Kiếm Được Việc Làm – Nguyễn Huy Côn

Kiếm Được Việc Làm – Nguyễn Huy Côn

         Tia nắng ban mai chiếu vào ô cửa sổ làm ông choàng dậy. Ông vẫn có thói quen dậy sớm để chuẩn bị đi làm cho thư thả. Mà hôm nay dậy sớm làm gì, ông có phải đến cơ quan nữa đâu. Ông đã nghỉ hưu từ một tuần nay rồi mà. Nhưng ông vẫn vùng dậy. Mở toang cánh cửa mở ra ban công, ông vơn vai hít thở, làm vài động tác tay cho giãn xương giãn cốt. Bây giờ biết làm gì nữa nhỉ. Đánh răng rửa mặt xong, ông xuống phòng khách, hãm ấm trà uống buổi sáng cho minh mục. Vừa giở tờ báo, chưa đọc được hết bài xã luận thì một giọng nửa  khàn khàn, nửa the thé của vợ ông cất lên:

          – Ông đọc báo đấy à ?

           Câu hỏi này đối với ông trong những ngày còn tại chức, chỉ có ngụ ý là ông đã chuẩn bị xong chưa để tôi dọn cho ông ăn sáng rồi đi làm; song hôm nay khó nghe quá. Cái bà này lại nói kháy đây. Vâng, bây giờ tôi ăn không ngồi rồi, vô tích sự rồi nên chỉ biết đọc báo vặt. May mà nhà không nuôi con gà nào, chứ bà dám nói tôi bị về đuổi gà lắm ! Ấy ư là ông nghĩ vậy, chứ chẳng thèm trả lời bà ấy đâu. Chẳng đọc báo là gì đây mà bà còn phải hỏi cơ chứ. Người ta đã buồn chết ruột đi rồi mà còn khiêu khích, rỉa rói.   Ông lan man suy nghĩ, chẳng lẽ cứ ăn không ngồi rồi như thế này mãi  ?  Chẳng bù những ngày ông còn tại chức. Công việc lúc nào cũng rối bù lên , nhưng mà vui. Đến cơ quan là ông có uy thế hơn hẳn. Chẳng gì cũng là thủ trưởng một đơn vị hơn trăm con người, nào giải quyết việc này, nào họp hành việc nọ, lúc tiếp thượng cấp, khi quát mắng khiển trách cấp dưới. Biết bao nhiêu là việc có tên và không tên. Của đáng tội, khi về nhà thì uy thế của ông cũng giảm hẳn, bởi ông bận, chẳng giúp được gì cho gia đình, mọi việc trông cậy vào bà ấy cả. Bởi vậy nên ông cũng phải nể nang, thường là chiều bà vợ, ít khi có ý kiến trái ngợc khi bà ấy đề xuất việc này phải làm, vụ kia phải giải quyết. Thôi thì tùy bà. Quen thế rồi nên hình như ông không có tác dụng gì ở gia đình nữa, con cái cũng ít khi hỏi ý kiến ông trong việc làm ăn hay học tập của chúng. Nhiều khi chúng còn qua mặt ông cả những việc trọng đại như định lấy đứa này, định đi học trường kia. Thế nên ông ở thế yếu trong cái gia đình nhỏ bé này. Giờ đây ông lại ở nhà, chắc là suốt ngày này tháng khác, chưa biết làm việc gì cho khuây khỏa, để vợ con khỏi chê là mình vô tích sự hẳn rồi.

             Dễ có đến hơn một tuần lễ ông suy tư lung lắm. Bà vợ thấy ông ở tịt trong nhà, ăn ít, nói ít, ngủ ít mà ngại. Ông ấy có bao giờ như thế đâu. Đến ngày thứ mười thì bà thấy ông vui hẳn lên, ăn mặc chỉnh tề và ra khỏi nhà. Đến buổi chiều ông ở đâu về với gói to gói nhỏ trên tay, có vẻ nặng lắm. Thì ra ông mua sách: nào từ điển Hán-Việt , sách học tiếng Trung và  có những quyển sách viết thuần bằng chữ Hán, tất cả có dễ có đến chục cuốn chứ chẳng chơi. Từ hôm đó ông vui hẳn lên nhưng lại vùi đầu vào sách vở hết ngày, trừ hai bữa cơm. Sau một tuần, ông chuẩn bị đi đâu. Bà gặng hỏi thì ông bảo: tôi về quê ít ngày thăm mộ các cụ và có mấy việc khác nữa. Bà cũng chẳng hỏi thêm, vì biết tính ông, đã quyết cái gì là làm cho bằng được, can ngăn chỉ thêm rắc rối, mất vui.

           Đầu tuần sau, ông ở quê ra, hớn hở lắm. Ông bảo bà: chuyến này tôi đi thế mà được việc, kiếm được việc làm rồi ! Bà cũng thấy mừng vì thấy ông vui vẻ, không âu sầu như mấy ngày đầu mới về hưu nhưng cũng có lời: ông đã làm việc hơn bốn chục năm rồi, bây giờ nghỉ cho khỏe, tham công tiếc việc làm gì. Ông không trả lời, chỉ nhếch mép với một nụ cười bí hiểm. Thế rồi từ hôm đó ông như bị cuốn hút vào công việc, tra cứu, viết lách cả ngày. Bà tò mò muốn biết ông làm việc gì, làm cho ai để kiếm tiền nhưng chưa có dịp. Cho đến hôm ông đi khám bệnh, bà mới lẻn vào phòng làm việc của ông mà xem lén. Ban đầu bà tưởng ông dịch thuê tiếng Trung cho ngời ta, nhưng không phải. Với những sách này, bà lơ mơ hiểu rằng ông đang nghiên cứu và viết gia phả. Võ vẽ tiếng Hán, bà đọc được tên sách: Nào là Bách Gia Tính, Từ Nguyên, Trung Hoa khải mông độc vật. Sự phỏng đoán của bà càng có vẻ đúng khi bà thấy quyển gia phả họ Nguyễn  nhà ông đánh máy chữ không có dấu trên những trang giấy đen và xấu đã hoen ố. Bà định tìm hiểu kỹ hơn thì tiếng chuông gọi bà ra mở cửa đã không cho bà tò mò hơn nữa. Bà không nói gì với ông, nhưng thầm nghĩ: Cái ông này lẩm cẩm rồi, người ta thì kiếm tiền, mình thì làm những việc tốn tiền, tốn công sức, tốn thời gian.

          Có công ăn việc làm, tuy phải tốn công tốn của, ông càng thấy phấn khích mỗi ngày. Càng đi sâu nghiên cứu, ông thấy vấn đề không đơn giản chút nào. Hèn chi mà gần đây, có nhà nghiên cứu Việt Nam học ở nước ngoài đã từng đến Việt Nam để nghiên cứu  một số dòng họ lớn tại đây. Cứ tưởng là mình biết, mình có thể viết hoặc hoàn thiện cuốn gia phả của ông cha để lại, nhưng không phải như vậy. Khó khăn thì đầy rẫy: lai lịch các vị tiền nhân trong họ quá sơ sài, có đoạn lại không liên tục, bị đứt quãng một hai đời. Vậy là phải xem xét học tập từ đầu. Ông đọc sách Trung Quốc  thấy nhiều dòng họ vẫn giữ đợc gia phả liên tục đến mấy nghìn năm. Đấy, họ Khổng tính đến nay ghi đợc hơn 80 đời, có đến gần ba nghìn năm; rồi họ Hồ, tính đến chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào là hậu duệ đời thứ 68. Nghiên cứu vất vả thật, nhưng cũng được đền đáp bởi biết thêm nhiều kiến thức quý ưu giá.   Đọc sách, ông mới biết  là tên họ của ngời Kinh ở Việt Nam ta đều trùng với tên họ của ngời Trung Quốc. Đặc biệt là Trung Quốc chỉ không có họ Khiếu như ở Việt Nam.

          Ông cũng mất công đi đi về về quê nội, mà trước khi nghỉ hưu có đến ba mơi mấy năm ông không hề lai vãng. Có những lúc dòng họ lại tưởng như mất hút, ông lại vào thư viện tra cứu, hoặc có khi phải muối mặt đến cầu cạnh mấy học giả sành về gia phả học để xin ý kiến về cách thể hiện phả hệ, cách lần tìm dấu vết dòng họ. Phiền một nỗi, ông càng say sưa nghiên cứu thì bà vợ ông càng cho ông là lẩm cẩm, ấm đầu, chập mạch. Có lúc bực mình với ông vì làm cái việc không công ấy, bà đã lẩm bẩm cái câu mà trước đây hai chục năm ông thường được nghe:” Người đời cũng không được !”. Kệ, bà ấy nói gì, nghĩ gì cũng cho qua, miễn là được việc của mình. Ông phấn khởi nhất là cái đoạn tìm hiểu lai lịch của chính mình. Thì trước đây, để an toàn, ông cứ khai phứa trong lý lịch của ông là thành phần bần cố nông, ba đời tính từ ông lên bị bóc lột ghê lắm. Cũng may là từ đời cụ nội ông đã ra Hà Nội làm ăn nên khi người ta về quê xác minh lý lịch, đại diện chính quyền địa phương cũng chẳng biết, chỉ gật đầu lia lịa cho xong chuyện. Này nhé, nếu không nghiên cứu viết gia phả thì làm sao ông biết được ông là cháu mời ba đời  ông Nguyễn Trung Ngạn. Vị này là nhà văn thời Trần (1289-1370), người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Kim Thi hay Ân Thi), tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ vị này có năng khiếu văn học, nổi tiếng thần đồng, đậu Hoàng giáp năm 16 tuổi, đi sứ Trung Hoa đến hai lần, sáng tác hàng loạt thơ năm 1324 được thăng Thi ngự sử. Sau còn được giữ nhiều chức như : An phủ sứ Thanh Hóa, Chánh Sứ Viện thẩm hình, An phủ sứ Nghệ An, Thượng thư hữu bật, Thi kinh diên đại học sĩ,v.v. Tại Hà Nội, hiện vẫn còn đền thờ ở phố Mã Mây.

          Thế rồi, đúng đến ngày giỗ cụ nội, bà thấy ông dọn dẹp, quét tước, lau chùi  bàn thờ sạch sẽ lắm, điều mà mấy chục năm nay bà không hề thấy. Thì ra ông đã hoàn thành kế hoạch biên soạn cuốn gia phả của dòng họ sau đúng hai năm về hưu. Ông bỏ tiền ra (lấy từ quỹ đen của ông lập từ nhuận bút những bài mà báo mà bà không biết) để đánh máy vi điện toán và in đúng một chục cuốn gia phả, rồi lại cất công xuống cửa hàng mỹ nghệ tận dưới Tràng Tiền mua một hộp gỗ sơn mài chính hiệu để đựng cuốn gia phả bản gốc. Ông đặt lên bàn thờ, thắp hương và lầm rầm khấn khứa hồi lâu. Bà vợ, tưởng ông đã chấm rứt được cái việc mà bà cho là lẩm cẩm này và mừng thầm trong bụng vì thoát được cái cảnh trông thấy ông giam mình suốt ngày trong phòng làm việc, hí hoáy viết viết, lẩm bẩm, có khi lại cười sằng sặc như anh thần kinh. Nhưng cha hết. Ông bảo với bà ông về quê dăm hôm, mang theo hộp sơn mài đựng quyển gia phả gốc. Một tuần sau ông mới ở quê ra, mặt mày hớn hở. Ông kể rằng quyển gia phả mang về đặt ở nhà thờ họ xong là ông yên tâm lắm rồi. Ông còn ghé tai bà nói nhỏ rằng họ hàng chú bác trong quê mừng lắm, không ngớt khen ông tài cao đức dày, ngẫm mà cũng bõ cái công sức, tiền của bỏ ra. Súyt nữa thì bà thốt ra cái câu muôn thuở “người đời không được !” . May bà hãm được, chỉ nhỏ nhẹ bảo ông rằng : “Thôi, hai năm nghỉ hưu, ông làm việc nhiều quá rồi đấy, hôm nào vợ chồng mình đi du lịch một chuyến, ông có đồng ý không ? ”.

Nguyễn Huy Côn

Share this post