Mậu Thân & Truyền Thông Mỹ

Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân do Tổng Bí Thư Lê Duẩn của Cộng Sản Bắc Việt phát động trong một chiến dịch có tên gọi là “Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy”, bắt đầu vào rạng sáng mùng một Tết Âm Lịch, nhằm ngày 30 tháng 1 năm 1968, cách đây đúng 50 năm, được cho là khúc quanh quan trọng của cuộc chiến Việt Nam đưa đến những thay đổi trong chính sách của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cộng Hòa trong những năm sau này.

Hơn một trăm thành phố và thị xã tại Nam Việt Nam đã đồng loạt bị tấn công bởi Cộng quân. Trong số các thành phố bị chiếm trong bốn ngày đầu tiên của cuộc tấn công có Huế, Ðà Lạt, Kontum, và Quảng Trị; và ở khu vực biên giới phía Bắc của Nam Việt Nam, có năm thị xã nằm dọc theo biên giới cũng đã bị đánh chiếm. Ðồng thời, lực lượng của quân Cộng Sản đã pháo kích vào nhiều sân bay và một số căn cứ quân sự của quân đội đồng minh.

Thế giới bị rúng động khi chứng kiến cảnh Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn đã bị một nhóm đặc công Cộng Sản tấn công và bao vây phía bên ngoài trong sáu tiếng đồng hồ, và cố đô Huế bị tràn ngập bởi lực lượng quân Cộng Sản và chỉ bị đẩy lui bởi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ hợp lực cùng một số đơn vị của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa vào cuối tháng 2 năm đó.

Mặc dù có những quan điểm ban đầu cho rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một chiến thắng của Cộng Sản, nhiều phân tích gia quân sự và sử gia sau này đã nhận định rằng trận Tết Mậu Thân thật ra là một thất bại quân sự của họ. Quân du kích Cộng Sản nằm vùng, núp dưới chiêu bài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, bị thiệt hại một nửa trong tổng số 80,000 tay súng của họ và đã không chiếm giữ được một mục tiêu nào sau cuộc tổng tấn công ngoại trừ Huế trong khoảng gần một tháng. Không có một cuộc nổi dậy nào của nhân dân miền Nam như Lê Duẩn và Bộ Chính Trị miền Bắc dự tính lúc ban đầu. Và vì lực lượng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị thiệt hại quá nặng và có thể nói đã bị vô hiệu hoá, không thể chiến đấu được như trước cho tới cuối cuộc chiến, và kể từ lúc đó, các cánh quân từ miền Bắc trở thành lực lượng chủ động mở ra những cuộc tấn công sau này, đồng thời với sự rút lui của quân đội Mỹ và việc cắt viện trợ cho quân đội miền Nam, đã đưa tới kết quả là sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1975.

Vậy, tại sao từ một sự thất bại quân sự trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân và sau đó đã biến thành một thành công về mặt ngoại giao và chính trị cho Cộng Sản Bắc Việt? Nó biến dư luận của người Mỹ quay sang chống chiến tranh và châm ngòi cho những cuộc biểu tình phản chiến ở khắp nơi – từ thủ đô Washington cho tới các sân trường đại học. Cuối tháng 2 năm đó, nhà báo lão thành Walter Cronkite của đài CBS đưa ra tiên đoán “kinh nghiệm xương máu ở Việt Nam đã đến hồi kết thúc trong tình trạng bế tắc”. Một tháng sau đó, Lyndon Johnson bị thua ứng cử viên Eugene McCathy với chiêu bài chống chiến tranh trong cuộc bầu cử sơ bộ đảng Dân Chủ tại Wisconsin nên đã quyết định rút lui, không tiếp tục tái tranh cử và bắt đầu chuẩn bị cho những cuộc thương thuyết hoà đàm tại Paris. Ðến cuối tháng kế tiếp, Tướng William Westmoreland yêu cầu xin tăng viện thêm 200,000 quân đã bị từ chối. Vị tư lệnh của quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam sau đó đã bị bãi chức và được thay thế bởi Tướng Creighton Abrams.

Nhìn vào những sự kiện trên và sự chuyển hướng trong dư luận quần chúng Mỹ từ ủng hộ sang chống đối chính sách của chính phủ Mỹ về cuộc chiến tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cho rằng giới truyền thông Mỹ phải chịu một phần lớn trách nhiệm trong việc lèo lái dư luận theo quan điểm của họ.

Cuối năm 1967, quân Cộng Sản cài đặt ở miền Nam phải đối diện với rất nhiều khó khăn. Sự có mặt đông đảo của lực lượng quân đội Mỹ với gần nửa triệu quân được đưa vào chiến trường Việt Nam đã đặt du kích quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào thế bị động và vì vậy quân Cộng Sản Bắc Việt bắt đầu can thiệp vào chiến trường miền Nam để làm giảm bớt áp lực cho các cánh quân du kích miền Nam của họ.

Quyết định của Hà Nội để phát động cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân có thể phát sinh từ sự tuyệt vọng đó. Kế hoạch của cuộc tổng tấn công là nhằm huy động toàn bộ lực lượng từ hai mặt Nam và Bắc để cố chiếm cho được một số tỉnh phía bắc của Nam Việt Nam với các cánh quân chính quy trong khi châm ngòi một cuộc nổi dậy tại đô thị bởi các nhóm du kích Cộng Sản miền Nam để gây bối rối cho người Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam – và qua đó, hy vọng có thể làm hồi sinh lại tinh thần chiến đấu đang ngày một suy sụp của các cánh quân du kích.

Cuộc phản công của quân đội miền Nam phối hợp cùng quân đội Mỹ không chỉ tiêu diệt một nửa lực lượng quân du kích Cộng Sản ở miền Nam như nói ở trên mà còn, nếu tính luôn cả cuộc giải vây cho căn cứ Khe Sanh, đã gây thiệt hại nặng nề cho quân Cộng Sản Bắc Việt, làm tổn thất 20 phần trăm lực lượng của họ ở miền Nam và khoảng 33,000 lính chính quy bị giết trên các chiến trường trong cuộc tổng tấn công. Với tất cả những thiệt hại trên nhưng Cộng Sản lại không đạt được thắng lợi nào đáng kể. Theo lượng định của quân đội Mỹ, đến cuối năm 1969, hơn 70 phần trăm dân số ở miền Nam được đặt dưới quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, so với 42 phần trăm vào đầu năm 1968.

Tuy nhiên, dân chúng Mỹ lại không hề hay biết về những sự thật này. Có thể nói ngay ở thời điểm khi những phát súng đầu tiên được bắn ra, thành phần chống chiến tranh trong giới truyền thông dòng chính ở Mỹ, trong đó có ký giả kỳ cựu Walter Cronkite của đài CBS, đã dựa vào những chi tiết sai lạc của cuộc tổng tấn công để chứng minh rằng cuộc chiến Việt Nam đã không đạt được thắng lợi như chính quyền Johnson tuyên bố lúc đó. Họ còn đi xa hơn, trình bày những cuộc tấn công thất bại vào Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn và một số nơi khác như là những biểu tượng chiến thắng của cộng quân.

Nhiều phóng viên thuộc các cơ quan thông tấn của Mỹ cũng đã cố tình biến những chiến thắng thật sự thành cuộc thất bại của quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa bằng cách gửi đi những bản tin thất thiệt và sai lạc… Một ví dụ điển hình là có một bản tin đánh đi cho biết quân du kích Việt Cộng đã tràn ngập năm tầng lầu của Tòa Đại Sứ Mỹ trong khi sự thật là nhóm đặc công này chỉ chiếm được phần bên ngoài và đã không hề lọt được vào bên trong toà nhà. Phóng viên của tờ Newsweek có mặt tại trận chiến Khe Sanh chỉ đưa ra cho dân chúng Mỹ thấy những hình ảnh chết chóc và bị thương của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ hay hình lính Mỹ nằm trốn dưới giao thông hào, nhưng lại không hề nhắc tới việc Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã liên tục đẩy lui những cuộc tấn công của quân Cộng Sản Bắc Việt và gây cho họ những thiệt hại đáng kể.

Ngày 27 tháng 2, trong một chương trình đặc biệt nửa giờ trên đài truyền hình CBS, ký giả Walter Cronkite, với khuôn mặt tỏ ra âu sầu, đã nói với khán giả của chương trình rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã chứng minh cho thấy quân đội Mỹ hiện đang bị “sa lầy trong một tình trạng bế tắc” – mặc dù các lực lượng của quân đội Mỹ lúc đó đang phá vỡ được cuộc bao vây căn cứ Khe Sanh và giải tỏa được những nút chặn cuối cùng của quân Cộng Sản tại thành phố Huế.

Sự việc đưa tin sai lạc của một ký giả lão thành như Cronkite và của hầu hết các cơ quan truyền thông ở Mỹ về những gì thật sự xảy ra trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã làm cho dư luận trong dân chúng Mỹ cũng như giới chính trị gia bị choáng váng. Sự ủng hộ của quần chúng Mỹ đối với cuộc chiến bị một cú đánh khá nặng trong khi những tiếng nói chống chiến tranh ngày càng mạnh hơn. Những cuộc thăm dò của Gallup vào tháng 12 năm 1967 về việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam có phải một sai lầm không cho thấy dư luận của dân chúng Mỹ chống hoặc ủng hộ là ngang nhau. Với những tin tức thất thiệt về cuộc tấn công làm cho tỷ lệ nghi ngờ về cuộc chiến nhích lên cao hơn trong cuộc thăm dò ngày 1 tháng 2, 46 so với 42 phần trăm. Ðến tháng 4, tỷ lệ của những người nghi ngờ cuộc chiến vượt lên thêm và dẫn trước tám điểm, và sự ủng hộ cho cuộc chiến tại Việt Nam không bao giờ gượng lại được như lúc ban đầu.

Như có người đã từng nhận định rằng Việt Nam Cộng Hòa thật sự không thua trên chiến trường nhưng đã bị thua ngay tại thủ đô Washington là điều hoàn toàn không sai. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa phần nào đã bị định đoạt từ cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Share this post