Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Năm 1979, sau khi về dạy trường cấp 1, 2 xã A, huyện B được một năm, Thành nhận được một lời mời dự Lễ Tuyên Bố Kết hHôn của cô Du, giáo viên cấp 1. Thời ấy, tuổi từ hai mươi mốt đến hai mươi lăm, giáo viên nam nữ cặp bồ cặp bịch với nhau nhiều lắm, nhưng tất cả đều " tình trong như đã mặt ngoài còn e". E đây là vì không ai dám làm đám cưới, Lễ Tuyên Bố gì cả. Cứ cặp nhau cho vui, còn chuyện lập gia đình cứ phải chờ.

    Năm 1979 là năm Việt Nam đói rã rời ai cũng biết. Ở miền Đông Nam phần của Thành còn đói bạo hơn nữa, vì do "ngăn sông cấm chợ", lúa gạo miền Tây nào được về đây. Thành ra vùng miền Đông này có gì ăn nấy: Cơm, bo bo, nần, bắp, khoai mì, khoai lang, bột mì Liên Xô, chuối, ổi, vú sữa, mít, v.v... Cứ đói có gì đem nhét đầy bụng là được rồi. Không có gì khổ bằng những người giáo viên xa gia đình, dọn đến những nơi ở tập thể giáo viên, để làm nghề dạy học trong thời gian này.

    May mắn cho Thành, nhà anh chỉ cách trường 5 cây số, nên anh vẫn sáng sáng trưa trưa xe đạp đi, về. Còn những thằng bạn người Bắc bảy mươi lăm, người miền Trung, Sài Gòn mới thật là khổ. Một tháng 55 đồng, 13 ký gồm gạo ba bốn ký, còn lại là bobo và khoai mì. Tiêu chuẩn "bồi dưỡng": Đường nửa ký, sữa một hộp, lave hai chai (thỉnh thoảng mới có), nếu có xe Honda được thêm vài lít xăng (thỉnh thoảng mới có). Tiêu chuẩn như vậy ai cũng thấy là khổ rồi, vì bấy giờ phở bình dân, loại dở nhất, cũng đã ba đồng một tô. Còn ngon nhất thì thú thật lúc đó bọn giáo viên nghèo như Thành không có thằng nào dám thử.

    Thành đi dạy học, sáng sáng được nhà cho một ít cơm trộn khoai vào trong lon Guigoz, trên mặt để một miếng cá chiên nhỏ. Đó là tiêu chuẩn ăn trưa. Bỏ lon guigoz vô cặp, đôi lúc Thành nhớ lại thời nhỏ, thấy các anh chăn bò, trưa trưa, ngồi dở mên cơm ra ăn, cũng tiêu chuẩn y chang như vậy. Đúng là giáo viên lúc này khổ bằng mấy anh chăn bò trước đó hai mươi năm. À quên, lúc đó mấy anh chăn bò ăn toàn cơm trắng, không có độn khoai lang khoai mì như bây giờ.

    Buổi trưa sau giờ dạy học, trời miền Nam nắng quá, chưa có vợ con, nên Thành ít có lật đật đạp xe về nhà như những đồng nghiệp đã có gia đình. Anh ở lại, vào nhà ăn tập thể ăn trưa với các bạn giáo viên cho vui. Chiều, trời mát mới đạp xe về. Thú thật, lúc đó chỉ thấy mấy thằng bạn dân Sài Gòn này ăn mỗi tháng có ba bốn lần cơm, còn phần nhiều là ăn bo bo, thậm chí năm bảy bữa, buổi trưa chỉ có ăn khoai mì luột chấm muối trắng! Nhưng phòng tập thể bên cạnh, dành cho các cô giáo, hình như các cô ăn tử tế hơn, vì nữ nên ít ăn, ít tốn, với lại các cô không có tiêu xài vụ cà phê, thuốc lá như đồng nghiệp nam, nên các cô còn tiền để mua gạo.

    Khu tập thể có một chị công nhân viên tên Pho nấu cơm cho giáo viên. Nhưng chị chỉ nấu cho nam. Các cô giáo không muốn làm phiền chị, tự nấu riêng. Chị Pho quanh năm suốt tháng mặc bộ đồ bà ba đen, dù chị không phải dân trong rừng mới ra. Chị hút thuốc vấn liên miên, nhưng chị hay cười nên đưa nguyên hàm răng đóng khói vàng như những đàn ông hút thuốc lá ở nhà quê, và cứ trưa trưa chiều chiều chị đều cho giáo viên tập thể ăn món cá trít kho. Kho triền miên chiến.

    Ăn xong mấy thằng thầy giáo rủ nhau ra quán đầu đường kêu nước đá nhận uống để cơ thể có thêm chút ít đường. Còn các cô giáo đời nào dám đi, dù tụi Thành có rủ cách mấy. Trái cây tráng miệng thì hình như rất hiếm thấy. Thỉnh thoảng có bác hàng xóm phụ huynh học sinh nào đó được mùa tốt bụng nấu cho nồi chè, thì lúc đó nam nữ giáo viên mới có dịp ngồi ăn chè chung.

    Trở lại vụ mời «đám cưới». Chị Du, lớn hơn tụi Thành năm sáu tuổi. Người miền Nam từ hồi nào đến giờ. Nhan sắc chị trung bình, được một điều chị hiền thục, từ tốn. Trong trường chị không nổi cũng không chìm. Không hiểu sao, đến lúc ấy chị vẫn chưa có chồng, trong khi tuổi chị thường các cô đã có chồng ít ra một hai năm rồi.

    Thấy chị hiền, nhưng lanh, biết lo nên ban giám hiệu và Công Đoàn trường cử chị lo về chuyện mua, lãnh nhu yếu phẩm cho công nhân, giáo viên. Thỉnh thoảng chị trực tiếp nhờ, hoặc trường phân công, Thành cũng đi lãnh hàng với chị ở Phòng Thương Nghiệp huyện.

    Vào căn nhà to lớn, thời trước dùng để cho Cảnh Sát Dã Chiến, như bao người khác, chị Du cũng phải xếp hàng để trình Sổ Mua Nhu Yếu Phẩm. Ở bàn ngồi, anh cán bộ tuổi trung niên, tên Hải, người Bắc mới vào Nam sau ngày ba mươi tháng Tư, đang duyệt sổ sách để ký giấy cấp hàng. Nước da anh ngâm đen, má anh hõm, nhưng hàm răng trắng. Trông anh cũng được. Không đẹp không xấu. Anh hiền, không hách dịch, tra hỏi. Thời này, ghế ngồi này hái ra tiền. Sữa, đường, bột ngọt, bột mì…dư, tồn kho. Nhứt thương nghiệp, nhì…gì ? Lâu quá rồi, quên mất ! Sổ được duyệt xong, Thành và chị Du đi đến kho để lãnh hàng, khệ nệ chở về phân phát cho giáo viên. Mồ hôi chị Du lấm tấm trên trán, thấm trên áo bà ba. Về đến trường chị sắp đồ đạc ra trên bàn. Khổ nhất là thấy các chị ra chia từng phần nửa ký đường và những nhúm bột ngọt. Hai mươi lăm giáo viên là hai mươi lăm bịt nửa ký đường và hai mươi lăm nhúm bột ngọt. Đường cát còn dễ chia, chớ bột ngọt thật khó vô cùng, ly ti, chẳng lẽ đếm từ hột. Nhưng được tiếng là giáo viên miền Nam, ngày đó, dù phải chịu cảnh mới Quốc Doanh, bao cấp, tem phiếu, nhưng không ai vì một chút đường một chút bột ngọt mà lời qua tiếng lại. Cùng một cảnh bên trời lận đận, thương nhau không hềt ai nở vì một chút miếng ăn do nhà nước ban phát mà gây gổ với nhau. Lãnh 1 hộp sữa thì lúc nào Thành cũng bán để lấy tiền xài chỉ trừ khi nào trong nhà có người bịnh, lãnh xăng thì để dành cho chiếc xe Honda cũ khi cần chạy, còn thỉnh thoảng họa hoằn được 2 chai lave loại trái thơm, con cọp, thì Thành cho ông già để gọi là trả hiếu. Nửa ký đường cát thì giao cho bà già. Công cha mẹ làm lụng nuôi con ăn học, giờ ra đi làm cũng phải có gì trả hiếu cho ông già. Nhưng ba cái cho này như muối bỏ biển.

    Hôm dự Lễ Tuyên Bố ở nhà chị Du, lần đâu tiên Thành mới biết nhà chị. Nhà không xa đường cái lớn, nhưng muốn vào phải đi trên bờ đê đám ruộng. Bờ đê này để đi bộ chớ không phải để đi xe đạp, hoặc xe hơi. Lạng quạng, không chú ý có thể bị trược chân ngả xuống vì đường trơn trợt. Ruộng mùa này vừa cấy xong, nước săm sắp, màu mạ xanh tươi. Ngôi nhà chị là căn nhà nhỏ lợp tôn, vách dán. Chị sống với một mẹ già. Cha chị mất đã lâu.

    Đã nghe về người chồng tương lai của chị Du, nên tụi này không mấy ngạc nhiên khi gặp đôi vợ chồng đang đứng trước nhà đón chào khách. Chồng chị Du là anh Hải. Nghe nói bây giờ anh làm trưởng phòng Thương Nghiệp Huyện, không biết ngày trước khi ngồi ký sổ Nhu Yếu Phẩm anh có chức vụ gì? Có lẽ vì cứ đi mua hàng hàng tháng cho trường nên anh chị có dịp gặp nhau, phải lòng nhau. Bây giờ, khi anh đứng Thành mới thấy anh có dáng cao, người ốm, nhưng rắn chắc. Hôm Lễ Tuyên Bố anh mặc chiếc áo trắng cụt tay, quần Tây màu xanh da trời. Giày Sandal mủ, màu trắng ngà. Nhìn anh đúng là cán bộ. Còn chị Du mặc chiếc áo cưới màu đỏ, có những vân chỉ màu vàng kim tuyến, đầu đội mũ "Trưng Trắc, Trưng Nhị". Lần đâu tiên thấy mặt chị có phấn hồng, mắt chị kẽ đường viền đen. Hôm đó thấy chị đẹp hẳn ra. Không biết bỡi nguyên nhân gì nhưng trông chị có vẻ e thẹn trong ngày cưới. Anh Hải cũng vậy, nhưng anh nén vẻ e ngại bằng cung cách lịch sự, cười nói cỡi mở với bạn bè của vợ.

    Ngày đám cưới không thấy ai là thân nhân của anh từ Bắc vô. Hôm ấy quan khách ăn đám cưới với bánh ngọt, nước trà, sau khi cô dâu chú rể đứng trước bàn thờ có hình ông Hồ để tuyên bố gì đó. Đám cưới đơn giản, đánh dấu ngày anh Hải, chị Du thành vợ chồng.

    Hai mươi mấy năm sau, nghe kể lại, chị đã nghỉ dạy học lâu rồi, làm nghề bán quần áo cưới trong căn nhà khá lớn của hai vợ chồng tậu được ở một góc đường, ngoài thị xã. Cũng mừng cho chị. Rồi sau đó nghe nói, thị xã phá nhà hai bên đường để làm đường lớn, nhà chị Du bây giờ có bề ngang 10 mét nhưng bề sâu có khoảng 4 mét. Như cá lẹp. Anh Hải hay cằn nhằn: Mấy bố bây giờ, cứ được cho đi thăm Sin-Ga-Por, thấy xứ người ta làm sau thì về cứ y như thế mà làm. Mở đường cho lớn, làm nhà dân chẳng ra làm sao!

    Trong trường cấp 2 của Thành bấy giờ đã có anh giáo viên trẻ người Bắc vừa từ Bắc vào, tên Quân. Quân hiền hậu, hoà đồng. Không thấy Quân một lần khoác lác, khoe khoang về xã hội ngoài Bắc. Giáo viên trong trường cũng đầy người Bắc 54, nên Quân hoà đồng rất dễ dàng, nhất là món "cầy tơ" thì các anh này hoà đồng lẹ nhất. Gặp Thời, giáo viên từ miền Hố Nai Gia Kiệm, hai anh này họp lại chủ trì những lần làm thịt chó ngay tại trong nhà tập thể giáo viên vào những buổi tối. Dưới ngọn đèn dầu tù mù (những khi bị cúp điện) món chó luột chấm muối cũng làm cho đám giáo viên ham thịt chó vui như có ngày hội nhỏ.

    Thời gian này đất nước Việt Nam nghèo lắm. Tận cùng bằng số. Nhưng niềm vui vẫn đến. Giáo viên, học sinh vẫn cười và tình yêu vẫn nở. Yêu nhau nhưng không ai muốn cưới nhau. Nhìn về tương lai ai cũng sợ. Mình ăn bo bo, khoai, bắp được rồi, lấy nhau có con lấy gì cho con bú, con ăn.

    Nhưng chính những anh giáo viên người Bắc 75 có lẽ là những người mang lại quan niệm sống mới cho các giáo viên miền Nam cũ. Các anh các chị thấy rất vui. Có lẽ những năm tháng ngoài Bắc khó khăn hơn nhiều, miền Nam hiện tại đối với người miền Nam thì khổ thật, nhưng với họ đã là thiên đường nho nhỏ rồi. Họ tươi vui, ít tỏ ra sầu não. Một anh bạn hơi lớn tuổi, cán bộ người Bắc làm ở Phòng Giáo Dục huyện, khi thân đã có lần tâm sự với Thành: Ở ngoài Bắc tớ cũng làm trong Phòng Giáo Dục. Cứ lập phương án, cứ đề nghị… thế là có tiền tiêu. Tụi mày cứ như thế. Anh rất vui và tỏ ra rất là dân chịu ch.. ơ..i!

    Người như anh bạn này đâu có gì để mất, bây giờ lại có thêm, không vui sao được.

    Một hôm trường của Thành đón một đoàn khoảng 15 sinh viên về thực tập. Trường đón đoàn thực tập về là chuyện bình thường, nhưng lần này người dẫn đoàn là một giáo viên người Bắc, dạy môn vẽ ở trường Cao Đẳng Sư Phạm của tỉnh. Anh đẹp trai, lanh lẹ, miệng mồm. Nhưng vài ngày sau thì trong trường nếu chút để ý, ai cũng nhận ra ngay: Anh đang theo đuổi cô giáo sinh người Nam rất đẹp đang có mặt trong đoàn thực tập. Tình Bắc duyên Nam. Chắc vì vậy nên anh xin làm trưởng đoàn này. Nhìn cô lúc đó không thua gì ca sĩ Băng Châu của năm 72 đâu (có cần phải diễn tả khuôn mặt và vóc dáng của ca sĩ Băng Châu ra đây không. Chắc là không, vì ai ai cũng từng thấy cô ca trên truyền hình và trong các phim đã được trình chiếu ở miền Nam trước 75). Anh chìu chuộng săn sóc cô rất mực. Hôm đoàn thực tập sinh hoạt văn nghệ với giáo viên trong trường, anh làm giáo viên trường Thành kinh ngạc khi anh đứng lên đóng góp bằng hai câu vọng cổ. Anh ca nghe cũng được, nhưng chắc hôm đó anh muốn ca cho "cô giáo sinh viên của anh" nghe thôi. Bọn Thành, ai thích cũng đóng góp màng ca, kể chuyện, cho vui trong ngày họp mặt.

    Nhưng anh trưởng đoàn này không qua mặt được giáo viên Quân, cũng người Bắc, về môn văn nghệ. Hôm đó Quân ngâm thơ. Về bài thơ, Thành còn nhớ vài câu như sau:

    Con đi trăm núi nghìn khe
    Không bằng khó nhọc đời Bầm sáu mươi.
    Con đi đánh giặc mười năm
    Không bằng….


    Giọng Quân ngâm nghe lảnh lót. Theo Thành, anh trưởng đoàn thực tập ca vọng cổ là muốn chơi trội, còn Quân, ngâm thơ, là tiếng lòng thật của Quân khi nghĩ về người mẹ còn ở trên đất Bắc. Khi ngâm, mắt Quân mơ màng hướng về phía xa, giọng Bắc trong trẻo, khi ngâm nghe rất lạ, rất thống thiết. Kể từ hôm đó trong trường mọi người mới biết ngoài tài làm thịt chó, Quân còn có tài ngâm thơ.

    Hai mươi mấy năm sau, nghe kể lại Quân về Bắc cưới vợ đem vô Nam, sinh con, Quân vẫn đi dạy học, lên làm phó hiệu trưởng, vợ ở nhà nuôi heo. Cuộc sống bình yên.

    Chuyện trường lớp sau 75 chắc viết hoài cũng không hết. Xin tạm dừng lại nơi đây.



    Vũ Nam (Đức Germany)
  2. Ngày xưa khi ngồi chung dưới mái trường trung học Khương không để ý đến Hồ Thu. Rõ ra là Khương không thấy phải lòng với Thu, không thấy yêu Thu. Những lúc lớp bận rộn làm bích báo, hai người có dịp gần gũi vào những buổi chiều sau nguyên một buổi sáng đã gặp nhau ở trường, Khương đâu có "tán tỉnh" Hồ Thu, anh chỉ tập trung vô việc làm báo. Khi ấy Khương chỉ có mình Hoàng Yến trong trái tim. Yến nói giọng nhỏ nhẹ. Lời như ru. Ngoài giờ học buổi sáng, buổi chiều cô ít tham dự vào việc của lớp vì phải phụ nhà bán chè. Quán Hoàng Yến buổi chiều thường đông khách. Thỉnh thoảng Khương và các bạn cũng ghé ăn. Quán chè nhà cô nổi tiếng vì ngon. Chè đậu đen, đậu xanh ăn chung với vài hột đậu phọng chiên giòn. Chè không biết do ai nấu, chỉ thấy Hoàng Yến lo phần phục vụ khách vì cô tháo vát, lanh lẹ và có ưu điểm từ giọng nói nên rất được lòng khách. Yến có nước da trắng, người trung bình, mảnh khảnh. Cô là một trong những người thuộc loại đẹp, có nhiều người theo đuổi, trong đó có Khương. Cô không tỏ vẻ mình đẹp trước mặt mọi người. Nhưng ai ai cũng nhận ra cô là cô gái đẹp.

    Ngược lại với Hoàng Yến, Hồ Thu khép kín, có nét đẹp hiền hòa. Da mặt hồng hào, miệng cười tươi với những chiếc răng nhỏ, trắng và đều. Thân hình Hồ Thu không mảnh khảnh như Hoàng Yến, mà đầy đặn. So ra ngày ấy chưa biết ai đẹp hơn ai. Còn bây giờ kẻ đông người tây, hai cô bạn học ngày nào chắc chưa có dịp gặp lại nhau. Nhưng Khương đã có dịp gặp lại Hoàng Yến rồi nên anh có một nhận xét: Hiện tại Hồ Thu đẹp hơn Hoàng Yến, dù Hồ Thu đang còn ở Việt Nam, Hoàng Yến đang ở ngoại quốc.

    Hồ Thu dư biết ngày xưa Khương không phải lòng cô, anh phải lòng Hoàng Yến, nên sau ba mươi mấy năm gặp lại Khương, cô vui nhưng vẫn chọc "người tình trong mộng" của anh. "Sao, ở ngoại quốc anh có gặp lại Hoàng Yến lần nào chưa?" Khương ghẹo lại cô "Ngày xưa anh phải lòng Hoàng Yến nhưng bây giờ là đang phải lòng Hồ Thu đây". Hồ Thu biết Khương nói giỡn nên cô cười thật tươi.

    Hồ Thu hẹn rủ người bạn học cũ, mà cô lúc nào cũng nghĩ như người anh trai (vì Khương có bao giờ tỏ tình với Hồ Thu đâu) đi uống cà phê ở quán Tỏ Tình trên đường X trong thành phố. Đi bên Hồ Thu, ngồi bên Hồ Thu, Khương rất ngạc nhiên vì sau ba mươi mấy năm trên đất nước Việt Nam nhiều xáo trộn nhưng Thu vẫn còn giữ nguyên vẹn sự trẻ trung hồn nhiên và nét đẹp của thời thanh xuân. Dù thỉnh thoảng cô vẫn bàn đến việc học hành của hai đứa con, đến những lo toan mệt nhọc trong gia đình, trong sở làm, nhưng nét lo lắng chỉ phớt qua, sau đó phải trả lại cho cô sự tươi tỉnh. Trời Sài Gòn hôm ấy đang nắng. Từ điểm hẹn của hai người Hồ Thu gọi một chiếc taxi để đến quán cà phê. Khi bước ra khỏi taxi, nắng chói chang rọi xuống đường phố, Hồ Thu đã phải mở dù để che nắng, y như người ta đang che mưa. Thói quen này bây giờ ở Sài Gòn Khương thấy hay hay. Các cô sợ nắng làm đen, nhưng lòng đường giữa mùa hè có đầy những cánh dù nhiều màu cũng làm đường phố đẹp hẳn lên. Vẫn cách nói chuyện pha trò và hay cười của Thu làm không khí trò chuyện giữa hai người vui hơn. Thu kể về những chuyện ngày đó chúng mình. Ngày đó anh Khương có để ý gì đến em đâu! Sao, Hoàng Yến dạo này ra sao, anh có thường liên lạc với Hoàng Yến không. Buổi trưa hè Sàigòn, ly cà phê sữa đá làm cả hai tỉnh táo. Sàigòn bây giờ làm cà phê ngọt quá! Lần nào uống Khương cũng đổ thêm miếng nước trà vào. Trà được ướp hương pha chung vào ly cà phê sữa cho mùi vị rất được. Thu nói cô làm trong hãng bào chế thuốc, vài năm nữa là về hưu rồi. Về hưu sẽ có nhiều thì giờ để đi du lịch ở trong nước. Cô chưa đi du lịch nhiều và cũng chưa có lần nào ra ngoại quốc.

    Hiện tại Hồ Thu không bịt mặt, mang bao tay, đội nón an toàn. Không biết cứ mỗi buổi sáng đi làm việc, khi ra đường Hồ Thu sẽ ra sao với những "dụng cụ" này. Chắc lúc ấy đứng đối diện với Hồ Thu, Khương cũng không thể nhận ra. Ở Việt Nam bây giờ, khi những cô bạn, người bà con chạy xe đến đứng đối diện với Khương, anh vẫn chưa thể nhận ra, cho đến khi họ lột khẩu trang. Chiếc áo dài tha thướt, ngồi sau xe Honda, đôi chân để một bên, tay ôm eo người tình đã trở thành dỉ vãng. Hôm nay các cô đa số mặc đồ Tây, phủ kín từ đầu đến chân. Đúng là mỗi thời mỗi khác. Mỗi thời có những kiểu riêng.

    Uống cà phê xong, Khương "táo bạo" rủ Hồ Thu vào xi-nê. Anh hồi họp chờ cô trả lời. Cô chọc anh: "Không có Hoàng Yến ở đây, thôi em đi thế cho Hoàng Yến vậy, sao anh chịu chưa". Hồ Thu chọn rạp Đại Đồng ở đường Cao Thắng vì hôm nay ở đó có chiếu một phim tình cảm.

    Trên đường ngồi xe đến rạp xinê, tâm hồn Hồ Thu dao động giữa hai trạng thái: "hấn chấn và nuối tiếc. Những ngày còn tất bật ở Việt Nam, cả mười mấy năm trời hai vợ chồng còng lưng ra làm lụng nuôi ba đứa con. Hai vợ chồng làm công nhân viên nhà nước cả ngày mà nào có đủ ăn. Mỗi tháng vài chục bạc, mười mấy ký lương thực, ký thịt, nửa ký bột ngọt v.v...Kỷ niệm thời áo rắng đã tan thành mây khỏi, đã về miền viễn du, thỉnh thoảng gặp lại ngoài đường, giữa phố Sài Gòn, những người bạn học ngày xưa. Dù vội vàng nhưng vẫn có thì giờ cho một ly cà phê đá trong một quán cốc nào đó ở góc đường để trò chuyện về “những ngày xưa thân ái“. Trong một lần, thật tình cờ Hồ Thu nghe tin từ một cô bạn nói Thái đã…! Tình yêu của năm lớp đệ nhất với Thái vẫn không giúp được gì cho Hồ Thu để cô có điều kiện, thời giờ để một lần tìm xem, hỏi ra tường tận lý do nào mà Thái đã bỏ...đi! Mãi sau này qua thêm những người bạn khác cô mới biết rõ tường tận về chuyện của Thái. Rồi cô cũng phải có gia đình, với anh chàng sinh viên cùng cô đêm ngày mình sình áo ướt trên nông trường kinh tế mới Lê Minh Xuân ở Củ Chi. Sanh một đứa con đã là từ giã bạn bè, không biết ai còn ai mất, ai đã ra sao. Hai đứa con thì chỉ còn biết cho gia đình. May mà năm 86 đất nước Đổi Mới, thở phào nhẹ nhỏm. Kinh tế từ từ theo hướng...thị ..trường.., nên bán thuốc Tây riêng được và gia đình mới từ từ ngất đầu lên cho đến hôm nay, ngày gặp lại người bạn cũ, Khương, từ Canada về.

    Với Khương. Tình yêu? Tình bạn? Lãng đãng như "khói lam chiều". Mờ mờ ảo ảo. Ngày ấy, Khương có đá động gì về tình yêu với cô đâu. Chưa có lấy một lời tỏ tình! Khương chỉ có cái nhìn ân cần nhờ vã nhưng nồng cháy khi nhờ cô giúp một việc gì cho lớp. Khương biết Thái đang theo đuổi cô, và chính Khương, dù kín đáo, cũng để cho mọi người biết là anh đang theo đuổi Hoàng Yến, chứ đâu phải cô, đâu phải Hồ Thu này! Thỉnh thoảng Khương ghé nhà cô với Thái, anh chỉ ngồi xa xa, để cho Thái và cô tâm sự. Khi thấy cần lắm anh mới xen vào ít lời để chọc ghẹo hai người.

    - Đang nghĩ gì vậy? Có nghe nói giờ Thái ở đâu không Hồ Thu?

    Khương hỏi, Hồ Thu mới trở lại hiện tại:

    - Ủa, chớ anh không nghe biết gì sao?

    - Không!

    - Thái đã chết rồi! Chết ngay ngày ba mươi tháng Tư bảy mươi lăm.

    - Sao lại chết trong ngày ấy? - Khương nóng lòng muốn biết.

    - Nghe nói lúc ấy Thái đang học Không Quân ở Mỹ, hết tài khoá, phải về nước. Thái phải vào trường Sĩ Quan Thủ Đức để học giai đoạn quân sự cho sĩ quan Bộ Binh. Sáng 30 tháng 4, trước khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng, trường Thủ Đức vẫn còn chiến đấu. Nghe kể Thái bị một chiếc xe tăng của mấy ông Việt Cộng bắn chết ngay trên giao thông hào của trường. Ngay sáng ngày 30 tháng 4!

    - Trời chuyện thê thảm vậy mà bây giờ tôi mới biết! Tội nghiệp Thái quá!

    Hồ Thu hỏi Khương:

    - Sáng 30 tháng 4 anh Khương đã đi chưa? Anh giỏi thật!

    - Lúc đó đang trên tàu ra biển.

    Hai người lại yên lặng, dong ruổi theo những ý nghĩ riêng tư. Với Khương, mới đây mà đã mấy chục năm. Mấy chục năm anh lăn lộn ở xứ người. Ráng học cho xong nghành kỹ sư điện toán, rồi cũng bù đầu bù cổ lo cho gia đình từ ngày ấy đến nay. Kỷ niệm quá khứ là những ý niệm mù mờ trong đời sống ồn ào náo động ở xứ Gia Nã Đại. Nhưng việc vừa nghe tin Thái chết ngay ngày 30 tháng 4 làm Khương có ít suy nghĩ không vui. Các anh là dân sự, là sinh viên, Việt Cộng có chiếm miền Nam chắc cũng không sao. Còn Thái và các người lính, chắc là trăm điều cơ cực nguy hiểm trong chế độ mới. Vậy mà anh lại lo chạy trước để yên thân, còn bạn mình, đang đi lính lại đang đối diện với xe tăng của Việt Cộng trong ngày cuối cùng oan nghiệt ấy. Và đã chết! Mấy chục năm mà anh nào biết nào hay! Thái chắc đã mồ yên mả đẹp, hồn phách tiêu diêu, nhưng Khương đang gặm nhắm nỗi buồn.

    Chuyện tình nào cũng qua. Mối tình nào rồi cũng phôi pha với ngày tháng. Hồ Thu ngẫm nghĩ, hôm nay Khương trở về đây, tìm gặp lại mình, cô thấy vui lắm. Kinh tế gia đình đã được bình thường từ mười mấy năm qua, con cái đã lớn, nên bây giờ cô thấy có quyền hưởng thụ một buổi chiều bên người bạn học ngày trước. Cô nghĩ, cũng có thể ngày đó Khương đã yêu mình, như Thái đã yêu mình, nhưng anh không nói ra. Nếu không sao anh cứ rủ mình đi làm báo vào những buổi chiều, sau giờ học sáng. Ai cũng nói anh để ý Hoàng Yến, nhưng cô cũng thấy anh vẫn có săn đón và cảm tình với cô, nhất là anh luôn tìm chuyện để gần gũi. Còn chuyện đẹp xấu ngày ấy? Chưa biết ai đã đẹp hơn ai.

    Ngày ấy đâu phải là Khương không yêu Hồ Thu. Nếu không yêu Khương đã không tìm đến thăm Hồ Thu sau ba mươi mấy năm không gặp. Anh dứt khoát muốn nhìn lại mặt Hồ Thu. Ngày đó Khương đã phải lòng ngay khi gặp Hồ Thu vào năm học lớp đệ nhứt. Hồ Thu từ một trường khác, sau khi xong tú tài 1, đã vào học ở trường Khương đang học. Nhưng vì cùng là dân văn nghệ viết báo cho lớp nên họ dễ thân nhau nhanh hơn. Trong ban báo chí ngày đó, ngoài Khương, Hồ Thu, còn có Thái, bạn thân của Khương, người bạn học giỏi, tài hoa. Thái tỏ tình và rất ga-lăng đối với Hồ Thu trước mặt tất cả bạn bè. Không riêng Khương, ai ai trong lớp cũng biết Thái đã phải lòng Hồ Thu. Như bao nhiêu chuyện tình "lãng mạn" thời học trò, Khương tìm cách lãng xa ra khi Thái có cơ hội gần Hồ Thu, cứ gọi như là Khương hy sinh tình yêu cho bạn. Để qua mắt thiên hạ anh còn làm bộ theo đuổi Hoàng Yến, cô gái làm nhiều nam sinh chơi vơi. Năm sau, lên đại học, Khương đậu vào Phú Thọ, Thái vào Không Quân, Hồ Thu theo học nghành Dược. Thỉnh thoảng Khương nghe nói hai người cũng gặp gỡ nhau nhưng hình như tình cảm Hồ Thu dành cho Thái không sâu đậm, nên Thái đã dần quên Thu. Còn Khương chưa đâu tới đâu thì bảy mươi lăm lại đến Gia Nã Đại, Hoàng Yến đến Mỹ. Nghe nói Thái và Hồ Thu đã bị kẹt lại.

    Ngồi bên cạnh Hồ Thu, nhớ lại những ngày còn là học sinh với Hồ Thu với Thái bao giờ cũng là những ngày Khương giả bộ như chẳng quan tâm gì đến Hồ Thu, cứ lo chăm chỉ học, lại còn cố tạo cho Thái và Hồ Thu có dịp gần gũi, giờ bỗng nhiên anh thấy việc làm ngày ấy của mình nông nổi như lời ca anh đã đọc được trên Internet lúc gần đây... giờ ra đi mới thấy lòng tiếc nuối, những kỷ niệm một thời nông nỗi, cứ thôi thúc hoài khắc khoải cả trái tim.... Anh tiếc là ngày ấy yêu Hồ Thu sao anh không tranh với Thái để chiếm lấy Hồ Thu, lại đi nhường một cách vô ích, ngớ ngẩn, bây giờ anh không thể nào cùng Hồ Thu vượt qua vòng lễ giáo để yêu nhau như những tình nhân. Chồng và con Thu đang chờ ở nhà. Vợ và con anh đang chờ ở Canada. Những bước thêm, xa, chỉ là những bước chân phiêu lưu!

    Khi ra khỏi rạp, ánh nắng đã dịu, nhưng vẫn còn gay gắt. Thu lại mở dù che cho hai người. Khương lấy dù từ tay Hồ Thu, và tự động đi sát vào cô để che mát cho cả hai. Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông. Lời bài ca thật hay. Nhất là trong lúc này. Hồ Thu không đang mặc áo lụa Hà Đông nhưng Khương vẫn thấy rất mát bên mối tình câm ngày trước. Anh tiếc. Nếu ngày đó Khương đã nói được với Hồ Thu ba chữ “anh yêu em” thì bây giờ cuộc đi chơi chung hôm nay có ý nghĩa biết mấy.

    Chưa chịu về nhà, Hồ Thu rủ Khương vào quán bò bía và nước mía. Ngày nào tuổi còn nhỏ, tính tình hời hợt, ít quan tâm đến người mình yêu, còn bây giờ chưa hẳn già nhưng Khương lại chú ý những chuyện chung quanh, đôi khi rất nhỏ nhặt. Anh thấy miệng Thu ăn món bò bía rất ngon, cách cầm, cách nhai, như cô chưa từng ăn một món ngon như thế. Xong lại còn uống nước mía. Cô hỏi Khương "Anh có dám uống nước mía không?". Thường Việt kiều về rất sợ đau… bụng vì nước mía. Anh chìa ra cho cô coi mấy viên thuốc Tây trị đau bụng anh đang mang trong bóp và nói nếu vì Thu có đau cũng chẳng sao. Thu cười. Lúc sắp chia tay Khương mạnh dạn hỏi về chuyện gia đình của Hồ Thu trong hiện tại và mối tình ngày trước với Thái, vì Khương đã ra đi từ năm 75, nên mọi tin tức về bạn bè ở Việt Nam từ ngày đó đã biệt tâm.

    Hồ Thu kể ra Khương mới biết. Lúc Thái học trong trường Không Quân ở Nha Trang Thu có ra thăm. Tụi em đi chơi ở Hòn Chòng, phố Nha Trang. Khi đó anh đang học bên Phú Thọ, lo máy móc, nên đâu màn đến chuyện lính tráng. Buổi trưa Nha Trang biển đông người… Thấy mặt Khương buồn buồn nên Hồ Thu hơi ngại, nghĩ chắc anh không muốn nghe chuyện tình của người "em gái" nên cô không kể tiếp, mà đổi đề tài, hỏi: "Sao về Việt Nam lần này anh có định đi chơi đâu không? Ra Nha Trang, lên thăm Đà Lạt. Nha Trang thì em chưa đi lại lần nào nhưng Đà Lạt thì có đi rồi. Đà Lạt bây giờ thay đổi nhiều lắm"! Khương không muốn bỏ dịp may để biết Đà Lạt, khi nghe Hồ Thu rủ, hơn nữa cần đi cho biết vì anh chưa có lên đây lần nào. Anh gật đầu. Hồ Thu tiếp: "Nếu em thu xếp được việc nhà thì tụi mình đi vài ngày ở Đà Lạt. Tuần này em bận. Mình hẹn tuần sau đi! Để em sắp xếp việc nhà rồi đi. Em đi với cô con gái nha". Hồ Thu biết có con gái đi chung Khương sẽ không vui. Ánh mắt, cử chỉ Khương mấy hôm nay cho cô biết điều ấy, nhưng biết làm sao hơn khi cô là đàn bà đã có chồng. Ngừng một chút, thăm dò phản ứng Khương, trong ánh mắt long lanh cô tiếp: "Có gì xảy ra bất thình lình, không thể đi được, em sẽ gọi điện thoại di động báo cho anh. Còn... anh cũng vậy, có gì... báo cho em biết". Khương có một chút thất vọng, nhưng lấy lại sự điềm tĩnh ngay. May mà Hồ Thu không rủ chồng cùng theo, chớ nếu Hồ Thu rủ chồng, Khương sẽ kiếm chuyện thối thác ngay.

    Bây giờ thì Khương đang trên đường đến Đà Lạt. Anh đi một mình. Theo sự hẹn hò, Hồ Thu sẽ lên sau. Ở Vùng duyên hải đang nắng nóng, xe vừa qua khỏi Di Linh, Bảo Lộc đã gặp ngay bầu trời với mây mù, nắng nhẹ. Khương nhìn quang cảnh chung quanh hai bên đường, những cánh rừng cây xanh mướt, những đồi trà uốn lượng. Quang cảnh này Khương đã nghe kể rất nhiều thời còn sống ở Sài Gòn trước bảy mươi lăm. Nghe từ các vị đã từng là chủ vườn trà. Trà Bảo Lộc. Đi đâu họ cũng vận đồ tây trắng, giày trắng, đầu chải bằng Bri-ăng-tin bóng loáng. Bước ra đường là có xe hơi Citroel, Peujeot đưa đón. Bây giờ ai là chủ nhân ở đây? Những chủ nhân ông mới. Họ đang ở đâu. Nhưng ở đây, hiện tại Khương chỉ thấy các cô gái đội khăn, những nông dân, che kín tay, mặt, mang gùi trên lưng, đứng khom mình ngắt những lá trà. Chắc là công việc ngày xưa ra sao, bây giờ vẫn vậy. Và tên gọi vẫn là "những nông dân nghèo khó"! Trời lạnh và không có mưa. Ánh mặt trời thỉnh thoảng vẫn xuất hiện như phép nhiệm mầu làm cảnh quang trở nên ấm áp. Xe chạy vòng quanh những con đường, bên mặt là những thung lũng, không sâu, nhưng nếu xe rơi xuống đó, chắc là thập phần nguy hiểm.

    Quang cảnh hai bên đường phút chốc đã bị xô dạt qua một bên trong tầm mắt và bộ não của Khương, như sóng đời phủ trên lối mòn cuộc sống, để anh suy nghĩ về một việc khác. Hồ Thu không có cảm tình nhiều hay không còn chút tình cảm nào đối với anh, anh đâu cần biết. Anh chỉ còn biết một điều, ngày mai này ở khung trời Đà Lạt, anh sẽ được đi bên cạnh cô, hạnh phúc muộn màng mà hơn nửa đời người anh mới có, anh thấy lòng ngây ngất. Bao năm bên cạnh mái gia đình êm ấm, bình thãn, vẫn không đắm chìm được tình yêu thời trai trẻ nông nổi của đời người. Anh đang hoang mang trong tâm trạng khi hưng phấn, lúc cô đơn. Một người Gia Nã Đại gốc Việt cũng không thua kém ai, nhưng lại thua kém trong tình cảnh này. Việt Nam hiện tại có khối gì cô gái đẹp, cứ sao lại phải tìm Hồ Thu, gặp Hồ Thu. Nỗi rạo rực khi về Việt Nam lần này là để mong gặp lại Hồ Thu, việc làm này xem ra dù là thời hiện đại hôm nay cũng không thể chấp nhận được. Một người đã có vợ, còn một cô đã có chồng. Cả hai đều đã có con cái. Vậy thì còn tìm lại nhau làm gì, nếu không là sự tìm lại trong gần gũi, âu yếm. Khương ngẫm nghĩ nhiều lúc tại mình hết, tại những thằng đàn ông. Chớ thường những người đàn bà như Hồ Thu ít dám bước qua lằn ranh bổn phận nhiệm vụ một khi họ đã có mái ấm gia đình.

    Xe dừng lại bên đường, một quán ăn. Như đã có hẹn hò từ trước, giữa chủ xe và chủ quán ăn. Các xe xuôi ngược đều tấp vào đây để hành khách ăn trưa, giải khát và sinh hoạt cá nhân. Quán lớn, có thể chứa cả trăm người. Hầu bàn năm ba người chạy tới chạy lui kêu la in ỏi. Vẫn là sự vô tình, hai cô gái ngồi gần Khương trên xe, lại đang ngồi cùng bàn với anh. Cô em xem còn khoẻ, còn cô chị đã mệt, sau một đoạn đường xem ra không còn muốn ăn uống gì nữa.

    Trên xe đò, hai cô gái này ngồi cạnh Khương. Khi xe rời vùng duyên hải, lên cao nguyên, gặp ngay những khúc cua, sườn dốc, nên cô chị bị chóng mặt, nôn mửa, mặt mày tái xanh. May mà cô em vẫn còn khoẻ, tỉnh táo, để lấy bao hứng. Trông dáng hai cô gái không thuộc con đại gia hay cán bộ trung, cao cấp. Thậm chí cũng có thể cô chị còn là cô gái làm nghề bia ôm, cà phê ôm hay mát-xa ở Sài Gòn để lo cho cô em ăn học. Có những phim bây giờ với hoàn cảnh như vậy. Nét nghèo nghèo, da mặt nhợt nhạt của hai cô gái đã nói lên điều đó. Cô chị có vẻ ngượng ngùng khi nhìn Khương. Khương đã từng bắt gặp ánh mắt như thế trong những lần đi ăn, chơi với bạn bè ở những nơi có các cô gái trẻ Việt Nam làm tiếp viên. Trong lần đầu gặp gỡ họ tươi cười như bao nhiêu người khách khác. Nhưng lần hai lần ba gặp lại họ sẽ không từ chối ngay một lần than thở về hoàn cảnh gia đình: cha mẹ già, đông anh em, không có công việc làm ăn, cố gắng làm để có ít vốn liến rồi sẽ bỏ nghề này để ra hay về lại quê làm ăn đàng hoàng, vân vân và vân vân, và rồi các cô không ngần ngại xin tiền. Trong tình trạng đất nước như hiện nay, Khương dám tin chắc chín mươi chín phần trăm các cô đã nói thật. Các cô đã không nói láo. Nhìn công ăn việc làm, dân số, đất đai canh tác ai ai cũng biết rằng đại đa số các cô đang lâm trong hoàn cảnh như thế, ngoại trừ con của những gia đình có thân nhân nước ngoài hay các gia đình trung gia, đại gia mà đa số là cán bộ.

    Khương đã từng ngồi ở những quán nhậu mà ngoài các cô tiếp viên trẻ đẹp, chuyên “rót bia” kiếm tiền, với đầy rẫy các cô gái trẻ, thiếu nữ trung niên tay cặp những chiếc thúng, chiếc rỗ nhỏ tới lui mời mọc để mua dùm những bịch đậu phọng luột, trái xê-ri, chùm ruột. Hỏi ra các cô cũng chỉ kiếm được mỗi tháng một triệu rưởi đến hai triệu, rồi còn phải trả tiền trọ, gửi tiền về quê phụ chồng nuôi con, nuôi cha mẹ. Còn các cô làm trong những hãng xưởng may mặc, đồ gỗ, cá Ba-Sa lương bao nhiêu một tháng thì ai cũng biết. Ngày xưa ai cũng nghĩ chỉ có cô gái nào đẹp mới đi làm nghề mãi dâm, nhưng hiện tại hôm nay, ở Việt Nam, gái xấu cũng hành nghề mãi dâm. Có thật vậy không? Thì cứ tìm đến các anh chạy xe ôm ở các thành phố, các anh sẽ dẫn đến các nơi, các con đường có những cô gái bán phấn buôn hương, quần áo rất đẹp, chạy xe xịn, nhưng mặt mày được che kín bằng khẩu trang. Nhìn tướng tá các cô, khách mua dâm sẽ muốn mua ngay, nhiều khi chưa biết mặt mủi các cô nàng ra sao. Có những người đàn ông, thanh niên hào hiệp, nói họ sẳn sàng đi ngay, mặc cho cô gái đẹp hay xấu, vì thương cho các cô gái trong thời đại hôm nay trên đất nước Việt Nam. Họ nói tính ra hai ba chục Đô la, hai ba trăm ngàn đồng Việt Nam thì nhằm nhò gì với họ so với cuộc đời mãi dâm của một cô gái. Nhưng cũng có nhiều tay trông khá giả nhưng keo kiệt, đòi hỏi phải được coi mặt trước khi cùng bước vào khách sạn "Mini". Đây là lời kể từ thằng bạn hàng xóm của Khương đang sống ở Sài Gòn với nghề chạy xe ôm. Ngày xưa bạn không chịu học chữ, chỉ theo học võ, và đã là võ sư của một môn phái. Bây giờ chắc vì đã hơi lớn tuổi nên không thể kiếm tiền bằng nghề võ sư được nữa, phải kiếm ăn phải bằng nghề chạy xe ôm.

    Chuyện về hai chị em cô gái ngồi cạnh, thấy cô chị ốm yếu, da mặt xanh, Khương liên tưởng đến những cô gái đã gặp ở những quán ăn và những cô gái do bạn bè ở Sài Gòn kể lại, anh đem lòng trắc ẩn, thương cho cô gái, nhưng anh cũng không làm được gì hơn là chỉ đưa cho cô mớ giấy lau miệng mà anh đã mang theo trong túi xách, khi cô nôn mửa. Cô ngần ngại nói tiếng cám ơn.

    Trời Đà Lạt mùa hè nhưng buổi chiều hơi lạnh, y như khí hậu Âu Châu, Bắc Mỹ. Khi vừa đến bến xe việc trước tiên là Khương kêu một xe ôm chở đi tìm Hotel. Anh bao luôn anh xe ôm trong buổi chiều tối đầu tiên ở Đà Lạt. Khương muốn đi đâu anh đưa đi đó, khi về Hotel ngủ là hợp đồng chấm dứt. Cả hai thỏa thuận như vậy. Lấy phòng ở Hotel xong, rảnh rang cả buổi chiều, Khương nói anh chở đến các địa điểm du lịch nổi tiếng ở Đà Lạt như Hồ Than thở, Thung lũng tình yêu, hồ Xuân Hương... Nhưng mỗi nơi anh chỉ vào mười lăm đến hai mươi phút cho biết. Thứ nhất là nếu đi lâu thì tốn tiền xe ôm cũng uổng phí, vì xe bao. Thứ hai là vì một hai ngày tới, khi Hồ Thu lên đây, hai người sẽ có dịp đi dạo các nơi này lâu hơn. Anh xe ôm mặc một chiếc áo Jacket đen để chống lạnh. Đầu có nón kết che nắng. Lúc đang chạy xe, biết Khương lần đầu lên Đà lạt nên anh kể nhiều chuyện về Đà Lạt, khá thú vị. Một trong những câu chuyện ấy là: Mấy ông cán bộ ở đây cứ muốn tổ chức “ Hội Hoa Đà Lạt” hoài để kiếm tiền. Ở Đà Lạt làm gì có đủ hoa để tổ chức, mỗi lần vậy phải đi mua hoa ở các nơi khác, tốn tiền, bị báo chí chửi um sùm. Xe chạy qua các ngọn đồi. Xứ sở hoa Anh Đào, đâu đâu cũng thấy màu xanh bao phủ. Màu xanh sậm của lá cây trong ngày hè. Anh xe ôm hỏi Khương lên Đà lạt để làm gì, đi chơi không hay sao. Khương bịa: "Ngoài du lịch còn định mua tranh mẫu của những họa sĩ, để đem về Sài "òn cho người ta thêu". "Ở đâu. Để em chở anh đi". "Thôi được rồi. Người ta nói đến khách sạn để đưa". Nếu Khương nói ngày mai có cô bạn gái sẽ lên, chắc anh xe ôm sẽ còn khai thác thêm.

    Ngồi xe ôm, gió lạnh chỉ thổi vào hai mang tai, chớ thân mình không thấy lạnh lắm vì nhờ anh xe ôm che chở. Không khí dễ chịu. Hồ Xuân Hương rất đẹp. Khương kêu ngừng lại ở một quán cà phê bên cạnh hồ sau khi xe chạy một vòng. Quán nằm ở địa thế cao, nhìn được khắp khung cảnh hồ. Cà phê Đà Lạt ở quán này pha không quá ngọt nhưng cũng không có gì là đặc biệt, chắc có quán ngon hơn, như đã có lần nghe anh bạn đi chơi ở Đà Lạt về kể lại, như quán Tùng, quán De La Poste... Quán Khương đang ngồi có mở nhạc nhẹ. Nhưng anh không cần vì trong quán đã có một cô tiếp viên với giọng nói thật hay. Nói như rót mật vào tai. Hai anh dùng chi. Nghe giọng nói gợi nhớ đến Hoàng Yến, Khương hỏi: Xin lỗi có phải cô là người Huế không, giọng nói cô rất hay! Chắc là đã quen với những lời khen như thế, nên cô không có vẻ mắc cở, hoặc hảnh diện, chỉ nhẹ nhàng lịch sự (nghề tiếp viên mà!): Không, em người Hà Tỉnh! Lần đầu tiên trong đời Khương nghe giọng nói người Hà Tỉnh. Người ta hay nói giọng ca “oanh vàng thỏ thẻ”, nhưng ở cô gái này đúng là có giọng nói “oanh vàng thỏ thẻ”, nghe mà mát ruột mát gan. Giọng nói cô, theo riêng Khương, hay hơn tiếng Huế mà anh thường nghe. Người cô nhỏ nhắn, da ngăm đen, khuôn mặt nhỏ gọn, miệng cười lộ những chiếc răng đều đặn. Ăn mặc bình thường, nên trông cô chất phát, chân quê, mang nét đẹp bình dị. Cô nói cô chỉ là người làm, một ngày vài ba tiếng. Khương không hỏi, chỉ nghĩ, chắc cô là sinh viên nghèo, đang theo học một trường ở Đà Lạt, làm là để kiếm phụ thêm cho việc học.

    Hồ Than Thở thì chẳng có không khí “thở than” gì. Trước 75 sao thì không biết, hiện tại không khí kinh doanh náo nhiệt. Xe ngựa đủ màu, mời mọc. Các anh chụp hình, nơi nào cũng có, lúc nào cũng theo mời. Chụp một tấm đi anh! Bảo đảm với anh, hình rất đẹp! Cặp mắt van lơn. Khổ thật, ở Việt Nam bây giờ không có việc làm nhiều, thất nghiệp đầy, chắc các anh thợ chụp hình cũng vậy. Không biết mỗi ngày có đủ tiền đem về nuôi vợ con không. Khuôn mặt đen đuổi, dù có nón, nhưng vì suốt cả ngày đứng ngoài trời, dưới mưa và nắng. Những con đường nho nhỏ ngoằn ngoèo dẫn đến khu mua sắm đồ kỷ niệm có những thảm cỏ xanh và những lảnh hoa rất đẹp.

    Thung lũng tình yêu đẹp thật. Nhất là dòng thác, và con suối từ xa đang chảy đến, trong ánh chiều vàng, những tia nắng phản chiếu trên mặt thác màu vàng rực rỡ. Trước Thung lũng tình yêu có mấy tiệm Kios nhỏ bán áo lạnh Đà Lạt. Khương kêu anh xe ôm chờ, tạt vào mua vài chiếc làm quà cho gia đình và cho Hồ Thu. Giá áo rẻ, không đắc lắm, lại đẹp. Lên xứ hoa đào, mua vài cái, không đáng là bao, về thành phố người ta rất quý. Sườn đồi uốn lượn và những hàng thông xanh, những căn nhà lớn, ngôi chùa, thánh đường, đại học.., những nơi anh xe ôm chạy qua, để lại cho Khương nhiều hình ảnh ban đầu thật tốt đẹp về Đà Lạt, xứng danh là nơi nghĩ lý tưởng cho những cặp tình nhân.

    Trở lại việc mình, Khương nghĩ, ngày mai đón Hồ Thu ở bến xe xong, rồi mình sẽ đi đâu, làm gì thì anh cũng đã có chương trình. Và rất may trong buổi chiều nay, đi cùng anh xe ôm, anh được thấy được nghe về Đà Lạt khá nhiều. Có kinh nghiệm đôi chút. Anh định, sẽ cùng Hồ Thu lên rặng Lan-bi-ang, cách Đà Lạt cũng không xa lắm, đến thiền viện Trúc Lâm... Cả một chương trình đặt ra trong đầu, Khương thật thấy háo hức.

    Buổi tối về đến khách sạn trời khá khuya, phòng tiếp tân chỉ có một cậu bé khoảng mười tám mười chín tuổi trông coi. Cậu hỏi Khương có cần Hoá đơn đỏ không. Khương hỏi lại Hoá đơn đỏ là giấy gì vậy. Cậu cười. Hoá đơn cho những người đi công tác. Khương thấy dễ cười, vì tưởng lầm cậu bé muốn giới thiệu "em út" cho mình, nhưng anh không nói gì chỉ lắc đầu với cậu bé. Phòng ngủ trong một khách sạn giá trung bình, nên mọi cái đều trung bình. Giường ngủ, phòng tắm đơn giản. Tắm xong, lên nằm đắp chăn Khương mới cảm thấy nỗi cô đơn vây quanh. Khương nghĩ đến Hồ Thu. Giờ này chắc đang ngủ với chồng. Không biết cô đã sắp xếp công việc chưa, có chuẩn bị ngày mai lên Đà Lạt chưa. Cha. Một người đã có gia đình, muốn đi xa một vài ngày quả thật cũng nhiều rắc rối. Phải chi cả hai còn độc thân thì tốt biết mấy. Và không biết ngày mai Hồ Thu có đi lên đây được không, có muốn đi không, dù với con. Câu hỏi cứ đặt ra trong đầu làm Khương khó vào giấc ngủ. Tình cảm đàn bà như những áng mây, mình có thể thấy nó nhưng khó mà nắm bắt được. Câu nói từ miệng của một nhân vật nam trong một phim Việt Nam, Khương ngẫm nghĩ thấy rất đúng. Khương cảm thấy rạo rực hơn khi nghĩ rằng ngày mai đây, mỗi khi vắng mặt con gái Thu, anh và cô sẽ tay trong tay bên cạnh nhau đi dưới những hàng thông, hay trên những đồi cỏ. Anh thêu dệt chuyện gối chăn, nhưng cùng lúc cũng biết kìm hãm cảm xúc quá xa của mình. Càng về khuya tiếng xe cộ bớt đi nhiều, nhưng vẫn không giúp được anh đi vào giấc ngủ. Anh lăn lộn với những ước mơ. Những ước mơ anh biết không thể nào hiện thực được. Nhưng chẳng hề gì, vì chính những thêu dệt, những ước mơ không hiện thực ấy đã giúp con người sống qua và thoát khỏi những tàn bạo của cuộc sống. Ước mơ về một ngày mai được sung sướng an nhàn. Ước mơ sẽ tay trong tay với người tình ngày trước. Ước mơ về một cuộc đổi đời. Ước mơ về một mái ấm, một tình yêu vĩnh cữu. Khi con người không còn ước mơ có lẽ người đó đã chết, như những hàng cây không được tưới tẩm bằng những giọt nước từ nhân gian, hay những cơn mưa từ trời, hàng cây sẽ chết, thành phố sẽ buồn và con người không còn đến đó để tỏ tình.

    Đêm hôm đó, Khương đi vào một giấc chiêm bao. Anh thấy từ trong Thung lũng tình yêu Hồ Thu đang ngụp lặng trong đó. Mình cô ướt sũng, cô muốn ra khỏi dòng nước, nhưng nào được. Nước cứ kéo cô lại, muốn dìm cô, nhưng cô cứ cố vươn lên, hai tay vươn tới, như cố thoát ra loài bạch tuột đang bấu chặt. Cô không kêu tên ai, không kêu tên Khương, không ai đến cứu, Khương nghĩ thế nào rồi Hồ Thu cũng bị nước cuốn đi, cuốn vào Thung lũng tình yêu, vào vùng mù mờ của suối. Khi Hồ Thu khuất dạng hình hài trong dòng nước, Khương giật mình tỉnh giấc. Lúc ấy khoảng năm giờ sáng.

    Do giấc mơ làm tỉnh ngủ, Khương dậy sớm rửa mặc thay đồ. Anh muốn nhìn cảnh Đà Lạt lúc bình minh. Hôm qua anh đã nhìn được Đà lạt trong cuối ngày và khi màn đêm đến. Xuống đến phòng tiếp tân, anh thấy một anh khá lớn tuổi đang lay quay ở đây. Có vẻ anh vừa ngủ vừa trông coi khách sạn. Khương nói với anh Khương muốn ra ngoài tìm một ly cà phê sáng. Khuôn mặt người trung niên bình thãn, dễ mến. Anh gật đầu với Khương. Ra ngoài mới biết trời đang có mưa lâm râm, không khí lạnh. Vì mưa nên Khương không thể tản bộ được, anh đứng đón một xe ôm để đến quán cà phê. Chiếc xe trờ tới, Khương quắt, người lái xe ôm mặc đồ kín đầy người, từ đầu đến chân, chỉ trừ khuôn mặt. Khi đứng trước mặt và nghe tiếng nói Khương mới nhận ra đó là một người đàn bà. Khương hơi ngạc nhiên nhưng cứ làm tỉnh: "Chị đưa dùm tôi đến quán cà phê nào gần đây nhất, mưa nên tôi không đi bộ được". "Dạ, anh lên đi!" "Đàn bà ở đây cũng lái xe ôm nữa à?" "Dạ lái thay cho ông xả, chút nữa ổng ngủ dậy ổng lái tiếp, tôi ở nhà lo cho con đi học". "Xin lỗi. Nghe giọng nói hình như chị không phải người ở đây?" "Dạ đúng, em người Khánh Hoà". "Khánh Hoà sao không đến Nha Trang làm ăn mà phải vào tận Đà Lạt này?". "Dạ, Nha Trang cũng khó làm ăn lắm anh!" Biết hỏi thêm không nên, nên Khương yên lặng mãi đến khi chị xe ôm ngừng lại trước một quán ăn. Xuống xe, nhưng trong thâm tâm anh vẫn thắc mắc về chị lái xe ôm. Tại sao ở Nha Trang lại khó làm ăn hơn ở Đà Lạt. Nha Trang, thành phố lớn, nhiều khách du lịch, lại ở nơi quê chị, vậy mà khó làm ăn. Anh hỏi giá tiền, và trả cho chị gấp hai. Chị nhận với vẻ mặt thật vui. Miệng chị cười, và hình như ánh mắt cũng mĩm cười.

    Ly cà phê sữa nóng làm Khương tỉnh táo. Uống cà phê xong, thấy đói anh gọi một dĩa hột gà ốp-la ăn với bánh mì. Đang ăn thấy điện thoại cầm tay báo có tin nhắn SMS. Mở ra Khương thấy hàng tin từ Hồ Thu: "Em lên Đà lạt không được, vì đứa con bịnh bất thình lình hồi hôm này. Đừng buồn em nha! Về Sài Gòn em sẽ kể cho anh biết rõ hơn. Chúc anh đi chơi vui ở Đà Lạt dù không có em". Đọc tin nhắn xong Khương không còn muốn ăn gì nữa. Định không hồi âm, nhưng vì lịch sự Khương cũng viết vài chữ để Hồ Thu yên tâm: "Em không lên được, anh buồn lắm!" Khương muốn về lại ngay khách sạn, trả phòng và trở về lại Sài Gòn ngay trong ngày. Những rạo rực náo nức đã bị dập tắt. Suốt cả đêm không ngủ chỉ trông trời mau sáng, nhưng giờ thì nhận được tin "sét đánh" từ Hồ Thu.

    Theo đường đi, buổi sáng sương còn ướt đẫm trên đường. Vài chiếc lá vàng sậm nằm lẽ loi trên mặt đất. Khương cuối xuống lượm một chiếc lá. Lá đã khô, chắc lìa cây lâu rồi, may mà chưa cằn cỗi. Anh cầm chiếc lá trên tay, đánh đều chiếc lá theo bước đi. Khi về đến cửa khách sạn tay anh mới bỏ rơi chiếc lá xuống đường. Vào đến phòng Khương ngã người nằm dài trên giường, suy nghĩ. Bỗng dưng anh cảm thấy thương Hồ Thu hơn là buồn vì chuyện cô không lên được. Hồ Thu như chiếc lá lúc nãy, trên đường đi anh đã nhặt. Lá của những mùa thu qua. Cõi quá khứ. Ướt ẫm. Nàng là hoa vạn hạt cuối mùa. Cố bám vào xuân nhưng đành bó tay. Ba mươi năm trước là xuân. Còn bây giờ đã hơn nửa cuộc đời. Khám phá ra như vậy để Khương dễ thông cảm cho Hồ Thu hơn. Cũng đành chia xa. Khương nghĩ như thế và quyết định sẽ không tiếp tục làm phiền Hồ Thu khi đời cô như ván đã đóng thuyền.

    Khương lại quyết định không về Sài Gòn sớm. Anh muốn ở lại đi chơi trong Đà Lạt và những vùng lân cận vài ngày, vì lần lên đây lần khó. Cũng có thể anh ở đến ngày về lại Gia Nã Đại, anh mới trở về Sài Gòn để lên phi cơ. Về Sài Gòn hiện tại anh cũng cô đơn. Biết đâu sự nhớ nhung lại làm anh quấy rầy Hồ Thu. Hãy để tình yêu ngày nào được ngủ yên. Anh muốn chôn cất nỗi buồn này nơi chốn mù sương. Một mình anh đi vòng vòng trên những con đường. Lúc lên đồi. Lúc xuống dốc. Anh tìm một quán bia. Anh muốn uống bia Đà Lạt trong buổi tối, sương mù đang bên ngoài và có cái lạnh từ con tim.

    Còn mấy ngày nữa anh trở về lại Bắc Mỹ. Xa Việt Nam lại nửa vòng địa cầu và có lẽ là xa Hồ Thu một thời gian rất lâu. Hồ Thu lại nhắn tin: "Khi nào về Sài Gòn liên lạc với em ngay. Em muốn tiển anh ngày anh ra phi trường về Gia Nã Đại". Khương hồi âm: "Có cần thiết không? Nhưng nếu em ra được anh cũng rất vui". "Cám ơn em". Một chai, hai chai. Bia đã làm Khương say. Kêu cô gái tính tiền. Anh thấy yêu thích trạng thái này. Nửa say nửa tỉnh. Nửa thánh thiện, nghiêm trang. Nửa trăng hoa, trai gái. Anh hỏi giỡn cô gái sau khi "bo" cho cô hậu hĩ. "Gần đây có... mà thôi!" Bỗng dưng Khương ngưng ngang. Cô gái tủm tỉm cười.

    Ra ngoài trời tối. Không trăng sao. Trời khô. Lòng Khương bỗng dưng rạo rực. Anh cảm thấy muốn yêu ngay một cô gái Việt Nam. Đong đầy sự cô đơn, vắng Hồ Thu, bằng chuyện trăng hoa. Như tình cảm ngày xưa. Sau những ngày học thi căng thẳng đầu óc, bọn sinh viên tụi anh cũng đã biết vào nhà thổ, để giải quyết cho cái đầu đỡ đậm đặt, rồi mới có thể tiếp tục học. Còn nay, cũng đầy rẫy các cô gái làm nghề này. Và người ngoại quốc, ngoại quốc gốc Việt, Việt kiều và các cán bộ...đại...gia, tất cả là tội...phạm nhưng cũng là ân nhân của họ. Một chiếc xe ôm chạy ngang, ngừng lại hỏi anh có đi không. Khương gật đầu, leo lên. Anh về đâu anh. Anh cho tôi đến chỗ nào có mấy em! Ừ được rồi! Tôi biết một nơi, có thể anh đến chơi được. Bia đã lên đến đầu. Khương bần thần lấy tay vuốt nhẹ gương mặt. Cha, coi bộ anh cũng rành vụ này dữ. "Dạ, Thỉnh thoảng cũng có khách hỏi. Phải biết để chở họ đi. Chạy xe ôm mà anh. Khách đủ hạng người. À, mà xem ra anh đang có chuyện buồn". "Ừ. Anh đoán đúng. Cũng đang buồn". "Anh ở đâu đến đây du lịch à. Hình như anh không phải là dân ở đây". Khương giỡn "Tôi là người ở đồng bằng, không phải là người phố núi. Lần đầu muốn biết cảnh biết người phố núi ra sao". Anh xe ôm cười lớn tiếng, trả lời "Ở đâu cũng vậy thôi". Tự dưng anh lại chêm vào câu nói nổi tiếng của ông Đặng Tiểu Bình, không biết với ẩn ý gì: "Mèo trắng mèo đen gì mặc kệ. Miễn là mèo bắt chuột được thôi, phải không anh?".

    Anh xe ôm chở Khương đến một góc đường. Ánh sáng mờ nhưng đủ để nhận thấy mặt người, cùng lúc những nhánh cây, thân cây cũng che khuất được phần nào ánh đèn đang rải xuống các kiều nữ. Nhiều cô gái không rụt rè chạy ra chận đầu xe ôm, đề nghị chuyện “trăng hoa”. Anh xe ôm quay lại Khương hỏi nhỏ: "Sao anh thấy được không? Có đi không?"

    Lúc này men rượu trong đầu Khương đã bớt. Nhờ ở ngoài trời ít phút nên anh thấy tỉnh táo, cùng lúc lại thấy buồn. Khương tự dưng nghĩ đến Hồ Thu, nhớ đến gương mặt Hồ Thu lúc hai người ngồi trong quán Tỏ Tình ở Sài Gòn. Hồn nhiên và thánh thiện quá! Anh nghĩ mình lên đây là vì Hồ Thu chớ đâu phải chuyện “cỏn con” này. Mặc dù Hồ Thu không có mặt nơi đây, nhưng tự dưng anh lại thấy thẹn với Hồ Thu. Anh chồm tới nói nhỏ cho anh xe ôm vừa đủ nghe: "Anh chở dùm tôi về khách sạn lại đi! Chạy đi!".

    Vũ Nam (Đức Quốc)
  3. Khi xe chạy qua khu Rừng Đen, Schwarzwald, trong buổi sáng mùa hè, Thanh nhớ lại mình đã có lần qua đây vào một ngày khi Tết Nguyên Đán đã cận kề. Ngày hôm ấy trời lạnh, tuyết phủ đầy cảnh vật, những thung lũng nằm sâu bên dưới bị tuyết phủ ngập. Những ngọn núi ngọn đồi cũng cùng chung số phận. Ở đây chỉ còn lại màu trắng như bông. Khi xe chạy qua làng Cánh Đồng Núi - Feldberg- mới thấy mùa đông không chỉ có tuyết, có màu trắng và bầu trời ảm đạm, mà còn có loài người hiện diện với những trò chơi trong mùa đông: trượt tuyết, đi dạo... bằng những bộ đồ ấm áp, màu sắc rực rỡ. Những chiếc xe hơi thật mới đậu chật kín nơi bãi đậu xe, những tốp người lăng xăng chạy đi chạy lại, và những chiếc lồng đưa người lên xuống từ ngọn núi, đã làm cho cả vùng có tuyết nổi tiếng ở miền Nam nước Đức này trong những ngày đông hàn trở thành những ngày hội.

    Còn ngày hôm nay, trong hè, nên nắng bàn bạc rải trên ngọn cây. Có một loại cây, ngọn lá thu nhận ánh sáng mặt trời rồi phản chiếu lại mắt con người một màu trắng bạc. Tấm giấy trắng bạc khổng lồ ấy uốn lượn theo những sườn đồi núi. Cảnh vật đập vào mắt Thanh thật đẹp vô cùng.

    Khi đến gần biên giới giữa hai nước Đức và Thụy Sĩ, hai bên đường trở nên bằng phẳng và xuất hiện những phố xá, sự buôn bán... Một cảnh chung của nước Đức, từ Bắc xuống Nam, từ Đông qua Tây, nơi nào cũng vậy. Cảnh vật không có gì đáng chú ý nữa nên Thanh nghĩ về mục đích của chuyến đi xa trong ngày hôm nay.

    Nhận được giấy mời của chị Phương ở tận Genève về ngày ra mắt tập truyện đầu tay của chị, Thanh bần thần mấy ngày. Bần thần không phải vì đường đi quá xa, mặc dù từ nơi anh ở đến Genève cũng có đến bốn trăm cây số. Khoảng đường như vậy không thể gọi là khoảng đường gần được, nhưng ở các nước Tây Phương này nếu có xe hơi tốt, có xa lộ thì việc này không có gì ngại cả. Bần thần cũng không phải vì nghe chị Phương đã có một người chồng Việt Nam khác, rất đẹp trai, du học trước ngày mất nước và nhất là đang có chức vụ lớn trong chính quyền Thụy Sĩ. Mà bần thần vì nhớ lại một kỷ niệm xấu" với chị Phương từ những ngày trước, ở quê nhà. Thoáng chốc đã hai mươi lăm năm rồi.

    Hai mươi lăm năm giờ mới gặp lại. Thanh không biết nên khen chị Phương đẹp hay trẻ. Chắc là cả hai. Đẹp? chị Phương dưới mắt Thanh bao giờ lại không đẹp. Đẹp từ hai mươi lăm năm về trước lận kìa. Trẻ? Xem chị Phương còn quá trẻ nếu so với số tuổi trong hiện tại. Chị có khác gì hai mươi năm về trước đâu. Dù trong thư chị khen Thanh còn trẻ, tương lai còn dài, còn chị giờ tóc đã hai màu.

    Hôm ra mắt tập truyện Những Điệu Ru Con Chị Phương mặc chiếc áo dài Việt Nam màu xanh đọt chuối, quần dài màu trắng. Dáng chị Phương, hai mươi năm trước ra sao, giờ vẫn vậy. Vẫn dáng vóc gầy gầy, tóc không để dài, cũng không cắt cao quá cỡ, loại tóc như Phương Hoài Tâm ngày đó, đến nay chị vẫn để mái tóc như vậy. Chị đeo đôi bông tai màu tím than to bằng ngón tay cái, xâu chuỗi hột ở cổ màu ngà. Chỉ với hai loại trang sức đó xem ra chị đã đứng tuổi, đàn bà, còn không chắc người ta cứ nghĩ chị còn trẻ lắm, tuổi khoảng chưa đầy ba mươi.

    Thanh biết trước khi ra mắt sách thường tác giả rất bận rộn. Nào lo tìm phòng ốc, trang hoàng, rồi đón khách địa phương, khách từ xa đến, diễn văn, phát biểu cảm tưởng..., nên chàng lặng lẽ đến sau thời gian khai mạc buổi ra mắt sách gần nữa tiếng đồng hồ để có thì giờ chiêm ngưỡng`` lại dung nhan của chị Phương. Còn sau đó, khi buỗi ra mắt sách xong hai chị em mặc tình trò chuyện. Nếu đến trước, chị cũng không có thì giờ tiếp chuyện với một mình Thanh.

    Chị Phương tiếp người kín đáo, ít giao thiệp nhiều. Lại nữa, như trong thư chị nói, viết văn là chị muốn giải tỏa những ẩn ức trong đời sống, cuộc đời chị. Chị không cao vọng trở thành một nữ sĩ danh tiếng vang lừng. Chị viết bởi vì nội tâm kêu gọi, thúc giục; bởi vì tương đối chị có thì giờ rảnh rỗi. Thế nên Thanh không ngạc nhiên khi ngày ra mắt sách chỉ có khoảng năm mươi quan khách, trong đó có bốn năm người Thụy Sĩ ngồi trên hàng ghế đầu. Có lẽ họ thân quen với gia đình chị. Bỏ bốn năm người Thụy Sĩ ra, số quan khách Việt Nam còn lại cho thấy buổi ra mắt sách của chị đã thành công rồi, vì thành phố Genève và những vùng phụ cận đếm được người Việt cư ngụ chỉ trên đầu ngón tay. Hơn nữa đâu phải ai cũng yêu thích văn chương.

    Gặp Thanh sau mười lăm năm chị nhận ra ngay. Chị nhoẻn miệng cười, đôi mắt chiếu rọi vào anh, dù chị đang ngồi ở vị trí "chủ toạ"cho ra mắt sách, và đang phải lắng nghe vị đại diện cộng đồng tại địa phương nói về phần tác giả và tác phẩm. Niềm vui chị đã có từ đầu, nhưng gặp Thanh, xem ra chị có một chút gì như vui hơn nữa. Đến phiên chị, chị nói về đời mình, vì sao lại viết văn, nguyên nhân nào tác phẩm Những Điệu Ru Con ra đời. Tất cả như để đánh dấu một chặng đường đời của chị.

    - Tôi nói ra mà không sợ ông xã tôi hiện giờ ghen. Bởi vì những điều bây giờ tôi nói ra ở đây, tôi đã nói cho ông xã tôi nghe hết rồi. Và những điều tôi viết ra trong tập truyện đều do nhà tôi khuyến khích cả. Anh bảo, cứ viết đi, cuộc đời em có nhiều cái hay lắm!

    Thanh dáo dác tìm xem người nào là chồng của chị. Ánh mắt chị rải đều, không ngừng nơi nào lâu, không ngừng ở một người nào, không nhìn ai tình tứ thì làm sao Thanh có thể đoán ai là chồng của chị?

    Chị tiếp tục đều đều:

    - Thế là tôi cứ tiếp tục viết. Cuộc đời của tôi ở đây mọi người đều biết cả, những ngày ở Việt Nam, nơi đất tạm dung, của hôm nay. Thành ra nếu có gì không mới lạ trong sách, mong quý vị độc giả thông cảm, vì thú thật tôi vẫn chưa dám nhận mình là nhà văn. Còn buổi ra mắt hôm nay vì sao có được thì cứ hỏi ông xã tôi kìa. Ảnh mới là người tạo ra ngày hôm nay. Ảnh muốn làm cho tôi một buổi ra mắt sách. Thế nên, ngoài cái ơn với quý vị hiện diện trong ngày hôm nay, tôi còn phải nhớ ơn ông xã tôi hoài. Còn nếu có tội thì cũng do ông xã tôi gây ra đó.

    Và giọng chị Phương cứ tiếp tục. Thanh theo cái hất mặt của chị Phương, rướn người cao thêm một chút, nhìn về một góc phòng, trên hàng ghế đầu gặp một người đàn ông Việt Nam, tóc muối tiêu, áo vest màu xám nhạt, khuôn mặt nhìn nghiêng tựa mặt thủ tướng Hosokawa của Nhật. Anh nghĩ ông này phải là chồng của chị Phương đây. Ông ngồi một mình, cạnh một người Thụy Sĩ. Hai mươi lăm năm trước một lần có lỗi với chị. Mười năm sau ngày có lỗi đó lại là ân nhân của chị trong một ngày chị bị hư xe đạp. Giờ là khán thính giả tham dự ngày ra mắt sách của chị, như một nhà văn, Thanh ngồi yên nhưng có những náo động trong lòng. Không biết tại vì hôm nay trời quá nóng, hay vì những kỷ niệm cứ hiện về nên trong đầu anh cứ chập chờn một nỗi niềm, vui chẳng ra vui, buồn chẳng ra buồn, như vấn vương nuối tiếc một điều gì. Vì thế tâm trạng anh cứ lâng lâng như em bé bị say nắng.

    Một tràng pháo tay khi bài cảm tưởng của tác giả vừa chấm dứt. Sự lâng lâng nhẹ nhàng trong lòng Thanh vơi đi. Thực tại trở về. Người đàn ông Việt Nam ở hàng nghế đầu đứng dậy. Người mà Thanh cả quyết là chồng của chị Phương vì khi chị nói với cử toạ về ông xã, chị hay liếc nhìn về phía ông ta. Ông bước đến bục nói chuyện bằng đôi nạn gỗ! Rõ ràng ông có tật! Điều này chẳng bao giờ chị Phương nói đến trong những thư gửi qua cho Thanh. Nhưng phải chờ xem coi ông nói gì.

    Đến bục nói chuyện, người đàn ông xếp đôi nạn gỗ lại, cẩn thận để dựa một bên bục. Nụ cười rạng rỡ, yêu đời. Những nếp nhăn trên trán, mái tóc muối tiêu vẫn không cho thấy ông già trước tuổi. Khi ngước mặt lên với cử toạ, ánh mắt ông rơi ngay nơi chị Phương ngồi. Ông sửa lại micro cho ngay. Như tất cả mọi người, theo thói quen, ông gõ nhẹ vào đầu micro trước khi phát biểu. Ánh mắt ông nhàn nhạt, lấm tấm những nỗi niềm.

    - Kính thưa quý vị quan khách, được tác giả nhắn nhủ trước là phải nói ít lời trước quý vị trong ngày hôm nay quả tình tôi có ơi run. Run là vì tôi chưa từng nói trước đám đông trong chuyện văn chương như thế này. Còn một điều hơi lo nữa là vì nói về một tập truyện, một cuộc đời, mà tôi đã gắn chặt vào đó từ mấy năm nay. Tôi đã biết tác giả quá rồi, sợ nói ra có làm cho quý vị nhàm chán không?

    Rõ ràng rồi ông là chồng của chị Phương,Thanh nghĩ vậy.

    Ông tiếp:

    - Chẳng những tôi đã biết tác giả tập truyện này lâu rồi, mà tôi còn là bạn thân với người chồng trước của tác giả nữa.

    A . Té ra ông là bạn ông xã trước của chị Phương. Thanh ngẫm nghĩ thấy chuyện chị Phương cũng hơi ngồ ngộ.

    Diễn giả tiếp tục đều đều:

    - Vậy thì tôi nói gì về tập truyện, về tác giả nữa đây. Nhưng mà tôi vẫn muốn nói. Vậy xin phép quý vị cũng nên để tôi nói. Chắc quý vị bằng lòng chứ?

    Mọi người im ru. Không một lời phát biểu cho ông diễn giả nói hay không, vì thế ông vẫn cứ tiếp tục nói. Giọng lưu lót, lúc trầm lúc bỗng về cuộc đời của tác giả.

    Mặc ông diễn giả muốn nói gì thì nói, trong đầu Thanh bắt đầu nghĩ về những chuyện ngày xưa, trong quá khứ. Năm chị Phương mười chín tuổi, Thanh mười lăm. Nhà chị Phương và nhà Thanh nằm xéo nhau, cách bởi một con đường. Mỗi ngày đi học và về chị Phương đều phải đi ngang nhà Thanh. Với dáng dấp mảnh mai ấy, cùng chiếc áo dài nữ sinh màu trắng, cứ khi nào khuất sau hàng rào làm toàn hoa gai giấy là suốt ngày ấy Thanh ít khi gặp lại chị vì chị ít khi đi ra ngoài. Muốn gặp phải chờ đến sáng hôm sau thôi, khi chị đi học. Đối với chị, cậu Thanh hàng xóm giống như cậu bé em trai của chị thôi.

    Nhưng chị đâu có biết tấm lòng Thanh đối với chị. Mối tình đơn Phương của Thanh chị đâu có biết. Có những buổi chiều khi chị về ngang nhà Thanh, đôi mắt Thanh mềm nhũn bởi bộ đồ đồng màu chị mặc. Có những buổi sáng chị đến trường, Thanh lặng lẽ theo sau để cùng đến... trường... Có hôm, buổi sáng, thức dậy sớm, sửa soạn xong nhưng chưa tới giờ đi học, Thanh lang thang ngoài vòng rào nhà chị Phương, đứng vịn bờ rào, chờ chị Phương ra để đi theo... sau... Lúc chị xuất hiện ở cửa, vờ vẫn ra sao mà gai bông giấy đâm vào bàn tay Thanh đến nhức buốt. Cậu bé mười lăm tuổi đã biết yêu cô gái tuổi mười chín cũng là điều dễ tức cười!

    Nhưng nếu chỉ có vậy thôi thì mối tình thầm lặng, đơn phương của Thanh đối với chị Phương đẹp biết chừng nào. Tuổi mười lăm, tuổi chuyển tiếp từ thiếu niên qua thanh niên. Tuổi dậy thì, nhiều mơ mộng. Tuổi đã biết theo dỏi bóng hình những cô gái mình ưa thích, đã biết tính chất cấu tạo thành vợ chồng con cái. Đã biết trầm ngâm. Biết mơ mộng dưới ánh trăng.

    Một khơi mào "tội lỗi" đã đến. Trường chị Phương và Thanh tổ chức cho học sinh từ lớp đệ tứ đến lớp đệ nhất đi cắm trại một lần. Một ngày tắm biển. Một ngày nhìn ngắm chị Phương trong bộ đồ tắm kín đáo. Chị Phương vẫn vô tình, vẫn đưa cho Thanh những múi cam, những ổ bánh mì, chăm sóc Thanh như chị chăm sóc em. Buổi tối, phòng chật phải ngủ chung. Chị Phương rủ đứa em hàng xóm ngủ chung với mình. Chắc chị sợ phải ngủ chung với các nam sinh chung lớp chị, dù rằng ngoài hai người ra còn có các bạn gái cùng lớp chị và vài thầy cô hướng dẫn.

    Nữa đêm, không biết có phải từ giấc mơ, hay một hành động vô tình, Thanh ôm chị Phương trong người, bàn tay tìm kiếm... Khi chị Phương tỉnh giấc, cậu bé cũng chợt tỉnh từ cơn mơ. Từ đó. Kể từ đêm đó chị Phương không bao giờ nói chuyện với Thanh nữa. Khi đi qua nhà Thanh chị chỉ cuối đầu để đi.

    Sau khi thi đậu tú tài một chị Phương về Sài Gòn để học trường Sư Phạm đào tạo giáo viên cấp tiểu học. Một bóng hình đã vượt khỏi tầm tay Thanh sau cái đêm "tội lỗi". Hai năm sau chị Phương về lại quê nhà làm cô giáo tiểu học tại ngôi trường nằm ngay trong thị xã. Bây giờ chị Phương không còn đi một mình. Mỗi ngày khi đi dạy chị Phương được một thầy giáo đến đưa rước bằng xe Honda. Còn Thanh trong lòng vẫn còn bàng bạc một kỷ niệm không đẹp với chị Phương, nhưng anh đâu có thể cứ ngồi đó để ôm ấp một bóng hình? Nên anh cũng biết yêu và người yêu của anh bây giờ là cô gái bằng tuổi, cùng trường. Mỗi khi hai người gặp nhau, chị Phương làm như đã quên chuyện cũ, trò chuyện với Thanh đằm thắm như thuở nào. Còn Thanh, lần vuốt ve chị Phương trong đêm tối như một vết thẹo. Vết thẹo đời, trần tục, đớn đau.

    Nhưng chỉ một năm đi dạy học chị Phương lên xe hoa về nhà chồng. Chồng chị không phải anh đồng nghiệp giáo viên mà là anh sĩ quan Hải Quân. Ôi, đám cưới thật linh đình! Trước nhà chị gắn đầy những cành lá dừa xanh. Tấm bảng Lễ Vu Quy, chữ màu trắng in trên nền đỏ đã đập vào mắt cậu thanh niên tên Thanh như lời cảnh cáo sau cùng: chị Phương mãi mãi vĩnh viễn là của người khác rồi.

    Giống như chị Phương, Thanh bỏ thi tú tài hai, về Sài Gòn học Sư Phạm. Hai năm sau anh cũng trở thành giáo viên tiểu học như chị Phương. Bây giờ hai người là đồng nghiệp, thỉnh thoảng gặp nhau trong những buổi họp liên trường. Chị phương vẫn dạy nơi thị xã. Còn Thanh dạy học trong một trường cách thị xã năm cây số. Trước ngày ba mươi tháng tư chị Phương mang bầu. Ngày chồng chị Phương đi cải tạo chị Phương đã sanh đứa con trai đầu lòng. Sau khi Việt Nam đổi chủ, chị Phương như bao nhiêu giáo viên khác, đã đến trình diện ban giám hiệu trong chính quyền mới, và ngay sau đó chị bị Phòng Giáo Dục đổi về công tác nơi trường Thanh đang giảng dạy. Nghĩa là mỗi ngày chị cũng như Thanh phải đi về một đoạn đường gần mười cây số. Chị bị đổi đi có lẽ vì người chồng là sĩ quan ngày trước.

    Chị Phương bây giờ cũng như Thanh và hầu hết tất cả giáo viên khác trong trường, mỗi ngày với chiếc xe đạp cọt kẹt đi làm công tác giảng dạy. Không biết những chiếc xe Honda, Suzuki đã biến đâu mất cả rồi! Ôi ngày xưa theo dõi bóng hình cô gái tên Phương, bây giờ mỗi sáng đạp xe cạnh người đàn bà đã có một con lòng Thanh lợn vợn lên những tình cảm lâng lâng khó tả. Gái một con xem mòn con mắt! Chị phương bây giờ có nét đẹp "chín muồi" rồi. Vì đi nắng nhiều nên da chị hơi đen. Vì thời cuộc đổi thay nên đi dạy mỗi ngày chị ăn mặc khiêm nhường với chiếc áo bà ba trắng, chiếc quần dài màu đen như tất cả cô giáo khác. Vầng trán đã có nếp nhăn, những sợi tóc loà xoà, rơi rải xuống nơi trán đọng lấm tấm những giọt mồ hôi, sau hơn bốn cây số đạp xe đền trường vẫn không làm nhan sác chị giảm súc. Hàm răng chị vẫn trắng đều. Miệng khi cười vẫn còn "khêu gợi" như ngày nào.

    Một buổi sáng khi đang đạp xe đến trường Thanh thấy chị Phương đang đi bộ, xem ra đã mỏi mệt. Dừng xe đạp, Thanh hỏi chị:

    - Ủa, xe đạp đâu mà chị đi bộ vậy?

    Chị mắc cỡ cười trừ:

    - Xe đạp hư rồi! Đang bỏ sửa.

    - Sao chị không đi bằng xe lam đến trường?

    - Giờ này đâu còn xe lam vô trường nữa! Chỉ có chuyến sáng và trưa thôi.

    - Thôi leo lên đây đi, tôi chở dùm cho!

    Chị Phương không ngần ngại leo lên ngồi trên bọt-ba-ga phía sau Thanh ngay. Bình thản như vợ chồng.

    Chị Phương bắt chuyện:

    - Gặp Thanh may quá! Thanh mà đi sớm một chút chắc là chết! Lội bộ từ đây vô trường chắc là tan trường quá!

    - Xe hư thì chị cứ ở nhà. Đi bộ chi cho mệt.

    - Vì sợ Phòng Giáo Dục. Mấy ổng cho nghỉ dạy thì khổ!

    - !!!

    - Sao, chở tôi thấy mệt không? Chắc mệt lắm hả? Nếu thấy nặng thì Thanh để tôi đi bộ nha! Làm phiền Thanh hơi nhiều rồi đó.

    - Không sao, khi nào xe hư chị cứ đi bộ như thế này, tôi gặp sẽ chở dùm cho. Sức tôi còn khoẻ mà.

    Không biết chị Phương có còn nhớ đến lỗi lầm của Thanh trong mấy năm về trước không? Chứ sao Thanh vẫn nhớ hoài! Nhưng cũng may, bây giờ đã trở thành ân nhân của chị đây rồi.

    - Sao, ông xã của chị vẫn bình thường? Ảnh đang học cải tạo ở đâu?

    - Nghe nói đang bịnh. Ảnh ở Bù Gia Mập.

    - Cũng khổ.

    - Ừ, cũng khổ!

    - Chị có đi thăm nuôi ảnh không?

    - Cũng có, nhưng rất ít, vì tài chánh trong nhà hiện nay quá eo hẹp.

    - Còn thằng con của chị. Chắc bà già phải giữ dùm?

    - Chớ còn ai nữa. Nếu không có bà già, giờ tôi không biết làm sao!

    - Cũng may, còn bà già.

    Tự nhiên chị Phương lại hỏi Thanh:

    - Còn Thanh bao giờ lấy vợ?

    Thanh cười quay mặt nói vọng ra sau cho chị Phương nghe:

    - Định cưới vợ rồi đó chị. Đùng một cái giải phóng. Bây giờ như vầy mà cưới vợ thì có chết.
    Chị phương nói nhỏ lại:

    - Ừ, bây giờ ai cũng khổ hết. Nhưng mà Thanh đã để ý cô nào chưa?

    - .....Thanh chỉ yên lặng.

    - Thôi, không muốn nói thì tôi cũng không có ép. Chỉ nói chuyện tầm phào không thôi.

    Âm thanh bỗng rè lên um sùm. Người lo về kỹ thuật máy móc cho buổi nói chuyện từ hàng ghế bên dưới chạy ngay lên giàn âm thanh. Anh hết đứng rồi ngồi, lấy tay ấn ấn mấy đầu dây điện. Âm thanh rè lên bằng một tiếng hú rồi trở lại bình thường. Diễn giả không một chút có vẻ gì là bực bội. Ông chờ anh lo về âm thanh xuống lại hàng ghế ngồi rồi tiếp tục. Trước khi nói, ông gõ vào đầu micro:

    - Tôi xin lỗi vì nãy giờ nói hơi nhiều về cuộc đời của tác giả tập truyện Những Điệu Ru Con. Nhưng tôi biết nỗi đớn đau cùng cực để tác giả viết lên tập truyện này, như tác giả có lần tâm sự với tôi, là sau ngày chồng tác giả chết trong trại cải tạo. Sau khi nhận tin sét đánh đó tác giả chỉ còn biết than thở qua những lần ru cho con ngủ, sau buổi sáng bù đầu trong trường học. Vì thế Những Điệu Ru Con đã manh nha hình thành từ thời gian đó. Chồng chết trong trại cải tạo không biết chính xác vì sao. Con còn nhỏ. Kinh tế gia đình eo hẹp. Những khó khăn đau khổ cùng một lúc chồng chất lên nhau, kích thích đến bản năng của người đàn bà lúc nào cũng cho là mình yếu hèn, thành một hành động can đảm: ôm con chồng vàng lên ghe vượt biên...

    Bây giờ Thanh hơi hả hê mộ chút. Bây giờ anh mới tạm kết luận được tại sao chị Phương có mặt tại Thụy Sĩ này. Trong những thư từ chị vẫn giữ kín. Chị không kể gì cả. Chỉ khoảng gần đây thôi, khi gần ra mắt tập truyện chị mới liên lạc với Thanh. Nhưng chị cũng tệ thật. Thanh đi vượt biên trước chị, gửi thư về nhà ở Việt Nam, chị biết địa chỉ Thanh ở Đức, vậy mà khi chị đến được Mã Lai, đến Thụy Sĩ, chị không một lần viết thư cho thanh biết chị đã như Thanh thoát được "thiên đường".

    - Nhưng chuyến vượt biên của tác giả cũng đâu có dễ dàng gì! Ai đã từng vượt biên, đã từng ngang qua vịnh Thái Lan mà không biết đến hải tặc Thái. Thôi, về điều này tôi nghĩ tôi không nên nói ra. Điều mà các cô gái, xin lỗi, và tác giả tập truyện, đều muốn dấu kín, chỉ tâm sự với những người đáng được các cô tâm sự, còn tuyệt nhiên không nên công khai hoá điều này trước đám đông.

    Diễn giả nói úp mở quá! Thanh chưa biết đoạn đường vượt biên của chị Phương ra sao? Có gian truân lắm không? Có gặp hải tặc không? Chắc phải có dịp nào thuận tiện sẽ hỏi lại chị về việc này.

    Diễn giả đang nói. Một thanh niên giơ tay, ngắt ngang, xin cho ý kiến. Vì lịch sự nên ông diễn giả ngừng nói, hỏi anh thanh niên:

    - Dạ, anh có gì đó, xin cứ nói.

    Anh thanh niên có vẻ bực bội:

    - Ông nói dài quá! Để người ta đọc thì người ta biết tác giả muốn nói gì chứ gì. Văn là người mà! Cuộc đời chị Phương thế nào không gắn liền trong tập truyện của chị. Nhưng nếu ông cho phép tôi chỉ muốn hỏi chị Phương một câu thôi.

    Bị anh thanh niên "quạt" bất thình lình, ông diễn giả hơi tái mặt, nhưng ông vẫn giữ nụ cười tự nhiên, điềm đạm, như từ lúc ông bước lên bục nói chuyện nãy giờ. Ông liếc về chị Phương, ngụ ý: chắc có gì rắc rối rồi đây!

    Chị Phương vẫn không quay lại nhìn anh thanh niên vừa hỏi. Nhìn chồng, chị lặng lẽ gật đầu. Cũng không ai biết sắc mặt chị ra sao.

    - Được, tôi xin tạm ngưng nói một chút để anh có muốn hỏi tác giả gì thì anh cứ hỏi.

    Hai tay chắp ra sau, anh thanh niên hỏi chuyện tác giả có phần đanh thép:

    - Tôi xin hỏi chị Phương là ở đây ai cũng biết cuộc đời của chị có những cái đau khổ với chế độ Cộng sản. Thí dụ như điều mà mọi người đều biết, chồng trước chị là sĩ quan chết trong trại cải tạo. Nhưng tôi hỏi là tại sao ở thành phố Genève này có biết bao nhiêu là cuộc biểu tình chống Cộng sản đã xảy ra. Các tu sĩ đến đây tuyệt thực chống lại hình thức cai trị của chính quyền ở quê nhà. Rồi cộng đồng người Việt biểu tình đòi hỏi nhân quyền. Vậy mà không lần nào tôi thấy chị đến tham dự. Vậy là sao? Tôi chỉ xin hỏi chị vậy thôi.

    Câu hỏi quả là hơi rắc rối. Thính phòng yên lặng. Thanh lấy làm lo lắng cho chị Phương. Ở đâu cũng vậy, có người thế này cũng có người thế khác. Người yêu nước thế này, kẻ yêu nước thế kia. Mọi người đang đợi câu trả lời của diễn giả đang đứng trên bục, hoặc câu trả lời từ tác giả. Diễn giả không nhìn chị Phương, nói với thính giả:

    - Về câu hỏi này tôi xin nhường cho tác giả, để tác giả có thể trả lời trực tiếp với người hỏi, những cái tại sao mà anh vừa đặt ra. Nhưng để trước khi kết thúc phần nói chuyện của tôi, tôi... tôi..., hiện tại ngoài tư cách là chồng của tác giả, còn là, như tất cả mọi người đang hiện diện ở đây hôm nay, là một độc giả, nên tôi thấy không có gì quá đáng, không phải là "mèo khen mèo dài đuôi", cũng không có "mặc áo thụng cho nhau", vì tôi đâu phải là nhà văn mà không thấy ở tác giả, ở cô Phương một tấm lòng. Tấm lòng đối với Việt Nam. Tấm lòng đối với người chồng sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà ngày trước, và nhất là tấm lòng đối với văn chương. Xin chân thành cám ơn quý vị. Và kính mong quý vị ủng hộ cho quyển sách đầu tay mà tác giả có dịp ra mắt trong ngày hôm nay.

    Vẫn như mọi khi, sau một người nói, một tràng pháo tay nổi lên, diễn giả, từ từ lấy cặp nạn cắp vào nách rồi chậm rãi, chắc chắn, từ từ đi xuống hàng ghế ngồi. Chị Phương lại rời chỗ ngồi để lên bục nói chuyện. Chị sửa lại micro cho ngay miệng mình rồi nói gì đó. Nhưng Thanh còn nghe gì nữa đâu! Đầu óc anh đang bận nghĩ đến người chồng của chị Phương, một trí thức Việt Nam, lại tật nguyền. Cơ duyên nào đã mang ông ta và chị Phương gặp nhau? Nhưng liệu tấm lòng ông ta có bền vững với quá khứ của chị, và những điều mà chị đã, đang, và sẽ viết ra sau này? Cầu mong tấm lòng ông sẽ mãi mãi bền vững, để chị Phương còn có thể tiếp tục viết những truyện khác nữa. Trong gia đình, nhà văn thường bị "vong thân" với chính mình, bởi chính cái "nghiệp" này đã làm cho nhà văn thường không còn làm tròn trách nhiệm của một người chồng, người vợ, người cha, người mẹ như bao nhiêu người đàn ông đàn bà khác, vì nhà văn cứ muốn có những giây phút riêng cho mình để suy tưởng, đào xới những vấn đề của cuộc sống, và dĩ nhiên, không thể ở một nhà văn nào mà không có sự mơ mộng. Anh liên tưởng điều này với trường hợp chị Phương, khi nhớ lại một lần đâu đó người ta đề cập đến "những tâm hồn nghệ sĩ" trong những nhiệm vụ đối với gia đình. Sẽ có một điều gì đó không được trọn vẹn. Nếu đã là "một tâm hồn nghệ sĩ", một người đàn ông đàn bà khó toàn vẹn với gia đình. Ngược lại nếu muốn làm người chồng người vợ toàn vẹn với gia đình thì tốt nhất đừng làm người có "tâm hồn nghệ sĩ". Vì thế trong mọi trường hợp người có "tâm hồn nghệ sĩ" cần có sự thông cảm từ người phối ngẫu và cả từ các đứa con. Đây là điều Thanh cầu mong chị Phương sẽ có từ ông chồng của chị.

    - ... tôi đã bao lần tự nghĩ dù vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng trong chế độ Cộng sản, nhưng không bao giờ tôi có thể trở thành nhà chính trị được, may mắn tôi sẽ trở thành nhà văn, còn không chỉ là người đàn bà bình thường trong gia đình như trăm ngàn những người đàn bà khác tại hải ngoại này. Vì thế nên tôi không đi vào trực tiếp những hoạt chống Cộng tại hải ngoại, hay cả ở Genève này. Không biết tôi trả lời như vậy, anh có thể thông cảm cho tôi không?

    Cả phần đầu, phần giữa chị Phương nói gì Thanh đâu có nghe, chỉ đến phần kết cuộc mới nghe chị nói như vậy. Chị nhìn xuống anh thanh niên hỏi lúc nãy bằng ánh mắt kêu gọi sự thông cảm, sự đồng tình với những ý nghĩ của chị. Không biết có phải vì ánh mắt đó, hay vì lời giải thích của chị mà anh thanh niên không đứng lên phát biểu nữa. Anh ngồi yên lặng, không một chút động đậy. Khuôn mặt chị Phương lúc đầu có nét bồi hồi buồn thảm, dần dần giãn nở ra, hiện lên nét vui tươi.


    .....Sau khi đến đảo chừng ba tháng chị nhận được thư của anh Phong. Chị không ngờ nhận được thư của anh Phong trong hoàn cảnh khổ cực của mẹ con chị như vậy. Chị hồi âm. Anh gửi tiền đô qua giúp đỡ trong thời gian ở đảo. Có tiền giúp đỡ từ ảnh cuộc sống của hai mẹ con chị ở đảo đở vất vả hơn nhiều.

    Một loạt pháo bông lại bắn lên trong muôn màu làm chị Phương phải ngừng nói để hai chị em cùng xem. Không như cách đây một giờ mặc tình nhìn ngắm hàng loạt pháo bông được bắn lên trời. Hôm nay là lễ Quốc khánh của Thụy Sĩ, nên dân thụy Sĩ đều rộn ràng để chuẩn bị cho buổi tối bắn pháo bông này. Những màu đỏ vàng từ những nụ pháo bông nằm rải rác đều như mưa trên bầu trời. Ánh sáng phản chiếu xuống mặt hồ y như có một thành phố đầy ánh sáng nằm dưới mặt hồ. Bên kia hồ, tức là bên kia mặt đối diện với nhà chị Phương, là cả một khu "hội của mùa hè", gồm trò chơi đánh đu, cỡi ngựa, đi xe điện, bắn súng... còn vọng lại bên nhà chị những âm thanh nhộn nhịp, dù bây giờ trời đã gần nữa đêm. Anh phong và đứa con trai của chị đã đi ngủ từ lâu. Balcon giờ chỉ còn lại hai chị em. Thanh chen vô câu chuyện, khi loạt pháo bông vừa tắt trên mặt hồ:

    - Anh chị chọn cái nhà ở đây hay quá hả! Nhà nhìn ra mặt hồ, đẹp vô cùng! Hôm qua vừa đến đây em thấy thích quá. Và đêm nay thấy được cả bầu trời đầy pháo bông rớt trên mặt hồ.

    Thanh không muốn khen tiếp cả những chậu bông được treo trên thành balcon nhà chị Phương. Ba chậu bông dài xếp thành hàng ngang nằm trong những cái móc sắt. Buổi chiều khi vừa đến nhà chị Phương, thấy những cánh hoa màu đỏ, Thanh nhớ lại những cành hoa giấy cũng màu đỏ thắm ngày xưa trồng dày đặc ở hàng rào nhà chị Phương. Thuở anh còn đứng tần ngần cạnh hàng rào để chờ chị Phương ra đi học. Vô ý anh đã để mấy cây gai đâm vào tay nhức buốt.

    - Để chị kể tiếp cho em nghe chuyện của chị và anh Phong mà hồi sáng này em đã hỏi. Sau mấy lần gửi tiền và viết thư qua lại, anh Phong có hỏi ý chị là có chấp thuận làm vợ ảnh không? Vì ảnh nói ảnh đã ly dị vợ, một người Thụy Sĩ, cô này đã bỏ anh ra đi.

    Khuôn mặt chị Phương mờ nhạt trong bóng đêm. Ánh sáng từ khu "hội của mùa hè" bên kia bờ hồ cũng không đủ ánh sáng để hai người nhìn mặt được nhau. Tuy nhiên, qua giọng nói, Thanh hiểu rằng lúc này có lẽ là lúc tâm hồn chị Phương xao động lắm. Y như bức thư cầu hôn của anh Phong đang nằm trước mặt chị.

    - Em muốn hỏi chị là chị và anh Phong biết nhau từ hồi nào? Tại sao khi đến đảo lại nhận được thư anh Phong?

    - A, chuyện này hơi dài dòng. Phải trở về thời gian trước một chút. Xin lỗi, chị chưa kể cho em nghe ở đoạn đầu. Số là anh Phong là bạn học của anh Sơn, chồng chị. Thi tú tài hai xong anh anh Sơn đi sĩ quan Hải Quân, còn anh Phong đi du học ở Thụy Sĩ. Chị không biết về anh Phong nhiều, chỉ nhớ một lần trong dịp đám cưới của chị, lại nhằm dịp anh Phong về nước thăm nhà. Ngày đó anh có dẫn theo về một cô bồ Thụy Sĩ rất đẹp. Anh Sơn giới thiệu chị với anh Phong. Chị biết anh Phong từ đó. Về sau, lâu lâu anh Phong cũng có viết thư về cho vợ chồng chị và anh Sơn cũng có hồi âm.

    Sau ngày ba mươi tháng tư anh Sơn đi học cải tạo, chị cũng không nhận được thư của anh Phong, mãi đến khi chị đến đảo ở Mã Lai, ba tháng sau đó chị mới nhận lại được thư từ ảnh.

    - A, thì ra vậy. Chắc ảnh liên lạc với nhà ảnh ở Việt Nam, biết anh Sơn đã chết, biết địa chỉ chị ở đảo nên ảnh mới viết thư chứ gì?

    Giọng người đàn bà trầm xuống để góp chuyện:

    - Chị cũng nghĩ vậy. Chắc ảnh hỏi địa chỉ từ má chị rồi ảnh liên lạc với chị.

    - Em thấy như vậy ảnh cũng tốt, xin lỗi chị nha, em tò mò một chút là... ảnh có tật từ bao giờ?
    Tiếng thở dài của chị Phương, Thanh nghe rõ ràng:

    - Em không hỏi thì chị cũng kể tới bây giờ. Khoan em chờ chị một chút!

    Chị Phương nói xong đứng dậy đi vào nhà. Chị mang áo jacket của Thanh ra và cho chị một chiếc áo len mỏng. Chị khép cửa ra vào cẩn thận. Khi chị đang đứng khép cửa, ống quần rock dài của chị gặp gió bay lất phất. Quay lại, chị nói trong lúc cầm áo đưa cho Thanh:

    - Mặc vô đi Thanh! Trời về đêm hơi lạnh. Ngồi đây mà không mặc áo lạnh thì dễ bị cảm.

    Không biết chị sợ Thanh và chị bị cảm hay chị sợ nói lớn tiếng quá anh Phong sẽ nghe nên đã tìm cách đứng dậy để đi đóng cửa cẩn thận? Nhưng chắc sợ cả hai.

    - Đó. Trở lại chuyện của chị. Ở đảo đang cô đơn. Lại mình còn chồng đâu mà giữ danh giá, mà chờ đợi. Nên khi ảnh hỏi ý thì chị chịu nhận ảnh làm chồng. Nhưng chị có nói với ảnh phải cho chị một điều kiện, là phải có bằng chứng chính xác là ảnh đã ly dị vợ. Chị sợ cảnh vợ một vợ hai lắm.

    - Rồi ảnh trả lời sao?

    - Ảnh nói được chứ sao! Ảnh nói sẽ nhờ một cơ quan thiện nguyện Thụy Sĩ bảo lãnh mẹ con chị qua Thụy Sĩ trước đã. Rồi ảnh sẽ đem giấy tờ ly dị ra cho xem, sau đó chị mới quyết định là chịu làm vợ ảnh hay không. Thế là ngày chị và con đến Thụy Sĩ có ảnh ra đón. Trời ơi! Thanh ơi! Chị hồi họp vô cùng. Gương mặt ảnh, vóc dáng ảnh chị nhớ thật mơ hồ trong ngày đám cưới của chị. Cả cô bồ Thụy Sĩ giờ phút đó chị cũng không còn nhớ ra sao nữa. Chỉ nhớ tóc vàng vàng, mắt xanh xanh, tướng hơi to lớn và rắn chắc hơn các cô gái Việt Nam mình mà thôi.

    Nghe đến đây Thanh cũng thấy hồi hộp vô cùng. Không biết lúc này anh Phong đã bị tật nơi chân chưa? Nhưng cứ hỏi trước hoài thì câu chuyện sẽ mất vui. Cứ để chị Phương kể từ từ sẽ hay hơn.

    Chị tiếp:

    - Ở phi trường anh Phong và mấy bà làm trong cơ quan thiện nguyện đến tận cửa ra để đón chị. Gặp ảnh, chị nhận ra ngay. Đúng là gương mặt đã xuất hiện với cô bồ Thụy Sĩ trong ngày đám cưới chị. Nhưng Thanh ơi, lúc ấy trên tay ảnh cầm bó hoa trao cho chị, nhưng chân lại đi với đôi nạn gỗ!

    Thanh liếc nhìn cánh cửa ra vào. Cánh cửa đã được chị Phương đóng chặt. Nghĩa là không thể nào một người trong nhà nghe được cuộc chuyện trò của hai người, nên Thanh yên tâm hỏi chị Phương. Anh hỏi rất nhỏ:

    - Rồi chị làm sao?

    Đôi bàn tay chị Phương đồng lúc đưa lên vuốt mặt. Bóng đêm mờ ảo. Đôi bàn tay từ từ di chuyển ra sau gáy, chắc chị muốn tìm cảm giác ấm áp nơi ót, xoá mờ một tình huống bẽ bàng trong ngày hôm đó.

    - Thì biết làm sao nữa đây? Chị cũng phải chào ảnh, nhận hoa như bình thường. Rồi chào cả mấy bà Thụy Sĩ.

    - Rồi sau đó hai người thành vợ chồng?

    Chị Phương vổ bàn tay lên đùi Thanh một cái bịch, đến đau. Chị cười nhưng vẫn không nói lớn tiếng:

    - Đâu có lẹ vậy đâu em! Anh Phong lịch sự lắm. Ảnh không lật đật, cũng không sỗ sàng trong việc đề cập chuyện chồng vợ. Dù rằng, lúc chị còn ở đảo ảnh có lần viết thư tỏ tình với chị. Trước tiên, ảnh lo chỗ ở cho mẹ con chị thật chu đáo. Chỗ học cho con chị. Chỗ học cho chị. Khi mọi việc xong xuôi, trong một buổi tối ảnh mới kể với chị tất cả cuộc đời ảnh, và xin lỗi chị về việc phải dấu chị là ảnh đã trở thành người tàn phế.

    - Vì sao ảnh bị như vậy?

    Hơi thở chị Phương dài thườn thượt, giống như chị là người đã bị tai nạn ấy.

    - Đụng xe em à! Tai nạn làm ảnh gãy cả hai chân. Khi lành rồi phải đi bằng nạng. Nhưng cái khổ nhất, ngoài tai nạn ra, sau đó là vụ ly dị. Ảnh đã bằng lòng khi người vợ Thụy Sĩ đề nghị ly dị vì ảnh nghĩ cô rất khó lòng ở với ảnh khi ảnh đã trở thành tàn phế, nên tội tình gì phải níu kéo. Ảnh đã giải thích với chị như vậy.

    - Thế là ảnh tìm chị?

    - Lúc đầu thì không. Ảnh chỉ viết thư về Việt Nam thăm vợ chồng chị bình thường. Nhưng sau khi chồng chị chết, và sau khi biết chị đã vượt biên đến đảo nên tìm cách liên lạc với chị. Ảnh thú thật ảnh mong có một người vợ Việt Nam trở lại trong tuổi già. Và nhất sau khi ly dị ảnh mong người vợ Việt nam ấy là chị. Ở đời cũng ngộ, lúc trẻ, du học ngoại quốc thanh niên Việt Nam đều thích lấy vợ người bản xứ. Khi về già ai cũng thích quay về người vợ Việt Nam.

    - Lúc thành vợ chồng rồi, ảnh kể, với cô vợ Thụy Sĩ, có đêm nằm bên nhau mà y như ảnh nằm bên khúc cây, trằn trọc cô đơn. Cô chẳng bao giờ thích cho mình tâm sự.

    - Em có nhận xét anh Phong chắc là người có nhiều tâm sự. Lại là người rộng rãi, có phải vậy không chị?

    - Em nói đúng. Ảnh có nhiều tâm sự buồn. Ảnh cũng nghĩ nhiều về đất nước. Cứ nói là tiếc hoài vì không giúp gì được cho Việt Nam.

    - Còn với cuộc đời của chị?

    - Ảnh và anh Sơn chồng trước chị là bạn, nên ảnh rất thông cảm cho nỗi khổ đau của chị. Chính ảnh khuyến khích chị viết lại những gì xảy ra trong cuộc đời chị.

    - Ảnh không có ý hờn ghen gì cả về những điều chị viết ra? Thí dụ như những đoạn chị viết về mối tình hoặc chuyện tình nghĩa vợ chồng giữa chị và anh Sơn.

    - Chắc hẳn là vậy rồi. Đàn ông cũng có cả thế giới thầm kín của họ. Thanh là đàn ông, Thanh biết rồi. Nhưng dẫu sao đến giờ phút này chị vẫn thấy anh Phong là người rất rộng lượng.
    Thanh đồng tình ngay:

    - Thì em cũng thấy vậy. Cầu mong ảnh tiếp tục như vậy mãi để chị còn viết những điều khác hay hơn. Chẳng hạn như chuyện vượt biên, chuyện ở đảo và chuyện trên đầt Thụy Sĩ này.

    - Thì chị cũng cầu mong như vậy.

    Thanh kéo chị Phương cùng mình trở về hiện tại:

    - Anh chị ở căn nhà này đẹp quá! Lại phong cảnh hữu tình. Chiều chiều đứng đây nhìn ra mặt hồ thì không còn gì bằng.

    - Anh Phong mua đó. Từ sau ngày chị nhận làm vợ ảnh, ảnh góp tiền, mượn thêm nhà băng mua căn nhà này. Ảnh nói, mình cần nhìn cảnh vật mỗi khi chiều về cho vơi bớt bực bội trong một ngày làm việc. Cứ nhìn người, nhìn xe cộ là chết! Xe cộ thì chật ních ngoài đường, còn con người ở đây thì lạnh lùng, có gì để nhìn ngắm?

    - Ảnh làm trong chính quyền Thụy Sĩ hả chị?

    - Ừ. Ảnh học về kinh tế. Không về nước làm việc được nên ảnh ở đây luôn. Làm cũng mười mấy năm rồi đó.

    - Em muốn tò mò hỏi chị một chút là, lúc ảnh cưới chị để làm vợ thì tình cảm của chị như thế nào? Lúc chị đã gặp ảnh rồi đó.

    - Trước tiên ảnh là ân nhân của chị nên chị cũng cảm mến. Lại ở một thời gian trên đất Thụy Sĩ này, có ảnh đưa đón giúp đỡ nên thêm ơn nặng nghĩa sâu. Lại thấy ảnh đi làm rất siêng năng, không ăn chơi trác táng. Thôi nhiêu đó đủ cho mình chịu làm vợ ảnh rồi. Hơn nữa em thấy đó, ảnh tật nguyền chứ ảnh đâu có xấu trai.

    Nói xong chị Phương cười dòn làm Thanh cũng phải cười hoạ theo. Nhưng khi chị Phương dứt tiếng cười lại nhắc nhở Thanh ngay:

    - Nhưng chị lấy ảnh vì thương yêu ảnh thật sự, chứ không phải vì ảnh đẹp trai đâu. Có lẽ chị thương ảnh vì ảnh tàn tật cần người chăm sóc. Và một điều quan trọng nhất là ảnh nói ảnh cũng cảm thấy yêu chị từ ngày về nước dự đám cưới của chị và anh Sơn. Vì đã là vợ của bạn nên ảnh chỉ giữ yên lặng, tự tìm cách quên chị. Đúng ông này cũng lãng mạn thật!

    Trời đã quá khuya. Khu trò chơi trong mùa hè bên kia hồ đã hoàn toàn im vắng tiếng người, chỉ còn những ngọn đèn màu chớp tắt trên dĩa quay lồng lộng. Bầu trời cao và đầy ánh sao. Mặt hồ yêu tỉnh hơn buổi chiều. Ở một góc hồ trời tối hẳn, chỉ còn hiện mấy chiếc thuyền buồm du lịch đồng một màu sáng trắng. Những cây cột buồm, dây kéo buồm dan nhau như màn nhện. Chị Phương ngáp dài không che giấu. Chị nói khuya quá rồi chị em ta đi ngủ thôi, lấy sức, mai Thanh còn phải trở về bên Đức nữa.

    Hôm sau Thanh về đến nhà khoảng gần mười giờ đêm. Cả nhà đã đi ngủ. Chỉ cậu con trai mười bốn tuổi còn thức, đang đứng bên cửa sổ nhà nhìn xuống đường xem hai cô gái Đức khoảng mười sáu tuổi đánh vũ cầu. Trời mười giờ, trong mùa Hè chưa tối hẳn, nhưng đèn đường đã được bật lên, ánh sáng đèn đường vàng chiếu rọi xuống con suối cạnh nhà, phản chiếu lại làm khung cảnh chơi của hai cô gái đẹp lạ lùng. Cậu bé hơi ái ngại khi thấy ba mình bắt "tại trận" mình đang "nhìn trộm" hai cô gái. Thanh lại bắt gặp hình ảnh mình qua hình ảnh đứa con trai cách đây hai mươi lăm năm. Nhưng ở dưới kia không có ai là chị Phương cả! Thanh mong sao con trai mình đừng có những mộng mị tầm thường như mình khi tuổi vừa mới lớn.


  4. Gió bấc thổi vù vù hai bên tai của chị Thoa làm chị buồn thêm. Nhìn nồi chè vẫn chưa hết được phân nửa lòng chị buồn vô hạn. Chị định bụng nếu hôm nay mua may bán đắt, xong sớm, chị sẽ ghé qua buổi chợ chiều mua ba bộ quần áo mới cho ba đứa con của chị. Ngày mốt là mùng một Tết. Cứ ngày ba mươi Tết mà chưa có quần áo mới là ba cô cậu lo sốt cả ruột. Còn sáng mùng một không có cho các cô cậu là cô cậu sẽ khóc cho coi, ở đó còn sai với bảo. Mà ở đầu năm như vậy thì suốt cả năm nhà sẽ làm ăn không ngóc đầu lên nổi. Chị tin như vậy từ những ngày còn nhỏ ở với cha mẹ lận. Vừa ngồi chị vừa nhẩm tính, đợi khi nào nồi chè lưng lưng chị sẽ gánh đi bán dạo. Chớ nó còn đầy thì gánh đi nặng lắm. Gánh đã đi không được xa mà tiếng rao cũng không còn được thanh. Vì mệt nên chỉ còn thở thôi thì làm sao mà thanh cho được. Một cặp tình nhân đi ngang qua gánh chè chị mời mọc ngay:
    - Ăn chè đi cô cậu! Chè sôi nước tôi bỏ gừng nhiều, thơm và ngon lắm!
    Đôi tình nhân đồng loạt nhìn chị bán chè, không nói năng chỉ cười rồi tiếp tục bước đi. Chị Thoa quen với cảnh như vậy rồi, nên không còn biết mắc cở như những ngày đầu tiên vừa tập tành gánh chè đi bán. Có rao hàng, có mời mọc người ta mới mua! Chị thường dặn lòng như thế. Ngọt mật chết ruồi. Lấy tay mở nắp nồi chè chị lại thấy lòng mình chùn xuống, buồn vô tận, y như lúc xuống câu vọng cổ trong những ngày còn nhỏ tập tành học ca ở nhà ông Tám Cò, trong con hẻm nhỏ xíu nằm trên đường Phạm Ngũ Lão vậy. ...Vì xác thân anh đã vùi sâu dưới đáy mộ hoang tàn, dứt câu, ông thầy nhịp song lang kêu một cái cắt nghe mùi tận mạng! Dù chị là gái nhưng ông thầy mấy ngày đầu cứ kêu ca thử bài Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài không. Bài này ngày đó chị thường nghe Minh Cảnh ca trên Radio lắm. Gốc dân quê cùng cha mẹ chạy về Sài Gòn lánh nạn trong thời buổi chiến tranh đã lâu rồi, nhưng ghiền cổ nhạc làm như nó có từ trong máu của chị vậy. Ông thầy lúc mới nhận dạy còn tán thêm ra:
    - Ráng học đi, tui sẽ giới thiệu theo mấy gánh cãi lương mà tui quen. Ông còn chỉ tay lên mấy khuôn hình có lộng đầy hình đào kép như Thành Được, Út Trà Ôn, Phượng Mai, Phượng Liên... rồi khoe: Mấy người này toàn là từ lò này ra không đó! Tui thấy cô em có thể trở thành như Phượng Liên được. Vừa đẹp lại vừa có giọng ca ngọt ngào quá xá! Chắc không lâu đâu, sẽ nổi tiếng ngay thôi. Ráng lên!
    Bà xã ông thầy ngồi cạnh chồng nhìn chị còn nói thêm vô:
    - Tui ít khi gặp cô gái người Nam nào tên Thoa lắm nha. Sau này, nếu cô đi ca thì lấy tên là Ngọc Thoa hay Phượng Thoa gì nghe cũng được đó. Bà quay sang ông chồng tiếp: Ông nói đúng. Con nhỏ này đẹp không thua gì Lệ Thủy, Phượng Liên đâu.
    Nghe ông bà thầy khen đẹp chị cũng vui. Không đẹp thì anh bồ tên Liêu, hạ sĩ Không Quân, đâu có đang theo chị ngày tối sáng đêm như vậy. Còn cái tên Thoa bà thầy vừa khen, thì chị nghe như vầy. Số là ông già đặt cho chị cái tên là Thao, để họp với cái tên người chị lớn nhứt nhà là Thúng, và đứa em trai kế tên là Rổ như cái tục lệ ở nhà quê cứ đặt tên con cho có vần có điệu mà chị biết từ những nhà chung quanh khi chị còn nhỏ ở dưới quê. Nhưng khi chạy giặc từ quê lên Sài Gòn, vì giấy tờ mất hết, nên phải đi khai báo tên tuổi lại. Có lẽ Sài Gòn là nơi thành hoa đô hội, nhân viên làm khai sinh họ không nghĩ đến cái tên Thao kỳ cục cho một cô con gái vừa đến tuổi dậy thì và có nhan sắc như chị. Cũng có thể ông già đánh vần lộn, viết lộn khi khai lại giấy tờ khai sinh. Không biết ai đúng ai sai, chỉ biết kể từ đó chị được một cái tên khác đẹp hơn đó là Thoa. Nhưng rồi chuyện học ca cổ nhạc cũng không theo nổi ở tháng thứ hai, ông bà già cũng muốn cho con gái mình theo học ca cãi lương để trở thành một Lệ Thủy một Phượng Liên thứ hai với người ta, nhưng ngặt một nổi tiền học phí cao quá, lo không nổi. Lại cứ bản Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài ca tới ca lui hoài chị cũng nãn. Cuối cùng mộng thành ca sĩ cãi lương tan thành mây khói ngay từ những ngày vừa trưởng thành. Nhưng nhờ vậy mà sau này khi nối tiếp bà già gánh chè đi bán chị cũng sử dụng được giọng ca của chị trong những lời rao chè ngọt xớt, mỗi khi chè bị ế ẩm như chiều nay. Chị lại giở nắp nồi chè xem lần nữa để đo lường sức gánh của mình đi khoảng được bao xa. Chưa hết được phân nửa chị ngẫm nghĩ chắc là gánh đi gần gần đây thôi, kiếm nhà nào quen quen, gần gần quanh xóm này để có thể mời mọc và bán được một chút ít cho nồi chè lưng xuống, rồi mới tiếp tục gánh đi xa được.
    Bỗng chị nhớ lại, phải rồi, nhà bác Sáu, ba má của anh Liêu, người tình của chị trước năm bảy mươi lăm, nằm ở góc hẻm trong khu nhà sau lưng chị đang ngồi bán chè. Năm ngoái cũng vào dịp gần Tết này, tình cờ gánh chè đi ngang, được bác Sáu gái kêu lại để mua cho con trai, con dâu và đàn cháu nội của bác từ Mỹ lần đầu tiên về Việt Nam ăn Tết. Chỉ trong chốc lát nồi chè đang còn nửa đã xuống gần muốn hết. Lòng chị mừng rỡ. Bây giờ, nghĩ lại chuyện năm ngoái lòng chị còn thấy vui . Nhất là chuyện của Liêu và chị. Liêu đã chạy đi Mỹ vào ngày hai mươi tám tháng tư năm bảy mươi lăm. Ngày đó anh có rủ chị nhưng chị nào có chịu đi. Đã cưới hỏi gì đâu mà theo trai như vậy, ông bà già la chết. Bác Sáu cũng biết việc của chị và con trai bác, nên sau ngày đó mỗi khi gặp mặt, chị và bác vẫn chào hỏi bình thường, nhưng đặc biệt là chị chưa bao giờ hỏi tin tức gì về Liêu, con của bác. Chị coi đó là chuyện của quá khứ, đã qua. Bây giờ Liêu được xem là Việt kiều. Bỏ qua những Việt kiều chỉ biết về nước ăn chơi trác táng, chị thấy mấy anh chị Việt kiều hiện tại khi về nước để thăm viếng thân nhân cũng giúp đỡ được nhiều cho những người nghèo hèn, buôn bán hàng rong lam lũ như chị, trong đó có Liêu. Không có những người đem tiền về tiêu xài như họ thì bọn buôn bán như chị bán buôn cho ai ăn ai xài đây. Các anh chị đa số xài tiền như nước. Kể gì ba cái chén chè tô bún tính ra chưa đầy một cent của Mỹ. Chị còn nhớ lại, ngày hôm đó, khi đang ngồi hồi hộp múc chè cho mấy đứa cháu nội của bác Sáu, Liêu đi ra, tình cờ thấy chị anh ta nhìn trân trân. Dù sao cũng là người tình cũ, không hẹn cũng gặp. Chị vừa múc chè, tay vừa run, bởi vì chị không ngờ gặp lại Liêu thình lình như vậy. Đã trên hai mươi năm chưa hề gặp mặt. Chị đâu dám nhìn thẳng vào mặt Liêu, sau khi nói vài lời chào hỏi vô thưởng vô phạt lúc cô vợ của anh còn trong nhà chưa ra tới. Mối tình cỏn con trong xóm đã hai mươi năm qua dễ gì ai còn nhớ! Lúc đang ăn chè, vợ Liêu hỏi chị mỗi ngày gánh chè đi bàn kiếm được bao nhiêu tiền. Chị trả lời. Cô quay qua nói với chồng: Tính ra là chưa đến hai Đô mỗi ngày hả anh.Vậy thì làm sao sống! Vậy mà chị đã sống được mười mấy năm nay với nồi chè mỗi ngày cùng chồng nuôi ba đứa con. Liêu chắc vì muốn biết về gia cảnh của người tình cũ nên hỏi thêm, nhưng vẫn kín đáo để cho vợ không nhận ra chuyện ngày trước của hai người.
    - Còn anh nhà chắc kiếm được khá hơn... cô?
    Chuyện về chồng con hà cớ gì phải than thở hoặc kể ra cho người tình cũ. Không! Người... ngoài... đường biết. Chị nói đại cho qua câu chuyện:
    - Dạ ảnh kiếm được mỗi ngày hơn... tôi... chút ít thôi... anh. Dân lao động mà! Làm gì mà có thể tìm đâu ra tiền nhiều.
    Chị nói vậy rồi nhìn Liêu thấy mặt anh buồn rười rượi.
    Buổi chiều bán chè hôm đó chị về nhà sớm đến nổi ba đứa con không ngờ trước được. Ngay chính chị cũng không ngờ là có thể về sớm như vậy, mặc dù chè vẫn còn một ít trong nồi. Có như vậy là vì lúc bán xong, lựa lúc vợ không có mặt, Liêu đã nháy mắt ra hiệu cùng lúc để tờ giấy một trăm Đô trong chén chè của anh rồi trao qua cho chị. Chị mừng quá. Gánh gánh chè rời khỏi nhà bác Sáu rồi mà đôi chân vẫn còn run vì mừng, sẵn trớn chị gánh chè về nhà luôn.Thế là chị còn có thì giờ để dẫn mấy đứa con ra chợ Tân Định lựa cho mỗi đứa một bộ quần áo mới, cùng với thịt thà gà vịt bánh trái để về chuẩn bị cúng ông bà tổ tiên nhân dịp đầu năm.
    Những ngày cuối trong năm ngoái đã được gia đình Việt kiều bác Sáu giúp đỡ, không biết năm nay gia đình anh Liêu con của bác có lại về quê ăn Tết nữa không? Nếu có cũng đỡ cho chị lắm. Nhất là một trăm Đô. Nghĩ đến đây chị thấy mắc cỡ: nghèo mà tham! Nhưng chị hy vọng ở chiều hai mươi chín Tết năm nay lắm. Không những có thể được tiền, mà còn có thể nhìn lại được mặt người tình cũ nữa. Lâu lâu, sau ngày đó, thỉnh thoảng chị cũng gánh chè đi bán ngang nhà bác Sáu, nhưng thường chỉ thấy căn nhà vắng lặng êm ru. Những lúc như thế làm chị buồn bâng quơ đôi chút. Giờ đang gánh chè đi đến nhà bác Sáu chị thấy hồi hộp quá chừng. Chị thêu dệt trong đầu. Nếu bán hết sớm, lại được tiền lì xì từ Liêu, cũng giống như năm ngoái, chị sẽ về nhà ngay để dẫn ba đứa con ra chợ mà mua cho mỗi đứa một bộ đồ. Năm nay tụi nhỏ biết đòi nào là áo thun hiệu Nike, quần Tây hiệu Levy‘s. Dù là những hiệu nổi tiếng, nhưng ở Việt nam chỉ là giả hiệu mà thôi! Mặc dù giả hiệu nhưng đối với vợ chồng chị giá quần áo như vậy cũng là giá đắt đỏ. Nếu còn ít tiền chị mua thêm... Đang nghĩ đến đây thì trước mặt chị đã thấy nhà bác Sáu xuất hiện. Chị cất tiếng rao thật lớn, cố ý để mọi người trong nhà phải nghe cho được: Ai ăn chè... chè... sôi... sôi... nước... nước.. không. Sao êm ru vậy kìa! Chị thấy buồn. Cố gắng cất tiếng rao một lần nữa: Ai ăn chè... chè... sôi... sôi... nước... nước... không. Lại êm ru. Năm ngoái như vậy đã có tiếng trẻ con chạy kêu la đòi ăn chè um sùm rồi. Thế là cái hy vọng của chị đành tiêu tan theo mây khói ! Chị lại cảm thấy mắc cỡ. Nghèo mà tham! Chị tiếp tục gánh chè đi, đành bỏ nhà bác Sáu lại sau lưng. Thình lình bác Sáu từ trong nhà người hàng xóm kế bên nhào ra chặn đường chị lại:
    - Thoa! Chờ bác một chút! Có cái này cho cháu đây.
    Chưa hết giây phút ngạc nhiên, bác Sáu vừa vô nhà lại ra ngay, trên tay có cầm một cái bao thơ:
    - Đây, của thằng Liêu gởi cho cháu. Định nhờ người mang qua nhà cháu thì cháu tới. Thiệp chúc Tết.. lại.. có... Thôi cháu mở ra rồi sẽ biết. Bác chúc cháu vui vẻ trong năm mới nha. Bác phải vô ngay để mấy bả khỏi chờ. Đánh tứ sắc cho vui trong ba ngày Tết mà cháu.
    Gánh chè rời khỏi xa nhà bác Sáu, lựa một chỗ vắng rồi chị Thoa mới dám đứng lại để mở bao thơ ra coi. Chị hồi hộp quá chừng. Bỗng nhiên chị hoa mắt bởi tờ giấy bạc một trăm Đô mới tinh, được kẹp trong tấm thiệp xuân màu mè xanh đỏ. Bên cạnh một tờ giấy trắng nằm riêng, trong đó có tuồng chữ của Liêu: Trong năm nay anh phải về quê vợ để ăn Tết, ở Sa Đéc lận! Anh có nghe ba má kể về hoàn cảnh của em từ năm ngoái. Vì tình cũ nghĩa xưa, năm nay anh lại gửi tặng em một trăm Đô để ăn Tết. Chúc em năm mới nhiều vui vẻ với chồng con. Anh. Liêu. Người tình cũ.


    Vũ Nam
  5. Em yêu dấu! Vậy là chúng ta cũng không thấy lại được mặt nhau sau mười tám năm xa cách! Anh đã đi gần nửa vòng trái đất nhưng vẫn không nhìn được lại mặt em! Nước Mỹ trong đầu anh bao giờ cũng nhỏ cả trong tình yêu nhưng thật sự nó to tát và vĩ đại quá để đến nỗi anh không biết em ở đâu để mà tìm đến, dù là để thăm em, nhìn lại đôi mắt vui tươi tinh nghịch ngày nào giờ có điểm chút gì là "hồng nhan", là "chốn bụi hồng *" không. Anh nghe em về định cư ở vùng Thung Lũng Hoa Vàng và anh đã tìm đến đó với những kỷ niệm sần sùi từ những ngày xa xưa nơi quê nhà của chúng ta. Đi dạo ở những khu đông đúc người Việt, nhìn những khuôn mặt của các cô gái Việt Nam mới lớn lên ở xứ người, anh lại chợt nghĩ đến em, rồi anh lại chợt nghĩ đến anh, đến sự già nua của chúng mình, đến cuộc đổi đời tàn bạo trên quê hương, và cuộc chia tay của hai ta không có lấy một giọt nước mắt. Giờ xa em mười tám năm trời anh mới kể lại cho em nghe câu chuyện trước ngày em đi. Vào một ngày nào đó hả? Anh nhớ là vào buổi chiều thứ bảy. Anh đã ngồi xe đò từ Sài Gòn để về thị xã Bà Rịa nhỏ bé của tụi mình. Anh nhớ lúc từ giã thì Sài Gòn trong buổi trưa như bao giờ cũng vậy, cũng khói xe mịt mù và con người vẫn lem luốc với bụi đường, với mồ hôi để tìm kiếm miếng ăn. Sau cuộc đổi đời tất cả mọi người và chúng ta đều xơ xác. Suốt dọc đường xe chạy theo quốc lộ Mười lăm anh cứ có nỗi ước ao hết sức là huyễn hoặc, hết sức là.. tình..., đó là sẽ gặp em trong giờ xuống lớp ra về, để có thể em sẽ lên cùng anh trên chiếc xe đò và chúng ta cùng xuôi về quê hương, cũng có thể anh sẽ nhìn thấy chiếc xe đạp em đang bị hư nằm giữa đường để anh xuống mà giúp em sửa lại, y như anh đã từng giúp em trong giờ Anh văn trong những ngày chúng ta còn ngồi chung trong cùng một lớp học. Nói quàng xiên một chút! Ngày đó khi chỉ bài em anh muốn để bàn tay mình trên bàn tay em nhưng rồi anh không bao giờ dám làm điều đó, để bây giờ qua bao năm tháng dài của đời sống tha nhân thăng trầm anh vẫn thấy mình như thiếu một cái gì đó: chưa có lần nắm được bàn tay em! Chúng ta chỉ có những kỷ niệm bằng ánh mắt và bằng con tim... Trở lại nỗi ước ao của anh khi ngồi trên chiếc xe đò. Nắng chói chang khi vừa rời khỏi Sài Gòn. Và dịu mát khi đến gần Chu Hải. Mùi nước biển đã lâng lâng trong mũi. Y như nếu em có ở Âu châu, vào những ngày Hè khi em rời bỏ thành phố mệt mỏi vì nắng nóng để xuôi Nam, gần đến thành phố biển Genova của Ý, hoặc gần đến thành phố biển Marseille của Pháp, hoặc lên Bắc, gần đến thành phố Rotterdam của Hòa Lan em sẽ thấy giông giống như đường từ Sài Gòn về Vũng Tàu, ra Bà Rịa của mình, với mùi nước và gió biển dạt dào về đầy ấp trong xe. Và ông trời cũng không phải là kẻ vô tình. Vì khi vừa qua khỏi làng Chu Hải một chút, nơi em đang dạy học, anh lại bắt gặp em đang đạp trên chiếc xe đạp ngược gió để về thị xã Bà Rịa, quê nhà của chúng ta. Anh còn nhớ chiếc áo bà ba trắng, chiếc quần dài đen cùng mái tóc em đã bị gió thổi tung bay ngày đó. Sao đường về quê hương bao giờ cũng khó khăn cả phải không em? Như bây giờ, mặc dù ở đây cách quê hương hơn nửa vòng trái đất, nhưng vẫn có một phương tiện rất tối tân là chiếc phi cơ với tốc độ cả ngàn cây số một giờ, anh vẫn thấy đường về quê hương sao mà khó quá! Ngồi trên xe đò anh thấp thỏm lo cho em không biết em có đủ sức để đạp xe về đến nhà hay nửa chừng em phải xuống xe để dắt đi bộ vì ngược gió. Trong cuốn tiểu thuyết Đôi bạn của ông Nhất Linh ngay ở phần đầu sách anh đã đọc được một câu nói "Gió lên, gió nữa lên!" từ một cậu bé nhặt lá bàng để sống tạm qua ngày. Sau hơn một phần tư thế kỷ nhìn dáng em lồng lộn trong cơn gió - cũng để tìm miếng ăn - anh lại muốn nói một lời ngược với cậu bé nhặt lá bàng ngày trước: Gió ơi, thôi đừng thổi nữa! Câu này từa tựa như Gió ơi, dừng lại bên hồ, cái tựa đề một cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Giao mà ngày còn đi học anh nhớ có lần em đã để ngay trước mặt em trong giờ học. Ôi, sau năm bảy mươi lăm đời sống sao mà khó khăn quá phải không em! Hầu hết tất cả giáo viên chúng ta đều là bạn đường của một chiếc xe đạp! Còn chiếc xe Honda, chiếc PC thì anh ví như người tình trưởng giả mong manh... như khói như sương. Xe chạy qua rồi anh còn cố gắng quay lại nhìn em. Và chắc một điều là em đã không bao giờ thấy anh. Xe chạy bằng máy nên nhanh quá, trong khi đó em phải dùng sức để lăng chuyển bánh xe của đời em thì làm sao mà nhanh được, khi em từng biết em là kẻ chân yếu tay mềm! Vì thế mà không bao lâu sau đó em đã bỏ đất nước này, bỏ thị xã nhỏ bé đó để lên đường ra biển. Ngay chiều hôm ấy anh muốn kêu người tài xế cho anh xuống để cùng đạp với em ở quảng đường còn lại, như anh đã từng ao ước được đạp cùng với em những chông gai cho cả cuộc đời của hai đứa mình, nhưng sao anh lại cứ ngập ngừng, y như ngập ngừng không dám nói lời cầu hôn với em, và chiếc xe cứ lao đi chứ có chờ đợi ai đâu! Phải chi anh xuống để đạp chở em đi một đoạn đường thì chắc có lẽ anh đã biết ý định của em sẽ ra đi trong những ngày sau đó. Dù sao thì nếu biết trước anh vẫn thấy đỡ xót xa hơn, lòng đỡ quặn thắt hơn. Một hai tuần sau đó em đã ra đi và chỉ nhắn tin lại cho anh qua một người bạn. Anh vẫn còn ở trên Sài Gòn với nỗi đau gặm nhấm. Và cứ mỗi chiều thứ bảy sau ngày em đi, mỗi khi trở về Bà Rịa, ở trước ngôi trường Chu Hải anh vẫn tìm kiếm bóng dáng em. Một mơ hồ tìm kiếm nào đó chứ thật ra qua tin tức anh biết em đang ở trên nước Mỹ rồi. Chuyện của tụi mình tại vì anh tự thêu dệt quá chứ thật ra nó không bằng một chút xíu nào của câu chuyện phim Mùa Hè Định Mệnh của Anh mà anh đã được xem. Không khí ngột ngạt, lo âu chờ đợi, hẹn hò, lén lút yêu nhau để cuối cùng vẫn tan vở, vẫn Drama (đau buồn) cho bất kỳ một chuyện tình nào. Những cảnh vật của làng quê Anh, dù bạt ngàn đồng cỏ xanh tươi, và những cánh hoa Răng Sư Tử vàng tươi rói rãi đầy dưới mắt anh vẫn không đẹp bằng quê hương mình. Và cô gái Anh có mái tóc vàng kim, mắt màu ngọc bích, với đôi lưỡng quyền rất cao, biểu hiện của con người đa sầu lãng mạng vẫn không đẹp bằng em, cô gái có má môi hồng mà tóc thì đen nhánh. Vì sao? Không biết! Có lẽ vì quê hương Việt Nam còn nhiều cái Drama khác nữa và có lẽ chỉ vì anh là người Việt Nam nên anh chỉ yêu con người và cảnh vật Việt Nam. Nhưng mình cũng nên tiến bộ biết yêu người, và yêu cái mới một chút chứ em! Anh thầm nghĩ vậy. Một ông vua trẻ của một nước nhỏ ở Afrika còn biết bỏ cái tục lệ rất vô nhân đạo từ các vị vua cha trước là, trong ngày Lễ Đăng Quan phải tự tay hạ sát một con sư tử để chứng tỏ sức mạnh và uy quyền của vị tân quốc vương, chỉ vì ông đã học được những điều dân chủ và nhân đạo có tình người trong những năm ông đi chu du, du học ở các nước tiến bộ. Còn người Việt Nam mình tại sao lại có những con người cứ ôm hoài một định kiến sai lầm để làm băng hoại cho cả khối người khác!? Họ không thể nào bắt chước ông vua trẻ ở xứ Afrika sao? Ngày đến San Jose anh có gặp hai gia đình gốc người Bà Rịa. Vì ngày trước ở quê nhà có quen biết trước nên họ đã nồng nhiệt với anh. Một ở Xóm lưới. Một ở ngoài Chợ Mới. Gặp nhau anh và họ đều mừng rỡ như chưa bao giờ được mừng như thế. Ngược lại, cũng một gia đình gốc người Bà Rịa mình, gần nhà thương, mà lúc anh gặp ở Santa Ana thì lại lạnh lùng với anh hết sức, vì không quen trước. Họ đang trông coi tiệm thịt, gặp người đồng hương họ vẫn dững dưng, họ lo làm ăn trước đã. Anh chồng đưa cho anh cái danh thiếp nói rằng chiều gọi điện thoại lại anh ta sẽ dẫn đi nhậu! Giờ đang bận quá! Anh chẳng trách gì, còn vui là đàng khác, vì đang gặp người đồng hương có công việc làm ăn ổn đînh. Và từ nơi anh ta ở từ thuở còn ở quê nhà gợi lại cho anh con đường vào Hoà Long khi vừa qua khỏi nhà thương của Bà Rịa ngày nào - nhà anh ta ở khoảng đó-, và đó cũng là nơi mà anh còn một người thầy, ngày anh bắt chước theo em để từ bỏ đất nước ông vẫn còm lưng với chiếc xe đạp. Trước ngày chia tay anh, như người học trò, đã rủ thầy mình ra một quán cháo gà trước rạp Thành Thái để nhậu một bữa cho quên đời. Anh giữ tiền Việt Nam nữa mà làm gì khi ngày mai anh sẽ ra đi vĩnh viễn. Mười mấy năm nay cũng chỉ mong lại có một ngày về để ngồi nhậu lại với thầy bên nồi cháo gà trước rạp Thành Thái với mùi gà, mùi hành tỏi thơm phưn phức nồng đầy hai lỗ mũi, mà chưa biết bao giờ. Ngày đó nhớ là khi thèm chất thịt thầy hay rủ xuống cái quán nhỏ, chỗ quán Đồng Quê, gần đến đường vô cổng quân trường Vạn Kiếp để tìm chất đạm từ thịt chó, tìm chất cay từ chai rượu nếp than, chất rau từ những chiếc lá mơ xanh tươi ẫm ướt, và chất nào nữa để rã tan những cay đắng của người thầy giáo lỡ thời lỡ vận và nghèo nàn sau bảy mươi lăm?Từ Nam Cali lên Bắc Cali nơi đâu gặp người Bà Rịa anh cũng hỏi thăm em. Nhưng không ai biết cả! Vì thế hình ảnh chiếc cầu Gold Gate ở San francisco vẫn không kêu gọi được bước chân anh đến. Little Sài Gòn anh chỉ đi dạo một tiếng là xong. Anh chỉ bận rộn với hình ảnh của em, bận rộn với những kỷ niệm tuổi thơ của tụi mình. Nhưng rồi anh cũng không tìm được em cho đến khi bước chân lên phi cơ lại để trở về lại xứ Âu châu buốt giá này. Bây giờ thì chúng ta lại xa nhau, như đã không gặp mặt nhau trong mười tám năm qua! Anh tự hỏi: Không biết bao giờ chúng ta mới gặp lại? Rồi một mình tự trả lời bằng một câu xưa như trái đất: Trái đất tròn thế nào cũng có ngày chúng ta gặp lại thôi. Như là một an ủi, một hy vọng.

    Anh dừng lại đây, và không quên cầu chúc ở một nơi nào đó em đang hiện hữu trên trái đất này lúc nào cũng được nhiều vui vẻ, an lành.

    Vũ Nam

    * Tựa cuốn sách của nhà thơ Cao Mỵ Nhân


  6. Mừng về nước khi trời đã cuối xuân. Nhưng lòng ước mong gặp lại Mới, người yêu cũ cũng rộn ràng lên trong lòng anh như hoa mai chớm nở. Thời gian hơn mười lăm năm xa cách cho một mối tình không là dài sao?

    Từ xóm anh ra xóm Mới khoảng chừng ba cây số. Khoảng dường khá dài đối với một người có tật nơi chân, nhưng anh không dùng xe gắn máy của ba, của em. Anh muốn đi bộ để hưởng lại không khí làng quê trong ánh nắng xuân muộn màng được trọn vẹn. Không khí mà mười mấy năm qua ở xứ người anh thiếu vắng. Dọc đường, dù đã trở thành người có tật nhưng mọi người trong xóm vẫn chào hỏi anh thật ân cần làm lòng anh thấy ấm áp và cảm động vô cùng.- A, Mừng dìa hồi nào dậy con? - Dạ con mới về chiều hôm qua. - Nghe nói mầy ở Tây Đức hả? - Dạ. - Ở không được nữa sao con? - Dạ phải về! -Thôi dìa quê làm ăn. Thanh niên tụi bay bây giờ đứa nào cũng khổ! Tất cả cũng do mấy ông nội này. Một bác cạnh nhà đã hỏi và nói với anh khi buổi sáng vừa gặp nơi sân nhà. - A, anh về chắc là chị Mới mừng lắm! Chỉ chờ anh dữ lắm! Ai đi hỏi đi cưới cũng không chịu, nói chỉ chờ anh. Cô gái quen có nhà nằm dọc đường đi, đứng ở bờ rào chặn anh lại, đã nói như thế. Ánh mắt cô để rơi trên thân thể anh, nơi chân anh, tràn ngập niềm thương hại. Chắc làng xóm, các cô đều biết tất cả mọi chuyện về anh. Anh thấy vui vì lòng chung thuỷ của Mới được mọi người nơi đây thừa nhận. Còn anh? Suốt thời gian đi lao động ở Tiệp và mấy năm xin tị nạn ở Đức anh có thuỷ chung không? Anh hơi ngượng khi đặt câu hỏi như thế cho mình. Những ngày anh bị tai nạn nằm nhà thương, ai, nếu không phải là Hà, cô bạn gái đã quen từ hồi còn lao động ở bên Tiệp, đã túc trực ngày đêm lo cho anh đến khi lành hẳn. Bây giờ mỗi người mỗi ngã! Và Hà ra sao trong ngày hôm nay? Gần gặp lại Mới, chỉ còn giây lát nữa thôi, nhưng tâm tư Mừng vẫn còn vấn vương hình bóng Hà. Gặp lại Mới chắc ai ở đây cũng nghĩ mối tình của hai người đẹp thật. Một cô gái quê và một anh chàng cùng làng đã có bằng tốt nghiệp trung học. Sau mười mấy năm xa nhau ai cũng còn giữ lòng chung thuỷ để chờ ngày gặp lại hôm nay. Nhưng có ai biết sự thật bên trong. Nhất là lòng Mừng trong hiện tại. Còn Mới, có thực sự là chờ Mừng, hay là còn có sự khúc mắt nào đó trong cuộc đời cô?

    Mười mấy năm xa quê quả là Việt Nam có nhiều thay đổi! Làng quê Mừng mà đôi lúc anh còn nhận không ra. Mặt đường cái được làm lại, cao hơn mặt các sân nhà để phơi lúa. Nhà cửa dày đặc hơn. Như vậy thì tình cảm của con người, ai có thể cả quyết là không có sự đổi thay? Suốt đêm qua Mừng trần trọc không ngủ được, không phải vì sự rạo rực mong gặp lại Mới, mà vì cảnh quê có quá nhiều thay đổi đến nỗi anh có cảm giác anh rất còn xa lạ, chưa thể thấy thân quen ngay. Đến khi tiếng gà gáy bên cạnh nhà mới làm anh thức giấc. Khi đó mặt trời đã lên cao. Nhưng sao, qua một đêm trằn trọc, sáng thức dậy anh lại thấy không mệt mỏi chút nào. Có lẽ nhờ không khí lòn vào các khe cửa, suốt đêm.

    Trước khi xuống giường, như thói quen, Mừng rờ rẫm lên chỗ thương tật của mình, nay đã để lại một mảng thẹo lớn. Anh xoa xoa trên đó như vỗ về niềm cay đắng, mong nó hãy lắng đọng để lòng anh được niềm vui trọn vẹn với Mới trong buổi sáng hôm nay, khi gặp lại. Ai mà không ngại ngùng khi mang thương tật trở về nước? Nhưng anh vẫn lại không quên được Hà mỗi khi để bàn tay lên nơi này, và dù giờ này Hà đã ở rất xa. Hà đã săn sóc vết thương cho anh bằng tất cả tấm lòng yêu thương của cô dành cho anh. Thật trọn vẹn. Đã bao lần cô đã rửa ráy, đã thay băng dùm sau ngày anh từ nhà thương ra. Nhưng lúc nào cô cũng vui vẻ làm giúp như người mẹ chăm sóc con, như vợ chăm sóc chồng. Cô nói: Anh bị tai nạn xe cộ như vầy, nếu không có ai ở bên mình chăm sóc thì em không biết anh sẽ ra sao? Dẫu sao có em anh cũng đỡ khổ hơn phải không? Mừng nhớ lúc tỉnh lại sau lần tai nạn chết người nằm mê man cả tuần lễ, khuôn mặt hiện ra trước tiên bên giường anh không phải là khuôn mặt của người nữ y tá Đức mà là khuôn mặt của Hà. Khuôn mặt cô rõ ràng bừng lên một niềm vui, khi thấy mắt anh mở ra, tỉnh lại. Như vậy Hà đã ngồi đó tự bao giờ? Đã xin bao nhiêu ngày nghỉ để ngồi chờ anh tỉnh lại? Mừng không còn nhớ có phải Hà đã khóc khi thấy anh đã tỉnh hay mắt anh chưa nhìn rõ mọi vật sau một tuần nhấm nghiền trong mê man. Sau này, khi biết rõ Hà thường rơi nước mắt khi nhìn vào vết thương, anh đã an ủi Hà y như tự an ủi mình: Em đâu phải là vợ anh, không ở chung với anh đến suốt đời, nên em đừng buồn đừng khóc. Mọi tai nạn rồi từ từ cũng qua, cứ để anh tự lo liệu. Cô trả lời: Ừ, nhưng chừng nào không còn ở với nhau nữa thì thôi, chứ giờ này anh bị như vầy hỏi ai không buồn không lo cho được. Khi ấy chính Mừng cũng rơi nước mắt.

    Mọi chuyện rồi cũng phải qua, đúng như Mừng nói, cũng đúng như định luật của trời đất. Mãng đen giông bão sau tai nạn chết người đã tan đi. Nhưng ngày mai là ánh nắng hồng ấm áp hay cơn giông sắp về, Mừng vẫn chưa biết được. Anh chỉ biết rằng sau khi vết thương anh lành lặn Hà sẽ lấy một người Đức làm chồng chỉ vì cô muốn ở lại Đức để làm lụng có tiền phụ giúp cho gia đình. Thời gian cấp bách lắm rồi! Hầu hết mọi đơn tị nạn của những người đến từ Tiệp đều bị Đức bát. Muốn ở lại đàn bà con gái chỉ còn cách đó thôi! Còn đàn ông con trai đành chịu một đời sống dật dờ nổi trôi theo định mệnh. Làm kiếm tiền được ngày nào hay ngày nấy và chờ ngày về lại Việt Nam theo Hiệp ước hồi hương. Mừng và Hà chia tay không một chút giận hờn nhau. Cả hai đều thông cảm cho hoàn cảnh của nhau.

    Buổi chia tay không có rượu tiễn đưa! Để tránh mọi người dòm ngó, nhất là những thằng bạn "trời đánh" trong trại, Mừng lén dẫn Hà đi bộ ra đám đất trống, ở cuối làng, trên đồi cao, nơi có sân chơi cho trẻ em. Tuyết trắng xoá còn đọng cả khu vực lớn. Xa xa đám trẻ nhỏ Đức đang ồn ào với trò chơi trượt tuyết. Nhưng nơi hai người đang đứng cảnh vật thật yên tĩnh và lạnh. Mừng nắm tay dẫn Hà vào nơi căn nhà gỗ nhỏ, nơi để trẻ em trốn những cơn mưa bất thần. Lúc đầu anh chỉ nghĩ nơi này kín đáo, dễ dàng cho hai người tâm sự, nhưng khi vừa vào trong lều, như có sức mạnh vô hình nào thật mãnh liệt lôi kéo anh sa ngay vào thân thể Hà. Anh để nụ hôn dài trên môi cô. Anh hồ đồ ham muốn vì anh biết anh không còn dịp nào nữa để gặp Hà, khi người cảnh sát Đức đến trại chở anh đi ra phi trường trong ngày mai, như họ đã gửi giấy hẹn. Hà đứng yên chấp nhận nụ hôn thật bình thản, y như chấp nhận cuộc hôn nhân mới trong nay mai khi Mừng rời khỏi đất nước đầy sương tuyết này, để trở về lại vùng nắng ấm. Rời căn nhà gỗ, đêm ấy hai người cứ đi lang thang ngoài đường dù trời đang lạnh cắt da. Đi để mà đi chớ không có mục tiêu. Gặp một chòi tranh trong vườn ai họ ngừng lại, vào trong, rồi ôm nhau hôn hít, trò chuyện. Sau đó họ lại tiếp tục đi. Họ lần mò trong đêm đi trên những bờ ruộng. Càng xa đường xe chạy càng tốt. Gặp những cuộn rơm, mặc dù chung quanh đóng đầy tuyết, họ cũng ban sạch tuyết rồi ngồi xuống, dựa vào, lại tiếp tục hôn hít trò chuyện. Cảm giác họ như là trời không bao giờ sáng, mặt trời sẽ không lên, và đêm sẽ xuyên suốt. Trong đêm, những âm thanh từ xa thỉnh thoảng vọng về nhưng vẫn không kéo được hai người về thực tại phủ phàng của ngày mai đang chờ đón. Khi họ về đến trại tị nạn áo quần lấm lem ẩm ướt, mọi người vẫn còn ngủ dù trời đã bắt đầu rạng sáng.

    Trời mới hơn mười giờ mà không khí đã nóng rực. Nhưng nhờ gió xuân còn phảng phất nên cái nóng cũng bớt đi. Sắp gặp lại Mới nhưng Mừng vẫn chưa biết mình sẽ phải phản ứng ra sao, và cô nàng sẽ phản ứng ra sao. Dù qua tin tức thư từ cả hai đều biết hôm nay là ngày trùng phùng của hai kẻ yêu nhau sau mười mấy năm không gặp. Nắng cuối xuân rất sáng, loang loáng trên mặt đường đi. Anh đi mà thấy trong lòng lâng lâng vui.

    Khi gặp lại Mới, thấy mặt cô không vui, Mừng ngạc nhiên vô cùng. Mọi việc đều ngoài sức tưởng tượng của anh. Ít ra nếu không có cử chỉ dồn dập khi gặp anh thì Mới cũng thể hiện niềm vui khi gặp lại anh sau một khoảng thời gian dài xa cách. Dẫu sao trước ngày anh đi Tiệp lao động cô cũng đã hẹn với anh là sẽ chờ đến khi anh về. Và hôm nay anh đã trở về đây. Hay là..vụ tai nạn? Đúng như anh đã nghĩ: mọi việc đều có thể đổi thay! Nhưng mọi thắc mắc của anh đã được Mới giãi tỏ ngay sau đôi lời thăm hỏi:
    - Chị Hà nào đó có viết thư về cho tui! Tui có ý định gặp anh mới nói. Bây giờ tui rút lại lời hứa hẹn của tui lúc trước với anh, để anh yên tâm. Chị Hà nói chỉ lấy chồng Đức vì việc riêng của chỉ, nếu hợp chỉ ở, còn không chỉ sẽ xin li dị. Khi đó chỉ sẽ bảo lãnh anh qua Đức đoàn tụ. Chỉ mong tui nhường anh lại cho chỉ hoặc chờ chỉ vì chỉ thật lòng thương anh, có nhiều kỷ niệm với anh từ lúc hai người còn ở Tiệp lận. Tui thấy giải quyết như vậy là tốt nhất. Đời sống một người như anh, ở đây rất khổ. Anh biết ở đây, bây giờ mà! Ở Đức còn hơn. Tui đã quyết định là sẵn sàng hy sinh. Tui cũng mong anh nên chờ chị Hà.

    Mừng biết mọi lời nói và mọi giải thích bây giờ với Mới đều vô nghĩa.

    Vũ Nam
  7. Trời Nam Cali lúc một giờ ba mươi chiều thật là ấm. Ngữ nghĩ lại cái lạnh giờ này đang ở Thụy sĩ mà rùn mình: hai ba độ âm. Cây cam vàng trước căn nhà đối diện làm nỗi đậm những đường nắng vàng, tô thêm cảnh ấm áp, một phản diện với khung cảnh ở Thụy sĩ. Thiên đi cạnh nói với Ngữ khi chàng vừa khen với nàng là ở Cali quả thực có khí hậu không khác gì khí hậu ở Việt nam:
    - Hôm qua ở đây cũng còn mưa và lạnh. Cũng giống như đời em!
    - Thôi đừng có giỡn nữa cô!
    - Không, em nói thật. Hôm nay anh đến đây như đem ấm áp và nắng nóng đến.
    Và nàng đã để cho chàng thấy vài giọt nước mắt sung sướng của nàng trong ngày tao ngộ sau mười tám năm.
    - Chứ nơi đây nghe nói không nắng ấm quanh năm là gì.
    - Đó là nắng của đất trời. Chứ đâu phải nắng trong lòng em. Nhưng thôi phân bua mãi mà làm gì. Em dẫn anh đi tìm một quán để ăn trong buổi trưa và chiều hôm nay.
    - Không sợ chồng em đi làm về và đợi em buổi cơm chiều? Còn con em?
    - Chắc chắn là ảnh sẽ ăn ở một quán ăn nào đó, trước khi về nhà. Lấy ảnh mười mấy năm rồi em đã biết tính. Còn con em thì đã gửi nhà cô bạn, ăn chiều xong mình cùng lại đó để rước tụi nó về.
    Ngữ nói một mình bâng quơ, mới đây mà đã mười tám năm rồi. Sau mười tám năm đôi trẻ yêu nhau giờ mới gặp lại.
    - Anh nói gì?
    - Không. Cũng chẳng có việc gì quan trọng.
    - Bao giờ thì anh lại trở về bên Thụy sĩ? Trở về với cái xứ "khỉ ho cò gáy" của anh.
    - Còn ba ngày nữa.
    - Đã nhớ vợ con chưa?
    - Thì cũng đã thấy nhớ nhớ.
    Ngưng một chút Ngữ tiếp:
    - Em đã nói với chồng em anh là gì chưa? Biết để tối về còn lựa lời mà nói chuyện.
    - Đâu có gì là quan trọng. Bồ và bạn ở xứ Mỹ này cũng có nghĩa như nhau. Tất cả đều dùng chữ friend. Em đã nói anh là người bạn làm chung trong văn phòng của cái hãng dệt ở Bà Quẹo ngày xưa. Anh cứ giữ vậy mà nói.
    Thiên lựa một quán ăn mà nàng nói chưa đến đây lần nào. Qua tấm vách bằng cửa kiến trong suốt nắng bên ngoài đang tiếp tục vương vải, xem ra như bên ngoài đang nóng lắm. Nhưng bên trong quán lại mát rượi. Lúc Ngữ đọc tờ Menu Thiên nhìn trên đầu chàng để tìm kiếm thời gian, dù chàng cố ngước cao để cho Thiên không nhìn được mái tóc đã điểm sương của mình.
    - Tóc anh bây giờ cũng đã bạc.
    - Thì cũng đã hơn bốn mươi tuổi rồi còn gì.
    Chàng muốn nói ở em anh cũng tìm thấy tuổi già và sự chán chường trong ánh mắt, nhưng may sao chàng vẫn yên lặng để đọc cho xong những món thực đơn ngộ nghĩnh mà chàng biết khi trở về lại Thụy sĩ chàng sẽ không bao giờ một lần đọc lại được, như những hư ảo phù phiếm của một đời người sẽ không bao giờ có trong đời sống của một vị chân như. Đàn bà bao giờ lại không sợ sự già nua. Thiên lại xác nhận điều đó. Giọng nàng buồn như tiếng gió rít nhẹ trong một ngày cuối đông:
    - Tóc em không bạc nhiều như anh nhưng cũng đã rụng rất nhiều. Một hai năm nữa nếu anh gặp lại chắc thấy đầu em sẽ không còn tóc.
    - Thì cứ dùng tóc giả. Không như đôi mình hiện tại đang sử dụng những giả tạo để đối xử với nhau hay sao.
    - Chúng mình vẫn còn yêu nhau thật tình mà. Nếu không anh đã không tìm đến em, trong khi đó anh chỉ có hai tuần ngắn ngủi ở Mỹ.
    - Anh chỉ muốn nhìn lại em một lần, sau mười tám năm. Anh biết dù có gia đình nhưng em vẫn còn cuộc đời riêng lẽ. Như chiếc lá sẵn sàng chịu trơ trọi chứ không để bị cuốn đi chung trong một luồn gió chướng.
    - Anh nói thế có nghĩa là gì?
    - Thì em cứ nói thật lòng mình đi!
    - Hiện tại em chỉ sống cho hai đứa con trai của em. Như thế đủ rồi. Ở nước Mỹ này con hư hỏng cha mẹ rất đau lòng. Còn tình cảm thì. . . tình trong em đã chết từ lâu rồi.
    - Xem em hiện tại có vẻ khô khan quá!
    - Thật. Em và chồng em trong bao năm nay là hai người với hai đời sống. Nói đúng hơn là ở đời sống tinh thần. Đời sống tinh thần của ai người ấy lo phụng dưỡng. Còn vật chất thì thừa mứa. Ảnh đi sớm về muộn cũng vì quá lo cho vật chất.
    Một lô tên tiệm Việt nam nằm bên kia lộ đường như Mai, Tân lộc, Công lý, Long phụng v. v. . cho Ngữ cái kết luận là đồng ý với ý tưởng của Thiên: Đời sống vật chất ở đây không thiếu, có thiếu chăng là thiếu cái đời sống tinh thần. Một tinh cầu sẽ cô đơn nếu không quay trong cùng một chuyển vận của Thái dương hệ. Không như ở Thụy sĩ của chàng, tìm một tiệm có tên Việt nam như ở đây thật là chuyện mò kim ở đáy biển. Dù là ở ngay những thành phố lớn như Genève hay Zürich. Đó là về vật chất . Nhưng còn về tinh thần? Nếu không biết an nhiên tự tại thì tinh thần cũng sẽ bị hư hao? Những người Thụy sĩ không an định nên những buổi chiều cuối tuần khi muốn rời xa "phồn hoa đô hội" đã leo lên những loại xe bus được kéo bằng dây tuốt lên trên những ngọn núi cao chót vót của nước Thụy sĩ. Trong chập chùng của những tuyết là tuyết, chỉ để xem mặt trời lặng trên đĩnh núi, mà tìm sự yên tĩnh! Cảnh vật đẹp kinh hồn. Nhưng những "cảnh tiên" như thế cũng chỉ để cho những bậc giàu có, dư giả của Thụy sĩ hưởng thụ, còn người tị nạn mình thì đã được mấy người? Chỉ có nghe nói chứ cũng chưa ai đã chứng kiến được cảnh tiên ở trần thế ấy.
    - Em thấy chuyện đó không khó cho bằng chuyện đã mười tám năm rồi mà anh vẫn còn tìm đến thăm em, trong khi anh chỉ vội vã trong hai tuần lễ ở Mỹ.
    - Đó, vậy em mới thấy rằng em còn hơn mặt trời chiều lặn trên đĩnh núi ở Thụy sĩ mà anh vừa kể. Anh đã khổ công mới bò đến tận nơi để tìm xem. Chỉ có người giàu mới xem được. Đi đã lâu mà xem thì chỉ với một thời gian ngắn ngủi.
    - Trường hợp anh thì phải nói là những người giàu. . tình. . thì đúng hơn.
    Lại cây cam trước cửa nhà của một người Mỹ. Ngữ nói Thiên đứng vào chàng chụp lấy một tấm. Chàng thấy không thể nào không xin hình ảnh của cây cam này để đem về làm quà cho gia đình, và cảm giác vui lâng lâng như Kha luân bố ngày xưa khi vừa đặt chân lên xứ Mỹ. Những trái cam vàng tròn trịa, ủn ỉnh, treo đầy tòn ten trên cành cây, hình ảnh này ở Thụy sĩ chỉ thấy trong giấc mơ. Giấc mơ của người hạ giới được sống trong cõi tiên. Hình ảnh Thiên và cây cam vàng tạo thành một giấc mộng huyền bí đang nẩy mầm sống trong đầu óc lú lẩn khô cằn của một người đàn ông đến tuổi trung niên. Giấc mộng qua. Chàng nghĩ đến đêm nay phải ngủ lại trong nhà Thiên mà lòng thấy ái ngại. Chồng Thiên sẽ phản ứng như thế nào khi mà đất Mỹ này mọi người đều có quyền giữ súng như món đồ chơi. Ngữ đã không từng thấy dưới sấp báo trước bàn tính tiền của một anh chủ tiệm là cây súng colt thứ thiệt là gì? Nghe nói anh đã từng nổ súng rượt tụi Mỹ da đen chạy trối chết với khẩu súng này. Và đâu đó mấy ngày nay chàng cũng đã nghe nói chuyện chết vì đạn vẫn là chuyện rất thường ở Mỹ. Như chú chuột đã một lần chết hụt bởi mấy hạt cơm no tròn khêu gợi đang rắt đầy dưới cái bẩy. Chú chuột rất sợ hải. Nhưng Thiên thì nhất định không cho chàng đi mướn khách sạn để ngủ tạm qua đêm. Bộ anh dư tiền lắm hả? Khi không đi ngủ ở khách sạn chi cho tốn tiền. Cứ về nhà em ngủ. Cứ xem nhau như là bạn là được rồi. Hơn nữa em cần tâm sự với anh, y như anh cần em nên mới tìm gặp lại. Mặt trời hiện ra vun vút trên chín từng non cao, rải ánh sáng xuống những hàng chuối mọc đầy trong các khu vườn. Ánh nắng ấm trong ngày có che lấp dùm sự cô đơn của chàng trong đêm nay? Hai người một thời yêu nhau sẽ làm gì khi mà Thiên cho biết chồng nàng chỉ thường trở về đến nhà ở khoảng hơn mười giờ đêm? Business đã làm cho người đàn ông quần quật tối ngày. Kể ra thì chồng của Thiên cũng thuộc hạng người đã thành công trong cuộc sống mới này. Một cái siêu thị nhỏ đủ để đánh giá tài làm ăn buôn bán của anh rồi. Thiên chỉ có nhiệm vụ ở nhà lo nuôi cho hai đứa con trai ăn học đàng hoàng. Cuộc sống đầy đủ và ổn định. Nhưng tại sao thỉnh thoảng trong thư từ qua lại Thiên đã than thở với Ngữ rằng mỗi người vẫn có một đời sống riêng để thở. Hóa ra tiền bạc là của chung còn tình cảm vẫn là vốn liếng riêng của mỗi người. Bỗng chốc Ngữ thấy mình hơi bất nhẫn khi cố tình trở lại gặp Thiên. Cố khư lại làm gì những ung nhọt trong một đời sống, vốn nó đã được lành lặn ở bề mặt. Hóa ra mười tám năm với đời sống im lìm ở đất Thụy sĩ vẫn chưa chôn kín mối tình thời học sinh trai trẻ của chàng đối với nàng. Hóa ra vùng đất có lắm sương mù lạnh lẽo vẫn có cơ duyên để bùng lên những đồi núi lửa. Và những con suối giòng sông cùng những ao hồ mênh mông ở đó vẫn là những mạch nguồn bất tận cho những thi sĩ về tình yêu?
    - Trước khi đến đây anh đã tìm hỏi khách sạn rồi. Anh còn bận nhiều việc lắm. Nhưng anh cũng chỉ muốn nhìn lại mặt em thôi. Chẳng lẽ vượt đại dương đến Mỹ được mà lại không bỏ được chút ít thì giờ để gặp em. Đi ăn với nhau đã là vui lắm rồi. Anh không ngủ qua đêm ở nhà em đâu. Lại, anh còn cố gắng nghé thăm vài người bạn. Bạn văn nghệ.
    - Anh mà cũng có bạn văn nghệ? Thảo nào em chẳng biết. Anh ca, làm thơ, viết văn hay viết báo mà cũng có bạn văn nghệ?
    - Anh làm thơ.
    - Làm nhà thơ cũng là một điều hay. Anh đáng được cho em ngưỡng mộ lắm! Sao trong thư viết cho em có bao giờ anh làm thơ hay nói đến chuyện làm thơ. Đâu đọc cho em nghe một đoạn thơ của anh đi. Em chấm điểm cho để xem anh có đoạt được cái giải nào không. Ngày xưa ở trường nghe nói anh đã biết làm thơ và được các thầy khen lắm.
    - Yêu em trong muộn màng. . . Yêu em trong nồng nàn. . . Yêu em trong bàng hoàng. . . Yêu em. . Anh yêu em. Sao nghe được không?
    - Sao y như anh đang làm thơ cho em vậy?
    - Thì đúng rồi. Thơ tình đối với anh là phải có đối tượng. Đối tượng của anh hiện tại là em. Và thơ mà làm với những cảm xúc bất chợt thì theo anh mới là hay. Nhìn em anh bất chợt nãy ra mấy câu thơ như vậy. Nghe được chứ hả?
    - Ừ. Anh lấy bút hiệu gì vậy. Nói ra xem em có đã nghe qua lần nào chưa.
    - Anh tập làm lâu rồi, nhưng chưa gửi cho báo đăng nên có bút hiệu mà cũng như chưa có.
    - Đã lâu là bao lâu?
    - Đâu cũng hơn mười lăm năm.
    - Anh bao giờ cũng chậm chạp. Với tình yêu của em ngày xưa cũng vậy. Anh cứ lụt đụt chạy theo sau. Dù mười tám năm về trước anh là một trong những người em yêu mến nhất. Lúc nào anh có một hoàn cảnh để biện bạch, để xa em. Hơn mười lăm năm cho một người làm thơ đáng ra anh đã nổi tiếng lắm rồi. Cứ mạnh dạn gửi báo xem sao. Em thấy thương cho anh quá, một con người luôn luôn có nhiều chuyện để đa đoan, lo liệu, để bỏ ra ngoài những mục đích chính của đời mình. Những mục đích đáng lẽ phải cố theo.
    - Anh không được những hạnh ngộ tốt đẹp. Hơn nữa anh chỉ biết làm thơ tình với những kỹ thuật rất cũ. Nhà thơ muốn thành công là phải làm được cái gì mới hơn những người đi trước và phải làm được đủ loại. Anh không có tài, và cũng không có thì giờ để rong chơi trên chữ nghĩa. Em biết hoàn cảnh gia đình anh ở Việt nam hơn ai hết. Còn rất nhiều những sợi dây chùm gửi khô cằn ở nơi đó đang bám chặt cái thân cây cũng không còn tươi tắn gì ở nơi đây, đó là anh. Dù anh có muốn làm đẹp cuộc đời bằng những dòng chữ, nhưng rồi cũng phải bị giới hạn là nợ áo cơm và ơn nghĩa sinh thành.
    - Vậy chứ anh thăm những ai là văn nghệ sĩ mà anh quen ở Nam Cali này?
    - Nói chơi với em vậy, chứ anh tìm gặp để biết mặt thì đúng hơn. Có ai quen anh đâu mà anh đi thăm. Nhưng anh lại nôn nóng gặp họ y như là anh nôn nóng để gặp lại em khi anh vừa đặt chân lên xứ Mỹ này. Gặp những người mà nếu kể tên ra em sẽ biết họ ngay.
    - Trong khi tên tuổi của anh em chẳng khi nào biết.
    - Thôi cay đắng với anh mà làm gì.
    - Em không cay đắng. Em chỉ nói thật. Anh bao giờ cũng là người chậm lụt.
    Môi Ngữ có mùi mặn, dù không có gió biển nơi chàng và Thiên đang đi. Cũng không có nước mắt. Đâu ai dễ đổ nước mắt cho một chuyện tình đã qua mười tám năm? Cũng không ai tốn nước mắt cho những chuyện văn nghệ văn gừng đã mười lăm năm nhưng vẫn chưa kết nụ. Môi Ngữ có mùi mặn có lẽ vì tính tình Thiên. Bây giờ nàng cứng cỏi quá! Đất Mỹ mười mấy năm đã làm nàng trở nên cứng cỏi? Từng trãi? Thiên đã không còn vẽ nồng nàn yếu mềm ngày xưa. Suy nghĩ lại, Ngữ thấy nhiều khi chính mình đã không thực tế. Đã không nắm bắt những đổi thay. Nhắm mắt một giây, như nuốt vội những chuyện không vui ở trần thế, Ngữ muốn biến mình cho nhanh chóng trở thành một lâu đài nào đó đứng sừng sững trên đồi núi cao ở miệt miền trung Âu châu. Đứng sừng sững với những ngạo mạn riêng và những kỳ bí riêng cho một thời đã từng là thành quách của những vị chúa tể một vùng. Đầu ngất ngưỡng đội trời cao, tay đưa lên bắt mây trắng bay qua, thân mình chắn ngang những ngọn gió chiều lồng lộng, dưới chân đạp lên những tên du khách ngưỡng mộ đang lụt đụt kéo lên đồi để chiêm ngưỡng mình. Lâu đài chắc chắn không có gì để sợ. Nhưng sau ý tưởng nhân cách hóa mơ hồ ấy, Ngữ lại sợ những khám phá bên trong lâu đài sẽ làm cho những người khách uất nghẹn vì những tầm thường đã chứa đựng bên trong. Có gì bên trong lâu đài hay chỉ còn lại là đao kiếm và áo giáp sắt của những thời đại cổ xa xưa. Có gì bên trong những nhà thơ, như ý tưởng đẹp Thiên đang có, hay như là những thanh kiếm và những chiếc áo giáp sắt đã loang lỗ mà người trông nôm phải lo chùi bóng mỗi ngày để làm vui lòng những người du khách sắp bước chân vào lâu đài để thăm viếng. Những mộng mơ bao giờ cũng đi xa và đi ra ngoài những cuộc đời chân thật và tầm thường. Rốt cuộc con người vẫn cố chạy theo những hư ảo ngoài tầm tay, mà quên đi những điều thiết thực cho cuộc sống. Tấm tranh đẹp và bài thơ hay sẽ không còn đẹp và hay khi chúng ta không cho nó một mái che nắng che mưa và những ngăn tủ kín đáo để bảo tồn, sau khi tác giả đã tung nó vào cho giới thưởng ngoạn, bao gồm kẻ thanh cao và người ô trọc. Đời sống của các họa sĩ ở Paris trong quyển truyện Of Human Bondage của Somerset Maugham lúc còn tại thế thì ngày nay người Việt mình không mấy còn ai dám sống như vậy nữa. Ngữ thấy mình đã hành động không theo suy nghĩ của mình. Chàng sống hiện tại theo cái cá tính mạnh mẽ của người đàn ông, nhưng lại có luồn gió đang từ đâu mang về trong lòng một nỗi niềm lo âu bất chợt. Bên cạnh chàng thì Thiên cũng chẳng hơn gì! Cuộc sống nàng như thành phố Austin nằm dưới lớp sương mù trong sáng nay khi Ngữ đáp phi cơ để chuyển chuyến bay đi Cali. Nàng đâu có biết, chỉ ở chừng cao độ hai ngàn mét nàng đã thấy nắng ấm và vùng trời xanh dương lồng lộng phía trên. Hóa ra con người vẫn và lúc nào cũng còn có những điều ngoài tầm mắt, mà triết lý một chút người ta gọi đó là sự vô minh. Nhưng đâu có phải chỉ mình Thiên là như vậy mà Ngữ trách nàng. Còn chồng nàng và cả chàng không đang cùng một lúc đang quay tròn trong đám mây mù đang bay thật thấp đó sao?
    Buổi tối lúc gần mười giờ. Đêm đã phủ xuống từ lâu. Hai đứa con trai của chủ nhà đã ngủ ở tầng trên. Người đàn bà đã đứng nép đâu đó ở chân cầu thang cạnh cái công tắc của máy điều hoà không khí. Cứ mỗi phút nàng lấy tay vặn tăng thêm độ ấm cho căn nhà. Dưới phòng khách chỉ còn hai người. Một chủ một khách. Hai người đàn ông. Ngừng một chút người chủ giận dỗi nói tiếp:
    - Từ lâu tôi đã có đọc được thư từ qua lại của anh và nhà tôi, dù nhà tôi cố dấu. Lúc đầu thì tôi có hơi ghen, nhưng thú thật với anh rồi từ từ tôi thấy không còn gì để ghen tức nữa. Nhà tôi cứ sống trong mơ mộng. Gặp anh cũng là người mà theo tôi chỉ biết mộng mơ. Nhà tôi âm thầm chê là tôi kém hiểu biết hơn nàng, thì ắt hẳn là phải khen anh. Nhưng anh đến đây rồi anh mới thấy. Ở Mỹ không chỉ khư khư ôm chuyện mơ mộng, chuyện văn chương mà làm lẽ sống. Phải thực tế một chút chứ! Con cái đã lớn rồi. Nhưng cái tôi không ngờ là anh lại cũng cố gắng ghé thăm vợ tôi, trong khi đáng lẽ anh không nên ghé thăm. Có ích lợi gì? Đúng như trong thư anh hay viết hai chữ phù phiếm. Đúng, anh phù phiếm lắm! Hôm nay tôi về trước mười giờ là để muốn cho anh một bài học. Có thể chuyện viết thư tôi dỡ hơn anh, nhưng chắc chắn là tôi không mơ mộng lẩm cẩm như anh đâu. Vợ của người khác mà các anh cũng đem lòng thương nhớ mới thật là kỳ. Những mối tình thời học sinh thì ai lại không có, bao giờ lại không đẹp. Nhưng đừng có lấy nó mà làm tan hoang hạnh phúc hiện tại của người khác. . . .
    Trên đường lững thững trở ra chiếc xe mượn từ một người bạn trong trưa này để từ San Diego đi lên Little Saigon thăm Thiên, Ngữ thấy mình tính như vậy mà hay. Cuối cùng thì cái khách sạn mang tên Travel Lodge Inn ở trên đường Brơokhur mà chàng đã lo dò hỏi trước vẫn là nơi trú ngụ qua đêm cho những tâm hồn lang bạc mơ mộng từ Âu châu qua Mỹ như chàng. Nhớ lại tựa đề một truyện ngắn: Cali đi dễ khó về, trên một tờ báo, chàng thấy một niềm vui cộng lẫn một nỗi xót xa bàng hoàng nào đó đang lâng lâng hiện lên từ những dòng chữ đáng yêu này. Có thể. Khi trở về lại Thụy sĩ, nhớ lại Cali thì mỗi gương mặt của những người bạn đã gặp, gương mặt của Thiên, và ngay cả gương mặt hằn hộc của chồng Thiên trong một lần gặp gỡ vẫn là những khuôn mặt đáng yêu, đáng ghi nhớ từ mảnh đất Little Saigon nhỏ bé nhưng gợi lại cả một quá khứ vàng vẫy xa xưa. Rời khỏi Cali rộng dài với tấm lòng nói chung là đầy khoáng đạt và an tâm, duy chỉ có một điều mà Ngữ không an tâm chút nào, đó là khi nhớ lại những giọt nước mắt của Thiên trong phút giây đầu tiên khi hai người sau mười tám năm mới gặp lại- Ngữ ân hận về những đánh giá hơi hời hợt của mình nơi Thiên trong buổi trưa này, nàng đâu có phải là không còn mềm mại và dịu dàng như ngày xưa. Chàng nhận ra phải chăng dù muốn bứt rời ra khỏi đời sống phù hư để sống cho thực tế, chàng vẫn còn thuộc về những người biết- yêu- những- giọt- nước- mắt, cũng như chàng đã từng biết yêu những giòng chữ trong những âm điệu thanh thắt u trầm ngay từ những ngày vừa mới lớn. Đúng y như chồng của Thiên đã nói: Anh phù phiếm lắm! Nhưng chàng không biết như vậy thì sẽ làm cuộc đời mình đau khổ hơn hay rộn ràng hạnh phúc hơn? . /.

    Vũ Nam
  8. Sau những thành công muộn màng ở đất Mỹ ông Lân cũng muốn một lần trở lại về thăm Việt nam, để thả lại tấm lưng xuống tấm ván mát lạnh trong những buổi trưa hè xa xưa trước căn nhà ở miền ngoại ô thành phố Sài gòn. Căn nhà vẫn còn được cha mẹ ông làm chủ bên cạnh người tớ gái đang ở mướn để lo toan cho hai cụ già ở lứa tuổi tám mươi. Năm mươi lăm tuổi qua nhanh như giấc mộng. Lại tuổi hơn nửa đời người mà ông Lân vẫn chưa có người hôn phối, quả là việc làm ông càng lo lắng hơn. Mộng không thành ở lứa tuổi thanh xuân đã gậm nhấm những ước mơ để tạo cho mình một đời sống ngừng lại và ổn định. Cộng mối tình thời mới vừa lớn lại dỡ dang làm ông điêu đứng mấy chục năm. Ước gì bây giờ xem lại được mông của con Hoàng! Ông nói như gió rít một mình. Xem mông của con Hoàng thì không còn gì thích bằng. Tổ cha chỉ ghét mấy thằng phu đi nhặt cứt là sao mà đến sớm thế! Phải ôm đít mà chạy cả lũ. Nhiều buổi sáng chưa được xem gì cả! Những ngày ỉa đồng xa xưa, và cái mông trắng toát ngày ấy ông Lân lấy làm tiếc còn hơn công danh ông không đạt được trong đời. Và chắc chắn cái mông của cô Hoàng ngày nào bây giờ sẽ không bằng cái mo cao khô của một bà già đang giữ cháu cho vợ chồng đứa con gái đi làm ở làng Nhân trạch, Nghệ tỉnh xa xưa. Ở Mỹ mấy năm mà khi nghĩ về tình yêu thời niên thiếu ông Lân đã không nghĩ gì khác hơn được ngoài những ngày đi ỉa đồng để "xem đít con Hoàng". Cái nhớ phát sinh ra hành động. Ông nghĩ tại sao bây giờ ông không thể trở về cái làng Nhân trạch xa xưa, nơi mà ông đã bỏ nó lại để cùng cha mẹ dắt dìu nhau chạy tản cư cô Sàigòn vào năm năm mươi tư. Và bỏ lại cả một mối tình lớn. Ông muốn xem lại cái con Hoàng một thời ông yêu thầm nhớ trộm giờ đã ra sao. Nó còn nhớ những kỷ niệm ỉa đồng như ông không?
    Trong những lần hỏi thăm những người ở Mỹ về thăm lại làng Nhân trạch ông Lân biết được bà Hoàng vẫn còn sống bên cạnh đàn con và cháu đông đúc. Nhưng bố khỉ thì thằng chồng của bà cũng là bạn của ông Lân ngày xưa đã chết tiệt từ lúc nào rồi. Như vậy là bà đang góa chồng còn ông thì chưa có vợ. Không biết bây giờ gặp lại ông còn mê nỗi bà không chứ ngày xưa ông mê bà như điếu đổ; mà tức chết đi thôi vì ông đâu có lần nào dám thố lộ cùng bà! Gốc gác là gia đình khoa bảng đang hồi khánh tận, xuống dốc, đã làm ông ngại ngùn không dám mở miệng để nói một lời yêu thương với bà. Bà biết ông thương nhưng bà cũng vẫn không nói với ông lời nào. Thế mới ức.
    Từ ga xe lửa ở Vinh ông ngồi xe đò về làng Nhân trạch. Ông có khả năng mướn riêng cho mình một chiếc ôtô đi từ Sài gòn ra, nhưng ông nghĩ mình nên thong thả bình yên trên những kỷ niệm tuổi thơ ở quê nhà. Màu mè và phung phí quá chẳng lợi ít gì, chỉ tổ cho làng nước cán bộ chúng nó ghét. Dương lễ dễ thương chỉ vì sau khi đậu đạt đã không quên được người bạn hàn vi là Lưu bình. Ông điếu đóm quá thì em Hoàng sẽ nghĩ ông ra như thế nào. Ngày xưa, trước khi đi vô Nam ông cũng đã khổ sở chứ có hơn gì người dân trong làng bây giờ.
    Con đường làng ngày xưa rộng thênh thang giờ còn chỉ đủ cho hai người đi song song. Tượng Đức Mẹ ngày đó được cất thành kính trang nghiêm trên vuông đất rộng rãi giờ mái bếp của nhà ai đã tiếp sát sau lưng người. Chính bức tượng cũng chung vai gánh vát những biển dâu thay đổi của trần thế! Ngôi trường ngày xưa ông học giờ vẫn còn y nguyên. Vẫn cũ kỹ và không lớn hơn chút nào, nhưng sao trẻ con đâu mà đông thế. Ngày xưa làng đã không đủ lớp cho bọn học trò như ông để học. Giờ con nít chạy đầy như ong vở tổ thì lấy gì mà đàn đúm chữ nghĩa cho nhau đây. Tụi bạn đồng lứa ông giờ thằng nào cũng già khú hết. So sánh ông thấy chỉ mình ông là còn trẻ, dù ở Mỹ ông đâu có uống sữa ăn thịt mỗi ngày, và thuốc lá thì cũng chưa bao giờ rời khỏi hai ngón tay lâu. Ông rảo bước đi về phía nhà Hoàng, dọ dẫm như hoàng tử dò la sắc hương và quần áo của nàng công chúa nước bạn để trước khi quyết định chuyện trăm năm đã được vua cha gợi ý. Tuổi trẻ dù đã bị phung phí. Nhưng tuổi già giờ ông Lân lại thấy đời sống trẻ thơ bùng dậy như không có chút gì mất mát theo năm tháng. Chuyện mày với con Hoàng ngày xưa mà bây giờ mày cũng còn nhớ. Mày sống ở Mỹ sung sướng quá nên mày còn nhớ từng kỷ niệm ngày xưa. Chứ như tụi tao lo cái ăn mỗi ngày đã tối tăm mày mặt thì còn thì giờ đâu mà kỷ với niệm, yêu với không yêu. No cơm thì ấm cật mà! Bạn đồng lứa ngày xưa nói với ông như thế. Chịu. Mỗi người là những định số đã được an bài. Con rắn chịu chết với con dìu hâu, và cây cung thì bao giờ cũng hạ con dìu hâu một cách dễ dàng. Và lạ lẫm là ông vẫn còn yêu Hoàng như thuở nào.
    Bà Hoàng đã hiện ra trước mặt ông. Đầu chít khăn vuông, dáng ốm yếu nhưng trên tay vẫn bồng đứa cháu gái đang ở truồng như nhộng.
    - Anh về hồi nào vậy, anh Lân?
    - Vừa về hồi trưa này. Nãy giờ đang ngồi ở nhà thằng Tưởng, thằng Thế? Sao Hoàng có mạnh không?
    - Lạy chúa, tôi già nhưng được cái vẫn còn mạnh anh à.
    Ông chỉ ngồi yên lặng nhìn bà. Lòng rung động. Bà tiếp:
    - Còn anh cũng khỏe? Nghe nói anh đang ở Mỹ.
    Mấy đứa cháu khác trông thấy ông khách lạ, cứ theo nắm áo bà ngoại và lộ cặp mắt vừa tò mò vừa lo âu, đến bà phải quát:
    - Khách khứa chứ có ai đâu mà tụi bây cứ theo níu kéo bà. Ra ngoài chơi đi để bà nói chuyện với khách một chút !
    - Cám ơn Hoàng tôi vẫn mạnh. Trở về lại đây là chỉ vì tôi muốn thăm lại Hoàng. Gần bốn mươi năm rồi hả em.
    Bà Hoàng khóc. Mấy đứa nhỏ đã ra sân giờ nhìn bà ngoại khóc lại tò mò đứng ngay cửa ra vào để nhìn vô hai người. Đứa cháu trên tay thấy bà ngoại khóc nó lấy tay vuốt nước mắt cho bà.
    - Anh đã được mấy nụ con rồi? Chị nhà đang ở Mỹ?
    - Anh vẫn chưa có vợ, thì nói gì đến chuyện có con.
    - ! ! ! ? ? ?
    - Hoàng, tôi muốn hỏi thật Hoàng một câu. Và Hoàng cũng phải trả lời thật với tôi. Đồng ý chứ?
    - Đồng ý.
    - Ngày xưa tôi yêu Hoàng chắc Hoàng đã biết. Còn Hoàng, Hoàng có yêu tôi không?
    - Có.
    - Thôi như vậy là đủ rồi. Tôi sẽ trở về Mỹ và sẽ. . . cưới. . . vợ.
    - Tôi cầu chúc cho anh. Cưới xong có dịp anh lại dẫn về đây để giới thiệu với tôi và bà con ở trong làng.
    Cái tin bà Hoàng chuẩn bị giấy tờ và mua sắm để lên đường đi Mỹ đoàn tụ với chồng, không phải chỉ riêng có bà Hoàng là ngạc nhiên mà hầu như là cả làng Nhân trạch. Chồng bà không ai khác hơn là ông Lân. Hóa ra đôi khi những kỷ niệm thật nhỏ nhặt. Có khi chỉ là cái mông vẫn có thể làm cho một người nào đó nhớ hoài đến gần như đổi cả một đời người chỉ đổi lấy những điều nhỏ nhặt như thế. Nhưng hề gì. Chẳng ai là không thương cảm cho những tấm lòng thủy chung, như nhứt. /.
    Vũ nam
  9. Sau khi Tâm không còn làm ở hãng Hugo để di dân qua Úc khá lâu, ông Tham mới dám ngồi kể về tình yêu của Tâm với Himmel, một cô gái Đức, cho một người bạn thân nghe. Nhưng ông đã dấu đoạn cuối của câu chuyện!
    Cả ba là bạn đồng nghiệp trong hãng với nhau, vì thế chuyện gì đã xãy ra cho Tâm làm sao ông không biết được. Dù Tâm có muốn dấu cách nào đi nữa thì cuộc tình của Tâm và Himmel mọi người đều thấy và đầy những ‘lời ra tán vào’ trong hãng, huống gì ông là người đồng hương của Tâm.
    Ông Tham đã hơi lớn tuổi nếu so với Himmel và Tâm. Đã có gia đình con cái nên ông ‘phải yên bề gia thất’ và cố gắng bằng mọi cách không để cho người đời nói ông là ‘cha già không nên nết’. Còn Tâm cũng đã có gia đình, nhưng anh còn trẻ và vẫn còn muốn ‘bềnh bồng’ trong những hạnh phút bất chợt, hoặc những hao mòn đau khổ trong tình trường, như Tâm vẫn thường nói với ông. Anh nói anh là một người có tâm hồn phóng túng trăng hoa, và đành phải chịu với cái số như vậy.
    Với con mắt của ông Tham, Himmel đẹp không thua gì một vài nữ tài tử đóng phim ở Đức. Khổ là ở đời cứ đâu phải ai đẹp cũng có thể trở thành tài tử được! Biết vậy, nhưng mỗi khi nhìn Himmel ngồi sau những dàn máy tự động vật lộn với công việc và thời gian lòng ông lại thấy bồi hồi. Ai có xem cuốn phim Ein Offizier und Gentleman do Richard Gere đóng, kể về chuyện tình của các sinh viên sĩ quan Không quân với các cô gái con nhà nghèo ở Mỹ mới hiểu được tâm trạng của ông nghĩ về Himmel. Ở một nhan sắc như vậy mà không được một chỗ làm xứng đáng với nhan sắc của mình, ông nghĩ đời cô gái Đức này cũng đáng buồn. Nghe Tâm kể về cuộc đời Himmel. Nàng thuộc giống dân Đức gốc từ Balan. Cha mẹ đã di dân qua Đức từ thời trước thế chiến Thứ Hai. Cha nàng là thủy thủ lại có tật say rượu mỗi khi tàu về bến. Mẹ ở nhà trông nuôi con cái khi các con còn nhỏ.
    Cứ lâu lâu khi tàu về cảng Hamburg bà dẫn những đứa con nhỏ xuống gặp chồng để chận lấy trước ngay một món tiền khá lớn về nuôi con, nếu không, những con đường, hàng quán ở Hamburg sẽ nuốt trôi tức khắc món tiền dành dụm của người thủy thủ vừa đôi ba tháng bềnh bồng trên biển. Ông chết hơi sớm vì chứng chai gan, kết quả của những lần uống rượu thay nước khi tàu cặp bến, khi ấy Himmel còn rất nhỏ. Mười tám tuổi nàng đã phải về nhà chồng mặc dù chưa một lần mặc áo cưới, đeo nhẫn đính hôn. Nàng đã yêu một chàng thanh niên khác, lại đi lấy vội lấy vàng một chàng thanh niên khác, tính tình hay ghen tuông làm chồng, chỉ vì khi ấy nàng đã có bầu với anh này gần ba tháng. Đám cưới vội vàng để phủ lấp một cuộc tình còn nóng hổi và cuộc đời của một cô gái vừa đến mười tám tuổi còn phơi phới xuân hồng. Bởi vậy nên mới gần ba mươi nàng đã có đứa con gái đứng cao lòng nhòng không thua gì mẹ.
    Học xong lớp chín, Himmel xin học nghề bán hàng trong một tiệm bán giày ở ngoại ô thành phố Hamburg. Do nghề nghiệp nàng cũng phải biết chưng diện, biết đánh môi hồng, biết kẻ đường viền trên mắt khi tuổi vừa mười sáu. Lúc nói chuyện trong hãng nàng vẫn hiểu khi ai đó nói về một vài chữ tiếng Anh; và những vấn đề phổ thông về đời sống, phim ảnh, con người, nàng đều có thể góp ý vào để thảo luận dễ dàng. Nàng nói không muốn làm trong những tiệm buôn chỉ vì ít lương, dù ở đó được phép chưng diện, được mặc quần áo đẹp mỗi ngày.
    Nếu những người Á đông nào mà còn có ý tưởng ghen tuông với một người vợ hoặc một người tình có tóc vàng kim ở xứ Âu châu này là một lầm lẫn lớn! Ít nhất là đối với Himmel. Lúc ở nhà Himmel xứng đáng là một người vợ, người mẹ, ai cũng nói như vậy. Trong hãng nàng có tiếng là một người nữ công nhân tốt, siêng năng và đầy trách nhiệm. Nhưng nếu là người tình trong những đêm họp mặt cuối năm vui chơi trong hãng, hay những đêm về nơi quán vắng cùng những bạn đồng nghiệp, mà trong đó có hiện diện bóng dáng người tình thì sao? Mọi người đều cho rằng Himmel rất tuyệt vời trong tất cả các vai, và vì thế nếu nàng có bị chồng ghen thì ít hay nhiều cũng có cái lý do của nó!
    Nàng yêu Tâm, Tâm yêu nàng, cả hai đều biết, ai ai trong hãng cũng đều biết , dù họ có lén yêu nhau. Nhưng nàng sẵn sàng lã lơi liếc mắt đưa tình ngay với một người đàn ông đồng nghiệp nào đó, nếu ông ta hoặc anh ta tỏ ra quá si mê nhan sắc nàng, ngay cả trước mặt Tâm hoặc các xếp lớn. Đến đổi đôi khi Tâm còn phải tâm sự với ông Tham: Nàng có quyền yêu bất cứ một người đàn ông nào nếu nàng thấy thích, mình có phải là chồng nàng đâu mà ghen! Trong một buổi dạ tiệc cuối năm do hãng khoản đãi công nhân viên làm việc, nàng đã nắm tay kéo Tâm vào mình khi cùng ca chung những điệu hát cộng đồng trước mặt mọi người. Những sợi lông măng màu vàng óng trên cánh tay Himmel ông Tham biết đã làm tâm hồn Tâm choáng ngộp, vì chính ông cũng bị choáng ngộp bởi những sợi lông măng vô tình ấy! Những lần cố ý hoặc vô tình chạm vào đùi vào vú Himmel trong những lần đi ăn với nhau ở nhà hàng hay ngay tại hãng là những kỷ niệm mà theo Tâm ‘rất khó quên’. Một cô gái Á đông khi ấy thường mắc cỡ còn đối với Himmel nàng ‘phớt tỉnh ăn lê’, đôi khi còn tỏ ra thích thú nữa là đàng khác. Mỗi khi hẹn với nhau đi ăn nơi nhà hàng nàng rất chải chuốt, son phấn, kiêu sa.
    Những ngày đông, khi chạy xe ra khỏi thành phố cảng Hamburg chừng vài cây số sẽ nhận được ngay những áng sương mù giăng mắc trên những cánh đồng. Vào ngày cuối tuần, để có không khí trong lành hít thở, người dân trong thành phố hay chạy xe ra ngoài này để đi dạo. Nhìn từng cặp đi dạo trong những áng sương, ông Tham không ao ước một ngày nào đó ông sẽ cùng bà xã đi dạo dưới bầu trời mùa đông như thế, mà ông lại ao ước được một lần đi dạo với Himmel! Tại sao không? Himmel yêu Tâm được, một người đã có vợ con, thì tại sao nàng không thể yêu ông? Khoảng cách tuổi tác hơn hai mươi năm chênh lệch giữa ông và nàng to lớn lắm sao? Khi Tâm đi rồi ý tưởng này manh nha trong đầu ông còn mạnh mẽ hơn: sẽ yêu Himmel! Ông quyết định sẽ tỏ tình với nàng. Bộ ở tuổi năm mươi mấy người ta không còn mạch đập của con tim sao? Không còn rạo rực bởi tình yêu sao? Hay là vẫn bị sự trói buột trong vấn đề đạo đức, luân thường đạo lý? Còn với người bạn đồng nghiệp tên Tâm, ông thấy dầu gì Tâm cũng đã xa Himmel hơn nửa vòng trái đãt. Hai người có còn gì nữa đâu? Và ông chỉ chờ cơ hội.
    Ngẫm nghĩ ông thấy Tâm có những ý nghĩ táo bạo thật! Nếu đặt ông vào trường hợp của Tâm không biết ông có dám làm như anh không. Nghe Tâm kể, lúc anh còn làm việc ở đây, đã có lần anh rủ Himmel đi Paris chơi trong hai ngày cuối tuần, nhưng nàng không bằng lòng. Nàng nói với Tâm: Tôi rất sợ đi xa như vậy vì ông xã tôi rất ghen! Chúng mình chỉ nên yêu nhau trong giới hạn! Cũng như Tâm đã thất vọng khi hứa hẹn sẽ gặp Himmel vào một ngày hè nào đó trên bờ biển ở đảo Kreta của Hy lạp, vì theo Himmel đó là một sự phiêu lưu mạo hiểm cho Tâm, cả cho nàng. Tâm vội bỏ Đức quốc, bỏ Himmel, mang vợ con để đoàn tụ với cha mẹ ở Úc theo diện di dân như để trốn chạy những lời trêu ghẹo có thể sẽ xảy ra của bạn dồng nghiệp trong hãng. Hoặc trước sau gì mọi việc rồi cũng đến tai người vợ đã cùng chung với mình vui buồn, chăn gối trong gần mười năm qua.
    Tâm đi, ban đầu ông Tham nghĩ anh đã mang theo một tấm lòng thanh thản sau khi những hẹn hò với Himmel không trọn vẹn. Còn ông ở lại, bây giờ mỗi ngày gặp lại Himmel, hỏi sao lòng không khỏi lâng lâng nhớ lại cuộc tình của một người đồng hương với cô gái tóc vàng này. Ông đã tiểu thuyết hóa mối tình đơn phương của ông, khi ước ao được một lần ngồi với Himmel trong khu rừng đầy sương mù, cùng cô đơn nhìn lên những cành cây đang giăng đầy những bông tuyết. Mặc ông đã có gia đình, mặc Himmel đã có gia đình, hai người sẽ sống cho thật đúng nghĩa là sống trong những giờ phút của tình yêu thật sự. Himmel không từng nói, ở tuổi mười tám nàng đã yêu một người thanh niên nào khác kìa, không phải là người chồng nàng hiện tại, muốn thành hôn với người đó nhưng không trọn vẹn, như vậy ở tuổi ba mươi này nàng không thể lấy ông để làm thành một tình yêu muộn màng tạm trọn vẹn cho nàng hay sao!?
    Ông ao ước được chụp hình nàng với chiếc áo Mantel màu cà phê sữa, trong những đêm khi hai người có dịp đi ăn với các bạn đồng nghiệp. Những tấm hình như thế chắc phải lộng lẫy hơn những tấm hình được chụp khi nàng đang ngồi làm việc trong hãng, với nét đẹp khiêm nhường, với cách ăn mặc đơn sơ. Nhưng dù cách thế nào thì hiện tại ông cũng không có tấm hình nào của nàng trong tay!
    Đôi lúc ông tự nghĩ, tại sao ông không thử ngỏ lời mời nàng chỉ cùng ông đi ăn riêng trong một quán ăn nào đó ở ngoại ô thành phố này? Nơi đó ông sẽ bỏ được sau lưng mọi ưu phiền trong chốc lát. Nàng bỏ được những ràng buộc nào mà nàng không muốn mỗi phút mỗi giây giăng mắc trên mình. Hai người sống trọn vẹn trong vài tiếng đồng hồ dưới ánh đèn vàng nhợt nhạt trong quán, bên hai ly rượu vang đỏ nồng nàn, tìm cho mình những hạnh phúc bất chợt như những vì sao. Qua Tâm ông biết cuộc đời Himmel có những niềm vui ít, buồn nhiều, nhưng quả thực cho đến giờ phút này ông không thể là người chia xẻ với nàng những lo âu phiền muộn nào! Dù ông có muốn ông cũng là người đứng ngoài nhìn Himmel, như người khán giả đa tình có yêu cô tài tử đến mức độ nào thì chút nữa đây khi đèn bật sáng cũng phải trở về thực tế ở bên ngoài đang chờ đợi, như cơn mưa chiều xối xả, như giòng thác người lao xao đi lại... Tại sao ông không được quyền ao ước cùng Himmel ngồi bên dòng sông Elbe của thành phố Hamburg này như bao nhiêu cặp tình nhân khác, để nhìn tàu bè qua lại, khi ra khơi, lúc vào cảng vào những buỗi chiều nắng nhạt, và nhìn những con sóng nhỏ lăn tăn lúc ẩn lúc hiện để nhận thức ra được rằng nó giống như những mối tình phiêu lưu vô định? Và tại sao ông không còn trẻ trung như Tâm để mang trong mình giòng máu có ít nhiều tính phiều bồng lãng mạng, để nối tiếp khoảng tình cảm trong lòng Himmel khi Tâm vừa bỏ nàng trốn chạy đi nơi khác!?
    Sau khi Tâm đi Úc không lâu, tiếng ra tiếng vào cho Himmel đầy hãng, vì thế nàng đã bỏ hãng đi làm nơi khác. Nàng xin vào làm bán hàng ở một siêu thị. Nghe tin ông Tham bồi hồi xúc động. Không phải vì lý do sẽ mất nàng, mà vì sẽ không còn được gặp nàng trong mỗi ngày làm việc. Đây là niềm vui của ông trong những giờ phút làm việc cực nhọc trong hãng. Ngày trước khi Tâm còn làm ở đây, trước ngày Himmel đi nghỉ hè ba tuần hằng năm, ông nghe Tâm thường hay than vản với Himmel rằng anh sẽ buồn khi vắng mặt Himmel với một thời gian khá lâu như vậy. Himmel có an ủi, thời gian ba tuần cũng sẽ qua rất nhanh.Tâm đã nói lên tâm trạng thật của anh. Còn ông, thời gian Himmel sắp sửa rời khỏi hãng ông có dám nói lên tâm trạng thật của mình đâu, dù bao giờ ông cũng tự hào là một con người chân thật, với tha nhân với chính mình. Có điều gì ái ngại làm ông không nói được! Có lẽ cũng vì vấn đề đạo đức. Có lẽ cũng vì mớ từ ngữ ‘già mắc dịch’.
    Và ông đã đến thăm Himmel vào một buổi chiều tối nơi siêu thị nàng đang làm việc. Những ngày sau khi nàng rời khỏi hãng ông nghĩ rằng rất khó để ông có thể gặp lại nàng. Nàng bỏ đi để trốn chạy tai tiếng với một người đàn ông Á châu tóc đen, bây giờ nơi chỗ làm mới tại sao ông cũng lại lù đù tới để làm khổ cho nàng? Nhưng vào một ngày nghé lại hãng cũ để giải quyết một số công việc còn lại, nàng cho ông địa chỉ nơi chỗ làm mới của nàng, và có nhã ý rủ ông đến đó chơi một lần cho biết nàng làm việc như thế nào.
    Sự quyến rủ của Himmel như nam châm thu hút bước chân ông. Khi ông đến thấy nàng đang loay hoay chất hàng từ chiếc xe đẩy lên những ngăn kệ của siêu thị. Nét mặt nàng không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên cho lắm mà hiện nét vui tươi khi gặp lại một đồng nghiệp cũ. Công việc nàng vội vàng, nên dù có muốn nói gì với nàng ông cũng không nói nhiều được. Ông còn phải phụ với nàng một tay để chất hàng nữa là đàng khác. Phụ được trong vài phút thấy bất tiện vì có vài người đang dòm ngó, nên ông hẹn với Himmel là sẽ gặp lại nàng ở ngoài cửa siêu thị khi nàng tan sở, và có thể sẽ cùng với nhau đi uống cà phê một lần cuối. Nàng đồng ý.
    Ra đến ngoài, trời đã tối và đang đông nhưng ông Tham không có cảm giác lạnh. Con người của Himmel làm ông quên mất sự giá băng của thời tiết, trong ông chỉ còn lại sự ấm áp. Ngay lúc ấy ông có thể tự tạo cho riêng mình một câu thề rất dễ cười với Himmel rằng, suốt đời ông, nếu ngày nào còn gần gũi, còn gặp mặt Himmel, ông chỉ đem đến cho nàng những vui tươi mà không bao giờ mang đến cho nàng một mãy may phiền muộn nào. Đó có phải là triệu chứng của tình yêu? Ông đi dạo vòng vòng nơi bến đậu xe, rồi cuối cùng đứng dừng lại bên chiếc xe Opel quen thuộc của Himmel. Chợt nhớ đến bức thư của Tâm gửi từ Úc sang cho ông bấy lâu nay, đọc xong nhưng ông vẫn còn giữ trong bóp, chưa buồn làm cái công việc mà chủ của nó đã tha thiết nhờ ông, ông lại lấy ra đọc. Ông dán mắt ngay ở một đoạn nhật ký bằng tiếng Đức của Tâm viết cho Himmel mà ông rất thích. Ông thấy nó lã lướt làm sao!... Ngày hôm qua anh nhìn lại được khuôn mặt em! Sau một tuần anh thèm muốn gặp em, nhưng em đã đi mất biệt! Một tuần lễ anh thấy dài đằng đẵng và buồn khi nghĩ rằng em đã đi với một người đàn ông nào đó, hoặc chạy đuổi theo một bóng hình nam nhân nào mà em yêu mến, và quên mất tiệt một điều là trên đời này vẫn còn một người yêu em mà em đã biết, đó là anh. Nhưng nhiều lúc anh không còn thấy ghen tức gì cả, lòng vẫn luôn nỡ nụ cười tha thứ, vì biết rằng trời phú cho em một nhan sắc mặn mà là để làm bông hoa tô điểm cho vạn vật quanh em. Một đóa hoa, như em bao giờ cũng muốn, là đóa hoa rừng, vô chủ, tỏa hương sắc, làm vui vạn vật, chim chóc, cây cỏ vây quanh. Buổi chiều anh gặp lại em với chiếc áo màu tím than có hàng viền màu trắng, em để hơi hở phía trên cùng của hàng dây kéo làm lộ ra chiếc áo lót màu trắng trinh nguyên, một lối chơi đùa để làm ngất ngây những đàn ông lạ, hoặc làm ngất ngây anh. Em không nhìn thẳng mặt anh thường, chỉ thỉnh thoảng, vì em sợ người khác bắt gặp đôi mắt tình tứ đẹp tuyệt vời của em đang nhìn vào anh. Anh không hiểu tại sao em vẫn sợ như vậy? Chắc có lẽ còn có những ràng buộc nào đang quấn lấy đời em! Vẫn như bao lần, mỗi khi em cười, nụ cười rạng rỡ, với những chiếc răng rãi đều, và đẹp. Nhưng buổi chiều hôm qua, đôi mắt em không còn được em trang điểm với hàng kim tuyến màu trên đôi mi cong vút, mà là một màu viền xanh đơn sơ trên mí mắt. Nhưng, như thế đối với anh cũng đã là quá đẹp! Có cần gì những hàng kim tuyến màu xanh màu tím nhân tạo. Đôi mắt em, nếu cứ để tự nhiên vẫn là bảo vật của trời ban! Nhưng, như đã nói em cứ tiếp tục tô điểm là để làm vui lòng kẻ khác..Đây là một đoạn nhật ký trong mấy trang giấy nhật ký mà Tâm nhờ ông chuyển cho Himmel làm lòng ông hơi bức rức. Ông cảm thấy trong ông có điều gì lấn cấn không ổn. Ông biết bây giờ ông không thể ngồi đào đâu ra những câu tỏ tình ướt át như Tâm đã viết cho Himmel. Ông nghĩ có lẽ vì ông đã lớn tuổi rồi, tâm hồn đã cằn cỗi khô khan! Ông biết khi con người ta tâm hồn đã bị khô cạn thì khó có thể nào viết ra được, hay thốt ra được những dòng chữ nồng nàng, những lời nói chứa chan đầy tình cảm thiết tha. Ngay cả yêu đương cũng vậy, dù còn yêu được ai trên cõi đời này, thì cái yêu của một người đã có tuổi như ông cũng có nhiều hạn chế! Nhưng dù sao trong vụ này ông thấy ông không thể giúp cho Tâm được. Bởi vì cũng như Tâm, ông đã yêu Himmel rồi thì bây giờ làm sao ông có thể giúp anh, để mối tình của anh vượt một khoảng không gian rộng lớn, lại đến với Himmel. Giúp cho tình yêu của Tâm, cũng đồng nghĩa giết chết mối tình vừa chớm nở trong tim ông!
    Himmel tan sở ra và cho ông biết nàng cảm thấy có điều gì không yên ổn trong lòng nên phải về nhà ngay, chuyện đi uống cà phê hẹn lại một dịp khác. Trước khi chia tay, như một sự lợi dụng mơ hồ, ông nắm vội bờ vai Himmel, dể đôi má hơi nhăn nheo của mình lên đôi má hồng hào son phấn của nàng. Nàng chấp nhận thật an nhiên với nụ cười thật tươi. Có thể nàng xem đó như một nụ hôn từ giã, hay là dấu hiệu của một mối tình vừa chớm nở. Nhưng cùng lúc ấy cặp đèn xe của người nào sáng hoắt rọi thẳng vào nơi hai người đang đứng. Cả hai đều bàng hoàng. Một người đàn ông Đức to lớn bước xuống xe và tiến lại phía hai người. Himmel nói nhỏ: mein Mann! chồng tôi! Ông Tham chỉ còn kịp nghe người này nói với ông một câu: €, ông T..T..â..â..m..m, tôi đã nghe đến ông lâu rồi nay mới có dịp gặp! Chào, hẹn tái ngộ! Sau đó chồng Himmel nắm tay Himmel dẫn nàng đi khuất vào bóng đêm. Ông Tham không nhận ra kịp là chồng Himmel đã kêu tên ông hay kêu tên Tâm. Trong đời, chưa bao giờ ông thấy có đêm nào trời lạnh như đêm nay! Trên trời, mùa đông không có sao, nhưng ông thấy hình như có một vì sao vừa băng.

    Vũ nam
  10. Từ Âu châu khi vừa đến Houston, việc đầu tiên là Đạt theo ngay ước muốn từ lâu của mình: đi tìm Xuyến. Qua thư từ bạn bè Đạt nghe nói Xuyến sau những ngày tháng sống khổ cực trên đảo đã được định cư Houston, tiểu bang Texas, nên chàng đã hỏi ngay một nhà báo khi chàng vừa đặt chân đến thành phố này:
    - Anh có biết ở Houston này có ai tên Xuyến không vậy anh?
    - Có, tôi biết. Xuyến có một cái tiệm sách nhỏ ở Douwtouw. Anh đến tiệm phở Tàu bay hỏi thì ai cũng sẽ biết, một anh nhà báo địa phương trả lời lẹ làng như thế.
    Đạt ngạc nhiên bởi vì Xuyến không phải mẫu người đã từng ham mê với sách vở, bây giờ trở thành một chủ tiệm sách cũng là việc lạ. Hai người bạn cùng học dưới một mái trường ngày xưa, tính tình của Xuyến Đạt đâu còn gì lạ. Chỉ thích vui đùa, ít ham thích miệt mài với sách vở. Hơn thế nữa Xuyến lại có đầu óc kinh doanh, nhưng không phải là kinh doanh trong ngành sách báo. Nhưng dù sao cũng phải chờ cái đã. Biết đâu ngày xưa Xuyến không thích sách báo nhưng bây giờ chồng cô thích sách báo thì sao? Cũng có thể vợ chồng cùng mở ra tiệm sách vậy. Đạt đến ngay tiệm phở Tàu bay ở khu chợ Hòa bình hỏi ra mới biết cô Xuyến nào đó đã dẹp tiệm sách lâu rồi. Mọi câu hỏi vì thế vẫn chưa có lời giải đáp. Về nhà một người bạn Đạt lật tung cuốn niên giám điện thoại để mong tìm cho ra được cái tên Trần thị kim Xuyến, dù biết rằng chỉ có những cô còn độc thân mới đứng tên mình trong niên giám điện thoại. Tìm được hai tên như thế ở hai địa chỉ khác nhau. Bóc điện thoại lên người thứ nhất cho biết cho biết ngay không phải là dân Bà rịa. Đạt hồi hộp ở lần điện thoại thứ nhì. Chuông điện thoại cứ reo: ren..ren..ren..và Alo, Xuyến đây, ai đầu dây đó?
    *
    Thị xã nhỏ bé Bà rịa lại trở về với Đạt. Hình ảnh Xuyến lại trở về. Những con đường nhỏ có lá me bay. Với Phòng Thông tin đầy én lượn. Thị xã tí hon này như một nhịp cầu cho khách nhàn du trong những ngày cuối tuần khi từ thành phố Sài gòn muốn đi về tắm biển Vũng tàu, Long hải. Khách nhàn du qua rồi lại, đến rồi đi, chớ ít có ai để ý hay nhớ gì đến nó một khi đã đi qua. Và chỉ ai có lớn lên trong cái thị xã bé nhỏ này, khi xa nó mới nhớ đến nó. Cũng giống như ai đã từng lớn lên ở Vũng tàu, Nha trang thì khi xa lại nhớ về miền Thùy dương cát trắng, có sóng biển nhấp nhô, với Hòn chòng, với Cầu đá...; ai đã ở Đà lạt mới nhớ đến những đồi thông, thác nước, bầu trời buổi sáng ẩm ướt mù sương.... Còn Đạt và Xuyến chắc khi nhớ đến thị xã Bà rịa duy chỉ còn nhớ đến những con đường nho nhỏ, những hàng quán im lìm, thơ mộng, thậm chí có một vài hàng quán trông tồi tàn với những ngọn đèn trong đêm hiu hắt: tiệm hủ tiếu, quán chè, quán cà phê, và những con đường, công sở, tàn cây, ngôi trường học...,đâu đâu trong thị xã vẫn nổi hằn nét nhỏ nhắn, bình dị, êm đềm. Đúng ra Đạt không nên tìm Xuyến, nhưng không hiểu sao cái mối tình đầu này vẫn ám ảnh chàng hoài. Chàng nhớ hoài đến đêm đầu tiên nằm bên Xuyến. Và cũng là đêm đầu đời của một thằng con trai mười tám tuổi biết nằm bên cạnh người yêu. Năm ấy, Xuyến mười tám tuổi, nhỏ hơn Đạt một tuổi, học dưới Đạt một lớp. Đạt và Xuyến đã nằm uốn lượn như hai con trăn trong căn phòng của nhà một thằng bạn. Đạt, cho đến giờ này cũng không hiểu tại sao đêm đó chàng không quyết tâm chinh phục mà có thể "tha thứ" cho Xuyến trong dịp may được nằm ôm ấp người yêu của mình như thế. Hằng ngày, trên sân trường, trong những giờ đi và về, những giờ nghỉ giải lao giữa hai môn học, Đạt không từng ngắm trộm hình bóng Xuyến hay sao. Chiếc áo dài trắng thước tha của cô nữ sinh trường đệ nhị đã làm Đạt ngất ngây. Dáng Xuyến khỏe mạnh, da nàng hồng hào, mặt trái soan, hàm răng trắng toát cho đến giờ vẫn là nỗi ám ảnh trong đầu chàng không thể nào phôi phai được. Dù bây giờ, sau một khoảng thời gian dài không gặp, Đạt nghĩ có thể ở đuôi mắt Xuyến đã có những vết chân chim; tóc đã có một hai sợi bạc, nhưng nét đẹp mà trời đã ban phú cho nàng hẳn là không thể nào tàn phai được. Sau một khoảng thời gian dài ngần ấy, bây giờ không còn trong Đạt nỗi rạo rực hương lửa như những ngày nào mỗi khi có dịp gặp riêng Xuyến trong căn phòng kín đáo của thằng bạn học. Đạt chỉ mong gặp lại Xuyến để nhìn xem những đổi thay nào trong mười mấy năm qua trên thân hình, khuôn mặt của người yêu mình. Chàng biết, cứ mỗi đổi thay, dù đẹp hơn, hay xấu hơn đem đến cho Xuyến vẫn làm cho lòng chàng run động xao xuyến. Có trời mà làm chứng cho lòng chàng, dẫu Xuyến có đẹp hơn vì những phương pháp sửa sắc đẹp tân kỳ trong hiện tại, hay xấu hơn vì một tai nạn rủi ro nào đó đã xảy đến cho nàng thì chàng cũng vẫn yêu nàng mãi mãi bằng mối tình đầu ngày mới lớn. Bởi vậy Đạt mới mất công đi tìm kiếm Xuyến như thế. Nhớ lại là trước đêm đầu tiên nằm bên Xuyến, chàng nghe bên tai hoài câu nói -chắc cũng chỉ nói giỡn mà thôi- của các cựu học sinh đàn anh, đã vào đời, vào lính, hoặc đã lên đại học: Tụi bây đã học đệ nhứt, đậu hay rớt tụi bây cũng phải bỏ trường này để đi lính, hoặc về Sài gòn học đại học. Thằng nào chưa có bồ thì thôi, thằng nào có rồi thì "làm" lẹ đi, chớ không sau này khi xa rồi tụi bây sẽ tiết hùi hụi.Tao cam đoan như vậy mà! Vì thế, ngay khi chuẩn bị để gặp Xuyến trong lần đầu tiên, nghe lời dụ dỗ của mấy cựu học sinh đàn anh "trời đánh", như vô tình chàng đã để trên bàn học của thằng bạn những tạp chí khỏa thân, một cách gợi tình Xuyến kín đáo. Vô tình Xuyến đã nhìn thấy và đỏ mặt, lí nhí nàng chỉ hỏi Đạt:
    - Bộ anh Hoàng coi những tạp chí này à?
    Oan ức cho thằng bạn học của Đạt! Nhưng chẳng lẽ trả lời với Xuyến đó là của mình. Nếu như vậy chắc là Xuyến sẽ bỏ về ngay. Chàng đành nói dối vô thưởng vô phạt:
    - Anh đâu biết! Chắc của ai đó, chớ Hoàng nó đâu có mua hay coi những tạp chí như vầy.
    Xuyến trách Đạt:
    - Vậy sao anh Vô trước mà không cất đi! Để đó làm gì! Các anh kỳ cục lắm!
    Đạt lật đật cất vội những tạp chí ấy vào hộc tủ của bạn. Chàng làm mà tay run run. Chàng sợ Xuyến sẽ nhận ra là tay mình đang run nên quay lưng lại về phía nàng cùng một lúc cúi gập người xuống để cất những cuốn tạp chí ấy vào tủ. Nhưng dù không xem qua những cuốn tạp chí gợi tình như thế Xuyến vẫn cho đạt tất cả thân xác mình trong đêm đầu tiên ấy. Thân thể nàng ở đâu đâu Đạt cũng đụng chạm sờ mó qua. Duy chỉ có một điều: việc làm như chuyện vợ chồng nàng từ chối Đạt hoàn toàn. Trong cơn say men của thể xác, với khuôn mặt đỏ hồng, với đôi vú đều đặn no tròn của Xuyến, với chiếc eo thon, với cặp đùi đẹp, cùng mái tóc Xuyến đã xỏa bùng ra trải dài trên tấm nệm trắng và đôi mắt khép lại trong nổi đam mê, vậy mà khi Đạt muốn xin Xuyến dâng hiến một lần Xuyến vẫn từ chối một cách cương quyết, đã để lại cho Đạt một ấn tượng sâu sắc và lòng cảm phục sâu xa từ đó và mãi mãi về sau này, khi mà chàng không còn dịp gặp lại xuyến nữa. Những ngày sau đó, hai người không còn gặp gỡ nhau trong căn phòng kín đáo của thằng bạn học, nhưng lại thường gặp nhau dưới khung trời lồng lộng, bên mùi nước biển mặn nồng, và bên những tàn cây mà quanh năm cho ra những tàn lá xanh mướt. Cứ chiều chiều, khi trời chạng vạng, Đạt hay chở Xuyến trên chiếc xe Honda của mình ra ngồi bên những tản đá ngăn nước biển và hàng cây đước xen kẻ trên đường gần đến cầu Cỏ mây, từ Bà rịa ra Vũng tàu để trò chuyện. Chuyện tương lai, chuyện học hành, chuyện chiến sự, và dĩ nhiên là phải có chuyện tình trong đó rồi. Qua những lần trò chuyện tâm tình như thế Đạt mới khám phá ra ở Xuyến một điều bí mật làm chàng đến đớn đau, là Xuyến cũng đang có người tình là chàng Sinh viên sĩ quan đang theo học ở Học viện Hải quân Nha trang. Trong một lúc Đạt tự hỏi tại sao Xuyến có thể cùng một lúc yêu hai người thanh niên một cách nồng nhiệt thiết tha như thế. Và tương lai đây nàng sẽ chọn ai và sẽ lọt về tay ai? Cả những lần Xuyến tự hào đem khoe những tấm hình của chàng Hải quân từ bãi biển Nha trang gửi về cho nàng, để làm tang vật cho một đời sống hứa hẹn nhiều hào hùng sôi nổi của người trai trong thời chinh chiến. Trong khi đó thì chính Xuyến cũng biết được nỗi hoài bão của chàng là ngôi vị giáo sư của một trường trung học nào đó sau khi tốt nghiệp Sư phạm. Thảo nào các đàn anh đã đi lính tráng của Đạt đã nói đúng: Thằng nào có bồ thì làm lẹ lẹ đi, không rồi sau này xa nhau tụi bây sẽ tiết hùi hụi. Nhưng dù có khoe hình người tình thứ hai đầy hào hùng như thế Xuyến vẫn trao cho Đạt những nụ hôn dài nơi đôi môi mộng đỏ mà lúc nào cũng tươi thắm của nàng. Và với Đạt, kể từ ngày khám phá ra chuyện riêng tư này của Xuyến, chàng lại thấy một nỗi buồn bâng quơ len lén vào hồn, nhưng dứt khoát không yêu Xuyến nữa thì chàng không thể nào dứt khoát được, bởi một lý do dễ hiểu là Xuyến vẫn mặn nồng với chàng. Nhưng rồi một ngày không xa cũng đã đến, chỉ một năm sau, đó là ngày Xuyến bước lên xe hoa để về nhà chồng, sau khi anh chàng Sinh viên sĩ quan đã ra trường và về phục vụ trong một đơn vị Hải quân ở Vũng tàu. Đêm chia tay Xuyến lại để lại cho chàng những giọt nước mắt nhe nhàng. Nàng kể lể:
    - Anh Tường -tên người chồng tương lai của nàng- em quen trước khi quen anh. Anh Tường ở bên Long hương và học trên anh đâu đó vài ba lớp. Tính ra, anh Tường đâu có xa lạ gì với tụi mình: cùng quê hương, cùng một trường. Em yêu anh Tường cũng giống như em yêu anh, nhưng trước khi anh Tường vào Hải quân em có lời hứa hẹn với ảnh là sẽ trở thành vợ ảnh sau khi ảnh ra trường, giờ em phải thực hiện lời hứa. Trước khi chia tay anh mãi mãi em có đề nghị với anh như thế này là con Duyên em của em nó cũng rất thương anh. Anh có nghĩ là nếu không còn gì với em, thì anh có thể nối kết tơ duyên gì đó với con Duyên không?
    Duyên, em của Xuyến, nhan sắc đâu thua gì chị mình, nhưng tình yêu thì đâu thể gì một ngày một buổi mà thay đổi được trong lòng Đạt.
    *
    Cuối cùng thì Đạt cũng tìm được Xuyến. Qua một người đồng hương Bà rịa, Đạt biết Xuyến về định cư ở tiểu bang Florida. Lúc đầu chàng không định đi đến Florida để tìm Xuyến, nhưng bởi câu chuyện về Xuyến mà chàng vừa biết được nên chàng quyết định đi tìm nàng để thăm viếng một lần. Mọi chuyện thật êm xuôi, vì chàng cứ điện thoại đến hãng phi cơ, xin phép trên đường về lại Âu châu được dừng chân ở Florida vài ba ngày để thăm thân nhân. Hãng phi cơ bằng lòng và đã sắp xếp lại các chuyến bay cho chàng.
    Bây giờ Đạt đang đi bên Xuyến trong một thành phố nằm trên bờ biển. Hai người đùng xa xa nhìn một người đàn ông đang đùng câu cá sát cạnh bức tường cao chỉ đến bụng. Mặt nước biển thâm thấp xa xa, bên dưới. Những con cá trắng thấy bắt mê mỗi khi người đàn ông kéo cần câu lên. Câu chuyện về một đãt nước nghèo nàn, ít còn cá tôm vì không theo kịp sự tiến bộ của Nhật, Đại hàn trong ngành đánh cá, như những người về Việt nam thăm và đã kể lại. Hình ảnh mùa đông đầy băng tuyết ở Thụy sĩ, quanh năm chỉ nhìn thấy ao hồ. Bởi vì những sự việc đã được nghe và được thấy như thế, nên khi nhìn những con cá trắng tinh to lớn, cùng với cách câu như để mà chơi mà giải trí tự dưng Đạt thấy vui vui, nhiều lúc chàng quên luôn cả là đang đi bên cạnh Xuyến. Chàng kéo Xuyến lại gần người đàn ông đang ngồi câu cá vì chàng muốn xem những con cá nằm trong giỏ cá của ông ta. Xuyến vội vàng lấy cả hai tay kéo chàng lại. Miệng nài nĩ: Thôi đi anh, đừng lại sát bờ tường quá! Em sợ, em sẽ... Dáng nàng sợ sệt làm Đạt rất đổi ngạc nhiên. Nhưng chìu theo ý Xuyến Đạt không dẫn nàng đến gần sát bờ tường. Gió từ biển thổi về đãt liền sao mạnh quá. Tóc tai quần áo của hai người bị hất tung, rối loạn. Đạt hỏi Xuyến:
    - Biển ở đây bao giờ cũng vậy sao em? Gió quá!
    - Hình như là vậy. Ra biển bao giờ cũng thấy gió. Mặc dù trời mùa hè trong đãt liền đang nóng. Nhưng từ ngày về đây định cư em có bao giờ để ý là lúc nào biển có gió và lúc nào không. Hầu như cứ mỗi lần ra biển là mỗi lần gặp những làn gió mát lạnh đến cả người!
    Không biết Xuyến có đề cập đến hoàn cảnh hiện tại của mình, đến Tường, đến Hải quân, mỗi khi nhìn cảnh biển, nhưng trong giọng nói đã nhuốm giọng điệu buồn buồn. Nàng tiếp lời. Nhờ thế Đạt mới biết những suy nghĩ đang có trong đầu mình là đúng.
    - Mỗi lần nhìn những chiếc thuyền bè màu trắng em lại nhớ đến anh Tường. Nhớ đến chiếc áo Hải quân màu trắng của ảnh ngày xưa. Củng như mỗi lần nhìn những cô cậu thanh niên học sinh trước cổng trường, dù là các cô cậu người Mỹ, em lại nhớ đến anh. Nhớ đến thời kỳ tụi mình còn là học sinh ở Bà rịa, với mối tình đầu tiên của em đã trao cho anh. Không phải vì công anh lặn lội đến đây tìm em mà em đã nói nịnh anh như thế. Thú thật, em cũng giống như anh, cứ mỗi hình ảnh lại gợi cho em một kỷ niệm nào đó từ những ngày cũ đã qua.
    Câu nói của Xuyến mang lại cho Đạt ít nhiều kỷ niệm ngày trước ở quê nhà. Ngày đó, khi tuổi vừa mới lớn, yêu Xuyến, Đạt yêu bằng một tình yêu vừa tinh thần vừa thể xác hoà lẫn nhau. Chàng thích chiếm đoạt thân xác. Bây giờ trong chàng, dù đang đi bên Xuyến lại không còn những rung động về thể xác như ngày trước nữa. Có phải vì Xuyến không còn hồng hào nảy nở như năm nàng vừa mười tám tuổi? Có phải vì chàng đã già? Nhớ lại những điều ngày trước Đạt cảm thấy ân hận! Tại sao, ngày đó chàng lại có ý nghĩ nên lấy Xuyến ngay trước khi từ giã ngôi trường, như lời những đàn anh dạy bảo. Chàng đặt câu hỏi: Nếu ngày đó chàng lấy được Xuyến thì sự thể sẽ ra sao đã đến với nàng? Xuyến sẽ thuộc về chàng tử ngày ấy đến bây giờ hay có những gì thay đổi khác nữa. Nhìn mái tóc nhuộm màu đen tuyền của Xuyến. Nhìn dáng vẻ nàng bây giờ thon nhỏ gầy gò, nơi mí mắt và cổ có những đường da nhăn nhúm,bất giác Đạt nghĩ đến thời gian qua mau quá, mới đây mà đã hai mươi năm rồi.
    - Từ ngày Tường mất, em vẫn ở vậy để nuôi con? Xem ra em vẫn còn nhớ đến Tường lắm hả? Dù lúc sống Tường đói xữ không tốt với em. Xin lỗi! Anh nghe như vậy.
    - Anh hiểu lầm em rồi. Em chỉ còn nhớ đến Tường nhưng em không còn yêu Tường kể từ ngày Tường mất. Hay là trước ngày Tường mất lận kìa.
    - Em nói gì anh chưa hiểu!
    Không giải thích thắc mắc của Đạt, Xuyến nói tiếp:
    - Cũng như bây giờ anh đến đây, em không thể đối xử với anh như những ngày chúng ta còn ngồi chung với nhau dưới mái học đường nữa được. Ngày đó em yêu anh thật tình. Nhưng em vẫn bị cái hào nhoáng bên ngoài của chàng sĩ quan Hải quân thu hút, mỗi khi gặp anh ta về phép. Anh thì lúc đó còn là học trò. Mà mấy cô học trò ít khi nào yêu các anh học trò ngang ngang lớp lắm. Anh không thấy như vậy sao? Nghĩ lại bây giờ em vẫn còn ân hận đã đối xử khá tàn nhẫn khi đã chọn Tường mà còn giới thiệu em Duyên của em cho anh.
    - Anh không yêu Duyên nên không thể làm theo ý muốn của em được.
    - Em biết.
    - Thôi. Bây giờ hãy trở lại chuyện của tụi mình.
    - Tụi mình thì sao?
    - Chiều rồi. Chuẩn bị về. Còn tính chuyện ăn chiều.
    - Không! Anh ở lại đây với em cho qua đêm. Lâu rồi, kể từ ngày Tường mất em không còn dịp ra đây trong ban đêm nữa. Đêm trên mặt biển rất đẹp, để rồi anh coi em nói có đúng không.
    - Nhưng chắc không đẹp bằng nơi chúng ta ngồi với nhau chiều chiều trên con đường ra Vủng tàu như trong những ngày còn đi học.
    - Em không biết. Nhưng anh cũng sống bằng kỷ niệm nhiều dữ đa!
    - Nếu chưa chịu về thì chúng ta lại cái băng đá ngồi. Chứ đùng và đi từ trưa đến giờ anh thấy muốn rụng cặp giò rồi đây. Phải ngồi một chút!
    Khi đã ngồi xong, để tìm chuyện nói, Đạt lại hỏi lại câu hỏi mà từ lúc gặp Xuyến chàng đã hỏi nhưng nàng chỉ trả lời qua loa, kết cuộc chàng vẫn còn thắc mắc:
    - Em nói Tường chết vì chết đuối khi tắm biển. Anh chẳng hiểu ra sao cả. Hải quân mà chết đuối thì có ai mà tin. Đâu kể rõ cho anh nghe coi tại sao mà ra nông nỗi vậy.
    Xuyến vẫn kiếm chuyện để nói lãng, không trả lời trực tiếp câu hỏi của Đạt. Bóng đêm đã phủ xuống. Khuông mặt Xuyến bấy giờ như hun hút thụt sâu vào mái tóc nhuộm đen nhánh, bồng bềnh. Khi có ánh đèn của xe cộ qua lại rọi, mặt Xuyến lại nổi lên một màu xanh kỳ lạ. Đêm về mà cứ kèo nài hỏi chuyện về người chết, bất giác Đạt cũng rùng mình. Thêm lúc này khuôn mặt Xuyến sao trở nên xanh xao quái đản. Đang yên lặng Xuyến lên tiếng:
    - Tường chết ngay chỗ ông câu cá hồi chiều. Em sợ nên đã kêu anh đừng lại gần chỗ đó.
    Đạt ngạc nhiên:
    - Như vậy thì chết đuối cái nổi gì!
    - Không, em đã xô Tường té xuống dưới biển. Biển đầy đá dưới đó. Em muốn giết Tường. Và Tường đã chết.
    Đạt bỗng nhiên thấy sợ. Chàng chưa hiểu nổi đầu đuôi câu chuyện ra sao. Bạn quen nói rằng Xuyến góa chồng đang ở vậy nuôi con. Nhớ lại chuyện cũ tình xưa chàng muốn ghé thăm nàng, chứ chàng đâu ngờ chuyện của Xuyến giờ đây xem ra không còn đön giản như chàng nghĩ lúc đầu nữa.
    - Sao từ lúc gặp anh hỏi em không nói ngay cho anh biết. Sao em dấu việc ấy đến bây giờ mới nói ra? Rồi có ai biết em đã giết Tường không?
    Xuyến nhún vai:
    - Dĩ nhiên là không. Vì nếu biết thì bây giờ em đã ngồi trong tù rồi. Em khai với cảnh sát,Tường đang ngồi trên bờ tường, lơ đểnh bị té.
    Đạt lắc lư cái đầu:
    - Bây giờ thì anh không còn hiểu em ra sao nữa.
    Đạt đâm ra sộ như không còn muốn ngồi gần bên Xuyến nữa. Trong bóng đêm giờ Đạt tưởng tượng ra chắc gương mặt Xuyến bây giờ mang vẻ hun tợn lắm. Vì qua giọng nói đã có âm hưởng cọc cằn, dữ tợn. Chàng vì uất ức, dù là sợ nhưng cố làm gan để hỏi Xuyến cho ra lẽ:
    - Nhưng tại sao em lại giết Tường?
    - Tại ảnh đào hoa quá! Hết cô tình nhân này, đến cô tình nhân khác. Tại vì ảnh đã phụ bạc em.
    - Té ra mọi chuyện cũng chỉ vì tình. Nhưng em có thể xin ly dị kia mà.
    - Thôi bỏ chuyện cũ đi. Chuyện dong dài. Ly dị với không ly dị. Bây giờ nếu anh muốn về thì em đưa anh về. Trời đã khuya rồi. Hay là bây giờ anh muốn xuống lại biển.
    - Thôi cô! Tôi sợ biển rồi.
    - Ha..ha..ha...Giọng cười Xuyến Tường nghe sao lảnh lót.
    Chiếc xe bỏ cảnh biển ban đêm sau lưng. Đến một khúc quanh, đường không còn một ánh đèn, trong xe tối như đêm ba mươi, Đạt qua qua thấy người ngồi bên cạnh mình bây giờ không phải là Xuyến nữa, mà là Tường. Rõ ràng là Tường. Mặt mày đầy máu me. Đạt ú ớ la lên.
    *
    Người bạn nằm cạnh lay Đạt dậy. Té ra chỉ là một giấc mơ. Thật ra, Đạt đã biết Xuyến đang ở nơi nào, chồng con ra sao, hạnh phúc ra sao. Chàng quyết định không ghé thăm nàng dù lòng rất muốn. Có lợi gì đâu nếu gợi lại những chuyện tình đã qua, khi mà giờ đây ai cũng đã có mái gia đình êm ấm. Nghĩ lại giấc mơ vừa qua, Đạt nhớ về những giấc mơ ngày trước, trong thời kỳ đang yêu Xuyến. Ngày đó, mỗi giấc mơ đều mang một hình ảnh đẹp: nụ cười Xuyến e ấp. Chiếc áo dài thướt tha...Mười mấy năm không còn mơ màng gì đến Xuyến nữa, bỗng hôm nay chàng đến với Xuyến bằng một giấc mơ thật dữ dội. Chàng dự đînh tìm người bạn đồng hương lại, hỏi cho rõ lần nữa, xem hư thực hiện tại hoàn cảnh của Xuyến ra sao. Như anh ta đã kể hôm qua, hay như giấc mơ mà mình vừa nằm mộng thấy.
  11. Sau ngày thầy Hạnh Thảo nói chuyện với một đồng đạo về tình hình chính trị ở ấp Nước Ngọt, nơi thầy đang tu học, thầy cứ lo lắng trong lòng. Thầy không dám nói với chú thím Huỳnh, cha mẹ người đệ tử của mình, đã đành, thầy cũng chẳng dám bộc bạch với người đệ tử mười bốn tuổi tên Đệ của thầy luôn. Thầy sợ chú thím Huỳnh hoang mang. Thầy sợ chú tiểu Đệ lo lắng rồi xao lãng việc tu hành, học đạo. Thầy sợ luôn cả tính mạng của thầy. Việc thủ tiêu, việc bắt bớ vào mật khu để giáo dục tư tưởng ai biết trước được. Đành rằng người tu không bao giờ sợ chết nếu phải xã thân bảo vệ lẽ phải, chánh pháp. Nhưng ở trường hợp của thầy nếu bỗng dưng mất tích, chết nơi núi rừng này, xem ra cái chết cũng oan uổng quá, chẳng ai biết vì sao!
    Cuối tuần thầy Hạnh thảo quyết định phải về Sài gòn ngay, dù sức khỏe thầy hơi yếu. Sau ngày nói chuyện với đồng đạo thầy thấy bịnh tình thầy có vẻ trầm trọng trở lại. Nhưng thầy cần bàn bạc với mấy đứa con để xem ý kiến của tụi nhỏ như thế nào. Đành rằng việc ở đâu để tu hành là do thầy quyết định, nhưng nếu cứ để có sự lo lắng từ các con thầy cũng không an tâm tu được.
    Sau khi về Sài gòn để bàn bạc với các con, thầy mới biết tuy có lo lắng cho cha nhưng các con vẫn để thầy quyết định. Và vì thế, sau bao đêm suy nghĩ thầy đã đi đến quyết định sẽ ở lại ấp Nước ngọt này cho đến khi nào chính quyền Quốc gia không cho phép ở nữa, lúc đó thầy mới rời Nước ngọt, rời chùa nơi đây để về Sài gòn ở tu.
    Chú tiểu Đệ chẳng biết gì về những suy nghĩ đang có trong đầu của thầy mình, vì thầy Hạnh thảo có lo lắng nhưng đâu có để những lo lắng ấy hiện ra trên gương mặt, trên lời ăn tiếng nói của thầy. Cha, nếu biết thầy mình đã từng có ý định bỏ chùa ở đây để về Sài gòn, không biết chú nghĩ sao, chắc chú buồn lắm! Vì thế sau ngày thầy mình về Sài gòn thăm con, lấy đồ dùng cho chùa xuống, chú vẫn an nhiên tụng niệm như từ ngày xuất gia đầu phật đến bây giờ.
    Nhưng không bao lâu sau đó ở ấp Nước ngọt người ta thấy những toán du kích xuất hiện. Một toán đâu khoảng chừng trên dưới một chục người đi tới đi lui trong cái ấp có rừng núi âm u rộng lớn này. Họ mặc áo quần xanh, đen hoặc nâu sậm. Có khăn rằn quấn cổ. Dép đi bằng vỏ xe hơi. Mang súng Carbin, Garant hoặc Trường bá đỏ. Trong mười người thì có đâu khoảng bốn năm người mang súng, còn lại mang mã tấu, dao găm, lựu đạn v. v. . . Mỗi người đều có cái bồng trên lưng khi di chuyển. Thầy Hạnh thảo không biết họ đóng quân ở đâu, chỉ thấy họ thỉnh thoảng dùng đường của chùa để di chuyển xuống dưới ấp. Vậy là họ ở tuốt trên đỉnh núi không chừng, ở trong những hang động. Cứ mỗi khi gặp những người du kích này, trong lòng thầy lại có những lo lắng nổi lên. Có nhiều lần thầy muốn dời chùa về Sài gòn để tu hành, chứ ở lại đây mà tâm không định thì làm sao yên tâm hành đạo! Nhưng mặc dù có những dằn co trong đầu thường trực như thế, cuối cùng thầy vẫn quyết định ở lại ấp Nước ngọt. Có sự quyết định này cũng còn bởi vì một ngôi mộ. Ngôi mộ nằm đâu có xa cách chùa bao nhiêu. Nó nằm ở dưới chân núi đây thôi, cạnh đường đi lên chùa của thầy. Nghĩ lại thầy thấy hơi có chút buồn phiền trong lòng vì sự tính toán sai trật của vợ chồng thầy lúc trước.
    Khi thầy xuất gia đi tu, cô còn sống. Thầy về Nước ngọt cất chùa tu nhưng cô vẫn ở Sài gòn với vợ chồng cô gái út trong ngôi nhà của vợ chồng thầy. Thỉnh thoảng từ Nước ngọt về Sài gòn thăm nhà, lúc cô còn mạnh, cô có bao giờ bàn bạc với thầy khi chết xác thân sẽ được chôn cất ở đâu. Đành rằng theo giáo lý Phật lúc sống nên chuẩn bị cho lúc chết, và đón nhận nó một cách bình thãn. Cuộc đời chỉ tạm bợ. Sống gửi, thác về. Nhưng vào một ngày khi cô lâm bịnh, vợ chồng đứa con gái đưa cô vô nhà thương Grall để chửa trị lúc thầy đang tu hành ngoài chùa ở Nước ngọt. Cô con gái ngồi xe đò ra báo cho thầy biết về thăm cô. Khi thầy đến bên giừơng bịnh, cô còn rất tỉnh táo. Sau khi chuyện trò về căn bịnh của cô, cô như còn có điều gì muốn nói với thầy nhưng vì ngại nên chưa nói ra được. Linh tính báo cho thầy biết điều đó nên thầy ân cần hỏi cô :
    - Bà có gì cần thiết để nói với tôi nữa không?
    Mặt mày cô tư lự:
    - Bao giờ ông trở về lại Nước ngọt?
    - Bà còn bịnh chắc tôi còn ở lại Sài gòn này.
    Cô biết cô bịnh nặng nhưng cô vẫn dấu thầy là mong để thầy yên tâm tu hành:
    - Ông cứ trở về lại Nước ngọt lo tu hành đi. Ở đây có con Út rồi. Chắc cũng không đến nổi nào đâu.
    Dù cô có nói vậy nhưng lòng thầy Hạnh thảo nghĩ: Mấy chục năm vợ chồng có nhau, mình đi tu đã bao năm nay rồi, bao nhiêu công chuyện gia đình đều giao lại cho cô trông nôm lo lắng, nay cô bịnh nặng chẳng lẽ không ở lại được để chăm sóc cô cho đến khi bình phục. Vừa nghĩ chuyện gia đình nhưng trong miệng thầy vẫn lâm râm niệm Phật.Thầy cầu Phật gia hộ cho cô mau mạnh khoẻ trở lại, và thầy cầu Phật gia hộ cho lòng thầy được yên định để vượt qua hoàn cảnh khó khăn hiện nay của gia đình.
    Thầy và cô đều yên lặng. Được một lúc thầy hỏi lại câu hỏi lúc nãy:
    - Ừ, chuyện ở đây hay về lại Nước ngọt không có gì là quan trọng. Tôi chỉ muốn hỏi bà có điều gì cần thiết để nói với tôi nữa không?
    Cô nắm lấy tay thầy. Việc này đối với thầy thật bất ngờ. Hơn mười năm rồi, từ ngày xuất gia, chuyện vợ chồng đụng tay đụng chân đã không bao giờ xãy ra, bỗng nhiên hôm nay.Tuy nhiên thầy vẫn để yên bàn tay thầy trong lòng bàn tay của cô. Với một giọt nước mắt lăn trên má, cô nói:
    - Ông hỏi tôi mới nói.Tôi có một điều muốn nói với ông sau cùng, gần như trối với ông vậy, là khi tôi qua đời tôi muốn xác thân tôi được chôn ở Nước ngọt, nơi ông đang tu hành. Sao, ông thấy có được không?
    Thầy Hạnh thảo trầm ngâm nghĩ ngợi. Đi tu, là vì thầy muốn xa lánh chuyện đời. Việc vợ chồng, con cái, bao năm đã gánh nặng trên vai, khi giải quyết xong chuyện gia đình nên thầy mới xuất gia, vợ nhà yên ổn tuổi già bên vợ chồng cô gái út. Nay, có lẽ là lúc cô sắp lìa bỏ cõi ô trọc này nên mới có lời trối trăn như vậy. Suy nghĩ không lâu thầy trả lời với cô ngay:
    - Được. Điều đó tôi thấy không có gì trở ngại cả. Nếu bà muốn về nằm ở Nước ngọt gần chùa tôi đang tu hành tôi hứa sẽ thực hiện việc đó cho bà. Có lẽ, thế cũng hay! Vì chắc khi tôi qua đời tôi cũng nhắn với các con hoặc với đệ tử là xác thân tôi cũng để lại Nước ngọt chôn cất, chứ đừng di chuyển về Sài gòn làm gì. Rồi vừa nói thầy vừa pha trò cho cô vui: Vậy là hồn tôi với bà sẽ cùng dạo chơi ở miền tiên cảnh...Nước...ngọt. Câu nói đùa này làm nét mặt cô tươi vui hẳn lại.
    - Thật tình nếu chôn tôi trong mấy cái nghĩa trang ở Sài gòn này cũng không sao. Nhưng sao tôi vẫn muốn được gần ông khi tôi mất. Tôi muốn hồn tôi được quanh quẩn bên ông để phù hộ cho ông được tu thành đạt đạo.
    Sau ngày đó không lâu cô qua đời. Vì lời trăn trối của vợ mà thầy Hạnh thảo phải mướn một chiếc xe ca để chở quan tài cô từ Sài gòn về ấp Nước ngọt để chôn cất. Còn người lo việc mượn người khiên vác, đào huyệt ngày đó không ai khác hơn là chú Huỳnh. Bởi vậy, sau ngày chôn cất vợ nhà xong tình thân của thầy Hạnh thảo với chú Huỳnh càng thêm thắt chặt. Thầy Hạnh thảo chỉ lo việc cúng kiến, ma chay. Các con thầy cũng đã theo đưa mẹ về nơi an nghỉ ngàn thu. Đất ở ấp Nước ngọt rộng, chỗ nào dùng để làm mộ cho vợ nhà cũng được, nhưng thầy Hạnh thảo vẫn nhờ những vị thầy cao niên, trưởng thượng, mách dùm nơi đất lành, tốt để làm mộ.Và chiếc mộ được xây bằng đá tương đối quí nằm trên đồi đất cao, cạnh con đường mòn dẫn lên chùa của thầy Hạnh thảo chính là ngôi mộ của vợ thầy. Nghĩ đến đây thầy Hạnh thảo thấy hơi mệt. Thầy muốn ra khỏi chùa để đi dạo một chút cho khỏe. Thầy đi lại nơi cửa phòng của chú tiểu Đệ, nói vọng vào:
    - Đệ con! Thầy ra ngoài đi dạo một chút cho khỏe. Con học bài Thầy dặn xong thì xuống bếp lo cơm chiều. Thầy đi một chút Thầy về. Đừng đi tìm. Nếu Thầy về trễ con cứ tự tiện ăn cơm trước một mình.
    Tiếng dạ trong phòng chú tiểu Đệ phát ra, thầy Hạnh thảo biết đệ tử còn thức. Vì cũng có đôi lần, vì công chuyện gì cần gấp nên thình lình như buổi xế trưa hôm nay thầy đến phòng chú tiểu Đệ để dặn dò công việc thì bắt gặp chú đang ngủ gật. Đến khi thầy mở cửa gọi chú mới giật mình miệng nói lớn: Nam Mô A Di Đà Phật, Thầy gọi con. Mặt chú tái xanh vì sợ thầy quở trách việc xao lãng học kinh trong buổi chiều. Nhưng mặt thầy Hạnh thảo vẫn điềm nhiên. Những lúc như thế thầy nói: Nếu con mệt thì cứ ngủ tiếp, còn thấy khỏe rồi thì dậy, đừng xao lãng việc học kinh. Ngủ nhiều nó cũng trở thành thói quen khó bỏ được. Tập dần ngủ nghỉ cho đúng giờ. Nhưng đó là khoảng một năm đầu tiên ở chùa. Chứ sau này hầu như thầy Hạnh thảo không còn bắt gặp như vậy ở chú tiểu Đệ nữa. Sau một năm tu chú tiến bộ rõ rệt.
    Dặn đệ tử xong thầy Hạnh thảo đi lấy chiếc áo len màu nâu khoát trên mình, vói tay thầy lấy chiếc mủ cũng được đan bằng len đang vắt gần chíếc áo. Mỗi lần cầm chiếc mủ len này, kỷ niệm lại trở về: chiếc mủ do tự tay cô nhà đan cho khi thầy quyết định xuất gia. Thôi cũng hay, trên đường đi dạo tôi sẽ ghé qua thăm bà một chút. Thầy Hạnh thảo lẩm nhẩm trong miệng như thế. Ra ngoài sân, gió thổi phất phơ vào mặt làm thầy thấy mát, dễ chịu. Mùa xuân đã qua rồi! Nhưng dù đang đầu hè khí trời trên núi còn vẫn hơi lành lạnh. Trên con đường mòn dẫn xuống chân núi dể qua bên ngọn đồi thăm ngôi mộ vợ nhà, thỉnh thoảng thầy dừng chân lại bên những cánh hoa rừng hoang dã, nhìn ngắm cành hoa một hồi rồi thầy ngắt lấy cành hoa. Động tác nhỏ nhặt này cũng làm thầy nhớ lại buổi ban đầu hai người gặp gỡ, rồi hai người yêu nhau, sanh con, nuôi con, cuối cùng, vượt qua bao nhiêu trở ngại thầy mới được toại nguyện là đi tu. Ngày mới quen nhau thầy đi mua hoa để tặng cô, còn bây giờ thầy ngắt hoa rừng để tặng cho cô vậy. Đầu hè, nhưng mấy hôm nay biển động. Thầy biết rằng tâm mình động chứ cảnh vật không động. Nhưng với mắt đời nhìn thấy, biển đang động thật: sóng biển dâng cao, mặt biển nổi bọt trắng xóa, màu nước biển không còn tím xanh đúng như trong những ngày hè, giờ như có màu nước tro pha vô. Trên mặt biển một màn hơi nước mờ mịt bao phủ. Ngắt đâu được khoảng một nhúm nhánh hoa rừng nhỏ dọc theo đường cũng là lúc thầy Hạnh thảo đã xuống đến chân núi, thay vì theo con đường lớn để dẫn xuống ấp như mọi lần, bây giờ thầy lại theo con đường mòn khác rẻ trái để đi về phía ngọn đồi, trên đó có ngôi mộ của vợ thầy. Khi đến mộ phần vợ xong, như mọi lần thầy đặt mấy nhánh hoa rừng lên đầu mộ. Xong, thầy chỉ chấp tay và niệm Phật. Đầu mộ quay về hướng tây, nhưng phía sau mộ là mặt biển lồng lộng. Đứng nhìn cảnh biển một hồi thầy quay lại nói với phần mộ:
    - Không có bà nằm đây chắc là tôi dời chùa về Sài gòn lâu rồi. Bà còn nằm đây thì tôi còn ở đây để chăm nôm mộ phần cho bà. Nhưng tình hình ở đây lúc này lộn xộn quá làm tôi cũng lo ngại! Không biết là còn ở đây được bao lâu nữa. Hôm nay xuống đây thăm bà tôi muốn nói với bà một điều là, nếu vì hoàn cảnh không cho phép tôi ở đây nữa thì tôi sẽ nói con nó xuống bốc mộ bà về Sài gòn để mai táng lại. Rồi Thầy vừa nói như vừa đùa với cô: Ở Sài gòn tôi mới có dịp thăm viếng bà thường hơn.
    Gió từ biển thổi vào, vì ngọn đồi trống trải nên sức gió mạnh hơn, nó làm chiếc mủ len của thầy muốn bay ra khỏi đầu, thầy lật đật lấy tay vịn lại. Thầy tự giỡn với mình: Chắc là bà không chịu về Sài gòn rồi nên mới giận dữ như vậy. Nam Mô A Di Đà Phật. Bà thích ở lại đây chứ tôi không thích sao? Nhưng nếu hoàn cảnh không cho phép thì mình phải đành đi thôi!
    Đứng yên lặng một hồi để nhìn ngôi mộ của vợ xong thầy mới chấp tay lại để xá vài xá rồi từ giã: A Di Đà Phật. Thôi bà nằm đó nha, tôi đi về còn phải lo cho chùa, trời chiều rồi! Nói thầm trong bụng như vậy rồi thầy đi.
    Trên đường trở về chùa cả khoảng đời quá khứ của thầy và cô lại trở về trong đầu thầy. Thầy người Sài gòn, còn cô gốc người Cần đước. Lúc thầy còn đi học để lo thi lấy bằng tú tài Tây, chỉ gặp nhau lần đầu cả hai đã yêu nhau ngay. Trong một dịp thầy đi dự đám táng ba của thằng bạn, vì ông gốc người Cần đước nên phải đưa về tận quê nhà để mai táng. Trong ngày này thầy đã gặp cô, vì gia đình cô là thân tộc rất gần với gia đình của thằng bạn. Trong đám học sinh nam đông đảo như thế không hiểu sao chỉ có thầy là phải lòng cô. Sau khi chôn cất ma chay xong, trong khi mấy thằng bạn lo chạy đi chạy lại kiếm những trái cây trong các khu vườn, riêng thầy lại kiếm chuyện đến gần cô để chuyện trò hỏi thăm qua loa về công việc đồng quê, vườn tượt. Sau đó, qua thằng bạn thầy biết cô cũng đã phải lòng thầy kể từ ngày ấy. Hôm đó cô mặc chiếc áo bà ba màu vàng hoa mai nhưng loại vải đẹp óng ánh như kim tuyến, chiếc quần dài màu đen vải óng mượt. Dù ở quê nhưng mặt cô trắng hồng. Bộ đồ cô mặc, khuôn mặt cô đã làm thầy ngây ngất trong ngày hôm đó. Về Sài gòn, sau đó nhờ thằng bạn làm mai mối thầy đã thư đi thư lại với cô, đã về lại Cần đước thăm cô khi cuối tuần thầy rảnh, đã rủ được cô cùng ngồi xe đò với thầy về Sài gòn coi xinêma, ăn hủ tiếu. Sau khi đậu tú tài thầy xin vào học khóa để ra làm công chức và đã xin với cha mẹ cưới cô về làm vợ. . .
    A Di Đà Phật! Thầy lại niệm Phật và nghĩ thôi chuyện quá khứ thì cho nó thuộc về quá khứ, nhớ lại, nghĩ lại để làm gì? Chuyện tình duyên ngày đó của thầy và cô cũng lắm nhiều trắc trở, môn đăng hộ đối! Thầy tự hỏi không hiểu sao, vào cái tuổi thanh niên ấy thầy và cô có đầy sức mạnh, để vượt qua những gian nan thử thách như thế để cuối cùng hai người được lấy nhau. Còn giờ đây cái gì thầy cũng muốn buông ra, muốn thả ra, không còn muốn giữ lấy bất cứ điều gì cho riêng mình, nhân ngã thầy không còn, thầy ý thức được đời chỉ là vô thường, thân mình chỉ là các bụi. . .
    Khi thầy về đến chùa đã đến giờ ăn chiều. Chú tiểu Đệ cũng vừa chuẩn bị xong cho hai thầy trò. Chú dự định trong đầu nếu thầy về kịp, thầy trò cùng nhau dùng buổi chiều, còn thầy chưa về, chú sẽ dùng trước rồi dùng lồng bàn đậy thức ăn lại cho thầy như thầy trước khi ra đi đã căn dặn. Nhưng giờ thì thầy đã về rồi, chú thấy yên tâm trong bụng, vì hôm nay thầy đi ra khỏi chùa cũng khá lâu vào một buổi chiều gió nhiều như thế này.

    Vũ Nam
  12. Tôi cùng gia đình rời ấp Nước Ngọt, lúc bảy tuổi, về làng chuyên nghề đánh cá Phước Hải. Vì chiến tranh, vùng này trở thành vùng mất an ninh, không còn nằm trong sự kiểm soát của chính quyền Quốc gia nữa. Dân Ấp Nước Ngọt chia làm ba. Về xã Long Hải. Về xã Phước Hải. Đi nơi khác. Bỏ lại hằng loạt những villa và những mảnh vườn xinh đẹp, đầy hoa sứ. Bỏ lại những đồi núi, cánh rừng, cây dương, cái bàu. Bỏ lại sóng biển, những con chim, con ốc, con còng, cánh hoa rừng vụng dại và trái cây dẫy đầy trong những khu vườn hoang. Bỏ lại khoảng không gian chứa đầy kỷ niệm của tuổi thơ... lòng tôi dửng dưng. Không vui, cũng chẳng thấy buồn. Từng đoàn xe bò di chuyển nặng nề với đầy đồ đạc trên đó. Những con bò cong lưng kéo xe qua những con đường cát nặng nề vì chiếc cầu băng qua con sông nước lợ đã bị đánh sập. Không khí chiến tranh bao trùm, nên dù còn trẻ thơ tôi cũng ý thức được đây là lúc tản cư về vùng an ninh hơn. Nhưng ngày tản cư, nhờ những hàng xe bò di chuyển làm tôi thấy vui vui đôi chút. Hoặc lúc chạy lúp xúp sau xe bò, hoặc ngồi sau vành đai bằng cây che chung quanh đôi bánh xe nặng nề có niền sắt, bàn chân tôi thả xuống mặt lộ vẽ lên một đường kẽ dài mà lòng cảm thấy hơi vui, hoặc đôi khi leo hẳn vô ngồi trong xe, trên những cây cột cây kèo tấm tôn của nhà tôi, cạnh bác chủ xe bò để xem bác cằm cây roi mây quất lên lưng hai con bò mỗi khi anh nào tỏ ra làm biếng kéo xe. Lúc ấy tôi đâu có biết cái gì là Nghiệp, Nhân, Quả như trong kinh Phật nói. Giờ mới biết quả con trâu con bò có nghiệp nặng nề quá! Qua những đoạn đường cát tôi thấy chúng ra sức kéo xe đến đỗi lưng cong vòng lên như cánh cung khi người ta muốn bắn mủi tên đi, vậy mà còn phải chịu những đường roi có rằn có rện đầy mình. Không khí tản cư vui vui nên tôi đã quên một điều hết sức là buồn: đó là ba tôi đang ngồi trong tù ở khám Bà Rịa của chính quyền Quốc gia. Chỉ mình má tôi phải lo liệu cho năm chị em tôi và cho việc tản cư.
    Chuyện ba tôi ở tù là vì lúc ấp Nước Ngọt còn nằm trong tay chính quyền Quốc gia, vì hiểu biết được đôi chút nên ba tôi được dân bầu làm trưởng ấp. Ngoài hằng ngày lo bán quán cho khách trong ấp, khách du lịch ở xa đến, ba tôi còn trông coi dùm một khu vườn to lớn của một ông bác sĩ ở Sài Gòn. Làm có lương hẳn hòi. Chưa kể ba tôi cũng phải lo riêng cho ông một mảnh vườn cũng không phải là nhỏ. Vậy mà khi xã Long Hải nhờ (Nước Ngọt thuộc xã Long Hải), khi dân bầu ông cũng nhận chức trưởng ấp, gọi là để giúp dân. Năm ‘Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam’ nổi lên, trời vừa tối họ về, vô nhà, tắt đèn, bịt mắt trói tay bắt ba tôi dẫn đi, má và chị em chúng tôi ngồi nhìn thắt ruột. Nửa đêm họ cho về, nghe ông kể họ bắt ông phải từ chức chức vụ trưởng ấp, không họ sẽ có biện pháp.
    Dĩ nhiên là ba tôi sợ mất đầu, bỏ vợ bỏ con lại bơ vơ nên phải từ chức thôi. Một người mới được đề cử thay thế. Ít lâu sau người này bị chém đầu! Nghe ba tôi kể lại ông bị chém bằng rựa trước mặt mọi người trong ấp. Ban đêm, chắc người chém không thấy rõ, chém, đầu rựa có mủi chạm đất trước, lưỡi rựa chỉ chạm sơ ở cổ. Chém xong, tưởng ông đã chết, họ bỏ đi, hóa ra chưa chết, ông bò về nhà, vợ hết hồn, lo băng bó và đưa qua nhà thương Long Hải để chữa trị vết thương ở cổ. Hay người chém cố tình nương tay? Chỉ có trời biết! Một lần chết hụt. Sau nhẹ, nhưng ông vẫn về lại Nước Ngọt để làm trưởng ấp tiếp tục. Lần này họ về bắt và giết chết thật. Và họ còn nói cho mọi người trong ấp biết thà họ giết lầm chớ không có tha lầm. Đúng là ông này gan quá!
    Chính quyền Quốc gia chưa ra lịnh tản cư nên ai ai cũng không muốn rời ấp Nước Ngọt dù bây giờ xem mòi ấp đã không còn được an ninh nữa rồi. Cứ chiều chiều đã thấy lù lù những người lạ mặt, áo quần màu xanh, đen, đầy súng đầy dao mã tấu từ trên núi đổ xuống. Lính Bảo An từ Long Hải qua tuần tra nhiều khi bị phục kích chạy thụt mạng. Là quán ăn buôn bán nên mấy ông ‘Giải Phóng’ cứ ghé nhà tôi mua đường, thuốc lá, cà phê v.v... Họ mua chẳng lẽ không bán. Giỡn mặt với mã tấu à? Ngày nào còn ở đây là phải còn lén bán cho họ thôi.
    Đến một ngày, khi hai cha con đang ngồi xe đò đi Sài gòn để lãnh lương từ ông bác sĩ. Xe vừa đến xã Long Hải, chắc là có người mách trước rồi, xã cho người ra mời ba tôi vô văn phòng để nói chuyện. Hai cha con xuống xe đi đến văn phòng. Họ không cho tôi vô với ông già. Ba tôi kêu tôi trở ra ngồi xe đò lại về nhà. Sau đó ba tôi đi ngồi tù một năm vì tội buôn bán cho Việt Cộng.
    Vì có ít nhiều thân nhân ở Phước Hải nên má tôi đã tản cư về đây. Những người dân khác đã về Long Hải, Sài Gòn, Vũng Tàu v.v... khi Quốc gia ra lịnh tản cư. Vừa lo cất nhà mới, vừa lo làm nuôi năm đứa con, vừa lo nuôi chồng trong tù quả lúc đó má tôi cũng mệt phờ người. Viết những dòng chữ này đến đây tôi vẫn còn nhớ đến công ơn của ông bác sĩ đối với gia đình chúng tôi trong cơn hoạn nạn này. Dù là người theo Tây học, ông vẫn giữ được chữ Tín của người Việt Nam mình. Ông nói cho má tôi biết: Chú Tư đã làm công cho tôi, nay chú Tư đang bị tù tôi vẫn trả lương chú cho đến khi ra tù. Không có gì vui cho má tôi bằng khi nghe ông bác sĩ nói điều này. Đang chết đuối mà nắm được phao.
    Nhờ vậy, má tôi vẫn tiếp tục nuôi chị em tôi ăn học. Dù các chị tôi đã lớn, có thể đi buôn bán được rồi nhưng vẫn chỉ phụ việc nhà, làm việc kiếm thêm tiền lặt vặt sau nửa buổi học ở trường. Buôn bán chỉ còn mình má tôi. Bà đâu có đủ sức một mình bán quán ăn như lúc có chồng ở nhà, nên bà chuyên môn gánh chè đậu đen đi bán dạo để nuôi con ăn học trong thời gian ba tôi còn ở tù. Nhiều buổi chiều khi bà về nồi chè còn gần phân nửa. Bà thì rầu, còn tôi thì mừng muốn chết, tha hồ lấy vá lấy chén tự múc ăn. Bữa nào nồi chè hết sạch, bà về nhà với nỗi vui mừng bao nhiêu thì tôi lòng thấy ‘nặng trĩu’ bấy nhiêu. Đành phải nhịn chè cho đến ngày hôm sau! Bởi vậy ở đây, bây giờ, cứ khi ngồi ăn chè do bà xã nấu tôi lại nghĩ đến gánh chè má tôi ngày nào đã tần tão mỗi ngày gánh đi bán dạo để nuôi chị em chúng tôi ăn học.
    Mỗi đầu tháng, khi đi lên nhà ông bác sĩ ở Sài Gòn để lãnh lương, sau đó, khi về ngang Bà Rịa má và chị em tôi ghé vào khám đường để thăm ba tôi. Có tiền của ông bác sĩ cấp má tôi mua đồ tiếp tế cho ba tôi. Nhìn qua các chắn song sắt cách ngăn cha con, chồng vợ, tôi không buồn không vui. Tuổi trẻ nhiều khi có những dửng dưng kỳ lạ. Tôi nhớ là không khóc trong lần thăm ba tôi ở tù đầu tiên, nói gì đến những lần sau đó. Sau khi thăm ông xong, ngồi xe đò về nhà, phần đồ còn lại trong giỏ xách nào là bánh mì Sài Gòn, chả lụa, nem, bưởi Biên Hòa... phải là của riêng của chị em tôi thôi. Một tháng được ăn món ngon vật lạ ở Sài Gòn một lần.
    Năm ba tôi ở tù là năm tôi đi học bị ông thầy ở lớp Ba đánh đòn nhiều nhất trong thời thơ ấu của tôi. Cha đang ở tù. Mẹ lo đi buôn bán từ sáng đến chiều. Các chị còn nhỏ. Đâu ai theo dõi chăm sóc việc học cho tôi. Nên tôi trốn học thường xuyên. Sáng lãnh tiền đi học xong, ôm tập viết, thay vì đi vô trường tôi đi thẳng xuống biển. Lựa đít xuồng nào còn chỗ trống ở dưới tôi đút mấy cuốn tập vô. Xong, đi vòng vòng, đi không có mục đích, đi tắm biển, đâm sạp, gỡ cá không công cho người ta.... Nhắm giờ tan học, đến kéo tập ra và hiên ngang đi về nhà. Khi bị kêu trả bài thường là không thuộc, vì có bài đâu mà học. Mà có cũng chưa chắc đã học. Tôi vốn sợ đòn vậy mà suốt năm đó tôi vẫn để ông thầy lấy thước cây quất vô đít, vô giò hoài. Bực bội quá nhiều lúc ông còn lấy tay kéo tai nhất hổng lên, làm tôi đau điếng. Như ở Tây phương, theo luật lệ, ắt hẳn ông thầy đã bị treo bằng thầy giáo làng lâu rồi. Nhưng ngày đó, nghe nói cái lớp ba song song với lớp ba của tôi, có ông thầy tên Bảy Tèo (tên thầy giáo gì mà kỳ cục vậy!) chuyên cho đi ‘khiêng heo’ mỗi khi anh nào trốn học và chuyên đánh học trò bằng roi mây còn hơn ông thầy của tôi. Vậy là tôi cũng còn hên.
    Sau một năm, ba tôi được thả về. Buổi trưa đang ngồi trong nhà thấy ông về với bộ đồ bà ba trắng, tóc hớt cao, đúng là dân ở tù mới ra, cả nhà mừng không có gì tả nổi. Nghỉ được đôi ba ngày ba tôi xin đi biển liền, làm để phụ má tôi kiếm tiền nuôi con. Sau khi ông về, vì không còn làm vườn cho ông bác sĩ nữa nên ba tôi cũng không còn được lương từ ông ta, điều đó là dĩ nhiên. Ba tôi có hơi buồn đôi chút nhưng cũng phải chịu thôi! Đi biển, dù nghèo, nhưng có những cái vui, nhiều buổi trưa ông đem về nhà, ngoài cá là một hai con ốc tai tượng to tổ bố. Luột, móc ruột, xắt nhỏ chấm nước mắm chanh, chị em tôi ngồi ăn coi rất ngon.
    Vì gốc là nghề buôn bán, nên đi biển không lâu ông nghỉ biển, mở quán bán cà-phê cho dân biển. Quán bán đến mười giờ, mười một giờ tối là thường, vậy mà một hai giờ đêm đã có người đi biển sớm kêu cửa để uống cà-phê. Mở cửa càng chậm họ kêu càng dữ, vì cho kịp con nước đi biển. Pha cà-phê với nước chưa kịp sôi cũng bị họ la. Lúc đó tôi không biết là ba má tôi một đêm ngủ được bao nhiêu tiếng đồng hồ, tôi chỉ biết là ông bà ngủ rất ít.
    Phần vì xã Phước Hải giờ trở thành vùng xôi đậu, ban đêm đã có mấy ông ‘Giải phóng’ về thu thuế, bắt thanh niên thiếu nữ đi dân công, ‘xử tử’ những người dân mà họ cho là ác ôn, có tội với ‘cách mạng’, lại buôn bán hơi khá nên ba tôi cho chị tôi về Sài gòn trọ học, bên cạnh người chị lớn nghỉ học chữ đi học may ngay tại xã. Ba tôi thường hay dặn các chị tôi, cũng như hay dặn tôi sau này, khi tôi đã trổ giò hơn một chút, là khi nghe có người kêu cửa ban đêm cứ leo tuốt lên trên khánh thờ Phật để ngồi trốn. Phật ngày đó không biết có giận vì những lời khuyên của ba tôi không. Nhưng thật sự tôi thấy trốn trên cái khánh thờ lớn là an toàn nhất. Những ngày đó, khi ngủ, tôi lúc nào cũng có nỗi phập phồng lo sợ. Sợ bắt đi dân công. Có nhiều bạn bè đang trang lứa với chị tôi đã bị bắt đi. Có người đi rồi đi luôn. Có người đi một thời gian được cho về với thân thể xanh xao bịnh hoạn. Vài năm sau đó, khi tôi đang đi học trên thị xã, tôi nghe có nhiều bạn bè tôi còn ở dưới làng cũng bị bắt đi tương tự như vậy. Nhưng may mắn là chị em tôi chưa lần nào bị kêu cửa dẫn đi, và vì thế, dĩ nhiên là cũng chưa lần nào ‘phạm thượng’ với Phật.
    Thời gian sau đó người chị thứ tư tôi, đang học lớp đệ lục, chết vì bịnh phong đòn gánh. Trước đó mấy ngày chị đạp cây đinh. Sưng chân. Nghỉ học nằm nhà, trên cái ghế bố của ba tôi, mặt mày ủ dột. Mấy ngày sau lên phong giật, ba tôi đưa chị đến ông thầy cắt lể, một lúc sau chị tắt thở, dù ông thầy lể có than thở là ông đã hết lòng tận tình cứu chữa. Bây giờ chuyện bị chết vì bịnh phong đòn gánh ở Việt Nam không còn như xưa nữa. Ai giờ cũng biết là sau khi đạp đinh, đồ sét là nên đi chích ngừa ngay tức khắc, chớ không phải đợi giật rồi cho đi cắt lể. Y như bịnh ruột dư, ngày đó, cũng không ít người ở dưới quê tôi đã chết, vì cứ cho là ‘đau bụng bão’ và đè con bệnh ra cắt lể. Nhớ ngày chị mất, tôi ra ngồi ngoài hành lang của nhà người hàng xóm một mình khóc tức tưởi. Tôi ý thức được là tôi sẽ không bao giờ còn thấy mặt chị của mình nữa trên thế gian này. Thầy coi bói nói rằng chị bị chết trùng, nên mộ của chị không được chôn chung nơi mộ nội ngoại, thân bằng quyến thuộc, mà phải chôn riêng rất xa, một mình. Mới có mười hai tuổi mà khi chết cũng bị cho nằm riêng! Đám ma chị, học sinh toàn trường trung học ở xã Phước Hải đưa đi rất đông. Thầy cô, bạn bè thương tiếc vì nghe nói chị là một học sinh giỏi. Tôi được cử ngồi che dù trên đầu quan tài trong ngày đi chôn chị. Ngồi cao lêu nghêu, trên đường vô nghĩa địa gió lộng đầy, ánh sáng chiều vàng vọt, lòng tôi thấy buồn hơn. Miền biển gió thổi quá! Mộ chôn riêng, ba tôi không để ý, một năm sau định trở lại giẫy mả cho chị thì không còn tìm được nữa. Gió biển đã phủ lấp tất cả! Coi như chị bị mồ hoang mả lạc!
    Thời gian sau, nỗi buồn phôi pha, tôi và các bạn bắt đầu đi vào ruộng, trên đường đi về quận Đất Đỏ, hớt cá lia thia về cho đá. Đây là thời gian tôi bắt đầu biết ngứa vì cho đỉa đeo chân, hút máu. Nuôi cá đầy nhà. Mỗi lần cho cá đá xong con nào con nấy te tua, sứt môi trầy mắt. Ăn cũng như thua. Tuổi thơ vẫn vô tình trên nỗi đau của sinh vật! Song song việc nuôi cá, tôi cũng biết nuôi gà trống để bắt đi cho đá lung tung trong làng. Cứ ôm con gà của mình cùng mấy thằng bạn đi, thấy con gà nào kênh kênh, làm le với mấy chị gà mái, là tôi thảy gà tôi vô cho đá. Có lúc thắng thì cũng phải có lúc bại. Lúc thắng anh gà nhà tôi gáy re re coi ngon lành lắm, còn làm le rè mấy chị gà mái. Nhưng khi thua anh vọt đi cũng thật lẹ, sau khi bị một cú từ địch thủ phải kêu lên một cái ‘ét’. Nhiều lúc thấy gà nhà thua lẹ quá, tôi và mấy thằng bạn tức nhào vô bênh, rượt anh gà thắng cùng mấy chị gà mái, đàn gà con chạy có cờ. Nhưng dù rượt cũng phải coi chừng chủ của nó có xuất hiện bất thình lình không. Con nít nào mà không sợ người lớn, nhất là mấy bà bán cá miền biển.
    Phe Quốc gia với phe trong rừng thỉnh thoảng trong đêm cứ choảng nhau. Mỗi lần nghe tiếng súng, tiếng mọt-chê nổ ì ầm là cả nhà chung xuống hầm. Trái hỏa châu nhiều khi lủng lẳng treo trên trời cả đêm. Một đôi lần, vào một hai giờ sáng, khi đi lấy bánh trái về bán cho dân đi biển sớm ba tôi hay lượm vác thêm trên vai về những vỏ trái sáng rớt trong đêm, sau trận đánh, thế là những ngày sau đó tôi có dịp cưa nhôm từ trái sáng ra để làm trò chơi, hoặc làm ba cái lặt vặt cho gia đình. Sáng ra, không một anh trong rừng bỏ xác lại, cũng nghe một vài anh lính Quốc gia bị thương. Nhất là khi nghe một anh Việt Cộng bỏ xác lại, tôi thậm thà thậm thụt ráng đi lại gần để xem cho được mặt người quá cố. Có một lần thấy một anh Việt Cộng đã tự xác bằng lựu đạn để ngay ngực khi lọt vào vòng vây lính Địa Phương Quân. Vợ con anh đến nhận xác khóc kêu thảm thiết. Thân thể anh còn lại như tấm hình bốn 4-6 lúc làm thẻ căn cước! Có một lần lính Quốc Gia bị phục kích chết cả tiểu đội. Có người chết đầu còn gác trên giàn nước (để rửa chén tô sau khi ăn). Lính ở trên quận phải về lấy xác. Có một lần, một anh nông dân nghèo định gỡ vật vụng sắt trong một chiếc xe tăng hư bị bỏ lại trong rừng về để bán, bị nổ, xác anh khi kéo về chỉ còn là đống thịt bày nhày, cháy đen thui. Thỉnh thoảng nghe một đứa chăn bò chết tan xác vì gỡ những trái mìn điếc, lựu đạn điếc chơi khi đang cho bò ăn cỏ. Nhiều khi trong ngày khơi khơi, đầu trên xóm thấy lính đứng xí xô xí xào, đầu dưới xóm đã thấy đầy mấy anh Việt cộng núp ở các gốc cây rình chờ lính tới. Có những buổi chiều đã thấy một hai anh Việt cộng thản nhiên về cầm bá thun bắn những bóng đèn đường trên các trụ điện, dọn đường cho những toán quân sẽ về trong đêm, y như con nít đang bắn chim sẻ... Chết chóc. Chiến tranh thường trực. Thét rồi cũng quen. Quen không khí chiến tranh đến đỗi con nít tụi tôi còn tự chia ra hai phe bắn ná với nhau, liệng cùi bắp, bao cát (bao nhỏ nhỏ đựng chè, bỏ cát vô thật chật, cột lại bằng dây thun) với nhau. Trong xóm chia phe đánh. Xóm trên đánh xóm dưới. Xóm chợ đánh xóm biển. Học trò đánh chăn bò. Màn chót này vui hơn, vì học trò nữ còn mua thuốc đỏ, băng keo, chuẩn bị phòng hờ cứu thương mỗi khi có thằng bạn học nào bị tụi chăn bò bắn cho một cục đá vô đầu. Cũng may là tôi chưa có lần nào thấy một anh bạn bị chăn bò bắn vô đầu, vô mắt cả. Có trúng thì cũng trúng sau lưng sau ót thôi, vì cứ khi bọn chăn bò kêu xung phong là tụi tôi đã lo quay đầu chạy đi kêu cứu với mấy ông thầy bà cô rồi. Tụi chăn bò đâu dám vô nơi Tổng hành dinh của tụi tôi là cái trường học. Tụi nó rút đi, giờ ra chơi tụi tôi lại bò ra chọc. Đúng là nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò (tụi chăn bò còn phá hơn bọn học trò nhưng sao không thấy sắp hạn ?). Là thứ ba trong hàng phá làng phá xóm, nên tụi tôi đâu có quên cái vụ lấy trái mắt mèo về rải lên ghế ngồi của mấy bà cô. Bây giờ khi nghĩ lại tôi nghĩ hầu như thầy cô giáo nào vừa ra trường cũng có kinh nghiệm về việc trái mắt mèo. Vừa hơi ngứa là bà cô bỏ đi ngay lên văn phòng để kêu ông Hiệu trưởng xuống tra hỏi chúng tôi. Nhưng rồi cũng chẳng có đứa nào khai cho đứa nào cả. Đoàn kết một lòng. Diên Hồng quyết chiến. Nam cũng như nữ. Nhứt định không khai. Ông thầy giận cũng huề. Còn tụi tôi thì ngồi cười thầm.
    Thời gian học lớp đệ lục, mười hai tuổi, tôi được dịp về bệnh viện tỉnh Bà Rịa để thăm ông thầy bị thương nằm trong đó. Lần đầu tiên trong đời mới nhìn thấy cái bịnh viện đồ sộ, khang trang, màu vàng trắng, đầy tàn cây bóng mát. Bác sĩ, y tá mặc áo mantel trắng, đi tới đi lui trông sạch sẽ và mát mắt làm sao. Ở xã Phước Hải chỉ có cái nhà thương, nhà bảo sanh nhỏ xíu. Học trò ở Việt Nam bao giờ cũng quý trọng thầy. Nhứt tự vi sư, bán tự cũng vi sư. Ông thầy bị nạn, dù ở xa, từ quê phải lên tỉnh, tụi tôi cũng kéo nhau đi thăm rần rần, đậu tiền mua nào cam nào bánh mì thịt cho ổng. Ông thầy bị sui. Sáng bữa nọ, nghe người ta kể lại, ổng đang đi ‘ỉa đồng’, hay đi dạo gì đó. Hồi đó giáo viên ở xa về làng Phước Hải dạy hay ở trong những căn phố có đầy đủ tiện nghi, vì thế tôi nghĩ ông thầy bị tai nạn lúc đang đi dạo, chớ không phải lúc đi ‘ỉa đồng’, ‘ỉa biển’ như người dân dã. Chắc là đi dạo cũng xa làng, nên du kích Việt Cộng tưởng ông là lính của cái đồn lính cạnh đó đã bắn sẻ cho ông một phát trúng vào tay. Báo hại ông phải về nhà thương Bà Rịa nằm gần một tháng.
    Hết nuôi cá lia thia đá tôi bắt đầu nuôi cá phi, nuôi chó... Cá phi phải đi mua. Chai nuôi cũng phải mua từ chợ. Những chai nước biển to lớn mới đủ rộng để con cá trống phi màu đỏ màu xanh vùng vẫy, phùn mang, trợn dọc, tua tủa nào vi nào đuôi dài thườn thượt, coi thật đẹp mắt, chớ ve chai đựng chao chỉ để nuôi cá lia thia thôi. Cá phi cho đá thì xem đã hơn cá lia thia nhiều. Nhà đã có mười mấy con cá phi lớn, tôi còn tập tành từ những người nuôi cá phi bán cho cá trống kèo cá mái để đẻ con. Cá con nhỏ tôi nuôi cả lu, vớt tai bèo về để đầy trên mặt nước.
    Còn thích chó tôi phải tự đi xin chó về nuôi. Đi bộ ba bốn cây số để xin được một con chó đẹp tôi cũng vẫn đi. Nhớ có một lần đi dạo với anh chó bằng xe đạp, trên một đoạn đường đã thấy từ xa hai anh chó to lớn chạy lại. Chó đã sợ mà chủ chó cũng sợ luôn! Con chó nhỏ của tôi sợ quá chung vô bụi cây trốn. Tôi sợ quá đạp xe chạy tuốt bỏ nó ở lại một mình chịu trận. Sau đó, khi hai anh chó lớn đi mất, anh chó của tôi chung ra lục đục theo sau mà về. Khi về đến đầu làng, nơi đây có đồn lính Địa Phương Quân đóng, tôi đứng đợi chó về. Đang đứng, bỗng nghe tiếng súng nổ um sùm tưởng là các ông lính đang ‘làm thịt’ con chó của mình đang lủi thủi chạy về sau, tôi chạy thẳng vào đồn lính nói là chó của tôi xin các ông đừng bắn. Các ông lính cười ngất, cho biết rằng các ông bắn ra biển chơi, chớ đâu có ai ngu mà ban ngày ban mặt dám bắn trên đường đi, dù chỉ có một con chó đang đi trên đó. Đúng là con nít, ăn chưa no nghĩ chưa tới... một cái gì cả! Chó của tôi đâu biết chủ mình gặp nguy nan đã ‘quất ngựa truy phong’ bỏ nó lại một mình chịu trận, vẫn tới ve vẫy quắt đuôi với tôi, không biết hờn giận là gì. Chắc là con người, sẽ có người giận tới già tới chết còn giận.
    Vì là miền biển nên trưa nào tôi cũng hay xuống biển. Lúc thì tắm. Lúc thì gỡ cá chơi chơi. Kiếm vài con cá nhỏ mang về nhà từ cái công gỡ cho các bác có lưới, có xuồng. Cùng với vài thằng bạn có ba đang đi biển, leo vô xuồng lục cơm nguội, cá nguội còn sót lại để ăn, sau khi tắm biển hằng giờ đến đói cả bụng. Lúc bị mấy con sứa lửa ‘đánh’ thì chạy về nhà sớm hơn để lấy đường tán mà quẹt vào mình cho ngưng cơn ngứa.
    Những ngày nghỉ hè tôi cũng tập vô đồng đi chăn bò với người ta. Thích thú nhất là được chủ ruộng kêu cho ăn chè xôi cúng sau mùa gặt hái. Theo xe bò, cỡi bò, giữ bò cho những gia đình thằng bạn chuyên nghề làm ruộng, trồng rau. Trong ngày thì phụ gánh nước tưới rau không công cho người ta. Lấy nước tiểu để lâu ngày hôi rình pha vô với nước ao để tưới tôi cũng không từ nan, không ớn. Cùng với mấy thằng chăn bò bắt cá rô cá lóc ngồi quanh đóng lửa nướng ăn. Cưa trúc tre làm ống thụt bắn với trái cò-ke, bời lời. Bắt bọ rầy về kéo cánh ngoài xỏ kẽm, kẹp bật ngữa, cho quạt cánh trong đẩy bay chiếc phi cơ làm bằng kẽm, bằng cây treo trên sườn nhà. Con nào bay không nổi nữa thì đem xuống, bắt con khác gắn vô, cho bay tiếp. Những anh bọ rầy vừa bị cho xuống, cánh ngoài tan nát gãy vụn, tướng đi khệnh khạng thấy buồn cười. Bắt dế cho đá. Ngắt đầu dế làm mồi. Lấy tóc cột vào chân, quay cho các anh say mèm. Càng say các anh ‘mần thịt’ nhau càng hăng, nhiều khi sau trận đấu các anh chết gục ngay tại chỗ! Buổi chiều, nếu bò không bị bắt kéo xe thì được màn cỡi bò đi về xóm. Có những buổi chiều cỡi bò về, khi tôi đang ngồi chễm chệ trên lưng con bò đực to tổ bố, oai phong lẫm liệt, chung quanh đầy bò đực, bò cái, bò con, bỗng nhiên một con bò đực khác, cũng to tổ bố không thua gì con tôi đang cỡi, xông xông nhào tới phía con của tôi, định chém lộn, để giành chức đầu đàn. Con bò tôi đang cỡi cũng nào có chịu thua, mài sừng, lấy chân trước chân sau cào đất lên mịt mù, sửa soạn nghinh chiến, tiếp chiêu. Nhưng nó quên một điều là có thằng con nít học trò, mình mẫy nhỏ xíu, đang ngồi run trên lưng. Một liều ba bảy cũng liều, lúc này con bò đâu còn biết gì nữa, lo giành bò cái lấy le và giành chức đầu đàn, còn tôi cũng đâu có thể chờ đợi gì nữa mà không nhảy ngay xuống đãt, trốn vào nơi an toàn để xem ai thắng ai bại. Nhiều khi lật đật nhảy, đau thắt cả ruột. Bò chém nhau thật kinh hoàng! Nhất là hai con cùng to lớn, cùng trang lứa, cùng sức lực với nhau, lại cùng đang giành bò cái!
    Cũng trong thời gian tôi đang học lớp đệ lục, chị hai tôi có bầu lần đầu. Lúc mang thai, bụng chị lớn quá, không ai biết tại sao, khi chị sanh mới biết: sanh ba. Nhìn chị nằm cạnh ba cô gái đỏ ửng trên mảnh chiếu cũ, chiếc giường sắt tróc sơn, trong nhà thương xã chài lưới nghèo nàn, thương ba cô ‘công chúa’ kêu mình bằng cậu tôi cũng rất thương, nhưng vẫn không bằng tình thương dành cho người chị lúc bấy giờ. Bởi vì sự chịu đựng của chị. Dáng chị mệt nhọc, điểm nụ cười gượng gạo trên môi, mỗi khi có người đến thăm. Lúc không có ai gương mặt chị lộ nét buồn rười rượi. Chắc chị đã biết trước một điều gì sẽ xảy ra trong nay mai? Chắc chị ý thức được công lao chín tháng mười ngày mệt nhọc của chị sẽ chỉ còn tay không khi nay mai đây trở lại về nhà. Đúng như linh tính đã báo trước, ba đứa cháu gái tôi lần lượt thay phiên nhau ra đi trong ba buổi chiều kế tiếp. Nền y tế nước mình ngày ấy, dưới quê, làm gì có bình dưỡng khí để tiếp sức cho những em nhỏ sơ sinh, thiếu tháng, hay sinh ba như chị tôi! Cứ ba tôi ôm hòm đứa cháu ngoại đóng bằng cây ván sơ sài cỡ bằng thùng cát-tông đựng sữa hiệu con chim ngày đó, thì tôi cầm cuốc lụt đụt đi sau, trên đường vô nghĩa địa. Ba buổi chiều, ba đứa bé sơ sinh, yếu hơi, thay phiên nhau nằm xuống. Người đi đưa và chôn cất trong cả ba lần chỉ có ông ngoại và người cậu! Kể ra ba cô chắc là không có nợ nần, công tội gì với chị tôi, nên vừa làm con được đôi ba ngày các cô đã bỏ ra đi để làm cuộc đời khác.
    Khi viết đến việc có bầu lần đầu tiên của người chị hai, tôi liên tưởng đến những ngày Tết trong thời niên thiếu. Với tôi, khi Tết đến dù có mai vàng rực rỡ, có truyện bằng tranh màu mè mua về treo trên vách; có pháo, có đu, dưa hấu, mứt bí, mứt gừng, v. v..., vẫn không quan trọng bằng bộ quần áo mới. Vì thế trong thời gian Tết chị hai đóng vai trò rất ‘quan trọng’ đối với tôi. Vì chị là thợ may nên mỗi năm khi Tết đến, dù bận may đồ mướn cho ai nhiều đến bao nhiêu, trễ nhất đến sáng mùng một chị tôi cũng may xong cho đứa em trai một bộ quần áo mới để ăn tết. Mấy năm chị chưa có gia đình, sức còn khỏe, thường đến chiều ba mươi chị hoàn tất cho khách hàng, còn của tôi trễ nhất là trước giờ giao thừa cũng phải xong. Nhưng năm chị có bầu, may chậm chạp, chị làm tôi chờ đến xót cả ruột. Suốt đêm giao thừa ngồi chờ, vì đến giờ đó chị còn bận may cho trẻ con hàng xóm. Gần sáng, buồn ngủ quá nên tôi đi ngủ nhưng trong bụng vẫn còn nôn nao về bộ quần áo mới để ăn Tết trong năm này, chưa biết nó sẽ ra sao. Tuổi con nít mê quần áo mới quá! Hừng đông mùng một, thức dậy, vẫn thấy chị còn ngồi may cho người ngoài lòng tôi buồn rười rượi. Bạn bè tôi trong làng đã đi ngoài đường với quần áo mới hết rồi. Tụi nó đã ‘ăn Tết’ mà tôi vẫn chưa có quần áo mới! Gần mười giờ chị mới giao cho bộ quần áo vừa may xong lúc ấy tôi không còn thấy hứng thú để mặc nữa. Sự mong muốn nào cũng vậy. Khi nó đến đúng lúc người ta còn vui vẻ đón nhận, còn khi đến trễ tràng quá lòng người nhận không còn thấy hân hoan, vui vẻ nữa. Thời trẻ thơ Tết năm nào tôi cũng mặc quần áo mới trễ, nhưng chưa có năm nào trễ bằng năm chị tôi có bầu lần đầu. Tuổi thơ chỉ biết nghĩ đến mình chớ ít nghĩ đến người khác. Đâu biết đến sự mệt nhọc của người đàn bà có bầu.
    Học xong lớp đệ lục, thấy dưới quê lộn xộn quá, ba tôi cho về trường tư thục Sỉ Tãi trên tỉnh Bà Rịa để học tiếp. Tôi lần nữa đành giã từ nếp sống thôn dã quê mùa, nước mặn đồng chua, để chuẩn bị bước vào nếp sống thị thành. Bỏ lại những cái quần xà lỏn mặt đi học, thay vào đó áo trắng quần Tây xanh, áo phải bỏ vào thùng. Bỏ lại vài ba cuốn tập cầm tay, thay vào đó chiếc cạp-táp hẳn hòi. Nhớ hai năm đệ thất đệ lục, mặt quần xà lỏn, nhưng tụi tôi vẫn chơi những trò chơi như ‘ông đi qua bà đi lại’, nhảy cao, rất tự nhiên với các cô nữ sinh cùng lớp. Ngày đó, chắc kín thì chỉ có các cô nữ sinh kín, chớ bọn tôi, đực rựa, thì thằng nào cũng tênh hênh để ‘của’ ra đó thôi, mỗi khi phải ráng sức nhảy qua các hàng rào bằng tay do hai cô gái ngồi hai bên nắm lại đưa lên. Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn đặt câu hỏi, không biết ngày đó với quần xà lỏn tênh hênh như vậy mà các cô có thấy ‘cái gì đó’ từ tụi tôi không? Ai trả lời câu hỏi này bây giờ đây!? Nhưng tôi nghĩ các cô không thấy gì đâu. Vì nếu thấy các cô đã không chịu ngồi đưới đất nắm tay cho tụi tôi nhảy đâu. Có mắt mà như không!
    Và điều mà làm tôi khi lớn khôn hiểu biết vẫn luôn luôn bức rức, là ngày sửa soạn về tỉnh lỵ để học tôi đã bán đi những con cá phi lớn, nhưng lại đổ ra đất cả một lu cá phi con, điều mà theo giáo lý nhà Phật là đã phạm tôi sát sanh. Ngày ấy còn nhỏ, tôi chưa biết gì, không biết tính ra tội nặng hay nhẹ?
    Tôi bắt đầu vào đệ ngũ với trường mới, bạn bè mới, thầy cô mới ở thị xã Bà Rịa sau một mùa hè chơi thả cửa, hết mình, ở dưới quê.
    Vũ nam
  13. Gần cuối mùa đông năm này, để trốn tuyết của vùng Trung âu, xứ Đức, tôi lấy một tuần nghỉ hè để đi thăm một người bạn đã hơn 20 năm rồi chúng tôi không gặp mặt. Bạn tôi định cư trên một hòn đảo nhỏ, Rodos, tận miền nam của Hy lạp, nằm cạnh lãnh địa của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi nước biển không che nổi những vạt núi hùng vĩ mang màu nâu nhạt, xứ sở một thời vó ngựa họ đến đâu mọi cây cỏ đều phải nằm rạp xuống, ngay cả vùng Nga, Ba lan... xa xôi vẫn có bước chân họ đến để gây chiến.
    Bạn đón tôi ở phi trường khoảng gần mười giờ đêm. Một phi trường nhỏ, nơi lối ra, đêm về ánh đèn hiu hắt làm tôi nhớ đến bài ca, từ giọng ca Phương Hồng Quế: Phố đêm đèn mờ hiu hiu chìm đắm trong hàng cây giá lạnh ước mơ... Vài ba chục hành khách hối hả ra tìm thân nhân đến đón. Tôi chẳng có gì phải đon đả, phải vội vàng. Tuổi trẻ của tụi tôi những ngày xưa là những ngày thật sôi động và vội vàng rồi! Tôi chậm rãi làm người rời phi trường sau cùng. Nhịp bước tôi đều đặn không mệt mỏi nhưng cũng không hân hoan. Sự trùng phùng của một khoảng thời gian hai mươi mấy năm qua vẫn không làm tôi tất bật, háo hức. Tự nhiên, tại sao tôi lạc loài đến một vùng Trung Âu trù phú? Tự nhiên bạn tôi, ở khoảng tuổi trung niên, lại trôi dạt làm ăn trên một hòn đảo nhỏ, cuối miền đông nam Địa Trung Hải, gần đảo Cyprus (Zyper), một vùng đãt được chia đôi, được quản trị tự do, nhưng vẫn còn thù hằn, còn chiến tranh giữa người Thổ và người Hy lạp. Và gần hơn nữa với hòn đảo bạn tôi đang cư ngụ là hòn đảo du lịch, đẹp, khổng lồ, mang tên Kreta, đã đi vào văn học với những cuộc tình của các cô gái Hy lạp.
    Mọi câu hỏi đều đã có lời giải đáp: từ sau ngày cuộc nội chiến chấm dứt ở giữa thập niên bảy mươi thì người Việt nam đã hiện diện hầu như khắp trên quả địa cầu. Từ vùng băng giá Na uy, Phần lan, Thụy điển..., chạy dài đến những nước trong Liên bang xô viết ngày xưa, kéo sang Đông âu, Tây âu, Nam âu..., đâu đâu lại không có người Việt đi xin tị nạn, đi tìm phương kế sinh sống. Từ Bắc mỹ xuống tới Nam mỹ. Từ Irak chạy đến Israel. Từ Đại hàn chạy qua Nhật bổn, đến tận Đài loan..., đâu đâu không thấy bóng dáng Việt nam, con người Việt nam thả trôi, lạc loài. Có những đời sống vinh hiển, công thành danh toại, con cái nên người, lại cũng có những đời sống, như những người ăn xin, những ‘doanh nhân’ đứng đường và những nàng Kiều thời đại. Nhớ lại lịch sử Việt nam thời đi học, tôi chưa thấy có thời kỳ nào mà dân Việt tích lũy được vốn liến kiến thức, kinh nghiệm của nhiều sắc dân trên thế giới -cũng như kinh nghiệm đau thương của chính mình trên những vùng đãt mới- nhiều như trong hiện tại. Nếu mọi người Việt lưu lạc đều có thể viết ra, chúng ta sẽ có một kho sách về gần hết mọi giống người, và mọi sự việc lớn nhỏ, vui buồn, ở mỗi con người tha hương của chúng ta.
    Thí dụ ở những chuyện vui như: những cô Hy lạp, thường mông hơi to, thường mủi cao nhưng hơi cong -như bạn tôi nhận xét-, nhưng tính tình đằm thấm hài hòa không gì tả nổi. Tóc nâu, mắt nâu, cái nhìn như phiêu bồng, lãng đãng những nỗi vui tình tứ. Phiêu lưu ở tận mọi nơi để sinh sống nhưng bao giờ các cô cũng lấy chồng là người đàn ông Hy lạp, dù Hy lạp có nổi tiếng là một quốc gia mà trong vấn đề Sex bao giờ cũng rất tự do, thoải mái và vui vẻ. Những người đàn ông Hy lạp dù to lớn dềnh dàng nhưng bao giờ cũng hiền hậu dễ thương-cũng do bạn tôi nhận xét-, không như những người đàn ông Thổ, đa số họ dữ dằn và dễ bị tự ái dân tộc làm họ trở nên thô bạo, quá khích. Nhưng đó là khi người Thổ sống ở xứ người. Chứ tôi nghe, núp sau những dãy núi đá trơ vơ, mùa đông cơ hàn lạnh thấu cả xương, còn mùa hè nóng đến chảy mỡ, quanh năm làm bạn với ngô đồng, với cừu, với dê, những người dân Thổ nghèo nàn và quê mùa ở đây họ rất hiền hậu, dễ thương...
    Và ở những chuyện buồn như: cuộc sống nơi xứ người, trên các nước giàu đối với người Việt không chỉ có bơ, sữa và mật, mà còn có sự buồn bã và hồ nghi, thất vọng. Đã có biết bao người đã tự tử, tù dạt? Bạn kể: Hy lạp là một nước không giàu lắm. Họ cho mình tị nạn là vì Liên hiệp quốc kêu gọi vào khoảng cuối thập niên bảy mươi. Họ nhân đạo nhận tượng trưng vài trăm, một ngàn người tị nạn từ các đảo ở Đông nam á, với hy vọng bổ sung công nhân cho những nhà hàng, khách sạn trên các hòn đảo trong những ngày hè ngập tràn du khách. Nên, vừa đặt chân đến Hy lạp là phải đi làm ngay. Nhà hàng. Không được một khóa học tiếng bản xứ. Không được một trợ cấp của chính phủ. Chỉ có người Hy lạp láng giềng tốt bụng cho bánh trái và quần áo ăn và mặc không hết. Ngày đầu vào làm cho một nhà hàng, cắt rau, xắt thịt, sai, bị xếp bếp chửi cho một trận bằng tiếng Hy lạp. Không hiểu nó chửi gì, chỉ nhìn gương mặt quạu quọ là biết nó đang chửi mình. Đêm về một mình tra từng chữ từ Hy lạp ra Anh ngữ để học, như học thi tú tài ngày trước ở quê nhà, với hy vọng ngày mai, tuần tới, biết mà giải thích cho nó nghe, hoặc ít ra cũng biết là nó chửi mình cái gì, để mà biết... nhục...vì làm thân ‘ăn nhờ ở đậu’ với người ta. Nhưng bây giờ thì bạn tôi rành lắm rồi. Từ những tiếng chửi nặng như Malakas Polis, đến những tiếng nịnh đầm như Esy Orea ( em đẹp lắm) cùng những tiếng yêu thương Sagapo polis (anh yêu em lắm) đã được bạn tôi sử dụng rất rành rẽ.
    Tôi gặp lại bạn tôi trong một bộ đồ hết sức là dân giả, làm ăn. Thời mà lúc nào đầu cổ và quần áo cũng bóng lộn với Honda trên đường phố Sài gòn đã qua rồi! Chiếc áo Jacket dài, cũ mèm. Mái tóc bù xù, và y như tôi, đã có màu bạc. Thời gian đâu bỏ xót một ai! Nhưng được là cả hai đều cười ngay cho một khoảng thời gian hai mươi mấy năm qua mà tưởng như trong khoảnh khắc. Vẫn có lúc mày tao. Vẫn có lúc tui ông. Vẫn cô này cô kia. Các cô bạn còn lại ở Sài gòn. Các cô gái của nhiều sắc dân ở đây. Vẫn cười ha hả. Tôi không thấy có gì khác lạ giữa một tình bạn lâu dài như thế. Tính tình bạn ngày xưa ra sao, nay vẫn vậy: cái nào bạn cho là cho, cái nào không là không. Một rất hào phóng. Một rất kỹ càng. Vẫn hài hòa trong bạn.
    Bạn kể, bây giờ trong mùa hè bạn ngược xuôi trên các đảo của Hy lạp -một xứ có nhiều đảo nhất thế giới- để làm nghề nhà hàng. Đảo nào kiếm ăn được, bạn đến, hết bạn đi. Vì ngược xuôi một mình như thế nên bạn đã có những ‘cô bạn gái’ từ nhiều giống dân khác nhau. Từ Phi luật tân xa xôi đến đây làm công. Từ Albani, Bungari, Đông âu nghèo khó, các cô gái trôi chảy về đây trong mùa hè để làm bar, làm khách sạn và làm..vui... lòng... cho khách du lịch thừa tiền dư của từ Trung âu như Anh, Đức, Thụy sĩ, Áo... đổ xuống. Nhìn, lúc thì bạn nói tiếng Hy lạp với người bản xứ, lúc thì nói tiếng Anh với các cô Phi, với người ngoại quốc. Tiếng nào cũng trôi chảy, rõ ràng bạn đã trở thành một ông chủ có rất nhiều triễn vọng để giàu to, nếu Trời Phật thương cho bạn.
    Tôi tự nhận bao giờ cũng là người thua xa bạn. Từ ngày xưa nơi quê nhà. Tôi từ quê về thành phố, trọ học trong nhà bạn. Một loại ‘lá chùm gửi’, tôi đeo theo bạn vài năm để học cho xong Trung học. Sau đó thì cũng phải chia tay. Rồi cách đây mười mấy năm, khi cả hai đều đã ‘xuất ngoại’, dò tìm địa chỉ, hai đứa lại liên lạc được với nhau. Cùng ở chung trong Âu châu, cùng trong khối Cộng đồng chung, nhưng mỗi đứa lại như ở ‘mỗi đầu giới tuyến’. Nơi tôi ở, ngược đời là những cô gái đa số có tóc nâu vàng-tôi có ý nghĩ giống như ánh nắng mặt trời- mà trời lại lạnh và mây mù chiếm hơn hai phần ba thời gian trong năm. Nước là hồ là suối, và những ngày tuyết tan vì nắng đã lên cùng hơi nóng đã lan, sau những ngày phủ tuyết. Nơi tôi ở, ít thấy mặt trời, quanh năm ảm đạm. Không phải là thời gian hè mà bãt chợt có một ngày nắng, và nóng, đã là lạ lùng, là kỳ kỳ rồi. Và con người. Đa số là lạnh. Không biết từ lúc nào tôi đã thâm nhập tự nhiên cái bản tính lạnh lùng của người bản xứ vào người. Có tốt không? Cứ cái gì cũng có luật. Cái gì cũng không cần tình cảm. Lấy luật mà chơi. Ai bây giờ nhìn vào xứ Đức cũng thấy. Trước đây gần hai mươi năm họ niềm nỡ đón tiếp người tị nạn Việt nam bấy nhiêu, để rồi bây giờ họ muốn tống xuất bấy nhiêu. Càng nhiều càng tốt. Hôm qua được tòa án cho tị nạn là hôm nay được cấp giấy phép, cấp nhà ở, và đầy đủ những trợ cấp như một công dân Đức. Hôm nay mà nhận được giấy phải rời khỏi Đức vì đơn tị nạn bị bát thì hãy chờ một sự tống xuất từ những anh cảnh sát rất ư là...! Đã nói, xứ của luật lệ mà!
    Ngày bước chân vào xứ Đức trong mùa hè, buổi chiều được vị giám mục đưa lên xe hơi, đi dạo cảnh. Trời mát và hơi lạnh, tôi thấy lòng mình rộn ràng với quang cảnh đồng quê vùng Trung âu này. Những đám ruộng, đồng cỏ xanh rì, chạy lượn uốn mình lên xuống, trong ánh nằng chiều vàng nhạt, cùng cơn gió heo mây. Những con bò ‘Hoà lan’ đứng nhơi cỏ. Những căn nhà có mái đỏ tươi như gạch cua chín... Hình ảnh mà hai mươi mấy năm ở quê nhà chỉ thấy qua sách báo và lịch treo tường. Phút chốc thấy được hình ảnh thật hỏi sao lòng không nao nao, hạnh phúc? Khi mùa đông đến. Khi nhặt những bông tuyết rơi thật sự đầu tiên trong đời, cứ y như là được chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên thuở cái tuổi mười hai lí lắc, nhỏ dại. Nhưng dần dà, khi mùa đông về, và mỗi năm đều bắt buột phải nhìn lại bầu trời và quang cảnh mang màu chì và trắng như bông gòn, dù công nhận tuyết phủ tuyệt đẹp trên các cành cây và từng cánh hoa đồng cỏ nội, tôi cũng cảm thấy từ từ được sự giá băng nào đó trong đời sống ở đây rồi! Ngoại cảnh cùng ngay cả trong tâm hồn.
    Nhưng cũng nên biện minh cho nước Đức một chút. Ở đâu lại không có người xấu kẻ tốt? Nước Đức, vì nghĩ đã có những lỗi lầm trong quá khứ, nên hiện tại không phải họ là những người giúp đỡ nhiều nhất cho những vùng đau khổ, những cơ quan từ thiện đó sao? Và khách quan mà nói, những người Đức chăm lo vì đạo, một lòng vì đạo-Tin lành và Thiên chúa giáo- thường là những người rất tốt đối với ngoại nhân.
    Trong mỗi bức thư , trong mỗi lần điện thoại, bạn tôi cứ một mực rủ tôi sang thăm, bạn bao tất cả- tôi lại cũng tiếp tục thua bạn nữa rồi! Nơi bạn ở, các cô gái tóc lại nâu đen - cũng đúng thôi vì xứ có nhiều ánh mặt trời. Nơi bạn ở, vùng nước biển mênh mông, màu xanh và những chiếc tàu làm đời sống. Nắng tràn lan quanh năm. Mùa đông không lạnh lắm, mà mùa hè nóng cũng không có gì là dữ dội. Tuyết cũng không mà băng giá cũng không. Và một điều trái ngược nữa là. Ngày xưa bạn đâu biết nấu ăn. Bây giờ ngoài việc làm chủ nhà hàng, bạn còn biết làm những món nhậu đắc ý nhất, biết thưởng thức những thứ rượu ngon nhất.
    Cứ mỗi buổi chiều, khi bạn bắt đầu bận rộn trong nhà hàng, tôi một mình tản bộ đi dọc bờ biển. Trông xa xa giống như quang cảnh ở biển Vũng tàu. Biển nơi đây trong mùa đông còn yên vắng. Không có bóng một người con gái nào đang mặc Bikini để tắm. Không một người đi dạo. Nắng chiều, sóng và gió hài hòa, trang trí, làm đẹp cho nhau. Thỉnh thoảng gặp một bác Hy lạp già nua ngồi quăn câu và chờ cá.
    Gần hai mươi năm rồi tôi xa những con sóng biển nơi tôi chào đời. Xa những đồi cát trắng chạy dài đầy những chú còng con, tưởng chừng như không nghĩ sẽ có ngày gặp lại. Xa những ngọn núi mang mầu xanh đậm đứng sừng sững bên con đường làng. Xa những người dân chài lưới quanh năm với chỉ vài tấm lưới, mà lại bận bịu cả một bầy con! Tôi lạc loài nơi đây cùng các chú hải âu với gương mặt dáo dác khi bắt gặp một người lạ mặt lạc loài trong những chiều hôm như thế. Tôi lấy máy chụp hình, bấm lên ghi nhận lại hình ảnh về chiều, xa xa, cách một vùng biển lớn, vẫn là những dãy núi xa mờ của một Thổ nhĩ kỳ với những điệu dân ca réo rắt, buồn buồn. Ghi nhận vài hình ảnh về các chú hải âu xa lạ. Ghi nhận lại một hàng nhà cửa giống nhau, mộc mạc nghèo nàn dọc theo một con đường, của người Thổ đã định cư lâu đời nơi đây, trong một cuộc chiến mà dân tộc họ đã chiến thắng dân tộc địa phương ở đây. Cho đến tận bây giờ, người địa phương Hy lạp vẫn mở rộng vòng tay để nhận những người Thổ đã lạt loài theo đoàn quân chiến thắng của họ đến đây, từ cuộc chiến đâu mấy trăm năm về trước.
    Trước đây không lâu, dù chưa được thăm Hy lạp, nhưng tôi cũng đã từng yêu mến giống dân này. Họ đến làm ở trên nước Đức rất đông. Họ không dấu diếm rằng nước Hy lạp là một nước nghèo, không có nhà máy nhiều, mà chỉ sống bằng du lịch và nông nghiệp. Bởi vậy họ mới đến Đức tìm việc làm. Tôi đã từng có cảm tình và yêu mến những đôi mắt của các cô gái Hy lạp. Những đôi mắt trông vời vợi, xa xăm, nhưng đẹp. Tôi lại thích loại bánh mang tên Kurabiye mà mỗi khi các cô về nghỉ hè hay mang sang cho các bạn đồng nghiệp trong hãng ‘ăn cho vui’. Loại bánh nho nhỏ, bên ngoài phủ một lớp bột trắng tinh , còn bên trong có để một hạt dẻ Hy lạp để ăn cho thơm và béo. Tôi cũng thích cái tính tình vui vui, khi một cô gái Hy lạp mang về tặng cho ai đó trong hãng một tặng phẩm bằng nhôm nho nhỏ, là người đàn ông trần truồng, với bộ phận sinh dục to lớn cùng màu sắc sặc sỡ -loại này bán rất nhiều trong các cửa hàng du lịch ở Hy lạp, ngay cả những tặng phẩm là một đôi nam nữ đang trần truồng làm tình. Họ tặng rồi cùng nhau cười cho vui. Cho qua những lúc mệt nhọc ở hãng.
    Đến Rodos tôi được bạn đưa đi dạo Cổ thành Rodos, mà bạn tôi cười cười và nói: Phải đi chào Nữ thần Rodos! Tôi tiết là chưa thấy được Cổ thành Quảng trị để so sánh ở đây. Cổ thành to lớn, chạy dài và rất cao. Nghe nói xưa kia chỉ bằng tay, không có máy móc, họ đã xây dựng Cổ thành này. Nghe phong phanh nói rằng Cổ thành này, lúc tạo dựng, không phải do ý kiến của người dân Hy lạp. Họ xây dựng Cổ thành y như là những tên nô lệ. Trong một cuộc chiến tranh chinh phạt nào đó ở miền nam, khi đoàn tàu chiến của một vị vua xứ Trung âu, có thể là Pháp với hoàng đế Nã phá luân, về ngang qua đây họ khám phá ra Rodos, dùng sức mạnh chiếm đóng và bắt dân địa phương nai lưng làm Cổ thành này, để phòng thủ chống lại với quân lính của chính quyền trung ương Hy lạp, ở Athen. Thấy Cổ thành hay hay, người dân Hy lạp giữ làm di tích và trùng tu để ‘câu’ khách du lịch. Cổ thành rất rộng ở bên trong. Xem chừng dân cả phường, cả xã có thể ở được. Các lối đi đều được trải lót bằng những viên đá tròn trịa, nho nhỏ, màu thẫm đen. Trong Cổ thành đầy những phòng lớn nhỏ. Chắc là ngày xưa, phòng vua chúa, quan quân và cung tần mỹ nữ đều được phòng thủ chặt trong này. Và hiện nay, hàng quán du lịch, nhà ở, cả những khu gái điếm, đèn đỏ đèn xanh, cũng nằm chật kín bên trong.
    Lựa một ngày có nắng, trời mát dịu, bạn đưa tôi lên xem trên đỉnh núi Folimot. Đỉnh núi cao, có nhà thờ lớn và cây thánh giá thật to. Từ đây nhìn xuống sẽ thấy được một phần lớn quang cảnh, phố xá của đảo Rodos. Nghe nói, đôi tình nhân ngoại quốc nào du lịch đến đây, nếu sắp gần đến ngày làm lễ Hỏi, sẵn dịp, họ đều lên trên ngôi thánh đường cao trên đỉnh núi này để cử hành cuộc lễ. Họ tin vào một phép mầu nào đó ở đây, cho cuộc tình họ được muôn đời bền chặt. Một niềm tin thật tốt đẹp!
    Tôi còn nghe được bạn kể, ở Rodos vào tháng bảy, ngày hè, có những vùng rộng lớn toàn là bướm và bướm. Không biết tại sao, và từ đâu chúng sanh ra, đổ về đây với muôn màu và tung tăng bay lượn. Chắc là như những ngày hội hay ngày Tết ở xứ mình. Lễ Đền Hùng. Đi Chùa hương. Tết Nguyên đán. Cũng đông và mặc quần áo đẹp như bướm vậy.
    Ngoài ra tôi còn nghe kể về làng Treo cỗ Kemmati, về dấu tích của bức tượng người đàn ông trần truồng, thật khổng lồ, nếu không bị động đãt chôn vùi khoảng hai trăm năm trước Tây lịch, có lẽ nó đã được xếp vào một trong những kỳ quan của thế giới. Và nghe nói Rodos cũng đã từng bị động đất chôn vùi, và sau đó lại lại nổi lên.
    Ngày cuối cùng trước khi lên phi cơ về lại Đức vào chín giờ đêm, tôi đi dạo phố một lần cuối. Nắng vàng rực rỡ trong ngày. Tôi chụp hình lấy những khách sạn to lớn, với nhiều kiểu đẹp. Chóp ngôi thánh đường đạo Hồi ngất ngưởng, nhưng cô đơn, trong xóm vắng người Thổ. Chụp những hàng cá mực tươi rói được dựng dã chiến bên đường để bán cho khách vãng lai. Chụp những chiếc xe lên xuống đồi phản chiếu đầy những ánh nắng như kim tuyến. Tôi thấy ngày hôm ấy nắng thật đầy, khung cảnh thật ấm, nhưng vẫn ngậm ngùi nói với lòng rằng nắng nơi đây cũng là nắng ấm, nhưng ấm sao bằng nắng ấm Quê hương.
    Bạn đưa tôi trở lại phi trường khi màn đêm đã phủ dày bên ngoài. Nhưng lạ, khu dành cho khách lên đường rời Rodos lại sáng rực với những ánh đèn néon, không như khu đến với ánh đèn vàng vàng, nhàn nhạt -có lẻ ở khu đến, vì khi đến nơi ai cũng lo đi ra cho lẹ, để ý làm gì đẹp hay xấu, nhiều đèn hay ít đèn, nên chính quyền ở đây không muốn xây dựng đèn xí chi cho nhiều, chỉ sợ phí phạm. Khu đi cũng có hàng quán rất sang trọng. Chúng tôi ngồi với nhau bên hai tách cà phê để chờ giờ lên phi cơ. Cho đến giờ phút này bạn hoàn toàn không biết tôi là người mà khi có chút ít thì giờ rảnh thường dùng vào việc viết văn, thơ. Tôi cũng không muốn tiết lộ cho bạn biết làm gì. Nhưng nhìn trong ánh mắt buồn buồn của bạn, khi sắp phải chia tay với tôi, cùng câu nói: ‘Ở ngoài này bây giờ, bạn bè thì chỉ còn hai đứa mình là liên lạc với nhau, chớ mấy thằng khác thì đâu mất tiệt hết rồi, nên mình cố gắng mà giữ liên lạc! Khi rảnh rang bay xuống tui chơi. Tui bận rộn quá ông thấy không! Có dịp tôi cũng sẽ qua Đức thăm ông và gia đình. Về đến nơi điện thoại liền cho tui!’, tôi ngẫm nghĩ, chắc rồi có dịp cũng sẽ viết ít hàng về bạn trên báo, như là để kỷ niệm một chuyến đi.
    Dự báo thời tiết, theo tôi biết, khi về đến Đức tôi sẽ bắt gặp ngay một bầu trời đầy mây mù, vẩn đục, và nhiệt độ có lẽ chỉ trên dưới không độ. Nhưng sao, dù sợ cái lạnh trong ngày mai khi mình phải gặp lại bởi làn da bên ngoài, nhưng hiện tại trong lòng tôi lại thấy ấm áp vô cùng.
    Nếu một ngày nào đó, tình cờ bạn đọc được những dòng chữ này, chắc bạn cũng chỉ biết ngâm nga lại câu thơ của một vị tiền bối: € há.Bác (đã) đến chơi đây ta với ta.

    Vũ Nam
  14. Khoảng những năm 70, 71, 72 khi đang học ở Sài Gòn, thỉnh thoảng Thành hay về thăm quê vài ba ngày vào dịp cuối tuần cộng những ngày lễ của quốc gia như lễ Quốc Khánh, lễ Hai Bà Trưng, khi tất cả các trường trên toàn miền Nam đóng cửa để nghỉ lễ. Nghỉ vài ngày dưới quê, cũng làm người học trò thành phố như có thêm "nhiệt" để trở về Sài Sòn mà cố gắng học hơn.

    Quê Thành là một làng cạnh biển, nhưng chỉ chừng hai ba cây số đã có những cánh đồng trồng lúa, rộng. Lội bộ khoảng nửa giờ trên những con đường đất, qua những đồi cát trắng, những ngôi mộ, rừng chồi miền biển, dưới tầm nhìn sẽ là những ao sen, cây bình bát, những bụi cây và cánh đồng lúa lúc xanh lúc vàng tùy theo mùa. Nhưng vào thời này, Thành không còn làm theo như thời nhỏ dại nữa là sẽ cùng các bạn đi chăn bò không công cho người ta, bắt cá đồng nướng, bắt cá lia thia về đá vào những ngày cuối tuần trong những ngày hè, nghỉ học dài hạn. Bây giờ ở tuổi 16, 18 Thành chỉ còn về quê là để thăm cha mẹ, chị em, bà con làng xóm.

    Bạn bè dưới quê bây giờ cũng vậy, đã thay đổi hết rồi. Thành nghe tin có thằng đi lính Biệt Động Quân, nhưng cũng có thằng vào rừng làm "cách mạng". Chưa biết ngày sau sẽ ra sao, nhưng đường ai người nấy cứ đi. Còn riêng Thành được học, cứ học. Cũng không ngờ được, chỉ khoảng chín mười năm trước đây, chín mười tuổi, cùng học cùng chơi, cùng bị thầy đánh đòn vì một tội chung nào đó, giờ hai thằng, bốn thằng đã đứng hai bên chiến tuyến, gặp mặt có thể nổ súng bắn nhau như thường.

    Mỗi khi nghỉ học về nhà, thú vui nhất của Thành là trưa đi tắm biển, nhưng không như hồi nhỏ cùng lũ bạn bơi sát cạnh những chiếc xuồng đang neo, leo lên xuồng nhảy cắm đầu xuống nước, rồi bơi vòng lại leo lên, hay lấy những miếng ván nhỏ trên xuồng đem xuống để lượn với sóng biển, nằm trên những con sóng lớn từ xa đánh ụp đẩy vào bờ. Bây giờ lớn rồi, Thành ngại nơi ồn ào nên thường đi khỏi làng một chút, về phía núi, xa nơi làm biển. Xa những chiếc xuồng đang đậu trên bờ sau một ngày đi làm về. Xa những chú bác anh chị đang ngồi trên những chiếc xuồng để vá lại lồng lưới vừa rách, chuẩn bị lưới cho ngày hôm sau, ra khơi đánh cá. Nằm một mình trong dòng nước, ngâm mình trong làn nước biển, Thành như có ít giờ phút thoát khỏi sự ràng buột với đời sống, ít ra là thoát khỏi không khí ồn ào ở thành phố và những bài học ở trường. Xa xa trước mặt là dãy núi màu đen đậm, xen lẫn trong núi có những tảng đá thật lớn màu trắng. Sau lưng là làng chài lưới của Thành, những mái tranh mái ngói đỏ khít khao và những chiếc xuồng, chiếc neo trên nước, chiếc đậu trên bờ, với những cây cờ hiệu màu đen trắng, hình ảnh rất quen thuộc, rất quê hương, mà khi nhắm mắt lại vẫn như thấy rõ ràng trước mặt. Thành không vẫy vùng bơi lội như thuở nhỏ, anh chỉ trầm mình trong nước, vẫy tay nhẹ nhàng trên ngọn sóng nhỏ, bờ môi thắm mùi mặn của nước biển, và nhận biết đây là quê nhà.

    Khi trời xế bóng, Thành đi dạo thăm nhà những người dì, người cậu đang làm biển. Hỏi thăm gia đình cậu dì lúc này làm ăn ra sao, biển cả thế nào. Cậu dì, người quê mùa, biển giả, hiền thục chân chất, có sao nói vậy. Xổng, xuồng đánh cá, ngày được ngày không. Bạn đi biển, người nghèo không có "tiền cử" phải cầm lưới, cho con đi ở. Chủ xuồng, người làm lên, làm thêm xuồng mới, lại thêm muối cá đi bán ở Sài Gòn... Thành, mày về chơi bao giờ mới đi?... Biển cả bây giờ làm ngày nào ăn ngày nấy thôi con à!... Trời mấy bữa nay thổi quá, xuồng nằm bờ hết!... Thằng Hải con thằng Tám vừa bị chết đuối tuần trước, mày có hay chưa?... Qua những lời cậu dì kể Thành cũng có được bảng tóm tắt tình hình ở làng.

    Những năm này, ba má đã lớn tuổi, ông bà để quán lại cho người chị Hai của Thành, vừa làm thợ may, vừa buôn bán. Ba về trên thị xã ở với chị Ba đang làm cô giáo dạy tiểu học. Hằng ngày ông vô khu vườn của ông để trồng những cây táo, ổi bom, mãng cầu, mít, bắp, khoai… mãi chiều mới về nhà. Do giặc giả, ông bỏ khu vườn rộng ở dưới quê mà ông đã đổ ra biết bao nhiêu tiền bạc và công sức để săn sóc, trồng trọt, bây giờ trắng tay. Nay, mảnh vườn nhỏ nằm ranh thị xã, còn an ninh, ông lại lần nữa trút xuống những lao lực sau cùng, với hy vọng có được hoa trái sau này cho con cháu, cũng có thể là mảnh đất sẽ ôm thân xác ông, nếu một ngày nào đó cái chết đến bất chợt với ông nơi đây. Má ở với chị Hai, phụ giữ nhà khi chị đi chợ hoặc bán hàng. Thỉnh thoảng má mua cá biển, ngồi xe đò 15 cây số lên thăm chồng con, nấu cho chồng con một buổi cơm với cá biển tươi, sau đó lại quẩy vài trái mít, chục bắp từ vườn ba về quê cho chị Hai.

    Thời này dưới quê đã lộn xộn, nên chiều tối Thành hay chạy xe Honda về nhà chị Ba trên thị xã để ngủ, sáng mới chạy xuống làng lại. Bạn bè, thằng tình nguyện đi Việt Cộng, thằng bị bắt đi dân công, muốn trốn về mà trốn chưa được, nghe nói có thằng đã bị bắn chết... Nhiều chuyện quá, nên bà già và chị Hai không cho Thành ngủ lại đêm ở dưới làng. Lỡ có chuyện rồi sao. Làm sao mà đi học lại được. Chịu khó về trên chị Ba mày ngủ đi con, sáng mai rồi xuống. Má Thành hay kêu như vậy khi trời gần chiều.

    Về nhà hai ba ngày vào những ngày lễ lộc thường Thành hay ở nhà với bà già. Phụ chút gì được cho má Thành phụ. Rảnh rang Thành sang thăm những nhà hàng xóm chung quanh. Ông bà Bổn, làm nghề đẻo đòn gánh ở căn nhà lợp lá dừa xéo xéo trước nhà Thành. Ngày nhỏ khi chơi trò bắt cứu, Thành hay chạy quanh nhà ông bà để đi trốn. Hai ông bà không có con, ở với nhau mấy chục năm trời. Bà trắng hồng còn ông thì đen đúa, cả hai đều còn khoẻ mạnh. Ông hút thuốc dấn, răng rụng gần hết, có hai cái răng cửa lớn màu vàng khói thuốc nhô ra ngoài. Ông để râu dài, lưa thưa, khi cười Thành thấy nét ông rất nhân hậu.

    Nhà bà Ba ngay trước nhà Thành, bà ở với đứa con gái, thím Mười Quăn, và các cháu, chuyên nấu chè đi bán: Chè đậu xanh, chè bông cỏ hột lựu. Cứ buổi trưa sau giờ cơm, thím Mười và các cô con gái, mỗi người với một chiếc nón lá, một gánh chè, túa đi ra các con đường làng để bán, chỉ còn bà Ba ở nhà lo dọn dẹp. Cô Tám cạnh nhà mé bên phải, chuyên xẻ cá phơi khô và làm kẹo dừa, người làng hay kêu là cô tám Kẹo.

    Nhà thím Bảy (cứ kêu vậy chớ không có bà con) phía trước, xéo nghiêng nhà Thành, có con đi biển kiếm cá, có con vào đồng làm ruộng kiếm lúa. Chú Bảy chết lúc Thành khoảng mười tuổi. Chú bị ho lao, mấy năm mới mất. Những ngày chú mang bịnh ho lao, thời tiết buổi sáng mùa đông ở làng hơi lạnh. Chú ra khỏi nhà hơi sớm, lấy rơm nhúm lửa đốt lên, một mình ngồi sưởi, cạnh mấy con bò. Thành và vài thằng bạn, vừa thức dậy, hể cứ thấy chú Bảy đốt rơm là đến gần, ngồi chồm hỗm, hai bàn tay úp lại kẹp giữa hai đầu gối chân, vừa ngồi hơ cho ấm vừa phụ chú lấy rơm bỏ vô lửa. Lửa cháy bằng rơm đỏ rực, nhưng cũng đầy khói. Buổi sáng yên gió, khói bay theo một đường thẳng lên cao. Mặt chú trắng bệt. Thân thể ốm nhom. Thỉnh thoảng chú khạt một cục đàm xanh rì ra trên trên đất. Biết chú bịnh ho lao nhưng không ai sợ để tránh xa, vì thấy chú cứ ở trong nhà với vợ con, chớ có đi ở riêng ở nhà thương đâu. Những ngày chú còn mạnh, cuối tuần, sáng sớm Thành hay nhảy lên xe bò với các con của chú để vô ruộng. Vô đến ruộng vườn chú, tụi Thành và mấy đứa con trai của chú mặc sức mà chơi những trò chơi đồng quê, đến trưa chú kêu cho ăn cơm. Dưới các ao, lúc này ốc ruộng nằm đầy nhưng không ai bắt ăn, cua đồng cũng không thiếu gì trong các đám ruộng. Nếu bắt ăn tụi Thành thường bắt cá lóc cá rô, để nướng với rơm. Còn chơi, trên cây đầy những con bọ rày, cứ bắt cột dây rồi cho bay vòng vòng dưới những cành cây. Tình cảm với chú đã có từ trước, nên hôm chú mất Thành cũng rất buồn. Dì Bảy ở vậy nuôi con từ đó đến nay.

    Bác sáu Hợi, cạnh bên trái nhà Thành có chiếc xe đò chạy chở khách từ làng lên quận và ngược lại. Bác già rồi, xe để cho con trai chạy. Bác bị mỏi gối, dân tài xế mà, nên bác cũng hay kể những chuyện tình lăng nhăng hồi còn làm tài xế chạy xe, cho vài người đang ngồi trong quán nghe. Khi đến quán ba Thành uống nước giải khát, uống cà phê, bác hay gát luôn hai chân lên bàn. Bàn chân cạnh ly cà phê, bác giành luôn một bàn. Lâu dần cũng quen nên ít ai nói gì. Không bao giờ Thành nghe ba Thành phàn nàn về việc này. Với người làng thì không nói làm gì, ngay cả chiều chiều, khi có các anh chị đào kép cải lương vào quán ba uống nước, ở một bàn khác bác Sáu vẫn để chân trên bàn. Hồi đó, đào kép về làng Thành hát, thường họ cũng nể dân làng lắm, vì biết dân làng đúng là dân mê cải lương, và cũng là nơi đã sản sinh ra được Thanh Sang, đang hát trên những đại ban ở Sài Gòn như Dạ Lý Hương, với vai Kiêm Sư Mao Tạ Tốn, Thanh Sang nhận được cả Huy Chương Vàng.

    Chị Hai của Thành kể, hồi nhỏ Thanh Sang lớn hơn chị vài tuổi, nghỉ học sớm, cùng đi kéo lưới dùn và chia cá với chị mỗi ngày. Lưới dùn ở quê Thành là tấm lưới rất lớn. Xuồng chạy bỏ ngoài xa, chỉ đem hai đầu vô bờ, cách khoảng 50 đến 100 mét. Mỗi đầu chắc cũng có khoảng 15 đến 17 trai gái trẻ và người lớn cùng kéo tấm lưới khổng lồ này vào bờ. Hồi đó cá gần bờ nhiều, người sắm lưới dùn có ăn, sau này cá ít, lưới dùn đã bị giẹp hết. Nhà Thanh Sang ở cạnh rạp hát, Thanh Sang có giọng ca hay, lại đẹp trai nên sau đó đã đi theo đoàn hát khi có một người nào trong đoàn cải lương rủ rê. Được tổ cải lương đải Thanh Sang lên như diều gặp gió. Mỗi lần đoàn hát có Thanh Sang về hát, bà con đi coi chật rạp, bầu gánh rất vui. Một lần đoàn Song Kiều có Thanh Sang làm kép chánh về, Thành được cùng ông bà già coi Thanh Sang hát trong dịp này. Lúc này Thanh Sang đã có vợ, cô cũng là đào chánh trong đoàn hát, rất đẹp. Nghe kể nghệ sĩ Thanh Sang rất bình dân, sau giờ hát, thường ra thăm các bạn cùng thời đi biển hồi nhỏ và nhậu cũng không thua gì các bạn dân biển.

    Quán chị Hai của Thành bây giờ bán chủ yếu là cà phê, nước chanh, nước ngọt Xá xị, Limonat và bánh kẹo, như bánh tiêu, bánh hạnh nhơn, kẹo mè thửng… Còn ăn chính hình như chỉ có hai món là trứng gà ốp-la ăn với bánh mì và mì gói trụng nước sôi. Nhưng hai món ăn thường là bán cho lính. Những anh lính Địa Phương Quân, sau một đêm nằm kích giặc, sáng ra, trước khi di chuyển nơi khác hoặc về đồn hay tạt qua quán „chị Hai“ uống ly cà phê, ăn một tô mì hay dĩa hột gà ốp- la với bánh mì. Các anh lính ít khi trả tiền mặt, chỉ ký sổ, tới đầu tháng lãnh lương thường các anh tự đến trả, nhưng có những trường hợp chị Hai phải đi đòi. Người thiếu cứ thiếu, người bán cứ bán và cứ trả cứ đòi mỗi đầu tháng. Cho đến ngày 30 tháng 4 nghe chị Hai nói nhiều người lính còn thiếu nợ chị, nhưng „tan hàng“ hết rồi giờ biết các chú lính ở đâu mà đòi.

    Ngồi tụm năm tụm ba quanh bàn uống cà phê, Thành nghe có anh tâm sự với chị Hai: „ Đầu tháng, trước khi đi ra đảo em cố gắng thanh toán tiền thiếu với chị. Đổi ra thay thế ở đảo Trường Sa tới ba tháng lận. Chừng nào trở về còn đóng quân ở đây thì nhờ chị lại“. Chị Hai hay vã lã để làm vừa lòng khách, nhưng lòng mình lúc nào cũng lo:“ Nếu không có tiền chú cứ đi đi, mai mốt về lại đất liền rồi trả cũng được. Ở đảo có gì đâu để tiêu xài, sau ba tháng về lại đất liền các chú dư tiền nhiều lắm, lúc đó trả chị cũng được “. Còn những anh lính đã đi Trường Sa về kể lại, ở ngoài đảo thiếu vợ, thiếu rau hay thiếu cái gì chớ trứng chim không thiếu. Chim biển đẻ trứng, lấy ăn không hết.

    Thành với những anh lính Địa Phương Quân này, tình cảm không dồn dập nhưng cũng không thấy xa cách. Các anh là quân nhân, gió sương chết chóc đã thử đã qua. Quần áo các anh đồng một màu xanh rừng núi, lỉnh kỉnh đạn súng đầy người. Các anh có những phút giây vui đó, cười nói hớn hở đó, nhưng rồi có thể lại buồn ngay vì hay tin người bạn nào đó vừa chết trong một trận bị phục kích. Các anh tìm làm quen, yêu các cô gái địa phương vội vàng, vì sợ ngày mai phải đổi đi nơi khác, hay cũng không còn có dịp nữa nếu đêm nay phải nằm xuống cho quê hương! Còn Thành là học sinh, quần xanh áo trắng, trên mình với cuốn tập cây viết và những mối tình học sinh cỏn con, e ấp. Cuộc sống bình yên ở thành phố. Tự màu áo và sinh hoạt đã có sự cách biệt. Dù từ nhỏ, sống ở làng, Thành đã trải qua những lần đồn của các anh lính Địa Phương Quân bị địch tấn công. Tiếng súng đùng đùng. Khi vang vội chác chúa liên tục, khi lẻ tẻ. Tiếng đại bác được bắn từ quận, bay ngang nhà dân kêu réo réo, đến rớt ở cuối làng, nổ một tiếng ầm, thật lớn. Nằm dưới hầm, nhưng khi nghe vẫn giật mình. Hoả châu soi sáng trên những đồn đang bị đánh suốt đêm. Sáng ra mới biết, các anh ở đồn xóm dưới đã sống qua một đêm thử lửa với địch. Có khi trong đêm nghe tiếng súng vọng về từ xa xa, sáng ra mới hay tin đồn xóm trên lính đã bị giết hết. Thành đến xem thấy bao cát xanh quanh đồn bị rách tung toé vì đạn, vết máu còn để lại màu trên cát biển quanh đồn. Tuổi trẻ và chiến tranh cứ thay nhau đi vào cuộc đời và tiềm thức Thành. Như cuốn phim cứ quay và cứ để vào hộc tủ. Có dịp sẽ lấy ra xem. Thời nhỏ, Thành cũng đã có lần thấy xác chết của lính Địa Phương Quân, thấy bao lần xác chết của phe bên kia. Dù vài lần nhưng cũng đủ hình thành trong đầu Thành những dâu bể, tang thương của một đất nước trong chiến tranh. Tuổi thơ Thành, màu áo lính thấy rất thường, còn màu áo Việt Cộng, thì thỉnh thoảng, khi họ về làng sớm, qua ngang nhà dân vào những buổi chiều còn ánh mặt trời. Vùng sôi đậu. Khi thấy họ về, mọi nhà đều lo đóng cửa sớm chuẩn bị xuống hầm, vì sợ hai phe đụng lộn bất thình lình.

    Và vì thế, để giữ Trường Sa các người lính Địa Phương Quân thời trước bảy mươi lăm cứ thay phiên nhau. Ba tháng ở đảo, rồi vào đất liền, đổi ca. Và chị Hai của Thành trong lòng cứ lo những món tiền thiếu chưa thanh toán trước khi các anh lính ra đảo. Nói nào ngay nhờ các anh lính, chị cũng buôn bán được và chuẩn bị được ít vốn liếng cho gia đình sau cuộc đổi đời bảy mươi lăm.

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 75, khi là người lính trở về, Thành đã nhờ hai chị rất nhiều. Chị Hai lúc nào cũng cho tiền cậu em sài, còn chị Ba thì lo cơm nước. Thấy em thua thiệt, chị Hai chịu không được nên cho tiền để em sài và mua mua sắm đồ cần dùng. Còn đường sữa, nhu yếu phẩm thời Bao Cấp chị Ba lãnh về, đứa em cũng "ké" được đôi chút. Ba má đã lớn tuổi, cũng sống nhờ với gia đình hai chị. Chị Hai cứ tiếp tục may vá, bán quán với má. Chị Ba cứ dạy học, làm vườn thêm với ba, cuộc sống gia đình cứ thế mà trôi đi trong những ngày khổ này. Sau đó Thành, qua những ngày đầu vất vả, cũng tìm được việc làm để tự lo cho mình trong tình trạng đất nước chưa thấy có chút ánh sáng nào.

    Còn một vài cô bạn gái dưới làng của Thành có chồng là lính Địa Phương Quân, sau ngày "tan hàng" đã theo về quê chồng. Thành nghĩ, chắc các cô cũng phải chịu một nắng hai sương bên nhà chồng, vì chồng là lính. Cũng có vài anh lính ở lại quê vợ, làm biển tạo dựng gia đình bằng những lần ra khơi đánh cá.

    Sau bảy mươi lăm vài năm, ngồi xem truyền hình trắng đen 9 inch trong nhà chị Hai, thấy Thanh Sang, vai Thi Sách, hát với Thanh Nga trong vỡ tuồng Tiếng Trống Mê Linh. Giọng Thanh Nga sang sảng khi nói với những người Tàu đang xâm lăng VN: "Hỡi lũ giặc xâm lăng…." Lúc này Thanh Sang đã quá nổi tiếng rồi, trên đoàn Thanh Minh Thanh Nga, trong những vở tuồng như Bên Cầu Dệt Lụa, vai Trần Minh, vở Kiều Nguyệt Nga v.v… đã làm khán giả nức lòng khen ngợi. Sau đó Thanh Nga bị giết ở Sài Gòn sau một đêm hát mà ai cũng biết. Đám tang Thanh Nga, qua báo, qua truyền hình Thành thấy Thanh Sang đã khóc.

    Ôi, không bao giờ hy vọng làng quê Thành sẽ có một Thanh Sang thứ hai nữa nếu ngày nào Thanh Sang hiện nay không còn nữa, nhưng Trường Sa hy vọng mãi mãi là của Việt Nam, sẽ không bị mất và các anh lính, thời nào cũng vậy, phải thay phiên nhau mà ra bảo vệ vì đó là của đất nước mình. Ngày trước ra đảo, rảnh rang đi hốt trứng chim mỗi ngày, bây giờ chắc không còn được như vậy, mà từng giờ từng phút phải coi chừng tàu lạ, bỗng dưng ở đâu từ xa lù lù kéo đến.

    Vũ Nam (Đức Quốc)