Jerusalem Mùa Giáng Sinh – Hà Bắc

Trong mùa Giáng Sinh năm 2017, Jerusalem được mang lại danh xưng là “thủ đô của Do Thái” bởi Tổng Thống Donald Trump của Hoa Kỳ, cường quốc đầu tiên chính thức công nhận danh hiệu này hôm 6/12/2017; sau đúng 70 năm tái lập quốc gia của người Do Thái hồi 1947. Danh hiệu này đã được David Ben-Gurion, thủ tướng đầu tiên của Do Thái chính thức tuyên bố hôm 5/12/1950 trước Quốc Hội Knesset của nước này. Quyết định của Tổng Thống Trump không có gì mới mẻ. Nó chỉ là kết thúc có hậu của đạo luật “Jerusalem Embassy Act” của Quốc Hội Mỹ; phê chuẩn hôm 8/11/1995; quy định rằng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ phải được di dời đến “thủ đô Jerusalem của Do Thái”; hạn chót là ngày 31/5/1999.

Theo Thượng Nghị Sĩ Chuck Grassley, đạo luật có mã số “Public Law 104-45-Nov.8, 1995” đã được bỏ phiếu hôm 23/10/1995 với 374/37 phiếu thuận tại Hạ Viện và 93/5 phiếu thuận tại Thượng Viện; trong đó có lá phiếu của chính ông. Hạn chót ấy đã bị đình hoãn mỗi 6 tháng theo điều 7 của đạo luật; kể từ 1/10/1998 bởi các Tổng Thống Mỹ Bill Clinton, George W. Bush, Hussein Obama và của chính TT Trump hôm 1/6/2017; lần đầu và là lần duy nhất.

Hôm 5/6/2017 để đánh dấu 50 năm ngày Jerusalem thống nhất (27/6/1967-27/6/2017), Thượng Viện Mỹ đã ra một nghị quyết tái xác định và cổ động thi hành đạo luật “Jerusalem Embassy Act” này với tuyệt đại đa số phiếu 90/0. TT Trump sau đó đã ký “Presidential Memorandum No. 2018-02” tạo điều kiện thuận lợi về ngân sách cho Bộ Ngoại Giao di dời Tòa Đại Sứ Mỹ. Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Rex Tillerson tuyên bố sẽ thi hành ngay lập tức. Tuy nhiên trên thực tế, các thủ tục chọn địa điểm, thương thảo mua bán đất, lập đồ án xây cất và mướn nhà thầu thi công tiến hành nhanh nhất cũng phải mất vài năm.

Jerusalem có lịch sử ra sao?

Theo khám phá mới nhất năm ngoái 2016 của một nhà khảo cổ, Jerusalem có dấu tích cho thấy cách nay 7,000 năm; thời đại Chalcolithic đã có người định cư ở đây. Cơ quan Israel Antiquities Authority xác nhận các vật liệu bằng đá và sành sứ cho thấy “City of David” là một thực thể có từ thiên niên kỷ thứ 4 thuộc thời đại Copper Age và có sự hiện diện của cư dân từ thiên niên kỷ thứ 5. Tuy nhiên bằng chứng trung thực nhất xác định sự hiện diện của thành phố này là từ thời Bronze Age (3000-2800 BC). Tài liệu sớm nhất của Abdi-Heba thời Amarna hồi thập niên 1330s BC, thế kỷ 14-BC đề cập đến tên thành phố này là “Rusalimum, Urusalim”; sau trở thành “Urusalima” (City of Shalem) thời thần Canaanite (2400-BC).

Trong Kinh Thánh, thánh sử Joshua có đề cập đến “Yerushalem” hay “Yerushalayim” do Abraham đặt tên. Tên “Jerusalem” được tìm thấy trong Kinh Thánh ngôn ngữ Hebrew thế kỷ 6-7BC tại Khirbet Beit Lei gần Beit Guvrin hồi năm 1961. Người Ả Rập gọi Jerusalem là “Qudsi” hay “Maqdisi” xuất xứ từ chữ “al-Quds” dịch ra từ Hebrew và Hy ngữ có nghĩa là “Holy”. Vắn tắt mà nói, Jerusalem trải qua nhiều giai đoạn hình thành, phát triển và hủy hoại. Thành Jerusalem từng bị phá hủy ít nhất 2 lần, bị tấn công 52 lần, bị vây hãm 23 lần, bị chiếm và tái chiếm 44 lần trong lịch sử 3000-5000 năm của nó.

Các giai đoạn và thời điểm chính gồm: Có dân định cư 3000-4500BC, có tên City of David (vua Do Thái) 1010 BC, có tường thành phân chia theo sắc tộc và tôn giáo 1541, bị cai trị bởi đế quốc Thổ Ottomans (tk 16-19AD), là thuộc địa của Anh (1917-1948), được quản lí bởi Israel-Jordan (1948-1967), thống nhất vào tay Israel sau cuộc chiến sáu ngày hồi 1967 do Tướng Moshe Dayan chỉ huy. Hiện Jerusalem có diện tích 125,156km2, Old City 652km2. Tỷ lệ dân số năm 2016: Jews 64%, Arabs 35%. Thị trưởng Jerusalem (thống nhất) hiện nay là Nir Barkat (Do Thái). Chính quyền Palestine cho rằng Đông Jerusalem chỉ bị tạm chiếm bởi Israel và sẽ có ngày trở thành thủ đô của họ cho nên cũng đề cử Thị Trưởng (trên danh nghĩa) Zaki al-Ghul.

Theo Kinh Thánh, vua David cai quản Israel suốt 40 năm. Con trai Solomon kế ngôi đã xây Đền Thánh (lần đầu) trên núi Moriah thuộc Jerusalem; sau bị phá hủy hồi 586BCE bởi quân Babylon. Sau khi Salomon mất, mười bộ tộc ở phía bắc Israel tách khỏi vương quyền trung ương và rời Jerusalem ra lập quốc gia riêng. Các bộ tộc phía nam ở lại Jerusalem lập ra nước Judah với Jerusalem là thủ đô. Khi Israel bị sắc tộc Assyrians xâm chiếm hồi năm 722 BCE, Jerusalem có thêm dân tỵ nạn từ miền bắc xuống. Jerusalem được vua Artaxerxes I của Persia cho tái xây dựng làm thủ đô của Judah và nơi thờ tự của dân Do Thái.

Jerusalem phải qua tay nhiều triều đại xâm lăng khác nữa. Khi Alexandre Đại Đế đánh bại đế chế Persian, Jerusalem và xứ Judah được đặt dưới sự cai trị của người Macedonia rồi lại bị rơi vào tay đế chế của Ptolemy I. Khi Vua Ptolemy V của Epiphanes bị Vua Antiochus III của Đế Chế Seleucids đánh bại năm 198BCE, Jerusalem và Judah được lập thành nước Helleni năm 168BCE rồi lại trở thành thủ đô của Hasmone năm 152BCE. Đại Đế Pompei chiếm Jerusalem năm 63BCE mở rộng ảnh hưởng của Đế Chế Roma; lấn át ảnh hưởng của Đế Chế Parthian rồi lập Herod làm vua Do Thái. Herod xây Đền Thánh (lần thứ nhì) lớn gấp đôi đền cũ nhưng lại bị phá hủy cùng với toàn thành phố Jerusalem năm 70CE sau khi quân Do Thái bị quân Roma đánh bại. Quân Roma cũng đánh bại cuộc nổi dậy của Bar Kokhba hồi năm 135CE.

Đế Chế Roma cho xây lại Jerusalem theo kiến trúc La Mã rồi đổi tên thành “Aelia Capitolina”. Vua Constantine I cho xây đền đài Thiên Chúa Giáo; trong đó có nhà thờ Holy Sepulchre vốn bị phá hủy và hàng ngàn giáo dân Thiên Chúa Giáo bị tàn sát sau khi quân Constantine thua trận hồi năm 614 sau 21 ngày chiến đấu chống chiến thuật biển người của quân Ả Rập Sassanid. Thập Tự Quân Constantine của vua Heraclius tái chiếm thành năm 629AD để rồi lại bị quân Hồi Giáo của Umar ibn al-Khattab đánh bại năm 638 CE. Umar gọi Jerusalem là “Madinat bayt al-Maqdis” (thành phố đền đài) và Đền Thánh là “al-Haram al-Sharif” (lãnh địa cao cả). Sau khi phao tin rằng Giáo Chủ Muhammad đã bí mật đến đây một đêm nọ rồi “thăng thiên” tại thành phố này, tín đồ Hồi Giáo đã dời đến Mecca để “cầu nguyện” thay vì tại thành phố này sau 13 năm sinh hoạt. Sau này lấy cớ là nơi “thăng thiên” của giáo chủ, thế giới Hồi Giáo luôn xem Jerusalem là nơi “linh thiêng” thứ ba sau Medina và Mecca để đánh chiếm, đòi chiếm và gây khủng bố.

Umar ibn al-Khattab tăng cường nền thống trị của Đế Quốc (caliphate) Hồi Giáo năm 638CE; để dân Do Thái vào thành và ký hòa ước với Thượng Phụ Chính Thống Giáo Sophronius của Jerusalem. Tín đồ Hồi Giáo đã cho xây đền Umar đối diện với Đền Thánh, nơi Umar từng đứng “cầu nguyện”. Năm 1073, Jerusalem bị chiếm bởi quân Thổ của Tướng Atsiz, kẻ bị tử trận cùng người thay thế là Artuk. Con của Artuk cai quản thành cho đến 1098 thì bị quân Fatimids đánh bại. Thập Tự Quân bao vây Jerusalem rồi chiếm thành sau đó; giết và đuổi hết tín đồ Hồi Giáo và Do Thái Giáo ra khỏi thành rồi đưa tín đồ Chính Thống Giáo các sắc tộc vào thành gồm các sắc dân Hy, Bảo, Hung, Ai Cập, Georgia, Armenia, Syria, Maronite …

Đến năm 1187AD, Jerusalem lại bị quân Hồi Giáo của Saladin chiếm. Từ 1229 đến 1244, Jerusalem được tái xây dựng rồi hòa ước năm 1229 ký giữa al-Kamil của Egyp và Vua Roma Frederick II chấm dứt cuộc thập tự chinh thứ sáu. Jerusalem bị chiếm bởi quân Tatars năm 1244 rồi Tatars bị đánh bại bởi quân Hồi Giáo Ayyubids năm 1247. Trong thời gian 1260-1517, Jerusalem bị động đất nhiều lần và đổi chủ giữa hai lực lượng Mamluks và Mongols (Mông Cổ đến từ Châu Á) cho đến khi rơi vào tay Đế Quốc Ottoman Turks từ năm 1517 đến năm 1917. Quân Thổ cũng bị quân Muhammad Ali hất cẳng khỏi thành năm 1831. Quân của Qasim al-Ahmad vào thành hôm 31/5/1834 để rồi bị quân Ottoman Turks đánh bật ra năm 1840. Từ đó đế chế Ottomans tồn tại cho đến khi bị quân Anh đánh bại năm 1917.

Jerusalem được đặt dưới chế độ thực dân Anh từ 1917 đến 1948. Tướng Anh Edmund Allenby chiếm thành năm 1917 và được Hội Quốc Liên trao quyền cai quản Palestine, Iraq và vùng phụ cận. Trong thời gian này, có nhiều cuộc nổi dậy của người Ả Rập từ 1920-1929. Sau Đại Chiến Thứ Hai, Liên Hiệp Quốc ra Nghị Định 194 hôm 29/11/1947 đặt Jerusalem và cả Bethlem dưới thẩm quyền giám sát của quốc tế. Tuy nhiên, thực dân Anh cho rút quân về nước sau nhiều thập niên cai quản nên nghị định này đã bị bỏ rơi. Thay vào đó, Do Thái và Jordan chia đôi thành phố để quản trị sau trận chiến 1948 giữa hai nước bằng hiệp định đình chiến hôm 3/4/1949 ký giữa hai Tướng Moshe Dayan của Do Thái và Abdullah el-Tell của Jordan.

Do Thái sáp nhập West Jerusalem và tuyên bố toàn thành phố là thủ đô; bởi nội các chính phủ hôm 5/12/1949 và bởi Quốc Hội Knesset hôm 23/1/1950. Jordan sáp nhập East Jerusalem năm 1950 và tuyên bố nửa thành phố này là “thủ đô thứ hai” năm 1953. Tại đây, Jordan cho phá hủy khoảng 30 nhà thờ Do Thái Giáo; biến chúng thành trại nuôi gia súc. Khoảng 38,000 mộ ở nghĩa trang Do Thái 3000 tuổi trên núi Olives bị san bằng; bia đá bị tán nhỏ để làm đường xá. Cư dân Do Thái bị đuổi khỏi nhà. Hồi 1967 trước hàng chục quốc gia chung quanh gây chiến, Do Thái yêu cầu Jordan tôn trọng hòa ước đình chiến 3/4 nhưng bị từ chối. Jordan ỷ vào hiệp ước quân sự với Ai Cập ký hôm 30/5/1967 đã cùng các nước Ả Rập trong vùng tuyên chiến với Do Thái ngay hôm sau. Bất đắc dĩ phải đánh Jordan, Do Thái chiếm được East Jerusalem sau nhiều trận cận chiến để chiếm từng khu phố và từng căn nhà một.

Trận “Six Day War” bắt nguồn từ tham vọng cá nhân của Tổng Thống Ai-cập Gamal Abdel Nasser; kẻ muốn trở thành lãnh tụ của toàn khối Ả Rập với sự khuyến khích và yểm trợ ngầm của Sô Viết. Sau khi đem quân vào Sinai hôm 14/5/1967, Nasser ra lệnh đóng cửa trụ sở giám sát đình chiến UN Emergency Force (UNEF) của Liên Hiệp Quốc hôm 18/5. Vua Hussein của Jordan thấy “người hùng” lãnh tụ tương lai của cả khối Ả Rập Nasser “oai phong lẫm liệt” quá – dám đuổi cả Liên Hiệp Quốc ra khỏi Ai Cập – bèn vội qua Cairo ký hiệp ước hỗ tương quân sự hôm 30/5/1967 và nổ phát súng lệnh ngay hôm sau. Bất đắc dĩ phải tự vệ để sống còn nhưng nhờ tinh thần cao và chuẩn bị chu đáo mọi mặt; tính đến 5/6, Do Thái đã tiêu diệt 90% máy bay Mig của Ai Cập. Jordan do xé bỏ hòa ước 3/4 nên bị mất East Jerusalem và cả West Bank.

Liên Hiệp Quốc kêu gọi các bên đình chiến hôm 7/6 nhưng do Syria ngoan cố, mãi đến 11/6 cuộc chiến 6 ngày mới kết thúc. Kết quả, ngoài vô số chiến cụ bị tiêu hủy, quân Ai Cập chết hơn 11,000; Jordan khoảng 6,000; Syria khoảng 1,000. Do Thái chỉ mất 700 quân. Trong số mấy ngàn tù binh có một tướng Ai Cập than trách người Nga đã hứa can thiệp nhưng nuốt lời! Báo Paris Match (có bán tại nhà sách Khai Trí Sài Gòn năm ấy) đăng ảnh giày trận của lính Ai Cập bỏ lại chiến trường dày đặc che khuất cả cát sa mạc. Nỗi nhục bại trận khiến Nasser phải ngượng ngập tuyên bố từ chức hôm 9/6 và mộng bá chủ khối Ả Rập tan thành mây khói. Và oái oăm thay trụ sở UNEF của LHQ bỏ trống (và không thể bị xâm phạm bởi Không Quân Do Thái) lại là nơi Nasser “mồm to gan bé” phải chui vào trú ẩn để tránh bị tiêu diệt!

Ba tuần sau khi trận chiến Six Day War (5/6-10/6/1967) kết thúc với chiến lợi phẩm East Jerusalem và West Bank, hôm 27/6/1967 Do Thái tuyên bố thống nhất Jerusalem làm thủ đô vĩnh cửu của nước này. Hôm 18/4/1968, bộ trưởng Bộ Tài Chính Do Thái ra lệnh tịch thu 700 cao ốc và nhiều nhà của dân Hồi Giáo ở East Jerusalem. Hôm 2/10/1977 nội các Do Thái cho xây thêm vòng đai nhiều khu chung cư tại đây vốn bị Liên Hiệp Quốc phản đối; nại cớ quy chế quốc tế của thành phố và chính quyền Palestine phản đối; nại cớ tiến trình đàm phán song phương. Tháng 7/1980, Do Thái ban hành quy chế Basic Law quy định Jerusalem là thủ đô thống nhất khiến Liên Hiệp Quốc phải ban hành Nghị Quyết 478 hôm 20/8/1980 tuyên bố vô hiệu hóa luật này vốn vi phạm luật quốc tế. Nghị Quyết này khiến 22/24 nước có tòa đại sứ ở Jerusalem phải dời về Tel Aviv; ngoại trừ Bolivia và Paraguay.

Sau vụ bọn khủng bố Palestine nổ bom tự sát (tài trợ bởi Saddam Hussein) tại Sbarro Restaurant năm 2001, Do Thái lấy cớ đóng cửa luôn tòa nhà Orient House; vốn là văn phòng và BCH của PLO ở East Jerusalem ngay hai hôm sau. Văn phòng này được lập bởi Nghị Quyết 58/292 của đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và Nghị Định 242 của Hội Đồng Bảo An/Liên Hiệp Quốc; từng cho tái mở cửa năm 1992 dưới danh nghĩa “nhà khách vãng lai”. Hiện dân Palestine ở East Jerusalem vẫn được hưởng quy chế công dân nếu xin vào quốc tịch Do Thái hoặc thường trú nhân nếu không có quốc tịch. Kẻ không quốc tịch được cấp ID, xin việc làm và tự do đi lại khắp Do Thái. Con cái họ được hưởng mọi trợ cấp xã hội như công dân Do Thái. Thống kê năm 2000 cho thấy toàn thành phố thủ đô Jerusalem – mà Kinh Thánh nhắc tên đến 632 lần – có 1204 đền Do Thái Giáo, 158 nhà thờ Thiên Chúa Giáo và 73 đền Hổi Giáo.

Ngoại trừ đa số các dân biểu nghị sĩ đảng Con Lừa của Hussein Obama, các vị dân cử bảo thủ cao cấp ở Quốc Hội Mỹ đã đánh giá cao quyết định của Tổng Thống Trump; loan báo hồi 1:14PM hôm thứ Tư 6/12/2017: Chủ Tịch Hạ Viện Paul Ryan nói “This is a day that is long overdue. Jerusalem has been and always will be the eternal, undivided capital of the State of Israel. The city’s status as the religious epicenter of Judaism is an historical fact; not a matter of debate” (đây là ngày đáng lẽ đến từ lâu. Jerusalem đã từng và sẽ luôn là thủ đô thống nhất vĩnh cửu của quốc gia Do Thái. Pháp trạng của thành phố như tâm điểm Do Thái Giáo là một thực tại lịch sử không thể tranh cãi). Thượng Nghị Sĩ Mike Lee của Utah gọi đây là quyết định mà “US can no longer wait to do the right thing in recognizing the nation’s rightful capital” (Mỹ không chờ nữa mà hành xử đúng trong việc công nhận thủ đô chính đáng của nước này). Thượng Nghị Sĩ Joni Ernst của Iowa nói Tổng Thống Trump “following through on a promise made by many US presidents in the past” (theo một hứa hẹn của nhiều tổng thống Mỹ trước đây).

Dân Biểu Ed Royce của Cali nói “Our close ally Israel should not be treated differently” (đồng minh Do Thái thân cận của chúng ta không thể bị đối xử khác hơn). Cựu Thống Đốc Jeb Bush nói “I applaud … this is an important show of solidarity with Israel, one of our nation’s greatest allies” (Tôi hoan nghênh … đây là một biểu hiện đòan kết quan trọng với Do Thái, một trong các đồng minh vĩ đại nhất của quốc gia chúng ta). Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham của S. Carolina nói hành động của Tổng Thống Trump “reflects the reality on the ground for the last 3,000 years” (phản ánh thực địa suốt 3,000 năm nay). Ngay cả Thượng Nghị Sĩ John McCain của Arizona; bạn thân của Graham nhưng là kẻ có biệt danh “Rino” luôn chống Trump kịch liệt (vụ Trump nói ông ta không phải hero) cũng phải tán thành “I’ve long believed Jerusalem is the true capital of Israel. Today’s announcement should be part of a comprehensive diplomatic strategy…”(tôi đã từ lâu tin rằng Jerusalem là thủ đô đích thực của Do Thái. Loan báo hôm nay phải là một phần của quan hệ ngoại giao toàn diện).

Nhiều người cho rằng qua việc công nhận Jerusalem là thủ đô của Do Thái, TT Trump đã bỏ rơi tiến trình trung gian hòa giải Do Thái-Palestine và ước mơ lập quốc của dân Palestine. Nhưng TT Trump xác định việc này trước là để thi hành luật “Jerusalem Embassy Act” của Quốc Hội Mỹ; sau là phá bỏ chướng ngại lớn nhất cho đàm phán song phương. Đó là danh nghĩa và vị trí pháp lý của Jerusalem mà lịch sử đã chứng minh. Vả lại cuộc đàm phán đã trải qua nhiều thập niên mà chẳng đi đến đâu; do ảo tưởng của người Palestine đòi lấy East Jerusalem thay vì vùng ngoại ô Abu Dis, nơi có Temple Mount. Và nhất là nguy cơ bất an đối với Do Thái sau khi East Jerusalem trở thành thủ đô của quốc gia cai quản bởi những kẻ cuồng tín hiếu sát đội lốt tôn giáo.

Chẳng đi đến đâu vì cơ hội ngàn năm một thuở hồi 2000 khi cựu thủ tướng Do Thái chủ hòa Ehud Barak đã nhương bộ nhiều nhất và chịu chấp nhận Jerusalem chia đôi. Thế mà cố lãnh tụ Yasser Arafat của Palestine đã “có voi đòi tiên”, “được đằng chân, lân đằng đầu”. Cơ hội ấy vĩnh viễn không bao giờ trở lại; nhất là với một Do Thái hùng mạnh gấp bội cả về kinh tế lẫn quân sự sau hơn 2 thập niên; với một LHQ lũng đoạn bị Mỹ cắt nhiều tài trợ và rút chân khỏi nhiều cơ cấu vô dụng; và nhất là với hai “diều hâu” Benjamin Netanyahu và Donald Trump đang “cầm cân nẩy mực”! Đe dọa của khối Ả Rập sẽ vô hiệu vì nay Mỹ không còn lệ thuộc vào Trung Đông về dầu hỏa. Bao nhiêu nghị quyết LHQ cũng sẽ vô hiệu với lá phiếu phủ quyết của Mỹ.

Bao nhiêu hò hét bạo động của thế giới Hồi Giáo vốn mang tiếng từ nhiều thập niên nay là lò sản sinh nạn “khủng bố” cũng vô hiệu bởi thành ngữ Việt có câu “Dĩ độc trị độc”: Bạo lực bất chánh do cuồng vọng sẽ bị đánh bại bởi sức mạnh quân sự tự vệ lớn hơn bội phần. Thị Trưởng Nir Barkat của Jerusalem đã tuyên bố hôm thứ Tư 6/12/2017 về quyết định của TT Trump: “Here in Jerusalem and Israel, we applaud the president. And if people became violent, they will pay a heavy price!”. Thiếu Tướng Lục Quân Yoav Mordechai của Do Thái cũng cảnh cáo cùng ngày “Do not test our strength!” để đáp lại đe dọa tái diễn “Intifada” (nổi dậy) của lãnh tụ Hamas Ismail Haniya. Khối Ả Rập qua lời Bộ Trưởng Ngoại Giao Gebran Bassil của Lebanon – nước đang nhận viện trợ Mỹ – cũng đe “cấm vận” Mỹ về kinh tế!?

Thật công minh chính đại, khẳng khái và can trường, TT Trump đã đem đến cho mùa Giáng Sinh năm nay 2017 một niềm vui bất tận; không chỉ cho dân Do Thái, dân của Chúa nói riêng mà còn cho mọi con người yêu chuộng công lí và hòa bình thuộc thế giới văn minh trên trái đất vốn còn đầy bạo loạn xuất phát bởi bọn cuồng tín. Chúng luôn lợi dụng danh nghĩa “tôn giáo” để che đậy cuồng vọng bành trướng lãnh thổ; ngõ hầu từng bước bằng bạo lực áp đặt luật Sharia man rợ của bọn quân phiệt đội lốt tôn giáo lên mọi dân tộc và quốc gia hiếu hòa khác vốn không thể tuân phục “đạo lí” của kẻ ấu dâm hiếu sát.

Cuối cùng, qua quyết định “trả” Jerusalem – quê hương của Chúa Jésus, thủ đô của Do Thái – lại cho dân của Chúa dịp Giáng Sinh 2017, Tổng Thống Trump đã gián tiếp hay trực tiếp nhắc nhở Lời Chúa trong Kinh Thánh; ghi lại bởi thánh sử Matthew dạy một công lý vĩnh cửu: “Rendez donc à César ce qui est à César; et à Dieu ce qui est à Dieu” (Sự gì của Caesar hãy trả cho Caesar; sự gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa). Cùng với Bolivia, Paraguay và đảo quốc nhỏ bé Vanuatu ở Thái Bình dương, các chính phủ đốn hèn của các quốc gia khác sẽ phải lần lượt công nhận tình trạng pháp lý “châu về hiệp phố” có từ 3,000 năm nay của Jerusalem và di dời tòa đại sứ của mình về thủ đô linh thiêng này theo gương nước Mỹ của Tổng Thống Donald Trump.

Tinh thần Giáng Sinh “Et In Térra Pax Hominibus Bonae Voluntátis” (bình an dưới thế cho người thiện tâm) luôn đem an bình đến cho mọi người yêu chuộng hòa bình. Hay nói một cách khác, “bất an dưới thế cho kẻ ác tâm không biết tự phục thiện” là điều ắt có đối với kẻ cuồng tín và cuồng sát!

HÀ BẮC

(Tham khảo tài liệu của The Guardian, Newsmax, Daily Wire, Harriet Sherwood, Todd Beamon, Bill O’Reilly – Martin Dugard, Ben Shapiro và các tài liệu khác)

Share this post