Kể Chuyện “Bác Hồ” Trong Ngày 19 Tháng Năm – Hồ Đinh

Kể Chuyện “Bác Hồ” Trong Ngày 19 Tháng Năm – Hồ Đinh

Sau ngày 30-4-1975 Cộng Sản Việt Nam làm chủ cả nước đã hành xử như những đế quốc thực dân Tàu, Pháp, Nhật từng chiếm đóng nước ta buổi trước. Vì đã tự coi mình là chủ nhân ông, nên chúng đã hủy bỏ tư cách làm người, làm dân của đồng bào miền Nam chiến bại, từ vĩ tuyến 17 trở vào. Các lãnh tụ đảng mà gần hết thuộc thành phần “bần cố nông“ đúng nghĩa, gặp dịp vàng ròng nên ai nấy tha hồ chuyển vận tài sản của miền Nam “công cũng như tư“ trong đó có 16 tấn vàng y và hằng trăm triệu đô la công khố quốc gia ra Bắc để cùng chia chác làm của riêng, vì coi đó là “chiến lợi phẩm“. Một nền kinh tế thời hậu chiến, do chênh lệch trình độ quá mức giữa hai miền Nam-Bắc, từ sự phát triển tới cung cách quản lý đã đem tới kết quả thê thảm gần như cướp bốc và phá hoại hoàn toàn tài nguyên của đất nước và tài sản đồng bào miền Nam bị giặc đô hộ.

Cũng từ đó, xã hội Việt Nam xuất hiện thành phần “thực dân đỏ“, bao gồm nhà cầm quyền mới và nhân dân mới, hầu hết đều là người miền Bắc hay miền Nam tập kết, cán bộ đảng, công an bộ đội và bọn nằm vùng, trở cờ miền Nam. Tất cả đều kiêu ngạo, lì lợm, tự phụ, vì đã nắm giữ hết các quyền lợi, truyền thống, tạo thành nếp sống mới, yêu nước là phải nhắm mắt hi sinh, bằng lòng chấp nhận xưng tụng, tôn thờ “tổ quốc xã hội chủ nghĩa“. Phận người Miền Nam chiến bại thành hạng công dân thứ hai, bất kể ở thành phố hay nông thôn, “ngụy“ hay loại đâm sau lưng chiến sĩ ngày trước, sống lêu bêu bên lề cuộc sống đói nghèo. Thì ra cách mạng cũng chỉ là sự thay ngôi đổi chủ, nhờ phương tiện máu xương của nhiều thế hệ và cuối cùng hầu hết những người có công giúp đảng, đều ôm nhau tủi nhục trong cảnh đói nghèo, mất hết tất cả tự do kể cả quyền được làm một kiếp người rất bình thường, chỉ cần có cơm ăn áo mặc, một việc nếu đem so sánh với cuộc nhân sinh qua các giai đọan lịch sử của dân tộc, thì còn tệ mạt cả trăm lần hồi Pháp thuộc, nói chi tới thời VNCH hai mươi năm, dù bị chiến tranh liên tục, nhưng đâu thấy ai đói cơm rách áo và bị bóp nghẹt đời sống riêng tư., ai phải làm dâu khắp xứ hay bán xác lao động như hiện nay, cho dù thời đó có một vài phụ nữ do hoàn cảnh chiến tranh đã phải làm vợ người ngoại quốc.

Việt Cộng vì lượm được chiến thắng thật bất ngờ và quá dễ dàng tại miền Nam, nên nhóm lãnh đạo Cộng Sản tại Bắc Bộ Phủ càng kiêu căng phách lối, điên cuồng mơ mộng đến nổi thành mê muội. Cuối cùng đã nhận chìm cả nước vào vũng bùn xã nghĩa u tối tanh hôi. Có điều, chiến thắng là đồng nghĩa với sự chấm dứt viện trợ của các nước trong khối Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế. Ngoài ra, tới lúc VC phải bắt đầu trả nợ súng đạn mua chịu của Nga, Tàu, Ðông Âu. cùng tất cả những gì đã vay mượn trong quá khứ cộng với tiền lời. Số nợ núi trên của đảng Cộng Sản, hoàn toàn chỉ dùng để làm phương tiện cưỡng chiếm cho bằng được miền Nam, chứ không hề liên quan tới công ích của đồng bào miền Bắc, vì trong suốt thời gian từ 1955-1975, Bắc Việt tức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chỉ có hai công trình vĩ đại là Lăng Hồ ở Ba Ðình do Nga xây và Khách Sạn Quốc Tế tại Hà Nội, được Fidel Castro (Cuba) giúp.

Cả hai miền Việt Nam đều sống bằng ngoại viện chứ không phải chỉ có miền Nam. Có điều chính phủ Quốc Gia từ Quốc Trưởng Bảo Đại, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, các Tướng Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, cho tới Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và cuối cùng là Dương Văn Minh, tuy phải quỳ lạy xin quân viện Mỹ để có phương tiện chiến đấu giữ nước nhưng không hề có một cấp lãnh đạo nào đã cắt bán hay bí mật nhượng đất đai của tổ quốc mình cho ngoại bang. Trái lại Việt Gian Cộng Sản, từ Hồ Chí Minh, Pham Văn Ðồng, Lê Duẩn cho tới Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh, Võ Văn Kiệt, Trần Ðức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng.. Tất cả từ lớn tới nhỏ, lúc nào cũng bí mật thậm thụt đủ điều, tìm đủ mọi cách “mãi quốc cầu vinh“ để giữ đảng, giữ chức, nên đã bán đứng Hoàng Sa, Trường Sa, Biên Giới Việt-Bắc và Biển Ðông cho giặc Tàu và ngoại bang, tới nay ai cũng biết. Ðây mới chính là điều sĩ nhục nhất trong giòng sử Việt.

Ðể tuyên truyền, lừa bịp quần chúng cũng như đầu độc dư luận trong và ngoài nước, từ khi xuất hiện cho tới nay Cộng Sản VN luôn luôn tìm đủ mọi cách để chà đạp và hạ uy tín các chúa Nguyễn Ðàng Trong cũng như Nhà Nguyễn (1802-1945). Có làm như vậy, đảng mới đánh bóng và đưa Hồ Chí Minh lên tận mây xanh, đồng thời ngụy tạo được nhiều chứng liệu lịch sử để vu khống người xưa, mà điển hình là câu vè dưới đây, được đảng phổ biến ở miền Bắc VN trước ngày 30-4-1975:

“vạn niên là vạn niên nào?
thành xây xương lính, hào đào máu dân“

Ngày nay qua cuộc phong trần, trước đống núi tài liệu và bằng cớ xác thực những hành động quan liêu, phong kiến, bán nước và hủ bại của những người Cộng Sản, nhất là trong cung cách suy tôn Hồ Chí Minh, kể cả đám táng, cái xác thối nằm ở Ba Ðình và những tuyên truyền lố lăng coi thường dư luận trong và ngoài nước, đặc biệt là việc phung phí công khố quốc gia, để bảo quản suốt mấy chục năm qua cái xác ướp của Hồ, rồi còn lập chùa, đúc tượng đồng mạ vàng thật, để Hồ chểm chệ ngồi ngang hàng với Phật-Thánh và Quốc Tổ Hùng Vương, hiện nay diễn ra khắp nước mà lố lăng nhất là đám phường chèo đang bày trò khỉ đột, tại một ngôi chùa quốc doanh trong tỉnh Bình Dương. Do trên dân chúng VN lại hát:

“Ba Ðình còn gấp chục lần,
Dân đen gãy cổ, mát thân cụ Hồ“

Không có gì tồn tại với thời gian, ngoại trừ xú danh bia truyền muôn thuở, cho nên ta cũng đừng bận tâm làm gì những mất mát trong thời loạn. “ Ðược làm vua, thua là giặc “ như là một biện chứng bi thảm trong thời đại chúng ta phải chứng kiến, do các tên giặc cỏ, được thời cơ, dành giựt công lao và xương máu của toàn dân suốt thời kỳ đánh đuổi thực dân Pháp, mục đích cũng chỉ để cải thiện cuộc sống cơ cực bần hàn, của một lớp người không còn biết làm gì hơn là nghề chém thuê giết mướn.

Bây giờ, trước cánh cửa tri thức, điện toán và trên hết là sự giải mật phần lớn các tài liệu có liên quan tới những lãnh tụ chính trị, trong đó có đảng Cộng Sản VN, từ lúc khai sinh vào năm 1930 tới tận ngày nay (2013). Hơn nữa, dù VC đang siết cổ họng để bịt miệng dân chúng trong nước bằng súng đạn và ngục tù, nhưng thực tế chẳng ai sợ ai, khi cái chính sách công an khu vực, hộ khẩu và phiếu tem cung cấp lương thực đã không còn giá trị trên kinh tế thị trường. Có tiền mua tổng bí thư và đảng cũng được, như bác Năm Cam đã làm, thì chuyện sang Mỹ du hí và vào Tòa Bạch Ốc để bắt tay các yếu nhân Hoa Kỳ cùng tổng thống Mỹ của Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng.. , xét cho cùng cũng đâu có gì là kinh thiên động địa, nhất là từ khi cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton (1992-2000), đã biến Bạch Cung thành một “siêu khách sạn“, mở cửa đón nhận tất cả mọi người vào ăn chơi nhậu nhẹt, uống cà phê sáng kể cả ngủ đêm, miễn sao trả đủ tiền nong thuế má đã được ấn định sẳn là xong chuyện.

Bởi vậy khi đọc qua những tài liệu có dính líu tới lịch sử, đã cho nhiều cảm xúc bất ngờ. Hơn ai hết, người Bình Thuận-Phan Thiết, không biết trời xui đất khiến tạo nên nghịch cảnh éo le, trong “màn kịch đồng song, chung khoá“ giữa cử nhân Trương Gia Mô với Phó Bảng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Sinh Sắc (cha Hồ Chí Minh). Rồi thì trong một chuyến đưa bạn Trần Quý Cáp tới nhiệm sở Ninh Hòa, thẳng đường vào Phan Thiết đã gây cho hậu thế trăm năm sau, cái họa “anh thanh niên Nguyễn Tất Thành“ dạy học tại trường Dục Thanh và sau đó xuất dương tìm đường “cứu nước“.

Người Phan Thiết vô cớ lãng xẹt, phải làm nhân chứng bất đắc dĩ của một thời đại nhiễu nhương ba xạo. Buổi trước ông cha ta, vì bản chất an phận thủ thường, và trên hết là do nghịch cảnh một tròng bốn cổ, nên phải giả vờ lấy vải thưa che mắt thánh, để miệng hoan hô đã đảo loạn ngầu cho an thân. Trò hề trống đánh xuôi kèn thổi ngược hòa đồng trong tiếng trống chầu của bọn hề chèo ngông nghênh viết lách nhiều chuyện trên trời dưới biển, vu vơ sáo rỗng, chỉ có tác động tuyên truyền ra oai, làm cho người nay càng bi phẫn khinh miệt. Lịch sử nhất là lịch sử VN, đã dạy cho hậu thế nhiều đạo lý làm người, nhất là trong thời đại mạt pháp, mạt vận của dân tộc đang quằn quại trong cảnh diệt vong trước mắt, vì CSVN công khai rước giặc Tàu về “dày mả Tổ Hồng Lạc“ và đô hộ đồng hóa Dân Tộc Việt.

ÐI TÌM CHÂN TƯỚNG HỒ CHÍ MINH, QUA CÁC LỐI MÒN TRONG THÂM CUNG BÍ SỬ DƯỚi TRIỀU HỒ:

Tới bây giờ, dù sự thật lịch sử Việt Nam đã gần như phơi bày toàn vẹn trước ánh sáng của nhân loại nhưng trong nước, hầu hết người dân kể cả người miền Bắc, vẫn không biết đích thực “ Hồ Chí Minh “ là ai ? vì từ lúc ra đời với cái tên Nguyễn Sinh Cung (Cuông), tới năm 1942 Hồ đã thay tên đổi họ tới 26 lần (Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy, Linov, PC Lin, Hồ Quang, Vương Quốc Tuấn, Sáu Sán, Hồ Chí Minh..) .

Năm 1944 Hồ từ Côn Minh về nước, lúc đó dù chỉ mới 53 tuổi nhưng Y bắt buộc mọi người phải gọi mình là “CỤ“. Bấy giờ Trần Huy Liệu đang làm trưởng ban tuyên truyền của đảng, nghe các cán bộ gốc Thanh, Nghệ, Tỉnh mỗi khi gọi Hồ là ‘Cụ’ lại phát âm như không có dấu nặng (CU), nên âm thanh rất chướng tai và bất nhã. Do trên, Ðảng không cho mọi người gọi Hồ là “Cụ“ nữa, mà đổi thành “Bác“ là vậy đó.

Về chuyện tếu có liên quan tới việc dân ta đã gọi “bác Hồ“ là Người, cũng lại được chính Hồ sáng tạo như đã tự mình viết sách ca tụng mình. Ðể nhận chữ ”Người“, Hồ bịa chuyện từ định nghĩa “Nhân là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào”, nên chữ nhân này là Ðức Nhân, chứ không phải là chữ Nhân thông thường, dùng để chỉ con người. Hởi ơi sự đời tráo trở đến thế là hết ý, vì ai cũng biết “Nhân giả nhân dã“ của triết lý Ðông Phương tự ngàn đời, nói về “Ðức Người“. Chính Khổng Phu Tử cũng đã nhận rằng “Nhân viễn hồ tai, ngã dục nhân tư nhân chí hĩ“, ý ngài nói lòng Nhân đâu ở xa, nếu ta muốn thực hiện, thì sẽ có ngay trước mặt. Ngoài ra ai cũng biết “Ðức Nhân“ là sự kết tụ tinh túy của mọi đức tính khác của con người như Trung, Tín, Trí, Dũng, Nghĩa, Lễ, Cương Nghị, Hiền Lành.. Hồ Chí Minh suốt một kiếp người, từ khi xuất dương năm 1911 tới lúc nhắm mắt năm 1969, là một kẻ xảo ngôn, phô sắc, gian ác, hiểm độc, bán nước, phản dân tộc, xét về tư cách và hành động, đích thật là một tiểu nhân. Như vậy đương sự lấy gì để tự mình cuồng điệu về Ðức Nhân, Lòng Khoan Hồng Ðại Ðộ cùng với sự Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Công Bằng.. để bắt buộc mọi người gọi Mình là Cụ, Bác và Người (viết Hoa) .

Sau ngày 30-4-1975, bộ mặt thật của Hồ và Ðảng Cộng Sản Việt Nam lần lượt rơi rớt vì đã hết cơ hội, để “Bác“ tạo thêm sự nghiệp cứu nước, đòi độc lập và thống nhất cho quốc gia dân tộc. Tất cả đã trở thành phường chèo trước mắt của đồng bào miền Nam, khiến cho không ai, kể cả đám văn nô quốc doanh, còn dám bẽ cong ngòi bút để tuyên truyền dụ dổ những người nhẹ dạ nhắm mắt chạy theo Hồ và đảng Cộng Sản như thuở hồng hoang buổi trước:

“đồng bào hãy vùng lên
quyết tâm theo bác Hồ
nông dân sẽ có đất
người nghèo sẽ có ăn
gạo lúa sẽ đầy sân…“

Bởi vì các thế hệ VN kể cả lớp người sinh sau cuộc chiến, đâu có ai quên được những cuộc thanh trừng đẳm máu của Hồ và phe cánh, đối với những người được gọi là đồng chí đồng đảng, để tranh giành quyền lực, trong thâm cung bí sử triều Hồ. Ai quên được sự sát hại người Quốc Gia của Hồ, trong Mặt Trận Việt Minh và những lần “ hòa hợp, hòa giải Quốc-Cộng “ suốt chín năm kháng Pháp. Ai quên được Hồ ra lệnh tàn sát hằng triệu đồng bào vô tội ở miền Bắc, qua chiến dịch cải cách ruộng đất vào thập niên 50, mà trong số này có rất nhiều người đã từng xã thân chống Pháp để dành độc lập cho dất nước và nửa mãnh sơn hà cho Hồ. Ai quên được xương máu VN của cả hai miền Nam Bắc, khi Hồ bày trò “Ðánh Mỹ-Ngụy cứu nước“. Thảm tuyệt nhất trong lịch sử Việt, cũng vẫn là những vụ tàn sát đồng bào vào Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, trên các đại lộ kinh hoàng Quảng Trị-Huế, Bình Ðịnh, Kon Tum-Pleiku và Bình Long-An Lộc năm 1972 và khắp Việt Nam Cộng Hòa vào những ngày tháng 4-1975. Ai quên được các cuộc tàn sát trả thù Quân Công Cán Cảnh VNCH của Cộng Sản Hà Nội sau ngày 30-4-1975, các cuộc cướp giựt tài sản đồng bào miền Nam VN qua những lần đổi tiền, đánh tư sản, xuất cảng người vượt biển, lao động, làm điếm… để Hồ và Ðảng hoàn thành sự nghiệp cách mạng vô sản quốc tế, đưa đất nước lên Xã Hội Chủ Nghĩa.

Ðó cũng là lý do Dương Thu Hương đã dám viết “Dân tộc Việt Nam tự ngàn xưa bao nhiêu lần ngăn chống giặc Tàu phương Bắc để giữ và cứu nước. Họ luôn cần tới những vi anh hùng dân tộc như Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung.. chứ đâu có ai cần tới Ðảng CS và lãnh tụ Hồ Chí Minh“ ..Còn Trần Văn Giàu, một Việt Cộng gộc có tới 60 tuổi đảng, trước sự tan rã của chủ nghĩa Cộng Sản Ðệ Tam tại Ðông Âu, Ðông Ðức và Liên Sô nên không còn biết làm gì hơn để gở gạc, vì vậy trong lần hội nghị của Trung Ương Ðảng Việt Cộng vào tháng 6-1992 tại Hà Nội, Giàu đã thẳng thừng đề nghị Bắc Bộ Phủ hãy quăng cái lý luận Mác Lê lỗi thời vô dụng vào sọt rác, như nhân loại vừa làm, bởi đồng bào Việt Nam cả nước đang đói rách ngu nghèo nên không còn ai muốn nghe thêm lời Ðảng tuyên truyền nữa.

Tuy nhiên nhức nhối và nhục nhã nhất đối với Việt Cộng vẫn là sự kiện cơ quan UNESCO của tổ chức Liên Hiệp Quốc, trước sự chống đối của Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn Cộng Sản khắp trên thế giới cũng như dư luận toàn cầu đã nhìn rõ con người Hồ và bộ mặt thật của Ðảng CSVN suốt thời gian qua nên quyết định hủy bỏ Việc Vinh Danh Hồ là Vĩ Nhân theo đề nghị của Ðảng, qua lần sinh nhật thứ 100 của Ðảng Cộng Sản.

Tóm lại từ sau ngày 30-4-1975, bộ mặt thật của Xã Hội Chủ Nghĩa VN đã gần như phơi bày một cách trần trụi khắp nước, nhờ đó mọi người mới thấu triệt được “sự nghiệp cách mạng của Hồ“ suốt 85 năm qua, chủ yếu dựa trên nền tảng của “Thần Quyền“ để trấn áp mọi người. Ðiều này cũng dể hiểu vì Hồ vốn xuất thân từ lò chính trị “Ðông Phương Hồng“ do Lê Nin sáng lập. Trong khi đó họ Lê trước khi lập Ðảng CS chống lại Nga Hoàng, vốn xuất thân từ giới quý tộc, nên đã nhận thức rõ ràng về giá trị thần quyền của tín ngưỡng. Vì vậy Lê Nin đã tôn giáo hóa lập thuyết kinh tế chính trị của cả Mark và minh, tổng hợp thành “Học Thuyết Mác Lê“ để các nước Xã Hội Chủ Nghĩa trong đó có Ðảng CSVN, đã được Hồ và các lãnh tụ khác mang về nước, làm thành “Ý Hệ Cầm Quyền“ cho tới mgày nay vẫn không có gì thay đổi.

Ðó là tất cả nguyên lý bất khả phân của Ðảng CSVN suốt 85 năm qua, tự coi mình như là một thần tượng, một thứ Tôn Giáo qua giáo lý “Bác Hồ chỉ Một, Ðảng không thể Hai“, có vậy mới “Thần Hóa Ðảng, Thánh Hóa Nhà Nước”, để Ðảng và Nhà Nước thay Trời cai trị cả nước, theo đường lối chính sách Giáo Ðiều, cấm không cho ai được chỉ trích phê phán. Bởi vậy dưới triều đại Thiên Ðàng Xã Nghĩa, toàn bộ quyền lực các cấp thuộc Ðảng đều thuộc loại “Bất Khả Xâm Phạm“, đặc biệt Hồ Chí Minh đã hóa kiếp thành Thần Linh ngay lúc còn sống, nên khi chết phải có lăng tẩm Ba Ðình và tạc tượng đem vào thờ phụng trong các đình chùa cả nước. Sự tâng bốc Hồ của Ðảng CSVN qua núi tài liệu Ðảng vừa công bố cho thấy Hoàng Ðế Ðỏ Hồ Chí Minh khi băng hà tới nay, đâu có thua gì bạo chúa Tần Thủy Hoàng của Tàu hơn 2000 năm về trước? Việc Điếu Cầy chống Tàu đỏ chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Việt Nam hay Cù Huy Hà Vũ kiện tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng bán dân bán nước… đã đụng chạm tới “long mạch“ của “đảng ta“, không vào tù mới là chuyện lạ!

Nhưng Hồ Chí Minh là ai? Tới bây giờ đố ai biết hết, ngoại trừ chính bản thân của đương sự. Chỉ riêng năm sinh của “bác“ theo các tài liệu hiện hành đã có tới 5 thời điểm khác nhau như 1890, 1891, 1892, 1894 và 1895. Trong thông hành vào Liên Bang Sô Viết lần đầu, Hồ mang tên Nguyễn Tất Thành bí danh Chen Vang, sinh năm 1895. Năm 1920, Hồ qua thông hành mang tên Nguyễn Ái Quốc, sinh năm 1894. Sau khi cướp được chính quyền vào tháng 9-1945, Hồ Chí Minh công bố vào năm 1946, sinh ngày 19-5-1890.

Về ngày sinh của Hồ là 19-5 cũng là huyễn hoặc, được ngụy tạo vì nhu cầu chính trị mà thôi. Theo nhiều nguồn tài liệu được phổ biến thì sở dĩ Hồ bịa ngày sinh của mình là 19-5, để hôm đó bắt nhân dân Hà Nội “mở hội hoa đăng“ nói là ăn mừng sinh nhật Hồ. Mặt thật để đón tiếp cao ủy Pháp là Ðô Ðốc D’ Argenlieu khi hắn tới đây. Cũng nhờ có cuộc đón tiếp long trọng trên mà Hồ và thực dân Pháp đã đạt được sự dồng thuận, cho phép quân Pháp từ Sài Gòn đổ bộ lên đất Bắc, tiếp tục gây chiến tranh. Có như vậy Hồ mới nhân danh là lãnh tụ Mặt Trận Liên Hiệp Việt Minh, kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến chống Pháp từ cuối năm 1946. Còn Pháp thi vin vào cớ Việt Minh gây chiến nên phải đánh nhau, chứ không phải vì muốn cướp nước Việt Nam như dư luận thế giới đã lên án.

Ngoài ra để danh chánh ngôn thuận như Phạm Văn Ðồng thường nói “Bác là ánh sáng dân tộc“. Bắc Bộ Phủ đã sửa soạn cho Hồ rất chu đáo trước khi ra diễn tuồng, Ðảng ra lệnh cho Cao Xuân Huy, Ðào Duy Anh, Trần Văn Giáp .. ngay từ năm 1956, phải ngụy tạo cho “bác“ một lá số tử vi “thật le lói“ vì có chân mạng đế vương, cốt cách thần thánh. Có vậy Hồ mới tuyên truyền dụ dổ được dân chúng miền Nam theo Ðảng “đánh Mỹ-Ngụy cứu nước“

Về tướng diện của Hồ Chí Minh qua các bức ảnh cũ trên báo chí sách vở lưu hành trong và ngoài nước, trước năm 1955 là niên lịch Hồ sang Nga sửa sắc đẹp. Theo tướng mệnh học, thì mặt Hồ thuộc loại tứ phủ trơ xương, râu lơ thơ như râu tôm kho có thể đếm được. Trong các giác quan, đôi tai không thay đổi từ lúc sinh ra cho tới chết và là biểu hiện đặc tính của con người. Tai Hồ to thuộc loại luân quách phản, đó là tướng của người bất nhân độc ác. Do hình tướng như vậy, nên trước năm 1955, mọi người xếp Hồ vào loại “Mặt Dơi Tai Chuột“. Và dù sau đó qua Nga sửa mặt, cấy râu cấy tóc để có dung nhan của “cha già dân tộc“ nhưng tai Hồ cho tới khi chết vẫn là tai chuột, vì khoa học thẩm mỹ thời đó bất lực.

Lịch sử là sinh mệnh của dân tộc, nhờ nó mà người miền Bắc mới biết được sự tàn khốc của chế độ Cộng Sản, khi Ho và Ðảng chiếm được nữa nước VN từ bên kia cầu Hiền Lương chạy lên tới biên giới Hoa-Việt qua Hiệp Ðinh Ngưng Bắn Genève năm 1954. Rồi ngày 30-4-1975 quân Bắc Việt vào Sài Gòn và từ ấy đến nay (2011) nhờ lịch sử, người Miền Nam mới biết rõ bộ mặt thật của Hồ và Ðảng là gì? Cho nên dù người Việt trong nước hôm nay vì bị bóp họng bịt miệng khóa tay nên đã không thể ghi được những câu chuyện thật của cận sử nhưng họ đã dồn hết biển thù quốc hận suốt bao chục năm qua, thành những vết hằn lịch sử vong quốc trên từng khuôn mặt, khóe môi, vừng trán, ánh mắt kể cả nụ cười của người dân đang sống dưới cùm gông nô lệ. Ðó mới chính là sự bảo lưu quá khứ để biến thành cái “thần“ của Việt Sử, một sự trái ngược hoàn toàn với những câu chuyện “Sử Ngụy Tạo“ của bồi bút Ðảng dành tâng bốc và phong thánh cho lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chuyện của “Bác Hồ và Đảng ta“ căn cứ vào sách vở, có kể suốt đời người cũng không hết chuyện !

Tài Liệu Tham Khảo:

-Chánh Đạo, Cao Thế Dung, Tạ Chí Đại Trường,
-Vũ Tài Lục, Trần Gia Phụng..
-Bùi Tín, Dương Thu Hương, Trần Văn Giàu..
-Thư Viện Việt Nam Toàn cầu..
-Sách báo trong và ngoài nước..

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Ngày 19-5-2016

Share this post