Los Angeles: Đất Lành Cho Nhà Điện Ảnh Tiên Phong Mỹ – Sưu Tầm

Mọi người nay đều công nhận kinh đô điện ảnh thế giới nằm tại Los Angeles, thủ phủ tiểu bang California, bên bờ Tây nước Mỹ. Đó là Hollywood, nơi có những phim trường bao la với bối cảnh tự nhiên, các khu công viên giải trí và giải Oscar… giờ đã trở thành ngành công nghiệp giải trí đồ sộ, giàu có nhất thế giới. Điều gì đã làm cho Hollywood trở thành một thế lực kinh tế, văn hóa như ngày nay? Câu trả lời có vẻ như là một nghịch lý: Chiến tranh! Nhưng đó là một thực tế.

Ngược dòng lịch sử cách đây hơn 1 thế kỷ, khi Châu Âu, nơi phát tích nghệ thuật thứ bảy, đang chìm trong khói lửa của cuộc Chiến Tranh Thế Giới thứ nhất và khi Mỹ chính thức nhảy vào cuộc chiến năm 1917. Các nhà làm phim Hollywood đã bị cuốn vào cuộc chiến này như thế nào? Mời quý vị theo dõi phóng sự tài liệu của Florent Gaillard. Phần một của phóng sự: Los Angeles: Đất lành cho những người đi tiên phong của điện ảnh Mỹ.

Từ kho chứa rơm

Tất cả bắt đầu tại một kho chứa rơm năm 1913, khi Cécil B DeMille thực hiện cuốn phim dài đầu tiên được quay toàn bộ tại Hollywood. Đó là phim trường đầu tiên của điện ảnh Mỹ, giờ là bảo tàng Hollywood Studio Museum. Đó cũng là điểm khởi đầu của một câu chuyện dài nhiều tập vì khi đó chiến tranh sắp sửa xảy ra ở châu Âu, chính cuộc đại chiến đó đã giúp cho điện ảnh Mỹ bùng nổ.

Năm 1914, cuộc đại chiến đã huy động tất cả phương tiện sản xuất của Châu Âu: Đàn ông, đàn bà, nhà máy, phương tiện giao thông và cả các phương tiện truyền thông. Báo chí, nhiếp ảnh và điện ảnh nhảy vào cuộc. Cùng thời điểm đó, tại Hoa Kỳ xuất hiện một trào lưu mới. Các nhà điện ảnh, tới khi đó vẫn chủ yếu tập trung ở bờ đông nước Mỹ, chuyển sang California để hưởng ánh mặt trời gần như quanh năm bên bờ tây.

Steven J Ross nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh Hollywood:

“Khi chiến tranh nổ ra tại Châu Âu. Điện ảnh Châu Âu vốn trước đó vẫn cung cấp một nửa lượng phim chiếu ở Mỹ, buộc phải ngừng mọi hoạt động. Thế là các nhà điện ảnh Mỹ, bản chất là những doanh nhân, thấy ở đó một cơ hội vô cùng lớn và họ nói với nhau rằng Châu Âu ít nhiều đã ngừng trệ sản xuất, vì thế họ có thể không chỉ chiếm lĩnh thị trường Mỹ, mà còn có thể xuất sang Châu Âu nhiều phim hơn. Điều duy nhất cản trở chúng tôi đó là sản xuất, vì phải tăng số lượng phim quay lên gấp đôi. Cách duy nhất để làm được điều đó là tìm đến chỗ mà ta có thể quay gấp đôi số lượng phim. Chính vì thế họ đã đến đóng đô ở California».

Đầu thế kỷ trước, Los Angeles là một thành phố đang trên đà phát triển mạnh. Ngoài hải cảng chiến lược bên bờ Tây nước Mỹ, người ta thấy ở đây những giếng dầu nằm kế bên những khu vườn cam xum xuê. Thành phố cũng thu hút ngành công nghiệp hàng không. Các xưởng máy lớn ngành hàng không đóng trên một khu vực rộng lớn xung quanh thành phố.

William Deverell giáo sư lịch sử, Đại Học Nam California:

“Los Angeles năm 1900 đã thu hút các doanh nhân lớn, đó là những nhà công nghiệp, các nhà xây dựng đường sắt và các chủ trang trại lớn. Nhiều người trong số họ đã mường tượng một tương lai huy hoàng cho Los Angeles. Họ ở ngay những thời điểm đầu tiên của cuộc chinh phục miền tây trong lịch sử Mỹ. Họ đã tới Thái Bình Dương và tham gia xây dựng nên một đô thị tuyệt đẹp nơi đây.

Những nhà điện ảnh đầu tiên đến đây chắc chắn đã cảm thấy họ sẽ có thể biến khung cảnh nơi đây thành bối cảnh cho phim và họ có thể làm những gì họ muốn. Đó là các bối cảnh giống các bang miền Nam thuở hồng hoang, hay thời cảnh nông thôn nước Mỹ thời xưa. Họ có những khung cảnh để họ có thể diễn”.

Những minh tinh đầu tiên của điện ảnh Mỹ

Minh tinh thời đó là Mary Pickford. Là người gốc Gia Nã Đại, bà lên sàn diễn từ 5 tuổi. Để phụ giúp gia đình kiếm sống, bà đã chấp nhận chuyển từ sân khấu sang điện ảnh, trước tiên là chỉ định đóng phim trong một mùa hè, rồi hết mùa này sang mùa khác, bà vẫn gắn bó với phim trường. Năm 1914, bà là nữ diễn viên Mỹ đầu tiên xuất hiện tên trên áp phích lớn.

Bà Cari Beauchamp, nhà văn Mỹ:

“Những nhân vật mà Mary Pickford vào vai thường đương đầu với kẻ ác, đấu tranh vì những kẻ yếu. Tất cả những nhân vật đó đều có các phẩm chất đạo đức. Các nhân vật đó đem lại cho khán giả phụ nữ vào thời đó có hội được thấy những nhân vật vùng lên vì những điều họ tin tưởng. Họ chiến đấu và họ có thể chiến thắng. Thường thì những nhân vật này gây xúc động trái tim các chàng trai, nhưng người ta có quyền bày tỏ”

Có một chàng thanh niên người Anh cũng đến khởi nghiệp ở Los Angeles. Đó là Charlie Chaplin, anh gia nhập ê-kíp của Mark Sennett, một nhà sản xuất phim hài ngắn, thường chỉ dài 10 đến 20 phút và được quay tiếp nối nhiều tập. Năm 1914, ông sáng tạo ra nhân vật Charlot, một kẻ ngoài lề xã hội mang dáng dấp của một chàng hề. Tác phẩm đã thành công ngay lập tức. Ban đầu là ở Mỹ, rồi sau đó lan ra khắp thế giới.

Dù Charlot đã đảo lộn mọi trật tự cũ, phim của ông không đả động đến chính trị. Buổi đầu cuộc xung đột ở Châu Âu, phim Mỹ rất giữ ý trong việc chọn phe phái. Không có chuyện để mất khán giả, gồm cả những người nhập cư, thường là đến từ những nước có chiến tranh.

Năm 1915, ra đời siêu phẩm đầu tiên Made in Hollywood. David Wark Griffith làm bộ phim “Một Quốc Gia Ra Đời – Born of the Nation”. Bộ phim kéo dài 3 giờ kể lại cuộc chiến tranh chia cắt nước Mỹ dưới cái nhìn của các bang miền Nam, với những người da đen, không đủ tư cách là công dân, những binh sĩ thất trận nhục nhã và một hội 3 K (Klu Klux Klan) được ngợi ca là những người hùng bảo vệ dân da trắng bị đe dọa.

Marc Wanamaker, chuyên gia về lịch sử điện ảnh Mỹ:

“Griffith cố gắng giải thích rằng trong và sau thời kỳ chiến tranh phân ly, người da trắng phải chịu đau khổ ở miền Nam Hoa Kỳ. Bởi vậy họ cần có người che chở. Vì thế mà bộ phim đã gây rất nhiều tranh cãi, thậm chí đến tận bây giờ.

Khía cạnh chính trị là một chuyện, nhưng còn có cả kỹ thuật kỳ tài của nhà đạo diễn David W Griffith. Những cảnh cận, kỹ xảo, cảnh động của đám đông, trận chiến Grettysburg được quay tại thung lũng San Fernando. Tất cả những cái đó làm cho phim trở thành một bản anh hùng ca rất đáng xem”.

Bộ phim được chiếu trong Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Wilson, một người gốc miền Nam, đã có ấn tượng mạnh với bộ phim. Năm 1916, Wilson tiến hành chiến dịch vận động tái tranh cử. Ông hứa sẽ đứng ngoài các cuộc xung đột và ủng hộ phát triển kinh tế. Cũng trong năm đó Thomas Ince thực hiện một bộ phim với ngân sách lớn, lên án sức tàn phá của chiến tranh, mang tên Civilization. Ông Steven Ross kể lại:

“Vào thời đó Civilization được coi là một bộ phim hòa bình. Woodrow Wilson đã sử dụng phim trong chiến dịch tranh cử 1916 với lời hứa giữ nước Mỹ đứng ngoài các cuộc xung đột. Chiến tranh là của Châu Âu, chứ không phải của nước Mỹ. Wilson hứa với cử tri, nếu các vị bầu tôi các vị có thể tin chắc là chúng ta không lao vào cuộc chiến tranh.”

Tuy nhiên, chiến tranh bắt đầu gây cảm hứng với các nhà đạo diễn. Trong bộ phim đầu tay của mình, đạo diễn Cecil B. DeMille giới thiệu một sĩ quan người Anh được cử đi một mình tiêu diệt các đồn lũy của kẻ thù. Trong giấc chiêm bao, Jane d’Arc hiện lên và trao cho anh lòng can đảm để hoàn thành nhiệm vụ cảm tử.

Trước đó vài tháng, đã xảy ra một sự kiện làm đảo lộn dư luận Mỹ. Con tàu thủy Lusitania chuyên chở đến Anh những thường dân và các khí tài chiến tranh đã bị tàu ngầm Đức phóng lôi đánh chìm. Hậu quả 1200 nạn nhân, trong đó có 128 người Mỹ, thiệt mạng. Giáo sư sử học William Deverelle nhớ lại:

“Người Mỹ có cảm giác chiến tranh ở xa họ bên Châu Âu cho đến tận khi chiếc tàu ngầm Đức làm thiệt mạng các công dân Mỹ. Quả thực Los Angeles đang ngày càng chú ý nhiều đến chiến tranh. Trong những năm 1915, 1916, nhiều người ở Los Angeles đã đòi phải can thiệp”.

(Hết phần 1)

PHẦN 2:

Lịch sử Hollywood: Cuốn theo chiều gió Thế Chiến

Trong phần đầu của phóng sự về lịch sử trăm năm Hollywood, chúng ta đã thấy các nhà điện ảnh Mỹ vừa tìm được đất lành để an cư tại Los Angeles. Vừa chập chững những bước đi đầu tiên, điện ảnh Mỹ đã bị cuộc Thế Chiến Thứ Nhất ở Châu Âu bên kia bờ Đại Tây Dương cuốn theo. Một lý do rất chính trị, chính phủ Mỹ thời bấy giờ đã nhìn thấy điện ảnh như một công cụ tuyên truyền hữu hiệu và các nhà điện ảnh Mỹ trở thành những chiến sĩ xung kích trên mặt trận tuyên truyền.

Chính bối cảnh và các trải nghiệm chiến tranh đã giúp Hollywood có được sức bật mới để phát triển thành một ngành công nghiệp giải trí có sức ảnh hưởng lớn nhất thế giới hiện nay. Mời quý vị theo dõi phần cuối của phóng sự để hiểu được các nhà làm phim Hollywood đã bị lôi kéo vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất như thế nào?

Một sự kiện làm đảo lộn dư luận Mỹ: Con tàu thủy Lusitania chuyên chở đến Anh những thường dân và các khí tài chiến tranh đã bị tàu ngầm Đức phóng lôi đánh chìm. Hậu quả 1 200 nạn nhân, trong đó có 128 người Mỹ. Giáo sư sử học William Deverelle nhớ lại:

“Người Mỹ có cảm giác chiến tranh ở xa họ, bên Châu Âu cho đến tận khi chiếc tàu ngầm Đức làm thiệt mạng các công dân Mỹ. Quả thực Los Angeles đang ngày càng chú ý nhiều đến chiến tranh. Trong những năm 1915, 1916 nhiều người ở Los Angeles đã lên tiếng nói rằng cần phải can thiệp.

Cuốn theo chiều gió chiến tranh

Rồi sau đó xuất hiện vụ “bức điện tín Zimmerman”. Tháng Giêng năm 1917, một bức điện mật gửi đến chính phủ Mễ Tây Cơ bị tình báo Anh chặn được. Tác giả bức điện là Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Đế Chế Đức Arthur Zimmerman. Ông William Deverelle cho biết tiếp:

“Bức điện nói rằng nếu Hoa Kỳ lao vào cuộc chiến với các đồng minh họ có thể chọn đồng minh giữa Đức và Mễ Tây Cơ. Điều này đã gây tức giận ở Hoa Kỳ.

Bức điện của Zimmerman nhắc Hoa Kỳ rằng miền tây nam nước này cách đó không lâu vẫn còn là lãnh thổ Mễ Tây Cơ và nó có thể trở lại Mễ Tây Cơ dưới sự quản lý của chính phủ Mễ Tây Cơ. Điều này đã làm thức tỉnh California, tiểu bang này nhận thấy tình trạng nghiêm trọng”.

Cùng thời kỳ đó, Cecil B DeMille làm bộ phim “La Petite Américaine – Cô Bé Mỹ” với Mary Pickford đóng vai chính. Cô vào vai Angela trên đường đến gặp bà cô già ở Châu Âu. Cô xuống một con tàu thủy, cũng giống như con tàu Lusitania, tàu của cô bị thủy lôi bắn chìm trên đường qua Châu Âu. Được cứu sống ở phút chót, cô đến được nước Pháp khi đó đang bị Đức chiếm đóng. Nhưng tại đây cô được chứng kiến những tội ác dã man của người Đức và cô chọn đứng về phe đồng minh.

Ngày 06/04/1917, Quốc Hội Mỹ đồng ý tham chiến với 373 phiếu thuận, 50 phiếu chống. Tổng Thống Wilson đã phải thay đổi căn bản lập trường. Theo nhà nghiên cứu Steven Ross:

“Cách đó chưa đầy một năm, ông đã hứa không đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh, còn giờ thì ông đã chính thức lao vào và ông phải quay ngược dư luận toàn quốc. Một tuần sau khi tuyên bố chiến tranh, ông thành lập Ủy Ban Thông Tin Quốc Gia. Ông chỉ định một cựu nhà báo, George Creel và ra lệnh cho ông ấy bằng một dòng chữ: “Hãy tán dương cuộc chiến này với người dân Mỹ!”

Ý thức được quyền lực ngày càng lớn của điện ảnh, George Creel liên hệ với Hollywood yêu cầu sản xuất các bộ phim ca tụng nước Mỹ và chính phủ. Ban đầu đề nghị bị bác bỏ, các nhà sản xuất phim muốn chứng tỏ độc lập.

George Creel sử dụng đến đe dọa nếu Hollywood từ chối, chính phủ sẽ hạn chế xuất khẩu phim, sẽ gọi nhân viên của Hollywood đăng lính và đóng cửa các sân khấu buổi tối. Vài ngày sau, ông nhận được một bức thư của các trường quay Hollywood với một giọng điệu khắc hẳn. Steven Ross cho biết tiếp:

“Chúng tôi quyết định hợp tác với chính phủ, từ nay chúng tôi sẽ không còn sản xuất các phim mang tính tích cực với khán giả Mỹ”. Creel như vậy đã giành thắng lợi trong cuộc chơi. Ông bảo đảm không có ai ly khai ở Hollywood. Không có phim phê phán chiến tranh làm ảnh hưởng đến tinh thần dân chúng Mỹ.

Các ngôi sao điện ảnh cũng muốn thể hiện cho thấy họ tham gia vào các nỗ lực của cuộc chiến. Hai tuần sau khi Quốc Hội Hoa Kỳ bỏ phiếu, một đội vệ binh được thành lập ở Los Angeles. Cecil B DeMille là chỉ huy, Mary Pickford, người cầm cờ. Một ngày Chủ Nhật, đội vệ binh diễu hành trên đại lộ Hollywood và trung tâm Los Angeles. Ông Marc Wanameker:

“Đội Vệ Binh Quốc Gia chính là Hollywood biểu dương tinh thần ái quốc, tất nhiên rất biểu tượng. Nhưng cũng có những đơn vị được quân đội huấn luyện tại trang trại Jessy Lasky, được học cách bắn và tác chiến. Họ trở thành những thủ lĩnh không chỉ trong lĩnh vực làm phim mà cả trong cuộc chiến tranh”.

Một đóng góp khác của các nghệ sĩ của màn ảnh rộng. Chiến dịch ghi danh tham gia chiến tranh. Washington tổ chức nhiều chuyến lưu diễn trong đó có một cuộc với Douglas Fairbanks, Charlie Chaplin, Mary Pickford và võ sĩ quyền Anh Jack Demsey, chuyến lưu diễn đã thành công. Hàng triệu đô la đã được quyên góp.

“Có hàng triệu người đến xem họ. Chúng ta đang ở nhuững năm 1910 không có truyền hình, phát thanh; họ trở thành những ngôi sao quốc tế. Ta có thể nói đó là hệ quả của chiến tranh.”

Sự hợp tác giữa Washington và Hollywood tỏ ra sinh lợi vì ngoài các phim của họ, các xưởng phim còn nhận được đơn đặt hàng của chính phủ về các đề tài thời sự mặt trận, phóng sự chiến trường, phim ngắn ca ngợi tinh thần yêu nước… Không bao lâu sau, điện ảnh đã vượt qua mong đợi của chính phủ, chuyển theo hướng tuyên truyền.

Tất cả những phim như vậy góp phần huấn luyện binh sĩ, phần lớn trong họ khám phá điện ảnh đồng thời với chiến tranh. Mary Pickford trở thành người đỡ đầu cho nhiều đơn vị trong Hải Quân, Pháo Binh và Không Quân. Năm 1918, nhà biên kịch Frances Marion viết riêng cho cô nhân vật Johanna Enlists.

Trong phim này nữ diễn viên kêu gọi công chúng dấn thân và kêu gọi các đoàn quân hãy chỉ trở về sau khi giành chiến thắng ở Đức. Về phần mình, đạo diễn David W Griffith được chính phủ Anh đề nghị làm một phim tài liệu ca ngợi các đồng minh. Ông được mời đến quay tại mặt trận Somme (Pháp), ông lồng ghép những hình ảnh chiến tranh vào một câu chuyện tâm lý tình cảm để lên án sự tàn bạo của Đức.

Vẫn theo chuyên gia Marc Wanamaker:

“Griffith đến Pháp và quay các cảnh trong các đường hào, cho dù phần lớn của bộ phim được thực hiện tại Hollywood, trong trường quay thực địa. Chủ đề của phim là để cho thấy các phụ nữ, trẻ em, gia đình chịu đau khổ. Khi bạn mô tả các phụ nữ trong chiến tranh là bạn nói về nhân loại, trong đó công chúng có thể cảm thấy có mình trong đó”.

Chiến Tranh Thế Giới lần thứ nhất làm 10 triệu người chết ở Châu Âu, 5 nghìn người Mỹ. Nhưng nó cũng giúp Mỹ trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Như nhận xét của nữ văn sĩ Cari Beauchamp:

“Chiến tranh đã thay đổi tại đất nước này, tôi không nghĩ họ nhận ra điều đó vào năm 1914. Nhưng chiến tranh đã sinh lợi rất nhiều cho Hollywood vì nó đã loại trừ mọi cạnh tranh. Châu Âu thực tế có những nhà điện ảnh lớn giờ đuổi theo sự chậm trễ và họ không thể làm được khi chiến tranh kết thúc vì 90% sản phẩm điện ảnh trên thế giới là làm tại Mỹ”.

Năm 1919 Douglas Fairbanks, Charlie Chaplin, Mary Pickford và David W Griffith thành lập hội United Artist để bảo vệ các tác phẩm của họ. Các xưởng phim Hollywood giờ đây tự kiểm soát việc sản xuất, phát hành và khai thác phim.

Chiến tranh đã giúp điện ảnh phát triển thành một ngành công nghiệp thực thụ. Los Angeles là thủ đô và các minh tinh màn bạc, là đồng minh quý giá của Washington. Từ giờ một điều không thể chối cãi là Hollywood đã trở thành một thế lực kinh tế và nghệ thuật có ảnh hưởng đối với cả thế giới.

Share this post