Kissinger

Kissinger

Kissinger là người Đức gốc Do thái sinh năm 1923 và cái tên Kissinger là do ông cố nội tên là Meyer Lob đặt cho dựa theo tên của thành phố Bad Kissingen. Năm 1938 cả gia đình ông ti nạn diệt chủng người Do Thái ✡ của Hitler, sang định cư ở New York và ông trở thành công dân Mỹ năm 1943. Kissinger giữ nhiều vai trò quan trọng cho chính phủ thuộc đảng Cộng Hòa từ năm 1968 đến năm 1976.

Khi còn là cố vấn an ninh quốc phòng cho Tổng Thống Nixon, Kissinger đã hòa giải với Bí TPHCM hư Leonid Brezhnev của Liên Sô để giảm bớt căng thẳng cho cuộc chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ. Năm 1971 Kissinger đã bí mật qua Trung Quốc hai lần thương thuyết với Thủ Tướng Chu Ân Lai và Chủ Tịch Mao Trạch Đông để mở đường cho cuộc viếng thăm lịch sử Trung Hoa của Tổng Thống Nixon và sau đó bình thường quan hệ giữa hai quốc gia. Đây là khúc quanh lịch sử cho cuộc chiến Việt Nam bởi vì khi còn là giáo sư của Đại Học Harvard, Kissinger đã được Đại sứ Henry Cabot Lodge mời qua Sàigòn rất nhiều lần trong những năm 1965, 1966. Khi về Hoa Thịnh Đốn, Kissinger đệ trình lên Nixon chương trình “Việt Nam hóa cuộc chiến và rút quân trong danh dự”. Do đó khi cuộc chiến Trung Đông bùng nổ năm 1968, Kissinger đã không ngần ngại đánh đổi Việt Nam cho sự hòa bình của Do T 🕊hái. Tại sao? Vì Nga sô và Trung Cộng là hai thế lực cung cấp vũ khí cho khối Ả Rập cho nên Kissinger nhượng bộ Việt Nam thì Nga và Tàu sẽ làm áp lực với Ai Cập buộc họ rút quân ra khỏi những vùng chiếm được của Do thái. Bù lại Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam. Kết quả đưa đến sự thương thuyết dai dẳng giữa Kissinger và Lê Đức Thọ rất nhiều năm và sau cùng Hiệp định đình chiến Paris năm 1973 ra đời mà trong đó Hoa Kỳ sẽ rút tòan bộ lục quân ra khỏi Việt Nam.

image.png
image.png

 Tháng 10 năm 1973 Kissinger và Lê Đức Thọ được giải thưởng Nobel cho hòa bình. Lê Đức Thọ từ chối không nhận vì ông nói rằng chiến tranh Việt Nam vẫn còn trong khi đó Kissinger bị nhiều khuynh hướng lên án hành động bán đứng đồng minh của ông chớ không phải thiết lập hòa bình cho miền Nam Việt Nam nên ông không xứng đáng lãnh giải thưởng này. Kissinger khi 9

lãnh giải thưởng đã viết cho hội đồng Nobel:” I accepted the award with humility”. Kissinger làm Bộ trưởng ngoại giao cho Tổng thống Nixon năm 1973 đến khi Nixon từ chức vì vụ nghe lén Watergate năm 1974. Ông tiếp tục làm bộ trưởng ngoại giao cho Tổng thống Ford đến năm 1977 và dĩ nhiên chứng kiến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975.

image.png
image.png

   Lịch sử đã chứng minh căn nguyên nguồn cội làm mất miền Nam Việt Nam bắt đầu từ chính phủ Nixon mà thành phần chính đóng góp vào đó là Kissinger. Nixon nhìn Trung quốc với dân số trên một tỷ người là một miếng mồi béo bở cho tư bản Hoa Kỳ cho nên Nixon sẳn sàng đánh đổi Việt Nam Cộng Hòa để chạy theo tham vọng kinh tế. Nixon nghĩ rằng với sự giúp đở tích cực của Hoa Kỳ trên khắp mọi lãnh vực để Trung quốc có thể phát triển giống như Nhật Bản sau đệ nhị thế chiến thì chắc chắn Trung quốc sẽ tự biến thể theo đường hường Tây phương và một ngày nào đó chế độ cộng sản tự nó biến mất. Kết quả từ đó đến nay, kinh tế Trung quốc đứng vào vị trí thứ hai trên thế giới chỉ sau Hoa Kỳ mà chế độ cộng sản vẫn trơ trơ chẳng những không suy yếu mà còn mạnh hơn. Cộng sản tiếp tục dùng bạo lực đàn áp dân Trung quốc, bịt miệng dân trên khắp mọi khía cạnh của xã hội. Tệ hại nhất là kinh tế Hoa Kỳ lại tùy thuộc rất lớn vào Trung quốc từ sản xuất đến nguyên liệu…Nói cách khác, Hoa Kỳ đã thất bại trong việc xoay chiều nền dân chủ ở Trung Hoa. Ngày nay tư bản Hoa Kỳ đầu tư quá to lớn ở Trung quốc cho nên nếu có xung đột thì tư bản Hoa Kỳ là người thiệt hại nhiều nhất. Sau gần bốn năm làm Tổng thống, Trump hăm dọa biết bao lần sẽ tăng thuế mậu dịch để  trừng trị Trung quốc về cán cân mậu dịch không đều giữa hai nước. Từ đàm phán này đến đàm phán kia, cho đến ngay nay vẫn chưa có một áp dụng nào về tăng thuế mậu dịch cả, chỉ là nói suông (all bark and no bite). Trung quốc vẫn y nguyên chẳng mất sợ lông nào bởi vì nếu thật sự có tăng thuế mậu dịch thì chính quyền Trung quốc chuyển phần thuế này vào những mặt hàng bán lại cho Mỹ và giới tiêu thụ Mỹ hay nói nôm na là dân Mỹ sẽ là người trả thêm phần thuế này. Nên nhớ tư bản Hoa Kỳ là người có quyền tối cao chớ không phải Trump (capitalism rules). Mời quý độc giả đọc kỷ bài phân tích sau đây. Linda Nguyễn [email protected]     Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973 Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Thay vì đưa đến “hòa bình trong danh dự”, hiệp định này mở đường cho CSVN xâm chiếm trọn vẹn miền Nam Việt Nam trong vòng hơn hai năm sau. Những tài liệu về chiến tranh Việt Nam được bạch hóa trong thời gian gần đây cho thấy những sự thật phũ phàng đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973. Tóm tắt diễn tiến Hiệp Định Paris 1973 Cuộc hòa đàm tại Paris bắt đầu từ 1968 vào cuối thời Tổng thống Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng Thống Richard Nixon nhưng không đạt được tiến bộ nào cả cho đến cuối nhiệm kỳ I của Ông Nixon khi Ông Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon đạt được một số đồng thuận trong những phiên họp bí mật với Ông Lê Đức Thọ, Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và trong cuộc tiếp xúc bí mật với các Ông Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.  Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý những điều kiện do CSBV đưa ra và đòi hỏi nhiều thay đổi. Hà Nội phản ứng bằng cách công bố chi tiết về những điều hai Ông Kissinger và Lê Đức Thọ đã đồng ý. Cuộc hòa đàm trở nên bế tắc. Một mặt Ông Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng liên tục trong 12 ngày vào cuối năm 1972. Mặt khác, Chính quyền Hoa Kỳ áp lực VNCH chấp nhận điều kiện ngưng chiến. Ngày 23-1-1973, hai Ông Lê Đức Thọ và Kissinger đồng ý về một thỏa hiệp sơ bộ. Bốn ngày sau đó, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết vào 27-1-1973. Hiệp Định này đòi hỏi ngưng bắn toàn diện tại miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ rút hết số quân còn lại tại Việt Nam trong vòng 60 ngày, quân CSBV (khoảng 150,000 binh sĩ) được phép ở lại miền Nam Việt Nam tại những vùng CSBV đã chiếm đoạt, và tất cả tù binh Hoa Kỳ được hồi hương. Hiệp Định Paris cũng kêu gọi Chính Phủ VNCH và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ và tự do tại miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột. Tổng Thống Nixon hứa sẽ sử dụng Không Lực Hoa Kỳ để bảo đảm sự thi hành hiệp định này. Trong khi đàm phán, Hoa Kỳ tiếp tục rút quân và thi hành chương trình Việt Nam hóa để quân lực VNCH dần dần thay thế quân lực Hoa Kỳ. Khoảng cách chạy tội Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27-1-1973. Việc mất miền Nam Việt Nam ít người Việt thời đó có thể dự đoán, nhưng không phải là điều ngạc nhiên đối với Hoa Kỳ mặc dù đã có Hiệp Định Paris. Thật vậy, chánh quyền Nixon không muốn thấy miền Nam Việt Nam sụp đổ trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972, vì như thế có nghĩa là hi vọng thắng cử nhiệm kỳ II của Ông Nixon cũng sẽ sụp đổ theo. Vì muốn bảo vệ thanh danh cho Hoa Kỳ và sự nghiệp chính trị của mình, Ông Nixon đã làm đủ mọi thứ để giữ miền Nam Việt Nam khỏi phải rơi vào tay CSVN trong nhiệm kỳ I (1969-1972). Trong cuộc họp bí mật đầu tiên với Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng 7, 1971 tại Bắc Kinh, Ông Kissinger bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản. Trên một tài liệu thuyết trình cho chuyến đi Bắc Kinh bí mật đầu tiên, Ông Kissinger ghi chú rằng Hoa Kỳ cần một thời gian chạy tội. Trung Quốc có sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông Kissinger viết nguyên văn như sau: “We need a decent interval. You have our assurance.” Theo những tài liệu do các phụ tá của Ông Kissinger ghi chép lại những lời đối thoại của ông với Thủ Tướng Chu Ân Lai, Ông Kissinger nói rằng Hoa Kỳ sẽ ấn định thời hạn chót cho việc rút quân và trong thời gian rút quân sẽ có ngưng bắn trong khoảng 18 tháng và đàm phán. Nếu thỏa hiệp thất bại, dân Việt Nam sẽ tự giải quyết. Nếu chính phủ miền Nam Việt Nam không được quần chúng ưa chuộng, lực lượng của Hoa Kỳ càng rút nhanh, chính phủ này càng sớm bị lật đổ và Hoa Kỳ sẽ không can thiệp. Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau: “We will set a deadline for withdrawals, and during withdrawals there should be a cease-fire, and some attempt at negotiations. If the agreement breaks down then it is quite possible that the people in Vietnam will fight it out. If the [South Vietnamese] government is as unpopular as you seem to think, then the quicker our forces are withdrawn the quicker it will be overthrown. And if it is overthrown after we withdraw, we will not intervene. We can put on a time limit, say 18 months or some period [for a cease-fire].  National Security Advisor Henry Kissinger, Beijing, July 9, 1971. Hoa Kỳ cũng không muốn miền Nam Việt Nam mất nhanh chóng trong vòng sáu tháng sau khi Hiệp Định Paris ký kết để Hoa Kỳ không bị mang tiếng thua trận. Nhưng nếu là hai năm, sẽ không có vấn đề gì cả.  VNCH cần phải tự lực chiến đấu trong một thời gian đủ dài để chịu trách nhiệm về cuộc bại trận cuối cùng. Sau đây là phần phát biểu thâu băng của Ông Nixon về vấn đề này: “The country would care if South Vietnam became Communist in a matter of six months. They will not give a damn if it’s two years.” President Richard M. Nixon, March 17, 1973. Ông Kissinger trước đó cũng có quan điểm tương tự về việc mua thời gian để tháo chạy mà không bị bẽ mặt: “ We’ve got to find some formula that holds the thing together a year or two, after which – after a year, Mr. President, Vietnam will be a backwater. If we settle it, say, this October, by January ’74 no one will give a damn.” National Security Adviser Henry A. Kissinger, August 1972. Cả hai ông Nixon và Kissinger đều đồng ý rằng VNCH có thể sẽ mất sau cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ vào tháng 11, 1974. Nếu xẩy ra vào mùa xuân 1975, thời điểm này tốt hơn là mùa xuân 1976. Nhà Sử Học Ken Hughes thuộc University of Virginia nhận xét rằng: “Nhiều người có tư tưởng phóng khoáng nghĩ rằng Ông Nixon thật sự cương quyết muốn ngăn chặn Cộng Sản thắng ở Việt Nam. Nhưng Ông ta chỉ cương quyết ngăn chặn Đảng Dân Chủ thắng tại Hoa Kỳ mà thôi.” Sử Gia Ken Hughes, June 2010. Vào tháng 2, 1972, Ông Nixon viếng thăm Bắc Kinh lần đầu tiên, làm thân với Trung Quốc, khởi sự thảo luận với Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Chu Ân Lai về chính sách một nước Trung Hoa, và đạt được sự bảo đảm của Bắc Kinh về giải pháp hòa bình trong danh dự đối với Việt Nam với một khoảng cách chạy tội (decent interval). Kéo dài chương trình Rút Quân và Việt Nam Hóa chiến tranh Những tài liệu mới giải mật cũng cho thấy Ông Nixon và Ông Kissinger tin rằng: 1.    Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh sẽ không làm cho miền Nam Việt Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ. 2.    Những điều kiện “hòa bình” mà Ông Kissinger đã thương thuyết sẽ làm miền Nam Việt Nam sụp đổ sau một thời gian một hoặc hai năm (khoảng cách chạy tội). Để che đậy sự thất bại của chiến lược Việt Nam Hóa và thương thuyết, Ông Nixon với sự khuyến cáo của Ông Kissinger, kéo dài cuộc chiến tranh đến năm thứ tư (1972) của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên – dài đủ để tránh sự sụp đổ của VNCH trước ngày bầu cử nhiệm kỳ II.  Chính vì vậy mà Ông Nixon kéo dài chương trình rút quân qua nhiều năm. Trong cuốn băng thâu bí mật tại phòng bầu dục trong Tòa Nhà Trắng, Ông Nixon nói: “We’ve got dates in mind. We’ve got dates everywhere [from] July to August to September [to] October [to] November to December [to] January of 1973.” President Richard Nixon, September 4, 1971. Quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu giảm từ cao điểm 543,000 người vào năm 1968 và đến đầu năm 1973 mới chấm dứt, tức là sau cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972. Đối với công chúng, Ông Nixon phải rút một số quân về nước đủ để thỏa mãn hai mục tiêu: 1.    Chứng tỏ chương trình Việt Nam hóa thành công. 2.    Giữ lời hứa khi tranh cử. Đối với sự nghiệp chính trị, Ông Nixon hoàn toàn bám vào lịch trình tranh cử để hoạch định chương trình rút quân, dù có đạt được thỏa thuận với Hà Nội hay không (Theo Ông Nixon sắc xuất chỉ có 40% – 55 %) và bất kể VNCH có đứng vững sau khi quân Hoa Kỳ rút về nước hay không. Hãy nghe cuộc đối thoại giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger vào ngày 11-3-1971: Nixon: “We’ve got to get the hell out of there.” Kissinger: “No Question.” Tuy nhiên trước công chúng Hoa Kỳ, Ông Nixon vẫn hứa một giải pháp hòa bình trong danh dự. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam chỉ khi nào chương trình Việt Nam hóa hoặc cuộc thương thuyết thành công – khi miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ và tự quản trị. Hoa Kỳ thất hứa không can thiệp trong trường hợp Hiệp Định Paris bị vi phạm Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tin rằng những điều kiện Hoa Kỳ cho phép 150,000 quân CSBV ở lại miền Nam sẽ khiến VNCH sụp đổ. Theo tài liệu mới được bạch hóa, trong buổi họp với Tướng Alexander Haig, phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, tại Saigon vào ngày 4-10-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng theo đề nghị của Hoa Kỳ, chính phủ VNCH tiếp tục tồn tại. Nhưng đây chỉ là giải pháp đau lòng và sớm muộn chính phủ này sẽ sụp đổ và theo đó Ông Thiệu sẽ phải tự sát. Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau: “In the proposal you have suggested, our Government will continue to exist. But it is only an agonizing solution, and sooner or later the Government will crumble and Nguyen Van Thieu will have to commit suicide somewhere along the line.” President Nguyen Van Thieu, Saigon, October 4, 1972. Ông Thiệu cực lực phản đối đề nghị hòa bình giả tạo của Hoa Kỳ làm cho cuộc hòa đàm ở Paris ngưng lại. Ông Nixon phải hứa sẽ tăng viện trợ quân sự và Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu CSBV tấn công. Đồng thời Ông Nixon đe dọa sẽ cắt viện trợ để buộc Ông Thiệu phải chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới được bạch hóa cho thấy rằng Ông Nixon đe dọa đến cả tính mạng của Ông Thiệu: “I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do any damn thing, that is, or to cut off his head if necessary.” President Richard Nixon, January 20, 1973. Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris. Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris. Hiệp Định Paris chỉ giúp Hoa Kỳ rút được quân ra khỏi Việt Nam an toàn, chấm dứt việc can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tại Việt Nam, nhưng đã không mang lại hòa bình cho Việt Nam. Thật vậy, khoảng một năm sau, vào tháng 1, 1974, Tổng Thống Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris không còn giá trị sau khi Cộng quân lợi dụng cuộc ngưng chiến trong năm 1973, tiến hành những trận đánh nhỏ để chiếm những vùng xa xôi hẻo lãnh. Trong khi đó Quốc Hội Hoa Kỳ tiếp tục giảm viện trợ cho Việt Nam từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973, 1.1 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1974, và 700 triệu Mỹ kim cho tài khóa 1975. Tình trạng miền Nam Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1974 khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật 1974 Foreign Assistance Act, chấm dứt tất cả những viện trợ quân sự. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ không thể thể dùng không lực để trợ giúp miền Nam Việt Nam khi CSBV vi phạm Hiệp Định Paris. Sau khi Đạo Luật Viện Trợ Ngoại Quốc 1974 ban hành ít lâu, CSBV tiến đánh và chiếm tỉnh Phước Long vào ngày 6-1-1975 và tỉnh Bình Long vào ngày 7-1-1975. Khi không thấy Hoa Kỳ có phản ứng nào cả, ngày 8-1-1975 Hà Nội ra lệnh tổng tấn công để giải phóng miền Nam bằng cách ngang nhiên xua quân vượt qua biên giới Bắc Nam, tấn công toàn diện Vùng I và II Chiến Thuật vào tháng 3, 1975 và cuối cùng chiếm Saigon vào 30-4-1975 đúng với thời hạn mà hai Ông Nixon và Kissinger dự đoán. Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Schlesinger điều trần trước Quốc Hội vào ngày 14-1-1975 rằng Hoa Kỳ không giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu. Bẩy ngày sau, Tổng Thống Gerald Ford, người thay thế ông Nixon từ chức vì vụ Watergate, tuyên bố rằng Hoa Kỳ không sẵn sàng tái tham chiến tại Việt Nam. Tại New Orleans vào ngày 23-4-1975, Ông Ford tuyên bố chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Vào buổi trưa ngày 29-4-1973, Đài Phát Thanh Saigon truyền đi bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua dọng ca của Bing Crosby, báo hiệu cuộc di tản cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu. Kết luận Hoa Kỳ dưới thời Nixon đã bỏ rơi đồng minh của mình là một điều đáng hổ thẹn đối với một quốc gia biết tôn trọng những giá trị cao quý. Nhưng may thay, những sử gia và những nhà phân tách Hoa Kỳ ngày nay đã phanh phui ra sự thật và lên án nặng nề những lỗi lầm đó. Đặc biệt GS Larry Berman đã viết hai cuốn sách được nồng nhiệt đón nhận: 1.    Planning Tragedy: The Americanization of the War in Vietnam (1982). 2.    No Peace No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (2001). Về phía người Việt, hơn ai hết, chúng ta có trách nhiệm lớn về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam và đưa phần đất này vào tay Cộng Sản. Nếu Hồ Chí Minh khôn ngoan đã không du nhập chế độ Cộng Sản vào Việt Nam và nếu người dân Việt Nam, kể cả một thành phần không nhỏ trí thức, khôn ngoan đã không đi theo Cộng Sản để reo rắc đau thương triền miên cho đất nước trong một nửa thế kỷ và làm đất nước chậm tiến như ngày nay. Một bài học lớn là đừng bao giờ chui vào vòng nô lệ của bất cứ ngoại bang nào dù là đồng minh. Hoa Kỳ có câu: “there is no such thing as a free lunch” do đó ngày xưa Trung quốc giúp Hà Nội đánh đổ miền nam Việt Nam thì Phạm Văn Đồng phải ký công hàm dâng Trường Sa, Hoàng Sa và các vùng duyên hải cho Tàu. Cũng như Nguyễn Ánh ngày xưa vì muốn báo thù Tây Sơn Nguyễn Huệ nên đã cõng rắn Pháp vào phá nát Việt Nam trên trăm năm. Bài học lịch sử còn đó, đất nước Việt Nam lúc nào cũng còn đó, chế độ này xuống thì chế độ khác lên, cứ thế mà xoay vần theo thời gian. Chỉ khác là chế độ nào vì dân, lo cho dân và sự hưng thịnh của quốc gia thì người dân sẽ sống trong cảnh thái bình, tự do, dân chủ, cơm no áo ấm và ngược lại. Đối với Hoa Kỳ, bạn hay thù không quan trọng, quyền lợi kinh tế là trên hết nghĩa là bất cứ nơi nào có quyền lợi kinh tế thì Hoa Kỳ nhúng tay vô. Cách nay 50 năm, cộng sản Việt Nam là kẻ thù của Mỹ, nhưng năm 2019 Trump qua Hà Nội tay bắt mặt mừng với Nguyên Xuân Phúc và không quên dương cao lá cờ đỏ sao vàng để tăng thêm tình hữu nghị.   image.png
ReplyForward


On Tue, May 5, 2020 at 10:02 PM nmh5475 via Phụng Sự Xã Hội <[email protected]> wrote:
FYI
Nmh


From: [email protected]
Reply-to: [email protected]
To:
Sent: 5/5/2020 10:56:21 PM Central Standard Time
Subject: [PSXH] Fwd: Fw: Tuyệt vời. Một bài viết thật công phu và giá trị.

From: Chau Nguyen

From: H-Yến Trần

From: Cao Manh Tran
Sent: Tuesday, May 5, 2020 6:02 AM
Subject:  Tuyệt vời. Một bài viết thật công phu và giá trị.
Thân chuyển.  TCM
 Tuyệt vời. Một bài viết thật công phu và giá trị.

Inline image

Clinton chính là người đã giúp cho Trung Cộng trổi dậy hùng mạnh, Ông ta đã bán đứng nước Mỹ cho chúng nó (Quỷ đỏ china) từ lâu rồi., Hèn gì chỉ trong thời gian ngắn ( 1993- nay) nó đã nổi lên một cách đáng nể, mà đáng lẽ là phải mất tới cả 100 năm, thì Trung cộng mới có thể được như ngày hôm nay!! Thanks for Clinton 😡

Chắc mọi người ai cũng biết đến quyển sách Death by China cua Peter Navarro, nói về những sự làm ăn bất chính , xảo trá , Âm mưu lường gạt của Trung Cộng đối với Mỹ và thế giới, nhưng hãy đặt câu hỏi tại sao nó lại có thể được phép làm những điều quỷ quyệt mà không bị trừng phạt như Mỹ đã thường hay làm với các quốc gia khác trong quá khứ ? Hôm nay Angie xin bổ sung thêm hai quyển: Year of the rat , Đọc xong quyển này các bạn có thể hiểu chính Clinton là người đã giúp và tiếp tay cho phép nó làm như vậy bằng cách bán đứng nước Mỹ Không thương tiếc, các bạn không thể tưởng tượng no khốn nạn tận cùng đến thế nào đâu,Clinton nó cho tàu cộng không những Đặc quyền đặc lợi về thương mại, ( tha hồ bán hàng hóa thả dàn vào Mỹ mà không bị thuế, hàng hóa của nó làm không phải theo việc chế tài hay quy định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường, cước phí giá rẻ gần như cho không) bảo sao nó bán sang Mỹ không lời được? Những điều tệ hại là Clinton Đã tiết lộ tất cả những kế hoạch quốc phòng của Mỹ cho nó biết, Đồng thời những gì tối bí mật về gián điệp vũ khí nó cũng biết luôn, Những tin tức về các chính sách Thương mại đầu tư mà Mỹ sẽ thi hành đối với trong nước và ngoài nước, nó cũng biết hết , vì thế những thương vụ đầu tư của nó đều có lợi hàng 1.000.000.000 đô la cho tụi trung cộng, Không trách tại sao mà có quá nhiều ty phú Trung Cộng và những người làm ăn dính dáng tới nó đều dầu lên một cách nhanh chóng Chỉ trong một thời gian ngắn, Clinton chính là thủ phạm Chứ không ai khác đã tạo cho thằng tàu cộng được như ngày hôm nay, Thử tưởng tượng nếu như vợ Hillary cũa Clinton lên làm tổng thống nữa thì không biết sự tình sẽ đi tới đâu?

Tác giả quyển sách này đã chơi chữ YEAR OF RAT 🐀 , 1996 năm con chuột theo lịch Á Đông, Mà chuột ở đây chính là những Người cùng băng đảng với Clinton, như tác giả đã nói phải tẩy uế hoàn toàn kỹ lưỡng từ trong ra ngoài mới diệt sạch được những con “chuột “ này Ở trong nhà trắng. FBI và tất cả những bạn bè khác của Clinton trong các Cơ quan văn phòng chính phủ đều là những con “chuột”. Tác giả đã nói : Bill Clinton made a series Faustian bargain with the communist Chinese , Câu này thật đúng và thâm thúy nhung rất khó dịch ( Faust có nghĩa là sẵn lòng bán linh hồn cho quỷ dữ Để đổi lấy quyền lực và danh vọng, và linh hồn sẽ thuộc về quỷ dữ mãi mãi , còn người bán linh hồn sau đó sẽ Đời đời xuống hỏa ngục ,Faustian là tính từ, Như vậy Ý của tác giả muốn nói rằng Clinton Đã thực hiện hàng loạt các cuộc thương lượng bán linh hồn của mình cho quỷ dữ với tàu cộng Để đổi lấy quyền lực)
Logistics trong bài viết này cũng rất khó Chuyển sang tiếng Việt – Logistic có nghĩa là sắp xếp vận chuyển Quân trang quân dụng Vũ khí, Điều động quân đội , sắp xếp các ban ngành làm theo đúng thứ tự chức năng và Phải nhịp nhàng Ăn khớp Voi Kế hoạch hành quân .

Edward Timberlake and William Triplett ll , Áp dụng quyền The Freedom of information act, Đòi hỏi được Điều tra chính quyền Clinton , sau khi hơn năm năm trời điều tra, với những bằng chứng cụ thể không chối cãi được, Họ đã viết quyển YEAR OF RAT , một quyển sách nói về sự tham nhũng thối nát của chính quyền Clinton bán đứng nước Mỹ cho Trung Cộng , Đơn giản cũng bởi vì ham quyền lực. Clinton Sex Scandal là chuyện nhỏ nhặt không đáng kể, chúng ta có thể bỏ qua cho Ông ta nhưng những chuyện mà ông ta đã làm cho Trung Cộng, Đơn giản cũng chỉ vì quyền lực và danh vọng và những tình tiết được khám phá chắc chắn sẽ làm cho tất cả các bạn giận dữ và tự hỏi : liệu nước Mỹ sẽ đi về đâu???? (vì chuyện này đã xảy ra lâu lắm rồi)

dưới đây là bản tóm tắt ngắn gọn những gì Clinton Đã làm với Trung cộng để tàn phá nước Mỹ, nếu bạn nào muốn tìm hiểu kỹ thì phải có sách đó , sách gồm hai cuốn: 1/ YEAR OF RAT , 2/ RED DRAGON RISING. Các bạn có thể mua ở Amazon EBay
Year of rat : là một cuốn sách nói về Những việc làm bán nước hại dân của Clinton cho Trung + Cũng chỉ vì ham quyền lực Quyển thứ hai Red Dragon rising nói về sự trỗi dậy của Trung Cộng và kế hoạch chiếm đóng các nước khác bằng quân sự.
Xin tóm tắt quyển year of rat . Năm con chuột, 1996 Theo lịch Á Đông là năm con chuột, Những con chuột gián điệp và băng đảng của nó thì đầy nhóc trong toà Bạch cung, chỉ có thể tẩy uế toàn bộ từ trong ra ngoài Không chừa một chỗ nào mới giết sạch được những con chuột này, lý luận này không làm bạn đọc ngạc nhiên: CLINTON Đã thực hiện một chuỗi thương lượng mặc cả mua bán có tính cách “ bán linh hồn cho Quỷ sứ Để đổi chác “ với tàu cộng và những Agents của nó ở Mỹ. Đưa cho tàu cộng những bí mật của an ninh quốc gia để đổi lại sự đóng góp mạnh mẽ của họ cho ban vận động tranh cử của Clinton.
Sự phản bội của Clinton Từ việc tiết lộ những top secret Cho đến Việc giúp hiện đại hóa quân đội giải phóng nhân dân Trung cộng, mẫu chốt của vấn đề là Clinton biết rõ Nhưng vẫn làm , vì Trung Cộng thâm nhập từng bước một Chỉ để điều khiển các chính trị gia Hoa Kỳ mà thôi.
John Huang , làm việc ở Lippo Bank , Đại diện cho tầng lớp hoa kiều giầu có, bạn của Clinton, , Được gián điệp của tàu cộng là Riady và các gián điệp tàu cộng cấp trên của ông ta ( mà Riady Cũng là gián điệp của Hoa Kỳ nhưng theo Trung cộng) Cố gắng đưa Huang Được làm việc ở bộ thương mại 1994, mục đích là để ăn cắp những tin tình báo và đầu tư của Hoa Kỳ rồi chuyển cho Trung cộng, khi các viên chức bộ an ninh muốn ngăn chận việc Để cho Huang làm việc Ở nơi có những hồ sơ tối mật, lập tức Riady “ mua “một cuộc hẹn với Hillary liền, giá cho cuộc hẹn này là 100 ngàn, Số tiền này được trả cho Hubbell với danh nghĩa là consultant fee Người trả số tiền này là Lapseng, một trùm băng đảng mafia Á châu, và đồng đảng của ông ta là Charlie Trie, Cũng là bạn cũa Clinton, Cũng cùng ngày đó Monday June 20th 99 , Hubbell gặp Killary bày tỏ sự khó khăn về tài chánh của mình, Lapseng Lặng lẽ tới Hoa Kỳ với một va li tiền mặt 175 ngàn , Không đầy một tháng sau Huang bắt đầu làm việc ở bộ thương mại.
CIA nói rằng chỉ trong một thời gian ngắn ngủi làm việc ở bộ thương mại, Huang đã đọc khoảng từ 370 – 550 Hồ sơ tình báo của Hoa Kỳ trong đó bao gồm luôn cả hồ sơ MEM DISSEM , có nghĩa là” tuyệt đối không được phép lộ ra, vì có thể dẫn đến sự mất mạng của những người cộng sự”. CIA hoàn toàn không hề phóng đại một chút nào khi nói rằng những hồ sơ như vậy hoàn toàn là nhạy cảm cần phải được giữ kín tuyệt đối, Thế mà Clinton Để cho gián điệp tàu cộng khơi khơi tha hồ coi tha hồ mà ăn cắp , hoàn toàn không quan tâm để ý một chút nào.
Khi Dick Morris thông báo cho Clinton biết cuộc vận động tranh cử có thể sẽ thất bại nếu như không nhanh chóng dùng những phương tiện truyền thông phủ sóng chớp nhoáng ( expensivev media blitz) Lẽ dĩ nhiên muốn như vậy thì phải có tiền, Clinton nói với Riady , lập tức Huang trở thành người gây quỹ cho DNC, vì chỉ có như vậy, gián điệp tàu cộng Riady và những tay chân của nó mới có thể đóng góp vào quỹ tranh cử của Clinton một cách chính thức, thật là hết biết!!!!!
Vào năm 1992 trong các cuộc vận động tranh cử Clinton/ Gore , lập đi lập lại hằng 1000 lần, Bush Đã nuông chiều thằng độc tài Trung cộng Ở Bắc Kinh, nhiều nhà lập pháp của đảng Dân Chủ tin rằng, khi Clinton thắng cử, Ông ta Sẽ giúp Quốc Hội chận bớt những đặc ân về thương mại cho Trung Cộng, Ít nhất là cho tới khi họ cải thiện về nhân quyền, Nhưng họ không biết rằng Clinton Đã đi đêm với Trung cộng bật đèn xanh cho họ sau lưng Quốc Hội , Những nỗ lực tạm thời của Bush trong viec ngăn chận những đặc quyền về thương mại cho Trung Cộng so với việc Clinton đi đêm ngấm ngầm cho họ những đặc ân đặc lợi, Điều này so ra cho thấy Bush còn đàng hoàng đạo đức hơn nhiều lần thằng cha Clinton này.
Một ngày trước khi Clinton bước chân vào nhà Trắng nam 1992 , Riady and Huang đóng góp 100 ngàn vào quỷ Clinton , chưa đầy một tháng sau cha của Riady viếng thăm nhà trắng, Trong một lá thư của ông ta gửi cho Clinton vào march 1993 ), hai tháng sau khi Clinton lên làm tổng thống) thuộc vào loại personal confidential letter , ông ta đã khẩn cấp thúc giục Clinton hãy bãi bỏ việc chống lại đặc ân thương mại cho Trung Cộng, vì ông ta rất nóng lòng bảo vệ hàng tỷ đô la tiền bạc đầu tư vào Trung Cộng cũng như những tài sản của cải của những tên bè phái bạn bè với Trung cộng .
Có nhiều bằng chứng cho thấy Huang liên hệ rất chặt chẽ với gián điệp Trung cộng, lấy đi những tài liệu top secret từ bộ thương mại về văn phòng riêng của ông ta gần Hotel Willard do công ty Stephens , bạn thân làm ăn của Clinton và cũng là người cộng sự của Riadys , Huang đến văn phòng Stephen 2, 3 lần mỗi ngày, fax rồi copy, gọi điện thoại, gửi các package ngay trong phòng làm việc chỉ để tiếp khách viếng thăm từ ngoài vào !!!
Huang liên lạc với Riadys Stephens Ins , chính quyền Trung cộng, Những tin tức mà ông ta lấy được từ bộ thương mại đưa cho ho , Đáng giá cả tỷ bạc, vì nhờ đó họ sẽ đoán được chính sách của Hoa Kỳ để đầu tư , Đó là một điều tối kỵ vi phạm luật insider information , nhưng họ vẫn thoát nạn và làm giầu .
Clinton đã bị bán đứng cho tụi tàu cộng, với chính sách mở cửa, họ đã để cho tàu cộng tha hồ tung hoành trong việc ăn cắp kĩ thuật, biết được hết tất cả những bí mật của quốc phòng, Chương trình hạt nhân nguyên tử, theo báo cáo của bộ quốc phòng Clinton đã hoàn toàn trao chìa khoá cho Trung Cộng bước vào mở toang tất cả những bí mật của Hoa Kỳ để đem về làm lợi cho họ
COSCO một công ty hàng hải do chính quyền Trung cộng làm chủ, Họ mướn căn cứ hải quân ở Long Beach , mua bán vũ khí và ma túy ngay trong nước Mỹ, Quốc Hội và dân địa phương phản đối, Clinton vẫn làm lơ, Chẳng những thế Ông ta còn đi lại vài lần với hội đồng thành phố để vận động cho COSCO vẫn được tiếp tục hoạt động, Điều này có nghĩa là COSCO vẫn nhỡn nhơ hoạt động gián điệp , Họ hiện diện khắp nơi trong các ngành điện tử , biết được vũ khí tối tân bí mật được phát minh và sáng chế ở những nơi tối bí mật nào, Hệ thống vũ khí tối tân được phát triển ra sao v.v..
William Perry Bộ trưởng bộ quốc phòng cùng với Clinton Đã bán cho tàu cộng Những vũ khí tối tân nhất và quan trọng nhất, đã giúp cho tàu cộng thay đổi toàn diện quân đội của họ, trở thành một quân đội được trang bị hùng mạnh và những chiến lược hoàn hảo, họ đã chia sẽ tất cả không chừa một cái gì hết về quốc phòng với tụi tàu cộng thậm chí cả vũ khí nguyên tử, Họ nói cho tụi tàu cộng biết cách hoạt động của cơ quan Federal Express Như thế nào thì quân đội Mỹ cũng làm y như vậy, tội lỗi sai lầm lớn nhất của Clinton là đã hiện đại hóa hoàn hảo cho quân đội trung cộng,   chỉ rõ cho họ logistics điểm mạnh yếu ở chỗ nào, Đó là một điều rất tối kỵ trong quân đội, Clinton đã chào đón tên giết người hàng loạt trong vu Thảm sát Thiên an môn là  Jiang Zemin bằng 19 khẩu súng danh dự được dàn hàng ngang đưa ra, mà điều này các đời tổng thống chưa bao giờ làm cho kẻ thù của mình.
Sự băng hoại trong chính trị giống như ung thư, nếu không đánh bại nó, nó sẽ tiếp tục lập lại, một vài người trong đảng Cộng Hòa nói rằng nếu mình không thắng nó, thì mình nhập bọn với nó, cái kiểu suy nghĩ như vậy nếu mà lan rộng ra , thì không sớm thì muộn Đảng Cộng Hòa cũng sẽ làm một việc giống như Clinton and Gore đã làm: bán linh hồn của mình cho quỷ dữ để đổi lấy sự tham vọng và quyền lực.

November 1998
The DNC’s Chinese MoneyLaundry–

The Year of theRat:

Share this post