Lâm Triết (1938 – 2018) – phannguyenartist.blogspot.com

Phỏng vấn của tạp chí Bách Khoa số 132 ngày 1-7-1962:

LÂM TRIẾT

Tên thật: Nguyễn Tấn Triết.
Sanh ngày 15-12-1938 (theo khai sanh, thì 1937) tại thôn Trung Lương, xã Bồng Sơn, quận Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (Trung Việt).
Học ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế (1957-59), trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Quốc Gia (1959-60).
Đã dự các cuộc Triển Lãm Mùa Xuân Canh Tí (1960), Mùa Xuân Tân Sửu (1961), Mùa Xuân Nhâm Dần (1962).
Họa phẩm “Bến Tàu” được Nha Mỹ Thuật Học Vụ chọn gởi dự cuộc Triển Lãm Văn Hóa Việt Nam tại Mỹ quốc (1960).
Họa phẩm “Lưới” cũng được Nha Mỹ Thuật Học Vụ chọn gởi dự cuộc Triển Lãm Lưỡng Niên của Viện Mỹ Thuật Cận Đại Pháp tổ chức ở Paris (1961).
– Triển lãm tại Phòng Triển Lãm Đô Thành (16-5 – 14-5-1962).
Đã được:
– huy chương Đồng Triển lãm mùa xuân năm 1960 với hoạ phẩm “Triều Lên”
– huy chương vàng Triển lãm mùa Xuân năm 1962 với họa phẩm “Ngựa”

Họa sĩ chỉ còn rảnh có buổi trưa (chiều sẽ bận rộn với việc thu dọn phòng triển lãm, rồi lên đường về Trung) nên tôi hẹn đến quấy rầy anh lúc 13 giờ rưỡi.

Khu Tân Định, một con đường hiền, một ngõ uốn quanh và nhà anh trọ ở gần khoảng giữa. Im lặng hoàn toàn và cũng nóng bức lan tràn, nên khi tôi bước vô nhà, thấy anh đang ở trần toan choàng áo rộng, là tôi vội khoát tay, rồi tự tiện cởi áo sơ mi ra, chỉ có cái may-dô mỏng che nửa mình trên, giống như hai bạn thân anh ở đó, “hai cánh tay của anh” trong cuộc tổ chức cuộc triển lãm đầu tiên. Rồi bốn chúng tôi xuống nhà bếp, quây quần chung quanh cái bàn ăn tròn mà chuyện trò thân mật.

Giọng anh âm ấm, cử chỉ anh điềm đạm.

– Tôi học hai năm đầu ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế. Tôi vẽ theo lời thầy dạy, phương pháp của nhà trường, chẳng nói thì anh cũng biết đó là đường lối Tân Cổ Điển. Tôi bắt đầu chán phải đi từng bước theo con đường mòn vạch sẵn, và tôi xin vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Quốc Gia ở Gia Định học tiếp, mặc dầu ở Huế, tôi là một trong những sinh viên được chú ý nhất vì đã tỏ ra siêng năng, chăm chỉ. Xin vào Sài Gòn học, tôi muốn đổi bầu không khí lờ đờ của chốn Thần Kinh, lòng hằng mong sẽ được học những gì mới, lạ. Nhưng tôi thất vọng.

– Anh thất vọng, nhưng anh có trách ai không?

Người họa sĩ trai trẻ này đưa tay đập mạnh một con muỗi chích sau lưng rồi cười, buồn bã:

– Trách ai bây giờ, anh? Chương trình dạy đã sẵn thế, các thầy dạy theo chương trình, thì mình chỉ có biết trách mình thôi.

– Anh đã qua mấy giai đoạn mới đến giai đoạn bây giờ?

– Thật ra thì tôi không nuôi sẵn ý định mình sẽ đi theo lối này, rồi theo lối nọ. Tôi chỉ thấy lối mình đeo đuổi tới một lúc nào đó, không còn hợp với mình, thì đi tìm lối khác đúng với sự đòi hỏi, sự khao khát của mình rồi sau có dịp kiểm điểm lại, mới thấy mình đã qua những chặng đường đó.

– Anh có thể cho biết…

– Tôi khởi đầu vẽ theo Ấn Tượng, rồi bắt qua Dã Thú để đi đến Biểu Tượng, và giờ thì là bước vào Trừu Tượng.

– Thế anh thụ giáo ai trong giai đoạn mới này?

– Không có thụ giáo ai hết, anh ạ. Nhưng tôi xem nhiều loại tranh theo phái này, tranh của Picasso, của Miro, của Nhật, của Trung Hoa… và đọc những sách nói về môn này. Hiện tôi đang tìm kiếm trong cái Trừu tượng, không biết tôi sẽ ở trong giai đoạn đặc biệt này trong bao lâu, hay là tôi sắp ngoặt sang con đường khác.

– Tranh anh triển lãm, theo ca-ta-lô, sáu mươi chín bức, chẳng hay anh bán được mấy bức?

– Có bốn, anh à. Và những người mua đó là những người ngoại quốc.

– Nghĩa là công chúng xem tranh trong nước không hiểu được tranh anh?

– Không hiểu và cũng không thích nữa. Có lẽ nói chưa hiểu và chưa thích thì đúng hơn. Có nhiều người hỏi tôi: “Anh vẽ cái này, tượng trưng cho cái gì? Anh vẽ như thế ni, là muốn nói cái chi?” Làm tôi phát cáu, có lần phải gắt: “Tôi quên không biết lúc vẽ tôi muốn tưởng tượng cái gì muốn nói cái cái chi. Giờ thì anh muốn nó nói cái gì, tượng trưng cái chi cũng được.”

– Thế thì, theo anh, tranh Trừu tượng không thể giảng giải?

– Có thể giảng giải được chớ. Nhưng mà khó nói. Vả lại, người xem tranh phải thấu hiểu – không nhiều thì cũng ít – lịch sử Hội họa, từ Cổ điển đến Trừu tượng, phải làm bạn với sách nói về Vẽ, với tranh khá nhiều, để dễ cảm thông với họa sĩ. Được thế, nhìn vào tranh, người xem sẽ có cảm giác vui hay buồn, hoặc buồn vui lẫn lộn. Ta có thể nhìn bức tranh với cặp mắt khác với họa sĩ, và hiểu khác nữa. Họa sĩ có thể vẽ tượng trưng con cá, ta cho đó là con rắn, cũng chẳng sao.

— Vậy khi vẽ, anh có theo một kỹ thuật nào chớ?

– Cái kỹ thuật, do mình học lấy đã đành, và cũng do sự làm việc, sự tìm kiếm của riêng mình trong giai đoạn trước nữa. Tại sao tôi cho màu trắng ở chỗ này, mà lại cho màu đen ở chỗ kia? Tại vì cho màu khác, thì tôi thấy khó chịu, thấy xốn xang con mắt. Tôi mà biết được mình phải dùng màu gì, dùng đường nét gì, bỏ chi tiết này, lấy chi tiết kia trong một bức tranh, là nhờ ở trực giác.

– Trực giác?

– Phải, trực giác, anh à. Mà trực giác ta bén nhậy, là nhờ ta đã giáo dục nó từ khi bắt đầu học vẽ cho đến ngày nay.

– Giảng giải tranh Trừu tượng là điều gần như kỵ đối với họa sĩ, nhưng anh thử giảng sơ qua cho tôi nghe về bức tranh “Tĩnh vật” này mà anh cho là anh ưng ý nhất.

– Tôi vẽ một bình hoa trên mặt bàn tròn, một cây đèn, những mảnh giấy và dụng cụ văn phòng. Cốt ý tôi là muốn tìm cái lạ, trong bố cục, trong màu sắc và trong đường nét. Thú thật với anh là trong bức tranh này, tôi không gửi gắm gì cả. Phông: đen, màu tôi dùng rất ít, có thể phân biệt được các màu sau đây: nâu, hồng, xanh nhẹ. Tôi thấy sự giản dị trong đường nét và trong màu sắc. Xin nói với anh là bức tranh này, tôi thích nhất phần tôi, nhưng không được người xem tán thưởng.

– Trên đây là loại “Tĩnh vật”, còn loại phong cảnh, anh thích bức nào?

– Bức “Hồ Đà Lạt”. Năm rồi, tôi ở Đà-Lạt một thời gian. Tâm trạng tôi lúc đó buồn. Chiều chiều, tôi thích đi dạo quanh hồ. Cảnh núi rừng quanh đây cho tôi màu xanh. Rồi trời xanh, những chòm cây xanh chiếu xuống mặt hồ. Màu xanh do đó là màu chánh. Rồi đến màu hồng, chiều tà, hồng hồng ánh đèn điện bật lên, màu hồng. Tôi vẽ vừa xong thì trời chạng vạng: mặt trời vừa lặn, đèn cũng vừa bật lên. Cảnh này, tôi phải đi qua nhiều lần, rồi mới vẽ sau. Vẽ cảnh, thường tôi không ghi chú gì, cũng không phác họa chi cả. Tôi thâu nó vào hồn tôi, rồi khi nó đậu hẳn là về nhà, tôi vẽ.

– Thế anh vẽ xong bức tranh này trong bao lâu?

– Thời gian tập trung ý nghĩ lại để vẽ có đến mấy tháng. Tôi muốn nói nhiều trong này lắm, nhưng rồi cũng phải gặp cái cảnh “Muốn nói thì nhiều, mà nói được chẳng bao nhiêu!”

– Còn vẽ tranh người?

– “Thiếu Nữ Nhà Quê” là bức tôi thích. Tôi cho phông màu nâu, một màu quê mùa. Thiếu nữ nơi dân dã này rất ngây thơ. Nàng bẻ hoa một cách tự nhiên, không như các cô gái thị thành bẻ hoa để làm dáng. Tôi muốn diễn cái đẹp của sự hồn nhiên.

– Anh bước vào cái thế giới Trừu tượng, hẳn cũng có lý do…

– Đó là lý do: lối này nói được những cảm xúc bên trong của tôi nhiều hơn các lối khác. Và tôi cắm đầu đi mãi con đường này, mặc dầu thiếu phương đến. Được có cái là những tác phẩm giờ đây không làm tôi mau chán như xưa kia.

– Anh có dự định gì gần đây?

– Tôi định tháng chín tới đây, trình bày tranh và tượng ở Pháp Văn Đồng Minh Hội.

– Có cả tượng nữa à?

– Có cả tượng. Tôi đang tạc tượng người và tạc tĩnh vật. Tạc trong đá Non Nước, đá này tạc tượng tốt vô cùng. Để chừng ấy anh đi xem sẽ thấy.

– Dự định là thế, còn hy vọng?

Mắt người trai có vẻ hiền lành ấy bỗng tròn và sáng lên.

– Hy vọng độc nhất của tôi là được đi ra ngoại quốc, rõ ràng hơn là được đi sang Pháp và Ý, quê hương của Tự-do và của Nghệ thuật. Để thấy cho đã mắt, để học hỏi cho tới nơi. Chớ ở trong nước thì dầu bền chí, nhẫn nại đến mức nào cũng đâm ra chán nản. Anh hỏi tôi về hiện tình Hội họa nước nhà à? Âm u lắm, anh ơi! Anh muốn một bằng chứng. Văn chương, giải nhất được 80.000$. Hội họa giải nhất chỉ có huy chương bằng Vàng. Triển lãm Hội Họa Mùa Xuân năm ngoái, huy chương bằng vàng hẳn hoi, nghèo đem bán cũng được ít ngàn. Năm nay, huy chương bằng Vàng xi, mà cũng chưa được lãnh. Năm ngoái, có cuộc phát giải long trọng, có mời đại diện các cơ quan văn hóa cùng báo chí. Năm nay, mùa hạ sắp hết mà vẫn êm ru. Cho nên tuy tôi giờ say mê vẽ, nhưng nếu sau này con tôi mà cầm tới cọ thì, a lê, trăm roi cái đã. Anh hỏi lúc vẽ có người yêu với người bạn bên cạnh, thích “cái nào” hơn? Người yêu thì kích thích nhiều, nhưng dễ làm mình bực tức, có một người bạn biết cái hay cái dở của mình, thẳng thắn phê bình thì thích hơn. Anh hỏi khi sáng tác, tôi thích gì? Có bầu không khí lành lạnh, có cà phê nóng, có thuốc thơm, có nhạc êm êm và thỉnh thoảng có tách trà trong sương sớm. Còn giờ, trưa thiêu đốt, mời anh cạn ly nước lọc này để cùng bọn trẻ chúng tôi nuốt cho trôi, đố anh trôi cái gì..

– Thì còn cái gì hơn là cái huy chương Vàng… xi… chưa lãnh!

NGUYỄN-NGU-Í viết lại
Bách Khoa số 132 ngày 1-7-1962

Share this post