Lược Sử Hình Thành Sư Đoàn 9 Bộ Binh – Nguyễn Phùng

Sư Đoàn 9 Bộ Binh, là một trong ba đại đơn vị sư đoàn bộ binh chủ lực quân trực thuộc Quân Đoàn IV & Quân Khu 4 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hoạt động hành quân bình định lãnh thổ và trách nhiệm một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long thuộc miền Tây. Sư đoàn được thành lập trong hoàn cảnh Việt Nam Cộng Hòa đang phải đối phó với cái gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” áp dụng hình thức “du kích chiến” (đánh lén, khủng bố và phá hoại). “Mặt Trận…” này là con đẻ của CS Bắc Việt.

Trước tình hình này, Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định tổ chức thêm một đơn vị chủ lực quân để hỗ trợ và trách nhiệm vùng hoạt động cùng với 2 Sư Đoàn 7 và 21 tại miền Tây. Ngày 1/1/1962, Sư Đoàn 9 được thành lập tại Phú Thạnh, Bình Định, theo nghị định số 004-QP/NĐ ngày 9/1/1962, do Đại Tá Bùi Dzinh làm tư lệnh (theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia).

Sau thời gian tổ chức, phối trí và huấn luyện tại Dục Mỹ, Ninh Hoà, Khánh Hoà, Bộ Tư Lệnh đầu tiên di chuyển về đồn trú tại căn cứ Bà Gi, thuộc quận Phù Cát tỉnh Bình Định. Trung Đoàn 13 (tiền thân của Trung Đoàn 16) đồn trú tại Quy Nhơn, Trung đoàn 14 tại Phù Cát và Trung đoàn 15 tại An Khê. Trách nhiệm chính của Sư Đoàn bấy giờ là bảo vệ An ninh lãnh thổ vùng Bắc Bình Định từ đèo Mang Giang, Phù Cũ đến Tam Quan, Bồng Sơn.

Ngoài Đại Tá Bùi Dzinh là tư Lệnh đầu tiên từ tháng 1/1962-đến tháng 11/1963. Hiện còn mạnh khoẻ tại Pháp.

Các vị tư lệnh kế nhiệm khác là:

Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, (11/1963-2/1964) (đã bỏ mình trong nhà tù Cộng Sản).

Trung Tướng Vĩnh Lộc (2/1964-5/1965) (đã qua đời năm 2009 tại Texas).

Trung Tướng Lâm Quang Thi (5/1965-7/1968) hiện cư ngụ tại Hoa kỳ).

Thiếu Tướng Trần Bá Di, (7/1968-10/1973) hiện cư ngụ tại Florida, HK, và vị Tư lệnh cuối cùng là:

Chuẩn Tướng Huỳnh văn Lạc, (10/1973-5/1975) hiện ở tại California, HK.

Không lâu sau đó, do tình hình chiến trường đòi hỏi, Sư Đoàn 9 Bộ Binh được di chuyển về vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày 20-/9/1963. Bộ Tư Lệnh đồn trú tại Sa Đéc. Mặc dù gặp nhiều khó khăn lúc đầu trong việc tảo thanh và bình định, nhưng sư đoàn đã sớm thích nghi với địa thế, chiến trường vùng đồng bằng và trở thành đơn vị thiện chiến, cùng với các đơn vị bạn liên tiếp đập tan những cuộc đột phá và quấy rối của địch quân, gây cho đối phương nhiều tổn thất nặng nề. Điển hình là hai cuộc hành quân năm 1966 cấp sư đoàn cách nhau có MỘT TUẦN LỄ đã đem đến hai chiến thắng to lớn. Cuộc Hành Quân Long Phi 954 tại Cầu Ngang, Vĩnh Bình đã đánh tan Tiểu Đoàn 514 Cơ Động Miền của Việt Cộng. Đúng một tuần lễ sau, cuộc Hành Quân Long Phi 955 tại Ấp Giồng Riềng, quận Kiên Bình, Rạch Giá, đã đánh tan Trung Đoàn U Minh F15 của Việt Cộng.

Trong biến cố 1.11.1963, Sư Đoàn 9 Bộ Binh là đơn vị duy nhất đưa quân về tiếp cứu thủ đô Sài Gòn nhưng nhiệm vụ đã không hoàn thành. Năm 1972, hậu cứ sư đoàn một lần nữa được dời về Vĩnh Long, tiếp nhận phi trường Vĩnh Long tức là trại Nguyễn Viết Thanh, được bàn giao lại từ quân đội Hoa Kỳ.

Lực lượng cơ hữu của Sư Đoàn 9 Bộ Binh gồm có:

Các Trung Đoàn 14, 15, và 16 Bộ Binh là những đơn vị bộ binh nòng cốt với các tiểu đoàn bộ binh và đại đội trinh sát, trực tiếp chiến đấu, tham dự vào các cuộc hành quân ngoài chiến trường.

Trung Đoàn 14 có hậu cứ tại Vĩnh Bình. Trung Đoàn 15 sau khi di chuyển từ miền Trung vào Mỹ Tho đến Long Xuyên, rồi cuối cùng đồn trú tại Đám Lác, Sa Đéc, và Trung Đoàn 16 tức tiền thân của Trung Đoàn 13, đồn trú tại Long Hồ, Vĩnh Long.

– Các đơn vị pháo binh của sư đoàn gồm có Tiểu Đoàn Pháo Binh 90, 91, 92 và 93. Các Tiểu Đoàn 90, 92 và 93 Pháo Binh có hậu cứ tại Vĩnh Long. Tiểu Đoàn 91 đồn trú tại Sa Đéc, sau đó cùng dời về Trại Nguyễn Viết Thanh theo Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Các đơn vị Pháo Binh của sư đoàn được trang bị đại bác 105 ly, riêng Tiểu Đoàn 90 Pháo Binh dược trang bị các khẩu đội 155 ly.

– Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh có hậu cứ tại Vĩnh Long gồm các thiết vận xa M113, rất thuận lợi cho chiến trường đầm lầy và sông rạch vùng châu thổ sông Cửu Long, đã nhiều lần gây khiếp sợ cho địch quân, điển hình là trong các cuộc hành quân ven biên và giúp quốc gia bạn trên lãnh thổ Chùa Tháp.

– Sư đoàn còn có các đơn vị chuyên môn yểm trợ khác là Tiểu Đoàn 9 Quân Y có các bệnh xá và bệnh viện với đầy đủ thuốc men và dụng cụ để điều trị khẩn cấp thương binh từ chiến trường, được điều hành bởi các Quân Y-Nha, Dược Sĩ lành nghề, đào tạo từ Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn và ngoại quốc.

-Tiểu Đoàn 9 Truyền Tin được mênh danh là thần kinh hệ của chiến trường, được trang bị máy móc tối tân gồm cả các hệ thống Rada để điều khiển chiến đấu ngoài trận tuyến và liên lạc giữa Sư đoàn và các đơn vị tại hậu phương.

-Tiểu Đoàn 9 Công Binh có nhiệm vụ lập đồn luỹ, thiết lập an ninh trên các trục lộ hành quân, cùng với công tác dân sự vụ như tu sửa những hệ thống giao thông mới.

– Tiểu Đoàn 9 Tiếp vận có nhiệm vụ cung cấp quân trang, quân dụng vũ khí, đạn dược, và nhiên liệu cho các dơn vị cơ hữu.

– Các Đại Đội Vận Tải cung cấp nhu cầu phương tiện di chuyển đổ quân bằng đường bộ đến khắp các chiến trường trực thuộc sư đoàn. Đại Đội Trinh Sát 9 là đại đội thám kích và thám báo, gồm những chiến sĩ quả cảm và kiên cường, trực tiếp điều động bởi tư lệnh sư đoàn, có nhiệm vụ hành quân đặc biệt về an ninh và chiến sự tùy theo nhu cầu chiến trường đòi hỏi.

Đại Đội 9 Tổng Hành Dinh và Đại Đội công vụ lo về an toàn hậu cứ và hậu sự của những chiến hữu đền nợ nước. Đại Đội 9 Quân Cảnh được thành lập từ sau năm 1972, có nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự kỷ luật tại hậu cứ cũng như tiền phương. Ngoài ra còn có các Biệt Đội Kỹ Thuật theo dõi tin tức tình báo của địch và Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử trang bị hệ thống máy móc tối tân dò tìm hoạt động xâm nhập của đối phương.

NHỮNG CHIẾN TÍCH ĐÁNG GHI NHỚ

Thời gian những năm 1964 đến 1970, Sư Đoàn 9 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu 41 Chiến Thuật, gồm các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang và Sa Đéc. Sau năm 1970, Sư Đoàn 9 Bộ Binh không còn chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ nữa mà trở thành lực lượng cơ động nòng cốt của Quân ĐoànIV/QK4/QLVNCH, sẵn sàng yểm trợ bất cứ nơi nào trong lãnh thổ Quân Khu 4.

Các chiến thắng mang lại tiếng tăm cho SD9BB là cuộc hành quân mang tên LONG PHI tại vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt nằm sát biên giới Việt Miên vào đầu năm 1970, và các cuộc hành quân LONG PHI khác, càn quét hậu cần Cộng Quân tại Ba Thu, đánh tận các sào huyệt, triệt đường chuyển quân và tiếp vận của chúng cho công trường 9 CSBV, mưu toan xâm nhập đồng bằng Cửu Long. Cũng trong năm 1970, Sư Đoàn 9 Bộ Binh là một trong những đại đơn vị đem quân đánh tận ổ Cộng quân ngay trên lãnh thổ Căm Bốt, khiến suốt một giải hai bên bờ biên giới từ Hà Tiên, Kiên Giang đến sát lãnh thổ Quân Đoàn III/Quân Khu 3 VNCH, an ninh lãnh thổ hoàn toàn bảo đảm.

Từ đó, Sư Đoàn 9 Bộ Binh được mệnh danh là Sư Đoàn Mũi Tên Thép vì phù hiệu của sư đoàn gồm số 9 với hai phần xanh đỏ, cùng với mũi tên hướng về phía bắc tượng trưng cho công cuộc Bắc tiến, đánh tan tập đoàn Cộng đỏ, mong khôi phục đất nước về một mối. Với những thành tich và công trạng trong sứ mạng chiến đấu bảo vệ quê hương và đồng bào, Sư Đoàn 9 Bộ Binh được tuyên dương công trạng trước Quân Đội. Quân kỳ Sư Đoàn 9 và các chiến sĩ được mang dây biểu chương màu Tam Hợp.

Năm 1971, Trung Đoàn 16 Bộ Binh do Đại Tá Huỳnh Văn Chính (còn là trung tá) chỉ huy đã ổn định vùng núi Cô Tô, Thât Sơn huyền bí hiểm trở thuộc biên giới Việt Miên, Châu Đôc và cũng năm đó, Trung đoàn 15 BB của Đai Tá Bùi Xuân Lãng, đã tái lập an ninh vùng Ba Hòn gồm Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc, đồng thời bình định, đánh đuổi CQ ra khỏi cứ địa hiểm trở Mo So thuộc vùng Kiên Lương, Kiên Giang. Trong Chiến Dịch giải tỏa Rừng U Minh, SĐ 9 BB với Bộ Tư Lệnh Nhẹ vào chiếm đóng Căn Cứ Rạng Đông, các trung đoàn với các tiểu đoàn cơ hữu chiếm các Căn cứ như Toàn Thắng, Bình Minh, Biện Nhị….Cuối năm 1971, Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã bay vào ăn Giáng Sinh tại các Căn Cứ nằm trong rừng U Minh nầy. Mùa Hè năm 1972, Chiến Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9BB được vinh dự tăng phái cho lực luợng giải tỏa An Lộc và là một trong những đơn vị bắt tay với đơn vị tử thủ của Tướng Lê Văn Hưng. Người hùng chỉ huy chiến đoàn 15 này chính là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, người đã anh dũng chống lại quân Cộng Sản tại Chương Thiện đến viên đạn cuối cùng sáng ngày 1 tháng 5.75, trước khi bị chúng đem ra hành quyết một cách hèn hạ trái với luật quốc tế về tù binh.

NHỮNG NGÀY CUỐI CUỘC CHIẾN

Chiến trường vùng đồng bằng sông Cửu Long vào những ngày gần cuối cuộc chiến phải nói là thật yên tĩnh nếu không nói là CQ đã bị đại bại khắp nơi trên lãnh thổ Quân khu 4, chúng không còn lực lượng nữa vì phải bổ sung tăng phải cho các mặt trận khác đang hồi quyết liệt. Vùng cửa sông Chín Rồng thì các chiến sĩ Sư đoàn 7BB đang làm chủ tình hình. Vùng miệt Cà Mau, U Minh Chương Thiện thì các chiến sĩ Sư Đoàn 21 Sét Miền Tây cũng không cho bọn Cộng ăn yên ngủ ngon bằng những cuộc hành quân liên tiếp. Riêng mặt trận vùng Tây Bắc Quân khu 4, sát biên giới Việt Miên như Kiến Phong, Kiến Tường thì các chiến sĩ Sư Đoàn 9 BB đang trên đà chiến thắng.

Vào cuối năm 1973, Trung Đoàn 14 BB do Đại Tá Lê Trung Thành làm trung đoàn trưởng đã thu đoạt một chiến thắng lẫy lừng tại vùng Đồng Tháp Mười, đánh tan tác một trung đoàn địch, tịch thu một số lượng lớn vũ khí cá nhân và cộng đồng đủ loại, đồng thời cũng phá hủy và tịch thu một số lượng lớn lương thực lúa gạo của chúng. Sau chiến thắng này, Tổng Thống VNCH cùng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã dùng trực thăng xuống tận trận địa thuộc quận lỵ Mỹ An nằm sâu trong vùng Tháp Mười để thị sát chiến trường, xem xét chiến lợi phẩm và ủy lạo tinh thần anh em chiến sĩ.

Trước tháng 4 năm 75 không xa, một đơn vị khác của Sư Đoàn 9 Bộ Binh cũng đã đột nhập một mật khu của Cộng quân tại vùng Mộc Hoá, Kiến Tường và đã khám phá, tịch thu một hầm chôn dấu vũ khí khổng lồ của chúng với hàng ngàn súng đạn đủ loại còn mới tinh nằm trong bọc giấy dầu chưa khui. Những vũ khí đạn dược này đều mang nhãn hiệu Tàu Cộng và Nga Cộng và khối Cộng Sản Đông Âu.

Trước tình hình biến chuyển quá bất ngờ tại Quân Khu 1 và Quân Khu 2 cùng một số nơi tại Quân Khu3, các chiến sĩ Sư Đoàn 9 Bộ Binh vẫn can trường giữ vững tay súng, bảo đảm an ninh tuyệt đối cho đồng bào miền Tây. Quốc Lộ 4, con đường huyết mạch vẫn nhộn nhịp xe cộ như thuở thái bình. Khu vực hoạt đông của Sư Đoàn 9 Bộ Binh lúc này trải rộng từ Kiên Giang (Rạch Giá), Châu Đốc, Kiến Phong (Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười), Kiến Tường (Mộc Hoá) đến Định Tường (Mỹ Tho). Ngoài hậu cứ chính tại phi trường Vĩnh Long (Trại Nguyễn Viết Thanh), sư đoàn còn hai Bộ Chỉ Huy Nhẹ, một tại Mộc Hoá, một tại Chợ Gạo, Gò Công và một Bộ Tư Lệnh Hành Quân chính tại Mỹ Tho.

Nhiệm vụ cuối cùng:

Vào sáng sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc nhận được lệnh từ Quân Đoàn và Trung Ương cho biết Sư Đoàn 9 Bộ Binh phải chuẩn bị để tiếp đón Nội Các Chính Phủ về miền Tây. Chuẩn Tướng Lạc đã điều động Trung Đoàn 14 do Đại Tá Lê Văn Năm làm trung đoàn trưởng, đang hành quân tại vùng Long An thi hành lệnh này cùng với hai Chi Đoàn Thiết Giáp và hai pháo đội 105 ly. Lực lượng đang trên đường tiến về cầu Bến Lức thì được lệnh hủy bỏ. Thật là đáng tiếc nếu không thì tình hình miền Nam lúc đó đã diễn tiến qua một khúc quanh khác của lịch sử và biết đâu chúng ta đã không thành những kẻ lưu vong như hiện nay.

NGUYỄN PHÙNG

(Ban TTBC và Quân Sử SĐ9BB)

Share this post