Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Một ngày rất ngắn , ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn

    [​IMG][​IMG]Một năm thật ngắn , ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu

    [​IMG][​IMG]Một cuộc đời rất ngắn , ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi

    [​IMG][​IMG]Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn , cho nên chúng ta phải học cách trân trọng , trân trọng tình thân , tình bạn , tình đồng chí ,tình bạn học, tình đồng nghiệp ...

    [​IMG][​IMG]Vì một khi đã lướt qua , thì khó có thể gặp lại

    [​IMG][​IMG]️Sau 20 tuổi thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng

    Sau 30 tuổi thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao

    [​IMG][​IMG]️Sau 40 tuổi thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau , học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

    [​IMG][​IMG]️Sau 50 tuổi thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tang nhang .

    [​IMG][​IMG]️Sau 60 tuổi thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.

    Sau 70 tuổi thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi .

    [​IMG][​IMG]️Sau 80 tuổi thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.

    [​IMG][​IMG]️Sau 90 tuổi thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện ấy nữa .

    [​IMG][​IMG]️Sau 100 tuổi thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì

    [​IMG][​IMG]CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU

    [​IMG][​IMG]NHÌN RA , HIỂU ĐƯỢC , THẤU HIỂU RỒI ,CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ .

    [​IMG][​IMG]TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ CÓ ĐƯỢC , TÌM LẠI NHỮNG THỨ ĐÃ MẤT
  2. Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Lấy vợ lấy chỉ một ... người thôi sao?
    Ông Giời nói nhỏ thì thào
    Một vợ, nhưng có... nhiều đào "ô kê"!

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Con gái dưới thế dạo này... chảnh ghê
    Ông Giời giận quá đập bàn
    Nó chảnh, kệ nó mắc gì hỏi tao

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Vợ con dữ quá tối ngày đánh con
    Ông Giời ổng trả lời rằng
    Mày ngu mày chịu hỏi gì nơi tao?

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Ðời con đau khổ đã nhiều .... thấu chăng?
    Ông Giời cúi mặt than rằng
    Tao đây cũng khổ, cắn răng chịu đòn!

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Vợ con nó quái, dữ như bà chằng
    Ông Giời ổng trả lời rằng
    Vợ tao còn dữ gấp trăm vợ mày

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Kiếp này con có bỏ nàng được không
    Ông Giời ổng trả lời rằng
    Tao còn chưa được... xá chi là mày

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Vợ con dữ quá, con xin bỏ nàng
    Ông Giời ngó xuống trả lời
    Mày bỏ được nó thì tao... con mày

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Bấy lâu bị liệt... vợ buồn vợ chê
    Sao mày lại quá u mê
    Viagra thần dược... vợ mê tới già!

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Thuốc thang, rượu bổ... chẳng nào tới đâu
    Ông Giời vẻ mặt rầu rầu
    Thôi mày xuống tóc cạo đầu đi tu!

    Bắc thang lên hỏi ông Giời
    Vào chùa sư nữ trụ trì được chăng?
    Ông Giời nháy mắt cười rằng
    Chờ tao một tí ... tao theo với mày!
    [​IMG]
  3. 1. Ngày… tháng… năm…

    Một hôm tôi nói với vợ: "Vợ ơi, rất lâu rồi anh không có cảm giác sợ giật bắn cả mình". Ngày hôm sau, vợ dẫn tôi đến một cửa hàng sang trọng bán đồ trang sức, rồi bảo tôi nhìn giá chúng.

    Tôi nghĩ bụng, vẫn là vợ cao tay.

    ....

    2. Ngày… tháng… năm…

    Hôm nay nhìn thấy bộ dạng luống cuống vụng về của vợ lúc giết cá, tôi muốn rửa nỗi nhục ngày hôm qua, đắc ý hỏi vợ: "Em và lợn có quan hệ gì vậy?".

    Ai ngờ được vợ quay đầu lại và trả lời: Quan hệ vợ chồng.

    ....

    3, Ngày… tháng… năm…

    Tôi và vợ cãi nhau một trận kịch liệt.

    Trong phòng ngủ, vợ cầm một cái kéo cắt một lỗ to trên cái màn và nói:

    - "Để muỗi bay vào cắn chết anh".

    1h trôi qua, vợ lại lấy băng dán dính cái lỗ đó lại. Nhìn thấy bộ dạng loay hoay của vợ , trong lòng tôi nghĩ, chắc là cô ấy hối hận rồi, thực ra vợ mình khẩu xà tâm phật, vẫn là cô ấy thương tôi nhất.

    Nghĩ bụng vậy, tôi vừa quay qua, nghe thấy cô ấy lẩm bẩm 1 mình:

    - "Muỗi bay vào cũng nhiều rồi, phải dán lại, không được để chúng bay ra".

    Tôi xây xẩm mặt mày.

    ....

    4, Ngày… tháng… năm…

    Buổi tối vợ nói chúng tôi phải chia sẻ việc nhà, rồi hỏi tôi:

    "Rửa bát và chùi nhà anh chọn cái nào?". Tôi chọn rửa bát .

    Rửa bát xong vợ lại hỏi: "Tắm cho con và chùi nhà anh chọn cái nào?".

    Tôi chọn tắm cho con.

    Tắm cho con xong vợ lại hỏi: "Giặt đồ và dỗ con đi ngủ anh chọn cái nào?".

    Tôi phân vân một lúc rồi chọn giặt đồ.

    Giặt đồ xong trở vào phòng nhìn thấy vợ và con đang ngủ ngon lành, tôi bỗng cảm thấy hình như có chỗ nào không đúng ……

    ....

    5, Ngày… tháng… năm…

    Một ngày, lúc tôi đang cúi đầu đọc báo, vợ bỗng nhiên nói: "Em nghĩ anh nên đi đo mắt. Ngày nào cũng máy điện toán, tivi đủ kiểu. Em thấy anh hình như cận thị rồi đấy".

    Xem ra vợ ngày càng chu đáo với tôi, nghĩ đến đây, trong lòng tôi cảm thấy rất ấm áp.

    Tôi nói: "Ngày mai rảnh anh sẽ đến cửa hàng kính đo thị lực xem sao".

    Vợ lập tức nói: "Không cần đâu. Bây giờ em có thể giúp anh đo thị lực. "Cô ấy chỉ vào góc cửa và hỏi: "Anh nhìn thấy cái gì ?".

    Tôi bán tín bán nghi: "Một cái túi nilon".

    "Màu gì?"

    "Màu đỏ".

    "Dùng để làm gì?"

    "Để đựng rác".

    "Túi đầy hay túi không".

    "Túi đầy rác".

    "Thị lực anh rất tốt mà, nhưng tại sao mỗi lần anh đi ra ngoài, nhìn thấy túi này đựng đầy rác như vậy, lại cứ giả vờ không nhìn thấy. Em còn tưởng anh bị cận cơ đấy!".

    ....

    6, Ngày… tháng… năm…

    Mấy hôm trước tôi nghe thấy vợ khen tôi có tài trước mặt mấy người hàng xóm, bình thường chỉ có 2 vợ chồng thì toàn bị vợ chê, nhưng trước mặt người ngoài kiểu gì cũng không dám chê chồng, tôi thực sự vô cùng cảm động. Đợi vợ vào trong nhà, tôi nắm lấy đôi bàn tay cô ấy và nói: "Cảm ơn em đã khen anh có tài trước mặt hàng xóm . Anh thực sự rất cảm động".

    Vợ hắng giọng nói: "Tiền không, ngoại hình không, địa vị cũng không, nếu em không nói anh có tài, người ta sẽ chửi em ngu mới đi lấy anh ".

    ....

    7, Ngày… tháng… năm…

    Một hôm đang trong giờ làm việc, vợ gọi điện thoại đến, giọng hốt hoảng: "Chồng ơi, chết rồi . Hôm nay nhà mình bị trộm viếng thăm"

    Tôi vội vã hỏi: "Mất đồ gì không?"

    Vợ mếu máo: "Nhà bị lục tung hết cả lên, 5 triệu trong tủ quần áo bị mất rồi . Em đang dọn dẹp xem có bị mất gì nữa hay không. Cảnh sát đã đến, thằng trộm cùng lúc ăn trộm mấy nhà liền, bị nhân viên an ninh bắt lại rồi, bây giờ đang ở đồn cảnh sát đối chất, em phải liệt kê xem mất những thứ gì".

    Tôi: "Nhanh nhanh đến xem phía sau ảnh cưới trên đầu giường có dính một chiếc phong bì, trong đó có 5 triệu".

    2 phút sau….

    Vợ nói: "Em gỡ ảnh cưới xuống xem kỹ rồi, phía sau không có gì cả".

    Tôi hốt hoảng, tên trộm này quả thực rất khôn ngoan, mấy chỗ giấu tiền đấy vợ tôi còn chả biết mà sao nó lại biết được chứ. Mà trong đó có phải ít tiền đâu, tôi đến phát điên lên mất.

    Tôi vội bảo vợ vào nhà vệ sinh xem xem: "Phía sau két nước bồn cầu, có một cái khe hở , trong khe nhét một túi bóng màu đen, em xem xem túi bóng có còn trong đó nữa không?""

    5 phút sau, vợ gọi điện đến thông báo: "Không có đâu anh ơi, hay anh nhớ nhầm chỗ?".

    Tôi lo lắng nói: "Nhầm thế nào được, lúc sáng đi vệ sinh anh kiểm tra vẫn còn mà, tổng cộng 10 triệu, tất cả tiền đều cùng một seri. Đó là tiền năm ngoái công ty thưởng Tết anh rút ra một nửa ".

    Vợ hỏi dồn: "Chỉ có thế này thôi à, có quên chỗ nào nữa không ? "

    Tôi buồn bã: "Hết rồi, chỉ có 15 triệu đấy thôi".

    Tôi nhắc vợ: "Em phải nói rõ ràng với cảnh sát số tiền đấy nhé "

    Vợ bình thản trả lời: "Được rồi, cảm ơn anh đã thể hiện một cách xuất sắc trong vụ diễn tập chống trộm của gia đình mình lần này".

    Tôi choáng váng mặt mày, ngước mắt nhìn trời, nước mắt tuôn thành sông, phụ nữ rốt cuộc là do yêu tinh phương nào biến thành?
  4. Nếu ngày ấy.

    Nếu ngày ấy bến Nhà Rồng đóng cửa
    Người lang thang quay trở lại Nghệ An
    Làm giáo làng hay một chân thư lại
    Thì ngày nay dân đã thoát lầm than


    Nếu ngày ấy, sông Sài Gòn nổi sóng
    Người đang leo bỗng rớt mẹ xuống sông
    Bấy sấu đói đã reo mừng rước bác
    Thì ngày sau xương đâu trắng cánh đồng


    Nếu ngày ấy trên bong tàu đêm tối
    "Người lao công đang quét dọn hành lang”
    Cơn sóng dữ tiễn đưa về đáy biển
    Thì ngày nay quê mẹ đã bình an


    Nếu ngày ấy trời Paris trở lạnh
    Cục gạch hồng chẳng đủ ấm qua đêm
    Bác chết cóng trên mình cô đầm nái
    Thì ngày nay tổ quốc đã êm đềm


    Nếu ngày ấy, tên toàn quyền rộng lượng
    Cho người vào trường thuộc địa, khỏi thi
    Mẫu quốc đã có thêm Hoàng Cao Khải
    Mà An Nam cũng thoát cảnh “bác đi”


    Nếu nếu nếu, thêm một ngàn lần nếu
    Bác chẳng đi! Đi chẳng có ngày về!
    Về, thượng mã phong bờ hang Pác Bó
    Thì ngày nay đâu có lũ u mê!


    Caubay
    Hereami likes this.
  5. Chưa đi chưa biết Bến Tre,
    Nếu đi sẽ thấy cá mè như nhau.
    Toàn là mặt lợn đầu trâu,
    Cướp nhà, cướp đất, đè đầu dân oan.

    Chưa đi chưa biết Bà Đen,
    Nếu đi sẽ thấy chúng hèn đáng khinh.
    Tàu xâm lăng thì làm thinh,
    Dân đen phản đối, tội hình phạt ngay.

    Chưa đi chưa biết Bình Dương,
    Nếu đi sẽ thấy đau thương vô cùng.
    Thấy Tàu thì nó gập lưng,
    Thấy dân thì nó lại hùng hổ lên.

    Chưa đi chưa biết Cà Mau,
    Nếu đi sẽ thấy một màu tang thương.
    Cầm quyền là lũ bất lương,
    Thụt két, tham nhũng, một phường lưu manh.

    Chưa đi chưa biết Cần Thơ,
    Nếu đi sẽ thấy xác xơ dân mình.
    Người dân khổ cực mưu sinh,
    Cầm quyền chiếm đất xây dinh, dựng nhà.

    Chưa đi chưa biết Đồ Sơn,
    Nếu đi sẽ thấy tệ hơn đồ tồi.
    Trên cao một lũ ngu ngồi,
    Để dân khốn khổ bồi hồi lầm than.

    Chưa đi chưa biết Huế thương,
    Nếu đi sẽ thấy dân thường thở than.
    Lưu manh, trộm cướp làm quan,
    Cướp sông, cướp cạn, dân oan kêu trời.

    Chưa đi chưa biết Hải Dương,
    Nếu đi sẽ thấy chuyện thường xảy ra.
    Có miếng đất tốt dựng nhà,
    Lãnh đạo nhìn thấy, thế là mất toi.

    Chưa đi chưa biết Hòn Chồng,
    Nếu đi sẽ thấy dân không còn gì.
    Trên cạn bị lãnh đạo đì,
    Dưới biển Trung Cộng nó đì nhiều hơn.

    Chưa đi chưa biết Lâm Đồng,
    Nếu đi sẽ thấy đau lòng tổ tiên.
    Giang sơn một giải cao nguyên,
    Để Tàu khai thác nát nghiền quê hương.

    Chưa đi chưa biết Tây Ninh,
    Nếu đi sẽ mới biết dân tình làng quê.
    Ngày xưa ruộng luá ê hề,
    Bây giờ xuất cảnh làm thuê cho Tàu.

    Chưa đi chưa biết Quảng Ninh,
    Nếu đi sẽ thấy hoảng kinh phận đời.
    Kiện thưa khó hơn kiện trời,
    Viết ra sự thật thì ngồi tù ngay.

    Chưa đi chưa biết Quy Nhơn,
    Nếu đi sẽ thấy chẳng hơn nhà tù.
    Dân đen cho đến thày tu,
    Bất đồng ý kiến là tù mọt gông.

    Chưa đi chưa biết Sài Gòn,
    Nếu đi sẽ thấy chẳng còn thân quen.
    "Tự Do ", "Công Lý" mất tên,
    Giặc Hồ bán nước đem lên tôn thờ.

    Chưa đi chưa biết Sông Hương,
    Nếu đi sẽ thấy sông thường thở than.
    Còn đâu đất Việt dân Nam,
    Giang sơn gấm vóc nó mang dâng Tàu.

    Chưa đi chưa biết Nha Trang,
    Nếu đi sẽ thấy từng hàng lệ rơi.
    Mỗi lần nhìn ra biển khơi,
    Giang sơn sao lại để trôi sang Tàu.

    Chưa đi chưa biết Vũng Tàu,
    Nếu đi sẽ thấy giặc Tàu xâm lăng.
    Lãnh đạo gục mặt lặng câm,
    Biểu tình, phản đối, người dân đi tù!

    Chưa đi chưa biết gần xa,
    Nếu đi sẽ thấy toàn là lưu manh.
    Từ trung ương đến thừa hành,
    Thấy tàu thì sợ chỉ hành hạ dân

    Chưa đi chưa biết Cali,
    Nếu đi sẽ thấy những gì đẹp, hay.
    Cột đèn mà có chân tay,
    Nó cũng vượt biển sang đây tức thì.

    Thế mà cũng thấy lắm khi,
    Bao người áo gấm bay về Việt Nam.
    Hoặc là nghe lũ Việt gian,
    Đem tiền mà cúng nuôi đoàn lưu manh.

    Chúng nó đè cổ dân lành,
    Đến cả những bậc tu hành chẳng tha.
    Mất Hoàng Sa, mất Trường Sa,
    Tây Nguyên Bauxite bán ra cho tàu.

    Trí thức chống đối một câu,
    Đánh đập, bắt bớ, nhốt sâu trong tù.
    Quả là lũ lãnh đạo ngu,
    Đôi tai đã điếc, mắt mù đã lâu.

    Hỡi người dân Việt toàn cầu,
    Đoàn kết chống Cộng, chống Tàu ngoại xâm.
    Một ngày mai sẽ thật gần,
    Cờ vàng rực rỡ ba phần Việt Nam.

    Sưu tầm
  6. Tôi có một người bạn, là nhân viên trong một cơ sở phúc lợi xã hội, anh ta đã kể cho tôi một câu chuyện như thế này:

    Một lần, có một bà mẹ gọi điện đến phòng của anh ấy để xin giúp đỡ, cô ấy nói rằng đứa con trai thiếu niên của cô đã vô tình bị cắt đứt một ngón tay. Bởi vì không có cách nào để nối lại nên cậu ấy rất đau lòng, suốt ngày trốn trong phòng, không muốn đến trường nữa.

    Nhận được điện thoại, nhân viên xã hội nói: “Cô có thể đưa cậu ấy tới đây để cùng nói chuyện được không?”

    Bà mẹ nói: “Thằng bé cảm thấy mình không còn trọn vẹn nên không muốn gặp ai hết, tôi nghĩ là nó không sẵn sàng đi đến đó đâu”.

    Thế là anh ấy sắp xếp một nhân viên tới nhà để hỏi thăm. Hôm đó, người mẹ lo lắng nên từ sáng sớm đã đến cửa phòng con trai gõ cửa và nói có một cô nhân viên xã hội đến thăm, muốn quan tâm một chút đến tâm tư của cậu ấy.

    Nhưng bà mẹ chỉ nghe thấy có rất nhiều đồ đạc ném về phía cánh cửa đang đóng chặt, hơn nữa còn nghe thấy một câu nói vô cùng giận dữ: “Mẹ đừng gọi người ta đến, con không muốn ai đến hỏi han gì cả”.

    Giờ hẹn đã đến, người mẹ với vẻ mặt rầu rĩ đi ra mở cửa, bà vừa luống cuống vừa thấy có lỗi nói: “Thật sự là rất xin lỗi, lúc nãy tôi có nói qua với con trai là cô tới thăm, nhưng nó rất bướng bỉnh, nói thế nào cũng không chịu gặp cô”.

    Cô nhân viên xã hội nói với bà mẹ bằng giọng an ủi: “Không sao đâu ạ, tôi hiểu mà, hay là để tôi thử xem xem thế nào? Phòng của cậu ấy ở đâu?”

    Bà mẹ chỉ lên lầu: “Phòng ngay ở trên đầu cầu thang.”

    Cô nhân viên xã hội nói: “Tốt rồi, vậy làm phiền chị cầm giúp tôi một cái nạng lên lầu chờ tôi.”

    Cô nhân viên này là một người đi tập tễnh, hai chân đeo đôi giày sắt rất nặng, lúc đi lên lầu phải dùng tay vịn vào lan can rồi nhảy từng bậc thang, cho nên cần một người mang giúp cây nạng lên lầu chờ sẵn, chờ đến khi cô ấy lên lầu rồi thì có thể chống nạng vào mà đi.

    Cô ấy đi lên lầu giống như đu xà vậy, hoàn toàn dùng lực của hai tay bám vào lan can mà đu, nhấc hai chân khỏi mặt đất, rồi lại rơi xuống bậc cầu thang, bởi vì giày sắt rất nặng nên mỗi lần rơi xuống bậc cầu thang thì phát ra âm thanh rất to.

    Vì cô nhân viên đi lên lầu với tốc độ rất chậm, lại phát ra âm thanh thùng thùng rất nặng nề, quả thực là giống như là con rô bốt Mazinger Z đi lên lầu vậy.

    Cậu thiếu niên trong phòng nghe thấy âm thanh vừa quái dị lại vừa đáng sợ tới gần, cảm thấy vừa kinh ngạc vừa sợ hãi, cậu ta không thể nhịn được nữa liền mở cửa phòng ra để xem là cái gì. Nhưng cảnh tượng hiện ra trước mặt càng khiến cậu ta thêm chấn động hơn: “Một người phụ nữ với đôi chân không thể vận động được lại đến an ủi một người chỉ thiếu một ngón tay như mình…!”

    Cô nhân viên xã hội không nói một câu nào, cậu bé đã tự cảm thấy rằng một chút thương tích của bản thân hoàn toàn không đáng kể gì.


    Đọc hết câu chuyện này, trong lòng bạn cảm thấy thế nào?

    Đau khổ của con người đến từ nỗi sợ bị mất một thứ gì đó, mà sở dĩ người ta sợ là bởi vì họ đã quá quen thuộc đến nỗi trở thành thói quen hay phụ thuộc vào sự tình, sự vật, con người đó… Một khi những thứ đó bị mất đi thì mục tiêu cuộc sống của họ, trọng tâm của họ lập tức bị hút ra, khiến cho họ không cách nào tiếp nhận được sự thật mà rơi vào đau khổ.

    Nếu như không có điện thoại, không có internet, không có các cửa hàng tiện lợi… Thì con người sẽ không sống được sao? Con người sẽ không vui vẻ hạnh phúc sao?

    Đương nhiên sẽ không như thế.

    Nhận ra những thứ mà bạn “nhất định phải có”, đó chính là mấu chốt của tự do. Nói cách khác, một khi “thói quen” đó được cải biến, những điều trước đây “nhất định phải có” đã không còn là nhu cầu phải có nữa, thì bạn sẽ thấy mình được tự do và không còn bị ràng buộc bởi nó.

    Đôi khi thay đổi khía cạnh nhìn nhận, thay đổi ý niệm, sẽ phát hiện tương lai phía trước sẽ rộng mở và sáng sủa hơn, bạn thấy có đúng không?

    Theo NTDTV
    Mai Trà biên dịch
  7. Cái hộp thư tôi đang xài có một kiểu gửi thư rất buồn cười: Gởi cho chính mình. Những gì cho là quan trọng, tôi đính kèm vào thư, gởi đến… tôi. Lúc nào cần, dù đang ở bất cứ đâu, vào mạng internet được là lấy tư liệu xuống được. Bởi có quá nhiều thứ có thể trao thân gởi phận theo kiểu đó nên tôi cũng siêng viết thư cho tôi. Cũng có khi thư không kèm theo tệp tin nào, nội dung gọn lỏn chỉ vài chữ, “Cố lên, đừng chán”, “Buồn làm chi tui ơi…”, “mùa mưa đi ngang qua cửa sổ…”, “người thấy vậy mà xa…”. Chúng thảng hoặc vu vơ, bất chợt, ngớ ngẩn, như thể không có ý nghĩa gì.

    Nhiều bữa kiểm tra hộp thư chỉ thấy chỏn lỏn thư mình, chữ cười trong “buồn cười” rơi đi mất. Việc đọc của chính mình có chút nào xốn xang có chút nào cay đắng, nhất là những thư không kèm theo tư liệu. Nó nói lên một sự thật là ta đã mất niềm tin và khả năng chia sẻ vui buồn với người khác. Sống rúc vào chính mình, tựa vào chính mình để đứng dậy, vịn những lời nhắn ngẩn ngơ của mình để đi qua miền ưu phiền.

    Nghĩ, cái anh viết lập trình ra cái vụ thư gởi cho mình này hoặc quá chu đáo, hiểu đến tơ tóc nhu cầu của người dùng hoặc đã từng cô đơn, thấu đến tơ tóc của cô đơn. Nên anh ta biết được vào những lúc nhân gian vắng rợn, có người ngồi chờ không thấy ai viết thơ cho mình, mà mình thì cũng không biết viết cho ai, bởi có những chuyện không tìm được người, không tin được người, không chờ được người để san sẻ, cô ta bèn viết gởi chính mình.

    Như có người mua hoa bằng tay này rồi tặng tay kia.

    Như có người đứng giữa núi kêu lên để nghe tiếng mình vọng lại.

    Như có người lang thang ngoài vườn vắng để thủ thỉ những bí mật, những nỗi đau mà ôm kín trong lòng họ sẽ vỡ tung ra mất.

    Dù là kiểu cổ điển như đào hố chui xuống tâm tình với đất hay hiện đại như cái hộp thư điện tử tôi đang xài thì cũng giống nhau, rằng những bờ vai, những bàn tay, những ánh mắt cảm thông trìu mến đôi khi không có giá trị. Và càng ngày càng mất giá trị. Không cần thiết. Con người đã thừa mạnh mẽ (hay thừa u uất ?) để sống mà không cần bầy đàn.

    Chỉ là một bữa nào đó, khi tự điền tên tôi vào chỗ “người nhận”, thấy mình như đang uống một ly chua xót đầy, ủa, sống sao mà tới nông nổi này, thế gian thênh thang vậy mà không có ai tri âm hết ? Nói theo kiểu dân gian là kiếm không ra một người bạn để… làm thuốc.

    Quá tệ!

    Nguyễn Ngọc Tư
  8. Tôi ra đời giữa hai cuộc chiến, giữa một trăm năm đô hộ giặc Tây và hai mươi năm nội chiến từng ngày. Sau đó, tôi được đi du học và tôi đã sống “vô tư lự” bên trời Âu sung túc trong khi khói lửa vẫn ngập trời nơi quê nhà.

    Giờ đây, bom đạn đã ngừng tiếng nhưng một lần nữa, gia đình tôi đã phải cuốn gói rời bỏ quê hương và mấy triệu người Việt Nam bỗng nhiên phải sống tản mác trên toàn thế giới như những cây bị bật rễ, ở những chốn dung thân như Mỹ, Gia Nã Đại, Pháp, Úc…

    Phần mất mát vần còn đó, nguyên vẹn, ít ra đối với bố mẹ chúng tôi và chúng tôi, thế hệ đầu của những người di dân. Một thế hệ “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”, lơ lửng giữa không gian quê hương, chơi vơi giữa thời gian thế hệ, lạc lõng trong tâm tư văn hoá.

    Một thế hệ “bánh mì kẹp”.

    Kẹp giữa hai quê hương

    Những người di dân này, ngày hôm nay mang sổ thông hành Mỹ, Pháp, Úc… nhưng vẫn chỉ là Mỹ (Pháp, Úc…) giấy, phần đông tiếng Mỹ (Pháp, Úc…) vẫn còn ba xí ba tú, miệng vẫn hôi mùi nước mắm chứ không hôi hamburger hay camembert, vẫn không có bạn bè Mỹ (Pháp, Úc…) mà chỉ sống quanh quẩn với nhau, tụ tập nơi những thương xá, chợ búa Á Đông, hay rủ nhau “party”, ăn uống, karaoke với nhau.

    Những người Mỹ (Pháp, Úc…) gốc Việt này đã đi tìm một nơi nương tựa để sống “tạm bợ” nơi xứ người mà trong thâm tâm còn cố tưởng tượng như mình đang sống ở quê nhà, và lúc nào có dịp, có phương tiện là lại vù về Việt Nam, một số để “hưởng thụ”, nhưng phần lớn vẫn vì nhớ nhà.

    Tôi không nhớ ai đã có nói:

    “Ma patrie, c’est là où je suis heureux” (Quê hương tôi là nơi chốn nào tôi sống hạnh phúc)

    Tôi muốn tin ông lắm, tôi cũng muốn tự an ủi mình lắm, nhưng tiếng gọi của cội nguồn réo rắt lắm, ông ơi. Tôi cứ ngỡ quê hương là nơi chôn nhau, cắt rốn, là nguồn, là cội, là gốc, là rễ cơ mà?

    Ở hải ngoại, đương nhiên chúng tôi được tự do, phần đông được ăn sung, mặc sướng, đủ tiền mua nhà, chăm lo cho con cái ăn học, đi shopping hay du ngoạn đây đó… Đời sống này, nhiều đồng bào ta nơi quê nhà mong mỏi có được, và tôi thừa hiểu chúng tôi «hạnh phúc» hơn rất nhiều người lắm. Tôi không dám than thân, trách phận hay phân bì với ai cả, chẳng qua nơi đây, tôi chỉ nói lên tâm sự u uẩn những người tha hương chúng tôi mà thôi.

    Nhất là trong trường hợp tôi, hiện đang mang hai quốc tịch Pháp và Mỹ, sống bên Mỹ nhưng tim vẫn còn «vọng Nam», tâm vẫn còn hướng về Pháp, đôi khi vẫn nhớ về khung trời Bỉ Quốc. Những nơi tôi đã sống, làm sao tôi có thể xóa quên được ?

    Quê hương như người mẹ đã bụng đau, dạ chửa cho tôi ra đời, nuôi nấng, dậy dỗ tôi nên người, và quê hương thứ hai, thứ ba là những bà mẹ đã mở rộng vòng tay, đón nhận tôi khi tôi không còn chỗ đứng dưới ánh mặt trời.

    Ơn nghĩa này, chúng tôi không quên (từ ngày sang Mỹ, năm 1975, bố mẹ tôi năm nào cũng gửi chút quà Giáng Sinh cho gia đình ông sĩ quan Mỹ đã giúp nhà tôi sang Mỹ, và sau khi bố tôi mất, mẹ tôi vẫn tiếp tục gửi, mặc dù người ân nhân này đã mấy lần đề nghị nên thôi gửi quà).

    Tôi cảm quý những bà «mẹ nuôi» lắm, tôi lại càng xót thương Mẹ Việt Nam, quê hương đau khổ. Ôi, quê hương tôi đâu ? Mỹ, Pháp, Úc… ? Hay vẫn là Việt Nam muôn thuở ?

    Kẹp giữa hai nền văn hoá

    Ngày hôm nay, tôi đã lục tuần nhưng tôi đã chỉ được sống ở quê nhà có mười tám năm (tôi đã mất mát quá nhiều rồi).

    Bao nhiêu năm tháng sống bên Pháp, bên Bỉ, đã rèn đúc tôi với một lối suy luận, một cách ăn nói, một cách cư xử xã giao, một nền văn hoá mà tôi hãnh diện mang bên cạnh văn hoá của mình. Qua bao năm tháng đó, tiếng Pháp đã dần dà trở thành tiếng tôi thông dụng nhất, ngay cả để diễn tả những tâm trạng sâu thẳm nhất của mình.

    Tuy nhiên, bao nhiêu năm tháng đó chỉ có thể thấm vào cái vỏ bên ngoài, chỉ có thể thay đổi hình dạng và cử chỉ của tôi, chỉ có thể tạo nơi tôi những sở thích ăn mặc, đi đứng, nói chuyện, chỉ có thể tạc lên cái “Tôi” bên ngoài.

    Tất cả những năm tháng đó không hề thay đổi nước da hay sắc tóc tôi (tóc tôi chỉ có thể bạc trắng với thời gian), không hề lay chuyển âm điệu tiếng mẹ đẻ của tôi, không hề làm suy sút kho tàng văn hoá tổ tiên tôi hay nền giáo dục bố mẹ tôi.

    Nước Pháp đã ban thêm cho tôi một nền văn hoá, nhưng không hề thay thế nền văn hoá của tôi.

    Nhưng có lẽ đó cũng là nỗi khổ tâm của tôi, nỗi khổ tâm của những người di dân trong thế hệ đầu? Cây cối làm sao sống thiếu gốc rễ? Con người ta làm sao sống thiếu cội nguồn? Làm sao tôi có thể vui sướng bên ngoài khi bên trong trống vắng?

    Tôi có thể thích pot au feu hay bouillabaisse nhưng bao giờ tôi cũng vẫn thèm một tô phở đặc biệt, tái nạm gầu gân sách sụn.

    Tôi có thể mê một chai Saint Emilion hay một chai Volnay nhưng tôi vẫn nhớ hương vị mấy chai la ve “33” của “Brasseries et Glacières d’Indochine” (BGI).

    Tôi có thể viết tiếng Pháp giỏi hơn người Pháp trung bình, nhưng tim tôi bao giờ cũng rung động khi tôi được đánh dấu hỏi, dấu ngã.

    Tôi có thể thích xem phim “action” Mỹ hay nghe Claude Barzotti hát nhưng tôi vẫn thích xem phim bộ… Đại Hàn (Việt Nam tôi làm gì có phim hay?), nhưng tôi vẫn thấy thấm thía hơn khi tôi nghe nhạc Việt, tôi vẫn truyền cảm hơn khi hát tiếng Việt.

    Tôi có thể ngoảnh lại nhìn một cô đầm tóc vàng, mắt xanh nhưng tôi chỉ có thể hạnh phúc với người đàn bà gọi tôi bằng “Mình ơi!”.

    Chỉ vì đó là văn hoá dân tộc nằm trong máu, trong xương tủy tôi, vì đó là giáo dục bố mẹ, ông bà tôi đã truyền lại cho tôi, vì đó là vết tích của mấy ngàn năm lịch sử.

    Chỉ vì tôi là người Việt Nam.

    Kẹp giữa hai nền văn hoá.

    Kẹp giữa hai thế hệ

    Bố mẹ chúng chúng tôi và chúng tôi cùng một làn sóng di cư (cho dù trong số chúng tôi có những người đã đi trước) nhưng hai điều khổ tâm cũng có điều khác biệt.

    Quả thật vậy, chúng tôi vẫn cùng một nền văn hoá với bố mẹ, cùng một nền giáo dục do cha ông truyền lại. Bố mẹ chúng tôi vẫn được sống với chúng tôi như lúc còn ở Việt Nam, với nền tảng Phật Lão Khổng, cùng một nhân sinh quan, cùng một đạo làm người. Chúng tôi vẫn nói tiếng Việt với bố mẹ, tiếp tục yêu thương, kính nể bố mẹ, để tiếp tục lưu truyền phong tục, tập quán.

    Trong khi chúng tôi giờ bắt buộc phải chấp nhận văn hoá con cháu chúng tôi như một văn hoá ít nhiều là ngoại Việt.

    Vì sự lưu truyền đó sẽ gián đoạn từ đây. Con cái chúng tôi đã bắt đầu nói một thứ tiếng khác và những điều chúng tôi cố gắng răn dậy con cái khó lọt qua được màng lưới thế giới bên ngoài.

    Tôi đã được chứng kiến một cảnh tượng mà tôi không bao giờ quên được. Hôm đó, một người bạn có tổ chức một buổi tiệc họp mặt với hơn sáu mươi bạn hữu để ăn uống, hát hò, nhẩy đầm.

    Về khuya, chúng tôi tạm ngưng chương trình để ăn một bát cháo gà cho ấm bụng và lấy sức chơi tiếp. Lúc đó, đứa con trai chủ nhà từ trên lầu đi xuống với mấy đứa bạn, bật máy truyền hình lên và nằm xem, ngay giữa sàn nhẩy. Chúng tôi đã bị “chiếm đất” và đợi một lúc, không thấy tình hình biến chuyển, quan khách lần lượt xin kiếu từ.

    Tôi á khẩu. Làm sao tôi có thể tưởng tượng được cảnh này, với nền giáo
    dục của tôi? Hôm đó, tôi đã chợt hiểu nền “độc tài” của con trẻ trong cái quốc gia tự do nhất thế giới này. Nhưng điều tôi phân vân nhất là trong tình trạng đó, hai vị chủ nhà, nghĩa là bố mẹ cậu trai trẻ đó, không hề lên tiếng can thiệp, hầu như làm ngơ, không nhìn thấy điều gì cả.

    Trong khi tôi, đầu đã bạc phơ mà mỗi lần sang thăm nhà, Mẹ bảo tôi cạo râu hay đi cắt tóc là tôi vui vẻ làm ngay, chỉ để vâng lời Mẹ, để cho Mẹ vui. Ngược lại, bên Mỹ này, con gái mới mười lăm tuổi đã đánh mắt, thoa son đi học, bố mẹ nói gì được khi trong trường, bạn bè chung quanh đều như vậy, vả lại có thầy bà nào cấm cản đâu? Bên này, con cháu đi xâm mình (tattoo) hay đục vòng sắt vào môi, vào mắt (piercing) thì bố mẹ nào, ông bà nào ngăn cản được?

    Nhà chúng tôi lúc trước không giầu có gì nên không bao giờ dám phí phạm bất cứ gì, ăn cơm phải vét sạch từng hạt, trong khi con trẻ bên này lấy cho đầy đĩa nhưng không ngần ngại đổ tuốt nửa đĩa thức ăn khi chúng cảm thấy no.

    Tôi đã tận mắt thấy những bố mẹ phải khóc tức tưởi khi bị lũ con xúm vào “mắng”. Ngày nay, bố mẹ nào dám đánh con mà không sợ chúng nó gọi “911”?

    “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông”. Ngày nay, thế giới đảo lộn và chúng tôi đi lộn đầu, để con cái trèo đầu, trèo cổ thôi.

    Lúc trước còn ở bên Pháp, tôi vẫn cố gắng mỗi năm lấy máy bay sang thăm bố mẹ, và giờ đây sống bên Mỹ, tôi vẫn đi thăm Mẹ (vì không cùng tiểu bang) và ngoài ra, còn phải đi Pháp thăm con.

    Hoá ra, chúng tôi ở trên thì lo cho bố mẹ, ở dưới thì lo cho con cái (ở bất cứ tuổi nào); ở trên thì bị bố mẹ mắng, ở dưới thì bị con trách !?!

    Kẹp giữa hai thế hệ.

    Xung đột cả thế hệ lẫn văn hoá

    Nói như vậy không phải để trách mắng con cái. Đâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó không nói được tiếng mẹ đẻ? Đâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó sinh sống tại hải ngoại? Đâu phải do lỗi chúng nó nếu chúng nó hoà mình với môi trường bên ngoài nhiều hơn là với môi trường gia đình (nhất là trong cái tuổi thành niên này)?

    Tôi đã có nghe những đứa trẻ nói với bố mẹ: “Bố mẹ đừng trông mong chúng con trở thành người Việt. Văn hoá của bố mẹ không phải là văn hoá của chúng con. Chúng con là người Mỹ!” Phũ phàng thay, đau lòng thay, nhưng chúng nó làm sao hiểu được văn hoá chúng ta khi chúng nó sống trong một thế giới mà nền tảng là “tự do” và “đồng đô la”? Làm sao chúng nó có thể nghe lời bố mẹ trong khi sự thật bên ngoài hầu như khác hẳn?

    Có lẽ chính chúng nó có lý. Bổn phận cha mẹ là giúp con cái thành công cuộc đời chúng nó chứ không phải cuộc đời cha mẹ, giúp chúng nó thành công ngoài đời, trong môi trường chúng nó đang sống chứ không phải môi trường bố mẹ chúng đã sống. Sống ở đâu mà không theo văn hoá nơi đó thì chỉ có thất bại, mà đâu có cha mẹ nào muốn con mình thất bại khi ra đời, cho nên đành ngậm cay, nuốt đắng mà thôi.

    Đây không phải chỉ là vấn đề xung đột thế hệ (thời điểm nào chả có vấn đề này, cho dù không “gây cấn” như vậy), mà còn rắc rối thêm vấn đề xung đột văn hoá nữa. Làm sao bố mẹ và con cái có thể hiểu nhau và chấp nhận nhau khi đôi bên không cùng một nền tảng, cùng những đặc quan, cùng một nhân sinh quan?

    Nỗi buồn u uẩn

    Dĩ nhiên tôi không dám vơ đũa cả nắm, không dám nói gia đình Việt Nam bên hải ngoại nào cũng như trên, nhưng có lẽ phần đông là như thế (?)

    Nói lên vài điểm cho dễ hiểu, nhưng vấn đề không giản dị như vậy và tôi không có khả năng phân tích nhiều hơn.

    Dù sao đi nữa, đây cũng chỉ là nỗi buồn u uẩn, ám ảnh tôi từ bao lâu nay, trong mối liên hệ với tâm hồn, với văn hoá, với gốc rễ của mình.

    Tôi không tức giận, không chua chát. Tôi chỉ cảm thấy buồn, tôi không luyến tiếc quá khứ, chỉ là tôi cảm thấy buồn.

    Vướng mắc giữa hai quê hương, giữa hai nền văn hoá, giữa hai thế hệ, chúng tôi là một thế hệ "bánh mì kẹp” (đôi khi còn là “bánh bao” nữa). Ngoảnh nhìn lại chỉ còn kỷ niệm, nhìn về đàng trước thì tương lai đã bít kín.

    Nhưng thôi, đã biết là mình vướng mắc, là mình “chấp ngã” (như lời Phật dậy) thì chỉ còn có nước “phá chấp”, nghĩa là “buông”, là chấp nhận.

    Vả lại, cha mẹ chúng tôi không có vấn đề này, con cháu chúng tôi không có vấn đề này, chỉ có chúng tôi mới có vấn đề này. Ngày nào cái thế hệ chúng tôi đi hết rồi thì vấn đề này sẽ không còn ai bàn đến nữa.

    Chúng tôi chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp, một thế hệ bị mất mát, bị hy sinh để dân tộc di dân chúng tôi có thể lật qua một trang sử mới.

    Để đời sau, con cháu chúng tôi có hy vọng thành công trên đất người, đi tiếp con đường mà chúng tôi đã không đi hết.

    Được như vậy, chúng tôi cũng sẽ mãn nguyện lắm rồi.

    Xin cảm ơn Trời Phật, xin cảm ơn phúc đức ông bà.

    Yên Hà, tháng 3, 2012
  9. <iframe width="560" height="315" src="http://www.youtube.com/embed/FnhPBH48CWo" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>

    Charice trong nhạc phẩm Because You Love Me trước 18 ngàn khán giả.
  10. Thưở ban sơ, nước Việt Nam chỉ có một đạo duy nhất, là thờ Ông bà Tổ Tiên. Đạo này chủ trương kính trên nhường dưới.

    * Đạo thờ Tổ Tiên

    Sau đó, bọn Tàu đô hộ 1000 năm, trong thời gian này đạo Phật truyền bá vào Việt Nam. Phật Giáo chủ trương ăn hiền ở lành, không sát sinh.

    * Chúng ta có Sư

    Hết Tàu rồi tới Tây 100 năm đô hộ, đạo Công Giáo truyền bá vào Việt Nam. Công Giáo cũng chủ trương bác ái vị tha.

    * Chúng ta có Cha

    Cuối cùng... 1975. Miền Bắc "giải phóng" miền Nam, Cộng Sản Việt Nam lừa quân cán chính Nam Việt Nam vào tù, gọi là "cải tạo", liệt tất cả đạo là tà đạo. Chỉ có đạo được thờ duy nhất là

    * đạo "thờ cha già dân tộc": Già Hồ

    - Tổng cộng đạo mà chúng ta có:


    Tổ Tiên Sư Cha Già Hồ
  11. Mỗi tối, người viết cùng ngồi xem phim với “người tình già trên đầu non” của tôi cho có một chút vui vẻ “tình già” một tí. Chúng tôi đang xem bộ phim dài nhiều tập “Cuộc Sống tuyệt vời” của Đại Hàn trên đài truyền hình SBTN. Theo thiển ý của tôi, bộ phim này phản ảnh đúng đời sống thực tế của chúng ta, vì dù sao đi nữa, văn hóa của Đại Hàn có nhiều điểm giống văn hóa Việt Nam, vì cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Á Đông. Tâm tánh, lối suy nghĩ, phương cách giải quyết những xung đột trong gia đình, quan niệm về tình yêu, về đời sống, vai trò và sinh hoạt của các nhân vật của một gia đình Đại Hàn trong truyện phim có nhiều điểm tương tợ gia đình Việt Nam chúng ta. Phụ nữ Đại Hàn cũng giống như phụ nữ Việt Nam quán xuyến mọi việc trong gia đình, có lòng khoan dung, tha thứ, thương yêu chồng con, dù chồng con có phạm lỗi lầm. Người chồng vẫn là người gia trưởng quan trọng trong gia đình, làm việc vất vả, chăm sóc cha mẹ già, thương yêu vợ con, lo lắng cho các em. Có thể đạo diễn muốn trình bày những nét hay, nét đẹp của đời sống gia đình vào thập niên 60 trở về trước, và muốn nói lên rằng, gia đình là nơi chốn thể hiện sự thương yêu của con người nơi trần thế. Người viết nghĩ thế.

    Người Mỹ đã dùng danh từ FAMILY, trong khi người Việt chúng ta gọi là GIA ĐÌNH. Mời bạn đọc xem một mẫu chuyện dưới đây để tìm hiểu giá trị của Family như thế nào nhé!

    FAMILY là gì?

    Tôi va phải một người lạ trên phố khi người này đi qua. “Ồ xin lỗi”, tôi nói. Người kia trả lời: “Cũng xin thứ lỗi cho tôi, tôi đã không nhìn thấy cô”. Chúng tôi rất lịch sự với nhau. Nhưng ở nhà thì mọi chuyện lại khác. Tối nọ, lúc tôi đang nấu bếp thì cậu con trai đến đứng sau lưng. Tôi quay người và đụng vào thằng bé, làm nó ngã chúi xuống sàn nhà. “Tránh ra chỗ khác” - tôi cau mày nói. Con trai tôi bước đi, trái tim bé nhỏ của nó vỡ tan. Tôi đã không nhận ra là mình quá nóng nảy.

    Khi đã lên giường, tôi nghe một giọng nói thì thầm: “Khi đối xử với người lạ, con rất lịch sự, nhưng với con mình, con đã không làm như vậy. Hãy đến tìm trên sàn nhà bếp, có những bông hoa đang nằm ở cửa! Đó là những bông hoa mà con trai con muốn mang đến tặng con. Tự nó hái lấy những bông hoa này: Nào hoa hồng, màu vàng và cả màu xanh. Nó đã yên lặng đứng đó để mang lại cho con điều ngạc nhiên, còn con thì không bao giờ thấy những giọt nước mắt đã chảy đẫm lên trái tim bé nhỏ của nó”.

    Lúc này thì tôi bật khóc. Tôi lặng lẽ đến bên giường con trai và quì xuống: “Dậy đi, con trai bé nhỏ, dậy đi! Có phải những bông hoa này con hái cho mẹ không?” Thằng bé mỉm cười: “Con tìm thấy chúng ở trên cây kia. Con hái cho mẹ vì chúng đẹp như mẹ. Con biết là mẹ thích lắm, đặc biệt là bông hoa màu xanh”.

    Thế bạn có biết từ family có nghĩa là gì không?

    FAMILY = Father And Mother, I Love You
    (Nguồn: Sưu tầm trên internet)

    Bạn có cảm động không khi đọc xong mẫu chuyện nói trên? Chắc hẳn là phải có rồi. Tôi nghĩ thế!

    Mời bạn đọc thêm một câu chuyện khá cảm động khác dưới đây, do một người bạn chuyển đến người viết: Hãy đọc và suy ngẫm! (Đây là câu chuyện có thật)

    Một người đàn ông, trong lúc đang chùi cho láng chiếc xe hơi của anh ta, đứa con trai 4 tuổi của anh ta nhặt một hòn đá và rạch vào bên hông xe. Trong cơn tức giận, anh ta chụp lấy tay đứa con trai và đánh vào tay nó nhiều lần, mà không nhận ra rằng anh ta đang đánh bằng cái mỏ lết. Tại bệnh viện, đứa bé mất hết các ngón tay vì xương thịt giập nát. Khi đứa trẻ thấy bố nó..., với đôi mắt đau buồn, nó hỏi: “Bố ơi, các ngón tay con đâu rồi?” Anh ta rất đau lòng, không nói nên lời và trở lại bên xe, đá vào chiếc xe nhiều lần. Suy sụp bởi hành động vô ý thức của mình..., ngồi trước chiếc xe hơi, anh ta nhìn vào vết xước trên hông xe... thằng bé đã viết: “Con Yêu Bố, bố ơi!” Ngày hôm sau, người đàn ông tự tử...

    Giận dữ và yêu thương không có giới hạn, hãy chọn cái thứ hai! YÊU THƯƠNG để có một cuộc sống xinh tươi và đẹp đẽ. Đồ vật sinh ra là để SỬ DỤNG và con người sinh ra là để YÊU THƯƠNG....Vấn nạn của thế giới hôm nay lại là.... Con người bị SỬ DỤNG còn đồ vật thì được YÊU THƯƠNG !!!



    Mh
  12. Viết theo lời kể của một cô gái người Bắc.

    Đương nhiên, tên của tôi không phải là “Việt Cộng Con” rồi.

    Và tôi cũng không phải là Việt Cộng, xin bảo đảm một trăm phần trăm.

    Tên tôi là Trinh, Trần Thị Ngọc Trinh. Tôi lấy chồng là một người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Con trai tôi tên là Nam, cháu nay đã được năm tuổi rồi. Mỗi lần về thăm nhà, cháu luôn luôn hãnh diện khoe với ông bà ngoại:

    “Ông ơi, bà ơi, cháu là con của Lính Cộng Hòa đấy.”

    Tức là, tôi không có dính dáng gì đến Việt Cộng cả. Vậy thì tại sao tôi lại có cái tên... “Việt Cộng Con”?

    Theo lời bố tôi kể lại, bố mẹ tôi quê quán ở Phú Thọ, sau chuyển về Hà Giang. Đến năm 1979 thì mới về Hà Nội ở. Lúc đầu, gia đình tôi không có "hộ khẩu", phải sống tạm bợ ở gầm cầu. Hàng ngày, ba mẹ tôi đi ra chợ, bến xe hàng hay là bến xe lửa xuyên Việt đứng chờ công việc làm, ai nhờ việc gì thì làm việc nấy, thông thường là khuân vác, đẩy xe, cưa cây... Kiếm được việc làm không phải dễ, vì ba mẹ tôi là dân mới tới, thường bị đám người sống lâu năm ở chợ tranh dành đuổi đi đừng ở nơi xa chứ không cho đứng ở gần chợ.

    Một hôm, có một đoàn người gồm đa số là đàn bà từ miền Nam vào, nhờ đẩy hàng đi Hà Giang. Hà Giang cách Hà Nội cả trăm cây số, đám đầu nậu không biết địa thế, hơn nữa, vì Hà Giang gần núi, có nhiều sơn lam chướng khí, nên không ai dám nhận đi hàng, bọn chúng mới gọi bố mẹ tôi đến mà bố thí cho việc làm. Tưởng đi đâu chứ Hà Giang thì bố mẹ tôi sống ở đó từ nhỏ, biết từng góc rừng, từng con đường mòn xuyên qua núi. Thì ra đó là những người vợ, con của Lính Cộng Hòa bị đi tù cải tạo. Từ Hà Nội đến Hà Giang thì có xe hàng, nhưng từ Hà Giang tới các trại tù thì phải gánh hàng đi bộ nhiều ngày mới tới.

    Bố mẹ tôi chịu cực khổ đưa những người khách hàng đến tận nơi, chờ họ gặp người thân xong xuôi rồi lại đưa họ trở về ga Hàng Cỏ Hà Nội. Những người này cám ơn bố mẹ tôi và tặng tiền nhiều lắm. Sau chuyến đi đó, bọn đầu nậu đứng bến có vẻ nể nang bố mẹ tôi, không dám dành mối như trước nữa. Thực ra, cũng vì không có đứa nào biết đường đi nước bước ở Hà Giang và những vùng xa xôi có trại tù cải tạo, nên bố mẹ tôi hầu như được độc quyền đưa đón thân nhân những người tù cải tạo. Những người này vừa tử tế lịch sự, vừa cho tiền thưởng khá, vì thế, cuộc sống của gia đình tôi mới đỡ vất vả. Nhờ có ít tiền, bố mẹ tôi mới... mua được hộ khẩu ở Hà Nội và cho anh em chúng tôi đi học. Trong thời gian đưa đón những người Miền Nam này, bố mẹ tôi đã được họ tin tưởng, vui vẻ nói chuyện và còn chỉ dẫn cách nấu những món ăn ở Miền Nam, như là bánh xèo, bánh phồng tôm, chả giò... Đã có một lần, một nhóm người vì phải mang theo nhiều hàng, lại già yếu bệnh tật, nên đã nhờ bố mẹ tôi vào Nam để mang hàng từ đó ra ngoài Bắc cho họ. Nhân dịp này, họ đã đưa bố mẹ tôi đi chợ mua những món hàng cần thiết và đãi bố mẹ tôi ăn một bữa no say.

    Đến khi những người đi thăm thân nhân tù cải tạo vơi đi dần, bố mẹ tôi liền giải nghệ mà mở một quán ăn nhỏ, chuyên bán những “Món Ngon Miền Nam”. Thời gian đó, bất cứ món hàng nào có xuất xứ "Miền Nam" đều được dân miền Bắc thèm muốn, mua bằng hết, từ cây kim sợi chỉ, nói chi tới những Món Ngon Miền Nam. Cửa hàng của bố mẹ tôi vì thế mà lúc nào cũng đông khách.

    Học xong đại học, tôi xin đi làm cho chính phủ, thời gian rảnh thì phụ bố mẹ tôi trông coi công việc. Cửa hàng bán những món ăn miền Nam của bố mẹ tôi càng ngày càng phát triển, không những chỉ bán hàng ăn, bố mẹ tôi còn mở công ty, mua nhiều loại hàng ở miền Nam đem ra Bắc bán nữa.

    Trong thời gian làm việc, tôi đã được tiếp xúc với một số bạn bè đi du học trở về, đa số đều nói ngoại ngữ rất khá, và đều vào Sài Gòn làm việc, chứ không chịu ở lại ngoài Bắc, dù rằng Hà Nội mới là thủ đô. Tôi bắt chước bạn bè, xin bố mẹ tôi cho vào Nam làm việc, nhân tiện làm đầu cầu mua hàng trong Nam đem ra Bắc.

    Vào tới Sài Qòn rồi, đi làm một thời gian rồi, tôi mới thấy là giữa những người giữ chức vụ cao, được gọi là "lãnh đạo cơ quan" mặc dù là học thức kém, tầm mức hiểu biết về việc làm rất là hạn chế, nhưng lại là những người ngồi mát ăn bát vàng, hống hách với dân chúng nhiều nhất. Càng tỏ ra khó khăn, họ càng được hối lộ và lấy đuợc nhiều tiền trong công quỹ. Những người có bằng cấp, biết làm việc và phải tiếp xúc với dân chúng nhiều như chúng tôi thì lại bị đẩy cho làm việc thật là nhiều. Và cũng vì sự hống hách quan liêu của cấp trên, mà chúng tôi bị vạ lây, bị dân chúng miền Nam ghét bỏ. Thậm chí, chỉ nhìn thấy chúng tôi, hoặc chỉ cần nghe giọng nói của chúng tôi thôi, họ đã bỏ đi, không quên nói nhỏ với nhau: "Cái đồ Bắc Kỳ... thấy ghét"

    Mặc dù những điều kiện mà chúng tôi giải thích, là do cấp trên đòi hỏi, chứ chúng tôi không hề muốn làm như vậy.

    Một vài lần, tôi được dịp may tiếp xúc với những người ngoại quốc tới làm việc chung với chúng tôi, họ có kiến thức rất cao, nói chuyện rất lịch sự. Cũng có những lần tôi được tiếp xúc với vài du khách đến nhờ làm thủ tục, tôi thấy họ nói chuyện cũng hòa nhã và rất hiểu biết. Tầm mắt và kiến thức của tôi được mở rộng, tôi muốn được đi du học để mở mang trí tuệ, và cũng để có thể giúp cho công việc làm ăn của gia đình tôi được phát triển hơn. Tôi đem việc này ra bàn với bố mẹ tôi, cả hai đều đồng ý, nhất là ông bà nội của tôi. Chọn nơi học mới là điều khó khăn hơn cả. Đa số các bạn bè của tôi chọn đi học ở Mỹ (nhất là những đứa có cha mẹ có quốc tịch đảng), tôi lại thấy Úc là xứ sở hiền hòa có nhiền nét về văn hóa nghệ thuật, nên tôi đã chọn môn học về Tài Chánh ở trường Đại Học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), Melbourne, nước Úc.

    Dù là đã có một ít vốn liếng tiếng Anh đã học ở trường học cũng như trường đời, nhưng ngày đầu tiên đến giảng đưởng nghe giảng bài, thú thực là tôi như con vịt nghe sấm, chẳng hiểu ông giảng viên tóc vàng nói cái gì cả, vì giọng của ông hoàn toàn là giọng Úc, khác xa với những phát âm theo tiếng Mỹ mà tôi đã từng nghe ở Việt Nam. Môn học kế tiếp thì tôi lại còn thua nặng hơn nữa, vì giảng viên này gốc ngưởi Ấn Độ, tiếng Anh của ông còn pha nhiều âm thanh R R R thật là khó nghe.

    Hai năm trời trôi đi thật nhanh, ngoài giờ học, tôi xin đi làm thêm ở những nhà hàng ăn ở đường Victoria, khu vực Richmond. Những nhà hàng này tuy bán món ăn Việt Nam nhưng đa số khách hàng lại là người da trắng, nên nhờ đó mà tiếng Anh của tôi đã khá hơn trước và cách phát âm cũng vì thế mà đổi hoàn toàn theo giọng Úc.

    Cuối cùng, tôi đã học xong cái bằng Master và sửa soạn khăn gói về nước. Bạn bè của tôi đa số xin ở lại Úc làm việc và sinh sống, tôi không có ý định ở lại, chỉ muốn về phụ giúp gia đình mà thôi.

    Tôi mua vé máy bay về Sài Gòn trước, nghỉ ở đó một ngày gặp bạn bè rồi mới về Hà Nội ở luôn. Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông trung niên, ông không bắt chuyện với tôi mà chỉ ngồi im lặng, lâu lâu lại nhìn vào cái hộp sắt gắn kín đang cầm trên tay. Mãi khi xuống phi trường Changi để nghỉ hai tiếng, ông mới mở miệng nhờ tôi cầm dùm cái hộp sắt để đứng lên lấy hành lý để trên khoang xuống. Cái hộp tưởng là bằng sắt nhưng lại là hộp bằng nhôm rất nhẹ.

    Ngồi trên ghế chờ đợi, ông mới cho tôi biết đó là cái hộp đựng tro của vợ ông. Vợ ông mới qua đời tuần trước, đã được hỏa táng và ông đem về Việt Nam để ở nhà mẹ vợ, theo lời trăn trối của vợ ông trước khi chết.

    Tới phi trường Tân Sơn Nhất, ông chào và cám ơn tôi một lần nữa rồi ai về nhà nấy. Tôi không biết tên ông là gì và ông cũng chẳng bĩết tôi là ai?

    Một năm sau, tôi quay trở lại Úc để dự lễ phát bằng cấp cho đứa em tôi. Đang đi trên đường Victoria, thật là ngạc nhiên, tôi đã gặp lại ông khách đi chung máy bay hồi nào. Ông cho tôi biết đã đem tro tàn của người vợ về xong xuôi rồi, đã đi làm trở lại. Tôi cũng cho ông hay là tôi đã xin được việc làm và đang làm việc ở Sài Gòn, nhân dịp dự lễ phát bằng cấp cho đứa em, tôi xin nghỉ một tháng để đi thăm những thắng cảnh Úc mà trong suốt hai năm đi học tôi không có thì giờ đi đâu cả. Lần này ông cho tôi số điện thoại và nói nếu tôi muốn đi chơi thăm phong cảnh, ông sẽ xin nghỉ đưa tôi đi cho vui.

    Thế là chúng tôi quen nhau. Ông tên Thanh, là Lính Cộng Hòa, ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông là một chuẩn úy 18 tuổi mới ra trường, đánh trận đầu tiên và cũng là trận cuối cùng của đời lính. Ông có hai đứa con nhưng chúng nó đi làm ở Tiểu bang khác, lâu lâu mới về thăm nhà, còn tôi, tôi ba mươi lăm tuổi rồi, và chưa có ý định gì về tương lai cả.

    Về lại Sài Gòn, chúng tôi vẫn tiếp tục emails qua lại với nhau. Có một lần ông về Việt Nam thăm tro tàn của vợ và nhân dịp đó đi chơi uống cà phê với tôi. Qua năm sau, tôi muốn trở lại Úc một lần nữa để đi thăm Đảo San Hô ở Queensland, Thanh cũng xin nghỉ để đi chơi cùng với tôi.

    Thanh đã ngỏ lời muốn cưới tôi làm vợ. Suy đi nghĩ lại, tôi tuy còn độc thân nhưng đã lớn tuổi rồi (so với Thanh thì tôi còn nhỏ lắm), nên đồng ý làm vợ Thanh.

    Thanh làm bữa tiệc gia đình để ra mắt tôi với hai đứa con và bạn bè. Hai đứa con của Thanh nói toàn tiếng Anh, tụi nó không có ý kiến gì, miễn thấy ba nó vui là được rồi. Lần đầu tiên gặp những người bạn của Thanh, tôi vui miệng kể lại cuộc đi chơi ở Đảo San Hô:

    “Thật là... Hoành Tráng chưa từng thấy. Đi xem đảo xong, chúng em đi phố mua hàng, chỗ nào cũng bán Khuyến mãi, thích ghê..”

    Cả nhà đang ồn ào, tôi chợt thấy không khí có vẻ im lặng sau khi tôi nói chuyện, những người bạn của Thanh nhìn tôi có vẻ e dè lắm, họ vẫn nói chuyện, nhưng hình như không có nói chuyện với tôi. Một bà vợ của người bạn thân của Thanh đã hỏi thẳng tôi:

    “Cô là... du học sinh hả? Lấy chồng già để... được ở lại Úc hả?”

    Khi vào trong bếp lấy thêm đồ ăn, tôi thoáng nghe một người nào đó nói nhỏ với Thanh:

    “Mày lấy... Việt Cộng Con đấy à?”

    Tôi nghe Thanh trả lời:

    “Đâu phải ai nói giọng Bắc cũng đều là Việt Cộng hết đâu!”

    Tiệc cưới của chúng tôi mới là phiền phức, mặc dù chúng tôi chỉ tổ chức đơn giản thôi, nhưng bạn bè của Thanh nhận thiệp mời, họ đều có vẻ ngại ngùng, không muốn tham dự. Thanh nói với tôi:

    “Ông hội trưởng của anh họp cả hội lại để lấy quyết định... có dự tiệc cưới của anh hay không? Họ quyết định... đi với tư cách cá nhân mà thôi, vì dù sao cũng là bạn bè.”

    Tôi ngần ngừ nói với Thanh:

    “Anh ơi... nếu thấy khó khăn quá, hay là... mình đừng có lấy nhau nữa... Sao họ lại... kỳ thị với em như vậy? Em nói tiếng Bắc, vì em sinh đẻ ở ngoài Bắc, chứ em đâu có tội tình gì đâu?”

    Thanh an ủi tôi:

    “Em cũng phải hiểu cho họ, họ cũng như anh, đều là những người bị bọn Cộng Sản Bắc Việt xâm chiếm đất nước, bắt tù bắt tội sống chết đủ điều. Suốt ngày họ nghe cái giọng Bắc kỳ mạt sát họ, nó thấm vào đầu, nên không thể có cảm tình với cái giọng Bắc được. Anh hiểu em, nhưng họ chưa hiểu và chưa thông cảm cho em. Cứ để một thời gian, họ sẽ hiểu em đó mà.”

    Tôi sinh đứa con trai đầu lòng, đặt tên cháu là Nam. Ngày thôi nôi, anh chị nó đến dự, vui vẻ thay phiên ẵm em, đứa con gái út của Thanh ẵm em vừa cười vừa nói:

    “My... baby brother”

    Những người bạn chúc mừng Thanh... “Đáo Mã Thành Công”.

    Khi tôi tháo chiếc dây chuyền hộ mạng của tôi đeo vào cổ cho Nam, một bà ngạc nhiên nhìn sợi giây mà hỏi tôi:

    “Cái gì vậy?”

    “Dây chuyền hộ mạng của em đấy.”

    “Đẹp quá nhỉ! Ai khắc mà đẹp quá, hình như là hai cái mặt chữ khắc trên gỗ đen thì phải.”

    Chồng tôi biết tôi có sợi dây chuyền này, nhưng coi đó là đồ nữ trang của tôi thôi, nên chẳng để ý đến. Khi thấy ai cũng nhìn vào nó, tôi vui miệng kể lại lai lịch của sợi giây chuyền cho tất cả cùng nghe:

    Tôi sinh ra ở Hà Giang. Nói là Hà Giang chỉ để cho có nơi có chốn trên bản đồ mà thôi, chứ thực ra, nơi tôi sinh ra không có tên trên bản đồ miền Bắc. Đó là một nơi ở giữa rừng núi âm u không có vết chân người.

    Theo bố tôi kể lại, vào thời năm 1954, khi mọi người dân đều muốn di cư vào Nam, gia đình tôi gồm có ông bà nội, ba mẹ tôi và gia đình của các bác các chú đã gồng gánh từ quê lên Hải Phòng, để xuống tầu di cư vào Nam. Khi đang ở trên đường thì gặp một đám người khác cũng nhận là đi di cư và biết có một con đường tắt đi Hải Phòng rất gần, thế là cả bọn theo chân đám người này. Đến chiều tối thì có xe hàng tới chở tất cả, nói rằng đi xe cho chóng đến nơi. Xe chở đi tới một vùng rất xa, tài xế cho mọi người xuống mà nói rằng, nghỉ đỡ đêm nay, sáng mai sẽ có xe khác tới chở thẳng đến Hải Phòng. Ai cũng vui mừng trải chiếu ra ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, có xe tới đón thật, nhiều xe lắm, xe nào cũng chở đầy người. Mọi người vui mừng kéo nhau lên xe đi Hải Phòng. Xe đi cả ngày trời vẫn không tới vùng biển như mọi người mong đợi, trái lại, xe chở mọi người tới một nơi đầy lính canh có súng. Những người lính này chĩa súng bắt tất cả ngồi im không được hỏi han gì cả, họ khiêng từng miếng vải nhà binh tới phủ kín xe rồi bắt đầu chạy suốt đêm. Đến sáng mới tói nơi, cả bọn được đẩy xuống xe để bị chỉa súng bắt đi bộ vào trong rừng. Tới nơi, cán bộ tập họp mọi người lại, kết tội cả nhóm là đã phạm tội phản lại nhân dân, bỏ trốn vào miền Nam, bị đầy vào đây đến bao giờ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, sẽ được về với nhân dân.

    Đến lúc đó, mọi người mới biết rằng đã bị bọn Cộng sản đưa người ra dụ dỗ đi theo chúng để rồi bị đi đầy vào vùng rừng núi âm u không biết ngày về. Lâu lâu lại có từng đoàn người khác hoặc được xe chở, hoặc bị xiềng xích đi bộ ngang qua để tới những nơi xa xôi hoang vắng khác được gọi là “Cổng Trời”.

    Vào khoảng năm 1960, có thêm một nhóm tù nữa được đưa tới Cổng Trời, đám người này thỉnh thoảng được ra ngoài làm rừng, họ tự xưng là “Biệt Kích Miền Nam” được thả ra Bắc để hoạt động, chẳng may bị bắt.

    Tôi sinh ra vào năm 1973 ở cái vùng rừng núi âm u, trại tù của những người muốn di cư vào Nam năm 1954 và trải qua thời thơ ấu ở giữa nơi núi rừng trùng điệp không bóng người này. Khi tôi được năm tuổi, một hôm đi theo cha chặt mây, đã bị ngã xuống hố sâu. Bố tôi bất lực nhìn thân xác của tôi mà không có cách nào để cứu. May thay, một nhóm Biệt kích đi ngang, thấy vậy đã thòng dây đu xuống tận vực xâu mà cứu tôi lên và đưa cả hai bố con tôi về tận nhà. Từ đó, lâu lâu những người Biệt Kích này lại đi ngang vào thăm gia đình tôi. Người Biệt kích cứu tôi nhận tôi làm con nuôi và đã gỡ sợi dây chuyền ông đang đeo để đeo vào cổ tôi mà nói:

    “Tặng cho cháu cái bùa hộ mạng đó.”

    Ông giải thích cho bố tôi biết, sợi dây chuyền này do ông đẽo gỗ trong rừng mà khắc thành hai chữ BK tức là Biệt Kích. Các chú này đã khuyên bố mẹ tôi nên tìm cách về thành phố mà sống, chứ đừng ở mãi nơi rừng hoang cô quạnh này mà bỏ phí cuộc đời của những dám con cháu.

    Năm 1979, khi Trung Cộng bắt đầu đánh Miền Bắc, những Biệt Kích đã bị đem đi nơi khác, bố mẹ tôi nhớ lời các Biệt Kích mà tìm đường trốn về Hà Nội, vì thế, tôi mới được đi học và sống cho đến ngày hôm nay.

    Khi tôi kể xong câu chuyện, mọi người đều thay nhau cầm lấy sợi dây chuyền của con tôi một cách trân trọng và quý mến. Người bạn mà trước đây gọi tôi là “Việt Cộng Con” là người đầu tiên hỏi tôi:

    “Gia đình của chị bị đưa đi... vùng kinh tế mới Cổng Trời đấy à? Chỉ vì muốn di cư mà bị đầy ải suốt hơn hai mươi năm trời đấy sao? Bọn Việt Cộng chúng mày sao mà tàn ác thế! Cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho gia đình chị, những người Việt Nam yêu Tự Do, còn sống được cho đến ngày hôm nay.”

    Tôi mỉm cười nói thêm vào:

    “Tôi cảm ơn Trời Phật và cảm ơn Chúa nữa. Ông bà chúng tôi không đi tìm Tự Do vào năm 1954 được, thì đến đời cháu tức là đời của chúng tôi, chúng tôi đã tìm được Tự Do rồi đấy. Nhờ các anh Biệt Kích Miền Nam mà tôi được cứu sống, nhờ lời khuyên của các anh mà bố mẹ tôi mới dám trốn vùng cải tạo để về được tới Hà Nội. Cũng nhờ những bà mẹ, bà vợ của những người Lính Miền Nam bị tù cải tạo mà bố mẹ tôi mói có cuộc sống đáng sống. Các anh chị thấy không, nhờ tình người, nhờ những người Miền Nam mà chúng tôi mới sống đến ngày hôm nay, chứ đâu có bác nào đảng nào cứu giúp chúng tôi đâu? Cũng vì thế mà dù có ai nói gì thì nói, tôi cũng cứ lấy người Lính Cộng Hòa mà tôi quý mến.”

    Từ hôm đó, tôi thấy tất cả bạn bè của Thanh đã thay đổi thái độ với tôi. Các anh đã gọi tôi là “Chị Thanh” và các bà đã gọi tôi bằng “Trinh” hoặc là “Cô Em Gái Bắc Kỳ”.

    Con tôi đã được năm tuổi rồi, cháu đã đi học mẫu giáo, tôi có thì giờ đi tìm một công việc tạm thời. Tôi tìm đến một văn phòng luật sư của người Việt để xin làm điện thoại viên. Ông luật sư phỏng vấn tôi xong, nói với tôi:

    “Để chú sắp xếp cho cháu làm hồ sơ nhé, còn công việc nghe điện thoại, chú sẽ tìm người khác”

    Tôi thông cảm với ông luật sư, mọi người vẫn còn... ác cảm, còn... kỳ thị với giọng nói Bắc Kỳ của tôi.

    Tôi xin lỗi đã nói như vậy, nhưng thật sự tôi không biết dùng chữ gì để nói về hoàn cảnh của tôi.

    Chồng tôi đã thông cảm với tôi, anh Thanh đã nói với tôi:

    “Người ta nói “Cái áo không làm nên ông thầy tu” Nhưng thực sự cái áo đã làm cho người ta nhìn lầm nguời mặc nó là thầy tu. Em không những nói giọng Bắc, em còn dùng những từ ngữ mà cái đám Việt cộng thường dùng, ngay cả những người miền Nam hay những người Lính Cộng Hòa mà nói cái giọng đó, cũng bị ghét, nói chi là Bắc Kỳ rặt như em.

    Em cứ giữ cái giọng Bắc Kỳ của em, nhưng em đừng... Hoành Tráng, đừng... Bức Xúc nữa, có được không?”

    Tôi suy nghĩ... Đúng! Chồng tôi nói đúng.

    Nhập Gia Tùy Tục – Nhập Giang Tùy Khúc.

    Tôi đã lấy chồng Lính Cộng Hòa rồi, mà tôi lúc nào cũng có cái giọng Bắc Kỳ Hai Nút (75, Bắc Kỳ Chín Nút tức là Bắc Kỳ 54) thì ai mà chịu nổi.

    Bây giờ, tôi không còn... “Xử Lý” nữa, mà tôi phân tích, tôi tìm hiểu từng trường hợp mà giải quyết cho thỏa đáng. Mỗi khi đi ra ngoài đường, nghe tôi nói chuyện, không còn ai quay lại nhìn tôi rồi bỏ đi chỗ khác nữa.

    iĐôi khi, những ông bà bạn của anh Thanh vẫn gọi tôi là “Việt Cộng Con”

    Nhưng họ nói chỉ để mà đùa dỡn mà thôi, chứ không còn châm chọc như trước nữa.

    Riêng phần con tôi, cháu Nam, lúc nào cháu cũng khoe:

    “Con là con của “Lính Cộng Hòa” mà!”



    Nguyễn Khắp Nơi
  13. Đàn ông sợ vợ thì sang.
    Đàn ông đánh vợ tan hoang cửa nhà.
    Đàn ông nên biết thờ bà.
    Nghe lời vợ dạy là hàng trượng phu.
    Đàn ông đánh vợ là ngu.
    Tốn tiền cơm nước, ở tù như chơi.
    Lấy nàng từ thuở mười năm.
    Đến khi mười chín tôi đà năm con.
    Nàng thì trông hãy còn son.
    Tôi thì đinh ốc bù lon rã rời.
    Nắng mưa là chuyện của trời.
    Tề gia nội trợ tôi đây bao thầu.
    Suốt ngày cày cấy như trâu.
    Chiều về rửa chén cũng ngầu như ai.
    Nấu cơm, đi chợ hàng ngày.
    Bồng con, thay tã tôi đây vẹn toàn.
    Lau nhà lau cửa chẳng màng.
    Ôi thôi oanh liệt ngang tàn còn đâu.
    Nhiều khi muốn hộc xì dầu.
    Xin em nghỉ phép nàng chau đôi mày.
    Nàng xăng tay đấu võ đài.
    Tung ra một chưởng chén bay ào ào.
    Nhớ xưa mình mới quen nhau.
    Em ăn em nói ngọt ngào dễ nghe.
    Cho nên tôi mới bị lừa.
    Mang thân heo nọc cậy nương nơi nàng.
    Than ôi thực tế phũ phàng.
    Mày râu một kiếp thôi đành đi đong.
    Một lòng thờ vợ sắt son.
    Còn non còn nước thì tôi còn thờ


    Sưu tầm
  14. Đừng để nhìn thấy 1 nụ cười rồi mới cười lại.

    Đừng đợi đến khi được yêu thương mới yêu thương lại.

    Đừng đợi đến khi cô đơn mới nhận ra giá trị của tin nhắn.

    Đừng đợi đến khi có 1 công việc thật vừa ý rồi mới bắt đầu làm.

    Đừng để có thật nhiều rồi mới chia sẻ đôi chút.

    Đừng để đến khi làm người khác buồn rồi mới xin lỗi.
    Ðừng hạ thấp giá trị của mình bằng cách so sánh bản thân mình với người khác. Mỗi chúng ta là một con người khác nhau và đều có những giá trị khác nhau.
    Ðừng mãi mê theo đuổi những mục tiêu mà người khác cho là quan trọng, vì chỉ có bạn mới hiểu rõ những mục tiêu nào là tốt cho mình.
    Ðừng ngại học hỏi. Kiến thức là một tài sản vô hình và sẽ là hành trang vô giá theo bạn suốt cuộc đời.
    Ðừng ngại mạo hiểm để làm những điều tốt. Ít nhất bạn cũng học được cách sống dũng cảm với những lần mạo hiểm.
    Ðừng nên phí phạm thời gian hoặc những lời nói thiếu suy nghĩ. Cả hai thứ ấy một khi đã qua đi hay thốt ra thì không thể nào bắt lại được.

    Đừng để cuộc sống đi qua mắt bạn chỉ vì bạn đang sống trong quá khứ hay tương lai. bằng cách sống cuộc sống của mình ngày hôm nay, vào lúc này, bạn đang sống tất cả mọi ngày trong cuộc đời.
    Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.
    Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình, chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do để cố gắng thực hiện điều đó.
    Đừng lấy của cải vật chất để đo lường thành công hay thất bại, chính tâm hồn của mỗi con người mới xác định được mức độ "giàu có" trong cuộc sống của mình.
    Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.
    Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời.
    Đừng chạy trốn mà hãy tìm đến tình yêu, đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.
    Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.
    Đừng từ chối nếu bạn vẫn còn cái để cho.
    Đừng ngần ngại thừa nhận rằng bạn chưa hoàn hảo.
    Đừng e dè đối mặt thử thách. Chỉ khi thử sức mình, bạn mới học được can đảm.
    Đừng đóng cửa trái tim và ngăn cản tình yêu đến chỉ vì bạn nghĩ không thể nào tìm ra nó. Cách nhanh nhất để nhận tình yêu là cho, cách mau lẹ để mất tình yêu là giữ nó quá chặt, cách tốt nhất để giữ gìn tình yêu là cho nó đôi cánh tự do.
    Đừng đi qua cuộc sống quá nhanh đến nỗi bạn quên mất mình đang ở đâu và thậm chí quên mình đang đi đâu.
    Đừng quên nhu cầu cảm xúc cao nhất của một người là cảm thấy được tôn trọng.
    Đừng ngại học hỏi. Kiến thức là vô bờ, là một kho báu mà ta luôn có thể mang theo dễ dàng.
    Đừng sử dụng thời gian hay ngôn từ bất cẩn. Cả hai thứ đó đều không thể lấy lại.
    Đừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ, vì biết được thêm một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi.
    Đừng quên mỉm cười trong cuộc sống.
    Đừng quên tìm cho mình một người bạn thực sự, bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt cuộc đời.
    Và cuối cùng đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần. Bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng.
    Cuộc sống không phải là một cuộc chạy đua, nó là một cuộc hành trình mà bạn có thể tận hưởng từng bước khám phá...
  15. Đây là chuyện có thật của một nhân viên mật vụ Nga dưới thời Cộng Sản. Chuyện anh đã được dịch ra 15 ngôn ngữ trên thế giới. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại để thấy có những chuyện ngày xưa, cũng giống chuyện ngày nay.

    ===========================================

    Từ trên bong tầu Sergie nhìn xuống dưới, mặt biển đen ngòm một màu đen thăm thẳm. Hơi nước lạnh bốc lên làm anh rùng mình, nước lạnh hơn mức anh đã dự trù, biển Canada quá lạnh, vì nó là nước đá. Nếu thân nhiệt anh không đủ ấm, anh sẽ chết. Nhưng dù chết anh cũng phải phóng xuống... *... Đế quốc Sô Viết trong thời cực thịnh, đã giang cánh diều hâu bao phủ phần lớn Âu Châu, gieo rắc lá cờ nhuộm máu đến khắp mọi nơi trên thế giới. Với mũi lao là Hồng Quân sẵn sàng xuyên qua biên giới bất kỳ nước nào. Với tấm khiên là cơ quan mật vụ KGB bảo vệ chế độ.

    Cơ quan này là cơ quan quyền lực nhất của nước Nga, tuy trên hiến pháp nó chỉ là mõt trong nhiều cơ quan của nhà nước. KGB ngoài nhiệm vụ khám phá bất kỳ một âm mưu nào nhằm lật đổ chế độ, nó còn phải tiêu diệt tất cả những cá nhân phe nhóm đoàn thể nào không có lợi cho chế độ. Để đạt trọn vẹn mục đích 100%, KGB đã tìm và huấn luyện cán bộ theo một phương thức hết sức tàn độc: Lựa từ các trại mồ côi, các em nhi đồng không cha không mẹ, trí óc còn non nớt đem về dạy kinh điển Mác Lê từ nhỏ, dạy trên đời này chỉ có đảng là đúng, là chân lý tối thượng, biến các en thành một người máy, giao cho các em cái búa cái liềm và một cái đầu kiêu căng với quyền lực thừa mứa, đi chém giết, thẳng tay chém giết tất cả những gì không đi chung đường với đảng. Đối tượng để đảng tiêu diệt thì nhiều lắm, đảng có rất nhiều kẻ thù, ngoài đế quốc Mỹ, các nước tư bản chuyên bóc lột nhân dân lao động, bọn xét lại, v.v...

    Nhưng kẻ thù mà đảng đặt lên trên hết đảng phải tiêu diệt cho bằng hết, đảng phải động viên các nhân viên xuất sắc nhất để đánh gục. Đó là bọn tín đồ Kitô Giáo. Bọn này không có bom nguyên tử, không có Hồng Quân, không có tàu ngầm nguyên tử Lenin, v.v... Chúng chỉ có quyển Kinh Thánh mà chúng tin cho đến cùng. Chúng còn dụ dổ những người nhẹ dạ khác theo chúng. Bọn này là bọn cuồng tín, nhất định không chấp nhận vô thần, dù chết chúng cũng không bỏ đạo. Sergie Khourdakop là mẫu người Cộng Sản lý tưởng. Mồ côi cha mẹ năm lên bốn. Ở trong viện mồ côi là ''cháu Lenin''.

    Đi học làm trưởng đoàn thiếu nhi quàng khăn đỏ. Vào Học Viện Hải Quân Sô Viết, làm thủ lãnh Đoàn Thanh Niên CS, dạy Mác Lê cho 1200 sinh viên sĩ quan hải quân. Bây giờ Sergie đã là "con Lenin". Gia nhập toán cảnh sát đặc biệt, quyết dơ cao búa liềm đập nát đầu những kẻ chống đối cách mạng. Vào thập niên 1970, CS mạnh hơn bao giờ hết. Ở Phi Châu lần lượt Angola, Ethiopia, Libia hát Quốc Tế Ca. Ở Châu Mỹ, qua trạm xuất khẩu Cuba, El Sanvado, Chile, Bolivia đứng dưới bóng cờ đỏ búa liềm. Ở Á Châu, Afganistan, Việt, Miên, Lào rơi v ào tay CS.

    Ngày đó không ai dám tiên đoán CS sẽ sụp đổ trong thế kỷ này, nếu không muốn nói thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của CS.Trên đỉnh cao quyền lực bấy giờ là Brejenev. Ở một triền sóng nhỏ hơn, một thanh niên tuy còn ở xa Moscow nhưng có một giáng dấp rất giống vị cha già lông mày chổi xể là Sergie Kourdacop. Công việc thường xuyên của Sergie là nhận chỉ thị trưực tiếp từ Azarov, trưởng khối mật vụ tỉnh Kamchatka, trong đó cho biết ngày giờ, địa điểm mà nhóm tín đồ sẽ cầu nguyện.

    Nhiệm vụ của nhóm Sergie là sẽ đến để đàn áp nhóm tín đồ này. Ở Nga, trên hiến pháp có ghi quyền tự do tín ngưỡng, nhưng đó chỉ dùng đến khi đi ăn nói, vay nợ với Tây Phương mà thôi. Trên thực tế, người dân Nga không được phép hành đạo, họ không được đi nhà thờ, không được tụ tập nhau lại để cầu nguyện, hay làm bất cứ nghi thức tôn giáo gì, không được giữ Kinh Thánh, vi phạm tội rất nặng, ngay cả sao chép lại Kinh Thánh cũng bị kể là trọng tội.
    Nhưng càng cấm đoán người dân Nga càng theo đạo đông. Càng bị bách hại họ càng trung thành với Chúa.Họ lén lút tụ tập nhau lại để đọc kinh, đọc sách thánh, hát Thánh ca và dạy Giáo lý cho những người mới theo đạo.Hôm nay, Sergie đi đến trụ sở Sở Cảnh sát đặc biệt, toán hành động đặc biệt của anh đã có mặt. Trùm KGB Anzarov vào đề:

    - Chiều nay bọn tín đồ sẽ tổ chức một buổi lễ rửa tội, chúng là bọn nguy hiểm nhất cho chế độ, nhà nước có thể đóng cửa nhà thờ của bọn chúng, nhưng cái nguy hiểm nhất trong con người chúng nó là đức tin. Tôi cũng như các tổ KGB khác đã nhận lệnh từ đồng chí Brejne phải tiêu diệt bọn chúng.

    Tất cả xúm quanh cái bàn tròn trên trải tấm bản đồ. Từ đây đến đó 20 phút. Chỗ sẽ làm lễ rửa tội là một con sông, chung quanh có đồi núi và một cánh rừng thưa. Sergie chỉ vào một điểm trên bản đồ.

    - Mình sẽ giấu xe ở đây, tất cả sẽ mai phục trong cánh rừng thưa, trừ hai đồng chí trừ bị lội qua sông trước, mai phục bên kia sông đề phòng bọn chúng tẩu thoát lối này.

    Sergie ban lệnh một lần nữa, anh có thói quen cẩn thận coi lại từng sự việc.

    Những ngày tháng trong trại mồ côi phải tranh đấu cho anh biết không có sự cẩn thận nào là vô ích. Toán hành động đặc biệt lên đường. Lễ rửa tội diễn ra bên bờ sông làng Elizovo tỉnh Petropaviovsk. Khoảng 20 tín đồ tụ tập bên bờ sông hát Thánh Ca, một số người mặc áo dài trắng lội xuống nước cùng với vị linh mục, tất cả lộ nét xúc động và chân thành trên khuôn mặt, không ai biết tai họa đang giáng xuống.

    Sergie dơ cây ma trắc ra hiệu. Mười bốn tên cảnh sát đặc biệt nhào vào đám con chiên ngoan đạo. Trong vòng năm phút tất cả chỉ còn thấy máu và những tiếng rên rỉ. Một bà cụ già vừa kêu lên "Lạy Chúa tôi" liền bị ngay một quả đấm thôi sơn của vô địch quyền Anh Siberia vào ngay miệng. Bà cụ đã chết ba ngày sau đó. Một thiếu nữ trẻ bị đánh rách tai, máu tuôn xối xả. Còn vị linh mục, xác ông chìm xuống nước, máu loang đỏ. Trận bố ráp kết thúc giản dị không ngờ. Đám tín đồ còn lại bị tách làm hai, nam riêng, nữ riêng. Đám thiếu nữ bị toán cảnh sát đặc biệt hãm hiếp, họ kêu la với những tiếng khóc xé lòng.

    Đã nghe tiếng khóc này trong đời thì không thể nào quên được. Nó còn hơn tiếng khóc của bà mẹ mất con, tiếng khóc này có thể là tức tưởi, có thể là gào khóc điên cuồng đòi lại cái đã mất. Nhưng tiếng khóc của những thiếu nữ này là khóc để giữ lại cái đang mất, cái đó có thể là sự trong trắng, có thể là cuộc đời, có thể là sinh mạng mình, có thể là tất cả. Những cái đó phải bảo vệ, và vũ khí bảo vệ nó chỉ là tiếng khóc. Tiếng khóc này là tất cả khả năng sinh tồn của một người thiếu nữ đứng trước sự tàn nhẫn của con người và cuả cuộc đời.

    Không bút mực nào diễn tả đủ được. Đám đàn ông thanh niên bị trói ngồi gục đầu. Sau khi thỏa mãn, đám cảnh sát đẩy tất cả lên xe, các cô gái vẫn còn lõa thể gục xuống như một tầu lá úa. Đến trụ sở cảnh sát, các cô này lại bị đẩy vào phòng giam những tên say rượu, ở Nga dân chúng uống rượu rất nhiều, phòng giam đông nhất vẫn là những tên say rượu. Những người thiếu nữ bất hạnh này bị hiếp tàn bạo suốt đêm. Người nhỏ nhất là Nina Rudenco 16 tuổi, em không bao giờ hồi phục lại được.

    Sau khi thi hành xong công tác, mỗi tên được lãnh 25 rúp, trong khi lương của một sinh viên sĩ quan hải quân chỉ được 7 rúp một tháng. Tất cả kéo nhau đi đổ rượu Voska tới sáng. Sergie và toán cảnh sát đặc biệt thực hiện trên 150 lần công tác, lần nào cũng thành công, mà không thành công sao được, khi mà bọn tín đồ đều không chống cự, chỉ biết khóc và cầu nguyện, "Cầu nguyện mà làm gì, Chúa làm gì có, có thì đã cứu chúng mày". Sergie và toán cảnh sát đặc biệt bây giờ được lên hàng đồng chí, không còn ở "giai cấp" con Lenin, tiếp tục công tác, tiếp tục đi nhậu.

    Cho đến một ngày, Sergie gặp Natasha Zhdanova. Người thiếu nữ Bạch Nga gốc Ukraine này có mái tóc mầu hung như men rượu, đôi mắt trong xanh như để thu hồn người đối diện vào vùng biển Địa trung hải ấy, làn da trắng mịn màng, khuôn mặt đẹp như trong tranh của các danh họa thời Phục Hưng, thân hình tuyệt mỹ như các người mẫu Tây Phương. Sergie gặp nàng trong đám tín đồ. Điểm tập họp của các tín đồ tối hôm đó là là tầng hầm của một căn nhà cũ kỹ nằm giữa đồng.

    Toán hành động đặc biệt đã đổ đến từ buổi chiều, từ xa họ dùng ống nhòm quan sát. Lác đác từng người đến. Khi trời sẫm tối, Pavlov, toán viên của Sergie đề nghị làm sớm về còn đi nhậu, nhưng Sergie đợi thêm 10 phút, không thấy ai nữa mới ra lệnh xung phong. Cả bọn tràn vào và một màn tập đấm bao cát lại tiếp tục. Có thằng cha già bị đấm gẫy quai hàm, máu me đầy mặt nhưng vẫn ôm khư khư quyển Kinh Thánh trước ngực.

    Sau cùng Sergie phải bồi cho một đá, có tiếng xương sườn gãy, thằng cha già rú lên một tiếng đau đớn ngã vật xuống sàn, bấy giờ quyển sách mới rơi ra. Sergie hừ lên một tiếng kinh bỉ, chùi máu dính trên quyển sách vào xác ông già rồi ném vào thùng chiến lợi phẩm. Bổng có tiếng reo hò làm Sergie quay lại, toán anh đang túm lấy một thiếu nữ đẹp như tượng cẩm thạch, dù đang co rúm người lại vì sợ hãi, người thiếu nữ này vẫn đẹp hơn bất kỳ người đàn bà đẹp nhất nào trên trái đất. Qua ngày hôm sau, anh vẫn còn bị hình ảnh Natasha, tên người thiếu nữ đẹp tuyệt trần kia ám ảnh.

    Hình ảnh sau cùng mà anh còn nhớ là Victor, vô địch đô vật, hai tay nâng Natasha lên khỏi đầu, dừng lại vài giây rồi bất ngờ ném mạnh nàng vào tường. Thân hình nàng dội lại và nằm bất động trên sàn nhà. Một sàn nhà đầy máu. "Ước gì mình gặp nàng ở chỗ khác" Sergie lẩm bẩm, anh lắc đầu cố xua đuổi hình ảnh đóa hoa bị dập vùi tả tơi ra khỏi anh. Một tuần sau, toán anh nhận được lệnh công tác và bất ngờ lại gặp Natasha trong đám tín đồ. Tự nhiên Sergie nổi điên, quay qua Victor anh nói:

    - Đồng chí không làm nó quên được Chúa thì hôm nay để tôi, tôi sẽ làm nó nhớ đời.

    Ba người xúm lại lột hết quần áo Natasha ra, nàng hoàn toàn trần truồng. Hai người đè nàng nằm úp trên cái bàn gỗ, Sergie dùng hai bàn tay võ sĩ của mình đánh liên tiếp vào cái mông trần trụi của nàng. Anh đánh như điên, mông nàng đã sưng lên, đỏ bầm. Natasha cắn chặt môi cố không rên la, răng nàng cắn chặt đến nỗi máu rỉ ra hai bên mép, Sergie càng điên tiết, càng nện những cú như trời giáng.

    Sau cùng chịu không nổi Natasha bật khóc. Đến khi hai cổ tay rã rời, Sergie dừng lại, hai bàn tay anh đầy máu, mông của Natasha chỉ còn là hai tảng thịt bày nhày đẫm máu. Nàng đã bất tỉnh tự bao giờ. Một tuần sau, toán hành động đặc biệt của Sergie lại lên đường. Anh lấy làm lạ, hình như càng bị đàn áp, người ta theo Chúa càng đông. Công tác liên miên, đã nhiều lần Sergie đã phải từ chối bớt công tác vì làm không xuể. Tiền thì đứa nào cũng ham, công tác lại không nguy hiểm, nhưng sức người có hạn. Đến nơi cả bọn nhào xuống, tông cửa vào. Và thật bất ngờ, trong đám tín đồ đang cầu nguyện lại có Natasha. Nàng vẫn còn xanh, người gầy hơn trước, đang đứng vịn cạnh bàn như người ốm mới dậy.

    Alex trong toán cảnh sát bước tới, mặt đầy thù hận, nó dơ cao cây ma trắc định bổ xuống đầu nàng. Lãnh cú này, Natasha sẽ không còn dậy được nữa. Bất ngờ Victor bước tới chắn giữa Alex và Natasha.

    - Không ai được đụng tới người con gái này.

    Alex hét lên:

    - Tránh ra, mày muốn giữ làm của riêng hả?

    - Không, đừng nói bậy. Nàng có một cái gì mà mình không có. Tao cảnh cáo: Không đứa nào được đụng tới nàng.

    Alex đứng thở như con bò mộng. Victor cũng dơ cao cây ma trắc sẵn sàng tử chiến. Sergie đứng đó mà lạ lùng quá đỗi. Cái gì đã làm một thằng vũ phu bậc nhất là thằng Victor thay đổi, chính nó là thằng sau mỗi chuyến công tác luôn luôn than phiền bọn tín đồ không có đứa nào ra hồn để cho nó nâng cao tay nghề.

    Bây giờ chính nó là thằng bảo vệ Natasha người của bọn đức tin. Sergie biết mình không can thiệp là có rắc rối to. Anh gọi Alex:

    - Alex tụi nó đang trốn kìa.

    Alex quay lại và bỏ con mồi.

    Victor hạ cây ma trắc xuống đứng thở. Sergie hất đầu ra dấu, Natasha cúi đầu chạy biến sau cánh cửa.***Hôm đó Sergie làm việc uể oải như người bịnh, kết quả không lấy gì khích lệ. Nó làm cho có lệ, đám đàn em hốt được ai thì đẩy lên xe chạy thẳng về ty. Sergie ôm thùng chiến lợi phẩm toàn Kinh Thánh của bọn tín đồ, đa số chép bằng tay.

    Nó thảy từng xấp giấy vào thùng phuy, nốc rượu nhìn ngọn lửa bốc lên. Nốc ngụm rượu cuối, chưa đã ghiền, nó sai thằng Victor đi kiếm thêm rượu. Ngồi buồn buồn nó lật mấy trang Kinh Thánh viết tay ra đọc, đó là đoạn viết về việc cầu nguyện, một người nào đã viết lại bằng trí nhớ. Càng đọc tim nó càng đập mạnh, đó là những lời rất chân thành mà một người gian ác không thể nào viết ra được. Chợt có tiếng chân của thằng Victor về tới, nó xé vội hai trang nhét vào túi quần rồi bình thản đón lấy chai rượu tu ừng ực.Tối hôm đó đi xuống tàu, nằm dài trên giường, cẩn thận khóa cửa, quan sát mọi kẽ hở.

    Yên tâm nó lôi tờ Kinh Thánh ra đọc. Đó là đoạn Chúa Giêsu dạy cho một người cầu nguyện, đưa lòng mình lên với Thượng Đế để thấy mọi người là anh em, hãy tha thứ cho những người làm hại mình. Càng đọc Sergie càng bị những dòng chữ cuốn hút. Đây là những điều làm cho con người trở nên chân thiện mỹ. Không có điều nào chống lại nhân dân. Thốt nhiên Sergie thấy đầu mình mở ra, một luồng không khí mới mẻ tràn ngập tâm hồn. Thế ra mình đã lầm từ bao lâu nay. Không cầm lòng được Sergie la lên:

    "Đúng rồi, đây là điều Natasha có mà mình không có".

    Sergie thấy choáng váng, ngực như bị một tảng đá đè nặng, đầu nhức như búa bổ. Điều nó mới khám phá ra quá mới, quá mạnh. Vượt quá sức chịu đựng của thân xác nó, dù là thân xác của một võ sĩ, bay giờ cũng thành vô dụng. Hôm sau xin nghỉ phép hai tuần, Sergie định vượt biên qua ngã Hungari, nhưng biên giới về phía Nga được canh gác quá kỹ. Không phải để bắt người từ Hung trốn sang Nga mà trái lại. Anh quay về hướng Thổ Nhĩ Kỳ nhưng sau một đêm nằm ở biên giới Nga-Thổ anh phải bỏ ý định của mình vì giống như biên giới Hung, bộ đội canh gác dày đặc nhất vẫn là Nga. Hết hai tuần phép, Sergie trở lại nhiệm sở mà lòng như có nồi nước đang sôi.

    Trùm mật vụ Arazov đón anh với nụ cười tươi. Một núi công tác đang chờ. Đêm đó, Sergie cố làm tròn nhiệm vụ, anh không muốn bị nghi ngờ. Con mồi của anh là một bà già, tóc điểm sưong, mặt nhàu nát vì những khổ đau chồng chất từ ngày lá cờ đỏ cắm trên đền thờ Thánh Peter, bao nhiêu tai họa đã giáng xuống trên bà và gia đình nhỏ bé đơn sơ như tổ chim non. Chồng chết con đi tù. Mỗi một nếp nhăn trên khuôn mặt bà là một nhát chém trong tim. Khuôn mặt bà như tấm bản đồ Nga, nhàu nát tả tơi chỉ còn đôi mắt nhỏ là còn tinh anh, còn sức sống. Sergie dơ cao cây ma trắc trên đỉnh đầu người đàn bà bất hạnh.

    Người mẹ Nga vẫn đứng thẳng, mắt nhìn thẳng vào mặt Sergie, hai tay chắp lại, bà cất cao tiếng cầu nguyện xin Chúa tha tội cho Sergie. Cây ma trắc bổ xuống, nhưng có một bàn tay nắm chặt tay Sergie bẻ ngược ra sau. Cổ tay anh đau như bị trặc. Sergie giựt mình quay lại. Phía sau anh không có một ai, Sergie nhìn quanh quất, nhìn lại cổ tay còn nhức buốt của mình, bất giác một luồng khí lạnh chạy dọc theo xương sống. Chính là Chúa đang hiện diện nơi đây. Sergie cắm đầu chạy một mạch ra khỏi căn nhà nguyện, vừa chạy vừa la, anh băng mình vào đêm tối. Khi định thần lại, Sergie thấy mình đang phủ phục trước bậc thềm của ngôi nhà thờ bỏ hoang, bên trong là kho chất than củi của cửa hàng chất đốt. Nước mắt ứa ra, anh thì thầm xin Chúa tha tội.

    Sergie xin ra khỏi nghành công an đặc biệt, anh lấy cớ phải hoàn tất chương trình học của hải quân. Anh từ chối ân huệ của trùm mật vụ cho anh thăng cấp vượt cấp, được về học trường KGB nơi đào tạo những người nắm vận mạng nước Nga trong tương lai. Trùm Arazov rất ngạc nhiên, con cáo già này đánh hơi có mùi lạ. Con đường công danh của một thằng mồ côi đang mở rộng trước mắt, tại sao nó lại từ chối.

    Nhưng duyệt xét lại từng dấu chấm phết trong hồ sơ lý lịch của Sergie, tất cả quá trình công tác hắn không tìm ra được bất kỳ sai phạm nào. Trong nhật ký công tác và bảng đánh giá, Sergie hầu như luôn luôn đứng đầu bảng, xếp lớn đã phê nó là người Cộng Sản lý tưởng nhất từ trước đến nay. Một hạt kim cương trên vương niệm của những người Cộng Sản. Xếp lớn, xếp nhỏ đã phê như thế thì làm sao mà lầm được. Cuối cùng Arazov kết luận tính khí của những thằng mới lớn nó vậy, đừng ép nó, để một thời gian rồi đâu lại vào đó. Xếp tạm hài lòng với "tâm lý biện chứng pháp" của mình và đồng ý để Sergie xuống tàu ra khơi.

    Chiếc tàu của Sergie ngụy trang thành tầu đành cá hoạt động ngoài khơi hải phận Hoa Kỳ. Đó là một trạm chuyển vận tin tức giữa căn cứ hải quân Hắc Hải và các gián điệp Nga hoạt động trong nội địa Hoa Kỳ. Đã một lần anh tính nhảy xuống biển vào ban đêm để bơi vào đất liền. Lúc đó tàu anh chỉ cách thành phố Los Angeles 12 hải lý, nhưng bản tin trên hệ thống mật mã đã khiến anh hủy bỏ ý định. Bản tin cho biết thủy thủ Nga Kurdika sau khi đào thoát sang Hoa Kỳ đã bị trao trả lại cho Nga và Hoa Kỳ cũng đã đồng ý sẽ giao lại bất kỳ người Nga nào đào thoát xin tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ. Không thể trông cậy vào Hoa Kỳ, bây giờ gần đây nhất chỉ còn Canada.

    Hôm sau Sergie nhận được điện anh sẽ được chuyển qua một ''tàu đánh cá''. Anh sẽ được bàn giao ngay trên mặt biển. Con tàu Elagin sau khi nhận anh, sẽ quay mũi lên hướng Bắc ở đó tin tức cho hay Hoa Kỳ sắp thí nghiệm hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử. Ngoài những lúc bận rộn trong phòng truyền tin, Sergie dành hết thì giờ vào việc tập thể dục. Anh theo những chương trình tập luyện gian khổ. Đám sĩ quan trên tàu hỏi anh muốn đoạt huy chương vàng trong kỳ Thế Vận Hội sắp tới. Anh chỉ cười, anh biết mình phải làm gì.

    Biển động, bão đổ đến với từng cơn sóng to như tòa nhà nhiều tầng, con tàu gầm rú nặng nề lướt trên mặt biển. Kỹ sư cơ khí phải túc trực 24/24 tại phòng máy. Bão đã qua ngày thứ ba và tin khí tượng cho biết thời tiết sẽ khả quan hơn trong những ngày sắp tới. Ngay đêm đó Sergie nhận được lệnh chuẩn bị bàn giao để trở về Nga. Một chức vụ và một công việc quan trọng đang chờ đợi anh. Con cáo già đã cho anh tự do sáu tháng qua, bây giờ anh phải trở về để thành lớp kem trên chiếc bánh bông lan của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Sô Viết.

    Bây giờ mặt biển vẫn đen ngòm, bầu trời hết mây xám thì đến mưa. Chung quanh chỉ còn thấy hết núi nước lạnh như băng này đổ xuống là đến núi nước đá khác tiếp theo. Tàu đi như ông già say rượu. Sergie biết mình phải quyết định. Đêm nay hoặc là không bao giờ.* * *Sergie phóng mình xuống nước, nước lạnh hơn mức anh dự trù. Anh cố gắng nhoài người ra xa, càng xa con tầu càng tốt. Anh bơi hướng về phía ánh đèn của đất liền, nhưng trời đổ sương mù xuống mặt biển. Bây giờ anh không còn thấy bất kỳ vật gì ở cách xa anh vài mét. Anh chỉ còn thấy con sóng nào ở gần anh nhất mà thôi, vì trước khi sóng đổ xuống, những bọt nước vỡ tung trên đầu sóng thành một màu trắng xóa rồi vụt tan biến, mất tích giữa lòng đại dương đang nổi cơn thịnh nộ.

    Chung quanh anh bây giờ là núi nước tiếp theo núi nước đổ xuống. Trong đời anh chưa thấy nước ở đâu nhiều như vậy. Sergie biết mình chỉ chịu được tối đa là ba tiếng ngâm mình dưới nước mà thôi. Ba tiếng là tổng số của sức lực, sức liều và ý chí đào thoát, không hơn. Chung quanh vẫn là biển và sóng nước, toàn một màu đen. Anh nhắm một hướng bơi theo linh tính dù trước đây anh đã nghiên cứu chiều của dòng nước để có thể tính ra hướng bơi vào đất liền, nhưng bây giờ tất cả không giúp được gì cho anh, chung quanh vẫn là sóng vây phủ tứ bề. Trời đầy sương mù, đặc hơn lúc trước, anh như một người mù không thấy gì trước mặt. Vẫn tiếp tục bơi theo linh tính, anh cũng không giám giảm tốc độ, sợ thân nhiệt không đủ ấm.

    Nhìn đồng hồ dạ quang đeo tay anh biết mình đã bơi được hơn hai tiếng. Một ngọn sóng nhấc anh khỏi mặt biển, bất ngờ một khối đá đen hiện ra ngay trước mắt, Sergie reo lên mừng rỡ, nước ọc vào miệng, anh đã vào đến bờ, thì ra sóng đã đẩy anh đi. Một ngọn sóng nữa đẩy anh lên cao trở lại, Sergie mở lớn mắt nhìn cho rõ, lần này tim anh như thắt lại. Đó không phải là tảng đá gần bờ mà là con tàu Elagin mà anh muốn từ bỏ. Sergie thấy bao nhiêu sức lực biến mất hết, tay chân anh trở nên nặng nề, ngực như có phiến đá ngàn cân đè lên khiến anh thở thật khó khăn.

    Anh dã bơi hơn hai tiếng để về chốn cũ bây giờ bắt đầu lại từ đầu anh không còn đủ sức. Anh cũng không muốn trở lại con tàu dù anh có thể nói bị trượt ngã, chắc chắn không ai nghi ngờ, nhưng con tàu bây giờ tượng trưng cho CS Sô Viết, một thứ mà anh không còn chút gì tha thiết trên đời. Anh không muốn đặt chân lên đó lần nữa. Hai tay đã giảm tốc độ, chân trở nên nặng nề. Anh nghĩ nếu mình phải chết thì cũng vừa với tội đã bách hại những người Công Giáo tại Nga. Nhưng anh không muốn chết bây giờ. Anh nghĩ đến Chúa, anh muốn cầu nguyện nhưng không biết phải bắt đầu như thế nào. Anh nói thầm:

    "Chúa ơi, con không biết cầu nguyện, con chỉ muốn nói với Chúa là con không muốn chết khi gần đến xứ tự do như bây giờ, xin giúp con."

    Bất ngờ anh thấy có một sức mạnh chạy dọc toàn thân anh, anh không còn thấy lạnh, tay chân linh hoạt hẳn lên. Anh cảm nhận được Chúa đang ở bên anh cũng như lần anh đi chuyến công tác bắt đạo lần cuối cùng. Nhưng lần này Chúa ở cùng phe anh. Anh nhắm mắt lại bơi thẳng vào bờ.

    Cuộc đời Sergie thay đổi hẳn, sau bao dằng co, cuối cùng chính phủ Canada chấp thuận cho anh quy chế tị nạn. Không phải tốt lành gì mà chính phủ Canada chấp nhận anh, trước đó Canada đã tính trả anh lại cho Nga nhưng bị quốc hội phản đối nên đành cho anh ở lại.
    Anh được nhận vào trường sửa vô tuyến, nghề cũ của anh, công việc bảo đảm và hứa hẹn một gia đình ấm cúng. Nhưng Sergie đã hiến mình cho một sứ mạng mới, anh phải đi khắp thế giới nói cho moị người biết sự thật về đạo Công Giáo tại Nga, về những đàn áp tinh vi, dã man tàn bạo có bài bản do trung ương đảng CS Nga phát động. Anh đã đến các nhà thờ, các buổi lễ để nói chuyện.

    Các đài phát thanh, đài truyền hình đã phỏng vấn anh. Chuyện anh được mọi người biết đến. KGB đã hai lần gửi người đến hăm dọa: "Im cái miệng mày lại, nếu không cuối cùng mày sẽ gặp tai nạn". Đã là KGB, Sergie biết cái gì đang chờ đón mình, nhưng anh không thể làm khác được. Anh như một người mới từ bỏ chỗ tối để bước vào chỗ sáng, từ nay anh phải đốt đuốc lên để xua tan sự tối tăm. Anh không thể làm khác được. Đời anh, anh coi như bỏ, sống là để thực hiện sứ mạng cao cả, cứu dân Nga khỏi bàn tay tàn bạo của người CS và chỉ có điều đó mới đáng để anh làm. KGB hay cái gì nữa cũng thế thôi. Sergie đã viết lại chuyện thật đời mình, nguyên tác bằng tiếng Nga.

    Anh viết: "Tâm hồn của dân tộc vĩ đại Nga chưa chết và sẽ không bao giờ chết. Những tâm hồn như Natasha và hàng triệu người như nàng một ngày kia sẽ đứng dậy thắp sáng ngọn nến đức tin trên khắp nước Nga".

    Trang cuối cùng của quyển tự chuyện anh viết rất cảm động: "Với bà Litovchenco, người đàn bà bán thân bất toại vợ của đạo trưởng linh mục Chính Thống Giáo đã bị chúng tôi sát hại bên bờ sông Elizovo, tôi muốn thưa rằng: Tôi hết sức ân hận, vô cùng ân hận, thưa bà. Với Nina Rudenko người thiếu nữ xinh đẹp thơ ngây đã bị người của tôi hủy hoại cuộc đời, tôi muốn dâng lời cầu xin - cô Nina xin hãy vui lòng tha thứ cho tôi. Và với Natasha, người đã bị tôi đánh đập dã man và sẵn sàng chịu thêm nữa để bảo vệ đức tin của mình, tôi muốn nói - Em Natasha, phần lớn nhờ có em mà cuộc đời anh thay đổi, để ngày nay anh được làm người anh của em trong Chúa Giêsu. Một cuộc đời mới đang mở ra trước mắt anh. Chúa đã ban cho anh sự tha thứ của người. Anh hy vọng phần em cũng sẽ ban cho anh sự tha thứ của riêng em. Dù em đang ở đâu, anh cũng muốn nói cùng em, cám ơn em nhé Natasha! Không bao giờ, vâng không bao giờ, anh quên em".

    Tự truyện của Sergie đã được dịch ra 15 thứ tiếng trên thế giới, bản tiếng Mỹ là “Natasha, forgive me” Publisher: Harper Collins Publishers, bản tiếng Việt là của nhà văn Nhị Lang với tựa đề "Lời Nguyện Cầu". Ông đã dịch rất công phu. Đây không phải là một bản dịch thuần tùy mà là một tác phẩm văn chương mà người dịch đã để tâm hồn mình vào đó. Đế quốc Nga với hàng trăm ngàn nhân viên KGB, với hàng triệu Hồng Quân, với lực lượng quân sự cồng kềnh nhất trên thế giới, với một hệ thống truyền thông độc quyền tập trung chủ yếu để đánh đạo Công Giáo.

    Với một viện nghiên cứu Thánh Kinh hẳn hòi để đổ những gì dơ bẩn nhất bằng ngôn ngữ của một người vô học đến ngôn ngữ của một nhà bác học vào những người Kitô Giáo. Những người này vũ khí tự vệ chỉ là... lời cầu nguyện. Nghe như chuyện phong thần, chính Sergie cũng còn phải ngạc nhiên, chỉ có biết cầu Chúa, đồ ngu ngốc. Chúa nào chống lại được với dùi cui, mật vụ. Một bọn khùng. Ngày 1 tháng 1 năm 1973, Sergie chết vì "tai nạn". Con dơi KGB đã không buông tha anh. Năm đó Sergie mới 22 tuổi.

    Năm 1990 đảng CS Nga bị giải tán, Liên Bang Sô Viết sụp đổ, thành phố mang tên người sáng lập ra đảng Cộng Sản Leningrad được đổi tên thành thành phố Peterburg.