Ma Cũ Ăn Hiếp Ma Mới – Hai Hùng SG

Ma Cũ Ăn Hiếp Ma Mới – Hai Hùng SG

Ngày ba mươi tháng Tư đơn vị tui rã ngũ tại Long An, sau một ngày lội bộ muốn rụng cặp giò, tui với thằng Kết bạn cùng chung đơn vị mới về đến mũi tàu Phú Lâm.

Lúc này thành phố đã lên đèn, tui nóng lòng muốn leo lên xe “Lam” để về nhà càng sớm càng tốt, bởi trong cơn biến loạn tui biết gia đình mình lo lắm, không biết có phải thằng Kết nghĩ rằng, sau đêm này khi hai đứa chia tay thì dễ gì có ngày gặp lại, vì vậy khi đến nhà bà con nó ở Phú Lâm nó bèn nói với tui:

– Hùng nè, giờ thì cũng tối rồi thôi mầy ở lại nhà chú tao, hai thằng mình ăn với nhau bữa cơm rồi chia tay, chứ mầy đi rồi tao ở đây một mình buồn dữ lắm.

Suốt chiều dài cuộc chiến, tui với thằng Kết cùng sống chết có nhau, giờ nghe nó nói câu trên thật cảm động, tuy nóng ruột muốn về nhà nhưng thằng bạn mình nó nói câu thật chí tình thì lòng dạ nào tui bỏ nó “Cu ki” cho được, tui gật đầu cái rụp, tui thấy trong đôi mắt nó ánh lên niềm vui, niềm vui thật tạm bợ vì chỉ còn một đêm nữa thôi thì tụi tui phải chia xa, tình huynh đệ chi binh khi phải chia lìa, tui cảm thấy nó “Đau” như lần tui “tương tư” mà cô gái mình mến chẳng đoái hoài đến.

Tẩy trần tấm thân sau một ngày “giang nắng”, ông chú thằng Kết cho hai đứa mượn hai bộ “Pijama” của ông mặc đỡ qua đêm, cơm nước được dọn lên bàn, bà thím kêu hai đứa tui ngồi vô bàn ăn, thím nói:

– Hai thằng bây “bầm giập” ngoài đường nguyên ngày rồi, mệt dữ đa nghen, thím nấu canh cải chua với thịt bò, Thịt kho hột vịt hai đứa ăn đỡ rồi nghỉ ngơi sáng mai hẳn dìa, giờ này ngoài đường lộn xộn lắm, mấy đứa “cách mạng ba mươi” nó cầm súng bắn tùm lum, lái xe chạy vòng vòng thấy ớn quá.

Bữa cơm tối đó ở nhà chú thím của thằng Kết là bữa cơm ngon vô cùng, đến giờ tui vẫn còn nhớ như in cái hương vị canh và thịt kho do thím thằng Kết nấu .

Đêm đó tui với thằng Kết nằm bên nhau, hai đứa tui ôn lại những tháng ngày đếm nhịp quân hành, những vui buồn như cuốn phim chiếu chậm lần lượt hiện về, rồi hai đứa thiếp đi hồi nào chẳng hay, khi nghe tiếng chú thằng Kết réo lên, hai đứa mới hoàn hồn tỉnh giấc.

-Bây ơi dậy đi , rửa mặt rửa mày ăn sáng với chú rồi lo dìa cho kịp chuyến xe, thằng Kết còn đi xa lắm đa.

Hai ly cà phê và hai gói xôi đậu đen được thím mua sẳn để cho hai thằng tui, chú thằng Kết vừa nhâm nhi tách trà vừa hỏi thăm:

-Tao hỏi thiệt bây đừng có tự ái nhe, hai đứa còn tiền dằn túi hông, nhất là thằng Kết nè, đây dìa quê xa lắc xa lơ mà không đủ tiền là mệt mỏi lắm.

Nghe chú hỏi, thằng Kết ngần ngừ một chút rồi nó trả lời:

– Sáng qua con với thằng Hùng xài hết ráo tiền rồi chú ơi, khi ra chợ nghe thiên hạ đồn rần lên, họ nói khi miền nam thất thủ thì tiền sẽ không còn xài được nữa, báo hại hai đứa con mua đủ thứ, rốt cuộc bỏ lại hết, chạy cái mình không dìa đây nè.

Chú Thằng Kết cười nhẹ rồi nói:

-Tao biết chắc vậy luôn đó, hỏi cho có hỏi thôi .

Nói xong chú móc trong bóp ra cho tui một ít tiền, riêng Kết nhiều hơn vì nó phải ngồi xe đò hai ngày mới về đến quê nó…

***

Tui thất thiểu bước vô nhà khi đó đã là ngày một tháng Năm. Cả nhà mừng quýnh thấy tui về nhà không sứt miếng da miếng thịt nào, ba tui hứng chí ra chuồng bắt con gà giò nấu cháo coi như ăn mừng gia đình sum họp.

Thời gian này không ai làm ra tiền, nhà cửa có gì bán được cứ bán để mua thực phẩm chống đói mấy cái bao tử trong nhà, một hôm nhà hết gạo mà cũng chẳng còn xu lớn xu nhỏ trong nhà, tui bắt buộc phải bán cái đồng hồ đeo tay kỷ niệm của mình để lấy tiền mua gạo, thời điểm đó cái đồng hồ Orient của tui giá trị dữ lắm, đồng hồ đời mới tự động, có lịch ngày, lịch thứ, kim dạ quang kể cả mười hai cọc số cũng có dạ quang, sở dĩ tui nói là kỷ niệm là vì khi mãn khóa ba tháng quân trường ở trung tâm huấn luyện Dục Mỹ là lúc tui được phát lương lần đầu tiên trong đời lính, tui không nhớ rõ bao nhiêu nhưng khá lớn, tui quyết định mua cái đồng hồ nói trên, thời đó những người buôn bán dạo ở quân trường họ đi theo các tân binh ra bải tập để buôn bán hàng hóa, cũng nhờ những người này mà tụi tui cảm thấy ấm lòng khi mua bán vui vẻ và thật thà, thậm chí có nhiều chàng “Gô sỹ” dài ngoằn trong cuốn sỗ nợ, đến lúc trả nợ thì gương mặt chảy dài như mặt ngựa, vì lúc ăn xài thì “xả láng sáng về sớm” .

Cái đồng hồ nọ tui đem ra chợ Gò vấp tới tiệm đồng hồ “Đinh Bửu” vốn là nhà của thằng Quyền bạn học thời tiểu học với tui, sau khi xem xét đồng hồ, anh thằng Bửu trả tiền cho tui bao nhiêu cũng không nhớ, tui chỉ nhớ số tiền này tui mua được một bao gạo “Chỉ xanh” một trăm kilogam , má tui thấy tui bán cái đồng hồ kỷ niệm bà cũng buồn, nhưng hoàn cảnh gia đình lúc bấy giờ cái mạng mình giữ có khi còn khó huống hồ chi cái đồng hồ nọ, tui nói cho má bớt áy náy:

-Thôi kệ, để từ từ kiếm việc làm , khi có tiền rồi sắm cái mới, lo gì má ơi.

Ngoài miệng thì nói mạnh như vậy cho má tui vui, nhưng trong bụng khá buồn nhưng suy cho cùng nếu tui không bán cái đồng hồ thì cả nhà thiếu đói lòng dạ nào tui chịu đời cho thấu..

Cơn sốt rét rừng nó đeo đuổi theo tui từ Tây nguyên về tận thành phố, cứ khoảng hai ba giờ chiều tự nhiên người tui lạnh run, mặc áo quần hai ba lớp, quấn mền kín mít mà vẫn run lập cập, hết lạnh bắt đầu nóng phừng phừng trong người, ngày qua ngày cứ lập đi lập lại khiến tui ốm như con Cò ma.

Ba Tui xin được vài viên thuốc ký ninh của ông bạn ba tui cho, tui uống tạm để cắt cơn sốt rét, khi thuốc hết thì cơn sốt nó quay lại, nhiều khi chịu không thấu tui thần nghĩ chết quách cho nó xong kiếp người.

Có bệnh thì vái tứ phương, thời may hôm nọ có một người quen (Thú thật đến giờ tui chẳng nhớ ai chỉ cho tui bài thuốc này). Họ chỉ tui đến cây “Sứ Cùi” ( Người miền Bắc gọi là hoa Đại), lấy dao giạt vỏ cây hướng mặt trời mọc, lượng vỏ cây chừng hai ba trăm gram, đem về sao thủy thổ, sắc trong siêu đất ba chén còn lại mấy phân gì đó tui cũng quên tuốt rồi, nói thiệt với bà con mình loại thuốc này kêu tui uống lại lần nữa để trị bệnh sốt rét, thà kiếm thuốc nào khác chứ thuốc này nó đắng ghê hồn, uống vừa nuốt qua khỏi cổ họng là muốn ụa ra tức thì, nhưng lúc này hơi tàn sức yếu nên tui trân mình ra uống, chừng vài ba thang thuốc thì tự nhiên tui khỏi bệnh lúc nào cũng chẳng hay.

Ngày còn hành quân trên đèo Phù cũ tỉnh Bình Định, tui tập tễnh viết truyện ngắn, chắc do “Chó ngáp phải ruồi” nên truyện ngắn đầu tay của tui được tờ báo Văn nghệ Tiền Phong cho đăng bài “Cách Mạng Táo Quân”, báo vừa phát hành thì chừng một tuần sau thư của em gái hậu phương hâm mộ gửi về tới tấp, có một cô nàng ở Lái Thiêu rất thích văn phong và câu chuyện của tui, khi hay tin tui đã về đến nhà sau khi tàn cuộc chiến, nàng ta bèn cùng cô bạn thân cưỡi xe Honda dame lên Gò vấp để hội ngộ cùng tui, nói nào ngay lúc chưa bị sốt rét thì gương mặt và tướng tá tui cũng dễ coi, khi bị con “Ma sốt rét” nó hành nó đã phá hoại hồng huyết cầu trong máu của tui, khiến người tui vừa ròm ròm vừa xanh méc như tàu lá chuối, bữa đó tui đang phụ với ông già tía mình đóng mấy cái bàn ghế để bán cà phê lề đường kiếm tiền sanh sống, đang cưa bào đục đẽo mồ hôi chảy thấm ước cả thân người, bổng đâu tui thấy hai cô nàng, một cô hơi tròn trịa, một cô ốm ốm nhưng dễ coi ghé xe vô, tui tò mò không biết họ kiếm ai vì chưa bao giờ tui gặp mặt, sau khi hỏi thăm thì ra hai nàng là độc giả hâm mộ mình đây, khi biết Tui là “Nhà văn” Hai Hùng, cô em tròn trịa mới xưng danh là người thư từ qua lại với tui bấy lâu, thấy ngoại hình cô tui khá ngỡ ngàng, còn nàng thấy tui nàng hơi bị “Sốc”, chắc nàng nghĩ ông “Nhà văn màu áo hoa rừng” chắc cao , đẹp trai, thân hình cân đối chứ nào phải anh chàng ốm cà tông cà teo, gương mặt xanh như tàu lá kia.

Năm ba câu chuyện làm quen,chắc thất vọng nên nàng kiếu từ, tui cũng biết thân phận mình nên tui cũng chào từ biệt cô em gái hậu phuong gặp mặt một lần duy nhất trong đời, sau lần đó nàng ta “Lặn” thật sâu không còn liên lạc với tui nữa.

Bán cà phê cũng không thành, do đường phố hay bị xua đuổi nên tui quyết định đi làm, nhờ quen biết với anh Hai ( một cán bộ ở địa phương) ba tui gửi gắm tui vô làm công nhân ở một Đội xây dựng và sửa chữa nhà, đội chỉ có chừng bốn mươi người, tui xin việc với hồ sơ có tay nghề là thợ “Điên nặng”.

Trước khi đi vô làm thì phải có đồ nghề căn bản như kiềm, búa, khoan tay, đồng hồ đo điện. v.v..

Tui được ông Tư Lượng là đội phó đội sửa chửa, ông Tư cho tui gia nhập vô tổ sửa điện gồm có ba người, anh Sơn có râu quai nón làm tổ trưởng, anh này làm điện đã lâu rành rẽ, tổ phó là thằng Thảo, một tay làm điện cũng rất giỏi, nó lại có thêm nghề tai trái dạy Judo ban đêm, còn tui mới vô làm tổ viên là cái chắc.

Đến công trường xây mới nhà cửa gần hoàn thành, tổ điện tụi tui được đưa đến để “đem ánh sáng” cho công trình, lúc này hai con “Ma cũ” bắt đầu ra chiêu hành. “ma mới” , tui bị sai vặt liên tục, chẳng bao giờ họ cho tui làm công việc chính như bắt dây , bắt đèn, quạt. v v..

Có hôm hai người còn chơi cái màn gài bẫy cho tui đấu dây tầm bậy, cho nổ cầu chì để tui quê với mấy bạn làm thợ khác như hồ , mộc, sơn vôi..
Chẳng những vậy, họ còn châm chọc cho đội phó là tui không có khả năng làm việc, nhằm đuổi không cho tui trong tổ thợ điện này. Vốn sống trong môi trường quân đội, dầm sương dãi nắng cực khổ đã quen nên tui không câu nệ bất cứ việc gì, tui cố nhẫn nhịp, lấy hoà nhã đối đáp lại cái “Đì”của anh Sơn và thằng Thảo.

Thời gian trôi qua. Mấy ông sếp cũng tìm hiểu tính cách và công việc của tui, bữa nọ tui bị triệu tập về văn phòng, vừa ló mặt xếp Hai dợt tui liền:

-Anh nghe Hùng làm không chạy việc, thằng Sơn thằng Thảo mắng vốn về đây nhiều lắm, giờ Hùng tính sao?

Tui thành thật nói với anh Hai:

-Em đi lính về nghề ngỗng đâu có, khai thợ điện xin vô ý là theo hai người đó để học việc chứ đâu có biếng nhát gì đâu anh.

Họ thấy em mới họ không thích cho làm chung, hay anh cho em kiếm thêm một người, tui em làm tổ sửa điện khác để khỏi đụng chạm đến nhóm của họ

Anh Hai nghe tui đề nghị vậy, anh đồng ý liền, thế là tui về xóm nơi nhà mình ở, thi kéo bạn tui vô làm chung, thằng Răng nó tay nghề cũng cà lơ phất phơ như tui, có điều hai đứa tui ăn ý nên lần hồi cũng tiến bộ trong công việc được anh em trong đội quý mến.

Hai con “Ma cũ” Sơn và Thảo thôi không còn ăn hiếp tụi tui nữa, và có khi làm chung với nhau sau này tui cũng hay giúp đỡ họ khi cần, dần dà những đố kỵ, mặc cảm nó đã tan biến tự lúc nào.

Coi vậy cũng đã mấy chục năm trôi qua, sống chung trong quận nhà, vậy mà từ lúc không còn làm chung nhau nữa, tui chưa gặp lại hai “con ma cũ” này lần nào, tui cũng thầm cảm ơn sự “Đố kỵ” của họ, cũng nhờ vậy mà tui và “con ma mới” Lê văn Răng bạn tui mới có dịp tiến bộ trong nghề nghiệp để đứng vững bằng đôi chân mình trên trường đời.

Viết xong trưa 17.10.2020.

Share this post