Mãi Mãi Hà Huyền Chi – Việt Hải

Mãi Mãi Hà Huyền Chi, Người Tình Son Trẻ

“Thơ là đỉnh cao nhất của văn chương”
Hà Huyền Chi

Một dịp nào đó tôi được xem video Thúy Nga Paris-by-Night số 12 có người ca sĩ Mỹ mang con tim rất Việt Nam cất cao bài hát “Lệ Đá”:

“Thuở ấy tôi như con chim lạc đàn/ Xoải cánh cô đơn bay trong chiều vàng/Và ước mong sao trời đừng bão tố/Để yêu thương càng nhiều gắn bó/Tháng ngày là men say, nguồn thơ /Tình yêu đã vỗ cánh rồi”…

Đó là nữ ca sĩ Dalena với nét mặt dịu dàng, khả ái phát âm rất chuẩn Việt ngữ. Từ cung cách trình bày ý nghĩa của bài ca đến sự diễn đạt tâm tư hay xuất hồn của Dalena phải nói là rất ngoạn mục và lạ thường, hiếm có đối với một người ngoại quốc yêu và ca nhạc Việt Nam. Tôi đã thật sự rung động trước một bài tình ca quá tuyệt vời về cả 2 lãnh vực ý và nhạc, mà Dalena đã đóng trọn phần giao cảm khi lột tả nét kiêu sa của bài hát. Phải nói rằng nhạc sĩ sáng tác nhạc phẩm này thật kỳ tài. Thêm nữa, thi sĩ Hà Huyền Chi viết lời vào khung nhạc ngũ cung thật thần sầu. Người nghe cảm nhận từng dòng thơ thật thấm thía mà Hà Huyền Chi đã nắn nót, gửi gấm.

Tôi biết tên anh Hà Huyền Chi vào thời tao loạn của quê hương, khi mà sách sử ghi nhận những năm miền nam rơi vào thời kỳ hổn loạn nhất, 1964 đến 1968. Và rồi cũng cùng khoảng thời gian đó bài “Lệ Đá” được công chúng thời ấy đón nhận vô cùng nồng nhiệt, vì bản nhạc có lời ca rất thơ mộng tỏa nét kiêu sa, trong sự nhịp nhàng theo âm vận, cung điệu và tiết tấu trầm bổng thật du dương.

Hà Huyền Chi là bút hiệu chính của thi sĩ gốc Nhảy Dù Đặng Trí Hoàn.Theo phần tiểu sử được liệt kê trong trang website Tam Hà mà tôi tham khảo là:

Anh Đặng Trí Hoàn, sinh quán tại tỉnh Hà Đông, sinh năm 1935, trưởng thành tại Hà Nội, năm 1954 di cư vào Nam, một mình. Rồi 1957 nhập ngũ, khóa 14 trường sĩ quan VBQGVN. Năm 1975 anh đào thoát qua tị nạn tại Hoa Kỳ. Hà Huyền Chi tập làm thơ từ thuở còn rất trẻ. Nhưng chỉ nhập thơ lúc trưởng thành. Bài đầu tiên được đăng trên tờ Chiến Sĩ Cộng Hoà: “Không Gian Vương Dấu Giầy”. Hà Huyền Chi hiện cư ngụ tại thành phố Lacey, tiểu bang Washington, Tây Bắc Hoa Kỳ, tiểu bang mưa nhiều, khiến ướt thơ, lạc tuổi. Bởi thơ và nhạc vốn không hề có tuổi.

Tác phẩm đầu tay của anh là: “Saut Đêm”, thơ ra đời năm 1963. Hà Huyền Chi đã in 16 tập thơ, 8 truyện dàị (giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật bộ môn Thơ, 1971). Đóng 8 phim và đạo diễn 2 phim. Đoạt giải Tượng vàng 1972. Đạo diễn xuất sắc nhất, bộ môn phim tài liệu: Dưới Bóng Cờ.

Tính đến tháng Tư 2003, Hà Huyền Chi đã có 284 bản nhạc phổ thơ, bởi 41 nhạc sĩ. Bao gồm CD Quý Hương (*) với 12 bài nhạc phổ bởi nhạc sĩ Mai Anh Việt. Có thể nói bài được nhiều người ưa thích là “Lệ Đá”, với Trần Trịnh và bài “Góa Phụ Ngây Thơ”, với Trần Thiện Thanh. Hà Huyền Chi đứng từ góc thơ nhìn sang lãnh vực nhạc, anh có những trao đổi kinh nghiệm với giới âm nhạc để đưa một bài thơ theo mô thức anh đặt dễ dàng lồng vào âm nhạc. Anh viết bài “Thi Trung Hữu Nhạc Hay Tương Quan Giữa Thơ và Nhạc” như sau:

“Thi trung hữu hoạ và Thi trung hữu nhạc là điều hiển nhiên không ai có thể phủ nhận được. Cổ nhân đã nói thơ, ngâm thơ, hoặc hát thơ từ trước khi loài người phát minh ra văn tự nhạc cụ và nhạc thuật. Tôi đến với nhạc bằng cảm tính nhiều hơn là nhạc lý. Dù vẫn thường để tâm học hỏi thêm, nhưng sự hiểu biết của tôi về nhạc, vẫn không đi xa hơn lãnh vực cảm tính này.

Do một cơ duyên, hay may mắn, cho đến giờ này đã có 284 nhạc bản được phổ từ thơ tôi. Với 41, nhạc sĩ góp phần. Nhà nghề như Vũ Thành An, Phạm Duy, Trần Quang Hải, Song Ngọc, Từ Công Phụng, Trần Thiên Thanh, Trầm Tử Thiêng, Hoàng Thi Thơ. Nhạc sĩ nghiệp dư như Phạm Anh Dũng, Nguyễn Tiến Dũng, Hoàng Linh Duy,Trần Quan Long, Mai Anh Việt, Trần Duy Viêt, Triệu Vinh và nhiều nhạc sĩ tài tử khác…”

* Khi Hà Huyền Chi được hỏi về sự tương quan giữa thơ và nhạc và căn bản lý luận, anh cho biết nên dành câu trả lời này cho những vị thức giả uyên bác về âm ngữ học. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm cá nhân và thiển ý của riêng anh, thì người ta có thể ngâm hát bất cứ một thi khúc nào, ở bất kỳ dạng thức nào, dù trúc trắc gai góc tới đâu chăng nữa. Kinh nghiệm riêng với nhạc sĩ Từ Công Phụng. Từ Công Phụng đã xuất thần phổ bài “Hóa Thạch” của Hà Huyền Chi. Thể thơ tự do, dùng hình tượng và ngôn từ rất bạo:

“Tim tôi như trái mìn đợi nổ
Khi gã tới gần em, gần em
Trong ánh mắt ngầm trao lời tình lửa
Tôi đọc thấy long lanh suối hẹn
Như lòng em rực rỡ hoa tươi
Khi em rộng lương mỉm môi cười”

Ly rượu sóng trên môi
Cuống phổi tôi teo tóp nghẹn…

* Khi được hỏi về người nhạc sĩ nào đã phổ nhiều thơ anh nhất thì anh cho biết đó là nhạc sĩ Mai Anh Việvới 70 bài.

Hà Huyền Chi còn cho biết thếm: “MAV thích thử thách, muốn phổ những bài khó khăn, gai góc nhất và MAV có thói quen là phổ nguyên văn bài thơ, rất hiếm khi phải cắt xén. Và những bài thơ khó nhai, khó nuốt ấy đã trở thành một trong những ca khúc đắc ý nhất của MAV. Kinh nghiệm là những bài thơ càng trúc trắc thì khi vào nhạc lại càng trầm bổng, bay múa hơn. Thế nhưng hầu hết các nhạc sĩ đều tránh né đưa vào nhạc những bài thơ khúc mắc, đòi hỏi nhiều dụng công ấy. Kinh nghiệm là để có thể phổ nhạc, bài thơ nên dài tối thiểu là 4 đoạn.

Thế nhưng điều này không thể làm khó được nhạc sĩ Trần Duy Việt. Anh đã xuất thần phổ một bài thơ Hà Huyền Chi 5 chữ, chỉ dài 3 đoạn mà thôi.Trần Duy Việt đã phổ rất nhuyễn, rất đầỵ đủ. Điều này phải coi như một kỳ tích. Khi nghe Trần Duy Việt trình bầy với hoà âm riêng, cả Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Mai Anh Việt và Trường Kỳ đều hết lời tán thưởng”.

Một điểm son mà Hà Huyền Chi đã tạo được cho chính mình là kinh nghiệm và đôi khi Hà Huyền Chi tự hát trong đầu một thể điệu nào đó khi làm thơ. Và tự anh đã chuốt gọt, hay hoán chuyển các thi ngữ cho êm ái thuận miệng, thuận nhĩ hơn. Do đó lúc sau này, hầu hết những bài thơ Hà Huyền Chi đều có thể phổ nhạc dễ dàng vì anh đã cho họ khung nhạc hướng dẫn trước. (Và có nhiều bài đã được 3, 4 nhạc sĩ soạn thành ca khúc).

“Ví dụ như khi hai đoạn thơ ở phần trên được mở ra ở thể trắc, thì đoạn thứ 3 nên ở thể bằng (hoặc ngược lại), để giúp nhạc sĩ dễ chuyển nhịp sang một giai điệu mới, hầu tránh nhàm tẻ”.

*Khi anh được hỏi: “Thể thơ nào khó phổ nhạc hơn?”

Hà Huyền Chi cho biết: “Nếu lục bát được coi như thể thơ dễ làm mà khó hay, thì đặc tính ấy cũng được thấy qua nhạc phổ. Theo tôi thì quy luật bằng trắc trong thơ lục bát, và kế đó là thơ thất ngôn, sẵn có những khuôn thước, cấu trúc riêng, khiến nhạc sĩ dễ bị dẫn dắt vào những cung điệu quen thuộc, na ná như nhau. Thật hiếm có những dòng nhạc đột biến thần tình như Phạm Duy với Ngậm Ngùi của Huy Cận, và Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư. Như Trần Quan Long với Về Rừng của Hà Huyền Chi, trong CD Tình Khúc Cung Sol”.

* Khi được hỏi: “Thể thơ nào dễ phổ nhạc nhất?”

Hà Huyền Chi: “Theo tôi thì thơ 4 chữ, 5 chữ dễ đưa vào nhạc nhất. Trong đó bao gồm cả thơ 8 chữ ngắt nhịp ở chữ thứ tư mỗi câu”.

* Khi Hà Huyền Chi được hỏi: “Nếu phải lựa 10 bản nhạc hay nhất, phổ thơ anh thì sẽ là bài nào ?”

Hà Huyền Chi: “Những bản nhạc phổ thơ tôi, được tôi yêu thích nhất, chưa hẳn đã là những bản hay nhất mà tôi có. Đôi khi sự thưởng ngoạn tôi bắt nguồn từ một cảm xúc riêng tư nào đó. Bởi hầu hết thơ tôi được hình thành từ đãi lọc những chất liệu có thật trong đời sống, trong kỷ niệm vui buồn. Đôi khi cũng có những vay mượn từ tâm trạng người khác, như ở thể loại thơ tình nước. Những thảm trạng tù đầy, vượt biển mà tôi chưa từng kinh qua. Tuy nhiên, tôi chưa hề cường điệu hô hào người khác xung phong lên tuyến đầu để quang phục quê hương, nếu hôm nay tôi còn ngồi trong cõi bình yên.

Thơ tuyên truyền cũng được, thơ khẩu hiệu cũng được, nhưng người làm thơ nên tự trọng và lương thiện với chính mình. Nếu có một khẩu hiệu trong thơ tôi, thì chính là câu: “Follow Me” như chúng tôi học được nơi quân trường”.

* Hỏi: “Sao anh không soạn in những tập nhạc, CD khi có trong tay 284 bài thơ phổ nhạc?”

Hà Huyền Chi: “Xin thưa, đó không là lãnh vực của tôi. Là một người làm thơ, tôi chỉ biết đến thơ mà thôi”.

xxx

Khi tôi viết bài này thì CD Quý Hương đã ra đời (*: Xem note cuối bài), mà trong đó có 12 bản nhạc được nhạc sĩ Mai Anh Việt công phu chọn phổ từ các bài thơ Hà Huyền Chi, tôi xem trên danh sách từ bài đầu là: 01- Riêng Một Dáng Em, rồi đến các bài: 02- Hãy Thương Nhau Hơn Thương Mình Đôi Chút, 03- Không Viết Không Là Không Nhớ, 04- Mưa Tháng Chạp, 05- Sinh Điếu, 06- Quý Hương, 07- Buồn Vương GGótAai, 08- Mưa Buồn, Mưa Vui, 09- Anh Và Nỗi Nhớ, 10- Cũng Thế Em Ơi, 11- Rồi Buồn Buồn Mưa Xuống Đời, và sau cùng là 12- Tim Quên Trong Nhớ.

Món quà tinh thần mà nhạc sĩ Mai Anh Việt đã trân trọng gửi đến anh chi. Hà Huyền Chi và Quý Hương là tác phẩm mang tên chị “Quý Hương”, nhân dịp hai anh chị Hà Huyền Chi và Quý Hương kỷ niệm tròn 40 năm có nhau trong đời. Tôi nghe qua CD kỷ niệm này mà lòng thăng trầm vui buồn qua từng bài hát như khi vui với bài “Quý Hương”, tiếng ngân của giọng ca Quang Minh theo nhịp vui trầm bổng, thật hài hòa:

“… Em hoa khôi dịu hiền \Em với lòng thanh thiên \Ta một thời lãng mạn \Vẫn trọn đời yêu em \Ơn em chia nửa hồn \Bao năm chung vui buồn \Với nhau tròn ân nghĩa \Dầu sông cạn đá mòn \Em chắt chiu kỷ niệm \Em giấu kín buồn vui \Mũ gai và vương miện \Hân hoan với ngậm ngùi \Ta tiêu hoang tình cảm \Thường san sẻ cho người \Em bao dung vô hạn \Giữ trong tim nụ cười”.

Đó là “Nàng Thơ” của Hà Huyền Chi là chị Đặng Quý Hương của miền sông Hương núi Ngự mà anh gửi gấm 40 năm với bao nhiêu ngày hoa tháng mật. Trong bao ngày vui vun đầy tình nghĩa êm đềm bên hạnh phúc gia đình, Hà Huyền Chi viết thành những dòng thơ như trút hết nỗi lòng tri ân nàng thơ của anh:

“Em hoa khôi dịu hiền \Em với lòng thanh thiên \Ta một thời lãng mạn \Vẫn trọn đời yêu em \Ơn em chia nửa hồn \ Bao năm chung vui buồn \Với nhau tròn ân nghĩa \Dầu sông cạn đá mòn\

Ta như cây liền cành \Như trăng sao hào tình \Trăm năm còn tha thiết \Như khi mình tóc xanh \Hoa là con bướm đậu \Bướm là cánh hoa bay \Em, lòng ta vương hậu \Ta, mùa em vui đầy”

Nơi Hà Huyền Chi ở là tiểu bang nhiều mưa gió, khi mưa rơi để lòng người se buồn vì khung cảnh như kỷ niệm cố hương, người thi sĩ vẫn cảm nhận nỗi buồn man mác nào đó khi nhìn mưa rơi, dù mưa rơi lạnh buốt trong lòng hay mưa buồn trong ánh mắt ai. Trong bài “Mưa Buồn, Mưa Vui”, Bảo Yến dâng cao khúc hát buồn vời vợi:

“Mưa mãi, mưa hoài, mưa, mưa rơi \Đêm cũng như ngày, sầu khôn nguôi \Nắng trốn phương nào, em cũng vậy \Lạnh ngắt mùa thương, lạnh mái đời \Sông núi vô tình hoa lá đau \Nến khóc canh dài ai biết đâu \Dăm lá thư tình phai ước hẹn \Ta thuộc từng hàng, nhớ từng câu \ …”

Tháng Chạp tiết trời xầm tối sớm cho không gian buồn thảm, tháng của mưa rơi vội vã, giăng phủ ngập hồn nhung nhớ đến người yêu dấu:

“Nụ đời trao nhau làm sao quên \Vòng tay đắm mê trời rất riêng \Tháng Chạp khi không mưa vội vã \Mưa chắn lối về, mưa níu em \Mưa vui hôm xưa, buồn hôm nay \Còn gì để níu, ngoài cơn say \Nhạc mưa tí tách cung đàn lỡ \Ta nhớ em, mà em có hay\ Ta nhớ em, mà em có hay”

Cũng trong mùa mưa to, gió bấc tại Lacey, Washington, Hà Huyền Chi thốt lên lời thơ buồn ai oán, cũng được Mai Anh Việt chọn phổ cho nhạc phẩm “Rồi Buồn Mưa Đuống đời”:

“… Rồi buồn mưa xuống đời \Rồi cuồng phong thét lời \Vũng lầy thành biển mặn \Lún sâu thêm ngậm ngùi\Em còn gì trong nhớ \Ta rồi làm sao quên \Em khóc đau tình lỡ \Ta cười vỡ rừng đêm\

Ta rồi làm sao qua \Lỡ một thời trăng hoa \Nợ nần chi nghiệp chướng \Cuối đời còn phong ba \Đường dài vô biên đó \Ta vấp ngã bao lần \Em một mình ngược gió \Vẫn chưa từng ăn năn\…”

Mưa rơi xuống đời để cho cuồng phong gào thét cho tâm tư ngậm ngùi, cho bùi ngùi rung cảm khi em lệ suối đầy vơi:

“Ta rồi làm sao qua \Lỡ một thời trăng hoa \Nợ nần chi nghiệp chướng \Cuối đời còn phong ba \Đường dài vô biên đó \Ta vấp ngã bao lần \Em một mình ngược gió \Vẫn chưa từng ăn năn\

Rồi buồn mưa xuống đời \Rồi cuồng phong thét lời \Vũng lầy thành biển mặn \Lún sâu thêm ngậm ngùi\Em còn gì trong nhớ \Ta rồi làm sao quên \Em khóc đau tình lỡ \Ta cười vỡ rừng đêm”

Khi đi vào khu rừng sâu thăm thẳm của thi ca Hà Huyền Chi, người ta càng thấy cái dũng khí trong lời thơ của người lính Dù, cái khí phách sinh động của chí nam nhi mà Hà Huyền Chi đã cho vào thi ca như:

“Ta hết ta là thuở khuấy trời
Đạp sao cưỡi gió mộng như đời
Cơm bầu rượu ống mà thanh thản
Mũ Đỏ như hồn rạng rỡ phơi…”

Hà Huyền Chi là một người mang nét nghệ sĩ tính, bề ngoài của anh có dáng vẻ phong trần, lã lướt, lãng tử, và bất cần đời như bao vần thơ Mậu Binh mà tôi đã đọc. Mậu Binh theo trường phái Vị Xuyên, Tú Xương, của thi ca tinh nghịch, thi ca tiếu lâm và trào lộng khi nhìn cuộc đời. Tuy vẻ bên ngoài như vậy, nhưng Hà Huyền Chi mang nội tâm của một người chồng, người cha tuyệt vời khi tôi được tiếp chuyện với chị Quý Hương. Anh vẫn tri ân tình nghiã vợ chồng nồng nàn qua thi ca và đậm đà trong cuộc sống. Hai anh chị có với nhau 5 cháu, với 4 gái và một cậu út. Không ra ngoại lệ của nhiều người cha thi sĩ, anh làm thơ dặn dò con cái. Ví dụ như trong bài “Di Chúc Cho Con”:

“… Con yêu dấu, nếu ngày mai bố chết
Đừng xót xa cho kiếp bố nhục nhằn
Khóc vừa đủ cho một lần vĩnh biệt
Bố lìa đời không một chút ăn năn …”

Hà Huyền Chi trao cho con một di chúc quê hương, một tiếng lòng thổn thức của kẻ sĩ phu, không tròn nợ quốc gia đại cuộc, thì một lòng vẫn mãi mãi trung trinh với quê hương:

“… Con yêu dấu, nếu ngày mai bố chết
Hãy hiểu rằng ta sống gửi thác về
Cuốn phim buồn vừa chiếu xong đoạn kết:
“Những mảnh đời trôi nổi khát khao quê.”

Đó là khía cạnh gia đình của thi ca Hà Huyền Chi. Sáng nay tôi tình cờ xem bài thơ cũ của lịch sư? Việt Nam khi Ngọc Hân Công Chúa rơi lệ nhòa trong bài “Khóc Quang Trung”:

“… Trằn trọc luống đêm thâu ngày tối
Biết cậy ai giận nỗi bi thương ?
Trông mong luống những mơ màng
Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say…”

Ngọc Hân Công Chúa vẫn mơ hồ, sống với mộng rằng vua Quang Trung vẫn còn hiện hữu. Trong cùng ý tưởng mơ hồ khóc cho sự kiện đã mất mát, Hà Huyền Chi làm thơ mơ về VNCH vẫn hiên ngang trong tâm khảm người lính mang màu áo hoa dù năm nao, ngọn cờ vàng thân yêu vẫn nung nấu trong dòng huyết quản:

“Em hứa cùng anh vinh danh cờ vàng
Ta thét hồn nhiên những lời thép gang
Tiếng thét tự do, nhân quyền, tôn giáo
Cờ vàng ta bay thắm hồn Việt Nam…”

Hay nhìn về cố hương, người dũng sĩ mài gươm thề nguyền:

“Bên trời mài kiếm nung hờn nước
Xếp lại chinh bào hẹn núi sông”

Hà Huyền Chi viết lên lời tâm sự, nỗi lòng nhân ngày 30/04/2003 như sau:

“Chiều 30 tháng Tư, 1975, tôi ném vội tất cả giấy tờ tùy thân, như ném lại từng mảnh tim nhục hờn trên sông Lòng Tảo. Tôi khóc cho mình, cho quê hương, khóc cho nỗi đau đớn, nhục nhã của kẻ bại binh, dù rằng người lính miền nam vẫn chưa một lần chấp nhận thua cuộc trong tâm khảm:

“Thơ chảy máu suốt phần đời vong quốc
Quê trong lòng như vạn mũi dao đâm” …”

Nỗi lòng viễn xứ vẫn ám ảnh người lính dù năm xưa, dù người lính nay tuổi đời đã cao, nhưng hồn vẫn khoác hoa dù trong tâm khảm để bồi hồi về quá khứ, để xót xa nhung nhớ về cố quốc, như chuyện tích Tàu xa xưa kể về con ngựa đất Hồ Nam cất cao tiếng hí nhớ về quang phục cố hương:

“Ngựa Hồ ngóng gió lưng đồi
Cất cao tiếng hí ngậm ngùi cỏ hoa
Đầu sông một gã lính già
Ôm cần, câu nỗi nhớ xa buồn gần”

Ở khía cạnh quê hương đất nước thì thi ca Hà Huyền Chi vẫn tỏa đầy một trời thơ cho quê hương, dân tộc. Nhiều bài thơ trong thi tập “Thơ Trong Da Ngựa” hay “Bên Trời Mài Kiếm” mà anh đã sáng tác vinh danh Quân Lực VNCH, thơ anh tô điểm cho chính nghĩa sáng ngời của người lính Cộng Hoà miền Nam trong cuộc nội chiến vừa qua.

Hãy đọc phần nhận định của văn nhạc sĩ Dương Viết Điề, tại Los Angeles khi anh đọc thơ Hà Huyền Chi, bài “Không Gian Vương Dấu Giầy”:

“Tôi tìm thấy Hà Huyền Chi một hình ảnh hào hùng của người chiến sĩ xuất thân từ quân trường VBQGDalat, khóa 14, rồi anh tung cánh hoa dù từ trên không, cái không gian của Việt Nam quê hương ngạo nghễ, nhưng trong nhọc nhằn vì bom đạn, khói lửa chiến chinh qua bóng dáng những Thiên Thần Mũ Đỏ:

“Đêm nay trời đổi gió
Nằm đếm sao trên trời
Đời những người Mũ Đỏ
Vui nhiều lắm em ơi
Từng chuyến, từng chuyến bay
Nói lên nhiều thương nhớ
Dù trĩu nặng vai gầy…”

Hà Huyền Chi cảm thấy chí làm trai hào hùng như bông dù rộ nở như chinh phục không gian:

“Hoa Dù, Hoa Dù nở
Lòng trai, lòng trai say
Trời cao vum vút gió
Xóm làng mờ chân mây
Từng chiếc lại từng chiếc
Hoa Dù nở trong mây
Hồn tôi ai chấp cánh…”
(Không Gian Vương Dấu Giầy).

Thi ca Hà Huyền Chi phảng phất nét oai phong, cái khí phách hiên ngang, hào hùng của những Thiên Thần Mũ Đỏ, những chiến binh vào sinh ra tử, xem cái chết nhẹ như tơ hồng, bài “Sầu Ngụy Trang Che Tủi Hận Đầy Lòng”:

“Mây ngủ giấc hiền trên cánh thiên nga
Sau ngàn dặm thiên di tìm đất ấm
Dấu giầy nào vương cánh gió bao la
Gã Nhảy Dù thương quê mài mũi hận”

Tôi cảm nhận chất thơ dũng khí của Hà Huyền Chi qua bài “Bên Trời Mài Kiếm”:

“Giao thừa lệ đắng tràn lên má
Ta khóc, ta cười như trẻ thơ
Thêm một mùa đau trên xứ lạ
Biết thân lưu lạc đến bao giờ
Dâng trọn đời trai cho tổ quốc
Nào hay thua được cũng là không
Bên trời mài kiếm nung hờn nước
Xếp lại chinh bào hẹn núi sông”

Cho những Thiên Thần Mũ Đỏ đã gục ngã, Hà Huyền Chi nhắn gửi tâm sự sắt son hay nỗi lòng “huynh đệ chi binh”:

“Trong ta son sắt một lời thề
Nuôi cao lửa hận làm gươm súng
Cho một ngày mai quyết trở về
Hỡi bạn bè ta dưới mộ sâu
Trong tù, trên biển, giữa giang đầu
Những người ghìm súng nơi rừng thẳm
Ta khóc xuân này để nhớ nhau”.

Đọc thơ Hà Huyền Chi để nhớ đến những cánh hoa dù tung bay giữa quê hương, đọc thơ Hà Huyền Chi để thấm nỗi ngậm ngùi, xót xa khi người chiến binh bị bức tử buông súng, đọc thơ Hà Huyền Chi cảm thông với kiếp đọa đầy trên vai người dân Việt Nam”. DVĐ.

Lời nhận xét của nhà thơ Mạc Phương Đìn, San Jose khi đọc thơ Hà Huyền Chi như sau:

“Tôi được đọc những dòng thơ của Hà Huyền Chi trên báo chí, trong những tập thơ đã in, đã được tặng giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1971. Trong thi ca đấu tranh mà một phần lớn đã phản ảnh mối liên hệ của Hà Huyền Chi gắn bó với quân đội VNCH, thơ anh mang đầy hào khí của những chàng trai nặng trĩu tấm lòng với quê hương, với tổ quốc, như trong bài “Ngày Quân Lực” là điển hình:

“Kiếm cung phủ lớp bụi dầy
Vẫn trong tháng Sáu, một ngày khó quên
Tiếng ồn cắt cỏ nhà bên
Tưởng đâu xe xích lăn trên Sài Gòn…”

Trong tập “Thơ Đen” Hà Huyền Chi xuất bản năm 1991, tác giả qua bút hiệu Mậu Binh đã chế diễu chế độ đỏ, chuyên chính, khắc nghiệt của CSVN qua hình ảnh các lảnh tụ từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng đến Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Nguyễn Thị Bình, Xuân Diệu và Tố Hữu cai quản và đưa đất nước đến độ lầm than:

“Bác Cười
Xếp hàng cả nước đã quen
Hễ anh tới sớm, hàng trên rời ngày
Đúng giờ, đuôi đã khá dài
Nếu anh tới trễ, cơ may chẳng còn.

Bác Hồ lộng kiếng cười mơn
Hàm râu cuối tháng đỏ lòm khó coi.
MB”

Hay bài:

“Bác Vĩ Đại
Đồng vều đánh rớt cục gian
Trung ương lượm được vội vàng điều nghiên
Sẵn di chúc Bác giở xem
Cục gian vĩ đại Bác nghìn lần hơn.
MB”

Dí dõm hơn nữa là bài “Cả Nước Đứng Đường”, cho thấy Hà Huyền Chi Mậu Binh có óc khôi hài đen về cái chế độ tự nhận “Siêu Việt” trên quả địa cầu khi mà người dân quá cơ cực như hình ảnh người phụ nữ đã phải bán trôn nuôi miệng, hay bán chợ trời:

“Thúy Kiều đứng bến Bạch Đằng
Công an sáp tới nhì nhằng điều nghiên:
– Đừng nâng quan điểm em lên
Phải đâu ai cũng vượt biên được nào.
Bốn “cây” dễ kiếm lắm sao
Đứng đây nhìn cái ba đào mà chơi.

Thúy Vân buôn bán chợ trời
Công an sáp tới ạ ời điều tra:
– Thuốc ná Mỹ Xê I A
Ám hiệu “3 số” nệnh nà tịch thu
Thúy Vân ngồi khóc hu hu
Mất bao thuốc ngoại hơn vừa mất trinh !

Bác Hồ mày trắng uy nghi
Xuân Diệu Tố Hữu nô thi chầu hầu
Thị Bình chủ tiệm thanh lâu
Khuyển Ưng một lũ ngựa trâu Dũng Trà.

Tập đoàn ma cạo điêu ngoa
Khiến cho cả nước phải ra đứng đường.
MB”

Ngoài ra, Hà Huyền Chi đã viết lên hàng ngàn bài thơ tình, mượt mà, óng chuốt, ngọt ngào men tình ái, suốt quảng đường dài, từ tuổi hai mươi, ba mươi, bốn mươi, cho đến bây giờ, trên dấu mốc “thất thập cổ lai hy” của cuộc đời, thơ tình Hà Huyền Chi vẫn tiếp tục chảy ra, tràn lên giấy trắng, vẫn lai láng những dòng thơ mang niềm ray rứt, băn khoăn với những âu yếm hay giận hờn, không một phút giây ngập ngừng, biếng nhoài, mệt mỏi. Tiếng nói, tiếng gọi tình yêu của thơ Hà Huyền Chi đã cất lên, vang vọng trên khắp cùng đất trời, vẫn mãi nồng nàn như hơi ấm phả vào cuộc đời đầy truân chuyên đau khổ, cho đời sống thăng hoa hơn, vượt lên trong tình yêu bao la, rộng lớn mang đầy tính nhân bản tuyệt vời. Hãy đọc tình thơ Hà Huyền Chi, bài “CUỐI TRỜI MƯA PHAI”:

“Em ơi trời sắp bình minh
Ngủ ngoan đừng giấu buồn anh đầy lòng
Với nhau những phút mặn nồng
Đã trong nghĩa biển tình sông một đời
Đáng gì bèo dạt hoa trôi
Đáng gì sao rụng cuối trời mưa phai
Đáng gì sợi tóc chẻ hai
Để cho hạnh phúc rơi ngoài tầm tay”

Nếu thi ca Mậu Binh nói lên cái trớ trêu thời đại, thì thi ca tình cảm của Hà Huyền Chi trau chuốt lời lẽ mặn nồng của con tim yêu đương. Hà Huyền Chi cho thế hệ mai hậu những lời nhắn gửi hay những dấu ấn về quê hương, những thông điệp về tình cảm con người được bộc lộ tự do của cái khát vọng yêu đương như một sự tự nhiên của trời đất ban phát. Để sau này con cháu chúng ta có cơ hội biết về thời loạn ly của đất nước, cũng như tìm thấy muôn ngàn án tình thơ lãng mạn của nhà thơ đã trải dài cả cuộc đời cho văn chương”. MPĐ.

Tôi cũng nhận đươc những cảm nghĩ của thi sĩ Nghiêm Xuân Cường từ Michigan chia sẻ khi anh viết về Hà Huyền Chi:

“Thi sĩ Hà Huyền Chi là một con nguời hào phóng, hết mình với anh em, hết lòng vì nghệ thuật. Thơ Hà Huyền Chi thật dồi dào phong phú về âm điệu, thể luật cũng như về đề tài mà nhất là đề tài tình yêu. Chúng tôi cũng rất may mắn đã có duyên và đuợc sinh hoạt văn nghệ với anh chi. Hà Huyền Chi vài lần khi còn ở Seattle, TB Washington. Có lần sau khi chàng dự tiệc về, khi tôi gọi dây nói chuyện trò ngày hôm sau, thi sĩ Hà Huyền Chi tâm sự: “Em biết không, hôm qua khi về sau 2 giờ sáng, anh thức làm thơ luôn tới sáng một hơi mười mấy bài thơ!”. Làm thơ xong, anh đi làm luôn. Đó là tinh thần yêu thơ của người thơ Hà Huyền Chi đó. Tôi nhớ mãi một bài thơ trong cả ngàn bài thơ của anh, mà bài nào cũng đầy ắp ý và đúng niêm luật, đó là bài “Tan Tác” (trong “Đời Bỗng Dưng Thừa”). Xin chỉ trích đoạn đầu và vài đoạn cuối:

“Quán rượu nằm ven biển,
Đêm mưa lạnh mù trời
Chỗ ngồi quen ai chiếm,
Gã lênh đênh như đời

Xong một đời tỵ nạn,
Tàn một kiếp thuyền nhân,
Gã say buồn thê thảm
Đêm qua đã từ trần.
Ôi em bé mồ côi
Bị bắt theo hải tặc
Có hay chăng bên trời
Cha em vừa oan thác
Bên cánh rừng viễn xứ
Thêm xác người Việt Nam
Ngàn nấm mồ vô chủ,
Chưa biết mùi khói nhang…”

Chỉ một bài thơ thôi mà cho chúng ta thấy cái ngậm ngùi đau thương của một kiếp người và cái tình người bao la trong thơ của người thơ Hà Huyền Chi. Bây giờ nếu có thể tưởng tượng là cái tình người và sự phong phú về ý thơ và vần điệu ấy được nhân lên vài trăm lần với muôn bài thơ của Hà Huyền Chi thì ta sẽ thấy vuờn thơ của Hà Huyền Chi xinh đẹp biết bao nhiêu nữa ?” NXC.

Kế đến là lời đóng góp cho bài viết do thi nhạc sĩ Nguyễn Đăng Tuấn tại New Jersey nhận định về thơ Hà Huyền Chi:

“Hà Huyền Chi, thơ anh với tôi như những giòng thơ quê hương trong cõi đời u uẩn, nhưng nó lại như giòng suối ngọt ngào mang những tình tự chất ngất yêu đương trên phương diện tình cảm, anh viết về người bạn đời của anh mà anh âu yếm gọi là “Nửa Kia Ơi”:

“Chót đã tiêu hoang nửa cuộc đi
Đừng buồn ta nhé, nửa kia ơi
Cho dù tai tiếng hơn tăm tiếng
Đối diện lương tâm chẳng hổ ngươi
Chẳng ngán thiên lôi chẳng sợ tri
Rượu chè, cờ bạc tý ty thôi
Trăng hoa quen thói, em thừa biết
Đời vẫn cùng em đũa có đôi

Vẫn câu chung thủy là tâm niệm
(Đáy sóng mò trăng có lúc thôi)
Cung kiếm mạt thời, đời mạt kiếp
Chỉ còn em đó, nửa kia ơi!”
(Hà Huyền Chi, tập “Thơ Trong Da Ngựa”)

Thơ Hà Huyền Chi có lúc đến độ mạnh bạo với mọi người trong hai cả lãnh vực: Thơ tình yêu nam nữ cùng cảm nhận tiếng gọi yêu thương hay thơ nói lên thân phận con người lưu vong – người lính bị bẻ súng – cùng gửi lửa trực diện về quê nhà đang bị hoành hành, đọa đầy tại quê hương bởi lũ quỷ dữ, tai ương CSVN, “Đọc Thép Đen”:

“Ngươi ở thiên đường xơ xác ấy
Ráng cùng cầm thú sống qua ngày
Răng đen mã tấu u ơ dạy
Kẻ sĩ ngồi nghe đủ đắng cay

Ngươi mang nghiệt ngã trên vai mỏi
Giấu dạ dầy trên đỉnh tháp cao
Nỗi nhớ chôn theo ngày tháng tủi
Chút lòng kiêu hãnh có hư hao ?

Sâu còn có tổ để thu mình
Ngươi có gì sau những nhục hình
Ba phân chiếu hẹp phơi thân ghẻ
Mộng vẫn sa trường ngút lửa binh…”

Thơ Hà Huyền Chi, được truyền đi mạnh mẽ, với ca khúc “Lệ Đá” mà anh viết lời. Hơn thế nữa, anh viết ròng rã cả hằng bốn mươi năm nhiều số lẻ, từ “Không Gian Vương Dấu Giầy”, cho đến các bài thơ được mang đều đặn lên Net ngày hôm nay, hầu như mỗi tảng sáng sớm chúng tôi nhận đều đặn một hay hai bài thơ mới từ anh. Sáng nay tôi lại tìm thấy “Mai Này Núi Gọi Sông Thưa”:

“Lưng chiều thả nhớ về em
Thả dòng khói lãng bay lên đỉnh sầu
Mai này đời mãi bên nhau
Bao xa cũng tới bao lâu cũng chờ

Mai này núi gọi sông thưa
Để ta làm gió làm mưa với tình”

Thơ tình Hà Huyền Chi với hiện hữu của từng người nữ, qua văn chương, qua chữ nghĩa, đã đẩy ra hàng hàng tác phẩm. Sự uốn nắn trong ngôn ngữ thơ Hà Huyền Chi thường trải đầy mật ngọt trong từ, trong ý, tôi đọc “Em Nằm Võng Trong Hồn Ta Đó”:

“Ta muốn khép ngàn thu mắt đá
Sầu em từng đóa còn y nguyên
Mai em trở gót chừng ta đã
Theo hạc bay về cõi rất riêng

Toan nuốt trọng những lời em hứa
Cũng hề chi vàng đá thay mầu
Hoài công gõ trái tim không cửa
Đời không đau tình nghĩa cũng đau

Mưa rất nhẹ sao thừa dông tố
Gió vô tâm cười nát tịnh yên
Em nằm võng trong hồn ta đó
Phật là em, ma cũng là em”

Thơ tình Hà Huyền Chi tỏa hương tình của sự nhung nhớ trằn trọc tràn dâng, của sự lãng mạn tình si như trong “Hạt Nhớ”:

“Thì ra em cũng nhớ chàng
Cũng trong cơn tỉnh bàng hoàng mê lâm
Thì ra biển nhớ trong tâm
Lúc xa muôn dặm, khi gần tấc gang

Sóng ngầm lớp lớp, hàng hàng
Đem vui bất tận, cũng mang buồn về
Trang thư viết vội gửi đi
Mỗi dòng, mỗi chữ thầm ghi bao tình

Thì ra em cũng giống anh
Vắt từng hạt nhớ long lanh tặng người”

Thơ tình Hà Huyền Chi vẫn là những ánh sao đêm tình tự soi sáng những vùng biển cả yêu thương bất tận, yêu nhau dài lâu như bài thơ 100 câu “Đủ Lãng Quên Đời”:

“Mình đến tình nhau rất thảnh thơi
Như đôi cá nhỏ lãng quên đời
Em từ thác lệ lao mình xuống
Anh ngược dòng oan bỏ cuộc chơi

Tình cờ không hẹn mà ta gặp
Thấy ở lòng nhau chút biển trời
Thấy nhạc đẫy hồn vui réo rắt
Thơ như triều sóng dục sông trôi

Thì ra đôi cá sau mùa hạn
Càng nhớ sao đâu, nhớ biển trời
Lại quấn lấy nhau sau kiếp nạn
Với nhau cũng đủ lãng quên đời”.

Rồi nhiều lần trong ngòi bút đó, Hà Huyền Chi diễn tả con tim rung động qua lời lẽ bàng bạc yêu đương như trong thơ “Như Chiều Ngây Trôi”:

“Lén ôm cành thẹn trong tay
Lá kia chưa động, lòng này vui ngang
Lén hôn mười ngón tay nàng
Nghe thơm ý nhạc ngút ngàn thang âm

Cành vui dường đã xanh mầm
Võng đào đã ướm còn ngần ngại treo
Lén hôn tóc gió môi kiêu
Nàng vờ không biết như chiều ngây trôi”

Hà Huyền Chi viết lên những dòng thơ phản kháng, chống đối Cộng Sản hiên ngang như cái thuở tung hoành ngang dọc của “Không Gian Vương Dầu Giầy”, của hồn binh lửa chinh chiến ghi dấu quân hành, song song bên cạnh đó Hà Huyền Chi cho thấy hồn lãng mạn của con tim son trẻ qua hàng trăm bài tình thơ mà tôi có dịp xem qua, tôi vẫn biết nhà thơ này vốn có nhiều thơ hơn là số thơ tôi đã xem, và nguồn thơ sẽ còn nhiều như mỗi sáng sáng trong các forums bạn bè vẫn có dịp thưởng lãm cái nguồn thơ hình như cảm hứng vô tận của nhà thơ vẫn mãi mãi, Hà Huyền Chi son trẻ và đậm đà mà tôi có hân hạnh được ghi đôi dòng về anh”. NDT-NJ.

Một người bạn thơ khác vốn thích thơ Hà Huyền Chi qua những vần thơ về tình cảm cũng như về quê hương trong chiến tranh, anh Trang (Peter) Morita đã nhận xét về Hà Huyền Chi như sau:

“Tôi thường xem thơ của anh Hà Huyền Chi trên các báo chí thuở Sài Gòn của những năm dầu sôi lửa bỏng 67, 68. Tôi bắt gặp anh cưỡi chiếc xe Rumi vàng rất phong trần, lang bạt như chất thơ của người lính dù Hà Huyền Chi. Ngoài bản nhạc “Lệ Đá” nhạc của Trần Trịnh mà lời do Hà Huyền Chi đóng góp, tôi còn nhớ nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã phổ nhạc phẩm vô cùng thương tâm “Goá Phụ Ngây Thơ”, do thơ Hà Huyền Chi. Mời các bạn lắng nghe lời thơ bi thương khi người lính không muốn thấy người tình của mình sớm trở thành người goá phụ ngây thơ mang tang chồng theo vận nước nổi trôi:

“Đà Lạt lạnh môi em vừa đủ ấm
Bởi chia ly nên đẹp chuyện tương phùng
Con dốc nhỏ hoa anh đào lấm tấm
Lối sỏi mòn hai đứa đã đi chung
Em nhẩm tính trên lóng tay tháp bút
Là cách xa biền biệt tháng năm trôi
Tuổi trẻ ơi sao quá nhiều nước mắt
Chiến tranh ơi bóng tương lai mịt mù”

Người lính dẫu thương người tình bé nhỏ đậm đà, nhưng anh không muốn biến tình yêu thành một định mệnh nghiệt ngã:

“Đơn xin cưới, một tờ đơn xin cưới
Anh thảo rồi, anh lại xé em ơi
Bởi không muốn thấy người yêu nhỏ bé
Một sớm nào, thành góa phụ ngây thơ
Nên đơn cưới, một tờ đơn xin cưới,
Anh viết rồi, rồi anh lại xé em ơi”

Người lính thảo đơn xin cưới xong, rồi chính tay anh lại xé nát con tim vì không muốn làm khổ đời người yêu. Như vậy có phải chăng thơ Hà Huyền Chi đã nói lên cái đau khổ cho tuổi trẻ yêu nhau trong cái thực tế quá oan khiên của một dân tộc trong thời chinh chiến điêu linh ? Tôi thấy những dòng thơ anh mang cái triết lý nhân bản, cao thượng và chính nó phản ảnh cái cảm nghĩ thật lòng của Hà Huyền Chi hay cái trăn trở suy tư của hằng ngàn đồng đội của anh, dù là rất ngậm ngùi trong tâm thức, vì đã biết khổ rồi thì đừng bao giờ tiến đến hôn nhân:

“Thượng Đế xa vời, thiên đàng đóng cửa
Tiếng cười chưa tan, nước mắt ròng ròng
Số phận con người, đồng tiền sấp ngửa
Em, em ơi, em có hiểu gì không ?
Nên đơn cưới, một tờ đơn xin cưới
Anh viết rồi, rồi anh lại xé em ơi
Anh không muốn thấy người yêu anh nhỏ bé
Một sớm nào thành góa phụ ngây thơ”

Hà Huyền Chi còn quá nhiều tình thơ ru ngủ cả một thế hệ của “Lệ Đá”, của “Góa Phụ Ngây Thơ”, tôi chọn bài “Đợi Chờ” để ta cùng đọc ra cái chất lãng mạn của chàng trai từ đất Hà Đông:

“Ước gì em trốn trong thư
Để anh giải mối tương tư đêm ngày
Sẽ ghì em giữa vòng tay
Chữ nghiêng ngả thẹn, chữ gầy guộc van
Chữ thương nến đỏ, đêm vàng
Chữ yêu rượu ướp môi nàng môi anh
Uống no dòng nhớ, sóng tình
Lấp đầy ngày tháng điêu linh nỗi chờ
Ước gì em trốn trong mơ
Anh lên Bắc cực ngủ cho đã đời”.

Hà Huyền Chi rất khéo léo dùng nhiều loại thể thơ khác nhau diễn đạt ý tưởng của anh, bài lục bát kế tiếp cho thấy tình thơ Hà Huyền Chi vẫn chín mùi, vẫn mượt mà, bóng bẩy, nhẹ nhàng, và linh động nhưng rất trữ tình, thâm thúy, bài “Em Có Bồn Không”:

“Mây thương về đậu vai rừng
Suối in bóng nhớ ngập ngừng biếng trôi
Buồn em về đậu vai tôi
Hắt hiu ngày cũ rã rời tình đau
Cười đi cho vỡ tim nhau
Khóc đi cho lụt địa cầu nhé em
Dặm sầu tưởng đã chân quen
Bất đồ đá chạy sông nghiêng mấy trùng
Mai nầy em có buồn không
Khi tôi nằm xuống với lòng quạnh hiu ?”

Tôi cho là thơ Hà Huyền Chi là ngôn ngữ của văn chương, ngôn ngữ của những con tim rung động khi con người yêu nhau và là một thứ ngôn ngữ rất cần thiết của cuộc sống này vậy.” T. Morita”.

Xuyên qua những nhận xét của các thi, văn, nhạc hữu có những cái nhìn về thơ Hà Huyền Chi từ nhiều góc cạnh khác nhau, ta thấy rằng thơ Hà Huyền Chi thể hiện nét nhân bản, chân chất trong thơ anh mà anh bạn thơ gốc y khoa Trang Morita đã tâm sự qua bài “Goá Phụ Ngây Thơ”. Tôi đồng ý với quan điểm của anh Trang Morita.

Nói đến đây tôi nhớ lại bài thơ “Hôn” của thi sĩ Phùng Quán, thơ ông nói lên cái đau khổ của người đi chinh chiến, Phùng Quán đã từ chối hôn người yêu bé nhỏ, vì ông quan niệm nếu làm như vậy không khác nào ta chỉ đem nàng vào biển cả hôn mê, khổ lụy của tình yêu, để rồi sau này người chiến binh tử trận thì đời nàng mang khăn tang góa chồng:

“… Yêu nhau ai không muốn
Gần nhau và hôn nhau
Nhưng anh, anh không muốn
Hôn em trong tủi sầu

Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường
Đôi môi tươi đạn xé
Chưa bao giờ được hôn

Nhưng dù chết em ơi
Yêu em anh không thể
Hôn em bằng đôi môi
Của một người nô lệ”.
Phùng Quán
(1932-1995)

Trong tương quan cùng chủ đề “Goá Phụ Ngây Thơ” của Hà Huyền Chi, nhà thơ Hữu Loan cũng làm bài thơ đã đi vào lịch sử của vườn thi ca và âm nhạc Việt Nam “Màu Tím Hoa Sim”, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc:

“… Tôi là chiến binh xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn, nàng không đòi may áo cưới

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về…
Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê…!”
Hữu Loan
(1916-?)

Phùng Quán, Hữu Loan và Hà Huyền Chi đã cùng nhìn về đề tài quê hương, tình yêu và chiến tranh. Chiến tranh oan nghiệt tàn phá quê hương và đã đe dọa hoặc tàn phá tình yêu, những sự kiện chiến tranh tiêu diệt, chết chóc bi thảm mà người dân không ai muốn, tuy vậy lịch sử văn học Việt Nam đã in dấu cả ba nhà thơ đã chia sẻ cùng tâm sự đau buồn của một thời Việt Nam đắm chìm trong khói lửa chiến tranh, để rồi sau này 100 hay 200 năm nữa,… có thể con cháu chúng ta giở lại trang sách xưa, tìm về hiểu cội nguồn quê hương ngày cũ, dấu ấn xa xưa của bài “Hôn”, thơ Phùng Quán vẫn còn đó, “Màu Tím Hoa Sim”, thơ Hữu Loan được cất cao tiếng hát và “Góa Phụ Ngây Thơ”, thơ Hà Huyền Chi là cái mốc thời gian nhắc nhỡ thuở Nam Bắc phân tranh, mà lời bài hát hay bài thi ca này do người thi sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ cũng đã viết lên những bài thơ độc đáo với “Saut Đêm”, với “Không Gian Vương Dấu Giầy” và với dòng thơ ngậm ngùi nhưng bất tử “Di Chúc Cho Con”:

“… Con yêu dấu, nếu ngày mai bố chết
Đừng xót xa cho kiếp bố nhục nhằn
Khóc vừa đủ cho một lần vĩnh biệt
Bố lìa đời không một chút ăn năn…”
Hà Huyền Chi (1935-XXXX)

Bao nhiêu ân tình Hà Huyền Chi dành cho quê hương đất nước, bao nhiêu ân tình thơ Hà Huyền Chi dâng hiến cho đời, gia đình anh không quên anh, bạn bè anh không quên anh, người ái mộ thi ca Hà Huyền Chi không quên anh và quê hương Việt Nam sẽ không bao giờ quên người thi sĩ mà tôi xin phép được gọi là:

“Mãi mãi Hà Huyền Chi, người tình son trẻ.
Mãi mãi Hà Huyền Chi, người lính không già”.

Xin cám ơn người thi sĩ màu áo hoa rừng, dù rằng anh đang tung cánh dù trên không trung hay đang cưỡi chiếc Rumi vàng của một thuở dấu yêu Sài Gòn năm cũ, chính anh đã đem cho đời qua sự đóng góp những áng thi ca đã làm thăng hoa thêm cho vườn hoa văn học Việt Nam.
Một lần nửa chúng tôi xin chân thành cám ơn anh.
Việt Hải, Los Angeles.

Phụ chú:
1) Xin cám ơn quý anh Dương Viết Điền, Mạc Phương Đình, Nghiêm Xuân Cường, Nguyễn Đăng Tuấn và Trang Morita đã cùng tôi gửi những dòng này nhân ngày kỷ niệm “Happy 40th Anniversary” của anh Hà Huyền Chi và chị Quý Hương.
2) Cám ơn anh Hà Phương Hoài vì nhiều tài liệu tham khảo website Tam Hà do anh Hà Phương Hoài, web admin cung cấp.
3) (*): Copy CD Quý Hương, liên lạc về: hahuyenchi@aol.com

Việt Hải (10/03)

Share this post