Khi Tiếng Mỹ Được “Chêm” Vào Tiếng Việt – Đàm Trung Pháp

Khi Tiếng Mỹ Được “Chêm” Vào Tiếng Việt – Đàm Trung Pháp

MỘT ĐIỀU KHÓ TRÁNH

Sau bốn thập kỷ tị nạn tại Mỹ, nhiều người Việt chúng ta sử dụng tiếng Mỹ thành thạo trong đời sống hàng ngày cũng như trong công ăn việc làm. Cũng vì vậy mà khi nói tiếng Việt với nhau tại quê hương mới này, chúng ta có khuynh hướng “chêm” khá nhiều tiếng Mỹ vào ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Trong các câu chuyện xã giao, trong báo chí, và ngay cả trong văn chương nữa, sự giao thoa giữa hai ngôn ngữ Việt và Mỹ là một hiện tượng tự nhiên và khó tránh.

code_switching

Các tiệm ăn mới khai trương thường không tính tiền nước uống cho thực khách và diễn đạt ý tưởng ấy bằng nhóm chữ Free nước ngọt. Kỳ diệu thay, nhóm chữ này dùng cú pháp Mỹ rất chỉnh: Tĩnh từ free mô tả danh từ nước ngọt được trịnh trọng đặt trước danh từ ấy! Vài tiệm phở có sáng kiến bán phở làm sẵn cho người mua mang về nhà, và quảng cáo thứ phở đó là “Phở to go”. Khỏi phải nói, nhóm chữ này cũng đúng cú pháp Mỹ luôn!

Người viết được đọc trên báo chí một bài thơ vui của tác giả Nguyễn Phú Long, trong đó tiếng Mỹ thoải mái sánh vai cùng tiếng Việt. Mời quý bạn thưởng lãm bài thất ngôn tứ tuyệt “mang hai dòng ngôn ngữ” được sáng tác để mừng tân xuân buồn tẻ nơi hải ngoại:

Xe thư bưu điện đến rồi đi,
Ngoài coupons ra chả có gì.
Bạn tới chúc xuân khui nước ngọt,
Buy one ngoài chợ get one free.

HIỆN TƯỢNG ĐẠI ĐỒNG

Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ của chúng ta thực ra là một khuynh hướng đại đồng. Mọi sắc tộc di dân khác tại xứ này đều “chêm” tiếng Mỹ vào tiếng mẹ đẻ của họ, chẳng khác gì chúng ta cả. Khả năng sáng tạo của bộ óc loài người trong cách sử dụng hai ngôn ngữ thoải mái bên nhau để truyền thông hữu hiệu thực là thần kỳ.

Các ngữ học gia tại Mỹ ngày nay mệnh danh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ ngoạn mục này là code-switching và phản bác những lời phê bình lỗi thời lên án người sử dụng nó là cẩu thả, lai căng, hoặc hỗn loạn trí tuệ. Trái lại, họ cho rằng những người có khả năng cho hai ngôn ngữ hòa hợp với nhau một cách hữu hiệu là những người thực sự đã làm chủ được cả hai ngôn ngữ ấy, và khi cần thiết (như khi giao dịch với một cá nhân đơn ngữ) họ dư khả năng sử dụng chúng một cách “tinh tuyền” không pha trộn chút nào.

Người ta từng ví von một cá nhân “đơn ngữ” (monolingual) như một ca sĩ chỉ có thể đơn ca, một cá nhân “song ngữ” (bilingual)” như một ca sĩ có thể một mình song ca, và một cá nhân “đa ngữ” (multilingual) như nhạc trưởng một ban hợp ca!

code_switching1

LÝ DO CỦA CODE-SWITCHING

– Tiếng Việt không có ngữ vựng hoặc thành ngữ thỏa đáng để diễn tả một ý niệm mà chúng ta đã quá quen trong tiếng Mỹ. Thí dụ, khi còn ở quê nhà trước 1975, lúc bị bệnh không đi làm được, chúng ta đâu có gọi điện thoại vào sở để “cáo ốm” được? Thành ra, khi diễn tả ý niệm đó trong cuộc sống hiện tại, chúng ta liền cho thành ngữ rất tiện dụng của người Mỹ là call in sick giao duyên ngay với tiếng Việt mến yêu, để nẩy sinh ra câu “Bữa nọ mình bịnh quá, đi làm hết nổi, thành ra phải call in sick rồi nhờ người ta đưa đi bác sĩ đấy!”

Những từ ngữ chuyên môn như software, blueprint, email, workshop, những công thức ngắn gọn để chào hỏi, chúc tụng, cảm tạ, hoặc chia tay trong tiếng Mỹ như hello, good morning, sorry, congratulations, thank you, bye cũng rất được chúng ta chiếu cố và sẵn sàng chêm vào tiếng nói chúng ta một cách tự nhiên.

– Code-switching là một cách ngăn chặn không cho người khác “nghe lóm” chuyện riêng tư của mình. Chẳng hạn, hai người Việt đang tâm sự với nhau bằng tiếng Mỹ trong thang máy mà chợt thấy một người Mỹ đứng bên cạnh có vẻ tò mò lắng nghe. Họ bèn chuyển câu chuyện buồn ấy sang tiếng Việt để được “yên tâm” hơn: “My wife has asked for a divorce since I lost my job last year, you know … Đã mất việc rồi lại sắp mất cả vợ nữa, tôi chẳng còn thiết sống, anh ạ.”

– Yếu tố Mỹ chêm trong tiếng Việt là một cách gián tiếp nói lên một mối liên kết giữa những người “đồng hội đồng thuyền” với nhau. Người viết biết chắc nhiều Việt kiều áo gấm về làng khi gặp nhau tại quê cũ thế nào cũng “pha” ê hề tiếng Mỹ vào tiếng Việt của họ, như thể để nhắc nhở mọi người mọi giới rằng họ là những “người Mỹ gốc Việt” chính cống sáng giá lắm đấy, chứ không phải là đồ bỏ đâu: “Hey guys, are you from Little Saigon, too? Sẽ stay tại Huế bao lâu?”

Các người Mỹ gốc Việt tranh cử vào các chức vụ công quyền mà không chêm tiếng Việt vào tiếng Mỹ khi tiếp xúc với cử tri đồng hương thì khó mà lấy được phiếu bầu của họ: “When I get elected as mayor of this city, kính thưa bà con cô bác, I will do my best to serve the needs of elderly folks in our dear cộng đồng…”

– Yếu tố Mỹ trong tiếng Việt cũng cho thấy người nói sắp chuyển sang một thái độ mới, như để cảnh giác người nghe. Này nhé, khi thấy sắp đến giờ đi học mà đứa nhỏ còn nằm dài trên giường, người mẹ song ngữ Việt-Mỹ có thể phát ngôn: “Này cu Tí, gần bảy giờ sáng rồi đấy nhá. Ngủ nhiều rồi mà. Now get up!”. Nghe bà mẹ hiền đang nói tiếng Việt rồi bà bất chợt chuyển sang tiếng Mỹ ở câu cuối cùng thì cu Tí, dù có lì lợm đến mấy, chắc cũng phải nhảy ra khỏi giường tức khắc!

CHÊM TIẾNG MỸ VÀO CHỖ NÀO TRONG CÂU?

– Các danh từ, động từ, tĩnh từ Mỹ có thể được chêm vào chỗ phù hợp trong câu: “Chị ơi, em đang depressed quá vì em và boyfriend vừa split rồi!”

– Các số từ, giới từ, liên từ Mỹ không thể chêm vào câu Việt. Không ai nói: “Tôi nghĩ fifteen ngày nữa việc này mới xong.” || “Làm ơn dẫn con chó ấy across con đường dùm tôi!” || “Although Lan nghèo, cô ta rất hạnh phúc.”

– Các từ ngữ thông dụng tiếng Mỹ thường được chêm vào đầu hay cuối câu: “As a matter of fact, nó vừa đến thăm tôi hôm qua mà.” || “Tay ấy thì xạo hết chỗ nói rồi, you know.”

– Trong một câu kép (compound sentence) hoặc một phức hợp (complex sentence), tiếng Mỹ có thể chiếm nguyên một mệnh đề trong đó: “You can drink coffee, nhưng tôi sẽ uống nước trà.” || “Nếu mà anh mệt, please stay home tomorrow!”

Người viết mạn phép “chêm” tiếng Mỹ vào trong phần kết luận dưới đây. Rất mong quý bạn đọc không nghĩ là người viết ôm đồm nhiều ngoại ngữ quá cho nên đã bị “tẩu hỏa nhập ma” rồi:

“Code-switching giữa hai ngôn ngữ Việt và Mỹ là một natural phenomenon, cho nên chúng ta chẳng phải worry gì cả về issue này, OK? Vả lại, cái habit chêm tiếng Mỹ vào tiếng Việt này nó khó quit lắm! Quý bạn cứ try your best nói tiếng Việt “tinh tuyền” về politics hoặc jobs trong một bữa cơm gia đình mà coi. It will be a pain, tin tôi đi!”

* Sưu tầm, trình bày tranh và câu chữ minh họa: Ngọc Dung.

Share this post

2 thoughts on “Khi Tiếng Mỹ Được “Chêm” Vào Tiếng Việt – Đàm Trung Pháp

  1. Tôi cho rằng tác giả đã quá dễ dãi. Nhớ đâu đó học giả Nguyện Hiến Lê có viết đại khái đừng chêm tiếng Pháp tiếng Anh vào tiếng Việt trong câu nói chứ đừng nói chi câu văn viết vì nghe rất lố lăng. Tôi ủng hộ lập trường này.

  2. Tôi hoàn toàn tán thành bình luận của hội viên [B]YeuTrongNguoi[/B].
    Thiết nghĩ đây cũng là cách biểu thị – lòng yêu Tổ Quốc Việt Nam -> Gìn Giữ Sự Trong Sáng của Tiếng Mẹ.
    Nhân tiện xin kể lại ý tưởng của Nguyên Tổng Uỷ Viên Hướng Đạo Việt Nam – Trưởng Trần Văn Lược…
    – Tục nhuộm răng của quý cụ ngày trước; theo cách suy nghĩ của Trưởng…

    LÀ ĐỂ PHÂN BIỆT: – TA và TÀU (trong một gia đình có hôn phối VIỆT – TRUNG)
    Anh chồng Tàu và cô vợ Việt (răng đen mã tấu) hoặc Anh chồng Việt (nhuộm răng) và cô vợ Hoa.

    Việc nhuộm răng, không phải giản đơn và thoải mái đâu nhé! Phải chịu ‘phù mỏ’ hàng vài tuần cùng ăn cháo đấy.
    Vui lòng tham khảo thêm:
    [CENTER][IMG]https://www.vietravel.com/images/news/1.jpg[/IMG] [/CENTER]

    Ở Việt Nam, tục nhuộm răng đen không chỉ có ở người Việt mà còn có ở nhiều dân tộc khác như Thái, Sila, Dao… Và cũng không chỉ riêng Việt Nam, ở Campuchia (Cao Miên xưa), người Mã Lay (Nam đảo), An Độ, Nhật Bản, Nam Trung Hoa cũng có tục này.

    [B]Nguồn gốc của Tục nhuộm răng[/B]
    Lịch sử của tục nhuộm răng ở Việt Nam vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Theo truyện cổ tích nước ta ghi nhận vào thời nhà Chu, ở Việt Nam đã xuất hiện tục nhuộm răng, theo đó “Người Việt có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen…” và có liên quan đến hai tục khác là ăn trầu và xâm mình. Tuy nhiên, trong Đại Việt Sử ký Toàn thư lại không ghi nhận điều này, mặc dù có đề cập đến tục xâm mình.
    Trong Lịch sử Việt Nam (Tập I, NXB KHXH, 1971, trang 48) có ghi: “thời Hùng Vương… người ta nhuộm răng, ăn trầu”.
    Vào thế kỷ XVIII (1789), trong bài Hịch của Vua Quang Trung có một đoạn nói về tục nhuộm răng như sau:
    Đánh cho để dài tóc
    Đánh cho để đen răng
    Như vậy, có thể tạm xác định tục nhuộm răng đen đã ra đời từ rất lâu, có thể có từ thời Văn Lang. Trong đó, thông tin đáng tin cậy nhất là khoảng trước thế kỷ XVIII đã có tục này.

    [IMG]https://www.vietravel.com/UserFiles/Image/Rang%20den%201.jpg[/IMG]

    [B]Ý nghĩa của việc nhuộm răng[/B]
    Tục nhuộm răng đen trước hết là do quan điểm thẩm mỹ. Trong văn chương, tục nhuộm răng và răng đen của người phụ nữ được ca ngợi tôn vinh như một nét đẹp không thể thiếu được.
    “Răng đen ai nhuộm cho mình
    Cho duyên mình đẹp, cho tình anh say?” (Ca dao)
    Hay:
    “Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
    Bõ công trang điểm má hồng răng đen” (Ca dao)
    Và:
    “Năm quan mua lấy miệng cười
    Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen” (Ca dao)
    Trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” Hoàng Cầm:
    “…Những cô hàng xén răng đen
    Cười như mùa thu tỏa nắng…”
    Bên cạnh đó là ý thức dân tộc trong việc phân biệt hai nền Văn hóa phương Nam (Việt Nam) và phương Bắc (Trung Quốc). Bài Hịch của Quang Trung là một dẫn chứng về điều này, đã là người dân Việt thì dù nam hay nữ từ 16 đến 17 tuổi đều phải nhuộm răng đen. Người nào để răng trắng thì bị khinh rẻ, miệt thị vì cho là người bất chính mà trong dân gian thường dùng câu: “Răng trắng như răng chó”, “[B][COLOR=#ff0000]Răng trắng như răng ngô[/COLOR][/B]”. (Ngô: Tàu)
    Việc nhuộm răng đen đã trở thành luật, phổ biến trong dân chúng, trừ những đức trẻ còn răng sửa, ngoài ra đều phải nhuộm đen, không ai có thể cưỡng lại qui luật trên. Nếu phạm luật sẽ bị cộng đồng tẩy chay. Nếu chỉ dựa trên quan điểm thẩm mỹ thì mang tính cá nhân nhưng khi đã thành luật thì nó mang một ý nghĩa khác, mang tính quốc gia dân tộc. Trong bối cảnh này, chinh chiến luôn diễn ra triền miên giữa nước ta và chính quyền phong kiến phương Bắc, vì vậy, chỉ có một cách hiểu đúng là ý thức phân biệt văn hóa hai miền Nam – Bắc và chống đồng hoá.

    [IMG]https://www.vietravel.com/UserFiles/Image/Nhuom%20rang.jpg[/IMG]

    [B]Kỹ thuật nhuộm răng[/B]
    Người Việt chỉ nhuộm răng khi đã thay răng sửa hoàn toàn, vì đây là thời điểm răng còn non, dễ thấm thuốc vào men răng. Thuốc dùng để nhuộm bao gồm các thành phần chủ yếu như: Bột nhựa cánh kiến, nước cốt chanh, phèn đen, nhựa gáo dừa.
    Nhuộm răng trước hết phải vệ sinh răng sạch, sáng bóng. Ba ngày trước khi nhuộm phải đánh, xỉa răng bằng vỏ cau khô với than bột trộn muối. Một ngày trước khi nhuộm phải ngậm chanh, súc miệng bằng rượu trắng, để men răng “mềm”. Thời gian này là một thử thách lớn vì nước cốt chanh sẽ làm sưng hết các bộ phận của miệng và răng. Thuốc nhuộm được pha từ bột cánh kiến và nước cốt chanh tạo thành một hỗn hợp sệt, sau đó trét (trát) lên lá dừa hoặc cau rồi áp lên răng. Công đoạn này thường được thực hiện sau buổi cơm chiều, nửa đêm sẽ được thay bằng một miếng khác, tương tự. Hôm sau người “thầy” nhuộm sẽ gở miếng nhựa sơn ra, người nhuộm phải súc sạch miệng bằng nước mắm hoặc nước dưa chua. Trong khi đắp sơn tuyệt đối không được mở miệng, tuần tự việc thay lớp thuốc nhuộm diễn ra 2 lần trong ngày, kéo dài trong 7 ngày liên tục. Trong những ngày này, người được nhuộm chỉ nuốt trọng (trửng) thức ăn.
    Khi răng có màu đỏ giống màu cánh kiến thì được bôi một hỗn hợp dung dịch khác bao gồm: phèn đen và nhựa cánh kiến, được phết trong vòng 2 ngày. Cuối cùng là cố định răng bằng nhựa gáo dừa, tác dụng của loại nhựa này nhằm tạo lớp men phủ trên thân răng. Kết quả của quá trình công phu này là một hàng răng đen đều như những hạt mãng cầu (na) hay còn gọi là răng hạt huyền. Để giữ răng luôn đen bóng, hàng năm phải phủ lên lớp như gáo dừa này.
    Vào đầu thế kỷ XX, khi thực dân phương Tây đến nước ta, trào lưu nhuộm răng đen ngày càng giảm và mất đi. Ngày nay, hiếm gặp những thiếu nữ răng đen trên đường phố, có chăng là những cụ già ở vùng Bắc Bộ.
    Tục nhuộm răng, ăn trầu là những phong tục truyền thống của nước ta, mặc dù hiện nay không còn tồn tại nhưng tục nhuộm răng là một trong những giá trị văn hóa dân tộc cần được trân trọng và lưu giữ.
    [I][B]Nguồn[/B][/I]: vietravel.com/vn/van-hoa-phong-tuc/tuc-nhuom-rang-den-cua-nguoi-viet-v243.aspx