Hữu Loan Và Hoa Sim – Trần Văn Giang

Lời giới thiệu:

1- Nói đến tội ác của CSVN thì nhiều lắm. Khi còn nhỏ tôi đã chứng kiến tận mắt những cảnh giết người rất dã man của du kích và những viên chức ở trong các làng xã. Điều làm tôi suy nghĩ mãi vẫn không hiểu là họ (Đảng CSVN) làm cách nào mà có thể đào tạo những người dân quê thật thà chất phác trở nên hung ác dã man như thế. Tôi cũng không hiểu họ (Đảng CSVN) làm cách nào mà nhồi sọ những Đảng Viên Đảng CSVN xem ra rất thông minh, có bằng cấp Giáo Sư hay Tiến Sĩ mà vẫn không biết hay không tin những tội ác mà Đảng CSVN đã áp dụng cho các lãnh tụ Đảng Phái ngày xưa và các người dân chỉ có vài ba sào đất được gọi là Địa Chủ là sự thật. Cho đến bây giờ, một phần lớn các Đảng Viên vẫn tin Đảng CSVN là ‘Đỉnh Cao Trí tuệ,’ là ‘Vinh quang bách chiến bách thắng’ (!?)

Thế mới lạ lùng!

Câu chuyện của Nhà Thơ Hữu Loan kể dưới đây chỉ là một trong những nỗi đau thương cùng cực của một số nạn nhân ở thôn quê bị liệt vào hàng địa chủ. Gia đình tôi cũng bị như thế.

Sau năm 1975, rất đông Sĩ Quan của VNCH bị đưa ra Bắc làm Lao Động khổ sai – được che đậy dưới cái tên là “Cải Tạo” – ở các Trại Tù khắc nghiệt như Cổng Trời, Hoàng Liên Sơn v..v… kể lại, khi đi làm lao động trong rừng, thỉnh thoảng họ gặp một vài người trước đây là Địa Chủ đã không bị hành quyết nhưng đã bị đưa lên các Vùng Rừng Sâu nước độc để chết dần chết mòn ở đó. Nhưng chưa chết, họ vẫn còn sống nhưng cuộc sống của họ không hơn con vật là bao nhiêu. Họ rất nghèo đói với thời tiết khắc nghiệt của Vùng Cao Nguyên Biên Giới.

Mời xem chuyện Hữu Loan kể. Thiết tưởng những điều nhà thơ Hữu Loan nói ra không phải là để tuyên truyền chống lại Đảng CSVN mà chỉ là một sự thật đã chạm vào đời sống của Ông.

(theo Ng.)

2- Vào trước năm 1975, bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” chỉ phổ biến ở miền Nam và được nhiều nhạc sĩ nổi danh miền Nam phổ nhạc. “Màu Tím Hoa Sim” đã thật sự làm rung động thật sâu xa rất nhiều con tim người người đọc vì câu chuyện tình yêu có thật trong thời chiến của một đôi vợ chồng.

Cùng thời điểm (trước năm 1975), tại miền Bắc, bài thơ “bất hủ” này đã bị chỉ trích là có tính lãng mạn, ủy mị, nặng giai cấp tiểu tư sản (?!) và dĩ nhiện bị cấm, không được phép phổ biến; Ngoài ra, thi sĩ Hữu Loan còn bị kiểm điểm, ngờ vực, trù dập, bao vây kinh tế và sống đời sống rất khốn khổ như một con chó…

Nhưng cuối cùng, sau năm 1975, khi hai miền Nam Bắc không còn cách biệt nữa, người dân miền Bắc mới được “giải phóng” thực sự và có dịp được đọc lại bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” cũng như được nghe những bản nhạc rất hay được phổ từ bài thơ này.

Tiếp theo sau đó, những chi tiết đằng sau bài thơ chưa ai biết đến đã lần lượt được tìm hiểu và phổ biến từ chính tác giả và các nhân vật còn sống sót được kể trong bài thơ.

(TVG ghi lại)

*

Hữu Loan và Hoa Sim

“Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh…”

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ duyên được cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người, nhờ ông mà năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – tôi chơi ngông vác lều chõng ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo tự học cũng có thể đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi chẳng có ý định dấn thân vào chốn quan trường.

Với mảnh bằng tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà Tham Kỳ chú ý, vời về nhà dạy kèm cho hai đứa con nhỏ. Bà là vợ ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. ở Thanh Hóa, bà Tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt đến (theo Lê Thọ Bình).

Bà Tham Kỳ là một người hiền lành tốt bụng, đối xử với tôi rất đàng hoàng, tử tế, coi tôi chẳng khác người nhà. Nhớ lại ngày đầu tiên khoác áo gia sư,bà gọi mãi, đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to , đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đó nhưng ít nói và mỗi lần mở miệng là cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt, em chăm sóc tôi hàng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng ướt em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt….

Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em dỗi! Suốt một tuần liền em nằm lì ở buồng trọng không chịu học hành… Một hôm bà Tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện cho em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy, ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi đưa tôi lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy, còn yếu lắm, không đi được đâu!” Em không chịu, nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà Tham Kỳ đưa em lên núi chơi….

Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc con, tôi đuổi theo muốn đứt hơi! Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời.Không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt, em hỏi tôi:

– Thầy có thích ăn sim không?

Tôi nhìn xuống sườn đồi, tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.

– Thầy ăn đi!

Tôi cầm quả từ tay em đưa lên miệng và trầm trồ:

– Ngọt quá!

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật, tôi chưa bao giờ được ăn những quả sim ngọt đến thế!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà Tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi…. Lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tội Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… Rm vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại cho tới khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận tin tức ở quê lên, cho biết em vẫn khoẻ và đã khôn lớn. Sau này, bạn bè còn kể lại, khi em mới 15 đã có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều nhưng em không nói gì chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp…

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không “môn đăng hộ đối”. Mãi sau mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, “không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn”, bảo rằng là: “Yêu nhau, thương nhau cốt cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại… đẹp giai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo.

Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi đi thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, tôi quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm về trước nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khụy xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: hôm đó là ngày 25 tháng Năm âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em đi vào lòng nó, cuốn đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không có gì bù đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Nỗi đau ấy tôi phải dấu kín trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn…

Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư gì cứ nói hết ra. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi có dịp bung ra. Khi ấy, chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi, chép. Chẳng cần phải suy nghĩ, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh…
… Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây chắc bạn đọc đã biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916, hiện tại đang ở nhà trông vườn ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi mới viết nổi những câu chiều hành quân / qua những đồi hoa sim / những đồi hoa sim dài trong chiều không hết / màu tím hoa sim / tím chiều hoang biền biệt và chiều hoang tím có chiều hoang biết / chiều hoang tím tím thêm màu da diết…

….

Tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó khóc như vậy nó cho là khóc cái tình cảm riêng… Y như trong thơ nói đấy: Tôi lấy vợ rồi đi bộ đội, mới lấy nhau được có hơn tháng, ở nhà bà ấy đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc. Bài thơ ấy, lúc bấy giờ nó cho là phản động, làm thơ là phải làm về cộng sản (…) chớ không được khóc cái đau riêng của mình… Cái đau khổ riêng của con người tại sao lại không được khóc!?

….

Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Vitek VTB đột nhiên ra đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn văn hóa. Thì cũng được đi.

(…) Sau vụ này, cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy tập thơ khác nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán!

Hữu Loan

(Nguồn: Việt Luận 14/9/2007)

*

Bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”

Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

(Theo bản đăng trên Thivien.net)

__________________

Phần đọc thêm:

Ba “Người anh đi bộ đội” trong bài “Màu Tím Hoa Sim“ của Hữu Loan

Trung Tướng Việt Cộng (Phạm) Hồng Cư chính là một trong ba người anh, là anh trai của nhân vật “nàng” được nhắc đến trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”. Trong buổi chiều tiễn đưa nhà thơ Hữu Loan về nơi an nghỉ cuối cùng, ông đã ôn lại những kỷ niệm về tác giả, về một thời đã đi vào quá khứ. Hơn ai hết, Trung Tướng Hồng Cư thuộc nằm lòng bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” dù bây giờ ông đã 85 tuổi. Ông Phạm Hồng Cư kể:

– Tôi là người anh thứ hai của nhân vật nữ trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim.’ Bài thơ bắt đầu bằng câu:

“Nàng có ba người anh đi bộ đội.”

Ba người anh ấy là những ai? Người anh thứ nhất là Lê Đỗ Khôi, anh cả của chúng tôi, nguyên là chính trị viên tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 165, Đại Đoàn 312, hy sinh tại Điện Biên Phủ trước giờ chiến thắng đúng 5 tiếng đồng hồ.

Tôi là người anh thứ hai trong bài thơ. Tên khai sinh của tôi là Lê Đỗ Nguyên. Nhưng khi đi bộ đội, tôi ở Tiểu Đội Phạm Hồng Thái nên tất cả anh em trong tiểu đội đều đổi họ Phạm Hồng. Do vậy, tôi có cái tên thứ hai là Phạm Hồng Cư, cũng là cái tên thường dùng trong quân đội.

Người anh thứ ba là Lê Đỗ An, sau này là bí thư thường trực của Trung Ương Đoàn Thanh Niên nên đổi tên là Nguyễn Tiên Phong, khi mất ông là phó ban Dân Vận Trung Ương.

Còn nhân vật “Nàng” ở đây chính là em gái tôi: Lê Đỗ Thị Ninh – chứ không phải là Đỗ Thị Lệ Ninh như báo “Thanh Niên” đã đề cập. Em tôi là người thứ tư trong gia đình và đã mất (vì chết đuối) trong khi ở khu sơ tán ở huyện Tĩnh Gia, thời Kháng chiến chống Pháp.

Trần Văn Giang (ghi lại)

Share this post