Lan Man Một Chút Về “Cụ Rùa” – Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Lan Man Một Chút Về “Cụ Rùa” – Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Tôn giáo của người Việt Nam

1)- Thờ phụng danh nhân, danh vật lịch sử:

Ông Xuân Hồng, phái viên của đài BBC, trong một lần phỏng vấn một người Việt Nam ở Hà Nội, về việc “cụ Rùa” ở hồ Hoàn Kiếm đang được chính quyền địa phương tìm cách vớt “cụ” lên để chữa bệnh cho “cụ”, gọi “cụ Rùa” ở cái hồ ấy là “con rùa” thì bị người được phỏng vấn trả lời ngay: Phải gọi là “cụ Rùa”, nếu ông gọi là “con rùa” thì tôi không nói chuyện với ông nữa.

Dĩ nhiên, cuộc phỏng vấn được trót lọt, xong xuôi, sau khi ông Xuân Hồng đổi cách nói: “Cụ Rùa.”

Gọi “con” là thiếu kính trọng rùa. Gọi là “Cụ” tức là tỏ sự kính trọng đấy.

Theo phong tục Việt Nam xưa – không rõ ngày nay vì “văn hóa mới” mà người ta có gọi khác đi không!!! – những ai trên năm mươi, trong sự giao tiếp, họ được những người trẻ gọi bằng cụ. Rõ ràng nhất là các trường hợp “cụ Ngô”, “cụ Hồ”, mặc dù, khi hai ông nầy mới lên cầm quyền, một ông thì có râu, là ông Hồ, một ông không râu, là ông Ngô, ông nào cũng vừa mới quá 50 tuổi.

Có lẽ phong tục nầy cũng có nguồn gốc từ trong câu nói của Khổng Tử: “Ngũ thập tri thiên mệnh”. Với người xưa, ai được bảy mươi tuổi đã gọi là hiếm (nhân sinh thất thập cổ lai hy), thì năm mươi tuổi thì “tri thiên mệnh” tức là biết cái mệnh trời cho về đâu, tức là đã già. Già thì được gọi là “cụ”: Cụ Ngô, cụ Hồ, cụ Huỳnh, cụ Phan, v.v…

Được gọi bằng cụ, tức là gọi một cách kính trọng, thì người được gọi phải là người có tư cách, có đạo đức hay là người có danh tiếng. Các cụ tôi trích dẫn ở trên, đều là những “người làm cách mạng”, tức là những người có thành tích hay có tiếng là người chống Pháp giành độc lập. Cũng cần nói rõ thêm, cách gọi như thế về con người nào đó, ở một thời điểm nào đó, chớ không phải từ đầu chí cuối, cho đến khi qua đời, người ta vẫn kính trọng như thế cả đâu! Cụ Ngô có lúc rồi không được gọi là “cụ Ngô”, là “chí sĩ”, mà gọi là “nhà độc tài”, cũng như cụ Hồ sau nầy người ta gọi là “già Hồ”, “cáo Hồ”, v.v… “Cái quan định luận” về cá nhân các ông ấy, có dịp sẽ… nói sau!

“Cụ Rùa” không phải là người đi hai chân như cụ Ngô, cụ Hồ, mà lại là một sinh vật có bốn chân, là động vật thuộc loài giáp sát (vì có cái mai rùa – có khi người ta gọi là mu rùa) thế tại sao người ta gọi một cách kính cẩn là “cụ Rùa”?

Có phải vì rùa thuộc “tứ linh”. Tứ linh là bốn con vật đưọc coi là “linh” (thiêng) gồm long, lân, quy, phụng. Long là rồng, lân là con kỳ lân, quy là rùa, phụng là chim phượng. Đó là bốn con vật, người xưa dùng tạc tượng làm vật trang trí trên bàn thờ hay nơi thờ phượng như đình chùa, miếu vũ, v.v… Long trang trí ở cột, trến, đòn tay. Phượng thì đứng trên mai rùa… Trên đầu phượng là chỗ cắm đèn cầy…

Người ta không ai gọi “cụ Rồng”, hay “cụ Phượng”, nhưng lại gọi là “cụ Rùa” vì rùa sống lâu, có khi tới mấy trăm tuổi, nên người ta gọi rùa bằng cụ vì “kính lão đắc thọ” chăng?

Không phải vậy. Gọi là “cụ” vì rùa có công với với lịch sử nước ta. Ấy là câu chuyện Hồ Hoàn Kiếm.

Theo giả sử, khi ông Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa chống quân nhà Minh (Tầu) đang cai trị nước ta, một hôm “đi chơi” trên hồ Hoàn Kiếm thì được rùa dâng gươm. Theo sách thì khác.

“Lam Sơn Thực Lục” của Nguyễn Trãi chép:

Khi ấy nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, cá chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

– “Sắt nào đây?”

Thận nói:

– “Đêm trước quăng chài bắt được.”

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”. Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

– “Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!”

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, lúc đêm, trời gió mưa, sớm ngày mai, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra. Truyền thuyết kể tiếp rằng, sau Lê Lợi dùng thanh gươm báu đó làm gươm chiến đấu, xông pha chém địch nhiều trận, cuối cùng đuổi được quân Minh, lên làm vua. Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Thủy Quân. Ra giữa hồ, có Rùa vàng nổi lên mặt nước, chắn trước thuyền của vua gọi to:

– “Xin nhà vua hãy hoàn lại gươm thần cho Long Vương!”

Lê Thái Tổ rút gươm trả, rùa vàng ngậm lấy gươm lặn xuống nước đi mất. Từ đó hồ Tả Vọng được đặt tên là hồ Hoàn Kiếm.

Dĩ nhiên, vua Lê Lợi không phải là “dân nhậu Nam bộ”, bởi vì nếu là người như thế, chắc gì khi đã có gươm trong tay mà “cụ Rùa” sẽ không trở thành một món mồi rất bắt rượu, giống như cần đước, kỳ đà, ếch, rắn, v.v… là những món nhận bắt mồi của mấy ông “sáng xị, trưa xị, chiều xị”.

Vậy thì dân Hà Nội hay dân Bắc kỳ, – nếu nói rộng ra – tôi không nhắc tới dân Nam Bộ, vì rõ ràng, sau khi bị “sửa lưng”, ông Xuân Hồng mới gọi “cụ Rùa”, còn trước đó, ông gọi là “con rùa”, mà Xuân Hồng nói giọng Nam, nên có lẽ ông ta là dân Nam bộ đấy! – là vì không chắc người ta “kính lão đắc thọ” mà vì “cụ Rùa” có công với lịch sử Việt Nam: “Cụ Rùa” đã giúp vua Lê chống lại giặc Minh, giành lại độc lập cho người Đại Việt.

Độc giả cũng đừng quên câu chuyện nầy: “Cụ Rùa” vừa được vớt lên để chữa bệnh. Lưng, chân “cụ” bị lở loét là vì nước hồ Gươm bây giờ bị nhiễm độc hay vì bị đám “rùa đỏ” tấn công. “Rùa đỏ” là chuyện có thật, nhưng người ta cũng có thể nghĩ rằng tiếng “đỏ” là ám chỉ Cộng Sản? Đã “đỏ” thì Tầu Cộng hay Dziệt Cộng cũng chỉ là một thứ mà thôi. Nói rộng ra, “rùa đỏ” đang tấn công “cụ Rùa” có nghĩa rằng bọn Cộng Sản đang tấn công vào dân tộc Việt Nam, – vì “cụ Rùa” có công trạng trong lịch sử Việt Nam, giúp Lê Lợi chống giặc Minh. Nói xa hơn nữa, câu chuyện nầy cũng có nghĩa là Việt Nam hiện đang đứng trước nguy cơ bị Tầu xâm lược, mà bọn đầu sỏ ở Hà Nội thì hèn nhát, tham sinh úy tử, chưa đánh đã vội đầu hàng. Cũng trong ý nghĩa đó, nếu “cụ Rùa” có mệnh hệ nào, thì đó cũng là “điềm gở” cho người Việt chúng ta, trong khi ở thời đại nầy, chúng ta không có ai đưa ra “Lời thề sông Hóa” như Hưng Đạo Vương đời nhà Trần.

Ngựa là con vật người xưa thường dùng làm phương tiện di chuyển khi đi đánh giặc, cỡi hay kéo xe… ở Á cũng như Âu. Xích thố là con ngựa nổi tiếng của ông Quan Công. Napoléon khi đem quân đánh Nga cũng dùng ngựa. Một mùa đông, khi thất trận, tướng Washington kéo quân về cố thủ ở White Mountain, tiểu bang New Hampshire bây giờ, thiếu lương thực, phải giết cả ngựa mà ăn thịt.

Trong lịch sử nước ta, khi đi chinh chiến, tổ tiên dùng voi nhiều hơn ngựa. Bà Triệu Ẩu cỡi voi đem quân đi đánh quân Tầu. Ca dao nói về bà có câu “Muốn coi lên núi mà coi, coi bà Triệu tướng cỡi voi, đánh cồng”. Hai Bà Trưng cũng cỡi voi:

“Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên,
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân”

Học lịch sử, chúng ta biết “Lời thề sông Hóa” của Đức Trần Hưng Đạo. Khi quân Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai, Hưng Đạo Vương chỉ huy công cuộc kháng chiến. Bấy giờ Hưng Đạo Vương cắt đặt quân lính đâu đó rồi, bèn tự mình cầm quân đi đánh Ô Mã Nhi. Khi quân Ngài vượt qua sông Hóa, – một nhánh của sông Thái Bình – voi của Ngài bị sa lầy, không đi được nữa, phải bỏ voi lại. Sợ binh lính cho đó là điềm gở, để kích thích tinh thần họ, Hưng Đạo nói: “Nếu không thắng trận ta thề sẽ không trở lại bến sông này nữa”.

Về sau, chỗ voi bị lầy có đền thờ. Tuy nhiên, người Việt sao không gọi “cụ Voi” mà có gọi “cụ Rùa”?

Chuyện voi là chuyện thực. Chuyện rùa dâng gươm thì không chắc, vì những việc “linh thiêng”, thường không thiếu hoang đường.

Hoang đường là tính chất thường xuất hiện trong lịch sử cổ đại loài người và rất “phong phú” trong lịch sử tôn giáo, nhằm mục đích tuyên truyền, vận động, mê hoặc cho một người, một tổ chức, và nhất là tín đồ tôn giáo…

Để tuyên truyền dân chúng theo phò Lê Lợi, dã sử còn kể lại mưu mô của Nguyễn Trãi, mưu sĩ của Lê Lợi. Nguyễn Trãi sai người lên núi, viết vào những ngọn lá lớn mấy chữ “Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần”. Kiến ăn mở, làm cho 8 chữ nói trên hiện rõ ra. Những lá đó được thả xuống sông, được vớt lên và cho dân chúng đọc, rồi tin rằng đó là “điềm trời” báo trước sự nghiệp của Lê Lợi.

Lê Lợi có mưu sĩ, và chuyện rùa hồ Hoàn Kiếm, chắc gì không phải là một “mưu thần” của Nguyễn Trãi, để tuyên truyền với dân chúng rằng, Trời đã giúp Lê Lợi chống giặc Minh.

Thời đó dân trí chưa cao, người ta dễ tin vào “điềm trời”. Điều đó không có gì lạ. Còn như bây giờ, chuyện hoang đường huyền hoặc, phù phép còn mấy ai tin?! Cho nên, cụ Mỹ Tín, nguyên giáo sư trường Âm Nhạc Và Nghệ Thuật Sài Gòn trước 1975, mấy năm trước, trong một lần nói chuyện với tôi và vài anh em quen biết, phê phán việc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa chọn Nguyễn Trãi làm thánh tổ là sai lầm.

Nếu tin và thờ “cụ Rùa” cũng như thờ các vị anh hùng liệt nữ thì đó là một tín ngưỡng hay tôn giáo? Khi đã có niềm tin, có tín ngưỡng và biến niềm tin thành sự sùng bái, cầu xin ban phước, xin hạnh phúc, trừ xui rủi, thì nó không còn tín ngưỡng mà lại là một tôn giáo.
Trong ý nghĩa ấy, người ta có thể cho rằng tôn giáo của người Việt đa dạng và phức tạp.

Cụ thể hơn, tôi trích một đoạn trong cuốn “Brother Enemy” (2) của Nayan Chanda, một nhà báo gốc Ấn Độ, làm việc và nổi tiếng ở Sài Gòn trước và sau 1975, và thử suy nghĩ một chút, về tôn giáo của người Việt chúng ta:

“Cuộc chiến đấu chống lại ách đô hộ Trung Hoa trở thành một động lực cho chủ nghĩa quốc gia Việt Nam được tôn giáo nâng cao”.

“Ngay trong cao điểm chiến tranh chống Mỹ, khi viện trợ Trung Hoa có tính cách quyết định cho sự sống còn của Việt Nam (Cộng Sản) thì tinh thần tôn giáo đó lại âm thầm đóng một vai trò thực tiễn. Trong thời gian thăm viếng Bắc Việt Nam hồi tháng 10/ 1972, học giả Mỹ George Kahin tò mò khám phá ra sự tự do tôn giáo có mức độ. Sau khi quan sát một đám đông người ngoan đạo ở Nhà Thờ Chánh Tòa Hà Nội, người tùy tùng Việt Nam của ông hỏi: “Ông có muốn xem vài điểm về tôn giáo của chúng tôi không?”. Kahin nhận lời mời nên được đưa đi xem một ngôi đền giữa hồ Hoàn Kiếm. Tại đền này có ba bàn thờ: Một thờ Phật, một thờ Thủy Thần và giữa thì thờ Đức Trần Hưng Đạo, một vị tướng đánh bại (3 lần – nd) quân Mông cổ hồi thế kỷ thứ 13. Do yêu cầu, Kahin tìm thấy ở Hà Nội có khoảng 6 ngôi đền người Việt Nam dùng để thờ lạy các vị nam nữ anh hùng như Lê Lợi, hai bà Trưng, những người đã chống lại Trung Hoa xâm lược.

“Trong khi chiến đấu để giành độc lập, người Việt Nam phát triển một kiểu mẫu chính trị pha trộn giữa hai tính bền vững và uyển chuyển. Sự bền vững bảo tồn tính khác biệt và độc lập, sự uyển chuyển là tính thỏa hiệp với Trung Hoa. Tính độc đáo này cũng phản ảnh quan điểm hai mặt với Trung Hoa, đánh dấu sự yêu mến và thù ghét, thua kém và tự hào, lòng can đảm anh dũng và sự tự đắc. Điều ấy lại được củng cố bởi tinh thần làm chủ của mình, luôn luôn được tài bồi bởi ý thức về sức mạnh Trung Hoa và lòng khâm phục của họ đối với quốc gia nầy. Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu rất rõ rằng ngay từ khi mới giành được độc lập, tinh thần anh dũng của dân tộc họ, đất đai thuận lợi, và chiến lược hay có thể đánh bại các cuộc xâm lược, nhưng Trung Hoa là một nước quá đông dân, và tiềm năng của họ rất phong phú. Việt Nam phải đối đầu với Trung Hoa biết tới bao giờ mới thôi. Chấp thuận bá quyền của Trung Hoa, các nhà lãnh đạo Việt Nam có thể tránh được sự can thiệp của quốc gia này. Có nhà viết sử Việt Nam nói rằng: “Nhượng bớt quyền hành cho Trung Hoa có lợi hơn cho các vị vua Việt Nam, có thể bảo đảm an toàn được trong khi loạn lạc có Trung Hoa che chở còn trong thời bình thì không bị Trung Hoa chiếm đóng hoặc cai trị trực tiếp”. Thông thường, sau khi đánh bại quân Trung Hoa xâm lược, vua Việt Nam thường phái sứ bộ sang Tàu xin lỗi và đem đồ cống sứ qua cho Thiên Tử. Thường thì việc ấy được vua Trung Hoa chuẩn nhận”.

Thờ “cụ Rùa” vì “cụ Rùa” có công với dân tộc ta, do đó, việc thờ phượng các vị anh hùng liệt nữ dân tộc cũng không có gì lạ. Cho nên, suốt trên dãi đất hình chữ S, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, nước ta không thiếu những đền đài miếu vũ thờ phượng bà Trưng, bà Triệu, Lý Bôn, Lý Bí, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung cho đến các anh hùng dân tộc chống Pháp xâm lược gần đây như Nguyễn Trung Trực, Phó Cơ Điều, Thủ Khoa Huân… (3) của các thế kỷ 19, 20…

Nếu có một ngày nào đó, số phận dân tộc Việt Nam xui tận mạng, bọn lãnh đạo Hà Nội rước quân Tầu vào cai trị, thì các đền đài thờ “cụ Rùa”, “cụ Voi”, cho đến các di tích lịch sử chống Tầu, chống Pháp sẽ bị phá thành bình địa. Làm như thế là các thái thú Tầu triệt tiêu tinh thần quật khởi, độc lập của người Lạc Việt, biến họ thành người Hán như Tôn Văn (4) và 99 Việt ở vùng Hoa Nam vậy.

Tuy nói vậy, cũng có người nghĩ khác. Mã Viện dựng cột đồng, viết lên đó mấy chữ “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”. Vậy mà ngày nay, không ai biết đồng trụ nằm ở đâu, còn hai vị anh thư thì Hoàng Cao Khải lên tiếng ca ngợi chung cho đồng bào Việt Nam:

“Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy
Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương…”

Trong sự tín ngưỡng và thờ phượng như nói trên, chúng ta thấy một sự kiện hết sức đặc biệt. Ấy là người Việt Nam chúng ta đã hòa nhập hai lãnh vực lịch sử dân tộc và tôn giáo làm một.

Thờ phượng các anh hùng liệt nữ dân tộc với niềm tin tôn giáo rằng các vị được thờ phượng đó, có đủ quyền lực siêu nhiên giúp đỡ con cháu họ, tức là người Việt Nam, chống lại họa xâm lăng, nhứt là xâm lăng của người Tầu ở phương bắc. Con cháu và tổ tiên quá vãng, cùng nhau chống lại họa quân thù.

Dã sử còn ghi:

“Đời Lê Đại Hành, bọn quân Tầu do Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng xâm lăng nước ta. Vua Lê Đại Hành và tướng Phạm Cự Lượng kéo quân cự địch ở sông Đồ Lỗ.

“Vua Lê Đại Hành mộng thấy hai anh thần nhân hiện ra trên sông, bèn vái xin phù trợ. Hai vị thần nói:

“Anh em thần, một là Trương Hống, hai là Trương Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần về. Bọn thần vì nghĩa không thể theo được, uống thuốc độc tự tử. Trời thương anh em thần có công, lại khen trung nghĩa, mới phong làm quan tướng, thống lĩnh âm binh. Nay có quân Tống đến xâm lăng, hai anh em thần đến bái yết, nguyện cùng nhà vua đánh giặc để cứu sinh linh”.

Vua tỉnh dậy, mừng rỡ bảo với quan binh: “Thế này là có thần nhân giúp ta rồi vậy”. Bèn lập tức cho đốt hương ở trước thuyền ngự mà khấn:
“Nếu thần nhân có thể giúp ta làm nên công nghiệp này, thì hãy giết vật tế thần để được huyết thực muôn đời”.

Đoạn giết súc vật tế lễ. Đêm ấy nhà vua lại mộng thấy hai thần nhân đến bái tạ. Đêm sau lại thấy một người dẫn đoàn âm binh áo trắng, tự phía Nam sông Bình Giang mà tới, một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía Bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc Lỗ lai xâm lược.
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư. (5)

Quân Tống nghe thơ, xéo đạp vào nhau mà chạy, lầm giết lẫn nhau, ai lo chạy thoát thân người ấy, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống đại bại. Vua Lê Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân, một là Tinh Mẫn Đại vương, lập miếu thờ tại ngã ba sông Long Nhãn, sai dân ở Long Nhãn, sông Bình Giang phụng thờ, một là Khước Mẫn Đại vương lập miếu ở ngã ba sông Như Nguyệt, sai dân ở bờ sông Như Nguyệt phụng thờ, hưởng huyết thực đời đời, nay vẫn còn là phúc thần.
(trích Lịch Sử Việt Nam)

2)- Thờ phụng tổ tiên

Trong quá trình thờ phụng các vị anh hùng liệt nữ có công với dân tộc, người Việt còn thờ phụng các vị thần gần gủi hơn, có công bành trướng lãnh thổ, khai phá đất đai như các thành hoàng, và thờ phụng ông bà tổ tiên như một tín ngưỡng tôn giáo, có thể ban phúc, giáng họa cho con cháu…

Ông bà linh thiêng, có khả năng siêu hình giúp đỡ hay trừng phạt con cháu. Theo Đào Duy Anh trong “Việt Nam Văn hóa Sử cương thì:

“Vong hồn đối với người sống là hai đường dương gian, âm phủ khác nhau, nhưng vẫn thường săn sóc đến con cháu luôn. Mỗi khi gia đình có điều vui, điều buồn, điều mừng, điều sợ thì linh hồn của tổ tiên thường cũng dự một phần. con cháu làm ăn tổ tiên thường phù hộ, khi có việc gì nguy hiểm sắp tới, tổ tiên thường báo mộng để con cháu tìm cách mà đề phòng. Bởi đối với gia đình, linh hồn tổ tiên có quan hệ mật thiết như thế, nên con cháu phải cúng cấp tổ tiên…”

“… Con cháu muốn trọn đạo hiếu với tổ tiên thì những ngày kỵ chạp tết nhứt phải cúng cấp tử tế. Những người bỏ giỗ, bỏ tết là bất hiếu chi cực, cũng như những người vô hậu (bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại) để tổ tiên không có người tế tự mà phải trụy lạc thành những cô hồn đói rét thảm sầu…” (VNVHSC – trang 203)

Theo Nho Giáo, hiếu trung là hai tiêu chuẩn sống của người thanh niên (Trai thời trung hiếu làm đầu – Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu). Hiếu là lòng hiếu thảo, tức là biết ơn, chung thủy, yêu mến, kính trọng, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, từ cha mẹ trở lên là ông bà tổ tiên… Trung là “tận trung” với vua, một lòng một dạ vì vua, vua biểu sao nghe vậy, làm đúng như vậy (quân khiến thần tử, thần bất tử bất trung – Vua khiến bầy tôi phải chết, bầy tôi không chết là bất trung). Tuy nhiên, theo cách nghĩ rộng, vua là nước, vua tượng trưng cho đất nước. Vì vậy, người xưa bảo “tận trung báo quốc”, hết lòng trung với vua là đền đáp công ơn đất nước… Cũng theo cách nghĩ như thế, trung với vua không có nghĩa là trung với một người, cá nhân ông vua, nhất là khi vua không có đức độ, thiếu phẩm cách, không biết thương dân. (6) Khổng Tử nói: Không nghe nói giết vua Kiệt, vua Trụ, chỉ có giết một người tên Kiệt, tên Trụ mà thôi. (7)

Nhìn chung, tôn giáo của người Việt là Tam Giáo: Nho, Thích, Lão. Nho dạy thờ Trời, dạy hiếu trung, tam cương ngũ thường… Vì đạo Nho là tiêu chuẩn học vấn trong việc thi cử, nên ngày xưa, sĩ tử, muốn được ra làm quan cho no cơm ấm cật, hay giúp dân giúp nước… thì phải học kinh sách của đạo Nho… cũng do đó mà đạo Nho lan tỏa trong đời sống thường nhựt của dân chúng. Đạo Phật thì dạy về gieo nhân gặp quả, tu nhân tích đức, ăn hiền ở lành, “tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác” và đạo Lão chủ trương đạo đức, vô vi, lấy việc ở ẩn vô danh là chính. Tuy gọi rằng tam giáo đồng nguyên, nhưng ngoài một ít đạt nhân quân tử như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi là chính, tôn giáo nầy không được thịnh hành.

Theo cách nhìn rộng rãi thì người Việt vốn không tín ngưỡng độc thần mà lại đa thần, từ những thần sông, thần núi, thần mưa thần gió thời dân tộc còn sơ khai, cái tính chất đa thần đó tồn tại mãi trong dân chúng, nên việc thờ ông bà được coi như một tôn giáo như Kahin nhận xét thấy ở Hà Nội cũng không có gì là lạ.

Việc thờ Bà Chúa Liễu Hạnh cũng được coi như một tôn giáo. Người Huế thường gọi là “đạo lên đồng”. Chữ nghĩa thì gọi là Thiên Tiên Thánh Giáo.

Vì tính cách tam giáo đồng nguyên, người Việt Nam vừa có thể đi chùa, vừa đến đền miếu lên đồng, vừa thờ thánh thần trong làng xã đất nước, và cũng có thể đặt bàn thờ thờ ông bà trong nhà. Không có việc thờ tự nào cản trở cho việc thờ tự nào cả. Người dân thờ lạy Khổng tử cũng có thể là một Phật tử, một tín đồ Thiên Tiên Thánh giáo, một người thờ cúng ông bà tổ tiên trong nhà. Làng có đình thờ thành hoàng, thờ Khổng tử. v.v… thì bên cạnh đình có chùa. Dân làng vừa quì lạy ở đình xong, có thể qua chùa thờ lạy Phật hay ngược lại.

Sau khi nước ta có đạo Thiên Chúa, dân chúng được chia thành hai thành phần, gọi là Lương, Giáo. Lương là người theo tam giáo đồng nguyên như trong lịch sử dân tộc đã có sẵn, mà tôi đã nói trên kia. Và Giáo là người theo đạo Thiên Chúa. Người theo đạo Thiên Chúa chỉ có thờ lạy một mình Thiên Chúa mà thôi, là thờ độc thần, khác với tâm lý người Việt thờ đa thần.

Người Lương sống bình thường, như trong đời sống dân tộc. Ngoài các chức sắc trong làng, người dân có thể đi cúng đình hay không cũng được. Trong khi những người giàu có đi chùa vào những ngày rằm hay mồng một mỗi tháng và những ngày vía lớn, là những “Phật tử thuần thành” thì người bình dân, vốn bận rộn vì đời sống buôn bán, ruộng rẫy, mỗi năm đi chùa vài lần mà thôi. Thậm chí có nhiều người đi chùa không hẵn vì lễ Phật mà chính vì những ngày hội chùa.

Ca dao có câu:

Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.

Người ta đi chùa Dâu vì đó là một ngày lễ hội, chưa hẵn đi chùa để lễ Phật. Tính cách đó cũng rõ trong số nam nữ thanh niên, sinh viên học sinh Huế khi chiến tranh chưa lan tràn khốc liệt. Ngày Phật Đản, họ kéo nhau đi chơi những chùa rất xa, ở về phía tây Huế. Đó là những cuộc du ngoạn hơn là đi chùa lễ Phật. Tuy nhiên, điều ấy cũng nói lên tính cách tôn giáo của người Việt Nam. Họ cũng là Phật tử không thuần thành đấy. Phật tại tâm, không phải ở sự cúng lạy.

Người Việt Nam theo đạo Phật không có nghĩa là đi chùa thường, là thuộc kinh, là biết hát những bài ca tôn giáo. Đạo Phật nằm ở trong tâm thức của họ, trong phong tục và văn hóa, trong triết lý căn bản của đạo Phật mà nó đã trở thành văn hóa, đạo đức của người Việt như nhân quả, ăn hiền ở lành, ,v.v… Người tín đồ bình dân có thể không thuộc kinh kệ, không biết hát những bài đạo ca, mà chỉ biết những câu niệm thông thường như “Nam mô A di Đà Phật,” hoặc “Nam mô Quán Thế m Bồ tát” mà thậm chí họ chỉ biết Phật A Di Đà, Quán Thế m một cách chung chung, không rõ sự tích các ông Phật đó như thế nào! Tính cách phóng khoáng, không câu nệ kinh sách của đạo Phật đã tạo nên những tín đồ như thế.

Thật ra, tín đồ Thiên Chúa Giáo hay Tin Lành, Anh Quốc Giáo cũng tương tự. Phim “Amour à Italienne” thuật chuyện hai thanh niên nam nữ yêu nhau, chở nhau đi dạo bằng xe Vespa dọc theo chiều dọc nước Ý. Tới đâu, có nhà thờ thì cô gái vô nhà thờ cầu nguyện, còn anh chàng thanh niên ngồi chờ bên ngoài, hút thuốc nhìn phong cảnh vẩn vơ. Anh ta cũng là tín đồ theo đạo Thiên Chúa nhưng không mấy khi đi lễ nhà thờ. Tính cách phóng khoáng ấy thể hiện rõ ở rất nhiều thanh niên khác.

Ba tôn giáo: Phật, Lão, Nho và thứ Tư là thờ ông bà tổ tiên, với một người Việt Nam bình thường, có thể từ bỏ ba điều trước, nghĩa là có thể bỏ đi chùa, bỏ tới cúng tế ở đình làng hay miếu mạo, nhưng họ không thể bỏ việc thờ cúng ông bà. “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”. Hiểu một cách rộng rãi, bỏ thờ ông bà là tội bất hiếu. Tôi ấy nặng hơn tội bỏ Phật Thánh nhiều lắm.

Nắm vững tâm lý đó, thời Ngô Dình Diệm, trong mục tôn giáo khi khai lý lịch, bỗng xuất hiện “Đạo thờ ông bà”.

Đó là một âm mưu của chính quyền.

Thứ nhứt, khi khai lý lịch, ở các nước văn minh, người ta không buộc phải khai theo tôn giáo nào. Trong thời gian sống ở Mỹ, tôi không thấy ai hỏi tôi theo đạo nào, khi tôi viết đơn xin việc, hay thậm chí, ngay cả khi lập hồ sơ xin nhập tịch. Ở những nước lạc hậu, như dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng Sản ngày nay thì mục ấy được xem xét kỹ lắm.

Âm mưu dưới thời Ngô Đình Diệm là muốn “kéo” người lương ra khỏi đạo Phật, làm cho tín đồ đạo Phật ít đi, bày đặt ra “đạo thờ ông bà” trong mục tôn giáo. Thời bấy giờ, đạo Phật đang bị chèn ép, khủng bố, bị kỳ thị nên người dân ít học, nhát gan cũng sợ bị “vạ lậy”, khai là theo “đạo thờ ông bà” cho được yên thân.

Chính quyền Ngô Đình Diệm không phải không biết, nhưng chủ quan, cho rằng nếu ai không đi chùa thường xuyên thì không phải là tín đồ đạo Phật, nên mới có nhiều việc đàn áp xảy ra, mới có vụ Đài Phát Thanh Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963.

Người Việt Nam bình thường không đi chùa thường xuyên, nhưng họ là tín đồ đạo Phật, đạo Phật ấy nằm ở trong lòng họ, trong tư tưởng tình cảm họ, trong văn hóa đạo đức sinh hoạt hằng ngày. Thành thử, khi bị đàn áp thì tinh thần ấy bùng dậy, thúc đẩy, khuyến khích họ tham gia các cuộc đấu tranh chống lại Ngô Triều.

Những người Huế đấu tranh chống Ngô triều sau vụ đài Phát Thanh Huế năm 1963 là ai? Là dân lao động, thợ may, thợ hồ, làm ruộng, buôn bán, là tiểu thương chợ Đông Ba, là thanh niên, sinh viên, học sinh Huế. Họ là những Phật tử không thuần thành, là những người đi chùa mỗi tháng hai lần, vào ngày Chủ Nhựt, mà họ chỉ đi chùa vào những ngày vía lớn mà thôi. Đó là những người Phật ở trong tâm, mà nhà cầm quyền tưởng lầm rằng họ là người theo “đạo thờ ông bà” như chính quyền đã gợi ý.

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

(1)- Tam thập nhi lập;
Tứ thập nhi bất hoặc;
Ngũ thập nhi tri thiên mệnh;
Lục thập nhi nhĩ thuận;
Thất thập nhi tòng tâm dục bất du củ.
(Luận Ngữ)

(2) Tác giả đã dịch cuốn sách nầy ra tiếng Việt.

(3) Thủ tiêu xác tướng Ba Cụt. Sau khi chém chết tướng Ba Cụt ở Cần Thơ, chính quyền Ngô Đình Diệm bèn thủ tiêu xác Ba Cụt. Theo vài người thì vì hai lý do sau đây:

Sợ dân chúng theo đạo Hòa Hảo tôn vinh tướng Ba Cụt thành Phật, thành thánh, biến nơi chôn cất ông thành “thánh địa”, hàng năm lui tới thờ lạy, tôn vinh, tạo nên những cuộc biểu tình chống chế độ.

Theo phong tục, tin dị đoan, người “chết mất xác” là không còn hiển linh để báo hận. Đó là trường hợp Vua Gia Long thủ tiêu xác Vua Quang Trung hay Nguyễn Thân đốt xác ông Phan Đình Phùng, trộn với thuốc súng, bắn xuống sông. Thủ tiêu xong rồi, Vua Gia Long, ông Nguyễn Thân, thực dân Pháp và cả ông Ngô Đình Diệm, an tâm hơn khi ngồi trên cái ghế quyền lực.

(4) Tổ tiên Tôn Văn là một trong các giống Bách Việt đã bị Hán hóa.

(5)
Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách Trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Dị bản:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng Thiên dĩ định tại Thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
Bạch nhận Thiên hành phá trúc dư
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ngự
Sách Trời định phận rõ non sông
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

(6) Dziệt Cộng thay đổi mực tiêu trung hiếu. Thay vì “trung với vua” thì với Dziệt Cộng thì “Trung với đảng” vì đảng là vua. Thay vì hiếu với cha mẹ thì nay “hiếu với dân” vỉ Dziệt Cộng lý luận, không có dân, cha mẹ lấy gì nuôi ta. Dân nuôi ta chứ không phải cha mẹ nuôi, cứ đẻ con ra, giao cho đảng nuôi thì ta sẽ thành người có… đuôi.

(7) “Giết một người tên Kiệt, một người tên Trụ”, nói như Khổng Tử, ông Kiệt, ông Trụ không đáng làm vua. Vậy thì việc ông Diệm lật đổ ông Bảo Đại có đáng hay không? Cũng trong cách suy nghĩ như thế, tại sao người ta lại trách ông Đỗ Mậu đảo chánh ông Diệm.

Share this post