Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Mấy chục năm rồi anh
    Đời đã chia hai nhánh
    Mình cách nhau vời vợi cả cuộc đời
    Không có anh cùng đi về
    Không có anh chung gánh nhọc nhằn đời sống
    Mình lạc mất nhau gần hết cả một đời.

    Những tờ thư xưa mực nhoè giấy nát
    Bài thơ thuở nào đã đánh mất từ lâu
    Kỷ niệm cũ chập chùng ảo ảnh
    Tháng ngày xưa tưởng cũng hoá chiêm bao...

    Sao vẫn đó niềm đau chia biệt
    Sao vẫn dịu êm trong mắt anh nhìn
    Vẫn đắng chát nụ hôn
    Vẫn vợi trùng nỗi nhớ
    Vẫn như ngày nào da diết luyến thương nhau.

    Mấy chục năm em tưởng mình hoá đá
    Tim giá băng không lỗi nhịp một lần
    Cười cợt dối gian yêu đương giả trá
    Mặc tháng năm hờ hững lạnh lùng trôi,

    Vẫn tưởng đã quen, vẫn tưởng đã quên
    Sao vẫn bồi hồi vẫn ngập ngừng bối rối
    Trái đất tưởng ngừng quay
    Mặt trời thôi tỏa sáng
    Cầm tay nhau mà cứ ngỡ trong mơ!

    Thêm một lần lại một lần ly biệt
    Đau một đời mà vẫn chẳng nguôi quên
    Thêm một lần lại một lần tiếc nuối
    Năm tháng xưa giấc mộng dở dang dài.

    Tình một thời ngỡ mịt mùng tro bụi
    Vẫn vẹn nguyên như buổi mới yêu đầu
    Quá khứ ngủ quên chừng vùi sâu đáy mộ
    Vẫn tươi nguyên màu thắm nụ hồng xưa.

    Tóc bạc thời gian, mắt mờ năm tháng
    Mà cõi tình vẫn thăm thẳm mênh mông
    Mới hay biết suốt đời mình không lớn
    Lạc loài hoài trong ảo ảnh hư không.

    Mấy chục năm rồi thêm mấy chục năm
    Thôi đành thôi còn chi mà thay đổi
    Đành phải yêu như vẫn yêu mải miết
    Dẫu cách xa nhau đã sắp hết một đời!!
  2. Ngày xưa yêu nhau
    Em đâu biết có hoa hồng màu tím
    Ngỡ muôn đời
    Là đóa hồng đỏ thắm giữa tim anh
    Tình một thời cứ ngỡ mãi tươi xanh
    Đâu hay biết đến một lúc tình dần tàn, héo úa!!

    Năm tháng qua nhanh, chỉ tình xưa còn chậm
    Miệt mài hoài không theo kịp thời gian.
    Em bạc tóc vẫn ngu ngơ mười sáu
    Tim vẫn đau như thuở mới yêu đầu.

    Bàn tay anh vẫn là bàn tay ấm
    Mắt níu nhìn vẫn chết lịm hồn nhau
    Vòng tay quen dẫu dãi dầm dâu bể
    Hết một đời vẫn tưởng mới hôm qua!

    Giữ trong tim mãi bông hồng màu tím
    Tình ngàn năm vẫn chẳng nhạt phai màu
    Dẫu mãi mãi chia lìa đời hai nhánh
    Vẫn tím hoài màu tím ngát yêu đương.
  3. Ba tôi mất đã mười ba năm. Ông thôi không còn trôi dạt cùng tôi thêm mấy lần dời chuyển, mà vào trú ẩn trong căn phòng lúc nào cũng ngào ngạt mùi hương trầm và ngày ngày nghe tiếng chuông chùa lẫn tiếng kệ kinh sớm tối. Những lần vào thăm Ông, dù là một Phật tử tin vào luật nhân quả, duyên nghiệp ở đời, tôi vẫn không thể không trĩu nặng lòng một câu hỏi, thật ra thì giờ này Ông đang ở đâu, làm gì. Và cái thế giới siêu hình mà Ông đang sống (?) đó, có giúp Ông quên hết những người thân đã một thời kề cận bên Ông?

    Tôi đã kịp làm điều gì để đền đáp phần nào công lao nuối dưỡng của Ông đâu! Thời trẻ tuổi bận quay cuồng yêu đương, nhọc nhằn cơm áo, cả sự háo thắng tranh đua với cuộc đời, nỗi bon chen giành giật hàng ngày trong đời sống ... tôi nhớ gì đến bóng mát cổ thụ là Ba lúc nào cũng toả tàng che mát bên mình, âm thầm nâng giấc. Khi tôi bán hàng ngoài chợ, hai đứa con ở nhà thay nhau dọn dẹp, nấu ăn. Nhưng tôi biết, chỉ cần tôi ra khỏi cửa, Ông đã tranh phần làm thay cho chúng vì thương cháu còn đang tuổi ăn tuổi chơi, Ông dặn hai đứa nhỏ canh giờ tôi về để chỉnh tề có mặt ở nhà, món tiền sáng ít ỏi tôi trao cho Ông trở thành món đồ chơi cho con bé gái, cuốn truyện đọc của đứa cháu trai, buổi chiều nấu cơm Ông hay nấu nhiều một chút để sáng hôm sau chiên cơm và tấm tắc khen chỉ có cơm rang ở nhà ăn mới chắc dạ và ngon hơn hết thảy. Người mà ngày xưa thường dẫn tôi đi ăn sáng la cà từ hàng cơm tấm Hồ Văn Ngà tới quán cà phê chợ cũ, từ hàng Phở Tàu Bay nổi tiếng tới tiệm bánh cuốn Tây Hồ Tân Định, mua cho tôi bánh Patechaud ở trước Bưu Điện Sài Gòn còn yaourt thì phải là của Grival. Hoặc bánh lá của Chợ Lớn có lạp xưởng, hạt sen, tôm khô, xá xíu và một phần tư cái hột vịt muối tươm màu vàng cam trong lòng nếp dẻo mượt thơm thoảng mùi ngũ vị hương... Người một thời làm tan nát trái tim Má tôi bởi những mối tình không sao nhớ hết, làm thổn thức và gieo bao mối hận lòng cho những người đàn bà từng giai đoạn của Ông qua hình ảnh một chàng lảng tử hào hoa trong bộ quần áo trắng tinh xách túi vợt tennis đi đánh mỗi chiều thứ Bảy Chủ Nhật hàng tuần; giờ là một ông già tóc bạc trắng như cước, bưng tô cơm chiên ngồi trệu trạo trước hiên nhà!

    Lớn thêm vài chục năm, tôi phải trả nợ con cái, loay hoay vùng vẫy trong mớ bòng bong mà con cái tạo nên cũng bởi sự giáo huấn kém cỏi của mình. Tôi xông vào nơi này, lao tới chỗ kia, té ngã, đứng lên, rồi trượt chân dập tay, bể đầu sứt trán không biết bao nhiêu phen, nên còn mải mê quay cuồng với chính mình, nào đâu còn tâm trí lo nghĩ tới Ông! Tôi quên mất Ông cũng đang đau không kém nếu không nói là còn hơn cả nổi đau của tôi khi nhìn thấy con cháu mình bất hạnh mà không thể làm gì để giúp, để đỡ đần. Tôi quên mất ngoài cái vai trò dư thừa là một người già bất lực trước mọi hoàn cảnh của gia đình, Ông mãi mãi còn là một người Cha, mới đây thôi, tôi đã coi như thần tượng bởi khi nũng nịu trong vòng tay Ông tôi đã muốn gì được nấy!

    Khi nhận ra được mọi điều, thì Ông đã vĩnh viễn không còn bên tôi nữa! Đã mười ba năm không có Ông cho tôi cằn nhắn, trêu đùa, cả giận hờn bực dọc. Mỗi khi nhớ tới Ông, là nhớ tới biết bao điểu lỗi lầm tôi đã có với Ông.

    Con thật là bất hiếu, Ba ơi! Con chưa một ngày nào tha thứ cho mình vì đã không lo lắng cho Ba toàn vẹn. Cuộc sống với quá nhiều vất vả chỉ là cái cớ để biện hộ cho tất cả những thờ ơ xao lảng con đã có, với Ba. Bao giờ con cũng xếp Ba vào vị trí sau cùng, khi đã lo toan xong cho các con của con, con cố tình quên mất thời gian của Ba không còn lâu nữa, những ngày tháng của Ba ở gần chúng con đã sắp cạn, sắp hết, cố tình bỏ mặc Ba một mình loay hoay trong sự cô đơn trống vắng của tuổi già, con nghĩ chỉ lo ăn, lo mặc, lo thuốc thang cho ba hàng ngày là quá đủ. Con tự an ủi mình như thế là đã làm tròn bổn phận, mình còn thiếu thốn đủ điều, đâu còn sức lực tâm trí để nghĩ ngợi thêm nhiều. Tới bây giờ, khi tuổi không còn trẻ nữa, con mới hiểu con đã nghĩ ngợi như một đứa vô lương tâm, một đứa bất hiếu, mà làm sao con còn có thể chửa chuộc được lỗi lầm đây, vì Ba đã mất rồi! Con cũng có những đêm mất ngủ, như Ba ngày xưa, khi con nghe Ba trở mình hoặc húng hắng ho, hoặc lẹp xẹp lê dép xuống nhà kiếm nước uống. Con mới biết, cũng như con bây giờ, Ba đã nghĩ ngợi và ưu phiền những gì, cô đơn và nuối tiếc biết dường nào những chuyện đã qua. Cũng như Ba, con mong mỏi được nhìn thấy con của con hạnh phúc, đau buồn hơn những đau buồn của chúng, khi chúng vui, mình như được bay lượn trên chín tầng trời.

    Con tin là Ba sẽ không còn giận hờn buồn trách gì con, dẫu con mãi mãi vẫn chỉ là một đứa con bất hiếu. Vì nếu quả thật có một đời sống khác dành cho mỗi người sau khi đã trả hết nợ duyên của kiếp này, con chắc Ba đã đi tới một đời sống khác an lành tự tại và hạnh phúc hơn rất nhiều. Ba đã sống hết lòng, yêu thương hết mực, mà nếu có những lầm lỗi gì trong cuộc sống này, hẳn là Ba đã trả đủ khi sống chung cùng với gia đình con. Ba đã bao dung tha thứ cho tất cả nhưng tôi lỗi con đã gieo nên, luôn an ủi và sẻ chia mọi đau khổ con đã mang, và lặng lẽ ở cạnh gánh bớt cho con biết bao khó nhọc. Ba ơi! Không chỉ trong một ngày ít ỏi này trong năm dành cho ngày Từ Phụ, lúc nào con cũng nhớ và hết lòng yêu kính Ba bằng tất cả trái tim mình.

    Xin cho tất cả những người con nào may mắn còn Cha, có Cha trong đời sống hãy luôn biết yêu thương và trân trọng tài sản quý báu mà Tạo Hoá đã ban cho mình, đừng để như con, chỉ khi mất Ba rồi mới nhận ra mình bất hạnh!
  4. Sợi tóc phai theo ngày sắp hết,
    Năm sắp tàn, kỷ niệm nhạt nhoà theo.
    Ai lạc mất ai giữa giòng đời giông bão.
    Ngậm ngùi trông một ánh mắt xa vời.

    Áo phai theo chút tình tro bụi,
    Hoa nào khô trong ký ức buồn thiu.
    Ta thảng thốt mở lòng tay trơ trọi.
    Chút tình xưa phai mất tự bao giờ!
  5. Những tờ lịch đang vơi dần, ngày như ngắn hơn bởi những hối hả tấp nập trên đường phố. Nắng sao mà vàng, buổi sáng có gió hây hây, ban đêm tiết trời se lạnh như chút hơi Đông còn sót lại, chần chừ níu kéo ngày cuối cùng đã sắp vụt qua.

    Tôi thấy giòng người trôi đi trên đường trong những sắc màu rực rỡ của mùa Xuân, những bến xe chật kín người với nào là thùng, hộp, va ly to nhỏ... những người hì hục kéo, vác, đẩy, khiêng, lôi từng lô hành lý của mình, bơ phờ mệt mỏi nhưng mắt sáng và miệng cười thật tươi khi ríu rít trò chuyện về nơi chốn quê nhà mình sắp trở về sau một năm dài bôn ba lặn lội mưu sinh. Cho dù là giọng Trung, giọng Bắc hay giọng Nam, những con người tha phương ấy vẫn có chung một nỗi háo hức say sưa được gom góp chút kết quả làm lụng cực nhọc, có khi là tủi nhục nữa, để mang về gia đình chút quà mùa Xuân, để được ăn cùng nhau một bữa cơm tươm tất sau khi cúng kiếng Ông Bà, có những ngày thảnh thơi ngắn ngủi được sum họp cùng một mái nhà, để chúc nhau những lời tốt đẹp chân thành nhất với ước mơ một năm mới tràn đầy may mắn và hạnh phúc, quên đi những giọt mồ hôi và cả những giòng nước mắt cay đắng đã giấu ngược trong lòng những ngày tháng bôn ba năm cũ...

    Có khác gì đâu, những người thân, bạn bè tôi vẫn hàng năm gom góp trở về với hàng đống va ly, thùng, gói, mệt nhoài sau một chuyến bay xa cả nửa vòng trái đất để mang chút ấm áp đủ đầy cho gia đình những ngày tết cổ truyền, bên ly rượu mừng như có chút cay nồng của những giọt lệ ậm thầm dấu sau nụ cười sum họp.

    Xứ người xa lắc với những ngày tuyết phủ lạnh buốt và bao nhiêu khác biệt về ngôn ngữ, cách sống, tình dân tộc, quê hương... nghĩ tới sao mà thấy bùi ngùi!

    Mùa Xuân gọi én bay về tổ. Hoa lá cỏ cây đang thay chồi non, nẩy lộc mới mừng Xuân.

    Xin gởi về bạn bè tôi, những người đang dạt trôi xa tít mà lòng không bao giờ thôi khắc khoải nhớ thương quê hương nhỏ bé nghèo nàn và lầm than này, một chút nắng, một chút mây, một chút ngậm ngùi và thật nhiều thương nhớ.

    Một năm mới nắt đầu bằng mùa Xuận. Một năm mới bắt đầu bằng chờ mong.

    Nâng chén rượu đào, bạn ơi, ta hãy cùng nhau hy vọng!
  6. Mùa Thu năm nay tôi lạc mất nhiều bạn bè! Có người mới chia tay nhau vào buổi chiều, sau khi cùng ngồi ngắm nhìn phố xá chìm trong mưa với thật nhiều hoài niệm về một thời quá vãng, hẹn nhau một chiều nào trời quang mây tạnh sẽ lại cùng theo nhau xuống phố, sáng mai thức dậy nghe tiếng chuông đổ dồn và những lời nức nở: N. mất rồi, mới mờ sáng này, biết chưa?! Lại có lần, nửa đêm chuông điện thoại nhà lanh lảnh réo giật thót con tim: V. ơi, A đi rồi, sáng mai tới nhà liền nha! Cũng có người lâu lâu không gặp, một lần nhắc tới, mới hay đã lặng lẽ bỏ lại sau lưng mọi chuyện muộn phiền đi về nơi xa lắc...

    Buổi chiều đang không thì cúp điện, cái nhà nóng và tối như trong một cái hang. Tôi đưa thằng cháu nội đi ăn gà KFC, vừa để tránh cái nóng ngột ngạt và ánh sáng tù mù của ngọn đèn sạc Pin để bàn. VA còn mở cửa, dặn tôi mua bánh mì thịt, vậy mà một tiếng rưởi sau, về nhà thì đã thấy A nằm bất động trên nền gạch, đưa vào bệnh viện chỉ 1 giờ sau là mất! Bây giờ, những ngày cuối tuần tôi đến thăm A tại nhà mồ của Dòng Chúa Cứu Thế, trên nắp cái hộp đá trắng lạnh lẽo hình chữ nhật nằm gọn trong một hộc nhỏ xây trên tường, đôi mắt ngơ ngác của A như một câu hỏi không bao giờ có được lời đáp cho một hành trình nặng nề của một đời người, để lại trong lòng tôi thật nhiều ray rứt.

    Mới hay sự mong manh của đời sống là vô cùng! Mà mình đã bỏ qua thật nhiều những khoảnh khắc quý giá để có thể đem đến cho người chung quanh những ngọt ngào ấm áp mà do vô tình đã bỏ vuột mất qua, không cách chi tìm lại! Và những hờn giận ganh ghét đã có, thật ra chẳng cần phải để ám ảnh lâu lắc đến thế trong đời sống đã quá nhiều rắc rối đen tối này.

    Hãy để mỗi ngày thức dậy là một lần tạ ơn cuộc sống, với thât nhiều hương hoa, nếu không có thì xin được bằng lòng với mùi cỏ ướt sương và những nụ hoa dại ven đường.

    Rồi mai, một lúc nào, lại là mình chạm tới cõi mong manh!
  7. Hết chiến tranh từ khuya rồi, hoà bình từ hồi nẳm rồi, vậy mà vẫn chưa được yên, bạn ơi!

    Dẫu không bị tên bay đạn lạc như xưa, nhưng ngày nay bước ra đường, nào khác gì xông pha ra chiến trường thuở trước!!!

    Này nhé, giữa muôn trùng xe gắn máy thi nhau chạy vòng vèo (ở đây người ta gọi là đánh võng) leo lề, phóng như tên khi đèn xanh, vuợt đèn đỏ bỏ đèn vàng khi tới các ngã tư, còn có các xe vua, nghĩa là xe buýt thay nhau ép mọi người dạt vào đâu thì dạt khi ghé trạm, rồi quay đầu ép tiếp lớp xe phía ngoài lúc rời trạm đón, xe to lớn chở mấy chục người mà cứ như lân múa khi thấy pháo, hết quay ngoắt bên này lại lượn vèo qua tới tận bên kia. Còn quý ngài xe vận tải (bên này người ta kêu cụt ngủn là xe tải) thì ỷ vào cái hình vóc to lớn kềnh càng đáng nể của mình, nên lưu thông trên đường rất ư là ngang nhiên tự tại: Cứ làn đường nào rộng rãi là ngài chạy, ai thích lởn vởn so tài trước hàng bánh khổng lồ và đầu xe vĩ đại thì cứ việc, lâu lâu có lẽ thấy thiên hạ vẫn ung dung chạy tỉnh bơ bên cạnh mà quên mất sự có mặt của các ngài, bèn bóp kèn toe một phát như sấm động, người yếu bóng vía thì giật mình nhảy nhỏm, kẻ gan lỳ nhất cũng phải nhức óc đinh tai. Mấy ngày trước đây dân trên mạng ảo ở VN chuyền tay nhau coi cái Clip công an bị xe tải cán đứt ngang người bày cả ruột gan, chân nát be bét máu me tùm lum mà vẫn nói chuyện được, sợ xanh cả mắt, nhìn thấy hung thần xe tải là tay chân bủn rủn, tim đập thình thịch liên hồi.

    Trời nắng ráo nào có yên thân. Khi mà chạy xe ngang qua những toà nhà cao ngất nghểu đang xây dựng, cái cần cẩu to lớn vươn hẳn ra tới giữa đường câu lên trời lủng lẳng đong đưa hàng mấy chục bao xi măng hay cả tấn sắt thép nhọn lểu, chưa biết sẽ có lúc nào đứt giây sút cáp mà lao thẳng xuống người đi bên dưới. Báo đăng hà rầm, nay cái cần cẩu này bị oằn đè người đi qua, mai thanh sắt dài cả 2 thước tây rơi từ độ cao của chục tầng lầu phóng thẳng xuống người đi lại. Bởi vậy chạy dưới đất mà một mắt cứ nơm nớp liếc trên trời, tai nạn tránh sao cho khỏi!

    Đang đi trên đường mà trời chuyển mưa thì thật là rùng rợn! Tai hoạ sẽ giáng xuống đầu mình bất cứ lúc nào, nhẹ thì một vài nhánh cây khô rụng lả tả khi gió lớn, nặng thì nguyên một cành cây bự chảng lá sum suê xáng xuống cái ầm như trời giáng (que sera sera!!) Mà mưa xuống thì càng thê thảm hơn! Dây điện mắc như thiên la địa võng trên trời quấn nùi vào nhau như mạng nhện đu đưa, vì lý do nào đó bỗng đứt ngang rơi xuống thì... Bà hú! Đã mấy vụ đăng báo rồi đó thôi, người bị điện giật chết nhăn răng mà rờ le cúp điện không nhảy, Bóng đổ Thầy, Thầy đổ Bóng, ai chết cứ chết, thiệt ai nấy chịu!!!

    Trời mưa thì sao? Nước mưa ngập tràn lan bất cứ đuờng nào, dù là ở giữa trung tâm quận 1 hay tít Bình Chánh Phú Lâm, cứ như ông Trời chan đều cho mỗi nơi một phần, không có lại nơi này ganh tỵ với nơi khác thì mất công phân xử! Mà những cái hố ga mất nắp, những cái cống đào lên rồi để đó trơ gan cùng tuế nguyệt luôn là cái bẫy để người và xe có thể lọt tỏm vào đó, nhẹ thì u đầu sứt trán, nặng thì xe gãy cổ người bể đầu, mất mạng cũng không chừng.

    Vậy thì ta cứ ở trong nhà, vậy là an toàn phải không bạn? Hổng dám đâu! Nhà tôi thì không, nhưng nhà bạn tôi thì cứ trời mưa xuống là cả nhà ngập trong nước y như sống giữa biển. Đồ đạc ngập trong nước đã đành, do ổ cắm điện làm chìm trong chân tường, sợ bị chạm điện nên phải ngắt cầu dao điện làm cả nhà sống trong bóng tối của đèn sạc, mà kinh khủng nhất là khi cần sử dụng toilet, nước ngập tràn lên tất cả, lỡ ngày hôm đó mà bị chột bụng bất tử thì.....!!!

    Còn nữa, do nhà cửa bên này tự xây tự cất, nên không có gì là ngạc nhiên nếu một lúc nào đó tự nhiên đang ăn cơm bỗng vách tường nhà bên cạnh sập xuống cái ầm bụi cát bay tán loạn, hay trần nhà bỗng đổ xuống cái rầm như trời long đất lở, may mắn thì người thoát nạn đồ đạc tiêu tùng, xui thì... ý trời định sao đành chịu vậy!

    Chỗ tôi ở hơi xa trung tâm thành phố, nên dẫu có vui bạn vui bè tới đâu, cũng chỉ 9 giờ tối là tôi phải khăn gói quay về nếu không muốn vừa chạy xe vừa nơm nớp lo sợ khi nhìn thấy những chiếc xe gắn máy với những thanh niên mặt mũi bặm trợn phóng ào ào qua mặt hay lượn lờ đeo bám phía sau, rất có thể khi tới một đoạn đường vắng nào đó chúng sẽ ép xe mình vào lề, nhẹ thì đẩy mình xuống để cướp xe, nặng tay hơn thì... lụi cho mấy nhát chí tử nếu mình dám chống cự hay có khi là vì mình sợ quá mà phát la làng bất tử!

    Bệnh vô nhà thương mà không có tiền, thì thà là ở nhà chờ chết còn mát mẻ hơn, bạn ơi! Nói sao đây, khi từ người nhân viên đẩy xe băng ca cho tới bà lao công thay drap giường, lau chùi nhà tắm đều phải lót tay vài chục ngàn đồng để mua lấy cái nét mặt không cau có và có khi may mắn thì vài nụ cười thân thiện, nói gì tới ông hay bà bác sỹ sắp chữa trị cho mình, chỉ với nét mặt nghiêm trang và khó khăn của họ cũng đủ để mình phải chìa ra vài cái phong bì dầy cộm để được nghe họ hứa hẹn vài lời an ủi bệnh tình mình.

    Chết cũng chưa yên đâu, đừng vội mừng! nếu chết ở nhà, bạn phải có sự làm chứng của 2 người hàng xóm, cộng với xác nhận của Tổ trưởng dân phố, và cuối cùng là ý kiến xác nhận của ban Điều hành khu phố , có khi là người mà cả đời chưa từng biết mặt bạn dài ngắn tròn méo ra sao, không biết lấy gì để xác nhận đúng sai, ngoài việc nhận biết được màu sắc của mấy tờ tiền bỏ trong phong bì kính gởi kèm theo khi đưa đơn xin chứng giúp!

    Chết trong bệnh viện thì nhiêu khê hơn, phải làm đơn có bác sĩ xác nhận dù người nhà chết thẳng cẳng vẫn phải ghi rõ là hấp hối xin về nếu không muốn xác bị đem xuống nằm mấy ngày lạnh lẽo trong nhà xác, còn bị mổ tới mổ lui nghiên cứu tìm tòi nguyên nhân chết rồi mới được liệm vô quan tài chở về. Dù đã trả tiền cho nhà đòn theo kiểu thuận mua vừa bán, vẫn phải lót tay họ khi tẩn liệm, khi động quan, nếu không muốn cái quan tài có xác người thân lắc lư như say sóng hay nhảy tới nhảy lui như đang khiêu vũ Cha cha cha. Muốn vô lò thiêu sớm để buổi chiều còn kịp giờ cầu lễ lại phải lót tay cho lò thiêu, vô chùa hay nhà mồ của nhà thờ cũng phải lót tay cho người giữ nhà hài cốt để được nằm ở chỗ dễ tìm dễ thấy, lâu lâu đi thăm lại phải cho ít tiền để họ khỏi mang bộ mặt lạnh lẽo như tạc bằng đá cục. Còn nếu chôn ở nghĩa địa, bạn phải để cho đám phu phen ở đó lãnh phần xây mộ với giá cắt cổ mà không được than van, bởi nếu không làm cho họ vừa ý, chỉ vài ngày là ngôi mộ sẽ bị đập phá tơi bời. Không lẽ cứ cắt người canh giữ ngày đêm? Đã vậy, cứ đến ngày thanh minh tảo mộ hay cuối năm sắp tết, họ tự ý dọn cỏ sơn phết lại rồi khi mình lên thăm thì đi theo thu tiền, đố bạn dám từ chối không chịu trả.

    Xem ra, sống như vậy thì có gì vui đâu, bạn thấy không? Triền miên sợ hãi, tràn ngập nỗi âu lo.

    (Nghe đồn rằng) ngày trước, trong thời chiến tranh ở Việt Nam, những người lính Mỹ đã cho khắc lên trên nắp hộp quẹt zippo của họ câu (đại loại) như sau:

    Khi tôi chết tôi sẽ lên thẳng trên Thiên Đường, bởi vì hiện nay tôi đang sống trong địa ngục!

    Ông Tưởng Năng Tiến ơi! Tôi xin bắt chước Ông mà thốt rằng: Nghe cảm thán cách gì, ông ạ!
  8. Hồi xưa, khoảng mấy chục năm về trước, quyển sách mỏng khổ nhỏ in hình nụ hoa hồng đỏ thắm ngoài bìa, với cách viết giản dị, nhẹ nhàng đã từng được tôi trân trọng xem như một trong những quyển sách gối đầu giường của mình, bởi cái hình ảnh Bông Hồng Cài Áo để hãnh diện khoe với mọi người mình còn có Mẹ thật là đẹp và ấm lòng. Dẫu chưa từng dám thú nhận (bởi hồi đó coi kịch hay coi cải lương mà khóc là bị chê "sến") nhưng có một vở kịch mang tên ấy của ban Kim Cương với vai người mẹ nghèo khổ và câu than của bà: Hồi nhỏ mẹ cho con có một cục kẹo mà con quấn quýt theo mẹ suốt cả ngày, bây giờ mẹ mang cho con cả một cuộc đời mẹ mà sao con chẳng thèm đoái hoài gì vậy! đã lấy của tôi không biết bao nhiêu là nước mắt.

    Không biết tự bao giờ, và ai là người đã khởi xướng cho việc mỗi mùa Vu Lan khi tới viếng chùa vào ngày Rằm tháng 7, lễ Xá Tội Vong Nhân, mỗi khách thập phương lại được nhà chùa cài lên áo một bông hồng bằng vải để tưởng nhớ tới công đức của bậc sinh thành, hoa hồng đỏ dành cho những ai còn Mẹ, người mất Mẹ thì ngậm ngùi khi cài lên áo một bông hồng trắng. Dẫu thương nhớ Mẹ thì không chỉ một mùa tháng 7 Âm Lịch, nhưng vào mùa lễ ấy, tự dưng lòng thấy bùi ngùi xót xa hơn bởi nỗi mất mát dường như rõ ràng và đậm đà hơn hẳn.

    Từ ấy, đã bao mùa Vu Lan tôi tới chùa để nhận một bông hồng trắng, thầm tủi cho mình và nhìn người khác được giữ niềm vui.

    Nhưng đã mấy năm nay, dẫu mùa Vu Lan tôi vẫn về chùa để thắp nhang cầu nguyện cho Mẹ, vẫn quỳ đọc kinh Vu Lan Bồn và dâng cúng cầu siêu theo thể thức nhưng đã không còn để cho nhà chùa cài lên ngực áo một bông hồng trắng (ngày nay ở VN người ta bày ra lắm cách, nếu còn đủ Cha Mẹ ở đời thì cài bông hồng đỏ, mất Cha hoặc mất Mẹ thì cài bông hoa màu hồng, mồ côi mới cài hoa hồng màu trắng)

    Chuyện lùm xùm rất không hay ho về đời tư của Thiền Sư (?!) Nhất Hạnh, tác giả cuốn Bông Hồng Cài Áo là một lý do để tôi phải coi lại lòng yêu mến quyển sách thuở xưa (lâu lắm rồi tôi chẳng còn sách gối đầu giường, có chăng chỉ toàn chuyện nhọc nhằn cơm áo, mệt mỏi tính toan đè đầu cỡi cổ hằng đêm!) Lý do nặng ký nhất, rõ ràng nhất, là cái lần ông ta - vâng, với tôi, thì gọi bằng sư ông là tặng cho ông ta cái vinh hạnh quý báu mà ông ta không xứng để có - ông Nhất Hạnh cùng với bầu đoàn thê (chứ không có tử) tăng của ông vinh quy bái đảng về Việt Nam để mở trai đàn chẩn tế nơi chùa Vĩnh Nghiêm ở miền Nam (còn miền Bắc là chùa nào thì tôi không biết) để cầu siêu cho những nạn nhân chết đói năm Ất Dậu 1945, là năm mà đảng của ông ta cướp chính quyền, phá kho thóc .v.v và .v.v.

    Tôi có một cái bệnh (hay tật?) đã không thích không ưa cái gì, thì tuyệt đối tôi không bao giờ để mắt để ý tới. Thế nhưng cái vụ cầu siêu lập đàn này nó rầm rộ quá, nó phô trương và quái đản quá, nên dẫu không muốn, không thích, và không thèm biết, tôi bẫn bị, vẫn phải, và vẫn nghe như thường!

    Có gì đâu, vào cái ngày mà người cùng gánh hát của người mở đàn, tôi có việc phải đi ngang qua chùa Vĩnh Nghiêm vào giờ khai hội. Phải gọi là Hội mới đúng, vì từ ngoài sân chùa đã thấy treo cờ phướn đầy ngợp, trên đàn cao thì rũ liệt những dải khăn xô trắng buông chùng phủ tới đất, tiếng chuông mõ qua những bộ loa đại mở hết cỡ, cùng tiếng thanh la trống chiêng hoà âm, và tiếng tụng kinh ngân nga trầm bỗng chẳng có vẻ gì là thê lương xót xa tới những vong linh nạn nhân đã vất vưởng nơi cầu sương điếm cỏ suốt sáu chục năm dư! Trên một tấm vải bạt trắng lớn giăng làm màn chiếu phim, hình ảnh ông Nhất Hạnh đội khăn trùm đầu như hoàng bào của vua ngồi xếp bằng được chiếu ra cho mọi người ở bên ngoài được nhìn thấy, có phát trên truyền hình để cả nước cùng coi (cho mãn nhãn!)

    Cứ có bất cứ chuyện lạ gì, thí dụ như đánh ghen, người điên cỡi truồng, xe cán chết chó... thì dân ta lại bu đen bu đỏ để coi. Huống chi chuyện lập đàn có đăng báo, có phát trên đài hẳn hòi, nên cái chuyện kẹt xe kẹt đường là khỏi cần bàn cãi! Tôi vốn ngang bướng, không thèm coi tin tức thời sự vụ lập đàn chẩn tế của người, nên dính chấu, đi ngang qua chùa giờ đó phải đứng chôn chân mà nghe người xướng, tùy tùng hoạ theo cả mấy chục phút đồng hồ lãng xẹt! A Di Đà Phật! Tu hành mà phô trương, cúng tế mà ầm ĩ, cầu siêu mà hình thức như thế ấy, thì Thiền sư với chẳng Thiền Sư, vong linh nào mà dám về thụ hưởng!

    Từ ấy, chùa đỡ tốn một bông hoa cài áo, mà tôi cũng khỏi mất công chen chân vô đưa ngực áo cho người ta ghim kim có khi vội quá ghim cả vô da vô thịt phải la oai oái!

    Nghĩ cho cùng, hình thức tuy đẹp nhưng nội dung chẳng ra gì, thì cài cả vạn bông hồng thật hương cũng chẳng đủ thơm, nói chi tới việc cài lên ngực mình một bông hồng giả, hoá chẳng tự mình huyễn hoặc lấy mình lắm ư!
  9. Làm sao mà viết được, bạn ơi!

    Quanh mình là tiếng nhạc KaraOK ồn ào. Những là : Anh hỏi em có khi nào.... Em trả lời anh rằng....

    Nhà bên kia thì chơi một bài vọng cổ não nuột: Trời ơi bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà!...

    Xa xa, cái nhà có một bà già mắt lé xẹ, mặt nhăn nheo như không còn có thể nhăn thêm được nữa, thường có bày mấy keo dưa cà, dưa cải bán trước cửa, dưa thì khú, cà thì thâm, chiều nào cũng mở nhạc đùng đùng như bị kinh phong giật để tra tấn cả xóm bằng bài: Lời bác đang thúc giục chúng ta, bác đang cùng chúng cháu hành quân... (Chời ơi! Ba mươi mấy năm hoà bình rồi mà lúc nào cũng đòi đi hành quân, quả là bà già này xứng đáng được cho dzô sách Guiness về kỷ lục gân nhất hành tinh!)

    Trước nhà, có một ông già răng cỏ rụng ráo trọi, chiều nào cũng bày mâm nhậu một mình, sau khi đã uống hết một xị nước mắt quê hương thường ngâm thơ nghe... đâm hơi hết biết:

    Thanh cha (tra), thanh mẹ, thanh dì,
    Hễ đưa phong bì, là nó thanh kiu!


    Còn trong nhà, hai thằng cháu thi nhau méc, khi thì bà nội ơi, khi lại bà ngoại ơi, giành nhau đồ chơi cãi nhau chí choé, lăn ra khóc ầm ĩ, còn cái TV thì hết bị bấm đổi đài này lại bị chuyển sang đài khác soành soạch...

    Bạn ơi, thôi thì hãy chờ, bao giờ cho tới tháng Mười*, bạn nhé! :eek:

    * Tên một phim của mấy ảnh, đại khái là chuyện chưa có ngày hẹn rõ rệt, tuy chưa tới nỗi Tết Công Gô như hồi trước mình hay nói, nhưng mà cũng hàm ý chưa biết tới bao giờ, bạn ạ!
  10. CHUYỆN NGÀY XƯA, CHUYỆN NGÀY NAY.


    Tất cả những câu chuyện cổ tích đều bắt đầu bằng hai tiếng Ngày Xưa. Khoảng thời gian xa lắc xa lơ và không gian lung linh huyền diệu ấy có đầy những người tốt bụng đôn hậu, những Ông Bụt Bà Tiên luôn xuất hiện để cứu giúp kẻ khốn cùng. Mọi người luôn yêu thương đùm bọc lẫn nhau, điều thiện luôn thắng cái ác, và đất nước sau bao tang thương dâu bể cuối cùng cũng được hưởng thái bình an lạc!

    Khi còn bé được nghe Bà và Mẹ kể cho nghe vào những lúc trưa hè hay trong những đêm mưa lạnh - các câu chuyện cổ tích thần tiên với những kết thúc tốt đẹp luôn thắp lên trong tôi ánh lửa ấm áp của ước mơ và hạnh phúc.

    Sài Gòn của tôi - chỉ mới gần ba mươi năm - thế mà bỗng dưng đã trở thành một khoảng đời vời vợi, mọi cái đã thay đổi, đã biến mất, đã không còn...

    Trong tâm tưởng tôi, những ngày êm đẹp yên vui cũ, Sài Gòn của một thời, chợt trở về từ hai tiếng Ngày Xưa...

    Ngày xưa, khi tôi còn học vỡ lòng dưới một mái trường nhỏ bé mái lợp tôn xi măng, vách đan bằng phên nứa nằm cạnh ao rau muống xanh rờn bèo tấm, Thầy Cô đã dạy cho tôi biết kính trọng công ơn Cha Mẹ, yêu mến Ông Bà, anh chị em, lễ phép với người lớn, không tham của rơi, không hái hoa bẻ cành nơi công cộng; lên xe nhường chỗ cho người già em bé, gặp đám tang phải ngã mũ chào, không ghẹo phá người tàn tật; phải biết quý trọng hạt gạo người nông dân một nắng hai sương làm ra...

    Tôi đã được học về gương hy sinh anh dũng cũa tiền nhân qua những bài lịch sử ca tụng Bà Trưng Bà Triệu, Vua Lê Lợi, Quang Trung; Danh tướng Trần Bình Trọng "Thà làm Quỷ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc!" Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt mà lo việc nước bị giáo đâm thủng chân máu chảy đầm đìa vẫn chẳng hay; Trần Quốc Toản tuổi nhỏ bóp nát quả cam vì không được vào dự Hội Nghị Bình Than bàn mưu chống giặc; Lê Lai cứu Chúa tráo long bào; Đức Phù Đỗng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt với áo giáp nón sắt bay về trời sau khi phá tan giặc Ân; Vua An Dương Vương bị tráo mất nỏ thần tuốt gươm chém bay đầu công chúa Mỵ Châu nơi bờ biển khi Rùa Thần hiện ra với lời mách bảo "Giặc ngồi sau lưng bệ hạ!"...

    Không ai dạy cho tôi lòng hờn căm và thù hận, không ai dạy tôi sự đua tranh để đạt cho được danh hiệu này khác hay những mưu toan tính tóan để cầu lợi cho mình. Tuổi thơ của tôi không phải tập đánh trống ếch ầm ĩ để làm lễ chào mừng hay học những bài hát suy tôn kiểu "đêm qua em mơ gặp..."

    Chúng tôi hồn nhiên chơi đùa học tập suốt 9 tháng của chương trình học, 3 tháng hè thật sự là thời gian nghỉ ngơi của cả Thầy và trò (mỗi năm đến hè là Ta nghỉ hè...) học sinh không phải đi học thêm học nếm, đi làm kế hoạch nhỏ kế hoạch lớn gì cả! Thầy Cô giáo thì không phải họp hành "bình chọn" Tấm Gương Sáng Tấm Gương Mờ, viết sáng kiến tối kiến kinh nghiệm, học chính chị chính em, cải tiến cải lùi gì ráo trọi! Nghỉ là nghỉ, chấm hết, chỉ có vậy thôi! Hết 3 tháng hè trở về trường gặp lại bạn bè sau thời gian xa cách tay bắt mặt mừng kể lể biết bao chuyện vui buồn mới thú vị làm sao!

    Thời của tôi còn trong chiến tranh, địa lý dạy tôi biết đất nước mình bắt đầu từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, bị chia đôi hai miền bằng vĩ tuyến 17, nơi có giòng sông Bến Hải và cây cầu mang tên Hiền Lương từ sau hiệp định Genève 20/7/54. Địa lý cũng cho tôi biết đất nước tôi có nhiều mỏ quặng quý, rừng vàng biển bạc; Miền Bắc có đủ bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, miền Trung có nhiều Lăng tẩm Đền đài một thời Vua Chúa nhưng đất đai khô cằn sỏi đá, miền Nam đất đai trù phú mưa thuận gió hòa sông ngòi chằng chịt tôm cá nhởn nhơ...

    Tuổi thơ tôi được dạy để yêu thương đồng bào ruột thịt "Máu chảy ruột mềm" biết "Anh em như thể tay chân, gà cùng một Mẹ chớ hoài đá nhau!" biết "Bầu ơi thương lấy Bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn": Chúng tôi được học để làm một con người biết tự hào mình là người dân nước Việt, từ nguồn cội Con Rồng Cháu Tiên năm mươi con theo Mẹ lên núi năm mươi con theo Cha xuống biển. Để biết chia sẻ miếng cơm manh áo cho người cơ nhỡ " Thương Người như thể thương Thân! "

    Tuổi thơ trong chiến tranh của tôi hồn nhiên
    trôi êm ả dưới mái trường với những bài giảng êm đềm của Thầy cô không gợn chút tối tăm thù hận dù đất nước vẫn triền miên cuộc chiến hai miền Nam Bắc. Không ai dạy cho chúng tôi cách vót chông tre làm vũ khí, cách gài trái đánh mìn, cách đào đường đắp mô đắp ụ, dấu tài liệu rải truyền đơn... Không bài học nào dạy cho chúng tôi lòng căm thù phía bên kia, càng không dạy những câu chữ nặng mùi chính trị, những lời chửi bới xấu xa về Lũ, Bọn, Tên, Thằng... Chúng tôi chỉ được học bài học đầu tiên về sự tha thứ cho kẻ thù, lòng yêu thương và tình nhân ái!

    Lớn thêm một chút, vào Trung Học; những bài học về đất nước ngàn năm văn hiến với biết bao máu xương đổ xuống để xây dựng và gìn giữ của Ông Cha dạy cho chúng tôi biết quý trọng và yêu mến mảnh đất nhỏ bé cong cong hình chữ S thiêng liêng và hào hùng này. Chúng tôi không được dạy theo cái cách "Ta và Tàu có tình hữu nghị môi hở răng lạnh "(!!) mà phải học để biết rằng nước ta đã phải trải qua một ngàn năm bị quân phương Bắc đô hộ, mà giặc xâm lăng thì luôn luôn dòm ngó quê hương nhà để mong thôn tính nước ta!

    Chúng tôi không phải học một lý tưởng vĩ đại xa lạ nào từ một đất nước xa xăm với những học thuyết xa vời hoang tưởng, cho dù từ một nước Nga được biết đến với những vũ khí chiến tranh hủy diệt, một nước Mỹ giàu có nổi tiếng toàn cầu, hay một nước Đức lạnh lẽo với bức tường ô nhục chia đôi Đông và Tây Bá Linh sau một cuộc chiến huynh đệ tương tàn!

    Chiến tranh vẫn hiện diện trên những trang báo hàng ngày, trong tiếng gầm gừ xa xa vọng về của tiếng đại bác, trong những đóm lửa hỏa châu đỏ quạch mờ khuất một phía trời, lời những bài hát kể về niềm ly biệt nỗi chia xa "... Anh sẽ ra đi về miền cát nắng, nơi có quê hương mịt mù thuốc súng..." " Chiều trên Phá Tam Giang anh sực nhớ em! " Ôi Sài Gòn của tôi, Sài Gòn hồn nhiên mơ mộng dù trong cuộc chiến, trong hy sinh mất mát, trong khói lửa tang thương! Từng lớp bạn bè tôi khoác áo chinh nhân rời trường xa lớp từ giã phố phường, có người đã phải trở về trong chiếc quan tài phủ màu cờ Tổ quốc với những vòng hoa trắng và hai hàng nến nhỏ lệ khóc tiễn biệt. Những đứa bạn tôi có đứa vừa cài hoa cưới sang ngang, rượu giao bôi chưa nhạt đôi môi đã phải nghẹn ngào chít lên đầu vành khăn tang trắng... Nhưng chúng tôi đã chỉ được dạy để thù ghét chiến tranh chứ không được dạy để đổ hờn căm lên những con người: trong cuộc chiến, đối mặt nhau ngoài chiến trường giữa làn tên mũi đạn chúng ta là kẻ thù, buông súng rồi tàn cơn chinh chiến chúng ta lại là Anh Em! Chúng tôi đã được dạy để mong chiến thắng kẻ thù bằng lòng cao thượng, tình thương và lòng thành thật! Chúng tôi, những người tuổi trẻ Sài Gòn ngày xưa đã ngây thơ nhìn chiến tranh qua những lăng kính màu, tuy có đôi chút ảm đạm nhưng vẫn pha chút màu xanh của hy vọng, màu hồng mơ ước và châp chùng màu tím của lãng mạn!

    Lãng mạn lắm chứ, hình ảnh "em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân, bên người yêu tật nguyền chai đá..." Cả cái hình ảnh đau thương của người con gái cúi đầu xõa tóc ngậm ngùi bên tấm thẻ bài còn lại của người thân mà Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh chụp cũng đem đến một vẻ đẹp lãng mạn cho sự hy sinh và lòng thương tiếc vô bờ. Người lính nào khi "Vui ra đi mà không ước hẹn ngày về.." cũng sẽ ấm lòng biết bao với ý nghĩ ở hậu phương lúc nào cũng có một bóng hình dõi mắt theo bước chân đi và đổ lệ xót thương một khi mình nằm xuống! Chúng tôi đã mang cái đẹp và hào hùng một cách lãng mạn ấy đi qua chiến tranh trong những lời ca, những hình ảnh về người lính với những ước mơ về hòa bình và hạnh phúc " Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn anh trở về đây, trở về đây tìm tuổi thơ mất năm nao.."

    "Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, anh lại về bên em..." Những người lính từ mặt trận về lại Sài Gòn trong những ngày phép hiếm hoi gặp người yêu dấu, bạn bè, gia đình chỉ nói về những nhớ thương và ước vọng cho một ngày hòa bình sẽ đến khi kết thúc chiến tranh, không ai kể lại những tàn ác khốc liệt trong cuộc chiến đã đối đầu. Chúng tôi không được dạy để đào sâu hận thù, không được dạy để biết tàn nhẫn và độc ác! Chúng tôi đã sống trong chiến tranh nhưng không có lòng thù hận, hồn nhiên và lãng mạn cho một ước vọng hòa bình để bàn tay nắm lấy bàn tay! Ôi Sài Gòn của tôi, Sài Gòn mộng mơ, Sài Gòn diệu vợi! Ngày xưa êm đềm và những ngày tháng yên vui xưa cũ!

    Hồi xưa, không có nhiều những câu khẩu hiệu đao to búa lớn, chẳng phải học tập, thảo luận, quyết tâm quyết tính gì cả, nhưng trong mỗi chúng tôi, ngay từ thuở còn bé thơ, đã được hình thành một nhân cách Việt Nam, một Con Người Việt Nam với lòng tự hào dân tộc và tình yêu thiêng liêng quê hương đất nước. Từ những người lao động nghèo nàn sống chui rúc chật chội dưới những mái nhà dột nát tối tăm trong các xóm nhỏ ngoại ô tới những công chức thanh bạch ngày hai buổi đến nhiệm sở với đồng lương ít ỏi, cho tới những người được gọi là ăn trên ngồi trước, nhà cao cửa rộng lên xe xuống ngựa áo mão xênh xang, chúng tôi cùng có chung một mong ước thiết tha về ngày hòa bình an vui cho nước non nhà, mơ ước một ngày dứt chiến tranh không còn đau thương tao loạn để người dân cả hai miền được ấm no hạnh phúc.

    Không ai dạy cho chúng tôi sự trả thù hay cách giết chóc nếu một mai hòa bình, chúng tôi luôn nghĩ về một hình ảnh cảm động tuyệt diệu về ngày ấy, khi dân hai miền ôm chầm nhau trong vòng tay mừng mừng mừng tủi tủi, kể lể biết bao nỗi niềm về những ngày nhớ nhung xa cách, những đau thương dâu bể đã qua (!). Chúng tôi đã đi qua chiến tranh mà không nhìn thấy hết tất cả những góc cạnh xấu xa khủng khiếp của nó, chúng tôi đã luôn hồn nhiên và lãng mạn dù ở vị trí nào, ở hoàn cảnh nào. Và, có phải không, tôi có thể nói một cách hơi quá một chút về Sài Gòn ngày xưa của tôi, của chúng tôi, Sài Gòn cổ tích nên đã quá đỗi hồn nhiên nhân hậu trong một cuộc chiến không cân sức với một đối phương luôn luôn giảo quyệt, ác độc, thù địch và dư thừa thủ đoạn!

    Sài Gòn của tôi quá mơ mộng dù ở vào cuối thế kỷ 20 chứ không phải từ một thời nào trong những câu chuyện cổ: Cổ thành Quảng Trị ngày nào trong chiến trận với bao máu xương chết chóc được nhớ tới như một bản anh hùng ca "Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu.." Bình Long An Lộc với những trận đánh không cân sức giữa một rừng người và pháo giặc dày đặc được biết đến bởi hai câu thơ của một nữ sinh vô danh nào đó ghi vội giữa lòng thị trấn "An Lộc địa sử ghi chiến tích. Biệt Kích Dù vị quốc vong thân!" Những bức chân dung trên công viên trước tòa nhà Quốc Hội của các anh hùng trên các mặt trận và lời những bài hát buồn "Anh, hỡi anh vừa ở lại Charlie! Anh, hỡi anh giã từ vũ khí.." " Anh không chết đâu anh, anh chỉ về với Mẹ mong con..." Chúng tôi đã sống trong chiến tranh để mong một ngày hòa bình, với những hàn gắn và xây dựng, với những tha thứ và yêu thương, và tương lai và hạnh phúc. Như những kết thúc ắt có mà tất cả các câu chuyện cổ tích đều có. Tiếc thay, và cũng đau đớn thay! đó chỉ là kết thúc của những câu chuyện ngày xưa!

    Ngày hôm nay, tôi vẫn đang sống trên đất này, nhưng đã không còn là một Sài Gòn cổ tích của ngày xưa! Sài Gòn thay da đổi thịt hàng ngày, hàng giờ (như người ta thường nói) và tôi gần như đã không còn nhận ra cái thành phố mà tôi đã được sinh ra, lớn lên, cùng chia sẻ và chịu đựng biết bao tháng ngày vui buồn sướng khổ, có lẽ cũng lại sẽ là nơi mà tôi sẽ gởi nắm xương tàn một mai khi nằm xuống! (nói cho văn hoa sách vở thế thôi, chứ ở Sài Gòn bây giờ tấc đất tấc vàng! Người sống còn chen chúc nhà thuê phòng trọ không mảnh đất cắm dùi, nói gì đến người chết mà muốn chôn cất cho mồ yên mả đẹp thì cũng chẳng dễ dàng chi! Tốt nhất là cứ chết xong tống vào lò thiêu quách rồi mang thả xuống sông xuống biển cho rảnh nợ, hoặc đem ra giữa đồng trống mà gởi gió cho mây ngàn bay! Hay sợ bị kết tội làm ô nhiễm môi trường thì mang gởi hũ cốt vào chùa để nghe kinh nghe kệ sám hối ăn năn những tội lỗi đã làm ...) Sài Gòn ngày nay vẫn là thành phố đẹp và sang trọng nhất nước với những tòa nhà cao nhiều tầng lấp lánh ánh đèn, đường phố rộng lớn xe cộ chạy như mắc cửi, hàng hóa đầy ắp thừa mứa và những cuộc vui thâu đêm suốt sáng nhưng là của một lớp người khác, một đời sống khác! Cái mà ngày xưa gọi là nhân nghĩa và tính cách thì ngày nay người ta gọi là lạc hậu! Ăn ở cho nó lịch sự tử tế với lối xóm hả? Xưa rồi Diễm! (câu này cũng là câu mới, giống như "bỏ đi Tám" của mình hồi xưa). Dân Sài Gòn ngày nay đi ra đi vô không thèm nhìn mặt nhau (nhà mày lớn, nhà mày cao nhưng đâu có bằng nhà ông!) Nhà bên này Bố mới mất, cả nhà ôm nhau khóc thương thảm thiết, tang gia bối rối xiết bao, nhà bên cạnh thì đèn đuốc sáng choang, đàn hát tưng bừng nói cười rộn rã yến tiệc linh đình ăn mừng chiếc xe 4 bánh mới tậu! Chạy xe ra đường có đụng chạm va quẹt gì tí chút là dựng xe ăn thua đủ: Mù à! Không biết đi xe thì đừng có bày đặt chạy! Yếu còn bày đặt ra gió!... Bọn trẻ sinh sau 75 còn hăng máu hơn, có đụng chạm gì thì chẳng thèm cãi cọ ồn ào lôi thôi chi cho to chuyện, chỉ móc hàng (mã tấu, dao lê) giấu sẵn trong người ra tự xử!

    Ngày xưa chúng tôi chọn một ngành học nào bất kỳ, trước hết là do lòng yêu thích, việc kiếm tiền chỉ là phần phụ thêm: Tôi thích đi dạy học vì yêu nét đẹp dịu dàng của cô giáo với tà áo dài quấn quýt bước chân và những lời giảng ngọt ngào bảng đen phấn trắng. Anh mơ làm bác sĩ với tâm nguyện xoa dịu nỗi đau, chữa lành cơn bệnh. Bạn muốn trở thành kỹ sư xây nên những chiếc cầu nối liền hai bờ ở một miền quê xa hẻo lánh để trẻ thơ ngày hai buổi tới trường... Chúng tôi học suốt 12 năm miệt mài để thi vào một trường đại học duy nhất, cho một nguyện vọng duy nhất. Ra trường, mỗi người thực hiện ước mơ hoài bão của mình bằng tất cả lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, mà tương lai của mỗi người tùy thuộc vào chính những cố gắng hết mình của họ.

    Ngày nay học sinh thi một lúc 2,3 trường đại học. Nguyện vọng 1,2, 3 lung tung ở các ngành nhiều khi đối chọi lại với nhau! Không phải vì học giỏi mà chỉ vì không định hướng được cho mình. Người ta chọn ngành nghề nào trước hết là do có kiếm được nhiều tiền hay không! Bác sĩ thì ngoài việc được nhận tiền "bồi dưỡng" của người nhà bệnh nhân còn có thể kiếm tiền bằng cách mở phòng mạch riêng! Giáo viên Anh văn có thể mở lớp tại nhà hay đi làm thêm tại công ty ngoại quốc! Kỹ sư công chánh tha hồ mà xây cầu đường, thả sức ăn chặn ăn bớt vật liệu!... Kết quả là những kỳ thi trắng xóa tài liệu "quay cóp", những thí sinh thi dùm, thi mướn, những điểm được bán, những bằng cấp giả, những nhân tài chẳng có chút thực tài!

    Có thể nói được với ai về nỗi nhục nhã khi nhìn những cô gái trẻ, rất trẻ, lũ lượt xếp hàng chờ tới lượt mình vào cho mấy ông già Đài Loan coi mắt để cưới làm vợ (!) hòng mong nhận số tiền nhỏ nhoi trả hiếu cho Cha Mẹ, mặc cho số phận đưa đẩy chẳng biết đến bến bờ nào (mà nhiều phần là đục hơn trong!)

    Có thể nói thế nào về một lớp trẻ sống như trôi dạt hờ hững bên những bất công đầy dãy của xã hội mà đồng tiền là thước đo duy nhất, mọi thứ trên đời đều dễ dàng được đổi chác mua bán theo từng giá cả riêng!

    Trong khi hàng triệu người Việt Nam sống tha hương trên khắp thế giới lúc nào cũng mang nặng một nỗi niềm thương nhớ quê Cha đất Tổ, hàng triệu trái tim Việt Nam luôn hướng về mảnh đất dấu yêu và những hoài niệm thiêng liêng, thì ngay tại đất nước này, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút luôn có những người dân Việt canh cánh bên lòng chờ một chuyến đi xa! Tới một nơi nào đó, làm một công việc gì đó, sống một cách nào đó... miễn là đi khỏi nơi này, miễn là rời xa, dù mãi mãi, hay chỉ trong một thời gian có hạn! Ngày nay chúng tôi sống và lạc loài ngay chính trên mảnh đất quê hương của chính mình! Chúng tôi không những chỉ đánh mất những cái mình đã có, mà còn không thể có được những điều mình cần có!

    Tôi sẽ dạy thế nào đây, bài học vỡ lòng cho cháu trai tôi, một đứa trẻ được sinh ra vào một ngày không thể nào quên của cả một dân tộc, về những câu chuyện cổ tích của một Sài Gòn ngày xưa mang dáng dấp êm đềm an vui thời tuổi trẻ, hay những nhọc nhằn khốn khó một thời xuôi ngược trải qua? Bài học nào cho cháu hiểu được ngoài những nợ nần chồng chất của quá khứ, sự trống rỗng tăm tối của một ngày nay nhiều bất trắc và âu lo, sẽ còn lại được những gì?!

    Tất cả những câu chuyện cổ tích đều có một đoạn kết tốt đẹp! Tôi ước gì có thể kể cho cháu trai tôi, và những cháu gái - trong tương lai - của tôi, câu chuyện kể về một Sài Gòn cổ tích đẹp như mơ với đầy đủ những thăng trầm biến đổi, những người tốt kẻ xấu, những mất mát hy sinh, những nát tan tuyệt vọng, nhưng cũng có những ngọt ngào và không thiếu những niềm vui!

    Và, khi đó, tôi sẽ kết thúc câu chuyện Sài Gòn cổ tích của tôi, theo cái cách mà Bà tôi, rồi Mẹ tôi đã từng dùng làm câu kết mỗi khi kể cho tôi nghe xong một câu chuyện hồi tôi còn nhỏ: Cuối cùng, sau những khó khăn đen tối tưởng chừng không thể vượt qua được, đất nước lại hưởng cảnh thái bình an lạc, nhà nhà lại đoàn tựu trong hạnh phúc ấm no!

    Tháng 8/2004.
  11. VỈA HÈ.



    Người Nam gọi là lề đường. Người Bắc gọi là vỉa hè. Đó là khoảng cách từ nhà ra tới mặt đường dành cho người đi bộ trên các đường phố. Có những vỉa hè rộng thoáng với hàng cây rợp bóng, có những vỉa hè chật chội bụi nắng gập ghềnh từng bước chân qua.

    Hồi tôi còn nhỏ, lâu lâu mới thấy một hàng cắt tóc gốc me bày chiếc ghế trên một vỉa hè khuất vắng dưới một tàng cây rợp mát, cái gương soi cỡ hai cuốn vở học trò đóng đinh treo trên bức tường phía sau một dinh thự công sở nào đó, ông thợ cắt tóc ngồi ngủ gà gật hay đang hí hoáy nháy tông đơ lách tách húi cua cho một chú nhóc gáy bôi đầy phấn cổ quàng khăn vải thùng thình trắng toát...

    Vỉa hè thuở ấy sạch sẽ và rộng rãi, trên những đường phố chính vào những ngày cuối tuần nam thanh nữ tú qua lại dập dìu, lao xao những tiếng bước chân.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 75, cùng với thành phố hỗn loạn vô trật tự là vỉa hè hóa thành nơi họp chợ, ngồn ngộn những bàn ghế, bát đĩa, quần áo, sách báo, giày dép, máy móc... người dân SaiGon hầu như đổ cả ra đường phố, góp mặt góp tên vào đội quân vỉa hè mua đi bán lại mọi thứ hàng hóa trên đời ( người ta đồn rằng có bán từ chiếc kim may tay cho tới con ốc của.. phi thuyền! ) Thành phố hóa thành một cái chợ bát nháo mà mỗi vỉa hè chưng bày ra một loạt sạp hàng lôi thôi nhếch nhác với những người bán hàng phờ phạc ngơ ngác trong một đời sống trĩu nặng bất an...

    Rồi đến một lúc phố phường bỗng thưa vắng hẳn - một lớp người đã tìm đường ra biển (một là con nuôi Má, hai là Má nuôi con, ba là con nuôi cá!) một lớp mịt mùng đèo cao núi thẳm, lớp khác lại đổ mồ hôi sôi nước mắt trên những luống cày khô cằn sỏi đá nơi một vùng lập nghiệp kinh tế trong mơ! Vỉa hè thôi không còn người mua kẻ bán, trong những căn nhà một thời có hoa vàng trước ngõ, tường thật là cao, có dây leo kín ngoài... bây giờ mỗi sáng mổi chiều eng éc tiếng lợn kêu! Người ta đào xới vỉa hè để lên vồng trồng khoai sắn, xẻ luống trồng rau, trồng xả, trồng ớt.. trên các vỉa hè đường Tú Xương, Ngô Thời Nhiệm, Bà Huyện thanh Quan một thời thơm ngát hương hoa Ngọc Lan là những bụi mía cao quá đầu người lá sắc như dao xạc xào trong gió, những bụi khoai mì um tùm và những vồng cải xanh um... Vỉa hè trở thành nơi để trồng trọt tăng gia, nông thôn hóa thành thị, đưa phố phường đô thị về gần với nguồn cội ruộng đồng!

    Những tưởng thành phố này sẽ dần dần mất hết những vỉa hè bởi người ta mải quay quắt khổ sở lo cho cái ăn cái mặc ( heo nuôi trên lầu, gà nằm cạnh bếp ăn, cá Trê phi quẫy đùng đùng trong bể nước phòng tắm, giàn Khổ qua trái bé xíu bằng 2 ngón tay thả leo trên sân thượng...) mổi sáng mỗi chiều vào giờ đi học đi làm hay tan trường tan sở đường phố yên ả chẳng ồn ào bởi chỉ toàn là xe đạp nối đuôi nhau! Người ta đi bộ cả xuống lòng đường vẫn an toàn vì thật lâu mới có một vài chiếc xe hơi mang bảng số nhà nước chạy qua...

    Bỗng đâu một ngày từng đoàn người rầm rộ cuốc xẻng ồ ạt phá bỏ đào xới dọn dẹp quang đãng hết những lùm bụi trên các vỉa hè. Thành phố đang cùng với cả nước vào thời mở cửa, người ta tha hồ mà lên kế hoạch, lập chỉ tiêu... thôi thì đủ phương đủ cách! Toàn bộ các vỉa hè trên những đường phố đều được tính toán đưa vào dự án để sửa chữa nâng cấp cho xứng đáng là thành phố bác Hồ, cho nở mày nở mặt với bè bạn năm châu!

    Thế là cho dù những vỉa hè được làm từ thời Pháp thời Mỹ thời Ngụy (!) đang còn rất tốt và sẽ vẫn còn khá tốt cho đến vài chục năm sau nữa đều được đào lên " tất tần tật" làm lại hoàn toàn cho nó phù hợp với tầm quản lý vĩ mô! ( nghe thì đao to búa lớn, nổ to như pháo đại chứ nếu mà bắt cắt nghĩa thì chắc chẳng mấy ai hiểu được! ) đại khái là gom lại một cục làm trọn một lần cho gọn đó mà!

    Vừa mới nghe TV đưa tin lát vỉa hè bằng tấm đan bê tông đã sạch đẹp, bền chắc lại rẻ tiền, người dân thành phố chưa kịp quen mắt với những ô vuông xi măng ngang dọc đã thấy báo chí đăng bài ca tụng những vỉa hè lát đá chẻ hàng trăm năm tuổi ngạo nghễ với thời gian ở nước Nga Xô Viết đàn anh thân thương! Từng tốp thợ nhem nhuốc lại hùng hục đào bẫy đâp phá từng vuông đan xi măng còn mới tinh khôi để chêm chêm nhét nhét vào đấy những tảng đá xám xịt như đá tường trại giam, dường như sẽ bền chắc đến muôn đời bất kể câu " nước chảy đá mòn! " ( tôi đã kịp nếm mùi cứng chắc của mặt vỉa hè lát đá trong một lần bị công an dí chạy có cờ trên đường Nguyễn Phi, khi đang tụ tập gây mất trật tự trên đường phố để bán thuốc tây lậu những năm 80, 81 )

    Thì đến một ngày đẹp trời một ngài nào đó được đi học tập nghiên cứu hay đi chơi đi bời gì đó ở Hàn quốc hay Trung quốc hay Mã quốc ( ở bên này hông hiểu sao người ta cứ khoái nói tiếng Tàu, nước nào cũng thành ra quốc ráo trọi! Mã quốc là Mã Lai ) bèn đem cái hay cái tốt đã mắt thấy mục thị ở xứ người về xứ mình bằng cách ca tụng vẻ đẹp rạng ngời mà không chói lóa của những vỉa hè lát gạch con sâu ( loại gạch hình chữ nhật các cạnh có dợn sóng răng cưa trông giống như con sâu đang bò ) Bộ mặt vỉa hè lại lần nữa được cải tạo, thợ làm đường lại hì hục cạy bỏ những tảng đá chẻ mới lát xuống ngày nào để lúi húi lắp ráp từng viên gạch con sâu cho nó hiện đại hóa thành phố văn minh! người ta ca ngợi sự tiết kiệm và tiện lợi của gạch con sâu vì cách làm rất đơn giản : chỉ nện phẳng mặt rồi đổ 1 lớp đất cát dầy lên trên, xếp các viên gạch cho các cạnh hình dợn sóng ăn khít vào nhau, không cần tốn xi măng, chẳng cần tô trét gì cả, tự các viên gạch sẽ nối kết với nhau một cách hết sức chắc chắn chặt chẽ.

    Thế là bộ mặt vỉa hè sau một thời gian ghẻ lở xấu xí vì bị đào lên lấp xuống được thay đổi một cách đồng loạt! Bên này vỉa hè lát gạch con sâu màu vàng, bên kia màu xanh lá cây, đoạn kế có màu đất xám, đọan nữa lại có màu đỏ gạch... Hàng vạn hàng vạn con sâu bò tăm tắp với đủ màu sắc đậm nhạt cũng mang lại một chút tươi tắn mới mẻ cho các vỉa hè...

    Than ôi! chỉ mới trải qua một vài cơn mưa rào rồi tiếp theo vài lần nắng quái, lũ sâu nhiều màu sắc ấy đã mất đi cái vẻ đẹp bóng bẩy đều đặn ban đầu! Lớp men màu trên mặt gạch xỉn hẳn xuống, phai lam nham hay chỉ còn trơ lại màu xám xịt lổn nhổn của xi măng pha quá nhiều cát. Và từng viên, từng viên bể nứt, gập ghềnh, bong tróc, dẫn đến từng mảng, từng mảng hư hỏng, xấu xí, từng đoạn từng đoạn lồi lõm, đất cát cứ đùn lên hàng đống từ những lỗ gạch ngày một lớn dần thêm...

    Đi đời những con sâu làm rầu... vỉa hè ấy! lại hùng hục, hùng hục từng tốp công nhân lăn lộn với nắng bụi gió cát mịt mù để " khắc phục hậu quả! " Bây giờ có lẽ để rút kinh nghiệm những lần đã qua, người ta không dùng cùng một cách làm cho các vỉa hè khắp thành phố mà mỗi nơi, mỗi vùng lại làm một cách khác! Vậy nên có những đoạn vỉa hè được lát gạch thoát nước vuông vức, đoạn thì đổ bê tông có đá cuội như tường nhà mồ, đọan con sâu bò lổm ngổm, đoạn trát xi măng, đoạn lại lát gạch hình kỷ hà bóng loáng trơn trợt dành làm bẫy chân người sau những cơn mưa!

    Chỉ khổ cho cư dân sống trên các đường phố bên cạnh những vỉa hè! Cuộc sống của họ thường xuyên bị chia 5 xẻ 7 bởi những lần đập xây xây đập mà không biết đến bao giờ mới chấm dứt! Những nắp cống đúc bằng gang trên vỉa hè thường xuyên bị mất cắp, miệng cống toang hoác phả mùi hôi thối nồng nặc vào từng bữa cơm gia đình. Hàng cây cổ thụ cho bóng mát trên vỉa hè sau bao lần chịu cảnh đào phá cắt đứt cả rễ mẹ rễ con dần dần chết khô, bị thay thế bằng những cây non khẳng khiu lơ thơ một nhúm lá bé tẹo xác xơ...

    Có làm thì mới có ăn! Chưa có thời nào mà câu Ông Bà mình nói lại đúng như cái thời này! Vậy nên người ta tha hồ nghĩ ra không phải chỉ 1001 cách làm để ăn mà có tới hàng chục vạn cách, cách đổi mới vỉa hè là một! Thử nghĩ mà xem, nếu cứ làm như thời trước, vỉa hè cứ yên ổn êm ả nằm trơ gan cùng tuế nguyệt đếm thời gian trôi, thì lấy đâu ra kế hoạch, dự án, lấy đâu ra kinh phí, lấy đâu ra tiền, và không có tiền thì lấy gì mà ăn? Lại có câu: Tay làm hàm nhai! Làm mà không ăn thì đâu có được! Như vậy là trật lất, không đúng bài bản! Vả lại còn câu: Không Thầy đố mày làm... ăn! Từ đó ta suy ra công cuộc đổi mới vỉa hè là một công cuộc làm ăn có tính toán, có bài bản, và nhất là có Thầy Bà đỡ đầu đỡ cẳng! Của thơm thảo mỗi người hưởng một ít, muốn Bà thò chai rượu ra thì Ông phải chịu mất cái giò chứ, ở đời muôn sự của chung mà!

    Trên vỉa hè đường Công Lý cũ (Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý!) đoạn từ trước cổng chùa Vĩnh Nghiêm ra đến ngã tư Hiền Vương (đời nay làm gì còn Vua Hiền nên đã bị đổi tên thành Võ Thị 6!) hai bên vỉa hè người ta đã trồng hai hàng cây Cau kiểng, loại cây thường chỉ được trồng làm cảnh trong công viên hay trong sân nhà, đưa ra giữa đường phố mịt mù bụi nắng ngột ngạt mùi xăng nhớt khói xe chỉ thoi thóp sống được mươi ngày, túm lá đầu rồng đuôi phụng le te đã trở màu vàng úa, mặc cho xe bồn chở nước mỗi buổi chiều lại đến phun tưới ào ào, lần lượt từng cây, từng cây rủ nhau héo queo héo quắt...

    Con đường từ cầu Phan Thanh Giản ra tới Ngã 3 Hàng Xanh trước đây là đoạn mở đầu của xa lộ Biên Hòa vốn thẳng tắp và bằng phẳng, để mở rộng cho xe cộ dễ qua lại người ta đã nhờ tới nhà thầu Thanh Niên Xung Phong , có lẽ để nhớ lại một thời lội rừng leo núi lúc trước hay sao, mà khi đường làm xong bên thì cao như ngọn đồi, bên như thung lũng, lại quanh co uốn lượn với một cái bùng binh to tổ chảng cứ như gò Đống Đa, giữa đường là những vỉa hè nhỏ (gọi là con lươn) trồng một hàng cây Đại Tướng Quân lả những tàu lá mệt mỏi xa lạ với cảnh náo nhiệt ồn ào của đường phố chung quanh.

    Một thời, để làm sạch đẹp văn minh phố phường, tất cả những người bán hàng rong bị cấm không được bán trên vỉa hè những đường phố lớn, ai đã từng sống qua những năm ấy hẳn chưa quên được cảnh mấy bà bán hàng gánh bỏ chạy khi thấy xe cảnh sát xuất hiện, khách thì tay cầm tô hay đĩa thức ăn, tay cầm cái ghế mình đang ngồi ngơ ngác nép vào trong những cửa hàng cửa hiệu hay bỏ chạy tán loạn. Những người bán quần áo cũ thì hớt hãi quơ túm nylon trải dưới đống quần áo vào người ùn ùn bỏ chạy mỗi khi thấy bóng dáng công an, hàng cà phê cóc ngồi nép dưới một hiên nhà cũng loảng xoảng tiếng ly tách rơi vỡ khi vội vàng bưng dọn...

    Vỉa hè còn là nơi giữ xe, hàng dãy xe 2 bánh đời mới xếp hàng kiêu hãnh san sát trước các Bar rượu, nhà hàng, vũ trường đèn màu xanh đỏ rực rỡ sáng choang của một SaiGon ăn chơi với những bữa tiệc thâu đêm suốt sáng của những cậu ấm cô chiêu thời mở cửa 5C ( con cháu các cụ cả ) tiêu tiền không cần đếm, sinh nhật đã chẳng thèm nhận quà mà còn biếu quà cho từng người đến dự, có những món quà trị giá đến 5, 6 nghìn đô!
    Vỉa hè cũng được dùng vào việc chưng bày hoa kiểng vào những ngày lễ lộc hội hè! người ta bày những cái khung sắt có đủ các hình dạng: chóp nhọn, khối chữ nhật, tháp nghiêng... với các ô tròn chứa những chậu hoa bằng nhựa đủ loại, thế là giữa một vỉa hè trơ trọi khô khan chợt mọc lên sừng sững một khối hoa lá đủ các sắc màu , bày ra một vẻ xanh mát giả tạo gượng ép đến tội nghiệp bên cạnh những hàng cây bị mé nhánh cành trụi lủi hay bị xén cụt đầu mỗi lúc đầu mùa mưa để tránh bị rơi gãy xuống đầu người đi đường, thân cây trơ trọi buồn thảm và xấu xí dưới ánh nắng chói chan...

    Ít nhiều gì tôi cũng đã có một khoảng thời gian gắn bó với vỉa hè : những ngày mua bán thuốc tây trên góc Nguyễn Phi- Lê thánh Tôn với những lần bị rượt đuổi chặn bắt như tội phạm vì thuốc tây là mặt hàng độc quyền của nhà nước; Những ngày giữ xe thuê trên vỉa hè trước nhà thương SaiGon và rạp hát Vĩnh Lợi từ sáng tới khuya, bữa ăn dọn ra dưới bụi nắng và những bước chân người qua lại, thường xuyên chỉ là đậu phọng chưng nước mắm và bát canh rau muống lõng bõng nước; Những ngày thức khuya dậy sớm dọn hàng bán cơm tấm, bán Bò kho, Bún bò, vừa bán vừa nơm nớp canh chừng xe công an đến tịch thu bàn ghế đồ đạc... Vỉa hè đã có từng thời nuôi sống tôi khỏi những ngày đói khổ. Đã từ lâu lắm, tôi vẫn nhìn ngắm những vỉa hè thành phố như những người quen cũ, đã là một phần trong cuộc đời tôi vốn chỉ quanh quẩn loanh quanh trong một thành phố tuy thân quen nhưng đã có rất nhiều thay đổi đổi thay.

    Nhưng vỉa hè bây giờ không còn là nơi dành riêng cho người đi bộ, ít nhất là đối với người dân SaiGon. Nếu bạn nhìn thấy người nào đó đi vơ vẩn trên vỉa hè vào buổi sáng buổi trưa buổi chiều hay buổi tối, thì chắc chắn một là dân tỉnh khác đến, hai là Việt kiều ở xa về, ba là khách du lịch ngoại quốc. Người SaiGon chẳng còn ai đi bộ lang thang trên các vỉa hè vốn từ lâu đã được coi như là một nơi đầy nguy hiểm! Bạn rất có thể bị giật mất túi xách, máy ảnh, dây chuyền, lắc tay, đồng hồ... nói chung là tư trang, nếu đi lớ ngớ trên vỉa hè để vẩn vơ thơ thẩn! Ban đêm, nếu là đàn ông mà đi trên những vỉa hè tối thì rất thường gặp các cô mắt xanh má đỏ ùa ra lôi kéo, ôm ấp, sờ soạng với những lời quyến dụ đường mật, mà khi tỉnh hồn vùng thoát được khỏi vòng vây thì cái bóp tiền, cái mắt kính, cái nhẫn đeo tay đã bốc hơi một cách bí mật một đi không trở lại... và cái cảnh đeo bám lằng nhằng dai dẳng của đội quân bán vé số, đánh giày, đồ lưu niệm rẻ tiền.v.v. chắc chắn sẽ làm nản lòng bất cứ người khách du lịch nào dù là có tâm hồn mơ mộng lãng mạn đến đâu chăng nữa sau chỉ một lần dại dột dạo bước lang thang !
    Tuy vậy, vỉa hè còn là nơi trú ngụ của những người khốn cùng đói khổ. Đêm khuya, khi thành phố đã dần đi vào giấc ngủ sâu sau những quay cuồng tính toán chật vật mưu sinh.. những con người sống trên các vỉa hè sau một ngày túa đi tìm miếng ăn khắp nơi lại quay trở về dưới một mái hiên quen thuộc khuất vắng - giấc ngủ nặng nề mệt mỏi không biết có còn chăng chỗ để ươm những giấc mơ..- Mùa mưa đến với những đêm co ro bó gối dưới một hàng hiên bốn bề mưa tạt gió lộng - hẳn trong lòng mỗi con người khốn khổ ấy càng mênh mông vời vợi hơn hình ảnh của một mái ấm gia đình!

    Tôi đã sống gần hết cuộc đời mình trong lòng thành phố, với những mùa nắng mùa mưa, những ngày hạnh phúc đã vĩnh viễn trôi qua, và những bất hạnh mất mát mà nước mắt còn tuôn chảy nhiều hơn cả những giọt mồ hôi nhọc nhằn của nợ nần cơm áo. Buổi sáng, buổi chiều, đặt bước chân lên vỉa hè, qua những con đường, góc phố đã đổi thay thay đổi - Ruộng dâu đã biến thành biển xanh - những người quen cũ bây giờ trôi dạt mãi tận chốn nào.. có còn chăng những hoài niệm dấu yêu của một thời yên bình đẹp đẽ đã vời vợi cách xa?

    Tôi vẫn ước mơ - dù cùng với thời gian, mơ ước đã dần dần tàn lụi - có một ngày nào, cùng với những bạn bè xưa, đi dạo lại trên những vỉa hè của một phố phường không xa lạ, ngắm nhìn những bước chân lanh chao liếng thoắng cùng với tiếng cười đùa hồn nhiên của bầy cháu nhỏ, cùng ôn lại những cay đắng ngọt bùi đã qua với một chút ngậm ngùi...

    Bây giờ, chỉ còn lại tôi, ở đây, với những vỉa hè trơ trọi buồn thảm, mà thành phố thì trần trụi và lạnh lẽo - như một nấm mồ!
    Tháng 4 - 04.
  12. Tượng Đài


    Tôi không để ý nhiều lắm đến những tượng đài! Là công dân chính hiệu của thành phố này- được sinh ra, lớn lên và già đi cùng với những thăng trầm biến đổi của thành phố suốt mấy chục năm - thú thật là tôi chỉ biết có mấy cái ở những nơi thường qua lại:

    Tượng một vị Tướng thời xưa cưỡi ngựa tay thả con Bồ Câu đưa tin ở trước chợ Sài Gòn, ngày trước có tấm bảng đồng khắc hàng chữ "TRẦN NGUYÊN HÃN - THÁNH TỔ TRUYỀN TIN" đã bị lấy đi mất từ sau 75, thay vào đó một tấm đồng khác chỉ vỏn vẹn cái tên TRẦN NGUYÊN HÃN.

    Tượng đức Phù Đổng Thiên Vương (bây giờ người ta gọi là Thánh Gióng!) Thánh Tổ Kỵ Binh tay vung cành tre, cưỡi con ngựa sắt đen xì chồm 2 vó trước lên cao, mồm ngựa phun ra mấy ngọn lửa bằng sắt sơn đỏ ở Ngã 6 Sài Gòn - hay còn gọi là Ngã 6 Phù Đỗng để phân biệt với Ngã 6 Chợ Lớn nơi có tượng An Dương Vương Thánh Tổ Công Binh đứng chót vót trên cây cột trắng toát cao ngất ngưỡng.

    Tượng Đức Trần Hưng Đạo Thánh Tổ Hải Quân đứng oai vệ đầu đường Hai Bà Trưng chỉ một ngón tay xuống Bến Bạch Đằng với lời ẩn dụ "Hãy vượt biên!" của những năm tháng cả nước bừng bừng cơn sốt đào thoát bằng bất cứ giá nào...

    Thời mới lớn đi cùng với người yêu qua những con đường thành phố, còn mải mê nhìn ngắm nhau và nghe nhau nói, có mấy ai đã bỏ công để nhìn ngắm và nhớ đến những tượng đài đứng cô đơn trên cao? Sau này, khi những nhọc nhằn của cuộc sống áo cơm đè nặng hai vai, trên đường đi chỉ thấy đầy ắp những lo âu suy tính, còn có mấy ai được thảnh thơi thong thả ngước mắt nhìn lên để thấy trời xanh mây trắng lững lờ trôi bên những tượng đài!...

    Từ sau năm 75, cùng với thành phố đổi tên, đã có bao nhiêu tượng đài nữa mọc lên trong khuôn viên trường học, thư viện, bệnh viện...

    Tượng đài người mẹ miền Nam đứng sừng sững trong sân Bảo Tàng Phụ Nữ Nam bộ ở đường Võ Thị Sáu (Hiền Vương cũ) mang nét mặt của một bà già trầu búi tóc nhưng thân hình chắc lẳn như một cô thôn nữ tuổi đương xuân!

    Bức tượng Bà Mẹ ở nghĩa trang liệt sĩ Thủ Đức tay cầm mảnh khăn tang dài rủ sang 2 bên, dưới chân là những người con nằm chết la liệt, trông... Tây như được dựng nên để tưởng nhớ cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô!

    Tôi nhớ nhiều đến bức tượng đồng "THƯƠNG TIẾC" mang biết bao huyền thoại trước Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hòa, với hình ảnh người lính Quân lực VNCH ngồi cúi đầu tiếc thương đồng đội đã hy sinh với đầy đủ ba lô, súng ống, nón sắt trên vai mà nhìn từ đàng xa rất dễ lầm là người thật thuở nào. Bức tượng 2 người lính ở trước Quốc Hội (nay là Nhà Hát Thành Phố) đã bị đập bỏ, thay vào đó là tượng "Mẫu Tử" của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị, với vòi nước phun tung toé vào những ngày lễ nghỉ, ngày thường làm chỗ rửa chân tay cho những gã bụi đời!

    Vẫn còn tên gọi "Hồ Con Rùa" ở Công Trường Hoà Bình, dù đã từ lâu lắm không còn nữa con rùa bằng đồng đội bia đá ở giữa hồ nước một thời (trên cái đài cao là hình những bông hoa xoè cánh mà có lúc phe báo chí cực tả đã ví như biểu tượng của những bàn tay xoè ra đón lấy đồng đô la Mỹ rót xuống!) những bậc cầu thang dẫn lên tầng cao bây giờ không còn ai dám bước lên, vì sợ dẫm phải ống chích, rác rưởi và cả những chất bẩn được thải ra từ những kẻ nghiện ngập sống lang thang, ngủ vật vạ ở các ghế đá chung quanh.

    Ở phía trước rạp Rex và Tòa Đô Chính cũ, bây giờ là Quãng Trường Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, người ta dựng một tượng đài "bác hồ với thiếu nhi", có lẽ là tượng duy nhất tạc hình bác với thêm một người nữa ở bên cạnh (trong công sở, giữa chợ, ngoài công viên hay nơi trường học, chỉ là tượng bác bán thân, hoặc là tượng bác đứng với áo khoác trên vai như áo choàng của chàng hiệp sỹ, giơ tay vẫy chào, nét mặt hiền từ râu tóc bạc phơ như một ông tiên trong cổ tích!) hoặc giả còn có những pho tượng khác nữa ở những nơi nào khác mà tôi không biết. Nhưng cái tượng đài này nó là "biểu tượng" của thành phố, mỗi dịp mít tinh, chào mừng, đưa tiễn gì người ta cũng tổ chức ở nơi đó nên tôi thấy, tôi biết, dù muốn hay không!

    Nơi đây hoa bốn mùa nở rực rỡ, cây cối được chăm bón thường xuyên nên quanh năm suốt tháng xanh tốt, thỉnh thoảng lại có mấy cặp tân lang tân giai nhân mặc soa- rê trắng muốt mang bó hoa cô dâu màu mè hoa lá cành đến đặt dưới chân tượng để dâng lên bác tình yêu bất diệt và hạnh phúc bất tận của chúng con (sic!) Ở đó mỗi khi tổ chức thành công rực rỡ cuộc đua xe đạp toàn quốc mang tên "VỀ NGUỒN "(là xách xe đạp chạy vòng vòng qua suốt các tỉnh thành phố khắp nơi để kiếm tiền tài trợ bắt buộc hay tự nguyện của các công ty trong nước cũng như Liên Doanh) người ta lại dâng lên bác những vòng hoa tươi thắm được mấy chàng cua rơ khệ nệ khiêng vác giữa hai hàng thiếu nữ thướt tha áo dài mong manh tơ.. nhện phấn son lộng lẫy. Mỗi đợt ra quân "chào thành phố yêu dấu" để lên đường làm nghĩa vụ thanh niên thời bình - nào xe hoa dẫn đường, nào mô tô hụ còi, nào loa phát thanh vang vang...( tôi nhớ có lần được nghe :" ở nơi nào mà cái nội dung nghèo nàn thì phần hình thức sẽ được chú trọng tuyệt đối! " Quả thật là chí lý!!

    Người ta đã tạc hình bác hồ như một ông già hiền lành nhân hậu, một ông bụt giữa đời thường, tay đưa lên đầu vuốt tóc một cháu gái thiếu nhi, không biết có phải vì muốn chú trọng quá mức đến sự lột tả tất cả những nét phi phàm siêu thoát đáng kính của ông già không, mà cái hình tượng cháu gái thiếu nhi trong tay bác lại bị quên trau chuốt nên có vẻ bé nhỏ, xấu xí và thậm chí hơi... dị dạng! cái đầu cắt tóc bom bê hơi chấm vai thì có lẽ tuổi em bé khoảng độ lên sáu lên tám, nhưng nét mặt thì không có cái hồn nhiên bé bỏng của lứa tuổi mà lại già cỗi như... một bà già! đã thế thân hình còm cỏi nhỏ xíu lại có vẻ co rúm thảm hại trong bộ quần áo rộng thùng thình, như đang bị bàn tay của bác đè đầu gập cổ chứ không có chút gì là thoải mái sung sướng được kề cận bên bác cả! Cái pho tượng này có vẻ như " bác hồ dọa thiếu nhi" hơn là tên gọi " bác hồ với thiếu nhi!" (hay là con mắt mù tịt về mỹ thuật của tôi đã khiến tôi không nhìn được cái đẹp thẩm mỹ cao siêu mà điêu khắc gia đã đặt hết tâm huyết vào đấy, hoặc tôi đã nhìn bằng cặp mắt Mỹ Ngụy nên không chiêm nghiệm được hết cái hồn của dân tộc, cái hơi thở của vẻ đẹp dân gian, cái tinh hoa tài tình của quá khứ?? )

    Chẳng thà cứ dựng cái tượng bác hồ mình mẩy ốm nhom mặt mày hốc hác xanh rờn như ngọn lá khoai, hai con mắt sáng quắc như đèn pin, mặc cái áo lính bạc màu nhăn nhúm rộng thùng thình như áo khính, chống nạnh hai cánh tay giơ xương khẳng khiu như 2 ống mía lau... vẫn thường được vẽ rất to ở các đường phố chính vào những ngày hội tòng quân ra quân gì đó.. tôi thấy còn có ý nghĩa hơn! bác đang chống nạnh thách thức với bè lũ tay sai phản động và đế quốc trên toàn thế giới có ngon thì nhào vô kiếm ăn, dân tộc Việt Nam anh hùng sẽ cho chúng bay một bài học, nhiều bài học để đời! Chứ cái tượng đài bác với thiếu nhi sao mà.. kỳ cục quá! bác thì phương phi đẹp đẽ đến thế ấy, mà sao thiếu nhi trong tay bác thì ốm đói tội nghiệp đến thế nào! ( hay nó còn có ý nghĩa gì khác chăng mà một kẻ tầm thường đến mức... tầm bậy như tôi không thể nào hiểu nổi?)

    Nói chung, tôi từ xưa tới giờ vốn không để ý lắm đến những tượng đài dù cũ hay mới! Nói riêng, tôi có để ý hay không thì chúng cũng vẫn ở đó bất kể tôi có nhìn ngó tới hay không! Chỉ có điều mỗi lúc có việc cần đi qua ngã 6 Lý Thái Tổ tôi vẫn thường dè chừng không dám đi sát vào vòng xoay ở giữa nơi có đặt cụm tượng đài công nhân vuông chằn chặn với những nét cắt ngang cắt dọc theo kiểu hiện đại, mà những vết nứt hiện rõ trên đó đã từng được báo động trên báo chí về một ngày nào đó sẽ... xụm bà chè giữa lúc xe cộ vẫn đang lưu thông ầm ì chung quanh, nhưng chẳng thấy cơ quan chủ quản nào đứng ra chịu trách nhiệm trước bàn dân thiên hạ để đập bỏ vì sự an toàn và thanh lịch của thành phố thân yêu! Người ta vẫn vô tư qua lại mỗi ngày một cách tự nhiên - tôi thì vẫn dè chừng đi xa xa hơn một chút mỗi khi qua đó...

    Ở thị xã Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang, một trong Lục Tỉnh đáng yêu của miền Nam nước Việt trước đây, từ mấy năm nay người ta đã dựng tượng đài tôn vinh con cá Basa bên bờ sông thơ mộng mị của giòng An Giang trong xanh nước biếc! Con cá Basa (mà tôi chẳng thể nào phân biệt được cứ nhầm lẫn với con cá tra vì hồi tôi còn nhỏ đã làm gì có tên gọi cá basa, chỉ thấy cá basa y chang con cá tra được người ta nuôi trong cầu cá!) đã làm nên một kỳ tích xuất sắc là đánh bại được con cá da trơn vốn được xem là thế mạnh của Mỹ với giá thành hạ hơn hẳn, có lẽ do thực phẩm nuôi cá được sản xuất trong nước và cách chế biến đơn giản (ý ẹ! ) đã khiến Thương Mại Mỹ ăn gian cấm nhập con cá Basa bán phá giá vào thị trường Mỹ, đến nay cuộc chiến cá Basa vẫn chưa ngã ngũ ra sao! Vậy thì lập tượng đài cá Basa là tư duy đỉnh cao quá chứ còn gì nữa! Danh nhân vĩ nhân gì, anh hùng liệt sĩ gì cũng chết mất xác từ khuya! Con cá Basa còn tươi roi rói, dãy đành đạch đã oai hùng vượt biên giới mang lại đồng đô la ngoại tệ cho đất nước, không lập tượng đài nó còn lập tượng đài ai nữa bây giờ? Biết đâu vài năm nữa ta còn lập tượng đài con Tôm Sú nữa ấy chứ! Chẳng phải cuộc chiến chống phá giá Tôm đang bắt đầu đó hay sao?!!

    Tôi cũng có nghe nói đến tượng Bà Lê Chân nữ tướng của Hai Bà Trưng được đặt ở Hải Phòng, pho tượng đồng dựng nơi gió biển, mà hơi muối mặn đã làm hoen rỉ và bị ăn mòn nhiều chỗ dù chỉ mới được dựng lên một thời gian ngắn.

    Tượng Vua Quang Trung Nguyễn Huệ có thời nghe nói xây rồi đập, rồi xây lại qui mô hoành tráng hơn ở quê hương Tây Sơn của ông, cũng một thời xôn xao giấy mực ý kiến tranh luận đúng sai...

    Năm 2004 này được đặt tên là Năm Du Lịch Điện Biên! kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ vẻ vang bắt sống Tướng Pháp Đờ Cát Tơ Ri, chấm dứt mấy chục ngày đêm đào hầm kéo pháo lên trận địa, cắm thành công lá cờ pha màu máu lên đỉnh đồi A 1 vào ngày 7-5 54 lịch sử! Người ta đã lên kế hoạch dựng một tượng đài khổng lồ có tên là Chiến Thắng lên trên đỉnh đồi D 1 (thật tình tôi cũng không biết cái đồi D 1 đó nằm cạnh, đối diện hay sát cạnh bên đồi A 1 ra sao, vì thú thật là tôi chỉ biết đến Điện Biên Phủ qua cuốn phim Từ Sài Gòn Tới Điện Biên Phủ hồi xưa có 2 nữ diễn viên Kiều Chinh và Thẩm Thúy Hằng đóng!) còn sau 75 thì đã có lần tán hươu tán vượn khi làm bài thu hoạch từ mấy câu thơ của Tố Hữu: Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam, Mường Thanh Hồng Cúm Him Lam, hoa mơ lại trắng vườn cam lại vàng.. cái hồi còn đi dạy học phải làm bài sau một đợt học chính trị cuối hè! Tôi cũng chỉ mới biết đến cái tượng đài chiến thắng đó gần đây thôi, sau khi nó đã được đúc xong, chẳng biết bằng chất liệu gì, đồng hay gang hay thép! Cuộc hành trình đưa tượng đài này lên Điện Biên được truyền hình từng chặng dọc qua các tỉnh mà nó đi qua, hàng đoàn xe mấy chục chiếc phủ bạt đỏ rực với xe com măng ca dẫn đầu mỗi lúc dừng nơi thị xã thị trấn nào đều cũng có cờ quạt tưng bừng hoa tươi đủ sắc đón mừng ngoạn mục. Tượng được đúc rời thành nhiều khúc đã được đưa lên đến Điện Biên an toàn và thành công tốt đẹp vào tuần trước, có quay phim và đăng bài rầm rộ trên các báo (ngộ thiệt! không lẽ người ta chờ đợi sự thất bại khi chở tượng từ nơi đúc lên đến nơi đặt để hay sao mà cái việc chuyên chở bình thường qua từng vùng ấy lại được đón mừng như sự kiện trọng đại được loan tin hàng ngày và kết thúc bằng cả một cuộc mít tinh chào mừng có Chủ Tịch tỉnh đọc diễn văn, nhân dân vẫy cờ tung hô và thiếu nhi đánh trống ếch ầm ĩ trong lúc các đại biểu ôm hôn nhau thắm thiết!)

    Cái việc này thì cũng bình thường thôi! Nhưng vài ngày sau, trong một chương trình thời sự trên VTV 1 của đài Hà Nội, tôi thấy có một đoạn tin ngắn quay lướt qua đỉnh đồi nơi sẽ đặt tượng đài, với ngổn ngang gạch đá đang xây dựng dở dang, một phần tượng - hai cặp chân khổng lồ của hai chiến sĩ bộ đội được đúc rỗng - nằm chõng chơ, một đám đông quý ngài trong Ban Xây Dựng gì đó đang túm tụm bàn tán, nghe loáng thoáng những câu cãi nhau về biện pháp kết nối các phần tượng sao cho chắc chắn, cách xây móng chân tượng, cách làm kè chống sạt lở chân đồi...

    Thì ra cho dù đã lên kế hoạch và lập dự trù cũng như đã lãnh đầy đủ kinh phí từ lâu lắm nhưng người ta đã không hề tính toán tới việc một khối tượng đồ sộ nặng tới 250 tấn như tượng đài này khi mang đặt lên trên một ngọn đồi nhỏ như đồi D 1 thì ngọn đồi đó có chịu nổi hay không?! Mà lá cờ đỏ sao vàng bách chiến bách thắng tung bay trên đầu 2 người lính, nghe nói rộng đến 40 thước, cho dù làm bằng bất cứ thứ kim loại nào cũng sẽ như một cánh buồm to lớn lồng lộng hứng gió từ 4 phương 8 hướng, mà vật cản lớn nhất là tượng đài bên dưới sẽ lãnh đủ, sẽ bị vặn vẹo, cong gãy, thậm chí còn có thể tróc gốc, và nếu không bọc gió bay tuốt lên cung trăng như Cây Đa Chú Cuội thời xưa, chí ít cũng sẽ.. gởi gió cho mây ngàn bay như lời một bài hát tiền chiến của Đoàn Chuẩn Từ Linh!

    Từng khúc, từng khúc tượng đúc riêng rẻ mà không có lấy dù là một cái ngàm để có thể câu móc vào nhau cho chặt chẽ khi ráp nối, bây giờ người ta đang lập hẳn hoi ra một ủy ban để tìm biện pháp khắc phục! Họ đang nghĩ cách hàn kết thêm những thanh sắt, giàn sắt để bắt dính từng phần, mà cái đế tượng đài phải đúc bằng vật liệu gì và như thế nào thì cho đến lúc này vẫn còn đang là một ẩn số!!

    Công trình thế kỷ này không phải là công trình duy nhất được hoàn thành từ những cách làm dối trá, ngu dốt và hợm hĩnh của những kẻ chỉ biết vơ vét cho đầy túi một cách hợp pháp. Cũng như sân vận động lớn nhất Đông Nam Á Mỹ Đình với mặt sân cỏ lồi lõm chắp vá không hơn sân vận động của trường Đạt Đức nằm ở ngã năm chuồng chó hồi xưa là mấy! Cũng như từ hồi có công trình Thủy Điện Trị An, Thủy Điện Thác Mơ thì dân Sài Gòn xài điện chạy bằng sức nước phải trả tiền mắc gấp mấy lần cái thời xài điện bằng tuộc bin máy Đi Ơ Zen! cũng như từ khi đào kênh thủy lợi thay trời làm mưa ngọt hóa ruộng đồng thì dân ngoại ô như Nhà Bè, Bình Chánh, Cần Giờ phải è cổ ra mua từng lít nước ngọt từ nơi khác chuyển đến để uống, bởi vì nước dưới kênh thì mặn chát xanh lè do nhiễm phèn nhiễm mặn!...

    Đâu phải đây chỉ mới là lần đầu (và chắc chắn còn lâu lắm mới là lần cuối) người ta thi nhau đánh trống phất cờ ào ào hô khẩu hiệu rôm rả lúc bắt đầu và âm thầm lặng lẽ dấm dúi lúc kết thúc cho những thất bại đã được thấy từ trước nhưng vẫn phải đi cho đến cùng bất kể tốn kém hoang phí bởi đã lên kế hoạch và đã được duyệt phê! Chỉ còn không đầy 2 tháng nữa là tới ngày kỷ niệm tưng bừng chiến thắng Điện Biên, mùa hè mùa của kinh doanh du lịch, Việt Nam điểm đến an toàn, về thăm lại chiến trường xưa... Chắc chắn rồi tượng đài chiến thắng bằng cách này hay cách khác, bằng một cách nào đó cũng sẽ được dựng lên, nếu không thể trên đỉnh đồi D 1 thì người ta sẽ dựng lên trên một mặt bằng tổng thể nào đó đặt tên là D 1. Có sao đâu, thế gian biến đổi vũng nên đồi, thì cái đồi của một chiến thắng 50 năm xưa bây giờ cho dù chỉ còn là một cái gò hay trũng xuống thành một cái hố cũng là chuyện tất yếu khách quan, huống chi ngọn đồi ấy lại cõng trên mình đến 250 tấn kim loại tượng đài với một lá cờ phần phật gió tung bay! Người ta đã nói tới những cơn động đất có nhỏ có to ở Điện Biên, và nếu đến một ngày nào cái khối tượng đài ấy bỗng thấy mệt mỏi không còn muốn đứng chơ vơ vòi vọi một mình bởi những cánh tay dương cao mãi ngọn cờ đã thành tê bại; đã thấy chán không muốn dõi mắt nhìn cảnh núi rừng Tây Bắc điệp trùng xanh ngát (là tôi nói theo bài học ngày xưa đã dạy học trò cách đây 20 năm, chứ Tây Bắc bây giờ cũng nào chịu thua chị kém em, cũng đèn xanh đèn đỏ xập xình, mùi thơm thịt chó nức mũi, khói lam chiều không phải bốc lên từ những nếp nhà sàn hoang sơ mà bốc lên từ những nhà hàng đặc sản có cô gái người dân tộc mặc váy ngắn tóc uốn xù mồm nhai kẹo cao su thổi nghe bóc bóc!). Một sớm mai hay một tối nào, cái tượng đài ấy bỗng rã rời ra từng khúc rồi lăn đùng xuống đất mà về với Mẹ hiền (người ta chẳng nói Cha Trời Mẹ Đất là gì!) thì đã có những trận địa chấn, những cuộc động đất mấy độ rích te chịu trách nhiệm - tượng đài này vỡ ta lại xây dựng tượng đài khác, còn to đẹp gấp 10 lần hơn, bác đã chẳng từng dạy thế đó sao?!!

    Và tôi, một công dân vô danh của thành phố Sài Gòn trước đây. Một nhân dân hạng bét có đóng góp đầy đủ các loại thuế và các loại phí theo chủ trương chính sách của đảng và nhà nước hiện nay (trong đó có phí thoát nước mới có từ mấy năm nay có nghĩa là xài bao nhiêu mét khối nước một tháng thì nhà nước cũng sẽ thu mình bấy nhiêu số tiền tương ứng cho lượng nước thải ra, ưu tiên miễn giảm cho các loại nước khác trong cơ thể tuy cũng được thải ra ngoài nhưng không tính phí!) mỗi khi có một lúc nào bất chợt nhìn đến hay nghĩ đến những tượng đài dù là ở trong hay ngoài thành phố, đã hiểu được cái mà mấy chục năm trước tôi chưa từng và chưa bao giờ phải hiểu. Đó là Tượng Đài, ngoài cái dáng vẻ nó được mang còn chứa đựng trong đó biết bao nhiêu là sự việc, cái hình hài vô tri giác đứng chịu đựng nắng mưa gió bụi sương giá suốt ngày đêm ấy, còn là một biểu tượng vĩnh cửu cho những mưu tính tồi tệ béo bở của khối khối người!!!

    2004.
  13. CÂU CÁ



    Ở Việt Nam, khoảng chừng mười mấy năm về trước tự dưng nổi rộ lên phong trào câu cá. Hồi đó chưa có đủ các khoản "ăn chơi" như bây giờ, (nghĩa là câu cá chỉ là chuyện phụ, ăn và chơi mới là chuyện chính!) dân ghiền câu cá phải "đầu đội trời chân đạp đất" theo đúng nghĩa đen, vác cây cần trúc cùng cái giỏ to phồng chứa đủ thứ từ mồi câu cá tới mồi cho.. người, nước uống, thuốc hút, thuốc xức (muỗi) áo đi mưa... và cái ghế xếp gỗ bé tí chui xuống "đóng đô" dưới gầm cầu, "ngồi đồng" cả ngày bên bờ rạch, cạnh lòng kênh (thuở ấy tuy không còn trong văn vắt cá lội thành đàn như ngày xưa, nhưng chưa đen ngòm thúi hoắc lúc nhúc lăng quăng muỗi mòng như hiện tại!) dang nắng đội mưa để căng mắt nhìn cái phao nổi lơ lửng theo dòng nước chảy, nín thở nhìn từng tăm cá sủi trên mặt nước, hào hứng sung sướng khi giật được con cá to hay tiếc rẻ đến ngẩn ngơ nhìn con cá quẩy mạnh khỏi tay mình nhảy tòm xuống nước một đi không trở lại! (cá sẩy thường là cá lớn!). Mà cũng lắm khi ra về chỉ với mặt mày đen thui háp nắng cùng giỏ mồi cạn queo chẳng có lấy một con cá lòng tong làm thuốc!

    Đất chật người đông, con cá con tôm trong thiên nhiên ngày càng hiếm hoi. Người ta đào ao thả cá, cất những cái chòi lá lót sàn ván trên mặt ao rồi bán vé thu tiền. Chẳng cần quảng cáo gì cả mà dân câu cá cứ người nọ đồn kháo với người kia, kéo nhau tới đông vui như trẩy hội. Mỗi ao cá lại có cách chiêu dụ khách riêng: Ao thì cho mướn cần, bán mồi câu, cứ câu lên bao nhiêu thì cân ký tính tiền bấy nhiêu. Câu kiểu này chỉ hợp với những người muốn giết thì giờ, thích ra hưởng cái không khí thoáng đãng và không gian mát mẻ của vùng ngoại ô ít ồn ào bụi bặm. Mấy cô cậu học sinh trốn học hay chọn những chỗ này. Mồi thì chỉ là ít bánh tét hoặc tép ươn, lưỡi câu to đùng còn cái cần câu thì vừa dài vừa nặng như cái sào phơi quần áo, thường chẳng mấy khi cá thèm cắn câu. Vả lại cá mà câu được nhiều thì càng trả tiền nhiều, lắm khi bắt được cá lên lại quăng trả xuống ao cho nhẹ nợ! Với dân ghiền câu, mà lại câu giỏi, họ thích những ao bán vé theo cần hơn. Cứ mua vé một buổi hay cả ngày, tự làm mồi lấy từ nhà mang theo, chọn một chỗ thích hợp để quăng câu, bắt được bao nhiêu tùy theo tài nghệ của mình, câu càng giỏi càng có lợi.

    Ngày trước câu cá bằng mồi gì không biết, bây giờ bọn cá cũng õng ẹo lắm, mỗi giống cá lại ăn mồi riêng, mà lại phải có cám nhử, lại phải chìu theo thói quen của chúng mà thả câu thì mới mong bắt được cá đem về!

    Cá Chép ăn mồi sát đáy ao, phải kéo cái phao cho dài lên trên mà quăng dây nhợ ra khoảng nước sâu, mồi thì có khi là khoai lang luộc chín nhồi với bánh mì ngọt xay nhuyễn như bột, có người còn cầu kỳ cho thêm trứng gà vào cho dẻo, trộn thật đều rồi viên thành từng viên hơi dài bao lấy cái lưỡi câu, chỉ nhỏ cỡ đầu ngón út là vừa. Có khi phải dùng một sợi chỉ dài quấn lấy một nhúm trùn chỉ cột vào lưỡi câu, vừa cột vừa quấn vòng vòng sao cho nhúm trùn chỉ bọc kín cái lưỡi câu đủ chặt để khi quăng ra xa không bị sút rơi ra hết, mà cũng đủ nhẹ để cá chép có thể rỉa và lôi trùn chỉ được thì mới câu được cá…

    Cá Rô, thường người ta hay thả Rô Phi Đài Loan (đã Phi mà lại còn Đài Loan?!) loại cá này vây đỏ vảy đen ánh bạc con lớn có thể hơn 1 kg, trông xa giống như cá Tai Tượng. Rô Phi thường ăn gần bờ, mồi câu chỉ cần mấy con Trùn huyết ngắt từng đoạn sao cho còn ngo ngoe là xong.

    Cá Tai Tượng cũng thích ăn Trùn chỉ, nhưng loại này ăn tạp, mồi tép hay thịt bò cắt miếng nhỏ móc vào cũng không chê. Tai Tượng lại ham ăn, đã cắn câu là nuốt luôn cái lưỡi vô tuốt trong bụng, tha hồ giật cách gì cũng không sợ sẩy.

    Cá Trắm Trôi thì phải câu bằng Trứng Kiến, nếu được Trứng Kiến vàng loại lớn cỡ mút đũa là nhất, móc cái trứng ấy vào đầu lưỡi câu, người câu giỏi và lại gặp hên thì có thể cứ mỗi cái trứng là bắt được một con Trắm Trôi. Còn nếu Trứng Kiến nhỏ thì phải nhồi chung với khoai lang rồi cũng viên bao lấy lưỡi mà câu.

    Cũng với mồi Trứng Kiến người ta còn câu được cá Mè Vinh (hay Trà Vinh?) thân cá dẹt có hình thoi như cá Chim nhưng vảy bạc và vây đỏ, mắt đỏ. Cá Mè Vinh thịt ngọt và béo, có con to bằng hai bàn tay xòe mang về chiên cả vảy ăn giòn rụm thơm phức chứ không cứng như vảy cá Tai Tượng. Tuy nhiên cá lại hiếm có, may lắm thì một bữa câu mới bắt được vài ba con.

    Cá Tra, cá Mè nhớt thì ăn mồi bún nhồi với Mẻ, mà thường phải câu bằng cần câu máy, quăng thật xa với chùm lưỡi câu năm sáu lưỡi rồi gác cần ngồi đợi, cá cắn câu căng giây có khi giật cả cần xuống nước vì thường là loại to cỡ ba bốn ký trở lên. Phải biết cách nương theo cá mà quấn giây nhanh hay chậm, nhanh quá có khi đứt giây mà chậm tay quá chùng giây có khi cá sẩy. Loại câu máy này coi vậy mà không thú bằng câu tay, tuy bắt cá lớn nhưng phải là dân chuyên nghiệp với lỉnh kỉnh những là lưỡi chùm, phao nổi phao chìm, cần xếp, vợt lưới.v.v.

    Bạn có biết, cũng như người, cá thường ăn câu theo một khoảng thời gian nhất định? Nói thì có vẻ khó tin, chứ hình như cá cũng có giờ ăn hẳn hoi, là nói theo cách mà chúng ăn mồi trong ngày.

    Sáng sớm, khoảng bảy tám giờ (chắc giờ ăn sáng?) cá thường cắn câu nhiều, tới chín mười giờ thì hết. Buổi trưa từ một giờ tới tầm ba giờ là ngưng. Buổi chiều cỡ năm giờ tới bảy giờ. Dân câu gọi là Giờ G! Giờ quan trọng! (nói theo kiểu ba chục năm XN là Giờ cao Điểm) Ngoài giờ đó cá chỉ ăn mồi lai rai, phần nhiều là mấy con cá nhỏ chắc dạo chơi loanh quanh rồi vô tình mắc lưỡi.

    Hồi nhỏ thỉnh thoảng tôi vẫn theo Ba Má ra bến Bạch Đằng chơi, thấy người ta ngồi câu tôm ngay mé nước sát bờ sông gần nhà hàng nổi Ngân Đình, những con tôm càng to bằng cườm tay đứa nhỏ lên ba lên bốn khi đưa lên khỏi mặt nước thân hình vẫn còn trong vắt xanh biếc, giơ hai cái càng to kẹp chặt lấy sợi cước trắng phau. Còn khi về quê, quê tôi ở sát nách SaiGon, quận Tân Bình tỉnh Gia Định nên chẳng có sông sâu ngòi rộng, chỉ có mấy cánh đồng và ít đìa cạn thả Sen, thường vào buổi chiều, nhất là những lúc chiều mưa vừa tạnh, tôi hay thấy người ta vác cần câu cá lóc mà mồi là một con Nhái nhỏ được rê giật sao cho như còn đang sống nguyên và nhảy lom xom trên mặt nước để nhử cá Lóc phóng theo táp mồi. Thuở ấy cá tôm còn sẵn, một buổi câu có khi được cả thùng thiếc cá Lóc cá Tràu (cá Lóc nhỏ) và trong nhà lúc nào cũng có cá rộng sẵn trong lu. Cá Rô đồng thì con nào con nấy vàng lườm to mây mẩy, cá Trê mập ú còn Sặc rằn, Sặc Bướm mỗi lúc tát đìa là ăn không hết phải phơi khô để dành. Bạn còn nhớ không? cái mùi thơm nồng của khô cá Sặc nướng ăn với cơm nguội lúc chiều mưa, hay cầu kỳ hơn là trộn chung với dưa leo bào mỏng, thêm chút thịt quay xắt nhỏ, thơm cắt lát, và rau Răm, và nước mắm ớt chua ngọt rưới lên trên những miếng khô xé nhỏ, mỗi miếng cơm lua vào miệng đủ cả vị mặn ngọt chua cay bùi béo thơm tho ăn mãi chẳng biết no...

    Hồi đó, dân Chợ là tôi, mỗi khi về chơi thường theo dân Quê, là mấy đứa em họ ngang tuổi, ra ruộng bắt cá bằng nhiều cách.(là tụi nó bắt, còn tôi thì coi ) Đầu mùa mưa thường có cá Trắng, loại cá nhỏ cỡ mút đũa màu trắng bạc, có lẫn vào cả cá rô con, cá lòng tong, tép nhỏ... Ruộng lúc đó chưa cày cấy gì nên người ta đi Nhủi, là lấy một dụng cụ bắt cá bằng tre đan hình tam giác có hai càng đẩy ở hai cạnh, phần góc nhọn vạt tù làm điểm chạm đáy ruộng, người đi Nhủi (con nít như tụi tôi thì phải hai đứa mới đẩy nổi và cầm mỗi đứa một càng đẩy) đẩy chạy dọc chạy ngang để dồn cá vào trong. Cá trắng um với mỡ, ít hành lá, cho chút nước mắm, rắc chút tiêu, cuốn với bánh tráng dẻo và rau thơm chấm nước mắm pha chua ngọt ăn là.. hết biết! Còn không thì kho mặn trong ơ đất, con cá phải cứng cong lên và mặn như cõng theo mình muối trắng, tiêu thì cay thật cay, cơm gạo mới dẻo và thơm, chỉ có vậy thôi mà ăn quên thôi bạn ơi, nếu lại là chiều trời mưa lâm râm nữa thì ... hết ý!!

    Khi mưa xuống nhiều, ruộng nhiều nước hơn và mạ cấy trên đồng đã xanh mượt, cá cũng lớn hơn thì người ta câu cá trong ruộng bằng cần câu cắm. Cây cần câu cắm vót nhỏ khoảng nửa sải tay và có hình cong cong như một cây cung với sợi cước ngắn và lưỡi câu nhỏ nhưng bén ngót. Một bó cần câu ra cắm dọc theo bờ ruộng, mồi trùn móc vào thả xuống nước chẳng cần chì phao gì cả, cứ đi cắm hết một vòng bờ ruộng quay lại thăm chừng thể nào cũng có cần dính cá, chỉ việc gỡ cho vào cái đụt mang theo. Cá câu bằng cách này phần nhiều là cá Sặc, cá Rô, thỉnh thoảng cũng có vài ba con cá Tràu, cá Trê cỡ cườm tay con nít, cũng lắm khi hên thì vớ được con Lóc lớn ăn mồi, đi từ xa đã nghe tiếng quẩy nước và nhìn cái cần câu bị ghì nặng đầu cần xuống nước là biết ngay chính thị!

    Hồi xưa đi câu phải mang vác cần trúc trên vai, gặp cái cần vừa dài vừa nặng như kiểu mấy ông thợ câu cá Lóc thì chỉ cầm một lúc đã trở thành câu cá... đuối! Thời buổi văn minh người ta nghĩ ra đủ cách phục vụ dân câu, nhờ thế mà cây cần xếp từ xứ lạ nước ngoài đã nhanh chóng giành thế thượng phong chỉ một thời gian rất ngắn. Người ta đi câu, cũng như đi đánh Tennis, đánh Bóng bàn... họ nhìn nhau để trầm trồ hay ngầm ganh tỵ bởi cây vợt nhãn hiệu nổi tiếng, cây cần xếp Nhật hay Đài Loan, ngon nữa thì xài cần Mỹ, cần Pháp. Có người còn mang theo cả máy dò cá đặt trịnh trọng trên bờ cạnh chỗ mình ngồi, thò cái ống nhỏ có camera xuống dưới mặt nước để dò tìm. Mỗi khi có con cá nào lội ngang lại hiện ra hình trên máy với số kg, độ sâu dưới mặt nước .v.v. mà nhiều phần là người đi câu mải lo nhìn màn hình nên xao lảng chuyện câu kéo, có khi máy móc cần mồi gì cũng thuộc hàng "chiến đấu" nhưng kết quả thu được thì chẳng đáng bao nhiêu!

    Ngoài cái cần phải kha khá một chút, để không phải "quê" với thiên hạ khi mở ra câu, và đủ dẻo, đủ dài để có thể bắt được cá lớn mà vẫn nhẹ vừa để cầm lâu trên tay, dân câu còn phải biết cách cột lưỡi câu, cột chì sao cho đừng nặng quá mà cũng đừng nhẹ quá, nặng quá thì lưỡi câu có mồi chìm xuống tuốt dưới đáy cá không thấy mà ăn, nhẹ quá thì trôi lêu bêu theo dòng nước chỉ tổ làm mồi cho cá con, cá nhỏ.. Thường khi đi câu phải mang theo "sơ cua" vài sợi dây cước có cột sẵn chì, lưỡi, phòng khi vướng vào lùm bụi hay cá lớn giật đứt. Lại phải có vợt để vớt cá, lồng nhốt cá làm bằng chỉ đan để nhốt cá rộng dưới nước khi câu được.

    Chọn một chỗ ngồi ưng ý, nghĩa là phải thoáng để quăng câu, và gần nơi có bè rau muống hay đám sen đám súng để rình bắt cá núp trong đó, nhưng cũng không được gần quá cá vừa cắn câu đã chạy tọt vào trong là vướng tùm lum hết bắt! Chỉnh cái phao cho vừa với độ sâu của nước, canh sao cho phao lúc nào cũng đứng sững ngang mặt nước là được. Phao ngoại thường dài cỡ hơn một tấc, thường có màu xanh lá cây hay màu cam rực rỡ và to gần bằng một chiếc đũa ăn cơm, do đó khá nặng, tuy nổi trên mặt nước nhưng dễ làm cá nhát, và có khi cá rỉa mồi nhè nhẹ thì khó thấy! Bạn bè tôi tự chế lấy phao bằng một đoạn ống hút nhựa, loại dùng kèm theo hộp để uống sữa tươi, ống nhỏ mà cứng hơn loại thường. Cắt một đoạn cỡ bằng ngón tay trỏ hàn kín 2 đầu lại cho nước khỏi vô được rồi cột vào phía trên mấy cục chì, phải cột sao cho có thể kéo phao chạy lên xuống dễ dàng và khi chì cùng lưỡi chìm xuống thì phao phải thẳng đứng với mặt nước. Với phao này, cá chỉ cần rỉa nhẹ hay đụng khẽ vào mồi là phao đã nhịp ngay, rất dễ biết.

    Trước tiên phải ném cám nhử. Cám làm bằng gạo và mè rang vàng nâu, tai vị (hoa Hồi) rang hơi khét, tất cả xay nhuyễn trộn chung lại. Móc một cục bùn cỡ nắm tay, cho thêm ít nước hơi nhão rồi nhồi với cám nhử thành một cục, chọn chỗ nước thích hợp với loại cá định câu mà ném cục cám nhử xuống. Mùi thơm của cám sẽ kéo cá tới chỉ sau khoảng mươi mười lăm phút, cục bùn giữ cám lại trong đó và tan ra từ từ chứ không như cám rải trên mặt nước sẽ nhanh chóng trôi hết theo giòng, mùi thơm tan biến hết thì... chim trời cá nước biết sao mà bắt! (hồi đó tụi tôi thường cử tên nào giỏi nhất chọi cho chính xác cục cám đúng ngay chỗ đã quăng câu làm mẫu để dụ cá, cái vụ dụ dỗ này cần thiết lắm đó, bạn à!) Cá Chép thì sủi tăm từng chùm như cơm sôi dọc theo hướng đi. Cá Rô thì tăm lớn cỡ ngón tay nhưng thưa hơn, cá Trắm thì tăm nhỏ và dài đứt khoảng... Nếu cái phao mà nẩy tưng tưng trên mặt nước thì trăm phần trăm là bọn cá nhỏ chạy theo rỉa mồi. Cá lớn bao giờ cũng ăn từ từ, bắt đầu có thể là một cái đụng nhẹ như thăm dò vào cục mồi khiến cái phao hơi nhịp một cái rồi trở lại thăng bằng, sau đó phao khẽ đu đưa và nhịp thêm vài ba cái nữa rồi thình lình chìm xuống mất hút. Cá cắn kiểu này thường chỉ cần giật mạnh cần là được vì cái mồi cá đã ngậm vào miệng mà lôi chạy, rất dễ xóc lưỡi. Cũng có khi cái phao không chìm mất mà lại nổi bềnh nằm ngang trên mặt nước, lúc đó phải nhẹ nhàng dựng cần câu lên cho sợi cước căng thẳng rồi giật nhẹ một cái cho xóc lưỡi câu vì cá đang nâng mồi lên, sau đó mới giật mạnh. Khó hơn là cá chỉ rỉa mồi làm cho cái phao nhịp nhè nhẹ đều đều, không lôi cũng không nâng, phải canh lúc cái phao nhịp liền đều đặn thì nâng giây mà giật mạnh, chùng giây sẽ không xóc được lưỡi, mất cá ngay. Phao không chìm mà lại trôi ngang hay trôi xuôi là lúc cá đã say mồi rê chạy cũng dễ bắt như phao rút mất, chỉ phải giật theo chiều ngược lại của cái phao đang trôi mà thôi.

    Đi câu, thú vị và hồi hộp nhất là lúc con cá còn nằm dưới nước, mình nhìn theo tăm cá sủi dần dần từ xa đi tới gần chỗ mình buông câu, nín thở nhìn cái phao khẽ động đậy nhè nhẹ, nước xao thành từng vòng nhỏ chung quanh, rồi cú giật quyết định với đầu cần trĩu nặng trong tay, sợi giây cước căng thẳng chạy vòng vèo qua lại dưới nước... Phải dựng đầu cần cho thẳng đứng với mặt đất để mặc cá chạy một lúc cho thấm mệt, mà phải canh không để cá chui vào lùm vào bụi quấn giây cá sẩy, tuyệt đối không được lùi vì căng giây quá sẽ đứt mất cả lưỡi cả giây, cũng không được chúc hay ngang đầu cần lưỡi dễ sút ra mất cá. Kinh nghiệm ấy phải trải qua bao lần ngẩn ngơ tiếc nuối và bao nhiêu ngày dang nắng đội mưa mới thành, nói thì dễ nhưng không phải ai cũng nắm bắt được nếu không phải là dân mê câu cá.

    Bây giờ, cùng với tốc độ xây dựng phát triển nhanh đến chóng mặt của thành phố, đất đai lên gần như hàng ngày, những ao cá ngày trước hầu hết đã được san lấp để cất nhà, cất chung cư, xây biệt thự. Dân câu cá chỉ còn mấy cái hồ nhỏ bé trong công viên để thả câu cho đỡ ghiền, mấy con cá Rô bé cỡ ba ngón tay và vài con Chép đỏ Chép đen chỉ nhỉnh hơn cá thả trong lồng kiếng nuôi chơi một tí, mà có khi cũng chẳng câu được con nào vì chốc chốc lại "tõm" một phát, mấy tay câu cần máy quăng ngay cái chùm câu có phao nổi to như trái banh lông sát chỗ mình thả câu, cá nào mà dám tụ lại ăn mồi!

    Lâu rồi bạn bè tôi không còn cái thú đi câu. Thỉnh thoảng, trong cơn mơ tôi vẫn nhìn thấy cái phao màu trắng sữa nổi nhẹ nhàng trên giòng nước chảy, rồi hoặc bềnh lên hoặc bỗng dưng bị kéo tụt xuống nước, mà cái cảm giác tim đập hụt mất một nhịp như cái hồi còn cầm chắc cái cần câu trong tay lúc tỉnh giấc vẫn còn lưu lại trong tôi thật nhiều tiếc nhớ!

    Vân Giang.
  14. Đọc trên báo sáng nay thấy tin nhà thơ Tế Hanh qua đời, chợt nhớ tới một bài thơ ngắn cách đây ba mươi tám năm đã chép trong cuốn sổ thơ thuở còn thiếu nữ, xin được chép lại như một nén nhang lòng kính trao về người quá cố.

    MUA HOA.

    -Anh mua bó hoa tươi
    Tặng người anh gặp gỡ.
    - Người ta bỏ tôi rồi
    Tôi mua làm gì nữa!

    - Anh dùng bó Huệ trắng
    Biếu một kẻ tương thân.
    - Tôi có một người bạn
    Nhưng tôi chẳng được gần!

    Đừng hỏi nữa người ơi!
    Tôi chẳng thích hoa tươi.
    Người bán chùm hoa héo
    Để tôi tặng hồn tôi!

    TẾ HANH.
  15. LỀ ĐƯỜNG​



    1/ LỀ


    Phải là người thành phố Sài Gòn hiện nay mới biết được thế nào là lề! Không dám đâu! Bởi đâu chỉ có Sài Gòn mới có lề (trên đường). Nhưng phải là người Sài Gòn mới thấy Lề bị te tua, tàn tạ, tả tơi, tê tái ra sao trong suốt mấy chục năm qua.

    Tôi không được đọc truyện NẾU ĐI HẾT BIỂN của ông nhà văn Trần Văn Thủy. Thứ nhất vì tôi không có tiền mua, thứ hai dẫu có tiền thì tôi cũng nhất định không bao giờ mua sách của tác giả mà tôi không thích, nhưng tôi có đọc trong TVVN một bài bình luận về cuốn truyện này, đại khái ông nhà văn cho rằng dù có đi xa tới nơi nào, tới đâu, sau khi đi hết biển rồi thì người ta cũng sẽ trở về lại nơi chốn quê mình, làng mình, nghĩa là, theo sự hiểu biết i tờ của tôi, thì rồi cũng sẽ quay trở lại điểm khởi đầu. Chắc mấy ông kỹ sư cầu cống (bây giờ người ta kêu bằng kỹ sư cầu đường) thuộc nằm lòng truyện của ông Trần Văn Thủy, nên sau bao cuộc cãi cách (cãi nhau về cách làm) cái lề lại quay về u như kỹ (y như cũ)!!

    Hồi tôi còn nhỏ, hình như có những con đường mà lề có bồn trồng cỏ, trồng hoa dọc theo lối đi dành cho người đi bộ. Xe cộ lúc đó không nhiều lắm, người đi đường cũng vậy, nên có khi đi trên lề mà còn hái được những bông cỏ đuôi chồn phơ phất bên những bông hoa cúc nút áo vàng nhạt xinh xinh, và có khi được ngắm mấy cánh bướm đủ màu tung tăng bên những con chuồn chuồn ớt đỏ kiêu hãnh lượn thành vòng.

    Hồi bảy mươi lăm, lề ở những đường phố chính biến thành sạp hàng lưu động, ở những đường vắng thì trở thành luống trồng rau, trồng khoai (sân bay hồi đó người ta còn trồng bắp, trồng sả, trồng rau muống nữa là!!!). Sau đó thì lề biến thành công trường, là nơi mà công nhân hết đào lại lát, hết lát lại đào. Miệt mài, mê mải không mệt mỏi.

    Bây giờ, chắc đã Đi Hết Biển, lề đang ca bài ca như ông bố già (dịch) Phạm Duy từng cảm xúc: Có kiếp sau đâu mà đợi... Lề bèn trở lại thành chỗ có bồn trồng cỏ, có luống trồng hoa, có ụ trồng cây. Ngày ngày công nhân công ty công viên cây xanh hí hoáy tỉa tỉa cắt cắt, hì hục tưới nước, và người ta chụp hình đăng báo về mảng xanh, về lá phổi của thành phố ... Hẳn cái người nào đó đã đưa ra cách làm tuy cũ rích mà được ca tụng là mới mẻ này, đã được tưởng thưởng và tự thưởng cho mình số tiền thù lao không ít!!

    2/ ĐƯỜNG.

    Ở đâu có ĐƯỜNG CHỜ LÚN? Trong thành phố này có những con đường được gắn bảng hẳn hòi như thế. Không biết mấy ông kỹ sư cầu đường có được đào tạo cho cách tính thời gian chờ đợi chung hay riêng cho mỗi con đường, và tính toán ra sao, mà đường làm xong, con đường nào cũng cao hơn đường cũ có khi cả mét!! Có những căn nhà trước khi đường làm cao hơn lề đường ba, bốn tấc, mà lề thì cao hơn đường hai, ba tấc, sau khi đường mới làm xong bỗng trở thành thấp hơn đường bốn năm tấc, lề làm mới cao ba tấc nữa thành ra nhà thấp hơn lề tới cả thước tây, muốn vô nhà phải xây bậc thang như xuống thám hiểm địa đạo, chưa kể vô phước mà nhà nào trước đó làm cửa mở cánh ra ngoài lề, chỉ có nước tháo hết cánh cửa cũ ra mới có lối đi ra. Sau khi chờ mãi mà đường chưa thấy lún bao nhiêu, mà mỗi khi mưa lớn, nước sông lên cao, bao nhiêu nước cống nước mưa đều dội thẳng, chảy trọn vào lòng nhà thấp hơn nền đường của mình, người ta bèn tự cứu bằng cách nâng nền nhà lên, có khi đi vô nhà chỉ cần vói tay một chút đã đụng trần, muốn thay bóng đèn hay lau bụi thì khoẻ re, khỏi cần bắc ghế, khỏi lo bị té!

    Nếu bạn là người xưa nay chưa từng biết chửi thề dẫu 1 tiếng, mời bạn về đây, mời bạn cùng đi qua những con đường bị đào nham nhở, bị rào chắn bít bùng bằng hàng hàng lớp lớp những tấm tôn dài như vạn lý trường thành thu nhỏ ngay trên đường đi, chỉ chừa lại một lối cho xe qua nhỏ xíu, mà bạn đứng kẹt cứng giữa một rừng xe gắn máy phả khói khét lẹt giữa cái nóng nung người của Sài gòn, trong tiếng còi xe nhấn vô tội vạ và bụi bốc mù mịt, bỗng trời xáng xuống một cơn mưa mà chỉ nửa giờ sau là nước mưa lẫn nước cống từ từ dâng lên, mới đầu chỉ tới mắt cá chân, sau dần lên tới bắp chân, rồi đầu gối và xe bạn đang đi bị ướt bu gi chết máy, người bạn ướt nhẹp mà chẳng thể nhúc nhích đi đâu được, và cái thằng đứng sau lưng bạn lại len lỏi, luồn lách cán đè lên chân bạn đang ngập trong nước, mà còn trợn mắt phùng mang mắng bạn, thì tôi cam đoan, sẽ là rất thích hợp để bạn xổ tiếng Đan Mạch một cách lưu loát và trơn tru, nếu bạn không xổ đó mới là lạ!!

    3/ LỀ VÀ ĐƯỜNG.

    Là hai thứ luôn gắn bó với nhau, nhưng đôi khi thay đổi vị trí cho nhau. Bởi nhiều khi người ta đi bộ dưới lòng đường, còn thường thì lúc kẹt xe, người ta tỉnh queo (như người Hà Lội) chạy xe trên lề, có hay không cảnh sát cũng vậy thôi! Lề nhiều chỗ là bãi giữ xe, là nơi bày bán hàng hoá, còn đường nhiều chỗ trước quán ăn là nơi nhân viên quán nhào ra chặn xe khách đi ngang qua để níu kéo khách vô quán mình mà ăn, mà uống, mà mát xa mát gần... tùy đối tượng.

    Khoan hãy nói những chuyện dời non lấp biển, khoan hãy nói chuyện thay nọ đổi kia. Không còn "ra ngõ là gặp anh hùng" như trước đây người ta hay nói. Bao giờ ra ngõ mà vẫn còn gặp lề đường đào bới lung tung, lồi lõm dợn sóng, rào ngang chắn dọc, vá chằng vá đụp như cái váy mốc của mụ ăn mày hồi xửa hồi xưa, thì chuyện to tát đổi mới gì đi nữa, theo tôi, vẫn là: SỨC MẤY!!