“Lưu Trung Khảo”: Một Danh Hiệu Được Nghe Và Ghi Nhớ Từ Tuổi 12 – Trần Huy Bích

(TVVN.ORG) Trong cuộc đời này, có những người chúng ta nghe danh và ao ước được gặp từ rất sớm nhưng vì hoàn cảnh, mấy chục năm sau mới thực hiện được nguyện vọng của mình. Đối với tôi, một trong những người như thế là Giáo Sư Lưu Trung Khảo. Tôi được nghe nhiều lời ca ngợi anh từ năm 1948 khi tôi mới 12 tuổi. Tuy luôn luôn mong ước được gặp, mãi đến 1982, 34 năm hay hơn 1/3 thế kỷ sau, tôi mới có cơ duyên “diện kiến.”

Năm 1948 tôi đúng 12 tuổi. Sau khi đậu tiểu học tốt nghiệp tại tỉnh Hà Nam (miền Bắc Việt Nam), tôi đậu thêm kỳ thi tuyển và được nhận vào năm thứ nhất bậc trung học tại trường Trung Học Nguyễn Biểu cũng của tỉnh ấy. Đang giai đoạn kháng chiến chống Pháp, các thành phố chịu nạn “tiêu thổ” nên trường Nguyễn Biểu được khai giảng tại Bích Trì, một thị trấn nhỏ thuộc huyện Thanh Liêm, bên bờ một dòng sông có tên là Châu Giang. Các giáo sư là một số trí thức miền Bắc đang lánh cuộc chiến tranh ở đó. Hiệu trưởng là cụ Vũ Lai Chương. Trong các giáo sư, tôi còn nhớ được có các thầy Lâm Hữu Bàng, Hoàng Hữu Dũng, Lê Vĩnh Hân, Đỗ Lệ Hiền, Trần Gia Huấn, Hà Như Vinh … Sau khi đất nước chia đôi năm 1954, cụ Vũ Lai Chưong và các thầy Lâm Hữu Bàng, Lê Vĩnh Hân vào Nam. Tôi chỉ được biết thầy Trần Gia Huấn cùng gia quyến ở lại miền Bắc, nhưng không được tin về các thầy khác.

Tôi được học ở một trong hai lớp “Đệ nhất niên” (năm đầu bậc Trung học, tương đương với “Đệ Thất” hay “Lớp 6” ở miền Nam sau này). Trong hoàn cảnh chiến tranh, vừa sợ máy bay tới thả bom vừa vì thiếu phương tiện, các lớp của trường Nguyễn Biểu không tập trung tại một trường sở duy nhất mà phân tán ở nhiều địa điểm khác nhau. Chúng tôi, các học sinh của lớp nhỏ nhất, chỉ nghe mang máng rằng ngoài hai lớp “Đệ nhất niên” chúng tôi, trường còn có một lớp “Đệ nhị niên” và một lớp “Đệ tam niên” (tương đương với “Đệ Lục” và “Đệ Ngũ” của miền Nam sau này). Có một hôm chúng tôi được về sớm, trước giờ tan học của lớp “Đệ tam niên” một chút. Khi đi ngang gặp các anh ấy từ trong lớp bước ra, chúng tôi thấy ngay một cảm giác “vì nể,” vì so với bọn “thò lò mũi xanh” mới từ Tiểu học lên như chúng tôi, các anh trông có vẻ “học thức” và chững chạc hơn nhiều. Chúng tôi tự hỏi không biết đến bao giờ mới có được phong thái “học thức” và “người lớn” như các anh.
Học được ít tháng, qua các bạn và một vài giáo sư, tôi được nghe nói trên lớp “Đệ tam niên” có một anh học rất gỉỏi, tư cách mẫu mực, đứng đắn, rất được các giáo sư vị nể. Nghe nói nhiều bài luận Quốc văn của anh được đem đọc cho cả lớp nghe và được điểm rất cao. Cũng nghe nói các giáo sư nể trọng anh, không những vì học vấn, kiến thức, mà còn vì tư cách nữa. Hồi ấy, tại một thị trấn nhỏ của miền Bắc Việt Nam giữa giai đoạn chiến tranh, tôi chưa có ý niệm về một “thần tượng” như giới trẻ Tây phương, nhưng sau nhiều lần được nghe về vị đàn anh ấy, anh Lưu Trung Khảo, tôi cũng nảy sinh một cảm xúc ngưỡng mộ: “Sao lại có một người hoàn hảo, ‘lý tưởng’ đến như thế?” Danh hiệu anh cũng giúp tôi dễ nhớ. Giữa các tên quen thuộc thường được nghe bên tai lúc đó: “Trần Đình Chiến,” “Nguyễn Văn Vàng,” “Lê Xung Phong,” ba tiếng “Lưu Trung Khảo” nghe vừa tao nhã, vừa ung dung. Vì hai lớp ở hai địa điểm khác nhau và cũng vì nhút nhát, tôi không dám nghĩ đến chuyện lân la mò qua khu lớp đệ tam niên để … tìm cách “làm quen” với anh.

Tôi chỉ được học ở Bích Trì có một niên khóa. Sang niên học thứ hai, 1949-1950, một số học sinh của trường Nguyễn Biểu, trong đó có tôi, phải di chuyển sang học ở Hòa Mạc, một làng nhỏ thuộc huyện Duy Tiên, cũng của tỉnh Hà Nam nhưng gần sông Hồng hơn. Sau mấy tháng học ở Hoà Mạc, chiến sự lan rộng. Suốt năm 1950 tôi không được đi học. Từ đó, không được nghe tin về anh Lưu Trung Khảo nữa.

Năm 1951, gia đình tôi hồi cư về Nam Định và tôi được đi học lại. Sau khi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1954, tôi vào Nam khi đất nước chia đôi. Trong khi theo học lớp Đệ Tam trường Chu Văn An Sài Gòn, tôi xem báo, thấy tên anh Lưu Trung Khảo. Anh được nhắc tới như một trong những nhân vật lãnh đạo của “Đoàn sinh viên Đại Học Hà Nội di cư,” cùng các anh khác như Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế… Tuy rất vui thấy tên anh Khảo và biết anh cũng “di cư lánh nạn Cộng Sản” như mình, trong cuộc sống chật vật khi mới tới miền Nam, tôi không có hoàn cảnh tìm tới vị “đàn anh cùng trường Nguyễn Biểu” hằng ngưỡng mộ từ 6 năm trước. Sau này, qua bè bạn, tôi được biết anh tốt nghiệp Sư phạm, về dạy ở Chu Văn An sau khi tôi ra trường. Tôi cũng nghe có thời gian anh được cử làm hiệu trưởng trường Trung Học Kiến Phong, rồi về làm thanh tra Bộ Giáo Dục. Trong khi ấy, tôi ghi danh Văn Khoa và đi dạy để có phương tiện sống cùng giúp đỡ gia đình. Tuy có năm ở Sài Gòn hay Tân An, tôi cũng dạy ở nhiều nơi khá xa như Bạc Liêu, Đà Lạt …, nên không có hoàn cảnh gặp anh Khảo trong thời gian cùng sống ở miền Nam. Sau khi bị động viên năm 1967, tôi được đưa về dạy ở Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt rồi được cử đi học thêm ở ngoại quốc. Chuyện tìm gặp anh lại càng khó khăn hơn.

Đầu năm 1982 ở California, tôi được báo tin về một buổi họp mặt tân niên của một số cựu giáo chức Việt Nam tại hải ngoại. Người đứng tên đầu tiên trên giấy mời là anh Lưu Trung Khảo. Dĩ nhiên tôi hân hoan tới dự, và lần đầu đến đứng trước mặt anh. Rất vui vẻ, tôi nói với anh, “Tuy hôm nay mới có cơ hội gặp anh, tôi nghe danh anh từ hơn 30 năm trước. Tôi học sau anh hai lớp ở trường Nguyễn Biểu, Hà Nam năm 1948.” Anh Khảo tỏ ra vui vì “vạn lý tha hương ngộ cố tri” nhưng hôm ấy chúng tôi cũng không nói được nhiều với nhau. Trong cương vị trưởng ban tổ chức, anh có nhiều việc khác phải làm.

Nhận xét của tôi về anh Khảo chắc không khác nhận xét của nhiều người. Anh giản dị, hoà nhã, thân mật với tất cả mọi người. Chịu ảnh hưởng của tinh thần “kẻ sĩ” trong khuôn khổ Nho giáo, anh nghiêm cẩn trong công việc. Với cái ác, cái xấu, anh cương quyết không chấp nhận, thực hiện đúng câu, “Cầm chính đạo để tịch tà, cự bí” của Nguyễn Công Trứ (giữ lẽ chính để bác bỏ điều gian tà, chống lại điều bất chánh). Rất nhiều người nhận thấy anh có một trí nhớ siêu việt, nhất là với thơ văn Việt Nam. Tôi còn thấy nơi anh một kiến thức uyên bác về văn học Việt Nam và văn học Trung Hoa. Sau nhiều năm phục vụ trong ngành giáo dục, từ trực tiếp đi dạy tới ở vị trí lãnh đạo, anh có một hiểu biết vững chắc và đáng quý về các vấn đề giáo dục của đất nước. Từ buổi gặp nhau đầu tiên ở Nam California năm 1982, tới nay đã trên 30 năm, tôi có cơ hội làm việc chung với anh nhiều lần, phần đông là trong các sinh hoạt văn hóa, giáo dục của cộng đồng, với mục đích chính là chuyển giao lại những kiến thức về văn hóa, văn học Việt Nam cho thế hệ trẻ hơn.

Có ba kỷ niệm riêng tôi thấy cần ghi lại một cách đặc biệt để nêu rõ cái “tâm” cùng tư cách anh Khảo. Năm 1983, nhân tìm được một tập thơ của một vị thầy cũ, một thi sĩ được nhiều người mến mộ ở miền Nam, mấy người bạn và tôi tìm cách in lại tập thơ ấy, mong thu được một ngân khoản nho nhỏ hầu gửi về giúp thân quyến thầy đang sống ở Sàigòn. Để buổi ra mắt sách được thành công, chúng tôi cần uy tín cùng sự tiếp tay của anh Khảo. Năm 2005, tôi muốn giúp một người bạn trẻ tuổi hơn, một nhà biên khảo có tâm huyết sống bên Pháp, trong việc giới thiệu tập sách anh soạn thảo về biên giới Hoa Việt. Năm 2008, tôi lại thấy nên tiếp tay một người bạn khác đang sống ở Bắc Âu trong việc giới thiệu tập truyện ngắn đầu tiên của anh ấy, gồm những truyện rất cảm động về quê hương, dân tộc, và chan chứa tình người. Cả ba lần anh Khảo đều sốt sắng nhận lời ngay khi tôi ngỏ ý. Anh giúp đỡ tận tình. Bên cạnh việc biên soạn những bài trình bày công phu và nghiêm túc, nêu rõ ưu điểm, giúp người đọc hiểu tác phẩm một cách đầy đủ hơn, anh còn giới thiệu thêm người tới giúp trong buổi ra mắt sách và nhiệt liệt vận động cho buổi lễ ấy được thành công. Với sự tận tình giúp đỡ của anh, cả ba buổi sinh hoạt đều thu được kết quả vô cùng tốt đẹp. Tôi rất vui vì thấy trước những việc phải, việc nên làm, nhận thức của anh và tôi rất gần nhau. Vui thêm vì biết rằng nếu cứ chăm làm những việc phải, việc đúng, sẽ luôn luôn được anh giúp. Cho tới nay, đã trên 60 năm từ khi bắt đầu nghe nói tới anh tại trường Nguyễn Biểu, tỉnh Hà Nam, đối với tôi, anh vẫn giữ trọn vẹn hình ảnh đẹp của một bậc niên trưởng như trong tâm tưởng tôi năm 1948.

Tuy luôn luôn quý trọng anh Khảo, mỗi khi nghĩ đến anh tôi vẫn không tránh khỏi chút cảm giác bùi ngùi. Một người lỗi lạc từ rất sớm, có trí nhớ siêu việt, có kiến thức uyên bác, thấu đáo về văn học, văn hóa Việt Nam, một nhà giáo dục suốt đời tận tụy, sao không thể ở lại quê hương để giúp đất nước mà lại phải lánh ra nước ngoài? Phải chăng đó cũng là một phần trong số những nghịch lý chua xót, tạo nên tấn thảm kịch bi đát của dân tộc chúng ta suốt mấy chục năm qua?

Tháng 12-2013
Trần Huy Bích

Share this post