Lá Thư Úc Châu – NNS

Lá Thư Úc Châu – NNS

(1) Chuyện Thời sự

(i) Hạ Đình Nguyên: Nghe Diễn Văn của Chủ Tịch Nước, lại nhớ Ông Đồ Già

Tôi cố nén lòng đứng nghe cho hết bài diễn văn ngày 2/9 của chủ tịch nước.

Nghe hết, bỗng dưng, một nỗi buồn mênh mang cùng với hình ảnh “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên xuất hiện trong tôi, qua mấy câu thơ:

“Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”

Cảm giác ấy là do ba lần từ “muôn năm” được chủ tịch nhấn mạnh hùng hồn, trước khi kết thúc bài diễn văn. Từ muôn năm cũng làm tôi mất đi khái niệm về thời gian, trong thời đại mà thế giới đang chuyển động với toan tính từng sát na. Những “từ ngữ” trong diễn văn cũng đã nhảy múa tưng bừng, ùa vào trong tôi, cùng với trống kèn và nhịp bước quân đi. Các từ ngữ đã vang lên trong không khí trang nghiêm: Xúc động thiêng liêng, cuộc chiến đấu thần thánh, tầm vóc thời đại, thắng lợi vẻ vang, thành tựu to lớn, lãnh đạo thiên tài, đỉnh cao trí tuệ, bản lĩnh, truyền thống kiên cường, bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo, anh hùng, bất diệt, tự hào, trong sạch, vững mạnh, tiền phong, gương mẫu… Và kéo theo cả: Thế lực thù địch, suy thoái đạo đức, nhạt phai lý tưởng…, có cả: Bè bạn năm châu cảm phục, vị trí quốc tế được nâng lên, và sau đó lại xuất hiện có… thu nhập trung bình. Có điều gì đó khá bất ổn, như chỏi nhau.

Tuy diễn văn chỉ nói phớt qua một cách không tình cờ, song cụm từ ấy lại đậm nét, gợi nhớ rõ thêm về cái thu nhập “trung bình”: Việt Nam đang thụt lùi so với Nam Hàn khoảng 30-35 năm, Mã Lai Á khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Nam Dương và Phi Luật Tân khoảng 5-7 năm (1). Hơn nữa, ở một số chỉ số thống kê, Việt Nam còn bị Cam Bốt và Lào qua mặt (2).

Các quốc gia trên đây hình như không có cái hồn thiêng muôn năm do các cụm từ ẩn chứa, nên họ chỉ có dùng ngôn từ thuộc loại “thường thường bậc trung”, ngay cả trong diễn văn của tổng thống Mỹ, nhưng lại không có cái hệ quả “trung bình” khiêm tốn như ta. Diễn văn của Việt Nam đều thông qua sự tập trung trí tuệ cấp cao – thường là tích tụ tinh hoa của trời đất – vang rền hơn tiếng pháo, mà cũng nghe như “tiếng gươm khua xé lòng”. Có cái nghịch lý nào đó mà người ngoài gọi thầm là “một đất nước không chịu phát triển”, cho dù rất thông minh, sáng tạo, cần cù và cái gì cũng to lớn.

Các khái niệm từ ngữ làm cho tinh thần tôi hơi hỗn độn. Tôi đang rơi vào trạng thái “phi thời gian”, thì đứa con tôi đang nằm võng, hỏi một câu khá vô duyên, và cũng vô trách nhiệm không kém: – Bài diễn văn nói gì thế ba?

Câu hỏi giữa trời, nhưng tôi cũng trả lời thực lòng, sau vài giây và khái quát: – Ba cũng không hiểu rõ lắm! Đại khái, quá khứ vô cùng vẻ vang, thành tích vô cùng to lớn, hiện tại vô cùng phức tạp và nhiều thách thức, tương lai thì rất xán lạn đang đón chờ… Cái chìa khóa mở ra thiên đường là… Đảng đang nắm giữ.

Lại một câu hỏi nữa, ấm ớ mà vô tư: – Ai thách thức hở ba?

Tôi trả lời: – Thì “thế lực thù địch!”.

Có lẽ, cái tuổi trẻ nó muốn rõ ràng hơn, nên lại hỏi: – Là ai?

Tôi trả lời trong nỗi phân vân và cũng rất thật lòng: – Không rõ lắm! Nó vô hình, ở mọi nơi, có thể là ba, là con, là ai đó trong dân, trong Đảng… Bất cứ cái gì được xem là “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ, hoặc ngoài nội bộ…

Lại một thêm câu hỏi nữa, mang màu sắc triết lý: – Thế, cái gì là không tự diễn biến, không tự chuyển hóa?

Tôi trả lời không thoải mái lắm: – Là “cái” Đảng muốn, “cái” Đảng bảo. “Đảng” là thực thể đồng nghĩa, hoặc là đại biểu rất chính xác của … “quy luật khách quan” trong bài diễn văn.

Có lẽ cách trả lời của tôi hơi tối tăm, lại nhát gừng, xem chừng nó không thỏa mãn và chán tôi, nên không hỏi thêm. Nó tiếp tục nằm và nhắm mắt.

Màn hình đã chuyển sang tiết mục khác, nhưng đầu tôi lại cứ dính vào hình ảnh chủ tịch nước đang đọc diễn văn trang nghiêm. Cách đọc của ông rất là chuẩn, sau mỗi câu ông lại ngẩng lên nhìn thẳng vào không gian mông lung phía trước, cũng rất trang nghiêm! Vâng, đúng là đại lễ. Bên cạnh ông luôn dính hình cựu Tổng Bí Thư Nông, trông ông nay trẻ ra, bảnh bao, khuôn trăng đầy đặn, nhưng không bộc lộ một vẻ nội tâm gì mà người xem có thể cảm nhận được. Nó thế! Mọi nhân vật trên khán đài đều trang nghiêm ngang nhau.

Bài diễn văn đều nhịp, tôi nghe âm trầm buồn, chững chạc, và các ngôn từ thì đều sang cả, bay bổng, mênh mang, chừng như phản chiếu gay gắt với cụm từ “thu nhập trung bình” còn đọng lại trong tôi.

Tôi lại nghĩ đến “ông đồ già”, những người muôn năm cũ, có khi lại hóa thành “ông đồ nay”, mà hồn ở đâu bây giờ, lại bày “mực tàu và giấy đỏ, trên phố đông người qua”, lại tái hiện trong bối cảnh “cách mạng mới”, đi kẹp với khẩu hiệu “muôn năm” (của cái cũ?) trong bài diễn văn mới, mà nó không thể nào cũ hơn muôn năm.

Cách mạng, cách mạng cũ, cách mạng mới, và cách mạng nữa…, thì cái gì còn lại để dành cho muôn năm? Cái khẩu hiệu “muôn năm” chừng như ngày nay rất hiếm được nghe các quốc gia dùng đến. Thay đổi thì cứ thay đổi, mà muôn năm thì cứ muôn năm, cũng như trong tình hữu nghị đời đời bất diệt mà tôi từng nghe thuở nhỏ vậy. Từ tiếng muôn năm, tôi nghe ra âm vang “vạn tuế, vạn vạn tuế” trong phim Tàu. Trong ấy, có hình ảnh cả thần dân và quan quân lớn nhỏ đều cúi rạp mình xuống để nhận ân sủng từ trên cao xanh. Bây giờ thì văn minh hơn, chỉ cần đứng ngay ngắn là đủ.

Trong đoạn kết thúc diễn văn cũng có lời nghe như quen quen: “Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào…”. Trong ý tưởng của tôi tự diễn biến tiếp nối: Đồng bào có nghe rõ không? Và lòng tôi thì đầy cảm xúc chân thành khi nhìn các hàng quân di chuyển qua khán đài của một lịch sử có đến bốn ngàn năm. Trời đã rọi nắng gay gắt trên sân Ba Đình, và trên màn hình TV cũng kết thúc một ngày lễ trọng đại.

Sau 2/9, tôi đi dạo phố cà phê, đều không nghe ai nhắc tí tẹo gì đến bài diễn văn và lời “Tôi kêu gọi toàn thể…”. Nhưng tôi cũng hiểu rằng “toàn thể” đều đã nghe rõ, dù không nghe tiếng trả lời. Và bài diễn văn hoàn hảo ấy có thể còn dùng được cho một số năm tháng nữa, mà không cần chỉnh sửa gì thêm. Tôi thầm nghĩ, có lẽ diễn văn cũng phải có một công thức cố định, triều đại nào thì có công thức của triều đại nấy. Vẫn có thể, “cây đời là màu xám, diễn văn là màu xanh” chăng? (2)

Một ngày nghiêm trang của tháng 9 như mọi năm, vừa trôi qua.

Câu thơ lại tái hiện trong tôi: “Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”

Cái hồn ấy là hồn của nước, hồn của dân tộc, của muôn năm cũ. Cái hồn ấy ở đâu bây giờ?

Sau khi nghe diễn văn, tôi lại đọc báo, một bài viết có tựa là TÀN NHẪN, bài viết nhỏ thôi – tất nhiên không thể so sánh được với tầm vóc lớn lao của diễn văn – nhưng rất cụ thể, ký tên là BS Ngọc (4), trong đó lại vang lên các từ: “Vô cảm”, “ngạo mạn”, “ngang nhiên”, “trắng trợn”, … – với chủ đề về bệnh nhân, bệnh viện – như dậy lên từ một thực tế phũ phàng khác. (4/9/15 – H. Đ. N. / Tác giả gửi BVN)

(1) Hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015 -2035” do Bộ Kế hoạch & Đầu tư tổ chức vào ngày 28 tháng 8. Xem http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/thu-nhap-nguoi-viet-di-sau-han-quoc-thai-lan-hang-chuc-nam-3271028.html

/ (2) Xem http://motthegioi.vn/kinh-te/tin-trong-nuoc-va-quoc-te/chung-ta-phai-cam-thay-xau-ho-khi-bi-lao-campuchia-vuot-mat-187422.html

/ (3) “Mọi lý thuyết đều màu xám, bạn ạ. Còn vĩnh viễn xanh tươi là cây đời” – Johann Wolfgang von Goethe./ (4) Xem https://bsngoc.wordpress.com/2011/05/18/tan-nh%E1%BA%ABn/

(ii) Ts Jonathan London: Ngày 2/9/2015

70 năm sau khi bản tuyên ngôn độc lập được đọc tại Ba Đình, Hà Nội, xin chúc người dân Việt Nam mọi thành công trên con đường đi đến một quốc gia độc lập, dân chủ, tự do, văn minh. Lịch sử cho thấy, cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do và công bằng xã hội ít khi là một con đường thẳng. Vậy, thì ta nên đánh giá thế nào thành tựu của Việt Nam đối với những nguyện vọng được nêu ra cách đây đúng 70 năm? Hỏi lớn thế hả?

Tôi không dám trả lời, đó là công trình lớn lắm. Chỉ đề nghị ta không nên nhìn lại quá khứ một cách lãng mạn, mà cũng không nên nhìn hiện tại một cách ảo tưởng. Cũng xin chỉ trích câu nòi mà cho rằng Việt Nam của ngày nay “tự do hơn trước”, không phải vì nó không có cơ sở mà vì nó không liên quan đến đúng vấn đề: Cần phải làm gì để Việt Nam trở thành một xã hội dân chủ tự do văn minh.

Không nên kiếm cớ né tránh những câu hỏi cần được trả lời như: Vì sao, và vì những lý do cụ thể gì, mà tới năm 2015 Việt Nam vẫn chưa làm được những điều được chính HCM tuyên bố ở Ba Đình cách đây 70 năm? Và cần làm gì, cần khắc phục những gì cụ thể, để đạt được những nguyện vọng đó. Nếu “đổi mới” suốt 30 năm mà chưa giải quyết những vấn đề đó thì đổi mới thực sự có nghĩa gì?

Ở bất cứ quốc gia nào, các câu hỏi liên quan đến tự do dân chủ luôn luôn phức tạp. Đương nhiên mức độ phức tạp cao thấp tùy theo hoàn cảnh xã hội nhất định của mọi nước. Hỏi thế ở Bắc Triêu Tiên thì chết ngay. Ở Trung Quốc đi tù ngay. Ở Việt Nam là thoáng hơn chứ… nói thoải mái nhưng nói to, nói nhiều, hay in ra thì có thể nhà sẽ bị bom mắm tôm hay tệ hơn.

Ở các nước có hệ thống chính trị dân chủ hình thức (formally democratic political systems) người dân không những có quyền bất đồng chính kiến mà còn có quyền tham gia vào đời sống chính trị như mọi người khác. Điều đó chưa chắc có nghĩa là dân trong những nước đó thực sự có quyền. Dù nhiều công dân Mỹ thấy nền dân chủ của đất nước họ đang hướng tới một trò hề tốn tiền, họ chưa tìm cách nào để đề cập vấn đề. Dù nhiều người Nam Hàn đổi cải cách chế độ tiền lương còn chưa thành công. Mặt khác, công dân của Mỹ, Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản đều có quyền sống theo lương tâm của họ và tham gia vào chính tri bình thường dưới luật chơi dân chủ.

Ở trung tâm khuôn khổ chủ nghĩa Lenin là giả định rằng một số ít người nên có quyền chính trị và các người khác không nên. Nhưng ở đâu trong tuyên ngôn độc lập Việt Nam có những từ “một số ít người nên có quyền chính trị đặc biệt và các người khác hãy quên đi”? Có vẻ muốn tự do thực sự ở Việt Nam phải tìm cách đề cập vấn đề đó.

Hôm qua có một nhà báo hỏi tôi về vấn đề tượng đài. Tôi bảo hiện tượng này không hoàn toàn mới, nhưng sự ‘bùng nổ’ của hiện tượng này gần đây cần phải được hiểu trong “bối cảnh chính trị” 40 năm sau khi kết thúc chiến tranh Nam Bắc, kỷ niệm 70 năm cách mạng tháng Tám, và thời điểm chuẩn bị cho Đại Hội 12. Trong bối cảnh này, việc xây dựng tượng đài cũng phần nào chạy theo logic “đánh bóng” vị trí trong bộ máy.

Khi nhà báo hỏi về quan điểm của nhiều người Việt Nam, cho rằng ý thức hệ/hay hệ tư tưởng của Đảng “đã chết” (tức ‘the Party’s ideology is dead) tôi trả lời rằng tôi hiểu những gì người trẻ này muốn nói… nhưng tôi không đồng ý vì hay lý do. Thứ nhất, là một nhà nghiên cứu về chính trị ở Việt Nam tôi biết trong bộ mấy nhiều, thậm chí đại đa số người coi tư tưởng và đường là hai việc cột yếu. Đồng ý hay không là chuyện cách. Điều đó có nghĩa là những hiện tượng như làm giàu bằng chính trị là không có? Đương niên là không. Nhưng có một vấn để quan trọng hơn. Nói “ý thức hệ/hay hệ tư tưởng của Đảng “đã chết” phản ánh một nhầm lẫn về ý thức hệ/hay hệ tư tưởng (tức ideology). Chính Marx và Engels đã coi tư tưởng là những ý tưởng của các giai cấp thống trị, những ý tưởng được sử dụng để đảm bảo sự thống trị của họ. Vẫn sống chứ….

Viết những đoạn này tôi không có ý nói xấu vào ngày vui. Chỉ nhìn nhận sự phát triển của Việt Nam, dù đã và đang có nhiều yếu tố hết sức hứa hẹn nhưng vẫn còn xa mục tiêu được nêu lên cách đây 70 năm. 30 năm sau nữa, tức 100 năm sau ngày ấy, hy vọng chúng ta sẽ không nghe những câu như “Việt Nam vẫn đang đổi mới”.

Ở nước nào những ngày Quốc Khánh luôn luôn có những nghi thức chính trị (political ritual) của nó. Nó được thiết kế để làm cho ta tự hào, nếu không muốn nói say sưa. Cách đây 15 năm một nhà nhân học cao tuổi bảo tôi: “Nên nhớ một điều về tôn giáo – dầu là tôn giáo bình thường hay tôn giáo chính trị – là ta rất khó có thể tham gia vào nó đồng thời suy nghĩ về nó một cách có lý”. Tôi luôn luôn nhớ câu ấy và chia sẻ ở đây để đề nghị không nên cho phép nghi thức hay tôn giáo chính trị đống một vai trò qua lớn. Còn rất nhiều việc cần làm nhưng muốn làm hiệu quả phải thật thà và cởi mở.

Dù con đường đi đến một quốc gia dân chủ, tự do, văn minh đang kéo dài khá lâu, tôi thấy người dân Việt Nam ủng hộ những nguyên vọng ấy hơn bao giờ hết.

(iii) Ts Nguyễn Hưng Quốc: Tính chính đáng của Đảng Cộng Sản

Lâu nay, để biện hộ cho vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản tại Việt Nam (một điều được ghi trong hiến pháp), nhà cầm quyền thường nêu lên ba lý do chính: Một, họ đã có công trong việc giành độc lập cũng như thống nhất đất nước; hai, chỉ có họ mới đủ khả năng lãnh đạo; và ba, họ được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Theo họ, ba lý do ấy tạo nên tính chính đáng (legitimacy) của chế độ.

Sự thật thế nào?

Về điểm thứ nhất, liên quan đến công trạng của Đảng Cộng Sản trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước, trong bài “70 năm sau Cách Mạng Tháng Tám” tôi đã bàn qua. Xin tóm tắt hai luận điểm chính: Một, tôi thừa nhận công của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước từ tay của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng tôi lại không thừa nhận công của họ trong việc thống nhất đất nước. Đã đành sau năm 1975, đất nước đã thống nhất. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Nhưng cái giá phải trả cho sự thống nhất ấy lại quá đắt với hơn ba triệu người dân từ cả hai miền bị giết chết và với sự ly tán đầy đau đớn của hàng triệu người khác sau khi chiến tranh kết thúc. Hai, tôi cho song song với những công trạng họ lập được, Đảng Cộng Sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên những hậu quả thảm khốc cho cả nước.

Hơn nữa, việc giành độc lập và thống nhất với việc lãnh đạo và quản trị đất nước là hai điều khác nhau. Trong lịch sử thế giới, không hiếm trường hợp những người được xem là anh hùng trong các cuộc chiến giành độc lập, sau đó, lên cầm quyền, đã trở thành những tên độc tài chỉ làm được một việc duy nhất là phá nát đất nước của chính họ. Kim Nhật Thành cũng có công chống Nhật và góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho Bắc Hàn đấy chứ? Nhưng sau đó, điều gì đã xảy ra? Chỉ có ba điều: Một, cuộc nội chiến giữa hai miền Nam và Bắc Hàn; hai, ách độc tài man rợ ở Bắc Hàn kéo dài đến tận ngày nay; và ba, như là hậu quả của chế độ độc tài man rợ ấy, Bắc Hàn trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Ở Zimbabwe, Robert Mugabe cũng có công giành lại độc lập cho nước ông, nhưng sau đó, ông cũng lại làm cho đất nước ông tan tành với tỉ lệ nghèo đói lên đến trên 80% và tỉ lệ thất nghiệp có khi lên đến 90% dân số, mức độ lạm phát có khi lên đến cả chục ngàn, thậm chí, 100.000 phần trăm/năm khiến, có lúc, cả trăm triệu đồng Zimbabwe mới đổi được một Mỹ Kim.

Về điểm thứ hai, chỉ có Đảng Cộng Sản mới đủ tài năng để lãnh đạo đất nước, chỉ là một khẳng định vu vơ và sai lầm. Vu vơ vì Đảng Cộng Sản chưa bao giờ cho phép một chính đảng nào khác được tự do hoạt động và thi thố khả năng cả. Bằng quyền lực tuyệt đối trong tay, họ dẹp tan mọi nỗ lực hình thành các đảng đối lập. Có thể nói họ chưa bao giờ chấp nhận sự canh tranh với các đảng khác. Trong cái thế thiếu cạnh tranh như thế, nói không có đảng nào đủ sức lãnh đạo đất nước chỉ là một điều vô nghĩa, hơn nữa, nhảm nhí. Nhưng quan trọng nhất, lời khẳng định ở trên hoàn toàn sai lầm. Từ khi hoà bình lập lại đến nay, Đảng Cộng Sản chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng quản trị đất nước. Nhiều nhà bình luận quốc tế thường nhận xét: Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ biết cai trị chứ không biết quản trị. Đó là hai khía cạnh khác nhau. Cai trị chỉ nhằm đập tan mọi sự phản biện và phản đối trong khi quản trị nhằm làm cho đất nước ngày một giàu mạnh. Cai trị nhằm duy trì nguyên trạng ; quản trị nhằm thay đổi và tiến bộ. Cai trị chỉ cần súng đạn và ngục tù, quản trị cần trí tuệ và viễn kiến. Trước phong trào đổi mới, họ sai lầm ; sau phong trào đổi mới, đến tận ngày nay, họ vẫn tiếp tục vấp những sai lầm khác làm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế càng lúc càng suy yếu và mức độ phát triển càng lúc càng chậm chạp, trong khi đó nợ nần càng lúc càng chồng chất thêm lên.

Cuối cùng, thứ ba, lời khẳng định về sự ủng hộ của nhân dân là một lời khẳng định hàm hồ, hơn nữa, dối trá. Hàm hồ bởi tính chất mơ hồ của ý niệm nhân dân. Nhân dân là ai ? Là trên 90 triệu công dân Việt Nam đang sống trong nước. Có bằng chứng nào cho thấy trên 90 triệu người ấy ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam? Ở các quốc gia khác, để thấy được ý nguyện của nhân dân, người ta tổ chức các cuộc bầu cử tự do thường kỳ trong mỗi ba, bốn hay năm năm. Nhưng ở các nước dân chủ, không có đảng nào lên cầm quyền với sự ủng hộ của toàn thể nhân dân cả. Họ chỉ nhận được sự ủng hộ của đa số, có khi chỉ hơn 50% một tí. Khi đã lên cầm quyền, để thay đổi một chính sách quan trọng nào đó, người ta thường tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý, hoặc, một cách thường xuyên và không chính thức, qua các cuộc điều tra dư luận để biết được ý kiến của người dân.

Ở Việt Nam, không những không có bầu cử tự do, người ta cũng không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, hay thậm chí, bất cứ một cuộc điều tra dư luận nào cả. Trong hoàn cảnh như thế, nói đến sự ủng hộ của nhân dân chỉ là một sự dối trá. Người ta nói đến nhân dân nhưng lại bất cần ý kiến của nhân dân. Hơn nữa, chỉ cần lắng nghe các cuộc đàm thoại hàng ngày của người dân, người ta cũng sẽ thấy rõ một điều: Những người dân bình thường rất chán ghét chế độ Cộng Sản. Họ đặt ra vô số các câu chuyện tiếu lâm cũng như những câu ca dao mới để chế giễu giới lãnh đạo cũng như Đảng Cộng Sản nói chung.

Nói một cách tóm tắt, cả ba lý do Đảng Cộng Sản thường nêu lên để biện minh cho tính chính đáng của chế độ do họ lãnh đạo đều là những sự nguỵ biện, hoàn toàn không có sức thuyết phục. (Nguyễn Hưng Quốc – VOA)

(2) Chuyện thường ngày ở Huyện

(i) Ngô Nhân Dụng: Chú viết báo tếu quá dám mó chúng nó

Nhà báo Ðỗ Hùng vừa mới bị một thứ trưởng bộ Thông Tin Truyền Thông (4T) rút thẻ nhà báo vì viết trên trang FaceBook của mình một bài “tếu.” Tếu nghĩa là đùa cợt, nói chơi để cười cho vui. Chỉ viết tếu thôi mà bị mất chức phó tổng thư ký, mất thẻ là mất cả quyền làm nghề viết báo, cúi đầu nhận lỗi mất luôn cả danh dự.

Cái tội chính của nhà báo Ðỗ Hùng, tức Mít Tờ Đỗ, là tếu. Cái óc hài hước này rất quý, loài người mà không biết cười thì chẳng khác gì đười ươi. Mít Tờ Đỗ nghĩ ra một trò tếu, kể một chuyện toàn bằng dấu sắc. Thích quá nhịn không được, bèn đưa vào FaceBook cho bạn bè đọc chơi. Thế là mang vạ!

Điều tội nghiệp cho nhà báo này, là ngay trong lúc tếu anh ta vẫn cố giữ “đúng lập trường” của một đảng viên Cộng Sản! Anh không hề chỉ trích mà chỉ ca tụng Đảng! Nếu quý vị chưa đọc đủ chuyện này thì tôi xin dẫn ra mấy câu trong bài của Ðỗ Hùng để coi có thể nào gán cho anh ta là “chống Cộng” hay không: “Lúc ấy, Thế Chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế Quốc đánh với Phát Xít. Phía Phát Xít, Thống Chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía Đế Quốc thắng lớn. Thế Chiến kết thúc. Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh phát xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bốt, cứ thế đánh tới bến.”

Đỗ Hùng làm đúng bổn phận một đảng viên, đã ca tụng những công trạng đảng, như “bác Ái Quốc, tướng Giáp” … “đánh Phát Xít, đánh Pháp,” dù đó là những chuyện không có thật. Thực ra ai cũng biết trước ngày 19 tháng Tám năm 1945 Nhật đã đầu hàng rồi; còn quân lính, sĩ quan Pháp còn đang bị Nhật nhốt trong tù. Các bác ấy chỉ cướp lấy quyền trong tay chính phủ Trần Trọng Kim, chính phủ độc lập đầu tiên của nước Việt Nam kể từ thời Pháp thuộc. Nhưng là một đảng viên nên Ðỗ Hùng vẫn cứ ca tụng “các bác” theo đúng sách lịch sử đảng. Đỗ Hùng “giữ lập trường” rất kỹ, tránh không nhắc cả đến tên nước Mỹ. Ai cũng biết Mỹ đã đánh thắng Nhật Bản, nhưng Hùng viết rằng “Phía Đế Quốc thắng lớn,” làm như Nhật Bản không phải là một đế quốc. Đỗ Hùng khen đảng mà lại muốn tếu viết toàn dấu sắc, tưởng quá lắm cũng như làm Thơ Bút Tre mà thôi! Ấy thế mới chết!

Một độc giả Người Việt, ông hay bà ký tên ClassicalMood đã nhại lối văn tếu này để tỏ lòng thông cảm với Đỗ Hùng: “Chú bốc máu, thiếu lý trí nói quá gáy nó giáng chức…. Nếu đám hiếu chiến nó nuốt sống, chú hết hí hoáy. Nhớ đến chết tránh chiếu ánh sáng cái trái hướng tới cái tốt; chớ mó máy lý thuyết, giáo phái, gái gú chắc chắn chú sống tới lúc chết”. Một vị độc giả khác, DukeVan còn giải thích: “chính cách viết thấu cáy thách đố đó mới giết chết chú viết báo xấu số, dám chống đối đám dốt nát”. Và nhân đó khen: “Các chú viết báo trí thức khá lắm, khí phách lắm. Các chú có chức, có tiếng thế chứ, dám quyết chí tố Bác lí nhí lấp liếm quốc khánh, “móc” chú Giáp thấp kém. Viết thế đám cán ngố Pác Bó dốt nát tức ói máu muốn chết”.

Cái kiếp nhà văn, nhà báo phải sách cặp đi hầu các “cán ngố” rất tội. Vì đám cán ngố không biết tếu! Cán Trương Minh Tuấn, thứ trưởng bộ 4T sung sướng công bố rằng Đỗ Hùng đã ăn năn hối lỗi: “Hùng thừa nhận và cam kết (từ nay) chỉ sử dụng FaceBook để từ thiện, nghiệp vụ báo chí và không đề cập các vấn đề nhạy cảm, đã thừa nhận những sai phạm từ 2014, chấp nhận mọi hình thức kỷ luật.” Nhờ thế còn giữ được một chỗ ngồi ké trong toà báo. Theo Bích Minh, trong bài “Cuộc đấu đá ngầm đằng sau vụ nhà báo Ðỗ Hùng bị tước thẻ” trên trang mạng Viet Studies, thì nhà báo Ðỗ Hùng gặp nạn chỉ vì Thứ Trưởng Trương Minh Tuấn muốn lập công đánh báo chí, hy vọng sẽ được cất nhắc. Anh bị dùng như “một ‘xác chết’ được đạp xuống để Tuấn 4T tiến lên cao hơn trên bậc thang quyền lực.”

Đỗ Hùng đã bị Quan 4T cấm không cho cười! Dù chỉ cười trong đám bạn bè. Đúng là cười trong đám bạn bè, không ra công chúng. Bởi vì FaceBook dù gọi là “mạng xã hội” nhưng vẫn là một cõi riêng tư; không phải nơi công cộng như trên một tờ báo bán ra, ai coi cũng được.

FaceBook là một mạng lưới của những người quen biết nhau, một nhóm riêng, tự nguyện gia nhập, không phải của cả “xã hội.” Viết trên FaceBook, người ta chỉ cốt nói riêng với một số bạn bè có liên lạc với mình, không viết cho cả “xã hội,” cho bàn dân thiên hạ đọc. Người nào dịch “social network” là “mạng xã hội” đã dịch sai nghĩa; rồi mọi người cứ nhắm mắt dùng theo, lâu ngày quên cả cái nghĩa “riêng tư.” Chữ “social” đứng trước chữ network chỉ có nghĩa là “giao du,” đem dịch là “xã hội” tức là làm sai nghĩa gốc. Như một “asocial event” có nghĩa là một cuộc tập họp, tiệc tùng, vân vân, không phải công việc của cả xã hội. Ai không hiểu đúng nghĩa đó, mở tự điển coi rồi ghép hai chữ lại, dịch đại là “biến cố xã hội” là … giết cả chữ nghĩa. Từ “civil society” mà dịch là “xã hội dân sự” cũng vậy, chỉ ghép hai nghĩa dễ thấy trong tự điển mà thôi; mất luôn nội dung quan trọng nhất của civil society là cách gọi chung những tổ chức của các công dân tự do, tự nguyện và độc lập.

Viết trên FaceBook cũng giống như ngồi uống cà phê với nhau, tha hồ nói tếu, tha hồ chọc ghẹo, có khi vui đùa chửi nhau, văng tục ra cũng chẳng ai “để bụng.” Vì ai cũng biết, đó là chỗ riêng tư, nghe rồi bỏ qua. Nếu có ai vào FaceBook của một người rồi đem chuyển cho người khác, thì cũng giống như người ta thuật lại một câu nói tếu trong quán cà phê, ai cũng biết nghe qua rồi nên bỏ!

Nhưng các quan Cộng Sản không có thói quen nghe qua rồi bỏ. Họ đã được đào tạo trong một xã hội mà người dân có bổn phận lén nghe hàng xóm nói, rình mò coi hàng xóm ăn món gì, để báo công an lập công! Ai lỡ nói gì là họ ghim lấy trong đầu để có dịp là “mách bu” cho nó chết. Ngày xưa mấy văn nô tố cáo Trần Dần đã dùng chữ “Người” để nói về con người chung chung, thế là đủ chết, vì “phạm húy.” Chế độ Cộng Sản không chấp nhận một “không gian tư nhân.”

Tội của Đỗ Hùng là do cái tính tếu. Nhưng trong một chế độ do các ông “Nghiêm Văn Túc” cầm quyền thì không được tếu tự do! Trong chế độ Cộng Sản, óc hài hước cũng bị hạn chế giống như khi mua gạo, phải có tem phiếu. Ai cũng vẫn có thể mất hộ khẩu trong “làng tếu.” Tếu trên lề bên phải thì được, bước chệch một bước là bị chúng nó thiến! Vua Hài Liên Sô Yakov Smirnoff kể rằng mỗi năm một diễn viên hài hước phải nạp trước các đề tài và câu chuyện cho Sở Kiểm Duyệt, rồi suốt năm chỉ được nói trong vòng cái “giáo án” đó mà thôi. Nếu trong lúc đang diễn trên sân khấu mà có khán giả la lối chê bai, anh chỉ có thể hẹn: “Yêu cầu sang năm đồng chí trở lại đây, tôi sẽ có câu trả lời được Sở Kiểm Duyệt chuẩn y!” Vua hài Smirnoff cho biết ông có thể kể chuyện cười về loài vật, về tôm cá, hay về các bà mẹ chồng, mẹ vợ; nhưng không được đụng tới chuyện chính trị, nhà nước, tôn giáo, và tính dục.

Thí dụ, Smirnoff kể chuyện cô anh kiến kết hôn với một anh voi. Sau đêm động phòng, chú rể lăn ra chết. Cô dâu khóc: “Anh ơi, từ nay suốt đời em sẽ chỉ lo đào hố chôn anh!” Chuyện tếu về kiến với voi thì được, không cấm. Nhưng thử nghe một câu chuyện khác. Một khách hàng đi mua xe hơi Lada. Sau khi thu tiền, người bán hẹn: “Hai mươi năm nữa, chúng tôi sẽ có xe, mời ông tới lấy”. Khách hỏi: “Thưa đồng chí, lúc mấy giờ?” “Ông này lạ, 20 năm nữa kia mà? Hỏi giờ trước làm cái gì?” “Thưa đồng chí, vì sáng hôm đó tôi đã có hẹn. Ông thợ sửa ống nước hẹn tới lúc 10 giờ!” Câu chuyện này thì bị cấm. Nó thuộc về một “vấn đề nhạy cảm,” theo lối nói của các cán ngố ở Liên Sô thời 1950 – 1990, và cán ngố Trương Minh Tuấn bây giờ.

Nhưng không ai có thể đoán trước tất cả những gì là nhạy cảm, cái gì không nhạy! Có lúc cái máu tếu nổi lên, quên hết cả. Trong thời còn chế độ Cộng Sản, Đông Đức là nơi sung túc nhất Đông Âu, thực phẩm đủ no. Ba Lan thì dân được nói tếu nhiều hơn nhưng đói hơn (vì con bò sữa Ba Lan có cái vú rất dài, bên Nga vẫn vắt sữa). Có một con chó Ba Lan đi trên đường qua Đông Đức kiếm mẩu xương, thấy có con chó Đông Đức đang đi ngược chiều. Nó hỏi: Sang bên tớ làm gì? Có cái chó gì mà ăn đâu? Con chó Đông Đức đáp: Tớ no bụng! Nhưng lâu lâu cũng muốn sủa mấy tiếng cho nó sướng miệng chứ!

Đấy, cái nhu cầu muốn nói cho sướng miệng nó làm hại một nhà báo! Đỗ Hùng ngứa miệng quá, quên mất mình đang làm công chức được đảng trọng dụng, phạm ngay cái tội mà ngày xưa nhà văn Chu Tử (báo Sống, xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1966) gọi là “mó dế ngựa.” Sờ một cái sẽ bị ngựa nó đá cho. Mó dế chó thì chắc chắn bị nó cắn tay.

Đỗ Hùng đã “phấn đấu vào đảng,” đã đạp lên trên bao nhiêu đồng đảng khác để leo lên được cái ghế phó tổng thư ký, có cơ hội “thắt cà vạt đỏ, đi giầy da vàng, ăn tiệc nhồm nhoàm, bay đó bay đây,” theo cách mô tả của nhà văn Nguyễn Tuân, mà tại sao lại dại dột đi “mó dế chó” như vậy? Có thể giải thích do cái máu tếu nó mạnh quá, quên đi cả những quyền lợi phải vất vả mới được hưởng. Nhưng có một lý do quan trọng, là khung cảnh xã hội chung quanh đang thay đổi.

Xã hội Việt Nam đã thay đổi rất nhiều. Như Lưu Quang Vũ đã viết từ thời 1980: Dưới hạ giới chúng nó hết sợ từ lâu rồi! Dân gian đổi trước, đảng viên đổi sau, cán bộ cũng đổi nhưng đổi chậm hơn. Xã hội giờ hiện đang thay đổi với tốc độ gia tăng, mỗi ngày một nhanh hơn, một bạo hơn. Sống trong cảnh chung quanh ai cũng hết sợ, chính những công chức nhu mì ngoan ngoãn nhất cũng “sinh nhờn!”

Một thay đổi lớn trong xã hội là người ta nhìn thấy chế độ đang rạn nứt rõ ràng. Từ trên xuống, đấu đá nhau công khai, không thằng nào nể mặt thằng nào. Bộ mặt thật hiện ra, chính chúng nó không thấy cần phải che đậy nữa. Nhà văn, nhà báo ý thức cảnh phá sản của đảng cộng sản nhậy bén hơn dân thường.

Những người còn muốn giữ phẩm tiết đã lánh xa chúng nó. Các nhà văn lập văn đoàn độc lập. Các nhà báo lập Câu lạc bộ nhà báo tự do. Những người còn phải lụy chúng vì miếng cơm manh áo thì ngoài miệng vâng vâng dạ dạ nhưng trong bụng chửi thầm. Ai cũng chờ tới khi nắm chắc cái sổ lương là viết những lời “ai điếu” cho chính mình, như Chế Lan Viên, như Nguyễn Khải.

Chú viết báo tếu quá. Với máu tếu chú dám mó dế chúng nó, chúng nó mới cắn chú. Chú không biết đám cán ngố bắt chước bác chúng nó thích nói thánh nói tướng chứ không biết tếu!

*** Chú thich: Nhà báo Đỗ Văn Hùng (Đỗ Hùng) (phó tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên) vừa bị thứ trưởng Bộ Thông Tin Truyền Thông Trương Minh Tuấn cách chức và thu hồi thẻ nhà báo chỉ hôm 4/9/2015, vì chế giễu hai lãnh tụ Cộng Sản là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp trên FaceBook. Đây là một bài viết ngắn mang tính giải trí, gồm toàn dấu sắc và được nhà báo này này đăng vào đúng ngày 2/9:

Quốc Khánh

Lúc ấy, Thế Chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế Quốc đánh với Phát Xít. Phía Phát Xít, Thống Chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía Đế Quốc thắng lớn. Thế chiến kết thúc.

Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh Pháp Xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bót, cứ thế đánh tới bến.

Đánh tới cuối tháng 8, bác Ái Quốc thắng lớn. Bác ấy với các chú kéo xuống Giáp Bát, chiếm phố, chiếm lấy bót Phát Xít, chiếm hết. Hết đánh đấm. Bác ấy nói: “Các chú thắng Phát Xít, thắng Pháp, quá xuất sắc”.

Tới tháng 9 bác ấy xuống phố báo cáo quốc khánh. Bác ấy nói: ” Đất nước hết chiến đấu, hết đói kém. Phát Xít cút. Đế Quốc Pháp cút. Các mế, các chú, các cháu bé hết khóc lóc. Thế giới bác ái”.

Nói tới đó, bác Ái Quốc thắc mắc: “Bác nói thế các mế, các chú, các cháu có thấy quá lý nhí?”

Bá tánh phía dưới đáp: “Chúng cháu thấy bác nói rất lớn. Nói thế quá tốt”.

Tướng Giáp đứng kế đó thét lớn: “Quyết chiến quyết thắng!”.

Bá tánh đáp: “Quyết thắng! Quyết thắng!”

Hết!

(Chúc các bác Quốc Khánh sướng nhé) (DoHung FB)

***Trương Duy Nhất:

Tôi thích lối phiếm toàn sắc của Đỗ Hùng. Cho dù vì nó mà anh bị tước thẻ hành nghề. Không quen biết Hùng, nhưng tôi quý trọng anh từ những mẩu tếu táo này. Không phải tay nhà báo nào cũng biết cách xả những stress không nói không viết được qua cách phiếm thế. Đó không chỉ là bản lĩnh, mà là tài năng.

Cùng một sự thể, Đỗ Hùng nhìn được điều mà đồng nghiệp khác không thấy. Làm báo ăn nhau ở điểm ấy.

Không ai khác, chính Đỗ Hùng là người phát hiện ra cái lỗi toàn “ngã” của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Cũng Đỗ Hùng phát hiện tấm bia kỷ niệm chiến thắng trên cầu Khánh Khê (Lạng Sơn) bị đục bỏ mất mấy chữ “quân Trung Quốc xâm lược” và anh gọi đó là chứng tích của sự khiếp nhược!

Rồi nữa. Trong khi tất tật các báo vẫn phải ngoan ngoãn đến hèn mạt gọi chệch là “tàu lạ”, thì Đỗ Hùng đã dám viết thẳng trên Thanh Niên, gọi Trung Quốc là “quân xâm lược – kẻ xâm lăng”.

Một khi biết chê cái lỗi toàn ngã của Thủ tướng, tôi tin Đỗ Hùng sẽ không ngã. Cũng như nhìn ra được sự khiếp nhược trong tấm bia kia để biết không khiếp nhược.

Là nói riêng Đỗ Hùng thôi.

Khi anh bị nạn, cả cái làng báo Việt được ai dám cất tiếng bênh vực, bảo vệ? Ngược lại, đã bắt đầu thấy những bài báo như bản cáo trạng luận tội Đỗ Hùng, như thể anh là… bọn X phản quốc!

Nhớ lại khi tôi vào tù, cũng những bài luận “tội” kiểu ấy nhắm vào Trương Duy Nhất. Những bài viết mà tác giả (có lẽ cũng tự cảm thấy xấu hổ nhục nhã) đến mức không dám đề tên.

Câu chuyện Đỗ Hùng thêm một lần nữa phô bày sự hèn mạt của báo chí. Có lẽ từ đây, các toà báo và cả các nhà báo đang chơi blog và FaceBook cá nhân sẽ bước vào giai kỳ rụt cổ co mình kín hơn trong tấm chăn… hợp tác tư tưởng!

Lại nhớ hình ảnh những Lý Chánh Trung, Sơn Nam, Cung Văn và các ký giả đồng loạt đeo bảng xuống đường… ăn mày trước 1975.

Sau 40 năm hợp tác tư tưởng, báo chí Việt cứ ngày một hèn mạt và… trơ lì như tấm bia khiếp nhược kia. (Trương Duy Nhất – http://truongduynhat.org/17001-2/)

***Huy Đức: Không nên nhầm lẫn mối quan hệ nhà nước – công dân và quan hệ “chủ – thợ”

Việc anh Nguyễn Thanh Sơn và chị Nguyễn Thị Thảo giới thiệu kinh nghiệm của BBC để tham khảo là rất cần thiết (theo anh, chị này thì BBC cấm phóng viên bày tỏ quan điểm chính trị trên mạng xã hội – Nga Phạm, Giang Nguyễn). Tuy nhiên, nếu bộ quy tắc ứng xử này mà áp dụng ở Việt Nam thì Bộ Thông Tin phải… rút thẻ của hơn 20 nghìn nhà báo vì đã ủng hộ đường lối của đảng Cộng Sản VN.

Trong một nền chính trị đa đảng, các báo muốn có người đọc, muốn người đọc tin là khách quan thì việc đầu tiên là phải tuyên bố phi đảng phái (cho dù báo Mỹ cũng có tờ ngầm ủng hộ Dân Chủ, có tờ ngầm ủng hộ Cộng Hòa). Nhưng so sánh báo chí Anh, Mỹ với báo chí Việt Nam thì cũng giống như so sánh một lít với một kilogram, so sánh hai số hạng không cùng đại lượng!

Tuy nhiên, nhầm lẫn hết sức tai hại ở đây là, các anh chị ấy đã chưa phân biệt được mối quan hệ giữa nhà nước – công dân với quan hệ “chủ – thợ”. Bộ quy tắc ứng xử của BBC và phóng viên là quan hệ hợp đồng lao động. BBC có thể “xử lý” một phóng viên bày tỏ quan điểm chính trị trên Twitter hay FaceBook nhưng nếu chính phủ Anh mà “rút thẻ” (tước quyền hành nghề) một nhà báo nào đó chỉ vì họ bày tỏ quan điểm chính trị (có thể là trái với quan điểm của đảng cầm quyền) thì chính phủ đó sụp liền.

Thanh Niên có thể cách chức nhà báo Đỗ Hùng nếu trong hợp đồng lao động (hoặc bộ quy tắc ứng xử) có điều khoản cấm phóng viên… hài hước chính trị. Nhưng, Bộ Thông Tin rút thẻ của nhà báo Đỗ Hùng thì lại là một sự lạm quyền. Trong một nhà nước (nếu có) pháp quyền thì một cơ quan hành chính không thể tước quyền hành nghề, cũng như tước quyền tự do ngôn luận (ghi trong hiến pháp) của công dân (chỉ có tòa án mới có thể áp dụng hình phạt – tước các quyền – này với những công dân phạm một số tội nhất định nào đó).

Chúng ta có thể không đồng tình với cách viết của nhà báo Đỗ Hùng nhưng nếu chúng ta bào chữa cho quyết định của Bộ Thông Tin thì có nghĩa là chúng ta đang bỏ phiếu cho một nhà nước không hiến pháp. (FaceBook Trương Huy San)

(ii) Lê Thanh Phong (Lao Động) – Cây cầu và tượng đài

Ngày thông xe cầu Mỹ Lợi, có một câu chuyện làm xúc động lòng người, đồng thời cũng là thông điệp gửi đến các vị lãnh đạo. Trong hàng trăm người từ hai tỉnh Long An và Tiền Giang lên cầu để ngắm sông Vàm Cỏ, có một người đàn ông tên Nguyễn Văn Hải mang theo di ảnh của cha mẹ mình, để cho người quá cố được “đi dạo” trên cầu và “ngắm” sông.

Hình ảnh hiếu đạo này còn ẩn chứa một nỗi đau. Trước đó ba tháng, mẹ của ông Nguyễn Văn Hải tuổi 90, bị bệnh phải lên Sài Gòn cấp cứu, nhưng do đi phà quá chậm, nên cụ không qua khỏi. Nếu như có cây cầu, đoạn đường ngắn hơn, thời gian cũng ngắn hơn, có lẽ mẹ của ông Hải sẽ được cứu sống. Bây giờ có cây cầu thì mẹ không còn, đưa ảnh mẹ lên cầu ngắm sông mà lòng đau vì nhớ mẹ, thương mẹ. Nhưng ông Hải cũng có niềm vui chung, như ông chia sẻ: “Cây cầu đã xây xong thì mong những người khác sẽ không bị những chuyến xe muộn màng như mẹ tôi”.

Có bao nhiêu miền đất của nước Việt đang thiếu những cây cầu, và có bao nhiêu con người đã từng đi bệnh viện cấp cứu không kịp nên không qua khỏi vì những chuyến xe muộn màng. Chưa ai bận tâm và mất thì giờ để nghĩ đến điều này, nhưng chắc chắn có nhiều người đã chết vì thiếu những cây cầu. Không chỉ những người già như mẹ ông Hải, mà có cả những thanh niên trai tráng, những đứa trẻ còn ẵm ngửa. Cho nên, xây dựng những công trình hạ tầng, không chỉ để phát triển kinh tế, mà còn hỗ trợ rất thiết thực cho cuộc sống của người dân, trong đó có cả việc cứu mạng sống cho những bệnh nhân ở xa các cơ sở y tế.

Nhìn những hình ảnh người dân của hai tỉnh Long An, Tiền Giang rộn ràng trên cầu Mỹ Lợi mà thấy thương dân mình. Hệ thống giao thông hiện đại là chuyện quá cũ đối với các nước, nhưng với dân mình là một giấc mơ. Cây cầu như Mỹ Lợi, đối với dân xứ người là chuyện không ai mấy quan tâm vì đó là đương nhiên, nhưng với dân mình là một niềm tự hào, niềm vui đến trào nước mắt.

Giấc mơ và niềm tự hào đó lớn đến nỗi, có người phải mang di ảnh cha mẹ mình lên cầu ngày thông xe cho thoả tâm nguyện.

Nguyện vọng, ước mơ của dân là có chiếc cầu, có con đường đàng hoàng tử tế, cụ thể như vậy đó. Xin hãy dành tiền của cho những công trình mà dân mong ước. Nếu có ai đó đề xuất xây quảng trường, tượng đài trăm tỉ, ngàn tỉ thì xin nghĩ lại.

Xây cầu cho dân đi lại như cầu Mỹ Lợi hơn xây ngàn tượng đài. Và với dân, những cây cầu này chính là những tượng đài.

(3) Thơ Văn từ Bạn bè gởi

(i) Trần Mộng Tú: Chơi đi trốn tìm (Viết ngắn)

Aylan nằm trên cát, đang chơi trò đi chốn đi tìm với anh Galip của nó. Nó nghĩ mình cứ úp mặt xuống là anh nó sẽ không tìm ra mình. Nhưng nó nằm lâu quá, có người đi qua tưởng nó ngã, bế lên. Hai mắt Aylan mở lớn, nó đang chơi đi trốn đi tìm mà. Người đàn ông nhẹ nhàng vuốt mắt nó, nó nhắm mắt lại. Không chơi nữa, chắc là buồn ngủ rồi.

Bé Aylan ơi! Con ngủ ngoan nhé, anh Galip của con cũng đi ngủ rồi, mẹ con nữa cũng ngủ say rồi. Không ai chơi với con nữa đâu.

Biển vẫn rì rào kể chuyện về những con tàu đang bập bềnh trên sóng, những con tàu luôn luôn chở số người nhiều hơn nó có thể chứa, nên biển kéo xuống rất dễ dàng. Những con thuyền có nhiều trẻ thơ nữa. Những đứa bé đang ở tuổi thích chơi đi trốn, đi tìm, sóng sẽ đưa chúng vào bờ cho chúng úp mặt mình trên cát. Cát sẽ giấu khuôn mặt của chúng, nhưng cả thân thể thì vẫn nhìn rõ ràng. Kiểu chơi đi trốn của trẻ thơ lên ba. Cứ tưởng giấu mặt đi là giấu được cả người.

Aylan mặc áo thun đỏ ngắn tay, quần xanh lửng, lộ ra hai cẳng chân be bé và đôi giầy của em trông cũng tươm tất lắm.

Em chơi đi trốn đi tìm, nhưng có người tìm ra em rồi. Họ đi báo cho người tới đón em ra khỏi vùng biển.

Sóng cứ tiếp tục đánh vào bờ. Sóng đánh vào bờ hôm qua, hôm nay, ngày mai và sẽ đánh vào bờ không biết bao nhiêu ngàn năm nữa. Biển luôn luôn hấp dẫn, mời gọi người ra khơi, nhưng biển cũng vô cùng hung hãn, biển Địa Trung Hải hay biển Thái Bình Dương đều hay bắt những bé thơ đi theo cha mẹ. Vì bé thơ dễ tuột khỏi tay cha mẹ, bé thơ thích chơi đi trốn đi tìm, thích giấu mặt mình trên cát.

Người đàn ông công lực bế Aylan trên tay, anh ta rất gượng nhẹ nhưng sự căng thẳng trên mặt anh như anh đang ôm cả một góc trái đất trên tay mình. Cái thân hình bé nhỏ của Aylan mà tưởng nặng ngàn cân, bước chân anh ta xiêu vẹo, lún vào cát từng bước một. Anh ta để lại dấu giầy trên mỗi bước đi.

Chao ôi! Lúc này là lúc anh cần có dấu chân Thượng Đế đi đồng hành với mình. Anh thầm thì khấn nguyện trong cuống họng mình. “Thượng Đế ơi! Ngài đang ở đâu, xuống đây đi với con”.

Người ta nói. Ông Abdullah Kurdi, cha của Aylan là một người may mắn sống sót, sau khi vợ con ông chết cả. Thật tội nghiệp cho ông khi phải nhận hai chữ “may mắn” đó. Chắc ông trong mấy hôm nay chỉ mong ước mình được trôi đi cùng với họ. Những cái xác thân yêu đang giạt bãi cát nào.

Bé Aylan đã ngủ thật say, đã được đặt nằm trong một cái giường gỗ xinh xắn. Ngủ đi con, ngủ nữa đi con.

Ngày mai thức dậy ở một bãi cát thần tiên nào đó con sẽ lại gặp mẹ, gặp anh và con sẽ lại chơi đi trốn đi tìm. Nhưng lần này thì con sẽ có các thiên thần chơi với con. Con không phải nằm úp mặt trên bãi cát lâu như thế nữa, con sẽ được vực lên và ngả đầu vào vai các thiên thần. Và con, chính con sẽ là một thiên thần trong trái tim mọi người.

(*) Bé Aylan Kurdi, 3 tuổi, chết đuối giạt vào bãi biển Turkish ngày mồng 2/9/2015. (tmt – 4 tháng 9/2015)

(ii) Hồ Chí Bửu:

Phong độ là nhất thời – Đẳng cấp là mãi mãi

Những hào kiệt – chạy tơi bời- bỏ nước
Đứng ngoài rìa lấy đá chọi xuống ao
Ta đứng giữa dính bùn từ hai phía
Mà phía nào thì cũng quá lao đao

Đâu phải ta không thấy thần dân còn đói khổ
Tiền tiêu của con nhà quan một đêm bằng dân sống một năm
Con của nhà quan thì học bên Tây bên Mỹ
Con của dân thì ngủ chẳng có chỗ nằm

Hai năm tám (258) và rồi tám tám (88)
Ta cũng hèn như những đứa khua môi
Bảy mươi rồi- sống như sống ráng
Cây thông cao – lá đã rụng tơi bời.

Phong độ là nhất thời- Đẳng cấp là mãi mãi
Ta có gào cũng éo có ai nghe
Thì thôi – cứ làm thằng ngu thằng dại
Sáng tưng tưng – chiều cho chó ăn chè… hehe..

…………………………………………….

Kính,
NNS

Share this post