta có thể rút ra một số nhận định như sau:

    Chiến tranh ở A Phú Hãn là chiến tranh du kích, không thuộc sở trường của quân đội các nước phát triển. Người lính Mỹ được huấn luyện để tham gia những cuộc chiến tranh quy ước, trận địa với xe tăng, đại pháo, hải yễm, không yễm... Họ có thể chiến thắng dễ dàng và mau lẹ trên các mặt trận lớn, nhưng lại rất khó xoay xở trong các loại chiến tranh du kích, rình rập, bất ngờ, rất khó phản ứng kịp thời.

    Hơn thế nữa, kiểu chiến tranh khủng bố liều mạng hiện nay như ở Iraq và A Phú Hãn là một hình thái chiến tranh du kích đạt tới đỉnh cao của nó. Du kích quân là những trai gái còn trẻ, có sức khỏe để có thể lội suối băng đèo tham gia trận chiến. Chiến tranh khủng bố phức tạp và bất ngờ hơn. Trẻ con, ông già bà lão, cũng có thể mang vài ba ký lô thuốc nổ, có thể tự cho nổ hoặc được kích nổ từ xa, khiến người lính hay viên chức chính quyền không thể đề phòng, ngăn chận được. Người ta cũng khó phân biệt ai là lính, ai là dân. Lính là dân, mà dân cũng là lính.

    Du kích là một hình thái chiến tranh thích hợp với nông thôn, sình lầy và núi non hiểm trở. Do đó, người ta cần có những loại vũ khí, khí tài, xe cộ thích hợp với loại địa hình chiến tranh nầy.

    A Phú Hãn là một vùng lãnh thổ gồm nhiều núi non, phần nhiều là núi đá và sa mạc, có khí hậu lục địa, thiếu nước ngọt. Quân du kích di chuyển bằng ngựa, mau lẹ và tiện lợi, trong khi các loại cơ giới cần có đường sá hoặc địa thế thích hợp, rất khó xoay chuyển trong vùng địa lý như thế nầy.

    Trong tình hình hiện tại, chính phủ A Phú Hãn có một quân đội với 80 ngàn người là quá ít, Cảnh Sát cũng có một lực lượng tương đương và hiện đang phát triển thêm, bên cạnh binh lính Mỹ và NATO có một lợi thế đặc biệt là xử dụng trực thăng. Phương cách tấn công bằng trực thăng và trực thăng vận rất hữu ích và bất ngờ. Tuy nhiên, trực thăng cũng thường là mục tiêu rất dễ bắn trúng của các loại súng phòng không và hỏa tiễn.

    Tôn giáo đã bị bọn Taliban lợi dụng và tuyên truyền tối đa. Sự kỳ thị tôn giáo ở Trung Đông có tính truyền thống, trước hết là giữa những người Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Lòng thù hận tôn giáo nầy bắt nguồn từ các cuộc Thập Tự Chinh hàng mấy trăm năm trước, và được nuôi dưỡng bằng xung đột tôn giáo, chính sách cai trị bóc lột của người Tây phương với các thuộc địa. Các nước Trung Đông ở ngay trên các mỏ vàng đen, nhưng các nước Tây phương, đặc biệt là Mỹ đã khai thác và hưởng lợi tối đa trên nguồn lợi thiên nhiên nầy.

    Thêm vào đó, sự hình thành một nước Do Thái, tạo sự xung đột với người Palestine là một vấn đề giai dẵng không thể giải quyết được kéo dài hơn nửa thế kỷ nay. Qua đó, người Hồi giáo luôn luôn đứng về phía người Palestine cùng tôn giáo với họ.

    Bọn quá khích Hồi giáo lợi dụng những người cuồng tín tôn giáo để khuyến khích, dụ dỗ họ chết vì đạo, tự tử vì đạo để được ân thưởng của đấng tối cao. Phần thưởng mơ hồ đó lại rất hấp dẫn những người nghèo khổ và cuồng tín.

    Chiến tranh du kích là hình thái của loại chiến tranh nhân dân, có nghĩa là mọi người đều tham gia trận chiến. Do đó, cuộc chiến tranh nầy không có trận địa, giới tuyến. Cũng từ tình cảm chủng tộc, dân tộc và tôn giáo, tình báo nhân dân rất dễ phát triển có lợi cho phía người đồng chủng, cùng một đất nước, lịch sử hơn là binh lính viễn chinh. Trong cuộc chiến tranh nầy, các phương tiện tình báo chiến thuật, chiến lược hiện đại rất ít tác dụng.

    Nguồn cung cấp vũ khí, tài chánh và người cho lực lượng du kích là yếu tố sinh tử. Người thường được tuyển mộ ngay tại địa phương. Tuy nhiên, nhiều phong trào du kích bị thất bại là vì lý do đặc biệt của nó. Ví dụ: Cộng Sản Tân Gia Ba sở dĩ bị tiêu diệt dễ dàng là vì Tân Gia Ba là một thành phố, du kích không thể lập các căn cứ địa, và nguồn tiếp tế phía ngoài không thực hiện được. Du kích Mã Lai, tuy có địa thế thuận lợi là nhờ rừng rậm, nhưng cũng vì không có đường tiếp tế từ ngoài vào nên du kích Mã Lai cũng không phát triển, đến khi Trung Cộng bắt tay với Mỹ thì hai lãnh tụ du kích Mã Lai là Trần Bình (gốc Tầu) và Rashid (gốc Mã Lai) phải xin hợp tác với chính phủ Mã Lai. Vì ở giữa đảo, không đường tiếp tế nên du kích Huk ở Phi Luật Tân cũng chung số phận.

    Ở Việt Nam, và ở miền Nam Việt Nam, Trung Cộng và Liên Xô là những nguồn tiếp tế lớn của Việt Cộng, lại thêm Cam Bốt làm hành lang cho quân Việt Cộng Bắc Việt tiếp tế và xâm nhập, nên quân đội miền Nam không thể chống cự lâu dài với quân Việt Cộng.

    Trong tình hình A Phú Hãn hiện nay, nguồn tiếp liệu vũ khí đạn dược cho lực lượng Taliban là từ đâu tới?

    Nguồn tiếp tế đó phải là từ các nước chung quanh A Phú Hãn. Phía đông nam của A Phú Hãn là một vùng biên giới rất dài với Pakistan, gần 2,500 Km. Phía tây là Iran. Phía bắc là các nước Trung Á, lãnh địa cũ của Liên Xô như Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan và một khu vực nhỏ cực đông có chung biên giới với Trung Quốc.

    Hiện nay, Taliban đang ẩn núp vùng biên giới A Phú Hãn và Pakistan. Đây là vùng núi non hiểm trở, phần đông là các bộ lạc với những lãnh chúa nhiều quyền uy, che chở cho Taliban vì quyền lợi. Vùng biên giới mà lằn ranh không định rõ nên dễ bị nhầm lẫn. Trước đây, mặc dù tổng thống Pakistan đã nhận hàng tỷ mỹ kim của Mỹ, nhưng tính hình không tiến triển chút nào. Trong khi đó, các viên chức quân sự Pakistan cũng bao che cho Taliban. Theo Robert Burns, phái viên hãng AP thì “Các quan chức quân sự Mỹ đã chỉ ra bằng chứng mới cho thấy quân đội Pakistan, vốn có những quan hệ từ lâu với phong trào Taliban, đã cố tình làm ngơ cho những cuộc xâm nhập của tổ chức nầy.” Burns cũng nói thêm: “Một sĩ quan tình báo quân sự Mỹ đã nói với các phóng viên, số lượng những cuộc tấn công của bọn phiến loạn đã tăng 300 phần trăm từ tháng 9 năm 2006, khi chính phủ Pakistan đưa thỏa thuận hòa bình với các lãnh đạo bộ tộc vào thực hiện ở vùng miền bắc Waziristan, dọc theo biên giới phía đông của A Phú Hãn.”

    Nên nhớ rằng Al Qaeda không thiếu tiền để mua chuộc lãnh chúa các bộ tộc vùng nầy cũng như các quan chức quân sự có trách nhiệm trên vùng biên giới giữa hai nước.

    Tình hình căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Iran cũng không thuận tiện cho việc Iran ngăn chận hoạt động của Taliban trên vùng biên giới phía tây, mặc dù, ngay từ đầu, Iran đã không ủng hộ Taliban và rất ngại nguồn ma túy từ A Phú Hãn đổ vào Iran.

    Trên phía bắc, mặc dù các quốc gia Trung Á không còn ở trong liên bang Xô Viết cũ, nhưng nếu như mối quan hệ giữa các nước nầy với Nga còn sâu đậm thì họ sẽ đứng về phía Nga khi có mâu thuẫn với Mỹ. Tuy Nga không ủng hộ Taliban nhưng liệu Nga có thể quên mối hận Mỹ đã ủng hộ cho phe Mujahuideen đánh bại Nga trong cuộc chiến tranh trước?

    A Phú Hãn là một quốc gia lạc hậu, mọi thứ đều không hoặc chưa phát triển như hệ thống giao thông, đường bộ, đường xe lửa, v.v… Hệ thống giao thông lạc hậu thì thương nghiệp khó phát triển, làm sao đời sống được nâng cao? Dân tộc A Phú Hãn thuộc vùng văn hóa chăn nuôi: Dê, bò sữa, nhiều hơn nông nghiệp. Đất đai phần nhiều là sa mạc và núi non hiểm trở nên lúa mì được trồng rất ít. Afghnistan có những trường đại học khá cổ, nhưng trong thời kỳ Taliban cai trị, việc giáo dục là không cần thiết nên nó càng ngày càng lụn bại. Ngành y tế cũng rất lạc hậu, khi Taliban cai trị, hạn chế tiếp xúc với tây phuơng nên nước nầy thiếu nhiều cơ sở y tế hiện đại. Các địa phương, các vùng xa xôi núi non hiểm trở, thiếu vắng các y tế cơ sở và y tá.

    Hiện nay, việc giáo dục và y tế đang được chấn chỉnh, xây dựng, phát triển, nhưng những công việc đó cần có thời gian và nhân sự có đủ khả năng.

    Đây là một cuộc chiến tranh nhân dân, với dân số 32 triệu người, rộng gấp đôi lãnh thổ Việt Nam, 647 ngàn Km2, yếu tố nhân dân là rất quan trọng, sinh tử. Phe nào nắm được dân, được dân chúng ủng hộ thì có hy vọng thắng lợi.

    Trước hết, việc an ninh của người dân là ưu tiên. Một người dân thường, khi đứng về phe nầy hoặc phe kia là vì muốn bảo vệ tính mạng của họ. Trong những vùng tranh chấp, ban ngày, phe địch rút lui, núp lén đâu đó, trong các hang động, mật khu chẳng hạn. Đêm tối, chúng sẽ bung ra hoạt động. Trước hết chúng khủng bố, giết chóc, trừng trị những người nào hợp tác với chính quyền. Do đó, người dân sợ hãi, nằm im, thúc thủ.

    Thứ nữa, bọn lãnh đạo, chỉ huy du kích thường che dấu bộ mặt độc ác của chúng dưới những bình phong tốt đẹp, giả dối mà người dân rất dễ bị lầm lạc. Chẳng hạn, bọn Taliban khích động tinh thần tôn giáo của người theo đạo Hồi, khuyến khích lòng cuồng tín, cũng như sự mâu thuẫn giữa người Tây phương, người theo đạo Thiên Chúa với người Hồi; giữa người Do Thái, quốc gia Do Thái, xung đột với Palestine mà người Palestine theo Hồi giáo. Điều đó, khá giống với Việt Cộng ngày trước núp dưới chiêu bài dân tộc, tinh thần chống Pháp thực dân đô hộ Việt Nam gần 100 năm.

    Đặc biệt, đối với người dân A Phú Hãn ở những vùng xa xôi hẻo lánh, tinh thần bộ tộc còn mạnh. Họ giữ lòng trung thành với lãnh chúa hơn là ủng hộ chính phủ dân chủ trung ương. Họ vâng lời các lãnh chúa hơn là chấp hành luật pháp chính phủ. Đó là những trở ngại rất lớn khiến nhiều khi chính phủ trung ương, Kabul cũng như Islamabad đành chịu bó tay. Vì vậy, chính phủ trung ương phải dàn hòa và bắt tay với các lãnh chúa địa phương.

    Cuộc chiến tranh người Mỹ phải đối đầu hiện nay là một cuộc chiến tranh toàn diện, có nghĩa là ngoải lãnh vực quân sự, an ninh, còn có các lãnh vực kinh tế (công nông nghiệp, chăn nuôi, giao thông, thương mại,v.v…) giáo dục và y tế…

    Như cách nói ngày trước ở Việt Nam, phải tát nước và bắt con cá (du kích).

    Các nước trong thế giới tư bản, dĩ nhiên, có rất nhiều chuyên gia về chiến tranh chống du kích. Nổi tiếng nhứt là Sir Robert Thomson, người Anh, đã từng giúp chính phủ Mã Lai và Phi Luật Tân diệt trừ du kích ở các nước nầy.

    Hiện nay, những chuyên viên chống du kích không thiếu gì ở các đại học Mỹ. Tuy nhiên, không giống như Sir Robert Thomson ngày trước, chưa thấy ai ra mặt để tham gia trưc tiếp và tại chỗ để góp phần diệt trừ Taliban ở A Phú Hãn. Ấy là chưa kể, người Mỹ có nhiều hạng khác nhau. Nhiều người Mỹ rất hãnh tiến. Nếu họ là cấp chỉ huy các cuộc chiến tranh, như kiểu Rumsfeld hoặc Dick Cheney ở Iraq thì việc thu phục nhân tâm khó lắm. Thu phục nhân tâm là yếu tố bắt buộc trong cuộc chiến tranh nhân dân.

    Cuộc chiến tranh nầy không hy vọng chấm dứt sớm được. Nếu ngăn chận được các nguồn tiếp liệu từ các nước chung quanh đưa vào cho A Phú Hãn như Pakistan, Iran, các nước Nam Á thì cũng phải năm ba năm mới thành công hoàn toàn. Còn nếu các nước chung quanh còn muốn “đá giò lái” Hoa Kỳ, hoặc vừa ăn tiền vừa “đá giò lái” như Pakistan đã làm thì 5 năm, 10 năm nữa, hết vài ba đời tổng thống Mỹ, tình hình xem ra cũng chưa xong. Điều đó, làm cho chúng ta nhớ, vì nguồn tiếp liệu và hành lang xâm nhập từ bên ngoài, tháng 3 năm 1970, quân Mỹ, sau đó là quân đội Việt Nam Cộng Hòa tấn công vào Cam Bốt, lật đổ chế độ Sihanouk.

    Một điều đáng trách cứ. Chính các nước Tây Âu, với chính sách thực dân, từng bóc lột và hưởng nhiều quyền lợi ở A Phú Hãn và nhiều nước ở Trung Đông, nhắm bộ không tích cực lắm trong việc góp tay với Mỹ để tiêu diệt Taliban. “Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”, ngoài một mình nước Mỹ.


    Tuệ Chuơng Hoàng Long Hải





    (1) Tháng 12 năm 1978, Việt Cộng vượt biên giới tấn công Cam Bốt. Ngày 7 tháng 1 năm 1979, Việt Cộng chiếm thủ đô Phnom Pênh. Tháng 2 năm nầy (sau Việt Cộng 1 tháng), Liên Xô đem quân vào Á Phú Hãn. Năm 1988, Liên Xô rút quân khỏi Á Phú Hãn thì năm sau, 1799, Việt Cộng rút quân khỏi Cam Bốt. Thầy trò tấn thối rất hòa nhịp.

    (2) Dương Nguyệt Ánh (1960 – ) là một phụ nữ người Mỹ gốc Việt với vai trò lớn trong Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Bà sinh ở Việt Nam, cùng gia đình tị nạn sang Mỹ năm 1975 khi chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

    Dương Nguyệt Ánh tốt nghiệp Đại Học Maryland ngành kỹ sư hóa học, khoa học điện toán và quốc gia hành chính. Sau đó bà làm việc cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ với chức tổng giám đốc Khoa Học Và Kỹ Thuật của Trung Tâm Vũ Khí Hải Quân Hoa Kỳ (Naval Surface Warfare Center) tại Maryland, tiểu ban chất nổ với nhiều giải thưởng. Bà từng là người đại diện cho Hoa Kỳ trong Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO). Bà cũng là tác giả của bom áp nhiệt (thermobaric bomb).

    Bà nhận giải Dr. Arthur Bisson Award for Naval Technology Achievement vào năm 2000, giải Civilian Meritorious Medal năm 2001 và giải Service to America Medal for National Security năm 2007.

    Dương Nguyệt Ánh có lập trường chống Cộng Sản rõ rệt và thường phát biểu quan điểm chống đối của bà đối với chính quyền Cộng Sản Việt Nam.

    Dương Nguyệt Ánh là dòng dõi cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, là cháu ruột của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

    (theo Wikipedia)
  3. Thơ Trần Trung Đạo, Nỗi Thao Thức Tha Hương



    Khi còn ở trong nước, tôi cũng như nhiều người khác, không được đọc thơ Trần Trung Đạo (TTÐ). Sách lược cởi mở của Cộng Sản Hà Nội là cởi mở với đồng đô-la, không có nghĩa là cởi mở với văn học hải ngoại mà họ đánh giá là phản động. Tới trại tị nạn một thời gian ngắn, đọc báo chí hải ngoại được đưa vào trại, dù hạn chế, nhiều người đã quen với “hiện tượng Trần Trung Đạo”, một nhà thơ “trẻ” -theo nghĩa tương đối nếu so sánh với các nhà thơ “thành danh” trước 75- nhiều người hâm mộ thơ ông. Đến Hoa Kỳ, tôi lại càng chú ý đến thơ ông. Thơ của Trần Trung Đạo (TTÐ) xuất hiện trên nhiều tờ báo, từ những tạp chí cho đến các báo biếu, hay các đặc san của các hội đoàn, đoàn thể, mỗi năm xuất bản một hai lần.

    Tại sao thơ của ông được nhiều báo chí đăng tải như thế? Báo nào ông cũng gởi thơ đến đăng? Tôi không nghĩ như vậy. Hiện tượng báo chí hải ngoại khá phong phú và phức tạp. Các chủ bút có thể trích đăng lại thơ của ông từ một tờ báo nào đó. Báo chí Việt Nam hải ngoại gần giống như báo chí Mỹ. Mặc dù có nhiều báo chí Mỹ bán khắp cả thế giới, nhưng không có tờ báo nào là báo chung cho toàn nước Mỹ. Báo chí VN ở đây cũng vậy, không có báo nào là báo chung cho toàn người VN ở Mỹ. Có thể có rất nhiều tờ phát hành khá rộng rãi ở một vài địa phương nào đó với một số lượng lớn, nhưng một tờ chung cho cả toàn quốc thì không! Vì vậy, một bài báo, bài thơ, truyện ngắn v.v… được đăng ở nhiều tờ báo là thường tình. Một người làm báo ở Washington D.C. ở Cali có thể trích đăng lại thơ TTÐ từ một vài tờ báo ở Boston nếu họ yêu thơ ông.

    Việc thơ ông đăng ở nhiều báo làm tôi nhớ một kỷ niệm hơn 40 năm trước. Khi ấy, tôi là “mầm non văn nghệ” của vài tờ báo ở Huế, trong khi vài bạn văn của tôi cố gởi bài đăng cho được ở một vài tờ báo “lớn” ở Sài Gòn. Người ta tự hào và tự cho rằng bài họ viết phải đăng ở những tờ báo “danh tiếng” mới xứng, mặc dù việc đó có thể ví như việc chụp hình ké với lãnh tụ, thậm chí che dù cho lãnh tụ, cũng tự cho là vẽ vang. Án Anh làm quan tể tướng nước Tề, khi ra đường bao giờ ông cũng khiêm cung. Trong khi đó thì tên đánh xe ngựa đưa ông vào ra triều đình mỗi ngày mặt bao giờ cũng dương dương tự đắc, khiến vợ anh ta phải xấu hỗ lây cho chồng.

    Một hôm, đang bữa ăn, mấy đứa em con ông chú tôi đem chuyện đăng báo này ra nói. Ông chú tôi ngồi nghe, một lúc, ông nói: - Hoa sen bứng vào trồng trong mấy cái chậu sành trong Đại Nội thì không sống được. Nó mọc trong hồ, giữa bùn, thơm vẫn thơm, đẹp vẫn đẹp. Văn chương thì mênh mông, biết sao là hay, biết sao là dở. Bọn nhà văn thì “Văn mình vợ người” thành ra chẳng bao giờ nên người. Cái tính đó là tính trẻ con. Ông chú tôi vốn là người vào ra Cửa Khổng Sân Trình nhiều hơn cầm bút chì, lời ông dạy bao giờ cũng sâu sắc. Vâng lời ông, tôi bỏ cái tính “Trẻ con văn nghệ” đó. Cho tới giờ, tôi vẫn còn là “Mầm non văn nghệ” nhưng tính “Trẻ con văn nghệ” thì tôi giã từ đã lâu.

    Tôi không rõ TTÐ có buồn khi thấy báo chợ, báo dán, báo biếu đăng thơ ông tùm lum hay không, hay ông cho rằng đó là điều hay. Dù là báo gì, người ta thấy thơ ông hay thì người ta đăng. Đó cũng là “Bất tích ca giã khổ, đản thương tri âm hy” (Không tiếc người ca khó nhọc, chỉ sợ đời không có kẻ Tri Âm mà thôi). Chĩ sợ mình làm thơ, viết văn mà không ai đọc, còn người ta biết một bài thơ hay, chép vào sổ tay, cuốn tập v.v… hay đăng vào báo chợ, báo biếu, theo tôi nghĩ, đó cũng là Tri Âm, đâu cần hoài hơi phải đăng vào một tờ báo “lớn”. Đọc bài “Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh” của TTÐ để “Kính tặng một bà Mẹ ở San José” (Thao Thức- Thơ TTÐ-trang 52), tôi tìm ra chân lý đó:

    Mẹ ngồi suốt hai giờ trên xe buýt
    Chỉ mong đến tận nơi để nghe đọc thơ con
    Những vần thơ chứa chan vạn nỗi buồn
    Những vần thơ chảy ra từ tim Mẹ
    (Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh- Thao thức- TTÐ- trang 52)

    Do đâu Mẹ biết thơ TTÐ để đi nghe. Mẹ đọc thơ ông từ những tờ báo “lớn”, báo thuộc loại văn nghệ văn gừng “cấp cao”. Không chắc! Tôi không chắc Mẹ đọc thơ ông từ nơi đó. Có thể là Mẹ đi chợ, vào một Super Market VN nào đó, lấy một tờ báo biếu đọc chơi. Ban đầu chỉ là “đọc chơi” nhưng rồi Mẹ đọc thơ TTÐ không ít lần, và thấy hay, thấy trúng ý mình, tình cảnh mình, tình cảnh dân mình, nước mình. Có vậy Mẹ mới chịu khó ngồi hai giờ liền trên xe buýt để đi nghe thơ con. Đó là sự thành công, thành công rất lớn của TTÐ. Đó là “Sức Phổ Biến”rất lớn của Thơ TTÐ mà ít người vinh dự được có. Đó chính là “Hiện Tượng Trần Trung Đạo” trong lãnh vực phổ biến thơ văn. Tôi đã từng đi nghe diễn thuyết, những buổi đọc văn, đọc thơ, kỷ niệm Nguyễn Du, Nhất Linh… khi còn ở trong nước cũng như ở hải ngoại, trước 75 cũng như sau 75, chưa thấy một bà cụ già nào phải đi xe buýt suốt hai giờ đồng hồ liền “Chỉ mong đến tận nơi để nghe đọc thơ con”. Con đó lại cũng không phải là con Mẹ đẻ ra để Mẹ công khó đến như vậy.

    Điều này không có chi khó hiểu. Ngay chính trong lời mở đầu của tập thơ Thao Thức, TTÐ thành thật nói “Tác giả vẫn tin rằng mình đến với thi ca bằng tấm lòng mộc mạc của một người Việt Nam yêu văn hóa dân tộc hơn là một nhà thơ, một thi sĩ, một người cầm bút chuyên nghiệp” (Lời ngõ- Thao Thức- TTÐ- không đề số trang).

    Văn chương bình dân là những tác phẩm có giá trị không thua kém gì văn chương bác học, nhưng ông cha chúng ta khi soạn ra những câu cao dao, tục ngữ, hò vè v.v… đâu có nghĩ rằng họ đang “làm văn nghệ”. Chính cái không cho rằng mình là nhà thơ thì mới thật là thi sĩ, không cho mình là nhà văn mới là văn hào. Còn khi thấy mình đúng là thi sĩ thì thật sự đó chỉ là “thợ thơ”, khi thấy rằng mình là văn hào thì đó chỉ là những nhà văn ba xu (truyện xì trum trẻ em, bán mỗi tập ba xu).

    Ngay đầu đề bài thơ này -“Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh”- ta cũng thấy được quan điểm văn nghệ của ông. Thơ là một phần của đời sống văn học. Thơ còn sống thì đời còn sống. Thơ hồi sinh thì đất nước sẽ hồi sinh. Ngay văn chương bình dân cũng là một mặt của đời sống văn học dân tộc ta. Nó bao gồm những truyện thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, hò vè. Văn học bình dân các nước Âu Mỹ giàu có về thần thoại, cổ tích, sử thi, mà ít ca dao. Thậm chí, nhiều nước Ây Tây cùng có chung những chuyện thần thoại. Nước ta thì không. Chúng ta có một nền văn chương bình dân riêng của người Việt ta và rất giàu, rất phong phú về ca dao tục ngữ. Người xưa bói Kiều vì bất cứ hoàn cảnh nào trong cuc sống cũng có vài câu Kiều ứng nghiệm với. Ca dao cũng vậy. Bất cứ mặt nào của đời sống ta cũng tìm thấy trong ca dao: giáo dục, tôn giáo, gia đình, tình yêu v.v… Ca dao là thơ, thơ chung, thơ của nhiều tác giả qua nhiều thời gian. Trên quan điểm đó, thơ của TTÐ sẽ đi vào đời sống dân tộc, đóng góp vào việc làm phong phú, phục hồi đời sống văn hóa dân tộc. Như thế, vị tất cần phải chọn lọc thơ đó được phổ biến như thế nào, bằng phương tiện gì. Cũng trên quan điểm đó, người ta không thấy thơ TTÐ có những câu bí hiểm, che kín, che một nửa ý tứ để thành một thứ tối tăm như “thơ hủ nút” của Thanh Tâm Tuyền (TTT) ngày trước. (Tối như hủ nút -tục ngữ). Tôi không chắc ngày nay còn ai thuộc được vài câu thơ của TTT nhưng chắc chắn ít ra một vài thế hệ sau, người ta còn yêu thơ TTÐ. Chính TTÐ cũng nói:

    Hồn thơ đó nghìn năm sau vẫn đọng

    (Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh- Thơ TTÐ- trang 54)

    Ông không bắt chước lối làm thơ của các thi nhân “thành danh” trước 1975 ở Miền Nam.

    Thơ ông rất hiện thực, rất rõ, như bày tỏ hết tấm lòng của ông với mọi người. Sức phổ biến thơ ông mạnh mẽ cũng là nhờ ở đó vậy:

    Những vần thơ chan chứa vạn nỗi buồn
    Những vần thơ chảy ra từ tim Mẹ
    (Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh- TTÐ- trang 52)

    Thơ con buồn hay máu chúng con rơi
    (Bài trên- đã dẫn -trang 53)

    Những vần thơ vốn buồn hơn nước mắt
    (Bài trên- đã dẫn- trang 53)

    Có ai cần đọc thơ con
    Một thi sĩ vô danh
    Viết những chuyện chẳng còn ai muốn nhắc
    Câu chuyện Việt Nam mịt mờ xa lắc
    (Bài trên- đã dẫn- trang 54)

    Thơ ông làm ra từ trái tim của Mẹ, của Quê Hương Đất Nước, Dân Tộc. Thơ ông là máu, là nước mắt. Máu từ những người đấu tranh cho Tự Do, Nước mắt từ những khổ đau của Dân tộc. Ông khẳng định nhiều lần thơ ông là nước mắt:

    Bài thơ nhỏ đầu năm tôi đang viết
    Đêm gao thừa đất khách, tuổi lưu vong
    Tôi đang nhắp rượu nồng hay nước mắt
    Mà sao nghe cay xé tận trong lòng
    (Tuổi Lưu Vong- Thơ TTÐ- trang 86)

    Thơ của người, hoa thơm trãi lối
    Thơ anh máu lệ nhỏ từng đêm
    Anh khóc triệu người đang hấp hối
    Khóc anh, hy vọng chỉ còn em
    (Mười Chín Mùa Mưa- TT-TTÐ-trang 58)

    Với những người vong quốc, Mẹ là Quê Hương. Quê Hương và Mẹ là một. Mẹ không bao giờ mất vì Quê Hương vẫn còn đó. Với thi sĩ, thêm một điều: Thơ. Thơ, Mẹ và Quê Hương là một. Ngay đầu đề bài thơ tôi vừa trình bày ở trên, TTÐ đã cho ta thấy tâm tư của ông: “Mẹ là Thơ nên Đất Nước sẽ hồi sinh”. Mẹ Thơ Đất Nước là 3 nhưng chỉ là Một. Đất Nước là Quê Hương-Dân Tộc.

    Ngay trong bài thơ này, cùng ý đó, TTÐ viết:
    Có giống dân nào như một giống chim
    Bay suốt bốn ngàn năm chưa dừng lại
    Như đời Mẹ mang nỗi buồn đi mãi
    Bảy mươi lăm năm chưa một chỗ quay về.

    (Mẹ Là Thơ Nên Đất Nước Sẽ Hồi Sinh-TT-TTÐ-trang 54)

    Giống chim ông nói ở đây là chim Lạc, được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ. Chim Lạc là “totem” (1) của giống dân Lạc Việt, tức tổ tiên của chúng ta. Dân tộc Việt Nam có bốn ngàn năm lịch sử, đến giờ này đất nước vẫn chưa yên.

    Nói về Mẹ-Quê Hương- TTÐ có một bài thơ rất dễ thương. Cái “dễ thương” ở đây, rất khác với cái “dễ thương” của Nguyễn Nhược Pháp (NNP) qua nhũng bài thơ dễ thương của ông như “Đi Sứ”, “Đi chơi chùa Hương” hay “Ngày xưa”. Cái “dễ thương” của NNP là cái “dễ thương” của một thời kỳ cổ xưa, của quan Trạng vinh qui, của cô gái yếm lụa đào, tóc bỏ đuôi gà, thuở đất nước thanh bình, thạnh trị, yên ổn hòa vui. Cái “dễ thương” của TTÐ khác hẵn vì đây là những mơ mộng, ước ao của một người trẻ lưu lạc nơi xứ người, mong ngày về lại quê hương, gặp mẹ và bà con thân thuộc bạn bè v.v…

    NẾU

    Nếu tôi được chỉ một ngày để sống
    Xin một ngày được sống thật bình yên
    Không ghét ghen, không hận thù, tranh chấp
    Một ngày thôi trong tay Mẹ dịu hiền

    Nếu tôi chỉ được một lần để gọi
    Giữa quê người xin gọi lớn Việt Nam
    Ôi Tổ quốc, bốn ngàn năm hưng phế
    Vẫn còn đây qua mấy đ thăng trầm

    Nếu tôi chỉ được một lần để hát
    Tôi sẽ nghiêng mình, hát khúc quốc ca
    Xin mặc niệm bao nhiêu người đã chết
    Ngọn Cờ Vàng thắm máu của ông cha

    Nếu tôi chỉ được một lần đểviết
    Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu
    Ngừng tay lại, hỡi ai còn chém giết
    Hai mươi năm thù hận đã thêm nhiều

    Nếu tôi chỉ được một lần để vẽ
    Tôi sẽ vẽ hình chư S thân thương
    Từ hải đảo đến núi rừng sông biển
    Đất trời ta, dáng đứng đẹp phi thường

    Nếu tôi chỉ được một lần để khóc
    Xin một lần được khóc cho riêng tôi
    Hạt bụi vướng trên vai đờ du tử
    Tôi bay đi ngàn dặm áng mây trời
    (Nếu-TT- TTÐ- trang 63-64)

    Ý bài thơ rất rõ, rất dễ hiểu. Khi còn làm giáo sư Việt văn, tôi thường phải sưu tập bài giảng cho học sinh. Tôi nghĩ là một giáo sư chân chính (chân chính có nghĩa là không phải chọn Phan Đình Giót, Cù Chính Lan lấy thân mình lấp lỗ châu mai làm đề tài), người ta sẽ chọn bài thơ này làm bài giảng văn.

    Tư tưởng của TTÐ trong thơ rất Việt Nam: Thương yêu (Không ghét ghen, không hận thù tranh chấp - Tôi chẳng ngại ngùng viết chữ thương yêu - Tôi sẽ vẽ hình chữ S thân thương). Điều này rất đối chọi với chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa của hận thù, đấu tranh giai cấp. Ý đó, TTÐ nói rõ hơn trong câu “Ngừng tay lại, hỡi ai còn chém giết, hai mươi năm thù hận đã thêm nhiều”. Chữ AI ông nói là chúng nó chớ ai. Chúng nó là bọn Cọng Sản Việt Nam đấy. Bài thơ này không ghi thời gian ông sáng tác. Nếu ông làm bài thơ này năm 1995 thì chữ “hai mươi năm” có lẽ là hai mươi năm lưu vong. Cũng có thể là “hai mươi năm” nội chiến (1955-1975). Dù là ý nào, Cọng sản cũng không tha cho ông. Họ không chấp nhận nói như kiểu Trịnh Công Sơn “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” trong bài hát “Gia tài của Mẹ”. Không có nội chiến, chỉ có cuộc “Chống Mỹ Cứu Nước”. Nói nội chiến thì có thể bên nào cũng có chính nghĩa. Chính nghĩa rất lắm khi tương đối. Pascal nói “Bên này Pyrénée là chân lý, bên kia thì ngược lại”. Còn ở đây, đối với họ, họ là chính nghĩa, “Mỹ Ngụy” là phi nghĩa. Bài hát của TCS được xếp vào xó tủ.

    Ý thức “phản động” của TTÐ là ý thức Dân Tộc. Sống thương yêu đùm bọc nhau, “lá lành đùm lá rách”. Ý thức Yêu Thương đó bắt nguồn trong ý thức dân tộc mà cũng là triết lý của đạo Phật phổ biến trong dân tộc ta đã hàng ngàn năm. Ông nghe Cọng Sản “đổi mới”, nhưng đổi mới cái gì? Cái cần thiết nhất cho dân tộc chúng ta, đã thui chột trong chiến tranh, đã triệt tiêu trong chế độ Cọng Sản, cái đó cần phục hồi, cần hồi sinh. Một câu hỏi, mà cũng là một sự mỉa mai:

    Ôi đất nước, sau mười năm đổi mới
    Có lớn thêm hơn một chút tình người.
    (Thao Thức- TT- TTÐ- trang 11)

    Nhà thơ không mong nhiều, một chút thôi “Một chút tình người” mà cũng không có!!!

    TTÐ lấy sự thương yêu để chống lại chủ nghĩa hận thù của Cọng sản là “rất đáng tội”” với họ, bởi vì đó là vũ khí lợi hại nhất để đánh bại Cọng sản, đó là vũ khí cuối cùng của trận chiến cuối cùng.

    Tôi thắc mắc một chữ viết “nghiêng” trong câu “Tôi sẽ nghiêng mình hát khúc quốc ca”. Chào Quốc Kỳ, hát Quốc Ca thì phải đứng “thẳng”, chỉ khi mặc niệm mới đứng nghiêng. Nói như ông “nghiêng mình hát khúc Quốc ca” có nghĩa là Tổ Quốc đã CHẾT. Có thể rất nhiều người không đồng ý với ông trên quan điểm này. Tổ Quốc không bao giờ chết. Hễ Dân Tộc còn thì Tổ Quốc còn. Dân Tộc đang điêu linh khốn khổ vì bọn Vô Tổ Quốc. Dân Tộc chưa bị tuyệt chủng. Chính TTÐ cũng nói là Tổ Quốc chưa chết, Tổ Quốc chỉ lâm nguy “Tổ Quốc như trong giờ Nhật Thực” - (Mười chín Mùa Mưa- TT- TTÐ- trang 58)

    Trong tập thơ “Thao Thức”, TTÐ cũng có một bài thứ hai rất “dễ thương”. Chữ “dễ thương” tôi vẫn nói với ý trên. Một tuổi thơ với cây đa của chùa, với sân chùa, và lưu lạc nơi quê người khi khôn lớn. Đối chiếu giữa hai cảnh đời, tác giả lưu luyến hoài cây đa nơi chùa cũ.

    Nhớ cây đa chùa Viên giác

    Tôi chưa kịp trở về thăm Viên Giác
    Mười hai năm bèo giạt bến sông đời
    Cây đa cũ chắc đã già hơn trước
    Biết có còn rụng lá xuống sân tôi

    Đời lưu lạc tôi đi hoài không nghỉ
    Để niềm đau chảy suốt những mùa thu
    Thời thơ ấu cây đa già tri kỷ
    Vẫn còn đây trong ký ức xa mù

    Tôi khổ cực từ khi cha mất sớm
    Nên bà con thân thuc cũng xa dần
    Khi tôi khóc, đa đau từng cuống lá
    Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân

    Đa làm mẹ vỗ về tôi giấc ngũ
    Đa làm cha che mát những trưa hè
    Đa làm bạn quây quần khi rảnh rỗi
    Đa làm người chân thật chẳng khen chê

    Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
    Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
    Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
    Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn

    Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
    Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
    Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
    Cây đa già đứng lặng khóc chia ly

    Đường tôi qua đã không còn bóng mát
    Ngày nhọc nhằn mưa lũ xuống đêm khuya
    Đa ở lại âm thầm ru khúc hát
    Ngậm ngùi buông theo mỗi tiếng chuông chiều

    Đa thương mến dẫu có vàng thương nhớ
    Cũng xin đừng gục xuống dưới sân tôi
    Xin cố đứng để chờ nghe tôi kể
    Chuyện trầm luân của một kiếp con người

    Tôi sẽ đến ngôi chùa xưa Viên giác
    Nhặt mảnh đời rơi rớt ở đâu đây
    Ôi thằng bé nghèo nàn xưa đã lớn
    Đi làm người du thực ở phương tây

    Tôi viết nốt những bài thơ dang dở
    Và tình người rách nát thuở hoa niên
    Đa sẽ hát bài đồng dao muôn thuở
    Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.

    Thông thường, cây đa là biểu tượng của quê hương, của làng quê Việt Nam. Những làng quê Việt Nam, đặc biệt là ở Miền Trung hay Miền Bắc, mỗi làng thường có cây đa ở chùa làng hay đình làng. Với tuổi thơ, cây đa là nơi người ta vương vấn nhiều kỷ niệm. Với TTÐ, sự vương vấn đó lại càng nhiều hơn. Như trong bài thơ thì có một thời, vì mồ côi, ông ở chùa, quét lá ở sân chùa, cái sân rất “gần gủi” đến độ ông gọi là “sân tôi” (biết có còn rụng lá xuống sân tôi. Bài trên- trang 110). Sân là nơi bọn trẻ chơi đùa. Chúng đến với sân là đến với đa. Đa che mát cho sân vào những trưa hè chói chang. Thành ra sân với đa là một. Ông tự coi mình như cái sân bên đa. Có sân mà không có đa, có đa mà không có sân thì mọi sự đều thay đổi, mất hết ý nghĩa. Giữa ông, sân với đa tưởng như là hai là ba nhưng chỉ là một. Ông không viết là “sân xưa” hay “sân chùa”. Ông lại viết “sân tôi”. Cái hay chính là ở đó. Tôi nghĩ đó là chữ ông hạ xuống xuất thần. Cái hay của thơ cũng là ở đó, không tính toán, không chọn lựa, không gọt đẻo, bỗng xuất thần hạ xuống một chữ mà lại quá hay. Ông vui thì đa vui, ông buồn thì đa buồn (Khi tôi khóc, đa đau từng cuống lá, Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân- bài trên- trang 111). Đa là cha, là Mẹ, là Bạn, là Người Chân thật. Ông nhận định rất chính xác về tính chân thật vì đó là tính căn bản trong sự giao tiếp giữa người với người. (Đem lòng thành ấy ở với cha mẹ thì nên con thảo, ở với nước nhà thì nên tôi trung. Suy ra, anh ở với em, vợ ở với chồng, chúng bạn ở với nhau đều do lòng Thành ấy mà ra cả- “Thành nghĩa là gì?”- Phan Kế Bính). Từ sự chân thật (thành) ấy, ông với đa, dù đa vô tri vô giác, nó vẫn “Cây đa già đứng lặng khóc chia ly”. Lặng là một chữ thường dùng nhưng ở đây vị trí nó rất hợp, khá hay. Nó không có nghĩa là hôm ông rời chùa ra đi, trời lặng gió nên lá đa không ve vẫy, tiễn đưa. Nó cho ta thấy sự bịn rịn lúc ra đi của ông. Ông cứ quay lại nhìn hoài cây đa, quay lại nhiều lần, dù ông đi đã xa. Ở xa, ông không thấy lá đa run rẩy mà chỉ thấy hình dáng cây đa vươn lên cao, đứng lặng im, như đang khóc cho cuộc chia ly vậy.

    Như tôi nói ở trên, đa là biểu tượng của làng quê, của quê hương. Và khi cây đa không còn, có nghĩa là có cái gì đó tan vở. Một cặp tình nhân ra gốc đa đầu làng thề non hẹn biển vì cây đa là nơi linh thiêng: Hồn linh của người xưa phảng phất đâu đó, trên lá đa, cành đa, dưới gốc đa nhiều ông bình vôi, khi rut đặc, hết dùng, người ta đem bỏ quanh gốc đa mà sợ, không dám đập bể hay bỏ rơi lăn lóc. Và khi

    Cây đa trốc gốc
    Thợ mộc đang cưa
    Gặp em đứng bóng ban trưa
    Trách trời vi tối phân chưa hết lời.
    (ca dao)

    Cái gì đây? Một câu chuyện tình chăng? Chưa kịp bày tỏ cùng em niềm thương nỗi nhớ thì em đã sang ngang mất rồi chăng? Giống như câu chuyện tình “Trèo lên cây bưởi hái hoa” vậy chăng? Hay giống như câu ca dao Trị Thiên:

    Trăm năm nhiều nỗi hẹn hò,
    Cây đa bến c (cũ) con đò khác đưa
    Cây đa bến c còn lưa ( còn lại)
    Con đò đã thác (chết) năm xưa tê (kia) rồi.

    “Cây đa trốc gốc, thợ mc đang cưa”. Có nghĩa la tình đã hết, đã chia xẻ. Hay cây đa còn đó (còn lưa), một người còn đó và một người đã vào cõi thiên thu (đã thác). TTÐ sợ điều đó. Đa mất là ông mất một tri kỷ, một niềm thương nhớ, một người để tâm sự:

    Đa thân mến dẫu có vàng thương nhớ Cũng xin đừng gục xuống dưới sân tôi Xin cố đứng để chờ nghe tôi kể Chuyện trầm luân của một kiếp con người.

    (bài trên đã dẫn- trang 112)

    Ý tưởng đó, ông nhắc lại một lần nữa:

    Gốc dừa xưa, cây đa cũ đâu rồi,
    Xin cố đúng nghe người đi kể lể
    (Tôi sẽ về- Thao thức- TTÐ- trang 105)

    Ông sợ một ngày kia ông về, đa không còn nữa, lỡ như “đa trốc gốc, thợ mộc đang cưa” thì ông còn ai kể nỗi hàn ôn.

    Trong bài thơ này, ông có dùng một chữ rất hay:

    Chảy. “Để niềm đau chảy suốt những mùa thu”. Niềm đau ấy là suối, hay là sông để chảy suốt những mùa thu. Mùa thu là mùa mưa, nước sông tràn đầy, đầy như nỗi đau của ông.

    Trong thơ TTÐ, Mẹ biểu tượng bằng cành hoa trắng trong Mùa Vu Lan. Cánh “hoa hồng cài áo” là một mỹ tục của Nhật được Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh truyền bá vào Việt nam. Những người mồ côi Mẹ, trong mùa Vu lan được bạn bè cài một hoa hồng trắng lên áo. Ai còn Mẹ được cài hoa hồng đỏ. TTÐ không được cái diễm phúc cài hoa hồng đỏ đó:

    Những ngày tôi còn bé
    Đi lễ Mùa Vu Lan
    Ai cài hoa đỏ thắm
    Hoa tôi màu khăn tang

    Chúa Dê-Su chết ba ngày thì sống lại rồi về với Đức Chúa Cha trên Thiên đàng,

    Mục Kiền Liên gặp Mẹ
    Tôi chẳng còn gặp ai
    (Bài trên- đã dẫn- trang 117)

    Người chết, không bao giờ sống lại. Mẹ đi là đi mãi, khiến cho con:

    (Tôi) lớn thiếu lời ru
    Đời như cây thiếu nước
    Khô cằn và hoang vu

    .. … .. .. .. .. .. .. ..

    Cơm chẳng bữa nào ngon
    Bài học hoài không thuộc
    Đêm giấc ngủ chưa tròn

    .. .. .. .. .. .. .. .. .. ..

    Tôi đi rồi đi mãi
    Mỗi ngày một xa thêm
    Bao mùa trăng tháng bảy
    Soi xuống vùng lãng quên
    (bài trên đã dẫn- trang 119).

    Hà Liên Tử(?) có hai câu thơ rất hay:

    Cái nghĩa hợp ly là thế đó
    Thời gian thường đổi nhớ ra quên

    Nhưng cái quên đó chỉ có thể là cái quên với một người tình, một người bạn. Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa là lẽ tự nhiên của thế gian nhưng Mẹ thì khó quên, không bao giờ quên được. Người tình sau sẽ thay người tình trước, người bạn mới thay cho người bạn cũ, nhưng ai thay được Mẹ của mình?

    “Bao mùa trăng tháng bảy, Soi xuống vùng lãng quên”. Trăng tháng bảy, trăng Mùa Vu Lan tròn và sáng soi xuống hồi ức của thi nhân khiến ông không quên được Mẹ.

    Ông nói ông đi xa, nhưng trước khi đi, để tỏ lòng nhớ Mẹ, thương yêu và thủy chung, ông về quê thăm m Mẹ

    Một chiều xuân năm ấy
    Con về Trung lần cuối
    Ghé Duy Xuyên chào Mẹ để ra đi
    Nấm mồ hoang cây cỏ mọc xanh rì
    (Chuyện với người khuất mặt- Thao thức- TTÐ trang 89)

    Có ai không xúc động, thấy thương Mẹ, nhớ Mẹ khi đọc hai câu thơ sau đây của ông:

    Ôi đời Mẹ như một vầng trăng khuyết
    Vẫn ngàn năm le lói ở đầu sông!
    (bài trên đã dẫn- trang 89)

    Trăng là hình ảnh rất thưòng thấy trong thi ca, nhất là trong thơ Tàu và thơ ta. Một nửa trăng (hay chưa được một nửa trăng (trăng khuyết) lại rất thường được nói tới. “Hôm nay có một nửa trăng thôi, Một nửa trăng ai cắn vở rồi” là trăng của Hàn Mặc Tử nhớ và oán trách Mộng Cầm, người yêu phụ bạc của ông. “Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” là trăng Thúy Kiều nhớ chàng Kim… Đó là trăng của những người tình, của chồng vợ nhớ thương nhau… “.. .. Mẹ như một vầng trăng khuyết” là đời Mẹ không tròn đầy, viên mãn, là người đàn bà lẻ bạn, xa chồng vắng con. Nhưng lòng Mẹ vẫn vô cùng trong sáng (vằng vặc) ở đầu sông. “Quân tại Tương giang đầu, thiếp tại Tương giang vĩ…” Chàng ở đầu sông, thiếp cuối sông… Một đất nước chiến tranh tàn khốc, triền miên, gia đình ly tán thì có lẽ người đau đớn nhất vẫn là Mẹ, người đàn bà Việt Nam.

    “Vầng trăng khuyết” là cuộc đời bất hạnh của Mẹ. Mẹ xa chồng, xa con. Đó là nỗi đau bên ngoại, quê ngoại. Thương Mẹ nhiều nên thương bên ngoại. Đó là tâm lý trẻ thơ. Nhưng bên ngoại, với ông thì:

    Trăng bên ngoại nghìn năm sau vẫn khuyết
    Vì đời con thiếu Mẹ thuở nằm nôi.
    (Chuyện Với Người Khuất Mặt- TT- TTÐ- trang 91-92)

    Có lẽ không có một đất nước nào có nhiều người đàn bà đau khổ bằng người Mẹ Việt Nam, bởi vì, trong hình thể chữ S của giang sơn ta, nơi nào cũng có hình ảnh người Mẹ nuôi con chờ chồng: Nàng Tô Thị ở Lạng Sơn, núi Vọng phu ở đèo Cả (miền Trung), và đèo Mẹ Bồng Con ở Xuân Lộc. Tại sao đất nước chúng ta nhiều Vọng Phu đến vậy? Người đàn ông thường đi xa, trấn giữ biên ải phía Bắc vì nước Tàu to lớn luôn luôn dòm ngó ta; dân tộc phải tiến về phương Nam tìm đất sống. “Tiếng ai trên núi véo von, hỏi chàng lính mộ thử chồng em đâu?”, hay “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng,Thương Cha nhớ Mẹ quá chừng bậu ơi”. Câu chuyện nàng Tô Thị ở phố Đồng Đăng, ở Núi Vông Phu, ở Đèo Mẹ Bồng Con là Văn hóa của Dân tộc mà cũng là Luân Lý của người Việt. Khi xa chồng:

    Em vẫn mơ hoài câu chuyện thần tiên
    Nàng Tô Thị Việt Nam
    Thờ chồng nuôi tằm dệt vải
    Chuyện anh kể năm xưa
    Em học thuộc lòng nên còn nhớ mãi
    Nhỡ mai về, anh sẽ trách em quên!
    (Ở Một Nơi Không Có Mùa Xuân- TT-TTÐ- trang 59-60)

    Một đời người, dù có qua cả trăm thế hệ, cũng thế thôi, bao giờ cũng là một người đàn bà Việt Nam đầy gian truân vất vã vì chồng, vì con, vì quê hương, khi còn sống cũng như khi đã qua đời:

    Nắm mồ hoang cây cỏ mọc xanh rì
    Đã lâu lắm thiếu người chăm sóc.
    Mẹ có giận con không?
    Bao nhiêu năm miệt mài lưu lạc
    Chẳng về đây hương khói một lần thôi.
    (Nói Chuyện Với Người Khuất Mặt-TT- TTÐ- trang 89)

    Có một lần ông về thật, lần vĩnh biệt:
    Hôm ấy con về ghé lại quê xưa
    Thăm m Mẹ một lần rồi vĩnh biệt
    Ai ra đi thề non hẹn biển
    Con ra đi không dám hẹn ngày về
    Đời con buồn như tiếng vạc đêm khuya
    Cây thông đứng lẻ loi trong mịt mù bão tuyết.
    (Bài trên, đã dẫn- trang 91)

    Ông không dám hẹn ngày về vì thuở ấy ông đang chuẩn bị vượt biên trốn khỏ Việt Nam đó chăng? Người ra đi hồi ấy mấy ai nghĩ tới chuyện “mặc áo gấm về làng” như bây giờ?!

    Con cò, con vạc là loài chim ăn đêm. Trong bóng đêm tăm tối, hình bóng lẻ loi, tiếng kêu lẻ loi bao giờ cũng mang một nỗi buồn xa vắng, trầm đọng.

    Con cò mà đi ăn đêm;
    Đậu phải càng mềm, ln cổ xuống ao.
    (Ca dao)

    Nguyễn Công Trứ, một đời phấn đấu, dọc ngang. Đến khi sắp chết, cũng chỉ mong:

    Kiếp sau xin chớ làm người
    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
    Giữa trời vách đá cheo leo Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

    Hay như Võ Liêm Sơn:

    Bên mồ có mọc một cây thông
    Để cho xương thịt máu vun trồng
    Theo gió reo lên một khúc nhạc
    Kêu vang chín chín ngọn non Hồng

    Bi quan như Nguyễn Công Trứ, muốn xa lánh cõi trần ai, ở một mình trên vách đá cheo leo, hễ ai là người có can trường (chịu rét) thì ông mới chơi với, hay tích cực với đời, với quê hương như Võ Liêm Sơn, dù chết thì xương thịt nầy vẫn vun bồi Tổ Quốc, thông theo với gió tạo thành một khúc hát reo vang. VớI TTÐ, cây thông của ông, cũng không là cây thông đêm Noêl, cũng không là cây thông của Võ Liêm Sơn hay Nguyễn Công Trứ, mà ti nghiệp cho ông hơn:

    Cây thông đứng lẻ loi trong mịt mù bão tuyết

    (Bài trên, đã dẫn- trang 91)

    Lẻ loi nơi xứ người, xứ Mỹ, xứ có bão tuyết. Cuộc đời ông ở Mỹ, tâm hồn khi sống trên đất Mỹ, đớn đau đến thế sao?! Tâm hồn lẻ loi đó, trong nỗi nhớ Mẹ, thương Mẹ đó, như “Mịt mù trong bão tuyết”.

    Lần đó, ông cũng về thăm:
    Căn nhà xưa con đã lớn lên
    Nơi Mẹ dệt chiếc khăn lụa mười màu trắng
    Chiếc khăn nhỏ che đời con mưa nắng
    Đã thành khăn tang vấn kín chuỗi ngày xanh
    (Bài trên, đã dẫn- trang 91)

    Duy Xuyên (quận, phủ hay huyện, gọi tùy thời), quê của nhà thơ, nổi tiếng lụa đẹp, bán qua “Faifo” (Hội An) cho các thương nhân Châu Âu, ở các thế kỷ trước, khi “Con Đường Lụa” (Silk Road) qua ngã Trung Á không còn thuận tiện nữa.

    Mất Mẹ là cái mất lớn nhất trong đời con người ta dù khi Mẹ qua đời mà ta đã ở trưởng thành. Khi anh chị em chúng tôi đã có gia đình, nỗi lo sợ lớn nhất của tôi là mất Mẹ. Còn Mẹ là còn gạch nối giữa các anh chị em, giữa những đứa cháu nội ngoại của bà. Mẹ mất rồi là “sẩy đàn tan nghé”, là “nhà ai nấy ở, cơm ai nấy ăn”, là nỗi cô đơn vĩ đại nhất trong một đời người. Mất Mẹ khi còn trẻ, khi còn ấu thơ là điều vạn bất hạnh. Xuân Tâm nói: “Tôi biết tôi mất Mẹ, Là mất cả bầu trời”. Đúng đây, là bầu trời mênh mông. Biển rộng còn đo dò tấc thước. Trời thì mênh mông, chưa thăm dò hết được. Thi sĩ mất Mẹ từ khi thơ ấu, ông thấy rõ điều đó, không những ông thiếu tình thương của Mẹ như trời như biển mà còn một điều nữa, không kém quan trọng là không có Mẹ, ai dạy ông làm Người?

    Mất Mẹ hiền từ thuở nằm nôi
    Nên chưa bao giờ con khôn lớn đủ.
    (Nói Chuyện Với Người Khuất Mặt- TT- TTÐ- trang 90)

    “Chưa bao giờ …khôn lớn đủ” Thấy được mình chưa khôn lớn đủ là nhà thơ hiểu được Mẹ, bởi vì Mẹ không bao giờ thấy con mình đủ khôn dù con có lớn tới cở nào! Tuy nhiên, với tình thương là truyền thống dân tộc ta như tôi có nói ở trên, với lòng mong ước “Cho dân tộc này được lớn giữa yêu thương” (Tôi Sẽ Về- TT- TTÐ- trang 106) thì tác giả vẫn hiểu, vẫn thông cảm và thương xót những nỗi đau của người khác, dù người khác đó, khác thế hệ ông, khác hoàn cảnh sống với ông. Tới 30 tháng tư/75, dù ông còn là sinh viên, ông vẫn cảm thông sâu sắc nỗi đau của người thuc thế hệ trước ông, người lính, người thương binh miền Nam sống sót sau chiến tranh:

    Gởi lại Dakto một bài chân trái
    Ghé lại Pleiku cưa bàn chân phải
    Về đến Sài Gòn còn một cánh tay
    Lết giữa quê hương thân phận ăn mày
    (Lời Người Ở Lại- TT- TTÐ- trang 96)

    Người ăn mày đó lê tấm thân tàn phế đi xin tình thương. “Cho tôi tình thương, cho tôi Tình Người” (Bài trên, đã dẫn- trang 96) giữa một xã hội Việt Nam không những không có tình thương mà lại vô cùng bất nhân thời hậu chiến, không những giữa những người cùng nghèo khổ như nhau, không có gì để cho nhau mà ngay cả:

    Chào bà Việt kiều về từ nước Mỹ
    Ngoảnh mặt mà đi, đừng nhìn tôi kỷ

    Hay

    Chào anh Việt kiều về từ nước Úc
    Sao anh đứng đây nhìn tôi mà khóc
    Anh nhớ bạn bè hay nhớ chính anh?
    Đồng đội, quê hương, anh bỏ sao đành?

    Để cuối cùng:

    .. .. .. .. ..

    Về đến Saigon còn một cánh tay
    Chết giữa quê hương, thân phận lưu đày
    (Bài trên, đã dẫn- trang 97)

    Sống, về mặt nhân bản là Tự Do. Tự Do mưu cầu Hạnh Phúc như đã xác định trong Tuyên Ngôn Đc Lập của Hoa Kỳ, trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp, trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chỉ có ở những chế độ phát xít, độc tài Cọng sản, người dân bị tước đoạt quyền Tự Do, trở thành kẻ lưu đày. Dân Tộc Việt Nam bây giờ là một Dân Tộc bị lưu đày: Lưu đày nơi xứ người như chúng ta, hay lưu đày ngay trên chính quê hương mình như đồng bào ở trong nước. Điều thứ hai mới thật vô cùng đau xót. Thi sĩ, không những thấy đưo.c thân phận mình nơi đất khách mà còn cảm thông sâu sắc với kẻ ở quê nhà, và ngay cả những kẻ vùi thây nơi xứ người:

    Người lính già Việt Nam
    Vừa mới chết đêm qua
    Trên đường phố San José bụi bậm
    Anh đã đi bao nhiêu nghìn dậm
    Đến nơi đây chỉ để chết âm thầm
    (Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua- TT-TTÐ- trang 15)

    Ông ta “chết âm thầm”. Nhà thơ nghe tin này ở đâu?

    Một tin vặt đăng trên một tờ báo biếu, báo chợ v.v.. Tôi cũng tình cờ đọc được một tin vặt như thế, không suy nghĩ nhiều như ông. Có lẽ vì ông là một nhà thơ mà tôi thì không. Lần gặp ông đầu tiên, tôi hỏi điều đó. Ông trả lời, rất đơn giản, rất nôm na:”Vì tấm lòng”. Tấm lòng đó chính là tình thương mà ông được thấm nhuần trong văn hóa dân tộc. Đã là người chiến sĩ, kẻ trượng phu, không ai muốn chết trên tay vợ hiền, con trẻ. “Da ngựa bọc thây” là ước nguyện, là chí khí nam nhi từ ngàn xưa. Quân Đội Cọng Hòa Miền Nam đã viết nên những trang sử oai hùng, những chiến công lừng lẫy, ở Hạ Lào, “Bình Long Anh Dũng, Trị Thiên Kiêu Hùng”. Sau 75, Cọng Sản giam giữ họ trong những trại tù nổi tiếng tàn ác, khiến nhiều người đã bỏ thây: Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn. Người lính già sống sót qua những trận chiến oai hùng ấy, những trại tù ghê gớm ấy. Và để làm gì? “Vừa mới chết (vì một tai nạn xe hơi rất bình thường?!) trên đường phố San José nhộn nhịp”, không phát súng chào, không lá quốc kỳ phủ trên quan tài, không bài điếu văn,”Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn, trên m bia anh thêm một dòng chữ Mỹ” (Bài trên- trang 17). Có vẽ như có gì mai mỉa đến chua xót cho một người lính thua trận, một kẻ lưu vong, một người xa lìa tổ quốc, bỏ xác nơi xứ người. Cái mai mỉa chua xót đó, đâu phải riêng gì cho người lính mà cho cả 2 triệu người Việt lưu vong khắp mặt địa cầu, và ngay những người còn ở lại quê hương. Thế thì cảnh núi xương sông máu 3 chục năm qua phỏng có ý nghĩa gì?! Hàng triệu người Việt đã chết trong cuộc nội chiến 30 năm, chỉ để:

    Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
    Và chết cũng nhầm nơi
    Đêm nay bên kia bờ trái đất xa xôi
    Quê hương anh vẫn còn chìm trong lửa đỏ
    (Bài trên, đã dẫn- trang 18)

    Bao triệu người đã hy sinh, bao cảnh tang thương đổ nát,“thống nhất” bao nhiêu năm rồi, chỉ để quê hương chìm trong lửa đỏ?! Nhà thơ muốn nói gì với người đã chết? Một chút thương tâm hay

    .. .. .. đôi dòng thơ
    Từ trái tim của một thằng em nhỏ
    Cũng lạc loài lưu lạc như anh
    (Bài trên, đã dẫn- trang 18)

    Không hẵn chừng đó. Còn nữa chứ, nhà thơ? Còn bao nhiêu người vẫn còn đây, còn thù nhà nợ nước, dù cho:

    Thù nước chưa xong đầu đã bạc
    Gươm mài dưới nguyệt đã bao ngày
    (Đặng Dung- Đời nhà Hậu Trần)

    Cũng từ tình thương dân tộc đó, lòng nhân hậu, tha thứ đó, ông nhìn kẻ thù bại trận như một “đồng bào”

    Anh bước đi giữa trời đất Bắc
    Hà Nội mưa phùn lạnh kẻ xương
    Chiếc nạng gỗ khua từng tiếng nấc
    Gõ nhịp thương đau xuống mặt đường.

    (Nỗi Buồn Chiến Thắng- TT- TTÐ- trang 19)

    Tiếng nấc của nạng gỗ hay chính tiếng nấc của kẻ thương binh Bắc Việt khi trở về, thấy mình trở thành kẻ xa lạ ngay nơi anh ta sinh ra và lớn lên. Một thời anh tin vào Đảng (Cọng Sản Việt Nam) mê hoặc anh, anh bỏ tuổi hoa niên trên rừng Trường Sơn, để cuối cùng thấy mình lầm lạc:

    “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
    Anh cười nước mắt chảy theo mưa.
    (Bài trên, đã dẫn- trang 19)

    Không phải cười vui! Đâu có gì để vui mà cười! Đó là cái cười ra nước mắt, cười mai mỉa, cười chua xót.

    Việt Nam thời hậu chiến, tưởng những được như Nhật, như Pháp, Đức, xây dựng, kiến thiết được nhiều, nhân dân sẽ no ấm, hạnh phúc hơn thời kỳ chiến tranh thì dưới chế độ Cọng sản, chỉ là

    Tổ Quốc bao năm rồi thống nhất
    Anh về, đi giữa phố không quen
    Hà Nội mang nỗi buồn chiến thắng
    Thừa huy chương nhưng thiếu miếng ăn

    .. .. .. .. .. ..

    Dăm trẻ ăn mày ngơ ngác đứng
    Tìm gì trong khoảng trống hôm nay
    Hỡi em cô bé quàng khăn đỏ
    Lại gần anh nhận diện tương lai

    Trong một xã hội mà trẻ con, người già phải đi ăn mày để kiếm sống thì đó là xã hội lý tưởng Cọng sản đó sao? Ngay từ thế kỷ 15, dưới đời Lê Thánh Tôn, nước ta đã có viện dưỡng lão cho những người già không nơi nương tựa. Gần 500 năm sau, dưới chế độ Cọng Sản, văn minh nhất, siêu việt nhất, trí tuệ nhất thì đầy đặc ăn mày như thế này sao?

    Tương Lai? Tương lai của những “Em Bé Quàng Khăn Đỏ”, “Cháu Ngoan Bác Hồ” hay Tương lai của cả dân tộc, dưới “Tài Lãnh Đạo” của họ, cũng chỉ thế thôi! Một người thương binh trở về không nơi nương tựa:

    Quê anh đó, phố phường Hà Nội
    Lạnh lùng trong gió rét lê thê
    Nhỏ nước mắt chào anh trở lại
    Khóc một người con lạc lối về.

    (Bài trên, đã dẫn- trang 20)

    Đâu phài chỉ một người con lạc lối. Chính đảng Cọng Sản Việt Nam lạc lối, cho nên, 40 năm trước, Trần Dần nói:

    Những ngày ấy biết bao nhiêu thương xót
    Tôi bước đi
    Không thấy phố
    Không thấy nhà
    Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ.
    (Nhất Định Thắng- Trần Dần- Trăm Hoa Đua nở Trên Đất Bắc- trang 105)

    40 năm sau, với bao nhiêu hy sinh, xương máu, cũng chỉ:

    Anh bước đi giữa trời mưa đất Bắc
    Hà Nội mưa phùn lạnh kẻ xương.
    (Nỗi Buồn Chiến Thắng- TT-TTÐ- trang 19)

    Vậy thì Cọng Sản Hà Nội đã thắng cái gì? Có gì trong hay sau “Mùa Xuân Đại Thắng”. Không. Không có gì hết. Tất cả chỉ là “Lạc Lối Về”. Sự chiến thắng chính là ở Tình Thương Dân Tộc. Ở đó, TTÐ thấy:

    .. … …

    Máu và tim của hồn Tổ Quốc
    Bốn ngàn năm chỉ một dòng thôi.
    (Bài trên, đã dẫn- trang 20)

    Nhà thơ chỉ cho người Cọng Sản thấy một điều: Sư chiến thắng chỉ dành cho những ai đấu tranh cho Dân Tộc, vì Dân Tộc. Người Cọng Sản không bao giờ chiến thắng vì chủ nghĩa họ theo đuổi xa rời dân tộc. Họ chỉ có thể trở thành người hữu ích khi họ biết “Tìm về Dân tộc”, trở về với nhân dân, trở về với “Máu và Tim của hồn Tồ Quốc”.

    Đạo Phật đến với dân tộc ta đã mấy ngàn năm, hòa nhập vào mạch sống, tư tưởng, tình cảm người Việt Nam. Thành thử, dù muốn dù không, khi TTÐ tự bạch rằng “đến với thi ca bằng tấm lòng mộc mạc của một người Việt Nam yêu văn hóa dân tộc” thì đương nhiên thơ ông mang nhiều mỹ cảm bằng một tình thương bao la, dù ông không dùng một danh từ nhà Phật nào, ngoài bài thơ ông viết để ca tụng cái chết vĩ đại của Viên Lạc Phạm Gia Bình. Cũng từ căn bản tình thương đó, thơ ông rất phong phú, rất nhiều đề tài, mỗi bài thơ là một câu chuyện đau thương của những người dân Việt. Chuyện Kinh Tế Mới, chuyện người vượt biên ra đi rồi thay lòng đổi dạ, chuyện hai em bé mồ côi bị cưỡng bức hồi hương từ trại Sikiew, chuyện em Thu Cúc tự vẫn vì không chịu để cưỡng bức hồi hương, chuyện một vầng trăng, một bến sông, một buổi họp bạn v.v… Mỗi bài thơ là một câu chuyện ngắn với đầy đau thương, xót xa cho thân phận người trong cuc, cho dân tộc, cho quê hương, nước nhà… Cũng một vầng trăng, cũng một bến sông, cũng một áng mây, trong thơ ông, như lúc nào cũng đầy những kỷ niệm, những tiếng thở dài, những tiếng than não nut, những thao thức và phiền muộn, dù là cuộc đời nơi đất khách hay tại cố hương.

    Như tôi có nói trong bài viết về Vũ Hối. “Quê hương Quảng Nam…” cái chất Quảng Nam trong thơ TTÐ lại rất đậm nét hơn ai hết, bởi ông còn trẻ chăng? Người ta đi là hết. “Ra đi là hết rồi…” Với ông thì không. Ông không chịu được cái tầm thường của cuộc đời. Ông không chịu được cái phẳng lặng, cái yên bình của mặt nước hồ thu. Ông tích cực phản kháng những gì ông cho là xấu, là bất công. Vì vậy, đối với ông, sự phản kháng chống lại chế độ Cọng sản hiện nay là cần thiết, ông tích cực với công việc đó, phản kháng sự cưỡng bức hồi hương của Liên Hợp Quốc, phản kháng cuộc sống no đủ thừa mứa ở Mỹ, phản kháng “những kẻ du dú nhu dán ngày, làm việc gì cũng chờ thời đợi số, chỉ mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu, giàu bền, còn việc nước việc đời không can hệ gì đến mình cả, như thế gọi là sống thừa” . (Nguyễn Bá Học).

    Ông ghét sự Sống Thừa đó:

    Tự Nhủ

    Hai mươi năm lê bước lưu đày
    Sáng chiều cơm áo nặng đôi vai
    Hai mươi năm nữa đời như thế
    Sống chỉ thêm thừa một kiếp trai.
    (Tự nhủ- TT- TTÐ- trang 101)

    Không chịu sống thừa thì phải lên đường. Than vãn, rên rĩ phỏng có ích gì?!

    Chúng con cũng đã bao lần suy niệm
    Bốn ngàn năm lịch sử của ông cha
    Thuở Hùng Vương
    Đi chân đất dựng sơn hà
    Bao nhiêu máu đã âm thầm đổ xuống
    Khi Trưng Trắc trầm mình trên sông Hát
    Chỉ mong giữ tròn trinh tiết với giang san
    Trần Bình Trọng chịu bêu đầu để làm quỉ nướcNam
    Cũng chỉ vì tấm lòng tha thiết
    Mẹ ơi! Trăng còn có khi tròn khi khuyết
    Nhưng tình yêu quê hương chẳng khuyết bao giờ
    (Thưa Mẹ, Chúng Con Đi- TT-TTÐ- trang 70-71)

    Một người từ bỏ vợ con ở vùng Kinh tế mới để vượt biên, là đi tìm Tự Do, Hạnh Phúc. Thế nhưng, những con người không có khí phách, tham lam, ích kỷ, quên nghĩa tào khang, những tưởng là được nhiều, nhưng họ chính là người thua thiệt nhiều nhất, thua thiệt ở chỗ không còn tư cách, phẩm giá con người, điều mà, qua mấy vần thơ vừa trích dẫn ở trên, ta thấy tác giả rất trân trọng.

    Anh trở lại dững dưng nhìn quá khứ
    Của một thời sỉ nhục gánh trên vai
    Anh đã làm gì suốt một đời trai

    Ngoài chút bã lợi danh
    Chút da thịt thơm mùi hương phấn lạ
    Người vợ trẻ của anh sẽ chẳng bao giờ hiểu cả
    Vì chính anh đã gian dối với lòng mình
    Anh sẽ nói gì trước những điêu linh
    Của đất nước còn chìm trong máu lệ
    Ngày ra đi, anh thề non hẹn bể
    Ngày trở về, ngoảnh mặt với quê hương

    .. .. .. .. .. ..

    Em sẽ khóc nhưng không hề nuối tiếc
    Chỉ tội nghiệp cho anh, Một Đời Thua Thiệt
    Gian khổ tù đày, để được thế thôi sao?

    Có ai cho rằng đó không phải là thua thiệt? Sống như thế, đâu phải là Một Đời Trai. Một đời trai mà ca dao đã dạy rằng:

    Làm trai cho đáng nên trai
    Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan

    Không nuôi tiếc? Có ai nuối tiếc một con người sống nhục sống hèn, ích kỷ, nhỏ nhen. Cũng từ ý thức phản kháng đó, những người có hành vi chống lại bất công, độc tài, phi nghĩa là thần tượng của ông:

    Anh có về quê hương
    Xin ghé bến sông hiền
    Chị Yến Phi, chị Nhất Chi Mai
    Đang chèo thuyền ra đón
    Em Quách Thị Trang miệng cười tay vẫy nón
    Ba mươi năm rồi, ôi đôi mắt ấy thân thương

    .. .. .. .. .. ..

    Nhớ ghé Cần Thơ
    Viếng chùa Dược Sư
    Thăm Mười Hai Thánh
    Lửa Vô Úy chẳng bao giờ tắt lạnh
    (Hoa đạo- TT- TTÐ- trang 78-79)

    Thanh Tịnh có bài thơ “Rồi Một Hôm”, mô phỏng từ một bài thơ Pháp.

    Tôi ghi lại đây:

    Rồi một hôm, nếu về cha hỏi
    Mẹ đi đâu? Con biết nói sao
    Con hãy bảo, trông cha mòn mỏi
    Mẹ từ trần sau mấy tháng đau.

    Nếu cha hỏi cặp đào trước ngõ
    Sao chỉ còn những gốc ngã nghiêng
    Con hãy chỉ một cây đào nhỏ
    Bên cây tùng rồi đứng lặng yên

    Nếu cha hỏi sao nhà vắng vẻ
    Mẹ khuyên con nên trả lời sao?
    Con hãy chỉ bình hương khói tẻ
    Và bên giường chỉ đĩa dầu hao.

    Còn mồ mẹ nếu cha muôn biết
    Mẹ khuyên con nên trả lời sao?
    Con hãy chỉ ở phương trời xa tít
    Và bên trời chỉ nội cỏ xa.

    So với bài “Trăn Trối” sau đây của TTÐ, ta thấy thơ nhà thơ trẻ ý tưởng phong phú hơn, tình cảm tha thiết, sâu sắc hơn, và đau khổ, xót xa cũng nhiều hơn.

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con chỉ dùm căn láng nhỏ bên sông
    Nơi Mẹ sống trong chuỗi ngày hiu quạnh
    Nặng oằn vai một nỗi nhớ thương chồng

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con chỉ dùm chiếc ghe nhỏ đang neo
    Đời Mẹ đó, kiếp con cò lận dận
    Sớm đầu non, đêm cuối bể thân nghèo

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con trao dùm chiếc nhẫn cưới cho ba
    Mẹ vẫn giữ chắt chiu từng kỷ niệm
    Trăng vẫn tròn như dạo mới chia xa

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con nhắc chừng ba dựng bức tường nghiêng
    Nhà không vách nên bốn mùa mưa tạt
    Thiếu tay ba đông cũng lạnh hơn nhiều

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con chỉ dùm tảng đá nhỏ trong sân
    Nơi Mẹ đứng mỗi chiều thu lá rụng
    Mắt trông chờ một bóng dáng quen thân

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con trao dùm chiếc áo dở đang thêu
    Tay Mẹ yếu nên đường kim chỉ vụng
    Con chim gầy đậu dưới gốc cây xiêu

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con trao dùm mái tóc thưở thanh xuân
    Thời con gái, Mẹ trăm điều bất hạnh
    Vết tủi buồn ngang dọc kín trên lưng

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con chỉ dùm chăn chiếu phủ giường tre
    Mẹ ôm ấp chút hơi tàn quen thuộc
    Của người đi biền biệt đã quên về

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con chỉ dùm ngôi mộ giữa quê hương
    Nơi Mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng
    Cánh cửa đời khép lại vết đau thương

    Nếu mai mốt ba có về thăm lại
    Con đừng buồn và trách móc chi nhau
    Lòng của Mẹ, một tấm lòng đại lượng
    Vẫn ngàn năm son sắt chẳng phai màu

    (Trăn Trối- TT-TTÐ- trang 26)
  4. Hoa Phượng


    Hoa phượng nở về mùa hè. Khi ve kêu thì cũng là lúc hoa phượng nở nên hai thứ nầy, ve và hoa phượng là biểu tượng của mùa hè. Cũng vì đặc tính đó, hoa phượng và ve sầu rất gần gủi với học sinh. Khi ve bắt đầu kêu và hoa phượng chớm nở trên cành là lúc bọn học trò chuẩn bị cho các kỳ thi và nghỉ hè.

    Hồi trước, nền giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng Pháp nên mỗi năm có rất nhiều kỳ thi: Thi tiểu học, thi trung học đệ nhất cấp, tú tài 1, tú tài 2. Ngoại trừ thi tiểu học, các kỳ thi khác được tổ chức hai lần trong một năm: đầu hè, cuối hè, nên học trò rất bận rộn. Khi nghe ve kêu, khi thấy hoa phượng nở là thấy lòng xao xuyến lẫn lo âu: Xao xuyến vì nghỉ hè, xa trường, xa thầy cô, xa bạn bè, lo âu vì thi cử đã gần kề.

    Những nỗi xao xuyến và lo âu ấy, dĩ nhiên, được thể hiện trong văn chương học trò; không những ở học trò mà ngay cả trong lòng những người đã bỏ trường học và bạn bè lại sau lưng.

    Ở Huế, như tôi viết trong bài ve sầu, ve đã nhiều mà hoa phượng thì cũng không ít.
    Nếu có một ngày hè nào đó, dĩ nhiên vào mùa hè, đi ngang cầu Trường Tiền, nhìn ngược lên phía Tây, hướng chùa Linh Mụ, cồn Giã Viên, người ta bỗng thấy hoa phượng nở đỏ cả hai bờ sông Hương, bên phía Thương Bạc hay bên phía bệnh viện Huế cũng vậy.

    Dọc theo hai bờ sông, từ thời Tây còn đô hộ, Tây đã cho trồng hai hàng phượng. Cây phượng cao, cành lớn. Hoa phượng nở, trước khi phượng ra lá. Lá chỉ mọc đầy sau khi hoa phượng đã kết trái. Hoa phương đỏ như màu lửa, rực rỡ cả hai bờ sông, làm cho người ta phải chú ý, trầm trồ khen ngợi vì cái vẻ đẹp rực rỡ của nó. Hoa phượng đỏ như lửa nên người Pháp gọi phượng là flamboyant. Trong tiếng Pháp, flamboyant cũng có nghĩa là sáng chói, sáng rực, sáng ngời, sáng quắc, lòe loẹt, rực rỡ. Tất cả các định nghĩa ở trên cũng có nghĩa là màu sắc của hoa phượng.

    Kể ra, tạo hóa không những vừa nhiệm mầu mà lại còn nhân đạo. Giả tỉ màu trời, màu nước sông không xanh mà đỏ chói, cây lá không xanh mà toàn màu lửa thì chói mắt ngươi biết bao nhiêu! Màu xanh là màu dịu, làm cho mắt người ta dịu lại, thoải mái khi nhìn trời, nhìn sông, nhìn cây, lá. Tuy vậy, trong màu xanh mênh mông của nước, của trời, của cây lá, bỗng hiện lên hai hàng phượng đỏ, nổi bật trên nền xanh. Sự tương phản của màu, giữa xanh và đỏ làm cho người ta chú ý, thích thú. Cái đẹp của phượng là ở màu đỏ và cũng ở chính sự tương phản của màu sắc vậy.

    Thành phố Huế có hai khu vực: Khu thành cổ ở tả ngạn tức là khu hoàng thành, với đại nội, chợ Đông Ba, phố Gia Hội, gồm cả Ngự Viên cũ. Khu phố mới, tức là phố Tây, - theo cách gọi hồi xưa - tức hữu ngạn, gồm Morin, bệnh viện Huế, các trường học, Ga Huế, Nam Giao, Bến Ngự, cung An Định, An cựu, v.v… Phú Cam, hay tên trên giấy tờ là làng Phước Quả, không thuộc địa giới thành phố Huế mà thuộc quận Hương Thủy.

    Dĩ nhiên - tại sao gọi là dĩ nhiên, tôi sẽ phân giải ở phần sau -, khu phố mới, ngoài những cây đoác, - cây cọ Tây - người ta trồng phượng hai bên đường, nhất là con đường bờ sông, tức là đường Lê Lợi, từ đầu cầu Trường Tiền lên tới Ga Huế.

    Hai bên bờ sông Hương có nhiều vườn hoa: Từ chân cầu Trường Tiền lên tới Thương Bạc, Phú Văn Lâu hay cả Vườn Ương Cây trước của Nhà Đồ (Sau nầy gọi là cửa Sập vì cửa Nhà Đồ bị sâp trong trận lụt lớn năm 1953 -) là những vườn hoa. Bên kia sông, từ Câu Lạc Bộ Thể Dục Thể Thao trở lên cho đến sân bóng tròn Trường Quốc Học, kế Đài Kỷ Niệm cũng là những vườn hoa. Bên nầy cũng như bên kia, cuối vườn hoa, sát bờ sông là một hàng cây phương dài. Khi hoa phượng nở, không những ở hai hàng hai bên đường mà còn sát bờ sông là hàng phượng thứ ba hoa nở rộ thành ra nhìn thấy một màu hoa lửa, rực rỡ cả một khung trời.

    Trong thành nội, ngày trước, phần nhiều người ta trồng nhãn hay mù u. Tuy nhiên, cũng có vài đọan đường, như con đường đi ngang cửa Ngọ Môn, song song với đường Cột Cờ, không trồng mù u hay nhãn mà lại trồng phượng.
    Cũng dĩ nhiên, trong hầu hết sân các trường học, đều trồng phượng; - ngoại trừ Quốc Tử Giám, sau nầy là trường Hàm Nghi (trước 1975). Các trường học nầy được dựng nên sau khi Tây đã đô hộ nước ta rồi.

    Hình ảnh hoa phượng nở đỏ hai bên bờ sông, trong sân trường, v.v… làm cho người Huế, học trò Huế và cả những người đến Huế vì một lý do nào đó, trong dịp hè, không thể không có những ý tưởng, xúc cảm, viết vài câu thơ về hoa phượng.

    Anh “học trò Duy Khánh”, có lẽ cũng đã “trồng cây si” một hoa khôi học trò nào đó nên than vãn rằng 3 tháng hè dài như một thế kỷ: “Rồi chiều nay Hè trở lại đây. Phượng thắm rơi Phượng thắm rơi đầy, Lại cách xa nhau chín mươi ngày. Hay là một thế kỷ dài.”

    Trần Trung Đạo cũng vậy, nhà thơ viết:

    Ta, học trò dù chẳng phải ra thi
    Và em, đẹp như vầng trăng quê cũ
    Chiều sông Hương, đêm Nam Giao không ngủ
    Một gả làm thơ, nhút nhát, si tình

    Huế u trầm và khó hiểu như em
    Huế nhẫn nhục trong trăm ngàn nỗi khổ
    Ta ghé Huế mỗi mùa hè phượng nở
    Để nghe tình vương vấn buổi về thăm
    (Một Chút Tình Cho Huế)

    Trần Trung Đạo cố phủ nhận việc ông đến Huế không phải để đi thi, vì dân Quảng Nam đến Huế để đi thi thường bị chê:

    Học trò trong Quảng ra thi
    Thấy cô gái Huế chân đi không rời.

    Tuy nói vậy, Trần Trung Đạo cũng không thể thoát khỏi lưới tình khi nhà thơ viết: “Và em, đẹp như vầng trăng quê cũ” để cho ông có những đêm không ngủ vì… si tình.

    Trần Trung Đạo là lớp sau. Lớp trước, mà cũng là người “cõi trên”, như Bùi Giáng, cũng không ra ngoài hình ảnh hoa phượng và tình yêu, cũng không thoát khỏi vòng tục lụy:

    Rập rờn đầu liễu xanh buông
    Mùa trăng nước đẩy xô buồn đi xa
    Trang hồng kim rải ra hoa
    Trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai
    Tơi bời ngọc trắng măng mai
    Khuynh thành sắc nọ đưa vai nghiêng về.
    (Mùa Phượng Cũ – Bùi Giáng)

    Có lẽ cũng thấy cảnh sắc như tôi nói ở trên nên Bảo Cường viết trong bài thơ Nhớ Mùa Phượng Cũ:

    Ta nhớ mùa hoa phượng
    Màu hoa đỏ thắm đường
    Hàng cây buồn lặng sóng
    Sóng sánh bờ sông Hương
    Thành quách sao ngủ vùi?
    Phố cũ nhớ khôn nguôi
    Người đi mờ năm tháng
    Một cánh chim cuối trời.

    Cũng một “tình cảnh” như thế, có anh “thi sĩ học trò” viết:

    Hoa phượng vĩ cười trong nắng hạ
    Tuổi học trò tấc dạ bâng khuâng
    Ngày qua ta tiếc mùa xuân
    Hạ về chia rẽ tình thân tuổi ngà
    (Hoa Sơn)

    Hoài Châu, cũng không khác mấy với “bọn học trò”, đi thơ thẩn dưới nắng hè, để nhớ một khung trời, nhớ tiếng ve kêu và nhớ những cành hoa phượng

    Tôi đi thơ thẩn dưới nắng hè,
    Bỗng dưng nghe nhớ Phượng sắt se,
    Ngày ấy một khung trời kỷ niệm,
    Quê hương buồn rộn rã tiếng ve.

    Tôi nhớ khi xưa ở quê nhà,
    Cách trường tôi học chẳng bao xa,
    Có cây Phượng vỹ còn xanh lá,
    Một buổi hè về chớm nở hoa.

    Thằng tôi ngày hai buổi đi về,
    Hay dừng chân ngắm Phượng si mê,
    Để có nhiều đêm tôi mơ thấy,
    Phượng cười xao xuyến cả giấc mê.

    Những ý tưởng về phượng của Trần Trung Đạo, Bảo Cường và Hoài Châu cũng tương tự như Luân Hoán trong bài thơ “Trong Sân Trường Bữa Ấy”. Tuy nhiên ở đây không phải là hoa phượng mà lai là gốc phượng. Mùa đông, hoa phượng đã tàn nhưng má thì vẫn hồng như hoa phượng. Tác giả nầy viết:

    em có nhớ trong sân trường bữa ấy
    giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông
    gió bấc khô làm đôi má se hồng
    cùng chúng bạn em ngồi quanh gốc phượng
    (Luân Hoán)

    Ông “học trò già Kiên Giang” có khác đi chăng?! Không hẵn, khi tác giả mơ một mái tóc thề, không thể không nhớ màu hoa phượng:

    Cuối tháng, thầy vô trường Võ Bị
    Xa trời Đồng Khánh, học trò yêu
    Xa rời Bến Ngự sông An Cựu
    Nắng đục, mưa trong lắng tiếng chiều

    Thầy sắp đi xa trò ở lại
    Mùa hoa phượng cũ úa phai rồi
    Cổng trường bỗng biến thành ga nhỏ
    Trò tiễn thầy đi, ai ngậm ngùi
    (Tóc Thề Xứ Huế)

    Ve sầu, phượng đỏ, ly biệt là tâm tư của học trò nam nữ khi “Hè về, hè về, tiếng ca nhịp phách lên khơi” như trong bài hát của Hùng Lân.

    Trong ba mươi năm chinh chiến, nỗi ly biệt của thầy trò thắm thiết hơn, đau đớn hơn, đậm mùi… thuốc súng hơn và không thiếu vĩnh biệt: Thầy đi không về, và cũng lắm khi trò đi cũng không về. Ai cũng thấy, cũng biết và chấp nhận “Quốc gia hưng vong…”

    Huế của các o, có nhiều phượng, hoa phượng nở vào mùa hạ. Điều đó được thể hiện qua thơ của Tiều Phu:

    Huế của O. Phượng đỏ hồng lửa Hạ
    Hương Giang cười vụn vỡ nhịp chèo khua nắng
    chờ O. vương vãi chuổi hạt ngà
    rụng lốm đốm hoa vàng nền cỏ lụa…
    (Tiều Phu)

    Tôi Tìm Huế

    tôi ở đâu rơi về gốc Huế
    mười năm có lẽ buồn vui
    một vợ hai con có bia hộ khẩu
    có một làng quê mong ngóng phía mặt trời

    mà sao tôi chẳng là tôi
    khi hèn mọn đánh rơi mình vào quên lãng
    tôi tìm tôi lang thang
    đêm nào lả chả trăng như nước mắt
    trầm ngâm tôi với Ngự Bình
    trước mộ đứa con trai thiếu tháng
    cháu là người ngoài cuộc đời
    chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính

    tôi tìm tôi khuya khoắt
    lập lòe lửa nhang góc phượng sương mờ
    nhấp nháy hoài như mắt cây mắt gió
    bên những người xe thồ xích lô gác chân lên trời nằm đợi khách
    khẽ hát về “Đêm Tàn Bến Ngự”…
    vâng cho đến khi tàn đêm tôi mới gặp được lời của phố
    nỉ non vệ cỏ bên đường
    tôi tìm tôi lửa đốt
    chiều nào mỏi rời chân đứng chờ vợ đẻ
    cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la
    bắt chước ai tôi cắm nén nhang bên gốc xà cừ
    Ngô Minh

    Ngô Minh tự nhân không phải là người Huế, nhưng do đời đưa đẩy về đây, sau 1975. Ở đó, kẻ ly hương đi lang thang, lã chã trăng với nước mắt, trầm ngâm với Ngự Bình, hát khẽ với “Đêm Tàn Bến Ngự” và tìm tới những gốc phượng, lập lòe với ngọn lửa nhang (hương) trên tay. Ông đi thắp nhang cho những ngôi mộ nhỏ, nơi chôn những bào thai sinh thiếu tháng. Ông quả có nhận xét tinh tế. Huế không thiếu những “nghĩa trang” nhỏ như thế ở vườn hoa cây đoác bên hông bệnh viện Huế. Hay có khi gọi là “mả ông trạng” ở đường Trung Bộ. Huế, sau 1975, không thiếu những gian khổ, đói khát và đau buồn.

    Tế Hanh nhìn hoa phượng theo một nhãn quan đặc biệt và kỳ lạ hơn:

    Lưu ly chất ngọc đọng màu bông
    Cành rực hừng theo trận gió nồng
    Ơi phượng! ngươi là cây đuốc sáng
    Đất đầy tin tưởng vọng lên không.

    Đốt cháy bao la sáng mặt trời,
    Linh hồn mùa hạ hiện thân ơi!
    Đời người kết tụ bao nhiêu nắng?
    Trưa chói chang cao, lửa rạng ngời

    Phung phí tình yêu quá mức thường
    Sống thời hoàng tử, chết quân vương
    Nguy nga cây nở bừng son thắm
    Lộng lẫy hoa rơi sắc ngợp đường.

    Ta đứng trên cao gió lộng bày
    Ngọn đèn tâm tưởng đảo điên lay
    Cầu ngươi hỡi Phượng tươi như máu
    Dâng sáng linh hồn cánh dợn bay.
    (Phượng - Tế Hanh)
    1944

    Ông gọi phượng là ngọc lưu ly, là lửa, là tươi như màu máu, là cây đuốc sáng, là niềm tin tưởng, là ánh sáng mặt trời, là linh hồn mùa hạ, là nắng hạ kết tinh, là lộng lẫy màu son thắm. Ông yêu phượng và dâng cả linh hồn cho cánh phượng muốn bay. Chỗ nầy cần đặt một dấu hỏi: Có phải nhà thơ yêu một người có màu má đỏ như phượng, hay yêu một người tên phượng. Câu trả lời sẽ có sau!
    Hình như Xuân Diệu có một mối tình nào đó với phượng. Mối tình của một người rời xa sân trường đã mười năm hay với một người tên phượng cũng đã mười năm. Dĩ nhiên, với tình đó, ông ca ngợi màu hoa phượng “hồng trên một cõi”, như muôn tiếng đàn cùng gảy, trong ánh sáng vòi vọi của không gian. Dù mùa hè đang vui, màu sắc hoa phượng rực rỡ, dưới con mắt Xuân Diệu, vẫn có một chút buồn nào đó trong khoảng cách thời gian “mười năm”, cùng với nỗi nhớ “mười năm” và “hiu hắt gió mười năm”.

    Phượng trong sáng nảy hồng trên một cõi
    Như muôn đàn cùng gảy dưới máy cao
    Ánh sáng trùm trong không gian vòi vọi
    Tấc lòng hè kiều diễm hoá li tao

    Biển bướm đỏ rào rào trong gió mát
    Lá non xanh như suối chảy trên trời
    Phượng, phượng hỡi, cớ sao mà man mác
    Mỗi mùa hè run rẩy dưới triều môi

    Xanh đã ngủ ở dưới trời yên tĩnh;
    Đỏ còn ngân trong tiếng nói dịu dàng;
    Ta mơ màng thấy gió đang sóng sánh,
    Trống sân trường văng vẳng đánh - mười năm.

    Mười năm phượng, phượng huy hoàng vẫn phượng
    Áo trắng trong ngày tháng phất phơ soi
    Ta cùng mình như cành cây riết quấn
    Vương lòng nhau ràng rịt biết bao đời

    Phượng mười năm…. hiu hắt gió mười năm
    Yêu mười năm…. nhớ muôn thuở…. mười năm
    (Phượng Mười Năm - Xuân Diệu)

    Không riêng gì Huế mới có nhiều phượng. Nhiều thành phố khác ở Việt Nam, kể từ sau khi Tây cai trị, có trồng nhiều phượng. Hải Phòng được mệnh danh là “Thành phố hoa phượng đỏ” và Hà Nội thì, như Tạ Tỵ bày tỏ nỗi nhớ trong bài “Thương về năm cửa ô xưa”:

    Cầu Giấy đường hoa phượng vỹ
    Nhớ thương biết mấy cho vừa

    Phượng là tên hoa mà cũng là tên người. Người ta yêu hoa phượng và cũng yêu người tên phượng, gọi phượng là “Phượng yêu” như tên một bài hát của Phạm Duy. Tác giả Hoàng Thụy thì cho rằng “Tên em chói chang” như màu hoa phượng?

    Em là hoa phượng
    Sao em chỉ nở
    Một lần năm xưa ?
    Cánh hồng tuổi thơ
    Nhuộm anh nỗi nhớ
    Sắc hè chói chang…

    Hoa phượng vẫn nở
    Mỗi bận hè sang
    Mùa sau mùa trước
    Sắc hè chói chang…

    Nhưng người đâu thấy?
    Sắc hoa đang cháy
    Trên bầu trời xanh!

    Hương Xuân cũng cùng một tâm trạng, nhưng phượng của Hương Xuân là phượng của Saigon:

    Sài Gòn đó với chùm hoa phượng vĩ
    Thật lâu rồi mà sao vẫn chưa quên
    Để trong em còn mãi những muộn phiền
    Ngày tháng cũ, hồn nhiên tà áo trắng
    (Chùm Phượng Vĩ)

    Dĩ nhiên, một nhà thơ được người đời mệnh danh là thi bá, thơ ông cũng không thể vắng bóng phượng, nhưng phượng của ông là “Phượng nở đêm nào cặp má khanh.” (Thu có nguyệt)

    Du Tử Lê cũng một thời đi “theo trời hoa phượng xưa” và rồi “mộng vữa”. Lê Du Tử trách mình hay trách người cho sự tan vỡ ấy?

    người đã vì ta tan ước mơ
    phấn son chưa ngát thịt da ngà
    môi non đã lỡ tình đau đớn
    mộng vữa theo trời hoa phượng xưa
    (Tình Sầu, Du Tử Lê)

    Người ta nói tới hoa phượng là để nói tới mùa hè. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông lại chờ tới mùa thu, khi hoa phương không còn thì than vãn cùng thu rằng nhớ màu hoa phượng quá, nhớ tới phượng rơi trên tóc, sắc đỏ hoa phượng như màu đỏ của pháo của một buổi chiều nào đó, tiễn em ra đi!

    Hoa phượng rơi đón mùa thu tới
    Màu lưu luyến nhớ quá thu ơi
    Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi
    Sắc tươi màu pháo vui
    tiễn em chiều năm ấy
    Nguyễn văn Đông

    Người ta nói tới hoa phượng, Nhã Ca khác hơn, khác ở chỗ nói tới trái phượng hơn là hoa. Hoa phượng không ăn được, trái phượng có hột, hột phượng ăn thì… ngon

    Quả phượng vừa khô trên nhánh cao
    Cây vưà hiu quạnh cổng trường sâu
    Tôi về ngó lại thời con gái
    Thành phố già nua những gốc sầu

    Cũng không hẵn Nhã Ca ưa ăn hột phượng. Nhã Ca tìm thấy những trái phượng khô trên cành cao, như những khô héo trong cuộc đời của một đời con gái, tìm lại những khô héo ấy, trong cổng trường sâu - Cụ thể là trường Đồng Khánh, một thời Nhã Ca làm học trò ở đó. Có lẽ vậy - Một ngôi trường cổ, trong một thành phố già nua.

    Trái với các nhà thơ khác, phượng trong thơ Nhã Ca man mác những nỗi buồn của đời, của một thời, không oán trách ai, hờn giận ai như trong thơ Du Tử Lê.

    Vậy là các nhà thơ đã nói hết những gì về hoa phượng. tôi còn chi để nói. Tôi bèn tìm trong tự điển, xem thử sách có nói gì về loài hoa nầy, cây nầy chăng.

    Tự điển “Wikipedia toàn thư” giải thích cây phượng như sau:

    “Nguồn gốc, đặc điểm

    “Phượng vĩ được miêu tả như là loài cây nhiều màu sắc nhất trên thế giới. Các bông hoa màu đỏ/da cam rực rỡ của nó cũng như các lá màu xanh lục sáng làm cho nó rất dễ nhận thấy.
    “Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó trong các cánh rừng ở miền tây Malagasy. Trong điều kiện hoang dã, nó là loài đang nguy cấp, nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi. Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày dặc của nó tạo ra những bóng mát. Trong những khu vực với mùa khô rõ nét thì nó rụng lá trong thời kỳ khô hạn, nhưng ở những khu vực khác thì nó là loài cây thường xanh.

    “Những quầy bán hàng dưới gốc phượng vĩ bên ngoài nhà thờ Santo Domingo, Oaxaca, Mexico
    “Các hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ-da cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng. Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30-50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng vĩ cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.

    “Khu vực trồng

    “Phượng vĩ được trồng khá phổ biến tại khu vực Caribe.

    Tại Hoa Kỳ, nó được trồng ở khu vực Florida, thung lũng Rio Grande ở miền nam Texas, các sa mạc ở Arizona (đến tận Tucson) và California, Hawaii, Puerto Rico, quần đảo Virgin và Guam. Nó là loài cây biểu tượng chính thức của quần đảo Bắc Mariana

    Phượng vĩ được coi là đã thích nghi với thủy thổ ở nhiều khu vực mà người ta trồng nó, và bị coi là loài xâm hại tại Australia, một phần là do các bóng râm cũng như bộ rễ của nó đã ngăn cản sự phát triển của nhiều loài thực vật bản địa mọc dưới tán lá của nó. Nó cũng được tìm thấy tại Ấn Độ, tại đây người ta gọi nó là gulmohar, hay tại Việt Nam.

    “Quả phượng vĩ được sử dụng tại khu vực Caribe trong vai trò của bộ gõ âm nhạc với tên gọi shak-shak hay maraca.

    “Cây phượng vĩ tại Blakiston St, Harare, Zimbabwe, 1975

    “Mùa nở hoa

    “Phượng vĩ nở hoa từ khoảng tháng 4 đến tháng 6, tùy theo khu vực.

    “Ý nghĩa tên

    “Tên “phượng vĩ” là chữ ghép Hán Việt – “Phượng Vỹ” có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.

    “Biểu tượng

    “Tại Việt Nam, phượng vĩ là biểu tượng gắn liền với tuổi học trò, do mùa nở hoa của nó trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay của nhiều thế hệ học trò. Do vậy, nó gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, và vì thế người ta gắn cho nó tên gọi “hoa học trò”. Thành phố Hải Phòng là khu vực trồng rất nhiều phượng vĩ, vì thế thành phố này còn được gọi một cách văn chương là “thành phố Hoa Phượng Đỏ”. Nhà thơ Thanh Tùng có bài thơ Thời hoa đỏ đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành bài hát cùng tên, viết về những kỷ niệm của tuổi trẻ với mùa hoa phượng vỹ.”

    Thật ra, theo tôi biết, có hai loại hoa phượng khác nhau chút ít: Một thứ, như trình bày ở trên, thường gọi nôm là phượng. Phượng vĩ là tên thường thấy trong văn chương. Tên phượng tây cũng vậy. Thật ra, thông thường, người ta hiểu đây là phượng ta, đối nghịch với cách gọi trong phần giải thích nói trên. Phượng tây là tiếng dùng để gọi một loại phượng khác, loại nầy cao chỉ mới quá đầu người. Chỉ cần đứng trên ghế là người lớn tuổi có thể hái được những chùm hoa trên ngọn cây. Đây cũng là loài cây mộc, nhưng cành và thân nhỏ, bông cũng mọc chùm, hình dáng như bông lau, cánh hoa màu đỏ, viền vàng. Những bông hoa phía trong thì đã nở trong khi những bông hoa đầu ngọn còn búp. Loại phượng nầy thường được trồng trong sân các đình, chùa, miếu, vũ để lấy hoa chưng trên bàn thờ; có khi cũng được trồng trong công viên. Trước 1945, khi tôi còn nhỏ, tôi đã theo người anh cả, qua “Nhà Giây Thép” xin ít cánh hoa về để bố tôi chưng trên bàn thờ.

    Đây cũng là loại hoa thường được gọi là “bông cúng” - cúng bái. Tuy nhiên, loại nầy không phổ biến như hoa phượng.

    Trong một cuốn sách của ông Nguyễn Tường Bách, người gốc Huế, cũng cho biết rằng loài phượng vĩ gốc gác từ Madagascar. Pháp đô hộ Madagascar trước, sau đó tới các nước Đông Dương.

    Khi người Pháp bắt đầu xây dựng những thành phố mới ở Việt Nam hay chỉnh trang, phát triển những thành phố đã có từ trước khi họ đến Việt Nam, có lẽ họ đã cho nhập giống phượng từ Madagascar qua Việt Nam để trồng và làm đẹp các đường phố, các trường học, công sở, công viên ,v.v…

    Thành phố Huế chẳng hạn. Ở khu phố Tây là phố mới, có nghĩa là được xây dựng sau khi Tây đã đô hộ, thì hầu hết các đường phố ở khu vực nầy được trồng phượng hai bên đường, bên bờ sông, bên cạnh những cây đoác hay cây chuối Tây cũng là loại cây được “nhập cảng.”

    Ở khu phố cổ, - tả ngạn - phượng chỉ được trồng bên bờ sông, hoặc vài ba cây còn nhỏ trên đường ngang cửa Ngô Môn - song song với đường Cột Cờ, đoạn gần cửa Ngăn. Có lẽ đây là một sự “lạc giống” được sở Công Chánh trồng “bổ sung” khi một số cây cũ đã chết.

    Trong thành nội Huế, dọc theo đường Hộ Thành - nay là đường Đinh Bộ Lĩnh -, khu vực cửa Hiển Nhơn, hầu hết trồng nhãn - nhãn lồng - đường Tam Tòa trồng mù u.

    Loại cây trồng ở Huế, trước khi Tây cai trị phần nhiều là thông, bàng và mù u. Người Huế có câu ca dao:

    Văn Thánh trồng thông
    Võ Thánh trồng bàng
    Ngó lên Xã Tắc hai hàng mù u.

    Nam tôi học Đệ Tam với ông VĐH, môn Văn Chương Bình Dân, có đứa trong bọn chúng tôi thóc mách hỏi thầy tại sao Văn Thánh trông thông mà không trồng bàng, Xã Tắc lại trồng mù u? Ông thầy tôi không trả lời!

    Năm Đệ Nhị, học về Nguyễn Công Trứ, tôi nhớ đã học bài thơ sau đây của Nguyễn Công Trứ từ năm Đệ Tứ:

    Kiếp sau xin chớ làm người,
    Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
    Giữa trời vách đá cheo leo
    Ai mà chịu rét thì trèo với thông.
    Cụ Võ Liêm Sơn, một nhà cách mạng, “đồng chí” với cụ Phan Bội Châu, sau nhiều năm bị đày ra Côn Đảo, được tha về, dạy học ở trường Khải Định, có bài thơ “Ngắm Non Hồng”, có mấy câu kết như sau:

    Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước:
    Bên mồ có mọc một cây thông
    Để cho xương thịt máu vung trồng
    Theo gió reo lên một khúc nhạc
    Kêu vang chín chín ngọn non Hồng.

    Tôi không bàn về sự khác biệt tư tưởng giữa hai tác giả nầy: Một bi quan và một lạc quan, dù là ở “kiếp sau”, người đọc thấy rằng:
    Cây thông tượng trưng cho người quân tử vì thân thẳng và cao, như người quân tử chẳng bao giờ chịu oằn lưng vì danh lợi. Tấm lòng quân tử bao giờ cũng xanh, không đổi màu, không thay lòng.

    Tư tưởng đó gần gủi với văn hóa nên có phải vì vậy mà thông được trồng ở Văn Thánh, nơi thờ Khổng Tử và thất thập nhị hiền.

    Võ Thánh trồng bàng?

    Cây bàng gỗ cứng, chịu đựng được sức nặng, lại có tàng rộng, che nắng cho người. Có phải đó là tính chất của các võ tướng.

    Xã Tắc trồng mù u?
    (Xin độc giả xem bài sau: Hoa Mù u)

    Về chữ phượng, “Bách Khoa Toàn Thư” còn giải thích thêm:

    “Chòm sao Phượng Hoàng, (tiếng La Tinh: Phoenix) là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh chim phượng hoàng.

    “Đèo Phượng Hoàng

    “Đèo Phượng Hoàng là con đèo nằm trên quốc lộ 26 đoạn giáp ranh giữa tỉnh Đăk Lăk với Khánh Hòa.

    Phượng, hay Phượng Hoàng, Phụng, là một trong 4 tứ linh theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam và các nước Á Đông khác. Phượng có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, vẩy cá chép, móng chim ưng, đuôi công… Các bộ phận của phượng đều có ý nghĩa của nó: đầu đội công lý và đức hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, cánh là gió, đuôi là tinh tú, lông là cây cỏ, chân là đất. Như vậy nó tượng trưng cho bầu trời, khi nó bay hoặc múa (phượng vũ) là tượng trưng cho sự hoạt động của vũ trụ. Vì thế phượng là hình tượng của thánh nhân, của hạnh phúc. Nếu rồng có yếu tố dương, tượng trưng cho vua chúa thì phượng lại có yếu tố âm nên tượng trưng cho hoàng hậu và người đàn bà đẹp.”

    Trước khi có cây phượng, hoa phượng, nghĩa là trước khi Tây thực dân đem cây “phượng thực dân” từ Madagascar (Tội nghiệp cho cây phượng bị mang tiếng oan khi dính chùm với thực dân) thì ở nước ta chỉ có chim phượng, hay còn gọi là chim phượng hoàng. Chim trống gọi là hoàng, chim mái gọi là phượng. Gọi chung là phượng hoàng.

    Người Tàu có câu:

    Phượng hề, phượng hề quy cố hương
    Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng.

    Con chim phượng trở về quê cũ (hề chỉ là tiếng đệm trong thơ cổ), sau khi ngao du khắp bốn biển để tìm con chim hoàng. Do ý nghĩa đó mà có bản đàn “Phượng Cầu Kỳ Hoàng.”

    Trong truyện Kiều, ở đoạn Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe (Bản đàn thứ nhứt), cùng một ý như trên, Nguyễn Du viết:

    “Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
    Nghe ra như oán như sầu phải chăng!

    Đời nhà Hán bên Tàu, có ông Tư Mã Tương Như gảy khúc “Phượng Cầu Kỳ Hoàng” để ve vản người đẹp Trác Văn Quân. Nghe riết thành mê, Trác Văn Quân bỏ nhà, trốn theo Tư Mã. Ai bảo người xưa không lãng mạn và đa tình và không… quậy!!!???

    Như thế, trước khi có “phượng thực dân”, nếu người Việt có ai tên phượng thì tên đó có nghĩa là con chim phượng. Từ khi Tây đem phượng qua trồng ở xứ ta, thì tên phượng có hai nghĩa: Một là con chim phượng, hai là hoa phượng. Nếu cô nào, bà nào có tên kép thì có thể là Kim Phượng, Túy Phượng, Bích Phượng, Ngọc Phượng, Hoàng phượng, Lạc Phượng. Bàng Thống trong truyện Tam Quốc, hiệu là Phượng Sồ, khi đi đánh giặc qua đồi Lạc Phượng thì tự biết mình tới lúc tiêu vong.

    Người bây giờ đặt tên lung tung, chẳng có ý nghĩa gì cả, miễn nghe cho kêu, cho “rổn rảng” là được. Người xưa không thế. Tên chính hay tên đệm đều ý nghĩa phân minh. Ví dụ: Kim Phượng có hai nghĩa: Một là con chim phượng nhỏ (như kim cúc là loài hoa cúc nhỏ) họặc con phượng bằng vàng (Kim: vàng. Kim hoàn là tiệm vàng). Một tên nữa là Túy Phượng. Chữ túy có hai nghĩa: Túy là thuần một chất, như chữ thuần túy chẳng hạn. Hoặc túy là say rượu, như trong câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu” (Say rượu nằm ngủ ngoài sa trường, xin chàng đừng cười) hoặc trong câu đối của Nguyễn Công Trứ: “Sáng một một rượu say túy lúy, đưa tay bồng ông phúc vào nhà). Túy Phượng là thuần một chất và say đắm phượng. Vậy là yêu lắm đấy!!!! Thúy Phượng thì trật lất: Chim Thúy không ở với chim phượng được. Thúy là loài chim nhỏ, phượng là loài chim lớn, mỏ quắp, như diều hâu, ăn thịt. Thúy ở với phượng, phượng sẽ ăn thịt thúy. Ai đặt tên Thúy Phượng là sai! Ngọc Phượng là con phượng chim phượng bằng ngọc, cũng tương tự như bích phượng vậy. Bích là tên một loại ngọc. Bích cũng có nghĩa là bức tường. Bích phượng là phượng nở đỏ cả một ven sông như bức tường đỏ, như bức tường lửa, như trận Xích Bích trong Tam Quốc, Tôn Quyền đốt cháy thuyền của Tào Tháo trên sông Trường Giang cháy đỏ rực như một bức tường lửa vậy. Xích Bích dịch theo tiếng Anh là Firewall, là bức tường lửa ngăn chận người Việt trong ngoài nước e-mail cho nhau. Tôi nói như vậy chắc đúng đấy. Quý vị nào còn nghi ngờ xin hỏi lại Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, chắc ăn hơn.

    Trong bài thơ Nhã Ca, bà ta có nói tới trái phượng, nhưng không thấy nói tới việc ăn trái phượng.

    Trái phượng hình giống con dao chặt cây, dẹp và dài cở ba, bốn tấc tây. Khi trái phượng đã có hột, bọn trẻ chúng tôi thường hái xuống, đập dập hai cạnh cho dễ lột thành hai mảnh, lấy hột ăn. Hột mầm hơi ngọt, hai lá mầm lạt hơn. Trái phượng khi đã già thì đen. Khi có bão, vài cành phượng gãy xuống, người ta có thể hái trái về nấu lấy hột ăn vì lúc nầy hột đã già và cứng.

    Gỗ phượng thuộc loại dỗm, không đóng bàn ghế hay dụng cụ được, chỉ để đun bếp mà thôi. Gỗ nầy không có than, nếu có thì cháy cũng không bền.

    Nói chung, không ai trồng phượng để lấy gỗ, chỉ là để có bóng mát và có bông đẹp khi hè tới mà thôi.

    Tôi chưa từng thấy ở Việt Nam có phượng tím. Có lẽ tôi hơi quê chăng. Vì vậy, lần đầu tiên tới Nam Cali tôi thấy ở quận Cam có nhiều hoa phượng tím. Tôi hơi ngạc nhiên.

    Tôi không cho rằng phượng tím là đẹp mặc dù tôi vẫn thích màu tím hoa sim, hoa mua, hoa cà. Có phải tôi có định kiến hay chăng. Bởi vì cũng có không ít người khen phượng tím đẹp, hoặc nhìn phượng tím mà nhớ phượng đỏ như nhà thơ Nguyễn Nam An có mấy câu thơ tôi trích sau đây:

    Phượng

    Phượng ở công viên nở toàn hoa tím
    Phượng xưa đỏ cành đã bỏ đi đâu
    Phượng của tình tôi nhánh sầu tay hái
    Phượng nay đường dài mình chẳng gặp nhau
    …..

    Phượng ở Mỹ châu phượng sầu hoa tím
    Trống vắng lòng xe trống vắng hiên che
    Tháng sáu tôi thề khi đêm ra biển
    Dầu sẽ như ve hết kiếp không về

    hoặc:

    Mùa Phượng Tím

    Nắng Xuân ấm lung linh mời Hè đến
    Gío giao mùa lay nhẹ cánh phượng yêu
    Đẹp biết bao hoa tím dáng mỹ miều
    Lòng rộn rã ôm chầm màu kỷ niệm

    Massachusetts,
    một nơi không có hoa phượng!
    Hoàng Long Hải
  5. Dư Âm Ngày Cũ của Nguyễn Thanh Ty

    Tuệ Chương Hoàng Long Hải

    "Dư Âm Ngày Cũ” không phải là một tập truyện ngắn. Đúng hơn, đó là một hồi ký, một hồi ức của tác giả về một xóm nhỏ có thực với những con người có thực và những chuyện có thực ở nơi ông đã sinh ra, lớn lên thời thơ ấu. Cái xóm đó, gọi theo đúng thực trạng của nó là Xóm Cồn - một cồn đất ở cửa sông Cái, Nha Trang.

    Tác giả có nhắc lại sự hình thành của Xóm Cồn, - khoảng một trăm năm trước kể từ giữa thế kỷ 20 -. Trong những năm chiến tranh Việt-Pháp 1945-54, và tiếp đó là cuộc di cư của người miền Bắc sau Hiệp Định Genève 1954, xóm tụ tập đủ hạng dân lao động, từ các tỉnh miền Trung Trung Bộ và miền Nam Trung Bộ; họ tìm về đây kiếm một nơi trú ẩn để tránh tên bay đạn lạc, phần đông nghề chính yếu là đánh cá biển, thêm một vài nghề khác không được phổ biến, hình thành một xóm lao động nghèo, nghèo tiền bạc nhưng rất giàu tình nghĩa xóm làng như chính tâm hồn của người viết tập sách nầy vậy.

    Những người đến đây định cư kiếm sống, mang theo rất ít hành trang: Không nhiều quần áo, không tủ chè sập gụ, và có thể không nhiều tiền bạc, tư trang, nhưng cái xóm lao động ấy ổn định rất nhanh vì trong hành trang lưu lạc của họ lại rất nặng văn hóa dân tộc, những dấu ấn sâu sắc về tình nghĩa gia đình, xóm làng và cả lòng yêu nước.

    Do những đặc thù đó, tập truyện của Nguyễn Thanh Ty mang nhiều sắc thái khác nhau. Có thể đó là một tiểu thuyết phong tục như tục thờ cá voi chết tấp vào bờ mà người dân chài thường gọi là “Ông Lị” (lụy) và “giả sắn” để nhuộm lưới khi lưới nylon chưa nhập cảng vào nước ta. Đó cũng là tập tục tôn trọng người có học vì họ là người biết Lễ (Tiên học lễ, hậu học văn) và “tôn sư trọng đạo” (Trọng thầy mới được làm thầy) là những câu cách ngôn được treo trên tường các lớp khi tác giả học tiểu học.

    Thật vậy, tôn trọng người có học, người hiểu biết lễ nghĩa liêm sĩ, trung hiếu tiết nghĩa là điều rất thường thấy trong sinh hoạt của họ, ngoài một lý do không ít quan trọng là để tránh một nghề lao động vất vả chân tay. Cho con đi học là giúp con được làm Người (Viết Hoa) và thoát ra khỏi cảnh bùn lầy nước đọng. Trong đà phát triển của xã hội miền Nam trước 1975, nhiều người trong xóm ông đã thành đạt, trong đó, dĩ nhiên có cả tác giả.

    ... Mãi đến năm sáu mươi, làng tôi mới có một chàng Hiến Binh đội “kết-pi” đỏ đầu tiên. Đó là anh Sáng, con cậu Sáu tôi.

    Sau ngày anh Sáng tôi trở về làng oai hùng trong bộ đồ Hiến Binh thì lần lượt xuất hiện thêm vài người hùng khác nhưng trong những bộ đồ lính Không Quân.... đầu tiên là anh Sáu Diệu và anh Ba Xáng. Về sau thêm nhiều người hùng nữa mà tôi không nhớ hết. Cái dấu ấn đậm nét nhất trong tôi là thằng Cò Ù tức thằng Thừa Mập, em chú chín Ú. Nó mới học hết lớp nhứt thì bỏ học... rồi đăng lính Nhảy Dù, Thiên Thần Mũ Đỏ cái ngày nó từ trung tâm huấn luyện trở về, chúng tôi trố mắt nhìn nó. Vừa ngạc nhiên, vừa thán phục. Trông nó khác hẵn thằng Cò Ù xưa. Nó vừa oai hùng, vừa bảnh choẹ với chiếc bê rê đỏ đội lệch trên đầu và bộ đồ rằn ri như da con báo. Chúng tôi phục nó sát đất và hãnh diện có một thằng bạn như vậy. Bây giờ chúng tôi trịnh trong kêu nó là anh Thừa chớ không gọi là Cò U và mày tao như trước.

    Nó ở chơi với chúng tôi bảy ngày và giả từ đi tới đơn vị bổ nhiệm.

    Một tháng sau, người ta chở về cho má nó một cái hòm kẽm, trên phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ. Nó đã tử trận và bây giờ nằm im lìm trong đó. Hình như nó mới vừa mười bảy tuổi. Chưa tới tuổi quân dịch. Và cũng chưa biết mùi con gái.

    Cũng trong truyền thống dân tộc, người dân trong Xóm Cồn của Nguyễn Thanh Ty đã có một thời đứng lên chống Pháp cùng với toàn dân tộc chiến đấu giành độc lập, khi Thực Dân Pháp trở lại xâm lược nước ta sau khi Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chấm dứt. Cuộc nổi dậy đó đã bị Pháp đàn áp một cách tàn bạo:

    Họ đã vì lòng yêu nước, hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh, cầm gậy tầm vông đứng lên đánh nhau với súng “Mút-cà-tông” và “Mi-trây-dết” của Pháp.

    ............

    Đoàn người chưa bước được mươi bước thì:

    - Đùng, đùng, đùng...

    Một loạt tiếng súng liên thanh “Mi-trây-dết” nổ giòn từ những lỗ hổng của bờ thành Lầu Ông Tư bắn ra. Đạn vãi như mưa bấc. Những người đi đầu trúng đạn ngã quay ra đất, chết lập tức. Những người đứng sau bị thương ngã dụi xuống, kêu la, rên rỉ ầm ĩ. Một quang cảnh náo loạn, kinh hoàng xảy ra quá bất ngờ. Đoàn biểu tình tan nhanh như cơn gió thoảng. Mạnh ai nấy chạy tan tác. Phần đông là nhảy xuống bờ sông bơi về nhà hay trốn qua Cồn giữa. Bỏ lại tại chỗ hơn mấy chục người vừa chết vừa bị thương quằn quại.

    Việc bắn giết của lính Lê Dương trong cuộc nổi dậy ấy đã để lại một hậu quả nặng nề cho Xóm Cồn của ông: Nhiều người điên khùng, tàn tật. Khi được thả về, người nào cũng xanh xao, ốm yếu. Có người ôm ngực ho ra máu. Có người trở thành mất trí, lúc tỉnh, lúc điên.

    Trong số những người đó, tôi nhớ rõ nhất là ông Bảy Mạnh, ông Sáu Chúc, ông Ba Đen và ông Chín Bốc. Bốn người này có những cá tánh đặc biệt khó quên khi đến uống rượu tại quán má tôi.

    Sau đây là một hoạt cảnh rất sống động, rất thực; như rõ ràng hiện ra trước mắt chúng ta hình ảnh một người dân lao động hơi luống tuổi:

    ... tôi đã rót cho ông ly rượu Công Xi rồi. Ông thò tay bốc thêm mấy trái ớt xiêm trên cái trẹt gần tầm tay, bỏ vô miệng nhai rau ráu, rồi ngữa cổ uống ực một cái hết cả rượu lẫn ớt. Ông móc túi trả một đồng bạc, lấy mu bàn tay chùi hai bên mép, rồi đi về nhà.

    Kế đó, cũng là hoàn cảnh một người lao động khác, một đứa bé như ông hồi niên thiếu phải có con mắt nhận xét tinh tế mới thấy được:

    Từ ngày Tây thả về, ông Ba Đen ở ru rú trong nhà. Cửa liếp luôn đóng im ỉm. Xung quanh nhà có hàng rào làm bằng cây sắn đan khít lại. Vợ con ông đi bán cá về, muốn vô nhà phải hé cửa để lách mình vô. Cơn điên của ông cũng nổi cơn bất thường. Lúc thì buổi sáng, lúc buổi chiều.

    Lại một hình ảnh khác nữa, rất thường thấy trong xã hội chúng ta ngày trước:

    Ngược lại với ông Ba Đen, ông Bảy Mạnh lúc nào cũng lang thang ngoài đường, đầu trên xóm dưới. Ông cứ lòng vòng trong xóm, miệng thì lảm nhảm: “Mỏa? Rẻm me moa! Rẻm me moa!

    Nhân vật sau đây hết sức đặc biệt, tuyệt đối “mê tín dị đoan”. Bạn đọc phải mở sách đọc hết từng trang mới cảm nhân hết kết cục bi thảm của sự mê tín đó:
    .....

    Ông Sáu Chúc đã nghèo vậy, mà mỗi lần trước khi uống, hai tay ông bưng ly rượu, giơ ngang trán một cách trịnh trọng, miệng lâm râm đọc thần chú hay khấn vái điều gì đó, xong, đổ bớt một phần tư rượu xuống đất rồi mới uống phần còn lại. Tôi cứ lấy làm thắc mắc và tiếc tiền cho ông. Má tôi nói ổng thờ “Ông” tức là thờ cá voi:

    Hai vợ chồng già sau đây là một hiện tượng hiếm thấy trong xã hội cũ. Người đọc có thể thấy đây là một căn bệnh tình dục hơn là một sự xung khắc giữa hai vợ chồng:
    .....

    Bà Chín vừa nói vừa lộn hai cái túi áo bà ba ra cho ông Chín coi. Ông Chín nhào tới mò lưng quần bà thì bà xô ông ra, tông cửa chạy ra ngoài. Ông Chín rượt theo. Bà Chín chạy lòng vòng, từ nhà này sang nhà kia. Sau bà là ông Chín rượt đuổi. Sau ông Chín là đám con nít hơn chục đứa nối đuôi chạy theo, vừa vỗ tay vừa la:

    - Tụi bay ơi chạy theo mau lên! Bà Chín sắp tuột quần rồi!

    Cái màn diễn của hai ông bà Chín hôm nào đoạn kết cũng giống nhau nên mọi đứa trẻ xóm đều thuộc lòng, nhưng cũng cứ khoái coi hoài vì chưa thỏa tính tò mò vì ông bà Chín hạ màn đột ngột quá, tụi nó chưa mãn nhãn...

    Xóm Cồn của tác giả không thiếu những người sống trong ảo tưởng, mà người xưa thường cho rằng học quá thành khùng. Ở đây, ngoài ra, còn là hậu quả của những cuộc tra khảo của chế độ thực dân:
    .....

    Kế đến là anh Bảy. Anh bị vẹo chân phải. Khi đi, người lệt hẳn một bên, kéo lê cái chân bị tật lết trên đất. Do vậy anh có thêm cái tên “dẹo” (vẹo): Bảy Dẹo. Người em gái út là chị Xù. Chị Xù lấy anh Năm Bẩn, con bà dì Năm tôi. Mấy đứa nhỏ trong xóm kêu lén sau lưng chị là chị “Xè Lú”, bởi chị và anh Bảy, chị hai Tỵ đều lé. Lé ghê gớm chớ không phải “lé kim” thường thường như người ta gọi là “mại”.

    Có lẽ ở làng xã chúng ta không thiếu những nhân vật như Bảy Phết sau đây. Nói cho cùng, điều ấy không có chi lạ. Có sự khác biệt chăng là anh chàng Lao Ái ngày xưa trong truyện Đông Chu đã không biết tự hạn chế mình như Bảy Phết của Xóm Cồn:

    - Tao mà được như thằng Bảy Phết cũng sướng một đời. Người ta nói “của to không lo gì đói”, đúng quá xá là đúng!

    Anh ôm gà đi từ đầu làng tới cuối xóm. Cái “của quí” to và dài như cái chày đâm tiêu lũng lẵng giữa háng, đánh qua, đánh lại hai bên bắp vế theo nhịp đi của anh. Những lúc anh ngồi chồm hỗm theo dõi con gà mình đang đá, thằng nhỏ của anh cũng thò cái đầu bóng lưỡng ra khỏi ống quần để xem ké. Thiên hạ lúc này bỏ coi đá gà quay qua chiêm ngưỡng cái “vưu vật” hiếm có trên đời này. Đến lúc phát hiện ra chuyện lạ, Bảy Phết đỏ mặt, đứng vụt dậy, kéo ống quần xuống, cười bẽn lẽn nhưng cũng đầy vẽ tự hào.

    Như mọi đứa trẻ khác, những năm học tiểu học để lại những dấu ấn sâu sắc trong trí óc trẻ thơ. Nguyễn Thanh Ty cũng vậy, nhưng cái ‘nhớ' của ông đầy vẻ tinh nghịch, buồn cười, với những nhận xét sâu sắc về các thầy cô:

    Đó là trường Nam Tiểu Học Nha Trang. Ngôi trường đó có Ông Đốc Thành lúc nào cũng quần “sọoc”, áo sơ mi ngắn tay trắng. Với dáng thấp, đậm người, tròn lẵn, hồng hào. Bao giờ ông cũng uy nghi, bệ vệ như một vị thần linh trước mắt lũ chúng tôi. Còn có cả thầy Lộc bụng phệ, thầy Ẩn với hàm râu cá chốt, thầy Thanh xuề xòa, đôn hậu, thầy Tuy hiền lành, nhỏ nhẹ, thầy Ngộ tướng dữ mà hiền, thích đá gà... Còn có cô Mai, hè nào cũng mang bầu, đến ngày tựu trường thì nghỉ đẻ; học trò chúng tôi không có giáo viên, lại được nghỉ học thả dàn. Cô Lệ ốm cao, dáng người Huế quí phái với mái tóc giả bọc trong lưới, có vẻ mặt lúc nào cũng buồn buồn. Có phải cô luôn ngẫm nghĩ về một quá khứ cung đình vàng son nơi xứ Thần kinh?

    Xóm Cồn là nơi tập trung của nhiều người từ nhiều xứ tụ về nên nó pha tạp nhiều giọng nói khác nhau, lại là giọng nói của người miền quê nên ngôn ngữ Xóm Cồn có những nét rất đặc sắc. Nó bao gồm tiếng Quảng Nam “En không en tét đèn đi ngủ”hoặc “đất Nhoa-Troang làm eng được” hoặc tiếng Phú Yên của “nẫu”, “dẫy na các ông” hoặc trọ trẹ tiếng Huế “Dị mà nói - mai chừ chưa ăng chi hệ......ệt.” trước khi “ôm ông nội lội qua sông.” (Ôm ống nổi lội qua sông) và “nước mắm độ lộn mợ” (Nước mắm đổ lộn mỡ). Người ta phải hết sức lắng nghe và suy nghĩ, đoán chừng mới hiểu được “Bữa nay không học ke, trại bữa nay phát ké, không có phát gè”. Chưa hết, còn một giọng Bắc sau cuộc di cư năm 1954 “Bố mẹ tiên sư nhà chúng mày, con nhà mất dậy. Con bà đi giải mà chúng mày lén chúng mày nhòm. Bà mà bắt được tay, vây được cánh, bà cho chúng mày niếm qua niếm nại”.

    Khi họ chưỡi lộn nhau thì đó là một bản “hòa tấu” nhịp nhàng âm điệu và “ca từ” hiệp vận còn hơn bất cứ một nhạc sĩ tài danh nào.

    Người xứ lạ mới đến, nhiều khi phải có thông dịch, nhưng trong cộng đồng đó với nhau, sau một thời gian ngắn, họ hiểu nhau rất rõ và cũng rất nhanh.

    Đa số người Việt theo đạo Phật truyền thống, có nghĩa là họ rất ít khi đi chùa nhưng họ biết giữ lòng từ bi và biết giữ giới. Do đó, họ không ăn thịt chó vì sợ bị “tội”:

    ... bỗng có tin đồn rĩ tai chuyền đi mau lẹ trong xóm, đầu làng, cuối ngõ đều biết:

    - Cha con thằng Bắc kỳ Thủy bán phở thịt chó!

    - Chao ôi! Thịt chó! Sao mà gớm ghiếc vậy!

    Hầu hết dân xóm tôi là người Lương. Một số nhà có bàn thờ Phật. Họ rất sùng đạo. Họ nghe lời các Thầy hơn là tin Phật.... đầu đội chậu máu là chuyện Mục Kiền Liên ai ai cũng thuộc nằm lòng.

    Lúc này trẻ con, người lớn, túa tới bu coi mỗi lúc mỗi đông. Tiếng con nít hò la “Bắc kỳ ăn thịt chó!” càng lúc càng lớn, khiến Bảy Phết càng hăng máu, càng hừng chí. Anh xăm xăm xáp lại gần xe phở. Bố con anh Thủy càng run lập cập lùi ra xa. Bảy Phết đưa tay giở nắp thùng nước xúp, thò mũi vào hít hít mấy cái, rồi lấy cái giá trụng bánh phở khua khua trong thùng một lúc, bỗng la lớn lên:

    - Nè bà con, cô bác, có cái đầu con chó trong này nè!

    Mọi người ồ lên một tiếng thật to. Đám con nít sợ xanh máu mặt.

    Nguyễn Thanh Ty có những nhận xét sâu sắc về những nhân vật đặc biệt trong xóm ông, qua đó, “Chi Tám Lại Cái” có những cái lạ về một nhân vật ái nam ái nữ, nhưng chị có những tình cảm rất thường tình về tình mẹ yêu con hay tình yêu nam nữ. Dĩ nhiên chị không thể có con, nhưng chị yêu con không khác gì một người đàn bà bình thường:

    Chị thương con bé lắm. Cái cách thương con, càng muốn làm mẹ của chị cũng là một trò vui cho cả xóm cười nhạo chị. Chị cho nó bú bằng bình nhựa có núm cao su. Nhưng chị cũng giả bộ vạch áo ra, ấn đầu con bé vào ngực, cũng giả bộ ù ơ:

    - Ờ, ờ! Con ngoan! Má cho con bú nghen! Ngoan ngoan! Bú đi con!

    Rồi chị rung rung con bé trên tay, ru nó ngủ bằng cái giọng ồm ồm:

    Âu ơ ... Ví dầu tình bậu muốn thôi,
    Âu ơ ... Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra,
    ...

    Bảy Phết đi ngang, chưỡi đổng:

    - Tổ bà thằng lại cái! Vú móm đâu cũng bày đặt vạch áo, bú đi con, bú đi con! Con! Con cái con c... tao đây nè!

    Chị Tám xua xua tay ra hiệu cho Bảy Phết đừng nói lớn tiếng làm con bé thức dậy:

    - Anh Bảy làm ơn! Em nó đang ngủ!

    Rồi chị lại rung rung con bé hát tiếp. Mắt thì ngó Bảy Phết ra vẻ hờn trách.

    Vậy mà “chị Tám” mê Bảy Phết, muốn từ bỏ hết để theo anh ta, mặc dù “chị” đã bị bảy Phết đối xử rất “vũ phu”:

    - “Cái đó là tại anh Bảy! Anh Bảy không thương em! Anh Bảy chê em, hất hủi em, anh Bảy đạp em một cái như trời giáng. Bây giờ anh Bảy chịu bỏ năm bà vợ mà lấy em, em thề xé bỏ giấy đi Mỹ để theo anh Bảy suốt đời liền.”

    Đọc truyện “Lực Sĩ Đỗ Khánh Du” không ai không xúc động bởi vì chúng ta không khác gì tác giả bao nhiêu, ai chẳng có một “thần tượng” thời thơ ấu:

    Lực sĩ Đỗ Khánh Du trạc chừng hai mươi lăm tuổi, người thấp đậm, da ngăm đen. Khuôn mặt vuông, ngũ quan đều đặn. Cặp mắt rất sáng. Hàm răng đều nhưng hơi vàng xỉn do hút thuốc điếu quá nhiều. Ông vận chiếc quần chùng bằng lãnh đen, thắt giây lưng lụa đỏ, to bản, buông dài chấm gối. Chân đi giầy vải. Mình ở trần. Lồng ngực nở nang. Bụng thon, nổi vồng lên sáu cơ bắp hình vuông, thiệt đẹp.... Khi ông lên “gồng” những cơ bắp nổi lên cuồn cuộn, thấy rõ từng bắp một.

    Thế rồi mấy chục năm sau, Nguyễn Thanh Ty hết sức đau lòng gặp lại “thần tượng” thời thơ ấu của ông:

    Cũng vẫn chiếc xe “đòn dông” cũ, nay càng thêm bệ rạc. Hai cái bánh xe trơ trọi, không còn cặp dè. Ghi đông trụi lũi, không có thắng, không có chuông. Hai bàn đạp không còn “pê đan”, chỉ thò ra hai que sắt, mòn nhẵn, nhọn hoắc. Thùng cạc tông chắc ông đã thay mấy lần mưa nắng? Sao trông nó cũng tồi tàn quá. Bốn bên cạnh không đứng thẳng mà muốn ngã ụp vào bên trong. Bây giờ ông chỉ còn rao bán ở hai bến xe Ninh Hòa và Xóm Mới. Bằng một giọng khàn đục, không đủ hơi, ông rao phều phào, tiếng rõ, tiếng không:

    - Bà con, cô bác đi đường xa, chóng mặt, nhức đầu, đau bụng nên mua ngay chai dầu Nhị Thiên Đường hiệu ông Phật để dành, lỡ khi mưa nắng bất thường.

    Khi mua xin nhìn kỹ nhãn hiệu dầu cù là Mắc Xu vẽ hình chủ nhân bào chế, có “cầu chứng tại Tòa”, kẻo nhầm với dầu cù là đựng trong hộp thiếc màu đỏ có vẻ hình ngôi sao vàng.

    Dù xuất thân từ một xóm lao động, ông được giáo dục khá kỹ về đạo làm người. Sự giáo dục đó, được biểu hiện bằng cây roi mây nơi tay thân phụ ông:

    - Cha tôi đánh con cũng kiểu cọ lắm. Nếu tôi yếu tim như bây giờ thì đã đi đời nhà ma từ lâu rồi. Mỗi lần anh em tôi có ai lầm lỗi điều gì thì ông bắt nằm xuống hết một loạt như cá hộp sắp lớp. Không cần biết ai phạm lỗi. Cứ thằng lớn đầu nhất trong nhà là tôi, đánh trước để làm gương. Ông nhịp nhịp cái roi mây trên mông đít tôi, vừa nhịp vừa dạy:

    - Lớn mà không làm gương, nhỏ mới lập đường trèo lên! Biết không?”

    - Dạ biết! Tôi mếu máo thưa chớ có biết ất giáp gì mà làm gương.

    Trong lúc tôi lơ đãng thưa theo “nhịp cầm canh” của cái roi mây nhịp nhịp ở mông, thình lình nghe tiếng gió của cái roi trên cao quất xuống, không kịp lấy gân, trân mình thì đã nghe tiếng “trot” thiệt ngọt, giáng xuống mông rồi. Hai cái mông nóng lên như lửa chớ không thấy đau. Tôi đưa tay ra sau đít, chà xát lia lịa cho bớt nóng thì ông đã quát lên:

    - Lấy tay ra! Nếu không, tao quất một roi nữa là gãy lìa mấy ngón tay!

    Cứ thế, ông đi hết một lượt năm, bảy anh em tôi, từ trai tới gái. Nhiều lần, lúc ông nhịp tới đứa chót thì tôi đã ngủ hồi nào rồi không hay.

    Lối giáo dục ấy không có kết quả hay hay chăng? Không, chính cây roi mây ấy đã dạy ông nên Người, khiến ông thương xót và khóc khi hay tin một cấp chỉ huy cũ, một tấm gương đạo đức sáng chói đã qua đời:

    ... một ngày cuối đông lạnh lẽo với những cơn gió bấc thổi thốc vào căn nhà tuềnh toang, trống trãi ở gần hai bồn xăng dưới chân núi Cầu Đá, đối diện với dinh Bảo Đại, Thầy đã trút hơi thở cuối cùng, lặng lẽ từ giã cuộc đời đầy phiền não và hận thù để vĩnh viễn ra đi về cõi vĩnh hằng.

    Và khấn rằng: Thưa Thầy! Đời đục cả! Mình Thầy trong. Không vì đời đục mà Thầy đục theo. Thầy là tấm gương sáng cho những kẻ chỉ biết chạy theo bã danh lợi suy ngẫm ở quãng cuối đời còn lại.

    Những giọt nước mắt muộn màng rơi trên trang giấy này, em xin thay cho những lời tạ lỗi. Xin Thầy hãy mĩm cười bao dung và tha thứ cho em!

    Trong đời thực và trong văn chương, con người Nguyễn Thanh Ty không khác nhau bao nhiêu. Gặp bạn bè, ông thường có những lời đùa vui vô hại, có nghĩa là chẳng moi móc ai, cười để mà cười, vui để mà vui. Tuy nhiên, trong văn chương, cái cười đó có vẻ chua xót hơn, có phải đời ông nhiều “bầm dập” nhất là khoảng thời gian nhiều năm trong trại cải tạo đã cho ông cảm nhận nhiều đau đớn đó chăng?! Trong chuyện “Khổ vì nước...” khi mô tả một người bán nước uống cho hành khách đi xe lửa, ông viết lại câu nói đùa chua chát mà tôi không nghĩ ông là người sáng tác. Co lẽ ông đã nghe, đồng cảm và chép lời của ai đó:

    - Bán nước theo tàu nè!

    Chữ nước và chữ tàu, người ta hiểu theo cả nghĩa bóng, nghĩa đen và cả tiếng lóng nữa. Ở một chỗ khác, khi nói về lực sĩ Đỗ Khánh Du bán dầu cù-là “Mắc-Su”, ông (hay người dân miền Nam) dặn nhau đừng lầm với một thứ dầu “Mắc-Su” mới hiệu “sao vàng”:

    Khi mua xin nhìn kỹ nhãn hiệu dầu cù là Mắc Xu vẽ hình chủ nhân bào chế, có “cầu chứng tại Tòa”, kẻo nhầm với dầu cù là đựng trong hộp thiếc màu đỏ có vẻ hình ngôi sao vàng. Đó là loại “cao sao vàng” của gánh xiếc đời nay. Rất dễ bị ngộ độc.

    Sao lại là gánh xiếc? Đời nầy chơn giả đều là trò xiếc cả thôi sao? Nhưng trong cái “xiếc”của Lực Sĩ Đỗ Khánh Du, giả lại là chơn vì ông ta sống bằng khả năng có thực của ông, còn gánh xiếc đời bây giờ có ai không cho rằng “người ta” đã “lộng giả thành chơn” bằng trăm ngàn trò phỉnh gạt, lừa dối?! Điều ấy làm cho đời bây giờ rất dễ bị ngộ độc nên chẳng ai chấp nhận cái “sao vàng” đó là “giải phóng” hay “cứu tinh” cho một dân tộc, cho một đời, hay cho một người đang bị cảm mạo?

    Xóm Cồn của ông nằm giữa sống Cái và biển, ba bên bốn bề là nước, nhưng vì là xóm nhà lá, nên “rất nhiệt tình” mỗi khi bà Hỏa đến thăm. Trong cơn hỏa hoạn, nạn nhân đang nháo nhác, người dân Nha Trang cũng như ngay chính tác giả, không thiếu hóm hỉnh bảo nhau “Xuống Cồn coi lửa”. Cái dí dỏm ấy trở thành nhan đề một tác phẩm sắp ra lò của Nguyễn Thanh Ty.

    Chưa bao giờ tôi thấy bất lực như khi viết lời giới thiệu cho Nguyễn Thanh Ty, một việc trước đây tôi cũng đã làm cho vài người bạn văn. Gân bốn trăm trang giấy chan chứa những tình cảm cũng như kỹ niệm của tác giả đối với một quê hương thời thơ ấu, vui buồn thương nhớ lẫn lộn với rất nhiều đau đớn xót xa; làm sao tôi có thể gói gọn tất cả những tình cảm nhung nhớ thương xót ấy vào trong hơn mười trang giấy giới thiệu. Cho tôi gởi lời xin lỗi tác giả cũng như độc giả và xin mời quí độc giả hãy bước vào thăm Xóm Cồn của Nguyễn Thanh Ty qua tác phẩm “Dư Âm Ngày Cũ”.

    Tiếc một điều, Xóm Cồn không những không phát triển thêm thành một nơi chốn đẹp đẽ trong cuộc sống mới mà lại mất dấu trên bản đồ Nha-Trang ngày hôm nay, cả “Lầu Ông Tư”, dấu tích nơi phục vụ nhân loại của một nhà khoa học nổi danh của Pháp tại đất Nha-Trang, nay cũng đã trở thành bình địa.

    Cái “bình địa”mất dấu ấy lại trở thành những cơn sóng dữ trong tâm tưởng của một người lưu lạc xứ người như Nguyễn Thanh Ty. Vì vậy, tôi xin mượn lời của ông để kết thúc lời giới thiệu nầy:

    Ôi! Những kỷ niệm của tôi sao mà nhỏ bé, tầm thường. Nó chỉ là những trái tra, trái xoài quéo còn non. Những chùm dũ dẽ nửa sống, nửa chín ở bãi hoang Xóm Mới. Những trái cò ke ở khu sân bay Bình Tân, Lỗ Nước... Những cuốn chả ram, những miếng dừa già, những khúc kẹo kéo ngắn ngủn... mà sao tôi nhớ đến quay quắt, nhớ đến nôn nao...
  6. Huy Cận,
    ngậm ngùi với kiếp người
    hay phủ nhận thượng đế


    Tuệ Chương Hoàng Long Hải



    Đọc thơ Huy Cận, người ta thường hay nhắc tới những nỗi buồn nhân thế bao la, với những cảm nhận về một thời xưa cũ trong lịch sử dân tộc hay con người.

    Thật đấy, ngoài bài hát “Ngậm Ngùi” mà thật ra đó chỉ là lời bày tỏ tình yêu say đắm của một người yêu với một người yêu, với những hình ảnh gần gủi như chiếc lá mắc cở khép lại (vườn hoang trinh nữ…), hay con nhện như trong ca dao (Buồn trông con nhện chăng tơ), hoặc “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, làm cho người đọc biết rằng nỗi buồn tràng giang là nỗi buồn thiên cổ, (“Mang mang thiên cổ sầu”). “Thiên cổ sầu” là cái sầu bàng bạc trong thơ ông. Cái buồn đó chính là cái tình sâu đậm của ông đối với đời, với người.

    Điều nầy, trong thơ Tầu cũng đã có. Cũng trong cảnh mênh mông trời đất, trong cảnh cô đơn và vắng lặng của kiếp người, Trần Tử Ngang (1) viết:

    Đăng U Châu Đài Ca

    “Tiền bất kiến cổ nhân
    Hậu bất kiến lai giả
    Niệm thiên địa chi du du
    Độc sảng nhiên nhi thế hạ”
    Bài Ca Lên Đài U Châu

    “Ngoảnh lại trước: Người xưa vắng vẻ
    Trông về sau: quạnh quẽ người sau
    Ngẫm hay trời đất dài lâu
    Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.”


    (Bản dịch của Trần Trọng San)

    Trong nỗi cô đơn vô cùng của kiếp người, Huy Cận chỉ mới buồn, mới sầu thiên cổ. Trần Tử Ngang thì khóc đấy. Ông đổ nước mắt vì sự bơ vơ của kiếp người.

    Nói về sự huyển nhiệm của vũ trụ, mênh mông của trời đất, Trương Nhược Hư có bài “Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ” là tuyệt tác. Xin trích mấy câu:

    “Sông và trời, một màu không mảy bụi,
    Ngời sáng trong không, vầng trăng trơ trọi
    Người bên sông, ai kẻ đầu tiên thấy trăng?
    Trăng trên sông, năm nào đầu tiên rọi xuống người?

    Người sinh đời đời không bao giờ ngừng
    Trăng trên sông năm năm ngắm vẵn y nguyên
    Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai
    Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy


    Trần Trọng San dịch như sau:

    Trong suốt trời sông suốt một màu,
    Trên sông vằng vặc một trăng cao.
    Ai người đầu đã trông trăng ấy?
    Trăng ấy soi người tự thuở nao?

    Người cứ đời đời sinh nở mãi,
    Trăng đã năm năm sông nước giãi.
    Soi ai nào biết được lòng trăng,
    Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy,


    Mới đọc, người ta tưởng Trương Nhược Hư ngớ ngẩn: “Ai là người đầu tiên nhìn trăng? Ai là người đầu tiên được trăng chiếu rọi?”

    Lịch sử loài người gần như vô thủy, các nhà khoa học chỉ đoán chừng loài người xuất hiện cách nay mấy triệu năm thì làm sao biết được trong số tổ tiên còn ăn lông ở lổ đó, ai là người được thấy trăng trước tiên, và chắc gì họ cảm nhận được cái đẹp của trăng khi được trăng chiếu rọi như chúng ta ngày nay.

    Câu hỏi tuy ngớ ngẩn đấy, nhưng câu hỏi ấy không giống câu than “Tiền bất kiến cổ nhân” hay sao? Đã “bất kiến cổ nhân” thì làm sao biết được ai là người đầu tiên thấy trăng? Té ra, cả hai nhà thơ có một điểm chung: Tìm về nguyên thủy của nhân loại.

    Tìm về nguyên thủy để mà khóc vì thấy nỗi cô đơn của con người.

    Vậy thì khi Huy Cận than vãn: “Không gian ơi! Xin hẹp bớt mông mênh” hay “Để cho hồn khi sắp xuống hư vô”, “Xe tang đi về tận thế giới nào?” thì ông không thấy cái mênh mông của vũ trụ, cái hư vô của cuộc đời, cái thế giới vô hình ở một nơi xa xôi nào đó như hai nhà thơ Đường bên Tầu hay sao?

    Trần Tử Ngang, Trương Nhược Hư đều nói về vũ trụ, thiên nhiên. Nhưng cái họ nói rất phổ thông: Trời đất mênh mông, trăng, sông, người. Hay thì hay thật, nhưng khác với Huy Cận.

    Huy Cận cũng nói tới thiên nhiên, vũ trụ, bên cạnh trời, sông trăng nước, thơ ông có những hình ảnh rất gần gủi, thân quen, kèm với thương, với nhớ, dễ gây xúc động cho người đọc. “Trời rộng sông dài” làm ông bâng khuâng (buâng khuâng trời rộng nhớ sông dài). Trên sông dài (tràng giang) có sóng. Sóng làm cho người ta nhớ nhà (yên ba giang thượng sử nhân sầu – “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” - Hoàng Hạc Lâu - Thôi Hiệu). Trong thơ Huy Cận thì “sóng buồn điệp điệp” là nỗi buồn tiếp nối nhau không dứt. Trên sông có thuyền xuôi mái chèo. Thuyền đi, (thuyền xuôi), nước buồn (buồn trăm ngã), lại có cành củi khô trôi lạc trên sông.

    Thôi Hiệu thấy khói sóng trên sông nên nhớ nhà. Nỗi buồn của Huy Cận sâu sắc hơn, thấm đậm hơn, nên khi không có khói trên sông (yên ba giang thượng), chỉ nhìn thấy sông với hai bờ xa cách, thiếu “niềm thông cảm” (Không cầu nối lại niềm thân mật), nhìn nước chảy, thuyền trôi là ông đã nhớ nhà rồi: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

    Ngoài những hình ảnh gần gũi đó, còn có chiếc đò ngang trên sông. Nước ta có nhiều sông ngòi nên hình ảnh chiếc đò ngang là rất quen thuộc. Chẳng có cây cầu nối liền hai bờ, nói lên sự ly cách, là đứng ở bờ sông bên nầy, nhìn sang bờ sông bên kia, với những hình ảnh, màu sắc rất quen: Bên sông có bến đò vắng (bến cô liêu), có tiếng người chuyện trò ra về lúc “vãn chợ chiều”, là bãi cát vàng, là bờ dâu xanh, là bãi bắp xanh, là lũy tre xanh, nối tiếp nhau, kéo dài đến tận chân trời, như trong Kiều “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”. Tất cả những hình ảnh làng quê nước ta mà ông mô tả như trên, phải là người yêu làng yêu nước mình, mới có những nhận xét tinh tế như thế:

    Thuyền về nước lại sầu trăm ngã,
    Củi môt cành khô lạc mấy dòng.
    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều,
    Nắng xuống, trời lên sầu chót vót;
    Sông dài, trời rộng bến cô liêu.

    Bèo dạt về đâu hàng nối hàng,
    Mênh mông không một chuyến đò ngang
    Không cầu gợi chút niềm thân mật.
    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
    Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.
    Lòng quê dợn dợn vời con nước,
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.


    Nước ta chuyên về nông nghiệp, không thịnh về buôn bán, nên chợ là nơi trao đổi hàng hóa, gặp gỡ, chuyện trò hơn là chợ ở các nước Tây phương. Hình ảnh một ngôi chợ nhỏ, lèo tèo mấy mái tranh là rất quen thuộc ở miền quê nước ta: Chợ họp buổi sáng gọi là “chợ mai”, họp buổi chiều, dĩ nhiên, gọi là “chợ chiều”. Vì việc đồng áng, họp chợ hơi trễ là “chợ hôm” (lúc đầu hôm). Người con gái Việt Nam buôn tần báo tảo, bao giờ cũng “đòn gánh đằn vai” nặng nề, nhọc mệt nên rất đáng thương. Mở đầu “Gánh Hàng Hoa” của Khái Hưng là hai câu ca dao: “Thân em như gánh hàng hoa, Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều.” Cảnh chợ chiều, nhất là lúc vãn chợ, bao giờ cũng buồn. Huy Cận rất tinh tế, - vã lại ông là người sinh ra lớn lên ở miền quê trước khi đến học ở kinh đô Huế -, nên nhận biết cảnh tình đó rất sâu sắc: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.”

    Nhất Linh một thời thích câu thơ “Bèo giạt về đâu…” của Huy Cận. Có lúc ông đã tính lấy hai chữ “Bèo giạt” để đặt tên cho toàn bộ ba tập tiểu thuyết “Dòng Sông Thanh Thủy” (Dòng Sông Thanh Thủy tập 1, “Chi Bộ Hai Người” - tập 2 và “Vọng Quốc” tập 3). Cánh bèo trôi là hình ảnh về sự vật, nó cũng thường tượng trưng cho kiếp người: “Bèo dạt hoa trôi” là ý nói về thân phận người trong bài hát Quan Họ.

    Từ những nỗi buồn về vũ trụ, thiên nhiên, Huy Cận buồn cho phận người. Ông đã từng đi tìm cái nguyên lý của phận người, và thất bại. Toàn bộ bài thơ “Trình bày” là một lời trình bày, đúng hơn là lời kêu than (Để kêu than, khi tôi đã lìa đời), hay trách oán rằng Thượng Đế sinh ra ông, mặc dù ông gìn giữ con người ông rất kỹ, rất đẹp những gì thượng đế ban cho. Nhưng để làm gì khi kết quả của nó chỉ là những đau khổ trần gian. Ông chỉ thấy toàn là nước mắt trong “Những đêm sầu đến chết). Cái thượng đế cho ông là Thân thể. Nhưng thân thể chỉ là những sông núi, ngăn cách, chia biệt người với người. (Tôi đâu biết thịt xương là sông núi, Chia biệt người ra từng xứ cô đơn). Đời người chỉ những gai góc, gian khó (Thủng gai đời), những cô độc (Cô độc đã thầm ghi trên trán), đìu hiu (Hồn tôi đây thiên hạ bỏ đìu hiu). Và rồi, ông từ chối cuộc đời nầy chính vì những phi lý mà thượng đế đem lại cho đời, cho người. Ông không cần phân biệt thiên đường, địa ngục là đâu:

    “Hỡi Thượng đế! Tôi cúi đầu trả lại
    Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
    Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái
    Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đường.”

    Rồi tôi khóc, và đầu tôi ngã gục
    Mắt tôi mờ, và tay của tôi xuôi
    Không biết nữa, thiên đường hay địa ngục,
    - Quên, quên, quên đã mang trái tim người!


    (Xem toàn bài ở phần phụ lục)

    Thơ Huy Cận có những bài nhắc đến cái chết. Theo ông, chết là gì? Ai rồi cũng “đến ngày nghỉ bước.”. Lúc đó người ta nằm im trong huyệt mộ. Thế là không biết gì nữa cả hay sao? Không, Huy Cận thấy đau đớn lắm: “Sẽ nằm im, ôi! Đau đớn chừng nào. Thân bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí” như trong bài thơ “Chết”.

    Ông không thích chết, ông ghét cái chết, ông tiếc nuối cuộc đời nên không muốn chết. Đời, với Huy Cận là:

    “Ngày sẽ về, gió sẽ mát, hoa tươi,
    Muôn trai tơ đi hái vạn môi cười,
    Làn nắng ấm vào khua trong lá sắc;


    Đời vui tươi thế mà bỗng :

    “…mắt đóng trong đêm câm dằng dặc,
    Còn biết gì trời đất ở trên kia;”


    Chết là nằm một mình, là cô đơn, là khổ cho một người từng ngày: “Tìm thế giới để làm khuây lẻ chiếc!”

    Trong bài “Chết”, ông nói tới nỗi cô đơn của người chết. Trong bài “Nhạc Sầu” ông vẽ ra cảnh đớn đau của người đi đưa ma, có kèn đám ma mà ông gọi là “tiếng đau thương”, là “Nhạc buồn chi lám thế!” Dù ai có một nụ cười nào đó thì cũng “Môi tái nhợt nào cười mà héo vậy!” Ở đây, thành phố đang quen, đang vui mà người chết “mà ai đành lìa bỏ trần gian sao!?…”

    Dù người ta đã chết rồi, Huy Cận vẫn mong thấy được một chút gì “ấm áp” của “hình dáng cuộc đời từ đây xa tắp.”

    Huy Cận rất thương người chết, rất tiếc cho người chết, rồi ông dặn “Và ngựa ơi! Đi nhịp đằm chớ nhảy, Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đòi.” Chim không còn vui hót vì “Cây đã gãy vài cành”, đời thêm buồn vì “sao nắng quá mong manh!” Ông dặn dò: “Ai đi đưa, xin đưa đến tận nơi, Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi.”

    Thật ra, nói tới cái chết, tới đám ma với “Sầu chi lắm! Trời ơi! Chiều tận thế” là Huy Cận muốn đặt vấn đề với Thượng Đế. Thượng Đế bày ra thật lắm trò. Người xưa thì cho rằng “Trẻ tạo đành hanh”, rằng “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường” hay làm những điều nghịch tặc “Chết đuối người trên cạn mà chơi” (Cung Oán Ngâm Khúc) tức “lục trầm” thì này nay, Thuợng đế vẫn vậy.

    Thượng đế đã tạo dựng ra con người, con người thật đẹp, vô cùng đáng yêu như Huy Cận mô tả trong bài “Thân thê”. Thượng đế tạo ra những bàn tay đẹp “như hoa nở”, những đôi chân “Chồi mạnh búp tơ măng”. Hơi thở của con người là “gió mây thu góp lại”, và đôi mắt ngọc là “ánh sao” như TT viết “Không có anh ai đem đôi mắt ngọc, sáng long lanh ra ví với vì sao!” Không phải “ví với vì sao” mà mắt, theo Huy Cận, chính là sao:

    “Người đã cho những bàn tay hoa nở,
    Những cây chân, chồi mạnh búp tơ măng;
    Người thu góp gió mây trong miệng thở,
    Nơi mắt ngời, Người gửi ánh sao trăng;”


    Thượng đế đã cho con người thân thể đẹp như thế, một than thể đẹp để chứa một linh hồn đẹp đó chăng?

    Không!

    Một thân thể đẹp nhưng với những mọt sâu phục kích sẵn trong thân thể (lâu đài) để tàn phá linh hồn. Vì vậy, con người, vì Thượng đế, họ không có linh hồn đẹp mà chỉ có điều rất đáng ngạc nhiên: “Ồ! Thân Thể! Một cái bình tội lỗi.

    - Đẹp, cũng ở thượng đế,

    - Xấu, cũng từ thượng đế và

    - Tội lỗi, cũng từ thượng đế.

    “Hỡi thượng đế !
    Người nhìn xem, người đã cho thân thể
    Bình thịt xương để chứa đựng linh hồn...”
    (Thân Thể)

    “Hỡi thượng đế, người công phu biết mấy!
    - Nhưng mọt sâu nương núp giữa lâu đài”
    (Thân Thể)

    “Ồ thân thể, một cái bình tội lỗi!”

    Trong bốn câu sau đây, sự phản kháng của Huy Cận quyết liệt hơn:

    “Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,
    Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi:
    Thì hẵn Chúa cũng thẹn thùng hối hận,
    Đã sinh ra thân thể của con người.


    Vậy Huy Cận muốn nói gì với Thượng Đế? Ông tâm sự, than oán, trách móc hay muốn chối bỏ Thượng Đế?

    Huy Cận là một người Cộng Sản, vô thần. Dĩ nhiên, ông không tin có Thượng Đế.

    Điều tôi muốn nói ở đây, không phải như thế. Bởi vì những bài thơ nầy ông sáng tác trước 1940, trước khi ông theo Cộng Sản. Ngay lúc ấy, ông đã có tư tưởng chối bỏ Thượng Đế rồi chăng? Từ điểm đó, ông dễ theo Cộng Sản chăng?

    Hay việc chối bỏ Thượng Đế của ông chỉ là một trào lưu chịu ảnh hưởng văn hóa Tây phương thời bấy giờ?

    Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ thứ 20, người Tây phương, vì nhiều lý do khác nhau, họ đặt lại vấn đề hiện hữu và vai trò của Thượng Đế. Có hay không có Thượng Đế và sự phi lý của nó, hay chính sự phi lý của con người hiện hữu trước thân phận của mình?

    Người Tây phương thường tin rằng Thượng Đế đã dựng nên con người, yêu thương con người và muốn ban cho con người sự sống đời đời. Thượng Đế là yêu thương, nhưng chính vì con người bất tuân Thượng Đế, sa ngã, và phạm tội vì nghe lời quỷ dữ nên bị trừng phạt.

    Huy Cận không nghĩ vậy! Dù con người có nghe lời Thượng Đế hay không, thì con người vẫn phải chịu đau khổ, bị đầy đọa trong cõi đời nầy, vẫn bị “đốt trong lửa dữ.” Cái thân thể con người do Thượng Đế ban cho là rất đẹp, là “bàn tay hỏa nở”, là “chồi mạnh búp tơ măng, là “Người cho sao tôi giữ sạch như gương.” Vậy mà, ông muốn đến “Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt, Trái tim đau khô héo thủa trần gian, Tôi sẽ nói: “Này đây là nước mắt: Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan.”

    Thật ra, thế kỷ ánh sáng ở Pháp đã mở ra một chân trời tự do tư tưởng, cùng với sự phát triển của khoa học thực nghiệm, đã sinh ra “chủ nghĩa hoài nghi”, tin nó như Anatole France (3) và sự phê phán đạo Thiên Chúa. Sự độc đoán do giáo hội La Mã bảo hộ, dùng điều gọi là bảo vệ kinh thánh đã đi ngược lại sự tiến bộ của xã hội thời đó. Rõ ràng nhất là cuộc tranh luận về địa (cầu) tròn hay vuông. Kết quả, những người chủ trương địa (cầu) tròn theo tư tưởng của Eratosthenes (4) đều bị trừng phạt vì muốn bảo vệ chân lý. Galileo (5) bị tù cho đến chết, bị buộc không được bàn đến Thuyết Địa Tâm (đất vuông), là một học thuyết sai lầm do giáo hội La Mã chủ trương. Giáo hội có chủ trương thuyết Địa Tâm thì “Dù gì trái đất vẫn quay.”

    Chính sự hủ lậu, độc đoán, đàn áp và nghiêm cấm khắt khe của giáo hội La Mã là nguồn gốc tạo ra sự phản kháng và cách tân đạo Thiên Chúa bằng một cuộc cải cách tôn giáo, - nếu không muốn nói là cách mạng tôn giáo - của ông Luther và Calvin,(6) và cũng là thái độ chống đối kịch liệt của Nietzsche (7) khi ông ta nói rằng “Thượng Đế đã chết”. Không nên dùng hình ảnh của Thượng Đế để mê hoặc, để che đậy những chính sách hủ lậu, lỗi thời, câu thúc, ràng buộc, ngăn chận đà tiến hóa của nhân loại. Ông là người thường viết những bài phê bình về tôn giáo và đạo đức. Tuy nhiên, mãi đến đầu thế kỷ 20, những tư tưởng của ông mới đươc xã hội Tây Âu chấp nhận và ca ngợi. Đến cuối thế kỷ 20 tư tưởng ông có ảnh hưởng đến triết học hiện đại.

    Thái độ của Huy Cận có lẽ tiềm ẩn trong cả hai lĩnh vực vô thần và chống giáo hội La Mã qua hình ảnh và việc làm của những người đại diện cho giáo hội khi đến rao giảng kinh thánh, cùng với bước chân xâm lăng của thực dân Pháp đến cai trị nước ta.

    Sự phản kháng của Huy Cận đối với Thượng Đế là phản kháng trên quan điểm Thượng Đế của người Tây phương chớ không trên quan điểm về Trời, về Tạo Hóa hay Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Việt Nam.

    Vậy thì quan điểm về Tạo Hóa hay Thượng Đế giữa người Âu Tây và người Việt Nam không giống nhau. Quan điểm tôn giáo của người Tây phương đòi hỏi đức tin vào một vị thiên chúa cá thể. Thượng Đế là độc nhứt vô nhị, tất cả đều là ma quỷ và đều phải quì xuống dưới chân ngài.

    Từ ngàn xưa, người Việt Nam không tin vào một thiên chúa cá thể mà tin vào Trời. Trời cũng là Tạo Hóa và cũng là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong quan điểm đó, giữa Trời, Thượng Đế và người không có sự cách biệt xa rời và Trời hay Tạo Hóa không có quyền năng tuyệt đối. Nếu trời có quyền năng tuyệt đối thì không bao giờ có thể “Con cóc là cậu ông Trời” (8) như trong cổ tích của ta. Nếu Trời có quyền năng tuyệt đối thì không bao giờ bà Tây Vương Mẫu có thể là vợ ông trời, và hai chàng Lưu Nguyễn chẳng bao giờ đi lạc vào Thiên Thai.

    Trời, Tạo Hóa, Hóa Công tạo ra tất cả, nhưng với một dân tộc sinh tồn bằng nông nghiệp, thì sự sinh tồn đó là ưu tiên, trên hết, trước hết.

    Nếu ông Trời chỉ huy một đám thần mưa, thần gió, thần nắng, thần giông, thần sét đông đảo như vậy mà không làm tròn cái chức trách tạo ra “mưa thuận gió hòa”, dân chúng được mùa “no cơm ấm áo”, “an cư lạc nghiệp” thì ông Trời hay Tạo Hóa vẫn bị trách cứ như thường. Trời không thể tạo ra sự đau khổ và bất công bởi vì nếu Trời làm sai, sẽ bị người trách oán ngay. “Trời làm chi cực bấy trời” như trong Kiều hay “Trời sao trời ở không cân, Kẻ ăn không hết người mần không ra.” như trong ca dao. Vì vậy, Trời không phải là vị “bất khả kháng” mặc dù có khi không chống lại được, chỉ là bẻ nạng chống trời. Người ta lắm khi bất kính với ông trời nên gọi Trời là Hóa Nhi, là Trẻ tạo dành hanh, là “Lão Tặc Thiên.”

    Những bài thơ nói trên (Thân Thể, Trình Bày, Nhạc Sầu) của Huy Cận chính là quan điểm phản bác tôn giáo của Huy Cận, khi ông ta cầm trái tim mình mà trả lại cho Thượng Đế, và trách oán: (Hỡi Thượng Đế tôi cúi đầu trả lại, Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang). Trong viễn tượng đó, phủ nhận Thượng Đế là phủ nhận tôn giáo.

    Nhưng với đạo Phật thì sao?

    Khi Huy Cận đứng trước tượng các vị La Hán ở chùa Tây Phương thì ông ta suy nghĩ điều gì? Có phải cũng là vấn đề tôn giáo xung khắc với thân phận con người như ông ta đã từng trách oán.

    Không! Không phải ông ta thiên vị hay “bênh” đạo Phật. Ở đây, ông không có quan điểm tôn giáo mà ngược lại, ông đứng trên quan điểm lịch sử dân tộc. Trả lời Hà Minh Đức về bài thơ “Các vị La Hán Chùa Tây Phương”, Huy Cận nói:

    “La Hán là những vị tu gần thành Phật, nhưng tôi thấy đây là những hình ảnh của cha ông và toàn là những hình ảnh đau khổ; tất nhiên không phải tất cả đều đau khổ, nhưng ấn tượng chung là như vậy. Tôi về ghi trong sổ tay mấy câu: “Các vị La Hán chùa Tây Phương, nỗi đau khổ của cha ông” nhưng không làm được bài thơ mặc dầu đã có những ý thơ đó.”

    Ý tưởng về “nỗi đau khổ của cha ông” trong dòng lịch sử dân tộc, xuất hiện trong trí ông năm 1940, khi ông đi thăm chùa Tây Phuơng lần đầu. Và mãi đến:

    “Ngày 28 - 2 – 1960 tôi đi thăm chùa Tây Phương cùng mấy chuyên gia Trung Quốc. Bóng dáng của ông cha ta ít nhiều đã phản ánh được thời đại lúc đó. Các vị La Hán ở Trung Quốc cũng rất đẹp, công phu nhưng “khí thế đằng đằng” khác với các vị La Hán đau khổ, gầy guộc nhưng rất có thần của ta. Buổi tối về tôi viết một mạch 15 đoạn. Đây không phải là tác phẩm bàn luận về Phật Giáo mà chỉ là sự thể hiện một cách cảm nhận và suy nghĩ về quá khứ của lịch sử dân tộc.”

    Chúng ta có thể tự hỏi: cái “Khí thế đằng đằng” là cái chi vậy?

    Có phải đó là cái khí thế của Mã Viện khi đem quân qua “hỏi tội” Hai Bà Trưng sao dám chống lại Thiên Triều, hay cái khí thế của Trương Phụ, Liễu Thăng khi vượt qua ải Nam Quan. Và “các vị La Hán đau khổ, gầy guộc…” chính là nỗi gian khổ của một dân tộc triền miên chống lại kẻ thù từ phương Bắc.

    Cái Huy Cận nói “rất có thần” đó là cái gì? Cái thần ông thấy mà không nói được, hay ông không dám nói chính là bản năng sinh tồn của một dân tộc nhỏ bé, phải luôn luôn chống cự bọn xâm lược từ phương Bắc xuống để giữ nền tự chủ, và phát triển về phương Nam để tìm kiếm sự sinh tồn. Chỉ có vậy, ông mới đem so sánh một cách khéo léo và tế nhị các ông La Hán ở bên Tầu với các La Hán ở chùa Tây Phương của ta.

    Cái định kiến cứng nhắc của người Cộng Sản, kể cả Huy Cận là người ta không thấy được sự đồng nhất giữa đạo Phật vói Dân Tộc khi nhìn vào hình tượng các vị La Hán cũng như văn hóa của người Việt Nam, khiến họ chủ trương phải tiêu diệt nó đi để xây dựng một văn hóa mới, cái gọi là Văn Hóa Xã Hội Chủ nghĩa.

    Tuy nhiên, vấn đề nầy không đơn giản, xin hẹn với độc giả ở một bài khác vậy?!

    ________________________________
    (1) Trần Tử Ngang 651 – 702
    Tự là Bá Ngọc, Người đất Xạ Hồng, Tử Châu (tỉnh Tứ Xuyên. Lần đầu tiên đến Trường An, Tử Ngang không được một ai biết đến. Ông liền bỏ ra một ngàn quan tiền, mua một cây đàn hồ cầm rất quý, rồi mời mọi người đến dự tiệc, nghe nhạc và nói rằng:
    -Tôi là Trần Tử Ngang người đất Thục, có trăm quyển văn, rong ruổi kinh sư, mà đọa vị vẫn tầm thường giữa nơi bụi bậm, không ai biết đến. Nhạc này là của kẻ thợ hèn đâu đáng lưu tâm?
    Nói đoạn ông đập vỡ cây đàn, rồi đem các cuốn văn ra tặng cử tọa. Trong một ngày tiếng tăm vang động kinh thành. Năm 684 (đời Ðường Trung Tông), Tử Ngang thi đậu tiến sĩ. Vũ hậu khen tài, bổ ông làm chức Lan Đài Chính Tự, rồi đổi làm chức Tả Thập Di. Ông thường dâng sớ điều trần về đại kế quốc gia, nhưng không được Vũ Hậu nghe theo. Nhân Vũ Du Nghi phụng mệnh đi đánh Khiết Ðan, ông xin ra làm tham mưu. Du Nghi không nghe kế ông, bị bại trận. Ông bèn lấy cớ cha già, xin từ quan trở về. Viên huyện lệnh tại Xạ Hồng nghe tiếng ông giàu, liền vu tội bắt giam ông. Ít lâu sau, ông chết trong tù.
    Trần Tử Ngang có địa vị rất trọng yếu trên thi đàn thời Sơ Ðường. Ông có công đề xướng việc cải biến tác phong phù mỹ của các đời Tề Lương, và khôi phục phong cách các đời Hán Ngụy. Ảnh hưởng của ông rất lớn đối với thi ca thời Thịnh Ðường cũng như phong trào vận động cổ văn thời Trung Ðường

    (2) Trương Nhược Hư sinh khoảng 660 - mất khoảng 720 ở Dương Châu, nay là huyện Giang Đô, tỉnh Giang Tô; là một nhà thơ thời nhà Đường, Trung Quốc. Ông là tác giả bài Xuân giang hoa nguyệt dạ, một thi phẩm được xếp vào hàng những kiệt tác trong thơ Đường.
    Trương Nhược Hư không thích danh lợi, thường ngao du khắp thiên hạ để tìm bạn thơ. Ông cùng với Hạ Tri Chương, Trương Húc, Bao Dung được người đương thời gọi là “Ngô trung tứ sĩ” (Bốn danh sĩ đất Ngô).
    Trong quyển Thơ Đường, Trần Trọng San cho biết: Ở vào thời sơ Đường, thơ của Ngô trung tứ sĩ không nhiều thì ít đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục Triều, nên được xếp vào phái thơ Ỷ mỹ phái.
    Từ điển văn học (bộ mới) cũng đã nhận xét: Phong cách thơ Trương Nhược Hư trong sáng hoa lệ, giàu chất trữ tình, có vị trí quan trọng trong sự chuyển biến thơ ca từ thời sơ Đường đến thịnh Đường.
    Sáng tác của ông thất lạc gần hết, trong Toàn Đường thi chỉ ghi lại được 2 bài thơ của ông là Đại đáp khuê mộng hoàn (Đáp thay Khuê Mộng Hoàn) và Xuân giang hoa nguyệt dạ (Đêm hoa trăng trên sông xuân).
    Trần Trọng Kim cho biết:
    Đời vua Hậu Chủ nhà Trần ở Nam triều cùng với các nữ học sĩ và các triều thần làm thơ, rồi nhặt những bài thơ đóng thành tập gọi là Xuân giang hoa nguyệt dạ. Trương Nhược Hư lấy cái đề ấy làm bài thơ này, là một bài thơ cổ rất hay.

    (3) Anatole France tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm 1844 – 13 tháng 10 năm 1924 là nhà văn Pháp đoạt giải Nobel Văn học năm 1921, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật, nổi tiếng khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tư tưởng và sáng tác của Anatole France đã có những thay đổi. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”.
    A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, theo chủ nghĩa hoài nghi sau khi trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire. (theo wikipedia)

    (4) Eratosthenes
    Ông sinh ra tại Cyrene (ngày nay thuộc Libya), nhưng làm việc và mất tại Alexandria (Ai Cập) thời kỳ Ptolemy. Ông được nhắc tới vì đã nghĩ ra hệ thống kinh độ và vĩ độ cũng như tính toán ra kích thước của Trái Đất.
    Khoảng năm 255 TCN ông đã phát minh ra hỗn thiên nghi, là thiết bị được sử dụng rộng rãi cho đến khi phát minh mô hình vũ trụ ra đời vào thế kỷ 18.

    (5) Galileo
    Ông là người đầu tiên sử dụng kính thiên văn để quan sát bầu trời sau khi nghe nói về chiếc kính thiên văn mới chế tạo của Hans Lippershey. Năm 1610, Galileo khám phá ra vành đai sao Thổ và cùng năm này trở thành người đầu tiên quan sát thấy 4 mặt trăng lớn của sao Mộc. Ông cũng quan sát các pha của sao Kim, nghiên cứu về vết đen trên Mặt Trời và khám phá ra nhiều hiện tượng quan trọng khác.
    Sau khi thảo luận và xuất bản nhiều khám phá thu được nhờ kính thiên văn, bao gồm bằng chứng về việc Trái Đất quay quanh Mặt Trời (gọi là thuyết Nhật tâm), Galileo bị kết tội dị giáo bởi Giáo hội La Mã vì Giáo hội ủng hộ thuyết Địa tâm. Sau khi bị cấm thảo luận và in sách về lí thuyết “dị giáo”, Galileo đã phản kháng và xuất bản cuốn sách “Đối thoại giữa hai hệ thống thế giới”. Ông bị kết án về tội dị giáo vào năm 1633 và bị quản thúc tại nhà cho đến cuối đời. Ông mất vào năm 1642 tại nhà riêng gần Firenze.
    Galileo nổi tiếng nhất với câu nói “Dù gì thì Trái Đất vẫn quay” sau khi đã bị Giáo hội buộc phải thề không thảo luận về thuyết Địa tâm nữa.

    (6) Luther và Calvin
    Martin Luther (Martin Luder hay Martinus Luther; 10 tháng 11 năm 1483 – 18 tháng 2 năm 1546) là nhà thần học người Đức, tu sĩ Dòng Augustine, và là nhà cải cách tôn giáo.

    John Calvin (10 tháng 7, 1509 - 27 tháng 5, 1564) là nhà thần học hàng đầu trong thời kỳ Cải Cách Kháng Cách (Protestant Reformation), và là nhân tố chính đóng góp cho sự phát triển một hệ thống tư tưởng Cơ Đốc gọi là Thần Học Calvin. Tại Geneva, Calvin lên tiếng bác bỏ thẩm quyền Giáo Hoàng và biến thành phố này thành trung tâm quảng bá thần học cải cách. Chính tư tưởng và các tác phẩm của Calvin đã khiến ông trở thành một nhân vật nổi tiếng

    (7) Friedrich Nietzsche (1844 –1900) là một triết gia người Phổ. Ông bắt đầu sự nghiệp như là một nhà ngữ văn học và viết nhiều bài phê bình về tôn giáo, đạo đức, các vấn đề văn hóa đương thời. Đầu thế kỷ 20, ông đã được giới trí thức ở Đức, Pháp và Anh công nhận. Vào nửa sau của thế kỷ nầy, Nietzsche đã được xem là một nhân vật quan trọng có ảnh hưởng lớn trong triết học hiện đại, ảnh hưởng đến thuyết hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại, phân tâm học và nhiều tư tưởng khác. Nietzsche có một tuyên bố nổi tiếng rằng “Chúa đã chết”, và cái chết này dẫn đến chủ nghĩa quan điểm cấp tiến

    (8) “Con cóc là cậu ông Trời,
    Hễ ai đánh nó thì trời dánh cho.” (Ca Dao)

    Một năm trời làm hạn hán, ở hạ giới nơi nơi đều thiếu nước, người cũng như vật ta thán ông trời.
    Cóc bèn lên thiên đình, kiện ông trời. Đi nửa đường, gặp ong, ong hỏi chuyện. Cóc rủ ong đi kiện trời. Cóc đi theo. Lại gặp gà, ong rũ gà. Gà đi theo. Rồi lại thêm cọp, chó sói và gấu nhập bọn cùng với cóc.
    Đến cửa thiên đình, cóc đánh ba hồi trống. Trời cho lính ra xem thử ai. Lính bảo toàn là loài vật. Trời không cho vào. Cóc bèn phá cửa, cả bọn vào thiên đình. Thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế đang đánh bài cùng các thần, cóc bảo:
    - “Dưới trần đại hạn, ai ai cũng kêu than. Vậy mà trời bình tâm ngồi đánh bài được sao?”
    Trời cho là hỗn láo, giận quá, bèn cho lính ra bắt. Cóc sai ong bay tới đánh lính. Lính nhà trời thua chạy.
    Trời bèn gọi thần sấm ra. Cóc cho gà ra đánh với thần sấm. Gà mới cất tiếng gáy, thần sấm sợ chạy mất.
    Trời cho chó ngao ra. Cóc liền sai chó sói và gấu xông vào xé thịt chó ngao của Trời.
    Cuối cùng, Trời thua, bèn hỏi cóc muốn gì để Trời làm theo.
    Cóc nói:
    - “Hạ giới cần nước, có nước mọi loài mới sống được, người nhà nông mới có nước làm ruộng. Tui chỉ muốn khi nào tôi nghiến răng là hạ giới cần nước thì trời phải làm mưa.”
    Ông Trời giữ lời. Từ đó cho tới bây giờ, khi nào cóc kêu thì trời mưa.

    Trình Bày

    Tôi sẽ đến trước mặt người, Thượng đế
    Để kêu than, khi tôi đã lìa đời
    Khi lá rụng, và hồn tôi đã xế
    Sang bên kia thế giới của loài người

    Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt
    Trái tim đau khô héo thủa trần gian
    Tôi sẽ nói: “Này đây là nước mắt
    Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan

    Người biết đấy, lòng tôi trong trắng lắm
    Người cho sao, tôi giữ vậy như gương
    Mặt trời đẹp, sắc đời đua nở thắm
    Tôi đã đành mang nặng nghiệp yêu thương

    Từng bước lạnh teo, một mình lủi thủi
    Tin ngây thơ: hồn sẽ hiểu qua hồn,
    Tôi đâu biết thịt sương là sông núi
    Chia biệt người ra từng xứ cô đơn

    Cả linh hồn tôi đem cho trọn vẹn
    Vốn nhà nghèo không quen thói bán buôn,
    Đến những kẻ mới vờ duyên hứa hẹn
    Tôi cũng cho trọn vẹn cả linh hồn

    Đầu gối rã, tôi đứng chờ đã mệt
    Tôi trông mong hai mắt tối đen rồi
    Tôi đã khóc những đêm sầu đến chết
    Thủa trần gian, xin thượng đế thương tôi

    Tuổi non dại lòng tôi say mến bạn
    Khi thanh xuân, tôi mỏi chạy theo tình
    Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán
    Lòng lạc loài ngay từ thủa sơ sinh

    Lòng tôi đây, trọn một đời thương nhớ
    Hồn tôi đây, thiên hạ bỏ đìu hiu
    Người nhìn xem, chân tôi muôn dấu rỗ
    Thủng gai đời, đây tay với tình yêu

    Hỡi Thượng đế! Tôi cúi đầu trả lại
    Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang
    Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái
    Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đường"

    Rồi tôi khóc, và đầu tôi ngã gục
    Mắt tôi mờ, và tay của tôi xuôi
    Không biết nữa, thiên đường hay địa ngục,
    - Quên, quên, quên đã mang trái tim người!


    Nhạc Sầu

    Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!
    Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường
    Phố đìu hiu màu khói cũ lên sương
    Sương hay chính bụi tàn phai lả tả
    Từng tiếng lệ: Ấy mộng sầu úa lá
    Chim vui đâu cây đã gãy vài cành
    Ôi chiều buồn! Sao nắng quá mong manh
    Môi tái nhạt nào mà cười héo vậy?

    Ai chết đó? trục xoay và bánh đẩy
    Xe tang đi về tận thế giới nào?
    Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao
    Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó
    Thê lưng vậy mà ai đành lìa bỏ
    Trần gian sao? Đây thành phố đang quen
    Nhưng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền
    Đường sá lạ thôi lạnh lùng biết mấy!

    Và ngựa ơi, đi nhịp đằm chớ nhảy
    Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời
    Ai đi đưa, xin đưa tận cuối trời
    Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi

    Người đã chết- Một vài ba đầu cúi
    Dăm bảy lòng thương xót đến bên mồ
    Để cho hồn khi sắp xuống hư vô
    Còn được thấy trên mặt người ấm áp
    Hình dáng cuộc đời từ nay xa tắp

    Xe tang đi, xin đường chớ gập ghềnh
    Không gian ơi, xin hẹp bớt mông mêng
    Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt !
    Và ngươi nữa, tiếng gió buồn thê thiết
    Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn
    Hàng cờ đen là bóng quạ chập chờn
    Báo tin xấu, dẫu hồn người đã xế...

    Ai chết đó? nhạc buồn chi lắm thế!
    Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương
    Của cuộc đời ?ai rút tự trong xương
    Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quẽ!
    Sầu chi lắm! trời ơi chiều tận thế!
    Thân Thể
    Hỡi Thượng Đế!
    Người nhìn xem, Người đã cho thân thể,
    Bình thịt xương để đựng chứa linh hồn.

    Người đã cho những bàn tay hoa nở,
    Những cây chân, chồi mạnh búp tơ măng;
    Người thu góp gió mây trong miệng thở,
    Nơi mắt ngời, Người gửi ánh sao trăng;

    Mắt nâu sáng thắp đèn soi vũ trụ,
    Và tai rền thu cất nhạc không gian;
    Và tơ tóc ướp vạn mùa hương ủ,
    Và ngực vang âm điệu nhịp hoàn toàn

    Và cổ đứng như mình cây vững chãi,
    Và vai ngang như mặt nước xuôi dài:
    Hỡi Thượng Đế, Người công phu biết mấy!
    - Nhưng mọt sâu nương núp giữa lâu đài.

    Nghìn yếu đuối theo sau nghìn yếu đuối,
    Bước ngày mai sẽ chồng dấu hôm nay.
    A! thân thể! một cái bình tội lỗi!
    Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy.

    Xương với máu có bao giờ mỏi mệt,
    Miệng bao giờ buông nhả vú chua cay!
    Thân không chán đau, ngực sầu thở chết,
    Tay bồng thân, và tay nữa ôm mồ.

    Xin thương lấy những mầm khô, trứng dập;
    Những thân teo, xin Thượng Đế dung thương!
    Thân quá nặng nên hồn sa xuống thấp,
    Chớ giận chi những kẻ mất thiên đường!

    Nếu Chúa biết bao nhiêu lòng hốt hoảng,
    Trong sầu đen đã gẫy cánh như dơi;
    Nếu Chúa biết bao nhiêu giòng lệ đắng,
    Chảy như sông, không rửa sạch sầu đời;

    Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,
    Vì đã nâng bình lửa ấp lên môi:
    Thì hẳn Chúa cũng thẹn thùng hối hận,
    Đã sinh ra thân thể của con người.


    Huy Cận

    Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Dương Sơn, Hà Tĩnh. Huy Cận đi học (tú tài, Cao Đẳng Nông Lâm…) và hoạt động văn học, là một cán bộ cao cấp của Cộng Sản từ trước 1945.

    Tháng 8 năm 1945, ông cùng Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, đại diện cho Việt Minh đến Huế để nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại. Trở về nơi ông từng học hành, không rõ ông nghĩ gì, riêng Trần Huy Liệu có được cô vợ mới từng là hoa khôi trường Đồng Khánh, lúc đó là vợ của Phạm Giao, con Phạm Quỳnh. Phạm Giao vừa bị mất mạng, vừa mất vợ.