Huyết Hoa Cộng Sản – Thượng Quân Lê Văn Sắc

Thời đại của tôi bắt đầu từ năm 1950, là năm tôi bắt đầu biết đọc sách vở chính trị, đặc biệt là lịch sử và các diễn biến lịch sử mà tôi luôn bị quay cuồng trong ấy, kể từ việc phong trào Việt Minh xuất hiện, lãnh đạo cuộc chiến chống xâm lăng… với các chuyển động làm sao động làng quê, đặc biệt với tâm hồn tuổi trẻ ngây thơ… Việc cụ thể là việc Bộ Đội Việt Minh, Bộ Đội Địa Phương Quân, kéo về làng, đến đóng tại nhà ông bác tôi, ông Lý Quế, một nhà giầu có, có nhà ngói cây mít, cây đa cổ thụ với rễ mọc sù sì thả lỏng xuống mặt sông trên bến nước trước nhà. Ông Lý Quế là lý trưởng của làng, mà theo lời mẹ tôi kể thì nguyên do là ông ngoại tôi, cụ Đặng Đình Tước, một Chánh Trương Nhà Thờ Công Giáo, có uy tín, quen lãnh đạo “nhà thờ” với các giáo dân chất phác, ban ngày, khi trời còn mờ sáng đã vội vã ra đồng làm việc để có được mấy giờ đồng hồ không bị cái nóng đốt cháy cái lưng (gửi lưng cho trời, đổi mặt cho đất) và tới chiều tà, thỉ bảo nhau về ăn uống vội vàng (mà người ta thường nói lùa vài ba hột cơm vào bụng rồi vội chạy đến nhà thờ củng nhau làm nên ngôi nhà thờ “đẹp nhất làng” với kiến trúc mà sau này tôi được biết đó là lối kiến trúc kiểu Gothic, là kiểu kiến trúc của các nhà thờ Công Giáo vào thời kỳ trung cổ (thời kỳ phục hưng) (từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16). Tôi không biết nhà thờ các nước Âu Châu làm bằng nhiên liệu gì, nhưng theo lời kể của một vài ông anh lớn tuổi trong làng thì nhà thờ làng tôi làm cốt tre, vách làm bằng vôi trộn với mật ong hay bùn đất…

Nhờ ông ngoại làm Chánh Trương Nhà Thờ, biết chỉ huy, quen chỉ huy giáo dân nên trong làng đã bầu cụ làm Lý Trưởng, rồi cụ về hưu, con trai thì không có khả năng, nên cụ nhường cho con rể lớn là ông Bá Hoãn (Trần Văn Hoãn) làm lý trưởng, sau khi ông Bá Hoãn về hưu thì ông ngoại tôi lại đề cử ông Trần Phạm Quế thay thế làm Lý Trưởng. Thời ông ngoại tôi làm lý trưởng thì mẹ tôi (lúc đó còn trẻ) thường giúp ông ngoại tôi đánh trống (trống cái của trống ngũ liên đặc biệt của làng tôi) thúc giục dân làng đem lúa đến đóng thuế (cho triều đình). Đến thời 1950 thì có Bộ Đội Việt Minh đến đóng trong làng, trong nhà ông Lý Quế (nhà ngói 3 gian), có sân gạch rộng, đem chiến tranh đến làng, và chúng tôi phải chạy loạn. Lúc đó, tôi mới lên 9 tuổi, chị tôi Lê Thị Ngà 14 tuổi, còn em tôi Lê Văn Thu 5 tuổi. Nhà tôi có thuyền nan (làm bằng nan tre) bơi qua sông rồi chúng tôi đổ bộ lên đê (con đường đắp cao hơn mặt nước cả 2 ngũ (khoảng 2-3 thước tây) rồi mẹ tôi thì gồng gánh một bên là một thúng (của tuế nhuyễn), một thúng thì em tôi ngồi trong đó, còn chị tôi thì đội một cái thúng đựng quần áo gì đó, có lúc chúng tôi phải lội sình, nước ngập đến trên đầu gối, còn bố tôi thì cũng có một gánh “đồ tuế nhuyễn” gì đó, sau khi đánh chìm thuyền ở gần bờ sông, để quân Pháp khỏi trưng dụng chở quân lính qua sông… Đến chiều thì êm, Tây không thấy tới, chúng tôi lại mò mẫm chạy về. Đó là lần tản cư độc nhất, còn các lần sau thì không chạy nữa vì thấy Tây cũng tốt, chẳng sách nhiễu gì, nhất là làng Công Giáo (ngoài bến), trong quân đội Pháp có các cha tuyên úy Pháp, mà ông Quản Ngự làm Lý Trưởng, người Công Giáo, gốc cũng là Chánh Trương Nhà Thờ. Đặc biệt, thời đó, ông Quản Ngự làm Lý Trưởng “Hội Tề” với Pháp thì người cháu ruột (Công Giáo) là ông Cảnh Phương (cảnh đây là chức cảnh lại làm trưởng Ban Trật Tự và Tự Vệ Làng, làm chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Thôn (Việt Minh) nên làng được yên ổn…

Cho đến năm 1954, Việt Minh, nhờ quân Trung Cộng đánh giúp và nhờ vũ khí Liên Sô, đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ, Việt Nam bị chia đôi, miền Bắc cho Việt Minh (vì được lợi thế ở gần Trung Cộng), còn Quốc Gia thì được miền Nam (nguyên do là miền Nam bị ảnh hưởng Công Giáo nhiều hơn). Thế là Việt Minh thắng ở miền Bắc, trong khi người dân 2 miền có thời hạn 300 ngày để đi cư (tiếng Quốc Gia) vào Nam hay tập kết (tiếng Việt Cộng) ra Bắc. Trong thời gian ấy, phúc đức cho chúng tôi là Việt Minh giở trò đấu tố ngay, chúng tôi biết bộ mặt thật của VC nên bảo nhau bồng bế vô Nam. Lúc đó, theo tin loan truy ngoài đời, toàn Việt Nam có 24 triệu dân, nhưng theo tài liệu sau này, lúc đó Việt Minh chiếm được miền Bắc với 17 triệu dân, còn miền Nam chỉ có 13, 14 triệu gì đó…

Nhà tôi có ông Bác là ông Lý Quế nhà giầu (giầu là thế nào? Chắc là có nhà ngói, cây mít), có của ăn của để và từng giúp nuôi, chứa bộ đội Việt Minh và nuôi ăn những người đói năm Ất Dậu 1945, cứu được khá nhiều người, nên bị quy là địa chủ bóc lột. Trước ngày Việt Minh chiếm được Miền Bắc thì ông Cảnh Phương hay đến nhà tôi ăn bún, uống rượu nhắm với đậu hũ (đậu hũ khăn), mà buồn cười là nếu ông Quản Ngự (Trần Văn Ngự, chú) đến nhà tôi ăn bún, uống rượu nhắm với các khăn đậu hũ thì ông cháu Việt Minh Cảnh Phương (Trần Văn Phương) không đến. mấy lần, ông Cảnh Phương bảo với bố mẹ tôi (mà tôi ngồi bên nghe rõ) là làng sắp đấu tố ông Lý Quế… Lúc đó tôi còn nhỏ, trong lòng cứ thắc mắc là Việt Minh làm cái gì cũng bí mật, thế mà sao ông Cảnh Phương cứ bảo cho bố mẹ tôi biết nhà ông Lý Quế sắp bị đấu tố? Sau này, lớn lên, tơi mới hiểu dụng ý của ông Cảnh Phương là nhờ mẹ tôi báo cho ông bà Lý Quế là mau tìm cách trốn chạy đi, để khỏi bị đấu tố, vì chính ông Cảnh Phương, cũng là người Công Giáo, không muốn giết người, nhúng tay vào máu… Hình như ông Cảnh Phương cũng có họ với bên gia đình mẹ tôi và bà Lý Quế (bà Lý Quế tên là Đặng Thị Hòe, chị thứ tư, còn mẹ tôi tên Đặng Thị Lan, em út, con ông Chánh Trương, Lý Trưởng Đặng Đình Tước. Còn người anh cả của mẹ tôi là ông Chánh Cầu Đặng Đình Cầu cũng làm Chánh Trương nhà thờ. Có một điều mà tôi nghĩ là phía Ngoài Bến Công Giáo, vì có nhà thờ rộng rãi, có ông Chánh Trương có trình độ văn hóa cao nên hay mở lớp dậy học cho con trẻ, do đó, các con rể của ông cũng là những người có văn hóa cao hơn, nên mới làm lý trưởng làng và chánh trương nhà thờ được. Chính vì vậy mà tôi, em tôi, bạn Trần Văn Mai (con ông Quản Ngự), Trần Văn Cư, Trần Văn Chung (con ông Sừ) là cháu gọi ông Quản Ngự là bác ruột cũng được học trường học của giáo họ (chưa được là Giáo Xứ, lớn hơn) cho nên sau này anh em tôi, các em anh Trần Phạm Tùng: Trần Phạm Kha (Trần Phi Cơ), Trần Văn Sạ (Trần Cao Sạ)… vào Miền Nam đã học lên được Đại Học (Võ Bi Đà Lạt khóa 20, Sĩ Quan Hải Quân và Đại Học Y Khoa).

Đến tháng 8-9 năm 1954, sau khi Việt Minh chiếm được Miền Bắc thì ra mặt công khai đấu tố. Sau nhiều lần “bắn tin qua mẹ tôi bảo gia đình ông Lý Quế sắp bị đấu tố để ông bà Lý Quế trốn đi mà ông bà Lý Quế vẫn không trốn đi, trái lại các anh Trần Phạm Tùng, Trần Phạm Đồng, Trần Phạm Kha, Trần Văn Sạ vẫn về làng sinh sống, thì ông Cảnh Phương phải tính… Mà cách tính của ông Cảnh Phương là bầy trò “bình nghị” chứ không đấu tố, nhưng khung cảnh cũng dữ dằn lắm, y như đấu tố thật, chỉ khác là ép các lực điền với các cô làm công lên tố cáo ông Lý Quế nhiều tội, nhưng không cho lệnh giết, vẫn thả cho về nhà mà đặc biệt, không cử du kích canh gác nhà, vì nếu có du kích canh gác nhà thì ông bà Lý Quế củng các con Tùng, Đồng, Vân, Ngọc, Kha, Sạ làm sao mà đi được lên Hà Nội, ra Hải Phòng rồi vào Nam? Đặc biệt nữa, nhà ông bà Lý Quế cũng không có người canh gác nên mẹ tôi và chị tôi (Lê Thị Ngà) đã xuống nhà gánh lúa đi bán dùm cho ông bà Lý Quế, kéo vàng (làm thành vòng đeo tay to bằng ngón ta giữa người lớn, đàn ông) mà chị tôi phải đeo, đem vào Nam cho bà Lý Quế rất nguy hiểm. Đó là trị giá nhà giầu “bóc lột” mà chỉ có tài sản là lúa gạo, bán mua được một cái vòng vàng như vậy!!!

Dĩ nhiên vô Miền Nam thì được sống an bình, tay làm hàm nhai với các nghề lao động chân tay chứ ở Ngoài Bắc thì cha mẹ cũng chỉ lao động với nghề nông hay buôn thúng bán mẹt mà thôi nhưng được cái yên bình suốt 9 năm dưới thời TT Ngô Đình Diệm, con cái (chúng tôi) được đi học miễn phí hoàn toàn nên mới lên được đại học, sau này có công ăn việc làm dưới thời Việt Nam Cộng Hòa khá an bình của TT Nguyễn Văn Thiệu, mà lòng vẫn nơm nớp lo sợ Việt Cộng đánh tới, mà VC đánh tới thiệt vào Tết Mậu Thân 1968 và ngày 30-4-1975, tôi lại phải đem mẹ già và các cháu con bà chị chạy loạn, còn bố tôi thì can đảm ở nhà, lo tiếp tế cho mẹ tôi và các cháu… Và bước cuối cùng, anh em tôi phải bỏ cha già, mẹ yếu, đem con cháu vượt biên năm 1979, tưởng không có dịp gặp lại…

Cả cuộc đời tôi, sống qua bao nhiêu chế độ, từ làng xã thôn ổ, từ chế độ quân chủ phong kiến, qua chế độ thực dân Pháp xâm lăng, chế độ đệ nhất và đệ nhị cộng hòa… chưa bao giờ thấy chế độ nào khốn nạn và tàn ác như chế độ cộng sản (Việt Cộng)…

BS Thượng Quân Lê Văn Sắc

Share this post