Gia Nã Đại Trong Lãnh Vực Truyền Thông Và Văn Nghệ – Bài Viết Hoàng Xuân Thảo, Từ Uyên Tham Luận

Truyền Thông Và Truyền Thanh

– Cú phone đầu tiên trên thế giới được thực hiện bởi Alexander Graham Bell gọi từ Branford, Ontario tới Paris cho người phụ tá là Watson ngày 10.8.1876: “ Mr. Watson, come here, I want to see you.” và ông được mệnh danh là cha đẻ của điện thoại.
Tuy nhiên ông không để điện thoại trong phòng làm việc vì ông cho là nó quấy rối sư yên tịnh. Nếu ông sống tới bây giờ khi nhìn thất mọi chỗ, mọi lúc, mọi người đều có trong tay một điện thoại di động thì không biết ông nghĩ sao? Bell còn thiết kế cho việc chế tạo máy bay Silver Dart bay cao hơn và lâu hơn chiếc máy bay của anh em Wright chế tạo sáu năm về trước.
– Điện thoại viễn liên được thực hiện bởi BlackBerry năm 1998, một công ty đứng hàng đầu về truyền thông, có trụ sở tại Waterloo.
– Thông điệp đầu tiên với Morse được gửi qua Đai Tây Dương tới Signal Hill, Newfoundland nhận được bởi Guclielmo Marconi ngày 12.12.1901. Điện tín đầu tiên tại Gia Nã Đại không dùng Morse thực hiện ngày 19.12. 1946 giữa Toronto và Hamilton, Ontario.
– Hệ thống điện thoại toàn Canada hoàn tất năm 1932.
– Điện thoại khẩn cấp đề xuất ra trước tiên ngày 21.6.1959 bởi Thị Trưởng Winnipeg Stephen Juba và số này là 999 sau được đổi ra là 911 từ ngày 22.6.1975.
– Hệ thống truyền tin do microwave thay thế cho cable được thực hiện lần đầu tiên giữa Nova Scotia và Prince Edwards Island ngày 19.11.1948.
– Đài truyền thanh thương mại đầu tiên tại Canada và có thể trên cả thế giới là đài Montreal XWA sau còn có tên là CFCF, CIQB và AM940 phát thanh từ 1919. Đài này đã ngưng họat động từ tháng 1.2010.
– Đài phát thanh truyền đi khắp Gia Nã Đại phát thanh bài nói chuyện của Thủ Tướng MacKenzie King với đồng bào ngày 1.7.1927.
– Nhạc lần đầu qua radio là bài “O Holy Night” do Fessenden diễn tấu bằng violin ngày 24.12.1906.
– Đài truyền hình đầu tiên tại Gia Nã Đại được thực hiện vào tháng muà hè 1932 tại Montreal nhưng chỉ được chứng kiến bởi rất ít người, tới tháng 10.1932 mới có hàng ngàn người coi. Tin tức về khí tượng chỉ được phát hình từ 6.9.1952.

– Trước kia mỗi vùng trong một nước cũng có thời gian khác nhau chưa kể trên toàn cầu thì thời khắc rất khác biệt. Sir Sandford Fleming đã nghĩ ra Standard Time khiến việc liên lạc giữa các vùng, giữa các nước được dễ dàng hơn rất nhiều.

Điện Ảnh Và Truyến Hình

– Bảng hiệu HOLLYWOOD tại Los Angeles, California từ năm1923 được thiêt kế bởi Mack Sennett, người Quebec vừa là diễn viên, vừa là đạo diễn và nhà sản xuất phim ảnh. Ông là đồng sáng lập viên Công ty Keystone và đã khám phá ra nhiều tài tử Hollywood trong đó có Charlie Chaplin.
– Dấu in tay trên nền xi-măng tại Hollywood trong đo có dấu tay của Mary Picford, người Toronto và chồng là Douglas Fairbanks được thực hiện ngày 30.4.1927. Bà được mệnh danh là “ America ‘ s Sweetheart.”
– Nụ hôn đầu tiên trên điện ảnh là do nữ tài tử May Irwin, người Whitby, Ontario trong phim ngắn “The Kiss”. Vụ hôn này đã gây ra một tai tiếng bởi nhiều khán giả.
– Hãng phim Warner Bross thành lập ngày 2.8.1892 là do ba anh em Jack, Albert và Sam Warner sinh tại London, Ontario. Hãng Warner Bross đã thực hiện cuốn phim đầu tiên trong đó âm thanh thu ngoài được phối đồng với âm thanh trong phim theo phương pháp synchronized sound. Đó là phim The Jazz Singer năm 1927.
– Tài tử điện ảnh người Canada đầu tiên là Florence Lawrence, Hamilton, Ontario trong phim The Broaken Oath năm 1909. Lawrence diễn xuất trong khoảng 300 phim còn được coi là tài tử điện ảnh đầu tiên của thế giới.
– Phim Canada ăn khách đầu tiên là phim “Ten Years in Manitoba” quay năm 1898 của nhà làm phim James Freer từ Anh di cư sang Canada năm 1888. Chính phủ Anh đã trợ cấp để Freer đem cuốn phim đi chiếu khắp nước Anh.
– Phim tài liệu đầu tiên: Nanook of the North, 1922 về cuộc sống của một nhóm người Inuit tại bên vịnh Hudson.
– Phim tài liệu đầu tiên được giải Oscar: Churchill ‘s Island, 1941 về cuộc chiến tại Anh.
– Tài tử được giải Oscar 2012 lớn tuổi nhất: Christopher Plummer, Toronto, 82 tuổi về vai phụ trong phim Beginners.
– Tài tử Donald Sutherland đóng trong phim Six Degrees of Separation lấy vợ là con của cựu thủ tướng Saskatchewan Tommy Douglas, cha đẻ ra chế độ bảo hiểm y tế phổ thông và toàn diện của Canada hiện nay.
– Đạo diễn và viết phim bản James Cameron, người Kapuskasing, Ontario đã thực hiện hai cuốn phim thu hoạch được bộn tiền nhất: Titanic năm 1997 và Avatar năm 2009. Phim Titanic thu được $ 2,186.8 triệu trong khi phim Avatar thu được $2,782,3 triệu.
– Hai anh em cùng được giải Oscar năm 1931, Douglas Shearer giải Âm thanh trong phim The Big House còn Norma Shearer giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất trong phim The Divorcee.
– Rạp chiếu bóng đầu tiên tại Bắc Mỹ khai trương ngày 1.1.1906 tại Montreal với tên rạp Ouimetoscope với 500 chỗ ngồi, vốn là một nhà hàng cải biến thành.
– Đại hội điện ảnh Toronto là đại hội lớn nhất tại Bắc Mỹ và thứ hai trên thế giới sau đại hội Cannes, đã tổ chức hàng năm từ năm 1976. Đại hội điện ảnh đầu tiên tại Bắc Mỹ là tại Yorkton, Saskatchewan tổ chức năm 1942.
– Ernie Coombs từ Pittsburgh tới Toronto , trở thành Mr. Dressup trong một chương trình TV của đài CBC kéo dài 29 năm từ 1967 tới 1996.

Báo Chí

– Tờ báo đầu tiên tại Canada: Halifax Gazette từ 23.3.1752.
– Nhật báo đầu tiên: Montreal Daily Advertiser, năm 1883.
– Nhật báo đông độc giả nhất: Toronto Star, khai trương dưới tên The Evening Star ngày 3.11.1892, hiện có số độc giả 350,000 không kể số ra ngày thứ Bảy lên tới 450,000.
– Tuần báo đông độc giả nhất: MacLean với khoảng 310,000 độc giả.
– Tạp chí lâu đời nhất: United Church Observer xuất bản từ năm 1829 dưới tên Christian Guardian tại Toronto.
– Hãng xưởng sản xuất giấy đầu tiên: tại St. Andrews, Quebec, năm 1805. Tại Canda hiện có khoảng 140 xưởng làm giấy với 85,000 nhân viên.
– Phóng viên Robert MacNeil, Montreal nổi tiếng trong chương trình của PBS “ Tường trình của MacNeil/Lehrer”, được ghi danh trong Television Hall of Fame 1999 và được giải thưởng Walter Cronkite về Báo chí năm 2008.
– Phóng viên báo chí đài ABC Peter Jennings được xem như người kiểu mẫu cho các phóng viên mới cuả các đài Hoa Kỳ.

Văn Chương

– Khi Thư viện Quốc hội được thành lập năm 1802 chưa có một cuốn sách nào của Canada để sưu tập trong đó. Một trong những cuốn đầu tiên của Canada là cuốn The Backwoods of Canada ấn hành năm 1836. Năm sau tới cuốn sách tiếng Pháp đầu tiên của Philippe Ignace Francois Aubert de Gaspe nhan đề L’influence d’un livre. Lần lượt tiếp theo là Roughing it in the Bush của Susanna Moodie năm 1852 rồi Anne of Green Gables của Lucy Maude Montgomery năm 1908 và tập thơ Confederation Poets gồm các thi sĩ đều sinh trong thập niên 1860 gồm Charles Robert, Archibald Lampman, Bliss Carman, Duncan Campbell Scott và William Wilfred Campbell.

– Cuốn tiểu thuyết đầu tiên: St. Ursula ‘s Convent của tác giả Julia Catherine Hart, Fredericton, xuất bản 1824 viết về di sản của hai nền văn hóa Anh và Pháp.
– Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đầu tiên: The Clockmaker của tác giả Thomas Chandler Haliburton, Windsor, Nova Scotia ấn hành năm 1836.
– Cuốn tiểu thuyết đầu tiên ăn khách nhất: Beautiful Joe: Autobiography of a Dog do tác giả Margaret Marshall Saunders, Milton, Nova Scotia ấn hành năm 1894, bán được 1 triệu bản.
– Cuốn Anne of Green Gables của Lucy Maude Montgomery ấn hành năm 1908 sau hơn 100 nămvẫn còn được tái bản và còn được chiếu trên TC theo mini series năm 2017. Tác giả ngoài ra cũng viết 530 truyện ngắn khác.
– Tiểu thuyết đầu tiên được giải Goncourt là cuốn Pélagie-la-charette ấn hành năm 1979 do tác giả Antonine Maillet, New Brunswick.
– Robert Munsch tại Guelph, Ontario được mệnh danh là “ Vua truyện trẻ em/ King of Kid-Lit” đã viết trên 40 truyện cho trẻ em, bán được 30 triệu cuốn, riêng cuốn Love You Forever bán được 18 triệu cuốn.
– Tác giả được giải thưởng Toàn quyền Canada đầu tiên năm 1936 là Bertram Booker với cuốn Think of the Earth, loại hư cấu và T.B. Roberton về một loạt bài trên báo.
– Tác giả được nhiều giải thưởng của Toàn quyền Canada là Hugh MacLennan và Michael Ondaatje, mỗi người được năm lần.
– Tiểu thuyết được giải Prix Femina Étranger đầu tiên là Gabrielle Roy, St. Boniface, Manitoba với cuốn Bonheur d’ occasion/ The Tin Flute lọai ngọai quốc năm 1945.
– Tác giả được giải Man Booker dành cho các công dân trong Liên Hiệp Anh là Michael Ondaatje với cuốn The English Patient. Truyện này sau được quay thành phim rất ăn khách, bán được cả triệu cuốn trong 12 nước và đoạt 9 giải Academy Awards.
– Nữ văn sĩ Margaret Atwood nổi tiếng với các cuốn The Handmaid’s Tale, Alias Grace.
– Trong thập niên 1960 văn chương đươc muà nở rộ nhiều bông hoa: Margaret Atwood, Alice Munro, Al Purdy vv…
– Văn sĩ Mordecai Richler nổi danh với cuốn The Apprenticeship of Duddy.
– Romance novel khởi đầu năm 1949 do sáng kiến của một người Winnipeg là Richard Bonnycastle. Hơn 3 tỷ cuốn đã bán ra trên 100 thị trường sách. Thịnh đạt nhất là khi trên nửa số sách tại thị trường Bắc Mỹ là romance novel do Harlequins xuất bản.
– Superman được sáng tạo bởi Joe Schuster, người Canada và Jerome Siegel, người Mỹ ra mắt lần đầu tiên năm 1938 với nhan đề Action Comics.
– Giải Nobel Văn chương: người được giải này đầu tiên là Saul Bellow, khôi nguyên năm 1976. Người thứ hai là nữ văn sĩ Alice Munro, năm 2013.
– Canada góp phần sáng tạo ra chữ nghiã mới, trong đó thông dụng là các tiếng mới như sau:
Canuck: danh từ chỉ người Canada, bluenoser: chỉ người Nova Scotia, double-double: chỉ coffee pha với 2 đường và 2 cream, down east chỉ các tỉnh duyên hải, drop the gloves chỉ đánh nhau, mickey chỉ chai rượu 375 ml, Texas mickey chỉ chai rượu 3 lít, toque hay tuque chỉ mũ nỉ mùa đông, poutine chỉ khoai tây chiên chấm với gravy, soft drink chỉ nước có chất carbonate vv…

Âm Nhạc

– Bản nhạc Canada top hit đầu tiên tại Mỹ là bản American Woman trình diễn bởi ban nhạc The Guess Who, Winnipeg, Manitoba trong ba tuần lễ May 9, 16 và 23, năm 1970.
– Bản nhạc O Canada được trình diễn lần đầu tiên ngày 24.6.1880 tại Quebec City. Bản nhạc sau trở thành quốc ca ngày 1.7.1980.
– Nữ nhạc sĩ Alanis Morissette, Ottawa với album 1995 Jagged little Pill đoạt bốn Grammy, Album of the Year và bán được 33 triệu bản.
– Nhạc sĩ Bryan Adams, Kingston, Ontario là nhạc sĩ đầu tiên bán được một triệu album Reckless năm 1984.
– Nhạc sĩ Shania Twain, Windsor, Ontario đoạt kỷ lục về country music với bản The Woman in Me, đưng top hit liền trong 29 tuần với số bán là 7.7 triệu bản.
– Ban Nhạc April Wine, Halifax đi tour với bản The Whole World ‘s goin’ Crazy sáng tác năm 1976 thu được một triệu đô-la. Đây là ban nhạc đầu tiên bán được 100,000 bản nhạc trên nên được thu lần đầu tiên bằng đĩa platinum vào tháng 9.1976.
– Nhạc sĩ Céline Dion, Charlemagne, Quebec là người đầu tiên được tặng đĩa vàng tại Pháp năm 1983 khi mới có 15 tuổi. Trong thời gian trình diễn thường trực tại Caesars Palace, Las Vegas từ 15.11.2011 tới 9.6.2018 nàng đã thực hiện 1.090 show.
– Nhạc sĩ được 5 lần trên bảng top hit là Justin Bieber, Stratford, Ontario. Bieber năm 2013 với album Believe Acoustic khi mới 19 tuổi. Các bản top hit khác là Under the Mistletoe, 2011, Never say never và The Remixes, 2011, My World, 2010.
– Anne Murray, Springhill, Nova Scotia là nữ nhạc sĩ đầu tiên năm 1970 được tặng American Gold Album (bán được 500,000).
– Nhạc sĩ Burton Cummings, một thành viên trong ban nhạc The Guess Who là người Canada đầu tiên có album Quadruple platinum tại Mỹ với album Dream of a Child năm 1978.
– Oscar Peterson, sinh tại Montreal năm 1925, đoạt hơn một chục giải thưởng trong đó có 8 Grammy, được nhiều nhạc sĩ coi là một trong những người chơi piano hay nhất thế giới.
– Leonard Cohen một nhạc sĩ nổi tiếng, rất được Bob Dylan khâm phục. Ông mất năm 2016, 82 tuổi trước sự thương tiếc cuả các nhạc sĩ trên thố giới. Trước đó Cohen làm thơ từ thập niên 1950 tới 1967 ông chuyển sang soạn nhạc.
– Nhạc sĩ Quebec Daniel Lanois họat động chung với Bob Dylan, U2, Neil Young, Willie Nelson, Emmylou Harris và Peter Gabriel, đoạt 11 Grammy. Ông cũng soạn nhạc đệm cho nhiều cuốn phim. Tạp chí Rolling Stone cho ông là người sản xuất nhạc vào tầm cỡ lớn nhất trong thập niên 1980.
– Nhạc ca sĩ Glenn Gould là một cây piano trứ danh tuy nhiên quan niệm về âm nhạc của ông lại gần như lập dị khi ông cho rằng nhạc sĩ Orlando Gibbons là nhà sọan nhạc vĩ đại nhất qua các thời đại và cho rằng Petula Clark nặng ký hơn ban Beatlles.
– Nhạc sĩ Ian Tyson nhận định rằng nhạc sĩ country music Gordon Lightfoot có ảnh hưởng sâu đậm trong lọai nhạc này hơn ai hết. Lightfoot có nhiều fan trong đó có Bob Dylan và Hoàng hậu Elizabeth. Một trong các bản nhạc tượng trưng cho ông là Canadian Railroad Trilogy.
– Ban nhạc nổi tiếng The Band gồm 4 nhạc sĩ Canada và 1 nhạc sĩ Mỹ. Ban nhạc thoạt đầu cộng tác với Ronnie Hawkins rồi Bob Dylan sau tách ra họat động riêng rẽ.
– Nhạc sĩ Toronto Aubrey Drake Graham soạn 154 ca khúc liệt kê trên Billboard Chart và đoạt thành tích nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc. Chỉ nội trong một tuần 24 bản nhạc trong top 100 là do ông soạn. Thân phụ ông, Dennis Graham là tay trống trong ban Jerry Lee Lewis.
– Nữ nhạc sĩ Sara McLachlan nổi danh qua album nhạc Surfacing được hai Grammy. Sarah cũng là người đầu tiên một nhạc hộn gồm toàn phụ nữ đi ngạo du trình diễn ba năm thu được $16 triệu trong đó trích ra $7 cho các chương trình bác ái.
– Nữ ca sĩ opera và hoà tấu Measha Brueggergosman giọng soprano nổi tiêng thế giới, đã trình diễn trước nữ hoàng Elizabeth II.
– Ca sĩ Ben Heppner từng trình diễn tại Metropolitan Opera, New York thay thế cho danh ca tenor Luciano Pavarotti trong bản Idomeneo của Mozart.
– Jazz Festival tại Montreal tổ chức mỗi năm vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 từ năm 1972 được coi hư lễ hội Jazz lớn nhất trên thế giới, quy tụ hơn 3,000 nhạc sĩ của 30 quốc gia trình diễn hơn 1,000 hoà tâu đã htu hút khoảng hai triệu khán thính giả.
– Lễ hội âm nhạc ngoài trời được tổ chức hàng năm vào giữa mùa hè từ năm 1993 tại Camrose, phía tây nam Edmonton, Alberta được Alberta Travel khoe là lớn nhất tại Bắc Mỹ với bốn ngày trình diễn country music.
– Lễ hội Elvis được tổ chức hàng năm tại Collingwood vào tháng Bảy để tưởng niệm Elvis Presley. Các nhạc sĩ tứ xứ tới tham dự đều có lối trình diễn và phục sức như Elvis để đoạt giải thưởng Elvis.
– Quebec Symphony Orchestra thành lập năm 1902 là dàn nhạc hoà tấu đầu tiên của Canada.
– Năm 1968 là năm được mùa âm nhạc của Canada: Joni Mitchell ra mắt album đầu tiên Song to a Seagull, The Band tung ra Music from Big Pink, Stepperwolf cho ra Born to be wild, và Magic Carpet Ride, Gordon Lightfoot: Did She mention my Name, Gilles Vigneault: Le Nord du Nord, Anne Murray: What about me, The Irish Rovers: The Unicorn, William Shatner: The transformed Man.
– Ca nhạc thường được trình diễn trong những giải chung kết về khúc côn cầu/hockey và các nhạc sĩ đã sáng tác 15 bản về hockey: Honkey the Christmas Goose trình bày bởi một cầu thủ của Toronto Leafs Johnny Bower, Gretzky Rocks bởi The Pursuit of Happiness, Fifty-Mission Cap bởi Tragically Hip, The Hockey Song do Stompin Tom Connors rất nổi tiếng:

Hello out there!
We’re on the air
It’s Hockey Night tonight
Tension grows
The whistle blows
And the pucks goes down the ice
The goalie jumps
And the players bump
And the fans all go insane
Someone roars
Bobby scores!
At the good of hoaket game.

– Năm 1971 sau khi đạo luật về hệ thống MAPL cho các nghệ sĩ về Music, Artist, Performanc và Lyrics tình trạng có vẻ sống động và phát triển cho các nhóm hay cá nhân như The Guess Who, Ian & Sylvia, Stan Rogers, Robert Charlebois, Murray McLaughlan, Bruce Cockburn, Beau Dommage, Bachman-Turner Overdrie, Loverboy, Bryan Adams, Rush, The Tragically Hip, Blue Rodeo, Avril Lavigne, Shania Twain, Barebaked Ladies, Sarah McLachlan, Alanis Morissette, Nickelback, Arcade Fire và nhiều nữa…
– Các buổi trình diễn của nhóm Don Messer ‘s Jubilee trên đài CBC rất được ái mộ trong suốt 10 năm nhưng sau đó bị đài ngưng lại và thay thế bằng chương trình khác bị khán thính giả biểu tình tại quốc hội đòi can thiệp. Một fan của ban nhạc là John Diefenbaker cũng biểu đồng tình là chương trìng ban nhạc nên được tiếp tục. Một thành viên trong nhóm Lorne Michaels sang New york lập ra chương trình Saturday Night Live rất thành công.

Sân Khấu

– Cuộc trình diễn đầu tiên trên sân khấu Bắc Mỹ xảy ra tại Port Royal, Nova Scotia năm 1606 do thi sĩ kiêm kịch sĩ Pháp Marc Lescarbot với vở Théatre de Neptune.
– Vở kịch đầu tiên do một tác giả khuyết danh Gia Nã Đại là vở Acadius trình diễn tại Halifax năm 1774, nội dung nói về sự ngọai tình của một doanh nhân với một người làm da đen.
– Toronto có nhiều hí viện tại Bắc Mỹ chỉ xếp hạng sau New York và xếp hạng thứ ba trên thế giới sau London, Anh Quốc.
– Công ty vũ nhạc Royal Winnipeg Ballet là công ty lâu đời nhất tại Gia Nã Đại thành lâp năm 1939 tại Winnipeg bởi Gweneth Lloyd và Betty Farrally.
– Stratford, Ontario có sân khấu trình diễn lớn nhất Bắc Mỹ hoạt động từ năm 1953. Riêng năm 2013, lễ hội tại đây đã thu hút 480,000 khán thính giả. Hiện nay lễ hội Shakespear tại Stratford là một trong các lễ hội kịch nghệ lớn nhất thế giới chuyên trình diễn các nhạc kịch của Shakespear.
– Kịch sĩ Christopher Plummer từng xuất hiện trong Iago in Othello tại Broadway và thường xuyên tại lễ hội Stratford. Ông còn đóng trong phim Sound of Music 1965 và là tài tử lớn tuổi nhất khi được giải Academy Awards năm ông đã 82 tuổi trong phim Beginners năm 2010.
– Năm 1955 kịch sĩ William Shatner xuất hiện tại lễ hội Shakespear tại Stratford trong Julius Caesar rồi năm sau trong Henry V cùng với Christopher Plummer. Hai tài tử Montreal này tái ngộ năm 1991 khi Plummer đóng vai tướng Chang trong Star Trek VI: The undiscovered County. William được giải Emmy do các trình diễn trên TV.
– Công ty Canadian Opera là công ty opera đầu tiên tại Canada thành lập năm 1950. Viện Canada’s Royal Conservatory of Music mở trường dạy opera năm 1946. Công ty National Ballet of Canada thành lập năm 1951 và trình diễn vở đầu tiên là Giselle.
– Diva đầu tiên là ca sĩ opera Emma Albani, nhũ danh Marie Louise Emma Cécile Lajeunesse, sinh tại Quebec có danh tiếng quốc tế sau những trình diễn tại Pháp, Ý, Anh, Mexico và Úc.
– Lễ hội Ca vũ nhạc Caribbean còn gọi là Caribana tại Toronto vào tháng 7-8 hàng năm là lễ hội Caribbean lớn nhất Bắc Mỹ kéo dài ba tuần với cái đinh là cuộc diễn hành.

Nhiếp Ảnh Và Hội Họa

– Bức ảnh về Gia Nã Đại đầu tiên là bức ảnh chụp thác Niagara vào tháng 4.1840 bởi hóa học gia Anh H.L. Pattinson khi thăm viếng Canada. Trong chuyến du lịch này Pattinson chụp tất cả 8 bức ảnh.
– Phòng triển lãm mỹ thuật đầu tiên tại Quebec City do họa sĩ Joseph Légaré mở năm 1833. Ông cũng được coi là hoạ sĩ đầu tiên vẽ phong cảnh của Gia Nã Đại với bức tranh thực hiện năm 1848 với nhan đề View of Fire in St. Jean District of Quebec City.
– Viện bảo tàng đầu tiên là do người Anh Thomas Barnett đã sưu tầm tranh từ đầu thập niên 1820 tại Niagara Falls, sau trở thành viện bảo tàng Niagara Falls.
– Viện bảo tàng lớn nhất Gia Nã Đại là viện Canada Museum of History tại Gatineau, Quebec có tới 5 triệu sử vật, thu hút hàng năm 1.3 triệu người thăm viếng. Tại đây đặc biệt có trưng bày các cột totem nhiều nhất trên thế giới.
– Winnipeg Art Gallery được coi là viện bảo tàng lớn nhất về các sản phẩm mỹ thuật của người Inuit với hơn 10,730 045 phẩm vật.
– Viện Bảo Tàng Hoàng Gia Tyrrel về khảo cổ học là viện lưu giữ lớn nhất thế giới các di vật của loài dinosaurs.
– Đại hội nhiếp ảnh hàng năm tại Toronto vào tháng 5 được coi là lớn nhất thế giới quy tụ 1,500 nhiếp ảnh gia Canada và thế giới khỡi đầu từ năm 1997 với số khán gỉa trung bình 1.8 triệu.
– Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Và Thiết Kế Ontario thành lập năm 1876 có tới 3,500 sinh viên toàn thời gian và 1,000 sinh viên bán thời gian.

– Nhóm Thất Bang/Group of Seven gồm bảy họa sĩ chuyên vẽ phong cảnh Canada thành lập sau Thế chiến I, 1920 – 1933, đã tạo nên một phong trào tìm vẽ những cảnh đẹp của Canada.(Nhóm Thất Bang)

Nhóm thọat đầu gồm có Franklin Carmichael (1890–1945), Lawrence Harris (1885–1970), A. Y. Jackson (1882–1974), Frank Johnston (1888–1949), Arthur Lismer (1885–1969), J. E. H. MacDonald (1873–1932), and Frederick Varley (1881–1969).
Tiếp theo là A. J. Casson (1898–1992) gia nhập năm 1926, Edwin Holgate (1892–1977) năm 1930, và LeMoine FitzGerald (1890–1956) năm 1932.
Hai hoạ sĩ khác được coi là có liên hệ mật thiết với nhóm Thất Bang là Tom Thomson (1877–1917) và Emily Carr (1871–1945.
Frederick Varley, A. Y. Jackson, Lawren Harris, Barker Fairley,
Frank Johnston, Arthur Lismer, va J. E. H. MacDonald. 1920

Hoàng Xuân Thảo

***

Đại Cương Về Văn Hoá Quebec Qua Cắc Thời Đại (Từ Uyên tham luận)

(Quebec City)

Ngay từ khi Jacques Cartiers và sau đó Samuel de Champlain đặt chân tới vùng đất mới, họ đã bắt đầu đặt nền tảng văn hoá tại đây.

Đặt tượng ghi chủ quyền nước Pháp và tuy đi không và về lại tay không qua ba kỳ thám hiểm nhưng ý đồ muốn bành trướng ảnh hưởng của Pháp cũng đã rõ. Và sau này Samuel Champlain qua và ở lại và từ nay liên hệ mật thiết hơn với thổ dân. Khai thác qua tinh thấn hợp tác, Champlain đã chứng tỏ được lòng tin của người Huron và nhờ đó tìm hiểu thêm địa lý và cũng tìm được mối lợi buôn da và lông thú, thu hút đưọc thêm người Pháp tới đông hơn.

Tuy nhiên các giáo sĩ cũng tìm cách phát triển tôn giáo tại đây và vô hình chung người gốc Pháp tuy không nhiều nhưng mang nặng ảnh hưởng vương quyền Pháp và thần quyền Thiên chúa giáo. Và họ cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng của văn hoá thô sơ của người bản địa dù người bản địa từ xưa tuy những người này chưa có chữ viết và tâm hồn còn đôi nét đơn giản.

Các cuộc hôn nhân lưỡng chủng cũng mang lại những điểm mới từ phương thức giao thông tới sử dụng các phương tiện và ảnh hưởng thổ ngữ cũng đáng kể.

Sau này khi hoàn toàn trở thành Nouvelle France và qua đợt chiến tranh với thuộc điạ Anh tại Mỹ quốc và với chính quân nước Anh, nhóm loyaliste ở lại định cư tại Quebec và cũng thay đổi nếp sống và văn hoá Quebec
Chúng ta thử tìm hiểu văn hoá khá phức tạp này qua các hình thức:
Văn chương
Âm nhạc
Kịch nghệ qua mỗi thời kỳ
Thời kỳ tiếp xúc với người Pháp qua các nhà thám hiểm.

Ông Jacques Cartier 1534 tới vùng đất mới này và ngoài việc xây cất một tượng đài tượng trưng cho chủ quyền Pháp và không mang được lợi ích nào cho Pháp và cho đất mới ngoài 5 chương của bản báo cáo về ba chuyến thám hiểm đất này. Cuốn Relation mà Lescarbot và Charlevoix sau này sao lục lại và cho rằng đây là có thể chính ông đã viết. Và bản báo cáo này được coi như bản văn đầu tiên về văn hoá nơi đất mới.

Samuel de Champlain 1608 tới Canada nhưng trước đó khi thăm Nam Mỹ đã viết một số The brief discourse nói về cuộc sống của thổ dân và coi như tài liệu xác thực nhất nhờ đó sau này khi gặp thổ dân tại Quebec ông đã đạt được một sự hợp tác chân thành của người Huron và nhờ đó việc buôn lông thú dễ dáng

Giai đoạn này có thể coi như Văn hoá hiếu hoà và văn chương chỉ gồm tài liệu tìm hiểu và giao dịch
Các giáo sĩ cũng bắt đầu tới và mong cảm hoá thổ dân theo tín ngưỡng mới

Ảnh hưởng cuả thương gia và giáo hội 1627-1662

Thấy công việc buôn bán dễ và thổ dân còn hiền hậu các thương gia lập hội Compagnie de la Nouvelle France do Hồng Y Richelieu giao cho khai thác đất này nhưng không đem lại một tài liệu văn hoá chỉ còn các giáo sĩ vừa truyền giáo vừa mở trường và mở các bệnh viện.

Marc Lescarbot năm 1609 viết thêm về Les murs de la Nouvelle France sau khi thăm vùng Acadi.
Baron de Lahontan viết về:”Dialogue avec un sauvage”

Giáo Sĩ Lafitan khảo sát về “Mœurs des sauvages comparées” và ông cũng cho biết người Pháp tới nơi này đã làm hư nếp sống hiền hoà của thổ dân bằng cách dùng ruợu và thuốc súng để đổi chác với lông thú khiến thổ dân bắt đầu biến cải.

Trong khi đó cha Francois de Laval viết “Mendements et lettres pastorales” và Monseigneur de St Valier cũng viết”Ordonnances et lettres pastorales” nhằm mang lại tôn giáo mới cho dân đất này.

Mặt khác các bệnh viện được giáo hội mở Quebec và Montreal cùng mang tên Hotel de Dieu. Bà Jeanne Mance phụ trách tại Montreal. Các trường học cũng mở và Margueritte Bourgeoys phụ trách. Cha Laval mở Seminaire du Quebec.

Giai đoạn này nhằm khai hoá thổ dân và văn hoá gồm bệnh viện và vài cuộc tham khảo tính tình thổ dân và mong nhờ tín ngưỡng giáo dục và y tế mong họ đổi nếp sống lưu động qua nếp sống tập trung.
Tuy nhiên tài chính vẫn do các thương gia nắm giữ.

Vương quyền và các qúy tộc 1663 – 1760.

Tới 1663 thấy cần có một cơ sở lớn hơn các thương gia bắt đầu qua giai đoạn buôn quan bán chức. Họ bán chức quyền cho một số dân Pháp muốn có chức phận hàm với một giá cao và sau đó cấp đất cho các vị này khai thác và mang tên hầu tước hay bá tước và khai thác các khoảng đất tới nay còn vô chủ. Các vương hầu này còn nhận lương bổng của thương gia. Có tới 300 chức quyền mới và các dân cũ trở thành người làm thuê và phải khai thác da thú xa hơn. Danh từ Coureur de bois bắt đầu xuất hiện và nhiều người này lập gia đình với thổ dân và số người lai bắt đầu hiện diện.

Trong thời gian này không thấy tài liệu văn chương nào và là giai đoạn nhiễu nhương, học đòi thói trưởng giả và bắt đầu bị chiến tranh đe dọa.

Văn hoá dưới thời thuộc Anh Quốc 1763 – 1867

Sau khi thua trận, Nouvelle France rơi vào tay người Anh và ban đầu người thua cuộc bị chèn ép. Bắt bỏ tiếng Pháp, bỏ đạo Thiên chúa và hội nhập vào Anh quốc hoàn toàn nhưng vì từ thời gian trước ngưới gốc Pháp ít học nên không có một bản văn nào chứng tỏ nét phản kháng. Nhưng hành động không tuân lệnh xảy ra và vì muốn an dân Tuớng Carlton đã xin ban hành Acte de Quebec trả lại quyền tín ngưỡng và quyền sử dụng tiếng Pháp cho dân Nouvelle France cũ nay trở thành Quebec.

Thế nhưng văn hoá gốc Pháp chưa trở lại vì nhóm thuộc địa Anh tại Mỹ xâm lấn và ở lại một phần tại Quebec và ảnh hưởng của nhóm loyaliste cũng không nhỏ.

Xã hội Quebec lại biến chuyển qua các cuộc tranh đấu, nổi dậy đòi quyền bảo vệ tiếng nói và tín ngưỡng. Papineau với những bài diễn văn trên Lập pháp Saint Laurent đã nói lên tinh thần tranh đấu và sau đó lãnh đạo cuộc nổi dậy tuy không thành nhưng thức tỉnh dân Quebec.

Thời gian này đã thấy một số tác phẩm văn chương ra đời;

Philippe Aubert de Gaspe cho ra cuốn “L’influence d’un livre”
Hector Bertholet viết “Mystères de Montreal” tả cảnh sa đọa của thành phố trái ngược với những lời của cha Casgrain khuyên các văn sĩ nên viết về giá trị, đạo đức

Trước ý đồ khuyên dân bỏ thôn quê ra thành thị nhằm bỏ các giá trị của nông thôn để trở về thành thị khiến tư tưởng của Durham một lần nữa muốn đồng hoá dân gốc Pháp cấm dùng tiếng Pháp và triệt bỏ Thiên chúa giáo lần này đã có các văn sĩ mà đầu đàn là Philippe Lacombe đã viết « La terre paternelle » theo đường hướng Roman de terroir ca tụng nông thôn, khuyên đừng đổ vào thành thị đang kỹ nghệ hoá và chuyển ngữ Anh đang thông dụng. Và ý định của Durham không thành nên sau cùng bản Hiến pháp 1867 ra đời và Quebec có một chỗ đứng mới.

Thời trở lại tỉnh bang Quebec trong liên bang Canada.

Tới 1867 khi hiên pháp Canada ra đời, tỉnh bang Quebec bắt đầu trở lại một khuôn mặt mới và văn hoá lúc này đã ấn tượng hơn.
Các tư tưởng về tự chủ đã rõ qua các tư tưởng không khác nhau như;.
Henri Bourrassa mong muốn Canada độc lập về chính trị và Anh không nên can thiệp vào nội bộ Canada và mong muốn người gốc Pháp và gốc Anh cùng chung sống hoà đồng
Lionel Groux cho rằng:
Gia đình là nền tảng học vấn.
Thiên Chúa Giáo bảo vệ niềm tin.
Canh nông là căn bản kinh tế Quebec.

Honoré Mercier muốn liên bang hoàn toàn không gây ảnh hưởng trên mọi lãnh vực của Quebec.

Tất cả các tư tưởng được bàn cãi rộng lớn trong toàn quốc.

Tuy nhiên chỉ thực sự tham gia đệ nhất thế chiến rồi du nhập nếp sống phồn hoa hậu chiến tiếp theo cuộc suy thoái kinh tế năm 1929, rôi sau đó lại trải qua thế chiến thứ hai, nhưng lần này nhờ kinh nghiệm trước, chính phủ liên bang trung ương đã phân quyền và áp dụng các biện pháp cung ứng cho dân nhiều quyền lợi cần thiết như y tế, trợ cấp xã hội, v/v

Tuy trải qua thời gian 14 năm đen tối do Duplessis và giáo hội đè nén nhưng sau cùng qua cuộc cách mạng thầm lặng do Jean Lesage chủ trương Quebec đã ra thoát tình trạng thiếu tiến bộ và văn chương, âm nhạc, kịch nghệ ngày nay vô cùng phát triển.

Theo thời gian về văn chương phải kể từ đầu thế kỷ thứ XX:

Nữ sĩ Francoise Gaudet Smet viết nhiều về đời sống phụ nữ nông thôn Gabielle Roy từ Manitoba qua đóng góp
Felix Leclerc văn sĩ và nhạc sĩ khuynh hướng đòi chủ quyền cho Quebec.
Gille Vigneault viết bài và nhạc ủng hộ chủ quyền Quebec.
Alice Parizeau vợ Jacques Parizeau gốc Ba Lan viết về đời sống dưới thời Hitler. Bài nổi danh nhất là: Les lilas fleurissent à Varsovie,
Nelly Arcan tương tự như Bùi Giáng của Việt Nam viết về Influence de l’image sur les femmes và La peur pour le vieillissement.
Artelle Couture viết về La fille de Calef.
Marie Laberge văn giản dị viết kịch và nổi tiếng qua L’homme gris và Le Faucon.
Denise Bombardier viết bình luận và phê bình.
Mordelcai Richter viết rất độc đáo về “Sur les petits finaciers juifs du quartier”
Guy Fournier đạo diễn điện ảnh.
Lise Payette nữ sĩ nổi tiếng trong đảng Parti quebecois và qua chương trình Appelez moi Lise.
Rene Bourgault cây viết quan trọng trong việc đòi tự chủ cho Quebec.
Gerald Godin thi sĩ và văn sĩ khuynh hường tự chủ Quebec.

Lãnh vực Âm Nhạc

Kể ra không thiếu vì tài năng quá đông chỉ xin kể một vài danh ca như sau.

Celine Dion đã mang về cho Quebec danh tiếng và tiền tài cho cá nhân. Trình dỉễn 1200 lần trong 15 năm và thu nhập tới 800 triệu, ca sĩ sinh năm 1968 tại thị trấn nhỏ bé Charlemagne đã tạo nên lịch sử. Đàn chị của tài năng này tại Quebec còn có Ginette Reno cũng không kém nổi tiếng rồi Diane Dufresne rồi Michele Richard, Marjo, Martine St Clair, và nay Marie Mai Bouchard đang nổi danh.

Nam nghệ sĩ cũng không thiếu:

Jean Pierre Ferland, Mario Pelchat , Roch Voisine, Gilles Vigneault, Daniel Lavoie,Michel Rivard, Robert Charlebois, René Simard, Felix Leclerc, Dan Bigras luôn luôn có mặt trong các cuộc đại hội và lễ lớn.
Thực ra còn rất nhiều và người gốc Việt cũng đóng góp vào kho tàng văn hoá Quebec. Michèle Viroly, Céline Galipeau, Kim Thúy, tác giả cuốn tiểu thuyết “RU” cũng được dân Quebec chú ý.

Gregory Charles và Normand Brachwaite gốc Trinidate cũng giữ nhiều vai trò trong nghệ thuật âm nhạc Quebec.

Tạm Kết

Ngày nay vào thời đại kỹ thuật mới các tư tưởng đòi hoàn toàn độc lập không còn cần thiết. Đảng Parti Quebecois do René Levesque nắm quyền lần đầu trong 9 năm và sau đó có lúc được Parizeau, Bouchard, Landry. Marois thay nhau làm thủ tướng Quebec, nay gần như tan rã với 9 ghế trong Quốc Hội Quebec và đảng Liberal do Robert Bourrasa nhằm chống trả Parti Quebecois nay cũng không còn đông đảng viên và xã hội Quebec hình như đang đi vào thực tế mong muốn kinh tế phồn thịnh và tôn giáo hoà đồng và đa văn hoá nhưng rất tiếc chính phủ Francois Legault của đảng Coalition amelioration du Quebec còn vài phần tử quá đam mê trong việc hủy bỏ huy hiệu tôn giáo trong ngành y tế, giáo dục và tư pháp khiến cảm tưởng kỳ thị có phần ló dạng.

Ước mong vài nhận định vừa viết về các diễn tiến của văn hóa Quebec đáp ứng được vài ý muốn của các bạn.

Từ Uyên

Share this post