Montréal Canada, 21 Năm Và Còn Tiếp – Quá Khứ Trước Mặt – Luân Hoán

Montréal Canada, 21 Năm Và Còn Tiếp – Quá Khứ Trước Mặt – Luân Hoán

Nguyễn Ngọc Lang và Lê Hân đã cùng nhau hoàn tất hồ sơ xin bảo lãnh đoàn tụ gia đình cho hai người anh còn ở Việt Nam sau 1975. Tôi và Lạng cùng nhận được những giấy tờ quan trọng này trong năm 1979. Đà Nẵng thời bấy giờ chưa có mấy người được ra đi theo diện ODP. Ngoài tôi và Lạng, ông Nguyễn Văn Thọ, chủ hảng xe đò Phi Long cũng có một hồ sơ tương tự. Chúng tôi thường gặp nhau để chia sẻ những tin tức, kinh nghiệm lẫn hổ trợ tinh thần trong một công việc thật giản dị: Nộp hồ sơ xin xuất cảnh.

Chiều dài để tạo được một thuận tiện của riêng tôi kéo dài đến 2 năm. Cơ hội đổi đời lần thứ hai của gia đình chúng tôi, bất ngờ nhờ vào năm ba con chim cảnh. Một viên chức công an phụ trách ban Người Việt nước ngoài tại ty Công an Đà Nẵng, đam mê chim hót, đã hướng dẫn và cùng tôi diễn mấy phút kịch nói tại văn phòng ông. Giai đoạn đầu tiên trên đường đi của hồ sơ đã được thông qua, trôi chảy.

Trong năm 1983, chúng tôi được gọi đến cơ quan Công An Quảng Nam Đà Nẵng nhận 3 thông hành. Một cho tôi có kèm theo con trai út Lê Ngọc Hoàng Bách. hai cho Trần Thị Lý, vợ tôi, có kèm theo hai con Lê Ngọc Quốc Bảo và Lê Ngọc Thạch Bích. Ba cho con gái đầu, Lê Ngọc Hòa Binh, sinh năm 1969. Trên Thông Hành có đủ dấu nổi, dấu chìm, do cơ quan có tên thật dài: “Cục Quản lý Người Nước Ngoài Và Xuất Cảnh, Nhập Cảnh, Bộ Nội Vụ” ký ngày 15 tháng 12 năm 1983 tại Hà Nội.

Thông Hành của chúng tôi tiếp tục được đóng dấu, ký tên thị thực xuất cảnh ngày 01-01-1985 tại cửa khẩu Tân Sơn Nhất, có ghi điều kiện xuất cảnh trước ngày 30-5-1985.

Sau khi có tên trong danh sách niêm yết tại 1 B Duy Tân Sài Gòn, Chúng tôi được khám sức khỏe, chủng ngừa và nhận vé máy bay. Qua tin truyền miệng, tôi được biết lộ trình đường bay sẽ như sau: Tân Sơn Nhất – Bangkok – Rome – Mirabel. Vì có mua một số nhiều tranh sơn mài để mang theo của bà vợ nhỏ cố thi sĩ Nguyễn Vỹ, nên chúng tôi giao luôn phần việc chuyên chở

gia đình lên phi trường cho bà lo liệu. Chúng tôi suýt trễ chuyến đi vì sự tin tưởng này. Xe chở chúng tôi không được phép vào tận nơi. Từ hơn một cây số chúng tôi phải tự giải quyết. Tôi vừa lo, vừa giận, cũng may có những chiếc xe thồ kịp lúc. Tôi không khỏi không ngạc nhiên và có thầm những nghi vấn, hình như có sự sắp xếp ăn chia trong việc chuyên chở này. Nhưng cũng mừng vì đã vào đến kịp lúc.

Khi đã cách ly với những thân nhân đưa tiễn. Nỗi lo lắng của tôi có phần gia tăng. Liệu có bị giữ ở lại vì một trục trặc, một phát hiện cố tình nào đó. Tôi vào phòng vệ sinh băng lại cái chân cho chắc bụng, đồng thời kiểm soát lại hai cây vàng độc nhất có còn ở yên vị trí cũ không. Bỏ chúng lại thì cả gia đình trắng tay. Nhưng lận theo nhỡ lát nữa bị phát hiện có thể… thôi cũng đành liều. Nhưng rồi tôi lên máy bay an toàn. Hồi hộp, phập phồng chỉ thật sự mất đi khi máy bay chạy ra phi đạo. Cái lo lắng đã qua, bây giờ mới có phút giây để buồn trong sự chia xa với quê nhà, với người thân. Tôi ngồi lặng giữa những giọng nói hân hoan, giữa những tiếng thở ra nhẹ nhỏm của những người chung quanh. Tôi nhắm mắt. Lý nắm chặt tay tôi, lặng lẽ khóc.

Máy bay đáp xuống phi trường Băng Cốc. Hành khách của chuyến bay hầu như là toàn những người đi “đoàn tụ”.V iệt và Hoa lẫn lộn. Chúng tôi được lùa vào một khoảng trống có mái che trong phi trường. Một nhân viên người Thái Lan, không rõ phục vụ cho người Gia Nã Đạia hay cho phi trường, gọi tên điểm danh chúng tôi và căn dặn một số việc linh tinh. Ông vô cùng hách dịch và không mấy lịch sự. Chúng tôi được phát phần ăn và ngồi trên sàn nhà gần mười tiếng sau.

Phi trường Bangkok rộng hẹp bao nhiêu tôi không được rõ. Không dám và cũng không được phép dời chân khỏi khu vực, rộng bằng một rạp chiếu bóng. Khi từ từ đi thành hàng một ra cửa để lên máy bay, tôi mới nhìn được một góc nhỏ của phi trường, không đủ gây cho tôi một ý niệm sang, thường hay đáng ghi nhớ nào. Tôi cúi mặt nhìn xuống chân mình khi đi ngang người xịt thuốc sát trùng, và hơi xót xa nhìn một số bạn đồng hành, đã thay đổi áo quần màu mè, sang trọng.

Chúng tôi đến Ý vào buổi sáng, không còn nhớ rõ mấy giờ. Phòng đợi rộng rãi thoáng mát. Tường phòng bằng kính trong suốt có thể nhìn ra bên ngoài sân bay. Ghế ngồi trong phòng đợi bằng kim loại có mặt nệm, sang trọng và lạ mắt với chúng tôi. Đèn chong giữa ban ngày đây đó. Vì khu đợi này rất rộng, nên “đoàn người ra đi có trật tự” chia ra từng nhiều nhóm nhỏ, quây quần với nhau. Gia đình chúng tôi, sáu nhân khẩu, ngồi sát tường kính phía sân bay. Tôi chợt bắt gặp một khuôn mặt quen thuộc từ Đà Nẵng đi cùng chuyến . Tôi nhớ không lầm, ông là một nhà giáo một trường tư thục. Khá vụng về và lười giao thiệp, tôi ngồi im nhìn ông tiến đến chìa tay, mỉm cười. Dĩ nhiên tôi cũng đủ lịch sự đứng dậy, niềm nở. Khi cái bắt tay chấm dứt, ông mở lời hỏi xin thuốc lá. Tôi ngượng vì đã bỏ hút từ lâu, không nắm được cơ hội có thêm một người quen. Hồi đó tôi chưa quen dùng nhiều tiếng “xin lỗi”, nên đã trả lời hơi trống không “dạ không có”. Ông quay đi tức thì. Tôi thông cảm cho một người đang thèm thuốc, nhìn theo. Ông tiến đến một người khác. Tôi mừng ông đã có được món ông cần. Tôi vẫn còn tò mò quan sát ông. Rất lạ, tôi không thấy ông châm thuốc. Ông cho điếu thuốc vừa xin được vào túi áo trên, rồi ghé qua một nhóm khác. Ông lại xin thuốc lá, lại cẩn thận bỏ vào túi và tiếp tục cuộc sưu tầm những điếu thuốc. Cuối cùng tôi thở phào nhẹ người khi thấy ông móc cái zippo ra khỏi túi quần và thở khói. Nhờ ông đã trở lại gần chỗ tôi ngồi nên tôi nhìn rất rõ sự khoan khoái trên nét mặt ông. Không hiểu sao, tôi thật sự có chút không vui.

Khi được gọi lên máy bay, chúng tôi đã gặp được những giọt tuyết đầu tiên trong đời. Tôi ngửa cả hai tay ra hứng, nhưng xem lại chẳng có gì ngoài cái cảm giác ươn ướt. Đó là những hạt tuyết bụi, rất mong manh, bay loạn như một đàn bù hong trắng.

16 giờ ngày 31 tháng 01 năm 1985 chúng tôi có mặt tại phòng chờ lấy hành lý tại phi trường quốc tế Mirabel Montréal. Hành lý của chúng tôi gồm hai cái thùng thiếc, đóng đúng theo kích thước và hợp thời trang của những người đi “đoàn tụ” thời bấy giờ. Một vài cái va li, túi xách và những kiện hàng tranh sơn mài. Nhìn chung khá cồng kềnh và tương đối nhiều hơn những người khác. Có lẽ vì vậy nhiều nhân viên kiểm soát, như muốn chờ nhau, bắt chúng tôi đứng chờ một bên, để trở thành gia đình cuối cùng, được qua cửa không kiểm soát. Những thực phẩm cấm mang theo, có trong số hành lý của chúng tôi nhờ đó không bị làm khó dễ.

Hân ra đón chúng tôi cùng với Lãng, một người bạn của chú ấy. Họ mang cho chúng tôi những chiếc áo ấm dày, nặng, những khăn choàng, mũ len và cả những đôi giày cổ cao. Khi ra xe chúng tôi mới biết trời đang có tuyết rơi.

Trên chiều dài 53 cây số từ phi trường quốc tế Mirabel về Montréal, tôi nhìn trời đất mênh mông một màu trắng. Một số nhà cửa rải rác hai bên đường gần như chìm trong tuyết. Tôi băn khoăn, nhưng ngại hỏi người em trai về chỗ ở mới của mình, cho đến khi xe vào thành phố mới an lòng.

Cuộc đời mới của chúng tôi được Montréal lặng lẽ nhận vào từ 19 giờ ngày 31 tháng 01 năm 1985. Món ăn đầu tiên của chúng tôi là món gà nướng Kentucky Hân mua khi vừa vào thành phố. Tối hôm đó lạ chỗ, đảo ngược giờ giấc nên chúng tôi không ai ngủ ngon.

Chỗ ở của chúng tôi do Hân thuê sẵn. Đó là căn ấp mang số 21 trong chung cư mang số 4655 trên đường Bourret. Căn ấp này một phần nằm dưới mặt đất, thường được gọi là sous-sol, gồm hai phòng ngủ. Lý và tôi chiếm phòng nhỏ. Bốn đứa con cùng ở một phòng lớn hơn. Phòng khách bỏ không. Hân thuê sẵn đường dây điện thoại, số gọi 514 – 735-4064. Em trai tôi cũng đã sắm sẵn một số vật dụng như: một bộ bàn ăn bằng gỗ, một futon (vừa làm ghế ngồi ở phòng khách vừa làm giường nằm khi trải ra), hai matelas (để ngủ), một số tấm đắp trong đó có một mền điện, và nhiều vật dụng linh tinh khác.

Dù qua một đêm không ngủ được, sáng hôm sau, thứ sáu, ngày 01 tháng 2, tôi và Lý cũng theo Hân đến cơ quan sở di trú, nằm ở số 1000 trên đường Guy, để xin một số giấy tờ cần thiết. Trong khi chờ thẻ xã hội trắng Social Insurance và thẻ Mặt trời của Régie de L’ Assurance Maladie gởi tới, tôi và Lý được cấp một thẻ tạm màu hồng, bởi văn phòng CEC-MTL-CPI. Thẻ này chỉ có 6 dòng ngắn dùng để ghi ngày tới đây trình diện. Trên thẻ có ghi rõ: “Ne peut servir pour l’identification”. Tại cơ quan này, người chăm sóc hồ sơ của tôi là một ông trung niên rất mập, có vẻ mệt mỏi và thiếu tích cực.

Sau hai ngày nghỉ cuối tuần, tôi và Lý được Hường, vợ của Lãng, bạn Hân, đưa đi tìm việc làm. Ngay buổi sáng ngày 4 tháng 2, Lý được vào làm trong một hảng sản xuất ví da cho phụ nữ. Riêng tôi trong gần hai tuần lễ, ngày nào cũng theo Hường đi rất nhiều hảng xưởng trong thành phố. Nhưng nơi nào, nhìn cái bộ dạng tôi, họ cũng khéo léo chìa ra một mẫu đơn cho tôi ký tên và lịch sự mời về nhà chờ. Lòng tốt và sự cố gắng của Hường đã không giúp được tôi. Tôi trở thành một người ngồi coi nhà (thật ra không cần thiết) cho vợ đi làm, con đi học một thời gian dài.

Những ngày bắt đầu cuộc sống mới của chúng tôi ở Montréal lặng lẽ đi qua. Tôi đã có thời gian quan sát khu vực chúng tôi cư ngụ. Con đường Bourret là một con đường một chiều. Từ ngã tư, giao điểm với đường Van Horne đến chỗ chúng tôi ở, đường cao dần lên như một con dốc. Cây lá hai bên đường đều cao lớn, nhưng đang vào mùa đông, cành nhánh bạc những dòng tuyết đọng. Ngoài chung cư 4655 còn nhiều chung cư khác đứng gần nhau. Hân đã chọn vị trí này vì rất gần với những địa chỉ quan trọng: Hai trạm métro, Plamondon và Côte Sainte Catherine. Trạm xe buýt. Jewish General Hospital của người Do Thái, Hôpital Sainte Justine – trung tâm sản phụ và nhi khoa, Plaza Côte des Neiges, trường Trung Học Van Horne và các siêu thị thực phẩm: Steinberg (hiện nay đã thay bằng IGA), Provigo.

Sau một ngày thử việc ở hãng ví da, Lý được cộng đồng người Việt tại Montréal giới thiệu một việc làm khác, tại hãng vải vụn Aronoff Brothers Ltd. Tôi vẫn ngày ngày ngồi nhìn những vách tường. Ngó từng chân vách mong gặp được một con kiến hay con ruồi để làm bạn. Tù túng, buồn chán mỗi ngày một tăng, tôi gọt dũa bớt bằng vần điệu. Bài Ly Rượu Cuối Tuần Cho Lý là bước khởi hành của tập “Ngơ Ngác Cõi Người”.

Nhưng làm thơ không thể lấp hết những năm tháng trống rỗng. Thỉnh thoảng tôi cũng “lên đồ đi tìm job” nhưng kết quả vẫn là những lời hẹn rất ân cần, lịch sự. Nhân một buổi tối cuối tuần, Nguyễn Ngọc Lang, bạn cũ thời ở Đà Nẵng, hiện hành nghề bác sĩ, đưa gia đình chúng tôi đi ăn ở Phố Tàu. Hôm sau tôi dắt đứa con trai út đến phòng mạch Lang thăm chơi. Thay vì chọn trạm métro Côte Sainte Catherine gần nhà hơn, tôi đưa Bách xuống trạm Plamondon. Sau khi xuống một tầng, mua vé vào cửa, chúng tôi xuống tiếp tầng dưới. Tiếng “u… u..u..” của chuyến métro đang chạy tới. Bách buông tay tôi chạy xuống trước. Vừa lúc Bách đến nơi, tàu cũng vừa tới. Những cánh cửa tàu mở rộng. Không chậm trễ, Bách chạy vào, chỉ vài phút như thường lệ, mọi cửa tàu đồng loạt khép lại. Với vài phút, tôi không kịp vượt xuống những bậc thang. Tôi bất lực nhìn Bách hốt hoảng gào khóc đập cửa, khi con tàu chạy vụt đi. Mất bình tĩnh và lo sợ, tôi vội vã trở lên phòng bán vé, ú ớ trình bày sự việc với người nhân viên. Tôi được mở cửa cho vào quày, chỉ một phút sau hai nhân viên cảnh sát đến. Họ lưu ý tôi việc trông coi trẻ em lúc đi đường. Và hướng dẫn một vài điều khi biết chúng tôi mới vừa đến Montréal một tuần lễ. Người nhân viên métro cho tôi hay, con tôi đã được cho xuống ở trạm Snowdon, đang chờ tôi ở đó. Tôi gặp Bách và hai cha con tiếp tục chuyến đi đã dự định.

Lê Hân, em trai tôi, du học tai Hoa Kỳ vào giữa năm 1966, sau khi tốt nghiệp, Hân lập gia đình cùng Vân rồi sang làm việc tại Canada. Khi bão lãnh chúng tôi qua Hân cùng gia đình cư ngụ tại nhà riêng bên Brossard, số 5975 đường Panama. Nhưng cả hai vợ chồng đều làm việc tại Montréal. Hân làm việc tại EACL Candu trên đường Metcalfe. Ngoài ra còn mở một tiệm cho thuê băng vidéo trong Plaza Côte des Neiges, mang tên Illusion. Công việc của chú ấy khá bận rộn, hơn nữa, cháu út Đạt mới được mấy tháng tuổi, nên chú không đủ giờ thăm viếng tôi nhiều. Nhưng ngày nào cũng gọi điện thoại, thăm viếng, khích lệ. Dĩ nhiên mọi giấy tờ cần thiết của chúng tôi, chú đều lo cho đầy đủ. Chúng tôi cũng có ghé sang thăm gia đình chú một vài lần. Brossard cách Montréal bởi dòng sông Saint Laurent. Sông có chiều ngang rất rộng và là một hải đạo quan trọng đưa tàu thuyền đến tận lục địa Mỹ Châu, hàng năm có khoảng 6000 chuyến tàu đi lại trên hải đạo này. Lúc bấy giờ mọi xe hơi qua lại đều có đóng góp một chút ít tiền lệ phí tu sửa. Ngày này lệ phí “sang ngang” đã được hủy bỏ từ lâu. Thành phố Brossard cũng như nhiều thành phố nhỏ khác chung quanh Montréal, đã được sát nhập vào Montréal để thành một đại đô thị.

Một cơ quan từ thiện, mà đa số gia đình tị nạn Việt Nam đều có đến là một tổ chức của nhà thờ Công Giáo. Tại đây những cư dân mới tha hồ tự chọn cho mình, những vật dụng thích hợp mà không cần phải trả tiên. Vật dụng, đa số là quần áo mùa đông, chăn, màn, bàn ghế.. Tất cả đều đã được dùng qua, nhưng vẫn còn xài được. Gia đình tôi cũng mang về nhà một số ly chén, nồi chảo và đặc biệt có một tivi đen trắng 21 inch. Có được cái tivi, với ít đài địa phương các con tôi rất thích. Trong khi đó tôi rất nhớ các chương phát thanh của đài VOA, BBC…nên đã bán vài chỉ vàng để mua một cái radio, cassette Sony 4 band, thật cáu cạnh tại tiệm Lâm, trên đường Saint Laurent. Đây được kể là món đồ dùng xa xỉ chúng tôi mua đầu tiên. Tôi thất vọng vì sự thiếu hiểu biết của mình, bởi dù có 4 band, cũng không bắt được các làn sóng muốn nghe. Để bù lại cái nhược điểm của radio, tôi tìm đến quán sách Trung Việt, mua một cuốn cassette nhạc Đoàn Chuẩn với tiếng hát Khánh Ly. Cuốn băng thật tuyệt vời. Tôi mở gần như trong suốt thời gian Lý phải nhọc nhằn tại sở, dù có chú ý nghe hay không. Có âm thanh bên cạnh, sự cô đơn đôi phần chùng bước.

Sau chuyến đến thăm phòng mạch Lang, những ngày kế tiếp, tôi có ý định đi đây đi đó cho biết nhan sắc thành phố Montréal một cách thực tế.

Theo tài liệu, Montréal được thành lập năm 1642, nhưng sau 358 năm thành phố vẫn chưa khai thác quá 80% diện tích. Tuy vậy, thành phố trẻ trung này được kể là một trong 14 thành phố thương mại và kỷ nghệ phồn thịnh nhất thế giới.

(Hoa Kỳ với 6 thành phố: Atlanta, Boston, Chicago, Dallas, Los Angeles, New York / Canada với 3 thành phố: Toronto, Montréal, Vancouver /Anh Quốc: London / Pháp: Paris / Đức: Dusseldorf / Ý: Milan / Nhật: Tokyo) và là thành phố lớn thứ 2 của Gia Nã Đại, thuộc tỉnh bang Québec, (một trong các tỉnh bang của Gia Nã Đại: Newfoundland, Nova Scotia, Prince edward Island, New Brunswick, Québec, Ontario, Manitoba, Saskatchewan, Alberta, British Columbia, Yukon, Northwest Territories)

Montréal rộng 500 cây số vuông (khi chưa trở thành đại đô thị), nằm giữa ngã ba sông Saint-Laurent (dài 1900 km) và sông Ottawa. Với chiều dài đông tây 50 cây số; chiều rộng bắc nam, chỗ rộng nhất, 15 cây số. Đây là một vùng đất trù phú với thương cảng quan trọng bậc nhì Bắc Mỹ, chỉ đứng sau New York của Hoa Kỳ. Dân số gần 3 triệu người, bao gồm trên 500.000 di dân thuộc 80 sắc tộc. Những sắc tộc đông dân thường cư ngụ trong một khu vực, Tiêu biểu: Khu Saint-Léonard: Người Ý Đại Lợi / Khu Jean-Talon Ouest: người Hy Lạp / Khu Saint-Luc: người Do Thái / Khu Prince Arthur: người Bồ Đào Nha. Người Việt Nam ở rải rác nhiều nơi, có mặt trong cả những vùng kể trên, nhưng một số đông ở khu Côte des Neiges.

Vì chỉ có một chân rưỡi, và phương tiện duy nhất của tôi lúc bấy giờ phải dựa vào “Commission des transports de la Communauté urbaine de Montréal”, nên đường tầu ngầm dưới lòng đất là con đường tôi chọn để lang thang đầu tiên.

Đường tàu ngầm được bắt đầu xây dựng ngày 23 tháng 5 năm 1962, Và bắt đầu phục vụ ngày 14 tháng 10 năm 1966, trong thời điều hành thành phố của Thị Trưởng Jean Drapeau, (nhiệm kỳ thứ hai, kéo dài 26 năm, 1960 – 1986 / nhiệm kỳ thứ nhất từ 1954-1957). Hiện tại, métro Montréal có 4 đường, gồm 4 trung tâm đổi hướng tàu và 65 trạm lên xuống. Ngoài đặc điểm tối tân, hiện đại, đường tàu ngầm métro của Montréal còn được công nhận là sạch sẽ, khang trang vào bậc nhất Bắc Mỹ.

Trạm Côte Sainte Catherine nằm trên đường màu cam, với 28 trạm dừng, đón và xuống khách. Tuy không phải là trạm đầu tiên hay cuối cùng, nhưng tôi phải bắt đầu từ đây, vì gần nhà. Mỗi trạm tôi đều xuống dạo loanh quanh một vòng, quan sát cách trang trí, ngắm những hàng quán ở mỗi trạm, nhưng không lên mặt đất, không ra khỏi khu vực bán vé. Vì ra khỏi khu vực này phải mua vé khi trở vào. Lần lượt tôi ra các trạm: Snowdon, Villa Maria, Place Saint Henri, Lionel Groulx, Georges Vanier, Lucien L’Allier, Bonaventure, Square Victoria, Place d’Armes, Champ de Mars, Berri U-Quam, Sherbrooke, Mont Royal, Laurier, Rosemont, Beaubien, Jean Talon, Jarry, Cremazie, Sauvé, Henri Bourassa. Từ Côte Sainte Catherine đi ngược lại là các trạm Plamondon, Namur, De La Savane, Du Collège. Côte Vertu.

Ở đường màu xanh lá cây có các trạm: Angrignon, Monk, Jolicoeur, Verdun, De L’Église- La Salle, Charlevoix, Lionel Groulx, Atwater, Guy Concordia, Peel, McGill, Place Des Arts, Saint Laurent, Berri UQuam, Beaudry, Fontenac, Prefontaine, Joliette, Pie IX, Viau, Assomption, Cadillac, Langelier, Radisson, Honoré Beaugrand.

Ở đường màu xanh dương có các trạm: Snowdon, Côte des Neiges, Université de Montréal, Édouard Montpetit, Outremont, Acadie, Parc, De Castelnau, Jean Talon, Fabre, D’Iberville, Saint Michel.

Đường màu vàng khởi đầu từ Berri -UQuam đi dưới lòng sông Saint Laurent để đến Longueuil-Université de Sherbrooke.

Dĩ nhiên tôi phải mất nhiều tuần lễ mới lang thang hết những trạm này. Tôi cố tình ghi lại đầy đủ từng tên trạm, để giúp trí nhớ mình mai sau dễ hình dung khi hồi tưởng. Lẽ ra tôi còn phải mô tả tỉ mỉ về bốn trạm có giao điểm các đường tàu, nhất là trạm Berri- UQuam, nơi có các siêu thị lớn nhất Montréal nằm vừa trên lẫn dưới mặt đất, nhưng như vậy có lẽ làm phiền bạn đọc nhiều quá.

Phương tiện métro được đông đảo thị dân sử dụng.Vào những giờ đến và tan sở đông nghẹt người. Không rõ có phải vì tâm trạng riêng, tôi cảm thấy buồn não nuột khi nghe âm thanh khởi động di chuyển của con tàu. Tiếng u u rít lên rồi kéo dài da diết, và mất hút xa thẳm là những gì tôi không thể quên. Đã hơn 10 năm qua, tôi chưa bước nhờ lại đường tàu này, nhưng những âm thanh buồn bã kia vẫn như còn bên tai.

Ngồi không đi ra đi vào, đọc báo, viết thư, làm thơ… chiêm bao thường trực cả ngày, rồi quét nhà, giặt áo quần cho vợ… tôi mỗi ngày một đi xuống cuộc đời. Lý quyết định mua một máy may công nghiệp với ý định huấn luyện tôi… đạp những đường thẳng. Chiếc máy Juki, số 0287-02, model: DDL 5550 được mang từ cửa hàng Okio Enr. trên đường Saint Laurent về. Tôi nghiêm chỉnh ngồi vào, thử tới dợt lui. Đường may vòng vèo, đứt đoạn. Mũi kim suýt nhiều lần hỏi thăm sức khoẻ ngón tay. Chỉ ba ngày sau, cái máy may to lớn nặng nề, mới toanh, choáng một khoảng phòng khách, được cho xuống nghỉ ngơi ở nhà bếp. Tôi không phải là người vụng tay, nhưng không đủ kiên nhẫn ngồi tập một công việc mình không yêu thích. Cái nghề nho nhỏ của mình ngày trước đã không còn có điều kiện để học lại, để nuôi thân. Tôi bắt buộc phải dùng sức lao động bằng tay chân mình, nhưng vẫn chưa tìm được cơ hội.

Cộng đồng Việt Nam tại thành phố Montréal vào năm 2004 có khoảng 42.000 người. Là một sắc dân đến muộn nhưng sớm vững mạnh nhờ sự đoàn kết vì cùng một hoàn cảnh. Và trong một tâm nguyện chung, họ sớm thành lập Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Montréal. Bên cạnh tổ chức này còn rất nhiều hội đoàn chính trị và tôn giáo sinh hoạt rất tích cực, cụ thể có: Cộng đồng Công Giáo Việt Nam tại Montréal, Thánh thất Cao Đài tại Montréal, Hội Tín Hữu Cao Đài Montréal, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, Hội Thánh Tin Lành Cơ Đốc Việt Nam, Trung Tâm Phật Học văn hoá và xã hội Huyền Không, Hội Phật Học Làng Cây Phong, Chùa Quan Âm, Chùa Tam Bảo, Chùa Liên Hoa, Chùa Thuyền Tôn, Tổ Đình Từ Quang, Hội Người Vượt Biển, Hội Cựu Quân Nhân, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Canada, Hội Dược Sĩ Việt Nam, Hội Tuổi Vàng Rồng Vàng, Hội Cao Niên Thân Hữu, Trung Tâm Người Việt Cao Niên Montréal, Liên Hội Sinh Viên Việt Nam, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam tại Québec, Liên Đoàn Hướng Đạo Việt Nam… Mỗi năm những hội đoàn này thường phối hợp để tổ chức đón xuân bằng một hội chợ Tết rất đông vui tại một địa điểm rộng lớn trong thành phố.

Năm 1985, nhà cầm quyền Việt Nam ra quyết định số 121-CP về việc sữa đổi cách dùng Âm Lịch. Qua nghị định ngày 8 tháng 8 năm 1967 này, ngày Tết Nguyên Đán năm Giáp Tý (1984) được cử hành tại Việt Nam vào ngày tháng 01 năm 1985. Chúng tôi đã có cơ hội đón Tết tại Sài Gòn trước khi đến Gia Nã Đại. Việc sửa đổi của chính phủ Việt Nam không được chấp nhận tại hải ngoại. Ngày Tết vẫn nhằm ngày 20 tháng 02 năm 1985. Cộng đồng người Việt tại Montréal đã khai mạc hội chợ Tết vào Chủ nhật ngày 17 tháng 2 tại Complex Desjardins. Chúng tôi được biết như vậy, nhưng chưa tìm đến. Những buồn phiền lo lắng trước cuộc sống mới vẫn như một bức tường trước mặt.

Mùa đông đã đi qua. Những cành cây trơ trụi đã bắt đầu có những nụ non. Và thật kỳ diệu chẳng bao lâu hầu hết cây cỏ trong thành phố đều hồi sinh xanh tốt, như chưa từng phải yên ngủ một giấc dài dưới tuyết lạnh. Trong niềm vui đổi mùa của vạn vật, lòng tôi nhẹ nhàng hơn. Ngoài những lần cuối tuần theo vợ con đi chợ. Chúng tôi còn mon men đến thăm một vài siêu thị. Có lẽ khi đi xem những cơ sở thương mại rực rỡ này, chúng tôi rất đồng dạng với những quân nhân, cán bộ và một số dân chúng sống lâu năm tại miền Bắc Việt Nam, được vào tham quan miềm Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Giữa những phấn chấn khiêm nhường ấy, tôi chợt có một việc làm. Bà Nguyễn Thị Tâm, thân mẫu của Hoàng Thị Hồng, một thương gia buôn bán vàng bạc đá qúi, nổi tiếng một thời ở Đà Nẵng, giới thiệu tôi vào làm tại một cửa hiệu làm nữ trang. Tôi bắt đầu bước vào nghề mới đầu tháng 6 năm 1985. Tiệm làm kim hoàn không lớn lắm, chỉ gồm có ba phòng trên tầng 4 của một cao ốc, nằm trên đường Cathcart. Cửa vào chung ngó ra Rlle Palace với một tượng đá, tiếp giáp với đường Sainte Catherine, một con đường sầm uất của thành phố Montréal.

Tiệm bắt đầu làm việc từ 9 giờ sáng, theo giờ mở cửa của các cơ sở thương mại, và nghỉ việc vào lúc 6 giờ chiều. Những điều kiện chung bắt buộc phải tuân theo: không được mang bất cứ món đồ nào đến nơi làm việc, kể cả các phần ăn, sách báo, bao bị…Giờ nghỉ trưa từ 12 giờ đến 1 giờ . Trong thời gian này, những người làm công đều phải ra khỏi sở, tự túc và tùy nghi ăn uống trong các tiệm trên đường Ste. Catherine. Quán ăn tôi thường chọn là McDonald’s. Ít tháng sau các con tôi nghỉ hè, thường mang buổi ăn trưa đến. Cũng như nhiều người khác, tôi ngồi ăn trên bãi cỏ chung quanh chân tượng, hoặc bên ngoài khuôn viên một nhà thờ ở đó. Cả cao ốc này hình như đều kinh doanh vàng bạc đá qúi, nên việc vào ra nơi làm việc cũng khá phức tạp. Có người đứng chờ mở đóng thang máy cho nhân viên. Ra khỏi thang máy đi trong hành lang có đặt caméra quan sát, nhưng trước khi vào phải gõ cửa, xưng tên, cùng mã số để nhận diện.

Là một người chuyên về những con số, với máy đánh chữ, bàn giấy, tôi bắt đầu học nghề khá khó khăn. Chủ nhân là một người Ý, trên ba mươi tuổi, cởi mở, tử tế. Nhân viên của ông chừng 6 người kể cả tôi. Có một người Việt khác trong số này. Anh ta là thợ chính, rất trẻ, nhưng luôn tay bận rộn. Tan sở là biến ngay để vào job khác, lái taxi. Tôi bắt đầu học cách cho thuốc vào các mối hàn, rồi tuần tự thực hành qua các công việc: hàn, dũa, đánh bóng, kéo vàng thành sợi, mài, đúc khuôn sáp, vẽ mẫu nhẩn đeo tay, chọn màu hột trai cho hợp đôi. Trong các công việc này, tôi ngại nhất là công việc đánh bóng. Nhẩn, hoa tai…nói chung vật nào cũng nhỏ bé, manh manh, không thể mang găng tay để làm việc, nên phải chịu đựng sức nóng, bởi sự cọ xát khi đánh bóng. Tôi cũng có một vài lần hết hồn khi làm vệ sinh những vật dụng đắt tiền này. Do chưa kinh nghiệm, tôi mở vòi nước hơi mạnh, các món trang sức trong khay rửa bị văng ra, bị cuốn xuống đường nước thải. Rất may ở phía bên dưới đã được trang bị màn chắn để ngừa trường hợp này. Công việc tôi thích nhất là vẽ mẫu và làm khuôn từng kiểu nhẩn, kiểu hoa tai, những hình tượng để đeo theo sợi dây chuyền. Tôi không hiểu sao người chủ cho tôi làm công việc này, trong lúc những nhân viên khác, không ai mó tay vào.

Tiệm kim hoàn nằm ở khu phố thương mại chính, nên gần như ngày nào tôi cũng đi bộ vài đoạn phố, trong giờ ăn trưa hoặc khi thong thả ra về. Tôi vẫn chọn métro làm phương tiện đi, về. Thỉnh thoảng cũng nhảy lên xe buýt. Hệ thống xe buýt tại Montréal do công ty STCUM khai thác với trên vài ngàn chiếc buýt tân tiến . Bắt đầu phục vụ từ ngày 11.11.1919. Hiện tại có khoảng 3000 trạm dừng, (một số trạm có mái che, kính chắn gió ba mặt) trên khoảng 155 đường phục vụ ban ngày và 20 đường có phục vụ ban đêm. Vào giờ cao điểm (đến và tan sở) trung bình 5 phút có một chuyến ghé lại tại các trạm. Giá thẻ xe buýt dùng cho cả đường métro, mỗi tháng năm 1985 là 28$, hiện nay đã tăng lên rất cao. Vé lẻ cho mỗi chuyến (dùng một lúc lên xuống nhiều trạm) hiện nay, 2006, là 2 đồng năm mươi xu. Có giá đặc biệt dùng cho học sinh từ 13 tuổi trở lên, nhưng chỉ được sử dụng trong khoản thời gian: từ 31 tháng 10 đến 30 tháng 6 mỗi năm. Đi xe buýt rất thú vị trong những giờ công xưởng làm việc. Xe thưa khách, ngồi ngắm phố phường thoải mái. Tôi đã từng ngồi suốt những con đường dài mà không xuống trạm nào. Đường phố Montréal mãi đến nay, sau 21 năm, có rất nhiều nơi tôi chưa hề đi qua. Một số đường được mang tên các vị thánh, nhân vật lịch sử, hoặc những địa danh có tiếng trên thế giới. Montréal có khoảng 2207 con đường. Sau khi trở thành Đại Đô Thị Montréal tổng số đường lưu thông là 7148. Ngoài đường phố, xa lộ không lúc nào ngớt xe với tốc độ tối thiểu 60, tối đa 100 km/giờ. Tốc độ tối đa ít khi được tôn trọng, thường ở trên mức qui định này. Xa lộ Décarie, từ đông sang tây Montréal, được ví như là cái xương sống của thành phố. Từ xa lộ này sẽ dẫn đến các xa lộ 10, 13, 15, 20, 25, 40…và các đường liên tỉnh…

Trong thời gian đi làm, chúng tôi đã có một mùa hè thật đẹp. Chúng tôi đã thăm viếng, mua sắm tại các siêu thị bề thế, sang trọng, đương nhiên chỉ hạn chế trong những món hàng thích hợp, và vừa với túi tiền nho nhỏ của gia đình. Montréal có khoảng 105 siệu thị (shopping) vào năm 1990, Một số nơi chúng tôi đã đến: Plaza Côte Des Neiges, Rockland Center, Place Côte Vertu, Place Versailles, Alexis-Nihon, Bonaventure Place, Atwater Marché, Angrignon Carrefour, Angrignon Place, Eaton de Montreál Centre, Fleury Promenade, Jean Talon Marché, Mont Royal Plateau…(mỗi siêu thị có từ 200 đến trên 300 cửa hàng, ngoại trừ Eaton de Montréal có số cửa hàng nhiều hơn). Mùa hè năm 1985 chúng tôi còn chạm mặt đầu tiên với những con đường có tổ chức vente trottoir vào 4 ngày cuối tuần. Dù rất còn lớ ngớ, chúng tôi cũng không bỏ sót các con phố Saint Hubert, Jean Talon, Saint Laurent…Tại hè phố Saint Hubert, tôi đã mang về một lồng chim, một cặp chim yến phụng màu xanh lá cây. Đồng loại của những người bạn mới này, một thời rất thân thiết với tôi. Tôi đã từng xem chúng ve vãn nhau, làm tình, ấp trứng, nuôi con. Tôi biết khá rành về loại chim này, trong đầu có ý định sẽ nuôi chim để sinh lợi, nhưng rồi không thực hiện.

Tôi vẫn làm thơ khi thấy thích thú và đã liên lạc được với một số bạn văn cũ như Thái Tú Hạp, Chu Vương Miện tại Hoa Kỳ. Những người bạn mới cũng lần lượt ghi tên vào gia tài bè bạn của tôi. Trong số này chân tình nhất là nhà văn Tưởng Năng Tiến. Qua tin của Thái Tú Hạp, tôi được nhà văn Mai Thảo chào đón trên báo Văn. Một số báo, tạp chí khác cũng loan tải, trong đó có tờ nhật báo lớn nhất của người Việt Nam tại hải ngoại, tờ Người Việt, số 482 ra ngày 7 tháng 7 năm 1985, cho tôi đứng ké với vài cây bút khác trong một bản tin:…

“Nếu năm ngoái (1984) có Chu Vương Miện xuất hiện trên nhiều tờ báo tại miền Nam California với những bài thơ và một loạt bài viết về văn chương dân gian sau 75 ở Việt Nam. Thì đầu năm 1985, Nguyễn Xuân Hoàng đã sang Mỹ và định cư ở Đông Bắc gần Washington D.C. Và nhà thơ Luân Hoán đã sang được Montréal Canada..”.

Các tạp chí và tác phẩm của bạn bè khắp nơi gởi cho ngày một nhiều. Sau vài bài thơ trên tạp chí Văn, tôi bắt đầu gởi thơ đăng trên một số tạp chí Việt ngữ tại nhiều quốc gia có người Việt sinh sống. Cuộc chơi văn nghệ quả thật đã mau chóng đỡ tôi đứng dậy nghiêm chỉnh. Nhờ báo chí, tôi dần dần liên lạc được nhiều người đã quen biết hoặc chưa bao giờ gặp mặt. Vài ba tòa soạn chuyển giúp đến những lá thư rất bất ngờ, trong đó có thư của Phùng Minh, người bạn thời Ngân hàng Việt Nam Thương Tín, của Scotte Jeanne, cô bạn cũ ở Đà Nẵng, của Nguyễn Văn Phúc cùng xóm Thuận Thành xa xưa, của Vân Tường, thời sư đoàn Bộ Binh…còn nữa, rất nhiều. Tôi vẫn còn giữ những lá thư quí giá của riêng tôi này.

Mùa hè đi qua, công việc của tôi cũng bất ngờ bị tạm ngưng. Ông chủ tiệm kim hoàn bảo tôi về chờ đến đợt hợp đồng mới sắp tới của ông. Không riêng tôi, có đến ba người tạm nghỉ trong đó có cả ông bạn người Việt, thợ giỏi. Mất việc nhưng tôi không buồn nhiều một phần nhờ cái hồ cá đã mang về từ Aqua Tropic gần đường Décarie. Chim, cá, cây cảnh cùng tivi màu, vidéo 4-head với những Thần Y Đại Hiệp, Cô Gái Đồ Long…choán bớt một phần giờ trống. Thật ra tôi không ham xem phim Tàu lắm. Nhiều khi mở chỉ để cho có tiếng nói trong nhà. Giai đoạn này Chu Vương Miện rất chịu khó viết thư, dù thư nào cũng không quá mươi dòng, chữ lăn quăn, khó đọc. Cùng với thư, Chu Vương Miện thỉnh thoảng còn kẹp theo vài ba chục đô la, gọi là tiền tem thư hồi âm. Thưởng (tên thật của Miện), lâu lâu còn gởi qua các tạp chí người lớn như Playboy, Penthouse…hoặc phim vidéo như La chatte qui parle…

Một hôm tôi đang trả lời thư nhà văn Võ Phiến, về việc tiểu sử một số cây bút miền Trung, thì điện thoại reo. Bắt phone, rất bất ngờ gặp chủ hảng vợ tôi đang làm., và càng bất ngờ hơn được ông hỏi ý kiến có muốn đến làm cùng chỗ với bà xã không. Tôi trình bày khả năng sức khoẻ, chỉ hợp những công việc nhẹ. Ông d’accord và không để cho tôi suy nghĩ, ông thúc đến làm việc ngay.

Lý vô cùng ngạc nhiên khi thấy tôi đến sở. Và bật khóc khi tôi cho biết sẽ cùng làm việc tại đây. Vợ tôi không khóc vì mừng mà khóc vì thương một ông chồng, không quen chịu khổ phải làm một công việc vất vả. Những giọt nước mắt của Lý thắm thiết hơn những hơi thơ. Nhưng tôi chỉ biết ngậm ngùi.

Hơn nửa tháng sau Lý chọn một sở làm mới. Tôi xin nghỉ một buổi, đưa Lý đến xin việc . Lý trở thành một nhân viên hãng may Peerless từ đó đến bây giờ. Còn tôi bình thản với nghề lao động mới. “Đi Làm Cu Li Ở Đường Iberville” , “ Nghề Nghiệp Mới” và nhiều bài khác được viết ngay trong những giờ làm việc tại đây.

Tôi cũng xin xác nhận rất thành thực: làm công việc chân tay, không chiếm hết thì giờ của việc làm thơ. Vừa làm những việc phải làm cho sở, tôi vừa suy nghĩ, viết nhiều câu trong đầu, rồi vội vã ghi lên trên một mẫu giấy không cần bình thường. Cứ thế thi tập “Ngơ Ngác Cõi Người” từ từ được đầy đủ, ở cái hảng rất tình nghĩa này. Bạn đồng nghiệp của tôi, có trắng có đen, có vàng trên 100 người. Trong số có một phu nhân cựu một trung tá Sư Đoàn 2 Bộ Binh, chị Hương, mẹ của hai nữ bác sĩ vào những năm sau.

Vêtement Peerless, khi Lý mới gia nhập nằm trên đường Saint Laurent, đoạn giao thông hai chiều, về sau hãng dọn về cơ sở riêng mới xây dựng tại số 8888 đại lộ Pie IX, với gần 4000 nhân viên đủ các sắc dân. Người Á châu chiếm hơn một nửa Gia nhập vào đại gia đình này, Lý có thêm được nhiều bạn đồng nghiệp. Một trong số này là Phượng. Chị Phượng con nhà thơ Hồ Mộng Thiệp, một viên chức hành chánh cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa, từng cư ngụ lâu dài tại Đà Nẵng. Chồng của chị là Nhàn, em một người bạn học của tôi. Do gốc gác này chúng tôi sớm có những giao hảo tốt đẹp. Lúc bấy giờ, vợ chồng Phượng Nhàn đã tạo được một chiếc xe Ford Tempo, 4 cửa. Thỉnh thoảng cuối tuần cả hai thường đến chở chúng tôi đi chơi đây đó. Qua cặp này chúng tôi còn được biết thêm vợ chồng Thịnh, làm chung sở với Nhàn, cũng có một chiếc xe cùng hiệu, cùng đời như thế, chỉ khác nhau màu xanh, đỏ. Vào một đêm, sau khi rời quán ăn, hai cặp Nhàn, Thịnh rủ chúng tôi ghé vào rạp Cléopatre trên đường Saint Laurent.

Chưa kịp chạm ghế ngồi, tôi đã hết hồn vì cả “cái giang sơn” người nữ đã chần dần trước mặt. Màn ảnh quá lớn, hình ảnh quá rõ đâm ra ngỡ ngàng. Chị Phượng có khả năng pha trò rất vui. Suốt thời gian tài tử diễn xuất, chị lầm thầm chuyển âm rất ví von, thông minh. Một ông lão người da trắng chợt lựng chựng, tìm chỗ ngồi. Phượng nhận xét: “Ông già run run mà còn vào đây run run”… Đúng vậy, ông khách lớn tuổi vừa đi vừa run, không hiểu vì sao. Âm khí nặng nề quá chăng. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi có mặt trong một rạp chiếu phim dành cho trẻ em trên 21 tuổi. Những rạp adult này có khá nhiều trên các đường Sainte Catherine, St. Laurent…

Ngày 22 tháng 10 năm 1988, tất cả 6 người trong gia đình chúng tôi đều có quốc tịch Canada. Chúng tôi tham dự sát hạch, tuyên thệ, nhận thẻ công dân tại Cour de la Citoyenneté trên đại lộ Dorchester (ngày nay đổi thành René Lévesque) Để được nhập quốc tịch, qui định phải có một số điều kiện: thường trú ít nhất 3 năm, trong thời gian 4 năm vừa qua, tính trước ngày nộp đơn. Đủ 18 tuổi và biết Pháp ngữ hoặc Anh ngữ . Đơn xin vào quốc tịch phải đính kèm: thẻ thường trú, giấy thông hành vào Canada, khai sinh, hai tấm ảnh căn cước có một khoảng trắng phía dưới, 1/2″ .

Được trở thành công dân một nước chăm sóc đời sống mình là một niềm vui lớn. Chẳng thể nào không thấy vinh dự, khi được tham gia vào mọi sinh hoạt của xứ mình đang sống như người bản xứ, với quyền đi bầu, quyền tham gia trong guồng máy hành chánh của chính phủ, và được cấp thông hành của Canada. Cũng chẳng thể nào xác nhận là mất cội nguồn khi có một quốc tịch mới, phù hợp với sinh hoạt hiện tại. Tôi, chúng tôi vui mừng được trở thành “điên”, (một âm sau của từ Canadien, được nói đùa trong đám người Việt) như nhiều người của các sắc tộc khác.

lòng mở ra ôm đời trở lại
từng ngày trống rỗng đã qua mau
dẫu vì tủi nhục hay hãnh diện
giọt nước mắt tôi vẫn một màu…

(Tuyên Thệ, LH)

Cuộc đổi đời của chúng tôi nhẹ nhàng ra rất nhiều sau khi đã có quốc tịch. Năm 1986, nhờ sự vận động của người bạn mới Tưởng Năng Tiến, tập “Hơi Thở Việt Nam” của tôi được xuất bản tại Hoa Kỳ. Sách được đứng tên xuất bản bởi Nhân Văn và Sông Thu. Nhân Văn bắt nguồn từ tạp chí cùng tên phát hành tại Hoa Kỳ. Sông Thu là cơ sở của vợ chồng Thái Tú Hạp, Ái Cầm. Bước sang năm 1989 thi phẩm “Ngơ Ngác Cõi Người” của tôi được các anh trong Nhân Văn, nhất là anh Lý Khánh Hồng, một người tôi chưa được quen biết, lo in và phát hành. Cũng năm 1989, Thái Tú Hạp in thêm cho tôi tập “Đưa Nhau Về Đến Đâu”.

Tập thơ này, sau khi in xong, con gái đầu tôi, Lê Ngọc Hòa Bình, đang sang thăm một người dì tại California, mang về Montréal 500 cuốn. Quan thuế phi trường Dorval tại Montréal đã giữ lại, buộc đóng thuế. Không có tiền nộp, tôi nhờ ty quan thuế tùy nghi giải quyết. Và họ đã giao ngay lại cho tôi, không thu đồng nào. Có thể họ nhìn nhân ảnh cặp vợ chồng in ở bìa sau thảm quá, không nỡ ném vào thùng rác.

Việc sinh hoạt thơ văn của tôi hoàn toàn là một trò chơi, tùy hứng. Tôi không có duyên với việc viết báo kiếm tiền. Chu Vương Miện đã lo cho tôi phần việc chủ biên văn học của tạp chí Sóng của nhà giáo Nguyễn Tăng Chương tại Toronto Canada, tôi đã đồng ý. Tạp chí của anh Chương đã để tên một vài kỳ. Anh đã thanh toán cho tôi một ít tiền. Nhưng sau đó tôi thấy khá bất tiện trong cái xa cách của người chăm việc với tòa soạn, nên tôi đã xin rút tên. Trên báo của anh Chương tôi có góp bài dưới các bút danh Luân Hoán, Cự Hải, Châu Hải Châu, Lý Phước Ninh một thời gian. Có lẽ trong tinh thần yêu mến văn nghệ và lòng tử tế, anh Chương đã thanh toán cho tôi rất hậu, như là một giúp đỡ trong những năm đầu cho một người vừa được định cư.

Tiền thu vào ít, ăn tiêu và mua sắm không hề tiết kiệm, nhưng cuối cùng, năm 1989, chúng tôi cũng gắng sắm được phương tiện di chuyển. Có lẽ nhờ chịu khó co cụm dưới cái sous sol, giá thuê rất hạ, 310 đồng mỗi tháng bao cả sưởi và nước nóng.

Nhân viên hảng bán xe Ford trên đường Jean Talon mang đến tận chỗ tôi ở một chiếc Mustang màu đỏ, sáng choang. Tôi chạy thử một vòng, áy náy từ chối. Thật ra lúc bấy giờ xe nào tôi cũng thích cả. Nhưng Lý, không mấy mặn mà với nhản hiệu Ford, nên tôi cũng chùi theo. Sở dĩ có việc nhân viên bán xe mang đến tận chỗ ở người mua, vì em Hân tôi, đã gọi đến văn phòng bán xe với rất nhiều quyết tâm. Không chọn được xe Ford. Chúng tôi đến góc đường Décarie, Jean Talon và chấm một chiếc Chevrolet màu xám.

Trong hai năm trước, thỉnh thoảng chúng tôi cũng thuê xe chạy loanh quanh trong thành phố. Chrysler, Dodge, Nissan…đều có lái qua. Lòng ham muốn sắm xe đã quá mạnh. Chiếc Cavalier được đem về. Cả nhà bắt đầu bát phố liền trong mấy buổi chiều. Hơn một tháng sau, Lý xin cho Bích vào hãng theo chương trình học sinh làm thêm mùa hè. Tôi đưa hai mẹ con đến hãng trước khi đến sở của mình. Đi sớm, đường Jean Talon còn rất vắng, chạy thoải mái. Vừa lái vừa xoay lui dặn dò Bích vài điều trong lần đi làm đầu tiên. Khi quay lại , trước mặt tôi, sừng sững một cái mặt trời tròn lớn, vàng óng, tuyệt đẹp. Tôi ngắm mà không nhìn ra màu vàng của đèn giao thông đã hiện ra trước đó, khi xe qua giữa ngã tư Jean Talon, Fabre, ầm một tiếng với màu đỏ ối trước mặt. Dù giữ vững tay lái, xe tôi cũng nằm ngang trên lề đường. Rất may chúng tôi không bị gì và không gây thương tích cho một số người đang đứng chờ xe buýt gần đó. Tuy hết hồn nhưng tôi rất bình tĩnh. Chiếc xe bị đánh giá “perte total”. Tôi bị trừ 3 điểm trong vòng hai năm, chịu mất 250 đồng, vì bị xem đã vượt đèn đỏ.(Theo luật định, người có bằng lái xe được cấp 12 điểm. Nếu trong vòng 2 năm số điểm bị trừ hết vì những vi phạm, bằng lái sẽ bị rút lại trong vòng ba tháng. Trong ba tháng này bắt buộc phải tham dự một lớp học liên quan đến lái xe. Những vi phạm phải trừ điểm bao gồm: Từ 1 điểm, khi vượt xe khác bên phải sát lề; trừ 2 điểm, khi vượt xe khác bên trái một cách nguy hiểm hoặc khi không ngừng tại bảng stop /arrêt; trừ 3 điểm, khi vượt đèn đỏ ; trừ 9 điểm, khi không dừng lại phía sau xe chở học sinh đang dừng và có mở bảng arrêt/ stop, hoặc khi không làm tròn bổn phận tài xế lúc xảy ra tai nạn. Việc trừ điểm chỉ tính trong vòng 2 năm, sau đó được cho lại đầy đủ 12 điểm).

Khoảng nửa tháng sau, tôi đi tìm mua xe mới. Chiếc Toyota Corolla màu đỏ sậm của hãng bán xe trên đường Fleury Montréal Nord chúng tôi rất ưng ý. Mọi thủ tục giấy tờ xong, hãng bán xe hẹn sau 2 tuần giao xe. Chờ đến quá 3 tuần, không có. Tôi nói cho chú em biết. Hân tức thì gọi điện thoại tìm quanh, và chiếc xe chúng tôi ưng ý có sẵn tại hàng Toyota Chasse. Chiếc xe Corolla mau chóng về với chúng tôi. Hãng bán cũ dọa kiện tôi bỏ hợp đồng. Nhưng chờ hoài không có giấy gọi tranh chấp. Thật ra lỗi về phần họ đã không tôn trọng cam kết giao xe đúng thời hạn. Nhưng tôi vẫn nơm nớp lo một thời gian.

Chiếc Corolla ngày nay vẫn còn ở với chúng tôi. 17 năm sinh hoạt liên tục dưới cái nóng lạnh của đất trời Montréal, người bạn đường của tôi đã già yếu lắm. Nhưng sức làm việc vẫn bén nhạy, bền bỉ. Nhan sắc đương nhiên xuống cấp, nhưng nhờ sự tu bổ liên tục của chúng tôi, xem vẫn còn được mắt. Không riêng gì nó, đồng đời của nó cũng còn hiện diện rất đông trong thành phố. Nhiều lần chúng tôi cũng muốn thay đổi, nhưng thấy tiếc, thấy thương chưa nỡ. Nó vẫn đi đi về về với mình một cách chân tình.

thông suốt. Một vài vết thương bất ngờ cứ chịu khó dán ít đô la vào đó là xong, chưa phải trả góp, chưa phải lo nhiều. Lý do nghe rất ngụy biện, nhưng rất chân thật.

Ở Montréal chuyện kẻ trộm vào nhà rất ít, nhưng gia đình chúng tôi nằm trong cái thiểu số đó. Vào một buổi chiều thứ sáu. Tan sở từ 3 giờ. Tôi về đưa cả nhà đi shop Côte Vertu. Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, chúng tôi bị khuân đi khá nhiều vật dụng. Hình ảnh những cảnh lục xét, tìm tài liệu, tang vật của xã hội đen trong phim Tàu, đang thực tế hiện ra trước mắt chúng tôi. Monsieur Delorme, concierge, được mời qua, Police đồn 31 được mời tới. Hồ sơ khai mất mang các số: No. d’événement: 31891124044, và No. de Police T803012 được lập, gởi đi. Một thời gian ngắn sau Commis General Insurance Company bồi hoàn cho chúng tôi gần đầy đủ. Thật hú hồn trước đó tôi đã dự định không mua tiếp bảo hiểm. Chuyện mua bảo hiểm vật dụng trong nhà đối với chúng tôi cũng rất hy hữu. Số tranh sơn mài chúng tôi mang qua được vợ chồng Hân Vân mau chóng bán hết, thêm vào đó ngân khoản tiền sữa của 4 con tôi góp vào. Tôi lại không biết uống cà phê, bia ruợu, thuốc lá..(những thứ này tôi thường bị ép hưởng ké bạn bè khi họp mặt), do đó dần dần giúp chúng tôi mua sắm khá nhiều vật dụng tươm tất.

Chuyện mất trộm thúc đẩy ý định thay chỗ ở của chúng tôi. Hợp đồng thuê nhà thường ký giữa tôi và Mr. Davis Orzeck không còn được thực hiện. Căn ấp số 7 dạng 5 ½ , ở số 1535 trên đường Edouard Laurin (còn được gọi là đường MacDonald) thuộc Ville Saint Laurent (ngày nay đã sát nhập vào Montréal) được chúng tôi chọn. Lý đứng tên ký hợp đồng cùng chủ nhà Frank Bramos. Chúng tôi dọn đến chỗ cư ngụ mới đúng ngày 01 tháng 2 năm 1990. Tiền nhà trong 17 tháng đầu là 8.500 đồng, mỗi tháng trả 500, không bao sưởi, nước nóng. 12 tháng kế tiếp mỗi tháng tăng lên 20 đồng. Với giá này chúng tôi phải trả tiền nhà cao hơn rất nhiều, nhưng bù lại chỗ ở rộng rãi, mát mẻ hơn nhiều. Điện thoại chúng tôi dùng trong giai đoạn này mang số 514-956.7441. Tại chỗ ở mới tôi đã viết và hoàn tất thi phẩm: “Cảm Ơn Đất Đá Trổ Thơ – Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài”. Tác phẩm này, Vivi vẽ bìa, được người bạn cũ, Trương Văn Nghĩa, chủ nhà in Kinh Đô ở Houston, in vào năm 1991.

Hôn lễ của trưởng nữ tôi, Lê Ngọc Hòa Bình, cũng được trình gia tiên tại chỗ ở này. Chia vui bởi đông đảo bằng hữu. Nhưng duyên tình của cháu không trọn vẹn.

Tôi xin được nói thêm vấn đề thuê nhà. Tại thành phố Montréal, không rõ từ bao giờ đã có nhiều khu xây cất nhà cho thuê. Tùy theo khu vực giá cả chênh lệch nhau khá nhiều. Theo lời khuyên của Ministère des Communautés Culturelles et de L’Immigration: Tất cả những phí khoản thuộc về nhà ở, bao gồm tiền thuê, bảo hiểm, điện dùng, điện thoại, sưởi ấm, không nên vượt quá 25 % hay 30% lợi tức (chưa trừ thuế). Sau khi chọn được nhà ưng ý, người thuê có thể điều đình với chủ nhà sửa đổi một vài điều kiện trong hợp đồng hoặc sửa chữa một vài chỗ nơi định thuê. Hợp đồng thuê nhà thường có thời hạn một năm, và đa số được bắt đầu từ ngày 01 tháng 7 đến ngày 31 tháng 6 năm sau. Mẫu hợp đồng được soạn thảo giống nhau và được bộ Ministère de la Justice in sẵn. Chủ nhà và người thuê mỗi bên giữ một bản hợp đồng. Nếu muốn tăng tiền nhà vào năm sau, chủ nhà phải báo trước ít nhất ba tháng. Ngược lại, muốn ra đi, người thuê phải báo cho chủ nhà trước 3 tháng, tính đến ngày hết hợp đồng. Nếu chủ nhà tăng tiền thuê quá đáng, có thể thưa ở Régie du Logement, trong thời hạn 1 tháng sau khi nhận giấy báo đòi tăng tiền nhà. Do hợp đồng thuê nhà thường kết thúc vào ngày 31 tháng 6. Nên ngày 1 tháng 7, thành phố Montréal có nhiều khu thật rộn rịp. Sinh hoạt này được gọi là mùa dời nhà. Người cũ đi người mới tới nhưng vẫn trong một căn nhà chưa kịp tu sửa, nhưng đa số người thuê lại thích thay đổi, dù mỗi lần như vậy, rất tốn tiền, hao sức, mất thời gian. Trên một số đường phố vào mùa này ngổn ngang những vật dụng, còn tốt lẫn hư hỏng, nằm đợi xe hốt phế thải đến mấy ngày.

Tôi không có thú dọn nhà, nhưng vì vài điều kiện gia đình, chúng tôi phải chọn một chỗ mới. Ấp số 5 thuộc dạng 4 ½ mới được tân trang, nằm trên đường Barclay là chỗ cư ngụ của chúng tôi kể từ 01 tháng 7 năm 1992. Société d’Habitation de Développement de Montréal ký hợp đồng với Lý. Giá nhà khởi đầu 380 đồng một tháng, không bao sưởi, nước nóng; được tăng lên 399 $ trong các năm 1993-1994 rồi 407$ trong năm 1996…cho đến năm 2002, phải trả 435$. Chỗ ở mới giảm đi một phòng ngủ, nhưng gia đình chúng tôi đã có 3 cháu ra riêng, nên hai phòng ngủ cũng không chật cho hai vợ chồng và cậu út. Chúng tôi đã báo cùng bè bạn, cần liên lạc gọi về số điện thoại 514- 739.9039.

Một tin không vui, trước khi dời về Barclay, tôi đã tự xin nghỉ việc. Chán nản, lười biếng đã đưa tôi đến quyết định không sáng suốt này, dù có sự hỗ trợ ý kiến của Lý và bạn tôi, nhà văn Nguyễn Đông Ngạc.Tôi được hưởng tiền thất nghiệp một năm.

Hưởng quy chế thất nghiệp là quyền lợi đương nhiên của mỗi người sống, làm việc tại Canada. Tuy nhiên phải có lý do chính đáng và được chủ hãng xác nhận mới khỏi bị trừ bớt, hoặc từ chối cho hưởng trợ cấp thất nghiệp. Cá nhân tôi, đúng ra là nghỉ ngang, bất hợp lệ. Nhưng với tình cảm chủ hãng vẫn dành cho, cộng thêm giấy chứng nhận sức khoẻ phải nghỉ ngơi vài tháng (mỗi bác sĩ không có quyền hạn đề nghị nghỉ dài hạn) của cả Nguyễn Ngọc Lang và bác sĩ Từ Uyên cấp, nên cuối cùng cũng suông sẻ.

Không hẳn vì “đất lành chim đậu” nhưng đã quá ngán dời nhà, chúng tôi ăn ngủ tại cuối đường Barclay, bên cạnh những người Do Thái đến 10 năm.

Cuộc chơi văn học nghệ thuật của tôi vẫn trầm trầm. Tôi có thì giờ nhớ lại những người bạn văn đã được tiếp xúc quen biết lâu nay. Các bạn cư ngụ trong cùng thành phố lần lượt được gặp: Nhà thơ Đỗ Quý Toàn (Ngô Nhân Dụng của Người Việt Cali bây giờ), nhà thơ Hoàng Chiều Nhân, nhà văn Trương Bảo Sơn, nhà văn Lê Tấn Lộc, nhà thơ Bắc Phong, nhà thơ Lưu Nguyễn, nhà thơ Phạm Nhuận, nhà văn Song Thao, nhà văn Hồ Đình Nghiêm, nhà văn Nguyễn Đông Ngạc (+), nhà văn Trang Châu, Nhà nghiên cứu sử Nguyễn khắc Ngữ (+), nhạc sĩ Lê Dinh, nhạc sĩ Hoàng Phúc (+), họa sĩ Vivi, họa sĩ Nguyễn Tài, họa sĩ La Toàn Vinh, họa sĩ Diệp Chu Sẻ, họa sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, nhà biên khảo Lê Hữu Mục, nhà văn Nguyễn Hữu Chung (+), nhà văn Võ Kỳ Điền, nhà biên khảo Vũ Thiên Phúc, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhạc sĩ Hoàng Xuân Giang (+), nhà biên khảo Nguyễn Thị Sông Hương, bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng, bác sĩ Nguyễn Ngọc Lang, nhà báo, Trường Kỳ, nhà văn nữ Quỳnh Mai nhà báo Vũ Ngọc Hiến, nhà báo Trịnh Viết Đức (Tin Nhà), nhà báo Lương Châu Phước, nhà thơ Khải Minh, nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân, nhà văn Nguyễn Minh Đức, nhà biên khảo, Giáo Sư Nguyễn Văn Trung, nhà thơ Vạn Giả, nhà biên khảo gs Tôn Thất Thiện…

Bạn ở thành phố láng giềng, cùng quốc gia: nhà thơ Nguyễn Hải Bình, nhà văn Hải Phong, nhà biên khảo Lạp Chúc Nguyễn Huy, nhà thơ Vũ Kiện (+), nhà thơ kiêm nhạc sĩ Phan Ni Tấn, nhà thơ, nhà báo Nguyên Nghĩa, nhà thơ Cung Vũ, nhà báo Nguyên Hương, nhà văn Nam Dao, nhà văn Trà Lũ, họa sĩ điêu khắc gia Phạm Thế Trung, nhà thơ Phạm Đình Cường, nhà văn nũ Hoàng Du Thụy, nhà thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn, nhà thơ Đỗ Quyên, nhà văn Hoàng Chính, nhà văn Nguyễn Quốc Trụ, nhà văn Nguyễn Văn Ba (+), nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn…

Bạn hữu từ Hoa Kỳ đến Montréal: nhà văn Nguyễn Mộng Giác, nhà văn họa sĩ Khánh Trường, nhà thơ Chân Phương, nhà thơ Du Tử Lê, họa sĩ Đinh Cường, nhà văn Phan Tấn Hải, nhà văn Mai Thảo (+), nhà thơ Trần Dạ Từ, nhà văn Trần Thy Nhã Ca, nhà văn Phạm Phú Minh, nhà báo Ái Cầm, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Từ Công Phụng, nhà thơ Phan Xuân Sinh, nhà thơ Trần Trung Đạo, nhà văn Trần Doãn Nho, nhà thơ Phạm Nhã Dự, nhà thơ Hoa Văn, nhà văn Lương Thư Trung, nhà văn nữ Thu Thuyền, họa sĩ Nghiêu Đề (+), nhà thơ Giang, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, họa sĩ Võ Đình, họa sĩ Vũ Hối, nhà văn Trần Hoài Thư, nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Đức Phổ, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà văn Trần Long Hồ, nhà thơ Ngu Yên, nhà văn Mai Kim Ngọc, nhà thơ Tô Thùy Yên, nhà thơ Trần Mộng Tú, nhà thơ nữ Vi Khuê, họa sĩ Hồ Thành Đức, họa sĩ Bé Ký

Bạn văn từ các quốc gia Âu châu ghé đến Montréal: nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến, họa sĩ Thái Tuấn, nhà văn Kiệt Tấn, nhà thơ Thụy Khanh, nhà thơ Bích Xuân, nhà thơ Nguyễn Thùy, nhà văn Ngô Nguyên Dũng, nhà thơ Dương Kiền, nhà văn Nguyễn Thị Vinh

Những người từ Việt Nam sang: nhà văn Minh Quân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Trịnh Cung, nhà thơ Nguyễn Duy, nhà thơ Uyên Hà, nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (+)

Dựa theo trí nhớ tôi liệt kê không phân biệt thứ tự nào chừng nấy quí nhân mà tôi đã hân hạnh được nhìn tận dung nhan, có thể được phép bắt tay nữa. Sự nêu danh như một khoe khoang, tôi thực hiện đúng câu: “Thấy sang bắt quàng làm họ”.

Dù sao, ngồi nhớ viết ra là tôi đã có cái lợi tối thiểu: tiêu được một ít thời gian rảnh rỗi rồi. Lối tập thể dục trí nhớ này rất tốt, tôi nghiệm thấy vậy.

Cùng với việc nhớ quý danh, tôi còn hình dung ra những sinh hoạt văn học nghệ thuật đã qua tại Montréal, có tôi đứng ké một bên lề. Xin gợi nhớ cùng quý bạn:

Năm 1985: Ra mắt Cát Vàng của Vi Khuê vào tháng 6.

Năm 1987: Ra mắt Nước Đục của Nguyễn Ngọc Ngạn và Cỏ Biếc, thơ Cung Vũ, (ngày 18 tháng 4).

Năm 1990: Ra mắt Thơ Bùi Giáng (ngày 31-8), Tri Âm thơ Lưu Nguyễn (ngày 17-10)

Năm 1991: Ra mắt các tác phẩm: Thuyền Nhân của Mai Kim Ngọc,(ngày 8 tháng 2), toàn bộ biên khảo của Nguyễn Khắc Ngữ, Mùa Gặt Giữ Hư Vô thơ Dương Kiền (ngày 11-8), Người Đàn Bà Đi Bên Tôi của Nguyễn Ngọc Ngạn (ngày 16-11)

Năm 1992: Ra mắt Chân Dung Thơ Luân Hoán (ngày 9-6), Thành Đô Gió Bụi truyện Nguyễn Văn Ba (ngày 11-7), Một Nỗi Buồn Riêng truyện Nguyễn Tấn Hưng (ngày 17-10), Buồn Xưa Bây Giờ thơ Thụy Khanh (ngày 01-8), thơ Hoa Sen Nguyễn Hữu Nhật (ngày 8-2),

Năm 1993: Ra mắt Bỏ Chốn Mù Sương, truyện của Song Thao, và Ngày Qua Rất Vội thơ Lưu Nguyễn (ngày 22-5), Huế Buồn Chi thơ Hoàng Xuân Sơn (ngày 4-12),

Năm 1994: Ra mắt Nhìn Nhau Chợt Thấy Ra Sông Núi thơ Du Tử Lê (ngày 14-5)

Năm 1995: Ra mắt tuyển tập 20 Người Viết Tại Canada (ngày 20-5)

Năm 1996: Ra mắt Ra Biển Gọi Thầm truyện của Trần Hoài Thư (ngày 29-6), Tuyển tập nhạc Lê Dinh (ngày 23-6).

Năm 1997: Ra mắt Còn Đó Bóng Hình truyện Song Thao và Thơ Tình của Du Tử Lê (ngày 13-9).

Năm 1998: Ra mắt Xóm Đạo truyện dài NguyễnNgọc Ngạn (ngày 15-11).

Năm 2000: Ra mắt Thơ Văn Việt Nam Hải Ngoại (nhóm Việt Thường, ngày 28-5), Dì Thu truyện Trang Châu (ngày 12-11).

Đa số những cuộc ra mắt sách được tổ chức tại thính đường của các trường đại học Montréal hoặc tại trung tâm sinh hoãt Á châu, thu hút rất đông bạn đọc.Tiếc thay, vào thời điểm tôi kể lể này chuyện ra mắt sách đã sa sút đi nhiều. Một số tác giả, cư dân của thành phố đã bỏ đi không về như: Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Đông Ngạc, Hoàng Phúc, Hoàng Xuân Giang. Một số khác chọn địa bàn sinh hoạt mới. Tôi, Trang Châu, Song Thao, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Xuân Sơn.. còn lai rai. Trong sáu lão tướng này, Song Thao xuất chiêu độc đáo nhất. Ông họ Tạ vốn có nội công thâm hậu về chuyện đời, chuyện sách vở, cộng thêm cái dí dỏm, duyên dáng để xoay những trang truyện của mình thành những trang chuyện phiếm rất tế nhị, thông minh và linh hoạt. Tôi và một số bạn thơ văn khác được anh cho ăn ở ké trên suy nghĩ, dàn dựng từng mẩu chuyện rất nhân bản, rất khoa học. Phiếm của Song Thao đang là một món ăn rất mới, rất ngon cho nhiều người Việt ở khắp nơi. Chỉ trong năm 2005 anh gởi đến bạn đọc hai cuốn Phiếm gồm gần 800 trang chữ đầy những nụ cười tươi vui, thấm thía. Không chỉ trích, không xuyên tạc, mỗi góc cạnh của đời sống được con mắt lạc quan ngắm nghía kỹ lưỡng rồi thở ra… những tiếng cười đơn giản. Anh đang giỡn, nhưng một trò đùa giỡn rất lý thú, thu hút mọi người, trong đó có tôi. Các bạn đừng lầm rằng vì có quen biết với anh mà tôi ba hoa. Mới đây thôi, nhà thơ Thành Tôn, một người chơi sách quí, đã tạm ngưng mua sách mấy năm, nay đã tìm mua Phiếm của Song Thao. Anh gọi tôi không ngớt lời khen. Dĩ nhiên còn khá nhiều lời thưởng thức khác được đăng trên một số tạp chí. Ông bạn Bắc Kỳ ngoan đạo của tôi quả là một cao thủ võ… phiếm. Thế nhưng chuyện trình diện hai đứa con Phiến của anh lại được tổ chức tại một thành phố cách xa Montréal đến sáu giờ lái xe: Toronto!

Bên cạnh sinh hoạt ra mắt sách, triển lãm họa phẩm cũng rất được giới thưởng ngoạn đón nhận. Ngoài những cuộc triển lãm cuả các họa sĩ tốt nghiệp mỹ thuật tại Canada và cư trú ở Montréal như Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Tài, La Toàn Vinh, Diệp Chu Sẻ, còn có các phòng tranh tại Les Jardins du Boisé Montréal của Đinh Cường trong các ngày 28, 29 và 30 tháng 9 năm 1991, và của họa sĩ Võ Đình ngày 27-6 năm 1992. Cuộc bày tranh của Đinh Cường rất thành công cả nghệ thuật lẫn tài chánh, cuộc triễn lãm của Võ Đình, bắt nguồn cho một “cơn bão trong tách trà” vì những tị hiềm, ngụy tạo sự khác biệt quan điểm chính trị để gây rối.

Sinh hoạt báo chí tại Montréal không hẳn yếu kém như nhiều người nhận định. Khuyết điểm, theo tôi nằm ở vấn đề phát hành. Trước thời điểm chúng tôi có mặt tại Montréal, thành phố này đã có nhiều tờ Việt ngữ gây được tiếng vang trong cộng đồng, cụ thể như:

Tạp chí Dân Quyền, một tờ báo mang tiếng nói của một nhóm người còn nồng nàn tâm huyết trong trách nhiệm tự nguyện: tranh đấu cho quyền làm người. Tờ báo được đặt trong tay điều hành của ông Trần Hà Việt, và dưới sự chăm sóc nội dung của ông Trương Trí Vũ. Bên cạnh hai nồng cốt ấy, là những kẻ đồng lòng tích cực, như quí ông Trương trọng Quí, Đinh Vũ, Nguyễn Hải Bằng, Huỳnh Kim Anh…Số ra mắt của Dân Quyền rơi vào tháng 3 năm 1978, mang tầm vóc 22×28 cm, giấy vàng, bìa trắng tốt in một màu. Tranh bìa đa số là hình ảnh quê hương. Nhờ vào co chữ nhỏ, trong 42 trang thường chứa được: lá thư tòa soạn, thời sự trong tháng, tin khắp nơi, kiến thức và kinh nghiệm, điểm sách, sinh hoạt hải ngoại, phần văn học với thơ, truyện, tùy bút, thư tín bạn đọc, … Lồng cùng với chữ nghĩa là những hí họa hoặc những hình ảnh liên quan đến nội dung. Nhờ vào tầm vóc kiến thức của các bài viết, tờ báo đã rủ rê được nhiều tay bút thành danh từ trước năm 1975, góp bài như Trùng Dương, Nguyễn văn Sâm, Vi Khuê… Công sức đáng ghi nhận nhất của Dân Quyền, là trong hơn một trăm số báo, kéo dài gần mười hai năm, Dân Quyền đã đem đến cho gia tài văn chương Việt nam thêm nhiều cây bút có thực tài, trong số đó có thể kể: nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, nhà văn Võ Kỳ Điền, nhà thơ Bắc Phong, nhà thơ Vũ Kiện, … Và nhiều người khác, tuy khởi nghiệp văn thơ trước năm 1975, nhưng qua Dân Quyền, mới thật sự tiến vững mạnh, và được tin tưởng đón nhận: Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Đức Bạt Ngàn…Hộp thư liên lạc với nguyệt san Dân Quyền lúc bấy giờ: Boite Postale 415 Station Snowdon, Montréal P.Q H3X 3T6 Canada. Giá bán mỗi số Can $2.25. Có sẵn trong tay hơn 500 độc giả dài hạn, nhưng Dân Quyền, bất thần đình bản, thật là một tổn thất cho làng báo Việt ngữ hải ngoại. Sau khi đến Montréal, tôi có tìm thăm tòa soạn, rất tiếc, tìm không ra.

Đối lập chính trị với Dân Quyền là Đất Mới. Tạp chí này là hậu thân của tờ Avant-Garde, do một nhóm sinh viên du học trước 1975 thiên tả thành lập. Tạp chí Đất Mới được điều hành bởi tổng biên tập Lương Châu Phưóc. Ngoài một số cộng tác viên ở hải ngoại, còn có những cây bút tại quốc nội đóng góp bài vở như Nguyễn Khắc Viện, Trần Quốc Vượng, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Sáng, … Báo phát hành số đầu tiên vào năm 1980 và kết thúc vào năm 1988 vì tranh chấp nội bộ. Sự tranh chấp gần như đã đẻ ra hai hội “Việt Kiều Yêu Nước”, với hai tờ báo khác nhau:

Ông Lương Châu Phước điều hành một cơ sở ngôn luận tên “Người Việt”. Tên báo còn được đổi lại là “Diễn Đàn Người Việt”. Ấn bản cuối cùng vào năm 1992.

Ông Vĩnh Anh, cựu thư ký tòa soạn Đất Việt dựng lên tờ Đất Mới, đặt địa chỉ tại đường Berri. Ngoài những cây bút khuynh tả tại hải ngoại, còn có một số cộng tác viên từ trong nước, quen tên như Sơn Nam, Hà Huy Hà, Vũ Hạnh, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Xuân Oánh… Hoạt động từ 1980 đến 1991.

Tạp chí Nắng Mới: Khởi đầu là những bản tin, gồm 18 trang in ronéo, biếu không từ năm 1980. Năm 1981 tăng lên 44 trang thành đặc san Vượt Biển. Những cây bút cộng tác có Lưu Nguyễn, Lê Nghĩa, Hồng Nguyên, Trầm Nguyên…Năm 1982, tăng trang và in bằng typo. Báo đã công bố một số người đại diện: Vũ Ngọc Hiến (Montréal), Nguyễn Thành Danh (Ottawa), Nguyễn Huy Tâm (Toronto). Những người viết mới: Nguyễn Minh, Bình Ca, Mạc Vũ, Nguyễn Kỳ Tú, Gác Ga, Võ Văn Quân…Mùa xuân năm Mậu Thìn, 1988 Vượt Biển đổi tên thành Nắng Mới, một tên gọi nhẹ nhàng và giàu tính chất văn nghệ hơn. Số 1 của Nắng Mới gồm hai tháng 2 và 3- 1988. Số lượng người viết có thêm: Trình Chung, Bình Minh, Trung Hiếu, Trần Tiêu, Nam Hà, Nguyễn Việt Phục,Trần Văn Hội, Ðại Ngu, Hồ Mộng Thiệp, Phương Việt, Hoài Nam, Thiên Phúc, Song Hát, Lê thị Bạch Nga, Nguyễn Bá Tứ, Nguyễn Thanh, Sông Trà…

Tuy nhiều cải tiến, tăng cường, nhưng Nắng Mới chưa phải là một tạp chí vượt khỏi địa phương, trong tinh thần văn học nghệ thuật. Rất may, với quyết tâm của một số người chủ trương trẻ, Nắng Mới được bước thêm một giai đoạn nữa. Lần này, báo có chủ nhiệm Nguyễn Đăng, chủ bút Vũ Ngọc Hiến và một ban chủ trương gồm: Lưu Nguyễn, Lê Quang Xuân, Biên Cương, Đỗ An. Các nhà văn Song Thao, Hồ Đình Nghiêm, Trang Châu, và tôi đóng góp ý kiến, bài vở cho Nắng Mới rất tích cực. Những cây bút thành danh khắp nơi cũng gởi bài rất đông. Trên trang báo đã có những tên tuổi: Hồ Trường An, Phan Ni Tấn, Vũ Kiện, Võ Kỳ Điền, Hoàng Xuân Sơn, Thái Tú Hạp, Nguyễn Tấn Hưng, Hoàng Lộc, Hoàng Chính, Nguyễn Văn Ba, Phan Tấn Hải, Kiệt Tấn, Hứa Hoành, Trần Hoài Thư, Lê Tấn Lộc, Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Song Hồ, Xuân Vũ, Nguyễn Đức Lập, Phạm Nhuận, Phạm Thăng, Nguyễn Hữu Nhật, Thụy Khanh.

Nắng Mới đã là một tạp chí được đón nhận tại nhiều quốc gia có người Việt sinh sống. Tiếc thay tuổi thọ của tạp chí đang lên này, vội kết thúc vào năm 1994, sau khi gắng trở mình một lần nữa: ra khổ lớn và thất bại. Có lẽ điều kiện tài chánh đã buộc những người có lòng phải xuôi tay.

Nói về báo chí tại Montréal, không thể bỏ sót những, các nguyệt san có sức sống lâu bền, kéo dài đến hiện nay:

Nguyệt san Nghệ Thuật, do nhạc sĩ Lê Dinh chủ trương, đã quy tụ được một ban biên tập gồm nhiều nhạc sĩ góp bài như Lê Mộng Bảo, Lê Mộng Nguyên, Trịnh Hưng, Lê Minh Bằng, Linh Phương…cộng với một số cây bút thuộc nhiều bộ môn khác: Hà Kỳ Lam, Nguyễn Bá Dĩnh, Hồ đắc Vũ, Lê Thái, Bích Xuân, Ngọc Thủy, Thủy Trang, Trọng Minh, La Toàn Vinh … Phần mỹ thuật và minh hoạ do ViVi phụ trách. Phần kỹ thuật được đặt dưới sự chăm sóc của Lê Duy, con trai nhạc sĩ Lê Dinh.

Nghệ Thuật bắt đầu phát hành tại Montréal từ tháng 6 năm 1994, là một bán nguyệt san, bìa 2 màu, giấy trắng. Sau 3 tháng, báo được chuyển thành nguyệt san với khuôn mặt mới: bìa offset láng; giấy trang ruột, đúng tiêu chuẩn in báo. Tính đến nay (11-2000), Nghệ Thuật đã ấn hành được 80 số, khổ 22×28, từ 88 đến 100 trang. Mặc dù không thấy nêu rõ chủ trương, đường lối, nhưng qua nội dung những số báo đã phát hành, điều dễ nhận ra nhất, đây là tờ báo nghiêng nhiều về phía những nghệ sĩ trình diễn, cùng giới nhạc sĩ. Hướng đi của người chủ trương, dồn vào những tiêu điểm: 1/ phổ biến tác phẩm của các tác giả đã thành danh. 2/ giúp bạn đọc tìm hiểu thêm về sự sinh hoạt cùng đời sống riêng của những tài danh âm nhạc Việt nam. 3/ khám phá và giới thiệu, những năng khiếu trẻ trong nhiều lãnh vực nghệ thuật.

Tuy là một tờ báo thương mại nhưng không đặt nặng vấn đề kinh doanh, nên dù giá sinh hoạt gia tăng, sau 7 năm , độc giả vẫn chỉ phải mất 2 Gia Kim để có một số báo. Nguyện vọng của người chủ trương đơn giản một cách nghệ sĩ: Phục vụ hết mình cho nghệ thuật, cho bạn đọc. Hy vọng với tinh thần này, Nguyệt san Nghệ Thuật không những ăn ở dài dài với nhiều gia đình Việt Nam tại Montréal, mà còn lang thang đến nhiều quốc gia có lời ca tiếng hát Việt Nam vang vọng

Nguyệt san Thẩm Mỹ là một tờ báo dành riêng cho giới sinh hoạt điện ảnh, thời trang và ca nhạc. Trong khoảng 80 trang báo với khổ giấy 21,5 x 28, chứa đựng tất cả những gì liên quan đến giới nghệ sĩ trình diễn, từ cuộc đời, tâm sự, hình ảnh đến mọi chuyện bên lề. Báo Thẩm Mỹ không chỉ là phần đất dành giới thiệu những danh tài ca nhạc, cải lương, thoại kịch của Việt Nam, trong và ngoài nước; báo còn dành nhiều trang viết về những tài danh thế giới, nhất là Hồng Kông, Đài Loan.

Đây là báo duy nhất tại Montréal, không có bóng dáng chính trị trong mọi câu chữ, hình ảnh. Cũng không có mọi loại tin thời sự của đời thường. Phát hành số đầu tiên vào tháng 12 năm 1994; được sáng lập và quản lý bởi nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, một tác giả thành danh từ trước năm 1975, và là cựu giáo sư Triết tại Sài gòn.

Báo Thẩm Mỹ, có lẽ không có ban biên tập. Ngoài nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, chỉ thấy công bố hai người cộng tác đặc biệt là: Trường Kỳ (tác giả nhiều tuyển tập nghệ sĩ), và tử vi gia Thiên Phúc. Báo phát hàng ngày đầu mỗi tháng, hiện vẫn còn bày bán tại quán sách việt ngữ Trung Việt.

Tạp chí Đi Tới, sau buổi gặp mặt của một số cây bút, gồm có Đỗ Quý Toàn, Hồ Đình Nghiêm, Luân Hoán, Trang Châu, Song Thao, Lưu Nguyễn, Nguyễn Minh Đức…tại tư gia ông Đoàn Minh Hóa (Montréal Nord), số ra mắt tạp chí Đi Tới được phát hành vào tháng 4 năm 1994, dưới sự điều hành toàn diện của ông chủ báo Đoàn Minh Hóa. Đến số 16, tháng 8 năm 1995, ban điều hành được công bố: Chủ nhiệm, Chủ bút: Đoàn Minh Hoá. Tổng thư ký: Lê Quốc Uy. Chủ biên văn nghệ: Nguyễn Minh Đức. Chủ biên kỹ thuật: Nguyễn Tài. Trong số 24 bộ mới tháng 8 năm 1999, ban điều hành được thay đổi: Chủ nhiệm: Đoàn Minh Quân. Chủ bút: Đoàn Minh Hóa. Tổng thư ký: Lê Quốc Uy. Và trên mặt bìa báo ghi rõ chủ trương: Dân tộc – Nhân Bản – Khai phóng. Bìa báo cũng đã loại bỏ phần quảng cáo, để in những tác phẩm hội họa hoặc nhiếp ảnh của một số tác giả quen thuộc.

Sau bữa tiệc được ông Đoàn Minh Hóa mời tại nhà hàng Hương Quê, trên đường Saint Laurent để kỷ niệm một năm hoạt động, tôi và hầu hết các bạn đã có mặt trong những ngày đầu của tờ báo xem như đã hoàn tất việc hổ trợ tinh thần và lơi dần việc góp bài. Đi Tới vẫn còn tiếp tục đi tới.

Một cơ sở thông tin lẽ ra vững mạnh nhất nhưng lại rất mệt mỏi, đó là tờ Quốc Gia do chính Cộng đồng Người Việt vùng Montréal chủ trương. Hiện nay có lẽ vẫn còn sinh hoạt cầm chừng.

Những nhắc nhở trên gần như rất đầy đủ những sinh hoạt mà tôi được tham dự. Nhưng cũng chỉ có tính cách kỷ niệm, không là một bản thổng kết chung.

Bằng hữu là một phần đời của tôi. Có bạn, tôi cảm thấy những sinh hoạt của mình có vẻ vững mạnh, chắc chắn hơn, dù chẳng mấy ai được đọc trước bài viết của tôi khi chưa phổ biến trên tạp chí. Sau những cuộc họp mặt văn nghệ, tinh thần thường trở nên nhẹ nhàng, vui vẻ hơn. Thời đầu tiên mới đến Montréal, tôi thường tích cực có mặt trong những cuộc gặp gỡ như thế. Tư gia nhà thơ Đỗ Quý Toàn, có lẽ là nơi tôi được đến đầu tiên. Anh chị Đỗ Quyên (lấy theo họ chồng, sau khi đến Canada), Đỗ Qúy Toàn là những Phật tử ngoan đạo, học trò của thầy Thìch Nhất Hạnh. Nhà của họ có một phòng rộng rãi thường dành cho việc ngồi thiền. Tuy tiện nghi đơn giản, nhưng rất thích hợp cho những cuộc họp mặt. Lần đầu tôi đến, trên thân thể, còn mang theo đầy đủ hương vị của quê nhà. Tôi được chiêm ngưỡng dung nhan những vị khách của anh chị Toàn gồm những chức sắc, môt thời vang danh như bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng, cựu tổng trưởng Bộ Thanh Niên VNCH, Giáo Sư Tôn Thất Thiện, cựu Dân Biểu VNCH Nguyễn Hữu Chung, Tiến Sĩ Nguyễn Hải Bình, Tổng Giám Đốc Quan Thuế VNCH, cha đẻ của “kinh tế kiệm ước”, nhà giáo Hoàng Chiều Nhân, bác sĩ Nguyễn Ngọc Lang,…và những cây bút thứ thiệt: nhà văn Nguyễn Đông Ngạc cùng cô vợ trẻ ca sĩ Nguyên Ngọc, nhà văn Võ Kỳ Điền, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ Bắc Phong, nhà thơ Lưu Nguyễn, nhạc sĩ Hoàng Phúc cùng cô vợ ca sĩ Kim Tuấn…Trong lần gặp mặt này, món quà tôi ra mắt là tập Hơi Thở Việt Nam, vừa mới được hoàn tất từ Hoa Kỳ, 1986, gởi qua. Cũng trong lần họp mặt này, anh Đỗ Qúy Toàn đưa ra chuyện thành lập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại chi nhánh Canada, lần đầu tiên tại xứ sở Lá Phong. Lúc bấy giờ nhà thơ Trang Châu chưa có sự quen biết với anh Toàn, và cũng chưa tham gia một hội đoàn nào, ngoài trường đua ngựa. Những ngày hôm sau, tôi đã điện thoại đến anh Châu (dù chưa gặp bao giờ) rủ anh vào Văn Bút. Anh Trang Châu không hào hứng lắm, nhưng rồi anh và tôi cùng tham gia vào Văn Bút. Anh Trang Châu sinh hoạt rất tích cực cho Văn Bút Việt Nam, anh từng giữ chức Chủ tịch Văn Bút Việt Nam Canada một nhiệm kỳ (không phải danh xưng hiện nay tại Torontro, chỉ dành cho một trung tâm Ontario). Và hiện nay anh vẫn là chủ tịch Văn Bút Việt Nam Trung tâm Québec liên tiếp nhiều nhiệm kỳ và có lẽ còn dài dài. Khác với anh Châu, tôi đã lặng lẽ bỏ cuộc chơi sau nhiệm kỳ của nhà thơ Viên Linh. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn hình như còn nhanh chân hơn tôi.

Tại nhà anh chị Toàn, tôi còn được có mặt trong các lần: Đón nhạc sĩ Phạm Duy, đón Giáo Sư Nhạc Sĩ Trần Văn Khê; đón họa sĩ Thái Tuấn, thưởng thức những tác phẩm sơn dầu tuyệt hảo được triển lãm đơn giản trong phòng khách lớn của anh chị Toàn; đón nhà văn Ngô Nguyên Dũng, để cùng ngồi khuya lắc khuya lơ trong vườn sau nhà anh Toàn với đàn muỗi chung đụng thân mật, lần này anh em văn nghệ sĩ đông vui lắm, có cả Hồ Đình Nghiêm, Lưu Nguyễn, Song Thao, Lê Quang Xuân…

Một tư thất khác, ở ngay lề đường có những quán cà phê “rất Sài Gòn” Saint Denis, là tư gia nhà thơ Phạm Nhuận. Căn dưới sát mặt đường, Phạm Nhuận cho người Ý thuê, mở quán ăn. Lầu một, tổ ấm của Nhuận cùng Thơ, một giai nhân, cựu tiếp viên hàng không Canada, có giọng nói Pháp ngữ tuyệt vời. Lầu hai, dành họp mặt bè bạn, biết yêu thích thơ văn, biết nốc mọi loại Rémy Martin (XO Grand Cognac, Précieuse, Barcelet Tennis, Spectaculaire, Fleure de Diamond, Accord Royal 1738 Cagnac…). Tôi là người chỉ biết cho mọi chất men ngấm đầu lưỡi, nhưng cũng thường được gọi đến để ra mắt các văn nhân, hào kiệt gốc Mít ở khắp thế giới ghé đến Montréal. Đông lắm, không dám nhắc ai, vì ngại vô tình bỏ sót.

Ngoài Đỗ Qúy Toàn, Phạm Nhuận, bạn tôi đều là những người hiếu khách, quí bạn nên rất nhiều lần tôi được dùng những bữa cơm thịnh soạn tại nhà các anh chị Song Thao, Lưu Nguyễn, Nguyễn Đông Ngạc, Nguyễn Minh Đức, Lê Quang Xuân, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Chiều Nhân, Đường Minh Hoàng, Hoàng Phúc, Trịnh Viết Đức, Đoàn Minh Hóa, Nguyễn Ngọc Lang, Dương Quốc Chỉnh, Lê Tấn Lộc, Khải Minh… Tôi còn sang tuốt Hoa Kỳ để được nuôi ăn từ các anh chị Trần Hoài Thư, Vĩnh Điện, Phan Xuân Sinh, Dư Mỹ, Đinh Cường. Ở Toronto tôi có vợ chồng nhà thơ Phan Ni Tấn, ở Ottawa tôi có vợ chồng Lưu Trọng Hồ (trong thân tộc của nhà thơ Lưu Trọng Lư) là những anh chị dành cho cả gia đình chúng tôi những tiếp đón ân cần trong rất nhiều lần tôi có dịp ghé thăm.

Bạn bè đối xử với mình hết lòng như thế, nên một đôi khi gia đình tôi cũng hân tiếp đón bạn, không phải để trả lễ, mà để chỗ ở khiêm nhường của mình có dịp chứng minh “rồng cũng đến nhà tôm”. Quan hệ bạn bè tuyệt vời như vậy nhưng một đôi khi tôi cũng không thật lòng. Đó là những lần từ chối được gọi họp mặt, uống cà phê, ăn sáng. Trong những lần như thế, nếu không thấy hứng, thì thường viện lý do “đau đầu, nhức chân, sổ mũi, ho hen’’ để từ chối. Lạ một điều, nhiều lần giả bệnh như vậy, chỉ sau một ngày, tôi ngã ra bệnh thật. Tôi có thói xấu là ưa than thở. Mấy từ “mệt quá” bén rễ xanh cây trên cặp môi tôi từ bao giờ. Những quán cóc chúng tôi thường ngồi đa số là quán cà phê: MMM, trên đường Darlington. Al VanHoutte trên đường Côte des Neiges hoặc tại các quán Harvey’s, McDonald’s. Phở Hòa, Phở Bằng, Phở Liên, Phở Bắc… cũng có nhưng thường là để… no bụng. Tôi học được ở các bạn tôi nhiều điều khôn và nhờ họ tôi tham dự vào những thưởng ngoạn nghệ thuật sống thật, viết những câu thơ có thêm mùi vị lạ:

“Đồi cao cỏ tỉa gọn gàng, con chim mở mắt làng quàng muốn bay, đầu trần trụi-đứng-loay hoay, mùi hương phấn cỏ ứa đầy môi hoa, nguyệt đong đưa ánh nhạt nhòa, rừng trầm bỗng nổi điệu ca huê tình, ta ngồi giữa cõi u minh, rượu thay thơ tự đãi mình cầm chân, thèm đi khắp cõi phong trần, thánh thi chạm mặt quá gần mà xa, ta-hình tượng Phật-tâm ma, nghĩa là ta vẫn là ta muôn đời, lặng yên ngắm núi, ngắm đồi, mừng da thịt mãi sống đời thanh xuân”

Những lần ngồi với Nguyễn Minh Đức, Song Thao, Hồ Đình Nghiêm, Lưu Nguyễn… tại những sàn nhảy tươi mát trên đường St. Catherine cũng phải được kể là những lần thư giãn có hiệu quả tốt. Một vài ngụm bia, một ít đường nét gợi mở, không làm chúng tôi manh nha một tà ý nào. Trái lại những nét nghệ thuật được chiêm nghiệm một cách thiết thực và trang trọng hơn. Năm họa sĩ Trịnh Cung sang Hoa Kỳ có ghé thăm Montréal, anh em chúng tôi có chiêu đãi anh một đêm ngồi ở Solid Gold trên đường Saint Laurent. Với con mắt giàu thẩm mỹ, ông họa sĩ đã mô tả rất thú vị “cái cõi đặt tay vào” của nhà văn Mai Thảo. Tôi tin tôi không thua kém anh bạn Thương Nguyệt này bao nhiêu, về cái khoản thưởng ngoạn và mô tả. Mong đừng xem những thành thật này là dở hơi. “Cưỡi ngựa xem hoa” có lẽ vẫn hơn những mượng tượng.

Những sân khấu vũ khỏa thân tại Montréal rất nhiều, được mở công khai tại nhiều khu dân cư. Qui mô nhất là chung quanh Ngã Tư Quốc Tế (giao điểm của hai đường Sainte Catherine và Saint Laurent). Những sàn nhảy lộng lẫy nhất ở khu này có thể kể: 888 (St.Catherine), Chez Parée (Stanley), Club Super Sex (Ste. Catherine)… Bạn cũng có thể có cơ hội “trả thù dân tộc” nếu chịu khó lạng quạng ở Ngã Tư Quốc Tế. Có một số người Mỹ cho rằng Montréal là thành phố du lịch và sinh lý. Một số người khác xem Montréal là một Bangkok của Thái Lan, có lẽ họ dựa vào những những hình thức quảng cáo thân thể khỏa thân bằng ánh đèn đủ màu, lấp lánh thường trực ngày đêm trên một số đường phố sầm uất. Cùng những cửa hiệu rộng lớn chuyên bán dụng cụ về sinh lý, và phim cấp ba một cách công khai.

Cuộc chơi chữ nghĩa đã có phần hơi buồn, tôi đâm ra sưu tầm những ca khúc, những giọng ca. Ngày ngày tôi nghe nhạc, phân loại, chọn thu vào vidéo. Ý Lan, Khánh Hà, Vũ Khanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Sĩ Phú, Elvis Phương, Ngọc Lan, Ánh Tuyết… ngoài những giọng ca tuyệt vời của âm nhạc Việt Nam đó, tôi không bỏ sót những Duy Khánh, Duy Quang, Thanh Lan, Như Quỳnh, Hương Lan, Thùy Dương, Trần Thái Hòa, Diễm Liên, Mỹ Tâm… Gộp riêng từng giọng hát. Dồn chung từng chủ đề. Chọn những ca khúc ưa thích…Ngoài âm nhạc tôi còn sưu tập những phóng sự du lịch, tỉ mỉ phân chia từng vùng địa lý, từng quốc gia. Phim người chưa đủ, tôi “tự biên tự diễn”, lang thang đây đó quay phim cảnh sắc của Montréal. Không công viên nào tôi không tới. Không con thác nào tôi không nhìn. Dĩ nhiên tôi còn quá chân đến các thành phố lân cận: Québec, Granby, Lachine, Laval, Longueuil, Sherbrooke, Trois Rivieres, Sept-Iles, Belleville, Ottawa, Toronto, Niagara, Mississauga…Tôi còn cù rủ đám con để bén gót qua phần đất Cờ Hoa: New York, Washington DC, Virginia, Atlantic, Vermont, Boston, New Jersey, Baltimore…

Thời tiết ở Montréal một đôi khi làm khó dễ sức khoẻ của tôi. Nhưng không vì vậy, mà tôi không thích hợp với vùng đất có thể nhận diện một cách rõ ràng bốn mùa: Xuân (từ 21 tháng 3 đến 21 tháng 6), Hạ (từ 21-6 đến 21-9), Thu (từ 21-9 đến 21-12), Đông (từ 21-12 đến 21-3). Đầu xuân trời vẫn còn khá lạnh. Nhưng một cái lạnh đủ để cây cỏ vươn mình xanh tốt. Vào thu, Montréal và các vùng phụ cận trở thành một bức tranh tuyệt vời, hàng trăm sắc lá chen nhau, rực rỡ đẹp để chuẩn bị một cuộc chia tay. Mùa đông, đại diện chính là tuyết cũng sẽ đem lại cho con người nhiều thú vị trong sự lạnh lẽo. Tôi không thể ghi hết những vui thú do từng mùa mang lại, bởi nhiều cuộc chơi tôi không có khả năng trực tiếp tham dự. Mùa hè là mùa tôi yêu thích nhất, dù cái nóng nhiều lúc cũng rất kinh khủng. Hàng ngàn loại hoa đua nhau nói lên tiếng nói riêng của mình bằng màu sắc, bằng hương thơm. Hoa ở khắp mọi nơi. Trong nhà, chung quanh vườn rào, ngoài cổng ngõ, ngoài đường phố, trong quầy hàng, trong siêu thị…Những chương trình âm nhạc quốc tế với nhiều quốc gia tham dự trình diễn suốt mùa hè tại nhiều nơi trên các đường phố sầm uất. Cửa trung tâm vui chơi La Ronde đã mở với hàng trăm trò chơi thu hút du khách thế giới cùng thị dân địa phương. Cuộc thi bắn pháo hoa với nhiều nước tham dự diễn ra trong vòng nửa tháng vào các đêm thứ tư và thứ bảy. Mỗi lần thi tài kéo dài trên dưới ba giờ. Nhưng những sinh hoạt tuyệt vời trên, không phải là điểm chính, tiêu phí nhiều thời gian tốt đẹp nhất trong năm của tôi. Mùa hè đã giúp tôi sang thăm nhiều thành phố, bãi tắm, sòng bạc ở nước người láng giềng Hoa Kỳ. Dù có kéo máy vài lần ở casino Atlantic (USA), cũng chỉ để nghe thử tiếng bạc cắc rơi có giống những tiếng rơi tại sòng bạc Montréal trên đảo Sainte Hélène. Dù có thòng tay vốc một ngụm nước biển ở bãi tắm Wildwood Beach, hay Virginia Beach, tôi cũng không bỏ được mắc cở…cởi chân ra để vọc nước. Mùa hè cũng là mùa mang tôi đến thăm những con thú được nuôi dưỡng ở các sở thú lớn nhỏ của Montréal: Zoo de Safari, Granby Zoo, Biôdome de Montréal…Và thật khó quên những góc bờ sông Papineau. Chẳng phải vì vụng trộm hôn ai ở những điểm gió mát, vắng xe này đâu nhé. Thẻ câu cá đã mua, mọi dụng cụ đã sẵn, tôi vẫn thường làm một ngư ông tài tử. Gia đình chúng tôi đã từng đi đến những vùng rất xa để hưởng thú vui này, Rawdan, Long Saut và nhất là Carillon. Tại Carillon, chúng tôi thuê thuyền nhỏ ra giữa dòng, hoặc lên một bờ đập thủy điện. Cá ở đây quá nhiều. Những con cá bạc trắng dài bằng nửa cánh tay, mập đầy hơn một bàn tay, được kéo lên khỏi mặt nước trong từng phút. Chẳng bao lâu những bao đựng rác nhựa đen lớn không còn chỗ chứa. Một buổi câu tài tử một lần có thể đem về trên ba trăm con là thường. Gia đình chúng tôi ít khi ăn cá, phải tìm người mang đến cho. Nạn nhân của sự lãnh quà bắt buộc này là một vài bạn hữu quen thân. Có một lần Bách tham dự . Sau một lúc nhìn những con cá vừa được đưa lên bờ nằm ngáp. Bách nói con cá đang khóc và thả nó xuống dòng sông. Sau hôm đó chúng tôi không trở lại Carillon. Có một số người Việt Nam đến câu cá ở đây để làm thực phẩm. Đi câu cá để vui chơi nhưng tôi cũng suýt mất mạng một lần. Hôm đó, buổi chiều, tôi đang thay mồi câu, Lý lạng quạng đi ngang, vướng cần, ngã kéo theo dây

cước. Lưỡi câu cắm sâu vào ngón tay tôi. Không biết cách nào lấy ra vì mắc cái ngạnh, tôi nhắm mắt giật mạnh. Lưỡi câu văng ra cùng máu. Trong cái đau xé da, tôi bất tỉnh. Nhờ cù là Tiger Balm, dầu gió xanh, Lý và các con giúp tôi hốc hác tỉnh dậy như vừa qua một trận ốm.

Chuyện đi đây đi đó vui chơi, nhất là đi du lịch của tôi thật ra chỉ bằng một phần mười của anh bạn Song Thao. Tôi thấy vợ chồng anh ngao du mà thèm. Du lịch như anh mới ra du lịch, còn tôi giống như đánh du kích, thò thụt, tiến thối mau lẹ. Cái thú tôi tìm thấy thường nằm trên đường đi hơn là điểm đến. Chính vì thế không ít lần tôi cao hứng lái xe chạy vòng Montréal từ Bắc sang Tây, Hoặc vô cớ lên phi trường rồi chạy trở về. Không phải tôi đi tìm thơ, không phải tôi đi tìm một người đẹp. Tôi chỉ đi khan vậy thôi. Ngắm đường, ngắm phố, ngắm người, ngắm xe, ngắm cây cỏ…mọi thứ đang diễn ra, và từng khắc khác biệt nhau. Dĩ nhiên sách vẫn đọc, thư viện vẫn thỉnh thoảng ghé và thơ thì vẫn có sẵn trong da thịt.

Trong thời ở Barclay, tôi cho tái bản được: Rượu Hồng Đã Rót, Viên Đạn Cho Người Yêu Dấu, in thêm được Cỏ Hoa Gối Đầu, Sông Núi Cùng Người Thơm Ngát Thơ. Tôi vẫn sống thư thả, thong dong dù chỉ dựa vào một đầu lương của vợ. Không ít người nghĩ rằng tôi được hưởng một trợ cấp nào đó của chính phủ với “cái thương tật trời cho” của mình. Nhiều người phao tin vịt, nhiều người bày khôn, Lý không thể không xúi dục tôi làm đơn xin trợ cấp. Để vui lòng bà Tú Xương mới, như các bạn tôi gọi đùa, tôi nộp đơn. Kết quả vui vẻ như thế này, từ Centre de Côte des Neiges, đưa lại ngày 22 tháng 12 năm 1992:

“Nous vous informons que votre demande d’aide financière est refusée à compter du 92-12-16, parce que vos revenus ou ceux de votre famille sont supérieux au barèmes prèvus par la loi sur securité de revenue. Ce revenue gagné par votre épouse est suffisant”

Ngày 21 tháng 9 năm 1996, là một ngày vui của gia đình chúng tôi. Đây là ngày cử hành hôn lễ của con gái thứ Lê Ngọc Thạch Bích và Nguyễn Minh Dũng, con trai thứ của ông bà Nguyễn Gởi. Chỗ ở Barclay không được đủ rộng, chúng tôi mượn đỡ chỗ ở của Hân và Hải Đường làm địa điểm cho hai cháu trình diện ông bà. Dĩ nhiên có đầy đủ lư hương, chân đèn, tượng Phật và chân dung cha mẹ chúng tôi, cùng hoa trái… Có thể nói không ngoa, vợ chồng chúng tôi thuộc loại ngờ nghệch nhất trong mọi nghi lễ thiêng liêng. Những người bạn thân thiết của tôi lại phải đến, đứng kèm bên cạnh, góp tay góp lời. Chúng tôi một lần nữa xin gởi lời cảm tạ đến: anh chị Hoàng Xuân Sơn Quách Kim Lân, anh chị Tạ Trung Sơn (Song Thao) Lê Thị Diệu Hương, anh chị Nguyễn Thế Nghiệp (Lưu Nguyễn), hai em Dương Quốc Chỉnh-Liên . Cũng như mọi cuộc thành hôn khác của người Việt tại Montréal, ngày trọng đại của một đôi uyên ương thường được diễn ra trong dịp cuối tuần, thứ bảy hoặc Chủ Nhật. Trong ngày, ngoài cử hành hôn lễ, gia đình hai bên có thể đi thăm vườn hoa Jardin Botanique, hoặc một danh lam thắng cảnh nào đó trong thành phố để chụp ảnh, quay phim lưu niệm. Buổi tối là dạ tiệc, thường khoản đãi tại các nhà hàng ăn lớn của người Trung Hoa. Không mấy có nhà hàng ViệtNam tại Montréal khai thác dịch vụ này.

Đêm dạ tiệc của Bích – Dũng tổ chức tại nhà hàng Bill Wong trên đường Décarie. Dù bạn bè chúng tôi không nhiều, nhưng khách được mời của hai họ khá đông. Ngoài một số bạn văn tại Montréal đến chúc mừng chúng tôi có rể mới, chúng tôi thật vui mừng trước sự hiện diện quí báu của các bạn từ phương xa đến. Ở Hoa Kỳ : nhà thơ Tô Thùy Yên, nhà văn Trần Hoài Thư và phu nhân; từ Toronto nhà thơ Phạm Đình Cường, nhạc sĩ, nhà thơ Phan Ni Tấn cùng phu nhân và cháu Phan Kim Lân ; từ Việt Nam: anh chị bác sĩ thẩm mỹ Dương Đình Hùng. (Anh Hùng sau khi trở về Việt Nam, có cho in trên báo Thanh Niên số 22(1436) ra ngày Chủ Nhật 07-2-1999, một bút ký, có nhắc:… “Đám cưới được tổ chức trên lầu một của một nhà hàng Tàu. Anh L.H là thi sĩ nên thực khách hôm đó khá nhiều những người trong giới viết văn, làm thơ, làm báo…nơi đây. Từ nhà thơ T.T.Y bên Mỹ bay qua, Bác Sĩ Trang Châu có một thời làm chủ tịch hội Văn Bút hải ngoại, thi sĩ P.N.T cũng từ Toronto lên dự…Vài người tôi biết mặt, quen tên trong các tạp chí, giờ mới có dịp gặp..”-trang 14).

Dĩ nhiên tôi cũng không quên bạn bè khắp nơi chia vui qua báo chí, hoặc những tấm thiệp mừng xinh xắn của Thái Tú Hạp, Thành Tôn, Đinh Cường, Lưu Trọng Hồ… Kinh ngạc nhất lời chúc của Nguyễn Dũng Tiến, tác giả Lính Đánh Thuê, Vàng Đen và cũng là ông chủ cơ sở chim cây hoa cá Mimosa Nursery từ East Los Angeles CA gởi qua. Trong phong thư có những mảnh vàng đen hiện thành chữ số khá nặng. Minh Dũng và Thạch Bích đã cho chúng tôi hai cháu ngoại: Nina, và William. Nina đã được 5 tuổi, xinh xinh, có trí nhớ tốt. Tuy hơn thiếu bạo dạn nhưng luôn luôn nhanh nhẹn đưa tay xin nói trong lớp mẫu giáo. William, được ba má gọi là “thằng bợm”, lười ngủ hơi gầy, nhưng cứng cáp đã có thể đi được một đoạn xa, và rất thích trèo cầu thang. Ngay lúc tôi đang gõ những dòng này, Bích Dũng đang làm lễ cúng tròn một năm tuổi cho cháu, hôm nay là 06 tháng 02, ngày cháu ra đời, cùng tại bệnh viện với chị Nina, Hôpital Saint Justine.

Nỗi ưu tư lớn nhất của bà xã tôi là ông thân sinh còn ở Việt Nam. Biết không đủ khả năng để tạo điều kiện bảo lãnh đoàn tụ, chúng tôi xoay qua xin cho ông cụ qua thăm con cháu một chuyến. Ba chúng tôi xuống phi trường Dorval đêm 28 tháng 12 năm 1996. Sự vui vẻ khỏe mạnh của ông là một món quà lớn ông đã mang qua cho chúng tôi. Suốt trong 6 tháng ông vui chơi cùng con cháu, chúng tôi đưa ông thăm viếng nhiều nơi trong thành phố, Thủ đô Ottawa, các thành phố Toronto, Mississauga, Québec…Thác, đồi, công viên, sở thú…Nói chung những nơi nào chúng tôi từng vui chơi đều đưa ông đến. Ba của chúng tôi cũng có cơ hội tham dự hội chợ Tết người Việt tổ chức tại Complex Desjardin. Ông hết sức hân hoan ngồi vào những hàng ghế gần sân khấu. Ông theo dõi tỉ mỉ lễ dâng hương và cũng không bỏ sót những màn trình diễn văn nghệ nào kể cả những tiết mục của các cộng đồng bạn đóng góp. Ông vui mừng được gặp bè bạn của tôi, cười nói cởi mở. Ông cũng được xem lễ quốc khánh của Québec, lễ quốc khánh của Canada. Ngồi bên đường Sherbrooke, xem những chiếc xe hoa trang trí lộng lẫy, cùng những hàng người cờ hoa rước lễ, mặt ông rạng rỡ như vui mừng cho chính tổ quốc ông. Có lẽ ông sung sướng hân hoan trước sự tự do thanh bình của một dân tộc. Tình bạn ở thế hệ nào cũng rất đẹp. Ba chúng tôi đã hết sức vui mừng khi gặp lại ông Hoàng Đình Giáo, một công chức ngân khố Đà Nẵng, hiện sống tại Ottawa. Hai ông cùng một tuổi, từng sống chung một xóm, cùng có chung nhiều vui buồn. Ngày nay mỗi người một cảnh đời, như tôi tin họ vẫn rất hiểu và gần nhau. Hai ông cụ bây giờ cũng đã rủ nhau rong chơi một cõi khác. Sự xa cách của hai vùng trời đất chắc không còn cản trở những tâm hồn tri kỷ.

Chúng tôi có thêm một lần vui đưa con vu quy. Hôn lễ của Lê Ngọc Hòa Bình và Hồ Đắc Chính diễn ra ấm áp trong căn nhà đường Barclay. Mối tình internet đã có kết quả tốt đẹp. Gia đình chú rể ở tận Idaho Hoa Kỳ, chỉ có cha mẹ theo qua rước dâu, nên chúng tôi tiến hành lễ trong đơn giản. Một tiệc mừng không quá đông, được gặp gỡ tại nhà hàng Furama, phố Tàu. Những khuôn mặt chia vui, không ai xa lạ hơn những cặp Nguyễn Ngọc Lang, Song Thao, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Quốc Tường, Lưu Nguyễn, Lê Hân, Phan Ni Tấn…Hòa Bình là đứa con có số sống xa gia đình. Thời ở Việt Nam, chúng tôi sống tại Đà Nẵng, thì cháu sống cùng chị tôi ở 22 Lê Lợi Sài Gòn, theo học Lê Qúy Đôn, bây giờ khăn gói theo chồng sang Mỹ quốc. Chính người gốc Nha Trang, như Minh Dũng, thành đạt khả quan trong học vấn, hai cháu đã mua đất xây nhà ở một vùng mà chúng tôi không thích lắm, vì không ít tuyết hơn Montréal bao nhiêu. Bình và Chính cũng cho chúng tôi một cậu cháu ngoại hết sức kháu khỉnh. Mấy ngày nữa Vincent HoLe cũng mừng sinh nhật năm lên 4 (11 tháng 2). Thằng bé có trí nhớ rất tuyệt, và bạo dạn vô cùng. Thích vẽ vời dù mới đi vườn trẻ, cu cậu cũng đã dám chê bà ngoại qua điện thoại “bà ngoại nói tiếng Việt, con nói tiếng Mỹ bà có hiểu đâu”. Trong ba mùa hè vừa qua cháu đều theo ba má về Montréal, một quê ngoại hờ của cháu (Hoà Bình vẫn giữa quốc tịch Canada)

Giữa tháng 10 năm 2002, vợ chồng con gái thứ của tôi dự định mua nhà. Tôi và Lý có tháp tùng đi thăm các khu nhà mới xây. Tôi nổi chứng tùy hứng…một hai xúi vợ mua nhà khi gặp một cái “maison de ville en rangé” (Cottage) vừa ý. Căn nhà mang số 11351 ở đường Armand Lavergne, vùng Montréal Nord. Đôi vợ chồng đã không tiếc gì tình nghĩa của nhau, còn tha thiết gì ngôi nhà một tuổi đời nên treo bản bán với giá phải chăng. Lý luôn luôn bị động trước những ý kiến của tôi. Hơn nữa cô nghĩ đến hai cậu con trai chưa nên thân, muốn có sẵn một cái gì đó cho con, nên dễ dàng thực hiện cái thích bốc đồng của tôi. Chúng tôi trở thành những người mắc nợ vào cuối năm 2002.

Nhà mới chỗ ngồi mới, không in được tập thơ nào, dù không thiếu những bài mới viết. Cái trò sưu tập tiểu sử tác giả Việt Nam đã phung phí thời gian của tôi quá nhiều. Anh bạn nhà văn Nguyễn Sao Mai, từng in Cỏ Hoa Gối Đầu, không ngại in tiếp Tác Giả Việt Nam. Cùng lúc đó Lê Hân cũng cho in cuốn thứ hai của nhiều tác giả viết về tôi: Luân Hoán – Một Đời Thơ, sau Chân Dung Thơ Luân Hoán in từ thời ở Ville St. Laurent.

Đã nhắc vế chuyện này chuyện kia, nhưng chưa nhắc đến cái chủ yếu làm nên mọi sự là sức khỏe. Tôi xin ngắn gọn: Sau hai năm định cư tại Canada, tôi bị chứng khó thở về mùa đông. Tôi tự khai với bác sĩ là bị bệnh suyễn và được xác nhận như vậy. Tôi được cho toa mua những thứ thuốc cần thiết. Ventolin, Flovent, SereVent…Thật ra tôi không dùng thuốc thường xuyên, và không dùng nhiều. Tôi không hề bị khò khè như những người mắc chứng bệnh này. Tôi thường có sự khó thở khi bị nhiễm bệnh cúm. Cái bệnh dễ ghét này năm nào cũng điểm danh tôi một vài lần nhất là tháng 2 dương lịch. Tôi đã hai lần vào bệnh viện Hôpital Jewish General (3755 Côte St. Catherine), 1 ngày ở Hôpital Général de Montreal (1650 Cédar), 5 ngày ở Hôpital Santa Cabrini (5655 St.Zotique Est) 1 lần.

Lần vào Hôpital Santa Cabrini trong tháng 2 năm 2005 làm tôi đâm tức giận chính mình. Nguyên nhân: quá lo sợ trong phòng vệ: uống Advid-Liqui-Gels ngừa nhức chân (trời động) uống Tylenol-extra-fort ngừa bệnh cúm, dù đã chích trước đó, uống Ativan-1mg để ngủ, khỏi nghĩ đến chuyện có thể cúm, bơm cả Ventolin để nở cuống cổ. Kết quả: Chân tay run, đầu choáng váng. Xe cấp cứu chở đến bệnh viện, những triệu chứng trên biến hết, chừng như những con vi trùng trong cơ thể tôi, sợ chích kim, sợ lấy máu đào tẩu cả. Tôi đã có thể làm thơ, hoặc làm gì cũng được, nhưng lại phải nằm lại nhà thương lâu nhất, đến 5 ngày.

Trong suốt năm đêm, tôi chỉ chập chờn vì sợ…ma. Ma quỷ hư thực tôi không dám bàn, nhưng điều này khá lạ. Đêm đầu tiên, trong lúc lim dim tôi gặp được anh Nguyễn Hữu Chung, nhà văn, cựu dân biểu quốc hội VNCH. Anh Chung đã qua đời trước đó không lâu. Tôi có đến vĩnh biệt anh khi anh nằm trong quan tài. Đêm đó giữa một đám bạn ngoài công viên, tôi chợt thấy anh Chung đang mừng rỡ và vồn vã, dang rộng hai tay, tiến đến ôm tôi, và nói: ‘Mừng quá gặp “toi” ở đây’. Cũng ngay lúc anh khép vòng tay, tôi đánh rơi cái điện thoại di động, vội vã cúi xuống nhặt, làm cho anh Chung ôm hụt, mất đà té xuống đất. Tôi giật mình thức dậy. Mãi mấy phút sau tôi mới nhớ ra anh Chung đã chết. Tự nhiên toàn thân nổi da gà. Rõ ràng anh Chung muốn đón tôi đến cõi mới.

Những đêm kế tiếp, đêm nào tôi cũng cảm thấy có người đang quan sát mình. Có đến ba lần tôi mở mắt và thấy một người đàn bà, không mặc đồ y tá, đứng im nhìn mình. Thân thể tôi cứng đơ, cặp mắt chết sững, nhưng chỉ vài phút, tôi thấy người đàn bà lẳng lặng ra cửa. Chẳng thể là người lạ định tìm lấy một món gì. Tôi không có gì đáng lấy. Dù chong đèn suốt đêm vẫn không bớt sợ. Không biết một câu kinh nào rành rẽ, ngoài mấy câu: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát”, tôi lẩm nhẩm trong miệng, trong khi mắt vẫn ngước lên nhìn tượng Chúa được treo cao trên tường, đối diện chỗ tôi nằm.

Phòng bệnh rất rộng nhưng chỉ để một giường quay, bàn ăn có bánh xe, tủ đầu giường và một số dụng cụ y học được để sẵn. Cửa sổ phòng chiếm trọn một bức tường, toàn bằng kính trong suốt, có màn kéo rất mỹ thuật. Hai chiếc ghế bành loại một chỗ ngồi đặt ở hai đầu chiều rộng cửa sổ. Ban ngày tôi kéo rộng màn cửa nhìn xuống sân bệnh viện, nhìn đường xe chạy và những ngôi nhà bên kia. Sự sống vẫn bình thản diễn ra trước mắt tôi. Chẳng ai cần biết rất nhiều người đang phiền não, đau đớn, chờ chết trong bệnh viện này. Tôi chợt tìm thấy xác một con ruồi. Vịn vào tử thi một sinh vật quen thuộc, tôi nghĩ ngay trong đầu những câu thơ. Không có tờ giấy nào mang theo. Tôi vào phòng vệ sinh, lấy vài tờ giấy chùi tay, ghi tạm. Sợ thất lạc, tôi gọi nhà văn Song Thao, đọc cho anh ấy chép và nhờ chuyển đến tạp chí Thế Kỷ 21. Đây cũng là một tùy hứng bốc đồng của tôi. Trong bài viết này, chưa có nhiều trích đoạn thơ, xin chép bài “Gặp Con Ruồi Chết Trong Bệnh Viện Santa Cabrini”.

lại được vào nằm chơi trong bệnh viện
qua ngày thứ hai chừng sắp tà tà
năm bịch nước truyền vào, rút ra mươi ống máu
hai cánh tay gân ngán ngẩm thở ra

nằm không, mỏi, lưng mòn, vai lực bực
dạy đi quanh cho thư giãn thần kinh
bệnh viện Ý đậm đà màu sắc Ý
giữa phòng treo thánh giá, Chúa lim dim

đến cửa sổ áp má vào mặt kính
nắng tươi non nhờ tuyết rửa hôm qua
từ lầu năm nhìn xuống đường xe chạy
thèm ơi thèm sức khoẻ sắp chia xa

chợt ước có một ống dòm loại xịn
nhìn dãy nhà nhiều cửa kính bên kia
chắc sẽ gặp vài Thúy Kiều chải tóc
khoe gáy thơm, hay còn hơn nữa kìa

bỗng khựng lại ngay dưới tầm tay vịn
một con ruồi, tuyệt quá, rất Việt Nam
đen, nhỏ thó, chết vẫn còn nghịch ngợm
nằm ngửa dương chân, râu vểnh hiên ngang

con ruồi nhỏ vào đây trước ta, đã hẳn
thèm nắng trong hay thích sống tự do
tại sao chết âm thầm bên cửa sổ
thân nhân đâu, quê quán tận nơi nào?

ngậm ngùi ngó con ruồi, buồn một chặp
quay lại giường nằm ngắm Chúa bao dung
quyết chẳng nghĩ, chẳng suy tư gì nữa cả
sống chết hồn nhiên đến phút cuối cùng

(11-02-2005 – Thế Kỷ 21 # 191 March 2005)

Chuyện ruồi đem đến cho tôi một nghi vấn nữa. Ngay chiều hôm đó, tan sở, Lý ghé vào. Nằm nói chuyện nhưng măt nhìn trần nhà, tôi bắt gặp ít ra là ba anh ruồi nữa. Một con đậu hai con bay quanh bóng đèn. Tôi chỉ Lý nhìn, nhưng chỉ vài phút sau cả ba con ruồi đều biến mất. Không rõ chúng ẩn vào đâu. Trần nhà bằng phẳng, đèn chôn sâu trong nền trần, kính che ngoài, tiếp sát, không một kẽ hở. Ruồi thật hay cũng chỉ là những bóng ma ? Con người có linh hồn. Loài vật khác chẳng lẽ không ? Tôi rờn rợn nghi ngại, băn khoăn.

Tôi đã phải nằm viện hơi lâu, có thể vì lý do: Bảo hiểm trả tiền phòng cho tôi, thay vì tôi khỏi thanh toán gì cả, và nằm trong một phòng nhỏ hơn, chung đụng hơn. Nhưng lý do cụ thể cầm chân tôi: Bác sĩ điều trị, sau khi chẩn bệnh lần đầu đã không hề ghé lại. Những bác sĩ khác một mực bảo tôi chờ vị bác sĩ đã chẩn bệnh. Chiều thứ Bảy hôm đó, nếu không có Lý vào và tìm ra người thầy thuốc “đãng trí”, chắc tôi còn phải thêm mấy đêm mất ngủ nữa .

Mùa hè năm 2005, con trai tôi, Lê Ngọc Quốc Bảo về Việt Nam cưới vợ. Con dâu chúng tôi, Nguyệt Lan, ở tận Kiên Giang. Chị Hòa, con bà cô và dì Lan của cháu lo việc hôn lễ tốt đẹp. Chúng tôi đã lo xong mọi thủ tục hồ sơ, Lan chỉ còn đợi nhận visa nhập cảnh, gởi từ Tân Gia Ba là lên đường. Hôm về Sài Gòn, Bảo có mang về được vài ba cuốn Luân Hoán-Một Đời Thơ cho bà con. Hy vọng cuốn sách có dịp lang thang qua tay một vài người khác.

21 năm ở và còn tiếp tục ở Montréal, nhưng ghi lại chỉ bấy nhiêu, lại rất lộn xộn chẳng ra làm sao. Tôi đã hồi tưởng chặng đời này trong một tâm trạng nôn nao, không bình thường. Việc này gối đầu lên việc kia, chẳng đâu vào đâu. Cuốn Tác Gỉa Việt Nam sửa sai chưa ổn. Cũng không rõ Đinh Cường đã bắt đầu làm bìa như đã hứa chưa. Hân đã sẵn sàng in.Còn phải trả lời vài câu phỏng vấn bằng điện thoại của anh Hoàng Khởi Phong trong vài giờ nữa. Mẫu bìa cho Quá Khứ Trước Mặt đã tạm ổn, nhưng kích thước chưa chắc chính xác. Tôi nhảy từ việc này sang việc khác. Thỉnh thoảng dòm qua hộp thư điện toán, xem có tin ai gởi cần giải quyết ngay không. Thật mất tập trung. Không dàn bài, không bố cục, nhớ đâu gõ đó. Hồi ký lẫn lộn cùng phóng sự, thống kê. Vài hình ảnh thi vị nằm bên những con số chính xác, có thể là những vụng về. Nhưng thể hiện đúng cái cố ý của tôi. Mười một năm trước, tôi đã có cơ hội kiểm điểm, chặng đời 10 năm ở Canada bằng thơ. Chẳng nhớ đã viết gì trong bài ấy, tìm đọc lại, đại khái….ta nhét mặt mày vào dưới gối/ nhắm nghiền hai mắt cớ vì sao/ vẫn nghe thấy cả cơn địa chấn/ từ cõi lòng không một tiếng nào/…mệt mỏi đang luồn quanh xương thịt/ nằm im nghe ngóng bước thời gian/ vô phương chống đỡ tàn phai phủ/ từng tế bào treo trắng cờ hàng/ mười năm đủ để thay toàn bộ/ một giấc mơ thơm, một cái nhìn/ ra đi đâu nghĩ câu cầu thực/ sao rụng rơi dần những niềm tin/…cũng may chưa thể mòn hao nổi/ trái tim rực rỡ qúi yêu em….(Cỏ Hoa Gối Đầu). Thì ra niềm bi quan của tôi đã có từ lâu. Và cũng từ lâu tôi vẫn giữ một tấm lòng với cuộc đời. Tôi soi gương mỗi ngày. Tôi nhìn thấy tôi mỗi ngày, Tôi còn là tôi mỗi ngày.

Montréal và ngày tháng bồng bềnh của tôi, nhìn lại quả rất nghèo nàn. Dù tôi có kể thêm những lần đi thăm những cảnh đẹp của thành phố, những lần tham dự bầu cử, trưng cầu ý kiến Oui, Non… hay bê hết tên và không khí hàng chục thư viện, hí viện, công viên vào đây, cái lỏng lẻo của một đoạn đời vẫn như có thật.

21 năm, đúng là “lớ ngớ không qua khỏi cái giường”. Tôi thấy rõ mình thất bại hoàn toàn. Không hướng dẫn nổi những đứa con thành đạt. Rất may không đứa nào trở nên người xấu. Có nhà ở, có tiền tiêu, có xe chạy, bình thường như cha mẹ chúng thật đáng nản. Riêng cá nhân tôi chẳng hơn gì. Xoay qua trở lại vẫn chỉ là những bài thơ, phải thật tình nói là vớ vẩn.

Ngày của một đời sắp hết. Không ham gia hạn nhưng lại ngại cái nóng của lò thiêu, cái lạnh của lòng đất. Quen ngủ với vợ cả đời, có ngày phải nằm một mình làm sao khỏi lo, khỏi sợ, khỏi buồn.

Montréal, 21 năm và còn bao lâu ? Một trăm năm chăng? Dẫu được vậy, tôi vẫn là một người Canada trên giấy tờ. Nhưng là một nhà thơ viết về Canada, Montréal rất chân tình. Lá phong, con hải âu, con sóc, giọt tuyết… chẳng dễ gì dành phần của tôi đâu. Chắc chắn tôi không hụt cầm những đô la trợ cấp tuổi vàng. Nhưng cũng chắc chắn tôi không là một “ông già run run”.

Chẳng cần trúng cử làm ông thượng đế. Tôi tin mình mãi mãi trẻ măng. Và cơ hội tường trình tiếp vào năm 2016 rất lớn. Chờ đọc bạn nhé. Cảm ơn. Chào cờ hạ màn thôi:

O Canada! Our home and native land!
True patriot love in all thy sons command
With glowing hearts we see thee rise,
The true North strong and free
from far and wide, O Canada,
We stand on guard for thee,
God keep our land glorious and free
O Canada, We stand on guard for thee.
O Canada, We stand on guard for thee.

O Canada! Terre de nos aieux
Ton front est ceint de fleurons glorieux!
Car ton bras saint porter l’épée,
Il sait porter la croix!
Ton histoire est une épopée
Des plus brillants exploits
Et ta valeur, de foi trempée,
Protégera nos foyers et nos droits,
Protégera nos foyers et nos droits.

(Quốc ca Gia Nã Đại)

Share this post