Mạn Đàm về Xuân Hương Nữ Sĩ – Lê Hoàng Hải

Mạn Đàm về Xuân Hương Nữ Sĩ – Lê Hoàng Hải

Mình ít viết về phụ nữ trong lịch sử, ngoài những người vĩ đại có tính hình tượng như vua Trưng vua Triệu bà Lê Chân, hay cổ kim hiếm có như bà Thái Thị Huyên, cô Nguyễn Thị Giang… Còn lại, những cái tên thời danh như các Bà lớn Nam Phương Hoàng Hậu, Madame Nhu… mình chưa bao giờ muốn để ngòi bút lạnh lùng phô bày cuộc đời các Bà trên trang giấy. Vì sao vậy?

Người phụ nữ là kỳ quan của Tạo Hoá, nói theo sách Sáng Thế Ký của kinh Cựu Ước, phụ nữ là tạo vật sau cùng mà Thượng Đế tác tạo nên, là đứa con út nên phải được cưng nhất, là tạo vật sau cùng nên hoàn thiện nhất và đầy đủ nhất, thiếu người phụ nữ, chẳng phải thế giới này sẽ không còn hoàn hảo nữa ư?

Những người phụ nữ đã gặp trong cuộc sống, từ bạn bè sơ giao cho đến thân nhân trong nhà là mẹ và em, dù tiếp xúc cự ly gần hay xa, thú thật, mình chưa thể hiểu gì về tâm hồn của họ. Chỉ có thể đứng dưới thấp mà chiêm ngưỡng kỳ quan ấy với sự trân trọng và ngưỡng mộ.

Mình từ trước tới giờ, hầu như là kẻ thất bại trong chuyện hiểu tâm tư phụ nữ. Thì nói gì đến những người ở cách xa thời đại hay có thân phận đặc biệt, làm sao một kẻ thất phu vụng về ngốc nghếch như mình có thể đủ thấu hiểu mà viết cho tiệm cận nhứt với sự thật hay tâm tư của các Bà ngày trước.

Tuy nhiên, nếu viết một cuốn sách về những nhân vật người Việt lẫy lừng của lịch sử cận đại, mà không viết cụ thể về người phụ nữ nào, thì lại là thiếu sót trầm trọng không thể bù đắp. Mình bắt đầu với Xuân Hương nữ sĩ, một người mà sự hiện như có như không giữa vận nước nổi trôi. Chính sử về bà, xuất thân cho đến hành trạng, có năm ba nguồn ghi rất khác nhau, còn lại chủ yếu là giai thoại dân gian. Thậm chí tên thật của bà, cũng không thống nhất, Xuân Hương chỉ là bút hiệu. Người hậu thế như mình thực sự rất bối rối khi gặp những trường hợp thế này. Tuy nhiên, với nữ sĩ, lại là một điều hay, để thân phận thật của bà ngủ yên giữa những thị phi của miệng đời lại là tuyệt diệu. Con nhà ai, quê quán ở đâu, chết lúc nào… thôi không bàn tới.

1. Bánh trôi nước

Xuân Hương nữ sĩ sinh ra trong giai đoạn cuối Lê đầu Nguyễn, cùng thời với các danh sĩ Nguyễn Du, Phạm Đình Hổ, Phạm Thái, Phạm Quý Thích… Nhiều con cháu họ Hồ đã cất công sưu tra, cho rằng gốc gác của nữ sĩ là từ Nghệ An, nhưng cũng không ai dám chắc. Chỉ có một thuyết nói chung chung và phổ thông hơn cả, là cô sinh ra trong một gia đình tôn quý, nhưng cha mất sớm, rồi mẹ đi tái giá, gả nữ sĩ làm vợ lẽ cho người ta. Có thuyết khác lại nói Xuân Hương mồ côi mẹ, có cha là một cụ đồ nổi tiếng, đã dắt cô đi dạy học nơi này nơi kia. Thậm chí, có người còn đặt câu hỏi, liệu có thật có một nhân vật Hồ Xuân Hương là tác giả của những bài thơ Nôm đặc biệt, hay chỉ là thơ dân gian của nhiều người gộp lại; bởi thư tịch sớm nhất viết về nữ sĩ, cũng chỉ mới xuất hiện năm 1916 mà thôi.

Thời này, Xuân Hương là thân nữ, nhưng giỏi thơ phú chữ nghĩa, thực là hiếm có. Hơn nữa, đọc thơ của nữ sĩ, thấy khí khái mạnh mẽ độc lập, không cả nể luồn cúi. Nên xét theo logic, thì thuyết cô chấp nhận đi làm lẽ vì hoàn cảnh có vẻ khá yếu ớt không thuyết phục.

Thời cuối Lê, thiên hạ đại loạn, họ Lê họ Trịnh họ Nguyễn chưa đủ bát nháo, lại có Tây Sơn chọc trời khuấy nước, phía bắc lại có giặc lăm le sang chiến, non sông một phen thất điên bát đảo. Người phụ nữ tài sắc trong cảnh ấy, gặp cảnh truân chuyên tưởng cũng không có gì lạ. Xuân Hương nữ sĩ từ đâu xuất hiện trên văn đàn, với tư cách là vợ lẽ thứ ba của ông chánh tổng Nguyễn Bình Kình, mà tên tục gọi là ông Tổng Cóc, lại có nguồn khác nói ông tên Nguyễn Công Hoà, người Phú Thọ. Mới đầu, người viết cứ nghĩ ông này là một nhân vật nhàn nhạt lắm tiền, với cái tên có phần không thanh nhã. Nhưng khi đọc nhiều thơ của Xuân Hương nữ sĩ, mới đem lòng hoài nghi rằng người như Xuân Hương tuyệt đối chẳng gá thân cho kẻ tầm thường.

Như đã nói ở trên, thời thế loạn ly điên đảo, thân phận người phụ nữ mỏng manh như bèo trôi dạt, thì chuyện làm vợ lẽ được xã hội thời đó nhìn bằng một nhãn quan chắc chắn rất khác bây giờ. Có lẽ, người xưa xem đó là chuyện bình thường. Trong guồng quay đó của xã hội, Xuân Hương nữ sĩ cũng không nằm ngoài cho đặng. Nhưng rất mạnh mẽ, nữ sĩ đã nhiều lần lên tiếng trong thơ của mình, muốn “chém cha” cái phận chung chồng, dù rằng Xuân Hương vẫn được ông Nguyễn Bình Kình yêu chiều như vàng như ngọc.

Một cách thận trọng, người viết chọn thuyết rằng Hồ Xuân Hương sinh ra trong một gia đình tôn quý, được cưng chiều và học hành, nhưng do thời cuộc suy vi, gia cảnh tan tác, lại gặp người tài hoa như ông Kình bảo bọc, nên “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, để cho con tạo xoay vần…

2. Khóc Tổng Cóc

Tương truyền, ông Nguyễn Bình Kình xuất thân là hậu duệ của ông nghè Nguyễn Quang Thành – một người giỏi chữ nghĩa và đậu tiến sĩ năm 1680 thời vua Lê Hy Tông. Có thể xuất thân trong gia đình khoa bảng danh giá, nên ông Kình được thừa hưởng văn tài của tiền nhân. Mặt khác ông cũng giỏi võ nghệ, gan góc, dám đương đầu với những cường hào trong vùng. Có nhiều giai thoại về ông, khi bị người khác đánh tiếng đe doạ từ xa, ông chỉ dắt theo một người tiểu đồng rồi đi thẳng tới gặp đối phương, vào hang hùm mà không sợ hãi, làm kẻ thù phải bị khuất phục.

Ông Kình đăng lính, được thăng chức Đội, rồi được bầu làm chánh tổng cai quản một vùng. Một con người thú vị, có tài kiêm văn võ, lại có gia sản, . “Cóc” là tên xấu ông được cha mẹ đặt cho lúc nhỏ để dễ nuôi. Cái tên “Tổng Cóc” là nickname mà Xuân Hương đặt cho ông khi hai người yêu nhau.

Ông Kình đã có hai vợ, Xuân Hương là vợ thứ ba. Ông yêu chiều Xuân Hương, không muốn bà phải sống chung chạ trong nhà với hai bà trước, nên ông cho người trồng sen trong một cái hồ lớn, rồi lại cho làm một cái đảo nhỏ trong hồ, cất một căn nhà trên đó cho Xuân Hương ở, làm cầu gỗ từ bờ đi ra, xung quanh bờ ông trồng cây dương liễu, dưới hồ thả đủ loại cá. Xuân Hương chỉ ở đó, tiếp bạn uống trà uống rượu, ngâm thơ bình văn, ngày tháng sống đời tiêu dao thoát tục. Lại nữa, khi Xuân Hương thấy buồn chán, ông cùng cô đi du sơn ngoạn thuỷ, nhàn tản phong lưu tuyệt thế.

Tuy nhiên, lẽ đời, Xuân Hương sống như vậy giữa những kẻ bần cố nông, thì bị ghét tước, bị đơm đặt mỉa mai thậm chí phá hoại cũng là lẽ thường. Chưa kể, còn hai bà vợ lớn bị bỏ bê meo mốc ở nhà, sự ghen tức đố kỵ chắc chắn vô cùng khủng khiếp. Ông Kình đứng giữa những thị phi đó, không khỏi buồn bực ức chế. Còn Xuân Hương, cứ sống tiêu dao tự tại, không tham gia vào cuộc sống ở nhà lớn của ông Kình, tình cảm lúc mặn nồng lúc phai nhạt, như có như không. Vấn đề bắt đầu nảy sinh, mỗi ngày một chút.

Đến một thời điểm, ông Kình không chịu nổi những lời ong tiếng ve, gia cảnh lại bắt đầu khó khăn. Ông ngỏ ý muốn Xuân Hương cùng cộng tác với chuyện nhà, Xuân Hương cũng đồng ý. Có giai thoại nói khi Xuân Hương đi xách nước, bị té trên đường, mấy người làng cười chê, cô đứng dậy đọc câu thơ:

“Giơ tay vói thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài!”

rồi điềm nhiên bỏ đi trong sự ngơ ngác của mọi người.

Mối tình của Xuân Hương với Chánh Tổng Nguyễn Bình Kình cũng dần dần phai nhạt, có giai thoại nói ông Kình buồn bực chuyện nhà bỏ đi biền biệt rất lâu, cô cũng từ đó mà bỏ căn nhà thuỷ tạ ra đi, viết lại bài thơ Khóc Tổng Cóc:

“Chàng Cóc! Chàng cóc ơi!

Thiếp bén duyên chàng có thế thôi

Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé

Nghìn vàng không chuộc dấu bôi vôi.”

Có thể thấy sự dứt khoát của Xuân Hương khi dùng hình ảnh nòng nọc đứt đuôi, nhưng câu cuối, lại gây nhiều ám ảnh. Lẽ thường có thể nghĩ, gọt gáy bôi vôi là hình phạt thời xưa để hạ nhục người phụ nữ chửa hoang. Xuân Hương bị hạ nhục bởi dân làng và những người vợ khác, cô coi đó như một kiểu “bôi vôi” bằng tinh thần hay chăng? Nhưng sau này, sau những thăng trầm thay đổi trong đời, trải phong trần, làm bài thơ Mời Trầu, Xuân Hương có dùng hình ảnh lá trầu đã quệt vôi, dễ làm mình liên tưởng đến dấu bôi vôi năm xưa:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương đã quệt rồi,

Nếu phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi!”

Một chút phiêu bồng, trộm nghĩ, hơn cả những gì thanh bạch của cô gái vừa lớn, Nguyễn Bình Kình còn là người đầu tiên mà Xuân Hương đã trao hết tâm hồn và thần trí, một giấc mơ yên ấm về duyên cau trầu ăn đời ở kiếp, đánh mất rồi, nghìn vàng cũng không bề chuộc lại. Khóc mối tình với Tổng Cóc, rồi đi vào nhân gian những bước chông chênh!

Share this post