Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!
Color
Background color
Background image
Border Color
Font Type
Font Size
  1. Linh Hoang Vu Facebook – Nhân đọc bài của TS. Alan Phan, Trích:

    “Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả. Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: Nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế. Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.

    Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng. Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cuối đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.

    Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ Việt Nam đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyền khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc. Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu? Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân Việt Nam thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.”

    Tôi nghĩ có hai vấn đề dẫn tới việc này. Thứ nhất là văn hóa và thứ hai là chính trị. Nhưng cái mối nguy hại chính là ở cái thứ hai, bởi văn hóa là những thứ có thể thay đổi và thích ứng nếu như nó được tự do trong cái việc thay đổi và thích ứng đó. Các nền văn hóa Khổng giáo như Đài Loan, Tân Gia Ba, Nam Hàn ngày nay đều tương thích với xã hội hiện đại, với sự khuyến khích tính chủ động, năng động và sáng tạo của con người. Tất nhiên trong quá trình vận động thì sẽ có những yếu tố được củng cố và duy trì và có những yếu tố văn hóa sẽ bị tàn lụi dần đi.

    Nhưng cái nguy hại hơn hiện nay chính là “chính trị”. Thể chế chính trị ngày nay đã trở nên già nua và giả dối hết bao giờ hết. Chính vì thế nên nó cứ phải cố gắng đậy đụm vá víu nó bằng cách bám vào những giá trị già nua, dùng mọi sức lực để neo giữ quyền lực bởi vì nó biết rằng nếu nó thả lỏng tay cương thì con ngựa nó đang cưỡi sẽ lồng lên hất nó xuống. Ghìm cương và bịt mắt là những gì những tay nài ngựa đó đang làm. Chính vì thế, cái thể chế đó vẫn luôn tìm cách rao giảng những giá trị già nua, cũ kỹ với âm mưu biến nó trở thành một phần của “truyền thống” của “văn hóa dân tộc”. Có thể lấy ngay ví dụ trong bài viết “lỗi đánh máy” của Tạp Chí Cộng Sản khi tác giả cài cắm nhét “vai trò lãnh đạo của ĐCSVN” như là chị em sinh đôi với “truyền thống văn hóa dân tộc”.

    “Âm mưu cơ bản và lâu dài của chúng [ta] (sic) là từng bước thâm nhập, tác động, chuyển hóa, đẩy lùi hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ra khỏi đời sống chính trị – xã hội, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm phai nhạt bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc, tạo thuận lợi cho các hoạt động chống đối, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa”

    Hay cũng có thể thấy qua những phong trào tôn giáo xô bồ được chính quyền vẫn rao giảng “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” cổ vũ, hết linh đình đón linh xá Phật lại tới lễ đền Trần…K hi không thể nhờ cậy được các cụ khốt Marx, Lenin… thì giờ họ phải vận tới “âm binh” là tín ngưỡng. Bây giờ có những bà đồng như Phan Thị Bích Hằng đang trở nên không khác gì một thứ pháp sư chính thống của nhà nước. Nền chính trị VN hiện nay đang khuyến khích một thứ văn hóa lai căng, lai căng giữa những thứ cổ hủ, lạc hậu nhất, tồi tệ nhất của văn hóa truyền thống với những thứ hạ đẳng nhất của văn hóa phương Tây được du nhập. Và cái món trộn salad đó đang được gọi là nền “văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

    Với giới trẻ, họ dung dưỡng họ bằng những niềm tự hào dân tộc giả hiệu (mà chỉ được phép thể hiện sau các trận bóng đá), ru ngủ và đầu độc họ bằng thứ tự do giả hiệu (như tự do ngắm quần chíp của các bé 13 tuổi có thân hình phổng phao trên mặt báo) và luôn đảm bảo với họ là “mọi thứ đều tốt”, họ không cần phải lo nghĩ gì ngoài việc ngoan ngoãn, nghe lời cha mẹ và Chính quyền. Trong khi các nguy cơ tụt hậu là hiển hiện, trong khi so với các nước lân bang, chứ chưa kể các nước phát triển thì Việt Nam còn thua kém không biết bao nhiêu năm thì họ luôn kể công của họ là đã đưa đất nước tới “độc lập, tự do, hạnh phúc” và đổ tội cho những yếu kém nào đó là do “các thế lực thù địch phá hoại” hoặc do “nguyên nhân khách quan”.

    Giới trẻ Việt Nam có thông minh không? Mình nghĩ chúng ta không có gì đáng phải tự hào về trí thông minh của mình so với các dân tộc khác. Nhưng về mặt năng lực, thì giới trẻ VN cũng không thua kém gì so với giới trẻ ở các nước như Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba. Cái khiến họ thua kém là họ không có suy nghĩ của “người chiến thắng” và cũng không có cả tinh thần cạnh tranh để chiến thắng nữa. Họ bị quá nhiều thứ đang bủa vây họ, bị những bậc “cha chú” vừa ru ngủ họ, dung dưỡng cho những thói hư của họ, lại vừa nạt nộ, hăm dọa họ nếu họ thực sự muốn ‘suy nghĩ’ và tự ý thức về bản thân chứ không phải là một thứ động vật nhai lại.

    Ba kẻ thù lớn nhất của họ chính là “chính quyền” “trường học”và “báo chí” (hai cái sau thực ra là công cụ của cái đầu tiên), những thể chế đang lừa dối họ, đổi trắng thay đen và cố gắng làm sao để họ không còn khả năng tư duy nữa. Một thể chế khuyến khích thứ văn hóa đề cao sự thụ động, chấp nhận bất cứ cái gì đang hiện hữu (status quo) thì không thể tạo ra một sản phẩm nào khác là một lớp trẻ thờ ơ với tư duy già cỗi và ở đó chỉ có xế khủng và ngực khủng là những giá trị cao nhất mà lớp trẻ đó cần hướng tới. Vâng, và khi bạn vẫn chưa có “xế khủng” hay không được gối đầu lên “ngực khủng” hàng đêm thì bạn có thể xem báo của chúng tôi để được thưởng thức! Đó cũng chính là “tự do báo chí” của Việt Nam mà các ông Đinh Thế Huynh, Lê Doãn Hợp đang ra sức đảm bảo.

    Còn trường học thì sao? Hãy lắng nghe đồng chí giảng viên Đại Học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn khuyên giải các em sinh viên đi biểu tình ngày 5/6 là rõ… Các bạn yêu nước là tốt, nhưng vấn đề rất phức tạp, hãy để nhà nước giải quyết blah blah blah…

    Nói đến đây, tôi lại nhớ tới câu hát của Lan Phương trong đoàn biểu tình khi nghe ông thầy đó ca bài ca yêu nước ”We don’t need no education” (Pink Floyd).

    Linh Hoang Vu

    Not that kind of education!
  2. Phong trào biểu tình “Chiếm Phố Wall” bắt đầu từ 17/9 ở New York, Hoa Kỳ nay đã lan rộng khắp bốn châu. Phong trào này được cho là lấy cảm hứng từ “Mùa Xuân Ả Rập” ở Bắc Phi. Những người biểu tình mô tả đây là một “cuộc cách mạng thực sự”, thậm chí những người có quan điểm cánh tả coi đây là một cuộc “đấu tranh giai cấp”. Trong bối cảnh kinh tế Hoa Kỳ nói riêng và kinh tế thế giới nói chung đứng trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng thứ hai chỉ trong vòng ba năm và nền chính trị dân chủ dần bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, thiển nghĩ vấn đề “chủ nghĩa Tư Bản” và sự canh tân nền chính trị dân chủ đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc và toàn diện không phải đối với các nhà chính trị học và xã hội học thế giới mà còn là những người Việt Nam quan tâm thời cuộc.

    Ban đầu, tôi không chú ý đến phong trào này cho lắm. Bởi lẽ, ở những xứ sở dân chủ người ta có thể biểu tình vì bất cứ lý do gì. Đó là cách thể hiện những nguyện vọng, đòi hỏi cần được đáp ứng, những xúc cảm cần được giải tỏa của người dân hay thậm chí chỉ là những dịp bày tỏ thái độ của họ trước những vấn đề không mấy quan trọng. Biểu tình ở Tây phương gần như một thứ văn hóa - văn hóa phản kháng và văn hóa hành động tập thể. Dù là gì đi nữa, tôi cho rằng những cuộc biểu tình là cần thiết và chúng là biểu hiện của tự do. Sự phản kháng và thách thức quyền lực sẽ tạo ra sức ép cần thiết lên chính quyền và giới lãnh đạo kinh tế nhằm đẩy họ đến chỗ phải có những điều chỉnh thích hợp. Chính nền dân chủ bảo vệ quyền phản kháng của người dân; và sự phản kháng đến lượt nó, lại tạo ra năng lượng tự thay đổi, tự làm mới để bảo vệ nền dân chủ.

    Nhưng khi phong trào này trở nên rầm rộ và chung quanh nó xuất hiện những ngụy biện lớn kể cả những trò “giậu đổ bìm leo” từ bên ngoài phong trào ấy, thì tôi nghĩ mình không thể không quan tâm. Đặc biệt, khi những người có tiếng tăm và có ảnh hưởng đối với quần chúng như các diễn viên, đạo diễn ở Mỹ lại mạnh mẽ lên tiếng đòi làm “cách mạng”, đòi “đấu tranh giai cấp”, đòi những người ở tầng lớp dưới phải là người lãnh đạo đất nước…thì những ai muốn bảo vệ chủ nghĩa tự do phải lên tiếng. Cũng phải kể đến nhiều người cầm bút bất lương ở Việt Nam “thừa nước đục thả câu” đã gân cổ lên rằng “Chủ Nghĩa Tư Bản thối nát” và “người Mỹ cũng ủng hộ Chủ Nghĩa Xã Hội”, để ngụy biện cho cái chế độ độc tài đã nuôi dưỡng họ.

    Khắp nơi trên thế giới, mỗi khi có cơ hội thì nhiều người ngay lập tức cho rằng Chủ Nghĩa Tư Bản là không thể chấp nhận được, phải thay đổi…, mặc dù họ hiểu biết rất ít về chính trị, kinh tế và xã hội. Nói đến đây tôi nhớ đến việc nữ diễn viên Jane Fonda cùng với giới điện ảnh Hoa Kỳ phát động phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, ủng hộ Cộng Sản; hay những phong trào thanh niên trên khắp thế giới cuối thế kỷ 19 góp phần quan trọng cho sự bành trướng của Chủ Nghĩa Xã Hội. Có những người rất thích nói đến xã hội, bình đẳng, giai cấp … trong khi họ chẳng biết gì về bản chất của sự bình đẳng và mối tương quan giữa tự do và bình đẳng. Họ vô tình hay cố ý không nhận ra rằng: để cho tất cả được tự do và có cơ hội ngang nhau nhằm quyết định vận mệnh của mình, đó mới là công bằng, chứ không phải là “cào bằng” tất cả.

    Các nhà lãnh đạo và giới Tư Bản Hoa Kỳ không hề câu kết nhau tước đoạt quyền tư hữu, không sung công tài sản của người dân Mỹ, không lấy hết đất đai, trâu bò của họ để thành lập hợp tác xã trá hình, không lấy hết ruộng vườn của họ rồi đền bù với giá rẻ mạt, không gom tất cả tài sản quốc gia lại để ăn chia nhau. Vì hệ thống chính trị dân chủ, pháp trị không cho họ cái quyền làm như thế. Cái lỗi của họ là cái lỗi chung của nhân loại - đó là sự tham lam. Họ tham lam, họ dùng tiền để tác động tới chính quyền nhằm trục lợi làm cho kinh tế khủng hoảng và làm cho đời sống người dân trở nên khó khăn. Phản đối sự tham lam của giới tài phiệt và sự hoạt động kém hiểu quả, cũng như thái độ không chú trọng quyền lợi người dân thường của chính phú là một động thái cần thiết. Nhưng người ta nên phản kháng với nhận thức rằng bất cứ định chế chính trị hay kinh tế nào của nhân loại cũng tồn tại khiếm khuyết và có xu hướng tha hóa. Chúng ta không thể có được cái hoàn hảo nhưng chúng ta có thể có được một cơ chế khắc phục sai lầm hiệu quả.

    Đừng thấy sự tự do cạnh tranh có khiếm khuyết mà vội vàng ủng hộ Chủ Nghĩa Xã Hội. Bởi vì trong cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa, bạn không được tư hữu ngay cả mảnh đất truyền thừa của tổ tiên, không có cả quyền phản đối chính quyền dù nó sắp bán nước đi nữa, không có tất cả những quyền mà bạn vốn có trong thể chế dân chủ, mà đôi khi sự hiện hữu nghiễm nhiên của nó làm bạn dễ quên lãng và phớt lờ nó. Người ta nên chọn loại thể chế nào: thể chế dân chủ - nơi mà người ta có thể phản kháng và phản kháng hiệu quả, hay thể chế mà họ gọi là “Chủ Nghĩa Xã Hội”- nơi mà người ta luôn rêu rao sự bình đẳng, rằng nơi đó những người dân thường tầng dưới của xã hội sẽ lãnh đạo xã hội, để khi bạn thực sự sống ở đó, bạn mới biết rằng công nhân, nông dân ở đây có cuộc sống chỉ hơn nông nô thời trung cổ mà thôi?!

    Chủ nghĩa tự do với nguyên tắc tự do cá nhân và nền chính trị dân chủ pháp trị, có hai khuynh hướng chính: một là, chủ nghĩa tự do cổ điển (chủ nghĩa tự do kinh tế) ủng hộ Chủ Nghĩa Tư Bản laissez-faire, phản đối sự can thiệp của nhà nước; hai là, chủ nghĩa tự do mới (chủ nghĩa tự do xã hội) ưu tiên một Nhà nước phúc lợi với sự can thiệp cần thiết của Nhà nước vào nền kinh tế, và trao cho Nhà nước vai trò đảm bảo sự bình đảng xã hội. Mỗi khuynh hướng đều có ưu và nhược điểm. Nhưng nhược điểm của chúng cũng chính là nhược điểm của thế giới loài người. Vì thế việc chấp nhận nhược điểm là cần thiết và là thái độ sáng suốt. Việc cân bằng giữa tự do cạnh tranh và bình đẳng xã hội luôn là một vấn đề khó khăn mà bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt. Và điều quan trọng là chúng ta có được một mô hình, một thể chế có những nguyên tắc cốt lõi có thể hạn chế những nhược điểm này- đó chỉ có thể là nền dân chủ mà chủ nghĩa tự do đã xây dựng.

    Có một hạng người không bao giờ biết được ý nghĩa thực sự của tự do, đó là những người cả đời sống trong chế độ dân chủ tự do, hưởng mọi lợi ích từ nền chính trị dân chủ và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, và chưa bao giờ ném mùi chính trị độc tài, kinh tế tập trung. Thừa kế cái di sản hiển nhiên của tổ tiên khiến người ta quên mất giá trị của nó. Tôi đồng tình khi họ phản đối các nhà tài phiệt tham lam và giới chính trị hoạt động kém hiệu quả. Tôi ủng hộ khi họ đòi hỏi chính quyền ưu tiên xây dựng một Nhà nước phúc lợi, đảm bảo tương đối bình đẳng xã hội bằng trợ cấp và tăng thuế thu nhập. Nhưng họ sẽ biến thành kẻ đần độn nếu cổ vũ cho xu hướng cực tả, cho chủ nghĩa xã hội. Họ chẳng tưởng tượng nổi trong xã hội XHCN chẳng thể nào có cái cảnh mỗi người cầm trên tay một chiếc Iphone để liên lạc với nhau trong cuộc biểu tình; mà họ cũng chẳng có cơ hội để mở rộng cuộc biểu tình, vì người ta sẽ bắt hết bọn họ đưa lên xe bus từ khi cuộc biểu tình chỉ có vài chục, vài trăm người.

    Tại sao khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, bất bình đẳng gia tăng, người ta không hướng tới một mô hình kiểu Bắc Âu, nơi mà ưu tiên về một Nhà nước phúc lợi được đặt lên trên mọi nhu cầu cạnh tranh tự do của kinh tế thị trường? Tại sao người ta cứ phải đặt vấn đề chủ nghĩa xã hội khi chúng ta muốn làm mới hệ thống chính trị và kinh tế? Nhiều người khi mưu cầu sự bình đẳng xã hội thường hướng đến chủ nghĩa xã hội trong khi cái chúng ta thực sự muốn là chủ nghĩa tự do xã hội. Vì chính chủ nghĩa tự do xã hội mới là hệ lý thuyết cung cấp cho chúng ta mô hình để xây dựng một nền dân chủ với nền kinh tế bị hạn chế bởi nhà nước, để đảm bảo phúc lợi cho tầng lớp dân nghèo. Còn khi chúng ta nói về chủ nghĩa xã hội, chúng ta không biết là mình đang ca ngợi nền độc tài chính trị và kinh tế tập trung- nơi mà cái dạ dày của bạn sẽ bị khống chế bởi cơ quan lãnh đạo cao nhất, và vì thế bạn sẽ chẳng thiết đòi quyền tự do chính trị nữa. Người ta có lẽ còn nhập nhằng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do xã hội! Nhiều người Mỹ còn nhập nhằng như thế. Nhưng tôi tin rằng đa số người Mỹ biết được giá trị của hệ thống chính trị dân chủ của họ. Họ phản kháng để “refresh” nó chứ chẳng phải để lật đổ nó. Vì nếu muốn từ bỏ hệ thống ấy thì cách tốt nhất là họ nên qua sống ở Việt Nam, Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên càng hay.

    Tôi muốn bảo vệ chủ nghĩa tự do vì thiết nghĩ rằng nếu chúng ta không nhìn thấy vai trò của nó, bỏ quên nó vì những thứ lý thuyết độc hại khác, con người sẽ phải trả giá. Nhân loại đã từng trả giá vì sự hiểu biết hời hợt về chủ nghĩa cộng sản, vì sự phớt lờ tầm quan trọng của chủ nghĩa tự do. Điều này không thể lặp lại! Tôi biết điều này sẽ khó có thể lặp lại ở những nước có nền dân chủ tự do vững chắc như Hoa Kỳ. Nhưng theo một cách nào đó, nó bị lợi dụng triệt để ở những nước độc tài chống Mỹ và phương Tây như Việt Nam, Trung Quốc. Việc ví von phong trào “Chiếm Phố Wall” với “Mùa Xuân Ả Rập” mà tôi thấy ở khắp nơi trên báo chí “chính thống” của chế độ (tạp chí Cộng Sản và Sài Gòn Giải Phóng là những ví dụ lố bịch điển hình) chỉ là một cách “lập lờ đánh lận con đen” bỉ ổi.

    Ai trong chúng ta cũng biết rõ “Mùa Xuân Ả Rập” là phong trào cách mạng thay đổi thể chế chính trị, lật đổ các chế độ độc tài đã tồn tài nhiều năm, còn phong trào biểu tình “Chiếm Phố Wall” lại là một cuộc vận động xã hội (không phải cách mạng), tạo áp lực lên một chính quyền dân chủ, buộc họ phải thay đổi cách nhìn và phương thức điều hành xã hội. Sự tương đồng về ngoại biểu không khỏa lấp được những khác biệt về bản chất nội tại (động cơ, mục tiêu). “Mùa Xuân Ả Rập” là động thái giết chết một con bệnh ung thư, còn “Chiếm phố Wall” là cách người ta cảnh báo và chữa trị cho một người mắc bệnh thông thường. Cũng cần phải nhận thức rõ rằng trên thế giới này không có kẻ không có bệnh mà chỉ có những kẻ hết thuốc chữa. Thật vậy, con người trở nên cao quý không phải vì anh ta hoàn hảo mà vì anh ta biết đổi mới và đứng lên mạnh mẽ hơn từ những sai lầm. Và để tránh những ngụy biện không cần thiết cho điều này ở những trường hợp khác, tôi muốn nói thêm rằng: Có một sự khác biệt cơ bản giữa sự thối nát hệ thống và sự sai lầm cục bộ.
  3. [​IMG]

    Ngày nay, trong cảnh ngộ di cư lánh nạn trên đất tự do, chúng ta tiếp tục chiến đấu cho Mùa Xuân Tự Do và Dân Chủ chóng trở lại vĩnh viễn trên quê hương Nước Việt thân yêu.

    Mùa Xuân ấy đã một lần đến với con dân Việt tại chiến tuyến chống Cộng Sản tại miền Nam và đã tàn lụi vào năm 1975.

    Trong hoài niệm buổi thanh bình ngắn ngủi ấy với một ánh mắt hướng về cố hương, không sao cầm được nỗi niềm cảm thương sâu đậm anh em gia đình họ Ngô, đặc biệt là Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Sau khi đã làm vuông tròn sứ mệnh tiếp đón gần một triệu đồng bào ruột thịt phải di cư vào Nam để cùng chung sức xây tuyến tự do, cương quyết bảo vệ chủ quyền, danh dự cũng như độc lập quốc gia, giữ vững chính nghĩa của cuộc chiến đấu chống cộng tại miền Nam, Cụ đã phải chịu cái chết tức tưởi, chết cho đồng bào Nam cũng như Bắc trong thế tướng tiên phong.

    Kể từ ngày ấy tới nay, 48 năm mang nặng nét u sầu đã đi qua. Một chiều dài thời gian quá đủ, với vô số tài liệu minh chứng hùng hồn cũng như những giãi mật các hồ sơ quan trọng, nhắc nhỡ những người có tâm huyết, yêu mến quê hương, phải nhìn thẳng vào sự thực: Niềm đau chung của cả dân tộc tiếp theo cái mất mát tang thương ấy.

    Và, hiện tại cũng là thời điểm tối hậu để xoá đi cái bóng tối lịch sử cuối cùng còn sót lại, hầu gạt bỏ tận gốc những mặc cảm sai lầm cũng như những thành kiến chủ quan, những dị biệt hạn định và nhất thời hầu tìm cách tái tạo một đồng thuận chung cho một hướng đi mới, hàn gắn lại những đổ vỡ nhằm tiếp tục con đường chiến đấu cho Một Mùa Xuân Mới Tự Do cho Việt Nam.

    Trong chiều hướng ấy, Ủy Ban Xây Dựng Tuợng Đài Ngô Chí Sĩ ra đời và đã khởi công xây dựng với những mục tiêu sau đây:

    1.- Hy vọng vĩ mô của bước đầu nầy sẽ tạo được một phản ứng giây chuyền tại một số địa bàn, và trong tương lai không xa, ở tất cả những nơi nào đó có đông cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản.

    2.- Nêu cao ngọn đuốc Tinh Thần Ngô Đình Diệm cũng như trả lại cho Chí Sĩ, trước công luận và trong lòng người, công lý và những giá trị đạo đức, nhân bản, lòng ái quốc, vì dân vì nước quên mình của Tổng Thống đã bị một nhóm người nội cũng như ngoại đã và đang cố tình xuyên tạc với mục tiêu riêng tư của họ.

    3.- Tượng đài sẽ góp phần nhắc nhỡ cho thế hệ con cháu mai hậu, cuộc di cư vĩ đại và hào hùng năm 1954, những ngày huy hoàng và vinh quang của đất nước, những ngày tuy ngắn ngủi, nhưng thanh bình cho dân lành Miền Nam được sống trong tự do dân chủ, ấm no và phú cường.

    4.- Tuợng đài, dưới nắng mưa giông bão cũng sẽ nhắc nhở cho chúng ta ngày 26/10, Ngày Thành Lập Chính Thể Dân Chủ đầu tiên cho Nước Việt Nam, khai sáng Nền Đệ I Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và cũng là ngày khai sinh QLVNCH, rồi từ đó nảy sinh niềm kiêu hãnh của Trường Đại Học Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

    5.- Tượng đài còn là một biểu tượng của những liên kết bằng những hoạt động đấu tranh chống Việt gian Cộng Sản để tạo dựng trong tương lai một Nước Việt Nam Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền.

    6.- Qua tượng đài, người Việt chúng ta cùng nhau vinh danh và tưởng niệm Một Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, tất cả quân cán chỉnh đã có công với đất nước, vị quốc vong thân, cũng như những bào đệ của cố Tổng Thống, vì theo anh ra giúp nước, đã phải hy sinh cho đại cuộc.

    7.- Mong ước tượng đài sẽ là nơi tập họp và gặp gỡ mỗi năm của người Việt tha hương để kỷ niệm cuộc di cư vĩ đại 1954 và ngày quốc khánh 26/10 cũng như để cùng nhau tưởng nhớ Anh Linh Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Bào Huynh Ngô Đình Nhu cùng Các Quân Cán Chính đã vị quốc vong thân.

    8.- Hàng năm vào dịp lễ quốc khánh 26/10, Ủy Ban sẽ trao tặng giải thưởng Ngô Đình Diệm, cho tác giả đã có công nghiên cứu những dữ liệu giá trị của nền dân chủ đầu tiên của Việt Nam và con người đã có công tạo ra, hầu để lại cho hậu thế mai sau.

    Tượng đài sẽ tọa lạc tại số 104, chemin de l’Ormet, CH-1024 ECUBLENS/ Thụy Sĩ và ngày khai trương được dự trù vào tháng 10/2011, nhân dịp Quốc Khánh 26/10.

    Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài kính mời tất cả các nhà Dân Chủ và con dân Việt Nam Cộng Hoà còn mến thương cố Tổng Thống tiên khởi của Việt Nam cũng như còn nhớ tới những ngày vinh quang của nền dân chủ đầu tiên của Việt Nam, có dịp công tác tại Âu Châu, tạm dừng chân ghé thăm tượng đài và dùng bát nước chè xanh.

    Trong mục tiêu trang trải một phần nào, chi phí dùng vào các phần thưởng Ngô Đình Diệm, phí tổn xây dựng và bảo trì, chi tiêu cho các buổi lễ kỷ niệm hàng năm và bữa cơm tiếp theo, Ủy Ban rất biết ơn và sẽ có văn bằng cám ơn, gửi tới quý ân nhân hay quý ủng hộ viên, đã đóng góp bất cứ một ủng hộ nào.

    Ngoài ra, nếu quý vị nào muốn ủng hộ việc bảo tồn Tượng Đài xin quý vị gởi vào trương mục sau đây:


    Comité pour TT Ngo Dinh Diem

    IBAN : CH51 0900 0000 9298 0495 0
    Chemin de l’Ormet, 104
    CH-1024 ECUBLENS VD
    SUISSE

    Đại Diện Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài
    Ngô Tổng Thống

    Ls Lê Trọng Quát


    Đại diện tại Âu Châu của Ủy Ban
    Ts Hồ Nam Trân
    Chemin de l’Ormet 104
    CH-1024 ECUBLENS/SUISSE
    E-mail: Ts Hồng Lĩnh <honamtran5@gmail.com>
    ĐT từ Mỹ: 011 41 21 691 85 02
    ĐT từ các nuớc khác: 0041 21 691 85 02
    __________________________________________________

    Đại diện tại Mỹ và Gia Nã Đại
    Nữ văn sĩ cố vấn Tôn Nữ Hoàng Hoa
    Địa chỉ điện thư: TonNuHoangHoa<goinhau2000@yahoo.com>
  4. Cuộc chiến tranh vừa qua, nhiều người lầm tưởng đã kết thúc vào ngày 30.4.1975 và bị đánh giá là cuộc nội chiến Nam Bắc, mà Cầu Hiền Lương vắt qua giòng sông Bến Hải, trên vĩ tuyến 17 là biểu tượng cho một giai đoạn xót xa của lịch sử. Thật ra, cuộc chiến tranh đó vẫn được tiếp diễn, nhưng theo thế trận khác và ý nghĩa cũng được nhận định lại đúng đắn hơn!

    Sau 30.4.1975 Cộng Sản phơi bày chân tướng là một lũ phỉ quyền tham ác lưu manh; nên Người Quốc Gia giành đoạt được chính nghĩa và tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng Dân tộc hầu có điều kiện đưa đất nước đến phồn thịnh, nhân dân được tự do. Trận quyết đấu nầy, người Quốc Gia đang thắng thế, từng bước chứng minh Cộng Sản Việt Nam là tội phạm nhân loại, là tội đồ dân tộc. Nhưng bỗng nhiên hàng ngũ chúng ta có hiện tượng giao động, địch biết tránh né, thoát hiểm. Thì ra, chúng ta đang bị một loại “nội thù” rất nguy hiểm mà mọi người thường gọi bằng tên nghe khá hiền lành “Việt kiều” !.

    Tất cả những người Việt Nam, nếu không là bọn có quyền thế sống hoan lạc trên nỗi thống hận dân tộc, và nếu có điều kiện đều phải đành lòng chấp nhận gian nan, nghiệt ngã, nguy hiểm, đau nhục để đào thoát ra đi. Sóng nước đại dương, rừng sâu, hải tặc, thổ phỉ…… không cản ngăn được ý chí. Họ đào thoát khỏi Cộng sản dưới nhiều hình thức như vượt biên, vượt biển, con lai, bảo lãnh đoàn tụ, cựu tù nhân (H.O), cựu nhân viên chính phủ Hoa Kỳ (U.11), thuyền nhân hồi hương (ROVR); đào tị khi xuất ngoại như công tác, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu, công nhân trong chương trình”xuất khẩu lao động”; ngay cả những du học sinh hay du lịch… v.v…phần đông trong thâm tâm họ cũng mơ ước cho toàn dân Việt Nam thoát khỏi ách nạn Cộng Sản.

    Ðối với Việt Cộng, những người hội đủ điều kiện được tái định cư ở nước ngoài khi trở về Việt Nam đều bị xếp vào loại người có danh xưng là “Việt Kiều”.

    Nếu lấy 30.4.1975 làm thời điểm, thì trước đó đã có nhiều đợt người Việt Nam đến sinh sống tại nhiều nước khác với nhiều lý do:

    A. Tị nạn do bị bức hại:

    I/ Thời nhà Lý có hai đợt ra đi của hai Thân Vương nhà Lý và cùng trôi giạt vào nước Cao Ly (hay còn gọi là Triều Tiên hoặc Ðại Hàn):

    1/ – Ðại Ðô Ðốc Kiến Hải Vương Lý Dương Côn cùng chiến thuyền binh sĩ thuộc quyền, gia nhân và gia thuộc ra đi vì sợ bị phía bà Chiêu Hiếu Thái Hậu và Cảm Thánh Hoàng Hậu giết chết trong âm mưu tranh đoạt ngai vàng cho Hoàng Tử Thiên Tộ (tức vua Lý Thần Tôn).

    2/ Các Ðô Ðốc Kiến Bình Vương Lý Long Tường, Bình Hải Công Lý Quang Bật cùng hạm đội dưới quyền và khoảng 6.000 người vì tránh họa diệt tộc của Thái Sư Trần Thủ Ðộ trong mưu đồ tiếm đoạt Vương quyền nhà Lý cho nhà Trần.

    II/ Thời nhà Nguyễn cũng có nhiều đợt với nhiều lý do, đa số cư ngụ tại Băng Cốc Thái Lan:

    1/ – Nhóm cùng bôn tẩu theo Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long), vào cuối Thế kỷ thứ 18.

    2/ – Nhóm theo Thiên Chúa Giáo lánh nạn sát đạo dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị (1820 –1847).

    3/ Nhóm thuộc hạ của Cụ Phan Ðình Phùng trốn giặc Pháp vào khoảng 1895.

    4/ Nhóm theo Cụ Phan Bội Châu (1908 – 1909).

    B. Vì những lý do khác:

    Bị Thực dân Pháp lưu đày, ép buộc trong chương trình mộ dân, gia nhập quân đội Liên Hiệp Pháp, du học và không trở về hoặc xuất bôn chiến đấu giành chủ quyền cho Tổ Quốc. Phần đông lưu trú tại Pháp hay các quốc gia thuộc Pháp, hoặc Trung Hoa, Cao Mên, Ai Lao. Ngoài ra còn có một số ít định cư tại những quốc gia khác vì nhiều lý do.

    Trước khi đất nước rơi vào tay Cộng Sản, những người có nguồn gốc Việt Nam, đang sinh sống ở nước ngoài được gọi là Kiều bào để phân biệt những sắc dân khác trú ngụ trên lãnh thổ Việt Nam như Ấn kiều, Hoa kiều, Pháp kiều. Nên khi Cộng Sản gọi những người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài là Việt Kiều đã hàm chứa ý nghĩa những người nầy không còn là người Việt Nam. Số phận Việt kiều chơi vơi giữa người Ngoại Quốc và người Việt Nam tùy theo từng trường hợp, nhưng bao giờ Việt Kiều cũng bất lợi kể cả trường hợp so sánh giữa Việt Kiều và những người thuộc các sắc dân khác cùng vào lãnh thổ Việt Nam trong cùng thời gian và cùng có lý do phạm pháp giống nhau.

    C. So sánh giữa Việt kiều và ngoại kiều:

    1/ Giống nhau: Tất cả mọi ràng buộc về pháp lý, hành chánh, thuế khóa, kiểm soát; những quy định gắt gao về giá trị kim ngạch hối xuất. Tóm lại không có sự khác biệt về phương diện kiểm soát quản lý và những gì thuộc về kinh tế, tài chánh.

    2/ Khác nhau: Nếu vì bất cứ lý do gì có liên quan đến pháp lý thì ngoại kiều được chi phối bởi luật pháp và thói quen mà quốc tế đã chuẩn nhận. Nhưng trong trường hợp nầy thì Việt kiều bị xem là ”công dân Việt Nam”. Nghĩa là chúng thông báo, hoặc xử phạt tùy theo ý chúng.

    Chưa quốc gia nào có chính sách kỳ thị và ti tiện với Kiều bào của mình như ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam. Dưới mắt chúng, Việt Kiều là thành phần nguy hại cho sự tồn tại chế độ chúng, mặc dầu Việt kiều cũng là con bò sữa giúp chúng hồi sức, đồng thời Việt kiều cũng là những kẻ vong thân, nên Việt kiều bị Việt Cộng xem như là những kẻ nô lệ dùng để kháng cự và tấn công các tổ chức yêu nước chân chính. Tóm lại, Cộng Sản Việt Nam xem khinh, xử dụng sai khiến Việt Kiều nhưng lúc nào cũng rắp tâm hãm hại Việt Kiều.

    Khi nền kinh tế kiệt quệ, Cộng Sản thử nghiệm chính sách chiêu dụ Việt kiều bằng nhiều hình thức như: Gởi tiền, gởi quà, trở về thăm thân nhân, du lịch, hợp tác, đầu tư làm ăn tại Việt Nam.

    Có khá nhiều trường hợp những Người Quốc Gia chân chính rất khổ tâm khi phải gởi tiền hay phải về Việt Nam vì tình cảm, vì trách nhiệm đối với thân nhân, đồng bào, đang lâm cảnh thiên tai, lao đao cơ cực, hay đồng đội bị lăng nhục: Xin được chia xẻ những hoàn cảnh cần có sự cảm thông ấy. Ðồng thời cũng xin chân thành nghiêng mình cảm tạ, ngưỡng mộ những anh hùng trở lại quê hương đối diện trực chiến với quân thù với quyết tâm lật đổ bạo quyền Cộng sản Việt Nam.

    Ðối tượng câu chuyện hôm nay là những Việt kiều trở về trên tư thế của kẻ “hãnh tiến”, loại “áo gấm về làng”, những kẻ đi tìm hoan lạc trên nỗi đau thương bất hạnh của đồng bào, đồng đội, những kẻ ích kỷ manh tâm đồng lõa với Cộng Sản bất chấp lương tâm, làm chậm hoãn ngày bạo quyền sập đổ. Hãy nhìn lại Việt Kiều đã lưu lại dấu vết gì với đồng bào, đồng đội trong nước:

    D. Việt kiều đã làm đồng bào, đồng đội trong nước thêm tủi nhục, cơ cầu:

    Một Mỹ kim có giá trị tương đương khoảng trên 20.000 đồng Việt Cộng nên Việt kiều tiêu xài hoang phí làm ảnh hưởng vật giá gia tăng trong khi tiền lương không gia tăng. Tầm cách biệt giữa người có hay không có thân nhân hoặc thành phần sống bám theo ảnh hưởng Việt kiều dài ra và cao thêm. Ðồng tiền ấy cũng xô đẩy những hạng người nầy với Việt Cộng gần nhau hơn và từ dó, hình thành ra giai cấp mới gọi là liên minh thống trị. Ðồng tiền Việt Kiều cũng là nguyên nhân chủ yếu của các tệ nạn hối lộ tham nhũng, mãi dâm, trộm cướp, cờ bạc dẫn đến bất công áp bức, và dĩ nhiên nạn nhân vẫn là lương dân nghèo khó.

    E. Việt kiều giúp cho Việt Cộng chạy tội vi phạm nhân quyền:

    Dù vô tình, thiển cận hay có toan tính, Việt Kiều tung những thông tin, những hình ảnh phiến diện, biện hộ cho Cộng Sản; làm lu mờ chính nghĩa, làm hàng ngũ chống Cộng bị ngộ nhận, bị trở ngại. Dưới nhiều hình thức như hợp tác, đầu tư, cố vấn, giao lưu “văn hóa, nghệ thuật”, và dù khoác chiếc áo “tình thương, cứu trợ”. Việt kiều vẫn là lực lượng tiếp sức hữu hiệu cho bọn Việt Cộng. Bởi vì chính bọn Việt Cộng mới là kẻ được thụ hưởng còn những người cùng khổ là đại đa số người dân Việt Nam nghèo đói, khốn cùng chỉ được làm “vật nhân danh”, thậm chí còn tủi nghèo cơ cực hơn, và bọn Việt Cộng càng phè phỡn tàn ác hơn. Thế nhưng chưa bao giờ Việt Kiều dám nhìn nhận sự ấu trĩ, hèn nhát, phản bội, và bất nhân của họ.

    Tùy thuộc vào những gì Việt kiều có và những gì Việt Cộng cần mà bọn chúng đổi thay sách lược. Sách lược hay chính sách là chiến thuật. Chiến lược trả thù không bao giờ thay đổi ! Hãy đi ngược thời gian để thêm lần nữa nhận diện Việt Cộng đổi thay về cái gọi là chính sách đối với Việt kiều.

    F. Việt kiều là Phản Quốc:

    Cộng sản xem những người vượt biên, vượt biển trốn chạy chúng là phản quốc, phản động, phản bội, là cặn bã, là bọn quen ăn bám, là vong bản, đĩ điếm, lười biếng v.v. không một hình dung từ xấu xa nhơ bẩn nào mà VC không dùng để ám chỉ, mô tả những người nầy, và dĩ nhiên Việt Cộng cũng có chính sách trả thù. Nếu không thoát được thì họ có thể bị bắn chết, bị hãm hiếp (nếu là nữ giới), bị lao tù đầy ải, tài sản bị tịch thu. Bị gây muôn trùng khó khăn trong đời sống như thân nhân bị giam giữ, bị điều tra, vợ con, cha mẹ, anh chị em bị kềm chế quản lý, bị kỳ thị. Và cuối cùng chỉ có tiền và vàng mới may ra những áp lực những khe khắc được nới lỏng, nhưng cái tội Phản Quốc vẫn còn đó, chờ cơ hội lên án và trừng phạt.

    G. Việt kiều là khúc ruột nối dài:

    Khi nền kinh tế trì trệ, tài sản quốc gia bị Việt Cộng đục khoét tham nhũng; lầm than, thống hận vượt tràn qua sức chịu đựng toàn dân, hội đủ những điều kiện làm cuộc bạo loạn. Việt Cộng liền nhớ ra và cải danh bọn “Phản Quốc” kia thành Việt kiều; rồi hóa thân cho Việt Kiều thành “Khúc ruột nối dài”. Sau thời gian dè dặt thử nghiệm, Việt Cộng thấy rằng còn có thể khai thác tận dụng phần bên trong của cái khúc ruột nối dài nầy. Và từ đó, thượng tầng đảng Mafia đỏ hình thành bộ phận Kiều Vụ. Nhiệm vụ chủ yếu của Kiều Vụ là nghiên cứu tìm ra phương cách gom góp ngoại tệ, khả năng, trí tuệ của Việt kiều hầu giữ vững chiếc ghế quyền lực, để túi tham được phồng thêm. Bộ phận Kiều Vụ không những chiêu dụ Việt kiều về thăm, làm cái gọi là từ thiện mà còn về mua bán đầu tư, thực hiện chương trình giao lưu làm nền tảng cho bọn tư bản đỏ đi ra, bọn phản bội đi vào. Chúng kết nạp bọn vong thân, bọn bất lương rồi tổ chức những bọn nầy thành lực lượng khuấy phá, tạo hỏa mù làm mờ đi chính nghĩa, làm nản lòng người tâm huyết.

    Nhưng hạnh phúc không bao giờ đến với kẻ phản bội! Không phải đó là lời răn đe mà còn là kinh nghiệm, không những ở tình trường mà còn ở nhân cách. Thật vậy, người Việt Nam định cư nước ngoài tuy vì nhiều lý do nhưng lại cùng một nguyên nhân là kinh tỡm Cộng Sản, họ cũng là chứng nhân xác nhận bọn ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam là quân vô lại, bất nhân, bạc ác không đáng để được gọi là NGƯỜI nữa. Hầu hết, trước khi ra đi Việt kiều đều ít nhiều ấp ủ:

    Một ước mơ: Cộng Sản phải đổ

    Một hoài bão: Nhân dân Việt Nam được sống đúng với giá trị con NGƯỜI.

    Thoát được xiềng ách Cộng Sản, họ sẽ thay mặt đồng bào, đồng đội còn lầm than cơ cực, còn bị kềm kẹp để tố cáo tội ác Cộng Sản Việt Nam trước lương tâm nhân loại. Ước mơ và ý chí của họ thật đáng yêu và đáng kính. Họ đã làm rúng động lương tâm loài người, và nhân loại cũng đã nghiêng mình cảm phục những Người Tị Nạn Cộng Sản Việt Nam họ đã từng được:”thế giới ngưỡng mộ như những anh hùng”.

    Nhưng rồi vì một số trong những người tị nạn Cộng Sản Việt Nam năm xưa ấy đã nhẫn tâm trở giáo chém anh em cùng chung chí hướng, họ phản bội ngay cả ước mơ ban đầu của chính họ. Và chắc chắn rằng họ sẽ nhận lại hậu quả từ chính những người từng là đồng cảnh, cũng từng là đồng tâm, đồng bào, đồng đội và cũng chính ngay từ kẻ họ đang quỳ gối cúi đầu. Sự phản bội đã có hậu quả xảy ra. Tương quan giữa hậu quả và nguyên nhân là tỷ lệ thuận.

    H. Loại Việt kiều áo gấm về làng:

    May mắn, hay sự mơ ước của những người vất vả nghèo khổ để tự mãn, để huênh hoang, kiêu căng và thích thú. Chúng bất chấp đạo lý tối thiểu để thỏa mãn hoan lạc dục vọng, chúng thú tính ngay cả những trẻ vị thành niên (lắm khi là con em của thân nhân, bè bạn, đồng đội năm xưa). Thế nhưng chúng cũng rất hèn hạ với bọn cán bộ Cộng Sản để an toàn. Chính bọn Việt kiều nầy, phần đông đã cung cấp tin tức, vu khống người Việt hải ngoại cho Việt Cộng, biện hộ và đồng lõa sự tham bạo của Việt Cộng với nhân dân trong nước. Khi trở lại nơi định cư, chúng rỉ tai tuyên truyền, nghe ngóng để báo cáo. Bọn Việt Kiều vô lại nầy tình nguyện làm nô bộc không công, làm con chó giữ nhà và đánh cắp tài sản của người khác, có khi Việt Kiều cống nạp hoặc hỏang sợ trước quyền lực mà cúi đầu phủ phục trước mũi giày Cộng sản hoặc a tòng với cộng sản trong những mưu đồ bất chính. Thời gian qua, một số trong bọn nầy đã bị Việt Cộng cướp đoạt tài sản qua dàn dựng hoạt cảnh tai nạn lưu thông, du đảng xã hội đen; có tên bị thanh toán bởi ghen tương.

    I. Việt Kiều nhân danh tình thương:

    Tình thương và lòng nhân ái, quê hương và tổ quốc luôn trên đầu môi chót lưỡi bọn Việt Cộng, Việt kiều. Kẻ lưu manh tàn bạo thường che giấu chân tướng bằng mỹ ngữ. Nên nạn nhân thiên tai, người nghèo khổ tật nguyền, những đồng đội ngày xưa oanh liệt nay gãy cánh bất hạnh lại bị bọn Việt Cộng liên minh với Việt kiều bất lương kinh doanh. Lấy tình thương làm bình phong. Nếu bị vạch mặt, chúng sẽ lẩn trốn với tấm thẻ bài khẩu hiệu không cấm vận tình thương (nói theo ngôn ngữ của Nhật Tiến). Có người còn tính đến cả chuyện xây nhà, xây trường học, đào giếng, trả tiền lương cho cô thầy giáo, mở trường dạy nghề, xóa đói giảm nghèo v..v…(như của Nguyễn xuân Bảo hay của Vũ thành An – nghe đến đây Cộng Sản vừa ngạc nhiên vừa mừng!)

    Ðây là trách nhiệm của ngụy quyền Cộng Sản, toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước có nghĩa vụ bắt buộc chúng phải trả lại quyền sống, quyền làm Người cho Dân Việt. Tại sao kinh tế quốc doanh bao giờ cũng ghi nhận thua và ngân sách quốc gia phải bù lỗ nhưng chúng không cho tư nhân hóa? Bởi vì, toàn bộ các công ty quốc doanh phải đài thọ cho cá nhân và toàn gia đình của non 500 ủy viên trung ương đảng vừa hưởng bổng lộc suốt đời, vừa có tiền gởi ở ngoại quốc để thủ thân khi có biến động, vừa phải chi cấp cho khoảng 2.000 du học sinh là con cháu bọn cán bộ. Theo sự tiết lộ của “tổng công ty xuất khẩu hải sản miền Nam Seaprodex” (đơn vị trực tiếp chi trả mọi chi phí cho Mai Chí Thọ, và tên đại tá quản gia của y, cho Vũ Đình Liệu và một số quan chức đỏ khác) thì cứ 4 tháng 1 du học sinh (loại được du học do lý lịch) phải đóng cho trường học (College hay University) khoảng 1.500 USD học phí, tiền chi tiêu (ăn ở, xe cộ, bảo hiểm…) 1.500 USD nữa. Như thế, cứ mỗi 4 tháng, chỉ riêng cho con cháu bọn cán bộ đang du học thì toàn dân Việt Nam phải móc ra khoảng 6 triệu USD. Có biết nỗi niềm nầy không hỡi phường bất lương

    J. Việt kiều văn hóa, văn nghệ:

    Loại Việt kiều nầy trở về khúm núm bợ đỡ xin áo cơm (như Hương Lan, Hoài Linh, Lệ Thu, Chí Tài, Chế Linh, Phượng Mai, Ý Lan…).Nhưng áo cơm không đủ cho nô bộc, có đâu cho lũ phản trắc. Bọn nầy bị lừa, chưa về thì háo hức, lúc về bị khó khăn và trở ra bị chê bai là hương sắc tàn phai, là rẻ tiền, là phản giáo dục, là phi nghệ thuật (xem Thời Luận số ra ngày 12 và 19/8/2000) và đương nhiên loại Việt kiều nầy không tránh khỏi bị Người Việt Tị nạn vốn là những khách hàng đang nuôi sống họ trách cứ hoặc tẩy chay.

    Chưa về, cứ tưởng mình ngon
    Về rồi cúi mặt như con chó hèn


    Hay

    Ngậm đầy một miệng bẩn nhơ
    Nhổ ra e thẹn, nuốt vào thối tha
    Việt kiều về nước hát ca,
    Thân con chó ghẻ lê la gầm bàn.


    Ước mong các ca sĩ, các trung tâm băng nhạc không dẫm lên nỗi đau của đồng bào dù nhìn với chiều hướng nào.

    k. Việt kiều về hơp tác kinh doanh:

    Bọn nầy là những tên thương lái vô lương tâm, chúng biết đồng bào, đồng đội nghèo khó, cần tiền, phải nhẫn nại, chịu đựng, nên chúng móc ngoặc với bọn cường quyền chèn ép bóc lột hà hiếp đồng bào. Những vụ làm sỉ nhục công nhân Việt Nam như bắt quỳ, đánh giày lên đầu, phạt trừ lương……những chủ Việt Kiều nầy có thái độ gì không ? Thưa không, rất rõ ràng là không !

    Dưới mắt bọn Việt Cộng thì Việt kiều phải là vật hy sinh: Để bảo vệ manh mối làm ăn, để tỏ thái độ quyết liệt với nhau khi nội vụ bị phanh phui, để giữ bí mật lưu manh thương trường, lập tức Mafia Việt Cộng xử tử Việt kiều để bịt đầu mối như vụ bà Việt kiều Nguyễn Thị Hiệp ở Gia Nã Đại, hay vụ tống vào tù để trấn lột như Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình ở Hòa Lan với số vốn bị tước đoạt lên tới 20 hoặc 30 triệu Mỹ Kim; và Việt Kiều Lưu Hùng Sơn tức Sonny Lưu 55 tuổi trú tại vùng Little Sài Gòn Nam California, Hoa kỳ đang bị “rắc rối” vì mang số tiền 25 triệu đô la về làm ăn và đang quỵ lụy khẩn cầu được bỏ của cứu lấy thân!

    Thực tế người dân trong nước quá bi thương khốn cùng. Đồng bào căm hận Việt kiều đã đóng vai Việt gian, đồng lõa với Việt Cộng, gieo bao đau thương tan tác thãm nạn, nên trong nước có câu ca dao mới

    như sau:

    Việt gian, Việt Cộng, Việt Kiều,
    Ba thằng Việt ấy, tiêu điều Việt Nam.


    Hay:

    Việt gian, Việt Cộng, Việt kiều,
    Ba thằng Việt ấy, đem bêu thằng nào ?
    Việt kiều, Việt Cộng, Việt gian
    Ba thằng giặc ấy, thằng nào cũng bêu


    Ðể chấm dứt câu chuyện trao đổi hôm nay, tôi xin lược trình bài phóng sự của ký giả Xuân Mai báo áp phê số 4 tại Paris:

    Ông Nguyễn Minh Tuyền, 59 tuổi, định cư tại Pháp năm 1980 với lá đơn có lời lẽ chân thành thống thiết như sau:

    “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù tôi không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về xứ cũ, khi nào quê hương tôi không còn duy trì chế độ Cộng Sản”.


    Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tị nạn của ông liên tục từ năm 1995 đến Tết Canh Thìn 2.000 tới 7 lần (chôn bà nội 3 lần, 2 lần chôn bố và 2 lần chôn mẹ mà không hề xin phép OFPRA (Office Francais de Protection des Réfugiés et Aptrides – Cơ quan bảo vệ những người tị nạn và vô tổ quốc tại Pháp) hoặc giấy Sauf Conduit (hộ chiếu đặc biệt) của cảnh sát địa phương. Ngày 26.7.2000 ông Tuyền và 544 người Việt khác được OFPRA gởi thư thông báo rút lại thẻ tị nạn với lý do:

    “Ông tự ý trở về xứ cũ, khi chế độ độc tài Cộng Sản chưa chấm dứt, nhưng không hỏi ý kiến hoặc thông báo cho cơ quan chúng tôi biết, để bảo vệ sinh mạng cho ông, tức là ông đã từ bỏ quyền tị nạn chính trị, không cần đến sự che chở của chúng tôi nữa. Chiếu theo đìều I khoản A 2 của Hiệp Định Genève ngày 28.7.1951, chúng tôi thu hồi lại thẻ tị nạn. Ðồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, kể từ hôm nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội, theo diện tị nạn chính trị”.

    Ðược biết từ năm 1988 đến tháng 7 năm 2000, tổng số người Việt lâm vào tình trạng tương tự là 22.417 người. Theo lời ông M. Motu thì người tị nạn có quyền trở về xứ cũ trong trường hợp đặc biệt như con cái, cha mẹ, anh chị em ruột bị bịnh nặng, đang hấp hối, chết; trong các trường hợp đó người tị nạn có thể đến Préfecture sở tại xin cấp Sauf Conduit. Sẽ phạm luật nếu đến Tòa Ðại Sứ Việt Cộng xin visa trước khi có hộ chiếu đặc biệt. Tên trưởng phòng cấp chiếu khán Việt Cộng rất đểu cán khi giải thích vấn đề nầy:

    “Nhà nước Việt Nam rất có thiện chí trong vấn đề hàng tháng cung cấp danh sách ghi nhận tất cả người Việt Nam mang Titre de Voyage (thẻ thông hành) lên Sứ Quán xin nhập cảnh cho Préfecture biết để Préfecture thông báo lại cho OFPRA. Chúng tôi hợp tác việc ấy với chính phủ Pháp là nhằm mục đích chứng minh cho dư luận quốc tế thấy rằng, bọn Việt kiều nầy lếu láo, chạy qua đây vì lý do kinh tế, kiếm việc làm, chớ không phải vì nhà nước chúng tôi đàn áp, bắt bớ, tra tấn, giam cầm, chà đạp nhân quyền như bọn họ đã từng vu khống”.

    Và một giới chức cao cấp trong Bộ Ngoại Giao Pháp mạnh mẽ phản đối:

    "Chính phủ Pháp không bao giờ hại người vô tội như thế. Chính phủ Việt Cộng từ lâu, qua các trào Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Chiến Thắng và Nguyễn Mạnh Dũng đã xem người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, khéo léo áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông”.

    Dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho người Việt tị nạn về thăm nhà, dù thừa biết rằng, họ không có quyền. Ðây là cách thức giúp người tị nạn phạm pháp, để một ngày kia họ sẽ bị OFPRA rút thẻ tị nạn.

    Sau khi cấp chiếu khán bừa bãi, Tòa Đại Sứ Việt Nam lại ra thông cáo cho Bộ Nội Vụ Pháp biết rõ tên tuổi từng người xin cấp visa về Việt Nam.

    Một khi bị rút Thẻ Tị Nạn, họ bị mất luôn Thẻ Thường Trú (Carte de séjour). Muốn xin việc làm phải có Thẻ Lao Động (Carte de travail). Nếu muốn cư ngụ trên 3 năm phải trình Passport của CSVN. Như thế người tị nạn đang được sống tự do, bỗng trở thành công dân Việt Cộng, đặt mình dưới sự kiểm soát của CSVN cho đến mãn kiếp.

    Chính phủ CSVN cũng phải hiểu rằng giúp đỡ người phạm pháp, cũng phạm tội đồng lõa. Cấp visa cho người tị nạn tức là cố ý phạm luật bang giao giữa hai nước. Chúng tôi nghĩ, đã đến lúc nên đặt lại vấn đề nầy với chính phủ CSVN

    Ðồng bào trong nước đã đầy ắp thống khổ và căm hận. Chấm dứt ngay những con người manh tâm mang “lòng Việt gian” trong chiếc áo Việt kiều. Những hình ảnh nêu trên chắc cũng đủ thức tỉnh lương tâm một số người, nếu có và còn muốn trở thành VIỆT KIỀU.

    Tống Phước Hiến

    Phần phụ đề {1 nhận xét}

    Vào đầu thập niêm 80 tôi còn ở VN lúc đó cũng có một số ít Kiều bào về VN qua nhiều hình thức khác nhau nhưng mà người dân vẩn còn gọi là Kiều bào hoặc là anh A chị B ở Nước ngoài về, có lần tôi nghe một người bà con ở Pháp về kể lại (bọn quan thuế với hải quan nói cái danh từ gì lạ qua chị không hiểu, tôi hỏi từ gì ? Ứ thì chúng nó nói tao là Việt kiều) Tuy nhiên lúc đó danh từ VK cũng chưa được phỗ biến rộng rãi vào khoản giửa thập niên 80.
    Tôi không còn nhớ rỏ năm nào, đúng vào lúc đồng bào tị nạn bị cưỡng bức hồi hương song song theo đó tên Nguyễn Văn Linh lên truyền hình đọc một bức thư gửi cho Kiều bào với lời mỡ đầu là kính thưa toàn thể bà Việt Kiền quý mến bla bla bla v,v và v,v.

    Với hình thức chiêu vụ Kiều bào về thăm quê hương đồng thời hắn cũng ra một thông báo cho tất cả Kiều bào là tất cả bà con Kiều bào đang sinh sống khắp mọi nơi trên thế giới kể từ hôm nay bà con trở về thăm lại quê hương sẽ được nước CHXHCNVN đón tiếp một cách vô cùng nồng hậu kể cả những người có tiền án sau ngày 30 tháng 04 1975 điều được Đảng và nước CHXHCNVN xoá hết các tội danh ngoại trừ án hình sự giết người cướp của.

    Và kể từ ngày hôm đó văn bút vẹm, báo vẹm, đài truyền hình vẹm, đồng loạn đăng lại lời kêu gọi cũa tên Linh, bắt đầu từ đó về sau mới có danh từ VK trên toàn cõi VN và lây lan ra hải ngoại. Nếu như có quý đồng hương nào còn thắt mắt thì xin hỏi bọn VH & TT ở VN thì sẽ rõ.
  5. Tin Bộ Tài Chính tăng tiêu chuẩn xe công té ra là không phải do các bác ấy muốn ngồi xe xịn hơn – tôi tin các bác ấy cũng ngượng với dân, đặc biệt là mấy trăm ngàn dân Thanh Hóa đang đói phải cứu – mà thì ra là do… trượt giá, các bác đã chính thức cải chính như thế. Bi hài là chính các bác Bộ Tài Chính, cái bộ oành tà ráng về việc giá cả lại công nhận giá nó đang trượt, mà lại trượt khá dài, khá… tự do.

    Thế nhưng khi tính để bù cái khoản trượt này cho người ăn lương nói riêng và dân chúng nói chung thì các bác lại không nói là trượt, mà nói là tăng lương. Hè hè, thế là lương chưa kịp tăng mà giá lao như tên bắn. Cái xe nó gắn ngay với các bác hàng ngày nên các bác biết (tăng đến mấy trăm triệu một chiếc), còn giá cả ngoài chợ, từ bó rau con cá đến cân gạo ký bột các bác có phải đi mua đâu mà biết. Rồi nữa, xăng tăng điện tăng, các bác giỏi thế nhẩm hộ cái xem bao nhiêu thứ tăng oành oành như tàu vũ trụ Liên Xô chở Phạm Tuân thuở nào thế thì cái khoản mà các bác gọi là lương tăng ấy nó thấm tháp vào đâu không ạ.

    Tin Liên Quan:

    Bộ Tài chính: Định mức xe công cao lên là do trượt giá

    Thủ tướng: ‘Việt Nam vẫn là nước nghèo’ [chỉ có điều thích chơi sang]

    Thế mà con người ta vẫn phải sống, mà không chỉ sống tồn tại, mà sống đàng hoàng tương xứng với thời đại tốt đẹp này, sống để không phải hổ thẹn với chị Dậu anh Pha ngày nào. Thưa các bác đại tài thông minh, các bác thử nhẩm hộ nhà cháu xem dân ta sống như thế nào trong hoàn cảnh lương lậu thu nhập như thế. Cho nên cái tin hai trăm bốn chục ngàn dân Thanh Hóa đói không làm ai ngạc nhiên mà lại vô cùng ngạc nhiên. Không ngạc nhiên là vì không đói thì no làm sao được trong hoàn cảnh như thế, còn ngạc nhiên là, chúng ta chuẩn bị làm đường sắt cao tốc, thủ đô thì lớn nhất nhì thế giới, dầu khí nhiều thế, tàu biển to thế, rừng vàng biển bạc thế, xe công xịn thế, mà dân vẫn đói. Lạ, lạ quá…

    Nhưng việc các bác Bộ Tài Chính (tức tài-là-chính) biết là giá xe bị trượt có khi lại may, bởi như thế các bác cũng biết các thứ khác nó cũng trượt, nên biết đâu các bác lại cho chúng em tăng… lương – lương mình hơn ba chục năm cống hiến được hơn bốn triệu, mà mình được tăng thì dân cũng sẽ được tăng, ha ha ấm no rồi…

    Nhưng mà, về việc xe thì các bác nhanh nhảu thế, chứ cái vụ điều chỉnh mức thuế thu nhập cá nhân thì các bác cứ… lơ, dù các bác biết mười mươi là nó vô lý và dân khản cổ đề nghị rồi kêu gào mấy năm nay rồi. Cũng phải thôi, nếu điều chỉnh mức thuế khởi điểm thì lấy đâu tiền để các bác bù trượt giá mua xe xịn…

    Thế nên, nếu tăng lương thì cũng chỉ đủ để nộp thuế thu nhập cá nhân, vì mình cũng đã chạm ngưỡng 5 triệu một tháng rồi, huhu…

    “Cái lý” Có Chân Của Bộ Tài Chính...

    Văn phòng Bộ Tài Chính vừa lên tiếng phản bác tin nói rằng cấp lãnh đạo bộ này muốn xài xe công đắt tiền hơn khi xây dựng văn bản cho phép một số chức danh được sử dụng xe đưa đón với giá tối đa 1,1 tỉ đồng thay vì 800 triệu đồng.

    Dù xác nhận là có dự kiến cho phép bộ trưởng và một số chức danh có hệ số lương từ 9,7 trở lên được sử dụng xe công (đưa đón đi làm) với giá tối đa 1,1 tỉ đồng thay vì mức 800 triệu đồng, Bộ Tài Chính vẫn nói rằng những tin được báo chí nêu ra “thiếu chính xác và không đầy đủ”. Một quan chức Bộ Tài Chính lý giải mức giá trang bị xe công cho một số chức danh được đề xuất nâng lên so với quy định cũ không đồng nghĩa với việc nâng chuẩn xe công, mà là bù đắp trượt giá. Thời gian qua, cùng với tỉ giá biến động, các phụ tùng, linh kiện tăng cao nên giá xe cũng thay đổi.

    Thực tế ý kiến của bộ là xác đáng vì lạm phát mà hiện tượng giá xe leo cao là có thật.

    Song những người làm công ăn lương đang đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN) thì lại ngạc nhiên vô cùng trước sự nhanh nhảu bù trượt giá này của Bộ Tài Chính. Bởi tại kỳ họp thứ 9 Quốc Hội khóa XII (hôm 22-3), đáp lại ý kiến của một số đại biểu, chính Bộ Trưởng Vũ Văn Ninh khẳng định chưa thể đề xuất sửa đổi mức khởi điểm chịu thuế và chiết trừ gia cảnh trong Luật Thuế TNCN (mà chỉ nghiên cứu, tổng kết việc thi hành luật). Đến đầu tháng 5, khi CPI tăng quá cao (sát mốc 10%), bộ này mới đề xuất phương án miễn thuế TNCN cho một số đối tượng (nhưng số thuế được miễn tối đa cũng chỉ… 50.000 đồng/tháng/người nộp thuế, tương đương 1,5 tô phở!).

    Ai cũng biết việc lạm phát tăng cao có nguyên nhân rất lớn từ chính sách tài khóa, mà Bộ Tài Chính phải chịu trách nhiệm chính. Ngay cả việc điều chỉnh dồn dập giá các mặt hàng thiết yếu vừa qua, nhiều chuyên gia đánh giá rằng đã tạo nên tình thế “té nước theo mưa” lập nên mặt bằng giá mới, mà trong đó trách nhiệm quản lý giá của bộ không hề nhỏ. Thế nhưng khi cần một thái độ cụ thể chia sẻ với gánh nặng lạm phát của người dân bằng việc sửa những con số quá lạc hậu trong Luật Thuế TNCN thì bộ lại… chần chừ, thậm chí vô cảm. Trong khi đó lại thấy bộ sốt sắng “bù đắp trượt giá” cho tiêu chuẩn xe công cho cấp lãnh đạo.

    Đúng là “cái lý” có chân!
  6. Trong hai bài viết về chuyện “nói dối như… Tố Hữu”, tôi đã dẫn chứng về những chuyện “nói dối không chớp mắt, nói dối không biết ngượng miệng, nói dối như “Bác” Hồ, nghĩa là nói dối như VẸM ” (tức Việt Minh, tiền thân của đảng Việt Cộng hiện nay) của nhà thơ cộng sản Tố Hữu.

    Trong bài trả lời cho tác giả Nhật Hoa Khanh, nhà thơ Tố Hữu có đề cập đến nghệ sĩ Đặng Đình Hưng: “Tôi khâm phục tài năng và ý chí của nghệ sĩ Đặng Đình Hưng. Đối với tôi, cuộc đời anh Hưng là một bài giảng cao cấp về niềm tin ở sự thật”.

    Nhưng nghệ sĩ Đặng Đình Hưng là ai vậy? Và “cuộc đời anh Hưng là một bài giảng cao cấp về niềm tin ở sự thật” là chuyện gì vậy?

    Xin thưa ngay để độc giả khỏi sốt ruột. Ông này chính là nhạc sĩ Đặng Đình Hưng, bố của thiên tài âm nhạc Đặng Thái Sơn, người đoạt giải nhất thi Chopin ở Varsava năm nào.

    Và Đặng Đình Hưng là một trong những cuộc đời bị “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày” vì bị dính líu đến vụ Nhân Văn – Giai Phẩm (NVGP).

    Người theo lệnh Tố Hữu “đấu tố” biến nhạc sĩ Đặng Đình Hưng thành “tên đồ tể Đặng Đình Hưng” là nhạc sĩ Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội Nhạc Sĩ.

    Theo nhà văn Thế Giang, tác giả tập truyện “Thằng Người Có Đuôi” thì, chính anh nhạc sĩ Huy Du này, khi Đặng Thái Sơn đã học hết những cái gì có được của trường nhạc Việt Nam đã lên giọng lập trường quan điểm đe bác bỏ đề nghị gửi Đặng Thái Sơn qua Nga du học. May mà có dịp ông Nataxon, giáo sư dương cầm Nga ghé Hà Nội, giữa rừng âm thanh bát nháo, ông lọc ra tiếng đàn của Đặng Thái Sơn.

    Theo nhà văn Thế Giang viết trong “Cây Đắng Nở Hoa” là truyện ngắn mà tôi ý cứ theo để viết về chuyện mà nhà thơ VC Tố Hữu đã tuyên bố: “Cuộc đời anh Hưng là một bài giảng cao cấp về niềm tin ở sự thật” thì:

    “Nhưng ba năm sau Hà Nội vẫn lì ra với lời yêu cầu gửi thẳng nó (ĐTS) qua cho ông (Nataxon) dạy. Đến độ ông nổi cáu, sát hạch lại trình độ tất cả các học sinh được gửi sang, đuối về một mớ và dọa sẽ đuổi về tất cả nếu không cho thằng (ĐT) Sơn đi. Bị dồn vào bước đường cùng nên “anh đội cẩm” Huy Du đành duyệt cho qua lý lịch của nó.

    “…Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ hành trình đi Varsava quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ Quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và Giáo Sư Nataxon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự đề được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có. Con tham dự với tư cách thí sinh tự do. Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp được Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”

    Ông hiểu con mình như hiểu chính mình. Nó vẫn cô đơn và đầy dũng cảm như cha nó. Nhưng ngôi sao bản mệnh của nó vững hơn nên đã đi hết được con đường ông đã dắt nó vào và bỏ dở. Buông rơi lá thư tay nóng hổi của con trai gửi về, ông liếc mắt xuống tờ báo Nhân Dân: “Công – cua Sô-Phanh – Công – cua gốc mít.” Hàng tít chạy dài cắt ngang tờ báo… Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn. Tiếng đàn bay cao hơn tiếng bom Mỹ nổ. Tiếng đàn vọng lên từ dưới những gốc mít của các trại sơ tán của truờng nhạc Việt Nam. Đặng Thái Sơn, những nỗi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập…

    … Ông nhớ lại hình ảnh của những đứa trẻ con đá bóng trên đường phố trong đêm khuya, từng bầy công an bịt chặt các ngã đường – như đánh trận – để đuổi bắt chúng. Những đứa trẻ ở trần mồ hôi trơn láng, khó bắt, thì ngáng chân! Rồi mai đây khi những đứa bé gẫy răng, đổ máu đầu để nứt đất chui lên thành Thế Anh, Cao Cường v.v… (hai cầu thủ nổi tiếng của Hà Nội) thì con mẹ mìn đó lại ẵm vội vào lòng. Nhờ sư quan tâm vun trồng của Đảng!…

    Ông thấy thương con ông, thương những đứa trẻ. Nó chỉ có một con đường, cắm đầu mà đi, đằng sau không có lối về. Khi đụng đến bức tường cuối đường thì úp mặt vào, đợi tiếng lên đạn…

    Nhưng lần này thì đạn nổ ngược, nó đã nhảy bật qua khỏi bức tường bay thoát ra thế giới bên ngoài.

    … Ông nhẩm đếm những xác người đã ngã dưới bức tường đó. Trần Dần, Phan Khôi… những Đoàn Phú Tứ lẩn thẩn suốt đời đi dép lệch, nhưng Lê Đạt lầm lũi chui trong đêm như con cóc, người quen gặp không dám chào vì sợ liên lụy, những thằng họa sĩ sau khi buộc lòng học nghề thợ mộc trong tù nhìn bàn tay phế thải cứng như thợ đóng cối của mình mà trào nước mắt. Còn biết bao nhiêu những cuộc đời bị rút phép thông công đẩy vào bóng tối như mình?

    Ông nhớ lại những trại nuôi bò mà người ta đã lùa ông và bạn bè ông lên đó để “lấy lại tình thương, lập trường giai cấp từ những con vật!”. Để Văn Cao bây giờ suốt ngày đi lang thang ngoài đường thơ thẩn như con bò. Còn Hoàng Cầm nữa, nó yêu từ gốc rạ tỏa hơi ấm sớm mai, ngơ ngẩn hỏi “lá diêu bông” ở đâu… chứng nào vẫn tật nấy, còn ngứa ngáy với thơ thì lại rũ xương trong nhà tù mà thôi.

    Khuôn mặt vợ ông từ từ hiện lên. Nàng vẫn sống mà ông như nhớ về người đã chết. Hơn chục năm rồi không gặp lại kể từ lần cuối ra tòa ly dị. Tất cả đã đổ vỡ, đổ vỡ từ nàng Thái Thị Liên đẹp mơ mộng, có tiếng đàn lãng mạn như tình yêu đối với ông. Người ta không thể chịu được bà hệ trưởng Piano lại là vợ của “thằng Nhân Văn – Giai Phẩm”. Nàng cũng không thể chịu được con người ngày hôm qua còn là đấng tao nhân hào hoa phong nhã ngước mắt lên trời là nhạc ý tuôn theo mây, nay trở thành kẻ phẫn chí nát rượu. Con cái nàng không thể ngóc đầu lên được nếu ngày nào còn là con “thằng Nhân Văn – Giai Phẩm”…

    Và ông đành gạt nước mắt chia tay vợ ở toà án rúc về xó quê hẻo lánh đợi tuổi già đến khuân đi…

    Đó là “1 bài giảng cao cấp về niềm tin ở sự thật” mà nhà thơ Tố Hữu, ông cai thầu của nền văn chương cũi sắt đã tỏ ý “khâm phục tài năng và ý chí của nghệ sĩ Đặng Đình Hưng” – là một trong những cuộc đời đã bị ông ta làm cho “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày”.

    Và cũng theo nhà văn Thế Giang thì “Trung ương không được hài lòng lắm khi bị bắt buộc phải ngậm đắng nuốt cay ẵm ngửa một cuộc đời đã thoát khỏi quỹ đạo của Đảng bay ra ngoài giao du với thế giới".

    Việc nhọc lòng đầu tiên là ông Phạm Hùng buộc phải ký lệnh hết hiệu lực cái án phát vãng lưu vong cho ông bố thằng (Đặng Thái) Sơn. Thứ đến là Sở Quản Lý Nhà Đất phải lo cho ông cái buồng để ở. Rồi đây, khi quan trên trông xuống người ta trông vào, gia đình nó cũng phải có một chỗ trú thân cho tươm tất. Giới lãnh đạo văn nghệ lại phải lựa lời để thay đồi cách xưng hô. “Tên đồ tể Đặng Đình Hưng” (?) không hiểu ông nhạc sĩ Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội Nhạc Sĩ lấy đâu ra lòng căm giận để nguyền rủa người bạn thân, kẻ đã can tội nhỏ giọt nước mắt cho những oan hồn cải cách ruộng đất mà khi đó chính ông ta cũng là thành viên của nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm”.

    *

    Đảng và nhà nước ta là chúa cái vụ ẵm ngửa nhân tài. Như mới đây Đảng và Nhà Nước ta đã ẵm ngửa thiên tài toán học Ngô Bảo Châu. Đảng và nhà nước ta đã cấp nhà đắt giá và tiền lương cao để Giáo Sư Ngô Bảo Châu phục vụ đất nước! Nhưng, hãy liệu hồn! Chỉ vì dám lên tiếng ca tụng việc làm của Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ, ông giáo sư này mới đây đã bị báo Công An Nhân Dân cảnh cáo là đã “ngộ nhận và tùy tiện”!

    Tất cả những ai có lương tâm và công bằng đều thấy rằng đường lối xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn tới sự hủy diệt tương lai của dân tộc!

    Người Cộng Sản hễ mở miệng ra nói là nói dối – nhận xét của cố nhà văn Xuân Vũ vô cùng xác đáng!

    Những người nào dám lên tiếng nói lên những sự thật nhưng lại không theo đúng chủ trương, đường lối là sẽ bị trừng phạt bằng cách này hoặc cách khác.

    Cách đây 55 năm, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường trong chiến dịch Sửa Sai Cải Cách Ruộng Đất đã đọc bài tham luận. Trong đó ông có kể “một câu chuyện cười”:

    ”… cần ghi nhớ để con cháu ta cười muôn thuở: Khi chọn một người vặn lái ô-tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái và đã vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi: “Có lập trường không?” Kết quả là từ 2 năm nay, riêng trong thủ đô Hà Nội, hàng trăm tai nạn xảy ra do các người văn lái ô tô có lập trường…”

    Nhà văn Nguyễn Việt Nữ đã viết những dòng cay đắng về “câu chuyện cười” của Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường như sau:

    “Lời chỉ trích đó xảy ra vào năm 1956, đến nay trên 55 năm, chúng ta có cười được không? Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường lúc ấy chắc nghĩ việc xét tuyển quái gỡ như vậy chỉ xảy ra tạm thời nên ghi lại cho hậu thế cười chơi. Đâu dè “người lái ô – tô có lập trường” ấy đã được Đảng khuyến khích lái một lèo từ Bắc vào Nam; do đó, tai nạn không chỉ giới hạn cho thủ đô Hà Nội mà còn bao trùm cả đất nước”.

    Xin độc giả cho biết câu chuyện cười của cụ Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường được kể cách đây 55 năm khi đọc lại có còn cười được không?

    Hay… chỉ là tiếng khóc khô không lệ?!

    LÃO MÓC
  7. Anh em chúng ta người trước kẻ sau ai rồi cũng già. Làm sao tránh được! Đã có "sinh" là có "lão". Một giai đoạn tất yếu của cuộc sống. Nếu ngày đầu tiên mình sinh ra mà đã biết nghe, biết nói, nếu có ai bảo rằng mỗi ngày mình lớn lên là một ngày mình sẽ già đi, và tiến dần về cõi chết, chắc chắn là mình đã không tin. Tại sao lại bi quan vậy? Nói chi chuyện giả tưởng nghe như lối đặt câu với mệnh đề giả định trong một lớp học ngoại ngữ, ngay trong những giai đoạn trưởng thành từ thuở niên thiếu cho đến khi lăn lóc vào đời, có mấy ai ngừng lại vì những bận tâm liên quan đến lão suy hay lão hoá, trừ những thiền sư hay những chú tiểu trong chùa. Giòng sống cứ thế mà cuốn trôi đi, mỗi kiếp nhân sinh như một chiếc lá giữa giòng, trôi từ đầu nguồn ra sông, ra biển. Đâu có như con cá hồi (salmon) sau năm năm ở biển lại quay ngược trở về nguồn để sinh, để chết!

    Trong lớp sinh lý học phổ thông, học sinh trung học đã được biết về tiến trình già-chết của các tế bào trên thân thể con người. Từng giây, từng phút. Nhưng biết để mà biết. Đó chỉ là chuyện tăng trưởng và đào thải trong thân thể con người! Hay trong lớp siêu hình học nhập môn, khi nêu lên những vấn nạn về cuộc sống như "Ta là ai?" , "Ta từ đâu tới?" hay "Ta sẽ đi về đâu?", thì cũng chỉ là để đáp ứng một nhu cầu giới hạn nhất định trong phạm vi lớp học. Rời khỏi trường rồi, còn mấy ai nhớ những buổi hăng say thảo luận về các vấn đề triết lý trừu tượng ngày xưa? Còn bao nhiêu chuyện quan trọng, bức bách hơn. Chuyện bây giờ lo đã muốn bức hơi, đa mang chi chuyện của ngày mai, chưa tới.

    Nhưng cái già nó vẫn tới và tới với mình chầm chậm, từ từ. Nhiều khi nó đến rồi mà mình vẫn chưa hay. Sở dĩ như vậy là vì hình như ai cũng phải qua một giai đoạn tự phủ nhận (self-denial) trước khi chịu nhận là mình bắt đầu già. Giai đoạn này dài ngắn còn tùy ở cá tánh và hoàn cảnh của mỗi người. Thật sự ra phải nói là cũng có người tuy tuổi đời còn thấp, nhưng trong cách suy nghĩ hay ứng xử xem ra thì đã có những phản ánh tiêu biểu của người già như phản ứng chậm chạp, nói năng lẩm cẩm, xoay trở vụng về, để đâu quên đó, còn đi lại thì như là người chỉ còn nửa bầu sinh khí. Lại cũng có người tuy tuổi tác đã cao nhưng lúc nào cũng mau mắn, nhanh nhẹn, nói năng mạch lạc, lớp lang, đầu óc minh mẫn, sáng suốt, ưa thích những sinh hoạt ngoài trời như tắm biển, chơi thể thao, sẵn sàng tham gia các buổi họp mặt với bạn bè, không quá ngần ngại, đắn đo trước những chuyến đi xa, bao giờ cũng sốt sắng, vui vẻ, lạc quan, biết sống trọn vẹn với cái bây giờ thay vì bận bịu, lo toan về cái tương lai, chưa tới.

    Trong phạm vi bài này tôi không muốn kể lại đây những nhận định của các nhà chuyên môn về tuổi già và người già khi họ giải thích "thế nào là già" hoặc "tại sao ta già". Tôi chỉ muốn chia xẻ một số ghi nhận của chính bản thân mình, một người cũng đã quá cái ngưỡng 60, về những biến đổi tâm sinh lý trong con người mình cũng như về những khó khăn khi đối phó với những dấu hiệu biến đổi đó trước khi chấp nhận "chung sống hòa bình" với nó. Do đó mà có cái tựa đề như trên là "Già Ơi, Chào Mi!"

    Tục ngữ Anh có câu "A man is as old as he feels, and a woman as old as she looks", nghĩa là cái già của đàn ông tùy thuộc vào cảm nghĩ của chính anh ta. Nếu anh ta vẫn cảm thấy mình trẻ trung, khỏe mạnh, thì tuổi tác có quan hệ gì đâu. Cũng như đối với người đàn bà, nếu dung nhan vẫn tươi tắn, mặn mà thì già trẻ cũng thế thôi, nhắc đến làm chi. Tựu trung già hay không là tùy ở cái đầu của mình. Bởi thế tôi rất tâm đắc với câu trích dẫn (không có ghi rõ tác giả) sau đây trong tập sách "Già ơi! Chào bạn!" của BS Đỗ Hồng Ngọc mà Anh Hà Quý Phú, một bạn đồng nghiệp cũ cùng tuổi ở Đà Nẳng, vừa gởi cho: "Age is mostly a matter of the mind! If you don't mind, it doesn't matter" (Tuổi tác là chuyện cái tâm, nếu ta không thèm quan tâm, chả có vấn đề tuổi tác!)

    Nếu mình ngồi lại với nhau và hỏi nhau "Bạn thấy mình già từ lúc nào?" thì chắc chắn là mỗi người sẽ trả lời một cách, không ai giống ai. Nói như một người bạn của tôi, anh Tôn Thất Khoát : "Nếu ra bãi biển Santa Monica hay Malibu mà tình cờ được xem một màn quay "Baywatch" với những nữ tài tử trẻ trung, hấp dẫn trong show này diễn xuất bằng xương bằng thịt ngay trước mắt mình, nhởn nhơ, khêu gợi, mà trong lòng vẫn thấy dửng dưng, nguội lạnh thì phải nhận là mình đã già." Tếu, nhưng không phải là hoàn toàn sai. Khi chất testosterone trong cơ thể mình đã càng ngày càng khô cạn thì phản ứng như vậy đâu có gì là khó hiểu! Thật sự ra đối với các nhà khoa học thì dấu hiệu sinh lý của tuổi già đã được nghiên cứu từ lâu. Đại loại, nếu bỏ qua các giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi 20 đến tuổi 60 mà chỉ so sánh một người đã quá 60 với thời anh mới 20 tuổi, thì theo Curtis Pesman, tác giả cuốn "How a Man Ages," ta có thể ghi nhận những thay đổi như sau:

    Da mỏng hơn và chùng xuống, độ co giản của da càng ngày càng giảm sút, và qua nhiều năm tháng biểu lộ vui, buồn, sướng, khổ, những nét nhăn trên mặt đã hằn sâu và lớn.

    Tóc bạc, thưa, và nhẹ hơn, đường kính của tóc chỉ còn 86 microns (1 phần triệu của 1m) so với 101 microns hồi 20 tuổi.

    Hai tròng mắt bị co lại, mức độ ánh sáng vào đến võng mạc giảm đi, khó phân biệt được sự vật trong tối, do đó mà khi đọc cần phải có ánh sáng đủ.

    Tai không còn nghe được tiếng động trên tầm 10,000 hertz, như tiếng hót của chim, vì chức năng chuyển thể độ rung từ tai ngoài vào tai trong đã suy thoái.

    Men răng càng ngày càng mòn dần vì quá trình nhai, nghiến, trong khi đó lợi răng co rút lại, làm lộ rõ khoảng trống giữa các chân răng.

    Xương mất dần calcium, trở nên xốp, dòn, dễ gãy, lớp sụn ở các đầu khớp không còn nguyên vẹn, chất nhờn giữa các khớp khô đi, sinh ra di chuyển chậm, khó khăn.

    Tim không còn bơm đủ máu ra khắp châu thân, một phần do cholesterol đóng dày trên thành động mạch làm tim phải hoạt động nhiều hơn mới bơm được máu đi.

    Các cơ bắp làm cho phổi hoạt động bình thường suy yếu dần, độ co giản của lồng ngực yếu đi, làm cho lượng dưỡng khí hít vào chỉ còn bằng một nửa thời 20 tuổi.

    Trọng lượng của thận giảm từ 20% đến 30%, sức lọc chất thải của thận chỉ bằng nửa hồi trẻ, và sức chứa của bọng đái cũng chỉ còn chừng một nửa (8 fluid ounces, khoảng non 230cl).

    Với năm tháng qua đi, khối não cũng rút nhỏ lại và giảm trọng lượng, hàng tỷ tế bào não bị mất đi, trí nhớ bị giảm sút.

    Những thay đổi trên thì ít nhiều ai cũng nhìn thấy, nhất là nơi người khác. Với tôi, đèn đỏ đầu tiên báo động tiến trình lão suy đã bắt đầu là cách đây 7 năm, lúc tôi phải vào bệnh viện Hoag ở Newport Beach để mổ tim và thay van (mitral valve). Trước khi vào phòng mổ tôi cũng đã cố tìm đủ mọi lý do để tự thuyết phục cho quyết định của mình, mà lý do nặng ký nhất vẫn là "wear and tear." Có tốt đến đâu mà dùng lâu ngày cũng phải mòn, phải rách. Cũng như chạy xe thì đến lúc cũng phải thay 4 vỏ xe. Cũng như cái máy giặt trong nhà, cái lò trong bếp, hay cái bóng đèn trên trần. Sử dụng cẩn thận đến đâu đi nữa thì đến lúc hỏng cũng phải thay. Nhưng thay van là để được sinh hoạt bình thường trở lại, đâu có nghĩ là cơ thể mình đã bắt đầu già!

    Rồi 3 năm sau khi mổ, theo khuyến cáo của những người có thẩm quyền, tôi lại phải ngưng chơi tennis, một thú tiêu khiển cuối tuần mà bao nhiêu năm ròng tôi thích thú đeo đuổi với tất cả hăng say, nhiệt tình. Lý do là chứng đau nhức phần lưng dưới (lower back) cứ dai dẳng, không dứt. Bản án thứ hai: Sau khi xem hình quang tuyến chụp phần lưng dưới, bác sĩ phán là tuy chưa trầm trọng nhưng đã có dấu hiệu suy thoái giữa các khớp xương L2-L3, L3-L4, và L4-L5 là các khớp xương ở phần lưng dưới, nghĩa là chất nhờn đã khô đi, lớp sụn bao quanh các khớp đã mòn (Multilevel Degenerative Disease), khoảng cách giữa các đốt xương sống ở vùng này đã rút ngắn lại, và các ngạnh của khớp xương đã bắt đầu nhô ra (Multilevel Spondylosis). Tóm lại đây là dấu hiệu của bệnh lão suy. Nhưng nói là "bệnh" thì nghe ghê quá! Làm sao tuổi mình mà gọi là già!

    Tuy nhiên với bản án khắc nghiệt đó tôi bắt đầu âm thầm tìm cách cưỡng chống lại, ít nữa là cũng để "trì hoãn chiến". Theo các bác sĩ Tây y thì không có thuốc chữa. Có loại thuốc với hỗn hợp của hai chất glucosamine và chondroitin được quảng cáo ầm ĩ là có thể làm giảm đau ở các khớp thì Cơ Quan Quản Trị Thực Và Dược Phẩm (U.S. Food & Drug Administration) lại chưa chuẩn nhận là có giá trị lâm sàng. Đồng thời nó cũng có thể có phản ứng nghịch đối với các loại thuốc làm loãng máu. Chất nhờn giúp các khớp chuyển động dễ dàng, tự nhiên, là của "trời cho", đến một tuổi nào đó sẽ khô dần đi, không có thần dược nào có thể tái tạo nó lại được. Nhưng các bác sĩ đông y lại quả quyết là được. Đau ở lưng là do gan nóng, hoặc thận suy. Nếu kiên nhẫn uống theo toa của các vị này đảm bảo sẽ lành. Thế là lại âm thầm đi bổ thuốc, nghe thầy nào hay xa đâu cũng tìm đến, thuốc sắc (ba, bốn chén còn một), thuốc tể, thuốc ngâm rượu. Thử hết, xem có kết quả gì không. Nhưng cái đau âm ĩ vẫn còn.

    Cái khó đối với tôi còn ngặt nghèo hơn so với những anh em khác cùng bịnh trạng là tuy đau nhưng không thể dùng các loại thuốc giảm đau hiện có vì sợ phản ứng nghịch với loại thuốc làm loãng máu (Coumadin) mà tôi vẫn phải uống hằng ngày sau khi thay van nhân tạo bằng kim loại.

    Song song với những cố gắng chữa trị bằng thuốc, tôi còn tìm cách thăm dò, luyện tập theo nhiều phương pháp khác nhau, mỗi cách đều có một mức độ công hiệu nhất định, do bằng hữu hoặc các anh chị sinh viên đã từng có thời học ngoại ngữ với tôi biết tôi đau nên đề nghị luyện tập thử. Cũng xin kể ra đây những môn tôi đã có tập qua để có anh em nào đồng bệnh cùng trao đổi kinh nghiệm cho vui:

    Yoga (Hatha Yoga và Pitales Yoga) tại các trung tâm 20-Hour Fitness.

    Khí công Thiếu Lâm Tự, theo cách hướng dẫn của tác giả Wong Kiew Kit trong cuốn Chi Kung for Health and Vitality.

    Phương pháp thở sâu, chậm, nhẹ, và đều trong cuốn Wujishi Breathing Exercise của tác giả Men Den.

    Phương pháp Đạt Ma Dịch Cân Kinh.

    Phương pháp Thiền Vô Cực do Thầy Tôn Thất Hanh, nguyên giáo sư Quốc Học, Huế, giới thiệu.

    Phương pháp Hồi Xuân gồm năm thế tập của các tu sĩ Tây Tạng do Peter Kelder thuật lại trong cuốn Ancient Secret of the Fountain of Youth.

    Thái Cực Quyền.

    Tôi đã tập qua các phương pháp được giới thiệu cũng như một số phương pháp khác do các bạn thân quen vốn là võ sư chỉ giáo mà tôi không tiện kể hết ra đây, mỗi môn tôi tập một thời gian để tìm xem phương pháp nào phù hợp cũng như thuận tiện và công hiệu với mình nhất. Mấy năm gần nay tôi cố gắng đều đặn tọa thiền mỗi buổi sáng (theo Sổ Tức Quán) và tập Thái Cực Quyền là chính. Và đã thấy có phần nào giảm đau, không gay gắt như những năm trước đây.

    Điều đáng nói không phải là chuyện phải kiên trì tập luyện, vì đây là nhu cầu sinh tử, mà chính là mình phải trực diện với thực trạng của thân thể mình, coi lão hóa là một phần của tiến trình tất yếu, tự nhiên, không có gì phải quá lo âu, sợ hãi. Và như đã nói ở trên, biết nó làm khổ mình, nhưng vẫn phải làm lành với nó, chung sống hòa bình với nó, thực tế khắc chế nó được đến đâu hay đến đó, không nôn nóng, hối hả, không trông chờ phép lạ mà mình biết ở tuổi này khó còn có thể xảy ra.

    Gần đây tôi lại tình cờ đọc được bài "Tính Tuổi Theo Lối Mới" (Calculate Your Age in Neo-Years) trên trang nhà của Giáo Sư Tiến Sĩ Davis Demko có liên quan đến cách suy nghĩ về tuổi già. Theo ông, 75% tiến trình lão hóa của con người có thể điều chế được do tác động của sáu yếu tố sau đây:

    Khắc chế yếu tố di truyền. Dĩ nhiên yếu tố di truyền tạo cho mỗi con người một tình trạng có thể bị mắc những bệnh mà cha mẹ người đó đã từng bị, nhưng những phương pháp phòng ngừa và bảo vệ sức khỏe hiện đại, nếu áp dụng đúng mức, có thể làm giảm đi rất nhiều tính đe dọa của yếu tố này.

    Tập thể dục, thể thao. Rất nhiều các chứng đau nhức phát sinh do thiếu hoạt động. Nếu luyện tập thường xuyên thì hệ thống tim mạch sẽ được bảo toàn, xương và bắp thịt sẽ rắn chắc, khỏe, và sự phối hợp chân tay sẽ nhịp nhàng, hữu hiệu.

    Tinh thần luôn được kích thích. Những người tưổi cao mà vẫn có những sinh hoạt tinh thần đều đặn và đầu óc luôn luôn được kích thích, suy nghĩ, tìm tòi như đọc sách, học ngoại ngữ, chơi ô chữ, hay tham gia vào các cuộc thảo luận hứng thú sẽ giữ được tinh thần minh mẫn, tỉnh táo lâu dài.

    Có tập quán dinh dưỡng tốt. Cách tốt nhất để chống lại già trước tuổi hay bệnh tật. Thức ăn là năng lượng. Phải tìm hiểu những phương cách dinh dưỡng lành mạnh, cũng như những sinh tố hay khoáng chất mà cơ thể mình cần.

    Sống có ý nghĩa. Sống phải có những mục đích đáng đeo đuổi. Ý thức rõ mục đích công việc mình đang làm dễ gây cho mình cảm hứng, giúp mình tập trung, chú ý, tránh được buồn nản, bẳn gắt, và kết quả tích cực sẽ nâng cao giá trị của chính mình.

    Biết phòng ngừa bệnh tật. Đây là yếu tố quan trọng có giá trị điều chế tiến trình lão hóa. Cần khám tổng quát thường xuyên để kịp ngăn chận các bệnh hiểm nghèo. Đừng bao giờ nghĩ là các chứng đau nhức hành hạ mình chỉ là hậu quả của tuổi già.

    Sau khi phân tích các yếu tố nói trên, Giáo Sư Demko đề nghị một lối tính tuổi mới mà ông cho là chính xác hơn. Ông đặt tên cho công thức tính tuổi của ông là: DNA-Plus. DNA là viết tắt của Demko's Neo Age, Plus ngụ ý là già với những đặc tính tích cực. Công thức DNA-Plus tính trung bình của 4 lọai tuổi:

    Tuổi thời gian, tính theo số năm đã sống.

    Tuổi thể chất, tính theo tình trạng sức khỏe.

    Tuổi xã hội, tính theo mức độ sinh hoạt hằng ngày trong việc làm, đời sống gia đình, giải trí, hay các công tác thiện nguyện.

    Tuổi tâm lý, tính theo khả năng đối phó với khủng hoảng, mâu thuẫn, sự căng thẳng trong đời sống, hay thích ứng với mọi sự thay đổi bất ngờ.

    Nếu áp dụng công thức này cho một người đã sống đến 80 năm (tuổi thời gian), có tình trạng sức khỏe của một người sống 70 năm (tuổi thể chất), có mức độ hoạt động của một người sống 60 năm (tuổi xã hội), và có khả năng ứng phó của một người mới sống 50 năm (tuổi tâm lý), thì tuổi trung bình của người này sẽ là (80+70+60+50) : 4 = 65 tuổi (Neo Years), nghĩa là tuổi chính xác của người này chỉ mới 65 chứ không phải là 80 theo cách suy nghĩ thông thường.

    Bởi vậy cho nên, các Anh các Chị ơi, hãy mỉm cười như tôi mỗi buổi sáng khi thức dậy và bắt đầu ngày mới với một nụ cười: Già ơi, Chào Mi!

    Vâng, đúng vậy. Tuổi già đã đến với tôi, và tôi đã làm thân với nó. Vì tò mò tôi cũng đã tính tuổi tôi theo công thức DNA-Plus của Giáo sư Demko. Bây giờ đến lượt Anh và Chị. Anh, Chị thử tính xem mình bao nhiêu tuổi?
  8. Theo blog GoVn

    Người dân Việt Nam trải qua thời kỳ chiến tranh tàn khốc, được định hướng tư tưởng, kiên định chuyên chính vô sản,… nên hễ nghe đến 3 chữ “bọn phản động” là ghét lắm. Ghét cay ghét đắng. Đến nay đa số người dân vẫn ghét như vậy.

    Hồi 1986 chúng tôi mới vào đại học năm nhất, có chuyện: Ở khoa Sử có ai đó viết bài cho rằng chiến tranh hai miền Nam Bắc thực chất là nồi da xáo thịt của anh em một nhà. Sau đó trưởng khoa này bị cách chức. Tôi thấy ghét luôn cái đứa viết láo viết lếu kia. Ghét thật lòng.

    Từ đó đến nay, liên tục có tin bọn phản động chống phá chỗ này, xuyên tạc chỗ kia… nghe thế tôi "nhất trí" hết rằng phải bắt lũ ấy bỏ tù tất… Nhiều người bây giờ vẫn nghĩ vậy.

    Lợi dụng tâm lý này của người dân, người ta hay gán ghép cho những kẻ không ưa bằng 2 chữ: Phản động. Cá nhân tôi đã từng bị viên hiệu trưởng và tay chân ông ta gán cho là phản động.

    Câu chuyện Cù Huy Hà Vũ vừa qua khiến tôi chợt nghĩ: Bọn phản động kia là ai? Sao chúng ngày càng nhiều? Mà toàn là luật sư, trí thức vậy?

    Nhờ Internet, đọc nhiều và cuối cùng tôi cũng ngẫm ra cái sự thật.

    1) Sau ngày 30-4-1975, nếu chính quyền biết thực hiện hòa hợp dân tộc một cách thực tâm, thì chắc chắn không có chuyện 3 triệu người bỏ tổ quốc ra đi. Hàng chục ngàn binh lính của chính quyền cũ bị đi học tập cải tạo (hay là đi tù?) có cần thiết không? Nhiều người trong đó là nguồn nhân lực kỹ thuật cao. Đến nay, những người đó hỏi có mấy phần hối hận vì đã ra đi, đã chống Cộng?

    Rất đông trong số này bị gọi là ”bọn phản động”. Mà “bọn phản động” này có lực lượng thật là hùng hậu, có tiền, có trình độ nhưng lại không hề có ý định thỏa hiệp.

    Đó là “bọn phản động” cũ.

    Chiến tranh đã đi qua 36 năm, nhưng sự chia cắt lòng người vẫn rất sâu. Cứ hỏi đến những người đó là họ chửi Cộng Sản, chửi chính quyền. Cá nhân tôi một lần được mời lên diễn đàn PalTalk, vừa mở lời được mấy cây cũng bị họ gọi là ”thằng CS bị nhồi sọ” khiến phải bỏ chạy không dám trở lại diễn đàn nữa.

    Người ta đã đem chuyện này ra so sánh với sự sát nhập Đông Đức - Tây Đức, hay chiến tranh Nam Bắc Hoa Kỳ để phê phán tư duy của những người có trách nhiệm. Liệu có giới chức lãnh đạo nào của Việt Nam hiện nay dám lên tiếng, dám hành động để xóa bỏ lòng hận thù của lực lượng đó?

    2) Từ sau 1975, liên tục có các vụ bắt bỏ tù những người có tư tưởng chống đối, đòi dân chủ nhân quyền… Vài năm nay đa số bị bỏ tù là luật sư, trí thức, phóng viên, linh mục… nay sắp tới đây là LS Cù Huy Hà Vũ. Đó là “bọn phản động” mới.

    Tôi quan tâm tới anh Vũ vì sau vụ tiêu cực thi cử 2006 anh mời tôi tới thăm và biết anh là con của nhà thơ Cù Huy Cận. Có ý kiến cho rằng: Nếu xét theo tình hình Việt Nam hiện nay bảo anh Vũ vi phạm cũng được mà không cũng được. Đúng sai phải đợi 15-20 năm nữa (như ý kiến LS Trần Đình Triển).

    Vậy thì tại sao người ta không dừng lại cái việc bỏ tù Cù Huy Hà Vũ và những cá nhân tương tự để rồi lịch sử 20 năm nữa sẽ phán xét lại? Liệu nhà tù có cải tạo nổi tư tưởng của họ không hay là sau khi ra tù, họ càng cứng rắn hơn trở thành “bọn phản động” đúng nghĩa, sẵn sàng đi tiên phong trong cách mạng Hoa Nhài mà họ đang cổ vũ khắp các trang mạng hiện nay?

    Vừa qua tôi tình cờ đọc được tin “Người tù lâu năm nhất thế giới Trần Văn Thiêng mãn hạn tù” thì muốn hỏi ông Thiêng và những người như ông rằng ra tù rồi các ông sẽ từ bỏ tư tưởng chống đối hay là lại chống mạnh hơn?

    3) Quan tham nhũng, bọn ngụy Cộng Sản được người ta gọi là giặc nội xâm. Đây mới thực sự là bọn nguy hại hơn bất cứ bọn phản động nào. Chúng nằm ngay trong bộ máy chính quyền, phá từ trong phá ra, phá từ trên xuống. Chúng phá hoại kinh tế, phá hoại niềm tin của nhân dân vào chính quyền, làm mọt rỗng, làm thối nát chính quyền. Chính bọn chúng sẽ làm sụp đổ chính quyền vô cùng nhanh chóng.

    Rất nhiều người băn khoăn với các tệ nạn xã hội, tin tưởng ở lời kêu gọi chống tham nhũng từ chính quyền nên đã đấu tranh với tham nhũng, bất công. Nông dân thì đòi đất đai.

    ap_20110316095942195.jpg

    Ông nông dân này đã gửi trên 2345 lá đơn tới các cấp, nhưng không hề có trả lời của bất cứ cấp nào. Ông ta liệu còn niềm tin vào Đảng, vào chính quyền không? (tư liệu do cụ Lê Hiền Đức cung cấp)

    ap_20110316095951510.jpg

    Một kỷ lục Guiness chưa được ghi ở VN: Hoá đơn bưu điện gửi tố cáo nối dài hàng chục mét.

    Họ đơn thư khắp nơi mãi không được giải quyết. Báo chí thì đưa tin: Người chống tham nhũng đều bị trù dập. Chuyện này không lạ khi bản thân tôi cũng đã từng kiên trì nhiều năm gửi hàng chục đơn tố cáo tham nhũng tiêu cực mà không hề được bất cứ cấp nào giải quyết, trái lại còn bị một số báo cấu kết với lãnh đạo quay ra hãm hại và bảo vệ bọn tham nhũng sai phạm. Quốc hội thì báo cáo rằng hơn 90% đơn thư tố cáo của dân không được giải quyết, chất thành kho.

    Tôi đến thăm cụ bà Lê Hiền Đức - người đạt giải Liêm Chính Quốc Tế duy nhất của VN - tại 7/56 Pháo Đài Láng HN, thấy hàng trăm bộ hồ sơ tố cáo tham nhũng tiêu cực chất đầy các tủ. Cụ đã 82 tuổi nhưng hàng ngày vẫn phải đi gõ cửa chính quyền yêu cầu họ giải quyết việc tố cáo cho dân. Cụ cho tôi xem nhiều hồ sơ tố cáo, trong đó có các vụ mà trách nhiệm giải quyết thuộc Sở giáo dục và UBND Hà Nội: Giống y như vụ của tôi, các tố cáo không hề được giải quyết. Việc bảo kê cho lãnh đạo sai phạm rất là công khai trắng trợn. Cụ cho biết: Chúng nó (quan chức) đều trốn cụ cả, chúng nó đá đi đá lại như đá bóng mà không giải quyết. Chúng thối nát lắm rồi.

    Những công dân khác khi đọc báo chí về các vụ tiêu cực, bao che tham nhũng, bảo kê sai phạm là họ rất tức giận. Từ đó ngày càng nhiều người mất niềm tin vào giới lãnh đạo, rất có thể sẽ quay sang chống đối đòi thay đổi.

    Đó là ”bọn phản động” tiềm tàng ngay trong dân ngày càng nhiều là do vậy đấy.

    Nếu đọc các trả lời/góp ý từ một bài trên diễn đàn BBC chẳng hạn thì sẽ giật mình thấy "phản hồi" của phe lề trái áp đảo tuyệt đối, phe lề phải thì lẻ loi.

    Bệnh giả dối, hình thức, tham nhũng lãng phí hoành hành khắp nơi. Hàng chục năm nay trong ngành giáo dục vẫn duy trì cái trò giả dối: Học - thi nghề phổ thông. Bệnh lạm thu trong nhà trường thực chất là tham nhũng và tình trạng ép buộc học sinh học thêm ngày càng tràn lan. Thi cử thì tiếp tục gian lận. Bầu cử các cấp mãi vẫn như diễn văn nghệ. Lãnh đạo thì yếu kém mọi mặt vì thực quyền không có hay không dám dùng quyền. Vị nào cũng giống nhau ở chỗ giỏi làm ngơ, xa dân, khó gặp và rất giàu. Thế thì làm sao bảo người dân tin tưởng được vào họ? Không tìm đâu ra người nào trong hàng ngũ lãnh đạo đủ khả năng thay đổi tình hình, tiến hành cải cách. Trong khi đó người láng giềng lớn phía Bắc phát triển ào ạt, nguy cơ bị họ nuốt chửng ngày càng lớn.

    “Bọn phản động” cũ, “bọn phản động” mới, “bọn phản động” tiềm tàng ngày càng nhiều là như vậy đó.

    Phải làm gì để giảm bớt số lượng bọn họ? Bắt bỏ tù thì hạ sách, bắt sao hết, chỉ chứng tỏ anh bịt miệng người ta và tác dụng ngược khiến họ nhiều lên. Tốt nhất là hãy thành thực với nhân dân.

    Có thực mới vực được đạo. Khi mà lời nói và việc làm của quan chức là thật lòng, là vì dân vì nước, là hòa hợp dân tộc, là kiên quyết chống tham nhũng tiêu cực, là bảo vệ cái đúng, bài trừ cái sai, là công bằng, dân chủ văn minh thực sự thì tự người dân sẽ tin tưởng ủng hộ, phản động sẽ tự tiêu. Khi mà toàn là giả dối, tham lam bán nước hại dân thì người ta sẽ chống đối ngày càng nhiều. Lúc đó “bọn phản động” đông đảo quá mà làm cách mạng như ở Tuynidi hay Ai cập thì nguy to.

    Thầy Đỗ Việt Khoa
  9. <iframe title="YouTube video player" width="480" height="390" src="http://www.youtube.com/embed/AEkewFd5D78" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>


    Vào truyện

    Một tối trong một lữ quán ở tỉnh nhỏ Amarillo của tiểu bang Texas:

    – “Trước 1975 ở Việt Nam anh làm gì?”

    – “Tôi trong Không Quân…”

    – “Chắc anh cùng lứa với ông Nguyễn Cao Kỳ?”

    – “Không! ông Kỳ là cấp chỉ huy của tôi, ở Sài Gòn; Tôi đóng ở Pleiku. Tôi ngang cỡ với Lưu Kim Cương, một đàn em thân cận của ông Kỳ.”

    – “A, anh biết ông Lưu Kim Cương hả? Anh có biết ông ấy chết như thế nào không?”

    – “Nghe nói rất thương tâm; Trúng đạn bắn xe tăng, phổi lòi ra ngoài!”



    *

    Rất nhiều người đã nghe bài hát “Cho Một Người Vừa Nằm Xuống” từ sau biến cố Tết Mậu Thân, năm 1968, nhưng chắc ít ai biết rõ những tình tiết đưa đến sự ra đời của nhạc phẩm này, để đến cả 40 năm sau vẫn còn có người muốn tìm hiểu.

    Bài hát có lời như sau:

    “Anh nằm xuống, sau một lần đã đến đây
    Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
    Đã bay cao trong vòm trời đầy
    Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
    Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
    Ru anh ngủ, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi
    Anh nằm xuống, cho hận thù vào lãng quên
    Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
    Đất ôm anh đưa vào cội nguồn
    Rồi từ đó, trong trời rộng, đã vắng anh
    Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
    Nơi đây một lần, nhìn anh đến những xót xa đành nói cùng hư không
    Bạn bè còn đó, anh biết không anh?
    Người tình còn đó anh nhớ không anh?
    Vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên
    Khi bóng anh như cánh chim, chìm xuống
    Vùng trời nào đó, anh đã bay qua?
    Chỉ còn lại đây những sáng bao la
    Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa
    Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ
    Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du
    Đứa con xưa đã tìm về nhà
    Đất hoang vu khép lại hẹn hò
    Người thành phố, trong một ngày, đã nhắc tên
    Những sớm mai, lửa đạn
    Những máu xương chập chùng
    Xin cho một người vừa nằm xuống
    Thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang”


    Với những ai không quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) – là tác giả bản nhạc – dù có nghe, hay đọc kỹ lời ca cũng khó có thể biết nhân vật được nói đến là ai; Chỉ biết người ấy mới qua đời, và lúc còn sống đã có dịp bay cao trên trời.

    Để hiểu rõ câu chuyện, có lẽ phải nhìn lại từ năm 1962. Đó là năm nữ ca sĩ Khánh Ly (KL) thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình, trình diễn ở phòng trà Anh Vũ, một trong vài phòng trà ca nhạc (sống) lúc nào cũng chật ních giới thưởng ngoạn, trên đường Bùi Viện ở Sài Gòn.

    Ca sĩ KL ghi lại trong “Chuyện Kể Sau 40 Năm” – chú thích trong ngoặc đơn là của Nguyên Giao: “… Tôi vẫn đi hát ở Anh Vũ, và chính ở đó, tôi gặp Trung Úy Không Quân Lưu Kim Cương. Sau buổi hát, anh chở anh Sơn (người anh ruột của Khánh Ly – không phải là TCS) và tôi chạy vòng vòng Sài Gòn… hát tiếp những bài tôi vừa hát; Đặc biệt là bài ‘Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa’ … Anh bảo … Mai (tên thật của KL) chọn bài có gout lắm, cứ như thế, và anh cũng muốn em giữ mãi nụ cười. Anh thích thấy em cười vì nụ cười đó sẽ mở cho em tất cả những cánh cửa … Cuộc gặp gỡ giữa anh em chúng tôi và Trung Úy Lưu Kim Cương đơn giản như vậy. Tôi biết ơn anh vì anh là người duy nhất có cái nhìn thiện cảm với tôi. Anh là người đầu tiên và duy nhất khuyến khích tôi đi theo nghiệp dĩ này … ”

    Nhưng cuối năm 1962, KL lại rời Sài Gòn lên hát cho một phòng trà khác ở Đà Lạt, và lưu lại đó 5 năm. Năm 1964, tại Đà Lạt, KL gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt vào đêm hôm đó. Qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ TCS. Rất nhiều lần TCS đề nghị KL về Sài Gòn đi hát với ông nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp.
    Đến năm 1967, ca sĩ KL tình cờ gặp lại nhạc sĩ TCS giữa giòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu như đưa đẩy định mệnh.

    Vài hôm sau, trên nền gạch đổ nát bãi đất rộng sau trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Tại đây, giọng hát khàn đục, và lôi cuốn của KL đã làm ngẩn ngơ, bàng hoàng & ngất ngây cả một thế hệ với những bản tình ca, và Ca Khúc Da Vàng mới lạ của TCS.

    Hãy nghe bà Đặng Tuyết Mai – trước là phu nhân của Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ (NCK) lúc giữ chức thủ tướng VNCH - mô tả liên hệ giữa Lưu Kim Cương (LCK) và Trịnh Công Sơn (TCS) trong một cuộc phỏng vấn năm 2009 ở Hoa Kỳ:

    “ … Anh LKC và chị rất là say mê nhạc của anh TCS và con người của anh TCS nữa. Chị hay nấu nướng. Trong Câu Lạc Bộ Không Quân, anh LKC có một câu lạc bộ nhỏ là Mây Bốn Phương, luôn luôn kéo anh TCS vào đó. Chị đem đồ nhậu đến. Anh TCS làm được bài nhạc mới là hát, và hay tả cho nghe. Chị hay đến Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương để nghe anh TCS đàn hát những bài hát mới. Giao tình của anh TCS với anh LKC rất mật thiết. Cũng lạ, một người rất là nhà binh, to lớn, cường tráng. Còn anh TCS rất là mỏng manh, ốm yếu. Nhưng hai người gần nhau vô cùng trong tình nghệ sĩ. Anh LKC có rất nhiều nghệ sĩ tính, hát rất hay. Thành ra, họ rất thân mến với nhau. Hàng tuần, họ gặp nhau hai, ba lần … “

    Từ năm 1967, NCK giữ chức phó tổng thống VNCH, có Trung Tá LKC trong số những sĩ quan thân tín Không Quân chung quanh.

    Đúng mùng một Tết Mậu Thân (31 tháng Giêng năm 1968), một cánh quân Việt Cộng tấn công căn cứ Không quân trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Có mặt tại căn cứ, LKC đã “không quân đánh bộ” thành công chỉ huy dẹp tan quân địch hôm 23 tháng Hai, và được vinh thăng đại tá.

    Mặc dù bị tổn thất nặng nề trong cuộc tổng công kích đợt 1 Tết Mậu Thân, tới trung tuần tháng 4, 1968 Việt Cộng lại mở cuộc tổng công kích đợt 2. Nhật báo Chính Luận ở Sài Gòn trong số ra ngày mùng 7, tháng 5, năm 1968 đăng tin: “Sáng ngày mùng 2 tháng 5 vào hồi 10 giờ, Ðại Tá Lưu Kim Cương, tư lệnh Không Ðoàn 33 đã bị tử thương trong lúc ông đương đích thân chỉ huy một đơn vị bảo vệ vòng đai phi trường để đẩy lui một cánh quân Việt Cộng tại khu nghĩa trang Pháp gần ngã tư Bảy Hiền. Ông đã bị một tên Việt Cộng thủ súng B40 (phóng lựu đạn, để bắn xe tăng) vẫn còn sống, bắn một trái B40 trúng tấm mộ bia ngay bên cạnh Ðại Tá Cương, sức nổ và miểng đạn đã chặt đứt một cánh tay của ông và gây thêm nhiều vết thương nặng khác, khiến ông tắt thở tại chỗ. Một phóng viên truyền hình Pháp chạy theo Ðại tá Cương cũng bị tử thương ngay bên.

    Ðại Tá Lưu Kim Cương năm nay 34 tuổi có 2 con. Ông là người rất vui tính, có nhiều máu văn nghệ, chiếm được nhiều cảm tình trong giới quân đội cũng như báo chí. Tưởng cũng nên ghi nhận đây là lần đầu tiên một sĩ quan mang cấp tá của quân đội ta nói chung và của Không Quân VN nói riêng đã hy sinh trong lúc trực chiến với địch.”

    Nhà báo/nhà văn Văn Quang có ghi lại: “Một buổi chiều năm Mậu Thân 1968, ngồi ở nhà hàng Pagode tôi gặp Khánh Ly và Ngọc Anh đi cùng Trịnh Công Sơn. Chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm chiều. Ăn ở một quán bụi xong đã đến giờ giới nghiêm – thời gian đó Sài Gòn giới nghiêm từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng. Khánh Ly nhờ tôi đưa Trịnh Công Sơn về … Đêm đó là đêm đầu tiên tôi đưa Trịnh Công Sơn về building Cao Thắng. Ở cái building đó chỉ có một phòng gắn máy lạnh, là của một thương gia bán huy chương ở ngay chợ Bến Thành thuê làm phòng riêng, cho tôi ở chung nhưng không lấy tiền. Sơn mang đến cây đàn guitar, ở lại phòng tôi vài ngày, tôi không nhớ rõ bao nhiêu ngày. Nhưng chính ở đó anh sáng tác hoặc hoàn tất bản ‘Tình Xa’. Tôi có cái máy ghi âm hiệu Akai, trong khi tôi đi làm, Sơn vẫn thường dùng để nghe lại bản nhạc mình đang hoàn thành. Rồi chợt một hôm nghe tin Lưu Kim Cương chết ở phi trường Tân Sơn Nhất, Khánh Ly lên phòng tôi, cô ngồi lặng, Sơn chỉ nhìn và cũng lặng yên. Ít ngày sau, bài ‘Cho Một Người Vừa Nằm Xuống’ ra đời … “

    LKC chỉ là một trong nhiều chiến sĩ đã vị quốc vong thân trong cuộc chiến 20 năm ở Việt Nam. Người ta ước tính đã có khoảng 3 triệu quân & dân hai miền chết vì cuộc chiến đó. Trong số này, đã có rất nhiều chiến sĩ trong các binh chủng khác như Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Kích Dù, Biệt Động Quân, v.v. của VNCH đã chết trận. Khác với hai sĩ quan cấp tá Không Quân Phạm Phú Quốc, và Lưu Kim Cương, hầu hết những hy sinh anh hùng khác – kể cả trong binh chủng Không Quân – đã không được người ngoài thân nhân, hay bạn thân biết đến, vì mấy ai được/có nhạc sĩ sáng tác, ghi lại (bằng bài hát), và được cho phổ biến (trên truyền thông), để người ngoài – không phải là thân nhân – biết đến?

    Mặt khác, so với các chiến sĩ đã nằm xuống, trường hợp các Tù Cải Tạo trong các nhà tù của Việt Cộng lại càng phải được ghi nhận cho đúng. Đừng quên ngay sau năm 1975, hàng trăm ngàn cựu quân nhân, và viên chức VNCH đã bị tù đày, hành hạ, có người cả 20 năm. Bao nhiêu gia đình đã tan tác? Một số tù nhân đã chết trong tù vì bệnh hoạn, hay kiệt sức. Những chịu đựng, và hy sinh của những người tù lay lứt sống còn hình như đã không được ghi nhận tương xứng so với những bạn đồng ngũ nổi danh đã nằm xuống.

    Hơn 35 năm sau biến cố 1975, một tối trong một lữ quán ở tỉnh nhỏ Amarillo của tiểu bang Texas, tình cờ tôi đã được trao đổi vài ba câu chuyện với một cựu sĩ quan Không Quân cùng lứa với cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương. Có khác chăng chỉ là người còn sống đã trải qua 13 năm tù cải tạo, và chỉ muốn quên đi quãng đời thanh xuân mà ông coi là đã bị phí phạm.
    Còn bao nhiêu cựu tù chưa có dịp giải tỏa chuyện đời của họ? Cũng đều là vì nước, giữa đột ngột chết trận, và sống còn với thể xác suy yếu & tâm thần gẫy đổ sau nhiều năm bị kẻ thù đầy đoạ & hạ nhục, thử hỏi: Ai trần ai hơn ai? Và như vậy, sao đã vinh danh người này mà hình như không nghĩ đến người kia?

    * * *

    Có những bài hát có ý nghĩa, và công dụng hơn chỉ là phương tiện/sản phẩm giải trí, hay nghệ thuật. Đó là những bài ca ghi lại những sự kiện xảy ra cho các nhân vật trong hoàn cảnh của thời gian & không gian như nhân chứng cho dân tộc của một quốc gia đã trải qua. “Cho Một Người Vừa Nằm Xuống” là một trong những nhạc phẩm thuộc loại hiếm hoi này.
    Nếu đã biết như thế, những người yêu nhạc không nên chỉ để đầu óc đắm chìm trong giới hạn của lời ca & tiếng nhạc, để có khi còn thấy những sự kiện tuy không được trực tiếp kể lại, nhưng cũng thuộc những biến cố đổi đời.

    <iframe title="YouTube video player" width="480" height="390" src="http://www.youtube.com/embed/FwHBecePy_s" frameborder="0" allowfullscreen></iframe>
  10. Thưa quý bạn độc giả, đây là tác phẩm hay nhất của nhà văn Lâm Ngữ Đường, tiến sĩ văn chương Anh, từ lâu Đoàn Dự tôi vẫn mong có dịp trình bày với quý bạn độc giả. Nay, nhân anh tôi ở bên ấy nói rằng lâu lắm không thấy truyện dịch của chú, vậy chú thấy có truyện nào hay thì dịch đi để độc giả thưởng thức. Vậy, cung kính bất như tuân lệnh, tôi xin dịch và gửi tác phẩm “Pho Tượng ngọc” – The Jade Goddess – này tới quý bạn. Ngoài ra, từ từ rồi tôi sẽ dịch các truyện “Bạch Hầu” (The White Monkey) cũng của Lâm Ngữ Đường và “Căn Nhà Của Mapuhi” (Mapuhi’s House) của Jack London cũng hay như vậy để gửi tới quý bạn. (Đoàn Dự).



    PHO TƯỢNG NGỌC

    Nguyên tác: LÂM NGỮ ĐƯỜNG

    Bản dịch: ĐOÀN DỰ



    CUỘC HÀNH TRÌNH ngược dòng sông Dư*ơng Tử tuy vất vả nh*ưng rồi cuối cùng tôi cũng tìm đu*ợc tới nhà vị quan hồi hư*u gần thành Trường Thủy. Vị đại thần này là một nhà sưu tầm đồ cổ nổi tiếng. Ngư*ời ta kể rằng khi còn tại chức, ngài thường dùng quyền lực để chiếm đoạt các tác phẩm có giá trị. Nếu ư*ng ý một tác phẩm nào đó, ngài phải dùng mọi cách có cho bằng đư*ợc. Bởi vậy kho tàng của ngài gồm nhiều thứ vô giá hiếm thấy trên đời.

    Do ng*ười bạn có uy tín giới thiệu, lại kèm theo cả thư* gửi gấm nữa nên tôi được chủ nhân vui lòng tiếp tại căn phòng sang trọng của dãy lâu đài phía tây. Trong khi đàm đạo, qua khung cửa sổ nhìn ra v*ườn, tôi loáng thoáng thấy có những nụ đào đang chúm chím đơm bông, và trong lồng kính hình dáng của một chiếc bình cổ màu huyết bò trông đẹp tuyệt hảo.

    Tôi đề cập tới kho tàng danh tiếng. Chủ nhân mỉm c*ười nhã nhặn:

    - Hôm nay nó nằm trong tay ngư*ời này, một trăm năm sau lại thuộc về tay người khác, có ai làm chủ đư*ợc cả một kho tàng nghệ thuật quá một trăm năm đâu. Thật ra, nếu đúng là một bảo vật, mỗi tác phẩm phải có đời sống riêng của nó.

    - Nghĩa là nó có sự sống và có linh hồn?

    - Đúng vậy. Bởi vì người nghệ sĩ đã đổ vào đấy biết bao nhiêu công phu, truyền cho nó sự sống, giống như người mẹ đã truyền những giọt máu và hơi thở của mình cho cái bào thai đang nằm trong bụng. Họ đem tâm hồn họ vào trong tác phẩm, bởi vậy nên tác phẩm của họ sống và có linh hồn.

    Ngài dừng lại một lát rồi tiếp:

    - Thư* của người bạn giới thiệu ông là ng*ười thích cổ vật. Lát tôi sẽ cho ông coi pho tượng vị nữ thần bằng ngọc quý nhất của tôi.

    Ng*ười hầu bư*ng nư*ớc lên. Sau tuần trà, vị quan hồi h*ưu đứng dậy, dẫn tôi lên tầng cuối cùng của ngôi đài cao chứa các báu vật.

    Trong khi đi qua cầu thang lát đá hoa ở các tầng d*ưới, tôi thấy không biết bao nhiêu các bảo vật khác đ*ược giữ gìn, chăm sóc trong các tủ kính. Riêng pho tượng "có linh hồn và có đời sống” thì một mình nó chiếm một gian ở tầng trên cùng, trong một lồng kính gắn liền với chiếc bệ làm bằng cẩm thạch. Cả lồng kính lẫn chiếc bệ đều đư*ợc bảo vệ kiên cố bằng các song sắt mạ kền sáng loáng. Tôi nghĩ, trộm đạo khó lên đ*ược tới đây, mà dù có vào đ*ược trong phòng thì cũng khó xoay sở.

    - Đó, pho tượng nữ thần của tôi đó, ông ngắm kỹ đi và nhớ nhìn vào đôi mắt.

    Đó là một pho tượng nho nhỏ cao khoảng năm m*ươi nhăm phân, ở thế đứng, làm bằng loại ngọc gì trắng muốt ẩn các vân màu xanh nhạt theo từng nếp áo, mô tả một thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp với gương mặt có vẻ bi thảm. Một cánh tay nàng hơi giơ lên, chới với đư*a ra đằng trư*ớc như* vẫy gọi, như đau đớn, như* từ biệt; còn cái đầu và cánh tay kia thì ngả sang một bên, như sợ hãi, nh*ư trốn chạy. Đặc biệt, cặp mắt nàng ảm đạm dư*ờng nh*ư v*ương vấn một cái gì đó cực kỳ đau khổ, nuối tiếc. Tôi rùng mình. Hay đây là Phật bà Quán Thế âm Bồ tát giáng thế? Tôi vừa nghĩ như thế thì bỗng có cảm giác pho tượng mang sắc thái của sự cao quý tuyệt đỉnh, ánh mắt thiết tha chia sẻ những nỗi đau thư*ơng đối với nhân loại. Như*ng khi tôi nghĩ đó chỉ là một con người thật bằng xư*ơng bằng thịt, gánh chịu những nỗi đau khổ của trần gian thì tôi lại thấy đôi mắt dư*ờng như* xót xa, sâu lắng. Lạ lùng, với một khối ngọc chỉ lớn hơn năm tấc, người nghệ sĩ đã truyền vào đấy cả một linh hồn.

    - Tôi đã phải đánh đổi bao nhiêu ruộng đất phía tây cho chùa Kê Thanh (Cock-crow: Tiếng gà gáy sáng) mới có đư*ợc pho tượng này!

    - Tại sao chùa đó lại có, thưa ngài ?

    - Nghe nói do một vị nữ tu truyền lại từ nhiều đời tr*ước.

    - Lạ lùng, một pho tượng ngọc vô cùng giá trị lại nằm trong tay một vị nữ tu. Thú thật với ngài, tiểu sinh kể ra cũng có chút ít hiểu biết về các cổ vật, nhưng chư*a từng thấy một pho tượng nào nghiêm túc nh*ư vậy.

    - Ông dùng hai tiếng nghiêm túc tôi rất hãnh diện. Từ khi có pho tượng, tính nết tôi thay đổi, không còn tham lam vơ vét như* trư*ớc. Nhiều khi tôi rất ân hận về những việc mình đã làm. Còn riêng lý do tại sao vị nữ tu đó có pho tượng thì xin mời ông xuống phòng khách sơi nước, tôi sẽ kể lại sự tích cho ông nghe.

    Chúng tôi đi xuống bên d*ưới.

    *

    Cách đây đã lâu, lâu lắm, hàng bao nhiêu năm không ai biết rõ. Mỹ Lan (Mei-Lan) là một vị tiểu cô nư*ơng cực kỳ xinh đẹp, con gái quan khâm sai đại thần họ Trương ngư*ời phủ Khai Phong. Cơ ngơi riêng của ngài ở đó. Quan khâm sai lúc ấy giữ chức vụ Đại pháp quan, thay mặt nhà vua trông coi về hình pháp, pháp luật của tất cả các tỉnh phía Bắc, trong đó có phủ Khai Phong, quê hương của ngài.

    Đại pháp quan là ng*ười nghiêm khắc, khó tính về hình luật như*ng lại rất yêu cô con gái cư*ng và có lòng bao dung, che chở đối với họ hàng. Một hôm, có một đứa cháu họ ở xa do mẹ dẫn tới. Cậu ta tên Phố, tức Trương Phố (Chang Po) vì cùng họ Trương, vai anh của Trương Mỹ Lan. Trương Phố mư*ời sáu tuổi, hơn Mỹ Lan hai tuổi, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, trông rất xinh trai. Vì nhà quá nghèo nên ngư*ời mẹ đưa con tới nư*ơng nhờ gia đình vị chú họ ở nơi kinh thành, mong học được một nghề nào đó, sau này có kế sinh nhai.

    Cùng tuổi thiếu niên, hai đứa trẻ làm quen với nhau dễ dàng. Trương Phố thường kể cho cô em họ khuê các nghe những chuyện nơi thôn dã, đối với cô là rất lạ nên cô rất thích.

    Trương Phố là cháu nên phu nhân có lòng ưu ái, đặt cậu lên địa vị tiểu quản gia, phụ với vị quản gia đã lớn tuổi, trông nom kẻ ăn người ở trong nhà.

    Lúc đầu, phu nhân rất tin *ở cậu. Sau, bà thấy ngã lòng. Bởi vì với địa vị nh*ư vậy nhưng Trương Phố lại thường hay quên hoặc không để ý tới trách nhiệm. Cậu cũng chẳng biết la mắng các gia nhân phạm lỗi nữa. Cuối cùng, chán quá phu nhân bèn đổi cậu ra trông nom những người đang làm ngoài vư*ờn cho xong chuyện. Ấy vậy mà Trương Phố lại có vẻ thích. Bản chất của cậu là một nghệ sĩ, giàu óc sáng tạo, có tâm hồn nhạy cảm. Suốt ngày cậu lang thang ngắm cây cỏ, hoa lá, lắng nghe tiếng chim hót véo von ở trên các ngọn cây cao hay thong thả dạo chơi trên những lối đi ngoắt ngoéo bên cạnh những dòng suối giả, những hòn non bộ hay các hồ nhân tạo. Cậu tự vẽ tranh các cảnh đó không người chỉ dẫn. Những lúc rảnh rỗi - mà luôn luôn là rảnh rỗi - cậu vẽ chán, lấy đất sét nặn các con vật rất đẹp, giống y như* thật. Thỉnh thoảng cậu cũng làm những chiếc đèn lồng tuyệt đẹp, kiểu cách do cậu nghĩ ra, khác với những kiểu đèn bán ở ngoài phố.

    Đến năm Trương Phố mười tám, Mỹ Lan mư*ời sáu, chàng vẫn sống nhàn hạ ch*ưa tỏ ra chú tâm về một nghề gì. Người chàng cao lớn, tính nết hòa nhã, ăn nói lại rất lễ độ nên mọi người trong dinh đều rất quý mến. Quan khâm sai tin rằng cậu có tài, còn riêng Mỹ Lan thì một tình cảm nào đó nẩy nở, quyến luyến không thể rời xa. Gặp chàng, nàng sung s*ướng pha chút e thẹn, song nếu vắng chàng nàng thấy bâng khuâng mặc dầu nàng hiểu Trương Phố là anh họ mình, giai cấp lại quá chênh lệch, không thể tiến tới hôn nhân.

    Một hôm, Trương Phố th*ưa với phu nhân rằng chàng đã xin đ*ược một chân học nghề thợ ngọc tại một cửa tiệm danh tiếng, lớn nhất trong tỉnh. Chàng xin phép phu nhân cho chàng tới học, cơm nư*ớc ăn tại tiệm, chỉ buổi tối mới về nhà ngủ, sáng lại đi, chàng rất tních nghề thợ ngọc.

    - Đư*ợc lắm, rất tốt, ta có lời mừng cho con.

    Phu nhân tự nghĩ Trương Phố xinh xắn, khéo tay mà Mỹ Lan lại con gái đã lớn, không nên để chúng có dịp gặp gỡ nhau nhiều.

    Mà đúng nh*ư vậy, Trương Phố mắc đi học việc, Mỹ Lan ở nhà suốt ngày rất buồn. Mỗi tối chàng về, thường là rất muộn, nàng mừng ra mặt. Cứ mỗi khi chàng về nàng luôn luôn lấy cớ này cớ nọ xuống dãy nhà sau của các gia nhân, gặp chàng, hỏi han một vài câu chuyện.

    Phu nhân thấy vậy một hôm bèn gọi nàng vào trong phòng, nhỏ nhẹ giải thích:

    - Mỹ Lan, con nên nhớ rằng con đã lớn. Mặc dầu anh Phố là anh họ thật nhưng hai đứa nên giữ gìn, đứng gặp gỡ, chuyện trò với nhau nhiều kẻo kẻ ăn người ở hiểu lầm người ta dị nghị, không tốt.

    - Th*ưa mẹ vâng ạ.

    Buổi tối hôm ấy Mỹ Lan không dám xuống nhà dư*ới nữa mà hẹn gặp người anh họ ở ngoài v*ườn. Trời dần về khuya, hai người ngồi với nhau trên chiếc ghế đá dư*ới ánh trăng sáng hung linh. Nàng thong thả kể cho anh nghe những lời mẹ dạy rồi ngây thơ hỏi:

    - Chúng ta là anh em họ, tại sao mẹ lại cấm không cho gặp nhau, chuyện trò với nhau ?

    Người con trai lộ vẻ suy nghĩ:

    - Đúng đấy em ạ, bởi vì cả anh lẫn em đều đã lớn, không nên gặp gỡ.

    Người con gái mở to đôi mắt, nhìn chàng chăm chăm:

    - Anh nói thế nghĩa là sao, em không hiểu?

    - Nghĩa là... nghĩa là em càng ngày càng lớn càng xinh đẹp, càng có một cái gì đó quyến luyến, thu hút anh. Anh muốn nói là... nghĩa là có một cái gì đó làm anh say mê em, thèm khát em. Nói chung, một cái gì đó khiến anh sung sướng khi được gần em và thẫn thờ đau khổ khi không gặp em.

    - Thế bây giờ, đang ngồi với em, anh có sung sư*ớng hay không?

    - Có, rất sung s*ướng, hạnh phúc!

    - Tại sao vậy?

    Người thanh niên không biết trả lời thế nào. Chàng choàng tay lên vai nàng, áp mặt vào mặt nàng :

    - Tại vì... tại vì anh hiểu rằng cả linh hồn lẫn tình cảm chúng ta đã thuộc về nhau, không thể tách rời ra đư*ợc nữa Mỹ Lan ạ.

    Người con gái ngồi hơi xích ra, gỡ nhẹ tay chàng:

    - Như*ng mình là anh em họ, không thể lấy nhau…

    - Đừng nói như* vậy, đừng nghĩ như* vậy.

    - Bắt buộc cả hai chúng ta đều phải hiểu như * vậy.

    Người con trai đâm liều, chàng ôm ngang thân hình nàng, kéo nàng ngồi lại gần mình:

    - Thôi kệ, muốn đến đâu thì đến, anh chẳng cần hiểu làm gì cả. Chỉ biết rằng từ khi khai thiên lập địa anh đã yêu em và em yêu anh. Trái tim chúng ta đã thuộc về nhau, linh hồn chúng ta thuộc về nhau, mãi mãi, trọn đời....

    Vưa nói chàng vừa áp môi vào mặt nàng, vào cổ nàng rồi nâng mặt nàng lên, đắm đuối hôn trên môi nàng. Người con gái bàng hoàng, sửng sốt. Nàng ú ớ cố gỡ như*ng một sức mạnh nào đó lại làm cho nàng cũng níu lấy chàng, hé môi chờ đợi. Khi đã thoát ra đ*ược, nàng ù té chạy vào trong nhà, lên phòng mình, đóng ập cửa, chui vào trong mền, trùm tới tận đầu kín mít như người bị bệnh. Ngoài vư*ờn, ánh trăng vẫn sáng lung linh.

    Sự bộc phát của tình yêu trong tuổi trẻ là một cái gì đó dữ dội. Nó ghê gớm, nó cuốn lút, nó xoáy cuộn. Nhất là khi nó bị một trở ngại nào đó ngăn cấm, cản trở. Suốt đêm hôm ấy Mỹ Lan nằm trong mền cứ trằn trọc suy nghĩ. Nàng nhớ tới lời dạy của mẹ nh*ưng cũng sung sướng nhớ lại các cảm giác cuồng nhiệt khi hai làn môi áp vào nhau, điên cuồng, khờ dại. Và, cũng từ đêm ấy, con người nàng dư*ờng như thay đổi hẳn. Nàng tránh không dám gặp Trương mà Trương cũng tránh không gặp nàng.

    Như*ng tình yêu càng cố đè nén bao nhiêu lại càng bộc phát bấy nhiêu. Được ba bữa, người con gái chịu thua, nàng tìm xuống dãy nhà ngang gặp chàng và trở thành một con người khác: con người của tình cảm, không phải của lý trí.

    Theo phong tục Trung Quốc thời cổ, cha mẹ có quyền gả con gái cho một nhà trai nào đó mà họ cho là môn đăng hộ đối, không cần phải hỏi ý kiến người trong cuộc. Như*ng riêng đối với quan khâm sai, phần vì chỉ có một mình Mỹ Lan là con gái duy nhất, ngài và phu nhân rất c*ưng chiều; phần vì nàng nhất định từ chối, lấy cớ còn nhỏ nên việc hôn nhân cứ rùi rắng, nay lần mai lữa nên ngày tháng cứ qua dần.

    Về phần Trương Phố, chàng tiếp tục học nghề thợ ngọc. Như* một nghệ sĩ có tài, chỉ ba năm sau chàng đã thông thạo và đã bắt đầu nổi tiếng. Ông chủ tiệm ngọc rất quý trọng chàng. Chính ông cũng phải khâm phục về những món đồ do chàng làm ra, nó rất đặc biệt, vư*ợt xa mọi người khác, không ai sánh bằng. Những bậc quyền quý dần dần biết tiếng, năng lui tới tiệm ông, họ mách bảo nhau đặt hàng thì phải đòi cho bằng đư*ợc ông thợ Trương Phố làm. Trong số các khách quen có cả phu nhân quan khâm sai nữa. Một hôm, sắp tới kỳ khánh thọ Hoàng hậu trong triều, quan khâm sai có ý tìm một vật thật quý dâng lên Hoàng hậu. Ngài suy nghĩ kỹ và cho người lùng khắp mọi nơi, kiếm mua đ*ược một khối ngọc cực tốt. Với sự góp ý của phu nhân, ngài đích thân tới tiệm xem xét các món đồ do Trương Phố đã thực hiện. Ngài rất hài lòng và tin tư*ởng ở tài năng của chàng.

    - Này con, đây là một dịp đặc biệt, ta hoàn toàn trông cậy vào con. Bảo vật đó sẽ đ*ược dâng lên hoàng hậu. Quà mừng của quan khâm sai dâng vào triều không phải chuyện nhỏ. Nếu con làm tốt, được Hoàng hậu vừa ý, ngỏ lời khen, danh tiếng con sẽ lừng lẫy, tiền bạc sẽ đến với con không gì sánh nổi.

    - Vâng ạ.

    Quan khâm sai ra lệnh cho gia nhân đem khối ngọc tới. Trương Phố xem xét rồi thư*a rằng với khối ngọc tốt như* vậy, chàng có thể tạo một pho tượng Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát khác hẳn với các pho khác từ trư*ớc tới nay, chắc chắn hoàng hậu sẽ hài lòng.

    - Hay lắm, tư*ợng đức Nữ Bồ Tát giàu lòng quảng đại sẽ rất hợp ý hoàng hậu.

    - Như*ng khi con làm, xin thúc phụ tin tưởng ở con, đừng cho người khác đến quan sát, con làm không nổi.

    - Đư*ợc, ta chấp nhận.

    Ông chủ tiệm chuẩn bị cho chàng một căn phòng riêng, cấm không cho ai đ*ược lui tới.

    Trương Phố bắt đầu vào việc.

    Ba tháng sau, chàng hoàn tất. Pho tượng có hình dáng theo quy ước như*ng đẹp tuyệt trần với khuôn mặt và thân hình nhang nhác giống người chàng yêu quý. Đặc biệt, hai chiếc khuyên đeo hai bên nhánh tai pho tượng có thể xoay tròn được, không có chỗ ráp nôi. Điều này cực kỳ công phu, tỉ mỉ. Những đường nét thanh tú do Trương Phố sáng tạo buộc mọi người phải xuýt xoa khen ngợi. Riêng quan khâm sai thì rất sung sư*ớng, ngài nghĩ đây là một tác phẩm không tiền khoáng hậu, ngay trong cung từ tr*ước đến nay cũng không hề có. Ngài trả công cho tiệm rất hậu và thưởng Trương Phố một gói bạc thật lớn ngoài sức t*ưởng t*ượng của chàng.

    - Đẹp lắm, Trương Phố! Danh tiếng con sẽ lừng lẫy. Khi ấy con sẽ nghĩ rằng đây 1à dịp may ta đã đem đến để con có dịp thi thố tài năng của mình. Như*ng … sao ta thấy dường nh*ư nét mặt pho tượng hơi giống với con Mỹ Lan nhà ta?

    Trương Phố trả lời một cách hãnh diện:

    - Thưa vâng, tại vì em Mỹ Lan đẹp nên trông giống pho tượng.

    Sau khi dâng lên hoàng hậu, món quà đ*ược hoàng hậu hết lời khen ngợi và truyền cho quan khâm sai chuyển phần thư*ởng của hoàng hậu cho người thợ ngọc. Danh tiếng Trương Phố nổi như* cồn.

    Như*ng tiếng tăm, tiền bạc đối với chàng thảy đều vô nghĩa. Cái mà chàng luôn luôn mơ * ước không nằm trong tầm tay. Chàng mất hứng thú làm việc.

    Về phần Mỹ Lan, nàng bị mọi người thì thầm rằng đã hăm mốt tuổi mà chưa chịu lập gia đình. Quan khâm sai và phu nhân quyết định nhận lời một chỗ sang trọng, thế lực không kém gia đình ngài. Mỹ Lan không viện cớ gì trì hoãn được nữa, lễ vấn danh cử hành trọng thể, sau đó sẽ tới lễ c*ưới.

    Quá thất vọng, người con gái bàn với người con trai:

    - Chúng ta phải trốn đi thật xa anh ạ. Trốn tới nơi nào không ai biết được gốc gác của mình. Anh sẽ làm nghề thợ ngọc còn em thì cũng có một số nữ trang, chúng ta không thể đói đ*ược.

    - Anh cũng nghĩ thế. Nếu trốn ta phải trốn tr*ước, đừng để nước đến chân rồi mới nhảy e sẽ không kịp.

    Họ chuẩn bị, hẹn nhau nửa đêm hôm sau sẽ gặp gỡ tại khu vư*ờn phía sau, leo qua bức tường để trốn.

    Không may cho họ, một người đầy tớ già vẫn giữ nhiệm vụ canh gác ban đêm trông thấy. Ông ta rất kính trọng Mỹ Lan và quý mến Trương Phố nh*ưng có bổn phận phải bảo vệ danh dự gia đình nhà chủ, bèn giữ lại:

    - Thưa tiểu thư*, xin tiểu thư* vui lòng để tôi vào bẩm với phu nhân đã. Nếu phu nhân cho phép, bấy giờ tôi sẽ mở cổng mời tiểu thư* đi.

    - Không, ta cần đi gấp, không thể xin phép mẹ ta!

    - Tôi là kẻ ăn người làm, phải giữ thanh danh cho nhà chủ.

    - Hãy để ta đi, ta chính là chủ của ngươi.

    - Vâng, tiểu thư là chủ nhưng tôi phải mời tiểu thư cùng vào để tôi bẩm với phu nhân đã.

    Hai bên giằng co nhưng không dám lớn tiếng vì sợ làm kinh động mọi người trong dinh. Trương Phố cùng đường, đành đánh liều ôm chặt lấy ông già, một tay bịt miệng ông ta với ý định ngăn cản để Mỹ Lan leo lên tường tr*ước, nàng thoát thân xong chàng sẽ leo sau. Không ngờ ông già cũng là người khỏe, gỡ tay chàng ra đ*ược, bèn quay l*ưng định chạy để khua mõ báo động. Trương Phố bắt buộc phải chạy theo, nắm lấy ông ta không cho tri hô. Bất ngờ, ông già mất đà, ngã đâm sấp xuống đất đập đầu phải một cục đá lớn. Một tiếng "hự"' vang lên, thân hình ông ngã vật, chân tay dãy dụa rồi nằm im bất động.

    Trương Phố hoảng hốt ngồi xuống xem xét vết thư*ơng. Một dòng máu nhỏ rỉ ra dư*ới chân những sợi tóc bạc. Ông ta ngã trúng chỗ phạm, đã chết.

    Mặt Mỹ Lan tái ngắt:

    - Làm thế nào bây giờ hả anh?

    Trương Phố cũng run lập cập:

    - Anh cũng không biết. Phải trốn đi ngay lập tức kẻo rất nguy hiểm.

    - Nh*ưng... để xác già Tài thế này hay sao?

    - Cũng đành phải vậy. Trốn mau thôi kẻo người khác biết thì chết...

    Người con gái vừa gạt nước mắt vừa run rẩy nhặt chiếc túi xách rớt trên mặt đất. Trương Phố đỡ nàng lên đầu tư*ờng rồi chàng leo sau. Thoát sang được phía bên kia, họ bèn vội vàng trốn đi.

    Gần trư*a hôm sau người ta mới phát hiện ra xác chết của ông già giữ vư*ờn, bèn tri hô lên và vào bẩm với ông bà chủ. Đến khi coi lại, cả Trương Phố lẫn Mỹ Lan đều đã biến mất.

    Quan khâm sai đau đớn ra lệnh cho người quản gia:

    - Cần giấu kín việc này trước đã. Còn hai đứa khốn nạn làm bại hoại gia phong...

    Ngài giận tái mặt, ánh mắt gần nh*ư toé lửa:

    - Ta sẽ ra lệnh đào bới khắp mặt đất, phải bắt bằng đư*ợc cả hai đứa đó đem về chặt đầu.

    *

    Về phần đôi thanh niên nam nữ, sau khi đã trốn ra khỏi Khai Phong họ cải trang thành hai người lái buôn nghèo khổ rồi cứ đi, đi mãi, tránh những nơi đông dân c*ư. Họ tránh cả các bến sông lớn vì sợ bị đón bắt. Cuối cùng, đi không biết đã bao nhiêu đường đất, họ tới bờ sông Dư*ơng Tử, con sông ranh giới giữa miền Bắc và miền Nam. Đến đây coi như đã* thoát, họ mừng rỡ nh*ưng vẫn thận trọng thuê thuyền ở một bến vắng, qua sông rồi lại đi nữa, hơi chếch sang phía tây. Mấy tháng sau, thấy đã xa lắm, Trương Phố bàn với vợ :

    - Nghe nói ở Giang Tây có nhiều ngọc tốt. Hay hai vợ chồng mình đến đó?

    - Trời đất ơi, chàng ch*ưa sợ hay sao mà còn nói tới ngọc? Không, phải đi xa nữa và đừng nghĩ tới chuyện đó.

    - Như*ng mình đã bàn với nhau, em có nữ trang, anh làm nghề ngọc để sống.

    - Đấy là trong tr*ường hợp mình trốn đi bình thư*ờng. Đằng này già Tài đã chết, mọi người đều tin chắc mình giết ông ta, việc truy lùng càng nghiêm ngặt hơn. Em nghĩ mình phải đi thật xa xuống miền Nam, tới một nơi nào đó hẻo lánh, anh sẽ làm các thứ tầm thư*ờng như* đèn lồng hay nặn các con vật bằng đất sét để bán thì không ai nhận ra đ*ược.

    - Sao, anh mà làm đèn lồng và nặn các con vật đất sét?

    - Đúng thế, em rất lo sợ. Chúng ta mang án sát nhân không thể chối cãi vào đâu được. Anh cần nghĩ tới mạng sống của cả hai vợ chồng.

    - Em hơi lo xa quá đấy. Giang Tây cách miền Bắc tới hàng ngàn dặm, họ nói tiếng Nam, chẳng ai để ý tới hai vợ chồng một tên thợ ngọc nghèo nàn. Mà họ cũng không biết mình là người Bắc...

    Mỹ Lan tnấy hợp lý, nàng đấu dịu:

    - Thôi đư*ợc, anh làm nghề ngọc cũng đ*ược như*ng ta cần đi xa hơn nữa, và khi làm thì anh phải hạ thấp mức độ, đừng tạc những tượng đắt giá kẻo người ta biết.

    Họ không dám sống ở Nam Xương, thủ phủ của tỉnh Giang Tây mà xuống Kế An, một thị trấn nhỏ nằm hơi xích vê phía biển, gần giáp với tỉnh Giang Tô.

    Ở Giang Tây có một loại đất sứ (porcelain) và loại đất sét trắng (white kaolin) nổi tiếng. Kế An tuy hẻo lánh như*ng vẫn thuộc địa phận tỉnh Giang Tây, có thể mua được hai thứ đó một cách dễ dàng.

    Người vợ nhắc nhở chồng:

    - Anh nên đổi sang làm đồ sứ. Cần lắm thì nặn những tư*ợng bằng đất sét trắng, bảo đảm hơn nhiều.

    - Đã lo thì ngay cả làm đồ sứ hoặc đất sét trắng họ vẫn nhận ra anh. Anh đã nói đến đây là xa lắm rồi, chẳng ai biết hai đứa chúng mình. Anh sẽ giấu kín tên tuổi.

    Với vốn liếng của vợ và số tiền mình đã để dành đ*ược khi còn làm trong tiệm ở phủ Khai Phong, Trương Phố mua một căn nnà nhỏ ở ngoài ngoại ô, sau đó mua một số đá ngọc để mở một cửa tiệm nho nhỏ, vừa làm vừa tr*ưng bày để bán.

    Hàng ngày Mỹ Lan áy náy knông yên tâm vẫn thư*ờng quan sát các phẩm vật do chồng làm ra, và nàng cằn nhằn:

    - Khổ, anh lại cứ quen tay làm đẹp thế này là hết sức nguy hiểm. Phải làm kém đi mới đư*ợc.

    Trương Phố nghe lời vợ, bèn làm những vật thông thư*ờng như* vòng cẩm thạch, các xâu chuỗi và nhẫn các loại. Nhưng ngọc là thứ đá quý thư*ờng ở dạ*ng khối, phải dựa theo kích th*ước để tạc các vật lớn trước, sau đó mới sử dụng mảnh vụn vào việc làm các đồ vật lặt vặt. Mà, muốn tạc vật lớn tức là đã bước vào địa hạt nghệ thuật, phải có năng khiếu và sự sáng tạo, không thể làm kém đi đư*ợc. Mỗi nghệ sĩ có khả năng riêng của mình, người không có tài muốn có tài khó khăn thế nào thì người có tài muốn hạ thấp cái tài đó xuống cũng khó khăn như* thế. Trương Phố đã lén vợ làm những con khỉ ăn cắp trái đào hoặc bẻ trộm ngô với nét mặt ranh mãnh, dễ th*ương hoặc làm những con chó ngồi ngủ gật nhắm mắt để đấy, những con mèo con thè lư*ỡi nhớ mẹ. Lúc đầu Mỹ Lan có vẻ không bằng lòng, rầy la luôn miệng. Sau, hàng bán chạy quá nàng cũng lờ đi coi nh*ư không biết.

    - Ôi, anh yêu, anh lại bắt đầu nổi tiếng rồi đấy, em rất lo ngại. Tụi mình sắp có "tin mừng", anh nên thận trọng.

    Tin mừng ? - A, một đứa con! Trương Phố chợt hiểu và chàng sung s*ướng reo lên, ôm chầm lấy vợ giống như* một đêm nào đó d*ưới ánh trăng sáng lung linh:

    - Ô, một chú bé xinh xắn! Bây giờ thì mình sắp có thêm một "nhân khẩu” nữa, không còn cu ky hai đứa như* tr*ước.

    - Và tụi mình cũng ăn nên làm ra nữa, hàng bán được quá!

    Đúng là họ ăn nên làm ra thật. Chỉ mới hơn một năm kể từ ngày tiệm Bảo Hồ đ*ược thành lập, danh tiếng các đồ ngọc của tiệm Bảo Hồ đã nhiều người biết. Khách hàng từ những nơi lân cận đến mua buôn phải tranh nhau đặt tiền trư*ớc vì ông cnủ tiệm làm không kịp. Rồi các khách du lịch từ Nam Kinh xuống hay Giang Tô lên, đi qua Kế An thế nào cũng phải dừng lại, ghé tiệm Bảo Hồ mua một vài vật làm kỷ niệm. Chẳng bao lâu Kế An trở thành một thị trấn nổi tiếng với ngọc Bảo Hồ, ai cũng muốn tới. May mắn hơn nữa, ít lâu sau Mỹ Lan sinh đ*ược một đứa con trai xinh xắn. Vợ chồng nàng trở tnành khá giả, đã có bát ăn bát để

    Một hôm, một người đàn ông bước vào trong tiệm sau khi đã quan sát các đồ ngọc bầy trong tủ kính bên ngoài:

    - Ông có phải là ông Trương Phố, bà con với quan khâm sai họ Tr*ương ở phủ Khai Phong miền Bắc không?

    Trương Phố giật mình ngửng lên, lắc đầu:

    - Không, tôi không phải người phủ Khai Phong.

    - Nếu vậy tại sao ông nói tiếng Bắc?

    - Chẳng lẽ cứ người Khai Phong mới nói tiếng Bắc? Còn thiếu gì nơi khác nữa.

    - Ông đã có vợ con chưa?

    Trương Phố rất run như*ng vờ nổi giận:

    - Có hay không là việc của tôi, không liên quan gì tới ông, tại sao ông lục vấn?

    Người đàn ông xin lỗi rồi rút lui.

    Lúc ấy Mỹ Lan đang ở trong nhà trong, nghe cách nói chuyện hơi lạ bèn bế con nhìn qua khe cửa. Lúc người đàn ông đã đi khỏi, nàng lo lắng bảo chồng đó là tay lục sự làm trong tòa án d*ưới quyền cha nàng.

    - Em lo lắm, chỉ sợ những đồ bằng ngọc đã làm lộ nhân t*ướng hai đứa mình.

    - Đừng sợ, rồi anh sẽ liệu. Bất quá ta lại chạy trốn lần nữa là cùng chứ gì!

    Hôm sau, ngư*ời đàn ông trở lại. Trương Phố làm bộ tức giận:

    - Tôi đã nói tôi không biết Trương Phố nào đó của ông, tại sao ông cứ quấy rầy tôi mãi?

    - Đư*ợc lắm, nếu ông không biết để tôi kể cho ông nghe. Trương Phố là một tên sát nhân đang bị truy lùng. Y là cháu gọi quan khâm sai bằng chú họ, đ*ược ngài nuôi trong nhà, giúp đỡ mọi mặt. Nh*ưng y phụ ơn, quyến rũ vị tiểu thư con gái của ngài, trốn đi với nhiều nữ trang đắt giá. Ngư*ời làm v*ườn biết, giữ y lại, y giết ông ta. Tội của y đáng chém đầu nh*ưng quan khâm sai thầy tôi ra lệnh bắt sống nên tôi chưa tiện ra tay. Tôi đã xem kỹ các đồ ngọc của ông, ngoài Trương Phố ra không ai làm nổi.

    - Thiên hạ không có người này thì có người khác, đâu phải chỉ một mình Trương Phố của ông mới là ngư*ời giỏi? Chán vạn ngư*ời khác còn giỏi hơn nhiều.

    - Hay lắm, nếu vậy xin ông cảm phiền nhờ phu nhân đem ra cho tôi một tách nước. Tôi biết mặt tiểu thư* con gái quan khâm sai. Nếu không đúng bấy giờ tôi sẽ chịu lỗi với ông và xin đi ngay lập tức.

    Y đề nghị rất hợp lý, Trương Phố không viện lý do nào khác từ chối được nữa nên bèn nói dối:

    - Nhà tôi mắc dẫn mấy đứa nhỏ sang bên quê ngoại ăn giỗ. Cỡ ba hôm nữa nàng về xin mời ông tới.

    - Được, tôi sẽ đợi.

    Ngư*ời đàn ông đi khỏi, vợ chồng Trương Phố bàn tính với nhau, vội vàng thuê một con thuyền, thu xếp các vật dụng, ngay đêm hôm ấy bỏ nhà, xuống thuyền chạy trốn xuôi theo dòng sông.

    Không hiểu do ngư*ời hay do lòng trời bày ra cớ sự, sau hơn một tháng trốn chạy, bồng bềnh trên sông n*ước, tới Cẩm Sơn thì thằng bé bị bệnh, phải kêu nhà thuyền dừng lại bốc thuốc.

    Tiền cạn, Trương Phố đem đi bán một trong những bảo vật chàng đã làm: Một con chó con bằng ngọc ngồi ngủ gật, một mắt nhắm, một mắt mở, một tai cúp, một tai vảnh trông rất tức cư*ời.

    Ngư*ời mua là ông Vạn, một lái buôn ngọc rất tử tế và thạo nghề:

    - Chà, ngọc Bảo Hồ ở Kế An bên Giang Tây đây mà. Theo tôi biết, chỉ có tiệm Bảo Hồ ở Kế An mới làm đư*ợc những thứ này. Tôi đang muốn mua nh*ưng nghe nói họ đã đóng cửa. Làm sao ông lại có được mà đem bán?

    Trương Phố trả lời một cách hãnh diện:

    - Ông tinh lắm. Đúng là ngọc Bảo Hồ thật. Trư*ớc đây tôi có người bạn đi Kế An bèn nhờ anh ta mua giùm, bây giờ cần tiền đem bán.

    *

    Cẩm Sơn hay còn gọi là Cam Tuyền (Kanshien) là một thị trấn khá sầm uất, phong cảnh một bên có sông, một bên có núi rất đẹp.

    Lúc ấy đã là mùa đông, đứa trẻ đã bình phục, Trương Phố không biết đi đâu bèn bàn với vợ ở lại nơi này, thuê một ngôi nhà thật xa và chàng đem bán một số đồ ngọc.

    - Ủa, nhà còn tiền, chàng bán ngọc làm gì?

    - Chúng ta lại mở một cửa hàng nh*ư ở Kế An.

    - Mở tiệm đồ sứ, đồ đất sét trắng hay đồ ngọc?

    - Đồ ngọc.

    - Trời đất ơi, chàng vẫn còn nghĩ đến ngọc. Lần tr*ước em đã khuyên can chàng không nghe lời, suýt bị nguy hiểm. Đã tnoát đu*ợc rồi thì phải giữ gìn, đừng nghĩ tới ngọc nữa.

    Rồi nàng nói thêm:

    - Chẳng lẽ đối với chàng ngọc còn giá trị hơn cả tính mạng em và con? Hãy cứ từ từ, chờ cha bớt giận bấy giờ chàng trở lại nghề ngọc, em không dám giữ.

    Trương Phố thấy vợ nói có lý nên bèn nghe lời. Chàng sắm các dụng cụ, lập lò nung rồi mua một số đất sứ đất sét loại tốt, đem về nặn hàng trăm tư*ợng Phật và các thứ khác, phơi đây trong sân, chờ đ*ưa vào lò. Như*ng những lúc rảnh, gặp các lái buôn trên "con đư*ờng ngọc" chạy dài từ các dãy núi lớn thuộc địa phận tỉnh Giang Tây, băng ngang tỉnh Quảng Đông, xuyên qua Kế An, Cẩm Sơn rồi tới các đồng bằng phì nhiêu ở phía đông nam, chàng rất thèm khát đư*ợc sờ tay vào thứ đá quý đó.

    Một lần, lang thang vào trong thành phố, dán mắt tr*ước các tủ kính sang trọng ngư*ời ta bầy bán những vật bằng ngọc tầm thư*ờng, Trương Phố thấy xót xa đau đớn. Về nhà, ngó mấy đám t*ượng đất sét chư*a nung *ướt rình trông mới đáng chán làm sao! Chàng giận dữ vung tay đập bẹp mấy pho tượng, nghiến răng, hằn học:

    - Đồ đất bùn! Tại sao ta phải nặn mi trong khi ta đã từng tạc được t*ượng ngọc trong cung đình? Ta, Trương Phố, ta muốn tạo nên những tác phẩm để đời, không cần đến tính mạng của ta nữa.

    Biết chồng đã phát điên, Mỹ Lan ứa n*ước mắt khe khẽ lắc đầu:

    - Chàng yêu nghề ngọc hơn chính bản thân mình, rồi những thứ đó sẽ giết cả hai chúng ta. Em biết như*ng không làm thế nào được.

    Một hôm, ngư*ời lái buôn tên Vạn hỏi thăm, tìm đư*ợc nhà của Trương Phố, bèn mời chàng ra quán uống rư*ợu với mục đích nhờ chàng xem giúp một vài món ngọc.

    - Ông coi này, tôi mới đi Kế An về…

    Ông ta vừa nói vừa mở một chiếc hộp gói ghém cẩn thận:

    - Đúng là tiệm Bảo Hồ đã đóng cửa thật nhưng tôi mua đư*ợc những thứ này ở một tiệm khác, họ cam đoan là ngọc Bảo Hồ. Nhờ ông coi giùm...

    Mấy thứ đó quá vặt vãnh, Trương Phố làm bộ không biết gì về ngọc. Như*ng khi ông ta đ*ưa ra con khỉ màu hồng ăn cắp trái đào thì chàng nổi giận thực sự:

    - Hừ, đồ giả mạo!

    - Vâng, có lẽ họ giả mạo thật. Tôi cũng hơi nghi vì thấy nó không tinh tế, không có hồn nhưng không có cách chi kiểm chứng được. Có lẽ ông rất rành về ngọc?

    - Vâng, tôi biết chút ít.

    - Tôi quên chư*a nói với ông, hồi nọ ông để cho con chó, tôi bán giá một gấp đôi mà họ vẫn tranh nhau mua. Nếu đem lên Nam Kinh chắc lại càng lời hơn nữa. Ông còn thứ nào đúng ngọc Bảo Hồ xin để cho tôi. Bất cứ giá nào tôi cũng mua.

    Đầu óc Trương Phố đang bận rộn với con khỉ bị giả mạo nên không để ý đến lời ông Vạn nói. Chàng hậm hực:

    - Tôi sẽ cho ông thấy một con khỉ thứ thiệt của tiệm Bảo Hồ thì phải như* thế nào!

    Chàng dẫn ông Vạn về nhà và đư*a cho coi con khỉ bằng hồng ngọc ăn cắp trái đào do chính chàng làm hồi trước. Ông ta năn nỉ đòi mua bằng đư*ợc. Chàng nể lời bèn bán.

    Đem con khỉ lên Nam Xư*ơng, ông Vạn hí hửng khoe với các bạn cùng cánh nhà buôn. Họ rất ngạc nhiên:

    - Lạ nhỉ, một chủ lò gốm tại sao lại có ngọc Bảo Hồ?

    - Có lẽ ông ta còn nhiều, tôi đã mua đ*ược hai con.

    Từ đấy tiếng đồn lan rộng trong cánh lái buôn vì họ đều rất thèm khát loại ngọc Bảo Hồ nay không còn nữa. Họ luôn luôn lui tới, bàn tán với nhau. Sáu tháng sau, người lục sự đi với ba ngư*ời lính, tìm tới tận nhà bắt Trương Phố và Trư*ơng Mỹ Lan.

    - Đư*ợc, tôi sẵn sàng đi với các ông về Khai Phong chịu tội. Như*ng đư*ờng sá xa xôi, các ông cho phép tôi thu xếp các món đồ quý.

    - Còn tôi thì cũng phải đem theo đồ dùng cho con tôi. Mấy ngư*ời nên nhớ dù sao nó cũng là cháu ngoại quan khâm sai. Nếu mấy người bức bách, tôi không đem đủ, nó đau ốm dọc đ*ường mấy ngư*ời chịu trách nhiệm.

    Viên lục sự đã đ*ược quan khâm sai ra lệnh đối xử tử tế nên cũng e dè không dám hối thúc. Còn mấy ngư*ời lính, thấy “ông thầy” của mình như* vậy họ chỉ canh gác sơ sơ ở phía bên ngoài, mọi việc đã có ông thầy quyết định. Vợ chồng Trương Phố thu xếp ở nhà trong. Chuẩn bị đâu đấy xong xuôi, ng*ười vợ cột chiếc ruột t*ượng đựng các bảo vật vắt chéo trên ngực chồng rồi mở chiếc cửa sổ phía vườn sau, khẽ hất hàm ra hiệu. Trương leo lên, phóng mình qua cửa.

    “Nhớ đừng bao giờ đụng tới ngọc nữa!”, nàng dặn. Chàng khẽ gật đầu. Khi chân đã chạm xuống đất, khu vư*ờn có nhiều lối đi ngoắt ngoéo ăn thông với các ngõ xóm, chàng biết đã thoát thân nên bèn ngoái đầu nhìn lại, có ý từ biệt vợ và đứa con thân yêu suốt đời khó mong gặp nhau. Mỹ Lan đau đớn, thân hình dư*ờng như* chới với, một tay hơi giơ lên cao, đư*a ra đằng tr*ước, đầu và cánh tay ngả sang một bên, như kiệt quệ, như* níu kéo, nh*ư vĩnh biệt, như* xót xa cho thân phận trăm năm cay đắng.

    Thấy họ thu dọn quá lâu, ngư*ời lục sự nóng ruột đi vào thúc giục thì thấy Trương Phố không còn đấy nữa, chàng đã trốn mất.

    *

    Mỹ Lan và đứa con nhỏ đ*ược đưa về Khai Phong. Mẹ nàng đã qua đời từ lâu, cha nàng nay đã quá già như*ng vẫn oai vệ. Khi nàng lạy chào, ngài im lặng, nét mặt buồn bã, trên môi không một nụ cư*ời. Ng*ười nữ tì bế đứa trẻ đến bên cạnh, nàng cầm tay con giúp nó phủ phục làm lễ t*ương kiến ông ngoại, quan khâm sai tuy vẫn ngồi yên trên ghế nh*ưng nét mặt hơi có tư*ơi lên đ*ược một chút. Đứa bé xinh quá, giống cha và mẹ như *đúc. Ngài hơi nhúc nhích, chìa một ngón tay ra cho nó nắm lấy tay ông ngoại. Ngư*ời lục sự cúi rạp đầu xuống đất nhận tội, trình bày lại việc đã để cho tên tội phạm trốn thoát. Ánh mắt ngài lộ vẻ đăm chiêu, d*ường như* l*ưỡng lự:

    - Thôi đ*ược, chuyện đó tính sau. Có lẽ ta chẳng bao giờ tha thứ cho nó, tiếp tục ra lệnh tìm nó đem về đây chém đầu. Hãy thông báo là ta treo giải th*ưởng cho người nào hoàn thành công việc.

    Đoạn, ngài lẩm bẩm như* muốn xác định lại một lần nữa:

    - Cái thằng vô ơn bạc nghĩa, phá hoại gia càng nhà ta, lại còn phạm tội giết ng*ười. Ta tiếp tục ra lệnh truy nã, không thể tha thứ cho nó.

    Ng*ười đàn ông lại cúi rạp đầu tuân lệnh.

    Thời gian dần dần trôi qua, vẫn không có tin tức gì về Trương Phố. Một hôm, có quan tổng đốc họ Dư*ơng cai trị vùng Quảng Đông và đoàn tùy tùng trên đ*ường tiến kinh, ghé phủ Khai Phong thăm bạn. Quan khâm sai rất mừng bèn ra lệnh làm một tiệc lớn thết đãi. Trong khi ăn uống, quan tổng đốc tiết lộ rằng tiến kinh lần này ngài có đem theo một pho tượng ngọc quý giá làm quà dâng lên hoàng hậu, vì ý bề trên muốn có một pho tượng nữa cùng kích thước với pho t*ượng quan khâm sai đã dâng ngày nào cho đủ cặp. Tuy nhiên, theo ngài nghĩ, kích th*ước tuy giống nhau nhưng có lẽ pho của ngài đẹp hơn. Tất cả mọi người trên tiệc đều rất ngạc nhiên. Họ cho rằng pho tượng của quan khâm sai ngày trư*ớc là đẹp nhất rồi, không thể có pho nào đẹp hơn được nữa. Vị quan cai trị vùng Quảng Đông vuốt râu mỉm cư*ời hãnh diện:

    - Đư*ợc, nếu quý bằng hữu không tin, lát tôi sẽ cho đặt ngay lên bàn này để quý vị nhận xét.

    Sau bữa tiệc, nữ tì dâng trà. Quan tổng đốc giữ lời hứa bèn bảo dẹp qua một bên rồi cho người hầu bư*ng vào một chiếc hộp lớn bằng gỗ quý, các góc cẩn ngọc. Đích thân ngài tự tay mở hộp và đặt lên bàn:

    - Đây, pho tượng Nữ Thần Từ Bi (The Goddess of Mercy) của tôi đây, quý vị xem đi !

    Mọi ngư*ời trợn tròn mắt kinh ngạc. Ngay cả đứa nữ tì đang bư*ng khay trà cũng sửng sốt. Nó liếc mắt ngó trộm pho tượng rồi bí mật vào trong nhà báo với tiểu thư* Mỹ Lan. Qua bức rèm mở hé, nàng* đang dán mắt nhìn thật kỹ những đ*ường nét tuyệt hảo, mặt tái mét, miệng lẩm bẩm nói như* trong mơ: "Đúng, chính là chàng !...".

    - Vị nghệ sĩ nào mà khủng khiếp đến thế, thư*a quan huynh?

    Quan tổng đốc cư*ời kiêu hãnh, tay vuốt râu, cố tình chậm dãi để mọi ngư*ời phải sốt ruột :

    - Khoan đã, chuyện này hơi lạ, từ từ rồi tôi kể hầu quý vị.

    Ngài chiêu một miếng nư*ớc, sau đó mới hắng giọng cho thêm phần long trọng:

    - Ngư*ời nghệ sĩ ấy không phải là tay tầm thư*ờng. Chỉ hiềm một nỗi tôi không biết tên chàng nên không thể mách với quý bạn đ*ược !...

    Rồi ngài bắt đầu kể:

    - Tôi gặp chàng trong một tr*ờng hợp đặc biệt. Đứa cháu gái phu nhân nhà tôi đi dự lễ cưới. Nó m*ượn của phu nhân nhà tôi một cặp vòng ngọc gia truyền, phu nhân tôi rất quý, ít dám dùng đến. Cặp vòng này hoàn toàn giống nhau, trên mặt khắc hình tứ linh theo kiểu cách riêng khó ai làm nổi. Chẳng may con bé lỡ tay làm vỡ mất một chiếc. Nó sợ lắm, khóc lóc rồi cho gia nhân đi khắp nơi tìm các thợ giỏi để làm chiếc khác vì nó biết cô mẫu rất tiếc. Như*ng ai xem xong cũng nói thật rằng họ làm không nổi. Cuối cùng, vị quản gia bèn bày kế rằng chỉ còn một cách duy nhất là dán yết thị ở nơi đông người như các tiệm trà hay các ngã tư chẳng hạn, treo tiền th*ưởng thật lớn may ra kiếm đư*ợc ngư*ời giỏi. Con bé nghe theo. Ít lâu sau, một ngư*ời nghệ sĩ tự động tìm tới. Ông ta còn trẻ, ăn mặc tầm thư*ờng gần như* nghèo khổ khiến con bé hơi thất vọng. Nó nghĩ một ng*ười có tài th*ì phải giàu hoặc ít nhất cũng có đời sống t*ương đối dễ chịu. Xem xong, ông ta hỏi: "Tiểu th*ư muốn làm một chiếc giống như thế này hay làm hai chiếc đẹp hơn?". Nó ngạc nhiên hỏi lại: "Liệu tiên sinh có thể làm đúng nh*ư thế đ*ược không? Tiểu nữ sẽ thư*ởng thật lớn còn tiền công thì tiên sinh muốn tính bao nhiêu cũng được”. Ông ta bật cư*ời: "Đối với tôi việc đó chẳng có gì khó. Tôi đã từng tạc đ*ược cả các pho tượng ngọc trong cung đình. Nếu tôi làm xong, tiểu th*ư phân biệt nổi hai chiếc với nhau hoặc có điều chi không vừa ý, chỉ chê một tiếng tôi sẽ không dám lấy công và sẽ bồi thường tiền ngọc đã dùng". Quả nhiên, sau khi làm xong, hai chiếc vòng giống nhau y hệt, con bé rất mừng. Lúc nó đem trả, chính phu nhân nhà tôi cũng không phân biệt đư*ợc chiếc nào cũ, chiếc nào mới. Nghe nó nói chuyện, tôi ngạc nhiên lắm, cầm lên coi thì cũng không phân biệt nổi. Tôi trách nó tại sao không hỏi kỹ danh tánh của vị tiên sinh đó, nó nói nó có hỏi như*ng ông ta chỉ trả lời: "Tôi là kẻ không nhà không cửa, có chút chuyện riêng không đư*ợc quyền nêu danh tánh. Khi nào cần, tiểu thư* cứ cho ngư*ời tới tiệm trà quen ở gần chợ, nhắn "ngư*ời thợ ngọc vô danh" tôi sẽ xin đến".

    Quan tổng đốc ngừng lại một lát rồi tiếp:

    - Khi biết đức hoàng hậu muốn có một pho tượng nữa, tôi bèn nghĩ ngay tới vị tiên sinh đó bởi vì vẫn nhớ câu nói của ông ta: "Tôi tạc đư*ợc cả các pho t*ượng ngọc trong cung đình". Một mặt tôi cho đi tìm ông ta, một mặt ra lệnh cho các lái buôn ngọc suốt một dải trên "con đư*ờng ngọc" từ Giang Tây xuống tới Quảng Đông phải tìm kiếm mua giùm tôi một khối ngọc cực tốt tôi có việc dùng. Quý vị biết không, khi vị tiên sinh đó tới, ông ta vẫn ăn mặc tầm thường, điệu bộ lấm lét như* ngư*ời phạm tội khiến tôi động lòng trắc ẩn. Tôi nói rõ ý mình và mô tả hình dáng pho tượng tr*ước đây của Trư*ơng huynh đã dâng hoàng hậu, ông ta lại càng tỏ vẻ sợ hãi hơn nữa. Nhưng khi nhìn thấy khối ngọc, mắt ông ta sáng lên như* không thể rời ra đ*ược. Cuối cùng, ông ta ngồi xuống đặt tay lên khối đá khiến tôi hồi hộp. Tôi hỏi: "Sao, đủ tốt không?". Ông ta ứa n*ước mắt: "Bẩm thư*ợng quan, suốt đời tôi chỉ mơ ước có lần đ*ược sờ tay lên một khối đá tuyệt vời như* thế này. Tôi sẽ tạo nên một pho tượng vô tiền khoáng hậu ngay chính thư*ợng quan cũng chư*a từng thấy. Pho tượng đó sẽ vô giá, công lao của tôi cũng vô giá nên ngài sẽ không tnể trả công được cho tôi. Tôi sẽ không nhận của ngài một xu nhưng bù lại, ngài phải để cho tôi đ*ược tự do làm theo ý mình trong khi thực hiện. Về phần khối ngọc, tôi xin lấy cái đầu của tôi ra bảo đảm là ngài sẽ ưng ý" - Tự do? Tôi biết những người nghệ sĩ phải có tự do thì mới phát huy được trí tuệ, sáng tạo đ*ược những tác phẩm giá trị muôn đời. Bởi vậy tôi đồng ý và vị tiên sinh đó bắt tay vào thực hiện.

    Ba tháng sau - tôi nghĩ muốn xong ít nhất phải năm hay sáu tháng - ông ta đã hoàn tất và đem lên phòng khách, đặt trư*ớc mặt tôi với vẻ hãnh diện: "Thưa đây, bẩm thư*ợng quan, tác phẩm của tôi đây!". Chao ôi, nhìn pho tượng tôi ngẩn ngơ, quả thật từ tr*ước tới nay tôi chư*a từng thấy một kiệt tác nào như thế. Trong khi tôi còn đang xúc dộng, ông ta bỗng đeo chiếc túi lên vai: "Th*ưa thư*ợng quan, xin cám ơn ngài đã cho tôi có dịp thực hiện ý tôi muốn. Tôi là kẻ không nhà không cửa, không cần tiền bạc gì cả. Bây giờ xin phép ngài tôi đi". Tôi ngớ người không hiểu ông ta nói gì, chỉ mang máng hiểu rằng ông ta sắp đi, nên bèn vội vã khua chân tìm đôi dép: “Không, không, tiên sinh đừng đi, tiên sinh đừng đi!". Ông ta bư*ớc nhanh như* ngư*ời chạy trốn. Khốn khổ, cái thân hình tôi hơi nặng nên khi tôi xỏ đ*ược đôi dép, ra đến bên ngoài thì ông ta đã biến mất. Tôi hối thúc gia nhân đi tìm cũng không thấy nữa. Đấy, câu chuyện của tôi nh*ư thế đấy, còn pho tượng thì nó đẹp hay xấu thế nào tùy quý bằng hữu nhận xét, tôi không có ý kiến.

    Kể xong, vi tổng đốc hãnh diện chiêu miếng n*ước. Bỗng, từ trong phòng trong, một tiếng kêu đau thư*ơng như* xé ruột vọng ra khiến mọi ngư*ời đều giật mình. Quan khâm sai đứng dậy xin phép vào phòng con gái xem xét. Các gia nhân hối hả từ nhà sau chạy lên, họ cho biết Tr*ương tiểu th*ư bị ngất xỉu đang nằm sóng xoải trên mặt đất. Một thực khách ngồi bên cạnh ghé tai nói nhỏ với quan tổng đốc: "Ngư*ời nghệ sĩ tài ba quan huynh vừa kể không ai khác hơn Tr*ương Phố, chồng của Trư*ơng tiểu th*ư con gái quan khâm sai”. Quan tổng đốc rất kinh ngạc. Vị thực khách bèn vắn tắt thuật lại câu chuyện ngăn cách giữa đôi trai gái cho mọi người nghe.

    Tỉnh dậy, Mỹ Lan xin phép cha cho đư*ợc ra ngoài nhìn ngắm pho tượng tận mắt. Nàng sờ mó nó, hôn lên nó, hai hàng n*ước mắt tuôn rơi. Và khi nàng giơ tay, nghiêng đầu, ng*ười ta thấy pho tượng với nàng chỉ là một!

    Quan tổng đốc đặt pho tượng vào tay nàng:

    - Con gái đáng th*ương của ta! Ta đã hiểu rõ tất cả. Vật này là của con, con hãy giữ lấy nó. Với sức ta, ta có thể tìm một thứ khác quý giá dâng lên hoàng hậu. Còn con, theo ta nghĩ, nó sẽ an ủi cho con rất nhiều tr*ước khi con đ*ược đoàn tụ với chồng.

    Mỹ Lan sụp xuống lạy, tạ ơn quan tổng đốc bạn của cha nàng.

    Từ dạo đó, Mỹ Lan mỗi ngày một mòn mỏi như* có một căn bệnh nào đó gặm nhấm bên trong cơ thể. Quan khâm sai tuyên bố tha thứ mọi tội lỗi cho ngư*ời con rể nếu tìm thấy chàng. Năm sau, ngài và đoàn tùy tùng xuống Quảng Đông thăm ng*ười bạn đồng liêu với mục đích nhờ vị tổng đốc cai quản cả vùng Quảng Đông này h*ướng dẫn đi tìm Trương Phố. Như*ng mọi cố gắng đều vô ích, hỏi tiệm trà quen cũng không ai biết, chàng vẫn biệt tăm.

    Mấy năm sau, một trận dịch lan tràn khắp vùng Khai Phong, đứa con trai Mỹ Lan bị chết. Nàng hoàn toàn tuyệt vọng, cắt tóc quy y và xin vào tu viện, chỉ mang theo độc nhất pho tượng nữ thần bằng ngọc. Theo vị sư* trư*ởng trong tu viện cho biết, nàng hoàn toàn sống với thế giới riêng trong một tịnh phòng, không ng*ười nào kể cả sư* trư*ởng đư*ợc vào trong đó. Cũng theo nhà sư* này kể, ban đêm nàng th*ường thức khuya, âm thầm viết những lời cầu nguyện trên các tờ giấy rồi lại âm thầm đốt các bản giấy đó trư*ớc pho tượng. Nàng không thố lộ với ai về thân thế mình, không đụng chạm tới ai mà cũng không làm ai phiền lòng.

    Khoảng hai mư*ơi năm sau kể từ khi nhập tu viện, ngư*ời nữ tu hiền dịu tên tục là Tr*ương Mỹ Lan từ giã cõi đời. Và cũng từ đó tới nay, thân xác nàng có thể đã tan vào hư* vô như*ng pho tượng vị nữ thần bằng ngọc vẫn tiếp tục tồn tại. Nó tồn tại mãi mãi để chứng minh cho sức mạnh của tình yêu và khả năng siêu việt của loài ng*ười.

    (Đoàn Dự dịch theo bản tiếng Anh "The Jade Goddess" của chính tác giả )
  11. Xứ Đoài ở đâu?

    Thật ra xứ Đoài là Sơn Tây, vốn trước đó là trấn Sơn Tây, tục gọi là trấn Tây hay trấn Đoài (quẻ Đoài trong Bát quái là Tây).

    Sơn Tây là một trong số 13 tỉnh được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ (năm 1831), dưới thời vua Minh Mạng, gồm phần lớn địa bàn các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây, phía bắc tỉnh Phú Thọ, một phần tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hà Nội ngày nay.

    Khi thành lập tỉnh Sơn Tây có 5 phủ:

    1. Phủ Quốc Oai, gồm các huyện: Đan Phượng, Mỹ Lương (nay là địa bàn huyện Mỹ Đức; và huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình), Phúc Lộc , Thạch Thất, Yên Sơn (nay là Quốc Oai). Riêng huyện Từ Liêm thuộc phủ Quốc Oai thời còn là trấn Sơn Tây được cắt về tỉnh Hà Nội năm 1831.
    2. Phủ Quảng Oai, gồm các huyện: Bất Bạt, Minh Nghĩa (đến năm 1853 đổi là Tùng Thiện), Tiên Phong (về sau là huyện Quảng Oai).
    3. Phủ Tam Đới /Đái (nay thuộc các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc), gồm các huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Phù Khang, Yên Lạc, Yên Lãng.
    4. Phủ Đoan Hùng (nay thuộc các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang), gồm các huyện: Đông Quan, Đương Đạo, Sơn Dương, Tam Dương, Tây Quan.
    5. Phủ Lâm Thao (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), gồm các huyện: Hạ Hoa (nay là Hạ Hoà), Hoa Khê (nay là Cẩm Khê), Sơn Vi (nay là huyện Lâm Thao),Thanh Ba. Riêng huyện Tam Nông tách khỏi Sơn Tây năm 1831 để nhập vào tỉnh Hưng Hóa, làm nơi đặt tỉnh lị tỉnh Hưng Hóa.

    Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, chính quyền thực dân Pháp thực thi chính sách chia để trị, tỉnh Sơn Tây đã bị cắt phần lớn đất đai để lập mới các tỉnh Hưng Hóa, Vĩnh Yên, Phù Lỗ, Hòa Bình.

    Tháng 4 năm 1888, thống sứ Bắc Kỳ ra nghị định tách phủ Đoan Hùng (lúc đó gồm 3 huyện Hùng Quan, Ngọc Quan và Sơn Dương) khỏi tỉnh Sơn Tây để nhập vào tỉnh Tuyên Quang. Tỉnh Sơn Tây sau đó còn 4 phủ: phủ Quốc Oai (gồm 2 huyện Thạch Thất và Yên Sơn), phủ Quảng Oai (gồm 4 huyện Bất Bạt, Phúc Thọ, Tiên Phong, Tùng Thiện), phủ Vĩnh Tường (gồm 5 huyện Bạch Hạc, Lập Thạch, Yên Lạc, Yên Lãng và Tam Dương), phủ Lâm Thao (gồm 5 huyện Cẩm Khê, Hạ Hòa, Phù Ninh, Sơn Vi, Thanh Ba).

    Tháng 10 năm 1890, tách toàn bộ phủ Vĩnh Tường, cùng với huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên lập đạo Vĩnh Yên.

    Tháng 12 năm 1899 lại tách đạo Vĩnh Yên (gồm cả huyện Bình Xuyên) ra để lập tỉnh Vĩnh Yên.

    Rồi qua biết bao đổi dời, đến tháng 6 năm 1893, toàn bộ phủ Lâm Thao gồm 5 huyện đều được điều chuyển về tỉnh Hưng Hóa mới. Từ năm 1903 tỉnh Hưng Hóa mới đổi tên là tỉnh Phú Thọ.

    Sau khi đã tách đất cho các tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc ngày nay, ranh giới phía tây, phía bắc và phía đông của tỉnh Sơn Tây là sông Đà, sông Hồng và sông Đáy.

    Từ khi thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hoà, Sơn Tây vẫn là 1 tỉnh gồm có 6 huyện: Bất Bạt,Quảng Oai,Tùng Thiện, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai và tỉnh lỵ là thị xã Sơn Tây.

    Ngày 1 tháng 7 năm 1965 tỉnh Sơn Tây nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây. Rồi ngày 27 tháng 12 năm 1975 tỉnh Hà Tây nhập với tỉnh Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình.

    Năm 1978, tỉnh Sơn Tây cũ (trừ huyện Quốc Oai) tách khỏi tỉnh Hà Sơn Bình và nhập vào thành phố Hà Nội và từ 1991 nhập trở lại tỉnh Hà Tây.

    Tháng 8 năm 2008 lại nhập Sơn Tây cùng toàn bộ tỉnh Hà Tây vào Hà Nội.


    NNS

    .....................................................................................................

    Bài viết ngắn về Xứ Đoài

    I. Tôi Nhớ Xứ Đoài mây trắng lắm...
    (Lê Uyển Văn)

    Tôi " quen " Quang Dũng và yêu thơ Quang Dũng từ khi chỉ là một cô bé mới bước vào Trung học, khi tôi vẫn còn chưa biết đó là một "người thơ" đa tài mà dáng vóc trượng phu lừng lững ấy đã in bóng trên những nẻo đường thi ca Việt Nam.

    Nhớ lại mùa hè năm học lớp 7, tôi về quê nội và nhận lại những di vật của người mẹ quá cố, trong số đó thứ mà tôi muốn sở hữu nhất là một tập thơ chép tay khá dày ,bằng giấy pơluya , chữ viết màu mực đen, đều đặn mà vẫn phóng khoáng, không chân phương như chữ của tôi. Nâng niu trên tay, thành kính như tín đồ đọc Thánh Kinh và bài thơ đầu tiên làm run rẩy trái tim tôi "Đôi Mắt Người Sơn Tây".

    Có lẽ "mối tình đầu" bao giờ cũng trong trẻo, chân thành và da diết, dẫu sau này tôi có yêu trăm ngàn bài thơ đi nữa thì những gì tôi dành cho " Đôi mắt người Sơn Tây" vẫn đầy đặn, thanh tân:

    Em ở thành Sơn chạy giặc về
    Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
    Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
    Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

    Vầng trán em vương trời quê hương
    Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương
    Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
    Em có bao giờ em nhớ thương?

    Từ độ thu về hoang bóng giặc
    Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn!
    Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ
    Em có bao giờ lệ chứa chan?

    Mẹ tôi, em có gặp đâu không
    Những xác già nua ngập cánh đồng
    Tôi cũng có thằng con bé dại
    Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông!

    Đôi mắt người Sơn Tây
    U ẩn chiều lưu lạc
    Buồn viễn xứ khôn khuây

    Cho nhẹ lòng nhớ thương
    Em mơ cùng ta nhé
    Bóng ngày mai quê hương
    Đường hoa khô ráo lệ

    Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
    Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng
    Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc
    Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

    Bao giờ tôi gặp em lần nữa
    Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa.
    Đã hết sắc màu chinh chiến cũ
    Còn có bao giờ em nhớ ta?


    Hồi đó tôi cứ băn khoăn "Mắt em dìu dịu buồn tha phương” mới đúng chứ, tôi chưa hiểu Tây Phương là một địa danh của Sơn Tây, tôi chưa hiểu Tây Phương còn gắn liền với một ngôi chùa cổ với những pho tượng điêu khắc đẹp bậc nhất Việt Nam để nói lên những đau thương, quằn quại trong cõi luân hồi. Song cái nhìn dìu dịu nỗi buồn u ẩn đó cứ ám ảnh tôi mãi, ám ảnh hơn cả những câu trả lời thoảng nhẹ như sương, như mây trắng xứ Đoài:

    “Những xác già nua ngập cánh đồng”... “ bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông”

    Có cái gì đó như sự bất lực , để trả lời cho những câu hỏi dập dồn đến thảng thốt: “ Mẹ tôi em có gặp đâu không?” “ Tôi cũng có thằng con bé dại” lại chỉ là những thông tin không sáng sủa, những thông tin khiến người nghe chìm ngập trong âu lo. Bài thơ này không phải là một bài thơ viết ra để người đời mổ xẻ, cái hay của nó cứ ngày một, ngày hai thấm vào lòng để rồi không bao giờ phai nhạt. Có những hình ảnh- nói như Cao Nguyên-“ đã găm vào tâm thức” của tôi : “ Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ”. Đất đá ong, thứ đất khô cằn không mang lại mùa màng tươi tốt nhưng chưa bao giờ khiến lòng người xót xa như “ từ độ thu về”. Sau này tôi đọc đựoc nhiều văn bản ghi là “ Đất đá ong tuôn nhiều suối lệ”, có lẽ người ta nghĩ lệ phải tuôn như suối thì mới tả hết nỗi lòng , riêng tôi “ngấn lệ khô” và câu hỏi ( chỉ để mà hỏi) “ Em có bao giờ lệ chứa chan?” xúc động hơn gấp nhiều lần . Tôi lại liên tưởng đến chữ “khốc” và“ khấp” trong bài thơ “ Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du. Nỗi bi thương nghẹn ngào, không thành tiếng vẫn luôn là nỗi buồn ẩn chứa cả chiều sâu. Tôi bắt gặp trong thơ Quang Dũng một nỗi buồn như thế, đằm sâu như nỗi buồn viễn xứ nhưng vẫn đẹp dịu dàng vì trong bóng tối điêu tàn của chiến tranh nó vẫn ánh lên màu xanh của một ngôi sao biếc:

    “Cho nhẹ lòng nhớ thương
    Em mơ cùng ta nhé
    Bóng ngày mai quê hương
    Đường hoa khô ráo lệ”


    Tôi thích cách các nhà phê bình gọi Quang Dũng là “người thơ” hay cách Vũ Quần Phương dùng ý Chế Lan Viên để nói về thơ Quang Dũng: “Thơ hay như người đẹp, đi đâu, ở đâu cũng lấy được chồng….” và thơ Quang Dũng dù trải qua bao thăng trầm vẫn đến với đông đảo bạn đọc mà không chết già trong sự cô đơn….Không riêng gì "Đôi Mắt Người Sơn Tây" những câu kết trong các bài thơ của Quang Dũng giống như con người của ông vậy, cứ trong suốt, chân thật, không hề tô điểm mà gợi bao xúc cảm bồi hồi:

    “Còn có bao giờ em nhớ ta?”

    “Em đi áo mỏng buông hờn tủi
    Dòng lệ thơ ngây có rạt rào?” (Đôi Bờ)

    “Hồn lính vương qua vài sợi tóc
    Tôi thương em mà em đâu có hay !” (Quán Bên Đường)

    Lại nhớ có lần Cao Nguyên bộc bạch: Tôi yêu Huế vì một hình ảnh “rất thơ” mà Thu Bồn mang lại cho tôi:

    “Nón rất Huế nhưng đời không phải thế
    Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng”

    Vậy còn tôi? Tôi yêu Sơn Tây vì lẽ gì? Chưa một lần tôi đến đó nhưng Quang Dũng đã mang đến cho tôi một thế giới của Xứ Đoài mây trắng với những địa danh thân thương đến lạ kỳ: Bất Bạt, Ba Vì, Bương Cấn, Sài Sơn…Tôi ước một lần đi thăm chùa Thầy, để tận mắt thấy “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc” rồi nghe bài hát “ Ba Vì mờ cao” trong mây trắng ngang trời và lòng thầm nghĩ: Quang Dũng – không chỉ là một nhà thơ đích thực !

    II. Tôi nhớ Xứ Đoài mây trắng lắm
    (Tân Linh)

    Cái Xứ Đoài ngày xưa thuộc về đất Tổ. Hơn một lần xứ ấy về với thủ đô và bây giờ khi Thăng Long nghìn tuổi, Xứ Đoài lại về đây để muôn đời Thăng Long - Hà Nội vẫn thế “dựa núi nhìn sông”...

    Chả phải quê hương mà sao tôi gắn bó với cái đất ấy gần hai mươi năm. Hình như là từ một tình bạn. Và hình như là có cái gì đó lớn lao hơn, tựa như cảm giác tâm linh ám ảnh về Non Tản, về xứ Đoài cái nôi sinh ra người Việt Mường mà tôi là một...

    Mặt khác đất ấy có chung với đất quê tôi dù ở xa non ngàn cây số, một cái nền đá ong, để rồi trên đó là chất phác thiệt thà những con người góp phần làm nên lịch sử. Đá ong góp vào đời sống cái thô ráp những bức tường, những cái bờ rào và thành giếng miền đồi. Đá ong đã là một phần cuộc sống...

    Đường về Sơn Tây bây giờ hai ngả thênh thang muốn theo đường 32 hay theo đường Láng - Hoà Lạc tuỳ ý. Núi sông còn đó. Đường Lâm cổ ấp còn đây nơi sinh thành Bố Cái Đại vương Phùng Hưng. Đình Mông Phụ bề thế uy nghi, nơi thờ Đức Thánh Tản Viên...

    Cạnh đình là cái quán có từ ngàn xưa với mái ngói đơn sơ. Ấn tượng nhất là cổng làng Mông Phụ. Giản đơn nhưng bố cục đẹp mắt với bờ ao, cây đa cổ thụ đã thành biểu tượng Đường Lâm, có mặt trong logo du lịch Xứ Đoài...

    Giở lại sử xưa, đất ấy có tên Cam Giá, là đất mía. Thế mới nên, đâu đâu cũng mang tên Mía: Kẻ Mía, chùa Mía, chợ Mía... Đất ấy thờ cả Phùng Hưng và Ngô Quyền lẫy lừng để mãi mãi được gọi với danh xưng là đất hai Vua.

    Cách không xa đền Phùng Hưng là lăng Ngô Quyền, người đánh tan giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938. Về Đường Lâm gặp lại đây làng Việt cổ với những gì thân quen. Một không gian đá ong từ những ngôi nhà đến bờ giếng nước, tường rào...

    Mỗi khi nhớ tổ tiên hãy đặt bàn tay lên mặt tường thô ráp xây bằng đá rỗ ấy mà nghe râm ran hơi ấm từ lòng đất cổ rần rật trong huyết quản ta. Cái màu thổ hoàng rực rỡ trăm năm không xỉn rêu như là màu vôi vữa gạch ngói! Đường Lâm còn vài chục nóc nhà cổ là vốn di sản xa xưa để lại.

    Người trăm xứ về đây tìm lại gốc gác Việt Mường, ăn lại bữa cơm rau dưa tương cà trên cái mâm đồng, chõng tre trong căn nhà cổ để nói chuyện nguồn cơn, chuyện bản sắc. Đây đình làng So Sở nơi ẩn chứa linh hồn làng còn sống động cảnh sắc vẹn nguyên. Con đê qua đây ôm lấy khuôn viên hồ bán nguyệt trong veo soi bóng tam quan cổ kính.

    Đôi rồng đá chầu trước cửa như canh giữ cho công trình kiến trúc mấy trăm năm. Không hiểu đất ấy xưa trù phú giàu sang đến đâu mà đình làng cái nào cũng hoành tráng. Nhiều đình đẹp vào hạng nhất nhì nước Nam. Xa tít chân Ba Vì quay mặt ra sông Hồng là ngôi đình được xem là công trình vĩ đại của mấy trăm năm trước - đình Tây Đằng thờ Thần núi Tản Viên.

    Xứ Đoài đất ấy lại là quê hương Thám hoa Giang Văn Minh, vị sứ thần Đại Việt thời Lê làm vinh quang quốc thể. Về đây nghe lại Ai Sơn thành tiếng khóc thành Sơn, quý thêm Giá Sơn Kiều Oánh Mậu khi người gửi gắm tâm tình vào phế tích... Đâu cần gạch ngói, chỉ đá ong mà nên luỹ nên thành.

    Mấy trăm năm đá ong vẫn trơ gan tuế nguyệt dù vật đổi sao dời. Mảnh đất ấy địa linh nhân kiệt mang khí thiêng sông núi chứa trong nó bao nhiêu sự tích, bao nhiêu huyền thoại anh hùng. Đất ấy cỗi cằn đá ong nhưng sao mía nơi này lại ngọt? Đất ấy nuôi dưỡng bao nhiêu tên tuổi những người con Xứ Đoài lừng lẫy: Nguyễn Bá Lân, Kiều Oánh Mậu, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu...

    Đất ấy có một làng Cổ Đô cả làng là họa sĩ. Nương dưới chân non Tản, Xứ Đoài có đền thờ Thần Tản Viên trên đỉnh Vua.

    Một Đồng Mô mênh mông hồ nước, thảm cỏ, rừng cây xanh mướt mắt. Chả thế mà tại đây người ta xây dựng hẳn một quần thể Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Rời Sơn Tây về Thạch Thất, ghé Hoài Đức, Quốc Oai... vãn cảnh Chùa Thầy xuống hang Cắc Cớ. Núi Sài Sơn như thắng tích thiên nhiên giữa đồng bằng điểm xuyết như những non bộ đá khổng lồ.

    Rồi về ngắm tượng La Hán thăm chùa Tây Phương tôi mới cảm hết cái sâu sắc tâm linh người xứ ấy. Ký ức xứ Đoài là những gì thiêng liêng ngàn năm đất và người nơi ấy gìn giữ để Thăng Long - Hà Nội hôm nay thừa hưởng, phát huy giá trị của cha ông.

    Tôi nhớ có lần cố giáo sư Trần Quốc Vượng bàn đến nơi phát tích Xứ Đoài, thì ra trước Công nguyên, Xứ Đoài – Sơn Tây thuộc vùng đất Tổ. Rồi “Như một phép biện chứng của tự nhiên lịch sử của miền văn minh thôn dã, miền thềm phù sa cổ Sơn Tây - Xứ Đoài nhường tính chất trung tâm cho miền phù sa trẻ xứ Bắc: Luy Lâu - Long Biên; rồi Long Đỗ - Tống Bình - Thăng Long - Hà Nội... Kể từ ấy Sơn Tây thành Xứ Đoài của Thăng Long - Đại Việt, một trong tứ trấn, phên giậu của kinh kỳ...”
  12. Người đời nhớ đến tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp với bài thơ Chùa Hương nổi tiếng. Nhưng ít ai biết rằng người thi sĩ tài hoa ấy là con trai của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh và là một cây bút tài năng. Tiếc rằng cuộc đời đoản mệnh, ông vĩnh biệt cõi trần khi mới ở tuổi 24,để lại cho hậu thế một tập thơ mỏng manh duy nhất với nhan đề Ngày Xưa...

    Hôm qua đi chùa Hương

    Hoa cỏ mờ hơi sương

    Cùng thầy me em dậy

    Em vấn đầu soi gương..."

    Mỗi khi đọc lại những câu thơ này tôi lại nhớ tới một kỷ niệm ở Paris, vào giữa những năm 90 của thế kỷ trước. Hôm đó, trong quầy bar ở tầng hầm ngôi nhà rất sang trọng tại ngoại ô thủ đô Pháp của TS Việt kiều Nguyễn Văn Tuyên (nay đã thành quá cố), diễn ra một buổi ca nhạc thính phòng của các nghệ sĩ Việt với những người bạn.

    Có mặt hôm đó là cố Nhạc sĩ Lê Dung, Nhạc sĩ Quang Thọ, Pianist Hà Ngọc Thoa từ Hà Nội tới; Nhạc sĩ Phạm Duy từ Mỹ sang; Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê cùng con trai và con dâu của ông là Nhạc sĩ Trần Quang Hải và Ca sĩ Bạch Yến, những người Việt cư trú tại Paris...

    Đấy là khi nhạc sĩ Trần Văn Khê vừa mới từ bệnh viện về sau một ca phẫu thuật khá nặng nên trông sắc mặt ông còn xanh xao lắm. Ấy vậy mà trong tình bằng hữu, nhạc sĩ Trần Văn Khê đã đứng dậy, gạt đi mọi nỗi mỏi mệt, hát lại ca khúc do chính ông sáng tác từ hơn nửa thế kỷ trước, bài hát Chùa Hương phổ thơ của Nguyễn Nhược Pháp. Vốn quen nghe ca khúc rất được phổ biến rộng rãi do ca sĩ Trung Đức phổ nhạc và luôn cảm thấy cấn cá khi cô gái quê của Nguyễn Nhược Pháp được cho "đi đôi guốc cao cao" để leo lên chùa Hương, tôi vừa thích thú vừa kinh ngạc khi thấy thơ Nguyễn Nhược Pháp được nhạc sĩ Trần Văn Khê chuyển thành ca khúc chuẩn mực và dân gian đến thế: thơ không bị tầm thường đi bởi những câu chữ thêm vào, mà giai điệu bên trong của thơ được phát huy tới mức tối đa. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã biểu diễn ca khúc này rất tuyệt vời: khi hát tới những đoạn đò đi, ông đã làm động tác chèo đò thực ngoạn mục, khó mà có thể hình dung được trước đó không lâu ông đã gần như kiệt sức vì ca phẫu thuật. Dường như những câu thơ trẻ trung, nhí nhảnh mà thấm thía của Nguyễn Nhược Pháp đã thổi vào ông thêm sinh khí...

    Thực tiếc là ở Việt Nam hôm nay, ít người được nghe bài hát đó của nhạc sĩ Trần Văn Khê! Và cũng thực tiếc là hôm nay ở Việt Nam, chúng ta cũng không biết được gì nhiều về thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, một tài hoa yểu mệnh.

    Giỏ nhà ai, quai nhà nấy

    Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914 ở Hà Nội. Chàng là con trai của một trong những cây bút có lẽ là vạm vỡ vào loại hàng đầu nước ta trong thế kỷ XX, nhà văn, nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), người có quê là làng Phượng Dực, Thường Tín (nay là làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây). Ông Vĩnh là một nhân vật kỳ thú của làng viết nước ta, còn chưa được hậu thế nhận thức đầy đủ. Con một người nông dân nghèo, sinh ra vào thời nước mất nhà tan, chỉ bằng trí tự thiên phú và lao động đến kiệt sức của mình, ông Vĩnh đã tạo dựng nên được một gia tài chữ nghĩa vô cùng đồ sộ mà ngay cả những người đồng thời, dù không đã đồng quan điểm với ông, cũng phải nể vì.

    Ông Vĩnh từng dịch nhiều tác giả Pháp cổ điển sang Việt văn, trong đó có thơ La Fontaine mà bài phổ cập nhất có lẽ là bài Con Ve và con Kiến... Ông dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Pháp, rồi dịch cả những tác phẩm tiếng Hán như Tiền Xích Bích, Hậu Xích Bích sang Pháp ngữ... Ông còn là một nhà báo vào hàng gạo cội của những thập niên đầu thế kỷ XX, người góp công gây dựng nên nền báo chí Việt Nam khi đó. Theo hồi ức của nhà thơ Nguyễn Vỹ, ông Vĩnh "rất trung thực, không nịnh ai mà cũng không ưa ai nịnh mình, không tùy thời, mà chỉ tùy mình...".

    Trong con mắt của nhiều người đương thời, ông Nguyễn Văn Vĩnh là tấm gương lao động nghề nghiệp đến quên mình. Nhà văn Vũ Bằng nhớ lại: "Ông Vĩnh làm việc như con trâu cày, không mấy khi muốn phiền người khác. Có một lần, tôi đã được mục kích một cảnh như sau: không biết giận gia đình gì đó, ông lên một căn gác nằm khèo, nhờ ông Tụng (bác sĩ, nhân viên đắc lực của Saigon Công thương, chuyên lo chạy tiền vay cho ông Vĩnh - TG) mua cho một mẹt bún chả ăn trừ cơm, rồi viết luôn một bài xã thuyết cho Annam Nouveau, thảo một thư cho toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng "Têlêmác phiêu lưu ký" cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp "có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được", miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua... Cho mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa thấy có ai viết báo nhiều loại khác nhau một cách tài tình và nghĩa lý như ông Vĩnh. Ông viết tin, viết xã thuyết, làm thơ, khảo cứu, phóng sự (Volonté Indochinoise) và dịch tiểu thuyết thì quả không chê được....".

    Là một người lao động sáng tạo như thế, lại ở thời nước ta còn theo tập tục phong kiến, dĩ nhiên ông Vĩnh là người đào hoa. Ông có tới ba vợ. Người vợ thứ hai chỉ sinh được một người con là Nguyễn Nhược Pháp. Năm thi sĩ của chúng ta mới lên hai tuổi, mẹ chàng vì đau đớn bởi chồng muốn cưới vợ ba nên đã tự vẫn. Thế là Nguyễn Nhược Pháp phải mồ côi mẹ từ đó...

    Sống với một người cha tính tình có lẽ là phóng túng, cậu bé mồ côi mẹ Nguyễn Nhược Pháp mặc dù được chăm lo về vật chất nhưng chắc là trong thẳm sâu tâm hồn chàng luôn có một nỗi trống vắng nào đó. Chàng được cha cho ăn học đàng hoàng, đậu tú tài rồi vào Trường cao đẳng Luật khoa. Tuy nhiên, giống như cha, chàng không thích đi làm quan mà chỉ mê mải văn thơ báo chí. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết truyện ngắn và kịch... Khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống rất hồn nhiên và trong sáng: chàng không hề nghiện ả đào và thuốc phiện!

    Hóm hỉnh nhìn đời

    Ông Nguyễn Văn Vĩnh là một người cao lớn, bệ vệ, nhưng Nguyễn Nhược Pháp chỉ cao có 1,52m thôi, giống như những người bạn mà chàng hay giao lưu như Nguyễn Vỹ, Phạm Huy Thông... Thế nhân biết chàng như một người lúc nào cũng hay mủm mỉm cười, cái miệng như móm. Chàng cũng là người hay nói, niềm nở, lịch thiệp với mọi người. Đặc biệt, ai cũng quý chàng vì khiếu khôi hài và giọng điệu "rủ rỉ như cô gái bẽn lẽn trên đường đi chùa Hương".

    Người làm sao, thơ làm vậy, tập Ngày xưa xuất bản năm 1935 của chàng thể hiện rất rõ một phong cách Nguyễn Nhược Pháp vô tiền và khoáng hậu trong thơ Việt Nam. Đây là tập thơ chỉ có trên dưới chục bài, toàn viết về những gì "vang bóng" từ lâu lắm rồi nhưng đã làm nên một kỳ tích mà Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhận xét trong cuốn Thi nhân Việt Nam: "Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp".

    Bằng con mắt già trước tuổi của một người luôn giữ được cái nhìn non xanh vào cuộc sống, Nguyễn Nhược Pháp đã vẽ nên được diện mạo thời xưa đầy mơ mộng, hóm hỉnh và trìu mến... Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh mà chàng viết tặng người anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Giang là một thí dụ. Chàng đã kể lại tích cổ bằng những chi tiết thực lôi cuốn. Thí dụ như cách hành xử của Mỵ Châu khi chứng kiến cảnh Sơn Tinh và Thủy Tinh tỉ thí với nhau:

    Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,

    Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhòa

    (Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,

    Nhưng thật dễ thương): "Ô! Vì ta!".

    Khổ kết bài thơ cũng đầy tinh tế và vui tính:

    Thủy Tinh năm năm dưng nước bể

    Giục núi hò reo đòi Mỵ Nương.

    Trần gian đâu có người dai thế,

    Cũng bởi thần yêu nên khác thường.

    Điểm sáng nhất trong tập Ngày xưa có lẽ là bài Chùa Hương, thiên ký sự của một cô bé ngày xưa. Nhà thơ Nguyễn Vỹ kể lại: "Bài thơ Chùa Hương là bài khá nhất trong tập thơ Ngày xưa, có một lai lịch kỳ thú không ngờ. Chuyến đi Chùa Hương ấy, Nhược Pháp đi với tôi và hai cô gái nữa, đều là nữ sinh cả. Hai cô mang theo hai máy chụp hình, còn Nhược Pháp và tôi đều đi tay không. Trèo lên đến rừng mơ bỗng chúng tôi gặp một bà cụ vừa bước lên đèo, đường gồ ghề lởm chởm, vừa niệm: "Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế âm Bồ tát...". Cô gái quê có lẽ là con của cụ, cũng đang niệm câu ấy nhưng nửa chừng trông thấy chúng tôi là hai chàng trai nhìn cô trân trân thì cô bẽn lẽn làm thinh không niệm Phật nữa. Cô đang đọc: "Nam mô cứu khổ cứu nạn..." rồi cô im. Đôi má cô đỏ bừng, cô cúi mặt xuống. Hai đứa tôi hỏi cô: "Tại sao trông thấy chúng tôi, cô không niệm Phật nữa? Cô gái quê có vẻ đẹp ngây thơ bỗng tỏ vẻ bối rối muốn khóc".

    Không ngờ hai cô bạn nữ sinh lên chụp được tấm hình hai đứa tôi đang hỏi chuyện cô gái quê, rồi có lẽ không bằng lòng chúng tôi nên hai cô lén đi trước, và đi lúc nào chúng tôi không hay biết, cũng chẳng nói năng gì với chúng tôi cả, bỏ chúng tôi ở lại với cô gái quê. Chúng tôi mê nói chuyện với cô này, một lúc sực nhớ lại hai cô bạn, chúng tôi vội vàng đi theo nhưng không kịp. Hai cô đã lên đến chùa Ngoài, rồi lên đến chùa Tiên Sơn, lẫn trong đám đông người, biến mất dạng. Đêm ngủ trong chùa Hương, sáng hôm sau ra về, chúng tôi mới gặp lại hai cô bạn đồng hành. Tôi phải xin lỗi mãi, nhưng Nhược Pháp cứ tủm tỉm cười không nói.

    Về Hà Nội, hai hôm sau, Nhược Pháp đem đến tôi bài thơ Chùa Hương, mà trong bản chép ra đầu tiên Nhược Pháp đề là Cô gái Chùa Hương. Nhược Pháp lấy cuộc gặp gỡ lý thú của chúng tôi với có gái quê làm đề tài và tưởng tượng thêm ra, thành bài thơ đẹp, giọng ngây thơ, y như cô gái chùa Hương hôm ấy...

    Trong tuần ấy, anh góp các bài thơ của mình, thành một quyển. Anh đưa tôi và hỏi:

    - Có nên xuất bản không?

    - Nên!

    - Nhưng tiền đâu? - Nhược Pháp cười móm mém.

    - Xin ông cụ.

    - Thôi, tôi mà đưa ông cụ xem cái của nợ này, thì chắc chắn là ông cụ sẽ vứt nó vào sọt rác.

    - Đưa bà cụ vậy.

    - Ừ, phải đấy!

    Một tháng sau, quyển thơ Ngày xưa ra đời. Sách in xong mà Nguyễn Nhược Pháp vẫn rụt rè, chưa dám đưa cụ Nguyễn Văn Vĩnh xem, chỉ sợ cụ vứt vào sọt rác.

    Nghe nói, sinh thời Nguyễn Nhược Pháp có yêu một thiếu nữ tên là Thanh nhưng cuộc gặp gỡ tình cờ ấy cũng đã không mang lại được một cái gì hiện hữu cho cuộc đời thật của chàng. Người thơ, yêu cũng như sương khói, chỉ có những suy tư, cảm xúc được biến thành vần điệu là ở lại lâu dài với hậu thế mà thôi. Nguyễn Nhược Pháp qua đời vào ngày 19/11/1938. Thi nhân đôi khi cũng như danh tướng và mỹ nữ, "bất hứa nhân gian kiến bạc đầu".

    HOÀNG NGUYÊN

    BS. NGUYỄN LÂN ĐÍNH
  13. (đọc xong hết giận hết hờn
    Mừng vui chắc chắn lên cơn đùng đùng)



    Công em hay lảm hay làm
    Tội tôi thơ phú nhồm nhoàm rong chơi
    Nghêu ngao ca đất ngợi trời
    Quên em ca cẩm nửa đời đóng băng

    Chân đi lục bát loằng ngoằng
    Quả tim nhịp trắc nhịp bằng đập suông
    Lang thang đau cả mép đường
    Yêu chay loang lổ mảnh tường phong rêu

    Thoắt thôi tóc sớm xế chiều
    Đuôi con mắt chạm khắc nhiều chân chim
    May còn nửa nổi nửa chìm
    Đem phần sống sót này tìm về đây

    Nửa đời bám gió leo mây
    Hôm nay ngồi phệt mặt mày rong rêu
    Mải mê thơ phú cánh diều
    Bỏ trâu gặm cụt cánh diều mồ côi

    Quay về tầm mắt em thôi
    Tắm trong giọt lệ thương người phù sinh.
    Xin em hết sức lượng tình
    Cho tôi tìm lại chính mình hôm qua

    Bao nhiêu chữ nghĩa hương hoa
    Cũng bay về phía thật thà ngày xưa
    Lạy em ướt nắng khô mưa
    Giận hờn xin đánh tôi thừa một roi !


    Văn Thùy
  14. Không chỉ là quán, mà là một góc nhân gian Sài Gòn: Quay mặt ra phố hứng lấy sóng gió thời cuộc để phân vân, trăn trở và lựa chọn một thái độ sống.

    Không có quán dành riêng cho một hạng người nào. Chỉ có người chọn cái ambiance (khung cảnh) cho riêng mình. Rồi chính mỗi người cùng với bầu bạn của họ, lâu dần tạo ra phong cách của quán. Quán cũng mang màu sắc, cá tính của một người Sài Gòn vậy. Nhưng đó chỉ là quán của một thời cũng chưa xa lắm.

    Hồi nhỏ, tôi sống ở một xóm nghèo của dân cu li, đạp xích lô, vác sạp chợ, thợ mộc, thợ hồ, công chức, tư chức nhỏ… Nghèo, nhưng dân xóm cứ mỗi chiều cuối tuần, hoặc gặp kỳ lương đầu tháng thường đưa cả gia đình con cái đi ăn nhà hàng; coi như một kiểu sống phải có của người thị thành. Bạn bè, người thân quen tới nhàm đàn ông con trai kéo ra quán, lắm khi đã hết chuyện nói mà cứ cà kê ngồi đó coi “ông đi qua bà đi lại”, xỉa hết hàng mấy chục cây tăm mà vẫn không muốn đứng lên, ra về. Lạ một điều chẳng thấy chủ quán nào bực mình, cằn nhằn; nói chi tới xua đuổi!

    Lớn lên, tôi nhiễm cái “món” ngồi quán hồi nào không hay. Một mình cũng ngồi, ngồi một mình. Có điều những quán tôi ghiền… ngồi, không vì món ăn thức uống độc đáo hay “đặc sản” gì, cũng không vì có kỷ niệm “người yêu vội đi lấy chồng” nào; chẳng qua chỉ là ghiền không khí quán, ghiền khung cảnh (ambiance) quán.

    Một thế hệ ghiền phố

    “Nhứt là đường Ca-ti-na
    Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
    Bực thềm lót đá sạch tinh
    Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều...”
    (Nam Kỳ phong tục diễn ca - Nguyễn Liên Phong).

    Những năm 60 và những năm đầu thập niên 70, có một “thế hệ” ghiền phố Catinat (nay là Đồng Khởi) và mấy quán đáng nhớ lắm ở cái phố cũng đáng nhớ này. “Thế hệ ghiền quán” buổi ấy rất không gần nhau về tuổi tác, địa vị xã hội và cả mức thu nhập. Từ học sinh tú tài, sinh viên, giáo chức tới văn nghệ sĩ trí thức đủ cỡ, đã thành danh hoặc mới tập tành… các dân biểu, chính khách “salon” hoặc đối lập, công chức mới tập sự hay đã là loại thượng hạng ngoại hạng, lính quèn và tướng trẻ tướng già, cả thầy tu và mấy ông Tây già còn sót của thời thuộc địa.

    Không có quán nào dành riêng cho một hạng người nào. Chỉ có hạng người nào đó chọn cái ambiance của quán cho riêng mình, hoặc do bầu bạn cùng ngồi, lâu dần, tự dưng có một ambiance riêng.

    Như La Pagode (nay là trung tâm điều hành du lịch) ở góc Catinat – Lê Thánh Tôn. Không biết tự bao giờ, là nơi hò hẹn, bù khú của giới văn nghệ sĩ và trí thức đủ mọi lứa tuổi và cấp độ. Quán thoáng rộng, mà không sáng lắm, tường lửng cỡ nửa thân người, mở toang ra khung cảnh phố xá, vỉa hè mà vẫn là một thế giới riêng (về sau mới lắp cửa kính, máy lạnh). Có một quầy rượu không ồn ào. Bàn, ghế học nệm màu nâu sậm, có tay vịn, cao hơn ghế salon nhưng thấp hơn ghế thường. Có thể ngồi ở tư thế duỗi thẳng chân, tay tựa lên thành ghế đầu ngả đúng vào thành dựa, úp một tờ báo lên đầu và lơ mơ ngủ trưa bên ly cà phê đã cạn. Những anh bồi lớn tuổi, đồng phục trắng, nơ đen, đa số là người Tàu sành sỏi tiếng Việt và tiếng Pháp… tất cả đều lịch sự, ít lời nhưng nhiều chăm sóc, rất nhẹ nhàng đi lại như sợ phá những phút ngủ trưa của ông khách nọ. Thời buổi trào lưu triết học hiện sinh, triết ly nhập cuộc, của văn chương viễn mơ và văn nghệ dấn thân… cũng thổi vào quán những cuộc tranh cãi, bàn luận; dù rất nghiêm túc hay lập dị ngạo mạn thì cũng đều biết tôn trọng cái ambiance của quán: sự điềm đạm lịch lãm. Cả những em bé đánh giày cũng chẳng dám kèo nài, mè nheo; có em chẳng biết học được từ đâu, còn biết nghiêng đầu chào khách kèm theo một tiếng “cảm ơn” nhỏ nhẹ. Buổi sáng không khí trong lành, phố chưa nhộn nhịp; buổi chiều hơi oi, người đi lại vội vã hơn nhưng không xô bồ - những thời khắc ấy ngồi La Pagode bên cốc cà phê hoặc cốc rượu nhẹ, ngắm người, ngắm ta, dễ cảm được cái thú của dolce vita (cuộc đời êm dịu) dù cách đó không xa, đang có một cuộc xuống đường của sinh viên học sinh trong khói lựu đạn cay mù mịt. Ai đặt tên quán là La Pagode (cái chùa) để có những giây phút quán bỗng trầm mặc, thanh lịch đáng yêu làm sao!

    Bước ra khỏi “chùa” vài bước, có thể vào hiệu sách Albert Portail bề thế, sang trọng với đủ loại sách báo nhập từ phương Tây và rất cập nhật. Nhưng đi tiếp về phía góc đường Lê Lợi, ta có thể vào một quán khác hẳn: Givral, máy lạnh, cửa kính sáng choang và lố nhố nhà báo Tây, ta cùng các vị dân biểu, chính khách… Một cửa nhỏ mở ra đường Đồng Khởi sẵn sàng bán bánh ngọt Givral nổi tiếng cho khách qua đường. Xéo bên kia là Hạ Nghị Viện (nay là Nhà Hát TP) và Trung Tâm Quốc Gia Báo Chí. Quán mát lạnh nhưng tin tức thì đầy tràn và nóng hổi, sôi sục như bia bọt. Thường thì sau 9 giờ sáng (dân Sài Gòn ngủ muộn) quán mới bắt đầu có khách, tới tận khuya. Khách thuộc loại tinh ý, nhạy cảm đặc biệt. Chỉ cần một, hai ông dân biểu xuất hiện ở tiền đình Quốc Hội với vẻ hơi bất thường, chỉ cần một, hai sinh viên ở đâu chạy ào tới, tức tốc căng lên một băng rôn… lập tức các vị khách túa ra ngay, máy ảnh chớp lia lịa. Và chỉ một vài phút sau, cả khu vực sôi sục một cuộc hội thảo, mít tinh, biểu tình, xuống đường rầm rộ, chớp nhoáng hoặc dằng dai… Thức ăn Tây, ta, bia, rượu, cà phê, bánh ngọt… đều không có gì đáng nói. Chỉ có tin và tin: Trong nước, ngoài nước, chính trường và hậu trường, tăng quân hay giảm, rút quân; tăng hay cúp viện trợ, chiến tranh hay hòa bình… là các thứ gia vị thay đổi không ngừng cho một đĩa súp hay cốc bia mà thôi. “Radio Catinat” trú đóng ở khu vực này có lẽ suốt từ cuộc kháng chiến chống Pháp tới năm 1975. Các nhà báo nước ngoài từng ở Sài Gòn theo dõi hai cuộc tranh dai dẳng, có lẽ trong các hồi ký của họ sau này, không thể không nhắc tới Givral.

    Quay ra mặt phố

    Có thể quán cũng là một thành phần trong cái kho tàng văn hóa vô cùng phong phú của người Pháp; cho nên từ La Pagode, Givral tiếp tục đi xuống phía sông Sài Gòn, lại gặp một quán nữa cũng đầy chất Pháp: Brodard. Café-crème và bánh ngọt, cái món ăn tây ta và rượu, cùng cách bài trí, tác phong phục vụ ngấm ngầm một phong cách tây, không quí phái cũng không bình dân. Khách ở đây, trẻ thì học sinh sinh viên trường Tây, lớn tuổi hơn thì đủ hạng nhạc sĩ, nhạc công, vũ nữ, thương gia…

    Chuyện trò ở đây, thuộc loại sống sít, hồn nhiên như đời sống; là mọi chuyện đời, chuyện tếu, chuyện đùa, chuyện làm ăn chơi bời. Một cái quán ở đó người ta dễ làm quen và bắt chuyện với nhau, có lẽ từ cái gout chung: Ghiền quán! Cũng là một quán để ngồi ngắm phố qua cửa kính; nhưng để vừa ăn sáng vừa hẹn hò, vừa ăn trưa vừa bàn công việc thì đây là một nơi có ambiance dễ chịu nhất.

    Ngồi quán ngắm phố có lẽ cũng là một trong những thú vui tao nhã của đời sống đô thị những năm ấy. Kem Bạch Đằng, góc Lê Lợi – Pasteur đông nhất vẫn là các cô cậu học sinh, thanh niên. Quán liền với vỉa hè, gần như không có cửa, nên đang đi có thể tạt vào quán dễ dàng, ngồi nhâm nhi cốc kem, ly nước ngắm dòng xe từ Pasteur, Lê Lợi tuôn lên, dòng người nườm nượp trên vỉa hè Lê Lợi. Lại đi về hướng chợ Bến Thành, người thích lai rai nhấm nháp cũng có ghé Thanh Thế, cũng lại là một kiểu quán mở ra cả hai góc đường Nguyễn Trung Trực – Lê Lợi. Nơi đây thường là chốn tụ hội của dân phát hành báo, nghệ sĩ cải lương, dân áp phe và cả dân sành nhậu. Thức ăn ngon vừa phải, ăn no cũng được mà làm “mồi” cũng bắt. Khách dễ tính, vui vẻ, cười to nói lớn thoải mái vì xem ra ít nhiều đều thuộc giới giang hồ quen mặt.

    Khu trung tâm Sài Gòn đâu chỉ bấy nhiêu quán; nhưng chỉ bấy nhiêu quán cũng đủ phô bày cái phong cách nhiệt đới rất độc đáo của quán Sài Gòn, có thể gọi đó là quán mở. Mở ra hè phố, đón nắng gió chói chang, cùng mọi thứ tiếng động và cơ man dáng hình của người đô thị; mở ra những con đường, những chọn lựa…

    “Thế hệ” ngồi quán Sài Gòn buổi ấy có người từ La Pagode, Givral, Brodard hoặc từ Bạch Đằng, Thanh Thế, bước một bước ra đường, đối diện với bao phân vân chọn lựa giữa bão tố thời cuộc rồi không biết đi đâu về đâu. Có người ngồi lì ở góc quán, ôm mãi cái thân phận và những mảnh đời phiêu lãng của mình. Có người rời quán nhập vào dòng lịch sử cuồn cuộn tử sinh…

    Quán của cái ambiance xưa – cũng là một “hương vị” của văn hóa Sài Gòn như một trang sử đời sống đã trẩy xa quá rồi. Nhưng mà những thế hệ sau của Sài Gòn ngồi quán, lẽ nào không còn có nữa?

    Võ Ngàn Sông
  15. Ối giời cao đất dầy ơi!

    Thuở kháng chiến Tây đi Mỹ đến, cơm hẩm gạo thiu ông tồm tộp, một nồi to ông hốc phưỡn dạ dày;
    Thời mở cửa Nga cút Tàu nhào, rượu thơm thịt béo ông ỉm im, ba tấm ván ông nằm ngay cán cuốc.
    Kém một ngày chẳng đi, hơn một ngày chẳng ở. Nghĩ rằng: Hồi xuân chi lão, tốt củ mà xấu dây, ngữ ấy thánh đâm chẳng chịu chết, đỉa chịu thua răng ấy dái này:
    Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi kẻ một mồ. Ai ngờ: Đòi nọc lợn choai, đẹp lòng thêm đẹp mặt, giống này giời đánh vẫn đi tơ, thuốc hết chữa mỏ xuôi cẳng ngược.
    Ông với lợn tôi, chẳng xóm giềng xóm tỏi, đường gió mây sao khéo rủ rê:
    Bác với cháu ngoan, ấy đứa tớ đứa thầy, lối địa ngục cùng nhau lần lượt.

    Nhớ ông xưa!

    Thương bác Sít mười;
    Thương cha mẹ một.
    Lọt lòng mẹ ông khóc giọng Liên Xô;
    Bước vào đời ông làm thơ Trung Quốc.
    Tim ông có ba lỗ, đựng tình yêu một lỗ, chẳng chỗ nào ông chứa đựng mẹ cha;
    Ruột ông cuộn tám khoanh, lưng chữ nghĩa nửa khoanh, còn tất cả ông dồn cho tổ quốc.
    Nức tiếng văn hay;
    Lừng danh chữ tốt.
    Thời giặc giã hôm xưa từng bỏ bẫng thê noa;
    Dạo đấu tố năm nào chửa giết xong dòng tộc.
    Khi dưới thác trên ghềnh, phen đầu non cuối bãi, chữ trung trinh Bác Đảng sắt son;
    Lúc chân mây góc bể, dạo cữ gió tuần mưa, bài nghĩa bộc Nga Hoa làu thuộc.
    Hết khóc Sì Ta Lin Sì Ta Lỉn, lại khóc bác Mảo, bác Mao;
    Vừa than vãn bác Hổ bác Hồ, chưa kịp điếu chú Pôn, chú Pốt.

    Khá thương thay!

    Dịch thổ tả năm kia ông vẫn sống trơ trơ;
    Thượng mã phong phút nọ ông đành dông tuốt luốt.
    Giận cho lão Trời già;
    Căm thay ông thầy thuốc.
    Bẽ bàng sao hoa liễu trụ sinh;
    Trơ trẽn bấy xuyên tâm liên thần dược.
    Tài như ông chạy mặt Nguyễn Du;
    Dũng như ông đứng tim Thái Học.
    Già tám mươi cật dai bụng dẻo, thú trần ai sao vội buông xuôi:
    Non nửa tá vợ dại con thơ, mắt lợn luộc thôi đành trợn ngược.

    Tôi nay!

    Giận thì giận mà thương thì vẫn thương;
    Cười chẳng cười mà khóc không ra khóc.
    Bó hành đưa lợn xa chơi;
    Nắm nhang kính ông thẳng bước.
    Đừng tính thiệt ra hơn, bước chân đi cấm kỳ giở lại, nẻo âm dương quay lộn tới lui;
    Chớ nghĩ khôn hoá dại, vụng nước cờ hạ thủ bất hườn, thế chiếu bí phản hồi sau trước.
    Khổ cho tôi mà cũng nhục cho ông;
    Tủi thằng dân mà cũng đau cho nước.

    Thôi thì:

    Bát cơm hẩm, thịt ôi cúng các đảng, cho chó chó chê;
    Đĩa muối dưa, cà khú thí cô hồn, kính ông ông đớp.

    Đại thi hào sống khôn thác thiêng ra mà hốc.

    Thượng hưởng!