Lại Sắp Đến Ngày Giỗ 09/06/2018 – Minh Đức Hoài Trinh – Việt Hải Los Angeles

Việt Hải Los Angeles xin đăng tài liệu về bà.

Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh của ‘Kiếp Nào Có Yêu Nhau’ qua đời, Đỗ Dzũng/Người Việt: https://www.nguoi-viet.com/littl…/nu-si-minh-duc-hoai-trinh/

Những nhà văn nữ – Françoise Sagan và Minh Đức Hoài Trinh, Việt Hải Los Angeles:
http://chimvie3.free.fr/…/vhan_NhungNhaVanNuSaganMinhDuc_05…

“Trong khi Minh Đức Hoài Trinh sinh năm 1930, Françoise Sagan sinh năm 1935, cả hai sinh cùng một thế hệ, cả hai được hấp thụ nền văn hóa Pháp, cả hai đều viết văn. Đó là những điểm chung. Tuy vậy họ có sự cách biệt lớn về quan niệm sống, Françoise Sagan lái xe bạt mạng gây ra tại nạn, lãnh bao giấy phạt của sở cảnh sát, bà vui chơi trong những hộp đêm sang trọng, bà hút sách, hoan lạc bên rượu chè,… nhiều người luyến tiếc cho một tên tuổi lớn trong văn học, sao không làm gương. Nói như thế thì ta bỏ quên sự cá biệt của con người trời ban của Françoise Sagan.

Minh Đức Hoài Trinh có những tác phẩm lãng mạn, dù thi ca hay văn xuôi. Bà có nếp sống gia đình hạnh phúc, bà có nếp sống đạo đức, ngăn nắp và gương mẫu. Minh Đức Hoài Trinh có những sở thích dễ thương, dễ cảm thông, bà thích hoa, trà, thiền, ăn chay, thi ca, văn học, báo chí và đàn tranh. Bà rất giỏi về bộ môn đàn tranh…”

“Khi mạn đàm về hai tác phẩm Sám Hối và Bonjour Tristesse tại tư thất của nhà văn Thinh Quang. Anh Lý Tòng Tôn hỏi liệu Françoise Sagan và Minh Đức Hoài Trinh theo khuynh hướng văn chương hiện sinh. Để trả lời anh, hãy xét qua thế nào là khuynh hướng văn chương hiện sinh trước đã. Nhận xét về chủ thuyết hiện sinh là gì?

Theo định nghĩa của chủ nghĩa hiện sinh, nó ám chỉ sự nghiên cứu hệ phái các triết gia ở vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những người tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng quan niệm triết học xuất phát từ chủ điểm là về con người, vì con người, chứ không phải là chủ thể thuộc về lý thuyết hay tư tưởng trừu tượng theo lối cổ điển (classic approach), hệ thống truyền thống kiểu cũ, mà phải là cá thể tồn tại, có sự hiện diện của cảm xúc, và sinh hoạt trong cuộc sống. Trong chủ nghĩa hiện sinh, xuất phát quan điểm của cá nhân được đặc trưng mô tả bởi sự kiện được gọi là “thái độ hiện sinh” (the existential attitude, l’attitude existentielle), hay một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩa và phi lý. Nhiều nhà triết học hiện sinh cũng đã coi triết học hàn lâm hoặc triết học uyên bác của hệ thống truyền thống cũ thiên về tư tưởng, ở cả phong cách cũng như nội dung, thật là quá trừu tượng và tách biệt khỏi những kinh nghiệm cụ thể của con người trong cuộc sống thực tế.

Cũng theo nhận xét về chủ thuyết hiện sinh, nhà văn Gordon E. Bigelow trong tác phẩm “A Primer of Existentialism” ghi nhận chủ nghĩa hiện sinh chú trọng vào sự hiện sinh của từng cá nhân, họ có đời sống riêng tư, được tư do với với ý muốn cần có, với nhân vị, nhân phẩm, được mưu cầu hạnh phúc, tự do yêu đương, tự do suy tư, viết lên những suy tư của mình. Do đó hiện sinh là con người sống ra con người, có suy nghĩ, có tri giác, con người hiện hữu không thể bị gò bó, máy móc, vô giác được. Bigelow viết thêm là trong thế giới chúng ta nên phân biệt ranh giới hiện sinh của phần đúng (cao cả) và phần sai (thấp kém). Với nhận định của Văn Tui xin cho ví dụ con người muốn tự do lái xe đua bạt mạng gây ra tại nạn hại người khác như Françoise Sagan, hay dòi tự do luyến ái, tự do phi sì ke, tự do sống buông thả “Make Love Not War” (Faites L’Amour, Pas La Guerre), sinh con đẻ cái vô trách nhiệm ném cho xã hội hay ông 7 Obama nuôi nấng, những teen mothers, những ông bà hippies yêu cuồng sống vội của phong trào phản chiến năm xưa tại Woodstock hay Berkeley. Đấy là lạm dụng trắng trợn định nghĩa hiện sinh…” 

——————————————————————————————————-

Điện thư luân lưu trên các diễn đàn về nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh…

Subject: Minh Đức Hoài Trinh … Cho một kiếp mơ được yêu nhau

Anh Ng.:

Bà MĐHT này là em gái ông cố Đại Tá Võ Sum. Ông Sum là con của cụ Võ Chuẩn. Thời 1947 theo phong trào Việt Minh ở Huế, cụ Chuẩn và ông Sum vào chiến khu Ba Lòng phục vụ công binh xưởng dã chiến chế tạo vũ khí các loại. Năm 1962, ông Sum là sĩ quan Bộ Binh cấp đại úy VNCH, được cải tuyển sang phục vụ Hải Quân Việt Nam. Ông gửi biếu tôi quyền sách tựa Mặt Trời Chiều do chính ông viết và tự xuất bản. Sau dó hai tháng nhân dịp từ Đà Nẳng về Sài Gòn dự buổi họp hàng tháng, tôi gặp ông và mời ông buổi chiều ra phố ăn cơm tiện thể nói vài ý nghĩ về cuốn sách của ông. Ông nói để ông mời vì nhân dịp cô em gái của ông từ Pháp vừa về Sài Gòn công tác cho Hội Văn Bút Quốc tế, ông muốn đãi hai tôi. Đó là lần đầu tôi gặp nhà văn Minh Đức Hoài Trinh.

Trong cuộc nói chuyện với bà lần đó, tôi biết bà, giống như Françoise Sagan, theo thuyết Hiện Sinh (Existentialism) của Jean Paul Satre, cốt lõi của nó là anti-Dieu, và những đồ đệ nhiệt thành của nó như Simone de Beauvoir, Sacha Guitry, về sau thêm F. Sagan chỉ nổi tiếng về văn thư đồi trụy, rã rời, nghiện ngập ma túy, bại hoại rồi tàn tạ hâu quả quả lối sống nhanh sống mạnh. Nói về phương diện tâm linh thì tất cả những gì chống Thượng đế đều bị bại vong (Nghịch thiên dã vong). Tôi hỏi bà định nghĩa ngắn gọn của Hiện sinh là gì? Bà nói,” quá khứ ta không thể sửa được; tương lai chưa biết vì chưa đến, chỉ có hiện tại trước mắt là ta biết. Do thế ta phải sống theo bản năng, và sống như vũ bão. Tôi chủ trương con người tiến bộ phải sống hoàn toàn tự do, sống theo bản năng, nghĩa là sống theo cái Id mà quên cái Ego” Nghe bà nói thế tôi biết tại sao vào lúc cuối đời của Beauvoir, của Sagan cũng như của nhiều đệ tử Hiện sinh khác đã đi vào bế tắt vào chán chường (theo nghĩa ‘cực lạc sinh bi’ của Đông phương.

Tôi nhận tôi chỉ đọc một ít tác phẩm của Sartres như Nausea, Huit Clos, No exit, nghĩa là không nhiều và tôi ngưng khi thấy ông đặt vấn đề Existence và Idea of Creation (Hiện Sinh) ngược lại đức tin tôn giáo của tôi, cái đức tin mà tôi luôn mang ra đối chiếu với thực tế từng ngày để chứng minh một cách tương đối là có chút nhân bản và thiết thực nếu hiểu rõ những giáo lý của nó qua Chính thống giáo mà không qua Vatican. Theo tôi thì nếu chiết tự hai chữ Hiện Sinh thì Hiện đứng một mình có nghĩa là sự có mặt (présence) và Sinh là sinh ra (naitre). Sartre muốn đả phá thuyết Sáng thế trong Cựu Ước của Công giáo. Sáng thế nói các tạo vật phát sinh từ Ý của Thượng đế mà có mặt, tức Hiện diện trong vũ trụ này. Cái Ý này khoa học ngày nay gọi là các Big Bang, nó đến từ một nguyên nhân không ai biết rõ, cũng như cái từ trường trong đại vũ trụ cũng không ai biết nó có từ đâu, mà nếu không có nó thì đã không có electron, không có molecule, không có vật chất, không có cái hiện diện lục cục lòn hòn bay vun vút trong các thiên hà qua thiên văn ta thấy hiện nay. Sartre nói ngược lại bằng cách nói Vật chất có trước rồi Ý đến sau. Và cái nói ngược này theo tôi nghĩ đã đưa đến một thuyết có người nghe theo vì thấy nó mới lạ mà không mấy quan tâm đến cái tại hại nó mang đến cho nhân loại vào những năm giữa thế kỷ 20. Cái câu nói ‘Tha nhân là địa ngục’ của Sartre đưa ra mang màu sắc mới lạ, nhiều người nói theo, mà không hiểu rằng khi chủ nhân của nó là Sartre sau khi biết mình nói một blanket statement (nói vơ đũa cả nắm và sai) nên đã khổ công 6 lần viết bài đính chính mà cũng không xong. Đông phương có câu, ‘Nhất ngôn thiết quá tứ mã nan truy’ mà phương Tây không it người bị mắc phải. Tôi có gặp bà MĐHT một lần nữa vào năm 1968 khi bà làm phóng viên chiến trường cho một cơ quan nào đó bên Âu châu. Bà có vẽ chán chường khi thấy cái thuyết Hiện sinh bà đang theo chỉ làm con người thích hưởng thụ mà không giúp chấm dứt khổ đau.

Bà có viết một tác phẩm tự Sám Hối (tôi chưa đọc) nên không biết bà sám hối về chuyện gì <?>.

Tr.

Subject: Minh Đức Hoài Trinh – Cho một kiếp mơ được yêu nhau

Thêm một tên tuổi lớn của nền văn học nhân bản rực rỡ của một thời Việt Nam Tự do đã ra đi. Hy vọng từ những mầm non nở bên khung trời hải ngoại sẽ mọc lên vài cây đại thụ làm rạng danh người Việt hoặc là văn hóa Việt trong nền văn hóa chung của thế giới tự do. Hoặc là trong nước xuất hiện những Solzenitsyn, Georde Orwell, hoặc Lưu Hiểu Ba … để nuôi dưỡng dân khí cho một Viêt Nam còn tồn tại trước đà xâm lược cuồng bạo của kẻ thù truyền kiếp đại hán. Lịch sử các nền văn minh và các quốc gia, dân tộc trên thế giới đã cho thấy:

-Một dân tộc đã thui chột dân khí, khuất phục trước bạo quyền áp chế, thì sẽ bị tan rã hoặc nô lệ hóa.
-Một dân tộc nếu đã đánh mất nền văn hóa của mình thì không thể tồn tại được …..

PhDZ

—–Original Message—–
From: Minh Ta
Re: Cho một kiếp mơ được yêu nhau
Via Bureau Media Asia

Tác giả hai bài thơ đã cùng âm nhạc của Phạm Duy trở thành bất hủ trong lòng người Việt, nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã ra đi vào ngày 9/6/2017 tại miền Nam California. Một cái tên lớn của văn hoá Việt Nam đã hoá mây về trời trong những ngày ở quê nhà đầy mưa và mây xám.

Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, là đôi tác phẩm trong hàng loạt các sáng tác của bà như truyện ngắn, truyện dài, thi tập… mà danh mục có đến 17 ấn bản, từ năm 1960 đến 1990.

Tài liệu về bà, chủ yếu được trích từ sách “Văn nghiệp & cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh” do phu quân của bà là Nguyễn Huy Quang chép lại (sách đề tác giả là Nguyễn Quang). Hiện sách gần như tuyệt bản. Trong đó nói rõ tiểu sử của bà như sau:

“Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982. Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học.

Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam… Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.

Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979″…

Về câu chuyện văn bút quốc tế, có rất nhiều chi tiết đáng ngưỡng mộ tâm sức của bà. Sau năm 1975, rất nhiều hội đoàn chính danh liên kết với quốc tế của miền Nam Việt Nam như Hướng đạo sinh, Ngân hàng, báo chí… đều bị đứt đoạn. Hội nhóm văn chương tự do của miền Nam sau thời điểm đó đều tan tác, mỗi người một hướng.

Theo quy định của Văn Bút Quốc Tế, muốn tái lập, thì tổ chức nhân danh quốc gia đó phải có ít nhất là 20 thành viên. Từ một nền văn hoá có đến hàng ngàn danh sĩ của miền Nam, việc liên lạc và tập hợp 20 người vào năm 1977 đến 1979 đã trở nên khó khăn vô cùng, nhất là khi cuộc sống của người Việt di tản còn vất vả và ly tán.

Năm 1978, nữ thi sĩ và là nhà báo Minh Đức Hoài Trinh một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và đơn độc một tiếng nói Việt Nam ở đó, bà vận động các nhà văn và các bút nhóm quốc tế quen biết ủng hộ cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad Pen Centre) chính danh là thành viên của Pen International, với lý do nối kết lại hoạt động của giới trí thức tự do Việt Nam sau chiến tranh. Đây là việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng, lúc đó đang nổi lên trong Pen International. Nhưng kết quả bỏ phiếu thì thật bất ngờ: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Rất nhiều nhà văn trong hội đồng đã cảm động trước tâm nguyện của bà nên đã bỏ phiếu đồng ý. Tiếc là kết quả không như ý.

Năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, cuộc vận động của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh thành công. Và Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tồn tại đến ngày hôm nay, vẫn chính danh là nhánh văn bút quốc tế thuộc Pen International.

Mục đích và tâm lực của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là muốn xây dựng một tiếng nói truyền thông có tầm quốc tế cho giới trí thức người Việt đang phải ly tán, nhất là vào lúc khi muốn cất tiếng thì lại quá lạc loài. Tầm nhìn của một phụ nữ như bà, vào thời gian ấy, quả thật đáng ngưỡng mộ.

Từ năm 1982, Minh Đức Hoài Trinh định cư ở Hoa Kỳ, sau đó ở gần nơi cư trú của nhạc sĩ Phạm Duy. Nơi Midway City, mà ông thường diễn dịch một cách thơ mộng là Thị trấn giữa đàng.

Nói về cơ duyên của sự kết hợp thi ca và âm nhạc của Kiếp Nào Có Yêu Nhau và Đừng Bỏ Em Một Mình, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại trong hồi ký Vang Vọng Một Thời: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân… bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư ệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con… ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung Ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam Bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn Hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ.

Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”…

Là người sống cùng thời đại với nữ văn sĩ Pháp Francoise Sagan, và cũng là người theo Tây học nhưng tư tưởng bàng bạc theo thuyết cõi tạm của Phật giáo, ngôn ngữ của bà luôn u uẩn nhưng ngôn từ của bà thì dữ dội và đắm đuối đến ngộp thở, đọc lại vẫn bàng hoàng:

“Đừng bỏ em một mình
Trời đất đang làm kinh
Rừng xa quằn quại gió
Thu buốt vết hồ tinh”

Hay

“Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận nghìn sau
Tình xanh không lo sợ.

Hoặc trong bài “Tình Chúng Mình Sẽ Được Vẽ Lên tTanh” có đoạn:

“Anh còn sống là mình còn xa cách
Vì cuộc đời hay ghét kẻ yêu nhau
Vì hạnh phúc phải xây trên nhiều thử thách
Xã hội điên cuồng, nhân loại ngợp thương đau”

Tạm biệt bà, một danh nhân của nền văn hoá đầy sức sống mãnh liệt của miền Nam Việt Nam tự do. Thêm một người nữa đã khuất, và thêm những núi đồi hùng vĩ lại mọc lên mà hậu sinh sẽ cứ phải ngước nhìn trong trầm mặc. Những ngọn núi nhắc rằng đỉnh cao của kiếp người là để sống và mơ được yêu thương nhau, dẫu muôn thương đau.

***
Phụ lục: Các tác phẩm của Minh Đức Hoà Trinh đã xuất bản gồm có: Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

Share this post