Lẩm Cẩm Mỗi Ngày: Cách Chơi Mạt Chược – Lương Phúc Thọ (1)

Ngoài quân bài, mạt chược thường được chơi trên một bàn được tạo ra với mục đích này gọi là Bàn Mạt Chược.


Bàn Mạt Chược

 


Vị Trí Bàn Mạt Chược

Để chơi Mạt chược phải có từ 4 đến 6 người.

Nếu có sáu người thì 4 người chơi, 2 người ngồi ngoài dự bị nhận gió Trung và gió Phát, hết gió Đông, 2 người này vô và 2 người cửa Đông và cửa Tây ra, còn nếu 5 người thì người thứ 5 gió Trung sẽ thế người gió Đông khi hết vòng gió.​

– Một hội gồm bốn gió, hay là gió Đông, Nam, Tây, Bắc. Hết một vòng là hết một gió.

– Gieo súc sắc để biết ai ngồi cửa nào, ai làm cái, theo chiều đánh bài Đông, Nam, Tây, Bắc:

– Bắt đầu chơi, một người gieo ba con xúc xắc để chọn chỗ (2 con 1 màu và một con khác màu).

– Người được cửa Đông sẽ gieo xúc xắc để bắt đầu, một con để chỉ tụ bài nằm cửa nào, tổng số sẽ chỉ bắt bài từ hàng thứ mấy đếm từ phải qua trái. Nếu chỉ có bốn người chơi thì lần đầu tiên gieo xúc xắc trúng cửa nào, người ở cửa đó sẽ là cửa Đông, còn từ 5 người thì ai được cửa Đông sẽ giữ cái, gọi là nhà cái, những người còn lại là nhà con.

– Xoa quân bài đã úp sấp cho quân được trải đều, rồi mỗi người xếp 160/4=40 quân thành 20 đôi, bầy ngang trước mặt.

Như có thể xếp thành 6 hàng 7, 7, 7, 7, 6, 6 quân, rồi chồng lên thành 3 hàng 7, 7, 6 đôi, rồi nối 3 hàng này thành 20 đôi. Hoặc có thể xếp 8, 8, 8, 8, 4, 4 quân, chồng đôi rồi nối lại, hay xếp 20, 20 quân rồi chồng đôi v..v…

– Nhà Cái bao giờ cũng tính là cửa Đông, gieo súc sắc để biết lấy bài từ chỗ nào. Rồi lấy theo thứ tự từ nhà Cái tới nhà Con mỗi người 2 đôi, rồi 2 đôi, rồi lại 2 đôi, rồi 1 quân, tất cả là 13 quân. Nhà Cái phải lấy dư 1 quân để đánh ra trước, nên thay vì lấy 1 quân cuối cùng thì lấy luôn 2 quân liền nên gọi là nhẩy cóc. Khi tới hay ù thì sẽ có 14 quân.

– Sau khi lấy bài rồi thì chồng bài còn lại sẽ có hai đầu, đầu bên tay mặt để bốc bài lúc bình thường, đầu phía bên kia hay tay trái để bốc bài khi có hoa hay khung dựng lên.

– Chiều lấy bài hay bốc bài là chiều thuận với kim đồng hồ, ngược với chiều lấy bài hay đổi bài khi dựng hoa, hay khung, hay coong!

– Khi người bên trái mình đánh ra 1 quân, mình có thể ăn thành một phu phình nếu có 2 quân cùng hàng, để xếp theo thứ tự liên tiếp như 1, 2, 3 hay 4, 5, 6 v..v… Thí dụ Nhất, Nhị, Tam Vạn, hay Tứ, Ngũ, Lục Sách…

– Bất cứ người nào đánh ra 1 quân, nếu mình có 2 quân giống hệt thì mình có quyền phỗng thành một phu phỗng. Thí dụ Nhất Vạn, Nhất Vạn, Nhất Vạn, hay Đông, Đông, Đông. Phỗng được ưu tiên với ăn, và đôi thật được ưu tiên với đôi phải dùng khung.

– 14 quân bài khi tới được chia ra là 4 phu, mỗi phu 3 quân và 1 cặp mắt. Có hai loại phu là phu ngang và phu dọc, dù ngang hay dọc tất cả các phu đều phải cùng một loại, một hàng. Ví dụ sách ăn theo sách, văn theo văn, vạn theo vạn, tài phao theo tài phao. Phu ngang là ba con giống nhau, nếu có hai con mà người khác đánh ra bất kỳ từ cửa nào cũng có quyền ăn, khi đó phải xướng lên “phỗng” hoặc “đôi”, phu dọc là theo thứ tự, ví dụ 234, 345… và chỉ được ăn khi người trên đánh xuống, khi tới thì bất kỳ cửa nào đánh cũng được. Tất cả tài phao đều là phu ngang.

Cửa cái, sau khi bắt bài nếu có hoa hoặc khung thì dựng, trường hợp chỉ có 1 hoa có quyền đánh hoặc dựng, nhưng từ 2 hoa bắt buộc phải dựng. Hoa đúng cửa thì được tính phán và không được đánh khung nữa, còn nếu không có hoa cửa vẫn được quyền đánh khung (nhiều nơi không cho). Dựng xuống bao nhiêu hoa hoặc khung thì được bắt lại bấy nhiêu quân bài ở chồng ngược lại gọi là đầu coong. Nếu đủ 14 con bài mà tròn, nhà cái sẽ ù gọi là Thiên Ù.

Sau khi cả làng đã lấy hoa xong thì nhà cái sẽ đánh ra một con bài rác, người kế tiếp nếu ăn không được và không bị ai phỗng (lấy vào hay ăn bài) thì sẽ được bắt một con vào bài từ chồng bài thuận, và sau đó sẽ phải đánh đi một con.

Cứ đánh và bắt bài như vậy cho tới khi bài tròn, nghĩa là khi đủ 4 phu và 1 mắt thì được ù. Nếu bắt lấy mà ù thì gọi là ù cái và cả làng phải chung cái, còn nếu người khác đánh cho ù thì ai đánh phải chung cái, 2 người kia sẽ chung con. Thông thường chung cái sẽ gấp đôi chung con (không kể điểm thưởng), vì thế tránh chung cái cũng là một cách đánh để đỡ phải thua nhiều, và đây là một nghệ thuật cũng như chiến thuật căn bản của người chơi Mạt chược: Ăn lớn, chung nhỏ.

– Bài 13 quân chờ rồi thì ai đánh ra 1 quân, hoặc tự bốc lấy, có thể ù được nếu bài có thể xếp như sau:

2 quân giống nhau làm mắt = 2 quân

4 phu, mỗi phu có 3 quân = 12 quân

Cách gọi tên và tính điểm

Mạt chược hấp dẫn người chơi hơn các môn bài bạc khác vì nó có tính toán, sắp đặt. Cũng là một ván bài đó, người chơi giỏi sẽ tạo nên ván bài lớn, nghĩa là tới nhiều điểm, ở đây gọi là phán. Mốc quan trọng khi chơi là làm sao để “tới mủn” nghĩa là tới 6 phán và cứ mỗi bội số của 6 phán là thêm 1 mủn.

– Mỗi ván bài khi tới sẽ có một tên gọi tuỳ theo kết cục của 4 phu, và cũng từ đó người ta sẽ tính điểm cho ván bài tới.

Xuông (hay cà ri): là tên gọi của một ván bài tạp, nghĩa là khi tới 4 phu bài có đủ thứ, cả tài phao, cả phu ngang, phu dọc. Bài này không được tính phán, cả làng cùng chung 1 đơn vị, không chung cái, con. Đây là ván bài nhỏ nhất.

Phình: 4 phu bài đều là phu dọc, ván bài này được tính 1 phán nghĩa là người đánh chung gấp đôi người khác, hoặc bốc lấy thì cả làng chung 2 đơn vị.

Tui tui: 4 phu bài đều là phu ngang, ván bài này được tính 3 phán. Không khung được thêm một phán.

Lai hàng: Bài gồm hai loại vừa tài phao vừa 1 hàng bài có cả phu ngang và phu dọc, ván bài này cũng được tính 3 phán, nhưng được cộng thêm phán của tài phao, nếu phu đó có điểm, ví dụ cửa 2 gió Nam thì được 1 điểm nếu có phu Nam.

Tui tui lai: 4 phu bài gồm tài phao và một hàng bài phu ngang, ván bài này được tính 6 phán (mủn). Đây là loại bài lớn. (dĩ nhiên cũng được tính thêm phán tài phao, nếu có.)

Toàn hàng: Bài gồm 1 hàng (văn, sách, vạn) nhưng cả phu ngang lẫn phu dọc và có cả khung), không có phu tài phao, ván bài này cũng 1 mủn.
Nếu bài không có khung sẽ được 2 mủn, hoặc tui tui toàn hàng cũng 2 mủn, tui tui toàn hàng không khung 3 mủn.

Không hoa lá: Là ván bài không có hoa và khung trong bài, ván bài này được tính 1 mủn, nếu có cước sắc tính thêm, nếu có đánh khung được tính thêm phán cho khung đánh đi.

Tiểu tam nguyên: Bài gồm 2 phu nguyên và 1 phu nguyên nữa làm mắt, bắt buộc phải đủ ba loại Trung Phát Bạch, ván bài này được tính 5 phán. Nếu thêm tui tui hoặc lai hàng sẽ tính thêm mỗi thứ 3 phán.

Đại tam nguyên: Gồm 3 phu Trung Phát Bạch, 8 phán. Nếu thêm tui tui hoặc lai hàng sẽ tính thêm mỗi thứ 3 phán.Cả hai ván bài này nếu không có khung đều được tính thêm 1 mủn nữa, riêng lai hàng thì không được tính là không khung, nghĩa là phần lai hàng dù có khung hay không có khung cũng vậy.

Khàn khàn (hay tui tui kín, tui tui bất cầu nhần): Là ván bài gồm 4 phu ngang, bốc lấy mà tới không ăn bên dưới phu nào cả. Ván bài này được tính 3 mủn.

Tiểu Tứ Hỷ: Gồm 3 phu và một cặp mắt, phải đủ Đông Nam Tây Bắc, được tính 4 mủn. Ván bài này không được tính thêm lai hàng, nhưng nếu phu còn lại là phu ngang thì được tính thêm 1 mủn nữa gọi là Tui Tui Tiểu Tứ Hỷ, 5 mủn. Còn nếu phu còn lại là tài phao thì sẽ được gọi là Tiểu Tứ Hỷ Toàn Chữ có nơi tính 6 mủn có nơi tính tới 8 mủn.

Đại Tứ Hỷ: Cả bốn phu là Đông Nam Tây Bắc, 6 mủn, không được tính lai hàng, không được tính thêm tui tui, nhưng nếu mắt là tài phao được tính thêm 2 mủn nữa là 8 mủn, gọi là Đại Tứ Hỷ Toàn Chữ, cũng có nơi tính tới 10 mủn. Nếu không khung cũng được tính thêm 1 mủn nữa.

“Xuyên”: Nếu bốc được con bài đang chờ là một con bài kẹt, nghĩa là chỉ có một con bài cho 1 phu dọc thì được tính thêm 1 phán, ví dụ bốc được con 6 khi trong bài có con 5&7, con 3 khi có 1&2 hoặc con 7 khi có 8&9…

“Tán Tiêu”: Con bài bốc được là một con duy nhất để hình thành phu mắt.

Lưu ý: Nước bài “xuyên” này là “bốc được con bài chờ duy nhất” vì thế khi có khung nó thường không được tính, tuy nhiên nếu có khung mà nước bài đang chờ cũng vẫn chỉ là 1 nước bài duy nhất thì vẫn được tính, thí dụ ta có khung Tổng hoặc Hợp, nhưng bài trên tay ta đang có là một con 6, hai con 8 và một con 9 thì nước bài ta chờ chỉ là một con 7, vậy bốc được con 7 thì ta có thêm phán “xuyên”

Đặc biệt:

Lấy bài xong nhà cái ù liền gọi là Thiên ù, 2 mủn. Nhà cái đánh một con, nhà con ù, gọi là Địa ù, cũng 2 mủn. Nếu nhà cái đánh hoa mà nhà con ù thì nhà cái phải đền, tổng cộng 3 mủn, chung ba cái + 6 con.

Nhà con bốc mà ù ngay thì gọi là Nhân ù, 2 mủn.

Cả Thiên và Nhân ù, nếu bốc từ đầu coong mà ù thì được cộng thêm 1 phán coong.

Trên đây chỉ là những ván bài căn bản để tính phán, cách tính điểm dựa theo phán như sau:

1 phán: Cái 2, con 1
2 phán: Cái bốn con 2
3 phán: Cái tám con 4
4 phán: Cái 16 con 8
5 phán: Cái 32 (hoặc 30) con 16 (hoặc 15)
6 phán (mủn): Cái 64 (hoặc 60) con 32 (hoặc 30).

Xin bổ túc, cách chung trên đây bắt đầu từ 0 phán. Có nghĩa là mủn ăn 128/64.

Ngày trước ở Sài Gòn và bây giờ nhiều nơi vẫn còn chơi, tới mủn thưởng thêm 10 điểm nữa, như vậy tới mủn nhà cái chung 74, con chung 42. Vì ăn thua như vậy hơi lớn nên thường nhiều nơi bỏ điểm thưởng tới mủn, tuy nhiên vẫn giữ điểm thưởng tới coong là thêm 5 điểm.

Ngoài ra cần phải lưu ý, để ván bài lớn phải biết cách dựng khung cũng như tính toán, cố gắng để ván bài khi tới đủ 6 phán không cần hơn vì mỗi phán thêm chỉ được tính thêm 2 điểm, 5 phán cũng chỉ thêm được 10 điểm, không đáng gì, đôi khi dựng khung sẽ làm bài trở nên khó tới.

Quy luật về dựng khung như sau:

Khung Tổng: Dựng đầu, hoặc cửa 1 dựng bất cứ khi nào 3 phán, cửa khác dựng sau 2 phán.
Khung Hợp: Dựng đầu, hoặc cửa 4 dựng bất cứ khi nào 3 phán, cửa khác dựng sau 2 phán.
Đại Ho: Tất cả các cửa dựng bất cứ khi nào đều 2 phán.
Tổng+Hợp: Dựng đầu bất cứ cửa nào 9 phán, dựng sau 1 lần 6 phán.
Thùng: Cửa 2 dựng bất cứ khi nào 2 phán, các cửa khác 1 phán.
Soọc: Cửa 3 dựng bất cứ khi nào 2 phán, các cửa khác 1 phán.
Màn: Cửa 4 dựng bất cứ khi nào 2 phán, các cửa khác 1 phán.
Hỉ: Cửa 2 dựng bất cứ khi nào 2 phán, các cửa khác 1 phán.
Nguyên: Cửa 3 dựng bất cứ khi nào 2 phán, các cửa khác 1 phán.

Hoa trúng cửa thì được 1 phán, không trúng cửa không được tính phán. 1 bộ hoa được tính 1 mủn, không được tính điểm hoa cửa nữa, nếu trúng cửa thêm 1 mủn nữa là 2 mủn. 8 hoa bất kể được tính 1 mủn, 10 hoa được 2 mủn, được thêm điểm hoa cửa. Tuy nhiên không phải mọi nơi đều chơi như vậy, cũng có nhiều nơi không chơi theo lối tính hoa kiểu này.

Như vậy, trước khi hạ bài xuống ù phải tính xem bài mình được bao nhiêu phán trước khi xướng, vì khi đã xướng rồi, nếu tính thiếu sẽ không được tính thêm nữa, rất thiệt thòi, còn tính dư sẽ bị làng tính lại. (Vì bây giờ đa số đều chơi bài có nhiều bộ khung nên không giới thiệu 1 ván bài pair-pair, nghĩa là toàn bài khi tới là 7 đôi. Bài này cũng ăn 1 mủn. Nhiều nơi chỉ cho ù, nếu tự bốc, khác với luật của Hồng Kông. Ván bài này, nhiều nơi gọi là lục phé bôn, trong lúc pair-pair được xài cho việc khác, nếu khi chờ bằng 2 đôi (2 con mắt), mà tự bốc lấy mà ù, thì được thêm 1 phán).

Vài ván bài đặc biệt:

1. Xập xám chướng: 13 quân bài khác nhau: 7 tài phao + 3 lần quân 1 + 3 lần quân 9, quân thứ 14 tạo thành một đôi. 13 phán. Không khung, thêm 1 mủn.

2. Yêu Cửu: Chỉ toàn quân 1 (yêu) va 9 (cửu), 3 mủn. Lai hàng 9 phán. Không khung thêm 1 mủn.

3. Toàn Chữ: Gió và tài phao, 4 mủn. Không khung, thêm 1 mủn. (xin so sánh với, Đại Tứ Hỷ Toàn Chữ bên trên)

4. Phóng Hoa: Đánh ra 3 lần hoa, bài sạch khung là ù, 1 mủn. Hoa khi đánh ra có giá trị như Tổng. Ai đang chờ là đều tới được. Ăn mủn, đền mủn. Nhiều nơi cho tính Khung như Hoa, nghĩa là, phóng khung thế hoa được, miễn ba con là được. Nếu phóng 3 khung xanh thì không cần sạch tài phao cũng ù được. Nếu phóng 2 khung xanh (khung Hợp kể như khung xanh) và một khung đỏ (khung Nguyên hay khung Hỷ) thì phải cần sạch tài phao mới ù được. Khung đánh ra, thì có quyền bị ăn, bị phỗng.

Lương Phúc Thọ CVA65

Share this post