Mối Tình Thiên Thu – Minh Hân

Mối Tình Thiên Thu – Minh Hân

Với những người đã từng vượt biên trốn chạy Cộng Sản, tôi không biết thời gian qua đi, cũng đã khá dài, có làm phai mờ những ký ức đau thương nào đó đã từng trải qua, hoặc có muốn quên đi, khi cuộc sống mới an vui, thành đạt, vượt xa mơ ước ngày nào không? Nhưng với tôi, dù có sống tới …ngàn năm nữa, tôi cũng sẽ chẳng bao giờ quên từng chi tiết của một chuyến đi định mệnh! Dường như, những ký ức dẫu đau thương đó, lại là động lực giúp tôi sống, sống thật “đẹp” cuộc đời quý giá, với lòng tri ân tấm lòng cao cả của những NGƯỜI CHIẾN SĨ, trong đó có người yêu đầu đời của tôi. Tôi đã nhiều năm trăn trở, nên giữ riêng cho mình câu chuyện tình thật đẹp này hay viết ra để giúp nhau hi vọng rằng, giữa bóng tối hỗn loạn, đảo điên của cuộc đời, vẫn có những “đốm sáng” tình yêu thật sự, như chính tôi đã có diễm phúc được hưởng, sau tận cùng khổ đau? Và, tôi đã quyết định viết lại, đồng thời cũng thay mặt những người đồng hành cùng tôi trên chuyến tàu năm xưa, tưởng niệm những người anh hùng vô danh, trong đó có người yêu của tôi…

Bây giờ, tôi xin kể.

Anh tên Minh, Nguyễn Trí Minh.

Như bao người trai lớn lên trong thời loạn, anh đã rời bỏ sách đèn, lên đường nhập ngũ, vào thời kỳ ác liệt nhất của cuộc chiến.

Điều mà tôi hãnh diện và nể phục nhất nơi anh, là anh đã từ chối nếp sống trưởng giả, an nhàn, của gia đình giàu có, thân thế, để nhập ngũ cùng với các bạn bè trang lứa khi non sông cần đến. Con nhà giàu, đẹp trai, học giỏi…ba mẹ anh đã rất khổ tâm khi người con út của họ, không như các anh chị đều được ông bà lo lắng cho đi du học nước ngoài, bỏ ngang sau một năm học đại học bên Pháp, nhất quyết về nước không trở qua nữa. Rồi anh theo học Đại Học Khoa Học, bên cạnh trường tôi, Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Chúng tôi quen nhau ở cái thư viện nhỏ của trường tôi, vào mùa thi lúc nào cũng đầy kín, đa số lại là sinh viên bên trường anh. Lúc đầu mới quen, tôi không ưa chút nào cái vẻ “ngông nghênh” của anh và 2 người bạn anh, lúc nào cũng đi với nhau. Dần dần, tôi có cảm tình hơn vì thật ra họ vui vẻ, hòa nhã, đàng hoàng, lại hay ân cần giúp đỡ tôi…như giữ chỗ ngồi học trong thư viện vào mùa thi, chùi “bougie” cho cái xe Honda PC cũ của tôi không nổ máy…v..v..! Thỉnh thoảng chiều theo Minh và các bạn đi uống nước, tôi như cô em nhỏ nhất trong cái “gia đình” ấy, tha hồ được chiều chuộng…

Mùa hè 1972, chiến sự trở nên dồn dập. Vì mất một năm học nước ngoài, Minh không đủ tuổi ở lại học theo lệnh đôn quân của chính phủ, anh gia nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, bất chấp sự cản ngăn của ba mẹ anh, định lo liệu cho anh “trốn” ra nước ngoài lần nữa.

Tình cảm giữa chúng tôi chỉ thưc sự nảy nở từ khi Minh vào lính. Anh đi rồi, mỗi ngày tan lớp không thấy anh và các bạn ngồi ở lan can thấp bằng ống sắt bao quanh bãi cỏ sân trường chờ, tôi thấy nhớ…Thế mà trước kia, tôi hay vờ như không thấy, không biết…cho đến khi anh gọi, hoặc ra chặn đầu xe… hỏi chuyện bâng quơ! Tôi cũng nghĩ thương cho anh bị gián đoạn việc học, vì anh rất thông minh, học giỏi và cảm thấy buồn cho tình hình đất nước quá nguy nan!

Gặp lại anh khi anh đến nhà thăm tôi lần đầu tiên được đi phép, tôi đã mơ hồ thấy một định mệnh nào đó ràng buộc chúng tôi. Tôi chẳng còn nhận ra anh Minh thư sinh trắng trẻo nơi người đàn ông rắn rỏi trong bộ đồng phục Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức trước mặt mình, với mái tóc hớt cao và làn da sạm nắng. Ánh mắt anh vẫn sáng tinh anh và nụ cười vẫn hiền hòa… Tôi bị anh “chinh phục” hoàn toàn từ hôm đó!

Thời gian hạnh phúc nhất của chúng tôi lại là những ngày anh còn học trong quân trường. Tôi nôn nóng đến ngày Chúa Nhật để đi thăm anh, còn anh vui vì tìm thấy được cuộc sống có ý nghĩa hơn, đáng quý hơn qua sự rèn luyện gian khổ và tình chiến hữu thân thiết trong những chuyện anh kể tôi nghe.

Sau khi ra trường, anh đổi về miền Tây, tôi vẫn tiếp tục việc học, chúng tôi chỉ còn có những lá thư đi, về an ủi.

Một năm dài trôi qua, anh bất ngờ về thăm tôi một buổi trưa đầu mùa hạ, đón tôi ở sân trường. Tôi ngỡ ngàng nhìn anh trong bộ đồ trận tiến lại chặn đường, rồi òa khóc trong vòng tay anh. Anh chở tôi lên phố, vào quán nước quen thuộc thời còn đi học, nhưng trông anh không còn vẻ vô tư nhìn ngắm phố phường người qua lại như trước nữa. Anh trầm ngâm nhìn tôi nhiều hơn, khi nghe tôi kể chuyện huyên thuyên!

Xế chiều, anh chở tôi ra Bình Triệu. Lần đầu tiên trong không gian có chút riêng tư, ngồi bên nhau nhìn sông nước mênh mông, tự nhiên hai đứa cùng thinh lặng trong suy nghĩ mông lung. Thỉnh thoảng có tiếng súng xa xa vọng về khuấy động không gian thật yên tĩnh …Tôi bâng khuâng chẳng biết mình mong mỏi điều gì. Anh cũng chẳng nói gì, chỉ kéo đầu tôi ngả vào vai anh và châm thuốc hút liên tục. Hoàng hôn xuống, anh thở dài, đứng dậy đưa tôi về vì phải đi chuyến xe đêm về đơn vị để mai trình diện sớm. Ngồi sau xe, áp đầu vào lưng ấm áp của anh, tôi lặng lẽ khóc khi nghĩ đến lúc chia tay mà ngày gặp lại chẳng biết. Anh nắm bàn tay tôi đang quàng qua người anh, xiết nhẹ, giữ mãi trong tay anh.

Đợi tôi vào hẳn trong cổng nhà, anh quanh xe ra, chạy thẳng không nhìn lại. Nhìn bóng anh cô đơn trên con hẻm vắng, tôi thương anh làm sao! Anh đi khuất rồi mà tôi vẫn còn đứng nhìn miên man vào bóng đêm, buồn lạ lùng.

Rồi buổi chiều hai tuần sau đó, anh Sáu, bạn thân của anh ở cuối xóm nhà tôi, đến báo tin:

 - “Minh nhờ tôi đến nhắn chị xuống Tổng Y Viện Cần Thơ thăm anh”

Đất như chao đi dưới chân tôi:

  • “Anh ấy làm sao mà nằm bệnh viện, tôi mới gặp ảnh mà!”
  • “Tôi cũng không rõ, lính của ảnh về nhờ tôi nhắn cho chị, rồi đi ngay. Minh nói chị chưa đi xa bao giờ, nên tôi sẽ đưa chị đi, chị nghĩ sao?”

Tôi đang trong những ngày thi cuối khóa, nhưng mặc kệ. Tôi nóng ruột quá.

  • “Cám ơn anh, vậy mai nhờ anh đưa tôi đi, nhưng tôi không ở lại đêm được thì sao?”
  • “Đi sáng sớm thì có thể về trong ngày được chị ạ. Mình xuống xem tình hình rồi lại đi lần khác nữa mà!”

Năm giờ sáng, tôi chạy xe qua nhà anh Sáu, bạn anh, để xe đó, giả bộ như đi nhà thờ sớm và đi học luôn, như thường làm vào mùa thi để ba mẹ không biết, rồi đi với anh ra bến xe đò miền Tây. Qua hai lần phà, có dịp đứng riêng mà anh Sáu và tôi chẳng nói chuyện gì với nhau. Anh chỉ liên tục hút thuốc nhìn theo đám lục bình trôi trên sông mênh mông…Hình như anh dấu tôi điều gì!

Tổng Y Viện Cần Thơ đầy những bệnh nhân. Những người đã qua nguy hiểm đi lại trong sân hoặc được người nhà đẩy ra ngồi ăn uống. Anh Sáu dắt tôi đi qua một dãy giường những thương binh người nào cũng băng bó…

Minh nằm trên chiếc giường kê cao đầu gần như ngồi, một bên vai trái quấn băng vòng qua người, mặt anh xanh xao. Nhưng anh cười, tươi nét mặt khi thấy chúng tôi. Anh Sáu nói đi mua thức ăn trưa cho mọi người, có ý để Minh và tôi với nhau. Minh nói trước cố che sự bối rối:

  • “Lần đầu tiên đi xa, em mệt lắm không? Anh nhớ…”. Anh ngưng ngang, xúc động khi thấy tôi khóc.

Nước mắt tôi ướt đẫm vai áo bệnh viện khoác hờ của anh. Chờ tôi bớt xúc động, Minh kéo tôi ngồi ghé trên giường anh. Nhìn vào bên vai trái của anh, tôi thấy rõ lớp băng vải quấn sát người anh còn lốm đốm vết máu khô, chứng tỏ anh không còn cánh tay nữa!

Minh kể, sau hôm về thăm tôi, ngay khuya hôm đó Việt Cộng pháo kích vào đồn. Đang đi một vòng kiểm soát, anh dơ tay ra lệnh cho pháo phản công thì một mảnh pháo của địch bay ngang sớt ngọt cánh tay trái của anh. Anh còn chưa thấy đau chỉ cảm thấy áo quần ướt đẫm và tiếng anh em la hoảng: -“Thiếu úy trúng pháo rồi!” trước khi ngã quỵ xuống và ngất đi. Anh tỉnh dậy trong Y Viện và cánh tay trái của anh không còn cứu vãn được nữa, đành phải bị cưa sát tới nách. Anh nói, đến lúc này, anh vẫn chưa “cảm” thấy mất mát. Đầu óc vẫn chưa quen với sự thay đổi. Rồi anh chuyển qua hỏi han việc học, phố phường, bạn bè, sinh hoạt của tôi làm như lâu lắm rồi mới gặp…Anh Sáu về với thêm hai phần cơm cho hai anh giường bên cạnh, một anh chân bị cưa tới đầu gối và một anh mặt đầy vết sẹo, mất một bên mắt trái.

Anh Sáu đỡ Minh ra bàn ăn ngoài sân, tôi xách gói đồ ăn đi theo, rồi anh Sáu nói đi thăm người bà con, hẹn 3 giờ chiều trở lại đón tôi. Tôi mở thức ăn, tiếp cho Minh ăn, lấy khăn chạy đi nhúng nước, dịu dàng lau mặt, rồi chải đầu cho anh…như một người vợ hiền chăm sóc chồng thành thạo. Tôi không biết nhờ đâu tôi làm được những điều đó. Tôi chỉ thấy xót xa vô cùng cho người yêu tôi. Anh còn quá trẻ. Anh thông minh, tài giỏi. Anh rất tốt bụng và dễ thân thiện với người chung quanh…thế mà! Cuộc đời anh rồi sẽ ra sao? Anh sẽ chịu đựng như thế nào…? Lúc này, tôi chỉ biết “bù đắp” cho anh bằng tình yêu… đang rướm máu! Giữ chặt bàn tay còn lại của anh trong hai tay mình, tôi thấy Minh có vẻ vui và hãnh diện đáp lại những y tá và bạn thương binh sắp khỏi bệnh đi ngang qua, nháy mắt với anh và chào tôi như …vợ của anh! Có một lúc, tự nhiên cả hai chúng tôi đều im lặng, Minh đăm chiêu nhìn tôi là lạ khiến tôi tự nhiên thấy lo lắng. Tôi vờ thu dọn bàn cho gọn, đem đi đổ rác cho định thần rồi mới trở lại.

Thời gian qua thật nhanh, anh Sáu về đưa anh vào giường và chúng tôi chia tay anh. Bấy giờ, Minh như hết sức để gượng, mặt anh buồn thê thiết, đầu cúi rũ xuống. Tôi lại ứa nước mắt, ôm đầu anh vào ngực mình, vỗ nhẹ nhẹ lưng anh. Anh ngoan ngoãn để yên như một đứa trẻ con nép vào lòng mẹ! Một lát sau, anh ngẩng đầu lên và nói tôi về không trễ, lần sau nhớ xuống. Tôi hẹn tuần sau, thi xong, tôi xuống ngay. Xiết chặt tay tôi bằng bàn tay còn lại, anh gật đầu, gượng cười và nhìn theo tôi, cũng vừa đi vừa quay lại vẫy tay, lưu luyến…

Lần sau, tôi xuống một mình vì đã biết đường và không muốn phiền anh Sáu. Giường Minh nằm trống không. Tôi ngần ngừ nhìn quanh, tưởng mình đi lầm phòng, nhưng anh bạn cụt chân nằm giường bên đã trông thấy, vẫy tôi lại, đưa cho tôi lá thư nói của Minh nhờ trao, rồi lặng lẽ quay mặt qua phía bên kia… Tôi run run cầm lấy, đọc thư trong nước mắt nhạt nhòa:

“Cám ơn Hân đã đến thăm anh, cho anh vài giờ hạnh phúc cuối cùng. Dẫu ngắn ngủi như duyên tình của chúng ta, anh sẽ mang theo đến suốt đời còn lại. Anh muốn em quên anh đi và sống tốt cuộc đời tươi đẹp của em, như anh cũng sẽ phải quên em khi đối diện với thực tế của đời mình. Em sẽ hạnh phúc và hạnh phúc của em cũng sẽ là hạnh phúc của anh, em nhớ đấy! Yêu em mãi mãi. Minh.”

Minh đã trốn khỏi bệnh viện, trốn tôi! Tôi buông người ngồi xuống giường anh, ôm mặt khóc…

Tôi mang vết thương trong lòng trở về, đớn đau tìm quên với cuộc sống thường nhật.

Vài tháng sau, miền Nam thất thủ. Chưa kịp quên niềm đau riêng, tôi lại gánh thêm nỗi đau “mất nước” to lớn với cả dân tộc! Ba đi tù dù là sĩ quan đã giải ngũ, anh chị em thất lạc, gia đình tứ tán, tôi lây lất sống như kẻ không hồn giữa xã hội đảo điên, cùng quẫn. Chỉ có mẹ thông cảm với nỗi niềm của tôi, tình cảm dở dang, sự nghiệp gãy đổ, đêm đêm hay ôm mền qua nằm ngủ với con như khi tôi còn nhỏ! Hai mẹ con chia nhau những tiếng thở dài rồi ôm nhau ngủ thiếp đi.

Làm việc gì cũng bị cái lý lịch làm khó, cả nhà đều nương nhờ vào sự tảo tần của mẹ. Khi ba tôi được thả về, ốm đau, tàn tạ, mẹ gom góp vay mượn chút vốn mua một mảnh đất vườn ở Long Giao, cho ba về “hồi hương lập nghiệp”, thật ra để tránh nguy hiểm cho ba phải đụng độ với cán bộ phường khóm, trong hoàn cảnh bất mãn, thất chí của ông! Chúng tôi thay nhau đi về, giúp đỡ và chăm sóc cho ba. Từ một cô giáo chỉ quen với sách vở, trường lớp, tôi tập tành cuốc đất, làm cỏ, trồng rau, nuôi gà…Những chiếc áo dài, những bộ đồ “tiểu tư sản” (chữ của VC gọi những bộ quần áo đẹp, kiểu cách!) cùng với đồ đạc trong nhà lần lượt được mẹ mang ra chợ trời đổi lấy cơm, khoai…tôi cũng dần quen với bà ba, nón lá, dép nhựa, lam lũ…tuổi thanh xuân qua đi lúc nào không nghĩ đến. Cho đến một ngày…

…Em tôi lên Long Giao, nói mẹ nhắn tôi về Sài Gòn ngay có việc.

Mẹ đón tôi ngay từ cổng, dường như bà nóng ruột ngồi chờ tôi từ sáng sớm. Đưa cho tôi củ khoai lang còn nóng, mẹ nói, chiều qua anh Sáu trong xóm chở Minh đến nhà mình, hỏi thăm và muốn gặp con có việc rất cần. Mẹ hẹn chiều nay. Tôi bàng hoàng với trăm ngàn thắc mắc, nỗi niềm! Anh trốn tôi, rồi bây giờ anh lại tìm tôi. Năm năm qua anh ra sao? Anh có biết tôi bây giờ sa sút thế này không? Anh tìm tôi làm gì? Xin lỗi? Nối lại tơ duyên? Tâm sự nỗi đau thời thế?…Tôi lắc đầu bất cần, đi tắm rửa thay quần áo và lần đầu tiên sau năm năm, tự nhiên, tôi nhìn mình thật chăm chú trong gương, rồi buồn cười với hành động vô thức của mình, tôi lên giường, nằm ngủ thiếp đi sau chặng đường xe dài mệt nhọc.

Hôm nay, Minh đi xe Honda đến một mình. Khi mẹ đánh thức, tôi ngồi dậy và thấy ngại ngùng. Nhưng rồi cũng phải lấy hết can đảm đứng lên ra ngoài. Tôi rụt rè bước vào phòng khách giờ trống trải với chiếc bàn và 4 cái ghế gỗ… Minh đứng lên gọi: “Hân!”, rồi lặng thinh. Năm năm rồi, nước mắt tôi tự nhiên mới lại chảy dài. Vẫn chưa nhìn Minh, tôi cúi mặt sụt sùi. Minh tiến lại đỡ tôi ngồi xuống ghế. Tay áo bên trái anh phất phơ… Tôi nhìn lên, mắt anh loáng ướt, môi run run. Minh phong trần còn hơn thời đi lính. Tôi đứng lên ôm chầm lấy anh, dụi đầu vào ngực anh khóc vùi. Lần này, anh vuốt tóc tôi bằng bàn tay còn lại, rụt rè…

Trời mùa hè nóng, ăn cơm xong, tôi bắc 2 chiếc ghế ra sân ngồi nhìn ra đường, chiều đang xuống…. Minh kể, anh trốn bác sĩ ra nhà thương trước hạn định để tránh tôi. Anh không về nhà sợ bị bắt vào lại nên ở tạm nhà một người bạn thân có ba là bác sĩ chăm sóc. Khi vết thương lành hẳn, anh xin ba mẹ mua một khu đất trên Phương Lâm trồng cây ăn trái, rủ một số bạn thương binh (trong đó có hai anh nằm bên cạnh trong Tổng Y Viện không gia đình) và lính giải ngũ, cùng chăm sóc vườn tược với anh. Có vợ chồng một cô cháu gái họ xa cùng đến ở, lo cơm nước cho mọi người. Hai mẫu đất trồng chuối, chôm chôm, lúa rẫy, chăn nuôi…giúp họ sống thoải mái, xa lánh phồn hoa! Ngày 30/4/1975, gia đình anh di tản. Anh lại trốn, không đi theo vì không nỡ bỏ lại 12 người bạn đồng cam cộng khổ bấy lâu. Tình hình tạm ổn, anh cho gia đình cô cháu trở về Sài Gòn, ở lại căn phố ba tầng của ba mẹ để giữ nhà và cho các chiến hữu cũ tá túc. Anh và các bạn cũng phải đi “học tập” vì bị “tình nghi” tham gia Phục Quốc! Sau một năm, họ thả về, vì chẳng khai thác gì được ở mấy người thương binh “vô dụng” đó. Anh về bán căn nhà ở Sài Gòn cho cán bộ miền Bắc vào, rồi mua vài căn nhà nhỏ sâu trong một con hẻm ngoại ô, ít người lai vãng, bạn bè chia nhau ở. Khu đất ở Phương Lâm bị xung vào hợp tác xã, coi như bỏ. Thời gian đó, người nào còn đi đứng được chia nhau đi buôn hàng chuyến, nuôi nhau sống qua ngày.

Năm trước, anh về thăm anh Sáu, nghe anh kể gia đình tôi còn kẹt lại, có lần anh nhìn thấy tôi đi chợ và chắc chắn tôi vẫn…một mình! Minh thẫn thờ buồn rồi bỏ đi một thời gian. Anh trở lại anh Sáu bàn việc sau khi suy nghĩ thật lâu và quyết định gặp tôi cho một đề nghị quan trọng: Vượt Biên!

Anh và các bạn đã vừa đi buôn, vừa tìm đường tổ chức. Với số vốn dành dụm được và tiền ba mẹ anh gởi về giúp, họ đã có tàu tốt, trang bị đầy đủ, có cả súng ống và mua được bến bãi. Người đi dự trù khoảng 50 người thôi, gồm anh, các bạn tù “cải tạo” về và thêm những người lính cũ từng gia nhập Phục Quốc đang phải lẩn trốn nhiều nơi, một số có gia đình được mang vợ con theo vì họ khó sống với sự sách nhiễu thường xuyên của công an phường khóm. Nhóm Phục Quốc của anh cũng có cả những người dân sự, nam cũng như nữ, còn rất trẻ.

Minh cho tôi ba hôm để trả lời.

Năm năm đọa đày, tôi chẳng còn ước vọng nào để nghĩ tới với cuộc sống bên lề xã hội mới, vật vờ như đám lục bình trên sông nước. Minh xuất hiện, kỷ niệm êm đềm chưa kịp hồi sinh, tôi lại phải đối diện với một quyết định sinh tử. Mẹ tôi mừng vô cùng, hy vọng một lối thoát cho con mình. Nhưng với tôi, nếu là ai khác, không phải Minh đề nghị, chắc tôi chẳng quan tâm, vì từ lâu tôi coi như đời mình đã hết với khổ đau chất chồng! Tôi nhìn mẹ mà đau xót trong lòng.

Ba hôm sau, Minh đi với tôi lên Long Giao, gặp ba tôi để thưa chuyện. Ông vui như gặp cố tri. Để Minh nói chuyện với ba, tôi xuống bếp nấu cơm. Chúng tôi ở lại đêm đó với ông. Khi ba tôi ngà ngà say, đi ngủ, tôi bắc hai cái ghế đẩu và cái bàn tre, pha ấm trà nóng ngồi nói chuyện với Minh ngoài hiên nhà. Trời Long Giao tối mùa hè đầy sao, trong vắt, tĩnh mịch. Trăng không tròn nhưng sáng, loáng ướt trên những tàn lá cau cao vút.

Tôi dựa đầu vào vai Minh, bên không có tay, quên hết mọi khổ đau dằn vặt. Minh nắm tay tôi, thì thầm bên tóc:

  • “Anh không bao giờ nghĩ rằng có ngày gặp lại em như thế này!”
  • “Em cũng đang thật hạnh phúc. Không ngờ mỗi khi đi lên ba, em lại đi ngang “nhà” Phương Lâm của anh…” Một lát sau, tôi ngồi thẳng lên xoay nhìn vào mắt anh tha thiết:
  • “Ước gì mình khỏi cần đi vượt biên, về quê sống an bình với nhau như thế này, anh à, em chẳng cần gì nữa! Ở nước ngoài có gì vui đâu, anh cũng đã biết mà!”

Minh trở về thực tại, nghiêm nghị nhìn tôi:

  • “Cam đảm lên Hân. Đừng suy nghĩ như một người già, hết thời…Em còn chưa bắt đầu sống cuộc đời của mình mà. Ngày xưa thì khác, còn bây giờ ở với Cộng Sản không được đâu. Còn lo cho ba, mẹ, các em nữa. Từ khi biết được tin em, anh ân hận lắm vì đã dứt khoát chạy trốn em. Lẽ ra, anh phải âm thầm theo em, cho đến khi em lập gia đình và hạnh phúc như đã tự nhủ khi trốn khỏi nhà thương. Nhưng anh không chịu đựng nổi với sự đau đớn “mất em” trong đời…Anh có lỗi lớn vì lẽ ra ít nhất sau ngày “đổi đời”, tìm hiểu xem tình cảnh em thế nào…Dù sao, Trời còn thương cho anh có dịp đền bù…!”
  • “Anh không có lỗi gì khi sống thật với lòng mình. Em chưa bao giờ oán trách anh, kể cả ngày em xuống thăm anh lần sau không gặp. Thương anh, lòng em tan nát, nhưng em trân trọng ý nghĩ cao thượng của anh. Chỉ đau buồn cho định mệnh của anh, của em, của đất nước…”
  • “Ba có ngỏ ý nhờ anh đưa giúp thêm em trai của em, sắp phải đi ‘nghĩa vụ quân sự’cùng đi với em, anh thấy không có gì trở ngại, ghe anh mua còn rất rộng vì ít người. Trái lại, anh còn yên tâm có người thân bên em, trong trường hợp không có anh!”

Tôi hốt hoảng:

  • “Anh lại tính trốn em nữa sao?”
  • “Không. Nhưng đời anh nhiều bất trắc quá rồi, đôi khi anh không dám tự tin!”

Có ngờ đâu, đó lại là một điềm báo trước.

Tuần sau đó, tất cả chúng tôi gặp nhau tại nhà người chủ tàu, chuẩn bị. Tôi chỉ nhận ra một vài người quen, như mẹ con anh Sáu, một người bạn học trước kia của anh và hai anh thương binh cạnh giường anh. Minh đứng lên nói:

  • “Tôi nhắc lại lần chót, người nào việc đó, đã phân công, phải chấp hành triệt để, không vì bất cứ lý do nào bỏ ngang. Nhất là vì sinh mạng của những người thân của chúng ta cùng đi theo. Có người già, trẻ em, phụ nữ, họ lệ thuộc cả vào chúng ta, nên phần việc của các anh bên ghe 2 vô cùng quan trọng. Ghe 1 chúng tôi sẽ khởi hành sau, sẽ đánh lạc hướng họ, hay cản đường nếu trường hợp bị phản, dù chúng ta đã mua bãi bến rất cẩn thận. Đừng lo cho phần vụ của người khác, đừng nhìn lại, cứ thẳng tàu lớn mà tiến, rồi ra khơi ngay. Nhớ nhé!

Mọi người gật đầu, tản ra đi thu xếp đồ đạc. Minh tiến lại phía chị em tôi, ngồi xuống bên cạnh và nói:

  • “Em và Tuấn đi lấy đồ theo anh Sáu lên ghe 2 nhé. Tuấn nhớ chăm lo cho chị dùm anh.” Tuấn gật đầu, đứng lên đi lấy giỏ đồ. Tôi nhìn Minh van lơn:
  • “Cho em đi theo ghe anh đi. Em không sợ đâu!”

Minh nghiêm mặt:

  • “Đừng cãi anh. Kế hoạch đã được thỏa thuận rồi. Em biết đấy, tụi anh đã phải thay đổi chu đáo hơn vì có em và gia đình các anh em khác. Phó thác cho số mệnh an bài em ạ. Hai chị em nhớ không được rời nhau. Gắng lên em. Gặp lại nhau sau.”

Minh đỡ tôi đứng lên. Anh nhìn tôi một lúc, nói nhanh anh yêu em, rồi quay bước mau ra cửa. Tôi lại có cảm xúc như lúc đọc câu đó trong lá thư cuối cùng ngày nào anh viết cho tôi trước khi bỏ trốn khỏi bệnh viện. Tôi gọi với theo trong nước mắt: “Anh Minh!”, nhưng anh không quay lại. Cánh tay áo bên trái phất phơ, dáng cao gầy, đầu cúi xuống bước nhanh là hình ảnh sau cùng của Minh, theo tôi rất lâu sau này trong giấc ngủ…

Ém người xong, anh tài công Lý, lính hải quân cũ, kiểm điểm từng người theo danh sách, rồi chờ đúng 1 giờ sáng khởi hành. Tôi nhận ra không có một anh thương binh nào trong nhóm trên ghe này. Tất cả các người đàn ông đều lành lặn, khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Trên góc ghe có một số súng ống…Ghe được chèo tay đi êm ra khoảng 15 phút thì nổ máy. Chừng 15 phút nữa, nghe thấy tiếng reo mừng rỡ thì thầm: “Thấy cá lớn rồi, mình chuẩn bị đổ quân thật nhanh gọn! Ghe 1 chắc cũng yên!”.

Bỗng tiếng súng lớn nhỏ từ xa xa vọng lại. Mấy anh ngồi trên boong nằm rạp xuống ra lệnh: “Mọi người bình tĩnh, chuẩn bị lên tàu lớn thật nhanh, đừng sợ. Theo đúng kế hoạch, bị động đã có ghe 1 chống trả.”

Ghe lớn đã nổ máy sẵn. Mấy anh leo lên cầu bắc thật nhanh, người đứng trên, người đứng dưới giúp chuyển người lên. Từ lúc nghe tiếng súng, người tôi bỗng mềm nhũn, em tôi và một anh nữa phải xốc tôi lên. Lên ghe lớn chúng tôi ngồi dưới hầm, nghe xa xa tiếng súng dồn dập và nhiều hơn. Ghe lớn vẫn chần chờ chưa đi. Tôi điếng người, nghe tiếng nói chuyện trên boong: “Đụng rồi, có tiếng súng của mình nữa. Bị công an phản rồi!”. Tôi thì thầm: “Minh ơi Minh”, rồi ngất đi. Tôi tỉnh dậy trên boong tàu, em tôi ngồi cạnh lo lắng. Một người phụ nữ vợ của ai đó reo lên, chị ấy tỉnh rồi, đổ cho tôi một muỗng nước đường, rồi đi trở xuống hầm. Tàu vẫn chạy êm. Tôi gượng ngồi dậy hỏi đây là đâu. Em tôi đáp: – “Em nghe nói mình đã ở ngoài hải phận quốc tế, tàu đang nhắm hướng Thái Lan.”

  • “Ghe 1 đâu, anh Minh có lên tàu chưa?”

Tuấn lắc đầu. Tôi tỉnh hẳn, ngồi dậy quấn tóc lên, bò lại gần người tài công, đứng trầm ngâm lái tàu bên cạnh những người đàn ông đứng chung quanh. Anh tài công hải quân biết tôi và Minh, nên vội hỏi:

  • “Chị khỏe hẳn chưa, ngồi lại trên boong cho thoáng.”
  • “Anh Minh đâu? Anh lên tàu chưa?”

Anh hải quân quay mặt ra khơi, không trả lời, răng nghiến lại khiến quai hàm bạnh ra. Tôi đoán ra điều gì không may, lại nằm vật ra, không biết gì nữa. Từ lúc đó, tôi nửa mê, nửa tỉnh cho đến khi lên tới trại tỵ nạn.

Mấy tháng sau, một buổi chiều, tôi ngồi nhìn ra biển từ trong bệnh viện, em tôi đi lên văn phòng tỵ nạn gởi thơ cho gia đình, anh Lý hải quân đến thăm tôi. Tôi đòi anh kể cho tôi nghe mọi sự sau khi hứa sẽ cố gắng khỏe lại, để còn được phỏng vấn. Tôi nói thêm, đêm qua tôi mơ thấy anh Minh, anh nói anh buồn và lo lắm vì tôi đau hoài, anh còn bắt tôi hứa với ảnh, phải khỏe lại, phải đi Mỹ…! Anh Lý thở dài, rưng rưng…

Chiếc tàu lớn vừa chạy vừa có ý chờ đến gần 15’, khi tiếng súng phe ta im hẳn, chỉ còn tiếng súng địch bắn vu vơ, mới quyết định xả hết tốc lực ra khơi. Qua chiếc ống nhòm, anh tài công hải quân thấy ở xa xa, chiếc ghe 1 nhỏ xíu của mình bập bềnh trôi nổi, trong khi tàu sắt của “họ” đặc kín một vùng biển. Minh và toàn thể 11 anh thương binh trên ghe 1 đã chiến đấu trận cuối cùng và đã hy sinh để bảo vệ cho sự an toàn, cho Tự Do của tôi và 44 người dân thường vô tội vượt thoát địa ngục trần ai…

Lần này, tôi mất Minh vĩnh viễn rồi! Nếu không có em tôi bên cạnh giường bệnh lo lắng hàng ngày…nếu không có những lời động viên của ba, mẹ bên nhà gởi sang, và nhất là nếu không được gặp lại Minh trong giấc mơ, chẳng biết bao giờ tôi mới có thể gượng dậy nổi…

Hơn 40 năm rồi, mỗi lần nghe người ta nói hay đọc người ta viết về những người lính VNCH, tôi chưa thấy những lời ca ngợi, tri ân nào đủ với họ, nhất là đối với những người thương binh và tử sĩ, trong đó có Minh của tôi! Trận chiến cuối cùng của anh và các bạn sẽ chẳng được sử sách nào viết đến, nhưng tôi biết trong trái tim của 45 người chúng tôi, giờ đây an bình hay thành đạt ở nơi nào đó trên những miền đất tự do, còn ghi tạc mãi mãi hình ảnh những anh hùng vô danh cao cả này.

Những lúc sa sút tinh thần, tôi lại nhớ lời Minh dặn, hãy sống tốt…hạnh phúc của em là của anh… và thì thầm, Minh yêu dấu ơi, em vẫn luôn cố gắng sống theo lời anh đây, để sự hi sinh của anh và các bạn không bao giờ vô ích!

Share this post